Đề Xuất 12/2022 # Điều Kỳ Lạ Ở Tục Cúng Vuông Của Người Dân Miền Tây / 2023 # Top 20 Like | Herodota.com

Đề Xuất 12/2022 # Điều Kỳ Lạ Ở Tục Cúng Vuông Của Người Dân Miền Tây / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Điều Kỳ Lạ Ở Tục Cúng Vuông Của Người Dân Miền Tây / 2023 mới nhất trên website Herodota.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Mỗi vụ nuôi, họ thường khấn vái binh gia ở “cục đất” mà mình đang canh tác phù hộ để mùa màng được bội thu. Nếu thỏa ước nguyện thì sau khi kết thúc mùa vụ, họ sẽ cúng trả lễ binh gia bằng con heo quay, heo trắng (chưa quay), con chó, con vịt, mâm trái cây…

Từ lâu, tục cúng vuông sau mỗi vụ mùa đã ăn sâu vào tâm thức người dân nhiều tỉnh, thành của vùng ĐBSCL.

Trúng mùa thì cúng heo, chó linh đình…

Người dân cúng vuông, với mong muốn những binh gia, cô hồn ở mảnh đất mà họ đang canh tác phù trợ, đừng phá phách vuông nuôi để vật nuôi dưới vuông lớn nhanh, không bị hao hụt… thì đến khi thu hoạch, họ sẽ cúng trả lễ.

Việc cúng này như là sự trả ơn, đền đáp cho binh gia đã phù trợ, trông giữ các loài thủy sản dưới vuông nuôi. Đồng thời, thể hiện sự thành kính của chủ vuông đối với những âm binh, cô hồ khuất mặt đang ngự trị, sinh sống tại mảnh đất của họ.

Ông Linh (ngụ xã Long Điền Tây, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu) cho biết, tục cúng vuông ở địa phương đã có rất lâu đời, từ thời ông bà của ông Linh đã hình thành rồi. Gia đình ông Linh luôn có một niềm tin tuyệt đối với những binh gia ở khu vực vuông tôm của ông. Thông thường, trong mỗi vụ mùa, khi thả giống xuống vuông tôm, gia đình ông Linh đều khấn vái binh gia, bà cậu rất thành kính.

Một điều kỳ lạ là, mỗi lần van vái, người nuôi phải cam kết nếu trúng mùa thì kính dâng phần lễ lên những binh gia, bà cậu khuất mặt ở đó món gì, là phải cúng ngay món đó. Nếu gia chủ quên hoặc cố tình cúng món khác thì hậu quả mất mùa sẽ đến ở những vụ mùa sau.

Ông Linh chia sẻ: “Đầu vụ, trước lúc thả giống, tôi thường thắp nhang khấn vái rất thành tâm, đại khái là vái binh gia, bà cậu ở mảnh đất này đến chứng kiến việc thả giống xuống vuông và phù trợ cho vật nuôi lớn nhanh, ít hao hụt, đến khi thu hoạch được mùa thì sẽ cúng trả lễ bằng… 1 con chó. Tôi để ý nhiều lần rồi, cúng chó ở vuông tôm đều mang lại điều may mắn, trúng mùa ào ào”.

Thấy lạ, chúng tôi có hỏi ông Linh, tại sao phải cúng chó ở vuông nuôi mà không cúng các loài vật khác? Ông Linh giải thích, tùy vào tâm ý của người nuôi mà họ van vái binh gia, bà cậu ở vuông đó và có thể kính dâng lên bất kể món ăn gì, chứ không nhất thiết phải là chó.

Riêng gia đình ông, ông cảm nhận được âm binh, bà cậu ở mảnh đất của gia đình ông rất thích dâng lễ vật là chó nên từ trước đến nay, ông đều van vái nếu mùa màng bội thu thì ông sẽ kính dâng lên những người khuất mặt đang cai quản, trông giữ vuông tôm của ông 1 con chó hơi (chưa xả thịt), kèm theo mâm hoa quả, rượu và gạo muối…

Ông Linh nói: “Tôi thường đặt ra chỉ tiêu trong mỗi vụ nuôi, nếu năm nào mà binh gia độ tôi lãi trên 200 triệu đồng thì tôi cúng chó quay, còn nếu mà trúng mùa, nhưng dưới mức đó thì tôi cúng chó thường.

Tôi luôn quan niệm, chó là loài vật tinh khôn, luôn trông giữ nhà cửa, tránh không bị trộm cắp thì khi dâng lên thần linh, loài vật này sẽ giúp thần linh cai quản các loài thủy sản trông vuông nuôi không bị hao hụt, mất trộm… Và tôi cảm thấy, âm binh ở đây rất chuộng việc cúng chó, mỗi lần tôi vái cúng chó là vuông tôm trúng rần rần, nhiều lần trúng tôm phải giấu vì sợ kẻ xấu phát hiện, trộm tôm”.

Nói về việc cúng vuông, ông Dữ (ngụ huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu) cho rằng, có rất nhiều cách để cúng vuông. Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của từng gia đình, mà người nuôi có thể van vái, cúng kiếng lên thần linh những món ăn khác nhau, thường thấy nhất là cúng heo và trái cây, rượu thịt.

“Nếu nhà nào giàu có thì họ cúng nguyên con heo quay và trái cây. Còn nhà khó khăn mà được thần linh khuất mặt, khuất mày độ thì họ cúng đầu heo hoặc gà, vịt và rượu, gạo muối…”, ông Dữ nói.

Theo người đàn ông này, mỗi khi trúng mùa, người dân địa phương rất hào sảng, phóng khoáng cúng dâng lên “bề trên” rất nhiều món ăn, trong đó chủ đạo vẫn là món mà họ vái trước đó. Bởi họ luôn tâm niệm, nhờ có sự phù trợ của “bề trên” nên họ mới trúng mùa và có được cuộc sống sung túc như vậy.

Do đó, nếu không van vái thì thôi, còn đã van vái mà thỏa được ước nguyện thì phải thực hiện lời hứa của mình. Ông Dữ còn nói thêm, trước ông quen 1 người ở Cà Mau đến địa phương này thuê đất để nuôi tôm. Trước khi thả giống, người này cũng van vái cúng kiếng đủ điều. Tuy nhiên, sau khi xổ vuông trúng liên tiếp nhiều con nước thì người này không chịu cúng trả lễ như đã hứa, nên sau đó liên tiếp mất mùa. Hậu quả là phải trả vuông về quê.

“Vái mà không thực hiện thì sẽ nhận lấy hậu quả, tôi để ý nhiều rồi. Những người khuất mặt họ cũng vất vả, phù hộ cho vật nuôi của mình mau lớn để nhận được công trạng như lời hứa của chủ vuông, nhưng khi đã trúng mùa, mà người nuôi lại bội ước, thì tội lỗi lắm. Nếu không cúng thì những vụ sau tôm nuôi chưa lớn đã chết hết rồi”, ông Dữ kể.

Thất mùa thì cúng… trứng vịt lộn

Ông Dũng (ngụ huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau) chia sẻ, ông nghe người ta kể vụ mùa trúng thì nên cúng heo quay, chó quay… để dâng lên cho bà cậu khuất mặt ở đó, thì sẽ rất hên. Với ngụ ý khi được cúng kiếng thì âm binh này sẽ hết mình hỗ trợ cho chủ vuông.

“Tôi nghĩ, lâu nay việc cúng kiếng, van vái đã ăn sâu vào tâm thức của người dân mình rồi, làm gì cũng cúng vái, nuôi gì cũng cúng vái. Họ làm vậy để an tâm thôi, chứ quan trọng nhất vẫn là yếu tố kỹ thuật, có kỹ thuật tốt thì cái gì cũng đạt kết quả.

Dù không tin, nhưng tôi vẫn cúng kiếng, van vái cho an tâm. Ở xứ này, tôi thường cúng vái binh rừng, vì ở đây là xứ rừng, trong vuông tôm lúc nào cũng trồng nhiều cây đước”, ông Dũng nói.

Theo ông Dũng, ông thuê khoảng 7 héc-ta đất rừng để nuôi tôm, mỗi lần trúng mùa thì ông cúng heo quay, heo trắng đuề huề. Riêng, những lần thất mùa thì ông cúng… hột vịt lộn luộc. Với ngụ ý thất mùa thì cúng trứng vịt lộn để bà cậu khuất mặt ăn, rồi phù hộ mà “lộn lại” thành… trúng mùa để người nuôi bớt khổ.

Khi nghe chúng tôi hỏi, thời gian cúng là lúc nào và có khi nào vái mà không trúng không? Ông Dũng cười hiền rồi đáp rằng: “Có chớ! Không cúng hoài chớ gì, vái mà không độ thì lấy gì mà cúng. Thời gian cúng thì không bắt buộc đâu, muốn cúng ngày nào là cúng thôi. Tất cả đều phụ thuộc vào chủ vuông thôi, nếu con nước đó trúng mùa thì khi kết thúc con nước họ sẽ cúng”.

Còn ông Anh (ngụ huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau) cho rằng, nếu trúng mùa thì có rất nhiều cách cúng, thậm chí là cúng rất linh đình, trang trọng, vái gì cúng đó. Còn thất mùa thì chỉ có một cách cúng duy nhất là trứng vịt lộn. “Trúng thì có tiền, có của nên làm rình rang, van vái, cầu khẩn mong mùa sau cũng trúng như vậy. Còn thất bát quá, lấy tiền đâu mà mua lễ vật cúng, mà cũng chẳng ai vái lạy mình thất mùa cả. Nên những vụ mùa thất bát, chủ vuông chỉ mua hột vịt lộn dâng lên binh rừng, với mong muốn họ độ, “lộn lại” vụ sau sẽ được trúng mùa”, ông Anh chia sẻ.

Trên thực tế, việc nuôi thủy sản trúng mùa hay mất mùa không phụ thuộc vào yếu tố cúng vuông hay van vái bất kỳ một yếu tố siêu nhiên nào. Tất cả là do chất lượng con giống, môi trường ao nuôi, thời tiết… Nếu các yếu tố này đạt tiêu chuẩn tốt thì vuông nuôi đó chắc chắn sẽ có một vụ mùa thuận lợi, bội thu.

Việc cúng vuông, chủ yếu là do tâm lý của người dân, cúng để họ an tâm hơn trong việc sản xuất, canh tác ở mảnh đất đó. Một kỹ sư có chuyên ngành nuôi trồng thủy sản ở Bạc Liêu khẳng định: “Làm gì có chuyện cúng vuông sẽ quyết định vụ mùa trúng hay thất.

Không có đâu, đó chẳng qua là do người dân mê tín thôi, cúng để họ vững tâm lý. Tôi lấy ví dụ, nếu người nuôi thả giống vào một miếng vuông nào đó, mà các yếu tố như con giống thì không chất lượng, nguồn nước thì nhiễm bệnh hoặc nắng mưa thất thường, còn người nuôi thì không có kinh nghiệm, kỹ thuật… thì tôi khẳng định luôn, dù họ có vái, cúng trăm ngàn món ngon, vật lạ đi nữa thì cũng thất mùa thôi. Tất cả là do kỹ thuật nuôi cả!”.

TRẦN KHẢI

Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Của Người Dân Miền Tây Và Ý Nghĩa / 2023

Tết thì chung, nhưng phong tục ngày tết mỗi vùng miền lại khác. Sự chất phác, thật thà và đôn hậu của người dân miền Tây Nam Bộ được thể hiện qua mâm ngũ quả ngày tết.

Mâm ngũ quả ngày tết của người dân miền Tây mang đậm tính hiền hậu

Cũng giống như người dân Nam bộ nói chung, mâm ngũ quả của người dân miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long – ĐBSCL) không bao giờ có chuối.

Theo quan niệm của người dân ĐBSCL thì loại quả này tên gọi có âm giống từ “chúi” thể hiện sự nguy khó. Quả cam cũng không được có mặt trong mâm ngũ quả ngày Tết, vì câu “quýt làm cam chịu”.

Mâm ngũ quả của người dân Tây Nam Bộ thường gồm các loại trái cây như mãng cầu, dừa, đu đủ, sung vì nó tượng trưng cho “Cầu vừa (dừa) đủ sung”. Nếu không tìm được sung thì có thể chưng xoài hoặc thơm.

Ngoài ra, thời gian gần đây, người dân vùng đồng bằng sông nước nước cong chưng thêm qủa Dư (quả này không ăn được) với mong muốn được dư dã, sung túc.

Những chỗ khuyết trên mâm ngũ quả, được người dân miền Tây Nam Bộ đặt xen kẽ vào những quả quýt vàng, táo màu xanh hoặc những trái ớt đỏ mọng làm cho mâm ngũ quả được đầy đặn và hoàn thiện.

Ngoài mâm ngũ quả, người dân miền Tây Nam Bộ còn chưng thêm cặp dưa hấu đỏ hoặc vàng. Dưa hấu lựa chưng tết là dưa hấu quả tròn, to và đẹp, đồng thời hai quả phải cân xứng nhau.

Mâm ngũ quả là một phần không thể thiếu trong ngày tết cổ truyền của người dân ĐBSCL. Mỗi loại quả khi bày trên ban thờ đều có ý nghĩa riêng, thể hiện những ước nguyện của gia chủ trong năm mới đến.

Cần hiểu hết ý nghĩa các loại quả: Mâm ngũ quả, nghĩa là mâm bày 5 loại quả, tương ứng với 5 màu theo ngũ hành. Theo quan niệm của người phương Đông, các màu quả cần có là: đen, đỏ, xanh, trắng, vàng, lần lượt tượng trưng cho Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Tránh rửa sạch quả trước khi bày lên mâm: Nhiều gia đình mua quả về, thường rửa cẩn thận cho quả bóng và đẹp. Song việc rửa quả sẽ làm quả sớm bị héo hoặc thối nếu có chỗ đọng nước. Chính vì thế, chỉ cần dùng khăn giấy ẩm lau sạch quả là được.

Không nen chọn ngay quả chín đẹp: Mâm ngũ quả thường được chưng trước đêm 30 Tết, được các gia đình bày biện vào sáng hoặc chiều 30 Tết. Tuy nhiên, nhiều gia đình có thể mua quả từ ngày 27 – 28 Tết, thậm chí sớm hơn.

Vì mâm quả sẽ còn để từ 30 Tết đến vài ngày sau (thường là hết Tết), nếu chọn mua những quả đã chín đẹp thì quả có thể bị chín quá và héo lá nhanh.

Do vậy, cần lựa những quả già nhưng chưa chín quá, chuối nhất định phải là chuối xanh. Các loại quả: xoài, mãng cầu, đu đủ, hồng… nên mua quả vừa chín tới.

Tục Lệ Cúng Đất Của Người Dân Huế / 2023

Tục lệ cúng đất của người dân Huế

Cúng đất còn có tên là lễ ” Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.

Vậy thì vì sao ở Huế có tục lệ cúng đất mà những nơi khác lại không có? Tương truyền, khi Công chúa Huyền Trân được gả cho vua Chế Mân của nước Chiêm Thành vào năm 1306, Đại Việt ta nhận được sính lễ từ vua Chăm là vùng đất 2 châu: Châu Ô, Châu Lý (Châu Rí). Tính theo ngày nay là vùng đất phía Nam tỉnh Quảng Bình cho đến phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi. Như vậy, cư dân ở vùng đất này vốn là cư dân của Vương quốc Chămpa, theo suy nghĩ của người Đại Việt lúc bấy giờ vùng đất này là vùng đất xa lạ, họ chưa quen thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình cho nên khi vào đây lập nghiệp họ mang trong mình sự tôn kính đối với người dân bản địa và các vị thần linh ở đây. Từ đó, họ có lệ cúng Đất như là việc mong thần linh và những linh hồn người bản địa từng cư ngụ ở đây phù hộ độ trì, chấp thuận cho sự có mặt làm ăn sinh sống của cư dân Đại Việt ta.

Qua đó, ta thấy rằng Lễ cúng Đất không chỉ có ở Huế mà cả vùng từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi. Nhưng ngày nay, ở các vùng đó vì nhiều lí do họ không còn cúng đều như ở Huế nữa. Là vùng đất xứ Kinh kỳ đầy tâm linh, Huế vẫn giữ nét truyền thống ấy một cách đầy thành kính.

Một lễ cúng đất đầy đủ nhất có đến 3 bàn: bàn thượng, bàn trung và bàn hạ. Mỗi bàn đều có hương đèn, hoa quả, cau trầu rượu, giấy vàng mã. Bàn thượng đặt bộ áo thổ thần, vật thực gồm con gà, bát xôi, xung quanh là xôi chè. Bàn trung đặt hai bộ áo bà, năm bộ áo ngũ phương, lễ vật gồm miếng thịt heo luộc, đĩa xôi, ba đĩa cua trứng luộc chín, có miếng thịt tợ đặt lên trên và mâm cỗ cúng cơm, đặt biệt có đĩa rau khoai luộc, chén nước ruốc và xâu cá, thịt nướng. Bàn hạ đặt áo, cháo, gạo, muối, khoai, sắn, đậu lạc…Ba bàn đặt trước nhà, gia chủ đứng từ trong nhà lạy ra. Danh sách dâng cúng và khấn vái gồm đất nhà cửa của gia chủ cho đến thần suối, thần giếng và tổ tiên làng xã, gia tộc. Đặc biệt là dâng cúng những cô hồn người Chăm từng cư trú, những oan hồ không ai thờ tự…

Khi gần xong lễ, gia chủ sẽ sớt một ít vật thực, và một số thực phẩm nói trên vào cái bẹ chuối gập thành hình cái đãy nhỏ cùng ít áo giấy âm binh đem treo ở góc vườn. Vàng mã thì đốt đi, cháo thánh, gạo muối vãi lên trên khi lửa đốt sắp tàn.

Lễ cúng này biểu tỏ nét đẹp trong tâm thức của cư dân Huế nhằm cầu nguyện âm siêu, dương thái, cuộc sống an lành.

Theo Thiêu Trúc (KPH)

Đám Giỗ Trong Phong Tục Người Miền Tây / 2023

Cúng cơm cho người đã mất trong gia đình

Đa phần người Việt ở vùng Tây Nam Bộ (không tính những người theo các tôn giáo), sẽ cúng tuần, làm đám giỗ cho người chết. Cúng tuần (gọi là làm tuần), thường là cúng 49 ngày, 81 ngày, 100 ngày, một năm, hai năm, … tính từ ngày người thân qua đời.

Thời gian mãn tang cũng rất phong phú, theo đúng sách vở (dân gian truyền thế nhưng chẳng ai biết cụ thể sách nào), thì ba năm mới mãn tang, nhưng trên thực tế không có mấy nhà để lâu như vậy. Thường là sau một năm, lâu hơn thì hai năm, còn ngắn có khi làm tuần trăm ngày người ta tổ chức làm tuần mãn tang. Họ quan niệm rằng còn trong vòng tang chế thì khó làm ăn. Con cháu đông đúc khó khăn nhiều mặt, thôi thì xả tang cho xong!

Anh chết ba năm sống lại một giờ, Để xem người ngọc phụng thờ ra sao ?

Sau khi mãn tang, đến ngày, tháng người quá cố mất, con cháu sẽ tiến hành làm đám giỗ (có chỗ gọi là cúng cơm), từ tư liệu thực tế điền dã, chúng tôi miêu tả là các công đoạn cũng như ý nghĩa của ngày lễ này trong phong tục dân gian Tây Nam Bộ

a. Đầu tiên là việc chưng, dọn bàn thờ Chúng tôi được nghe các bậc trưởng thượng kể rằng, ngày trước, khi còn người nhắm mắt xuôi tay trên chiếc giường cây hay chiếc chõng tre, thì sau khi khâm liệm chôn cất người quá cố cái gường ấy được dùng để thờ, với tâm thức nhớ người đã nằm ngủ ở đó.

Phía trước giường thờ đặt một tấm ván kê cao hơn, một cái bàn hay nhà nghèo thì dùng cái ghế nhổ mạ để lư hương gọi là bàn thờ. Dần dần cái giường ấy được thay thế với cái bàn thấp, đặt sát vách, khi làm đám giỗ, thức ăn chưng bày trên đó. Khi văn hóa Phương Tây vào Việt Nam, nghề mộc ở miền Tây Nam Bộ cũng phát triển, thợ mộc bắt chước cái “tủ” của Pháp, theo mô thức thời vua Louis XVI, bề đứng cao hơn bề ngang, bốn phía bít bùng với vách ván. Mặt trước kín, không mở ra, cửa bố trí hai bên hông. Hai bờ của tủ, ở mặt trước từ trên xuống dưới, thường chạm những hạt chuỗi màu bạc khít nhau, và dùng nó để thờ phụng. gọi là tủ thờ. Người ở vào cái tuổi thất thập cổ lai hi thường đóng tủ thờ bằng cây gỏ, cây trắc hoặc cẩm lại, để lại đến đời cháu nội, cháu cố tủ thờ mình vẫn còn tốt và cứng.

Trên tủ, thường là tranh thờ, viết bằng chữ Hán, với đôi câu đối:

Tổ công phụ đức thiên niên thạnh Tử hiếu tôn hiền vạn đại vinh

Ở giữa tranh là hai chữ Từ Đường, hoặc Cửu huyền thất tổ. Bàn thờ, bày biện một số “vật”:

Chiếc lư, nhà giàu đúc bằng đồng chạm trổ lân, phụng, nhà nghèo dùng lư bằng sành, thậm chí một phần chiếc lon nhựa, trong đổ ít cát, hoặc gạo để cắm nhang, gọi nôm na là “lư hương”. Phía sau lư hương đặt di ảnh người khuất (trước đây là hình vẽ, sau này khi công nghệ phát triển thì ảnh chụp, rọi, tráng, …), nếu có hai hay ba bốn người quá cố thì có chừng ấy lư hương, cũng có trường hợp người mất không có ảnh, nhưng lư hương thì không thể thiếu.

Đi về lập miễu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Kế di ảnh, ngày xưa để cái “thần chủ” đầu lớn, đầu nhỏ, chữ khắc trên miếng gỗ, như kiểu lý lịch, thường nêu lên chức tước, của người khuất mặt. Nay, tục này không còn!

Phía trước, ở hai góc đặt hai chân đèn có thể bằng đồng hoặc tiện bằng gỗ quý, chính giữa có ba cái chung nhỏ để châm trà, rượu, cây đèn chong cóc đốt bằng dầu, bình cắm hoa, … Nếu bàn thờ người mới mất chưa xả tang thì cây đèn này luôn cháy, có nhà kỹ hơn, nặng tình với người quá cố thì thắp nhang liên tục. Khi đã mãn tang thì đèn và nhang chỉ đốt vào ban đêm (tàn một lượt nhang thì thôi, đèn để đến sáng hôm sau).

Ngó lên nhang tắt, đèn mờ, Mẫu thân đâu vắng, bàn thờ lạnh tanh

Trên bàn thờ cũng có khi người ta chưng thêm dĩa trái cây coi như mời người khuất mặt … thưởng thức của ngon vật quý!

Đến ngày đám giỗ, người thờ cúng phải dọn dẹp cho sạch bụi, chân đèn, lư hương được đánh lại cho sáng bóng. Chân nhang ở lư hương được rút bỏ chỉ chừa lại ba cây, để bắt đầu “một năm mới” cho người đã khuất.

Ngoài ra trên bàn thờ ngày giỗ còn được chưng thêm trái cây, bánh tét, bánh ít, bánh bò, hay các họp bánh, mứt, …

b. Chuẩn bị các món cúng giỗ trong ngày tiên thường Gần tới đám, gia chủ chuẩn bị trước nửa tháng, mười ngày, từ việc chọn lựa nếp, rọc lá chuối, chẻ lát làm lạt để gói bánh, chuẩn bị củi khô để đun nấu, … Đến trước ngày giỗ chính một hoặc hai ngày, bà con, dòng họ hay người cùng xóm đến giúp. Đàn bà, con gái thì gói bánh tét, bánh ít, (trong lễ cúng tuần phải có thêm bánh cấp, bánh cúng (gói như bánh tét, nhỏ hơn lại không nhưn, chỉ đơn thuần là nếp, bánh này sau đó được cho thầy chùa mang về, vì thế có câu ca: Lấy chống thầy chùa ăn bánh hỏng nhưn!), hoặc đổ bánh bò, bánh da lợn. Đây cũng là dịp để các bà các chị vừa trổ tài khéo léo của mình vừa dạy cho các cháu gái sau này biết nấu nướng bánh trái,

Đàn ông thì tát mương, dở chà bắt cá, nếu là nhà giàu có làm heo, làm chó…

Cồng cộc bắt cá dưới bàu Cha mẹ mày giàu, mầy giỗ đầu heo

Đám cúng lớn hay nhỏ có khi còn do mối quan hệ giữa người đã khuất với người đứng ra cúng giỗ

Thờ chàng đĩa muối đĩa rau, Thờ cha kính mẹ mâm cao cỗ đầy

Con cháu, láng giềng đến xem chủ nhà cần gì thì phụ giúp, tiếp xách nước bắt lò, che thêm tấm bạt lấy bóng mát để tiếp khách, hay mượn thêm bàn, ghế, chén tô…

Đến chiều gia chủ nấu cơm cúng bình thường, tàn nhang, mọi người thường ngồi lại lai rai vài ba xị đế hoặc chơi vài ván cờ tướng, đàn ca vài ba bài bản tài tử ca ngợi công ơn sinh thành dưỡng dục, … Đến khuya thì ai về nhà nấy.

c. Ngày giỗ chính Tờ mờ sáng hôm sau, con cháu người mất cũng như những người hàng xóm chung quanh trên tay xách con gà con vịt, người thì bọc bánh hộp trà, có khi là cá lóc, tôm càng, …, hoặc lít rượu đế mang đến cùng phụ giúp gia chủ lo lễ cúng. Đồ mang cúng thường là đồ họ trồng, tỉa hoặc kiếm bắt được. Họ tự làm, tự kiếm, chứ ít khi mua, có vậy mới thành tâm với người đã khuất, …

Con cháu đi làm ăn xa không về kịp hay gặp bất trắc gì đấy mà vắng mặt, thì hãy nhớ câu:

+ Chữ rằng: vấn tổ tầm tông, Cháu con nỡ bỏ cha ông sao đành.

+ Anh đi ghe cá cao cờ, Ai nuôi cha mẹ, ai thờ tổ tiên?

+ Công danh hai chữ tờ mờ, Lấy gì khuya sớm phụng thờ tổ tiên.

Mọi người đến lúc một đông, người nào việc nấy người làm gà, vịt, người nấu nước châm trà, người lo bánh mức, …

Các bậc cao niên thường uống trà đàm đạo chuyện nhân tình thế thái, anh em dòng họ lâu ngày gặp nhau vừa hỏi thăm sức khoẻ, công việc đồng áng,… vừa là dịp để con cháu họ hàng nhận mặt, nhớ mặt bà con,… Có gia đình đông vui hơn cả trăm con cháu dâu rễ, chít chắt, … Có lẽ chỉ có ngày giỗ ông bà họ mới tề tựu đông như vậy.

Đến khoảng 9 – 11 giờ khi nấu nướng chiên xào xong xuôi thì bày lên cúng. Ngoài mâm cúng chính bày biện tươm tất trên bàn thờ người khuất. Bao giờ cũng có thêm các mâm khác: đó là mâm cúng tổ tiên (dành cho người đã khuất cao hơn người được cúng), mâm cúng đất đai, và mâm bày ngoài sân cúng âm binh cô hồn. Xin nói thêm về mâm cúng này, thức ăn có thể không bằng các mâm khác nhưng bao giờ cũng có, bởi người ta quan niệm, ông, bà mình có con cháu cúng giỗ, thì còn bao nhiêu hồn oan, trôi sông lạc chợ, hồn của kẻ “sảy cối sa cây” không nơi nương tựa. Quả là một nét đẹp rất nhân hậu của người hiện tiền dành cho người khuất mặt ngay cả những đối tượng mà họ chưa hề quen biết. Các mâm cơm này không có lư hương, nhang được cắm trên một khúc thân cây chuối, một đoạn bụp dừa nước, …

Mâm cúng thường không thể thiếu cơm (vì vậy còn được gọi là cúng cơm), thịt heo kho nước dừa tươi, thịt xào đậu đũa, tép xào khóm, khổ qua hầm dồn thịt, gà vịt nấu cà ry và nhất là phải có cù lao (một loại lẩu), …Đám lớn thì có thịt heo không thì gà vịt, cá tôm cũng được. Riêng thịt chó chỉ làm để bà con anh em “nhậu chơi” chứ không cúng trên bàn thờ.

Khi mâm cỗ bày biện xong thì người chủ gia đình, hoặc con trai lớn cúng vái mời người đã khuất về ăn uống.

Công cha đức mẹ cao dày, Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ. Nuôi con khó nhọc đến giờ, Trưởng thành con phải biết thờ hai thân. Thức khuya dậy sớm cho cần, Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con

Trong khi ấy, con cháu người đã khuất thắp ngang và quỳ lạy 4 lạy trước bàn thờ để tỏ lòng nhớ ơn và tưởng niệm.

+ Con lạy cha hai lạy một quỳ, Lạy mẹ bốn lạy, thầm thì vái van.

+ Mai đà hạc lánh hình di Tây phương đất Phật, mẹ đi không về!

Nhang cháy dần đến hơn nửa cây thì người ta cúng ít rượu trắng (không cúng bằng rượu thuốc!) và ít trà rồi “lui nhang”.

Họ coi nhân ngày giỗ vừa cúng người chết vừa là để trả ơn những người hàng xóm hay anh em đã giúp đỡ mình trong cuộc sống.

Đến chiều, chủ nhà còn bày cúng mâm chiều. Thường thì mâm cúng này chỉ là mâm cơm gia đình, chỉ có anh em dòng họ thân tín hay người ở xa chưa về kịp mới chứng kiến và dùng bữa sau đó. Kết thúc mâm cúng chiều, chủ nhà còn đốt tượng trưng một số ít quần áo giấy tiền âm phủ để người chết dùng cho năm tới, …

Ngày giỗ chính thức chấm dứt ở đây.

Đám giỗ cứ truyền cúng như vậy cho đến đời cháu thứ ba thứ tư không còn nhớ ngày nữa thì thôi. Cháu ở đời càng xa so với người chết thì cúng càng nhỏ có khi chỉ là mâm cơm thêm món ăn hơn thường ngày, hay cúng nồi chè, nồi cháo là đủ, một hai năm sau nữa … bỏ luôn! Và cũng từ đấy chấm dứt hẳn một đời người!

Trần Minh Thương Nguồn:vanchuongviet.org TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp, 1990 2. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006. 3. Trần Minh Thương, Vài nét về lễ cúng giỗ của người Việt ở Sóc Trăng, Tạp chí Nguồn sáng Dân gian, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, số 3, 2007. 4. Trần Quốc Vượng (chủ biên), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo Dục, H. 2006

Bạn đang đọc nội dung bài viết Điều Kỳ Lạ Ở Tục Cúng Vuông Của Người Dân Miền Tây / 2023 trên website Herodota.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!