Đề Xuất 2/2023 # Quốc Mẫu Tây Thiên # Top 4 Like | Herodota.com

Đề Xuất 2/2023 # Quốc Mẫu Tây Thiên # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quốc Mẫu Tây Thiên mới nhất trên website Herodota.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tục thờ Quốc mẫu Tây Thiên ở Khu Di tích Tây Thiên thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc là sự tích hợp và tiếp biến từ nhiều yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử, văn hoá xã hội của vùng đất này.

Tam Đảo có ba ngọn núi cao chót vót nổi lên, mạch núi dài án ngữ một vùng Đông Bắc kinh đô nước Văn Lang. Trong thế đối xứng thì Tam Đảo nằm ở vị trí Tả thanh long thuộc cung tiên rồng xanh (ở bên trái) cùng với núi Tản Viên thuộc Hữu bạch hổ (ở bên phải) thuộc cung tiên bạch hổ, tất cả đều cùng chầu về núi Nghĩa Lĩnh ngọn núi tổ của các Vua Hùng.

Tam Đảo không cách quá xa Kinh thành Thăng Long. Với vị trí linh thiêng nên các vương triều phong kiến xưa đã chọn núi Tam Đảo làm nơi tế tự thần linh núi sông, nhờ đó mà vị sơn thần núi Tam Đảo được tôn vinh là Tam đảo sơn trụ Quốc mẫu tối linh đại vương.

Tam Đảo có núi cao, suối sâu, rừng rậm, mạch núi liên hoành. Với cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp, phù hợp với cảnh tu hành. Vì vậy, đây từng là nơi hưng thịnh của Phật pháp, tạo nên sự đối xứng tồn tại giữa hai loại hình thờ Phật và Mẫu.

Tam Đảo ở vào điểm giáp ranh giữa miền núi và đồng bằng, thuộc không gian đồi rừng. Đây là điểm dừng chân tập kết của các cư dân miền ngược trên con đường tiến xuống khai phá đồng bằng. Truyền thuyết dân gian và các tư liệu điều tra dân tộc học và văn hoá học cho thấy từ xa xưa vùng đất này đã từng có mặt nhiều lớp cư dân thuộc các tộc người khác nhau.

Về cơ bản thì những đặc điểm nói trên đã tạo nên một vùng đất Tam Đảo có sự giao thoa, hội nhập của nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng. Đó là sự tích hợp của tín ngưỡng dân gian bản địa như tục thờ thần cây, thần đá, sau chuyển thành tục thờ thần núi (sơn thần) cùng các yếu tố du nhập như Phật, Nho, Đạo giáo dân gian và gần đây là đạo Tam phủ, Tứ phủ, biểu hiện rõ nét qua tục thờ Quốc mẫu Tây Thiên.

Bóc tách các lớp truyền thuyết dân gian ở địa phương và căn cứ vào các bản Phả lục Hùng Vương, các cứ liệu dân tộc học, văn hoá học tại các di tích thờ tự…, bước đầu chúng tôi đoán định các lớp tôn giáo tín ngưỡng tham gia vào sự hình thành tục thờ Quốc Mẫu Tây Thiên như sau:

1. Lớp tín ngưỡng thờ thần cây, thần đá của người thiểu số ven chân núi: Dấu vết còn lại của tín ngưỡng này là tục thờ cây, thờ khu rừng cấm nay được lồng ghép với tục thờ Sơn thần ở đền Thỏng, đền Ngò. Có thể thấy truyền thuyết Vua Hùng Vương thứ 7 (Hùng Chiêu vương) kết hôn với người tiên ở núi Tam Đảo là ở giai đoạn này mà câu chuyện vê cuộc hôn nhân giữa vua và tiên chỉ là biểu tượng hoá sự thu nhận văn hoá của một bộ tộc khác vào Nhà nước Văn Lang. Đó là bộ tộc thuộc mẫu hệ, có vu thuật bản địa (tiên trên núi), làm lúa nương, thờ cây và rừng cấm, gần gũi với tín ngưỡng của người Thái ở Tây Bắc ngày nay.

2. Lớp tín ngưỡng thờ thần làng gắn với truyền thuyết nữ thủ lĩnh của địa phương giúp Vua Hùng đánh giặc Thục: Đền Ngò (tức đền Tụ Nghĩa) ở làng Sơn Đình được coi là điểm tập kết luyện binh của Mẫu, từ lâu đã là nơi thờ phụng chung của các thôn Sơn Đình, Đồng Lính, Ấp Đồn. Lớp tín ngưỡng này đã kết tập tục thờ cây, thờ rừng (người Thái cổ) với thờ tục thờ thần làng của người Việt – Mường. Tương truyền ngôi đền Thỏng lúc ban đầu chỉ là ngôi miếu cửa rừng.

3. Lớp tín ngưỡng du nhập các ông thầy phù thủy mà dấu vết còn lưu lại khá rõ ở bài trí đền Thỏng: thờ sư tử hai bên, bát hương công đồng ở giữa, ngũ hổ hạ ban, sơn thần cạnh gốc cây sau đền… Dự đoán đây là dạng điện thần của các ông thầy phù thuỷ (đạo công) người Nùng họ Lăng đến từ bên kia biên giới, sau Mường hoá. Dòng họ Lăng vốn là dòng họ phổ biến ở khu vực này khoảng trước thế kỷ 17, 18 mà tấm bia công đức ở đền Ngò năm Chính Hoà thứ 22 (1701) Triều Lê là một minh chứng.

4. Thờ Mẫu với tư cách là Thành hoàng của người Sán Dìu (tập trung ở thôn Đông Lộ) khoảng sau thế kỷ 18 với hệ thống nghi lễ nông nghiệp. Đây là giai đoạn Mẫu được tôn xưng là Quốc mẫu Tây Thiên với công lao âm phù đánh giặc.

5. Thờ Mẫu với tư cách là Chúa thượng ngàn trong điện thờ Tứ phủ của người Kinh: Lớp tín ngưỡng này xuất hiện ở Tây Thiên đợt 1 là khoảng nửa cuối thế kỷ 19, đợt 2 rầm rộ hơn vào cuối thế kỷ 20 kéo dài đến ngày nay. Theo quan niệm của các ông/ bà đồng ở Lạng Sơn thì Quốc mẫu Tây Thiên là Chúa đệ Nhất thượng ngàn, được phối thờ ở cung sơn trang trong điện thần Tứ phủ cùng các Chúa đệ Nhị (Nguyệt Hồ), Chúa đệ Tam (Thác Bờ) và Chúa Ngũ Phương.

Như vậy, sự giao thoa, kết tập nhiều lớp tín ngưỡng đã tạo nên đặc điểm tục thờ Quốc mẫu Tây Thiên với những nét cơ bản: Vị thần núi tổ với tư cách là dòng tiên bản địa + vị thủ lĩnh có vai trò giúp vua đánh giặc + vị Quốc mẫu có công âm phù đánh giặc và cuối cùng là ngôi vị Chúa đệ Nhất thượng ngàn chủ về phúc lộc thọ.

Với đặc điểm như vậy, có thể coi Tây Thiên là một trong những cái nôi của sự hình thành biến đổi tục thờ Mẫu ở miền Thượng.

Sắm Lễ Đi Chùa Tây Thiên, Kinh Nghiệm Đi Thiền Viện Tây Thiên

Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên xây dựng trên nền của một thiền tự cổ (Thiên Ân Thiền Tự) có từ thế kỷ 3, được khởi công từ ngày 4/4/2004 (15/2 âm lịch) với tổng số vốn 30 tỷ đồng.

Khi làm lễ khởi công, trên nền ngôi chùa cổ các nhà sư đã tìm được vô số các viên gạch và mảnh ngói vỡ có hoa văn mang dấu ấn của thời Trần. Sau hơn 15 tháng xây dựng công trình mang tầm cỡ quốc gia này đã chính thức hoàn thiện và được khánh thành ngày 25/11/2005.

2. Sắm lễ đi chùa Tây Thiên:

Đến dâng hương tại các chùa chỉ được sắm lễ chay: hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi chè,…

Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Thánh, Mẫu và chỉ dâng ở đó mà thôi. Tuyệt đối không được dâng đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện (chính điện), tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa.

Trên hương án của chính điện chỉ được dâng lễ chay, tịnh. Lễ mặn (nhưng thường chỉ đơn giản: gà, giò, chả, rượu, trầu cau,..) cũng thường được đặt tại ban thờ hay điện thờ (nếu xây riêng) của Đức Ông – vị thần cai quản toàn bộ công việc của ngôi chùa.

Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng, lễ Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì chủ đặt ở bàn thờ thần linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.

Tiền giấy âm phủ hay hàng mã kiêng đặt ở ban thờ Phật, Bồ tát và cả tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện. Mà tiền, vàng công đức nên để vào hòm công đức đặt tại chùa.

Hoa tươi lễ phật là: hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu,…không nên dùng các loại hoa tạp, hoa dại….

Trước ngày dâng hương lễ phật ở chùa cần chay tịnh trong đời sống sinh hoạt ngày thường: ăn chay, kiêng giới, làm việc thiện,…

Tuy nhiên, phẩm vật dâng cúng dù nhiều hay ít, tốt hoặc xấu, ngon hay dở đều phải là thật, lễ bạc nhưng lòng thành và tâm thành thì Phật, các vị Tôn thần chứng. Lễ phẩm là biểu hiện của tấm lòng, do đó sẽ không tốt khi dùng lễ giả để mong biểu thị tấm lòng chân thật.

3. Kinh nghiệm đi chùa Tây Thiên:

Lễ hội Tây thiên đã được tổ chức hàng năm vào ba ngày 15, 16, 17 tháng 2 âm lịch. Lễ hội Tây Thiên thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu, Chính Vương Phi của vùa Hùng Chiêu Vương thứ 7.

Lễ hội Tây Thiên có 2 phần: phần lễ và các trò chơi dân gian. Phần lễ tại Lễ hội Tây Thiên gồm lễ cáo, lễ rước kiệu, lễ dâng hương, múa xênh tiền, hoạt cảnh chèo mô tả lại truyền thuyết về Quốc Mẫu Tây Thiên đánh đuổi giặc ngoại xâm thống nhất gian sơn,… Những hoạt động dân gian trong Lễ hội Tây Thiên có thể kể đến như thi hát dân ca người Sán Dìu, thi làm bánh chưng, bánh dày, thi nấu cơm, thi hú đáo, kéo co, chọi gà,…

Quãng đường từ Hà Nội đi Tây Thiên dài khoảng 85km. Từ Hà Nội đi theo hướng Quốc lộ 2A (Thăng Long – Nội Bài) qua Thành phố Vĩnh Yên, rẽ phải lên chân dãy Tam Đảo, xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo, khoảng cách 74km. Từ đây rẽ trái để đi Tây Thiên 11km, nếu rẽ phải là sẽ lên Khu nghỉ mát Tam Đảo.

Để đến chùa Tây Thiên, hiện nay có khá nhiều phương tiện giao thông để bạn lựa chọn sao cho phù hợp với điều kiện của mình. Nếu đi riêng bạn có thể đi bằng xe máy, xe ô tô cá nhân, mua vé xe khách tại bến Mỹ Đình hoặc vé xe bus tại trạm luân chuyến Cầu Giấy, Nam Thăng Long. Nếu đi theo nhóm hoặc đoàn bạn có thể thuê xe du lịch hoặc taxi đường dài giá rẻ.

Nếu đi xe khách hoặc xe bus, bạn nên tham khảo trước cung đường vì sẽ phải sang tuyến hoặc bắt xe ôm, taxi để đến được chùa Tây Thiên.

Dốc đi lên Tây Thiên ( từ Đền Cô trở đi) rất đứng, và dốc liên tục.Từ chân núi lên tới đỉnh, phải mất 2-3h đồng hồ mới lên tới nơi ( chưa tính thời gian rẽ vào đền, chùa để thắp hương). Nên, ai lễ nạp, cầu khấn gì nhiều,thì tự leo bộ là phù hợp ( mặc dù rất mệt) Nhưng đi chùa mà, leo, thắp hương, thành tâm cầu xin sẽ linh hơn. Còn như 1 số người, quen ngồi rồi, ít vận động hoặc có trẻ nhỏ, thì cáp treo lên là tiện nhất. Nên mang theo nước và chút đồ ăn nhẹ ( bánh mì, xôi) để dọc đường mệt thì có để nạp thêm.

Dịch vụ xe điện giúp chuyên chở hành khách từ bến xe điện đến nhà ga đi của cáp treo Tây Thiên. Giá vé: 20.000 đồng/Km

Phục vụ từ 7h sáng đến 5h30 chiều các ngày trong tuần

Giá vé khứ hồi cho người lớn là 200.000 đồng/người, trẻ em là 140.000 đồng/người.

Giá vé một chiều cho người lớn là 130.000/ người, trẻ em là 80.000/người (Giá vé trẻ em áp dụng cho người cao từ 1m đến 1,3m. Miễn phí với trẻ em dưới 1m).

Những địa điểm du lịch tại Tây Thiên:

Những lưu ý khi đi du lịch Tây Thiên

Tổng hợp kinh nghiệm du lịch Tây Thiên của khách du lịch thì có một số điều bạn cần lưu ý sau đây khi đi du lịch Tây Thiên:

Thánh Mẫu Thiên Y A Na

Thánh Mẫu Thiên Y A Na, Bà mẹ xứ sở hay bà chúa Ngọc, người Chiêm Thành (Chăm) gọi là Nữ thần Poh Nagar (hay Pô Ino Nogar), tuy chỉ là một vị thần theo truyền thuyết, nhưng đã được cư dân Việt và Chăm thờ phụng rất tôn nghiêm, và đã được nhà Nguyễn – Vua Gia Long, xếp vào bậc “Hồng nhân phổ tế linh ứng Thượng đẳng Thần”.

Thánh mẫu Thiên Y A Na – tượng thờ tại Tháp Bà (Nha Trang)

Truyền thuyết về Bà Thiên Y A Na

Văn bia viết về Bà Thiên Y A NA, tại Tháp Poh Nagar, Nha Trang, do Tiến sĩ, Hiệp biện Đại học sĩ, Lễ bộ Thượng thư Phan Thanh Giản soạn ngày 05 tháng 5 năm Tự Đức thứ 9 ( 1857) – bản dịch của Quách Tấn – ông bà Lê Vinh tạc năm 1970, tóm tắt như sau:

Xưa kia tại núi Đai An ( tức Đại Điền hiện nay) có hai vợ chông ông Tiều đến cất nhà và vỡ rẫy trồng dưa nơi triền núi. Dưa chín, thường hay bị mất. Một hôm, ông rình bắt gặp một thiếu nữ trạc mười chín tuổi hái dưa, dồi giỡn dưới trăng. Thấy cô gái dễ thương, ông đem về nuôi, hai ông bà vốn không con cái, nên đối với thiếu nữ thương yêu như con ruột.

Một hôm, trời mưa lụt lớn, cảnh vật tiêu điều buồn bã, thiếu nữ lấy đá chất thành ba hòn giả sơn và hái hoa lá cắm vào, rồi ngắm làm vui. Cho rằng hành vi của con không hợp với khuê tắc, ông Tiều nặng tiếng rầy la. Không ngờ đó là một tiên nữ giáng trần đang nhớ cảnh Bồng lai. Đã buồn thêm bực! Nhân thấy khúc kỳ nam theo nguồn trôi đến, tiên nữ bèn biến thân vào khúc kỳ nam, để mặc cho sóng đưa đẩy. Khúc kỳ trôi ra biển cả, rồi tấp vào đất Trung Hoa. Mùi hương bay thơm ngào ngạt. Nhân dân địa phương lấy làm lạ, rủ đến xem. Thấy gỗ tốt xúm nhau khiên, nhưng người đông bao nhiêu cũng không giở nổi.

Thái tử Bắc Hải nghe tin đồn, tìm đến xem hư thực. Thấy khúc gỗ không lớn lắm, lẽ gì nặng đến nổi không giở lên, Thái tử lấy tay nhắc thử. Chàng hết sức lạ lùng, vì thấy khúc gỗ nhẹ như tờ giấy! Bèn đem về cung, trân trọng như một bảo vật.

Một đêm, dưới bóng trăng mờ, Thái tử thấy có bóng người con gái thấp thoáng nơi để khúc kỳ nam. Nhưng lại gần xem thì tư bề vắng vẻ, bên mình chỉ phảng phất một mùi hương nhè nhẹ từ khúc kỳ nam bay ra. Chàng quyết rình xem, suốt mấy đêm liền, không hề thấy gì khác lạ. Chàng không nản chí. Rồi một hôm đêm vừa quá nửa, bốn bề im phăng phắc, một giai nhân tuyệt sắc theo ngọn gió hương ngào ngạt, từ trong khúc kỳ nam bước ra. Thái tử vụt chạy đến ôm choàng. Không biến kịp, giai nhân đành theo Thái tử về cung và cho biết rõ lai lịch. Giai nhân ấy chính là Bà Thiên Y A Na.

Thái tử vốn đã trưởng thành, nhưng chưa có lứa đôi vì chưa chọn được người xứng ý. Nay thấy A Na xinh đẹp khác thường, bèn tâu cùng phụ hoàng xin cưới làm vợ. Nhà vua sai quan bói cát hung. Bói trúng quê “đại cát”, liền cử lễ thành hôn.

Vợ chồng Thái tử ăn ở với nhau rất tương đắc và sanh được hai con, một trai, một gái, trai tên là Trí, gái tên Quý, dung mạo khôi ngô.

Thời gian qua, sống trong êm ấm. Nhưng một hôm, lòng quê thúc giục, Bà Thiên Y bồng hai con nhập vào khúc kỳ nam, trở về làng cũ.

Núi Đại An còn đó nhưng vợ chồng ông Tiều đã qua đời. Bà Thiên Y bèn đắp mồ mã cha mẹ nuôi và sửa sang nhà cửa để phụng tự. Thấy dân địa phương còn lạc hậu, Bà đem văn minh Trung Hoa ra giáo hoá: dạy dân cày cấy, kéo vải, dệt sợi… và đặt ra lễ nghi… Từ ấy ruộng nương mở rộng, đời sống của nhân dân mỗi ngày thêm phú túc, phong lưu. Công khai hoá của Bà chẳng những ở trong địa phương, mà các vùng lân cận cũng được nhờ.

Rồi một năm sau, vào ngày lành tháng tốt, trời quang mây tạnh, một con chim hạc từ trên mây bay xuống, Bà cùng hai con lên lưng hạc bay về Tiên.

Nhân dân địa phương nhớ ơn đức, xây Tháp tạc tượng Bà phụng thờ. Và mỗi năm vào ngày Bà thăng thiên, tổ chức lễ tưởng niệm múa bóng, dâng hoa rất tôn nghiêm, long trọng.

Ở Bắc Hải, Thái Tử trông đợi lâu ngày, không thấy vợ, con trở về, bèn đem một đạo binh dong thuyền sang Đại An tìm kiếm. Khi thuyền Thái tử đến nơi thì Bà đã cởi hạc quy Tiên. Bộ hạ của Thái tử đã tra khảo người dân rất dữ, vì ngỡ họ cố tình che giấu mẹ con Bà. Bị oan ức và đau đớn, nhân dân đã thắp hương khấn vái Bà. Liền đó, một trận cuồng phong nổi dậy, cát chạy đá bay, đất bằng dậy sóng… đánh đắm đoàn thuyền của Thái Tử Bắc Hải.

Theo lời người xưa truyền lại, những cụm đá ở trước cửa Tháp Bà ( tức Tháp Poh Nagar ở Nha Trang), giữa cửa sông Cù, là những tản đá đã đánh đắm đoàn thuyền Thái Tử Bắc Hải.

Dấu tích những ngôi Tháp, nền văn hoá Chămpa Ngày xưa, ở khu vực Tháp Bà, có một số tháp đã được xây dựng trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13. Một số công trình đã bị đổ nát, nay chỉ còn lại 4 tháp, trong đó tháp lớn nhất là Tháp Pho Nagar, thờ Mẹ Xứ Sở của người Chămpa, là người đã dạy dân Chămpa trồng lúa và các thứ hoa màu. Người Việt ở Nam Trung bộ còn gọi Nữ thần Thiên Y A NA là Bà Chúa Ngọc.

Toàn cảnh Tháp Bà Ponagar (Nha Trang) Khánh Hòa

Tháp Po Nagar hay Tháp Bà là ngôi tháp nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ cao khoảng 50 mét so với mực nước biển, ở cửa sông Cái (sông Nha Trang) tại Nha Trang, cách trung tâm thành phố khoảng 2 km về phía bắc, thuộc phường Vĩnh Phước. Tên gọi “Tháp Po Nagar” được dùng để chỉ chung cả công trình kiến trúc này, nhưng thực ra nó là tên của ngọn tháp lớn nhất cao khoảng 23m.

Ngôi tháp này được xây dựng trong thời kỳ đạo Hindu (Ấn Độ giáo) đang cường thịnh khi Chăm pa trong giai đoạn có tên gọi là Hoàn Vương Quốc, vì thế tượng Nữ thần có hình dạng của Umar, vợ của Shiva.

Ngọn tháp thứ hai ở chính giữa thờ Thần Cricamblu. Tháp xây từ thế kỷ thứ VII và trong tháp có tượng bằng vàng khối. Vào cuối thế kỷ thứ VIII, người Mã Lai xâm nhập xứ Kaut Hara, cướp mất tượng vàng và phá huỷ ngọn tháp. Vua Satyavarman xây tháp lại và tạc tượng đá thay tượng vàng. Đây chính là Tháp thờ Thái Tử Bắc Hải chồng bà Thiên Y A Na.

Ngọn tháp thứ ba ở phía Nam, đứng ngay hàng cùng hai ngọn trước, thờ thần Linga, biểu hiện của thần Sandhaka. Đó là Tháp thờ Ông Tiều, nghĩa phụ của Bà Thiên Y.

Ngọn tháp thứ tư đứng phía sau tháp thờ Bà Thiên Y. Trong tháp không có tượng, mà chỉ có đế thờ ( có lẽ bị thất lạc lúc Mã Lai vào cướp phá). Tháp này thờ thần Ganeca. Đó là đền thờ Công chúa Quý.

Còn hai tháp nửa, cũng ở sau lưng dãy tháp trước. Đó là tháp thờ Bà Tiều nghĩa mẫu của Bà Thiên Y và Hoàng tử Trí. Tháp đã bị hư nát, chỉ còn nền…Cho nên Bà Tiều đưa về thờ chung cùng Ông Tiều ở tháp thứ ba. Hoàng tử thờ chung với Công chúa ở tháp thứ tư.

Phía trước tháp, dưới chân đồi lại có mấy hàng cột cao lớn bằng gạch. Truyền rằng đó là những cột chống vũ đài. Mỗi khi có lễ người ta dùng ván gác lên trên cột thành một sàn gỗ rộng. Vũ nữ và diễn viên ca múa trên sàn gỗ. Thần trong tháp trông ra, nhân dân đứng dưới nhìn lên.

Hàng năm, vào đêm giao thừa, một không khí kỳ thú lung linh ở khu vực Tháp Bà xuất hiện. Khi trời đất bước vào Xuân, vạn vật thay đổi chuyển vần, tiết trời đang se se lạnh, tự dưng ấm lại. Người ta cảm nhận được một mùi hương thơm phảng phất. Đây là hương kỳ nam, hương trầm từ rừng sâu thoảng đến quyện vào mùi thơm của nhang và hoa từ nhà dân chúng, và từ các chùa chung quanh bay ra, tạo thành một không gian có mùi thơm huyền bí.

Theo tiếng Chăm, Pô Yang Inư Nagar Kaut Hara có nghiã là Thiên Ya Na Thánh Mẫu là Nữ thần Mẹ Xứ Sở của bộ tộc Kaut. Pô là từ danh xưng dùng cho thần thánh thiêng liêng, được dịch ra từ Thiên. Yang có nghĩa là Trời, Thánh Thần ( nhiều dân tộc Tây Nguyên cũng dùng âm tiếng với ý nghĩa như vậy hoặc đọc trại là Giàng, theo người Êđê ở vùng Buôn Ma Thuột, ĐakLak và Khánh Hòa. Inư là mẹ đã mất, Nagar là xứ sở, đất nước) Inư Nagar đã được phiên âm Việt là YaNa. Kaut Hara là thị tộc Kaut.

Hình tượng Poh Nagar:

Tượng Bà Thiên Y A Na, tượng chính được thờ ở khu Tháp là tượng nữ thần bằng đá xanh nguyên khối thể hiện Mẹ Xứ Sở ngồi xếp bằng trên đài sen, tượng này là một kiệt tác nghệ thuật điêu khắc của người Chămpa xưa, rực rỡ trong quá khứ, vào thế kỷ thứ XI.

Toàn bộ tượng và bệ thờ cao 2,60m, đặt giữa lòng ngôi tháp chính cao 22,40m, nếu nhìn chính diện, tượng có đến 10 cánh tay, gồm 2 cánh chính với 8 cánh phụ ở đằng sau phù điêu hình lá bồ đề gắn liền với tượng. Đây là sự biểu hiện tính toàn năng.

Hai cánh tay chính đặt trên đầu gối, bàn tay trái mở ra với ý nghĩa ban phát, bàn tay phải dựng đứng, lòng bàn tay ngửa ra trước, trong tư thế trấn an. Ý nghĩa chung là đem lại sự bình an và ban hạnh phúc cho mọi người ở mọi nơi.

Tám cánh tay phụ gồm có mỗi tay cầm một vật phụ khác nhau như: đoản kiếm, mũi tên, vòng mặt trời Sakra, mũi lao, chuông nhỏ, lưỡi giáo Ankura, tù và bằng vỏ ốc, cách cung. Các cánh tay này tỏa ra hình rẻ quạt, rất sinh động. Tất cả những vật này tượng trưng cho quyền uy và trí tuệ của Nữ thần.

Pho tượng đặt trên một Yôni lớn, mỗi cạnh 150cm, gồm nhiều lớp đá chồng khít lên nhau như được đẽo gọt từ nguyên khối. Toàn thân tượng cao 154cm, ngực trần, hai bầu vú căng tròn, bụng có nhiều nếp nhăn, chứng tỏ đã trải qua nhiều kỳ sinh nở, bên dưới mặc một chiếc xà rông. Toàn bộ khối tượng với đường nét, tinh tế, uyển chuyển, thanh thoát, đầy sinh lực, gây cho người nhìn một cảm giác gần gũi mà vẫn giữ được vẻ tôn nghiêm.

Truyền thuyết của người Chămpa

Theo truyền thuyết của người Chămpa, Nữ thần Poh Nagar do bọt nước biển và ánh mây trời sinh ra ngoài biển khơi. Một hôm, nước biển dâng cao đưa Bà vào bến sông Yjatranở Kauthara (Cù Huân). Sấm trời và gió hương liền nổi dậy báo cho muôn loài biết tin bà giáng thế. Tức thì, nước trên nguồn dồn lại thành sông chảy xuống đón mừng bà, và núi cũng hạ mình thấp xuống để đón rước Bà.

Khi Bà bước lên bờ, thì cây cong xuống để tỏ lòng thần phục, chim muông kéo đến chầu hai bên đường, và hoa cỏ cũng xinh tươi rực rỡ hơn để điểm hương cho mỗi bước chân Bà đi. Rồi nữ thần Poh Nagar dùng phép hóa ra cung điện nguy nga, hóa ra trầm hương cùng lúa bắp…

Nhiều phép thuật, Bà cũng rất nhiều chồng. Nơi hậu cung của Bà, có đến 97 ông. Nhưng trong số đó, chỉ ông Pô Yan Amo là có uy quyền hơn cả. Sống với ngần ấy ông chồng, nhưng Bà chỉ sinh được 38 người con gái. Những người con ấy, sau đều thành thần, trong số có ba người được bà truyền nhiều quyền phép:

1. Nữ thần Xứ Trầm hương: Pô Nagar Galâu. 2. Nữ thần vùng Phan Rang: Pô Tdara Nai Anaith. 3. Nữ thần vùng Phan Thiết: Pô Bia Tikuk.

Sự tích Nữ thần Poh Nagar và sự tích Bà Thiên Y A NA thật khác hẳn nhau.

Sụ tích Nữ thần Poh Nagar của người Chiêm Thành phản ánh chế độ mẫu hệ của người Chăm ngày trước.

Sự tích Bà Thiên Y A Na của người Việt biểu lộ tinh thần dân tộc rất sâu đậm, thấm đẩm tính nhân văn và cho chúng ta thấy người xưa xem nghĩa đồng bào nặng hơn tình cảm gia đình rất nhiều. Đó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

Lễ hội Am Chúa

Lễ hội Am Chúa được tổ chức từ ngày 01 đến ngày 03 tháng 3 âm lịch hàng năm tại Am Chúa, núi Đại An, thôn Đại Điền Trung 1, xã Diên Điền, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

Đây là dịp sinh hoạt văn hóa tâm linh, để người dân Khánh Hòa nói riêng, khách thập phương cả nước nói chung thể hiện tấm lòng “Uống nước nhớ nguồn”. Nhớ ơn Bà Mẹ Xứ Sở đã dạy cho dân Khánh Hòa biết cày cấy, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải…

Thánh Mẫu Thiên Y A Na – Bà Mẹ xứ sở đã khai sáng và truyền dạy cho dân chúng cách làm ăn, sinh sống. Tín ngưỡng thờ Bà Thiên Y A Na được bắt nguồn từ tục thờ Bà Ponagar của người Chăm. Hay nói đúng hơn, những người Việt đến định cư ở đất này đã Việt hoá tục thờ Bà Mẹ xứ sở của người Chăm bằng truyền thuyết về Bà Thiên Y A Na giáng trần tại núi Đại An và hiển thánh ở Tháp Bà – Nha Trang.

Đến nay, ở Khánh Hoà vẫn lưu truyền câu nói: “Am Chúa hiển nhân, Tháp Bà hiển thánh” như một lời khẳng định về sự nối liền giữa di tích Am Chúa với Tháp Bà Ponagar.

Đặc biệt, thuộc thiền phái Lâm Tế đời thứ 36, đệ tử của Tổ Thiệt Vinh – Bửu Hạnh khai sơn Sắc tứ Viên Tịnh đời thứ 35 dòng thiền Lâm Tế khai sơn Tổ đình Vạn Thiện ở núi Phụng Thuỳ Sơn (Diên Khánh). Tổ Khai sơn Am Chúa (Diên Khánh) là Thiền sư Linh Phù – Tế Cảm, tự Thiện Khoáng,

Theo Chánh pháp nhãn tạng hiện đang thờ tại bàn Tổ chùa Tổ Vạn Thiện. Căn cứ vào bia tháp và Tháp Tổ tại khu vườn tháp chùa Tổ Vạn Thiện (Diên Khánh) Thiền sư Linh Phù là vị Tổ khai sáng Am chúa tại núi Đại An, Đại Điền. vào khoảng đời Vua Lê Cảnh Hưng (1740-1786).

Am Chúa là một di tích lịch sử văn hoá lâu đời của xứ Trầm Hương (Khánh Hòa), gắn liền với tục thờ Thánh Mẫu Thiên Y. Cùng với truyền thuyết về Thiên Y Thánh Mẫu, di tích Am Chúa đã thể hiện rõ nét sự giao lưu văn hoá Việt – Chăm. Với nhiều giá trị văn hoá và lịch sử cách mạng, năm 1999 Am Chúa đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Lễ hội Tháp Bà

Lễ hội Tháp Bà Poh Nagar tại Nha Trang diễn ra từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 3 âm lịch hàng năm. Lễ hội này đã được Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng là một trong 16 lễ hội quốc gia vào năm 2001. Những năm gần đây, Lễ hội Tháp Bà được tỉnh Khánh Hòa giao cho Sở Văn hóa Thông tin tổ chức.

Hiện nay, dân chúng Khánh Hoà, Nha Trang thờ kính Bà Thiên Y A Na, Bà Mẹ Xứ sở tại Tháp Bà Poh Nagar, và thường xuyên đi lễ Bà để cầu nguyện cho quốc thái, dân an, gia đình an lạc. Tháp Bà Poh Nagar không chí là nơi thờ phụng tôn nghiêm mà còn là địa chỉ du lịch văn hoá tâm linh đặc sắc, du khách trong nước hay nước ngoài có dịp đặt chân đến thành phố Nha Trang thơ mộng, vừa được Chính phủ công nhận Thành phố Đô thị loại 1, không thể không đến viếng Tháp Bà và cầu tài, cầu lộc, cầu gia đạo bình an.

Trí Bửu

Văn Khấn Thánh Mẫu Cửu Trùng Thiên

Dưới đây chúng tôi xin gửi đến các bạn bài văn khấn thánh mẫu cửu trùng thiên cho những gia chủ lập bàn thờ thiên ngoài trời thờ thánh mẫu cửu trùng thiên

Bài Văn khấn thánh mẫu cửu trùng thiên

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Hương tử chúng con thành tâm kính lạy Đức Hiệu Thiên chí kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.

Kính lạy Đức Cửu Trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

Kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng công chúa, sắc phong Chế Thắng Hòa Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh mẫu.

Kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

Kính lạy Đức đệ tam Thủy Phủ, Lân nữ công chúa.

Kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh mẫu, tứ vị Chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

Hương tử con là . . . . . . . . . . .

Ngụ tại . . . . . . . . . . .

Cùng toàn thể gia đình đến nơi Điện (Phủ, Đền) . . . . . . . chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương ủng hộ, kiến cho gia chúng con tiêu trừ tai nạn, điềm lành thường tới, điềm dữ lánh xa, hết tai ương bệnh tật trong nhà, hưởng thịnh vượng an lành mãi mãi. Tài như nước đến, lộc như mây về, bốn mùa không hạn ách nào xâm, tám tiết có phúc lành tiếp ứng.

Lại xin: Thể đức hiếu sinh, rủ lòng cứu độ, khiến cho chúng con như ý sở cầu, cho hương tử tòng tâm sở nguyện.

Dãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

Cẩn tấu.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quốc Mẫu Tây Thiên trên website Herodota.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!