Đề Xuất 2/2023 # Bản Văn Chúa Bà Đệ Nhất Tổ Mường, Bạch Anh Công Chúa, Chúa Thượng Ngàn, Lê Mại Đại Vương # Top 9 Like | Herodota.com

Đề Xuất 2/2023 # Bản Văn Chúa Bà Đệ Nhất Tổ Mường, Bạch Anh Công Chúa, Chúa Thượng Ngàn, Lê Mại Đại Vương # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bản Văn Chúa Bà Đệ Nhất Tổ Mường, Bạch Anh Công Chúa, Chúa Thượng Ngàn, Lê Mại Đại Vương mới nhất trên website Herodota.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

[Bản Văn] CHÚA BÀ ĐỆ NHẤT TỔ MƯỜNG, BẠCH ANH CÔNG CHÚA, CHÚA THƯỢNG NGÀN, LÊ MẠI ĐẠI VƯƠNG

Anh linh hiển hách Chúa Sơn Trang

Cai quản Ba mươi sáu cửa ngàn

Lúc ngự lầu son cùng phủ tía

Khi chơi núi ngọc với non vàng

Gươm thiêng một lưỡi ra oai phép

Loài giặc Liễu Thăng phút phá tan

Thái Tổ Lê triều ban sắc tặng

Danh thơm lừng lẫy khắp Nam Bang

* * *

Hương một triện lòng thành dâng tiến

Khói ngạt ngào thấu đến Cửu Thiên

Thỉnh mời Lê Mại Chúa Tiên

Núi Dùm – Chúa ngự trấn miền Tuyên Quang

Đức Chúa Ngàn con vua Đế Thích

Giáng sinh vào quý tộc Lê Gia

Năm Thân, mồng Hai, tháng Ba

Định sinh Tiên Chúa khai hoa Dần thì

Vẻ nhan sắc phương phi yểu điệu

Nét dịu dàng dương liễu tốt tươi

Dung nghi vốn sẵn tư trời

Môi son, má phấn, miệng cười nở hoa

Mái tóc phượng, da ngà điểm tuyết

Đôi mày ngài vẻ nguyệt tô son

Càng nhìn càng thắm càng ròn

Cổ cao ba ngấn mặt tròn khuôn trăng

Tay tháp bút, hàm răng ngọc thạch

Tai hoãn vàng hổ phách kim cương

Quần chân áo chít khác thường

Chân đi hải sảo tựa nhưòng khai hoa

Đầu nón chiêng, lẵng hoa hầu quẩy

Lưng đai xanh, bồ đẩy dao quai

Trên đầu lược giắt trâm cài

Xí xô xí xố nói lời Sơn Trang

Ba mươi sáu Tiên nàng bộ chúng

Bảy mươi hai Sơn lũng các lang

Tiếng Kinh, tiếng Mán, tiếng Mường

Tiếng châu Quan Hỏa khác người trần gian

Thoi bán nguyệt hò khoan đủng đỉnh

Đàn ngũ âm tang tính tình tang

Buồm dươngbẻ lái hò khoan

Chèo vào Bát Cảnh, chèo sang Ngũ Hồ

Chèo khắp hết sông Ngô, bể Sở

Lại chèo vào Bát Cảnh Thiên Thai

Chèo vào cho tới Bồng Lai

Chơi hồ Ba Bể – Mười hai cửa ngàn

Rừng hòe quế, rừng lan, rừng cúc

Rừng bạch mai, rừng trúc, rừng thông

Non cao uốn lượn khúc rồng

Bốn bề điệp điệp, trùng trùng nhấp nhô

Cảnh thiên tạo như tô, như vẽ

Đền ỷ La mọi vẻ mọi xinh

Tam Cờ gió mát trăng thanh

Dạo chơi vườn quýt tốt xanh rườm rà

Cảnh Rừng Cấm trăm hoa đua nở

Miếu Đồng Tiền cảnh ngự càng vui

Mỏ Than – Chúa ngự trên đồi

Cây Xanh mắc võng thú vui ra vào

Nước chảy ra minh đường tụ thủy

Đền Móc Giằng tú khí chung linh

Thấp cao vạn tượng thiên hình

Thượng cầm – hạ thú, sơn tinh mọi loài

Bầy điểu thú: hươu, nai, hổ, báo

Đủ muôn loài: sà giảo, sài lang

Chim kêu, phượng hót trên ngàn

Suối reo nước bạc, cá vàng chầu lên

Đứng đôi bên: lân rờn, phượng múa

Sắp hai hàng chầu Chúa Sơn Trang

Khi chơi Cung Cấm – Quảng Hàn

Hà Giang, Bắc Mục tòa vàng thảnh thơi

Có phen chơi Thanh Sơn – Bích Động

Lệnh truyền đòi các chúng Sơn Tinh

Ngắm trăng sơn thủy hữu tình

Khen ai khéo đúc, họa hình thiên nhiên

Đức Thánh Mẫu – Chúa Tiên hiển hiện

Đền ỷ La cung điện nguy nga

Đồng Đăng ao cá quê nhà

Đông Cuông – Tuần Quán, Bảo Hà miếu thiêng

Hiển Thánh tích lưu truyền vạn đại

Sắc phong tặng: “Lê Mại Đại Vương”

Thông minh chính trực lạ thường

Ra tay sát quỷ, bốn phương thái hòa

Khắp trong nước: trẻ, già, lớn, bé

Đội ơn Người mạnh khỏe, sống lâu

Muôn dân lễ bái đảo cầu

Sở nguyện như ý, sở cầu tòng tâm.

Chầu Bà Đệ Nhị Thượng Ngàn

Chầu Bà Đệ Nhị Thượng Ngàn được coi là hoá thân của Mẫu Đệ Nhị, vốn là Thiên Thai tiên nữ, con vua Đế Thích, cai quản sơn lâm thượng ngàn, quyền hành khắp 81 cửa ngàn đất Việt.

Chầu Bà Đệ Nhị Thượng Ngàn được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Nhị. Chầu cũng vốn là Thiên Thai Tiên Nữ, con vua Đế Thích, cai quản sơn lâm thượng ngàn, quyền hành khắp hết 81 cửa ngàn đất Nam Việt. Lại có sự tích cho rằng, bà cũng giáng sinh vào quý tộc Lê gia (có tài liệu ghi lại tên bà là Lê Thị Kiểm) ở vùng Thác Cái Thác Con, Hà Giang, sau này trở thành Bà Chúa Thượng Ngàn. Trong hàng Tứ Phủ Chầu Bà, bà là vị chầu bà có quyền hành tối cao của tòa Sơn Trang (mà đa phần các vị chầu bà đều ở trên sơn trang) nên gần như bà là vị có quyền cao nhất hàng chầu, chỉ sau Chầu Đệ Nhất.

Chầu Bà Đệ Nhị Thượng Ngàn là vị chầu hay giáng đồng nhất trong hàng chầu (từ đồng tân đến đồng cựu ai cũng thỉnh chầu về ngự, để ban tài tiếp lộc sơn lâm sơn trang). Chầu ngự về đồng thường mặc áo màu xanh (xanh la hay xanh lá cây), cầm quạt khai cuông rồi múa mồi. Chầu Đệ Nhị thường hay ngự về trong các đàn mở phủ để chứng đàn Sơn Trang (kể cả với người không mở đủ bốn tòa sơn trang mà chỉ mở một tòa xanh). Ngoài ra khi đồng tân lính mới vào hầu cũng thường thỉnh chầu về để sang khăn cho đồng mới. Và đặc biệt, khi Chầu Đệ Nhị ngự đồng vào dịp lễ tiệc (đặc biệt là lễ Thượng Nguyên) trong năm, thì thường có nghi thức gọi là “trình giầu”. Khi chầu về ngự đồng, những con nhang đệ tử nào có căn số, đã lập bát hương bản mệnh, sẽ ngồi giữa chiếu ngự, phủ khăn đỏ và trên đầu đội mâm giầu trình (gồm cau, lá trầu, vỏ thuốc, thuốc lào, thuốc lá…), khi đó người ngồi đội giầu phải đặt lên mâm giầu trình 13.000 (thông thường là thế, có nơi thì là 15.000) dâng lên Chúa Sơn Trang và 12 cô tiên nàng hầu cận là những vị chứng mâm giầu của mình, lúc đó chầu sẽ cầm bó mồi (hoặc hương đã đốt cháy) khai cuông, chứng mâm giầu rồi xin tiền đài, nếu được nhất âm nhất dương (có một đồng tiền xấp, một đồng tiền ngửa) nghĩa là Phật Thánh đã chứng cho người ngồi đội giầu đó, rồi người đội giầu lễ tạ và đi ra để cho người khác vào tiếp tục.

Cũng như Chầu Đệ Nhất, Chầu Đệ Nhị được thờ phụng ở bất cứ nơi nào có rừng núi có Mẫu Đệ Nhị ngự. Nhưng khi thỉnh chầu, người ta thường hay nghĩ tới Đền Đông Cuông là nơi in dấu rõ nhất ở tỉnh Yên Bái.

Xem Video ” Cô Đôi Thượng Ngàn ” hay nhất và mới nhất

[youtube id=”2ADOgbWP1B8″ width=”620″ height=”360″]

Văn hầu:

Tiên thánh thượng ngàn dâng văn tiên thánh thượng ngàn

Đông cuông tuần quán giáng đàn chứng đây

Trên ngàn gió cuốn rung cây

Dưới khe cá lặn chim bay về ngàn

Canh khuya nguyệt lặn sao tàn

Canh khuya nguyệt lặn sao tàn

Chiếc thoi bán nguyệt khoan khoan chèo vào

Gập ghềnh quán thấp lều cao

Gập ghềnh quán thấp lầu cao

Chèo ra núi đỏ chèo vào ngàn xanh

Thượng ngàn tôi tú anh linh

Thượng ngàn tôi tú anh linh

Ngôi cao công chúa quyền hành núi non

Anh linh đã có tiếng đồn

Anh linh đã có tiếng đồn

Sấm ran mặt bể mưa tuôn đầu ghềnh

Da ngà mắt phượng long lanh

Da ngà mắt phượng long lanh

Mày hoa tươi tốt tóc xanh rườm rà

Nhị hồng tuyết điểm màu da

Nhụy hồng tuyết điểm màu da

Cổ tay tựa ngà đầu vấn tóc mai

Vốn dòng công chúa Thiên thai

Vốn dòng công chúa Thiên thai

Giáng sinh hạ giới quyền cai thượng ngàn

Quyền cai các lũng các lang

Quyền cai các lũng các lang

Sơn tinh cầm thú hổ lang khấn đầu

Quyền cai tam thập lục ngàn châu

Quyền cai tam thập lục ngàn châu

Chín từng khe suối một bầu tiêu dao

Rong chơi ngàn quế ngàn đào

Rong chơi ngàn quế ngàn đào

Khi ra thác cái lúc vào thác con

Chim kêu vượn hót véo von

Chim kêu vượn hót véo von

Chớp bể đôi đoạn mưa nguồn từng phen

Khi nương gió lúc lại thác gièm

Nàng ân nàng ái vốn dòng sơn trang

Tính hay măng trúc măng giang

Song đăng ai thấp thoáng bên lầu

Song đăng tiên chúa múa hầu mẫu vương

Soi cho quốc phú dân cường

Soi cho quốc phú dân cường

Soi trong nam việt bốn phương thái hòa

Soi từ thành thị tới kinh đô

Soi cho non nước bốn mùa thêm xuân

Đuốc thiêng sáng tỏ xa gần

Hái hoa lan, hái hoa huệ hoa lan thượng thừa

Hoa hải đường nở trước mùa xuân

Quỳnh hoa đua nở xa gần

Đào tiên thạch lựu thanh tân chơi bời

Hoa cẩm chướng trà my đua nở

Hoa mận đào rực rỡ tốt tươi

Hoa thủy tiên sắc nước nghiêng trời

Vui chơi nước nhược non hồng

Phố Cát Đền Sòng sông Cả sông Thao

Lân rờn vượn múa thấp cao

Lân rờn vượn múa thấp cao

Ngàn mây thấp thoáng trăng sao lững lờ

Nón buồm vai quảy lẵng hoa

Nón buồm vai quảy lẵng hoa

Đền khi miếu nọ vào ra chơi bời

Khi thanh vắng lúc lại êm trời

Thanh vắng lúc lại êm trời

Ngự trên đỉnh núi ghẹo người Hằng nga

Tang tình thôi hát lại ca

Tang tình thôi hát lại ca

Bẻ bai giọng Xá ê a giọng Mường

Tiếng Kinh tiếng Mán tỏ tường

Tiếng Kinh tiếng Mán tỏ tường

Lục châu quan hỏa líu lường líu lo

Rong chơi bát cảnh ngũ hồ

Rong chơi bát cảnh ngũ hồ

Đua chèo bẻ lái hò dô lại về

Khi chơi ngàn mái ngàn me

Rong chơi ngàn mái ngàn me

Ngàn giang ngàn nứa trúc tre ngàn vầu

Đôi cô MánThổ theo hầu

Đôi cô Thổ Mán theo hầu

Cô xe chỉ thắm cô xâu hạt vàng

Trên sơn lâm dọn quán bán hàng

Văn Khấn Bà Chúa Kho Và Cách Sắm Lễ Đi Đền Bà Chúa Kho

I. Sự tích đền Bà chúa Kho

Tương truyền vào thời nhà Lý: Theo chân đến làng Quả Cảm Bắc Ninh, Nơi được mệnh danh có người con gái với nhan sắc tuyệt trần. Tuy xuất thân từ một gia đình nông thôn nghèo nhưng Bà đa trí đa tài từ cầm kỳ thi họa cái nào cũng giỏi.

Bà lọt vào mắt nhà vua và được đưa vào cung làm vợ vua Lý. Sau khi trở thành vợ vua, Bà nhận thấy vùng đất quê nhà còn hoang sơ: đất đai sâu rộng mà không ai khai hoang, sản xuất. Chính vì vậy Bà xin nhà vua cho được về làng, chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang, tăng gia sản xuất. Vào ngày 12 tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1077) quân Tống kéo sang xâm lược nước ta. Lý Thường Kiệt lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Tống. Vào thời đó ở làng Cổ Mễ, núi Kho, Cầu Gạo… vốn là những nơi đặt kho lương thực của quân Lý ở bờ nam chiến tuyến Như Nguyệt (Sông Cầu). Núi Kho, núi Dinh, Thị Cầu cũng vốn là một vị trí chiến lược có thể kiểm soát con đường từ Lạng Sơn qua sông Cầu về Thăng Long xưa. Bà tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia phục vụ cho trận chiến Như Nguyệt. Bà cũng “thác ” trong cuộc chiến này.

Nhà vua biết chuyện vô cùng thương tiếc phong cho Bà là Phúc Thần . Người dân nhớ thương Bà lập nên đền thờ tại kho lương thực cũ của triều đình ở Núi Kho và gọi Bà với một niềm tôn kính là: Bà Chúa Kho. Công lao của bà đã được triều đại phong kiến ghi nhận qua việc sắc phong đền thờ bà là “Chủ khố linh từ” (Đền thiêng thờ bà Chúa Kho). Ở thôn Cổ Mễ còn một ngôi đình và ngôi chùa cổ. Chùa Cổ Mễ có từ đời lý thế kỷ XI. Ngày nay trong chùa còn ba pho tượng đá khá đẹp mang rõ phong cách điêu khắc thời Mạc. Chùa còn lại đến nay là kiến trúc thế kỷ XIX, làm theo kiểu chữ T chạm khắc công phu

II. Sắm lễ đền Bà chúa Kho

Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).

Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.

Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

Theo lệ thường, người ta lễ thần Thổ địa, thủ Đền trước, gọi là lễ trình vì đó là lễ cáo Thần linh Thổ Địa nơi mình đến dâng lễ. Người thực hành tín ngưỡng cao lễ Thần linh cho phép được tiến hành lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.

Sau đó người ta sửa sang lễ vật một lần nữa. Mỗi lễ đều được sắp bày ra các mâm và khay chuyên dùng vào việc cúng lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.

Kế đến là đặt lễ vào các ban. Khi dâng lễ phải kính cẩn dùng hai tay dâng lễ vật, đặt cẩn trọng lên bàn thờ. Cần đặt lễ vật lên ban chính trở ra ban ngoài cùng.

Chỉ sau khi đã đặt xong lễ vật lên các ban thì mới được thắp hương.

Khi làm lễ, cần phải lễ từ ban thờ chính đến ban ngoài cùng. Thường lễ ban cuối cùng là ban thờ cô thờ cậu.

Thứ tự thắp hương khi đi lễ

Thắp từ trong ra ngoài:

Ban thờ chính của điện được đặt theo hàng dọc, ở gian giữa được thắp hương trước.

Các ban thờ hai bên được thắp hương sau khi đã thắp xong hương ban chính ở gian giữa.

Khi thắp hương cần dùng số lẻ: 1, 3, 5, 7 nén. Thường thì 3 nén

Sau khi hương được châm lửa thì dùng hai tay dâng hương lên ngang trán, vái ba vái rồi dùng cả hai tay kính cẩn cắm hương vào bình trên ban thờ.

Nếu có sớ tấu trình thì kẹp sớ vào giữa bàn tay hoặc đặt lên một cái đĩa nhỏ, hai tay nâng đĩa sớ lên ngang mày rồi vái 3 lần.

Trước khi khấn thường có thỉnh chuông. Thỉnh ba hồi chuông. Thỉnh chuông xong thì mới khấn lễ.

IV. Bài văn khấn đền Bà Chúa Kho

Nội dung bài văn khấn cúng đền bà Chúa Kho như sau: Hương tử con là …. Hôm nay là ngày…

Chầu Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn

Bản văn Chầu Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn

Dâng văn tiên chúa thượng ngàn Đông Cuông tuần quán giáng đàn chứng đây Trên ngày gió cuốn rung cây Dưới khe cá lội chim bay về ngàn Canh khuya nguyệt lặn sao tàn Chiếc thoi bán nguyệt khoan khoan chèo vào Gập ghềnh quán thấp lầu cao Khi ra núi đỏ lúc nào ngàn xanh Thượng ngàn Đệ Nhị tối linh Ngôi cao công chúa quyền hành núi non Anh linh đã khắp tiếng đồn Sấm ran mặt bể mưa tuôn đầu ghềnh Da ngà mặt phượng long lanh Mặt hoa tươi tốt tóc xanh rườm rà Nhị hồng tuyết điểm mầu da Cổ tay tựa ngà đầu vấn tóc mai Vốn dòng công chúa Thiên Thai Giáng sinh hạ giới quản cải Thượng Ngàn Quản cai các lũng các lang Sơn tinh cầm thú hổ lang khấu đầu Khắp hoà tam thập lục châu Chín từng khe suối một bầu tiêu dao Dong chơi ngàn quế ngàn đào Khi ra thác cái lúc vào thác con Chim kêu vượn hót véo von Chớp bể đồi đoạn mưa nguồn từng cơn Khi nương gió lúc lại thác gièm Khi bẻ cành quế khi vin cành hồng Vui chơi nước nhược non bồng Phố Cát đền Sòng sông Cả sông Thao Lân rờn Phượng múa thấp cao Ngày mây thấp thoáng trăng sao lững lờ Nón buồm vai quẩy lẵng hoa Đền khi phủ nọ vào ra chơi bời Khi thanh vắng lúc lại êm trời Ngồi trên đỉnh núi ghẹo người Hằng Nga Tang tính tình thôi đọc lại ca Bẻ bai giọng Xá ê a giọng Mường Tiếng Kinh tiếng Mán tỏ tường Lục châu quan hoả lúi lường líu lo Dong chơi bát cảnh ngũ hồ Đua chèo bẻ lái hò dô lại về Khi chơi ngàn mái ngàn ngàn me Ngàn giang ngàn nứa trúc tre ngàn vầu Đôi cô Thổ Mán theo hầu Cô xe chỉ thắm cô xâu hạt vàng Sơn Lâm dọn quán bán hàng Non xanh đủng đỉnh tuyết sương gieo hò Khăn xanh áo lục nhởn nhơ Khi vào ba dội lúc vô đường chèo Môi son má phấn mỹ miều Miệng cười hoa nở mọi chiều mọi hay Đèn trăng quạt gió màn mây Bóng thông che tán bóng mai tựa hình Đi suối lúc lại về ghềnh Đua chèo tiếng phách tiếng sênh reo hò Chè tàu ba chén tính ưa Thanh bông hoa quả ngự thừa lại ban Yêu ai tài lộc chầu ban Ghét ai chầu quở khôn ngoan được nào Xem trong sự tích tân la Vậy nên phúc đẳng hà sa vô cùng Đệ tử dốc một lòng thành kính Dâng bản văn trình chầu ngự giáng lâm Mời chầu giáng phúc từ trung Khuông phù đệ tử tăng long thọ trường.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bản Văn Chúa Bà Đệ Nhất Tổ Mường, Bạch Anh Công Chúa, Chúa Thượng Ngàn, Lê Mại Đại Vương trên website Herodota.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!