Đề Xuất 12/2022 # Ngày “Vía Thần Tài” Nên Cúng Như Thế Nào Để Cả Năm Rước Lộc / 2023 # Top 20 Like | Herodota.com

Đề Xuất 12/2022 # Ngày “Vía Thần Tài” Nên Cúng Như Thế Nào Để Cả Năm Rước Lộc / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Ngày “Vía Thần Tài” Nên Cúng Như Thế Nào Để Cả Năm Rước Lộc / 2023 mới nhất trên website Herodota.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngày Vía Thần Tài nên cúng như thế nào để cả năm rước Lộc

Vấn đề vào ngày Vía Thần Tài nên cúng như thế nào, chuẩn bị lễ vật như thế nào và những điều nên – kiêng trong ngày cúng Vía Thần Tài để được các vị phù hộ là điều rất nhiều người quan tâm, đặc biệt là những gia đình trẻ mới lập bàn thờ mới chưa từng trải qua những việc này.

Theo các chuyên gia về Phong Thủy, vào ngày Vía Thần Tài (Mồng 10 Tháng Giêng) mọi người nên chuẩn bị lễ cúng Thần Tài để cầu xin một năm may mắn, mua may bán đắt, công việc thuận buồm xuôi gió tiền vào bạc tỉ…

Cúng Vía Thần Tài cần chuẩn bị những lễ vật gì?

Theo quan niệm từ xưa, lễ vật cúng Vía Thần Tài gồm: 1 con cá tràu (cá quả) nướng, một miếng thịt heo quay (1 con heo quay cũng được), 1 con tôm, 1 con cua, 1 đĩa ngũ quả tươi, một lọ hoa tươi, một bộ tiền vàng mã cúng Thần Tài. Dân gian cũng tương truyền rằng Thần Tài rất thích ăn heo quay và chuối đã chín vàng nên 2 món này không được thiếu trong lễ cúng vía thần Tài.

Một lễ vật nữa cũng rất cần thiết trong ngày cúng vía thần tài đó là vàng gia chủ vừa mua mới. Theo tục cúng vía Thần Tài từ xưa việc mua một trang sức bằng vàng đặt lên bàn thờ Thần Tài lúc cúng để xin Lộc, sau đó đeo trang sức bằng vàng đó trên người sẽ được may mắn suốt cả năm. Đó là lý do tại sao cứ vào ngày Đại Tài (Mùng 10 Tháng Giêng) người người lại đổ xô đi mua vàng.

Những điều cần lưu ý khi thờ cúng Thần Tài

Để việc thờ cúng Thần Tài trở nên linh nghiệm và nhận được nhiều may mắn, gia chủ khi thờ cúng các vị nên lưu ý những điều cơ bản sau đây:

Tượng các ngài nên chọn những pho tượng Thần Tài, Ông Địa có gương mặt tươi cười hoan hủ, sáng sủa, tượng không bị nứt mẻ, nhìn vào toát lên sự phú quý. Nên chọn tượng làm từ các chất liệu sứ, bột đá cao cấp.

Hàng ngày thắp hương cho các vị hai lần buổi sáng từ 6 – 7h và buổi chiều tối từ 18h – 19h. Thay nước uống mỗi lần thắp hương, thay nước trong lọ hoa và bàn thờ luôn luôn có hoa quả tươi, đặt biệt là chuối chín vàng

Rượu hay nước thì đứng ngoài cửa tưới vào nhà, có ý nghĩa là đem lộc vào.

Không để các vật nuôi trong nhà quậy phá làm ô uế bàn thờ Thần tài.

Hàng tháng thường lau bàn thờ, tắm cho Thần tài vào ngày cuối tháng và ngày 14 âm lịch với nước lá bưởi, hay rượu pha nước. Khăn lau và tắm cho Thần tài không được dùng vào việc khác.

Ngày Giỗ, Ngày Sinh Và Tập Quán Gắn Với Ngày Sinh / 2023

Lễ giỗ được xếp vào loại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Theo tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày mất của người thân (ông bà, cha mẹ, những người ruột thịt…) làm trọng cho nên có ngày đó. Vào dịp đó, những người thân hay đi thăm phần mộ rồi tổ chức làm cỗ cúng và tùy vị trí, gia cảnh người đã khuất mà làm to hay nhỏ.

1. Thường thì giỗ cha mẹ làm to rồi trở lên mỗi đời mỗi xa thì giảm đi. Đây cũng là dịp những người thân trong gia đình gặp nhau tưởng nhớ công tích người đã mất và bàn việc người sống giữ gìn gia phong, gia đạo. Tuy nhiên, còn một hình thức lớn hơn là giỗ họ. Bởi nhiều gia đình họp thành một ngành (chi), nhiều ngành họp thành một họ. Mỗi họ có một ông tổ chung. Ngày giỗ ông tổ gọi là ngày giỗ họ hoặc giỗ tổ. Mỗi họ đều có một nhà thờ tổ. Giỗ tổ thường cúng tại nhà thờ này. Ngày giỗ họ là dịp duy nhất trong năm để cả nhà họp mặt. Ngày giỗ của gia đình thường cúng ở nhà con trai trưởng hoặc nhà cháu đích tôn (trường hợp con trưởng đã chết).

Tục lệ thờ cúng tổ tiên mang ý nghĩa uống nước nhớ nguồn. Việc cúng giỗ là một điều trong chữ hiếu. Thể theo phong tục đẹp này mà nhà nước ta đã giữ gìn việc tổ chức trang nghiêm ngày giỗ của các anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ nước như ngày giỗ tổ Hùng Vương, giỗ Hưng Đạo Vương, Lê Thái Tổ, giỗ trận Đống Đa, tưởng niệm thương binh liệt sĩ 27.7… Thường ngày giỗ được tổ chức theo âm lịch.

Có ý kiến giải thích vì dân ta trước đây ít ai chú ý tới ngày sinh (do không biết chữ, do đời sống vất vả khó khăn…) trừ một số gia đình quan lại hoặc công chức có lá số tử vi hoặc giấy khai sinh, nên chỉ chú ý tới ngày mất?! Chỉ phương Tây là có tập quán mừng ngày sinh. Không đúng, bởi tôn giáo Đông Tây đều coi trọng ngày sinh. Phật giáo có ngày Bụt sinh Bụt đẻ (Phật Đản 8.4 âm lịch), công giáo có ngày Thiên chúa giáng sinh (25.12 dương lịch). Ở Việt Nam, nếu xét theo lễ tục vòng đời thì từ lúc được sinh đẻ cho đến ngày lên lão, người Việt có nhiều sinh hoạt chứng tỏ niềm trân trọng với con người, nhất là những người đang sống.

2. Trước hết, người dân ta tin rằng đứa trẻ được sinh ra thì ngay lập tức đã có mười hai vị nữ thần phù hộ gọi là mười hai bà Mụ. Đây là những người (hoặc thần) đầu tiên nâng đỡ, dạy dỗ trẻ thơ:

Mười hai bà mụ/ Phù hộ con nhà/ Nâng như nâng trứng/ Hứng như hứng hoa…/… Bà là bà Trời: Dạy con nằm nôi/ Là bà Đầu Võng/ Bà bày ngóng sáng/ Bà dạy nhìn trời/ Chúm miệng chúm môi/ Là bà dạy cười/ Chân co tay trở/ Là nhờ bà Đỡ/ Bà cho cháu lật/ Bà dạy cháu bò/ Bà cầm tay cho/ Là con biết chững…

Sinh được đứa con là một điều mừng, là hạnh phúc lớn lao cho gia đình và xã hội. Vì vậy, người ta theo dõi quá trình trưởng thành của em bé và cứ đến một chặng thời gian nhất định là người ta làm lễ vừa để cảm ơn trời đất, cảm ơn các bà mụ, cảm ơn tổ tiên, lại vừa để mừng cho đứa trẻ được lớn mạnh với thời gian. Kể từ khi đứa trẻ ra đời đến khi vào tuổi trưởng thành, trước đây phải trải qua nhiều lễ tục quan trọng mà nay chỉ còn lưu giữ một số. Chẳng hạn lễ móc miệng, lễ đầy cữ, đầy tháng, đầy năm, thôi nôi… Dân gian vẫn còn ghi nhớ những lời chúc cho trẻ trong những dịp như thế:

Mở miệng ra như bông như hoa/ Mở miệng ra mẹ cha yêu mến/ Mở miệng ra nhường dưới kính trên/ Mở miệng ra ông cha vừa bụng/ Mở miệng ra làng xóm ngợi khen…

Khi đứa trẻ đã lớn, người ta tổ chức lễ thành đinh. Đứa trẻ đã là một chàng trai khỏe mạnh có quyền lợi và nghĩa vụ như mọi thành viên của cộng đồng. Tại các gia đình phải làm lễ cáo với tổ tiên, sau đó phải trình làng, phải cáo với Thành hoàng làng nay đã có thêm một phần tử trai tráng mới. (Chỉ có điều chưa bình đẳng là chỉ tổ chức cho con trai). Ở một số vùng miền núi nước ta, dấu vết của lễ thành đinh này vẫn còn tồn tại. Người Ê đê ở Tây Nguyên dõi theo chàng trai trưởng thành của dân tộc mình: Tờ mờ sáng, chàng trai đã đóng khố, mặc áo đẹp sau khi tắm ở bốn nước để tẩy rửa hết những bẩn thỉu hoặc tội lỗi. Chàng lấy một bầu nước trong từ vách đá về cúng thần linh. Đến nơi hành lễ, chàng cầm một thanh gươm chặt phăng hai cây chuối được trồng ở đầu cầu thang rồi bước lên gặp mẹ trong nhà chờ sẵn. Mẹ hỏi:

– Chào con. Con từ đâu về? Có phải con đi đánh giặc bên đông, múa khiên bên tây về không?

– Con chào mẹ của núi rừng Ê đê. Mẹ nói đúng, con đã thử gươm, cây lớn đã ngã, cây bé chẳng còn. Nay con về với mẹ.

Cồng chiêng nổi lên. Thầy cúng kêu gọi thần linh giúp đỡ chàng trai và dân làng. Chàng trai được trao gươm và khiên múa vài đường. Các cô gái để nước để thẳng múa gươm chống đỡ. Mọi người reo hò nhảy xung quanh. Sau lễ này, chàng trai Ê đê thực sự là con người trưởng thành. Anh sẽ cùng các trai làng khác bảo vệ cuộc sống yên vui của cộng đồng.

3. Việc tổ chức sinh nhật ở nước ta trước đây cũng có những nét riêng và đó là chuyện thông thường. Nhưng đúng là thường chỉ các gia đình khá giả mới tổ chức sinh nhật. Không như ngày nay năm nào cũng tổ chức cho từng thành viên, người ta chỉ mừng sinh nhật ông bà, cha mẹ hoặc người cao tuổi nhất trong nhà chứ không mừng tràn lan cho mọi người. Người Dao ở phía Bắc có tục lệ tổ chức cho người từ 60 tuổi trở lên gọi là sèng nhật. Năm đầu tiên họ mời đông khách nhất gồm họ hàng và hàng xóm láng giềng. Những năm tiếp theo, nếu không có điều kiện thì không mời khách, nhưng vẫn làm cỗ trong gia đình để các cụ được vui.

Còn nhìn chung, đến tuổi cao niên người ta thường tổ chức lễ mừng thọ. Phải 60, 70 tuổi mới là tuổi thọ. 80 tuổi là thượng thọ, 90 đến 100 tuổi là đại thọ. (Tuy vậy, cũng có người 40 tuổi cũng mừng thọ như vua Khải Định trước đây gọi là Tứ tuần đại khánh!).

Người Việt Nam đặc biệt kính trọng những người cao tuổi. Triều đình trọng tác, hương đảng trọng xỉ (ở triều đình phân biệt theo chức tước, ở làng quê người già rụng răng là bậc bề trên). Nhà thơ Yên Đổ (Nguyễn Khuyến) làm quan đến chức Tổng đốc khi về làng vẫn đến quỳ lạy cụ già 80 tuổi không có chức tước gì. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất giữ phép trọng lão. Một dịp gặp các cụ ở đền Ngọc Sơn, Bác Hồ nói với cụ thân sinh Bộ trưởng Vũ Đình Hòe: “Cụ hơn tôi một giáp, cụ là bậc anh, tôi xin mời cụ ngồi trên”. Lễ mừng thọ chủ yếu là để con cháu mừng bố mẹ, những người trong họ mừng người cao tuổi của họ mình. Ngày nay mở rộng, các hội như hội đồng hương, mặt trận, cơ quan… hàng năm cũng tổ chức mừng tập thể cho các cụ ông cụ bà cao niên từ tuổi 70 trở lên. Đó cũng là một cách tri ân đối với người cao tuổi nhiều đóng góp.

Có một hình thức lễ mừng thọ nữa là lễ tế sóng bố mẹ. Xưa những nhà có điều kiện kinh tế hoặc nhà quan có thể tổ chức lễ này. Người được mừng ngồi trên sập cao, uy nghi như tượng thần, mặc áo đỏ, quần đỏ. Người đứng tế là con trưởng đọc văn tế, các thành viên trong gia đình, họ mạc theo thứ tự đến vái. Lễ này không quy định ngày tháng, cũng không bắt buộc mà tùy theo hoàn cảnh của gia đình.

Cũng như nhiều dân tộc khác, người Việt có những tập tục riêng, bản thân phải tôn trọng và cũng muốn người khác phải tôn trọng. Người Việt rất tôn trọng tổ tiên, kính mộ người đã khuất, biết ơn những bậc tiền nhân đã hy sinh bảo vệ đất nước, quê hương, biết ơn những người khai mở làng xóm, dạy nghề, dạy việc. Tổ chức lễ giỗ những đấng bậc này và giữ gìn tục lệ đó theo ý nghĩa trong sáng của nó là điều không có gì phải bàn cãi. Với người đang sống, từ lúc chào đời đến ngày lên lão, người Việt luôn luôn quan tâm theo dõi từng chặng đường phát triển của các thành viên. Ở mỗi chặng trưởng thành của con người, dân ta luôn biểu lộ những niềm vui, niềm tin vào các thành viên cộng đồng. Việc tổ chức những lễ mừng như đầy cữ, đầy tháng, đầy năm, thành đinh, sinh nhật, mừng thọ… là cách tổ chức sinh nhật độc đáo của người Việt. Người Việt bày tỏ tình yêu, gửi gắm ước mơ của mình đối với người thân của mình qua những lễ tục giản dị nhưng sâu xa như thế.

Vàng Mã Cúng 49 Ngày, 100 Ngày / 2023

Mô tả

Vàng mã cúng 49 ngày, 100 ngày là một ngày vô cùng quan trọng,

chính vì vậy việc sắm lễ hay những khâu chuẩn bị phải được làm rất chu đáo.

Trong ngày cúng 49 ngày nhất định không thể thiếu những thứ sau:

Mâm lễ cúng 49 ngày cả ở nhà và ở phần mộ – nơi chôn cất của người đã khuất

(nếu như người thân chết ở ngoài đường thì cần có lễ cúng tại nơi gặp tai nạn).

Bài cúng 49 ngày tại mộ, bài văn cúng 49 ngày tại nhà.

Hoa, quả, tiền âm phủ, quần áo – đồ vật thường dùng bằng vàng mã, hương….

Mời nhà sư hoặc các thầy cúng về để cúng siêu thoát cho người đã khuất.

Mâm lễ cúng 49 ngày chắc chắn không thể thiếu những thứ sau đây: hoa quả, bánh kẹo, xôi, gà – chả – sườn – giò

(nếu có những đồ cúng này trên mâm cỗ cúng thì nên là đồ chay).

Đặc biệt, không được cúng thịt mèo, thịt chó cùng các loại sâu bọ.

Vàng mã cúng 49 ngày gồm những gì ?

Công tác chuẩn bị đồ cúng trong ngày Chung Thất rất quan trọng,

các gia đình không nên làm sơ xài, qua loa.

Đặc biệt chú ý cần tránh các việc sát sinh,giết hại các loài vật, vì như vậy sẽ làm tăng thêm nghiệp cho người mất.

Cúng 49 ngày là lễ cúng chính thức kể từ ngày chết đi.

trong ngày cúng này người thân của người đã khuất phải chuẩn bị đầy đủ các vật dụng cần thiết cho người đã khuất để mang sang thế giới bên kia,

như để bắt đầu 1 cuộc sống mới.

Một số món đồ vàng mã không thể thiếu: các loại giấy tiền âm phủ, quần áo, giầy – dép – mũ – nón, xe máy, điện thoại, nhà, đồng hồ….

Đồ cúng 49 ngày nên sử dụng các đồ chay như bánh, trái, hương, hoa các đồ chay,

nên cúng thêm các loại tiền âm phủ làm lộ phí đi đường cho người mất.

Hạn chế sử dụng các đồ tạp uế hay gây hại tới chúng sanh

Ngoài những đồ cần chuẩn bị trên, nhân thân người mất sau khi cúng có thể tiến hành hóa

đồng thời mọi người trong gia đình thay nhau niệm Phật.

Luôn luôn gọi tên người mất, nói cho họ biết là họ đã chết rồi.

Bảo họ hãy mau niệm Phật để được giải thoát.

Nếu họ không tin có thể tự nhìn vào gương. Khi đã hiểu họ sẽ làm theo người thân nhân dẫn dắt.

Bài văn cúng Vàng mã cúng 49 ngày, 100 ngày cho người mất

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch.

Tại (địa chỉ): ……………..

Con/cháu/ phu/ thê là………cùng các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ Chung Thấtt heo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm có:…………………………..

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của …tên người đã khuất…

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Cha/ mẹ/vợ/ chồng/con/cháu… đi đâu, vội vàng chi mấy;

Trời cao có thấy, thảm thiết muôn phần thương thay!

Đời người giấc mộng, hình ảnh phù vân;

Ngày tựa chim hay, tiết vừa bốn chín (hoặc trăm ngày);

Thoi đưa thấm thoát nay đã bảy tuần (hoặc trăm ngày).

Cây lặng gió lay, khóc làm sao được;

Lưng cơm đĩa muối, gọi chút đền ân.

Xin cha (mẹ) về thượng hưởng.

tại bình dương

#đt_0971856988

💁‍ #website: dailydogiadung.com

Ngày Thất Tịch Là Ngày Gì? Ý Nghĩa Ngày Thất Tịch / 2023

Thất Tịch là ngày gì?

Nếu như phương Tây có ngày 14/2 là ngày Valentine – ngày lễ Tình Nhân thì ở một số nước phương Đông, người dân cũng có ngày lễ Tình Nhân riêng của mình, đó là ngày Thất Tịch. Ngày Thất Tịch tức ngày 7 tháng 7 Âm lịch được coi là ngày lễ Thất Tịch ở một số nước Đông Á như Việt Nam và Trung Quốc, ngày “ông Ngâu bà Ngâu” hay ngày Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau.

Ý nghĩa ngày lễ Thất Tịch trong văn hóa Trung Quốc

Lễ Thất Tịch là ngày lễ có nguồn gốc từ Trung Quốc, được gọi là “lễ Tình Nhân của người Châu Á”, gắn liền với sự tích Ngưu Lang – Chức Nữ. Chuyện xưa kể rằng, Ngưu Lang là chàng trai chăn trâu nhà nghèo, nhưng có phẩm chất tốt, hiền lành và chăm chỉ làm ăn. Trong một lần tình cờ Ngưu Lang đã gặp Chức Nữ, nàng tiên dệt vải, con gái của Vương Mẫu Nương Nương. Mối tình tiên – phàm dần đơm hoa kết trái giữa hai người, họ nên duyên vợ chồng và chung sống hạnh phúc, cùng nhau có hai người con, một trai một gái.

Nhưng cuộc sống êm đềm vốn không kéo dài được lâu khi một ngày kia Chức Nữ buộc phải quay về thiên đình theo lệnh của Ngọc Đế. Chàng Ngưu Lang nhớ thương, đau xót khôn cùng đã mang theo hai con thơ đuổi theo nàng nhưng không thể qua khỏi sông Ngân Hà, đây là ranh giới phân chia giữa hai cõi phàm tục. Ngưu Lang nhất định không chịu từ bỏ và một mực ở đó đợi chờ Chức Nữ quay về. Cũng từ đó, bên cạnh sông Ngân Hà xuất hiện thêm một vì sao, mọi người gọi đó là sao Ngưu Lang.

Cảm động trước tấm chân tình của hai người, Vương Mẫu đã đồng ý cho họ mỗi năm một lần vào ngày Thất Tịch (7 tháng 7 âm lịch) được gặp nhau trên chiếc cầu Ô Thước do đàn quạ trời tạo nên. Thất Tịch là một lễ quan trọng của người Trung Quốc, còn có tên gọi khác như Lễ hội Trùng Thất, Khất xảo tiết, ngày Thất thư đản, ngày Xảo tịch. Tuy nhiên, theo thời gian, những phong tục cổ trong ngày lễ này đã và đang dần mai một trên chính quê hương của nó, chỉ những năm gần đây giới trẻ Trung Quốc mới dần đem ngày lễ này trở lại nhưng những phong tục cũ đã không còn được lưu giữ lại nhiều.

Ngày Thất Tịch của người Hàn Quốc

Lễ Thất Tịch trong văn hóa của người Hàn Quốc còn được gọi là lễ Chilseok, ý nghĩa và các hoạt động cũng có khá nhiều khác biệt so với văn hóa Trung Hoa. Lễ Chilseok rơi vào khoảng thời gian khi thời tiết nóng nực qua đi và mùa mưa bắt đầu, mưa rơi trong ngày này được gọi nước Chilseok. Bí ngô, dưa chuột và dưa hấu bắt đầu phát triển mạnh trong thời gian này, vì vậy chúng được dùng rất nhiều trong lễ hội.

Trong lễ hội Chilseok, người Hàn Quốc sẽ tắm với mong muốn đem lại một sức khỏe tốt. Ngoài ra, họ còn ăn mì và bánh nướng. Chilseok được biết đến như là lễ hội để thưởng thức đồ ăn làm từ lúa mì bởi sau ngày lễ Chilseok, những cơn gió lạnh sẽ làm hỏng hương vị của lúa mì.

Lễ Thất Tịch trong văn hóa của người Việt

Ở Việt Nam, ngày lễ Thất Tịch hay còn gọi là ngày “ông Ngâu bà Ngâu” – cách gọi của Ngưu Lang, Chức Nữ trong văn hóa Việt Nam. Sở dĩ gọi là “ông Ngâu bà Ngâu” bởi vào ngày này, trời thường mưa rả rích trong suốt một ngày nên người ta gọi là mưa ngâu. Mưa ngâu tương truyền chính là nước mắt của Ngưu Lang và Chức Nữ khi gặp nhau. Dân gian có câu: “Đồn rằng tháng 7 mưa ngâu, Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền” là vì vậy.

Điểm khác biệt lớn nhất trong ngày lễ Thất Tịch của văn hóa Việt có lẽ bắt đầu vào đời vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072). Lịch sử ghi lại rằng, khi vua ở độ tuổi 42 nhưng vẫn chưa có con để truyền ngôi vị, vì vậy nên đã cầu tự vào ngày 7/7 ở một ngôi chùa, nhờ đó mà đón tin mừng, sinh ra Thái tử Càn Đức. Cũng bởi lý do này nên hàng năm vào ngày 7/7 Âm lịch trọng lễ đã được tổ chức ở chùa Hà và trở thành lễ hội cầu tình duyên, con đàn cháu đống, gia đình hạnh phúc.

Nếu trong ngày Thất Tịch mà trời không mưa, các cặp đôi thường cùng nhau ngắm sao Ngưu Lang – Chức Nữ và thề hẹn. Đêm Thất tịch, chòm sao Chức Nữ sẽ sáng vô cùng. Người ta tin rằng hai người yêu nhau nếu cùng ngắm sao Ngưu Lang – Chức Nữ trong đêm mùng 7 tháng 7 thì sẽ mãi mãi bên nhau.

Lễ Thất Tịch 2020 vào ngày nào?

Thất Tịch là một ngày lễ trong Âm lịch của người phương Đông nên nó không phải là một ngày Dương lịch cố định nào cả. Vậy bạn có tò mò lễ thất tịch 2020 vào ngày nào không? Theo Dương lịch, lễ Thất Tịch năm nay sẽ diễn ra vào ngày Thứ Ba, 25 tháng 8. Hiện nay, khi các phong trào lưu giữ và bảo tồn văn hóa cổ đang được cổ vũ mạnh mẽ, người Hoa ở Việt Nam cũng như giới trẻ Việt Nam đang dần có nhiều hoạt động hơn trong ngày này.

Nhiều gia đình người Hoa tại Việt Nam thường làm mâm cỗ trong ngày Thất tịch, bày một số bánh trái sản vật đặc sắc gắn liền với truyền thuyết về lễ hội này như bánh phục linh, bánh chay nhân dừa, hoa, trà, củ ấu, đậu phộng rang (nguyên vỏ), 7 loại trái cây theo mùa… Bên cạnh đó, giới trẻ Việt còn truyền miệng rằng ăn chè đậu đỏ vào ngày này đồng nghĩa với việc cầu nhân duyên. Những người còn đang lẻ bóng sẽ sớm gặp được ý trung nhân, còn những ai đã có đôi có cặp sẽ càng thêm bền lâu. Trên thực tế thì đây chỉ là một “truyền thuyết mạng” được sáng tạo ra để “câu like, câu tương tác” nhưng vô tình lại tạo nên một hot trend vô cùng thú vị.

Nếu bạn đang cô đơn, lẻ bóng thì hãy thử tham khảo ngay cách làm chè đậu đỏ của chúng tôi và thử làm ngay xem. Đừng quên chụp ảnh thành quả nấu nướng của mình up lên mạng xã hội “thả thính” một chút, biết đâu Ngưu Lang – Chức Nữ sẽ se duyên cho bạn thì sao?

Chọn Ngày Tế Lễ Chọn Ngày Cúng / 2023

BOI.VN hướng dẫn bạn chọn ngày phù hợp để cũng lễ, chọn ngày tế cúng Tổ tiên.

Ngày Giáp Tý, Ất Sửu: Các thần đều ở dưới đất, nếu ai làm chay lễ Phật, cầu Thần, cầu tự, cầu phúc thì được phúc 100%.

Ngày Bính Dần: Nhật như tại thiên (thần ở trên trời), nếu ai lễ bái cầu phúc tế tự thần sông núi, chiêu hồn thay mệnh thì chiêu tai hoạ không nên dùng.

Ngày Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ : Bách thần ở dưới đất ba ngày nên ngày này rất tốt nếu ai làm lễ bái, thượng biểu tế tự, chiêu hồn, bái mệnh lập đàn cầu chay cầu con cái được phúc 100%.

Ngày Canh Ngọ, Tân Mùi: Chư thần ở trên trời 2 ngày không nên tế tự lễ bái gì cả.

Ngày Nhâm Thân: Mọi thần đều ở trên trời rồi lại xuống địa phủ, nếu ai tế tự cầu phúc, thượng biểu (dâng sớ), bái chương (dâng lên), cầu trai, xin gái, thụ phúc 100%.

Ngày Quý Dậu: Tế tự chấn Hà Bá, thuỷ quan thì tốt, còn các việc lễ bái khác đều xấu.

Ngày Giáp Tuất, Ất Hợi: Các thần ở trên trời, không ở nhân gian địa phủ, chỉ nên làm những việc lễ bái nhỏ như lễ yên, nhưng lễ vào giờ Thìn thì tốt, ngoài ra đều xấu.

Ngày Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần: Ba ngày rất xấu, không nên tế lễ vì Chư thần phá Thiên Tào cửa Ngọc Hoàng Tây-Hà bái Liễu Trạch – Sao Trực ngạn, cho nên ai lễ bái cầu phúc lại chiêu tai hoạ hại người tốn của.

Ngày Kỷ Mão, Canh Thìn: Các thần tại địa phủ nếu ai cầu phúc thì ích cho con cháu, được vinh hoa phú quý vì ngày sinh nhật của vị Tiên Thánh được 44 sinh rất tốt.

Ngày Tân Tỵ: Các thần ở cửa nhà trời chuyển đất đá rất khổ, cho nên ai lễ bái cầu phúc sẽ bị tử vong, con cái ba đời nghèo khổ, điên loạn, kiện cáo, tai bay vạ gió rất xấu.

Ngày Nhâm Ngọ, Quý Mùi: Chư thần tại thiên nếu lễ bái cầu phúc thì được lộc ba năm trước tốt nhưng ba năm sau lại chiêu tai hoạ chết dưới chân nhà rất xấu.

Ngày Giáp Thân, Ất Dậu: Chư thần tại thiên rồi lại xuống địa phủ, nhân gian 2 ngày này lễ rất tốt.

Ngày Bính Tuất, Đinh Hợi: Chư thần tại thiên rồi lại xuống nhân gian địa phủ, nếu nếu người nào cầu phúc, tế tự, hoàn nguyên, thượng biểu, chiêu tài được công đức vô lượng.

Ngày Mậu Tý, Kỷ Sửu: Chư thần tại nhân gian địa phủ, nếu ai làm cầu phúc, tế lễ ân liễu nguyệt là ngày rất tốt, nếu ngày ấu làm chú chớ, thề bồi thì hung.

Ngay Canh Dần: Chư thần tại trời để lên hợp tính xét các bản án, nếu tế tự, cầu phúc, trần tấu lễ nguyên thì hại thân, hải chủ rất xấu.

Ngày Tân Mão: Chư thần tại địa phủ nếu cầu xin việc gì hoặc chiêu hồn, đại mệnh hoặc thiết lập bàn thờ, hoặc lập bài vị gia tiên thì bình bình tạm được.

Ngày Nhâm Thìn, Quý Tỵ: Chư thận tại thiên là ngày khám hỏi sổ sách sinh tử, nế tế tự thì sinh đau ốm, bệnh tật, hại thầy hại chủ rất xấu.

Ngày Giáp Ngọ: Chư thần xuống khắp cõi nhân gian, nếu có người thượng chương, tiến biểu, lễ tạ thổ công, thổ địa… thì được phúc gấp 10 rất tốt.

Ngày Ất Mùi: Chư thần tại thiên, nếu tế lễ tạm được, tốt nhỏ thôi.

Ngày Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất: Chư thần tại thiên, hầu Ngọc Hoàng thượng đế, làm sổ sách sinh tử ghi thiện ác của nhân gian địa phủ, nếu ai làm lễ cầu thượng thọ, tế tạ, thượng biểu chương, chiêu hồn tốt.

Ngày Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu: Chư thần tại thiên nếu cầu phúc, tế tự, chủ tật bệnh và tai vạ rất xấu.

Ngày Nhâm Dần, Quý Mão: Chư thần hội họp để ký sớ, ai lễ bái cầu phúc rất tốt.

Ngày Giáp Thìn: Chư thần tại cung trời, lễ bái cầu phủ cát xấu.

Ngày Ất Tỵ: Chư thần tại nhân gian địa phủ, cầu phúc tự lễ bái rất tốt.

Ngày Bính Ngọ: Chư thần ở trên trời, không có ở nhân gian nên tế lễ và cầu phúc rất xấu.

Ngày Đinh Mùi: Chư thần tại địa phủ, nếu cầu phúc, lễ bái, biểu chương, biểu nguyệt rất tốt.

Ngày Mậu Thân: Chư thần ở trên trời, không ở nhân gian địa phủ, nếu tế lễ bị sát sư tổ gia trưởng.

Ngày Kỷ Dậu: Trên thượng giới có lệnh đại ân xá, nếu bái tế tiến điền tam rất tốt.

Ngày Canh Tuất, Tân hợi : Chư thần tại thiên nếu lễ bái hà bát đạolộ tạm đươc tốt .Còn tiến biểu chương thì laqị bị hoạ rất sấuLễ bái rất xấu.

Ngày Nhâm tý,Quý sửu :Lễ bái rất xấu vì các thần ở thiên cung.

Ngày Giáp Dần, Ất Mão: Chư thần ở nhân gian địa phủ lễ bái, cầu phúc mọi điều đều tốt cả.

Ngày Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi: Chư thần trị thiên, bốn ngày này tế tự rất xấu.

Ngày Canh Thân: Ngày mở đường 5 phúc cửa trời mở rộng, nếu làm lễ làm chay thượng biểu được phúc 100% rất tốt.

Ngày Tân Dậu: Chư thần hầu Ngọc Hoàng sai xuống nhân gian địa phủ nếu lễ bái tế tự xấu.

Ngày Nhâm Tuất, Quý Hợi: Là ngày lục thần cùng nhật, nhân gian cầu phúc phạm phải sẽ bị cô quả bần cùng, 100 việc đều không lợi, rất xấu.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Ngày “Vía Thần Tài” Nên Cúng Như Thế Nào Để Cả Năm Rước Lộc / 2023 trên website Herodota.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!