Đề Xuất 2/2023 # Thuật Toán Tính Âm Lịch # Top 4 Like | Herodota.com

Đề Xuất 2/2023 # Thuật Toán Tính Âm Lịch # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thuật Toán Tính Âm Lịch mới nhất trên website Herodota.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thuật toán tính âm lịch

Hồ Ngọc Đức

Bài viết sau giới thiệu cách tính âm lịch Việt Nam và mô tả một số thuật toán dùng để chuyển đổi giữa ngày dương lịch và ngày âm lịch. Các thuật toán mô tả ở đây đã được đơn giản hóa nhiều để bạn đọc tiện theo dõi và dễ dàng sử dụng vào việc lập trình, do đó độ chính xác của chúng thấp hơn độ chính xác của chương trình âm lịch trực tuyến tại

[If you cannot read Vietnamese: Old version in English]

Quy luật của âm lịch Việt Nam

Âm lịch Việt Nam là một loại lịch thiên văn. Nó được tính toán dựa trên sự chuyển động của mặt trời, trái đất và mặt trăng. Ngày tháng âm lịch được tính dựa theo các nguyên tắc sau:

Ngày đầu tiên của tháng âm lịch là ngày chứa điểm Sóc

Một năm bình thường có 12 tháng âm lịch, một năm nhuận có 13 tháng âm lịch

Đông chí luôn rơi vào tháng 11 âm lịch

Trong một năm nhuận, nếu có 1 tháng không có Trung khí thì tháng đó là tháng nhuận. Nếu nhiều tháng trong năm nhuận đều không có Trung khí thì chỉ tháng đầu tiên sau Đông chí là tháng nhuận

Việc tính toán dựa trên kinh tuyến 105° đông.

Sóc là thời điểm hội diện, đó là khi trái đất, mặt trăng và mặt trời nằm trên một đường thẳng và mặt trăng nằm giữa trái đất và mặt trời. (Như thế góc giữa mặt trăng và mặt trời bằng 0 độ). Gọi là “hội diện” vì mặt trăng và mặt trời ở cùng một hướng đối với trái đất. Chu kỳ của điểm Sóc là khoảng 29,5 ngày. Ngày chứa điểm Sóc được gọi là ngày Sóc, và đó là ngày bắt đầu tháng âm lịch.

Trung khí là các điểm chia đường hoàng đạo thành 12 phần bằng nhau. Trong đó, bốn Trung khí giữa bốn mùa là đặc biệt nhất: Xuân phân (khoảng 20/3), Hạ chí (khoảng 22/6), Thu phân (khoảng 23/9) và Đông chí (khoảng 22/12).

Bởi vì dựa trên cả mặt trời và mặt trăng nên lịch Việt Nam không phải là thuần âm lịch mà là âm-dương-lịch. Theo các nguyên tắc trên, để tính ngày tháng âm lịch cho một năm bất kỳ trước hết chúng ta cần xác định những ngày nào trong năm chứa các thời điểm Sóc (New moon) . Một khi bạn đã tính được ngày Sóc, bạn đã biết được ngày bắt đầu và kết thúc của một tháng âm lịch: ngày mùng một của tháng âm lịch là ngày chứa điểm sóc. Sau khi đã biết ngày bắt đầu/kết thúc các tháng âm lịch, ta tính xem các Trung khí (Major solar term) rơi vào tháng nào để từ đó xác định tên các tháng và tìm tháng nhuận.

Đông chí luôn rơi vào tháng 11 của năm âm lịch. Bởi vậy chúng ta cần tính 2 điểm sóc: Sóc A ngay trước ngày Đông chí thứ nhất và Sóc B ngay trước ngày Đông chí thứ hai. Nếu khoảng cách giữa A và B là dưới 365 ngày thì năm âm lịch có 12 tháng, và những tháng đó có tên là: tháng 11, tháng 12, tháng 1, tháng 2, …, tháng 10. Ngược lại, nếu khoảng cách giữa hai sóc A và B là trên 365 ngày thì năm âm lịch này là năm nhuận, và chúng ta cần tìm xem đâu là tháng nhuận. Để làm việc này ta xem xét tất cả các tháng giữa A và B, tháng đầu tiên không chứa Trung khí sau ngày Đông chí thứ nhất là tháng nhuận. Tháng đó sẽ được mang tên của tháng trước nó kèm chữ “nhuận”.

Khi tính ngày Sóc và ngày chứa Trung khí bạn cần lưu ý xem xét chính xác múi giờ. Đây là lý do tại sao có một vài điểm khác nhau Trung Quốc lại bắt đầu ngày yyyy-02-19, chậm hơn lịch Việt Nam 1 ngày.

Ví dụ 1: Âm lịch năm 1984

Chúng ta áp dụng quy luật trên để tính âm lịch Việt nam năm 1984.

Sóc A (ngay trước Đông chí năm 1983) rơi vào ngày 4/12/1983, Sóc B (ngay trước Đông chí năm 1984) vào ngày 23/11/1984.

Giữa A và B là khoảng 355 ngày, như thế năm âm lịch 1984 là năm thường. Tháng 11 âm lịch của năm trước kéo dài từ 4/12/1983 đến 2/01/1984, tháng 12 âm từ 3/1/1984 đến 1/2/1984, tháng Giêng từ 2/2/1984 đến 1/3/1984 v.v.

Ví dụ 2: Âm lịch năm 2004

Sóc A – điểm sóc cuối cùng trước Đông chí 2003 – rơi vào ngày 23/11/2003. Sóc B (ngay trước Đông chí năm 2004) rơi vào ngày 12/12/2004.

Giữa 2 ngày này là khoảng 385 ngày, như vậy năm âm lịch 2004 là năm nhuận. Tháng 11 âm của năm 2003 bắt đầu vào ngày chứa Sóc A, tức ngày 23/11/2003.

Tháng âm lịch đầu tiên sau đó mà không chứa Trung khí là tháng từ 21/3/2004 đến 18/4/2004 (Xuân phân rơi vào 20/3/2004, còn Cốc vũ là 19/4/2004). Như thế tháng ấy là tháng nhuận.

Từ 23/11/2003 đến 21/3/2004 là khoảng 120 ngày, tức 4 tháng âm lịch: tháng 11, 12, 1 và 2. Như vậy năm 2004 có tháng 2 nhuận.

Thuật toán chuyển đổi giữa ngày dương và âm

Trong tính toán thiên văn người ta lấy ngày 1/1/4713 trước công nguyên của lịch Julius (tức ngày 24/11/4714 trước CN theo lịch Gregorius) làm điểm gốc. Số ngày tính từ điểm gốc này gọi là số ngày Julius (Julian day number) của một thời điểm. Ví dụ, số ngày Julius của 1/1/2000 là 24515455.

Dùng các công thức sau ta có thể chuyển đổi giữa ngày/tháng/năm và số ngày Julius. Phép chia ở 2 công thức sau được hiểu là chia số nguyên, bỏ phần dư: 23/4=5.

Đổi ngày dd/mm/yyyy ra số ngày Julius jd

a = (14 - mm) / 12 y = yy+4800-a m = mm+12*a-3 Lịch Gregory: jd = dd + (153*m+2)/5 + 365*y + y/4 - y/100 + y/400 - 32045 Lịch Julius: jd = dd + (153*m+2)/5 + 365*y + y/4 - 32083

Đổi số ngày Julius jd ra ngày dd/mm/yyyy

Lịch Gregory (jd lớn hơn 2299160): a = jd + 32044; b = (4*a+3)/146097; c = a - (b*146097)/4; Lịch Julius: b = 0; c = jd + 32082; Công thức cho cả 2 loại lịch: d = (4*c+3)/1461; e = c - (1461*d)/4; m = (5*e+2)/153; dd = e - (153*m+2)/5 + 1; mm = m + 3 - 12*(m/10); yy = b*100 + d - 4800 + m/10;

Nếu ngôn ngữ lập trình bạn dùng không hỗ trợ phép chia số nguyên bỏ phần dư (VD: JavaScript), bạn có thể định nghĩa một hàm INT(x) để lấy số nguyên lớn nhất không vượt quá x: INT(5)=5, INT(3.2)=3, INT(-5)=-5, INT(-3.2)=-4 v.v. Khi đó, INT(m/10) sẽ trả lại kết quả của phép chia số nguyên. (Nhiều ngôn ngữ có sẵn hàm floor() cho phép làm việc này.)

Các phép chuyển đổi giữa ngày tháng và số ngày Julius có thể được thực hiện với mã JavaScript như sau:

function jdFromDate(dd, mm, yy)

var a, y, m, jd; a = INT((14 - mm) / 12); y = yy+4800-a; m = mm+12*a-3; jd = dd + INT((153*m+2)/5) + 365*y + INT(y/4) - INT(y/100) + INT(y/400) - 32045; if (jd

function jdToDate(jd)

var a, b, c, d, e, m, day, month, year; a = jd + 32044; b = INT((4*a+3)/146097); c = a - INT((b*146097)/4); } else { b = 0; c = jd + 32082; } d = INT((4*c+3)/1461); e = c - INT((1461*d)/4); m = INT((5*e+2)/153); day = e - INT((153*m+2)/5) + 1; month = m + 3 - 12*INT(m/10); year = b*100 + d - 4800 + INT(m/10); return new Array(day, month, year);

Tính ngày Sóc

Như trên đã nói, để tính được âm lịch trước hết ta cần xác định các tháng âm lịch bắt đầu vào ngày nào.

Thuật toán sau tính ngày Sóc thứ k kể từ điểm Sóc ngày 1/1/1900. Kết quả trả về là số ngày Julius của ngày Sóc cần tìm.

function getNewMoonDay(k, timeZone)

var T, T2, T3, dr, Jd1, M, Mpr, F, C1, deltat, JdNew; T = k/1236.85; T2 = T * T; T3 = T2 * T; dr = PI/180; Jd1 = 2415020.75933 + 29.53058868*k + 0.0001178*T2 - 0.000000155*T3; Jd1 = Jd1 + 0.00033*Math.sin((166.56 + 132.87*T - 0.009173*T2)*dr); M = 359.2242 + 29.10535608*k - 0.0000333*T2 - 0.00000347*T3; Mpr = 306.0253 + 385.81691806*k + 0.0107306*T2 + 0.00001236*T3; F = 21.2964 + 390.67050646*k - 0.0016528*T2 - 0.00000239*T3; C1=(0.1734 - 0.000393*T)*Math.sin(M*dr) + 0.0021*Math.sin(2*dr*M); C1 = C1 - 0.4068*Math.sin(Mpr*dr) + 0.0161*Math.sin(dr*2*Mpr); C1 = C1 - 0.0004*Math.sin(dr*3*Mpr); C1 = C1 + 0.0104*Math.sin(dr*2*F) - 0.0051*Math.sin(dr*(M+Mpr)); C1 = C1 - 0.0074*Math.sin(dr*(M-Mpr)) + 0.0004*Math.sin(dr*(2*F+M)); C1 = C1 - 0.0004*Math.sin(dr*(2*F-M)) - 0.0006*Math.sin(dr*(2*F+Mpr)); C1 = C1 + 0.0010*Math.sin(dr*(2*F-Mpr)) + 0.0005*Math.sin(dr*(2*Mpr+M)); if (T Với hàm này ta có thể tính được tháng âm lịch chứa ngày N bắt đầu vào ngày nào: giữa ngày 1/1/1900 (số ngày Julius: 2415021) và ngày N có khoảng k=INT((N-2415021)/29.530588853) tháng âm lịch, như thế dùng hàm getNewMoonDay sẽ biết ngày đầu tháng âm lịch chứa ngày N, từ đó ta biết ngày N là mùng mấy âm lịch.

Tính tọa độ mặt trời

Để biết Trung khí nào nằm trong tháng âm lịch nào, ta chỉ cần tính xem mặt trời nằm ở khoảng nào trên đường hoàng đạo vào thời điểm bắt đầu một tháng âm lịch. Ta chia đường hoàng đạo làm 12 phần và đánh số các cung này từ 0 đến 11: từ Xuân phân đến Cốc vũ là 0; từ Cốc vũ đến Tiểu mãn là 1; từ Tiểu mãn đến Hạ chí là 2; v.v.. Cho jdn là số ngày Julius của bất kỳ một ngày, phương pháp sau này sẽ trả lại số cung nói trên.

function getSunLongitude(jdn, timeZone)

var T, T2, dr, M, L0, DL, L; T2 = T*T; dr = PI/180; M = 357.52910 + 35999.05030*T - 0.0001559*T2 - 0.00000048*T*T2; L0 = 280.46645 + 36000.76983*T + 0.0003032*T2; DL = (1.914600 - 0.004817*T - 0.000014*T2)*Math.sin(dr*M); DL = DL + (0.019993 - 0.000101*T)*Math.sin(dr*2*M) + 0.000290*Math.sin(dr*3*M); L = L0 + DL; L = L*dr; L = L - PI*2*(INT(L/(PI*2))); return INT(L / PI * 6)

Với hàm này ta biết được một tháng âm lịch chứa Trung khí nào. Giả sử một tháng âm lịch bắt đầu vào ngày N1 và tháng sau đó bắt đầu vào ngày N2 và hàm getSunLongitude cho kết quả là 8 với N1 và 9 với N2. Như vậy tháng âm lịch bắt đầu ngày N1 là tháng chứa Đông chí: trong khoảng từ N1 đến N2 có một ngày mặt trời di chuyển từ cung 8 (sau Tiểu tuyết) sang cung 9 (sau Đông chí). Nếu hàm getSunLongitude trả lại cùng một kết quả cho cả ngày bắt đầu một tháng âm lịch và ngày bắt đầu tháng sau đó thì tháng đó không có Trung khí và như vậy có thể là tháng nhuận.

Tìm ngày bắt đầu tháng 11 âm lịch

Đông chí thường nằm vào khoảng 19/12-22/12, như vậy trước hết ta tìm ngày Sóc trước ngày 31/12. Nếu tháng bắt đầu vào ngày đó không chứa Đông chí thì ta phải lùi lại 1 tháng nữa.

function getLunarMonth11(yy, timeZone)

var k, off, nm, sunLong; off = jdFromDate(31, 12, yy) - 2415021; k = INT(off / 29.530588853); nm = getNewMoonDay(k, timeZone); sunLong = getSunLongitude(nm, timeZone); nm = getNewMoonDay(k-1, timeZone); } return nm;

Xác định tháng nhuận

Nếu giữa hai tháng 11 âm lịch (tức tháng có chứa Đông chí) có 13 tháng âm lịch thì năm âm lịch đó có tháng nhuận. Để xác định tháng nhuận, ta sử dụng hàm getSunLongitude như đã nói ở trên. Cho a11 là ngày bắt đầu tháng 11 âm lịch mà một trong 13 tháng sau đó là tháng nhuận. Hàm sau cho biết tháng nhuận nằm ở vị trí nào sau tháng 11 này.

function getLeapMonthOffset(a11, timeZone)

var k, last, arc, i; k = INT((a11 - 2415021.076998695) / 29.530588853 + 0.5); last = 0; i = 1; arc = getSunLongitude(getNewMoonDay(k+i, timeZone), timeZone); do { last = arc; i++; arc = getSunLongitude(getNewMoonDay(k+i, timeZone), timeZone); } while (arc != last && i Giả sử hàm getLeapMonthOffset trả lại giá trị 4, như thế tháng nhuận sẽ là tháng sau tháng 2 thường. (Tháng thứ 4 sau tháng 11 đáng ra là tháng 3, nhưng vì đó là tháng nhuận nên sẽ lấy tên của tháng trước đó tức tháng 2, và tháng thứ 5 sau tháng 11 mới là tháng 3).

Đổi ngày dương dd/mm/yyyy ra ngày âm

Với các phương pháp hỗ trợ trên ta có thể đổi ngày dương dd/mm/yy ra ngày âm dễ dàng. Trước hết ta xem ngày monthStart bắt đầu tháng âm lịch chứa ngày này là ngày nào (dùng hàm getNewMoonDay như trên đã nói). Sau đó, ta tìm các ngày a11 và b11 là ngày bắt đầu các tháng 11 âm lịch trước và sau ngày đang xem xét. Nếu hai ngày này cách nhau dưới 365 ngày thì ta chỉ còn cần xem monthStart và a11 cách nhau bao nhiêu tháng là có thể tính được dd/mm/yy nằm trong tháng mấy âm lịch. Ngược lại, nếu a11 và b11 cách nhau khoảng 13 tháng âm lịch thì ta phải tìm xem tháng nào là tháng nhuận và từ đó suy ra ngày đang tìm nằm trong tháng nào.

function convertSolar2Lunar(dd, mm, yy, timeZone)

var k, dayNumber, monthStart, a11, b11, lunarDay, lunarMonth, lunarYear, lunarLeap; dayNumber = jdFromDate(dd, mm, yy); k = INT((dayNumber - 2415021.076998695) / 29.530588853); monthStart = getNewMoonDay(k+1, timeZone); monthStart = getNewMoonDay(k, timeZone); } a11 = getLunarMonth11(yy, timeZone); b11 = a11; lunarYear = yy; a11 = getLunarMonth11(yy-1, timeZone); } else { lunarYear = yy+1; b11 = getLunarMonth11(yy+1, timeZone); } lunarDay = dayNumber-monthStart+1; diff = INT((monthStart - a11)/29); lunarLeap = 0; lunarMonth = diff+11; leapMonthDiff = getLeapMonthOffset(a11, timeZone); lunarMonth = diff + 10; if (diff == leapMonthDiff) { lunarLeap = 1; } } } lunarMonth = lunarMonth - 12; }

Đổi âm lịch ra dương lịch

Cách làm cũng tương tự như đổi ngày dương sang ngày âm.

function convertLunar2Solar(lunarDay, lunarMonth, lunarYear, lunarLeap, timeZone)

var k, a11, b11, off, leapOff, leapMonth, monthStart; if (lunarMonth 365) { leapOff = getLeapMonthOffset(a11, timeZone); leapMonth = leapOff - 2; if (leapMonth = leapOff) { off += 1; } } k = INT(0.5 + (a11 - 2415021.076998695) / 29.530588853); monthStart = getNewMoonDay(k+off, timeZone); return jdToDate(monthStart+lunarDay-1);

Tính ngày thứ và Can-Chi cho ngày và tháng âm lịch

Ngày thứ lặp lại theo chu kỳ 7 ngày, như thế để biết một ngày d/m/y bất kỳ là thứ mấy ta chỉ việc tìm số dư của số ngày Julius của ngày này cho 7.

Để tính Can của năm Y, tìm số dư của Y+6 chia cho 10. Số dư 0 là Giáp, 1 là Ất v.v. Để tính Chi của năm, chia Y+8 cho 12. Số dư 0 là Tý, 1 là Sửu, 2 là Dần v.v.

Hiệu Can-Chi của ngày lặp lại theo chu kỳ 60 ngày, như thế nó cũng có thể tính được một cách đơn giản. Cho N là số ngày Julius của ngày dd/mm/yyyy. Ta chia N+9 cho 10. Số dư 0 là Giáp, 1 là Ất v.v. Để tìm Chi, chia N+1 cho 12; số dư 0 là Tý, 1 là Sửu v.v.

Trong một năm âm lịch, tháng 11 là tháng Tý, tháng 12 là Sửu, tháng Giêng là tháng Dần v.v. Can của tháng M năm Y âm lịch được tính theo công thức sau: chia Y*12+M+3 cho 10. Số dư 0 là Giáp, 1 là Ất v.v.

Ví dụ, Can-Chi của tháng 3 âm lịch năm Giáp Thân 2004 là Mậu Thìn: tháng 3 âm lịch là tháng Thìn, và (2004*12+3+3) % 10 = 24054 % 10 = 4, như vậy Can của tháng là Mậu.

Một tháng nhuận không có tên riêng mà lấy tên của tháng trước đó kèm thêm chữ "Nhuận", VD: tháng 2 nhuận năm Giáp Thân 2004 là tháng Đinh Mão nhuận.

Tài liệu tham khảo

Sửa đổi lần cuối: 18/08/2008

Làm Thế Nào Để Tính Toán Số Lượng Khách Và Lên Mâm Cỗ Cưới?

Đối với tiệc, nhất là tiệc cưới, việc tính toán số lượng khách tham dự luôn là yếu tố quan trọng mà bất cứ chủ tiệc nào đều cần quan tâm. Để xác định được số lượng khách mời đám cưới, bạn cần tính toán đầy đủ, kỹ lưỡng. Lượng khách dự tiệc được ước lượng theo mối quan hệ của gia đình chủ tiệc cũng như tính chất của buổi tiệc. Để sai số là nhỏ nhất, bạn hãy bắt đầu từ việc lên danh sách khách mời.

Với một đám cưới, lượng khách sẽ đến từ 2 nguồn chính, đó hàng xóm láng giềng, bạn bè của bố mẹ, những người thân và nguồn thứ 2 là bạn bè, đồng nghiệp của chính cô dâu chú rể.

Xét về tương quan, số lượng khách mời dự đám cưới từ bố mẹ sẽ chủ yếu là người quen trong làng, bạn đồng nghiệp, người thân trong gia đình. Đó đều là những người có quan hệ lâu năm, quen biết hoặc tương đối gắn bó và thân thiết với gia đình. Thông thường 90% hàng xóm, láng giềng, người thân được mời sẽ tham dự lễ cưới.

Lượng khách mời tham dự đám cưới còn lại không thể không kể đến bạn bè, đồng nghiệp của cô dâu, chú rể, vậy số lượng những khách này đi dự đám cưới được tính thế nào?

Đơn giản hãy dựa vào tình trạng quan hệ của họ. 90% bạn bè, đồng nghiệp đang làm cùng công ty hay thường xuyên gặp bạn hoặc những khách đã có gia đình, có người yêu, sắp kết hôn, có thu nhập tương đối ổn định, khá giả sẽ tham dự tiệc cưới của bạn. Nếu khách mời là những người bạn hầu như không gặp mặt trong khoảng 1 năm qua thì sẽ chỉ có 70% người trong số họ đến dự tiệc, 30% họ thường không đến và có thể gửi lại tiền mừng.

Tỷ lệ phần trăm trung bình lượng bạn bè sẽ tham sự đám cưới của bạn thường vào khoảng 80%.

Công thức tính lượng khách mời sẽ tham dự đám cưới để bạn tiện dự trù số mâm cỗ cần nấu /đặt cụ thể như sau:

Giả sử, bạn dự định và gửi thiệp mời đám cưới đến 150 người (bao gồm cả nội ngoại, bạn bè, người thân, người làng, khách khứa của bố mẹ, … )

Trong đó có:

70 người là hàng xóm hoặc người thân, người trong làng, bạn bè của bố mẹ.

80 người là bạn bè, đồng nghiệp (cũ/ mới), người quen, thân sơ, … của bạn.

Thì số lượng khách thực chất sẽ đến dự lễ cưới cũng như dùng tiệc cưới có thể được tính theo công thức sau:

(70 x 90%) + (80 x 80%) = 127 người

Tương ứng với khoảng 22 – 23 mâm 6 người hoặc 13 – 15 mâm 10 người.

Tuy nhiên, bất cứ tính toán hay dự trù nào cũng chỉ là tương đối và có tính chất tham khảo. Bạn cũng nên cẩn thận đặt thêm cỗ dự trù, quan trọng là chú ý xem xét độ thân/sơ trong quan hệ của mình để chuẩn bị kỹ càng nhất cho sự kiện quan trọng này.

Hãy gọi cho chúng tôi qua số:

Nhahangmaison.vn – Giải pháp tốt nhất để có một bữa tiệc thành công.

Cúng Đầu Năm Âm Lịch

Gồm lễ chay cho bàn thờ Phật; lễ chay và lễ mặn cho bàn thờ Thần linh và Gia tiên.

Đồ lễ gồm có: Hương nến (hoặc đèn dầu) nước, hoa, mâm ngũ quả (có cho cả bàn thờ Phật, Thần linh và Gia tiên), trái cây, kẹo bánh ngọt, oản phẩm, trầu cau, tiền thật, mâm cơm rượu cúng tất niên có bánh chưng và các bánh tết khác nếu có. Nên có hoa Đào hoặc hoa Mai. Mâm ngũ quả giữ đến hết 3 ngày tết. Thắp hương vòng liên tục cho hết 3 ngày tết.

Chú thích: Mọi đồ lễ đều phải tươi thơm, không bị ôi thiu hoặc nhiễm hóa chất độc.

Người xưa quan niệm mỗi năm có một vị Thiên quan được Nhà Trời phái xuống cai quản cả năm, vì vậy trong bài khấn đầu năm cần nhắc đến vị này.

Đây là lời khấn nôm, cứ thành tâm nghĩ sao nói vậy, không cần phải cầu kỳ.

a/ Khấn tại ban thờ Phật: “Nam mô A Di Đà Phật (3 lần 3 vái). Con kính lạy Đức Phật… (mà gia chủ đang thờ). Hôm nay là ngày 30 tháng Chạp, ngày tất niên của năm Giáp Ngọ, Tín chủ chúng con là… (họ tên chồng), cùng phu thê… (họ tên vợ) và các con cháu trong nhà có chút lễ mọn, và tấm lòng thành kính dâng Đức Phật. Con xin đội ơn Đức Phật trong năm qua đã phù hộ độ trì, dìu dắt chúng con gặp được nhiều may mắn. Cúi xin Đức Phật giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật, tiếp tục phù hộ cho gia đình chúng con. Nam mô A Di Đà Phật (3 lần 3 vái).” b/ Khấn tại ban thờ Thần linh và Gia tiên: “Nam mô A Di Đà Phật (3 lần 3 vái). Con lạy chín phương trời mười phương Chư Phật, con lạy Chư Phật mười phương. Con lạy ngài Đương niên Thiên quan hành khiển năm …. Con lạy các quan Thần linh Thổ công, Thần long mạch… cai quản vùng chúng con ở….(địa chỉ nhà mình đang ở) Con lạy ông bà Tổ tiên dòng họ… Hôm nay là ngày 30 tháng Chạp năm …, Tín chủ chúng con là… (họ tên chồng), cùng phu thê… (họ tên vợ) và các con cháu trong nhà có chút lễ mọn, mâm cơm rượu và tấm lòng thành kính dâng: – Ngài Đương niên Thiên quan hành khiển năm …… (năm cũ) – Các vị Thần linh khu vực, Thần linh tại gia, Thần long mạch… cai quản vùng chúng con ở địa chỉ … – Ông Bà tổ tiên dòng họ…. Cúi xin các vị giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho gia đình chúng con. Chúng con xin đội ơn ngài Đương niên Thiên quan năm nay, các vị Tôn Thần, Ông Bà tổ tiên trong năm đã phù hộ độ trì cho chúng con được nhiều thành đạt và nhiều may mắn. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được chứng giám và phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần 3 vái).”

Cúng đầu năm mới

Người xưa cúng Giao thừa có 2 lễ: Lễ cúng Giao thừa và lễ cúng Gia tiên sau Giao thừa. Cúng Giao thừa ở quê thường làm ở ngoài trời, cúng Gia tiên thì làm trên bàn thờ trong nhà. Nay có thể cúng cả trên bàn thờ trong nhà đều được. Có thể gộp 2 lễ thành 1 cho đơn giản cũng được, nhưng cúng riêng được thì hay hơn.

Gồm các thứ cúng chay và cúng mặn như cúng Tất niên nêu trên. Lễ mặn có thể là con gà luộc, thường là gà trống, hay chân giò luộc, hoặc có thể cúng một mâm cỗ), thêm quần áo giày mũ cho ngài Thiên quan đương niên hành khiển và các Thần linh, Thần Long mạch, mỗi vị 1 bộ.

Tất cả đặt trên bàn ngoài trời, hoặc trên bàn thờ trong nhà. Cúng vào giờ Tý giao thừa (23- 1h), nên cúng trong khoảng 23- 24h. Ba ngày tết thắp hương nến liên tục (dùng hương vòng). Cứ mỗi sáng lại một lần thay nước và thắp 1 nén hương cho mỗi bát hương. Sau ngày mồng 3 tết thì hoá vàng. Đến đây là hết lễ đầu năm mới.

a/ Lời khấn trên ban thờ Phật: “Nam mô A Di Đà Phật (3 lần 3 vái). Con kính lạy Đức Phật… (mà gia chủ đang thờ). Nay đang là giờ giao thừa chuyển tiếp năm …. sang năm mới …, Tín chủ chúng con là… (họ tên chồng), cùng phu thê… (họ tên vợ) và các con cháu trong nhà có chút lễ mọn, và tấm lòng thành kính dâng Đức Phật. Cúi xin Đức Phật giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì, chỉ giáo cho chúng con đường đi nước bước để cho gia đình chúng con gặp được nhiều may mắn trong năm mới này. Nam mô A Di Đà Phật (3 lần 3 vái).” b/ Lời khấn trên ban thờ Thần linh Gia tiên: “Nam mô A Di Đà Phật (3 lần 3 vái). Con lạy chín phương trời mười phương Chư Phật, con lạy Chư Phật mười phương. Con lạy ngài Đương niên Thiên quan Hành khiển năm mới …. Con lạy quan Thần linh Thổ công, Thần long mạch… cai quản vùng chúng con ở. Con lạy ông bà Tổ tiên dòng họ… Nay đã là giờ giao thừa năm …. chuyển sang năm mới …, Tín chủ chúng con là… (họ tên chồng), phu thê… (họ tên vợ) cùng con cháu trong nhà có chút lễ mọn cùng mâm cơm rượu và tấm lòng thành kính dâng: – Ngài Đương niên Thiên quan Hành khiển, – Các vị Thần linh khu vực, Thần linh tại gia, Thần long mạch… cai quản vùng chúng con ở, – Ông Bà tổ tiên dòng họ…. Cúi xin các vị giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho gia đình chúng con. Chúng con có quần áo giày mũ kính dâng ngài Thiên quan đương niên hành khiển và các vị Tôn quan. Cúi xin trong năm mới này ngài Đương niên Thiên quan Hành khiển, các vị Tôn thần, ông bà tổ tiên phù hộ cho chúng con, chỉ cho đường đi nước bước để được luôn luôn khỏe mạnh, bình an, con cháu làm ăn phát đạt, học hành tấn tới, gặp nhiều may mắn. (Muốn cầu gì cụ thể nữa thì kể ra). Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được chứng giám và phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần 3 vái).” Xem Thêm: Thủ Tục Cúng Rằm Tháng Giêng

Văn Khấn Rằm Tháng 11 Âm Lịch

(Thethaovanhoa.vn) – Văn khấn Rằm tháng 11 Âm lịch: Theo phong tục lâu đời, nhân dân ta đều làm lễ cúng vào ngày rằm hàng tháng.

Văn khấn Rằm tháng 10 Âm lịch: Theo phong tục lâu đời, nhân dân ta đều cúng vào ngày rằm hàng tháng.

Văn khấn ngày rằm hàng tháng

Theo quan niệm lâu đời của người Việt Nam, ngày Rằm gọi là ngày vọng. Vọng có nghĩa là nhìn xa trông rộng, ngày mặt trăng, mặt trời đối xứng nhau ở hai cực xa nhất trong tháng.

Người xưa cho rằng, ngày này, mặt trăng mặt trời nhìn rõ nhau, thấu suốt nhau, soi chiếu vào mọi tâm hồn. Con người trở nên sáng suốt trong sạch, đẩy lùi được mọi đen tối vẩn đục trong lòng.

Còn ngày mùng 1 đầu tháng âm lịch gọi là ngày sóc. Nguyên nghĩa từ sóc là khởi đầu, bắt đầu. Ngày mùng 1 là ngày bắt đầu của một tháng nên gọi là ngày sóc.

Người Việt ta coi ngày Sóc, Vọng là ngày tưởng nhớ tổ tiên, cúng ông bà, ông vải. Ngày Sóc, Vọng còn có ý nghĩa “Cát tường” xem ngày tốt xấu thấy là ngày tốt nhất trong tháng. Cúng vào mùng 1 và ngày Rằm, hoặc cúng vào chiều ngày 30 và chiều ngày 14 hàng tháng đều được.

Lễ vật và văn khấn ngày rằm và mùng 1 hàng tháng

Lễ vật cúng ngày rằm và ngày mồng 1 hàng tháng đơn giản:

Hương hoa, Trầu rượu, Nước, Hoa quả.

Cách cúng ngày mùng 1 và ngày rằm hàng tháng

Trước khi cúng gia tiên thường cúng ông Công trước.

Văn khấn ngày rằm cúng Thổ Công và các vị Thần Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy) – Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vị Tôn thần. – Con kính lạy ngài Đông Thần Quân – Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa Long Mạch – Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần – Con kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần – Con kính lạy các Tôn thần cai quản trong khu vực này. Tín chủ (chúng) con là:…… Ngụ tại: ……… Hôm nay là ngày … tháng … năm … tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả đốt nén hương thơm dâng lên trước án. Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim Niên đương cai Thái Tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ Địa. Long Mạch Tôn thần, các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc đức chính thần, các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này. Cúi xin các Ngài nghe thấu lời mời thương xót thương tín chủ giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc công việc hanh thông. Người người được bình an, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy).

Bài cúng ngày rằm cúng gia tiên Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy) – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. – Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng chư vị Tôn Thần. – Con kính lạy Tổ tiên, Hiển khảo, Hiển Tỷ, chư vị Hương linh (nếu bố, mẹ còn sống thì thay bằng Tổ Khảo, Tổ Tỷ) Tín chủ (chúng) con là:…… Ngụ tại:…… Hôm nay là ngày ….. gặp tiết ….. (ngày rằm, mồng một), tín chủ con nhờ ơn đức trời đất, chư vị Tôn thần, cù lao Tiên Tổ, thành tâm sắm lễ, hương, hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. Chúng con kính mời: Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật. Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ…, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật. Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, phù hộ cho gia chúng con luôn luôn mạnh khỏe, mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, làm ăn phát tài, gia đình hòa thuận. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy).

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thuật Toán Tính Âm Lịch trên website Herodota.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!