Đề Xuất 2/2023 # Những Điều ‘Cấm Kỵ’ Khi Thắp Hương Chớ Có Phạm Kẻo Tài Lộc Tiêu Tan, Cả Năm Đen Đủi # Top 5 Like | Herodota.com

Đề Xuất 2/2023 # Những Điều ‘Cấm Kỵ’ Khi Thắp Hương Chớ Có Phạm Kẻo Tài Lộc Tiêu Tan, Cả Năm Đen Đủi # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Những Điều ‘Cấm Kỵ’ Khi Thắp Hương Chớ Có Phạm Kẻo Tài Lộc Tiêu Tan, Cả Năm Đen Đủi mới nhất trên website Herodota.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Theo chuyên gia nghiên cứu phong thủy Nguyễn Vĩnh Kiên, đối với mỗi gia đình người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng thì bàn thờ là nơi được coi là quan trọng nhất.

Đó là nơi các thành viên trong gia đình dùng để giao tiếp với thần linh và tưởng nhớ về công lao, ân đức của ông bà, tổ tiên, những người đã khuất. Do vậy, việc thờ cúng, bài trí bàn thờ là điều rất quan trọng.

Không đặt bàn thờ cạnh nhà tắm

Không đặt bàn thờ cạnh nhà tắm, bởi theo quan niệm từ xa xưa tắm rửa là việc trút bỏ ô uế, vì vậy, nếu đặt bàn thờ cạnh nơi này sẽ làm mất đi không khí tôn nghiêm. Cũng tránh đặt đối diện hay quay lưng với nhà bếp vì gia đình dễ bất hòa. Nếu phía trên ban thờ có xà nhà có thể khiến chủ nhân dễ bị đau đầu, cuộc sống vất vả.

Không kê bàn thờ hướng trực tiếp với cửa hay ngược với hướng nhà

Khi bài trí bàn thờ, gia chủ nên tránh kê bàn thờ hướng trực tiếp với cửa ra vào hoặc phía dưới cửa sổ. Bởi theo quan niệm phong thủy, điều này sẽ làm thoát khí khiến chủ nhà không gặp may mắn.

Ban thờ nên quay ra cửa chính, không nên ngược với hướng nhà. Nếu không có thể gây ra âm dương tương phản, dễ gây bất trắc, nô bộc phản bội hoặc con cái không hiếu thuận, tài vận và gia vận bị ảnh hưởng.

Hoa đặt bàn thờ nên dùng hoa tươi

Gia chủ nên thắp hương vào sáng và tối. Người xưa quan niệm rằng nếu khói hương bay thẳng lên là tốt, ngược lại cuốn thành vòng tròn hoặc tản mát là không tốt. Nếu bát hương bàn thờ thần tự nhiên bốc cháy là may mắn, nếu bát hương thờ tổ tiên cháy là điềm báo hung.

Dù là một loài hoa đẹp, có hương thơm dễ chịu thế nhưng hoa ly lại là loại hoa kiêng đặt lên bàn thờ ngày Tết, bởi nếu đọc theo vần hoa ly sẽ là sự chia ly, không may mắn.

Bàn thờ tổ tiên không nên đặt ở trung tâm nhà

Bàn thờ tổ tiên không nên đặt ở trung tâm nhà, vì sợ sẽ mang lại điều hung cho gia chủ và các thành viên. Nếu không còn vị trí nào khác để đặt bàn thờ thì có thể sử dụng bình phong che lại.

Bàn thờ Thần và Phật có thể để chung, song không nên để bát hương sát nhau. Bàn thờ tổ tiên và bàn thờ Phật không nên đặt đối nhau trong một gian phòng.

Số lượng thần Phật phải là số dương, do thần Phật thuộc dương vì vậy phải dùng số lẻ, không nên thờ cùng lúc quá nhiều thần Phật, hoặc thờ cùng lúc hai thần xung khắc nhau có thể gây loạn linh khí khiến người trong nhà tinh thần bất an, dễ gặp tai họa. Nếu có đặt tượng thần Phật mà tượng ấy lại bị nứt thì nên nhanh chóng thay mới do tà khí có thể xâm nhập vào.

Không nên thờ cùng 1 lúc 3 họ trở lên

Nhiều gia đình có thói quen thời cùng một lúc nhiều họ, tốt nhất chỉ nên thờ họ của gia chủ, phạm phải điều này gia đình thường loạn, vận may giảm sút.

hông dùng cát để bỏ vào trong bát hương

Tuyệt đối không dùng cát để thay cho tro ở trong bát hương. Bởi việc này sẽ khiến cho gia đình lục đục, gặp những điều không may mắn.

Bát hương phải được bốc bằng tro sạch, được đốt từ rơm nếp hoặc rơm tẻ sạch, sàng, lọc kỹ để bỏ đi những tạp chất.

Bài vị tổ tiên không được cao hơn tượng Thần, Phật

Khi đặt bàn thờ gia tiên, không nên để bài vị tổ tiên đặt cao hơn tượng Thần, Phật vì điều này sẽ khiến trong nhà “hạ phạm thượng”, “nô phụ chủ”, “thiên địa điên đảo”, “Nữ cường nam suy”.

Bát hương cũng là điều mỗi gia đình cần hết sức chú ý. Trong mỗi nhà chỉ nên đặt từ 2 đến 3 bát hương trên một bàn thờ. Trong đó: – Một bát hương thờ ngũ vị thần tài để ở vị trí cao nhất.

Một bát hương thờ gia tiên, tổ phụ, các bậc bề trên.

Một bát thờ huynh đệ, tỷ muội, con cháu.

Chổi, khăn dùng để lau dọn bàn thờ phải được dùng riêng

Chổi và khăn khi dùng để lau dọn bàn thờ phải được chuẩn bị riêng, không chung đụng. Bởi bàn thờ là nơi thiêng liêng, phải tránh uế tạp.

Thường xuyên lau dọn bàn thờ để giữ cho sự sạch sẽ, thanh tịnh

Ngoài ra, cố gắng nên dùng hoa tươi khi cúng lễ, thắp hương, tránh dùng hoa giả. Các đồ cúng lễ cũng cần phải thanh tịnh, tuyệt đối tránh việc thử đồ trước khi đưa lên cúng lễ.

Không đặt những đồ linh tinh lên bàn thờ

Trên ban thờ kị đặt các vật linh tinh, dao kéo, thuốc men, không được dùng tủ thờ làm nơi cất giữ đồ đạc hoặc bể cá, vô tuyến, loa đài. Điều này sẽ làm mất đi sự thanh tịnh, trang trọng của bàn thờ.

Kiêng kị phải tránh khi lau dọn bàn thờ

Không làm đổ vỡ đồ thờ: Đồ thờ cúng trên bàn thờ là những vật linh thiêng, thể hiện sự trang trọng tôn kính với người thân và tổ tiên đã khuất, nên theo quan niệm dân gian, nếu không cẩn thận làm đổ vỡ thì gia chủ sẽ gặp chuyện không may vì thiếu đi sự tôn trọng với người đã khuất.

Khi lau rửa bài vị của tổ tiên thì phải dùng nước ấm, không được dùng nước lạnh.

Tuyệt đối không lau bài vị của tổ tiên trước bài vị của thần Phật. Người xưa quan niệm như vậy là bất kính, mạo phạm với thần phật, thần phật có ngôi vị cao hơn nên dễ khiến tổ tiên bị chèn ép.

Không được rút chân hương rồi cầm bát hương đổ hết tro ra ngoài, theo người xưa như vậy rất dễ gây “tán tài”, nên dùng chiếc thìa nhỏ xúc từng thìa đổ ra ngoài rồi mới rửa sạch bát hương đặt sang một bên.

Khi thắp hương, người ta thường thắp theo số lẻ, bởi số lẻ tượng trưng cho phần âm. Do đó, có thể thắp 1, 3, 5, 7 hoặc 9 nén hương trên mỗi bát hương.

Và ý nghĩa của việc thắp các nén hương (nhang) theo quan niệm dân gian như sau:

Thắp 1 nén: ngụ ý bình an.

Thắp 3 nén: bảo vệ người trong nhà và đánh đuổi tai ương.

Thắp 5 nén: là 5 phương trời đất, 5 hướng thần linh. Cầu mong được trời đất phù hộ được bình an.

Thắp 7 nén: dùng để mời gọi thiên thần, thiên binh thiên tướng, nếu không phải việc bất đắc dĩ thì không nên dùng hương này.

Thắp 9 nén: tín hiệu cầu cứu, nếu như bất đắc dĩ, không còn nơi nào cầu giúp đỡ, nhân lực không thể cứu vãn, hi vọng Ngọc Hoàng Đại Đế và Thập điện Diêm Vương cứu giúp muôn dân, cứu khổ cứu nạn. Chín nén hương thường được bày theo ba hàng ba cột.

Quy phạm trong sử dụng hương

Dùng hương có nguồn gốc từ hương liệu thiên nhiên làm chính, tránh hương hóa học vừa làm tổn hại đến sức khỏe của bản thân, vừa không thể biểu đạt được lòng thành.

Nơi sử dụng hương: Không hạn chế, từ các nơi cúng dường chư Phật như đọc kinh, trai giới, lễ tụng, giảng kinh thuyết pháp, thỉnh cầu… Tại gia đình có thể dùng ở bàn thờ, phòng khách…

Cất trữ hương: Để ở nơi cố định, khô ráo và sạch sẽ. Tốt nhất lựa chọn những hộp hương có thể đậy kín để đựng các loại hương phẩm khác nhau. Không để hương chưa đốt trên bàn thờ.

Khi lấy hương phải thận trọng, nhẹ nhàng, không nên để hương bị rơi vãi hoặc đổ xuống đất.

Cần thường xuyên lau rửa sạch sẽ những đồ vật thường xuyên tiếp xúc với hương như thìa hương, lư hương, hộp hương.

Khi thắp hương: Cần chú ý phong thái của bản thân phải đoan chính, nghiêm trang. Khoảng cách giữa chỗ đứng với bát hương quá xa hoặc quá gần đều không tốt.

Trước khi thắp hương nên sắp xếp ổn thỏa những vật phẩm cúng dường như hoa quả tươi, nước sạch.

* Thông tin chỉ mang tính tham khảo, chiêm nghiệm.

Tổng hợp Đồ Cúng Việt

Những Điều Chưa Biết Về Tượng

Thứ năm này (9/11) có lễ kỷ niệm ngày xây dựng đền thờ Erawan. Điện thờ này nằm ngay trung tâm Bangkok, cách vài bước chân từ Gaysorn, Central World, Amarin Plaza và BigC.

Gọi là đền thờ Erawan vì xây dựng cùng với khách sạn Erawan Hotel, và nằm ở 1 góc phía trước sân. Ở khắp xứ Thái, bất kỳ tòa nhà, văn phòng hay chung cư nào, đều có bệ thờ vị thần này, tòa nhà lớn thì làm bệ thờ lớn, nhà nhỏ thì làm bệ thờ nhỏ…

Đây là 1 vị thần trong Hindu giáo (Ấn độ giáo), không thuộc cõi Phật, không phải là 1 vị Phật. Thái Lan theo đạo Phật nam tông (tu theo đúng những gì mà Đức Phật đã tu hơn 2,500 năm trước: không ăn chay, đi khuất thực, không ăn sau giờ ngọ, tập trung vào thiền định…) và do vị trí địa lý nên ảnh hưởng Hindu giáo, nên họ thờ vị thần này.

Vị thần này tên Brahma, tiếng Việt đọc là Phạn-Thiên, đọc từ 梵天, do ông cha ta ngày xưa nghiên cứu văn hóa vùng này thông qua ngôn ngữ của Trung Quốc.

Đây là 1 vị thần trong bộ tam thần (Trimurti ), ba vị thần quan trọng nhất của Hindu giáo:

Ở Bangkok cũng có đền thờ Trimurti (thờ cả 3 thần): ai muốn cầu có chồng, hay cầu bỏ được chồng thì đến đền này vào mỗi tối thứ 3 (viết ở post sau).

Thần Brahma được sinh ra từ 1 bông hoa sen trên mặt nước, ông là cha của các thần, ông tạo ra loài người, vợ của ông là nữ thần Saraswati. Ông có 4 mặt, mỗi mặt đọc 1 phần kinh vệ-đà (nói 4 mặt tượng trưng cho đầy ơn, thương xót, và vô cảm là chưa thấy tài liệu nào dẫn chứng), ông có 4 tay (tượng trưng cho 4 hướng), ông cưỡi chim hạt (giờ gọi là chim sếu á)…

Bất kể chung cư, cao ốc, khách sạn nào ở xứ Thái cũng thờ thần Brahma ở trước sân, nhưng ở khách sạn Erawam thì có tin đồn, rồi nối tiếp tin đồn, đồn mạnh nhất ở Hongkong và Trung quốc. Và từ 1 bệ thờ nhỏ, chính phủ kết hợp với khách sạn biến thành 1 điểm du lịch thu hút hàng triệu người đến để cúng vái tiền và lễ vật.

Theo kinh Phật, thì có 1 đoạn hội thoại (có thể là giả sử) giữa đức Phật và vị thần này, để lý giải những điều mâu thuẫn giữa Phật giáo và Hindu giáo vì đạo Phật được tạo ra trong bối cảnh xã hội Ấn Độ có Hindu giáo đã phát triển mạnh trước đó. Đức Phật giản lược các hình thức hiến tế, cúng bái, cầu khẩn từ đạo bà-la-môn này. Phật không dạy Phật tử các kiểu cầu khẩn mà chỉ dạy cách tu theo đúng như cách đức Phật tu, để Phật tử (con Phật) có thể trở thành Phật (thông qua bát chánh đạo, bốn pháp giới…). Ai vào chùa cầu mua may bán đắt, cầu có chồng, cầu sinh con trai… là sai, Phật chỉ dạy cách tịnh tâm, sám hối và giác ngộ trí tuê, Phật không dạy cách cầu khẩn cho tham vọng. Cần đổi sang chùa và sư nào đúng đạo Phật (không bị lai căng, chính trị hóa) để thỉnh giáo.

Nên gọi vị thần trong Hindu giáo là “Phật bốn mặt” là sai. Giống như gọi đức Giesu trong Kito giáo là “Phật Giesu”. Hoặc gọi thánh Allah của Hồi giáo là “Phật Allah” vậy. Buôn bán các sản phẩm có in hình Phật lên là cũng sai. Lợi dụng Phật giáo để mưu cầu lợi ích cá nhân là càng sai…

Người Thái gọi đây là thần (God), không gọi là Phật (Buddha).

Người Thái thờ vị thần này vì Phật giáo nam tông ảnh hưởng Hindu giáo. Và Phật giáo cũng “dễ”, chỉ yêu cầu tính tự giác của tín đồ (không khắc khe như các tôn giáo khác). Những người viếng hôm thứ 5 này sẽ mặt áo trắng (hoặc cả bộ màu trắng) vì theo truyền thống Hindu giáo. Cần 12 cây nhang, 4 vòng hoa nhài, 4 miếng vàng lá. Từ cổng chính, chia đều lễ vật và nhang cho 4 mặt của thần và đi theo chiều kim đồng hồ. Các bạn có thể đến xem biểu diễn các điệu múa Thái truyền thống miễn phí ở đây khi có ai đó “mua” dịch vụ.

Và đừng quên, nếu bạn là một Phật tử (chính hiệu) thì việc thỉnh 1 vị thần Hindu giáo, đeo vào người và gọi đó là Phật thì không đúng. Con Phật chỉ nghe lời Phật, không quỳ lạy trước ma quỷ, tà thuật khác. Nếu bạn biết rằng đó không phải là 1 vị Phật, mà vẫn cố gọi là “Phật 4 mặt” thì bạn đã phạm vào 1 trong 8 điều của Bát Chánh Đạo (Chánh ngữ: biết sai mà vẫn nói).

Những Điều Cần Biết Về Tang Lễ

ừ sau lễ an táng đến khi cải táng là một thời gian dài, ít nhất là ba năm trở lên, tùy gia đình cải táng sớm hay muộn. Nhưng có 6 việc phải làm:

1) CÚNG BA NGÀY.

Sau khi an táng đến ngày thứ ba, con cháu và thầy cúng ra mộ, cúng mở cửa mả, đắp thêm cho mộ được cao ráo đẹp đẽ, lấy tre nứa rào chung quanh để trâu bò không vào được, rồi về nhà cúng ba ngày.

Tùy nơi có cách tính ba ngày khác nhau. Một số địa phương tính từ ngày mất là ngày thứ nhất. Cách này là do chỉ để người mất, quàn tại gia một ngày đêm, nên sau ngày chôn là đến ngày thứ ba, tiến hành cúng ba ngày luôn, như vậy là hợp lý.

Một cách tính nữa, tính từ ngày chôn là ngày thứ nhất. Trường hợp này do quàn tại gia hoặc ở nhà lạnh của bệnh viện quá ba ngày, để chờ con cháu về đông đủ.

Dân ta quan niệm rằng sau khi chôn, hồn vẫn còn phiêu diêu chưa ổn định. Mặt khác trước khi chôn, bàn thờ người chết chưa thật sự yên vị, vì bàn vong di chuyển ra nghĩa địa rồi lại đưa về. Đến ngày thứ ba mọi việc đã chu tất cho bàn thờ, mời hồn người chết về yên vị tọa lạc để con cháu phụng thờ.

Bàn thờ người mới mất để ở vị trí riêng biệt, chưa được đưa thờ chung ở bàn thờ Gia tiên. Vì người mới mất chưa được sạch sẽ.

Sắp đặt bàn thờ có ảnh, bát hương…và các thứ cần thiết. Tùy số lượng câu đối trướng mà treo cho hợp lý quanh bàn thờ. Phía sau bàn thờ, treo cao những bức trướng của dòng họ, tổ chức, tập thể; rồi đến trướng các gia đình thông gia, họ mạc…bạn bè thân hữu. Có thể treo vây quanh tạo không gian ấm cúng cho bàn thờ.

Thủ tục cúng ba ngày phần lớn vẫn do thầy cúng làm.

Từ đây đèn hương liên tục thắp cả ngày và đêm. Bàn thờ có nước, trầu, rượu, hoa quả; vài hôm thay một lần. Hàng ngày sáng chiều đến bữa, đều cúng cơm, coi như cha mẹ, ông bà vẫn bên con cháu dùng bữa hàng ngày. Cúng cơm này không cầu kỳ, trong nhà ăn gì cúng thức ấy, chỉ một ít tượng trưng, có bát đũa đặt trong một khay nhỏ, và rượu nước, trầu cau…

Trước đây cúng ba ngày, còn là dịp để tang chủ mời bà con trong họ ngoài làng, bạn bè thân hữu gần xa đến bầy tỏ lòng cám ơn, xin đại xá cho những thiếu sót, khiếm khuyết không tránh khỏi. Sau đó là tổ chức ăn cỗ. Bây giờ tục lệ ăn cỗ ba ngày mở rộng như vậy không còn nữa. Tang chủ có mời cũng không mấy ai đi. Tang chủ cám ơn qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh và vô tuyến truyền hình.

Việc cúng cơm thường nhật, duy trì ít nhất đủ tuần 49 ngày. Có nhà duy trì đến tuần 100 ngày mới thôi. Hương đèn từ đây cũng tắt.

Theo Thọ Mai Gia Lễ việc cúng ba ngày có nhiều thủ tục phiền phức lắm; Cúng ba ngày gọi là ” Tế ngu – – yên vị“.

Ngu có nghĩa là yên vị. Sau khi chôn, hồn phách còn ở cõi phiêu bồng chưa nơi nương tựa. Phải có lễ này để mời hồn về yên vị vào bàn thờ cho con cháu thờ phụng. Đủ Lễ phải có ba tuần tế là: Sơ ngu, tái ngu và tam ngu. Thủ tục cũng đủ các bước như một lễ Thành phục đã nói ở trên. Chủ lễ và tang chủ vái quỳ dâng hương, rượu, nước. Con cháu đứng sau, cũng làm đủ các bước theo chỉ dẫn của thầy cúng. Lúc khóc lúc dừng, khi quỳ lạy, lúc đứng lên…kéo dài hàng tiếng đồng hồ mới xong một buổi tế.

Bây giờ không ai làm dài dòng như vậy, chỉ cúng ngắn gọn là xong.

Sao đổi phương Nam, mây che trời Bắc Tưởng đến cù lao chín chữ, bú mớm ba năm Nhớ khi sớm viếng tối thăm, lòng bao hớn hở Giờ bỗng tây xa, bắc trở trong dạ luống những khát khao Đau đớn thay bể thẳm trời cao, nông nỗi ấy càng thương càng nhớ Nay nhân việc thông đường (hoặc huyên đường) quyên cố lễ ngu yên vị. Gọi là dám xin tổ tiên gần xa đồng lai chứng giám, phù hộ toàn gia trẻ già yên ổn! Thượng hưởng!” 2) CÚNG TUẦN 49 & 100 NGÀY.

– Tuần 49 ngày gọi là cúng ” chung thất – “. Người ta lấy vía đàn ông để tính. Một vía là 7 ngày, bảy vía là 49 ngày. Cúng ở nhà tuần này nhằm làm cho linh hồn người mất được mát mẻ.

Một số người theo đạo Phật và một số nhà muốn ” Quy – ” người mất về chùa, nương nhờ cửa Phật ” ăn mày lộc Phật “! Nên thường nhờ nhà sư làm tại chùa trong tuần 49 ngày, cho linh hồn chóng được siêu thăng tịnh độ.

– Cúng 100 ngày còn gọi là Tốt khốc – – Thôi khóc. Ngày trước thường khóc trong vòng ba tháng mười ngày.

Phật giáo cho rằng người chết xuống âm phủ phải qua ” Thập điện – – Mười cửa ải” vô cùng nguy hiểm. Vòng 49 ngày mới qua 7 cửa ải. Qua vòng 100 ngày mới xong 10 cửa ải, từ đây linh hồn mới siêu thoát hoàn toàn. Con cháu không khóc nữa, thực sự ” yên tâm ” người khuất núi đã thoát hiểm!

Tùy theo tục từng địa phương, có nơi coi cúng 49 ngày là lễ lớn, có nơi lại coi cúng 100 ngày mới là lễ lớn. Dịp này, nội ngoại đến dự lễ, bà con cộng đồng đều có lễ đến thắp hương. Chủ nhà thường mời quan khách bữa cơm thân mật.

3) THỜI GIAN ĐỂ TANG

Việc để tang ở nước ta trước đây theo Thọ Mai Gia Lễ, phân làm hai loại: đại tang và tiểu tang. Tiểu tang có 4 bậc, đại tang chỉ có 1 bậc. Tất cả có 5 bậc, gọi là ngũ phục.

1.) Đại tang:

Thời gian để đại tang là 3 năm, nhưng trên thực tế người ta chỉ để đại tang có 27 tháng. Điều này chưa có lời giải thích, theo chúng tôi có lẽ người ta lấy thời gian mang thai 9 tháng để tính một năm. Như vậy ba năm là 27 tháng! Trong dân gian vẫn có câu vợ khóc chồng:

“Ba năm hai bảy tháng chàng ơi!”

Hồ Xuân Hương khóc ông Phủ Vĩnh Tường với hai câu thơ còn lưu mãi:

“Hai bảy tháng trời là mấy chốc, Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!”

Những người chịu đại tang gồm có:

– Con để tang cha mẹ ruột và cha mẹ nuôi,

– Nàng dâu để tang cha mẹ chồng,

– Vợ để tang chồng,

– Cháu đích tôn thừa trọng (thay cha khi cha mất) để tang ông bà,

– Chắt thừa trọng (thay cha và ông khi cha và ông đều mất) để tang cụ ông cụ bà.

2.) Tiểu tang:

Theo tục lệ, tiểu tang có bốn bậc khác nhau và thời gian để tiểu tang cũng khác nhau, tùy theo thân hay sơ.

a.) Cơ niên: Để tang một năm. Những người để tang một năm gồm :

– Cha mẹ để tang cho con trai, con dâu trưởng, và con gái (chưa đi lấy chồng).

– Chồng để tang cho vợ.

– Con rể để tang cho cha mẹ vợ.

– Anh em và chị em (chưa đi lấy chồng) kể cả anh chị em cùng cha khác mẹ để tang cho nhau.

– Em để tang cho chị dâu trưởng.

– Cháu trai và cháu gái (chưa đi lấy chồng) để tang cho ông bà nội.

– Cháu để tang cho chú bác ruột và cô ruột (chưa đi lấy chồng).

– Cháu dâu để tang cho ông bà nhà chồng.

b.) Đại công: Để tang 9 tháng. Những người để tang 9 tháng gồm:

– Cha mẹ để tang con gái (đã đi lấy chồng) và con dâu thứ.

– Chị em ruột (đã đi lấy chồng) để tang cho nhau.

– Anh em con chú con bác ruột để tang cho nhau.

– Chị em con chú con bác ruột (chưa đi lấy chồng) để tang cho nhau.

c.) Tiểu công: Để tang 5 tháng. Những người để tang 5 tháng gồm:

– Anh chị em cùng mẹ khác cha để tang cho nhau.

– Chị em con chú con bác ruột (đã đi lấy chồng) để tang cho nhau.

– Con để tang cho dì ghẻ.

– Cháu để tang cho ông chú, bà bác, và bà thím.

– Cháu để tang cho bà cô (chưa đi lấy chồng), chú họ, bác họ, thím họ, cô họ (chưa đi lấy chồng), ông bà ngoại, cậu, và dì ruột.

– Chắt để tang cho cụ ông cụ bà bên nội.

d.) Ti ma: Để tang 3 tháng. Những người để tang 3 tháng gồm:

– Cha mẹ để tang cho con rể.

– Con cô con cậu và đôi con dì để tang cho nhau.

– Cháu để tang cho ông chú họ, ông bác họ, bà cô họ (chưa đi lấy chồng), bà cô (đã đi lấy chồng), và cụ cô (chưa đi lấy chồng).

– Chắt để tang cho cụ chú cụ bác.

– Chút để tang cho kỵ ông kỵ bà bên nội.

Việc tang của người Việt là do Lễ giáo Phong kiến quy định. Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” chi phối rõ rệt, ví như thời gian vợ để tang chồng là 27 tháng, tức là đại tang. Chồng để tang vợ có một năm, chỉ được coi là tiểu tang mà thôi. Con gái đã đi lấy chồng thì bị coi là “nữ nhân ngoại tộc” và “dâu là con rể là khách” Người đàn bà, nếu đã đi lấy chồng khi mất đi, được thân nhân để tang một thời hạn ngắn hơn khi chết mà chưa có chồng.

Việc để tang của ta thể hiện một nền văn hóa lâu đời, có tôn ti trật tự, có phép tắc hẳn hoi, phân biệt thân sơ rõ ràng. Cần phải học hỏi và được giáo dục, mới biết và thực hiện đúng theo phong tục được. Nhìn vào việc con cái để tang ông bà hay cha mẹ, ta biết được gia đình đó có giáo dục theo nếp Việt hay không.

Ngày nay đồ tang phục chỉ được mặc cho đến khi chôn cất thân nhân xong. Sau đó, đeo một miếng vải đen nhỏ bằng đầu ngón tay cái ở nẹp áo trước ngực hay ở trên mũ. Còn đàn bà, đầu vấn khăn trắng (ở nông thôn) hoặc găm miếng vải đen ở trước ngực phía trái khi mặc áo. Điều cốt yếu là Tang tại Tâm!

4) ĐỐT MÃ.

Trần sao Âm vậy, nếp nghĩ này đã ăn sâu vào tiềm thức người ta từ bao đời nay. Người sống phải lo chu cấp cho người âm, những vật dụng sinh hoạt đầy đủ như khi còn sống mà người đó thường dùng. Nên mới có tục đốt mã.

Người chết sau rằm tháng bảy, thường đốt mã vào dịp 49 ngày. Người chết trước Rằm tháng bẩy, chưa đủ 49 ngày tính đến rằm tháng bẩy, thì đốt mã vào dịp Rằm tháng bẩy. Nhưng phải đốt trước ngày mồng 10 tháng bẩy. Còn ngày rằm chỉ đốt cho người chết đã hết tang và cúng cô hồn thôi.

Đốt mã là một tục, nhà nước ta vẫn cho kinh doanh hàng mã và đánh thuế hàng mã! Hà nội có hẳn một phố mang tên phố Hàng Mã, chỉ chuyên bán đồ hàng mã. Bây giờ nhiều phố khác cũng bán đồ hàng mã, vì nó là thứ hàng hóa siêu lợi nhuận!

Đốt mã là một việc nhạy cảm, không biết thế nào là “vừa”. Hiện nay nhiều nhà quá lạm dụng, lãng phí tiền của không cần thiết. Vấn đề là ở cái tâm của từng người. ” Tâm động quỷ thần tri – Ta nghĩ gì, quỷ thần đều biết cả “. Báo hiếu cha mẹ đâu cứ mâm cao cỗ dầy, đốt mã xa hoa ?

5) GIỖ ĐẦU.

Giỗ đầu còn gọi là Tiểu tường. Giỗ đầu, theo tục lệ cúng trước ngày chết một ngày. Qua một năm, có người đã siêu thoát, có người đã được đầu thai theo luật Nhân quả – Luân hồi của nhà Phật. Khi sống tu nhân tích đức tốt, sớm đầu thai vào nhà lành! Ăn ở có nhiều tội lỗi, sẽ đầu thai làm kiếp trâu ngựa để trả nợ! Nếu khi sống có nhiều tội ác, vẫn bị giam ở chín tầng địa ngục, bị lũ ngạ quỷ (ma đói) hành hạ liên tục ngày đêm!

Quan niệm trên là của của Phật giáo, xét ra có tính nhân văn cao; bóc vỏ mê tín ra, ta thấy nhà phật dạy con người phải biết làm điều thiện ngay ở cõi đời đang sống, đó mới là quả phúc tròn đầy!

Trước ngày giỗ hai ngày, con cháu ra dọn cỏ, đắp đất cho mộ phần cao ráo đẹp đẽ. Thắp hương cắm hoa, khấn trình mời hương hồn người đã khuất về hưởng lễ con cháu cúng. Rồi về nhà có trầu rượu chén nước, nén nhang thắp trình, gọi là cúng Tiên thường để hôm sau cúng giỗ chính thức.

Ngày trước sau giỗ đầu, tang chế giảm nhẹ đi; trừ bỏ đồ hung phục không còn mặc áo xổ gấu, sô gai…bỏ gậy mũ…Nhưng vẫn còn để tang cho hết ba năm.

6 ) GIỖ HẾT TANG.

Giỗ này cúng vào năm thứ hai sau ngày mất. Từ giỗ thứ hai cúng đúng ngày mất. Gọi là Đại Tường.

Qua hai năm kể từ ngày mất, người chết đã siêu thoát hoàn toàn. Giỗ này con cháu cũng làm lễ đoạn tang – hết tang. Bởi vậy giỗ này còn gọi là Giỗ hết. Tuy vậy vẫn còn thêm ba tháng nữa mới được làm lễ Trừ phục – bỏ hết mọi đồ tang phục. Lễ này còn có tên khác là lễ Đàm tế (nỗi ưu sầu buồn đau).Nói là thời gian để đại tang 3 năm, nhưng sau 2 năm 24 tháng thêm ba tháng nữa là 27 tháng. Đại tang là 27 tháng, nên người vợ mới khóc chồng: ” Ba năm hai bảy tháng chàng ơi! “

Sau hai năm chọn một ngày tốt trong tháng thứ ba, để làm lễ Trừ phục (bỏ hết đồ tang). Trừ phục có ba việc làm sau:

– Lễ sửa mộ: Đắp thêm mộ phần to đẹp thêm.

– Lễ đàm tế: Cất khăn tang, hủy đốt các thứ thuộc phần lễ tang, thu các thứ đồ tang, bỏ bàn thờ để rước linh vị vào bàn thờ gia tiên.

– Rước bát hương vào bàn thờ gia tiên và cáo yết tổ tiên

Sau Lễ này, đốt bài vị giấy và đưa bát hương vào thờ chung ở bàn thờ Gia tiên, theo thế thứ mà sắp đặt. Có thể lấy 3 chân nhang cắm chung vào bát hương hội đồng ở bàn thờ gia tiên cũng được. Nếu ai chết cũng đưa bát hương vào bàn thờ, bát hương ngày càng nhiều, bàn thờ không có chỗ đặt. Bài vị phải làm bằng gỗ.

Mọi thứ câu đối trướng cũng thu dọn, có thể đốt hoặc chôn đi.

7 ) CẢI TÁNG.

Cải táng – là bốc mộ. Còn có nhiều tên gọi khác như: sang cát, cải cát, sang tiểu, thay áo, cát táng (chôn lần đầu gọi là hung táng)…

Bốc mộ là một việc trọng đại cuối cùng đối với người đã khuất. Tùy đất táng và tuổi người mất mà chọn thời gian bốc mộ. Nhưng ít nhất cũng trên ba năm, mới đủ thời gian phân hủy xác. Lúc này chỉ còn xương. Thời gian bốc mộ thường là cuối mùa đông, tiết trời khô ráo hanh heo là đẹp.

Sở dĩ phải bốc mộ vì quan tài gỗ lâu ngày sẽ mục, ván thiên sập xuống. Hoặc là khi chết chưa tìm được nơi đất đẹp! Con cháu không yên lòng. Bốc mộ để vĩnh viễn quy về một nơi, xây ốp trang trọng cho thỏa lòng con cháu.

Một số nơi từ nam miền trung trở vào không có tục bốc mộ, chỉ chôn một lần. Nhà có điều kiện làm trong quan ngoài quách và xây ốp vĩnh cửu luôn. Bây giờ đã bắt đầu quen dần với việc hỏa táng, điện táng. Một cách thức xử lý xác người chết hợp vệ sinh, không ô nhiễm môi trường, không tốn diện tích đất đai.

Trước khi bốc mộ, làm lễ cáo yết Gia tiên và cúng thần Thổ thần nơi nghĩa địa. Người ta thường bốc mộ vào ban đêm. Do quan niệm ban đêm thuộc âm, là thế giới của âm phủ. Điều này rất phiền toái cho công việc. Tuy vậy mọi người đều không quản ngại, ai cũng dốc sức cho công việc xong trước 5 giờ sáng. Cũng có nơi làm ban ngày, nhưng phải có mái che không cho ánh sáng mặt trời chiếu vào.

Khi mở nắp quan tài, mọi người đứng đầu chiều gió. Có thể đốt những bó chổi bằng cây hao hao và đổ rượu vào quan tài. Mục đích là giảm bớt xú khí. Xương cốt rửa sạch, lau khô xếp vào tiểu theo đúng vị trí. Trong tiểu lót giấy trang kim và vải đỏ hoặc lụa đỏ. Đem tiểu đến nơi khác chôn và xây cất, ốp lát tùy điều kiện từng nhà. Lấy nước vang tưới xung quanh gọi là hàn long mạch – ý nói hàn kín mạch đất vĩnh viễn.

Ngày trước bắt buộc con cháu phải trực tiếp lấy cốt, không được để người ngoài làm, như vậy mới thực là báo hiếu! Bây giờ có thể vận dụng hợp lý, không nhất thiết phải làm như xưa.

Trước đây chưa có điều kiện xây ốp. Vào nghĩa địa thấy ngôi mộ dài là chưa bốc. Ngôi mộ tròn là đã bốc.

Khi bốc mộ, nếu gặp mộ ” kết” thì phải lấp ngay lại. Ở Nghệ Tĩnh thường có chõ xôi mang theo, nếu thấy mộ kết thì bỏ xôi vào, đóng nắp quan tài và đắp mộ to lên.

Mộ ” kết ” là mộ có một trong ba biểu hiện sau:

– Khi đào đất thấy có con rắn vàng gọi là ” long xà khí vật ” là điềm tốt.

– Khi mở nắp quan tài có mạng như giây tơ hồng phủ trắng cả áo quan.

– Xương cốt dính liền, không rời nhau và có những giọt nước trắng như sữa.

Chưa bốc mộ cho ông bà cha mẹ, con cháu luôn coi mình chưa làm xong việc báo hiếu. Bây giờ có điều kiện kinh tế, phần lớn bốc mộ quy tập về một nơi, xây ốp khang trang đẹp đẽ, quần tụ trong nội tộc có ông bà tổ tiên ở bên cạnh, như được sum họp ấm áp tình cảm gia đình luôn có bên nhau.

(Còn nữa…)

Lễ Hạ Huyệt, Những Điều Cần Biết

Trước khi hạ huyệt, người ta phải làm lễ cúng “Thổ thần” để xin phép được an táng người chết tại nơi đây

Lễ cúng Thổ thần cũng giống như lễ cúng “Đạo lộ thần” gồm có trầu rượu, vàng, hương và đĩa xôi, thủ lợn hoặc chân giò, gà… bày trên một án đặt theo chiều hướng thuận lợi. Một người đại diện tang chủ làm lễ. Nhà nghèo thời cơi trầu bầu rượu trong một chiếc khay đặt trên một nấm đất gần đấy, cũng đèn nhang khấn vái nhưng không tế.

Đối với nhà giàu, cúng Thổ thần cũng như có văn khấn riêng. Muốn cho long trọng hơn, một đôi khi người ta cũng có đọc văn tế.

Cúng Thổ thần xong, linh cữu mới được hạ huyệt. Huyệt đã đào theo hướng thầy địa lý chỉ bảo. Đợi tới giờ hoàng đạo, người ta mới đặt linh cữu xuống gọi là hạ huyệt. Lúc đó thầy địa lý dùng la bàn gióng hướng phúc lại cho đúng.

Người ta trải “minh tinh” lên trên linh cữu một lát rồi đem ra phương Bắc đốt, ở nhiều nơi, người ta thường chôn theo luôn với linh cữu.

Thời xưa, khi đốt, nhiều người hay chờ đợi tranh nhau xé “minh tinh”, để đem về vặn như vặn bùa cho trẻ con đeo lấy “khước”, nếu người chết là bậc lão đại phúc hậu.

Trong lễ hạ huyệt, có khi người ta còn đọc điếu văn. Để tỏ lòng thương kính trước khi lấp đất, thân nhân bằng hữu cùng nhau mỗi người ném xuống huyệt một hòn đất.

Đám tang của phật tử, khi hạ huyệt có tăng ni tụng niệm. Sau khi huyệt đã lấp rồi, các bà bạn cùng đi chùa với người quá cố mỗi người cầm một nắm hay một cây nhang, tụng kinh niệm Phật đi quanh mộ, rồi mỗi người cầm một hòn đất ném vào mộ gọi là “dong nhan”

Sau khi huyệt đã lấp thành mộ, những tràng hoa tươi bỏ lại mộ, còn những đồ phúng điếu khác được đem về nhà treo trên tường, ở trên và chung quanh bàn thờ.

Thời xưa, bát cơm cúng đặt trên nắp linh cữu được người ta tranh nhau cướp lấy đem cho trẻ em ăn để tránh khỏi sài đẹn, đau yếu.

Những Điều Cần Biết Về Lễ Tế Ngu

Lễ tế ngu

Chữ “ngu” ở đây có nghĩa là yên vui. Có ba lần tế ngu để an thần người chết. Đó chính là:

– Ngày an táng, lễ lần đầu gọi là sơ ngu, tổ chức ngay sau khi đưa đám trở về.

-Qua ngày hôm sau, tế thêm một lần nữa, gọi là tái ngu.

– Đến ngày thứ ba, tế thêm lần nữa gọi là tam ngu.

Lễ tế ngu nhằm làm cho vong hồn người quá cố được yên nghỉ nơi suối vàng.

Tế ngu phức tạp hơn tế thần. Chủ tế phải là con trưởng hay cháu đích tôn, đứng hàng đầu, làm theo hướng dẫn của tướng lễ đi bên cạnh. Tất cả con cháu của người khuất đến để xếp hai hàng hai bên, nam tả nữ hữu, con dâu, con gái và cháu gái ngồi xếp gối dưới đất (không trải chiếu). Dâu trưởng, ngồi hàng đầu. Ban tư văn cử người có giọng tốt đọc văn tế.

Ngoài 13 lần tế ngu, hàng ngày đến bữa ăn, con cháu cũng làm lễ cúng cơm dâng người chết.

Đặc biệt trước khi lễ sơ ngu, con cháu phải vào tế tổ để yết cáo tổ tiên. Đây là một thủ tục gia phong với ngụ ý “đi có thưa, về có trình”.

VĂN KHẤN LỄ CÚNG BA NGÀY

(Còn goi là Tế ngu)

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mồ A Di Đà Phật! 

Kính lạy: 

Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

Đức Đông Trù Tư Mệnh Táo phủ Thần quân

Đức Gia tiên và các hương linh nội, ngoại 

Hôm nay ngày………… tháng……… năm………. (Âm lịch) 

Con trai trưởng là:…………………………………………………….. 

cùng toàn gia quyến 

Nhân ngày Tế Ngu (cúng ha ngày) theo nghi lễ cổ truyền 

Chúng con kính sửa trầu rượu, cụ soạn

Dâng lên trước linh toạ khóc mà than rằng: 

Than ơi! 

Vật đổi sao rời, mây bay, trăng khuyết

Khá trách thay tạo hoá đa đoan.

Chi đến nỗi đàn con đau đớn. 

Nhớ cha (mẹ) xưa tính nết thảo hiền, dưới nhường trên kính, 

Ngoài làng trong họ, kẻ mến người yêu

Tưởng cảnh đoàn viên 

Trời cho sống tròn tám chín mười mươi tuổi; 

Để đền công ơn ba năm bú mớm, 

Sẻ ngọt chia bùi một nhà sum họp 

Trời cho sông đủ ba vạn sáu ngàn ngày 

Để đền ơn chín tháng cưu mang, đẻ đau mang nặng. 

Thương ơi!

Tóc tơ chưa báo, công đức chưa đền. 

Bỗng đâu một phút hơi tàn, 

Âm cung hạ cánh muôn năm giấc mộng; 

Chia Bắc rẽ Nam, đành rằng phách lạc bơ vơ

Tàng hiểm đã yên một giấc, 

Hồn bay phảng phất biết đâu mà về. 

Dẫu khóc vắn, than dài, tìm đâu cho thấy; 

Dẫu tối kêu sớm gọi, khôn nỗi dò la. 

Thôi thì thôi! 

Hơn một ngày không ở, kém một ngày khổng đi;

Không còn sớm tối trông nom, khuyên răn lũ cháu.

Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một chứng;

Không còn người ngày đêm dạy bảo, săn sóc đàn con.

Nay sơ Ngu Tế (Tam Ngu Tế) dâng chút lòng thành 

Đĩa muối, lưng cơm, chén canh, đài rượu. 

Công đức cao dày; trên linh tọa chứng tình chay nhạt; 

Khóc than kể lể, dưới suối vàng thỏa chí vẫy vùng. 

Cẩn cáo! 

Bạn đang đọc nội dung bài viết Những Điều ‘Cấm Kỵ’ Khi Thắp Hương Chớ Có Phạm Kẻo Tài Lộc Tiêu Tan, Cả Năm Đen Đủi trên website Herodota.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!