Đề Xuất 2/2023 # Sắc Màu Văn Hóa Đằng Sau Các Mâm Cơm Cúng Ông Bà Tổ Tiên # Top 7 Like | Herodota.com

Đề Xuất 2/2023 # Sắc Màu Văn Hóa Đằng Sau Các Mâm Cơm Cúng Ông Bà Tổ Tiên # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sắc Màu Văn Hóa Đằng Sau Các Mâm Cơm Cúng Ông Bà Tổ Tiên mới nhất trên website Herodota.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Khi nói về mâm cỗ miền Bắc, chúng ta có thể lấy mâm cỗ Hà Nội làm tiêu biểu.

Mâm cỗ tết Hà Nội thường theo đúng bài bản gồm 4 bát, 4 đĩa; cỗ lớn thì 6 bát 6 đĩa hoặc 8 bát 8 đĩa… có khi mâm cỗ lớn phải xếp cao đến 2, 3 tầng trên mâm gỗ hay mâm đồng.

Bốn bát được xem là chủ đạo của mâm cỗ thường được nấu công phu và dùng các loại nguyên liệu chọn lọc, như bát bóng thả, bát mọc nấu với nấm hương, bát giò hầm măng lưỡi lợn, bát miến dong nấu với nước dùng gà và rau củ… có khi là sơn hào hải vị như bát vây, bát hải sâm, bát bồ câu tần hạt sen…

Bốn đĩa gồm: dĩa gà luộc lá chanh, đĩa thịt heo, đĩa giò lụa, đĩa chả quế. Rồi có thể thêm đĩa nem rán, đĩa thịt đông, đĩa giò thủ ,đĩa nộm su hào, đĩa hành cuộn, đĩa cá kho riềng, đĩa rau củ xào với lòng gà hoặc đĩa xào hạnh nhân…

Bên cạnh đó, bánh tết phổ biến nhất là bánh chưng kèm dưa hành, đĩa cơm và đĩa cơm nếp, đôi khi có thêm đĩa xôi gấc hay xôi vò.

Món tráng miệng: đặc trưng có mứt gừng, ô mai mơ gừng, mứt lạc… Những nhà quyền quý thì có thêm hồng khô, táo khô, mứt Phật thủ, mứt kim quýt, mứt sen, mứt trần bì, chè kho.

Mâm cơm cúng ông bà ngày tết của người miền Nam: giản dị mà vẫn tinh tế

Miền Nam, tuy là vùng đất mới nhưng là nơi hội tụ nhiều nguồn văn hoá, tạo ra một sắc thái văn hoá mới ở đất phương Nam.

Trong mâm cơm cúng ông bà ngày tết của người miền nam, bên cạnh các món căn bản như: thịt heo kho nước dừa với trứng – ăn kèm dưa giá, canh khổ qua nhồi thịt (khổ qua là mướp đắng, nhưng người nam bộ muốn chơi chữ đồng âm theo nghĩa tiếng Việt).

Theo dân gian, khổ qua là mong muốn sự khổ cực trong năm cũ qua đi, để tiếp đón điều tốt đẹp trong năm mới. Các món nguội như: gỏi ngó sen dùng kèm bánh phồng tôm, nem, chả, giò heo nhồi, tai heo ngâm dấm, tôm khô – củ kiệu, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi, phá lấu, vịt lạp, heo luộc, heo quay …

Mâm cúng của miền Nam không đa dạng, chuẩn mực và cầu kỳ như mâm cỗ miền Bắc hay miền Trung, vì miền Nam là vùng đất mới với tinh thần phóng khoáng, không ưa gò bó, nhất là không bị ảnh hưởng nhiều với tập tục, nghi lễ…

Tuy nhiên, các món ăn không vì thế mà kém phần hấp dẫn, lại có sự tế nhị riêng: Như món bánh tét có nhiều loại màu sắc khác nha, từ màu xanh lá dứa, màu tím lá cẩm, màu đỏ của gấc… cho đến bánh với nhiều loại nhân như nhân đậu và thịt, nhân chay, nhân ngọt, nhân trứng vịt muối…

Riêng nồi thịt kho nước dừa với trứng đủ cho thấy sự khéo léo của người miền Nam. Món thịt kho này không dùng tiêu, các nguyên liệu chính như thịt mỡ, trứng và nước dừa đều thuộc âm, nên người đầu bếp dùng ớt sừng chín đỏ để nguyên trái vào kho chung để cân bằng theo nguyên lý âm dương, đồng thời làm món ăn được thơm ấm, có màu hổ phách rất hấp dẫn.

Đặc biệt, món ăn mà người miền Nam cho rằng tượng trưng công đức sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và được xem là món ăn có sự giao thoa rõ nét nhất của ba nền văn hóa Việt – Hoa và Khmer là món cù lao.

Thoạt đầu, món cù lao là biến thể của món hỏa – thực của người Hoa nhưng lại chế biến theo cách ăn của người Việt.

Người Hoa thường ít ăn rau nhưng cù lao của người Việt nấu rất nhiều rau như dùng một lớp bắp cải, rau cần, hành tây,cà rốt… lót bên dưới cù lao làm bổi. Bên cạnh nước dùng hầm từ xương và củ cải trắng, không thể thiếu một số nguyên liệu đặc trưng của người Khmer như chả cá thát lát, tôm khô…

Ngoài ra trong mâm cơm cúng ông bà ngày tết, người miền Nam cũng nấu điểm xuyết vài món chay như củ hủ dừa kho với nước dừa dùng kèm dưa giá. Dưa giá ăn kèm thịt kho luôn phải có lá kiệu, còn dưa giá ăn kèm món chay của người miền Nam luôn kèm theo theo sắc đỏ li ti của những cánh hoa trang.

Mâm cỗ của người miền Trung: hào soạn

Khi giới thiệu mâm cỗ miền Trung, chúng ta có thể lấy mâm cỗ Huế làm tiêu biểu vì Huế là kinh đô dưới thời Nguyễn khi đất nước thống nhất từ Bắc chí Nam.

Tựu trung, mâm cỗ tết Huế thường có các món nấu theo bốn thể loại: kho, nấu, thấu, trộn và ngoài ra cũng có thêm những món chiên, thui, hấp. Tuỳ điều kiện của mỗi nhà mà chọn nguyên liệu sao cho đủ các thành phần gồm: Thượng cầm: các loại gia cầm biết bay như chim, gà ,vịt… ; hạ thú như: các gia súc trên mặt đất như: heo, bò, gà, dê; rồi các loài thuỷ tộc dưới nước như tôm, cua, cá …

Mâm cỗ Huế, ngoài các món căn bản như các món kho, món nấu, món thấu và món trộn, đầu bếp muốn thêm vào món gì cũng được, cũng như không theo một quy định chặt chẽ như phải bao nhiêu bát, bao nhiêu đĩa như mâm cỗ bắc. Mâm cơm đủ thành phần như vậy trong dân gian gọi là hào soạn. Nếu mâm càng thịnh soạn thì càng nhiều món, có khi xếp lên 2, 3 tầng.

Trong đó, các món kho có: tôm thịt rim, thịt kho tàu, thịt quay kho chả lụa, cá thu kho rim, thịt bò kho quế… Các món nấu: canh hoa kim châm nấu tôm thịt, canh gà nấu hạt sen, giò heo hầm măng, bồ câu tiềm, thịt hon.

Các món thấu: các loại bóp gỏi có vị chua chua như gà bóp rau răm, bò bóp khế và chuối chát, nham bóp khế chua…Các món trộn gồm các món mộc như măng trộn, mít trộn, vả trộn.

Ngoài ra có thêm những món chiên như: cá thu chiên, gà rô-ti, giò heo ram, cuốn ram… Món hấp có cá hấp, dê bó sỗ…Món thui có bê tái…Mâm cỗ miền Trung cũng không thể thiếu những món khai vị như nem, chả, tré, các loại tráng miệng, bánh…

Khác với mâm cỗ miền Bắc chỉ có bánh chưng và mâm cơm cúng ông bà ngày 30 tết của miền Nam chỉ có bánh tét, mâm cỗ miền Trung trong dân gian có cả bánh chưng và bánh tét ăn kèm dưa món.

Khi đến Huế, bánh chưng là tiếp nối truyền thống tổ tiên từ đất bắc mang vào và tiếp thu thêm bánh Tày của người Chăm Pa để biến thành đòn bánh tét.

Ở miền Trung, bánh chưng bánh tét mang ý nghĩa tượng trưng cho trời – đất, âm – dương hay mang ý nghĩa hai vật tổ linga -zoni theo như tín ngưỡng Phồn thực của người Chăm Pa. Dù vậy, trong mâm cỗ tiến cúng ở miếu điện trong cung đình thì chỉ dâng cúng bánh chưng chứ không dùng bánh tét (vì tên gọi và hình dáng được cho là không nhã).

Cơm, xôi, bánh chưng, bánh tét

Trong mâm cỗ 3 miền truyền thống trước đây, thường không có món thịt bò. Sau này, khoảng đầu thế kỷ 20, khi ảnh hưởng phương Tây tràn vào, các món ăn được chế biến từ bò mới được phổ biến. Và trong mâm cỗ ngày nay, bên cạnh các món ăn truyền thống còn có thêm những món ăn mới bổ sung, tiếp thu từ nhiều nước trên thế giới như món kim chi, thịt nấu rượu chát, cà-ri, ra-gu…

Nhìn chung, mâm cỗ ngày tết của 3 miền có một vài đặc điểm khác biệt tùy theo địa phương . Nhưng đặc điểm chung miền nào cũng phải có trong mâm cỗ là cơm và xôi. Và mâm cỗ miền nào cũng có dọn hai chén nước mắm, một chén nước mắm y nguyên chất dùng để chấm thịt phay, gà chặt hay chấm các nguyên liệu thịt cá trong các món canh và một chén nước mắm pha chế chua ngọt theo từng miền dùng để chấm nem rán, cuốn ram, chả giò… hay nước mắm gừng để chấm món bê tái, dê bó sỗ…

Dịch vụ mâm cúng ông Công, ông Táo ‘hốt bạc’

TTO – Ngày 15-1, ghi nhận tại một số chợ ở chúng tôi như chợ Phú Nhuận (Q.Phú Nhuận), chợ Tân Định (Q.1), chợ Bà Chiểu (Q.Bình Thạnh)… nhiều người đã tranh thủ đặt mua đồ cúng ông Công, ông Táo sớm.

Mâm Cơm Cúng Gia Tiên, Ông Bà Tổ Tiên Ngày Tết Gồm Những Gì

I. Giới thiệu tục cúng gia tiên của người Việt

Cúng gia tiên là cúng tổ tiên trong nhà, là nghĩa vụ thiêng liêng của con cháu để tỏ lòng nhớ ơn nguồn cội của mình “Cây có cội nước có nguồn”.

Cúng gia tiên là một cái đạo “Đạo thờ cúng ông bà”, gọi tắt là đạo ông bà. Đạo ở đây không phải là tôn giáo vì không có giáo chủ, môn đệ… .mà chỉ là “đạo làm người” trong gia đình, lấy tình cảm và sự liên hệ máu mủ ruột thịt trong gia đình làm chủ yếu.

Cúng gia tiên là thể hiện sự hiếu thảo và tình thương yêu của con cháu đối với người quá cố. Cúng gia tiên trong 3 ngày Tết bày tỏ lòng tri ân, thương nhớ của con cháu đối với tổ tiên nguồn cội. Việc cúng kính không chú trọng ở hình thức mâm cao cỗ đầy mà chú trọng ở nội dung, đó là tấm lòng thành kính tri ân thương nhớ và noi gương. Vua Hùng Vương thứ 6 không chọn cao lương mỹ vị để cúng gia tiên mà chọn bánh chưng bánh dầy là món đơn sơ giản dị nhưng hàm chứa nội dung ý nghĩa sâu sắc.

Khi cúng, gia chủ phải ăn mặc chỉnh tề, lên đèn, đốt hương, đánh chuông, hai tay chắp lại đưa lên ngang trán và khấn, khi khấn nêu ngày tháng, làng xã, tên mình, tên vợ con, tên người quá cố, lễ vật cúng, lý do cúng, cầu nguyện… rồi tùy theo vị trí lớn nhỏ của mình đối với người quá cố, nếu nhỏ thì lạy 4 lạy hoặc vái 4 vái. Việc cúng kính tuỳ thuộc vào đức tin và đời sống đạo đức của mình.

II. Cách bày mâm cỗ cúng ông bà ngày Tết

Ngày Tết Nguyên đán là ngày gặp gỡ của các thế hệ từ vị tiên tổ tới các cháu con. Theo quan niệm của người phương Đông: các vị tiên tổ nối tới cháu con bằng tâm linh giao cảm giữa thế giới hữu hình với thế giới vô hình, sự thờ cúng chính là môi trường gặp gỡ của thế giới hữu hình với vũ trụ thần linh, cho nên bàn thờ gia tiên và thần linh ngày tết thể hiện đầy đủ những yếu tố giao cảm đó.

Trên bàn thờ của người Việt ngoài lễ vật thường bầy hai ngọn đèn dầu, về sau được thay bằng hai cây nến, khi thắp sáng lên tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, gọi là “nhật nguyệt quang minh”, soi tỏ con đường để thế giới hữu hình biết lối đi về, chứng giám và phù hộ cho con cháu sức khoẻ dồi dào, làm ăn thịnh vượng. Đốt một nén hương là “tâm hương”, thể hiện sự đốt cháy niềm tin vào những ước vọng trong sự thờ cúng. Đốt 3 nén hương thể hiện cho khái niệm tam tài “thiên, địa, nhân” là trời, đất và con người trong mối đồng giao cộng cảm. Trên bàn thờ thường bày lá trầu, quả cau, cùng với bát nước trắng tinh khiết, sắp xếp theo lề lối “đông bình”, “tây quả” – bát nước đặt bên phải, trầu cau đặt bên trái. Vì nước là nguồn gốc của sự sống, trầu cau là kết quả của sự sinh thành.

Giữa bàn thờ là mâm ngũ quả, gồm có 5 loại quả có màu sắc khác nhau, bởi thế giới vạn vật được tạo nên bởi 5 yếu tố: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Kim là kim loại, Mộc là gỗ, Thuỷ là nước, Hoả là lửa, Thổ là đất và được bày biện rất công phu theo sự phân định vị trí cụ thể. Màu xanh thuộc về hành mộc là nải chuối màu xanh ôm gọn lấy quả bưởi có màu vàng tượng trưng cho hành thổ ở giữa trung tâm. Màu đỏ thuộc hành hoả là quả hồng chín mọng hoặc quả quýt bầy xung quanh. Màu trắng thuộc hành thuỷ, như quả lê, quả táo. Màu đen thuộc hành kim như quả nho. Mâm ngũ quả tượng trưng cho quan niệm ngũ hành đã đi sâu vào nếp nghĩ và trở thành nét văn hoá truyền thống của dân tộc.

Đặc biệt là mâm cơm cúng ngày tết được tổ chức nấu nướng và bày biện khá công phúc. Tuỳ từng hoàn cảnh kinh tế của mỗi gia đình mà các mâm cỗ cúng lớn nhỏ khác nhau, nhưng tựu chung đầy đủ 4 món cơ bản là: Bánh chưng, thịt lợn, dưa hành và cơm tẻ. Món bánh chưng tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở của muôn loài và con người mỗi năm một tuổi. Thịt lợn chế biến thuộc về âm, dưa hành thuộc về dương, âm dương hài hoà tượng trưng cho sự phát triển. Cơm tẻ là lương thực hàng ngày, nên trong mâm cỗ có nếp, có tẻ cũng như có âm có dương đầy đủ lẽ sinh sôi. Bát nước chấm đặt giữa mâm hình tròn với 4 bát cơm đặt 4 góc mâm, tượng trưng cho trời đất vũ trụ, mà con người dù ở cõi âm hay dương đều có cuộc sống trong đó.

III. Mâm cỗ cúng gia tiên ngày Tết gồm những món gì?

1. Mâm cơm cúng miền Bắc

Với người miền Bắc, ẩm thực là thứ không thiếu thiếu trong những đám giỗ hay ngày lễ tết quan trọng. Trên bàn thờ thì mâm cơm cúng gia tiên nhất định sẽ có những món sau:

Cơm trắng

Xôi gấc (xôi vò)

Giò chả

Thịt quay

Chân giò hầm măng hoặc mộc nhĩ

Gà luộc

Miến xào lòng gà

Nộm

Rau xào (tùy theo mùa nào thì có món rau đó)

Nem rán

2. Mâm cơm cúng miền Trung

Đối với những người dân miền Trung, tuy thường xuyên chịu nhiều thiên tai, gặp nhiều khó khăn hơn những vùng khác, nhưng ẩm thực ở đây cũng phong phú không kém với những món ăn đặc trưng có trên mâm cơm cúng gia tiên như sau:

Xôi vò, xôi lạc

Gà luộc ( nếu không có gà thì thay thế bằng Thịt heo luộc)

Rau xào

Cá thu kho khúc

Canh xương hầm rau củ

Thịt kho tiêu

3. Mâm cơm cúng miền Nam

Trong các dịp lễ, con cháu là người hiểu rõ nhất ông bà mình thích những món gì, khẩu vị ra làm sao? Người dân miền Nam khá chú trọng với việc gia vị và nêm nếm thức ăn. Dân gian ta có câu “ục và “Trần sao âm vậy” ý chỉ sinh hoạt ở trên gian và ở âm giới cũng giống nhau. Mỗi mâm cơm cúng của các gia đình người miền Nam đều có 4 món chính như sau:

Món kho thường là thịt kho tàu, hay cá lóc kho với nước dừa mang đậm hương vị miền Nam

Thịt ba chỉ luộc xắt miếng mỏng

Món hầm thường là thịt heo hầm măng

Món xào tuyệt đối không dùng thịt rừng mà thường có các món nhưng xào chua, xào mặn.

IV. Trình tự cúng gia tiên 4 ngày Tết

Tết Nguyên đán thường tổ chức 4 ngày và lễ cúng gia tiên cũng được trình tự cúng trong 4 ngày với những ý nghĩa khác nhau.

Chiều 30 Tết có lễ cúng tất niên, tức là cúng trình với ông bà, tổ tiên năm cũ đã hết. Đêm 30 cúng giao thừa, thời điểm chuyển tiếp năm cũ sang năm mới.

Sáng mùng 1 Tết là cúng Nguyên đán, nghĩa là cúng sáng sớm của một ngày đầu năm. Chiều mùng 1 Tết cúng Tịch điện, tức là cúng cơm chiều.

Ngày mùng 2 Tết có 2 lễ cúng, buổi sáng cúng mời tổ tiên gọi là Chiêu điện, buổi chiều cúng Tịch điện.

Ngày mùng 3 là ngày cuối của tết, nên cúng Tạ Ông vải, với ý nghĩa 4 ngày tết đã đầy đủ.

Với quan niệm vong hồn gia tiên luôn ở gần mình, người sống như được tiếp xúc với tổ tiên qua việc thờ cúng. Nên việc cúng bái gia tiên bao giờ cũng do người con trưởng đứng ra làm chủ lễ trong gia đình. Với ngày Tết Nguyên đán người con trưởng là trung tâm của sự quy tụ các thành viên trong gia tộc, nên sau khi đồ lễ được đặt lên bàn thờ, gia trưởng khăn áo chỉnh tề, thắp đèn, hương rồi lễ 4 lễ, 2 vái trước ban thờ, khấn từ vị tổ từ 5 đời trở xuống đến cha mẹ.

Bài văn khấn thường bao hàm đầy đủ nội dung về quốc hiệu dân tộc, rồi đến năm, tháng và ngày âm lịch theo phong tục truyền thống. Sau khi gia trưởng khấn lễ xong, chờ cho tàn một tuần hương, tức là những nén hương thắp lên cháy quá 2/3 thì người gia trưởng tới trước ban thờ tạ lễ và hạ cỗ xuống. Mọi người trong gia tộc quây quần bên nhau thụ lộc của tiên tổ và chúc nhau một năm mới vạn sự tốt lành.

V. Những kiêng kị khi làm mâm cơm cúng gia tiên cần biết

Khi làm mâm cơm cúng gia tiên, thường không bày bằng mâm cao cỗ đầy mà do tấm lòng thành của gia chủ. Biết những món ăn ưa thích của người trên, với những điều kiêng kị cũng như tôn trọng bề trên thì khi làm mâm cơm cúng người ta thường:

Không nêm nếm thức ăn, hay ăn thử thức ăn dùng để làm cơm cúng gia tiên

Trên mâm cơm cúng gia tiên không chứa những món gỏi, sống hay tanh

Không cúng như món như cá mè, cá sông.

Mâm cơm cúng phải được đặt riêng, bày trên những bát đĩa, đĩa mới, hoặc để dùng riêng, không dùng chung với chén đũa thừa ngày sử dụng.

Không sử dụng đồ đóng hộp, các món ăn đặt sẵn ngoài nhà hàng để thờ cúng.

VI. Bài văn khấn cúng gia tiên ngày Tết

Hôm nay, ngày…. tháng…. năm…

Tại: ….

Tín chủ con là….. cùng với toàn gia kính bái..

Nay nhân ngày….

Kính cẩn sắm một lễ gồm… gọi là lễ mọn lòng thành, kính dâng lên:

Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, bản gia tiên sư, bản viên thổ công, liệt vị tôn thần.

Trước linh vị của….

Và các vị tổ bá, tổ thúc, tổ cô, cùng các vong linh phụ thờ theo tiên tổ.

Kính cẩn thưa rằng: Năm cũ sắp hết, ngày Tết tới gần, chuẩn bị mừng xuân.

Kính cáo: thô, địa, chư vị linh thần.

Kính mời: Vong linh tiên tổ về với gia đình để cháu con phụng sự.

Cẩn cáo!

Cúng Giỗ Ông Bà Tổ Tiên Như Thế Nào? Cách Làm Mâm Cơm Cúng Giỗ

Riêng giỗ, ông cha ta xưa rất coi trọng. Cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, được coi là “báo hiếu”, là ngày con cháu tưởng nhớ đến công lao sinh thành, xây nếp đắp móng của các vị tiền hiền, và cầu xin vong linh các vị phù hộ độ trì cho.

Các cụ chia giỗ làm hai loại: giỗ trọng và giỗ thường

Giỗ trọng là giỗ những người thân mới mất, thường là ông bà, cha me. Còn giỗ thường là giỗ những người ở thế hệ xa hơn: cụ kỵ, chú bác, cô, anh chị… Các cụ vẫn truyền cho con cháu câu: “Ngũ đại mai tiền chi” (năm đời không còn chủ), tức là từ đời thứ 5 trở lên (đời kỵ) các cháu chắt không phải cúng giỗ nữa, nhưng những ngày tết và những ngày giỗ khác, các vị từ đời thứ năm trở lên vẫn được tiến chủ (người đứng lễ) khấn, mời về “đồng hưởng” cùng vong linh những người đã khuất của gia đình.

Nhân dân ta mang truyền thống “uống nước nhớ nguồn” nên hàng năm những vị khai sáng ra một dòng họ – được suy tôn là “khởi tổ” hoặc “thuỷ tổ” – vẫn được chắt chút cúng giỗ ở nhà thờ “đại tôn” (nhà thờ của họ).

Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nhiều nhà thờ họ được xây lại, được tôn tạo sửa chữa tôn tạo và việc cúng giỗ tổ tiên được khôi phục. Họ nội nhà tôi là một họ nhỏ, lại phân tán, kỳ giỗ Tổ tộc họ hàng năm cũng được 6-7 chục chắt chút về dự. Họ ngoại của tôi là một họ lớn, mỗi lần giỗ tập trung tới 5-7 trăm người ở khắp nơi trong cả nước và ở cả nước ngoài. Đó là dịp để các chắt chút… của Tổ gặp nhau, trước tỏ lòng thành kính với Tổ, sau là nhận họ, nhận hàng.

Nhiều họ, ngày giỗ Tổ còn là ngày động viên chắt, chút… làm những việc tốt, tuyên dương những chắt, chút mới tốt nghiệp đại học, trên đại học, có phần thưởng cho những chút, chít mới đỗ vào đại học hoặc học giỏi. Ở Phú Thọ, còn có phong trào “dòng họ tự quản” với những “tộc ước” rất cụ thể.

Riêng ngày giỗ trọng thì mỗi gia đình tổ chức một khác

Quê tôi xưa thuộc ngoại thành Hà Nội, nay là quận Hoàng Mai, có một nếp sống rất đẹp là đám ma đám giỗ thì tuỳ tâm gia chủ, tổ chức như thế nào do gia đình bàn bạc thống nhất. Các cụ truyền dạy: “Đó là việc hiếu, mọi người đến không phải vì cỗ to, vì miếng ăn, mà là để tưởng nhớ người đã mất, vì họ hàng làng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”. Vì vậy, các đám ma, đám giỗ ở quê tôi, không ai buông một lời chê, không có cãi vã, to tiếng, say rượu, cờ bạc…

Các cụ rất coi trọng cỗ, chứ không coi trọng cỗ. Ngày giỗ lấy tâm thành là chính chỉ cần “bát cơm, quả trứng” cúng là đủ. Vì vậy, hầu như tất cả các gia đình ở Hà Nội, dù làm giỗ to nhỏ, nhiều ít, mâm cao cỗ đầy như thế nào thì gần cuối buổi lễ đều dâng lên bàn thờ một bát hoặc một liễn cơm và một quả trứng (hột) vịt hoặc gà luộc đã bóc vỏ, và bóp vỡ một chút ở chỗ ít lòng trắng để lộ phần lòng thêm một ít muối bên cạnh.

Xưa những đám giỗ trọng ở quê tôi có hai cách tổ chức gàn như là lệ làng: Làm mở rộng đối với những giỗ mới, nhất là giỗ đầu (một năm sau ngày mất và giỗ hết (hai năm sau ngày mất, có nhà làm vào ngày thứ 100 sau hai năm gọi là giỗ bỏ tang hay “bỏ trở” – từ sau ngày đó, con cháu không phải để trở).

Làm trong phạm vi hẹp (chú bác, anh chị em, con cháu) rượu từ giỗ sau giỗ bỏ tang trở đi. Gia chủ có làm rộng cũng ít người đến.

Về cỗ, quê tôi có hai loại, tuỳ hoàn cảnh gia đình mà chọn:

– Làm cỗ bình thường (quê tôi gọi cỗ “bàn than”): chỉ có mấy món chế biến từ thịt lợn: luộc, rang, lòng, có thể thêm đĩa giò.

– Làm cỗ to (gọi là cỗ “đồ Tàu”) có những món cầu kỳ hơn, thường mỗi mâm có có bốn bát và tám đĩa: giò, nem, ninh, mọc, nấm, bóng…

Có gia đình khá giả làm cả bò, lơn, gà (hoặc dê) gọi là cỗ “tam sinh”.

Những giỗ làm theo phạm vi rộng thường 30 mâm, có nhà tới hàng trăm mâm, trong phạm vi hẹp độ 5- 10 mâm (mỗi mâm 6 người).

Trước ngày giỗ độ 10 ngày, ông trưởng (con trai đầu) mời tất cả con trai, con gái của người mất đến họ để thống nhất cách làm giỗ và phân công mỗi người một nhiệm vụ; người mua thực phẩm, người mượn bát đũa, mâm nồi, người dựng rạp. Các người con tự nguyện đóng góp, tùy khả năng và tùy tâm, không bổ bán, không chia đều. Sau khi thống nhất, hai vợ chồng trưởng nam phải đích thân đi mời từng nhà: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ!”, có nhà ế hàng chục mâm cỗ chỉ vì sơ suất khi mời.

Cũng như các nơi khác, quê tôi nhà nào cũng có một bàn thờ gia tiên đặt ở gian giữa – nơi trang trọng nhất, từ hai cột chính đến sát tường sau. Nhà nghèo thì bàn thờ là một tấm gỗ sơn đỏ nối hai cột chính với hai cột sau. Trên tường chính giữa dán một vuông giấy đỏ có viết một chữ Hán to “Phúc” hoặc “Thần”. Trên tấm gỗ, đặt ba bát hương, bát giữa kê cao hơn thờ thần linh, bát bên phải thờ gia tiên và bát bên trái thờ các “bà cô, ông mãnh” – những người chết chưa vợ, chưa chồng và được gia đình coi là linh thiêng. Hai góc trước của bàn thờ có hai cây nến tiện bằng gỗ.

Nhà khá hơn thì bàn thờ là một án thư có trang trí hoa văn, sơn son hoặc sơn then (đen), đèn nến bằng gỗ tiện sơn son. Nhà giàu thì chạm trổ “tứ linh” (bốn con vật thiêng: long (rồng), ly (kỳ lân), quy (rùa), phượng (chim phượng hoàng); mặt trước án thư là một tấm gỗ quý chạm “mai long” (cây hoa mai uốn hình rồng) hoặc chữ “ngũ long” (năm con rồng quây thành một vòng tròn), tất cả đều bằng sơn son thếp vàng.

Trên án thư có bộ “tam sự” bằng đồng, có nhà còn thêm bộ đài rượu bằng gỗ sơn son hoặc bằng đồng (gồm ba khối hình ống, đáy cao, có nắp đậy, trên mỗi đáy đặt một chiếc chén hạt mít, khi cúng cơm, gia chủ mở nắp, rót vào chén). Có nhà thêm ống cắm hương chưa thắp, mâm bồng để bày hoa quả…

Những năm từ giữa thế kỷ XX, khi kỹ thuật chụp ảnh phổ cập, thì trên án thư còn đặt ảnh những người đã mất; trên tường sau còn treo một bức hoành, có 3-4 chữ Hán to, ghi nguyện vọng, sự cầu mong của gia đình và đôi câu đối phẳng hoặc hình lòng máng nói về công đức của tổ tiên và lòng hiếu của con cháu; tất cả đều sơn son thiếp vàng.

Ở các nhà thờ “đại tôn”, sau án thư là một tấm cửa võng, chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng, phía sau treo hai cánh màn bằng vóc hoặc nhiễu đỏ, ngăn án thư với “hậu cung”, khi cúng, gia chủ vén màn sang hai bên, để lộ cung sau. Hậu cung là một cái bục lớn, cao ngang án thư bằng gỗ hoặc xây gạch, sát đến tường sau, trong cùng có một chiếc bàn vuông, trên đặt chiếc ngai sơn son thiếp vàng, trên ngai đặt chiếc bài vị gỗ mấy dòng chữ Hán: họ, chi, quê…

Hai bên ngai, đặt hai giá cắm nến; khi cúng, gia chủ thắp nến để chiếu sáng cho cung. Trước ngai có một chiếc mâm gỗ vuông cao để đặt cỗ khi cúng cơm. Thường vào ngày giỗ trong, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng cơm.

Thường vào ngày giỗ trọng, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng “tiên thường”. Hôm giỗ, mọi việc diễn ra khẩn trương từ 2-3 giờ sáng dưới ánh đèn đuốc, nhóm giết lợn, giết bò, chuẩn bị thực phẩm, người vo gạo, thổi xôi… Tiếng cóc cách giã giò hoà tiếng lao xao người nọ hỏi người kia, lệnh của ông trưởng vang vang… tạo ra một không khí nhộn nhịp của một nhà có đám.

Khoảng 8 giờ sáng, các mâm cỗ đã xong, một hoặc ba mâm được để lên bàn thờ (hoặc cung sau). Ông trưởng nam, áo the khăn xếp, bước lên chiếc sập trước bàn thờ để thắp hương, đèn nến rồi đứng giữa sập, hai tay chắp giữa ngực, lên gối xuống gối lễ ba lần, đoạn đứng nghiêm, mười ngón tay đan vào nhau và đưa lên ngang trán, miệng lầm rầm khấn.

Bài nhấn có ba phần. Mở đầu là ngày tháng năm (âm lịch), tại nhà thờ ở thôn, xã, huyện, tỉnh… tiến chủ tên gì, nhân ngày giỗ ai, thành tâm cúng tiến những gì. Phần sau là gia chủ kính mời từ thần linh, thổ địa, táo quân… đến tên họ và hiệu, nơi an táng các vị trong gia đình theo thứ tự từ trên xuống (chỉ khấn nam và dâu họ, nữ không khấn, trừ trường hợp chết chưa có chồng).

Cuối bài khấn là những cầu xin. Khấn xong, ông trưởng nam lễ một lễ và ba vái nữa, rồi rót rượu cúng. Một số họ lớn, khi giỗ tổ họ, tổ chức dâng hương tế tổ và thay bài khấn bằng một bài văn tế, ông trưởng lễ xong thì đọc bài văn tế, rồi đem ra sân đốt như đốt sớ ở đình chùa.

Khi ông trưởng nam khấn xong, những người đến dự giỗ lần lượt già trước, trẻ sau vào lễ, người nào cũng đem một ít hoa, quả hoặc vàng hương, trầu rượu đặt lên bàn thờ rồi lễ, mỗi người ba lễ một bái, nam thì lễ như ông trưởng, nữ thì ngồi vào góc sập, chắp hai tay trước ngực, khi cúi thì giáp mặt tận chiếu, hai bàn tay xoè ra đặt hai bên đầu. Những bà gia đình có đại tang (bố mẹ hoặc chồng mới chết) phải lật một phần chiếu, ngồi xuống mặt sập, hai tay lật ngửa vòng khăn trắng quấn tóc mà lễ.

Thường cháy dở tuần nhang (hương) thứ hai thì cúng cơm và cuối tuần nhang thì ông trưởng nam tạ lễ, hoá vàng rồi hạ cỗ cho con cháu xin lộc.

Sơ qua phong tục cúng giỗ của người Hà Nội khoảng giữa thế kỷ XX như vậy để thấy ông cha ta rất cẩn trọng khi cúng giỗ. Giỗ là để họp mặt gia đình, để tưởng nhớ và noi gương tốt của những người thân trong gia đình đã mất, đó là việc hiếu, là một hoạt động tâm linh của người Việt nói chung, người Hà Nội nói riêng. Nó mang nặng tính truyền thống và là một phong tục đậm đà bản sắc dân tộc, cần được duy trì.

Khoảng trên chục năm nay, khi đời sống nói chung khấm khá, việc cúng giỗ được nhiều gia đình, dòng họ khôi phục. Nhưng do không hiểu hết ý nghĩa đúng hoặc không có ai hướng dẫn, hoặc cố tình làm to, làm trong diện rộng để khoe khoang, để thu lời.

Có người đi ăn giỗ để đền ơn người sống, để hối lộ, nên đặt lên bàn thờ không phải đồ lễ mà là phong bì… làm cho đám giỗ mất đi ý nghĩa cổ truyền của nó, gây một sự ganh đua giữa các gia đình, tạo điều kiện cho một số việc làm xấu, một số tệ nạn xã hội – thường là cờ bạc, đốt vàng mã – phát triển.

Cách Làm Lễ, Khấn Cúng Hóa Vàng Tiễn Ông Bà, Tổ Tiên Ngày Tết

Theo truyền thống, sau khi mời Tổ tiên về dự 3 ngày Tết với con cháu vào ngày 30 Tết, đến ngày mùng 3 Tết hoặc khi tiệc xuân đã mãn, con cháu lại cáo lễ để tiễn đưa Tổ tiên trở về âm cảnh.

Theo GS sử học Lê Văn Lan, mùng 3 vẫn là ngày Tết thầy, nên để tổ tiên vẫn ở lại ăn Tết với con cháu. Mùng 4 và mùng 5 mới là ngày tiễn các cụ về cõi vĩnh hằng.

GS Lan cho biết, tục hoá vàng dựa trên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, vật hoá vàng thường gắn với đời sống thường nhật, để thấy con người ở thế giới bên kia sống gần với dương gian. Tục này nhằm cung cấp cho người đã khuất tiền, quần áo (giấy), gậy đi đường (cây mía).

“Các cụ về trời chỉ cần ít quần áo, vật dụng đi đường cùng 5-10 nghìn đồng”, ông Lan bày tỏ.

Theo một số chuyên gia văn hóa phương Đông, việc chọn ngày làm lễ hóa vàng tùy thuộc vào mỗi gia đình, chủ yếu từ mùng 3 đến khoảng mùng 10 Tết Nguyên đán. Điều quan trọng nhất là phải có lễ tạ gia tiên, gia thần và chư vị thánh thần, phật. Theo quan niệm dân gian, có lễ tạ thì tấm lòng của chủ nhà mới được người âm chứng giám.

1. Chuẩn bị lễ cúng

– Hương, Hoa, tiền vàng, Mâm Ngũ Quả

– Trầu cau, Rượu, Đèn , Nến, Bánh Kẹo

– Mâm cỗ mặn, Bánh trưng, rượu thịt đầy đủ

– Có cây mía để các cụ gánh hàng hóa về trời

Sau khi lễ xong, hóa vàng phải hóa riêng phần tiền vàng cho Gia Thần trước, sau đó đến Gia tiên ( Tức ông bà cụ kỵ)

Mâm cỗ hóa vàng ngày Tết phải được chuẩn bị chu đáo 2. Văn khấn cúng lễ hóa vàng ngày Tết

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Kính lạy:

– Đức Đương lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật

– Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.

– Ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương.

– Các Ngài Ngũ phương, Ngũ thổ Long mạch, tài thần cùng tất cả các vị thần linh cai quản trong xứ này.

– Chư gia Cao tằng tổ khảo, Cao tằng tổ tỷ, tiên linh nội ngoại.

Hôm nay là ngày mùng……. tháng Giêng năm ………….

Chúng con là…………………………………………………

Ngụ tại…………………………………………………………

Chúng con thành tâm sửa biện hương hoa vật phẩm, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dâng Phật Thánh, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén Tâm hương dốc lòng bái thỉnh.

Kính cẩn tâu trình: Tiệc Xuân đã mãn, Nguyên Đán đã qua, nay xin thiêu hóa Kim ngân, lễ tạ Tôn Thần, rước tiễn tiên Linh trở về Âm giới.

Kính xin: Lưu Phúc, lưu Ân, phù hộ độ trì, Dương cơ Âm Mộ, mọi chỗ tốt lành. Con cháu được chữ bình an, Gia đạo hưng long thịnh vượng. Lòng thành vừa cẩn, lễ bạc tiến dâng, lượng cả xét soi, cúi xin chứng giám.

Phục duy cẩn cáo!

3. Hóa vàng thế nào cho đúng cách Hóa vàng để tiễn ông bà Tổ tiên về âm cảnh là tập tục truyền thống của dân tộc ta

Ngày lễ tiễn ông bà, tổ tiên này rất quan trọng với người Việt. Người xưa quan niệm rằng, trong dịp Tết, các bậc gia thần, tổ tiên luôn ngự trên bàn thờ, vì thế đèn hương không bao giờ được tắt, các đồ dâng cúng như mâm ngũ quả, bánh kẹo… phải đợi đến này hóa vàng mới được đem xuống (trừ các đồ mặn, dễ thiu như thịt xôi…). Nếu đèn hương tắt, nhất là việc hạ lễ trước khi hóa vàng sẽ phạm phải điều bất kính.

Sau khi lễ, việc hóa vàng cũng phải làm riêng. Phần tiền vàng của gia thần phải hóa trước của tổ tiên để tránh nhầm lẫn. Tục xưa, tại nơi đốt vàn mã, người ta thường đặt vài ba cây mía dài để làm “đòn gánh” cho các linh hồn mang hàng hóa theo.

Chính vì ngày hóa vàng vô cùng quan trọng với người Việt cho nên mâm cơm cúng hóa vàng cũng rất đầy đủ như mâm cỗ chính của ngày Tết. Trong mâm cơm hóa vàng, con gà cúng phải to, tròn, chắc nịch, có đôi chân đẹp và được bày biện cẩn thận. Mâm cơm cúng cũng phải đủ món luộc, xào, canh, miến, cùng với bình rượu, li nước, lọ hoa, trầu cau, bánh kẹo và mâm ngũ quả để tiễn chân ông bà. Trong đó, nếu cúng mặn không thể thiếu con gà trống. Tiền âm, vàng mã cũng phải được chuẩn bị chu đáo để ông bà có hành trang, lộ phí để lên đường.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sắc Màu Văn Hóa Đằng Sau Các Mâm Cơm Cúng Ông Bà Tổ Tiên trên website Herodota.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!