Đề Xuất 11/2022 # Cách Vái Lạy Đúng Phong Tục Vn Khi Đi Dự Đám Tang ? / 2023 # Top 19 Like | Herodota.com

Đề Xuất 11/2022 # Cách Vái Lạy Đúng Phong Tục Vn Khi Đi Dự Đám Tang ? / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cách Vái Lạy Đúng Phong Tục Vn Khi Đi Dự Đám Tang ? / 2023 mới nhất trên website Herodota.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

N hững thiếu sót với người sống thì còn châm trước được. Nhưng với người đã khuất, khi ta có gì sai sót, rất dễ được coi là “mất day&qu…

Những thiếu sót với người sống thì còn châm trước được. Nhưng với người đã khuất, khi ta có gì sai sót, rất dễ được coi là “mất day”.

Bình thường thì ta cũng chẳng để ý mấy chuyện này làm gì, nhưng vừa qua nhà có tang, nên mới tá hoả ra là chẳng biết làm thế nào cho “đúng” và “chuẩn”. Dù chỉ là một vài ngày ít ỏi, nhưng những nghi lễ, cử chỉ cũng cần có nguyên tắc – nguyên tắc dựa trên văn hoá và phong tục tập quán của mỗi vùng miền khác nhau.

Vậy, để đảm bảo các hình thức thăm viếng được đúng và chuẩn, ít nhiều ta cũng nên xét lại.

1. Lạy là hành-động bày tỏ lòng tôn-kính chân-thành với tất-cả tâm-hồn và thể-xác đối với người trên hay người quá-cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý-nghĩa khác nhau.

Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn-bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa-học và vững-vàng. Sở-dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng-bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn-bị đứng lên cũng vậy. Sở-dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững-vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.

Thế lạy phủ-phục của mấy nhà sư rất khó. Các Thầy phất tay áo cà sa, đưa hai tay chống xuống ngay mặt đất và đồng-thời quì hai đầu gối xuống luôn. Khi đứng dậy các Thầy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà không cần phải để tay tỳ lên đầu gối. Sở dĩ được như thế là nhờ các Thầy đã tập-luyện hằng-ngày mỗi khi cúng Phật. Nếu thỉnh-thoảng quí cụ mới đi lễ chùa, phải cẩn-thận vì không lạy quen mà lại bắt chước thế lạy của mấy Thầy thì rất có thể mất thăng-bằng.

Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.

Thế lạy của đàn ông có vẻ hùng-dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà có tính cách uyển-chuyển tha-thướt, tượng-trưng cho âm. Thế lạy của đàn ông có điều bất-tiện là khi mặc âu-phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có mấy vị cao-niên còn áp-dụng thế lạy của đàn ông, nhất là trong dịp lễ Quốc-Tổ. Còn phần đông, người ta có thói quen chỉ đứng vái mà thôi.

Thế lạy của đàn ông và đàn bà là truyền-thống rất có ý-nghĩa của người Việt ta. Nó vừa thành-khẩn vừa trang-nghiêm trong lúc cúng tổ-tiên. Nếu muốn giữ phong-tục tốt đẹp này, các bạn nam nữ thanh-niên phải có lòng tự-nguyện. Muốn áp-dụng thế lạy, nhất là thế lạy của đàn ông, ta phải tập-dượt lâu mới nhuần-nhuyễn được. Nếu đã muốn thì mọi việc sẽ thành.

2. Vái thường được áp-dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường-hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái.

Thông thường thì Lạy có 3 kiểu: lạy 2 lạy, lạy 3 lạy và lạy 4 lạy. Còn Vái (còn gọi là bái) thì chỉ thực hiện sau khi lạy và chỉ 2 vái mà thôi (cho dù có thực hiện 2, 3, hay 4 lạy cũng thế).

3. Theo người Việt Nam, việc VÁI LẠY không chỉ dành cho khi khi đi dự đám tang, lạy khi cúng tế, lạy Phật ở chùa… mà Vái lạy còn dùng cho người sống nữa. Ngày xưa, chắc các bạn nghe từ “Lạy mẹ con đi lấy chồng”, đọc thơ Nguyễn Du cũng thấy có việc lạy người sống đấy thôi. Ngày xưa ở miền Bắc (thời phong kiến) khi con dâu mới về nhà chồng đều phải lạy (còn gọi là “lễ”) cha mẹ chồng. Hoặc khi làm lễ mừng thọ thì cũng có chuyện người sống lạy người sống đó thôi.

4 . Về cách lạy: người ta chỉ lạy 2 lạy dành cho người sống; lạy 3 lạy dành cho lạy Phật, lạy thần thánh (ví dụ khi cúng đất đai)và lạy 4 lạy để lạy vong (hồn người chết)

5. Khi nhà nào đó có người qua đời thì người ta chỉ đi viếng (còn gọi là đi đám tang) sau khi đã nhập liệm (đã liệm người quá cố vào trong quan tài). Lúc đó mới có chuyện vái lạy.

6. Quan niệm về lạy khi dự đám tang cũng có nguyên tắc của nó. Khi người quá cố còn đó (dù đã liệm trong quan tài) thì vẫn được xem như người còn sống nên để lạy đúng thì chỉ LẠY 2 lạy (và vái 2 vái). Một số gia đình có để bàn thờ Phật trước hương án có di ảnh người quá cố thì người đi đám lạy bàn thờ Phật 3 lạy (và 2 vái), sau đó lạy trước bàn hương án có di ảnh người quá cố 2 lạy (như lạy người sống). Nếu khi đến thắp hương cho người quá cố (đã được an táng rồi) thì lại lạy 4 lạy (và vái 3 vái).

7 . Việc đại diện gia đình (con, chồng/vợ, anh chị em… của người quá cố) lạy đáp lễ (lạy trả) người đi đám tang chỉ thực hiện khi quan tài người quá cố còn đang quàng tại nơi làm lễ (gia đình, nhà tang lễ…) chứ không thực hiện khi đã an táng xong người quá cố. Việc đáp lễ tức là thay mặt người quá cố đáp trả lễ của người đến viếng. Do đó, khi người đi viếng LẠY bao nhiêu LẠY thì phải đáp trả bấy nhiêu LẠY (không nhiều hơn, không ít hơn). Điều này không phải là “trả hết lễ” mà chỉ mang ý nghĩa “đáp lễ một cách đầy đủ”.

III . Ý-Nghĩa của Lạy và Vái

a. Ý-Nghĩa Của 2 Lạy và 2 Vái

Hai lạy dùng để áp-dụng cho người sống như trong trường-hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng-điếu, nếu là vai dưới của người quá-cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em, v.v., ta nên lạy 2 lạy.

Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý-nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính-cẩn, chứ không có ý-nghĩa nào khác. Nhưng trong trường- hợp người quá-cố còn để trong quan-tài tại nhà quàn, các người đến phúng- điếu, nếu là vai trên của người quá-cố như các bậc cao-niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá-cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan-tài đã được hạ-huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.

Theo nguyên lý âm-dương, khi chưa chôn, người quá-cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng-trưng cho âm dương nhị khí hòa-hợp trên dương-thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.

b. Ý-Nghĩa Của 3 Lạy và 3 Vái

Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng-trưng cho Phật, Pháp, và Tăng (xin xem bài về “Nghĩa Đích Thực của Quy Y Tam Bảo” đã được phổ biến trước đây và sẽ được nhuận sắc và phổ biến). Phật ở đây là giác, tức là giác-ngộ, sáng-suốt, và thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh-đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong-sạch, thanh-tịnh, không bợn-nhơ. Đây là nói về nguyên-tắc phải theo. Tuy-nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy.

Trong trường-hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ Âu-phục, nếu cảm thấy khó-khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.

c. Ý-Nghĩa Của 4 Lạy và 4 Vái

Bốn lạy để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh-thần. Bốn lạy tượng-trưng cho tứ-thân phụ-mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ-tượng (Thái Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao-gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú-ngụ.

Bốn vái dùng để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp-dụng thế lạy.

d.Ý-Nghĩa Của 5 Lạy và 5 Vái

Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng-trưng cho ngũ-hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng-trưng cho trung-cung tức là hành-thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý-kiến cho rằng 5 lạy tượng-trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung-ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ Tổ Hùng-Vương, quí-vị trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng-Vương là vị vua khai-sáng giống nòi Việt.

Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp-dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì-giờ để mỗi người lạy 5 lạy.

Cách Vái Lạy Trong Đám Tang Đúng Phong Tục Truyền Thống Của Người Việt / 2023

Cách vái lạy trong đám tang lễ

Vái lạy luôn là hình thức bắt buộc mà tất cả những đám tang, viếng người đã khuất phải có, với ý nghĩa thể hiện sự đưa tiễn trang trọng mà những người còn sống thực hiện. Chính vì vậy, rất nhiều người thường băn khoăn và không biết rằng đi viếng đám tang như thế nào, vái lạy mấy lần?,… thì bài viết này của VnDoc sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức vái lạy trong đám tang theo đúng phong tục truyền thống của người Việt ta.

Cách vái lạy trong đám tang đúng phong tục truyền thống của người Việt

1. Đám tang (đám ma) là gì?

Đám tang hay đám ma, lễ tang, tang lễ, tang ma là một trong những phong tục của Việt Nam. Bao gồm nhiều quy trình của những người đang sống thực hiện đối với người vừa chết.

Tang lễ được tổ chức khác nhau ở các dân tộc trên Việt Nam, mỗi một dân tộc có những nghi lễ tổ chức khác nhau mặc dù không nhiều nhưng đều có những bước cơ bản tương đối giống nhau ở các người Kinh cũng như các dân tộc thiểu số khác. Trong tang lễ ngày nay lại có những điểm khác so với thời kỳ từ thế kỷ 20 trở về trước.

2. Nghi thức vái lạy trong đám tang

Cách lạy đám tang đúng cách là thể hiện lòng cung kính với người đã khuất. Việc này không nên khinh suất mà cần phải thật tỉ mỉ. Đặc biệt là với sự cầu kỳ của phong tục của người Á Đông.

1. LẠY tức là chắp hai tay đưa cao quá trán và hạ từ từ xuống phía trước mặt đến ngang ngực và trong một số trường hợp rất cung kính thì người lạy tiếp tục quỳ xuống, chống hai lòng bàn tay xuống đất rồi đầu cuối đến khi trán chạm đất thì hết quy trình 1 lạy. Nếu người lạy ở tư thế đứng lạy thì có thể kẹp thêm một nén nhang giữa hai lòng bàn tay úp vào nhau cũng được. Với động tác lạy thì người lạy phải nhìn về phía trước, khi tay đưa xuống thì đầu đồng thời cuối xuống theo.

2. VÁI là đứng (hoặc quỳ), hai tay chắp như lạy nhưng động tác đưa xuống nhanh hơn và chỉ đưa đến trước ngực, đầu cúi xuống khi vái.

Vái có hình thức tương tự như lạy nhưng tốc độ nhanh hơn, đầu hơi cúi. Vái làm sau khi lạy và chỉ vái 2 cái. Đây là các hình thức bắt buộc phải có trong phong tục của người Việt khi tham gia các lễ cúng tế, khi đi chùa, đặc biệt là khi dự đám tang.

Cách lạy đám tang của Việt Nam sẽ đặc biệt hơn một chút. Đối với người Việt, khi vái lạy đám tang thì phân chia thành 2 kiểu đó là của 2 giới đàn ông và đàn bà.

Đàn ông: Vẫn là tư thế đứng nghiêm, chắp tay trước ngực, đưa tay lên quá đầu rồi cúi xuống. Sau đó, đưa tay xòe úp xuống đất, quỳ gối và cúi mình xuống, gần chạm trán với mặt đất. Cuối cùng, úp hai bàn tay lại để lên đầu gối chân trái, co lên và đứng dậy.

Đàn bà: Ngồi xuống đất để hai chân vắt chéo nghiêng về bên trái, bàn chân phải thì ngửa lên và để dưới đùi chân trái. Sau đó, chắp tay để trước mặt đưa lên trên trán rồi dần cúi đầu xuống. Để đầu gần chạm đất thì đưa xòe bàn tay để lên đầu. Để nguyên tư thế đó 1, 2 giây rồi lạy vài lần theo đúng nghi thức, sau đứng lên và lùi về sau. Người nhà đáp lễ người đến viếng cần trả bằng số lạy và số vái của họ để thể hiện sự ” đáp lễ đầy đủ”.

Thông thường thì lạy có 3 kiểu: Lạy 2 lạy, lạy 3 lạy và lạy 4 lạy. Còn Vái (còn gọi là bái) thì chỉ thực hiện sau khi lạy và chỉ 2 vái mà thôi (cho dù có thực hiện 2, 3, hay 4 lạy cũng thế).

3. Theo người Việt Nam, việc vái lạy không chỉ dành cho khi khi đi dự đám tang, lạy khi cúng tế, lạy Phật ở chùa,… mà vái lạy còn dùng cho người sống nữa. Ngày xưa, chắc các bạn nghe từ “Lạy mẹ con đi lấy chồng“, đọc thơ Nguyễn Du cũng thấy có việc lạy người sống đấy thôi. Ngày xưa ở miền Bắc (thời phong kiến) khi con dâu mới về nhà chồng đều phải lạy (còn gọi là “lễ”) cha mẹ chồng. Hoặc khi làm lễ mừng thọ thì cũng có chuyện người sống lạy người sống đó thôi.

4. Về cách lạy: Người ta chỉ lạy 2 lạy dành cho người sống; Lạy 3 lạy dành cho lạy Phật, lạy thần thánh (ví dụ khi cúng đất đai) và lạy 4 lạy để lạy vong (hồn người chết).

5. Khi nhà nào đó có người qua đời thì người ta chỉ đi viếng (còn gọi là đi đám tang) sau khi đã nhập liệm (đã liệm người quá cố vào trong quan tài). Lúc đó mới có chuyện vái lạy.

6. Quan niệm về lạy khi dự đám tang cũng có nguyên tắc của nó. Khi người quá cố còn đó (dù đã liệm trong quan tài) thì vẫn được xem như người còn sống nên để lạy đúng thì chỉ lạy 2 lạy (và vái 2 vái). Một số gia đình có để bàn thờ Phật trước hương án có di ảnh người quá cố thì người đi đám lạy bàn thờ Phật 3 lạy (và 2 vái), sau đó lạy trước bàn hương án có di ảnh người quá cố 2 lạy (như lạy người sống). Nếu khi đến thắp hương cho người quá cố (đã được an táng rồi) thì lại lạy 4 lạy (và vái 3 vái).

7. Việc đại diện gia đình (con, chồng/vợ, anh chị em,… của người quá cố) lạy đáp lễ (lạy trả) người đi đám tang chỉ thực hiện khi quan tài người quá cố còn đang quàng tại nơi làm lễ (gia đình, nhà tang lễ,…) chứ không thực hiện khi đã an táng xong người quá cố. Việc đáp lễ tức là thay mặt người quá cố đáp trả lễ của người đến viếng. Do đó, khi người đi viếng lạy bao nhiêu lạy thì phải đáp trả bấy nhiêu lạy (không nhiều hơn, không ít hơn). Điều này không phải là “trả hết lễ” mà chỉ mang ý nghĩa ” đáp lễ một cách đầy đủ”.

3. Ý nghĩa của cách lạy đám tang

Người ta sẽ thực hiện nghi thức vái lạy sau khi đã nhập liệm, tức là người quá cố đã được liệm vào trong quan tài. Đôi khi nhìn vào cách lạy đám tang có thể đoán được mối quan hệ của họ với nhau.

Có trường hợp khi lạy thì qua loa, cẩu thả cho xong thì đầu họ sẽ không cúi sát xuống đất, thao tác nhanh, đơn giản và không tôn nghiêm. Điều này chứng tỏ họ đến tham gia tang lễ là bị bắt buộc, vốn chỉ là đi cho có, hành lễ cho xong việc.

Ngược lại, khi thao tác chậm rãi, thái độ đau buồn nhưng trang nghiêm mà hành lễ thì mối quan hệ của họ tốt đẹp. Hoặc vài trường hợp chứng tỏ người đi dự tang có học thức, có văn minh, hành xử lịch sự.

Việc này thể hiện sự thương tiếc, lòng kính cẩn của người còn sống với người đã mất. Cách lạy trong đám tang một phần thể hiện thái độ của người bái tế với người đã thăng thiên.

Nếu không sợ dơ bẩn quần áo, tay chắp cùng với nén hương mà quỳ xuống vái lạy thì càng chứng tỏ tâm họ đã không còn vướng bận điều gì. Khi họ hoàn tất quy trình bái lạy một cách trang nghiêm, một lòng hướng về người nằm đó thì coi như đó là sự hiếu kính cuối cùng mà họ có thể làm được khi người đã ra đi.

Hành động chắp tay cúi mình, cúi đầu hay quỳ xuống trước ban thờ, quan tài của người đã mất không phải là hành động thấp hèn. Nó cũng không phải việc gì làm mất nhân cách hay sự tôn quý của một con người.

Khi thực hiện nghi thức này, dường như còn có ý nghĩa hy vọng người ra đi được siêu thoát ở thế giới bên kia. Đó là đạo nghĩa của con người tiến bộ. Đây như một sự giao cảm với bề trên, việc bái lạy bày tỏ niềm tôn kính và sự tưởng niệm trong các đám tang.

Cách lạy đám tang đúng mực không những có giá trị về hình thức mà đôi khi còn ảnh hưởng đến vấn đề tâm linh. Ngay từ khi tu dưỡng đạo đức làm người, chúng ta đã phải học cách bái lạy. Đây được coi là một nghi thức, cũng là truyền thống cao đẹp, thấm sâu vào tâm thức con người Việt từ bao đời.

Cách Lạy Đám Tang Đúng Phong Tục Và Truyền Thống Của Người Việt / 2023

Cách lạy đám tang chuẩn mực

Để thể hiện sự tôn trọng với người đã khuất thì cần có những hình thức nhất định cho người đến viếng. Ngoài việc mặc đồ tối màu thì cần phải có cách lạy đám tang đúng phong tục. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu về ý nghĩa và biết bái lạy chuẩn. Bài viết sau sẽ giới thiệu đến các bạn một vài kiểu lạy đúng cách.

Lạy – vái là gì?

Lạy là hình thức đứng nghiêm, hai tay chắp vào nhau, đưa lên tầm trán rồi hạ dần xuống trước mặt xuống tầm dưới cổ một cách nhẹ nhàng, chậm rãi. Để bày tỏ sự cung kính thì người lạy lại quỳ xuống, chống tay chạm đất, cúi thấp đầu. Đó là tổng thể quy trình một lạy.

Nếu cần thắp nhang thì đưa nén nhang vào giữa lòng hai bàn tay rồi lạy. Khi đứng thì chắp đưa lên quá đầu, sau đó đưa thấp xuống đồng thời cúi thấp mình, mắt hướng về phía trước. Lạy có 3 kiểu đó là lạy 2, 3, 4 lạy. Người sống được người khác lạy 2 lạy, nếu lạy phật hay thần thánh thì là 3 lạy, người mất đã lâu thì lạy 4 lạy.

Vái có hình thức tương tự như lạy nhưng tốc độ nhanh hơn, đầu hơi cúi. Vái làm sau khi lạy và chỉ vái 2 cái. Đây là các hình thức bắt buộc phải có trong phong tục của người Việt khi tham gia các lễ cúng tế, khi đi chùa, đặc biệt là khi dự đám tang.

Cách lạy đám tang theo phong tục của người Việt

Có cách lạy đám tang đúng cách là thể hiện lòng cung kính với người đã khuất. Việc này không nên khinh suất mà cần phải thật tỉ mỉ. Đặc biệt là với sự cầu kỳ của phong tục của người Á Đông.

Người Việt quan niệm, dù đã liệm người mất trong quan tài thì vẫn được xem là người sống nên chỉ được lạy 2 lạy và 2 lần vái.

Khi đến tham dự đám tang nên để ý. Nếu người mất theo đạo Phật, có bàn thờ phật thì cần lạy 3 lạy và 2 vái cho Phật, sau đó lạy người đã mất 2 lạy nữa. Nếu người mất đã được an táng thì lạy 4 lạy và 3 vái.

Cách lạy đám tang của Việt Nam sẽ đặc biệt hơn một chút. Đối với người Việt, khi vái lạy đám tang thì phân chia thành 2 kiểu đó là của 2 giới đàn ông và đàn bà.

Đàn ông: Vẫn là tư thế đứng nghiêm, chắp tay trước ngực, đưa tay lên quá đầu rồi cúi xuống. Sau đó, đưa tay xòe úp xuống đất, quỳ gối và cúi mình xuống, gần chạm trán với mặt đất. Cuối cùng, úp hai bàn tay lại để lên đầu gối chân trái, co lên và đứng dậy.

Đàn bà: Ngồi xuống đất để hai chân vắt chéo nghiêng về bên trái, bàn chân phải thì ngửa lên và để dưới đùi chân trái. Sau đó, chắp tay để trước mặt đưa lên trên trán rồi dần cúi đầu xuống. Để đầu gần chạm đất thì đưa xòe bàn tay để lên đầu. Để nguyên tư thế đó 1, 2 giây rồi lạy vài lần theo đúng nghi thức, sau đứng lên và lùi về sau. Người nhà đáp lễ người đến viếng cần trả bằng số lạy và số vái của họ để thể hiện sự ” đáp lễ đầy đủ”.

Ý nghĩa của cách lạy đám tang

Người ta sẽ thực hiện nghi thức vái lạy sau khi đã nhập liệm, tức là người quá cố đã được liệm vào trong quan tài. Đôi khi nhìn vào cách lạy đám tang có thể đoán được mối quan hệ của họ với nhau.

Có trường hợp khi lạy thì qua loa, cẩu thả cho xong thì đầu họ sẽ không cúi sát xuống đất, thao tác nhanh, đơn giản và không tôn nghiêm. Điều này chứng tỏ họ đến tham gia tang lễ là bị bắt buộc, vốn chỉ là đi cho có, hành lễ cho xong việc.

Ngược lại, khi thao tác chậm rãi, thái độ đau buồn nhưng trang nghiêm mà hành lễ thì mối quan hệ của họ tốt đẹp. Hoặc vài trường hợp chứng tỏ người đi dự tang có học thức, có văn minh, hành xử lịch sự.

Việc này thể hiện sự thương tiếc, lòng kính cẩn của người còn sống với người đã mất. Cách lạy trong đám tang một phần thể hiện thái độ của người bái tế với người đã thăng thiên.

Nếu không sợ dơ bẩn quần áo, tay chắp cùng với nén hương mà quỳ xuống vái lạy thì càng chứng tỏ tâm họ đã không còn vướng bận điều gì. Khi họ hoàn tất quy trình bái lạy một cách trang nghiêm, một lòng hướng về người nằm đó thì coi như đó là sự hiếu kính cuối cùng mà họ có thể làm được khi người đã ra đi.

Hành động chắp tay cúi mình, cúi đầu hay quỳ xuống trước ban thờ, quan tài của người đã mất không phải là hành động thấp hèn. Nó cũng không phải việc gì làm mất nhân cách hay sự tôn quý của một con người.

Khi thực hiện nghi thức này, dường như còn có ý nghĩa hy vọng người ra đi được siêu thoát ở thế giới bên kia. Đó là đạo nghĩa của con người tiến bộ. Đây như một sự giao cảm với bề trên, việc bái lạy bày tỏ niềm tôn kính và sự tưởng niệm trong các đám tang.

Cách lạy đám tang đúng mực không những có giá trị về hình thức mà đôi khi còn ảnh hưởng đến vấn đề tâm linh. Ngay từ khi tu dưỡng đạo đức làm người, chúng ta đã phải học cách bái lạy. Đây được coi là một nghi thức, cũng là truyền thống cao đẹp, thấm sâu vào tâm thức con người Việt từ bao đời.

Phong Tục Đám Tang Đạo Cao Đài / 2023

Lời đầu, Trại Hòm Đức Thịnh xin chia sẻ đôi điều thông tin cơ bản về Đạo Cao Đài hiện nay tại Việt Nam.

Tổng Quan Về Đạo Cao Đài

Đạo Cao Đài hay còn được gọi là Cao Đài Giáo, được thành lập vào khoảng năm 1926 tại miền Nam Việt Nam.

Và để tỏ lòng tôn kính, một số Tín Đồ thường gọi tôn giáo của mình là Đạo Trời.

Đạo Cao Đài là một tôn giáo mới, dung hòa nhiều yếu tố từ các tôn giáo lớn gồm Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Hồi giáo, Cơ Đốc giáo, Thần đạo và cả 1 số tôn giáo đa thần thời cổ đại, thể hiện qua Ngũ Chi Đại Đạo.

Giáo Lý Cơ Bản của Đạo Cao Đài gồm: Tam Kỳ Phổ Độ, Tam Giáo Quy Nguyên và Thiên Nhãn.

Một tộc Đạo Cao Đài có thể thờ tự là “Thánh Thất” và “Điện Thờ Phật Mẫu” và đều có chương trình truyền bá giáo lý.

Nội dung bài chia sẻ khó tránh được sự sai xót, kính mong quý độc giả, quý cao niên, quý học giả chỉ giáo thêm.

Nghi Thức Tang Lễ Đạo Cao Đài

Cầu Hồn Khi Hấp Hối

Là tụng kinh cầu nguyện Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng cho linh hồn của người đang hấp hối được nhẹ nhàng xuất ra khỏi thể xác & được cứu giúp siêu thăng về Cõi Thiên Liêng Hằng Sống.

Cầu Hồn Khi Đã Chết Rồi

Ban Trị Sự hành lễ y như hành lễ Cầu Hồn Khi Hấp Hối.

Rồi sau đó, tang quyến hoặc Ban Trị Sự sẽ đến Đền Thánh (nếu người quy vị là Chức Sắc) hay Thánh Thất để báo tử.

Đến đây sẽ rung chuông báo tử.

Nếu là Chức Sắc thì tùy vào Phẩm Cấp để rung chuông và đánh trống tại Đền Thánh

Phẩm Giáo Hữu và tương đương: rung 2 hồi chuông và đánh 2 hồi trống

Phẩm Lễ Sanh và tương đương: rung 1 hồi chuông và đánh 1 hồi trống

Nếu là Chức việc Ban Trị Sự và Đạo Hữu và các phẩm tương đương thì không đánh trống mà chỉ rung chuông

Thượng Sớ Tân Cố

Là dâng sớ lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng báo cáo 1 tín đồ Cao Đài mới vừa Quy Liễu, cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, và các Đấng thiêng liêng cứu độ vong hồn vị tín đồ vừa mới Quy Liễu được siêu thăng tịnh độ.

Thượng Sớ Tân Cố, có thể thực hiện tại Đền Thánh, tại Thánh Thất hoặc tại Thiên Bàn nơi tư gia người chết.

Người chết là Phẩm Chánh Trị Sự xuống Đạo Hữu hoặc tương đương thì người chứng đàn cầu nguyện là Chánh Trị Sự hương đạo sở tại.

Người Chết là Phẩm Lễ Sanh hoặc tương đương trở lên thì người chứng đàn cầu nguyện là Đầu Tộc, Đầu Phận Đạo, Khâm Châu Đạo hoặc Khâm Thành Thánh Địa.

Còn những việc khác thì Ban Trị Sự hành lễ theo nghi thức quy định.

Tẩn Liệm (Nhập Mạch)

Sau khi dâng sớ Tân Cố tại Đền Thánh, Thánh Thất hay tại gia đường thì chuẩn bị Lễ Tẩn Liệm.

Người thân dùng nước thơm ( nước nấu với các loại lá cây có mùi thơm) lau rửa vệ sinh sạch sẽ cho người chết, thay đồ cho người chết và mặc đạo phục theo Phẩm Vị, đắp 1 miếng vải trắng hình tam giác trên mặt người chết, bề đứng 33cm và góc nhọn để trên.

Tất cả người thân quỳ lạy Đức Chí Tôn và cầu nguyện, sau đó đến chỗ người chết nằm quỳ lạy người chết 1 lần.

Vị chứng đàn và 2 vị hầu lễ đến trước Thiên Bàn cầu nguyện Thầy.

Đốt 2 cây nến cho 2 vị hầu lễ cầm, vị chứng đàn bắt ấn Tý đến đứng trước đầu người chết, ra lệnh cho đồng nhi bắt đầu tụng kinh Tẩn Liệm, tụng 3 lần, khi niệm xong câu chú của Thầy 3 lần, vị chứng đàn và 2 vị hầu lễ trở lại trước Thiên Bàn xá Chí Tôn, rồi xả ấn Tý và tắt 2 cây nến.

Người thân lạy người chết 1 lần nữa, rồi đội Tẩn Liệm bắt đầu tiến hành Liệm Xác rồi đưa vào hòm.

Tấm Phủ Quan

Sau khi hòm được đặt đúng vị trí rồi thì dùng tấm Phủ Quan đắp lên hòm, tiếp sau là đặt giá đèn lên trên.

Tấm Phủ Quan (có 5 màu: vàng, xanh, đỏ, trắng, đen) là tấm vải để phủ lên hòm, là hình vuông với mỗi cạnh là 1m2, 4 mặt đều may ren, chính giữa thêu 1 Thiên Nhãn lớn với 12 ánh hào quang.

Trước khi đắp lên hòm cho người chết, người chứng lễ đem Tấm Phủ Quan đặt trước Thiên Bàn cầu nguyện đức Chí Tôn ban ơn cho người chết.

Màu sắc của Tấm Phủ Quan để phân biệt người chết là Nam hay Nữ, hoặc là phân biệt cơ quan, Chức Sắc Cửu Trùng Đài:

Chức Sắc và Chức Việc phái nữ Cửu Trùng Đài

Chức Sắc Hiệp Thiên Đài và Ban Thế Đạo

Chức Sắc Cửu Trùng Đài phái Thái

Chức Sắc Phước Thiện từ Phẩm Hiền Nhơn trở lên

Chức Sắc Cửu Trùng Đài phái Thượng

Chức Sắc Phước Thiện nam nữ đeo dây sắc lệnh màu xanh: Chí Thiện, Đạo Nhơn, Chơn Nhơn

Chức Sắc Cửu Trùng Đài phái Ngọc, Ban Trị Sự nam phái và các Phẩm tương đương,

Chức Sắc Ban Kiến Trúc, Bộ Nhạc

Chức Sắc Phước Thiện nam nữ đeo dây sắc lệnh màu đỏ: Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện, Bảo Thể, Đầu phòng văn.

Đạo hữu nam nữ, đạo sở, minh đức, tân dân (Phước Thiện), thư ký, trật tự viên, v.v…

Ý nghĩa của Tấm Phủ Quan có ý nghĩa giống với việc thờ Thiên Nhãn tại Khách Đình

Tấm Phủ Quan màu gì thì khi hòm đưa lên Thuyền Bát Nhã thì tấm Diềm Treo cũng màu đó.

Đốt Đèn Trên & Dưới Hòm

Trên Giá Đèn đặt trên nắp Hòm, đốt đủ 9 cây nến, không dư không thiếu và không được để tắt đi.

Phía dưới hòm đốt 1 ngọn đèn để khử trược lưu thanh.

Lập Bàn Vong – Khai Vong – Linh Vị

Lập Bàn Vong

Đặt 1 cái bàn trước Hòm làm Bàn Vong: 1 cặp chân đèn, 1 lư hương, 1 dĩa trái cây, 1 bình hoa, 1 chung rượu, 1 chung trà, 1 tấm Linh Vị (Bài Vị), 1 cây đèn, 1 tấm di ảnh có mặc đạo phục, 1 cây phướn Thượng Sanh đặt bên trái phía trong nhà nhìn ra cửa.

Nếu người chết ở Phẩm Lễ Sanh hoặc tương đương thì có thêm cây lộng.

Trước Bàn Vong dán tấm phủ màu trắng ghi chữ ví dụ như: Sanh Ký Tử Qui, Sanh Tiền Giác Ngộ Tam Kỳ Đạo, v.v…

Bên cạnh đó dán 1 miếng giấy nhỏ ghi: xin cầu nguyện cho: “Phẩm Tước, họ tên người chết, tuổi” để cho người viếng đám cầu nguyện.

Nơi Thiên Bàn cũng dán vậy: Nam dán dưới bình hoa hoặc các chuông, Nữ dán dưới dĩa trái cây hoặc cái mõ, để ban đạo cầu nguyện

Chuẩn bị khay hình vuông để đặt: 1. Linh Vị, 2. Dĩa trái cây nhỏ, 3. Bình hoa nhỏ, 4. Đèn Vọng, 5. Lư Hương nhỏ.

Khi hành lễ luôn đốt 3 cây nhang cắm vào. Khay Vong tượng trưng cho vị trí của Vong Linh.

Linh Vị (Bài Vị)

Là 1 miếng giấy nhỏ ghi: Họ tên người chết, Phẩm vị, tuổi, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, ngày tháng năm chết, nơi chết, ngày nhập môn cầu Đạo.

Cáo Từ Tổ – Thành Phục – Tang Phục

Chuẩn bị 2 mâm chay: 1 cúng Cửu Huyền Thất Tổ, 1 cúng Thần Hoàng Bổn Cảnh, phải có đủ hoa, rượu, nước trà.

Đặt đồ tang ngay ngắn trong 1 cái mâm (Mâm Tang Phục) để trước bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ. Trên Mâm Tang Phục đốt 2 cây nến.

Trước tiên, Chức Việc và người nhà đến trước Thiên Bàn cúng Đức Chí Tôn, không đọc kinh, chỉ cầu nguyện cho người nhà Thọ Tang.

Tiếp sau, đến bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thiết lễ Cáo Từ Tổ

Sau cuối đến bàn vong làm lễ Thành Phục phát tang.

Thời Gian Để Tang Đạo Cao Đài

Để tang 81 ngày: tới Chung cửu thì mãn tang.

Để tang 281 ngày: tới Tiểu tường thì mãn tang.

Để tang 581 ngày: tới Đại tường thì mãn tang.

Cúng Vong Triêu – Tịch

Nghi Tế Điện có 6 lễ sĩ hiến lễ, mặc áo lễ màu xanh đậm.

Việc Tế Điện và 4 bái thài hiến lễ có sự quy định khác nhau tùy Phẩm Cấp của người chết.

Lễ Cầu Siêu thực hiện trước Bàn Vong.

Tất cả người thân quỳ trước Bàn Vong.

Chức Sắc, Chức Việc, chư đồng đạo dự Lễ Cầu Siêu đứng 2 bên Bàn Vong, phân ra 2 bên nam nữ, tay bắt ấn Tý.

Sau Lễ Cầu Siêu là chư đồng đạo vào bái vong. Khi bái vong thì tay bắt ấn Tý, cầu nguyện cho vong linh rồi quỳ lại 3 lạy. Chức Sắc lớn Phẩm hơn người chết thì không lạy vong mà chỉ niệm hương cầu nguyện trước Bàn Vong.

Buổi tối tổ chức hòa nhạc trước Bàn Vong và luân phiên tụng kinh Di Lạc trước Thiên Bàn.

Lễ Chèo Hầu Tại Khách Đình

Phẩm Lễ Sanh chết làm lễ tang tại Khách Đình có chèo hầu vào buổi tối.

Các Phẩm Chánh Trí Sự trở xuống không có chèo hầu.

Việc Chèo Hầu được thực hiện trước hòm người chết ở Phẩm Vị Lễ Sanh làm tăng thêm phần Long Trọng của tang lễ của 1 vị Chức Sắc của Đạo.

Đối với Chức Sắc trên Phẩm Lễ Sanh,tức Giáo Hữu trở lên còn có Chèo Đưa, nghi lễ Long Trọng Hơn nữa.

Hành Pháp Độ Hồn: Phép Xác – Đoạn Căn – Độ Thăng

1 vị Chức Sắc Phẩm Giáo Hữu đến thực hiện Phép Xác – Đoạn Căn – Độ Thăng cho chơn hồn người chết, do gia đình thỉnh cầu, có sắp đặt trước.

Là tẩy rửa chơn thần người chết cho hết ô trược để nhẹ nhàng bay đến cõi linh thiêng

Là cắt đứt 7 dây oan nghiệp, không còn ràng buộc chơn thân người chết

Là đưa chơn hồn người chết bay lên Cửu Trùng Thiên (9 tầng trời)

Chi tiết về các nghi thức này sẽ được vị Chức Sắc Phẩm Giáo Hữu trở lên hướng dẫn.

Lưu Ý: Nếu người chết là Chức Sắc Phẩm Giáo Hữu trở lên thì việc hành pháp độ thăng được thực hiện tại Tòa Thánh.

Đối với trường hợp ở xa không có Chức Sắc hành pháp: cả Chức việc Ban Trị Sự cùng với gia đình tang quyến, bưng Khay Vong đến cúng trước Thiên Bàn, cầu nguyện Đấng Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng ban ân và tha thứ tội tình cho người chết rồi trở lại bàn vong tụng kinh cầu siêu nối tiếp kinh khi đã chết rồi. tụng 3 hiệp rồi niệm chú Thầy 3 lần, sau đó động quan đưa Linh Cữu ra Thuyền Bát Nhã.

Lễ Động Quan – Khiển Điện

Có nhạc và lễ. Đầu tiên là thực hiện Lễ Khiển Điện, Lễ Xướng:

Lễ An Táng Tại Nghĩa Trang

Tang chủ bưng Khay Vong đến trước Thiên Bàn xá 3 xá rồi đi theo Phướn Thượng Sanh, tiếp theo sau là Linh Cữu. Khi đưa ra tới đường lộ thì phải trật tự.

– Bảng Đại Đạo

– Phướn Thượng Sanh

– Đồng nhi tụng kinh đưa Linh Cữu, có đàn và tụng cho đến khi đến Huyệt mộ

– Bàn hương án có 1 lọng và 2 lễ sĩ theo hầu

– Vãng lụy và tràng hoa

– Thuyền Bát Nhã

– Gia đình tang quyến

– Chức Sắc – Chức Việc – Đạo Hữu đưa tang

– Phướn Thượng Sanh

– Trật tự đưa đám giống như trên nhưng không có Bàn hương án và Dàn Nam

Điếu Văn Cảm Tạ – Hạ Huyệt

Khi đến nghĩa trang, đặt hòm kê trên huyệt.

Vị chủ lễ đến trước Linh Cữu, trải chiếu và bài mâm cúng Thần Hoàng Bổn Cảnh.

Thân bằng quyến thuộc đọc điếu văn và lời cảm tạ. (Nếu có)

Gia đình tang quyến quỳ trước đầu Huyệt, tay bắt ấn Tý, đồng nhi bắt đầu tụng kinh Hạ Huyệt – 3 lần , tiếp sau đó đọc Vãng Sanh thần chú 3 lần rồi lại niệm câu chú của Thầy 3 lần.

Vị chủ lễ đúng ngang hòm, xá 3 xá rồi thu hồi Tấm Phủ Quan giao cho đội đạo tỳ.

Đội đạo tỳ bắt đầu tiến hành hạ hòm xuống huyệt.

*** Chú Ý: Đạo Cao Đài không mở cửa mả, không đem Linh Vị ra huyệt mộ để cúng, không rước vong về nhà thờ, không đốt giấy tiền vàng mã.

Riêng Đạo Cao Đài còn một số nghi thức sau đám tang như sau:

Tuần cửu – Tiểu tường – Đại tường – Xả Tang

Nghi Tiết Tang Lễ Hàng Thiên Thần

Nghi Tiết Tang Lễ Hàng Nhơn & Địa Thần

Ngoài ra, còn những trường hợp khác như sau:

Tang Lễ Của Đạo Hữu Giữ Lục Trai

Tang Lễ Bạt Tiến

Trường hợp khác: Tự tử – Sét đánh – Nhi đồng

Sẽ không thể tránh khỏi thiếu xót vì mỗi nơi sẽ có đôi chút khác biệt. Thành mong quý độc giả góp ý thêm để cải thiện chỉnh sửa cho hợp lý với Phong Tục và Điều Răn của Đạo Cao Đài.

Tham Khảo Thêm: Báo Giá Dịch Vụ Phục Vụ Tang Lễ Trọn Gói – Xem Tại Đây

Tham Khảo Thêm: Phong Tục Đám Tang Đạo Phật – Xem Tại Đây

Tham khảo Thêm: Phong Tục Đám Tang Đạo Công Giáo – Xem Tại Đây

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cách Vái Lạy Đúng Phong Tục Vn Khi Đi Dự Đám Tang ? / 2023 trên website Herodota.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!