Đề Xuất 2/2023 # Thiết Trí Lễ Đài Phật Đản Là Truyền Thống Của Người Phật Tử # Top 5 Like | Herodota.com

Đề Xuất 2/2023 # Thiết Trí Lễ Đài Phật Đản Là Truyền Thống Của Người Phật Tử # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thiết Trí Lễ Đài Phật Đản Là Truyền Thống Của Người Phật Tử mới nhất trên website Herodota.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thiết trí Lễ đài Phật đản là truyền thống của người Phật tử

Còn gì đớn đau hơn, khi con tự cho mình là một Phật tử thuần thành, uy tín có, từ thiện có, thọ Bồ tát giới có, mà mỗi việc an trí bàn Phật Đản sanh cũng không làm được, thì đó là một thiếu sót lớn. Nếu cứ cho rằng “Phật tại tâm”, rồi chấp lý bỏ sự, thì con đâu thể trang nghiêm thế tục, lấy nhân gian làm tịnh độ, đâu có gì là sự nghiệp lợi tha của Bồ tát? Kinh Hoa Nghiêm dạy: ” Chẳng phát Bồ đề tâm mà làm tất cả việc lành, đó là nghiệp của ma”. Nên bất kì phương tiện nào mà không đưa chúng sanh đến Phật đạo, cũng chưa phải là rốt ráo.

Nhiều đứa khờ! Chỉ biết khôn nhà dại chợ. Nhiều năm thầy in băng rôn, phong Phật đản, sắm đèn và cờ Phật giáo phát cho, dạy về làm bàn Phật đản sanh tại nhà, chỉ biết trố mắt ra nhìn. Như thể là nhà chùa đang bắt chước hình thức làm hang đá của ngoại đạo trong dịp lễ Noel, mà không chịu tìm hiểu lịch sử Phật giáo Việt Nam cặn kẽ. Dẫn đến  thái độ thiển cận và lệch lạc. Dù đó vốn dĩ là truyền thống của Phật giáo Việt Nam, đã bị đứt đoạn vì hoàn cảnh lịch sử.

Nguyên nhân của Pháp nạn Phật giáo năm 1963, là do chính sách kỳ thị Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, bắt đầu bằng công điện số 5159 cấm treo cờ tôn giáo ở những nơi công cộng vào ngày 6/5/1963 (Trước Lễ Phật Đản 2 ngày) nhằm hạn chế lễ Phật đản. Tại Huế, đã dấy lên làn sóng phẫn nộ của dư luận. Sự nổi dậy của quần chúng Phật tử lan rộng ra cả miền nam, làm lung lay tận nền móng chế độ Việt Nam Cộng Hoà. 

Đại lễ Phật đản Vesak Phật lịch 2563 tại TP.Đà Lạt trên hồ Xuân Hương.

Có thể nói, đây là một sự kiện đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo ở miền Nam Việt Nam vào năm 1963, được đánh đổi bằng máu và nước mắt của chư tôn thiền đức Tăng Ni, Phật tử, giới sinh viên và các tầng lớp tri thức. Đỉnh cao của phong trào này là sự tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức cũng như các vị Thánh tử đạo. Dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. 

Như vậy, sự tồn vong của Phật giáo đã trả giá bằng bao nhiêu xương máu của tiền nhân. Không chỉ giai đoạn pháp nạn 1963 mà còn trải qua những biến cố thăng trầm cùng dân tộc. Đến nay, trước sự bành trướng của ngoại đạo, nhiều ngôi chùa đã bị biến thành nhà thờ, dẫu còn chứng tích lịch sử , vẫn chưa có câu trả lời thích đáng. Thậm chí, suốt những năm gần đây, Phật giáo luôn bị tấn công bởi truyền thông bẩn, nhằm thiểu số hóa Phật giáo. Vậy mà người Phật tử lại thờ ơ. 

Là Phật tử, tại sao lại tự tiện dẫm đạp lên di sản của tiền nhân như thế? Người xưa vì đạo, mong muốn được treo lá cờ thể hiện mình là Phật tử mà sẵn sàng đổ máu, hy sinh bỏ cả thân mạng, còn quý vị ngày nay quen thói sáo rỗng “Phật tại tâm” mà chẳng thiết đổi một bức hình đại diện Kính mừng Phật đản, huống chi là  trang nghiêm thiết lập lễ đài Phật đản tại nhà, lo treo đèn, cắm cờ, kết hoa cúng Phật. Trớ trêu! Đạo tâm người nay đã mạt như thế, thì trách sao chánh pháp không suy tàn, rồi đổ lỗi Tăng già phi phạm hạnh. Thật là oan cho phận lão lái đò.

Trách nhiệm của cư sĩ là hộ pháp, không chỉ ngoại hộ cho đời sống Tăng đoàn bằng tứ sự, mà còn phải tích cực truyền đạo sâu rộng vào quần chúng. Nên mới có những hạnh nguyện tuyệt vĩ như Duy Ma, Thắng Man trong kinh điển Đại Thừa. Còn người nay, dù Tam Quy là nền tảng căn bản nhất mà chẳng chịu giữ gìn, huống chi nói đến hạnh nguyện xuất trần. Bằng nhắc đến việc tổ chức Phật đản khác nào “cha chung không người khóc”, hoặc “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”, rốt cuộc chỉ ưa náo nhiệt trong các dịp lễ Noel mà chẳng thiết tha gì ngày đản sanh của đức Từ Phụ. Đó là cái tệ do lòng người vô minh vậy. Rồi viện lý do mạt pháp. Pháp thân Như Lai thường trú khắp mười phương, vốn dĩ bất sanh diệt thì làm gì có gốc ngọn, hay chịu sự chi phối của vô thường. Cũng bởi lòng người không kiên định nên mới có Tượng Pháp và Mạt Pháp.

Nếu nói “Phật tại tâm”, thì đó là tâm nào? Trong thiền thông nói: “Phi tâm, phi Phật, phi vật”. Vốn dĩ “ngũ uẩn giai không” thì quý vị nhằm đâu để tắm Phật? Nên chư Phật không cần chúng ta trang hoàng kỷ niệm.

Đại lễ Phật đản Vesak Phật lịch 2563 tại TP.Đà Lạt trên hồ Xuân Hương.

Nhưng đã còn kẹt trong thế giới nhị nguyên, chưa ra khỏi sanh tử, không thể nhìn đời bằng tuệ giác vô ngã, thì phước hữu lậu là điều rất cần. Nếu chẳng siêng làm lễ tắm Phật, không hân hoan kính mừng Phật đản trong mỗi dịp đản sanh, thì chẳng thể rộng kết duyên lành với chư Phật và chúng sanh, bằng việc làm thiết thực, thì lấy tư lương gì giải thoát. Nên không thể nói: “Ngũ trược chúng sanh linh ly cấu/ Đồng chứng Như Lai tịnh pháp thân”, khi tà kiến vẫn còn, chánh trí chưa phát, nhân bất thiện chưa trừ. 

Giả như có đạt đạo, thành Phật, thì cổ Phật như Bồ tát Quán Âm vẫn thị hiện ở cõi nhân gian này để giáo hóa. Vì chúng sanh. Tâm chư Phật lấy nhân gian làm đạo tràng, bạn với  chúng sanh làm tịnh độ. Do đó, dù kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật có nói “đức Như Lai chưa từng giáng thế làm con vua Tịnh Phạn với Hoàng hậu Ma Gia, cho đến chưa từng xuất gia và thành đạo và nhập Niết bàn”, thì vẫn ứng thân thuyết pháp. Nếu đã tự cho mình là Phật tử, tức “từ miệng Phật sanh, từ pháp hóa sanh, đặng pháp phần của Phật”, thì chẳng ai ích kỷ, làm Phật đản cho riêng mình. Phải phát tâm dõng mãnh vì khuyến khích, giáo hóa, giúp cho chúng sanh gieo duyên với chư Phật mà làm. Nên sự sự vô ngại.

Người nói “Phật tại tâm” để viện lý do không mừng Phật đản, đủ biết là hạng si mê. Bởi đó là cái họa diệt pháp, sâu xa hơn là phỉ báng tam bảo. Vì bản chất tâm họ là Phật, lời nói là Pháp, việc làm là Tăng, mà hiện tại cả ba nghiệp đều bất tịnh, thì làm sao tránh khỏi cái họa rơi vào ác đạo? Nên quy y Phật là quy y chính mình. Nhất định trong tâm luôn có Phật, thì mọi việc làm đều là Phật sự. Trái lại là việc của ma.

Là Phật tử, xin quý vị hãy tiếp nối di nguyện của tiền nhân. Đừng nghĩ chúng ta sẽ được truyền đăng tục diệm từ những lý luận cao siêu huyễn hoặc. Nếu thuở trước chư tổ sư đã dám xả thân vì đạo thì ngày nay chúng ta sẽ tiếp tục xả thân. Nếu còn một hơi thở để phụng sự chúng sanh và duy trì chánh pháp thì chúng ta nguyện sẽ tiếp tục. Đó là truyền thừa. Hoặc tiếp nối. Lấy hoài bão của tiền nhân là công hạnh của mình. Được vậy, thì ngọn đèn thiền của chư tổ mãi sáng soi trong nẻo luân hồi. Đừng lạm xưng mình là Phật tử, vì cang cường mà hoại pháp sa môn. Ngay cả cư sĩ cũng có thể làm “Sư tử trùng trung, thực sư tử nhục”, vì quý vị cũng là một trong thất chúng của Như Lai.

Chí Ngu

Lập Lễ Đài Phật Đản Tại Gia

Đại lễ Phật đản

Ở Việt Nam, lễ Phật đản từ lâu đã trở thành lễ hội lớn của dân tộc, được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức một cách trang trọng. Nhiều người hay gọi ngày Phật đản là “Mùa Phật đản” để hòa chung niềm vui cùng mọi người trên khắp thế giới mừng ngày Đức Phật ra đời.

– Trong ngày lễ Phật đản, các Phật tử và người dân tổ chức xe hoa diễu dành trên các đường phố; thuyết giảng Phật pháp, tổ chức văn nghệ chào mừng Phật Đản, làm lễ phóng sinh, ăn chay và làm nhiều việc từ thiện để tích đức…

Phóng sanh trong ngày lễ Phật đản

– Đặc biệt, giây phút thực hiện nghi lễ tắm Phật, thả đèn hoa đăng với mong muốn nhìn lại tâm thức của mình và cầu mong những điều tốt lành sẽ đến là giây phút thiêng liêng được nhiều người mong đợi nhất.

Thả đèn Hoa đăng trong đêm lễ Phật đản

– Nhiều gia đình Phật tử còn gieo duyên lành, thể hiện lòng tôn kính Như Lai thông qua việc thiết trí lễ đài, vườn Lâm-tỳ-ni tại nhà mình. Chúng tôi xin đưa ra những gợi ý để các bạn có thể thiết trí cho gia đình mình lễ đài phật đản hợp lý nhất:

+ Lập lễ đài ngoài ban công:

– Nhiều gia đình muốn tận dụng không gian ngoài ban công để lập lễ đài, vì không gian ở đây không quá rộng nên chỉ cẩn những vật dụng bày trí cơ bản sau đây như :cờ dây, đèn nháy, bức tượng phật, lọ hoa tươi và lễ vật để thờ cúng…

Lập lễ đài Phật đản ngoài ban công

+ Lập lễ đài Phật đản ở trong phòng

Tùy vào không gian của căn phòng bạn muốn lập lễ đài, để bạn chuẩn bị các vật dụng trang trí cho phù hợp, các vật liệu để lập lễ đài Phật đản trong nhà thường gồm những vật liệu cơ bản sau:

– Lá cờ Phật giáo lớn

– Cờ dây (cờ nhỏ) 50 lá

– Cặp đèn Phật đản

– Bức Hình vườn Lâm Tỳ Ni

– Hoa tươi: hoa sen…

– Đèn nháy, đèn lồng trang trí (tùy điều kiện gia đình).

– Những câu kinh pháp để treo xung quanh lễ đài.

Lễ đài Phật đản trong phòng

Câu kinh pháp treo xung quanh lễ đài

Ngày lễ Phật đản đã trở thành một ngày lễ quan trọng của giới Phật tử, không chỉ như một việc làm tri ân công đức của Đức Bổn sư Như Lai, mà còn nhắc nhở mỗi chúng sinh luôn hướng về những giá trị tốt đẹp của cuộc sống, xây dựng một xã hội hoà bình, hạnh phúc, an lạc đúng như ý nguyện lúc đản sinh của Đức Phật, để khắp nhân gian đều an bình, hòa hợp trong chính pháp của Đức Như Lai…

Tags: lễ phật đản, đại lễ phật đản, ngày lễ phật đản, lễ phật đản 2016, chào mừng ngày lễ phật đản,le phat dan, tranh đồng tượng phật, đồ thờ cúng …

Trong Ngày Lễ Phật Đản, Phật Tử Nên Làm Điều Gì Mới Tốt?

Việt Nam là một nước theo đạo Phật, vì thế hằng năm, ngày lễ Phật Đản được tổ chức ở nước ta vô cùng trang trọng. Vậy trong ngày này, các Phật tử nên làm điều gì mới tốt?

Nguồn gốc lễ Phật Đản

Theo một tích ở Trung Quốc, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thân là Thái tử của dòng họ Cổ Đàm, thuộc vương tộc Thích Ca, sinh vào ngày 8/4 âm lịch. Vì thế, ngày lễ Phật Đản được tổ chức vào ngày rằm tháng tư hằng năm ở các nước theo đạo Phật để kỷ niệm ngày Đức Phật ra đời.

Ăn chay niệm phật

Lịch Việt cho biết, vào ngày rằm tháng tư, các Phật tử tuyệt đói phải ăn chay, không được sát sinh động vật để tích đứa cho bản thân và con cháu sau này. Nếu sát sinh quá nhiều ắt sẽ phải chịu quả báo.

Lau dọn nhà cửa, vị trí ban thờ

Đây là ngày trọng đại tưởng nhớ sự ra đời của Đức Phật, vì thế mà bạn cần phải dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, trang trí, lau dọn ban thờ thật trang trọng, sao cho thể hiện được cái tâm thành kính của mình. Có thể tụ họp với các Phật tử khác để tổ chức một buổi lễ trang nghiêm, có ăn chay, lễ tắm..

Nghe giảng đạo

Ngoài ra, trong ngày lễ Phật Đản các Phật tử có thể đến chùa làm công quả, nghe những bài giảng của sư thầy về triết lý, đạo đức sống. Nhờ đó, chúng ta có thể tĩnh tâm, tự chiêm nghiệm lại những hành động đúng sai của bản thân để tâm hồn được thanh thản. Sau khi tham gia lễ chùa về, con người có thể cùng nhau sống bình an, hạnh phúc và bớt đi được những tật xấu của mình như đố kỵ, kiêu căng, ích kỷ.

Khi tổ chức lễ Phật Đản ở chùa, các phật tử thường dựng lễ đài, trang trí xe hoa một cách trang nghiêm nhất. Tuy nhiên, những việc làm này cần phải đảm bảo tiết kiệm, không nên quá lãng phí. Quan trọng hơn hết đó chính là cái tâm xuất phát từ tấm lòng của Phật tử.

Vệ sinh làng xóm

Ngoài việc vệ sinh trong ngôi nhà của mình, các phật tử nên làm các công tác xã hội như bảo vệ môi trường, dọn dẹp các con phố, đường xá nơi mình ở để đón tiếp ngày lễ Phật Đản. Ở nhiều nơi, các Phật tử thường tụ họp lại cùng nhau vệ sinh làng xóm để đón một ngày lễ Phật Đản ý nghĩa nhất.

Làm nhiều việc thiện

Trong ngày lễ Phật Đản (rằm tháng tư âm lịch) các phật tử nên làm từ thiện giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Đó không chỉ là việc làm thể hiện sự từ bi, độ lượng của con người mà còn là việc làm ý nghĩa nhất để cúng dâng lên cho Chư Phật.

Mang tình yêu thương, sự nhân hậu truyền đi khắp mọi nơi là việc mà các Phật tử nên làm. Vì thế trong ngày này, hãy sống thận trọng vẹn, yêu thương gia đình, mọi người xung quanh. Một cuộc sống hòa bình, tốt đẹp cũng chính là món quà ý nghĩa thể hiện lòng biết đơn đối với Đức Phât.

Nghi Thức Tang Lễ Theo Truyền Thống Phật Giáo

Tang lễ thường gắn liền với những quy định, nghi thức, thờ cúng, kiêng cữ nhất định. Lễ tang được thực hiện theo những tập quán cổ truyền của dân tộc và thể hiện quan niệm của cộng đồng về cái chết, thế giới người chết, quan hệ giữa người chết và người sống. Có những hình thức mai táng khác nhau tuỳ tập quán của từng nơi, từng cư dân. Một nghi thức tiễn biệt người quá cố theo truyền thống Phật giáo Việt Nam qua các lễ lược như sau:

1 – Trị quan nhập liệm: Một người mất (chết), trút hơi thở cuối cùng. Sau đó ít nhất là 4 giờ, tốt hơn hết là sau 24 giờ, được tắm rửa sạch sẽ, đưa vào một cái hòm gỗ (quan tài) bằng một nghi thức như sau: Dùng một chén nước trong, một cây đèn nến (sáp) gắn vào một cái cây gác trên một góc hòm. Vị gia trì sư dùng tam mật tương ưng (tay kiết ấn, khẩu đọc thần chú, Ý quán tưởng Phật) tẩy sạch quan tài và vật dụng tẩm liệm. Ðưa thi hài vào quan tài. Thi hài thường được mặt một chiếc áo Quan Âm (mền Quang Minh). Theo cổ tục có nơi còn bỏ gạo hay vàng ngọc vào miệng thi thể.

2 – Phục hồn: Thiết lập một bàn thờ Linh có linh ảnh, bài vị, bát nhang. Thỉnh vong linh an vị, để cho thần thức định tỉnh nhận rõ sự việc đang phải lìa thể xác. Vì theo quan niệm thần thức của người mất lúc bấy giờ đang bơ vơ, sợ sệt, chưa ý thức được đang gặp sự việc gì. Theo cổ tục dân tộc có một bát cơm (hai chén úp một), cắm lên hai chiếc đũa và một quả trứng luộc.

3 – Khai kinh – Tiến linh: Thiết lập bàn Phật, thỉnh Phật chứng minh và siêu độ sự ra đi của vong giả. Tụng kinh để hương linh làm tư lương hướng Phật. Khuyến tấn hương linh quy y Phật, dứt nghiệp trần lao.

4 – Phát tang: Ðể cho bà con thân bằng quyến thuộc có cơ hội từ giả biệt luận với vong giả. Một hình thức ghi nhớ ơn đức, hiếu hạnh trong gia tộc. Ðặc biệt trong nghi thức này vị gia trì sư lại dùng tam mật tương ưng chú nguyện vào tang phục và xướng: “Ngũ phục chi nhơn các thọ kỳ phục” trao cho tang gia mặc vào người. Từ giờ phút này mới chính thức báo tang, bà con thân hữu mới thăm viếng với tư cách tang lễ.

5 – Triêu điện: Trong thời gian chưa chôn, các lễ cúng cho hương linh gọi là “điện”. Vậy triêu điện là một lễ cúng buổi sáng gần ngày đưa đám, thường dành riêng cho bà con muốn làm một lễ cúng riêng, đọc ai điếu, lời từ biệt.

6- Tịch điện: Lễ cúng buổi tối gần ngày đưa đám, thường giành cho con cháu nội tộc, để con cháu có cơ hội nói lên ơn nghĩa, những hình ảnh thân thương, tưởng niệm đến công hạnh của người quá cố. Còn thường ngày 3 buổi: sáng cúng trà; trưa, chiều cúng cơm dùng hình thức nghi lễ đơn giản gọi là “tiến linh”.

7 – Triệu tổ: Lễ này thường được cử hành trước ngày di quan khoảng 2 hôm trở lại. Tang quyến thỉnh linh vị, di ảnh, bát nhang đầy đủ lễ vật đến tự đường (nhà thờ họ). Ðặt linh vị trên một cái bàn nhỏ đối diện án thờ gia tiên. Thí dụ án thờ ở phía tây, linh vị ở phía đông, con cháu tang quyến ở phía nam; cất gậy, mũ mấng đi để làm lễ cáo tổ tiên.

8 – Sái tịnh, nhiễu quan và quy y linh: Trong lúc đại chúng đang tụng chú Ðại Bi, vị chủ sám dùng bình Cam Lồ vào tẩy tịnh quan tài, chú Ðại Bi vừa dứt, sám chủ thán: “Giác tánh viên minh, tùng lai trạm tịch; bổn lai nhơn ngã chi huyễn tướng, hà hữu sanh tử chi giả danh? Nhơn tối sơ nhất niệm sái thù, tùng mộng tưởng hữu tư sanh diệt.

Diệt nhi bất diệt, Tằng Ðạt Ma chích lý Tây quy. Sanh nhi bất sanh, Nãi Thích Tôn song lâm thị tịch. Nhược phi nhất nhơn, hiểu liễu nan miễn tứ đại tương man, Cố nhơn thiên thượng, hữu luân hồi khởi phận, thử đắc vô sanh diệt. Kim vị tang chủ: . . . Thống duy: Hương hồn quyên tam xích chi xu, nhập cữu tuyền chi lộ. Lâm thời hoảng hốt, phách tán hồn phiêu. Tuy nhiên, thuận thế gian: Sanh viết ký, tử viết quy, bất xuất tử sanh chi nội; nãi nhược thăng vu thiên nhi giáng vu địa. Tổng quy lục đạo chi trung, u quan ảm đạm minh tiền đồ, triễn nghiệp lực na năng giải thoát.” Thỉnh linh yết Phật qui y, thuyết linh.

9 – Cáo đạo lộ: Lễ này thường nhờ một người hộ tang đứng cúng, được cử hành trước một hôm đưa đám, đặt bàn cúng trước cữa ngõ, ý nghĩa xin hộ đàng cho đám táng được yên ổn thuận lợi. Có gia đình tổ chức lễ cúng thí thực và phóng sanh nữa.

10 – Khiển điện: Lễ này cúng trước khi di quan, thường dành cho bằng hữu tỏ bày tâm sự, tình cảm với hương linh qua điếu văn.

11 – Di quan (động quan): Lễ di chuyển quan tài đi chôn hay hỏa táng, một lễ có nhiều xúc động nhất. Trong lễ này Gia trì sư thường đội nón Tỳ Lư và cầm tích trượng để hướng dẩn hương linh. Sau nghi thức cúng cấp xong, Gia trì sư xướng: – Cung thối, thỉnh bổngg danh sanh, thần vị, linh ảnh thăng xa.

Triệt linh sàng.

Thán: Quy khứ lai hề quy khứ lai,

Tây phương tịnh độ bạch liên khai.

Nhất trận hương phong xuy hốt đáo,

Hương linh thừa thử bộ kim giai.

Ngưỡng bạch Di Ðà từ bi phóng quang tiếp độ.

Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Ðà Phật.

12 – Tế độ trung: Cúng giữa đường, lễ này với ý nghĩa: Trước tiên vì đường sá xa xôi, nghỉ xả hơi cho âm công (người gánh đám) lấy sức, đãi đằng ăn uống. Thứ đến để cho con cháu có dịp lễ lạy tỏ lòng hiếu thảo trong lúc nghỉ giải lao.

13 – Trị huyệt: Một lễ làm tinh sạch huyệt, trước khi hạ quan tài.

Sái tịnh, trị quan, trị huyệt với ý nghĩa dùng nước Cam lồ làm tinh sạch nơi chỗ để xếp đặt thi thể, hay nơi thờ cúng. Còn có nghĩa chúng sanh nào đang ẩn trú vào nơi ấy xin đi nơi khác.

14 – Tạ thổ thần: Lễ khấn vái thổ thần và những hương linh của những ngôi mộ chung quanh. Nay có huơng linh. . . cùng chung cư trú tại địa phận này.

15 – Nhiễu mộ: Lễ này cử hành sau khi an táng xong; bái biệt hương linh, tạ chư Tăng, và quan khách đi dự đám táng.

16 – An linh: Khi về đến nhà, chùa, an vị hương linh để hương khói thờ phụng. Ngày trước đưa về nhà, phải thiết bàn thờ riêng trong hai năm hoặc ít nhất là 100 ngày, sau mới được nhập vào bàn thờ chung với tổ tiên. Ngoài ra còn có lễ đề phan vị, đề thần chú, lễ khai môn (mở cửa mã): sau khi chôn ba ngày làm lễ khai môn để hương linh được phép ra vào.

Ngày trước vấn đề tang chế được xem rất quan trọng nên việc để tang được ấn định rõ ràng từng cấp phải để tang như thế nào, bao lâu đã được ghi trong sách Thọ Mai. Nên có rất nhiều lễ xã tang vào các thời kỳ như: bách nhật, một năm, hai năm, ba năm…

Trong nghi xả tang có các điểm trọng yếu như sau:

Sái tịnh: Người thọ tang quỳ trước bàn linh, Gia trì sư rãi nước Cam Lồ, lấy kéo cắt tượng trưng đồ tang hay lấy khăn tang xuống.

Xướng: Ngũ phục chi nhơn, cát tựu trừ phục.

Tán hay tụng:

Giải kết, giải kết, giải oan kết, Giải liễu tiền sanh an hòa hiệp, Tẩy tâm địch lự phát kiền thành Cung đối án tiền cầu giải kết. Nam mô Giải oan kết Bồ Tát (3 lần)

Sau này thời gian bận rộn, cuộc sống vội vàng, không cho phép làm đám lâu ngày; Ðể phù hợp với nếp sống, chỉ còn một vài nơi như ở Huế còn giữ cổ lệ lễ lược như xưa, còn đại đa số nghi lễ được giản lược. Thông thường được gom lại làm các lễ chính như sau:1 – Phát tang, 2 – Cầu siêu, 3 – Lễ táng (hỏa táng hay thổ táng). Việc ứng xử tùy theo hoàn cảnh và thời gian, gộp lại như vậy xem ra cũng gọn nhẹ về phần bày biện. Nhưng có nơi không giữ được ý nghĩa của cuộc lễ: Ba buổi lễ xem như giống nhau, trước bàn Phật, bàn linh, bài bản xướng tán không rõ rệt; đơn điệu, không diễn tả được nghi lễ đích thực nói lên hết ý nghĩ chư tôn cổ đức đưa ra nêu cao việc hiếu hạnh của con người.

Chúng tôi có cơ hội tham gia lễ lược giúp quý thầy, quý gia đình thân hữu: ở Huế trước và sau 1975 (quy y với thượng tọa Thích Ðôn Hậu năm1956, sinh hoạt khu vực chùa Ba La, Phú vang); ở Sàigòn (Gò vấp- Bình thạnh) trong đạo tràng Từ Quang thuộc chùa Vạn Hạnh (Hoà thượng Thích Minh Châu) từ 1984-1994, ở nam Cali trong ban hộ niệm chùa Bát Nhã (Thượng tọa Thích Nguyên Trí) tứ 1995-2002. Có lúc có thầy nhiều hệ phái khác nhau, có lúc vì hoàn cảnh, thời thế khó khăn không có thầy, nhất là vùng thôn quê hẻo lánh. Hơn nữa qua giao thiệp bạn bè khác tôn giáo, chúng tôi cũng có dịp tham dự lễ táng của các tôn giáo bạn như: Thiên chúa giáo mặc dù việc làm lễ mới vay mượn phong tục tập quán Việt Nam sau này, nhưng các nhà thờ làm khá đồng nhất hài hòa. Nhất là Tin Lành mới đây làm theo trào lưu, nhưng sự sắp xếp khá đồng bộ. Trong lúc Phật giáo chúng ta, phải nói là thừa kế một rừng nghi thức, đơn có, kép có, lễ nhạc có. Chúng ta bình tâm nhận xét lối hành lễ mỗi đám một khác không đồng bộ, hài hòa, trong cộng đồng nhất là giới trẻ khó tiếp thu.

Thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta nên chấn chỉnh cung cách cử hành tang lễ. Nắm vững các nét đặt trưng của tang lễ, giữ mối đạo, thu phục nhân tâm. Một tang lễ phải bao gồm các lễ chính như sau:

1 – Phát tang:

a/ Khai kinh bạch Phật: Thiết bàn Phật, cung kính, nghiêm trang. khấn nguyện rõ ràng.

b/ Trị quan nhập liệm: Ấn chú nghiêm minh, tẩy tịnh kỹ lưỡng với ý niệm lấy nước Cam lồ rửa sạch ô uế hoặc mời những chúng sanh nào còn ẩn trú trong quan tài xin lui ra.

c/ Phục hồn, thành phục: Thiết bàn linh, thỉnh linh an vi, trong lúc này thần thức hương linh rất nhạy bén, nhưng rất sợ hải và dễ bị sân hận. Quy cách mặc đồ tang, chỉ cho tang quyến hiểu rõ ý niệm hiếu thảo qua cách để tang, cúng cơm.

2 – Cầu siêu:

a/ Sái tịnh: Gia trì sư làm phép tẩy tịnh quan tài lần này với ý nghĩa rửa sạch trần lao. Thán: Nhắc nhở hương linh ý thức sự sanh tử chỉ là giả tướng, không nên lưu luyến huyễn cảnh trần lao nữa. Nên thuận thế gian, nghiệp lực, phát tâm quy hướng Phật.

b/ Thỉnh linh quy y: Thỉnh bát nhang, linh ảnh qua bàn Phật đảnh lễ và quy y, thuyết linh nhiễu quan, hoàn cựu sở.

c/ Tịch điện: Cúng cơm tối, con cháu dâng điếu văn cảm niệm.

3 – Lễ táng:

a/ Khiển điện, di quan: Cúng cơm, đọc điếu văn bằng hữu, hội hè. Làm lễ di quan.

b/ Trị huyệt, nhiễu mộ: Làm lễ trị huyệt, hạ quan tài, nhiễu mộ, lời cám ơn. Nếu hỏa táng tụng kinh kỳ siêu .

c/ An linh: Sau khi chôn hay làm lễ hỏa táng xong, thỉnh bát nhang, linh ảnh về chùa hay nhà, an linh để hương khói thờ phụng ít nhất trong vòng 7 tuần lễ.

Qua thời gian, hoàn cảnh và nếp sinh hoạt hiện nay đã hình thành 3 lễ chính như trên. Có nhiều thời gian kéo dài thì làm lễ từng mục một. Thông thường tang lễ 3 ngày thì làm thứ tự như trên. Nếu thời gian bức bách vội vàng trong một ngày, một buổi thì nắm những ý chính châm chước để hoàn thành tang lễ.

Thực ra tang lễ ngày xưa rất rõ ràng chi tiết, có từng nghi thức, sớ điệp, tán thán thâm hậu, thống thiết. Nhưng với mục đích ứng phó đạo tràng, qua thời gian tôi xin ghi lại những điều cần thiết phải làm cho phù hợp với nếp sống ngày nay. Nếu khi không có Thầy, cư sĩ theo nghi thức rút gọn cũng có thể giúp nhau trong tang lễ.

Những nghi lễ, hoạt động, ứng xử đối với người chết. Tang lễ được thực hiện theo những tập quán cổ truyền của dân tộc và thể hiện quan niệm của cộng đồng về cái chết, thế giới người chết, quan hệ giữa người chết và người sống. Dân tộc nào cũng coi tang le là việc rất hệ trọng.

Có những hình thức maitang khác nhau tuỳ tập quán của từng nơi, từng cư dân. Theo đó, tử thi được chôn xuống đất hay trong hang (địa táng), chôn xuống nước (thuỷ táng), đặt lộ thiên trên cây hay giàn cao (thiên táng), thiêu đốt (hoả táng). Ngoài ra còn có tục ướp xác. Về chôn cất, có mồ cá nhân, mồ tập thể. Khi chôn cất, người ta thường chôn theo các vật tuỳ táng. Căn cứ vào đó có thể suy đoán về sự phân hoá xã hội, về văn hoá tộc người, vv. Khâm liệm người chết cũng có nhiều cách: dùng cói chiếu, vải lụa,… Quan tài nhiều loại: gỗ, kẽm…, hình chữ nhật, hình thuyền, có khi chôn cất trong chum, vò. Vua chúa quan lại cao cấp, người giàu có thì trong quan, ngoài quách. Ở nhiều dân tộc, có tục để tang người chết một thời gian dài hay ngắn rồi mới kết thúc việc ma chay. Có nơi dựng nhà mồ với các tượng gỗ mộc mạc, sinh động (Tây Nguyên). Tuỳ theo tập tục, có nơi chỉ chôn một lần, có nơi sau một thời gian phải cải táng.

Tang lễ thường gắn liền với những quy định, nghi thức, thờ cúng, kiêng cữ nhất định và cả việc chu cấp thức ăn nước uống cho người chết. Thường có sự khác biệt giữa tangle người chết bình thường và tangle người chết không bình thường (bất đắc kì tử). Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, nhất là ở thành phố Hà Nội đã bắt đầu thực hiện hình thức đốt xác ở Đài hoá thân hoàn vũ.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thiết Trí Lễ Đài Phật Đản Là Truyền Thống Của Người Phật Tử trên website Herodota.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!