Đề Xuất 11/2022 # Tín Ngưỡng Thờ Quan Công / 2023 # Top 13 Like | Herodota.com

Đề Xuất 11/2022 # Tín Ngưỡng Thờ Quan Công / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tín Ngưỡng Thờ Quan Công / 2023 mới nhất trên website Herodota.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ở Trung Quốc nhiều gia đình hoặc các nhà hàng và cả văn phòng thương gia có lập bàn thờ Quan Công. Quan Công là nhân vật quan trọng trong “Tam Quốc diễn nghĩa” tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Quan Công tượng trưng cho sáu chữ “Trung, nghĩa, tín, Trí, nhân, dũng”, mà 6 chữ này chính là đạo lý cần thiết cho các thương gia làm ăn phát tài. Trung, có nghĩa là trung thành; Nghĩa, chính là nghĩa khí; Tín, là tín dụng; Trí, có nghĩa là Trí tuệ; Nhân, chính là nhân nghĩa; Dũng, là dũng cảm. Chính trên mình Quan Vân Trường tức Quan Công tập chung phẩm chất của 6 chữ này, cho nên Quan Công thường đánh đâu thắng đó, và được người muôn vàn đời sau kính ngưỡng, kính trọng. Và coi là Thần Tài. Còn ở Việt Nam chính sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo nên hầu hết vào thời Nguyễn, nhiều ngôi đình thờ Quan Công cũng được nhiều vua nhà Nguyễn ban sắc phong để nhân dân thờ cúng. Hiện nay còn lưu giữ hơn 20 sắc phong của những vị vua nhà Nguyễn : Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định… đã ra lệnh phong thần cho Quan Công.

Ý nghĩa thờ tượng Quan Công

Ý nghĩa thờ tượng Quan Công được rất nhiều quan tâm và tìm hiểu. Hình ảnh Quan công xuất hiện với một khí khái rất mãnh liệt và gương mặt cương quyết có phần dữ dằn, mặt đỏ dâu dài, trên tay luôn cầm long đao trong tư thế sẵn sàng. Nhiều quan niệm cho rằng Tượng Quan Công có gương mặt càng dữ thì sẽ đem lại hiệu quả bảo vệ càng mạnh.

– Những hướng nhà xấu ảnh hưởng tới gia chủ thì nên dùng tượng Quan Công trấn giữ ở cửa, quay mặt ra hướng chính của cánh cửa lớn. Tuy nhiên với những hướng nhà bị sao xấu chiếu tới thì cũng nên dùng tượng quan công để chế hóa.

– Với những người làm chức lớn hay có tầm quan trọng trong kinh doanh, chính trị hoặc một số tổ chức sẽ hay gặp phải những người đố kị chơi xấu hoặc thường xuyên dùng âm mưu thủ đoạn để hãm hại. Do đó người ta tin rằng các nhà lãnh tụ và doanh nhân khi đạt Quan Công sau lưng, chính nơi làm việc thì sẽ luôn nhận đươc sự hỗ trợ mạnh mẽ để chống lại những thế lực khác nhau đang làm ảnh hưởng đến họ.

– Để Trấn hạch nên đặt ở chính giữa hướng nhìn thẳng ra cửa ra vào hoặc những vị trí Sát tinh chiếu ví dụ: hoạ hại, lục sát, ngũ quỷ, tuyệt mệnh…Ở trong trường hợp nhà hướng Chính Bắc, Tây Bắc, Chính Tây có thể bày ở trung tâm của căn nhà hoặc căn phòng.

– Người Trung quốc thường thờ Quan Công để cầu tài với mong muốn ngài sẽ mang lại cho gia đình nhiều tài lộc, công việc làm ăn kinh doanh thuận lợi, dẹp trừ tiểu nhân.

Cách thức thờ tượng Quan Công

Còn về việc tượng Quan Công thì người ta thờ ông và kính trọng chính vì sự trung nghĩa của ông ấy. Vì vậy mới tôn là … Trung Nghĩa Thiên Thu Đế Quân.

Vì thế, nên nếu thành kính mà thờ thì trong ngôi nhà cũng tăng thêm chánh khí, làm cho tà ma, ngoại đạo ít nhiều cũng phải kiêng dè một chút! Linh bao nhiêu là tùy vào tâm thành và sự tôn kính của ta.

Quan Vũ là người luôn tôn trọng nhân cách của một người quân tử theo truyền thống nho giáo, nếu thờ ông ta thì nhất định phải chọn chỗ thanh tịnh, sạch sẽ và phải trang nghiêm. Lấy một cái trang thờ rồi đặt tượng Quan Công đứng bên trong, phải thường xuyên đốt nhang là đủ. Nhưng trước khi thiết lập trang thờ hay những lúc đốt nhang, phải mặc áo quần dài và nhất là thân thể phải được sạch sẽ.

Ngoài ra, Tượng Quan Công được đặt trấn trạch thờ cúng một cách khá đơn giản. Phải đặt Tượng Quan Công ở một bục gỗ đẹp sang trọng, hoặc là trên mặt bàn, mặt tượng Quan Công nên hướng ra phía cửa phòng, hướng ra bên ngoài, không được đặt tượng Quan Công gần những khu nhà vệ sinh, chỗ để giày dép, hay nơi tối tăm ẩm thấp,….

Biểu tượng Quan Công

Biểu tượng Quan Công dù ở tư thế nào thì đều mang đến năng lượng rất mạnh. Đặt Quan Công trên cao để canh giữ cửa trước. Người ta nói vẻ mặt của Quan Công càng hung dữ bao nhiêu thì hiệu quả bảo vệ cũng càng mạnh. Và đừng quên vũ khí của ông chính là cây đại đao và thanh gươm. Nhớ đặt chúng đúng vị trí bên hình ảnh của ông. Một trong những lợi ích khi để Quan Công trong nhà chính là có được sự bình an cũng như hòa thuận giữa các thành viên trong gia đình, người cha sẽ được bảo vệ , cũng như đem đến tài lộc cho con người. Nhiều người tin các nhà lãnh tụ và doanh nhân nếu đặt Quan Công sau lưng, tại nơi làm việc thì chính họ luôn nhận đươc sự hỗ trợ mạnh mẽ. Tốt nhất, nên đặt tượng Quan Công ở góc Tây Bắc của ngôi nhà hoặc văn phòng, mặt hướng ra cửa để canh chừng những ai ra vào nhà hoặc chỗ làm, chứ không cần phải thờ cúng Quan Công, chỉ có biểu tượng hình ảnh là đủ.

Tín Ngưỡng Thờ Sơn Thần (Thần Núi) / 2023

Thần Núi (Sơn Thần) hoặc có tên là Cao Sơn đại vương hoặc là đức Thượng Ngàn thường hiện hình là những ông già tóc bạc. Cũng như thần Đất, số lượng thần Núi khá nhiều. Mỗi thần cai quản một dãy núi lớn bao gồm cả những núi con, ví dụ dãy núi Ba Vì thì có Tản Viên sơn thần, cụm núi Hồng Lĩnh thì có Hồng Lĩnh sơn thần…Oai quyền của thần cũng rất to mặc dầu chỉ trong phạm vi đất đai của mình. Mọi thú vật cây cối đều thuộc dưới quyền của thần.

Truyền thuyết về thần núi

Có lần có người bị cọp tha mất mẹ. Anh ta đau đớn vô cùng bèn xin với thần Núi bắt hộ. Quả nhiên thần bắt ngay con cọp đó trói vào một gốc cây bằng những sợi dây vô hình để cho người con mất mẹ kia đến trả thù.

Thần Núi có lúc theo người đi đánh giặc, giúp người thắng quân thù như thần Núi Đồn Cổ, thần núi Tản Viên,…cho nên cũng có khi gọi là thần Chiến tranh.

Giữa thần Đất và thần Núi thì rất hòa thuận với nhau nhưng giữa thần Núi với thần Nước thì hay xảy ra xung đột như trận đánh nhau giữa thần núi Tản Viên và Thuỷ Tinh.

Có thần Núi được Ngọc Hoàng cho giữ khí tinh anh của các bậc anh hùng hào kiệt như thần Núi Kim Nhan ở Nghệ An. Mỗi lần có bậc anh hùng hào kiệt chết thì thần Núi ra mở cửa đón chờ. Khí tinh anh của họ là một vệt sáng trông như tấm lụa hoặc như mui xe, màu đỏ đào rực cả trời. Khi đã bay vào xong, thần Núi ấy đóng cửa lại sầm một tiếng như tiếng sấm nổ.

Loading…

Có thần Núi được Ngọc Hoàng cho giữ của cải vàng bạc hay đồng…Người ta, trừ khi thần cho không kể, còn thì khó lòng mà được hưởng những của đó. Người ta thường kể chuyện ở núi Kim Âu cứ như bây giờ thuộc về Thanh Hóa, Ngọc Hoàng có đặt một cái chum trên miệng có nắp. Trong đó Ngọc Hoàng chứa toàn vàng khối, tuy bị đậy kín mà đêm đêm vẫn còn ánh ra sáng rực. Ngọc Hoàng sai thần Núi ở lại canh giữ và ra lệnh cửa đó chỉ để dành thưởng cho gia đình nào một chồng một vợ mà lần lượt đẻ được 10 người con trai sống toàn vẹn. Gia đình nào có như thế thì chỉ có việc đem 10 người con lên núi khiêng nắp lọ ra mà lấy vàng. Thần Núi sẽ để cho lấy một cách dễ dàng vô cùng. Còn như nếu không đúng thì dù có thiên binh vạn mã cũng đừng có hòng cạy được nắp chum ấy ra.

Từ thượng cổ tới nay chưa có ai là kẻ làm chủ được số vàng ấy của Ngọc Hoàng. Tương truyền đời chúa Trịnh có hai vợ chồng nhà nọ sinh được 10 người con trai. Chúa nghe tin ấy sai lính gọi gia đình ấy lên núi thử mở nắp chum xem có nghiệm hay không. Nhưng khi họ mó tay vào thì chỉ thấy 9 góc có hé lên được một tí còn một góc thì nặng chịt xuống cố sức mấy cũng không nổi, đành phải thôi. Chúa Trịnh cho là thần Núi tiếc của. Nhưng sau có người cáo giác là nhà ấy chỉ có 9 người là con đẻ còn một người là con nuôi. Chúa có làm hay câu thơ:

Của trời mới biết là thiêng thật Không chịu cho người có chín con.

Những gia đình ở vùng núi non, nhà nào cũng có bàn thờ Sơn thần tại nhà. Vừa là để tiện cho việc cúng lễ, và cũng là để mong được Sơn thần che trở, phù hộ.

Bàn thờ Sơn thần được thiết lập tại một chiếc bàn riêng, thường xây ở vườn về phía chân núi. Bàn thờ không có bài vị, chỉ có bát hương và các đồ thờ khác. Những chiếc ban thờ được xây, thường bên trên thờ Sơn thần bên dưới thờ thần Hổ.

Loading…

Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên Ở Việt Nam / 2023

Thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội Việt Nam. Đây là cách thể hiện lòng biết ơn và sự tri ân với những người đã khuất. Theo quan niệm, những người đã khuất thường xuyên can dự vào cuộc sống hiện tại, họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo vệ chúng ta… Cho đến nay, hiện tượng thờ cúng tổ tiên còn tồn tại ở nhiều quốc gia, dân tộc. Tuy vậy, vị trí và vai trò của nó trong đời sống tinh thần của con người ở mỗi nơi mỗi khác. Ở một số quốc gia, thờ cúng tổ tiên có vai trò mờ nhạt trong đời sống tinh thần cộng đồng, nhất là những quốc gia và dân tộc đưa một tôn giáo thành độc tôn, nhất thần. Nhưng ở những quốc gia đa, phiếm thần thì thờ cúng tổ tiên có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của mỗi cá nhân, cộng đồng, xã hội. Ở Việt Nam, hầu hết mọi người đều thờ cúng tổ tiên kể cả những tín đồ của một số tôn giáo. Mọi người quan niệm tín ngưỡng này vừa như là một phong tục truyền thống, vừa như một đạo lý làm người, lại vừa như một hình thức sinh hoạt tâm linh.

1. Đối tượng của thờ cúng tổ tiên

Ở Việt Nam, đối tượng của thờ cúng tổ tiên được thể hiện ở 3 cấp: gia đình, làng xã, đất nước.

Ở cấp độ gia đình, người Việt Nam thờ cúng ông bà, cha mẹ,… là những người cùng huyết thống đã chết. Đã là người Việt Nam, dù sang hèn, giàu nghèo khác nhau ai cũng thờ cúng cha mẹ, ông bà, tổ tiên của mình. Đây không chỉ là vấn đề tín ngưỡng mà còn là vấn đề đạo lý, phản ánh lòng biết ơn của con cháu đối với công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Nơi thờ cúng là ở gia đình và nhà thờ họ.

Ở cấp độ làng xã, người Việt còn thờ cúng những người có công với làng xã và được tôn vinh là Thành hoàng và nơi thờ cúng ở đình làng.

Ở cấp độ Nhà nước, người Việt thờ cúng những người có công đối với đất nước, như các Vua Hùng, Thánh Gióng, Trần Hưng Đạo, Hồ Chủ tịch…

Ở Việt Nam có 3 cộng đồng vốn từ xa xưa đã có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đó là: gia đình, làng xã và quốc gia. Vì vậy, tổ tiên gia đình, làng xã và đất nước không tách rời nhau. Từ thực tế đó, chúng ta có thể hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng tâm lý xã hội thể hiện sự biết ơn của người còn sống đối với người đã chết có công lao với cá nhân, gia đình, dòng tộc, làng xã, đất nước, thể hiện niềm tin rằng, tổ tiên tuy đã chết nhưng linh hồn vẫn tồn tại ở một thế giới khác và linh hồn tổ tiên có khả năng tác động tới đời sống, số phận của con cháu thông qua các nghi lễ thờ cúng.

2. Sự hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam

Trong nhận thức dân gian, người Việt quan niệm rằng, con người có 2 phần: phần xác và phần hồn. Hai phần này vừa gắn bó, vừa tách biệt, chúng gắn bó với nhau. Khi con người còn sống, hồn nhập vào xác điều khiển hành vi của con người. Khi con người chết, phần hồn rời khỏi xác, thể xác của họ hòa vào cát bụi, phần hồn vần tồn tại và chuyển sang sống ở một thế giới khác (cõi âm). Ở Cõi Âm (được mô phỏng từ Cõi Dương) mọi linh hồn đều có các nhu cầu như cuộc sống nơi trần thế.

Nỗi lo sợ bị trừng phạt của con người không phải là yếu tố duy nhất và chủ yếu dẫn đến sự hình thành và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Nếu chỉ vì sợ hãi mà con người phải thờ cúng thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã không thể tồn tại lâu bền và đầy giá trị nhân văn như vậy. Yếu tố tâm lý có vai trò quyết định trong việc duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt là sự tôn kính, biết ơn đối với các thế hệ trước, là tình yêu và lòng hiếu thảo của con cháu đối với ông bà, cha mẹ.

Trong cuộc sống con người còn gặp nhiều khó khăn, rủi ro, bất hạnh, sa cơ, lỡ vận, bệnh tật hiểm nghèo… luôn đe doạ sự bình an của con người. Con người còn thiếu tự tin vào chính bản thân khi phải đối mặt giải quyết với các vấn đề trên trong cuộc sống của chính bản thân họ. Họ luôn mong muốn có sự giúp đỡ của các thế lực khác nhau, trong đó họ cần đến sức mạnh của ông bà tổ tiên ở “thế giới bên kia” che chở, nâng đỡ. Từ quan niệm dân gian về linh hồn, người ta cho rằng, nếu không cúng tế linh hồn ông bà tổ tiên đầy đủ thì những linh hồn này trở thành ma đói và sẽ mang lại rủi ro, quấy nhiễu cuộc sống của những người đang sống. Trong cuộc sống của mỗi con người, càng về già, cái chết luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với mỗi người, con người không muốn nó diễn ra, ngay cả khi họ có cuộc sống nơi dương thế luôn gặp khó khăn và trắc trở, nhưng họ lại luôn phải đối mặt với nó. Thực hiện các lễ nghi thờ cúng tổ tiên trong không gian thiêng đó, mỗi người được trải nghiệm và cũng như một lần được chuẩn bị tâm thế chấp nhận cái chết một cách thanh thản, bình tĩnh và nhẹ nhàng hơn.

2.4. Ảnh hưởng của một số tư tưởng tôn giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam

– Ảnh hưởng của tư tưởng Khổng giáo (Khổng giáo do Khổng Tử sáng lập): Tư tưởng của đạo Khổng là đề cao chữ hiếu và coi đó là nền tảng của đạo làm người. Theo Khổng Tử, sự sống của mỗi con người không phải do tạo hóa sinh ra, càng không phải do bản thân tự tạo, mà nhờ cha mẹ. Sự sống của mỗi người gắn liền với sự sống của cha mẹ, sự sống của cha mẹ lại gắn liền với sự sống của ông bà và cứ như vậy thế hệ sau là sự kế tiếp của thế hệ trước. Vì thế, con người phải biết ơn không chỉ với cha mẹ mà cả đối với thế hệ tổ tiên trước đó.

– Ảnh hưởng của tư tưởng Đạo giáo: Nếu như Khổng giáo đặt nền tảng lý luận về giá trị đạo đức, về trật tự kỷ cương xã hội cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, thì Đạo giáo góp phần củng cố niềm tin vào sự tồn tại và năng lực siêu nhiên của linh hồn những người đã chết thông qua một số nghi lễ thờ cúng như: gọi hồn, bùa chú, ma chay, tang lễ, mồ mả và đốt vàng mã.

– Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo:

Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến sự giữ gìn và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam, trước hết là quan niệm của Phật giáo về cái chết, về kiếp luân hồi và nghiệp báo,… Phật giáo đề cập rất nhiều đến thờ cúng tổ tiên theo cả hai nghĩa rộng và hẹp. Thờ cúng tổ tiên trong Phật giáo theo nghĩa rộng chính là thờ Phật. Phật thường được dân gian hiểu một cách nôm na là người sáng lập ra Phật giáo, là Buddha, mọi người gọi là ông Bụt, ông Phật hay đôi khi là “Phật tổ”. Hay những người đứng đầu, người sáng lập ra các tông phái Phật giáo và người kế thừa, những vị sư sáng lập chùa được các hậu duệ của họ gọi là “Sư tổ”. Các tự viện nơi họ được khai sáng thì gọi là “Tổ đình”. Theo nghĩa hẹp, cũng có nghĩa là thờ cúng ông bà, cha mẹ, những người có cùng huyết thống với mình. Chính vì vậy, chúng ta thấy rằng giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có những điểm tương đồng trong ý tưởng giáo dục, trong văn hóa tín ngưỡng và trong nghi lễ thờ cúng. Đây chính là cơ sở cho sự hội nhập giữa đạo Phật với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam.

Những tư tưởng cơ bản của Phật giáo có ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, nhưng không vì thế mà nó là sự sao chép y nguyên tư tưởng của Phật giáo. Người Việt Nam quan niệm rằng, cha mẹ và tổ tiên luôn lo lắng và quan tâm cho con cái ngay cả khi họ đã chết. Người sống chăm lo đến linh hồn người chết, vong hồn người chết cũng quan tâm đến cuộc sống của người đang sống.

3. Nghi thức thờ cúng tổ tiên

Việc bài trí bàn thờ gia tiên thường không giống nhau, điều này phụ thuộc vào quan niệm tâm linh và cả điều kiện kinh tế của gia đình. Nhìn chung, bàn thờ gia tiên nào cũng có một số đồ thờ chủ yếu sau: bài vị, bát hương, đĩa đèn, bình hoa, chén rượu, mâm đựng hoa quả… Các gia đình bình dân, đồ thờ thường được làm bằng gỗ hoặc sành sứ, còn các gia đình giàu có thế nào cũng có đồ thờ tự bằng đồng. Bàn thờ gia tiên của ngành trưởng phức tạp hơn ngành thứ, của chi trưởng phức tạp hơn chi thứ, gia đình con thứ, con út chỉ thờ vọng nên bài trí bàn thờ cũng đơn giản hơn con trưởng.

Việc thờ cúng tổ tiên tại gia đình thường được tiến hành quanh năm, xuất phát từ quan niệm dù đã khuất nhưng linh hồn họ vẫn luôn ở bên cạnh con cháu. Không chỉ cúng lễ trong các dịp quan trọng như tang ma, giỗ chạp, cưới xin…, không chỉ trong những ngày lễ tiết như Tết Nguyên đán, Thanh minh, Hàn thực, Đoan ngọ…, các ngày Sóc (ngày mồng một), Vọng (ngày rằm) theo chu kỳ tuần trăng, mà các vị tổ tiên còn được con cháu kính cáo mọi chuyện vui buồn: sinh nở, ốm đau, thi cử, đỗ đạt, kiện cáo, bất hòa, dựng vợ gả chồng… Con cháu còn kính mời các vị về hưởng thụ hoa trái đầu mùa, lễ tạ tổ tiên khi có phúc, có lộc. Có thể nói trong tâm thức những người sống tổ tiên là bất tử. Người Việt dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ, hay để tạ ơn khi công việc thành công. Bản chất việc thờ cúng tổ tiên của người Việt là từ niềm tin người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau. Con cháu thì thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân. Tổ tiên thì che chở, dẫn dắt hậu thế nên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm.

Thay lời kết

Là một loại hình tín ngưỡng dân gian từ lâu đã thấm đượm và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của mọi người dân Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có sức sống lâu bền. Tín ngưỡng này không chỉ chứa đựng những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của dân tộc mà còn thể hiện quan niệm của người Việt về thế giới, về nhân sinh. Do vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có ảnh hưởng tích cực tới đời sống của mỗi cá nhân, cộng đồng và xã hội. Sự ảnh hưởng này được thể hiện thông qua hệ thống giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được chuyển tải vào hoạt động giáo dục nhân cách con người Việt cũng như trong việc thoả mãn nhu cầu tâm linh của mỗi cá nhân.

Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Tại Thành Phố Tuyên Quang / 2023

TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

18/06/2015: Thành phố Tuyên Quang – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Tuyên Quang. Đây là mảnh đất có bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng vẻ vang.

    Ngoài là miền đất cổ, thành phố Tuyên Quang còn được biết đến là một miền văn hóa tâm linh. Trên địa bàn thành phố và phụ cận có 28 địa điểm văn hóa tâm linh bao gồm đền, đình, chùa, miếu.

Tam tòa Thánh Mẫu trong Đạo Mẫu Việt Nam

    Đã từ lâu, hàng năm vào mùa xuân – mùa lễ hội du khách gần xa lại tấp nập hành hương về thành Tuyên đi lễ để cầu mong cho cuộc sống ấm no, sức khỏe, hạnh phúc, mọi điều may mắn… Đặc biệt lễ rước Mẫu vào tháng Hai âm lịch đã thu hút hàng ngàn lượt khách trong và ngoài địa phương đến tham dự. Hầu hết các ngôi đền ở thành phố Tuyên Quang đều thờ Mẫu. Đây là tín ngưỡng bản địa cổ nhất của Việt Nam ta. Trải qua quá trình tiến hóa, con người nhận ra rằng sự sống có được là nhờ tự nhiên ban tặng cho khí trời, thức ăn, nước uống… từ đấy nảy sinh ý thức biết ơn tự nhiên. Mặt khác, con người cũng hứng chịu không ít sự tàn phá của thiên nhiên… Nỗi hoang mang, lo sợ trước thiên nhiên vì thế cũng ngày một lớn dần, ứng xử với thiên nhiên như thế nào cho phải chỉ có thể là cầu khấn, mong nhận được nhiều hơn, chịu thiệt hại ít hơn… và thế là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên ra đời. Khi người Việt cổ bước sang chế độ Mẫu hệ vai trò của người phụ nữ trong gia đình được đề cao, quyền năng của tự nhiện được đồng nhất với quyền năng của người mẹ, phụng thờ tự nhiên chuyển sang phụng thờ người, từ đó tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện.

Lễ rước Mẫu vào tháng Hai âm lịch

    Tiến trình hình thành quốc gia, dân tộc đã sản sinh ra những nhân vật kiệt xuất chống lại thiên tai, chống giặc ngoại xâm, không ít nhân vật trong số đó là phụ nữ. Những nhân vật như thế để lại trong cộng đồng lòng biết ơn và sự tôn kính trở thành thần Mẫu. Tín ngưỡng thờ mẫu phát triển hoàn thiện với những vị thần tự nhiên và những nhân vật lịch sử được thần thánh hóa, quy tụ thành Tam tòa Thánh Mẫu gồm mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Danh hiệu Thần Mẫu, Vương Mẫu, Quốc Mẫu, Thánh Mẫu do nhà vua ban qua sắc phong hoặc do dân gian tôn phong.

    Ở thành phố Tuyên Quang và vùng phụ cận có 14 đền thờ Mẫu như đền Ghềnh Quýt, đền Pha Lô, đền Đồng Xuân, đền Cảnh Xanh, đền Mẫu Ỷ La, đền Lương Quán, đền Mỏ Than, đền Thượng, đền Hạ, đền Lâm Sơn, đền Quang Kiều, đền Cấm, đền Ba Khuôn và đền Minh Lương. Ngoài việc thờ Mẫu là chính, tại các đền còn thờ Đức Thánh Trần (Tức Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn) đây là một danh nhân lịch sử đã có công lớn trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược dưới thời Trần (thế kỷ XIII), được dân tôn là một trong “Tứ Bất Tử” gồm Mẫu Liễu, Chử Đồng Tử, Thánh Tản Viên và Đức Thánh Trần. Việc thờ Đức Thánh Trần thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người dân miền sơn cước và hiện nay chỉ có đền Kiếp Bạc và đền Cảnh Xanh là thờ riêng Trần Hưng Đạo.

Đền Hạ – phường Tân Quang – TP Tuyên Quang

    Ngoài ra ở Tuyên Quang còn có một số mẫu thờ Phật kiểu “tiền Phật hậu Mẫu” như đền Cảnh Xanh, đền Thượng, đền Lương Quán, đền Minh Lương… Nhiều chùa thờ Phật còn thờ cả Mẫu và Thành Hoàng như: Chùa Linh Thông, chùa Phổ Linh… nguyên do là trước đây làng có đình thờ Thành Hoàng, đền thờ Mẫu, trải qua thời gian mưa gió làm kiến trúc gỗ bị hư hại, người dân đem thờ Mẫu, Thành Hoàng thờ chung vào chùa hoặc xây dựng đơn nguyên kiến trúc cùng khu vực chùa để thờ.     Với sự sùng bái và lòng biết ơn tự nhiên và cũng là biểu hiện của truyền thống đoàn kết, người Việt dễ dàng dung hợp, hòa đồng các tín ngưỡng và hầu như không có sự phân thứ bậc trong mức độ tôn sùng, điều này biểu hiện ở chỗ vị trí ban thờ các đền là đồng đẳng.

    Thành phố Tuyên Quang và vùng phụ cận có tiềm năng du lịch lớn với nhiều loại hình từ du lịch lịch sử, du lịch tâm linh đến du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, nhưng trong đó du lịch tâm linh là thu hút đông đảo du khách mỗi dịp xuân về. Ngày xuân đi lễ đền, chùa cầu bình an, may mắn đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa tâm linh của đông đảo người dân. Khi tiếp cận với không gian tín ngưỡng – thế giới của thần linh sẽ giúp mọi người gác lại những lo toan thường nhật, những cám dỗ vật chất, những toan tính nhọc nhằn để tâm hồn có những phút giây thanh thản, đánh thức lương tri hướng tới chân, thiện, mỹ. Đó mới chính là nhu cầu tâm linh cần thiết của mỗi con người chúng ta.

Phạm Hương

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tín Ngưỡng Thờ Quan Công / 2023 trên website Herodota.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!