Bài Cúng Về Nhà Mới, Các Bước Làm Lễ Nhập Trạch Chi Tiết Nhất

--- Bài mới hơn ---

  • Vào Nhà Mới Sau Lễ Nhập Trạch Cần Làm Những Gì?
  • Chuyển Đồ Trước Khi Nhập Trạch Có Nên Không?
  • Thủ Tục Về Nhà Mới Khi Mượn Tuổi Làm Nhà
  • Mượn Tuổi Làm Nhà 2021
  • Hướng Dẫn Gia Chủ Làm Thủ Tục Mượn Tuổi Làm Nhà
  • BÀI VĂN KHẤN :

    Cụ thể bài khấn nhập trạch đối với thần linh như sau:

    Nam mô a di đà Phật! (nhắc 3 lần)

    Con xin kính lạy chín phương Trời, cùng Chư Phật mười phương. Kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ và chư vị Tôn thần.

    Con xin kính lạy Thần Linh Thổ Địa, Bản Gia Táo Quân, tất cả các vị thần linh cai quản xứ này.

    Con tên là:………………………, tuổi mệnh (ví dụ: Tân Dậu 1981,…)

    Hôm nay nhân ngày lành tháng tốt, ngày ….. tháng…. năm….(nhằm ngày ….. tháng…. năm…. âm lịch), con sắm sửa lễ vật, hương quả trầu cau bày lên trước án, xin kính cẩn tâu trình đến chư vị thần linh:

    Các vị Thần linh,

    Thông minh chính trực,

    Giữ ngôi tam thai.

    Nắm quyền tạo hoá.

    Thể đức hiếu sinh.

    Phù hộ dân lành.

    Bảo vệ sinh linh.

    Nêu cao chính đạo.

    Gia đình của chúng con vừa xây cất (mua được/thuê được) ngôi nhà tại địa chỉ này là….Nay công trình viên mãn, mọi sự hoàn thành, chọn được ngày lành tháng tốt nên cúi mong chư vị Thần linh tề tựu thụ hưởng lễ vật, cho chúng con được nhập trạch vào nhà mới, sau đó lập bát hương thờ cúng thần linh.

    Cũng xin các vị thần anh minh cho chúng con được rước vong linh gia tiên của chúng con về nhà mới tại….thờ phụng.

    Cầu xin được thần linh chứng giám, gia ân tác phúc, phù hộ độ trì cho gia đình làm ăn phát đạt, an ninh, khang thái, cuộc sống an lành,

    Tín chủ cũng xin thành tâm được mời những hương linh phảng phất, các vong hồn không nơi nương tựa quanh đây đến thụ hưởng lễ vật. Mong được phù trì ăn nên làm ra, cuộc sống an lạc, gia đạo thuận hòa, phòng tránh được những điều xui rủi.

    Chúng con dù lễ bạc nhưng tâm thành, xin cuối đầu kính lễ, cúi mong được thần linh chứng giám.

    Cẩn cáo!

    Nam mô a di Đà Phật! (nhắc 3 lần)

    VĂN KHẤN NHẬP TRẠCH NHÀ MỚI – VĂN KHẤN GIA TIÊN

    Khi đã xin phép thần linh, thì tiếp theo đọc văn cúng nhập trạch cáo yết gia tiên xin phép ông bà tổ tiên cùng về nhà mới để con cháu được tiếp tục thờ cúng.

    Nam mô a di Đà Phật! (nhắc 3 lần)

    Con xin kính lạy LIỆT TỔ LIỆT TÔNG… (họ của ông bà, tổ tiên) GIA TẠI THƯỢNG

    Kính lạy CỬU HUYỀN THẤT TỔ NỘI NGOẠI GIA TIÊN LINH.

    Con tên là ….. Hôm nay ngày lành tháng tốt, là ngày……tháng….. năm……(nhằm ngày…tháng…năm…âm lịch)

    Chúng con vừa dọn đến nhà mới ở địa chỉ:…………..

    Nhờ ân phúc của tổ tiên, ông bà phù hộ mà gia đình đã tạo dựng được nơi ở mới. Hôm nay chúng con đã sắm sửa lễ vật, hoa quả hương nhang, trầu cau, xin thành tâm thắp nén nhang dâng lên án thờ. Kính cẩn cầu xin tổ tiên, chư vị hương linh nội ngoại chứng giám cho lòng thành, tề tựu về đây thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu được xuất nhập bình an, gia đạo thuận hòa, cuộc sống hưng thịnh, mọi điều bình an mạnh khỏe.

    Chúng con cũng xin được rước tổ tiên về địa chỉ mới …. để tiếp tục được thờ phụng, hương nhang mỗi ngày, thể hiện chữ hiếu của con cháu.

    Lễ bạc tâm thành, chúng con xin được kính lễ, cúi mong tổ tiên chứng giám ưng thuận, thọ cảm ân sâu.

    Cẩn cáo!

    Nam mô a di Đà Phật! (nhắc 3 lần)

    CÁCH ĐỌC BÀI KHẤN NHẬP TRẠCH NHƯ THẾ NÀO MỚI ĐÚNG?

    Không bắt buộc bạn phải học thuộc hai bài cúng vào nhà mới phía trên. Có thể in ra hai tờ giấy nhỏ và cầm đọc. Đọc to hay nhỏ tùy ý. Nhưng yêu cầu hàng đầu là phải thành tâm và trịnh trọng khi đọc văn cúng nhập trạch.

    Người đọc văn khấn chuyển nhà và trực tiếp làm lễ nhập trạch nên là người đàn ông trụ cột trong gia đình, như cha, con trai trưởng,… Nếu nhà vắng nam nhân thì người mẹ/hoặc vợ sẽ là người làm thay.

    Nếu bạn chuyển đến chung cư, thì bài cúng nhập trạch nhà chung cư nên bổ sung chính xác số phòng, tầng lầu, khu nào, càng chi tiết càng tốt. Văn khấn nhập trạch nhà thuê thì không có gì khác biệt. Tóm lại bạn có thể áp dụng hai bài cúng chuyển nhà nêu trên trong nhiều tình huống (nhà mới xây, nhà mua lại, căn hộ, chung cư, nhà thuê, nhà trọ,…) và tùy chỉnh sao cho phù hợp nhất tình trạng của mình!

    Về thời điểm đọc bài cúng nhập trạch, bạn làm theo trình tự sau:

    Sau khi dọn tới nhà mới, gia chủ cầm theo bát hương bước qua lò than đặt trước cửa, các thành viên theo sau cầm theo các đồ may mắn. Tiếp theo bày lễ theo hướng hợp với chủ nhà, người này sẽ đốt nhang rồi đọc văn khấn (bài cúng nhà mới phía trên). Tiếp đó nấu nước pha trà dâng lên mâm thờ. Lúc nhang tàn thì hóa vàng, nhớ đốt luôn cả mảnh giấy ghi bài văn khấn. Như vậy là đã có thể dọn vào nhà mới.

    vnbay,bài học cuộc sống,Bài Cúng Về Nhà Mới,bài cúng nhập trạch,lễ cúng về nhà mới,mâm cúng nhập trạch,cúng vào nhà mới,cách cúng về nhà mới,bài khấn về nhà mới,lễ nhập trạch nhà chung cư,lễ cúng nhập trạch,cách cúng nhà mới,nhập trạch lấy ngày,có nên chuyển đồ trước khi nhập trạch,bài cúng về nhà mới mua,văn cúng về nhà mới,lễ về nhà mới.

    Xin chân thành cảm ơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lưu Ý Cần Biết Khi Xem Ngày Nhập Trạch Nhà Mới
  • Gia Chủ Chọn Ngày, Giờ Làm Lễ Nhập Trạch Thế Nào?
  • Cách Chọn Ngày Làm Lễ Nhập Trạch Chuẩn Nhất
  • Hướng Dẫn Làm Thủ Tục Chuyển Nhà Nhập Trạch Lấy Ngày
  • Thủ Tục Chuyển Nhà Nhập Trạch Lấy Ngày Chuẩn Phong Thủy
  • Các Bước Cần Chuẩn Bị Cho Lễ Nhập Trạch

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tục Nhập Trạch: Lễ Về Nhà Mới Cần Những Gì Để May Mắn
  • Tháng 5, Về An Giang Tham Dự Lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam (Châu Đốc
  • Châu Đốc Vào Mùa Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ:châu Đốc Vào Mùa Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ
  • Kinh Nghiệm Đi Chùa Bà Châu Đốc An Giang Từ A
  • Cuộc sống vận động thay đổi từng ngày. Vì quá bận rộn nên nhiều gia đình trẻ hiện nay khi chuyển dọn nhà thường chỉ làm lễ nhập trạch đơn giản với một mâm cúng nhỏ và tối giản các bước.

    Nhưng bên cạnh đó, nhiều người lại cho rằng nhập trạch chuyển nhà là một nghi thức rất quan trọng để được thần linh tổ tiên chấp thuận, phù hộ, vậy nên không thể sơ sài và cần làm đúng thủ tục về nhà mới.

    Trong bài viết này, Chúng tôi xin được trình bày các bước tiến hành thủ tục làm lễ cúng chuyển nhà nhập trạch đầy đủ nhất theo chuẩn phong thủy. Dựa vào đây, tùy điều kiện gia đình và niềm tin tâm linh của bạn mà có thể thực hiện đầy đủ hay lược bỏ bớt cho phù hợp.

    Nhập trạch là từ Hán Việt, theo đó “nhập” có nghĩa vào, “trạch” là nhà. Như vậy nói một cách đơn giản nhập trạch là dọn vào nhà mới. Lễ nhập trạch tương đương việc “đăng ký hộ khẩu” với thần linh, thổ địa đang cai quản ngôi nhà. Đây là một nghi lễ cổ truyền khá quan trọng của dân tộc ta được lưu truyền từ ngàn đời qua.

    Vậy ý nghĩa của lễ nhập trạch là gì? “Đất có thổ công, sông có hà bá”. Quan niệm từ ngàn xưa của ông bà ta cho rằng, mỗi một vùng đất, khu vực đều có thần linh trấn quản. Vậy nên việc chuyển đi hoặc đến đều phải làm lễ trình báo xin phép, có như vậy mới được chấp thuận, cuộc sống gia đình, công việc sau này theo đó mới “thuận buồm xuôi gió”.

    Một ngày tốt chuyển nhà nên hội tụ đủ các yếu tố: Thuận lợi cho chủ nhà, là ngày hoàng đạo đẹp, nếu là ngày hợp với tuổi mệnh của gia chủ thì càng tuyệt vời. Bạn có thể tham khảo danh sách ngày đẹp nhập trạch mà Saigon Expss đã tập hợp sẵn.

    • Ngũ quả: Lựa chọn 5 loại trái cây tươi ngon theo mùa, ít hơn hoặc nhiều hơn 5 cũng được, miễn sao mâm trái cây tươi ngon và đẹp mắt.

    • Hương hoa: Gồm lọ hoa tươi cúng nhà mới (hồng, cúc hoặc ly), cặp đèn cầy, nhang, trầu cau, vàng mã, 3 hũ nhỏ đựng muối gạo và nước.

    • Mâm cơm cúng chuyển nhà: Phụ thuộc vào quan niệm thờ cúng mà bạn có thể chọn mâm cơm chay cúng chuyển nhà hoặc mâm cơm mặn. Nếu là mâm cỗ mặn thì gồm bộ tam sên (1 miếng thịt luộc, 1 con tôm luộc và 1 trứng vịt luộc), gà luộc hoặc heo quay, xôi hoặc cháo, các món mặn khác tùy ý.Nếu là mâm cơm chay thì có thể làm theo gợi ý sau: rau củ xào, canh rau củ, đậu hũ, xôi đậu, chè, bánh kẹo,….

      Ngoài ra mâm cơm cúng nhập trạch còn có thêm 3 ly trà, 3 ly rượu, 3 điếu thuốc.

    Mâm cúng nhập trạch mặn hay chay, đơn giản hay cầu kỳ phụ thuộc vào quan niệm và điều kiện của mỗi gia đình

    Văn khấn nhập trạch khi chuyển nhà gồm 2 phần là văn khấn thần linh và gia tiên. Lưu ý cần đọc văn khấn thần linh trước khi đọc văn khấn gia tiên. Bài văn khấn trình bày mong muốn của gia chủ, xin phép chuyển nhà, chuyển bàn thờ đến nhà mới. Cần đọc rành mạch với thái độ thành tâm. Hai bài văn khấn khá dài. Bạn có thể tham khảo chi tiết nội dung bài văn khấn!

      Theo thủ tục nhập trạch thì các thành viên khi bước vào nhà sẽ không được đi tay không, ai cũng phải cầm theo các đồ vật may mắn như: Chổi mới, bếp nấu (như bếp gas, bếp dầu, không dùng bếp điện vì dân gian quan niệm bếp điện có tinh mà không có tướng, tức có nhiệt mà không có ngọn lửa nên không tốt), gạo, muối, vàng, tiền bạc, các vật may mắn khác,…

    Việc đầu tiên trong lễ nhập trạch cần làm là đốt lò than và đặt ngay cửa ra vào. Để tiết kiệm thời gian, bạn có thể đến nhà mới đốt lò trước khi xe chuyển nhà tới.

    Theo quan niệm dân gian, nam trụ cột trong gia đình nên là người cầm bát hương vào nhà và làm lễ nhập trạch

    • Gia chủ muốn chuyển nhà trước nhập trạch sau xin tham khảo các nguyên tắc và lưu ý !

    • Nếu bạn chỉ nhập trạch lấy ngày và chưa chuyển đồ về ngay, thì các bước tiến hành tương tự, xem như là chuyển bàn thờ gia tiên và thần linh về trước, đồ đạc sẽ chuyển về nhà sau. Tốt nhất nên ngủ lại 1 đêm. Trong thời gian chờ đợi cũng nên thường xuyên đến thắp nhang và trông nom để tạo sinh khí.

    Nếu bạn nhập trạch nhà chung cư cần hỏi kỹ về quy tắc phòng cháy chữa cháy để tuân thủ đúng

    • Lễ nhập trạch nhà thuê, nhà trọ là không bắt buộc và tùy vào niềm tin của mỗi người. Có người cho rằng mình chuyển tới nơi ở mới, bàn thờ tổ tiên, thần linh cũng chuyển đi nên việc làm lễ khấn nhập trạch nhà trọ, nhà thuê là cần thiết. Lại có người cho rằng nhà thuê là nhà cửa, đất đai của người khác, mình chỉ là người ở tạm nên không cần làm lễ. Tuy nhiên, nếu bạn muốn vẫn có thể thực hiện bình thường theo các bước trên. Cách làm lễ nhập trạch nhà chính chủ và nhà thuê là như nhau.

    • Nghi thức xông nhà mới : Không bắt buộc trong nghi thức nhập trạch, nhưng nếu muốn bạn có thể thực hiện để xua đuổi tà khí và làm không khí trong nhà lưu thông. Chỉ cần mua một ít thảo dược, trầm hương, đốt trong lư hương (hoặc nồi nhỏ) và xông khắp nhà, đặc biệt xông ở các khu vực ẩm thấp, các ngóc ngách.

    • Trấn nhà: Dùng đá phong thủy hợp mệnh, hoặc tiền xu (Thường là 8 đồng), chia ra chôn 4 góc nhà để cầu may mắn, sung túc. Nhưng hiện tại các nhà đều xây cố định, lót gạch và thậm chí nhà có hình thù phức tạp, không rõ góc nhà. Vậy nên bạn có thể cho vào các hủ nhỏ, bọc vải đỏ và đặt ở các góc nhỏ khuất trong nhà, nhiều hơn 4 cũng được.

    • Treo chuông gió: chuông gió (phong linh) theo quan niệm dân gian sẽ có tác dụng luân chuyển không khí, xua tà khí, hút tài vận. Đường quên tham khảo Hướng dẫn chi tiết cách chọn và treo chuông gió trong nhà mới !

    • Trong bài viết, bạn được hướng dẫn làm lễ nhập trạch tại nhà mới. Nhưng trước khi chuyển đến, bạn phải xin phép chuyển bàn thờ gia tiên và thần tài, thổ địa. Nếu chưa rõ thủ tục chuyển bàn thờ và bốc bát hương từ nhà cũ sang nhà mới thì tham khảo !

    • Chuyện bà bầu có nên chuyển nhà và người tuổi Dần kiêng kỵ chuyển nhà tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người. Tuy nhiên theo Saigon Expss, nếu gia chủ cẩn thận, có lòng thành và tuân thủ những gì cần làm trong lễ nhập trạch thì phụ nữ mang thai hay người tuổi Dần đều có thể tham gia chuyển nhà!

    • Hãy luôn giữ tinh thần thoải mái vui vẻ, nói những điều tốt đẹp trong thời gian nhập trạch. Làm mọi việc cẩn thận, tránh rơi ngã đồ. Nếu cẩn thận có thể thuê dịch vụ chuyển nhà trọn gói để giảm thiểu các sự cố và tiết kiệm thời gian.

    • Không ngủ trưa lại nhà mới vì đó là biểu hiệ n của sự lười biếng, ù lì, đây là điều bạn cần biết để tránh khi nhập trạch.

    • Lưu ý vấn đề cháy nổ khi đốt vàng mã hoặc đốt lò than

    Trong ngày làm lễ cúng chuyển nhà, luôn giữ tinh thần vui vẻ thoải mái

    Thực ra cần làm trong nghi lễ chuyển nhà mới khá đơn giản, do đó bạn có thể tự cúng nhập trạch tại nhà. Nếu gia đình nào có điều kiện hoặc chuyển dọn nhà với quy mô lớn và đặc biệt tin vào phong thủy thì có thể mời thầy cúng nhập trạch. Nhưng chung quy lại, việc làm nghi lễ cúng nhập trạch đều thể hiện lòng thành của chủ nhà, vậy nên dù tự cúng hay mời thầy đều phải thành tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Nhập Trạch Chuyển Về Nhà Mới Cần Chuẩn Bị Những Gì?
  • Nhập Trạch Cần Chuẩn Bị Những Gì?
  • Chuẩn Bị Gì Trong Lễ Nhập Trạch?
  • Bạn Đã Biết Lễ Nhập Trạch Gồm Những Gì Chưa
  • Nhập Trạch Là Gì? Mâm Cúng Lễ Nhập Trạch Gồm Những Gì?
  • Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên Và Những Điều Cấm Kỵ Trong Nhân Gian Cổ Đại Bài Cuối

    --- Bài mới hơn ---

  • Minh Béo Bị Đồng Nghiệp Hắt Hủi Khi Đi Cúng Tổ Nghề
  • Cúng Tổ Nghề, Phi Thanh Vân Bị Chỉ Trích Vì Lý Do Này
  • Agribank Tăng Khả Năng Tiếp Cận Vốn Của Khách Hàng Thông Qua Tổ Vay Vốn
  • Vay Tiền Nhanh Tại Đắk Lắk Với Thủ Tục Đơn Giản Cùng Thời Gian Giải Ngân Nhanh
  • Cho Vay Có Phải Nghề Tà Mạng?
  • Bài Cuối 越南道教道士 越南道士 NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ CHĂN NUÔI

    Trồng dâu nuôi tằm là một điểm đặc sắc lớn trong kinh tế canh nông của người xưa từ xưa đến nay. Bắt đầu từ thời nhà Thương, người ta đã liệt thần Tằm vào đại điển tế tự. Dân gian cho rằng, tằm là một động vật cực kỳ nhõng nhẽo, lại rất thần thánh và có tính linh, nếu có chút chểnh mảng không cẩn trọng thì cũng khiến cho chúng bị tổn thương.

    Trong “U phong quảng nghĩa”, người Thanh có viết: “Buồng tằm nhất thiết không được mở ra phía sau: vì tằm thuộc loại hóa khí, mùi thơm có thể làm tán khí, mùi hôi thối có thể làm kết khí, vì vậy, khi tằm ngửi thấy mùi thơm thì sẽ bị mềm nát, ngửi thấy mùi thối thì cứng lại. Phàm là những thứ có mùi thơm như xạ hương, đàn hương, linh lăng… và những vật có mùi hôi như hành, hẹ, tỏi, kiệu,… thì đều cấm không được mang vào buồng tằm. Kỵ gió Tây Nam, kỵ đốt đèn, đốt giấy trong buồng, kỵ thổi tắt khí của khói dầu, kỵ gõ vào những vật có thể phát ra tiếng kêu như cửa, cửa sổ, vành nong; kỵ để ánh đèn chiếu vào khe cửa sổ buồng tằm vào ban đêm; kỵ mang rượu giấm vào và cũng kỵ để người uống rượu vào trong buồng; kỵ chiên xào thịt; kỵ gió lạnh quét vào lúc nóng nực; kỵ giã đồ gần bên; kỵ kêu khóc trong buồng tằm, kỵ những lời ô uế dâm tà; dùng lửa lớn khi trời đang rét; kỵ bỏ dao vào trong nong; kỵ người không sạch sẽ bước vào buồng tằm; kỵ nước tràn xuống lửa; kỵ nướng những vật có mùi khét như xương, lông lợn; kỵ mở cửa sổ đón gió; kỵ tất cả những khí có mùi tanh; kỵ khí đá vôi bị nung; kỵ khí lưu huỳnh bị đốt, kỵ mở cửa một cách vội vã, kỵ ném thải những vật ra xa, kỵ những lá đẫm nước, kỵ những lá dâu đẫm sương lạnh hay những lá khô; kỵ nóng nực, hanh khô. Những điều kiêng kỵ trên đều cần phải chú ý đến, nếu không thì tằm sẽ không nằm yên trong nong, sẽ bò ra ngoài mà chết”. Từ đó có thể thấy rằng, các triều đại nhà Nguyên, Minh, Thanh, các cấm kỵ về việc nuôi tằm thì ngày càng nhiều và rõ ràng hơn. Lá dâu nuôi tằm cũng phải dùng kéo sắt để cắt, kỵ không được dùng tay hái. Mà khi dùng kéo cắt thì cũng phải đợi khi mặt trời mọc, hơi ẩm bốc hết thì mới được tiến hành cắt lấy, kỵ cắt lấy những lá dâu đẫm hơi nước và sương. Có những cấm kỵ về việc nuôi tằm, như người vùng Sơn Đông thì kỵ không động thổ buồng tằm khi đã xuất tằm; kỵ người già, sản phụ bước vào buồng tằm, kỵ ngủ trong buồng tằm, e rằng tằm cũng trở nên lười nhác không chịu nhả tơ làm kén.

    Những hộ nuôi tằm ở vùng Triết Giang nếu thấy rắn bò vào buồng tằm thì kỵ không được hô hoán, đuổi đánh. Vì họ cho rằng Thanh Long giáng lâm, thì sẽ đem lại cái phúc cho nghề tằm, nên phải khấu bái, cúng chay, để nó tự đi.

    Nuôi lợn cũng là một nghề phụ phổ biến rất được nông dân xem trọng, nó là một “con đường giàu sang”, “con đường tiền tài” của người nghèo. Rất nhiều những cấm kỵ trong nghề nuôi lợn cũng đã hình thành nên tập tục trong dân gian.

    Xây hàng cột rào lợn cũng phải hết sức thận trọng, tục thời xưa còn mời cả thầy phong thủy đến để lựa chọn phương vị tránh sát khí, chọn ngày tốt để phá thổ động công, chiêu đãi thợ xây như chiêu đãi khách quý. Tục quy định, khi châm trà, dâng rượu, gắp thức ăn và tặng tiền cho thợ xây thì không được nói chuyện. Đặc biệt là, phong bì đựng tiền không được dán kín cả hai đầu, và phong bì cần phải để trên cột rào ở chuồng lợn mà không trực tiếp giao cho thợ. Khi thợ xây nhận phong bì đựng tiền thì cũng không được nói năng gì cả. Người ta cho rằng, làm như thế để làm yên hàng cột, khiến lợn mau lớn. Có nơi, khi làm xong nền hàng cột, khi mời thợ xây đến để làm hàng rào thì thợ cần phải ăn điểm tâm ngay ở hàng cột rào, không được từ chối, và phải ăn cho hết để tỏ ý là sau này lợn sẽ ăn hết bữa ăn. Nếu như thợ xây ăn không hết thì gia chủ sợ rằng, sau này lợn sẽ biếng ngủ biếng ăn, nên sẽ nhặt phần thức ăn còn lại ăn cho kỳ hết ngay tại hiện trường. Những người chủ nhà mà là người già thì cho rằng như thế đã phạm vào cấm kỵ, nên vội vàng chạy ra giành lấy phần thức ăn đó, đến nằm trong hàng cột mà ăn ngấu nghiến cho đến hết, sau khi ông ta đã ăn xong thì không ai được kéo ông ta dậy, vì cho rằng như thế, sau này lợn sẽ không những ham ăn mà còn tranh ăn, ăn xong rồi ngủ, ngủ rồi lại ăn, lớn rất nhanh. Do vậy, thợ xây hàng cột rào cho lợn cũng phải cẩn thận, có nơi còn phải phun nước thần trước khi khởi động công trình, khiến “thiên sát quy thiên, địa sát quy địa” (khí sát ở Trời thì về Trời, khí sát của Đất thì về Đất”. Có nơi còn vạch chữ “tỉnh” ( 井 ) lên nên đất để ép “sát khí”, để đảm bảo được bình an. Có nơi, người ta còn chú trọng đến vật liệu làm hàng cột rào, thường là chọn gỗ cây phong, tục cho rằng nếu dùng gỗ cây phong làm cột rào thì sẽ khiến cho lợn “phong xuy dạ trưởng” ( 風吹夜長 : qua đêm đã lớn như gió thổi). Khi đóng cọc rào, bất kỳ là ai cũng không được bước ngang qua hàng cột rào ấy, mà phải chui qua hàng cột với một thái độ cung kính rất mực, nếu không, sau này lợn cũng sẽ nhảy qua hàng cột rào, như thế thì không tốt.

    Sau khi làm xong hàng cột rào mới mua lợn con về. Khi mua lợn con, cũng phải chọn lựa ngày lành. Tục cho rằng “ngày tai”, “ngày đuôi” đều là những ngày tốt, bảo là “tai đuôi thì lớn như gió thổi”; “ngày miệng”, “ngày lưỡi” mà mua lợn về là không tốt, bảo rằng “miệng lưỡi ắt phải chết”. Mua lợn phải lựa ngày tốt lành, thích ngày chẵn và kỵ ngày lẻ. Kỵ mua lợn có đầu quá lớn, tục cho rằng những con lợn như thế sẽ chậm lớn.

    Những hộ nuôi lợn nái thường đều kỵ không giết lợn nái, người ta cũng thường kỵ ăn thịt lợn nái, cho rằng, thịt lợn nái có “độc”, ăn vào sẽ sinh bệnh. Ở một vài hộ, khi lợn nái đã già, thì mời thầy thiến lợn đến để thiến nái, đợi khi nuôi cho mạnh lên rồi mới được giết, tục gọi là “bà lợn già bị thiến một dao”.

    Khi muốn ăn thịt lợn nuôi thì đợi đến lúc lợn mạnh khỏe mới giết. Trong dân gian, việc giết lợn cũng có nhiều cấm kỵ. Lưu hành nhất là giết lợn đầu năm năm. Giết lợn thì không được nói là “giết”, mà phải gọi là “xuất chuồng”. Xuất chuồng vào ngày sửu mới được xem là tốt, kỵ không giết vào ngày tý, để tránh sau này lợn nuôi chỉ bé bằng con chuột, mà chỉ mong cho nó lớn như con trâu vậy. Khi xuất chuồng, cần phải cúng tế “thần rào lợn”, và chúc nó kiếp này làm lợn, kiếp sau làm người, khi giết lợn đầu năm thì kỵ không có dây buộc, để lợn chạy qua nhà người. Vì có người tin rằng “lợn đến thì nghèo”, chủ nhà chỉ đành “treo vải đỏ”, đốt pháo để cáo lỗi, sau đó mới có thể dẫn lợn trở về. Khi xuống dao giết lợn, người đồ tể sẽ nói “xuất thế làm người”. Trẻ em và phụ nữ cấm không được nhìn. Có nơi, người phụ nữ nuôi lợn sẽ đứng ở cửa kêu lên “Lợn về đi!”, tỏ ý lợn không đi, mỗi năm đều có thể có lợn để giết thịt. Chủ nhà đều hy vọng là một nhát dao giết chết lợn đầu năm, ộc ra máu đỏ tươi và có lẫn bọt bóng, người ta bảo rằng, đó là điềm “huyết tài tốt”, nuôi lợn sẽ rất hưng thịnh, kỵ một nhát dao giết không chết lợn. Nếu giết một dao, máu ộc ra, lợn giãy giụa lăn xuống đất nhưng lại không chết, thậm chí còn chạy đi, thì cần phải giết thêm một nhát dao nữa; hoặc khi máu đỏ có sắc đen, bọt bóng không đỏ cũng không trắng; hoặc là khi cạo lông mà trong mõm lợn vẫn còn khí thở và có tiếng thở nhè nhẹ, người ta gọi đó là tiếng than thở của lợn, đều là những điềm không tốt, gia chủ lo sợ rằng, năm sau nuôi sẽ không được hưng thịnh, lại vừa lo rằng, nếu đó là lợn Linh Quan, thì không được giết. Khi giết thì cần phải “hóa thân” (hóa trang), dùng nhọ nồi, mực… để bôi lên mặt, lấy áo trùm lên đầu, và đội lên cái nón lá, lưng thì mặc áo tơi, chân thì mang giày, giết mạnh bằng một nhát dao rồi quay mình mà chạy đi. Cấm không được giết lợn Linh Quan ngay trong phòng, mà phải giết ở nơi góc đường. Máu của nó không được dùng để cúng thần, cũng không để người ăn, cứ để cho nó chảy đi. Sau khi giết chết rồi thì phải đợi ít nhất là nửa tiếng đồng hồ sau mới có thể khiêng về trong nhà.

    NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ SĂN BẮN Săn bắn là một nghề mưu sinh có từ thời xa xưa, rất nhiều các tộc người của xưa đều có lịch sử săn bắn rất lâu dài. Trong nghề săn bắn cũng có rất nhiều tập tục cấm kỵ.

    Trước khi đi săn, thợ săn phải tiến hành nghi thức tế tự, cúng hiến thần săn. Những người thợ săn còn tin rằng, dã thú có linh tính, vì vậy mà thường thì không dám gọi thẳng tên của chúng, mà phải gọi với một cái tên khác. Ví dụ, người ta gọi hổ là con “đại trùng”, là “thần”; còn gấu thì gọi là “lão gia”, “lão gia tử”… Họ còn tin rằng, dã thú có khả năng dự báo trước những sự việc, nếu thợ săn không tuân thủ nghiêm chỉnh những cấm kỵ nào đó thì dã thú có thể biết được phương hướng hành động của thợ săn mà chạy đi mất. Ví dụ như, người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc thì đều cấm kỵ việc nói cho người khác biết chuyện mình đi săn trước khi đi săn, cấm kỵ nói “chúng ta đi đặt bẫy”. Và càng cấm kỵ không nói cho người khác biết nơi chốn và phương hướng đi săn, ngay đến người trong nhà cũng không ngoại lệ.

    Trong thời gian săn bắn, thợ săn người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc cấm kỵ không nhắn thư cho người nhà, và người nhà cũng không được nhắn đến, nếu không thì không có lợi cho việc săn bắn. Khi săn thú, cấm kỵ không được dùng cây gậy để vắt ngang lên trên đường đã đi qua, khi cần dùng gậy để là dấu hiệu thì cũng phải để thuận chiều. Người ta nói rằng, nếu để gậy ngang đường thì sẽ khiến cho việc săn bắn gặp nhiều trở ngại, không thuận lợi. Việc nhóm củi lửa khi săn cũng cấm kỵ để củi cháy sụp xuống, vì cho rằng củi lửa bị sụp sẽ làm động đến Sơn thần gia (Bạch Tra Na) khiến việc săn bắn không có hiệu quả. Củi dùng để nhóm lửa nên ngắn, kỵ dài, vì nếu củi nhóm mà dài thì số ngày đi săn cũng sẽ bị kéo dài ra. Trong thời gian săn bắn, người ta kiêng kỵ tất cả mọi tiếng động. Không được ca hát, nhảy múa hay nói chuyện lớn. Khi đi săn, người Ngạc Luân Xuân cấm không được huýt gió tùy tiện, vì người ta cho rằng, nếu làm như thế thì sẽ gây gió lớn; khi đi săn, người Ngạc Ôn Khắc cấm kỵ không được kéo động cái nồi lúc nấu cơm, khi bới cơm thì cũng không được cạo nồi gây ra tiếng vang. Khi gặp dã thú thì cũng không được chỉ trỏ, nói năng bừa bãi.

    Khi đi săn, người Ngạc Luân Xuân và người Ngạc Ôn Khắc còn kỵ giữa những người đi săn với nhau mà tạo nên sự mất đoàn kết, kỵ cãi nhau và đánh nhau khi ra đi săn, nếu không thì nhất định sẽ không gặp được con thú nào. Nếu có hai đoàn người đi săn gặp nhau thì phải hợp lại làm một, cùng nhau vây thú, và chia thú đồng đều cho nhau. Nhưng thời gian tối đa mà hai đoàn người đi săn này sáp nhập với nhau là một hoặc hai ngày, sau đó sẽ phân rẽ ra. Khi săn thú, nếu gặp dã thú thì không được tranh bắn thú trước, nếu không, không ai có thể tìm ra được con thú bị bắn ấy. Sau khi săn được hươu, ngạn thì cần phải xóa sạch vết máu, vết dơ lưu lại trên đất. Tại hiện trường đợi thú săn, thì không được vứt đầu thuốc, vỏ đạn, phân, một phần là e rằng sẽ gây ảnh hưởng cho người đi săn đến sau.

    Khi săn thú, người Ngạc Luân Xuân còn cấm kỵ không được bắn con dã thú đang giao phối, vì cho rằng, khi bắn loại thú này thì sau này sẽ không thể nào săn được những con thú khác nữa. Nhưng nếu đợi đến khi con dã thú giao phối xong thì lại có thể bắn nó.

    Đối với một số tộc người, khi săn bắn thì người ta còn sợ gặp phải sự quấy nhiễu của người ngoài hoặc của thần linh ngoài thần săn bắn. Ví dụ như, khi đi săn thì người Lạc Ba kỵ gặp phải người ngoài, nếu nhỡ gặp phải thì phải nhẹ nhàng tránh đi. Vũ khí săn bắn cũng kỵ để người ngoài nhìn thấy, nếu không, họ cho rằng linh hồn của người lạ sẽ cướp con thú đã săn được đi, khiến họ có săn mà không có thú. Người Ngõa thì kỵ không cho người khác mượn súng và cung mà bản thân mình chưa dùng qua, nếu không, bản thân người chủ sẽ không bắt được thú. Người Ngạc Luân Xuân cũng cấm vẩy rượu lên lửa trong lồng vào lúc săn thú.

    Đối với người Ngạc Luân Xuân, trong khi săn bắn mà săn được một con hươu, một con ngạn hoặc một con lợn rừng, thì đầu tiên cần phải tế Sơn thần tại nơi ấy. Nếu không dùng con vật ấy để tế thì trong khi săn, thợ săn sẽ bị bệnh hoặc săn không được thú. Đối với thợ săn của vùng núi Trường Bạch, mỗi khi bắn trúng một con hươu đực, cần nhanh chóng chạy đến và ôm đầu hươu, nhằm phòng tránh hiện tượng do bị thương mà hươu làm gãy nát nhung hươu. Khi săn hươu đực thì kỵ những con hươu có nhung chưa lớn. Bình thường khi săn “thái vi”, tức chỉ tìm một con thú để săn, như báo chẳng hạn, thì cấm kỵ nhất là giết hươu đực, hươu cái. Thời xưa, người Tích Bá cấm kỵ săn giết cáo. Người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc khi săn được con dã thú lớn, như gấu, lợn rừng… thì khi mổ bụng lấy nội tạng ra, trái tim và lưỡi cần phải để ở cùng một chỗ. Chỉ khi nấu ăn chín thì mới được chặt thịt ra, nếu không, sau này sẽ không săn được loài dã thú này nữa.

    Người Ngõa khi đi săn, họ chấp hành câu cách ngôn người gặp cũng có phần” một cách rất nghiêm túc, kỵ chia thiếu phần. Nếu không, đó chính là một sự miệt thị rất lớn đối với người bạn săn, sẽ dẫn đến tranh chấp. Tục này còn cho rằng, khi đi săn trên núi cao, thì thịt của mỗi bữa ăn cần phải ăn cho hết, không được mang trở về nhà.

    Người Ngạc Luân Xuân và người Ngạc Ôn Khắc có nghi thức sùng bái và một vài cấm kỵ rất đặc biệt đối với gấu. Sau khi thợ săn săn được gấu thì không được nói “săn trúng rồi”, mà phải nói rằng “thật là đáng tội nghiệp cho tôi”. Gấu bị bắn chết không được nói là “chết rồi”, mà phải nói thành “bố thổ cáp”, hoặc “a phạ kháp”, tức có nghĩa là “thành rồi”, hoặc “ngủ rồi”. Ở bãi săn, sau khi đã săn được gấu thì đầu tiên, người già sẽ đến để xem đó là gấu đực hay gấu cái, cấm trai tráng đếm xem. Bởi vì sinh thực khí của gấu hoàn toàn giống với của người, cho rằng, nếu để thanh niên trái tráng đếm xem thì sẽ mắc bệnh đái gắt. Khi lột da thì phải dùng tấm thảm hoặc những thứ khác để đậy lên phần thân dưới của gấu. Nếu là gấu đực thì đầu tiên là cắt tinh hoàn treo lên trên cây, sau đó mới lột da. Người ta cho rằng, chỉ có như vậy thì gấu đực mới thành thực khi gặp người. Đồng thời, phải đẩy máu động mạch về tim, không được cắt đứt động mạch. Sau khi moi lấy ruột ra và quấn ba vòng quanh đầu gấu thì mới được cắt cổ gấu. Không được ăn thịt đầu gấu, sau khi cắt ra thì dùng cỏ quấn lại, để lên trên giá cây tiến hành nghi thức phong táng. Những người thợ săn còn phải quỳ lạy đầu gấu, kính hương, dập đầu trước gấu và cầu xin thú săn trước đầu gấu, đồng thời, phải dùng khói hương hơ đầu gấu. Sau đó, cầm tấm da gấu đi qua cửa của từng nhà để cho gấu từ biệt mọi người, tấm da gấu ấy sẽ được tặng cho người già. Khi trở về nơi khiêng gấu đi, thì còn phải giả bộ khóc lóc. Phải dùng ngựa thiến để thồ gấu đi, không được dùng ngựa cái hoặc ngựa đực để thồ gấu. Thịt gấu phải được người của cả thôn cùng ăn. Con dao cắt thịt gấu không được gọi là dao, mà phải gọi là “khắc nhĩ căn cơ”, ý nghĩa là con dao cùn cắt không đứt gì cả. Cây súng bắn chết gấu thì cũng không được gọi là súng, mà phải gọi là “hô ông cơ”, ý là công cụ bắn không chết một loài động vật nào, hoặc gọi là “ống thổi (khạc) lửa”. Khi ăn thịt gấu, trong miệng phải phát ra tiếng “chách chách, cụp cụp”, tỏ ý rằng không phải họ đang ăn thịt gấu, mà là con quạ đang ăn vậy. Hai chân trước của gấu thì đàn ông không được ăn. Nếu đã ăn rồi, thì sau này gấu sẽ cướp mất súng săn. Đối với đầu gấu, tim gấu và nội tạng của gấu thì cho dù bất kỳ là ai thì cũng không được ăn, mà phải phong táng cùng với xương còn lại sau khi ăn. Khi phong táng, mọi người cần phải ra vẻ đau thương khóc lóc, và còn phải dập đầu, kính hương, cầu chúc.

    NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ ĐÁNH CÁ Những người sống gần sông rạch, hồ, biển đa phần là những người sống bằng nghề đánh cá. Nguồn tài nguyên thủy sản phong phú như cá, tôm, trai, cua đều là mục tiêu đánh bắt và là điều kiện mưu sinh của ngư dân. Việc làm ăn trường kỳ trên sông nước đã khiến cho con người kết một duyên kiếp không thể nào dứt ra được với những công cụ đánh bắt như thuyền, lưới… Những điều mê tín trong phương thức sử dụng công cụ và phương thức đánh bắt, cùng với ý thức cầu cát tỵ hung thể hiện trong tín ngưỡng và ngôn ngữ thuộc nghề đánh cá đã tạo nên những cấm kỵ dân gian.

    Thuyền là một công cụ quan trọng trong nghề đánh bắt thủy hải sản. Người và thuyền được gắn liền nhau, thuyền là “sợi dây sinh mệnh” của ngư dân. Ngư dân thường nhân tính hóa, sinh mệnh hóa con thuyền, ở hai tuyến giữa ngang và dọc dưới thuyền thì tuyệt đối không được đóng đinh, người ta nói rằng, nếu đóng đinh lên hai tuyến giữa thì sẽ khiến cho tính đực của thuyền sẽ lớn lên, khi ở trên biển mà tính đực của thuyền phát tác thì khó mà khống chế được, nó sẽ chủ động đụng húc vào thuyền khác, gây nguy hại đến sự an toàn của con người. Ngoài ra, khi đóng thuyền, người ta có cách nói “đầu không đụng vào cây dâu, chân không đạp vào cây hòe”, có nghĩa là, khi đóng thuyền thì không dùng gỗ cây dâu làm mũi thuyền, không dùng ván cây hòe làm đuôi thuyền. Bởi vì “cây dâu” ( 桑 tang) đồng âm với “tang” ( 丧 tang tóc), phạm vào kỵ húy, vì thế mà tuyệt đối không được dùng gỗ cây dâu đóng mũi thuyền. Cây hòe tượng trưng cho điều phúc, nên không được dùng để đóng đuôi thuyền, e rằng sẽ giẫm phải lên điều phúc.

    Những cấm kỵ về thuyền của ngư dân Đông Hải lại rất đặc biệt. Trước khi ra biển, những đồ vật chỉ có thể đưa vào trong thuyền mà không được mang từ trong thuyền ra. Vào buổi tối, nếu ngư dân đưa nhầm mùng mền của mình vào thuyền của người khác thì cũng không thể trả về, đợi đến khi cho thuyền chạy ngược lại thì mới đem trả mùng mền lại. Sau khi ngư dân lên thuyền thì không được mang giày, không rửa mặt. Bất luận là vào mùa đông hay mùa hè thì cũng chỉ được mặc quần đơn, khi mùa xuân đến thì anh cả (lão đại) trong thuyền mới mới quần dài, tất cả anh em cùng làm ăn trong thuyền chỉ mặc quần cộc, vì như thế thì mới dễ dàng nhận ra ai là anh cả trong thuyền.

    Khi làm ăn trên thuyền, làm việc gì cũng phải làm dấu hiệu, tất cả đều có luật vận tiết tấu của nó, nhưng khi gặp gió to thổi tốc mái che thì không cần dùng dấu hiệu. Khi kéo lưới bắt cá thì không được thò tay bắt đuôi cá, mà phải bắt đằng đầu, ngụ ý rằng, bắt đầu cá thì sẽ hốt được cả bầy cá. Theo tục xưa, ngư dân vùng Hoàng Hải rất sùng kính Long vương, Thiên hậu và Sở Thái gia. Trên mỗi một chiếc thuyền còn có “lão tiên sinh”, như “gia đường bồ tát”, ngày thường, anh em sẽ bưng cơm đến cúng. Khi sửa thuyền, cần phải dùng ván khoang hoặc những vật khác để dựng tạm một “miếu đường” trên bãi biển, đây cũng chính là nơi cấm kỵ như nơi cấm kỵ ở trên thuyền, những sinh hoạt ngày thường cấm không được tiến hành ở nơi này. Khi sửa thuyền xong và cho xuống nước, thì cần thỉnh “lão tiên sinh” và bài vị lên thuyền. Tương truyền rằng, “lão tiên sinh” chính là người trên thuyền bị lâm nạn trong thời gian trước kia, do vậy mà ông ấy biết dạy cho mọi người phải giữ gìn tuân thủ cấm kỵ như thế nào, để tránh không cho xảy ra những điều bất hạnh ấy nữa.

    Tục có câu “trong nửa tấc ván là nhà mẹ đẻ, ngoài nửa tấc ván là phủ Diêm vương”, khi làm việc trên thuyền, thì khó có thể biết rằng khi nào sẽ có điều bất trắc xảy ra, luôn ở trong biên giới của sự nguy hiểm, vì thế mà những cấm kỵ càng nhiều, càng nghiêm.

    Nhà có thuyền thì gọi là thuyền hộ 船户 , một số thuyền hộ lớn có thể kiêm cả một số nghề công thương khác, theo cách nói của xã hội thì có thể gọi đấy là “ông chủ” (lǎo bǎn), nhưng ở đây, người ta kỵ không nói như vậy, vì “ông chủ” (lǎo bǎn 老闆 ) lại đồng âm với “vớt ván” (láo bǎn 撈版 ), chỉ khi thuyền gặp gió lớn trên mặt biển, sau khi thuyền bị gió giật vỡ thì người vớt ấy mới được gọi là “vớt ván”, nếu gọi là “ông chủ” thì sẽ phạm vào ngôn ngữ cấm kỵ của người trong thuyền hộ. Trên thuyền, người ta kỵ nhất là những chữ “lật, chìm, vỡ, dừng, xa, tán, lộn ngược, lửa”

    Khi nói đến chữ “phàm bồng 帆蓬 ” (fan péng – buồm) thì người ta chỉ nói đến chữ 翻 bồng, mà không được nói đến chữ “phàm”, vì nó đồng âm với chữ “phiên” (fan – lật ngược). Khi kéo vật từ trên cao xuống, hay lật ngược những vật đang đựng xuống thì không được nói là kéo hay lật ngược, mà phải gọi là “tiểu 小 “. Hạ buồm xuống thì gọi là “tiểu bồng 小蓬 “; gác chèo xuống thì gọi là “tiểu nguy 小桅 “. Hạ buồm xuống một phần thì gọi là “tha bồng 擦蓬 “, hạ xuống 1/5 thì gọi là “tha lương đại bả giác” (xoa hai góc lớn 擦梁大把角 ); buông ½ thì gọi là “tha lương tiểu bả giác” (xoa hai góc nhỏ 擦梁大把角 ); hạ xuống đến mức thấp nhất chỉ còn khoảng 1/10 thì gọi là “tha đáo ma ma sí” (xoa đến cánh ma ma 擦到媽媽翅 ). Khi kéo vật từ dưới thấp lên cao thì kỵ không nói là kéo hay lôi, mà phải nói là “nâng”, “giơ”, “nâng buồm”, “bắt neo”. Nếu muốn chuyển đề tài hoặc đổi đầu thì nói nói chữa thành “chuyển một sào chống”, chữ “lật ngược” bị cấm kỵ một cách rất rõ ràng. Những thứ như cái búa, con dao, dao đá, cái kéo đều được gọi là “anh chàng nhanh nhẹn”. Cá chết rồi thì gọi là “cá thẳng rồi”.

    Trong thuyền không được chở người chết, tục cho rằng như thế sẽ không tốt. Người ta còn cấm chữ “tắm 洗 “, ví dụ như khi tắm gội thì nói là “gội một chút mát mẻ 沖涼 “, vào sáng sớm thì kỵ những chữ như “cọp”, “khỉ”, “ma”. Nếu có chút không cẩn trọng thì chủ thuyền sẽ trách mắng. Chống cái gì hoặc đệm cao cái gì đó thì đều gọi là “nâng cao một chút”. Khi thuyền cập bến hoặc vào cảng, thì gọi là thu bờ, thu cảng, thu cửa; người ngủ trên thuyền thì gọi là “khải giác 凱覺 “, ngủ một lát thì gọi là “khải nhất hội 凱一會 “. Khi ở trên thuyền, cầm vật mà không cẩn thận để vật rơi xuống, thì không được hốt hoảng la lên rằng “oái oái”, càng không được nói “oái, vuột tay mất rồi”, trên thuyền tối cấm kỵ nói đến chữ “vuột tay”, vì đó là biểu hiện của hiện tượng không cứu được người chết đuối. Nếu có người không biết hoặc vô ý mà phạm phải cấm kỵ này thì cần phải đến anh cả (lão đại) của thuyền mà hung hăng đánh ông ấy một bạt tai, người bị đánh không được có phản ứng gì, người khác thì cảm thấy đánh như vậy là đáng, và đánh càng mạnh thì càng tốt. Vì đánh bạt tai khiến cho người ta có thể khu trừ xui xẻo, đánh càng mạnh thì xui xẻo càng bị trừ sạch sẽ.

    Ở Thượng Hải, những lời kiêng kỵ thì không được nói, những việc cấm kỵ thì không được làm. Hải Châu dân tục chí” có đoạn viết giới thiệu về ngư dân như sau: “Những đồ gia cụ, những sọt cá khi hong phơi thì chỉ được để miệng đồ hướng lên phía trên mà không được lật hướng về phía dưới”. Lại nói rằng “Khi ngủ chỉ được nằm nghiêng hoặc nằm ngửa, không được nằm sấp. Đó là vì khi đàn ông chết đuối, thây nổi lên, phần mông hướng về phía trên”. Chiếc neo sắt lớn nhất để ở đầu thuyền được gọi là neo thái bình, nếu chưa đến nỗi vạn phần nguy khốn thì không được động đến chiếc neo đó. Phía sau thuyền có một vài cái rổ lớn đan bằng tre, chuyên để dùng khi gió to đứt neo, người ta bỏ những cái rổ ấy để cản nước, có tác dụng là làm ổn định thần thuyền, khiến thuyền có thể trôi chầm chậm thuận theo thế gió, người ta gọi đó là rổ thái bình. Trong khoang sau, người ta để một cái búa lớn, rất bén, chuyên dùng để chặt cột chèo và chặt dây neo một cách cấp thời khi thuyền gặp phải gió giật, gọi là búa thái bình. Vào lúc bình thường, người ta không được động chạm gì đến ba vật “thái bình” này, không được bước ngang qua chúng, càng không được làm những việc phạm vào cấm kỵ, nói những lời kiêng kỵ ngay trước chúng. Nếu có người vô ý nói những lời hoặc làm những chuyện phạm cấm kỵ thì ngoài việc bị đánh bạt tai, anh cả còn phải đốt hương dập đầu trước chiếc neo thái bình, miệng lẩm nhẩm: “Lão neo lão neo đừng trách cứ, phải nới lòng (lượng thứ) đối với chuyện làm của tiểu nhân”. Khi thuyền đang trên biển, bất có bất kỳ thứ gì trôi trên sóng trên gió đều không được nhìn và cũng không được nhặt lấy.

    Tất cả mọi sinh hoạt của con người trên thuyền đều phải được tiến hành trên mui sau của khoang thuyền, vì cho rằng mui sau cách xa với mặt nước biển; khoang sau được gọi là khoang rỗng, nếu sinh hoạt ở đây thì sẽ tránh được những động chạm đến thế giới của Long vương. Vào bất kỳ lúc nào cũng không được tiểu tiện ở hai bên mạn thuyền, mà là ở mui sau, và vào bất cứ lúc nào cũng không cho phép hai người đại tiểu tiện cùng lúc với nhau, cho rằng “hai người đái vào nhau, tất sẽ gặp gió bạo”. Ở vùng Triết Giang, người ta kỵ không để phụ nữ đi lên trên đầu thuyền, người ngoài mà chân không sạch cũng không được đến đầu thuyền. Ngư dân vùng Phương nam thì kỵ người bước ngang qua mũi thuyền, cho đó là điềm không lành; ở vùng Triết Giang, nếu như hai chiếc thuyền song hành với nhau, thì kỵ không được dùng dây lòi tói sắt để xích vào nhau; vùng Triết Giang, An Huy thì cấm không được chở vật chết trong khoang thuyền, tục cho rằng như thế sẽ bất cát bất lợi; ở một dải đất Hồ Châu Triết Giang, cấm kỵ hành khách nam nữ giao cấu với nhau trên thuyền; vùng Phương nam khi ra biển đánh cá thì kỵ để chuột trong thuyền chạy mất, tục cho rằng, đó là điềm không lành. Khi gặp tình hình như vậy thì cần phải tìm cách mời chuột trở lại thuyền, sau đó mới dám ra biển đánh bắt cá.

    NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGÀNH THƯƠNG NGHIỆP Trong ngành thương nghiệp thì đầy rẫy những rui ro, ẩn tàng nhiều cái bẫy chết người, vì thế mà ngay từ thời xưa, giới thương nhân cũng đã hình thành những tập tục cấm kỵ tránh hung tìm cát. Những người trong ngành thương nghiệp luôn hy vọng rằng, khi thông qua những cấm kỵ ấy thì có thể gặp may mắn trên con đường tiền tài, buôn bán.

    Có nhiều phương pháp trong giao dịch thương mại, nhưng thường được chia thành hai loại chủ yếu là ngồi tại chỗ mà buôn bán tại (tọa thương) và đi lại để buôn bán (hành thương). Đi lại buôn bán còn được gọi là chạy bán, hay bán du động. Còn ngồi tại chỗ buôn bán là thường cố định buôn bán tại một nơi, nhiều nhất là các hàng quán, tiệm bán hàng, thường tập trung nhiều ngành nghề buôn bán lại với nhau. Hai loại buôn bán này cũng đều có những cấm kỵ của nó.

    Những cấm kỵ trong loại buôn bán cố định là rất nhiều. Chủ tiệm rất kỵ vào sáng sớm mà mua bán không thành với người khách đầu tiên, vì e rằng suốt ngày sẽ phải gặp xui xẻo. Trong tiệm, kỵ chống eo lười nhác, hoặc ngáp, hoặc đạp lên vải bọc trên đất, hoặc ngồi ở ngạch cửa, hay gõ vào bàn tính tiền, đứng tựa cửa mà lưng hướng ra ngoài, đùa bàn tính và cất bàn tính…, tục cho rằng, những hành vi này là biểu hiện bất kính với thần tài bồ tát, sẽ gây bất lợi cho việc làm ăn kinh tế. Khi quét tiệm thì kỵ quét ra ngoài, mà cần phải quét hướng vào trong, ý là quét vàng bạc châu báu vào nhà. Gặp ống đồng trên mặt đất thì kỵ không được nhặt lấy, khi đếm tiền bạc thì phải hướng ra bên ngoài.

    Khi bán vải vóc thì kỵ không gõ vào cân; khi bán rượu thì kỵ không lắc lắc chai rượu, nếu không, người ra bảo rằng, khi uống thì đầu óc sẽ choáng váng. Đầu năm, khi nhập hàng vào cửa hiệu thuốc, thì phải nhập vào vị thuốc đại hải lớn và hạt sen lớn để lấy cái ý đại phát đại lợi. Ở các tiệm uống trà, tiệm cơm thuộc vùng Nam Kinh Giang Tô, thì ba người ngồi một bàn, nếu như trống một ghế thì không được ngồi, gọi là “ngồi kiểu đóng cửa”, chủ tiệm rất kỵ. Những người hầu bàn trong các nhà hàng, quán rượu thì tối kỵ người khách đứng đầu gọi món “cơm chiên” ( 炒飯 ), vì trong tiếng Quảng Đông, “chiên” ( 炒 chǎo) có nghĩa là sập tiệm. Khi làm bếp mà nghe thấy tiếng “chiên” thì cũng cho là không tốt. Những nhân viên làm việc trong cửa hiệu không được đọc sách, cho dù có rảnh rỗi thì cũng không có ngoại lệ. Ông chủ thì muốn một vốn vạn lời, đâu dễ gì để bị thua lỗ? Vì thế nên mới cấm kỵ vậy. shu) và “thua” ( . Trước đây, ở một số khu vực của người Hán, người ta có cấm kỵ khi bán lợn là bán lợn không bán dây. Người bán lợn thì tất sẽ phải dùng dây buộc để dẫn lợn đi, nhưng khi bán lợn thì phải thu lấy dây về, vì cho rằng nếu bán luôn dây thì sẽ bị người ta mang vận may của mình đi mất, sau này có nuôi lợn nữa cũng sẽ không tốt. (Ở đây, các ông chủ cửa hiệu cũng kỵ hiện tượng hài âm giữa “sách” (

    Trong các cửa hiệu thương nghiệp thì cửa hiệu thuốc là nơi có nhiều cấm kỵ nghiêm ngặt nhất. Khi học trò bước vào tiệm, đầu tiên phải nhặt lấy “vạn kim chi” (nhành vàng), “kim ngân hoa” (hoa vàng hoa bạc) và “kim đấu” (đấu vàng), với ý nghĩa là lấy vàng bạc vậy, hoặc nhặt “bách tử nhân”, vì “bách tử nhân” cũng tương tự như hạt gạo, nhằm để nuôi tác phong làm việc cẩn thận cho bọn học trò học nghề. Trong lời nói bình thường thì thường lấy tên thuốc để lấy cái may. Ví dụ như “liên kiều” để gọi “thái hợp”, “bối mẫu” để gọi “nguyên bảo bối”, “quất lạc” để gọi “phúc lộc”, “trần bì” để gọi “đầu hồng”, “quất hồng” để gọi “đại hồng bào”, cắt thuốc thì gọi là “đuôi hổ”, ghế thuốc thì gọi là “thanh long”; vào mùa xuân thì lấy “đông mộc” khai đao, mùa đông thì lấy “đơn bì” thu đao. Gói thuốc thì phải gói cho có hình như dấu ấn của vàng, vào mùa xuân thì còn phải dùng dây đỏ để buộc. Cấm để những người làm việc chung ngửi thuốc. Trao thuốc thì cấm kỵ chuyền qua tay người khác, vì cho rằng, nếu chuyền qua tay người khác thì sẽ chạm vào khí độc của người ấy. Khi đi hành nghề bán thuốc thì cũng phải có những quy tắc riêng, như khi dân gian đang ăn tết thì kỵ chẩn đoán bệnh, vì sợ chạm phải “khí độc”, trừ phi có hai khoản phí chẩn đoán bệnh để phá tai ách thì mới được. Bình thường, khi đi chẩn đoán bệnh, cũng không được gõ vào cửa của người bệnh, tục có câu “Thầy thuốc gõ cửa, phải mời vào mới xong”. Nhằm để giữ bí mật nghề nghiệp của mình, nên trong dân gian có cách nói đối với những thầy thuốc là “cho thuốc không cho đơn”. Thời xưa, những thầy thuốc rất kính trọng Hoa Đà, Tôn Tư Mạc, xem đó là tổ sư gia, không dám có chút gì bất kính.

    NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGÀNH THỦ CÔNG Người thời xưa trong tình trạng sản xuất nhỏ, phương pháp làm việc không những rất kém an toàn, hơn nữa, những kiến thức về an toàn cũng khá nghèo nàn, vì vậy, tự nhiên là họ sẽ có những lo lắng đối với sự an toàn của bản thân. Nhằm để cân bằng và thỏa mãn tâm lý, những người trong ngành thủ công nghiệp cũng đã thực hành việc tế tự và những hành vi cấm kỵ.

    Do các ngành thủ công trong dân gian là rất khác nhau nên những cấm kỵ trong các ngành cũng mang những nét đặc thù riêng. Trong tất cả các ngành nghề, nghề khai khoáng là một trong những nghề nguy hiểm nhất. Công nhân khai khoáng khi tiến hành đào mỏ thì hệ số an toàn là rất nhỏ, đặc biệt là trong thời gian trước đây, những biện pháp an toàn là rất kém, vì vậy mà sự nguy hiểm đối với sinh mệnh là rất lớn. Vì vậy, công nhân khai khoáng khi ở trên giếng, khi xuống giếng thì kỵ nói đến những lời đại loại như “chết”, “ngạt chết”, “đè chết”, kỵ chửi tục. Bản thân công nhân không được nói, mà cũng không được để người khác nói, khi vợ chồng cãi vả nhau thì cũng không được nói. Công nhân cảm thấy trong lòng mình buồn phiền, hoặc cãi với người khác, thì trong ngày ấy không được phép xuống giếng. Về hành vi, thì công nhân khai khoáng kỵ để người khác đánh vào mũ của anh ta (mũ an toàn), không được ném nón lên mặt đất. Bởi vì chiếc nón là cái bảo vệ phần đầu, cũng chính là biểu trưng và một phần thân thể của đầu. Người ta kỵ để người khác đánh hoặc đùa giỡn đầu mình. Về phương diện ẩm thực, khi công nhân xuống giếng thì kỵ uống rượu, ngửi mùi rượu cũng không được. Khi xuống giếng thì kỵ mang theo diêm quẹt, đây có lẽ là do người ta sợ dưới giếng có khí mêtan (gaz), gặp diêm sẽ bị nổ. Bất kỳ ai cũng không được đốt giấy trên miệng giếng, chỉ vì chỉ có người chết thì mới đốt giấy.

    Nếu dưới giếng của mỏ mà có động vật thì đó là điềm tốt, công nhân mỏ than vùng Tây Bắc thì kỵ bắt chuột trong giếng mỏ. Khi công nhân khai khoáng xuống giếng, thì kính chuột như thần, cho dù nghèo nàn đến đâu, ngày ba bữa rau cải không no bụng, nhưng khi ăn cơm ở dưới giếng thì luôn dành một phần cơm và thức ăn cho chuột, cơm thừa ăn không hết cũng không được mang về nhà, mà đổ xuống giếng để mời chuột. Tập quán này có nguyên nhân là do ba loại khí gaz, khí bùn và khí than đều rất nguy hại đối với sức khỏe của con người, mà chuột lại rất nhạy cảm với ba loại khí này, chỉ cần ở những nơi nào không có độc khí thì loại động vật tinh ranh nhỏ bé này sẽ xuất hiện, vì vậy, công nhân khai khoáng một khi nhìn thấy chuột thì đã có ngay một cảm giác an toàn; nếu dưới giếng mỏ mà không thấy chuột chạy qua chạy lại thì sẽ phát sinh ngay một tâm lý vô cùng sợ hãi.

    Cấm kỵ đối với người làm nghề đồ tể là không được giết lợn vào ngày hợi. Khi giết súc vật, cần phải giết chết bằng một nhát dao, kỵ giết bằng hai nhát dao. Nếu không, người ta xem đó là điềm bất tường, và nó dự báo rằng, sang năm nuôi lợn sẽ không được thịnh vượng. Sau khi chọc dao vào cổ lợn, thì khi quăng dao xuống đất, mũi dao không được hướng về phía cửa chính của người chủ, nếu không, nhà ấy tất sẽ gặp phải chuyện không lành. Khi rạch mổ bụng, không được treo lợn nhằm thẳng về nơi có đặt thần vị, nhằm tránh đắc tội với thần. Sau khi giết lợn xong thì đầu tiên là phải cắt một miếng thịt vuông vức nặng khoảng một hai cân để hiến cho “đại thần nuôi dưỡng”, sau đó con người mới được ăn, nếu không, vào năm sau, gia chủ cho dù có nuôi lợn đi nữa thì cũng không được thuận lợi.

    Thợ làm đá làm nhiều đến thế nào cũng không bằng mài nước. Ngày xưa, trong phòng mài nước có thờ Lão quân, thần Sông và Thần tài, vào ngày mùng hai, mùng ba tháng giêng đều phải đốt đèn, thắp hương, cúng tế, cầu xin thần linh bảo vệ sự bình yên. Bởi vì, con vật được Lão quân cưỡi là con trâu xanh, vì vậy, khi người thợ làm đá đục đẽo mài nước, những người bình thường không được cầm roi đánh ngựa đứng một bên mà nhìn, nếu không, sẽ làm cho con trâu mà Lão quân cưỡi bị giật mình, việc mài nước sẽ không thể nào hoàn thành được. Thợ làm đá khi khoan lỗ thì kỵ đánh búa hụt. Khi đục đá, thì bất kỳ là ai cũng không được mở miệng nói một lời nào, vì cho rằng, mở miệng nói chuyện thì dễ khiến thợ làm đá bị thương, tục quy định rằng, ai nói chuyện mà xảy ra sự cố thì tự mình chịu. Có nơi thì không cho phép nói lớn tiếng. Có nơi còn quy định không cho phụ nữ đi vào trong hang đá và vào miệng hang đá, tục cho rằng, người nữ bước vào thì Sơn thần sẽ nổi giận. Nhiều nơi còn cấm kỵ không được úp chén, tục cho đó là điềm động đá, có nơi sắp sụp. Sau khi thợ làm đá khắc xong bia đá cho người ta, vào buổi sáng ngày dựng bia thì không được nói những lời bất cát bất lợi; vào thời khắc dựng bia cho ổn định thì càng kỵ những người ăn nói bậy bạ. Ngoài ra, theo sự khác biệt của phương ngữ từng nơi mà cũng có những tập tục quy định khác nhau. Vùng Thanh Điền Triết Giang thì kỵ nói chữ “động” (hang), khi vào trong động khoáng vật thì gọi là “tiến tài” (vào tiền), kỵ nói “về nhà”, mà tục phải gọi là “dời hài cỏ?; kỵ nói “rửa” ( 洗 ), vì nó hài âm với “chết” ( 死 ), vì thế mà đến cả nồi, chén, những người thợ làm đá cũng không rửa, mà chỉ dùng vải để lau sạch.

    Thời xưa, việc may áo được xem là chuyện của thần thánh, người ta đã có quan niệm “may áo cầu lành”. Thời xưa, người ta đã có những quy định rõ ràng vào ngày nào không được may áo. Theo những ghi chép của Đôn Hoàng văn hiến: Ngày Thân trong ba tháng mùa xuân không được may áo, may áo vào ngày Dậu trong ba tháng mùa hạ thì sẽ không tốt, đại kỵ may áo vào mùa thu, phàm là vào những ngày sáu, ngày mười sáu, ngày hai mươi tháng tám đều không được may áo. Đại kỵ may áo vào ngày mười tháng mười, nếu may áo vào ngày cuối tháng ba thì sẽ bị cọp vồ, là điều đại hung. Người xưa cho rằng không nên may áo vào ngày kỵ máu.

    “Tại sao may áo vào ngày mười tháng mười là điều đại kỵ? Vì đây là ngày sinh nhật của hoàng đế đời Đường là Đường Văn Tông Lý Ngang, nếu động dao kéo may vá trong ngày này thì sẽ bị xem là cử chỉ bất trung, biểu thị cho hành động “?động đao” mưu phản, vì vậy mà người ta liệt việc may áo vào dạng bị cấm kỵ.

    May áo có cấm kỵ, và vá áo cũng không ngoại lệ, cho đến nay, dân gian vẫn còn hưng thịnh tập tục “tháng giêng không đụng kim chỉ”. Ngạn ngữ có câu:

    Mùng một không kỵ kim, quốc khố trong năm trống Mùng hai không kỵ kim, thiên hạ trăm họ nghèo Mùng ba không kỵ kim, góa lẻ càng thịnh dữ Mùng bốn không kỵ kim, trong triều sinh sự loạn Mùng năm không kỵ kim, mùng năm tháng năm sấm dậy vang.

    Từ ngày mùng một đến ngày mười ba, đều có kiếp số phạm điều cấm kỵ. Tương truyền rằng, tập tục này bắt nguồn từ những năm cuối đời Bắc Tống, do Trương Thiên sư xướng lên nhằm giải cứu những cung nga suốt cả đời mình thêu thùa may vá.

    Những kiểu loại của ngành thủ công nghiệp là rất nhiều, và các bộ phận của nó đều có những cấm kỵ riêng. Những cấm kỵ này kết hợp với nội dung và hình thức sản xuất của các ngành nghề khác nhau làm một, cùng cấu thành đặc trưng cho nghề nghiệp. Vỉ thế, người trong nghề hoàn toàn không cho rằng cấm kỵ là điều mê tín, mà xem đó là những phép tắc cần phải tuân thủ nghiêm túc.

    NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ HÝ KỊCH, GIẢI TRÍ Nghề hý kịch là một nghề mua vui cho người khác, vào thời xưa, những người theo nghề này thường có thân phận thấp kém, nhằm để sinh tồn và phát triển, những tín ngưỡng thần linh và những cấm kỵ trở nên hết sức nghiêm ngặt và có nhiều khác biệt nhau.

    Khi một lầu kịch, một sân khấu kịch, một hội quán, một miếu hậu mới được xây lên, thì vở diễn trên sân khấu diễn xuất đầu tiên đều phải cử hành nghi lễ cúng tế “phá sân khấu”. Nếu như khi diễn kịch mà xảy ra những sự cố lớn nào đó, gây chết người, thì cũng phải phá sân khấu. Người trong nghề hý kịch gọi sân khấu quay về hướng Nam, sân khấu quay về hướng Đông là “Dương đài”, sân khấu quay về hướng Bắc là “Âm đài”, quay về hướng Tây thì gọi là “Bạch Hổ đài”, tục nói rằng: “Nếu muốn phát tài lớn, thì cấm kỵ nhất là Bạch Hổ đài”. Vì vậy, phàm là “Bạch Hổ đài” quay về hướng Tây thì cũng phải “phá đài”, sau đó mới được diễn xuất. Nếu không, tục cho rằng, trong ê-kíp kịch sẽ xảy ra tranh cãi, đánh nhau; hoặc diễn xuất không tốt, diễn võ kịch thì bị thương; thậm chí là không diễn được, sau này sẽ không có ai đến mời đoàn kịch ấy diễn cả.

    Ở mỗi trường hợp khác nhau thì hình thức phá đài thường cũng khác nhau. Có trường hợp thì khá đơn giản, chỉ cần treo một chòm râu đỏ lên tường vách phía sau sân khấu, ý cho rằng đó chính là phán quan, sẽ khu tà trừ tai. Thông thương thì vào đêm tối, để một diễn viên có võ diễn vai linh quan, trên sàng diễn, anh ta sẽ truy đuổi con ma nữ do một vai đán thủ diễn, và đuổi ma nữ này đi. Giết một con gà trống, lấy máu gà vảy ra bốn bên sân khấu. Sau đó thì đốt pháo, đánh chiêng đánh trống một hồi, như thế thì được xem là đã phá được đài rồi. Trước khi phá đài thì cấm kỵ đốt đèn phía trước sân khấu, ngay cả đèn dầu được đốt ở đằng sau sân khấu để giúp hóa trang, thì sau khi hóa trang xong cũng phải thổi tắt. Khi “phá đài” thì kỵ để người ngoài nhìn trộm, kỵ nói chuyện. Diễn viên ngậm một cái túi cát màu đỏ chu trong miệng, cho rằng như thế thì có thể tránh tà, tránh được ma quỷ lên người mình.

    Việc nhận đồ đệ trong ban kịch phải tuân theo những quy củ rất nghiêm ngặt, thường là khi đoàn kịch dạy nghề thì cấm người khác nhìn trộm. Nghệ nhân cũng không được đùn đẩy trách nhiệm khi lên sân khấu, không được xin nghỉ không ra sân khấu diễn. Cấm kỵ phân nhóm, kết bè phái trong ban kịch. Khi diễn xuất, diễn viên không được nhầm. Khi diễn thì cấm không được đùa giỡn, không được biếng nhác, không được sơ suất, không được làm tổn thương người khác trên sàn diễn, không được cười. Không được “sưu đài”, “tao đài” (tức là cấm không được nhìn ngắm phụ nữ khi đang ở trên sàn diễn). Khi diễn kịch thì cấm kỵ để người học nghề ăn mặc không chuẩn xác, tục có câu: “thà là mặc áo rách, chứ không mặc áo sai”. Ngoài ra, trên phương diện kỹ xảo diễn xướng và đóng vai thì cũng còn có nhiều cấm kỵ khác, đều thuộc về mặt kỹ thuật nghề nghiệp, ví dụ như “khi tịnh đi thì không được thêm mảnh vải màu, khi thiếp đi thì không được để lưng trần, khi sinh đi thì kỵ để rơi râu mồm” (tịnh, thiếp, sinh… đều là những loại vai trong hý kịch cổ điển , người ta thường cho rằng, trong kịch có đến năm loại vai diễn: sinh, đán, tịnh, mạt, sửu, năm vai này điển hình cho năm tính cách khác nhau – TDK). “Kỵ đảo âm hòa vận, kỵ nhả chữ không thật, kỵ lạc giọng do sợ sệt, kỵ phách nhịp không tròn”

    Ở hậu trường, ở phía sau sân khấu thì cũng có nhiều quy ước. Ở phía sau sân khấu thì cấm không được đi lại lung tung, nằm ngồi ngổn ngang, tay chân thái mái, tất cả những khám thờ tổ sư, bàn hương, đạo cụ đều không được làm hư hoại; những rương áo, rương mũ đều được phân loại, không được ngồi tùy tiện. Chỉ có vai sửu (còn gọi là tiểu hoa kiểm) thì có thể ngồi tự do, nhưng cũng bị cấm kỵ không được ngồi lên giữa hai cái rương. Bình thường, mặt nạ được dùng vải lụa phủ lên, không để diễn viên nhìn thấy. Cấm kỵ soi gương khi mang mặt nạ. Diễn viên không được phép ngồi ở cửa miệng Cửu Long, cấm không được gõ bừa vào các khí cụ có tiếng vang như trống đánh, trống nhỏ. Kỵ nói đến những từ không tốt như tản ( 傘 : ô dù), canh ( 更 : canh giờ), mộng ( 夢 : chiêm bao), ở phía sau sân khấu, không được giương ô dù, không được đánh cờ, không được đan tay vào nhau hay ôm đầu gối. Vào ban đêm, kỵ có đi ra mà không quay về. Cấm không được đi ngủ nếu chưa cởi bỏ đồ diễn. Cấm đi tiệm vào ban đêm. Khi đi ngủ, kỵ để mũi giày hướng ra bên ngoài, nếu không, sẽ bị chủ đoàn kịch cho nghỉ làm việc. Trong cuộc sống thường nhật thì cấm không được nuôi bồ câu, nuôi mèo. “Bồ câu” ( 鴿 ge) đồng âm với chữ “gác” ( 擱 gé), e rằng sẽ gây bất lợi cho nghề diễn kịch. Mèo thì ăn thịt chuột, e sẽ gây bất lợi cho chuột. Cấm kỵ gáy nhại theo tiếng gà trống, vì sợ rằng sẽ làm hỏng giọng. Khi ăn cơm, bạn diễn ngồi chung một bàn, không được tự tiện chen vào. Chỉ có vai sửu thì có thể chen vào bàn để ăn. Ăn cơm thì kỵ ăn bánh không nhân, vì cho rằng, nó không có lợi cho đoàn kịch.

    Khi diễn tại nhà thì cần chú ý đến những cấm kỵ trong nhà người chủ. Người quản sự sẽ thăm hỏi xem chủ nhà là một nhân vật như thế nào, cấm kỵ những thứ gì, ví dụ như khi vào vương phủ để diễn thì không được mặc đồ màu xanh, vì màu xanh là màu áo của quan lại trong triều đnh. Tên họ, tiểu danh, trác hiệu và cả những chữ mà ông ấy không thích thì cũng không được nói. Gặp khi người ta làm lễ mừng thọ, thì những chữ bất cát bất lợi như “giết”, “chết”, “róc” thì càng phải kiêng tránh. Khi diễn đến đoạn văn xướng mà có những chữ này thì có thể bỏ (hoặc đổi), nếu quả thực tránh không được nữa thì phải cắt bỏ cả một đoạn ấy.

    Diễn kịch cũng phải hạn định trong một khoảng thời gian và ở một nơi nhất định. Ở Hà , người ta kỵ diễn vào ngày hắc đạo, mà phải vào ngày hoàng đạo. Ở một số nơi khác còn quy định không được diễn vào tháng nào đó, hoặc vào tháng hai, tháng tám, hoặc vào tháng ba, tháng bảy. Nghe người ta bảo rằng, vào thời gian ấy mà động đến những đồ phát ra tiếng kêu (tức minh khí) thì sẽ mạo phạm đến thiên thần, sẽ gặp phải hung họa, như mưa đá chẳng hạn.

    Có một số vai trong kịch bản, theo truyền thuyết thì chính là một người ở nơi nào đó, vì vậy mà, nếu diễn vai ấy ở ngay trên vùng đất ấy thì cần phải chú ý, không được diễn những hý khúc làm thương hại đến tình cảm quần chúng nhân dân. Như trong “Thanh bái loại sao” có nói, vùng Tây Bắc huyện Dương Cốc, Duẫn Châu có mộ, tục gọi là mả cửa tây, theo truyền thuyết thì đó chính là nơi chôn cất của Tây Môn Khánh. Ở vùng này, người ta đều có tục cấm diễn vở “Thủy Hử truyện”; ở nơi nào đó thuộc Đơn Giang Hồ Bắc, truyền thuyết cho đó là quê hương của Trần Thế Mỹ, vì vậy mà ở đây, người ta cấm không được diễn vở “Trác Mỹ án”; ngoài ra, có nơi được xem là quê hương của Quan công thì cấm diễn “Tẩu Mạch thành”; ở Nam Kinh thì cấm diễn vở “Thủ Kim Lăng”…, đều thuộc vào dạng cấm kỵ này. Khi đi diễn, thì không được diễn “Ngũ Lôi trận”, vì cho rằng, Tôn Tẫn là tổ sư của nghề giày dép, nếu trong vở diễn mà có tình tiết Tôn Tẫn bị vây khốn trong Ngũ Lôi trận thì tất sẽ làm thương tổn đến tình cảm của những người theo nghề làm giày dép.

    Thời xưa, nghề diễn kịch bị xem là nghề hạ tiện, vì chuyên môn chiều theo thú vui của con người ta. Đời Nguyên, Minh, Thanh, những nghệ nhân này bị cấm không được ứng thí trong chế độ khoa cử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên Của Người Tày Ở Tuyên Quang, Hay
  • Sách Cúng, Tranh Thờ, Tài Sản Quý Của Người Sán Chỉ
  • Ngày Giỗ Bếp Và Ông Tổ Nghề Bếp
  • Lễ Cúng Tổ Nghề Giày Da Gồm Những Gì Cho Chuẩn Việt?
  • Hướng Dẫn Làm Lễ Cúng Tổ Nghề May
  • Tại Sao Thường Cúng Rằm Tháng Bảy Trước Ngày 15?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Rằm Ngày 14 Hay 15 Mới Chuẩn Theo Phong Tục Việt Nam
  • Nên Cúng Rằm Tháng Giêng Ngày 14 Hay 15? Đây Là Câu Trả Lời!
  • Nên Cúng Rằm Tháng Giêng Ngày 14 Hay 15 Để Cả Năm Sung Túc?
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Vào Ngày 14 Hay 15
  • Cúng Rằm Tháng 7 Vào Ngày 14 Hay 15 Âm Lịch?
  • Nguyên nhân nào mà vào dịp rằm tháng bảy, chúng ta thường cúng trước ngày 15 và hóa vàng mã cũng trước ngày này?

    Đúng ngày 15 rằm, Phật tổ xá tội vong nhân trong vòng 01 ngày, mọi linh hồn kể cả tội lỗi, quỷ dữ dạ xoa đều được tự do, vì vậy nên nếu cúng các cụ đúng ngày này thì sợ bị những linh hồn này phá phách, cho dù ta đã cúng cháo cho họ, vậy nên các cụ có thể không nhận được gì con cháu cúng tế. Thế nên thường cúng trước là hợp lẽ – (Lê Hùng Sơn)

    Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết.

    Những điều trên là hoàn toàn mê tín nó chỉ giúp những ông già bà cả an tâm, và giúp 1 số người sợ hãi mà hướng thiện hơn, còn giới trí thức thì nên hiểu nền tảng của Phật Giáo là Nhân Quả chỉ có gieo Nhân lành thì mới có cơ hội hái Quả thiện thôi.

    – (quangbson)

    “Tích kể rằng: ngài Mục Kiền Liên là tôn giả rất giỏi của Đức Phật, người biết rất nhiều phép thần thông, khi nhìn thấy mẹ bị đói khổ ở Địa ngục liền dùng phép thần thông xuống địa ngục thăm mẹ. Ngài bưng bát cơm lên dâng mẹ, cơm chưa đưa vào miệng thì đã hóa thành lửa. Ngài Mục Kiền Liên rất đau đớn xin với Đức Phật cách cứu mẹ. Ngài đã phải nhờ đến các chư tăng tụng kinh niệm Phật cho mẹ của ngài, các nhà sư về tụng kinh niệm Phật với mong muốn trong quá trình này sẽ được Đức Phât độ trì gia hộ cho. Có nghĩa là làm cho bản chất xấu xa của bà ấy thay đổi, trở thành người tốt, khi nào trở thành người tốt mới được chúng tôi khi ông Mục Kiền Liên làm được như vậy, bà mẹ được tha khỏi ngục. Từ đấy trở đi, mọi người lấy rằm tháng bẩy là ngày lễ để con cháu thể hiện tấm lòng thành với tổ tiên,ngày đó gọi là ngày lễ Vu Lan.” Hanhthong”

    Không phải vong nào cũng bị nhốt trong ngục, mà chỉ có những vong có tội mà thôi. Thường thì mọi người hay cúng trước ngày rằm để cho tiện. Tuy nhiên nên cúng đúng vào ngày rằm là tốt nhất. – (daiminh)

    Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ túa ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục. Bởi vậy, vào đêm 14/7, người ta thường đốt nến, hóa vàng bạc hoặc giết gà vịt cúng quỷ đói để cầu được bình an và những điều tốt đẹp, không bị ma quỷ hại phá, đó chính là nguồn gốc của tên gọi Tết Quỷ. Nguồn cội của Tết Quỷ gắn liền với văn hoá Đạo giáo của Trung Quốc, bởi Phật giáo không có chủ trương sát sinh hoặc đốt vàng bạc hàng mã để cúng tế quỷ thần. (ST) – (VDNHMC)

    Dưới âm cũng như trên Trần, có thể cúng trước để người âm đi về đỡ tắc đường, tránh xe cộ đi lại đông đúc… – (Duongquy)

    Theo quan niệm dân gian thì vào ngày rằm tháng 7 sẽ có rất nhiều vong hồn được “thả” đi lang thang nên nếu ta hóa vàng mã vào ngày này thì sẽ bị cướp, giật mất người thân khó nhận.

    Cũng vì vậy trên quần áo, đồ đạc hàng mã thường sẽ ghi rõ tên người nhận, khi cúng cũng đọc rõ tên và xin phép các thần linh thổ địa cho phép vong vào nhận đồ, cúng trước và hóa trước để người thân dễ nhận được. – (Minh)

    Bạn Trần Cha Thân! Cúng rằm tức là ngày 15 âm lịch hằng tháng, phong tục ở quê mình thì thường cúng vào ngày mùng 1 và 15 âm lịch. Theo bên Phật thì 2 ngày này là ngày của Phật, (Phật thường đi cứu khổ cứu nạn chúng sanh vào 2 ngày này). Mẹ mình từng nói nếu cúng vào ngày 14 và hoá vàng mã ngày này thì người được cúng ko nhận được vì “cô hồn” cướp và giành giật hết. còn cúng ngày 1 &15 thì ngược lại, ngày đó là ngày của Phật nên các vong hồn được theo Phật và cô hồn ko giật được. Vì VẬY CÚNG RẰM LÀ PHẢI CÚNG VÀO NGÀY 15 BẠN NHÉ! Có lẽ bạn ko tin nhưng mình tin (ko phải mình mê tín đâu) tại mình thấy tận mắt nên mới tin đó. Chính lẽ đó nên có câu: “có thờ có thiêng có kiêng có lành” – (Đặng Diệu Hoài)

    vì rằm tháng 7 ko vào ngày nghỉ; ở TP thì mọi ngừơi phải đi làm, ở các vùng quê thì con cái đi học đi làm xa ko về được….dần dần thành thói quen. Theo tôi ngày giỗ, ngày riằm cứ làm lễ đúng ngày là tốt nhất. – (samar trần)

    Cũng giống như nhà nước thường kỹ niệm ngày 2/9 vào trước đó 1 hoặc 2 ngày. Không phải tất cả mọi nhà đều làm vào ngày 13 -14, vẫn rất nhiều nhà làm đúng ngày rằm. – (Quốc Ân)

    Theo như Mẹ chồng tôi thì ở dưới âm quy định ngày phát đồ cho người âm.

    Nếu như đốt vàng mã vào ngày 15 thì đến năm sau người nhà mới nhận được nên phải hóa vàng mã trước ngày 15 tháng 7 âm lịch. – (Trần Thị Lựu)

    Phải cúng trước vì ngày rằm không phải cuối tuần hoặc mọi người không thể tụ tập sum vầy đúng ngày rằm được vì công việc riêng, còn cúng đúng ngày rằm mới là đúng truyền thống từ trước đến giờ. Mình ở quê cũng toàn cúng rằm ngày này. – (Pham Dai)

    dan gian xua tung co cau trẻ 13 già 14, có lẽ chính vì thế mà rằm tháng 7 duoc cac gia đình cúng trước 15 – (Phạm Thị Kim Liên)

    chả có gì gọi là nguyên nhân cả, cũng như mua một thứ gì đó trước, ăn một thứ gì đó trước thôi – (cuongnv)

    Lễ gì cũng từ tâm mình cả, các cụ chọn rằm tháng 7 hay rằm tháng nào cũng thế cả thôi chỉ với một mục đích giúp con người ta hướng thiện, tu thân tích đức để cho xã hội tốt đẹp hơn. Mà với xã hội hiện tại thì điều đó càng cần nhiều hơn, tôi mong rằm tháng nào mọi người cũng coi là “xá tội”…để chúng ta cùng làm nhiều điều tốt cho nhau. – (Thuhương)

    Tôi chẳng biết các bạn nghĩ thế nào, chứ các bạn lên phường xin dấu người ta quy định làm việc thứ 2,4,6 thì cứ đúng ngày đó mà đến. Chứ lên vào 3,5,7 thì có mặt từ 6h sáng cũng chẳng ai tiếp.

    Đã quy định là cúng mùng 1 và 15 thì cứ đúng ngày đó mà làm. – (dương huy)

    Theo Tôi cúng vào đúng ngày rằm mới là đúng. Vì các cụ có câu “Cúng cả năm không bằng rằm tháng 7” tức là 15/7. Tục đốn vàng mã trước là do mọi người bận công việc nên làm lễ trước thôi. Ở quê tôi từ xa xưa mọi nhà vẫn cúng, đốt vàng mã cho Ông, Bà vào đúng ngày 15/7. – (Lê Hiếu)

    Tất cả chỉ để giải quyết khâu tâm lý thôi! – (phuongtt85)

    Đó là cách cúng của người miến Bắc, người miền Nam thì từ ngày 15 trở đi mới cúng. Tôi không biết lý do của miền bắc tại sao lại cúng rằm tháng 7 lại như vậy, nhưng người miền nam, thì cúng rằm thì phải là ngày 15 chứ. Sau ngày 15 thì người ta cúng cô hồn. Cúng cô hồn thì được cúng mặn, còn cúng Phật thì phải là cúng chay. Phong tục của miền bắc thờ cúng tại nhà đa số không thờ Phật, chỉ thờ Gia tiên nên thường những ngày Lễ lớn đa số là cúng mặn. Mỗi nơi 1 phong tục, miễn sao có lòng thành là được. – (ledaitrangdai)

    Tôi cúng vào ngày chủ nhật trong tháng 7, ngày đó mọi cô hồn âm binh đều rãnh, dễ tham dự đông đúc! – (Thu Trang)

    theo như mình được ông mình nói là ngày 14 là các chư phật, bồ tát, chư tăng hoá độ cho chúng sinh và cũng là ngày cho các chư tăng ni & chúng sinh tập chung tại chùa để sám hối những gì mình làm trong nữa tháng cũng như bên thiên chúa giáo hay đi lễ vào mỗi tuần vậy đó,cho nên các chùa hay cúng rằm sám hối vào ngày 14. còn ngày 15 là ngày để tưởng nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ và cúng đất đai cúng cho các vị thần phù hộ cho gia đình được bình an và trấn những cái điều không tốt vào nhà mình. Còn ngày 16 là ngày cúng cho các âm hồn lang thang ngoài đường hay trước nhà mình để họ có ăn và không vào nhà mình phá. Nó là vậy đó.. – (Lê Kiên)

    có ai khẳng định là ngày đúng ngày sai tóm lại là tâm linh ở mình cúng trước sau ăn – (lethanhha2003)

    Tháng 7 âm lịch các ngạ quỹ sẽ được phóng thích từ mồng 2 đến 14/07 âm lịch đến ngày 15/07 âm lịch các ngã qũy sẽ bị bắt trở lại vì vậy người dân thường cúng trước rằm để bố thí cho các cô hồn đó. – (funny0604)

    Quê tôi – ở trong Nam – cúng tháng 7 sau ngày rằm mà? Trước ngày Rằm là để cho các chùa cúng, sau ngày rằm mới đến lượt người dân cúng. Đó là lời giải thích của các bậc trưởng thượng trong xóm tôi – (Trần Khánh Dung)

    Mình thường hối Má cúng ngày 14 để được ăn sớm, hehehe – (Bi)

    Không phải ngày chính rằm thì chỉ là thói biện hộ của thày cúng và dân công sở sành điệu. Thời gian giữa dương gian và âm phủ khác nhau. Những nghi lễ Phật giáo đã được mặc định trong những ngày, giờ, thời gian mà chúng ta đã biết. Ngày Rằm là ngày Rằm, mùng Một là mùng Một, không phải thế thì không phải ngày Phật đâu các bạn ạ. – (Phiêu.)

    Dân Thái đen Thái trắng chúng tôi coi rằm tháng 7 là tết “xíp xí” vào đúng 14/7. 15 đã là hết tết. Tết này to không kém tết nguyên đán, ăn uống vui chơi linh đình, mừng mùa màng tốt tươi chứ không có khái niệm xá tội vong nhân gì cả. – (yenbaitv)

    Chuyện cúng bái là lòng thành tâm,thành kính đối với các đấng tối cao,đối với tổ tiên . Vì vậy chỉ cần sống có hiếu thì ngày nào cũng là ngày vu lan cả. Chỉ cần có lòng thành tâm cúng bái thì ngày rằm hay 14 có khác gì nhau. Tôi không hiểu nhiều về đạo phật nên suy nghĩ vậy. – (nguyen.theanh)

    theo quam niệm dân gian thì có thờ có thiêng, ở quê tôi là cúng vào ngày 15. chúng ta tin vào ngưỡng nào thì cứ theo đó mà cúng. dân gian nói rằng tháng 7 âm lịch là tháng cô hồn. – (daohoaviet)

    và đúng hơn và hoàn thiện hơn nữa là các ý kiến trên đều hoàn toàn chính xác,thật ra thì mọi quan điểm lý giải của các bạn nói trên hoàn toàn “hoàn hảo”,vì mỗi người xưa mỗi làng mỗi địa phương có văn hoá tín ngưỡng khác nhau,có nhà cúng đúng rằm người cúng trước 1 ngày tức ngày 14,người cúng sau tức ngày 16,tuỳ thổ nhưỡng văn hoá vùng miền thôi,còn cúng trước hay cúng sau theo tôi là bình thường – (lưu anh văn)

    mình nghĩ cúng đúng rằm là tốt . cũng trước cũng ko sao . quan trọng là tâm mình thôi . phật tại tâm mình có tâm thiện thì mình cúng ngày nào cũng đc . đúng ngày sẽ tốt hơn để mình nhớ những ngày lễ quan trọng trong năm . để nhớ tới cội nguồn cũng la cách cho tâm mình thanh thản bình an . – (thoconanconon)

    cúng rằm thì phải đúng rằm cúng.không thì cổ nhân đã gọi là cúng tháng 7. – (thanh)

    Phú quý sinh lễ nghĩa, vấn đề này bạn nghĩ thế nào thì nó là thế đó… chả có vấn đề gì truớc hay đúng hay sau ngày 15 cả. Tất cả là do mình mà ra. – (ngonchym)

    Trong miền Nam từ xưa đến nay cúng rằm thường là ngày 14, 15 còn cúng cô hồn là ngày 16. Nói chung mỗi miền mỗi khác không có quy định chung nào cả – (vinhtoduc)

    về khách quan: thông thường người ta hay cúng trước ngày này vì: cúng vào các ngày thứ 7 hay chủ nhật con cháu trong gia đình đông đủ quây quần nhất nên tiện hơn

    thứ 2: cũng theo lệ ngưòi ta hay cúng ngày sống trước ngày đã mất, ngày rằm chỉ thắp hương đơn giản, ăn uống thôi, còn đốt vàng mã… thì hay cúng trước đó..

    không chỉ ngày rằm tháng 7 mà các dịp cũng lễ trong nhà cũng hay cũng trước là vậy – (Khoahoc)

    Cúng ngày rằm (15) hay mồng 1 là truyền thống của dân tộc để tưởng nhớ đến các bậc sinh thành đã về với tổ tiên. Như vậy tùy thuộc vào Tâm của mình thôi. Bởi chắc chẳng có ai đi dưới đấy về mà trả lời là đúng hay sai khi cúng đúng/trước ngày 1, 15. Theo tập quán mà thực hiện là tốt rồi. – (ngxuanvinh)

    Không có tục lệ nào cúng trước hay sao bạn à. Rằm tháng 7 nói riêng là mùa vu lang báo hiếu, ngày 15/7 đến chùa thắp hương cầu nguyện an lành cho cha mẹ còn sống, ai bất hạnh không còn cha mẹ thì cầu siêu tưởng nhớ cha mẹ nơi chín suối và kèm theo tục cài hoa hồng, vàng, trắng tượng trưng. Tháng 7 âm lịch nói chung là tháng các âm hồn được đặc xá cho về hưởng thực cúng thí. Nhà tù dương trần hay địa ngục cũng đều có tính nhân văn trong đó cả. – (diepchauminhtr)

    Mình cũng chẳng biết, chỉ biết ở quê mình ăn rằm 14 to hơn 15. – (Mr.Duc)

    Theo phong tục quê mình cho rằng đến ngày 13 là tàu/thuyền chở vàng mã rời bến mang đồ mã xuống cõi âm, nên nếu cúng vào đúng ngày 15 thì tàu chở mã đi mất rồi, do đó muốn đồ cho tổ tiên thì phải cúng, nhất là cần phải đốt mã trước ngày 15 (khoảng từ 10 đến 13). – (Dothien Hoang)

    Cúng trước ngày rằm vài ngày 15/7 là quỷ được thả cửa ( xá tội vong nhân) vì vậy nếu ta đốt tền vàng quần áo vào ngày hôm đó thì người nhà mình dưới âm không nhận được mà quỷ sẽ tranh cướp mất – (dung)

    đây là lễ của người Hoa, báo hiếu, cúng dường, cha mẹ, tổ tiên.. – (nguyễn)

    14 hay 15 cúng ngày nào trong tháng 7 đều được, – (diemvuong)

    Không chỉ ngày rằm tháng 7 người ta mới cúng trước đó ít nhất 1 ngày mà cả các ngày rằm khác cũng vậy. Ví dụ cúng mồng 1 thì tối 30 hay cúng rằm thì tối 14.

    – (huycuongkt)

    Vì ngày 15 các cao hồn đều về chùa nghe tung kinh giảm tôi lỗi – (truongna)

    Nhớ đến tổ tiên và người thân đã đi xa ở dưới cõi âm nên cúng lễ dịp này, nhà tôi cúng trước ngày 15 vì muốn tổ tiên và người thân dưới ấy được hường trước và chọn vẹn tình cảm của gia đình mình, còn đến ngày 15 thì các Đình và Chùa cũng có cúng lễ cho tất cả cùng được hưởng. . – (Trần Thủy)

    Theo tôi nghĩ thì tất cả những điều luật về tâm linh đều do con người đặt ra. Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền đều có những điều luật khác nhau. Tất cả đều hướng thiện và mong cho cuộc đời này có nhiều điều tốt lành. Các cụ có câu: “Tâm xuất Phật biết”. Việc cúng ngày rằm tháng bảy đúng ngày hay trước vài ngày đều có ý nghĩa như nhau. Ở trần gian hay âm phủ thời nào chẳng có người ngay kẻ gian. Căn bản là sự thành tâm của người thắp nén nhang, dâng lễ vật mà thôi. – (Huỳnh Bá Chung)

    Vào ngày rằm tháng 7, các vong đi lên nhiều quá nên làm trước phát cháo, ngô, khoai sắn cho các vong vào các ngày trước để tránh tắc đường, chen lấn, xô đẩy. Tiếp nữa là vào đúng ngày đấy cửa âm sẽ đóng vào đúng 12h trưa nên đi sớm về sớm khỏi bị ở ngoài. – (thulan)

    Ngày rằm (15) trong gia đình thường có người ăn chay, người không. Do vậy, để cúng rằm mà mọi người cùng …hưởng nên họ quyết định cúng trước ngày rằm, đơn giản là thế thôi??? – (Tôi yêu VN)

    Cúng rằm 14,15 đều được, nhưng ngày 15 phải cúng trc 12h trưa vì sau 12h cửa âm sẽ đóng lại vong ko nhận đc đồ nữa. Mà buổi trưa ngày 15 khó chuẩn bị nên nhiều ng sẽ cúng tối hôm 14 cho tiện. – (hgtt)

    Tôi chỉ có một điều. Rằm tức là ngày 15 âm lịch vậy rằm tháng bảy thì cứ đúng 15 tháng bảy mà cúng còn cùng trước sao không bảo tết 12 hay 13 tháng bảy đi cho rồi sao gọi là cúng rằm – (khaikv)

    tại sao phải cúng rằm tháng 7 trứơc ngày 16 thì mới đúng chứ – (hùynhhưng)

    Theo như mẹ mình nói thì “Tháng bảy âm ti địa phủ sẽ mở cửa Quỷ Môn Quan, các vô hồn có thể ra ngoài dạo chơi như một đặt xá và kiếm thức ăn” nên người ta thường cúng cho những cô hồn lang thang vào tháng bảy.

    Ở gần khu mình sống thì đa số người Quảng Đông thường cúng vào ngày 14 âm lịch, người Tiều thì 15 âm lịch, người Việt 16 âm lịch – (Jack)

    vì mọi người muốn kéo dài ngày cúng cho vui…như lể tết vậy. – (trantram)

    Người ta thường cúng trước ở nhà vì đến ngày 15 tháng 7 các linh hồn đều về hết các đình chùa, không ai ở lại để ăn đồ cúng của các gia đình nữa. – (thongvra)

    theo minh thi ram thang bay tuc la ngay xoa tui vong nhan, len moi nguoi deu co the cung to tien chứ ko phai ngay ma cac ma quái den, da la tuc lệ va văn hóa viet nam thi chung ta hay lam theo va hay ton trong van hoa, ko len me tin hay vẽ them ra. – (nguyen van dang)

    cúng rằm là 15,chẳng qua người ta hay suy diễn thôi.phong tục từ xưa,vùng miền ước lệ,người dương gian hay tính toán kiểu tắc đường về quê trước 1 ngày… – (nguyên đức tuân)

    Các bạn ơi.

    Điều này chẳng phụ thuộc vào điều nào cả. Ở nhà cúng rằm trước ngày 15, tại vì ngày 15 phải để dành cho việc lên Chùa nghe kinh Phật, hưởng được nhiều ơn đức hơn thôi các bạn ạ.

    – (Lê Đình Tuấn)

    Cung phai dung ngay 15 – (Duong truong)

    Mình thấy mỗi người một ý nhưng quan niệm từ gia đình là. Ngày 14 cúng mặn và ngày 15 cúng chay, – (Lê Ly)

    Ông cha ngày xưa cúng truyền thừa lại ta cứ cúng thôi. – (dreamtrinh)

    Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết. – (Bean Toan)

    Cúng vàng mã hay hoá vàng mã không có trong Phật Giáo đó là truyền thong dân gian! Nhưng cúng âm linh Co Hồn thì có trong Phật Giáo! – (T Liễu Nguyên)

    Lễ Vu Lan báo hiếu, hãy cúng bằng cả tấm lòng thì không sợ cha mẹ ông bà mình không nhận được. – (Hiểu Bình)

    Ngày rằm tháng bảy. Còn gọi là ngày xoá tội vong nhân. Vậy mình nên làm cơm cúng vào đúng ngày rằm và nên cúng vào sáng sớm vì theo mình được biết thì bắt đầu 00h ngày rằm tất cả đc về với gd – (Khuat khang)

    Ngày rằm tháng 7 có nguồn gốc được ghi rỏ trong Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ: Nhân vào một buổi sang đi khác thực, Đức Phật thấy một đông xương khô Ngài đảnh lễ. Tôn giả A nan thấy vậy nên hỏi về việc này nên được Đức Phat dạy rỏ về công ơn của Cha Mẹ ở kiếp này và nhiều kiếp trước gọi là Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. Nhân sự kiện này Ngài Đại Hiếu Mục Kiên Liên nhớ đến người mẹ vừa quá vãng nên dung than thong quán sát thấy mẹ của mình bị đoạ vào chon địa ngục mà tự sức Ngài không cứu được nên về hỏi Đức Phật thì đức Phật dạy vào rằm tháng 7 cúng dường 10 phương Tăng và bố thí và phóng sanh và đem công đức đó hồi hướng cho cha mẹ hiện đời và nhiều đời thì cha mẹ sẽ nhờ đó mà vãng sanh về tịnh độ. Cúng cô hồn cũng là hình thức báo hiếu trong ý nghĩa Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. – (T Liễu Nguyên)

    tại vì cúng trước thì mua đồ sẽ rẻ và dễ hơn sau mùng 15/7 – (lucife)

    vì rằm tháng 7 la ngày xoá tội vong nhân nên có nhiều ma trên trần gian , nếu cúng và đốt vàng mã vào ngày 15 thì bị ma lang thang cướp hết , ma nhà mình không nhận được . – (caotrunghieu)

    Thường rằm tháng 7 là ngày xá tội vong nhân. Các linh hồn được đi chơi, nên người ta phải cúng lễ trướng ngày (Trong niên từ 01 đến 14). Chúng ta cúng và hoá tiền, vàng, áo, mũ trước ngày rằm để đúng ngày 15 các linh hồn có quần áo mới, tiền tiêu. Đó chính là lý do mà ta cúng rằm tháng 7 trước ngày 15 âm lịch. – (Nhat)

    Có thờ có thiêng, có kiêng có lành! – (Xuan loc)

    .Nếu con cháu mà không cúng các cụ trước thì ngày rằm các cụ sẽ chưa nhận được lại phải chờ đến năm sau mới nhận đc.Bởi ngày 14,7 là chuyến đò chở mã xuất bến ,nên phải cúng trước ngày rằm – (huy nguyễn)

    các bạn muốn biết rõ hãy tìm đọc kinh vu lan báo hiếu phụ mẫu thì rõ thôi – (tăng)

    có người âm hả các bác? – (Danang)

    khong ai chung minh dieu nay dau a ,dieu chinh xac la muon an che som thoi – (tam)

    Mọi người nói cứ như thể mọi người đã xuống dưới đó rồi vậy. Cốt là ở cái tâm mình thôi. – (Silver)

    Ca dao có câu “Hôm nay 14, mai rằm. Ai muốn ăn oản lên nằm với sư”! Hic! Chả biết thế nào? Chắc lên từ đêm 14 rạng ngày 15. – (Nguyễn Văn Nội)

    tất cả đều do quan niệm của con người mà ra cả.thế giới tâm linh thật sự có tồn tại,vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh cả.vậy nên con người ta quan niệm thế nào thì thế giới tâm linh là như vậy. mọi sự giải thích chỉ là cho hợp lý vs cách suy nghĩ của người dương gian.vì ko biết chính xác nên ta phải làm theo quan điểm của số đông và sợ ko dám làm ngược lại vì sẽ thấy ko an tâm,mà nếu chẳng may bản thân hay gia đình có chuyện gì thì lại nghĩ là do ko làm giống mọi người. – (heroiszero)

    Sai het sai het ngay xa toi vong nhan khong phai ai cung duoc ve . Cung nhu tren tran gian vay ngay an xa. – (cautrung)

    tại vì trước 15/7 giá vàng mã rẻ hơn – (dinhnhiqni)

    Cũng như nghỉ 2/9 hoặc 1/5, có ai về đúng ngày đó đâu, thường về quê trước 1 đến 2 ngày. – (Trần Canh)

    Theo ý tôi cúng trước ngày 15 là dịp các vị buôn bán tăng giá vàng mã,làm như thế mới có lời nhiều.Nguyên nhân do các vị đó? – (cachang)

    Theo phật giáo thì mở cửa từ ngày 2-14 còn theo đạo giáo thì hình như đúng ngày 15 mới mở. – (Mình Không)

    ơ thế sao rằm tháng 7 mổ gà mổ lợn để cúng không phải là xát sinh hả? .. gieo nhân nào ăn quản đấy – (dainghia_vt9x)

    các bạn phải phân biệt ngày rằm tháng 7 trong dân gian và trong Phật giáo có ý nghĩa khác nhau. Ngày rằm tháng 7 trong Phật giáo gọi là ngày Lễ Vu Lan có bắt nguồn từ sự tích của tôn giả Mục Kiền Liên. Còn trong dân gian ngày rằm tháng bảy được gọi là ngày xá tội vong nhân là ngày cúng cô hồn, đây cũng là ngày cúng quan trọng nhất trong năm “Cúng quanh năm cũng không bằng rằm tháng bảy” – (Vịt Con Xấu Xí)

    Theo luật nhân quả, thì nếu bạn có tâm niệm thiện, nuoi dưỡng lòng từ bi, tạo nhiều nghiệp lành, biết sám hối tội lỗi thì nghiệp xấu sẽ giảm, chứ Phật không ban phước hay gián họa cho ai…”sống thuận theo chân lý, thì chân lý sẽ soi sáng trong bạn” – (Võ minh phước)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Mâm Cỗ Cúng Rằm Tháng Giêng
  • Cúng Rằm Tháng 7 Và Những Điều Đặc Biệt Lưu Ý
  • Cúng Rằm Vào Ngày Nào Trong Tháng 7 Âm Lịch?
  • Thời Điểm Cúng Rằm Tháng 7 Lúc Nào Là Chuẩn Nhất?
  • ‘cúng Rằm Tháng 7, Chỉ Có 3 Loại Quả Không Thể Thờ’
  • Lễ Cúng 49 Ngày Cho Người Mất

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Đất Đai Vào Ngày Nào Tốt Cho Chuẩn Phong Thủy
  • Cách Làm Lễ Tạ Đất Năm Tân Sửu 2021
  • Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Lễ Cúng Hóa Vàng, Cách Hóa Vàng, Đốt Vàng Mã Đúng Nhất Ngày Mùng 3 Tết
  • Phong Tục Tập Quán Mẹ Cần Biết: Tại Sao Phải Cúng Đầy Tháng?
  • Vì Sao Phải Cúng Rằm Tháng 7 Trước Ngày 15 Âm Lịch?
  • Lễ Cúng 49 Ngày Cho Người Mất, Thủ Tục Cúng 49 Ngày Cho Người Mất, Thủ Tục Cúng 3 Ngày Cho Người Mất, Thủ Tục Cúng 100 Ngày Cho Người Mất, Thủ Tục Cúng 49 Ngày Cho Người Chết, Dàn Bài Đã Có Lần Em Cùng Bố Mẹ Đi Thăm Mộ Người Thân Trong Ngày Lễ Tết, Văn Khấn Cúng Bội Cho Người Mới Mất, Mẫu Đơn Xác Nhận 2 Tên Cùng Một Người, Câu Thơ Nào Là Lời Trách Móc Cũng Là Lời Mời Gọi Của Con Người Vĩ Dạ, Đơn Xin Xác Nhận 2 Tên Cùng 1 Người, Bài Cúng Sóc Vọng Cho Người Mới Mất, Don Xac Nhan 2 Ten La Cung 1 Nguoi, Đơn Xin Xác Nhận 2 Tên Cùng Một Người, Mau Don Xac Nhan 2 Ten La Cung Mot Nguoi, Mẫu Đơn Xác Nhận 2 Tên Gọi Cùng 1 Người, Câu Thơ Nào Giống Như Lời Trách Móc Cũng Là Lời Mời Gọi Của Con Người Vĩ Dạ, Cưng Chiều Vợ Cũ Lão Bà Đại Nhân Thật Mê Người, Xac Nhan 2 So Cmnd Cua Cung Mot Nguoi, Mau Don Xac Nhan Hai Tên Là Cung Moitj Người, Mẫu Đơn Xác Nhận 2 Số Chứng Minh Thư Là Cùng 1 Người, Hợp Đồng Cung Cấp Dịch Vụ Giữa Bảo Kim Và Người Mua, Mẫu Đơn Xin Xác Nhận 2 Số Chứng Minh Thư Là Cùng Một Người, Đơn Xin Xác Nhận Hai Ngày Ngày Sinh Là Một Người, Danh Sách Người Phát Ngôn Và Cung Cấp Thông Tin Cho Báo Chí, Mau Don Xac Nhan Ho Khau Cmnd Va Khai Sinh Cung 1 Nguoi, Bài Cúng Xe Ngày 16, Thủ Tục Cúng 35 Ngày, Thư Mời Cúng 49 Ngày, Văn Tế Cúng 100 Ngày, Bài Cúng 49 Ngày, Bài Cúng 3 Ngày Tết, Bài Cúng 3 Ngày, Thủ Tục Cúng 100 Ngày, Bài Văn Cúng 49 Ngày, Thủ Tục Làm Lễ Cúng 100 Ngày, Bài Cúng Xe Ngày Rằm, Bài Cúng 50 Ngày, Thủ Tục Cúng 3 Ngày, Bài Cúng Mụ 7 Ngày, Thủ Tục Cúng 49 Ngày, Bài Cúng Giỗ 49 Ngày, Bài Cúng 7 Ngày, Bài Cúng 100 Ngày, Thủ Tục Làm Lễ Cúng 49 Ngày, Bài Cúng Ngày Thần Tài, Bài Cúng Ngày Rằm, Bài Cúng Ngày Giỗ, Lễ Cúng 50 Ngày, Lễ Cúng 7 Ngày, Bài Cúng Ngày 01 Tết, Bài Cúng 100 Ngày Về Nhà Mới, Thủ Tục Cúng Mụ 9 Ngày Cho Bé Gái, Thủ Tục Cúng 7 Ngày, Thủ Tục Cúng 50 Ngày, Lễ Cúng 49 Ngày, Bài Cúng Ngày 01, Bài Cúng 21 Ngày, Bài Cúng ông Thần Tài Ngày Rằm, Tờ Khai Cung Cấp Và Thay Đổi Thông Tin Người Tham Gia Bhxh Bhyt (mẫu Tk1-ts), Văn Khấn Cúng 50 Ngày, Bài Cúng 100 Ngày Ngoài Mộ, Lễ Cúng 7 Ngày Cho Bé Trai, Bài Cúng 100 Ngày Bát Hương, Bài Cúng Hằng Ngày, Thủ Tục Cúng Mụ 7 Ngày Cho Bé Trai, Lễ Cúng 49 Ngày Gồm Những Gì, Bai Cung Ngoai Mo 100 Ngay, Bài Cúng 49 Ngày Ngoài Mộ, Nhưng Nhân Viên Phục Vụ Rất Tinh Mắt,lập Tức Cúi Người Cung Kính Với Trần Hạo, Bài Cúng Phật Hàng Ngày, Bài Cúng Ngày Thanh Minh, Bài Cúng Ngày 7 Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày 07 Tháng Giêng, Bài Văn Mẫu Nhiễu Điều Phủ Lấy Giá Gương Người Trong Một Nước Phải Thương Nhau Cùng, Bài Tập Làm Văn Nhiễu Điều Phủ Lấy Giá Gương Người Trong Một Nước Phải Thương Nhau Cùng, Dàn ý Nhiễu Điều Phủ Lấy Giá Gương Người Trong Một Nước Phải Thương Nhau Cùng, Bài Cúng Ngày Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng ông Công Ngày Rằm Tháng Giêng, Mẫu Tờ Khai Cung Cấp Và Thay Đổi Thông Tin Người Tham Gia Bảo Hiểm Xã Hội Bảo Hiểm Y Tế, Khế ước Người Yêu 100 Ngày, Văn Khấn 49 Ngày Người Mất, Mỗi Một Là Một Người Học Mỗi Ngày! Tạo Elite Học Giả Ces, Mẫu Đơn Xin Xác Nhận 2 Số Chứng Minh Nhân Dân Là Cùng Một Người , Văn Khấn 3 Ngày Người Chết, Giấy ủy Quyền Con Người Ngày 24/11/2015, Gặp Biển Nào Người Lái Xe Không Được Đỗ Xe Vào Ngày Lẻ, Gặp Biển Nào Người Lái Xe Không Được Đỗ Xe Vào Ngày Chẵn, Chỉ Thị Số 06/ct-ttg Ngày 01/02/2008 Của Thủ Tướng Chính Phủ Về Phát Huy Vai Trò Người Uy Tín Trong , Chỉ Thị Số 06/ct-ttg Ngày 01/02/2008 Của Thủ Tướng Chính Phủ Về Phát Huy Vai Trò Người Uy Tín Trong, Đời Sống Hàng Ngày Của Người Dân Tây Nguyên, Thời Gian Làm Việc Trong Một Ngày Của Người Lái Xe Được Quy Định Là Bao Nhiêu?, Trên Đường Có Nhiều Làn Đường Cho Xe Đi Cùng Chiều Được Phân Biệt Bằng Vạch Kẻ Phân Làn Đường, Người, Trên Đường Có Nhiều Làn Đường Cho Xe Đi Cùng Chiều Được Phân Biệt Bằng Vạch Kẻ Phân Làn Đường, Người, Trên Đường Có Nhiều Làn Đường Cho Xe Đi Cùng Chiều Được Phân Biệt Bằng Vạch Kẻ Phân Làn Đường, Người, Trên Đường Có Nhiều Làn Đường Cho Xe Đi Cùng Chiều Được Phân Biệt Bằng Vạch Kẻ Phân Làn Đường, Người, Trên Đường Có Nhiều Làn Đường Cho Xe Đi Cùng Chiều Được Phân Biệt Bằng Vạch Kẻ Phân Làn Đường, Người, Trên Đường Có Nhiều Làn Đường Cho Xe Đi Cùng Chiều Được Phân Biệt Bằng Vạch Kẻ Phân Làn Đường, Người, Trên Đường Có Nhiều Làn Đường Cho Xe Đi Cùng Chiều Được Phân Biệt Bằng Vạch Kẻ Phân Làn Đường, Người, Trên Đường Có Nhiều Làn Đường Cho Xe Đi Cùng Chiều Được Phân Biệt Bằng Vạch Kẻ Phân Làn Đường, Người, Trên Đường Có Nhiều Làn Đường Cho Xe Đi Cùng Chiều Được Phân Biệt Bằng Vạch Kẻ Phân Làn Đường, Người,

    Lễ Cúng 49 Ngày Cho Người Mất, Thủ Tục Cúng 49 Ngày Cho Người Mất, Thủ Tục Cúng 3 Ngày Cho Người Mất, Thủ Tục Cúng 100 Ngày Cho Người Mất, Thủ Tục Cúng 49 Ngày Cho Người Chết, Dàn Bài Đã Có Lần Em Cùng Bố Mẹ Đi Thăm Mộ Người Thân Trong Ngày Lễ Tết, Văn Khấn Cúng Bội Cho Người Mới Mất, Mẫu Đơn Xác Nhận 2 Tên Cùng Một Người, Câu Thơ Nào Là Lời Trách Móc Cũng Là Lời Mời Gọi Của Con Người Vĩ Dạ, Đơn Xin Xác Nhận 2 Tên Cùng 1 Người, Bài Cúng Sóc Vọng Cho Người Mới Mất, Don Xac Nhan 2 Ten La Cung 1 Nguoi, Đơn Xin Xác Nhận 2 Tên Cùng Một Người, Mau Don Xac Nhan 2 Ten La Cung Mot Nguoi, Mẫu Đơn Xác Nhận 2 Tên Gọi Cùng 1 Người, Câu Thơ Nào Giống Như Lời Trách Móc Cũng Là Lời Mời Gọi Của Con Người Vĩ Dạ, Cưng Chiều Vợ Cũ Lão Bà Đại Nhân Thật Mê Người, Xac Nhan 2 So Cmnd Cua Cung Mot Nguoi, Mau Don Xac Nhan Hai Tên Là Cung Moitj Người, Mẫu Đơn Xác Nhận 2 Số Chứng Minh Thư Là Cùng 1 Người, Hợp Đồng Cung Cấp Dịch Vụ Giữa Bảo Kim Và Người Mua, Mẫu Đơn Xin Xác Nhận 2 Số Chứng Minh Thư Là Cùng Một Người, Đơn Xin Xác Nhận Hai Ngày Ngày Sinh Là Một Người, Danh Sách Người Phát Ngôn Và Cung Cấp Thông Tin Cho Báo Chí, Mau Don Xac Nhan Ho Khau Cmnd Va Khai Sinh Cung 1 Nguoi, Bài Cúng Xe Ngày 16, Thủ Tục Cúng 35 Ngày, Thư Mời Cúng 49 Ngày, Văn Tế Cúng 100 Ngày, Bài Cúng 49 Ngày, Bài Cúng 3 Ngày Tết, Bài Cúng 3 Ngày, Thủ Tục Cúng 100 Ngày, Bài Văn Cúng 49 Ngày, Thủ Tục Làm Lễ Cúng 100 Ngày, Bài Cúng Xe Ngày Rằm, Bài Cúng 50 Ngày, Thủ Tục Cúng 3 Ngày, Bài Cúng Mụ 7 Ngày, Thủ Tục Cúng 49 Ngày, Bài Cúng Giỗ 49 Ngày, Bài Cúng 7 Ngày, Bài Cúng 100 Ngày, Thủ Tục Làm Lễ Cúng 49 Ngày, Bài Cúng Ngày Thần Tài, Bài Cúng Ngày Rằm, Bài Cúng Ngày Giỗ, Lễ Cúng 50 Ngày, Lễ Cúng 7 Ngày, Bài Cúng Ngày 01 Tết,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Lại Phải Cúng ‘cô Hồn’ ?
  • Tại Sao Ông Táo Lại Cưỡi Cá Chép Về Trời?
  • Cúng Giao Thừa Và 3 Ngày Tết Thế Nào Để Được Nhiều Lợi Ích?
  • Vì Sao Lại Nói ‘cúng Quanh Năm Không Bằng Rằm Tháng Giêng’?
  • Vì Sao Cúng Ông Công Ông Táo Lại Chỉ Thả Cá Chép?
  • Cách Cúng Xe Mới Và Bài Cúng Xe Mới Mua Cầu Nhiều An Lành

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Xe Mới Mua Vào Ngày Nào ? Lễ Vật Cúng Chuẩn Việt Nam
  • Tục Cúng Xe Ô Tô Mới Khá Lạ Ở Miền Trung, Miền Nam
  • Mở Cửa Mã Là Gì? Để Làm Gì, Ý Nghĩa Gì, Và Cần Những Gì? Ngày Nào?
  • Phong Tục Mở Cửa Mả Tại Việt Nam
  • Những Lễ Cúng Sau Đám Tang
  • 1. Tại sao phải làm lễ cúng xe mới?

    Với sự phát triển của xã hội cùng nền kinh tế đang đi lên, việc tậu cho mình 1 chiếc xe để phục vụ cho nhu cầu đi lại cũng như an toàn hơn khi tham gia giao thông không còn quá khó như trước.

    Chiếc xe luôn được mọi người coi như là 1 tài sản lớn đối với người Việt Nam, vì vậy ai cũng mong muốn chiếc xe hoạt động tốt, không gặp tai nạn, thì việc cúng xe là điều không thể thiếu được.

    Mâm cúng xe mới cầu bình an

    Tuy nhiên, lễ cúng xe không nên thực hiện 1 cách qua loa, bởi theo các quan niệm về phong thủy cũng như tín ngưỡng, thì việc cúng xe ảnh hưởng đến sự bình an cho cả người lái và chiếc xe của mình.

    Trước khi tổ chức lễ cúng phải chọn được ngày giờ đẹp, hợp với mệnh, tuổi của chủ xe. Thực hiện việc cúng phải thật chi tiết, cẩn thận để tránh ảnh hưởng xấu đến vận may của chiếc xe.

    2. Cách cúng khai trương xe tải, xe ô tô – Mâm cúng xe mới cần chuẩn bị những gì?

    Đồ cúng xe không cần phải quá cao sang hay khó tính, tuy nhiên cũng cần phải có những lễ vật sau:

    • Một lọ hoa tươi
    • Một đĩa trái cây tươi
    • Một đĩa gà luộc nguyên con hoặc heo sữa quay (nếu là người theo đạo Phật thì có thể thay thế bằng đĩa đồ ăn chay)
    • Một xấp tiền vàng
    • Một đĩa muối gạo
    • Ba hoặc năm ly rượu, trà
    • Nước lọc
    • Hương thơm
    • Nến

    Mâm cúng xe mới đơn giản

    3.1 Bài cúng khai trương xe mới mua

    Không phải ngẫu nhiên mà có lễ cúng như vậy. Từ xưa đến nay, ông bà ta đã có các nghi lễ và tục lệ như vậy mỗi khi mua xe mới. Vì vậy mà khi thực hiện lễ cúng, cần tiến hành 1 cách cẩn thận và thành tâm để mang lại may mắn cũng như an toàn cho cả chủ và xe.

    Sau khi đã chuẩn bị xong mâm cúng, chủ xe sắp lễ vật lên trước đầu xe, chờ đến giờ lành đã chọn và bắt đầu thực hiện nghi lễ cúng. Sau khi thắp nhang xong, chủ xe tiến lên phía trước, thành tâm đọc bài khấn với nội dung cầu mong sự bình an trên mọi nẻo đường.

    Cũng giống như nhiều lễ cúng khác, cúng xe không chỉ cần chuẩn bị mâm lễ cúng mà phải đọc cả văn khấn cúng. Mục đích là để cầu xin thần linh, tổ tiên phù hộ cho gia chủ được thượng lộ bình an, gặp nhiều may mắn.

    Bài khấn cúng xe mới

    3.2 Bài cúng xe hàng tháng

    Để cầu bình an, thuận lợi cho xe ngoài việc cúng khai trương xe thì các bạn cũng nên làm lễ cúng xe hàng tháng. Bài khấn cúng xe hàng tháng sẽ có nội dung ngắn và đơn giản hơn so với bài khấn cúng xe mới. Nội dung cụ thể như sau:

    “Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Hôm nay, Ngày …… Tháng ……. Năm ……. Tên họ người chủ cúng xe: …….. Cung Thỉnh: Chư vị Thần Linh, Thần hoàng bổn cảnh, Thổ Địa, chư thánh chư thần cư ngụ và cai quản nơi đây, những vong linh ở quanh đây. Mời chư vị giá đáo đàng tràng thọ hưởng phẩm vật, hộ trì cho con là…… và chiếc xe mang biển số…….. xuất hành được bình an, làm ăn luôn thuận lợi, mọi việc tất thành, cầu tài được tài, cầu lợi đắc lợi. Con xin tạ ơn !!! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật!”

    Sau khi đọc xong bài văn khấn cúng xe hàng tháng, gia chủ sẽ thực hiện thêm một số nghi thức, đó là:

    • Rót 3 lần rượu
    • Châm một lần trà,
    • Khấn thêm 3 lần nữa
    • Mời thần linh nhận mâm cúng xe.

    Nghi thức làm lễ cúng xe mới

    4. Dịch vụ mâm cúng xe mới trọn gói

    Lễ cúng xe mới là một nghi thức rất quan trọng có ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của gia chủ. Để tránh tình trạng xảy ra sai xót gia chủ cần chuẩn bị đầy đủ các lễ vật, nghi thức cho lễ cúng.

    Hy vọng những thông tin trên sẽ giúp ích được nhiều cho các bạn khi làm lễ cúng xe mới. Nếu bạn không có thời gian để chuẩn bị hãy liên hệ Đồ Cúng Gia Tiên – đơn vị cung cấp trọn gói mới đầy đủ và uy tín nhất. Mọi thắc mắc xin quý khách vui lòng liên hệ Đồ Cúng Gia Tiên để được giải đáp mọi thắc mắc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Lập Bàn Thờ Ông Táo
  • Cúng Khai Trương Gồm Những Thứ Gì? Nên Cúng Chay Hay Mặn Là Đúng?
  • Cách Cúng Khai Trương Năm 2021 Đúng Chuẩn Mang Lại Nhiều Tài Lộc
  • Hoa Gì Nên Cúng Khai Trương
  • Địa Chỉ Cung Cấp Đồ Cúng Khai Trương Cửa Hàng Trọn Gói Tại Tphcm
  • Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Cúng Gia Tiên
  • Bài Văn Cúng Ngày Mùng Một Tết Nguyên Đán
  • Mẫu Những Bài Văn Cúng Khấn Trong Lễ Dâng Sao Giải Hạn
  • Đọc Bạn Tốt Cùng Anh Trai Cậu Ấy Bị Luân Gian
  • Con Gái 23 Tuổi Vẫn Tắm Chung Với Bố Và Anh Trai, Làm Điều Lạ Lùng Trong Lúc Tắm
  • Lễ Nhạp Trạch (lễ dọn vào nhà mới, có thể là nhà tự xây cất hoặc,ngôi nhà mới mua) là một nghi lễ quan trọng trong nghi.

    Ý nghĩa:

    Lễ Nhạp Trạch (lễ dọn vào nhà mới, có thể là nhà tự xây cất hoặc ngôi nhà mới mua) là một nghi lễ quan trọng trong nghi lễ cổ truyền của người Việt. Bởi vậy khi dọn về nhà mới gia chủ phải tuân thủ các qui định cổ truyền là:

    – Chọn ngày giờ tốt để dọn đến nhà mới.

    – Đồ đạc phải do người trong gia đình tự tay dọn chuyển mang đến nhà mới.

    – Bài vị cúng Gia Thần, Tổ Tiên phải do gia chủ tự tay cầm đến nhà mới. Còn những người khác trong gia đình thì đi theo sau, tay cầm tiền của mang đến nhà mới. Thời gian chuyển nhà tốt nhất là vào buổi sáng, giữa trưa hoặc lúc mặt trời mới bắt đầu lặn, tránh chuyển nhà vào buổi tối.

    Sắm lễ:

    Mâm lễ dâng Thần linh, Gia Tiên ngày nhập trạch được bày biện trang trọng gồm: Trầu cau, hương, hoa, vàng mã, mùa nào quả ấy, bánh kẹo và mâm lễ mặn: rượu, thịt, xôi, gà…

    Khi vào nhà mới, vật đầu tiên mang vào nhà là cái chiếu hoặc đệm đang sử dụng, sau đó là bếp lửa (bếp ga, bếp dầu), không nên mang bếp điện vì bếp điện có tinh và không có tướng (tức chỉ có nhiệt mà không có ngọn lửa), chổi quét nhà, gạo, nước…… lễ vật để cúng Thần linh trước để xin nhập trạch và xin phép Thần linh rước vong linh Gia tiên về nơi ở mới để thờ phụng.

    Lễ vật được để lên bàn, mâm, kê theo hướng đẹp với gia chủ. Tự tay gia chủ thắp nhang vào một bát nhang làm tạm thời. Thắp nhang và khấn lễ Thần linh xin nhập vào nhà mới, tiếp ngay sau đó gia chủ châm bếp và đun nước.

    Đun nước mục đích là để khai bếp, pha trà dâng Thần linh và Gia tiên. Nếu có khách, có thể lấy nước đó mời khách.

    Nếu chỉ nhập trạch lấy ngày tốt chưa có nhu cầu ở ngay thì gia chủ phải ngủ một đêm ở nhà mới.

    Sau khi khấn Thần linh xong, gia chủ làm lễ cáo yết Gia tiên rồi nới dọn dẹp đồ đạc.

    Sau khi dọn xong, để cầu bình yên, toàn gia phải tổ chức lễ bái tạ Thần Phật, các vị Thánh thần và Tổ tiên…

    Người có chửa thì tốt nhất không nên dọn nhà. Trong trường hợp cấp bách không thể không dời nhà, nên mua một cái chổi mới tinh, để đích thân người chửa quét qua các đồ đạc một lượt rồi mới chuyển. Như vậy mới không phạm tội “Thần thai”

    Những người giúp dọn nhà không được là người cầm tinh con Hổ.

    Theo ông bà ta xưa, đây là một số phép tắc giữ gìn sự hanh thông, bình an cho mọi nhà, bách bệnh không phát sinh, tài vận tiến đến, cả nhà vui vẻ.

    Văn khấn:

    Văn khấn lễ nhập trạch gồm hai phần:

    – Văn khấn Thần linh.

    – Văn khấn cáo yết gia tiên

    Văn khấn thần linh

    Nam mô a di Đà Phật

    Nam mô a di Đà Phật

    – Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    – Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    – Con kính lạy Các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.

    Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….

    Hôm nay là ngày….. tháng…. năm…. tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. Trước bản toạ chư vị Tôn thần tín chủ con kính cẩn tâu trình:

    Các vị Thần linh,

    Thông minh chính trực,

    Giữ ngôi tam thai

    Nắm quyền tạo hoá

    Thể đức hiếu sinh

    Phù hộ dân lành

    Bảo vệ sinh linh .

    Nêu cao chính đạo.

    Nay gia đình chúng con hoàn tất tân gia, chọn được ngày lành dọn đến cư ngụ, phần sài nhóm nhóm lửa, kính lễ khánh hạ. Cầu xin chư vị minh Thần cho chúng con được nhập vào nhà mới tại:………………………………. và lập bát nhang thờ chư vị Tôn thần. Chúng con xin phép chư vị Tôn thần cho rước vong linh Gia tiên chúng con về ở nơi này để thờ phụng. Chúng con cầu xin chư vị minh Thần gia ân tác phúc, độ cho gia quyến chúng con an ninh, khang thái, làm ăn tiến tới, tài lộc dồi dào vạn sự như ý, vạn điều tốt lành.

    Tín chủ lại mời các vong linh Tiền chủ, Hậu chủ ở trong nhà này, đất này xin cùng về đây chiêm ngưỡng Tôn thần, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho tín chủ con sức khoẻ dồi dào, an khang, thịnh vượng.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Văn khấn các Yết Gia Tiên

    Nam mô a di Đà Phật !

    Kính lạy Tiên nội ngoại họ………………………

    Hôm nay là ngày……… tháng.:……. năm……….

    Gia đình chúng con mới dọn đến đây là: (địa chỉ):…………..

    Chúng con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước ban thờ Cụ nội ngoại gia tiên. Nhờ hồng phúc tổ tiên, ông bà cha mẹ, chúng con đã tạo lập được ngôi nhà mới. Nhân chọn được ngày lành tháng tốt, thiết lập án thờ, kê giường nhóm lứa, kính lễ khánh hạ.

    Cúi xin các cụ, ông bà cùng chư vị Hương linh nội ngoại họ……………….. thương xót con cháu, chứng giám lòng thành, giáng phó linh sàng thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì cho chúng con, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, cháu con được bình an mạnh khoẻ.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam nô a di Đà Phật!

    Cùng Danh Mục

    Liên Quan Khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • 17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế
  • Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai, Bé Gái Mau Ăn Chóng Lớn
  • Ông Trùm Giải Trí Bí Mật Cưng Chiều: Cô Vợ Ngốc Ngọt Ngào
  • Sa Vào Trêu Ghẹo Vợ Yêu : Tổng Giám Đốc Vô Cùng Cưng Chiều
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • Bài Văn Cúng Gia Tiên
  • Bài Văn Cúng Ngày Mùng Một Tết Nguyên Đán
  • Mẫu Những Bài Văn Cúng Khấn Trong Lễ Dâng Sao Giải Hạn
  • Đọc Bạn Tốt Cùng Anh Trai Cậu Ấy Bị Luân Gian
  • Lễ Nhạp Trạch (lễ dọn vào nhà mới, có thể là nhà tự xây cất hoặc,ngôi nhà mới mua) là một nghi lễ quan trọng trong nghi.

    Ý nghĩa:

    Lễ Nhạp Trạch (lễ dọn vào nhà mới, có thể là nhà tự xây cất hoặc ngôi nhà mới mua) là một nghi lễ quan trọng trong nghi lễ cổ truyền của người Việt. Bởi vậy khi dọn về nhà mới gia chủ phải tuân thủ các qui định cổ truyền là:

    – Chọn ngày giờ tốt để dọn đến nhà mới.

    – Đồ đạc phải do người trong gia đình tự tay dọn chuyển mang đến nhà mới.

    – Bài vị cúng Gia Thần, Tổ Tiên phải do gia chủ tự tay cầm đến nhà mới. Còn những người khác trong gia đình thì đi theo sau, tay cầm tiền của mang đến nhà mới. Thời gian chuyển nhà tốt nhất là vào buổi sáng, giữa trưa hoặc lúc mặt trời mới bắt đầu lặn, tránh chuyển nhà vào buổi tối.

    Sắm lễ:

    Mâm lễ dâng Thần linh, Gia Tiên ngày nhập trạch được bày biện trang trọng gồm: Trầu cau, hương, hoa, vàng mã, mùa nào quả ấy, bánh kẹo và mâm lễ mặn: rượu, thịt, xôi, gà…

    Khi vào nhà mới, vật đầu tiên mang vào nhà là cái chiếu hoặc đệm đang sử dụng, sau đó là bếp lửa (bếp ga, bếp dầu), không nên mang bếp điện vì bếp điện có tinh và không có tướng (tức chỉ có nhiệt mà không có ngọn lửa), chổi quét nhà, gạo, nước…… lễ vật để cúng Thần linh trước để xin nhập trạch và xin phép Thần linh rước vong linh Gia tiên về nơi ở mới để thờ phụng.

    Lễ vật được để lên bàn, mâm, kê theo hướng đẹp với gia chủ. Tự tay gia chủ thắp nhang vào một bát nhang làm tạm thời. Thắp nhang và khấn lễ Thần linh xin nhập vào nhà mới, tiếp ngay sau đó gia chủ châm bếp và đun nước.

    Đun nước mục đích là để khai bếp, pha trà dâng Thần linh và Gia tiên. Nếu có khách, có thể lấy nước đó mời khách.

    Nếu chỉ nhập trạch lấy ngày tốt chưa có nhu cầu ở ngay thì gia chủ phải ngủ một đêm ở nhà mới.

    Sau khi khấn Thần linh xong, gia chủ làm lễ cáo yết Gia tiên rồi nới dọn dẹp đồ đạc.

    Sau khi dọn xong, để cầu bình yên, toàn gia phải tổ chức lễ bái tạ Thần Phật, các vị Thánh thần và Tổ tiên…

    Người có chửa thì tốt nhất không nên dọn nhà. Trong trường hợp cấp bách không thể không dời nhà, nên mua một cái chổi mới tinh, để đích thân người chửa quét qua các đồ đạc một lượt rồi mới chuyển. Như vậy mới không phạm tội “Thần thai”

    Những người giúp dọn nhà không được là người cầm tinh con Hổ.

    Theo ông bà ta xưa, đây là một số phép tắc giữ gìn sự hanh thông, bình an cho mọi nhà, bách bệnh không phát sinh, tài vận tiến đến, cả nhà vui vẻ.

    Văn khấn:

    Văn khấn lễ nhập trạch gồm hai phần:

    – Văn khấn Thần linh.

    – Văn khấn cáo yết gia tiên

    Văn khấn thần linh

    Nam mô a di Đà Phật

    Nam mô a di Đà Phật

    – Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    – Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    – Con kính lạy Các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.

    Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….

    Hôm nay là ngày….. tháng…. năm…. tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. Trước bản toạ chư vị Tôn thần tín chủ con kính cẩn tâu trình:

    Các vị Thần linh,

    Thông minh chính trực,

    Giữ ngôi tam thai

    Nắm quyền tạo hoá

    Thể đức hiếu sinh

    Phù hộ dân lành

    Bảo vệ sinh linh .

    Nêu cao chính đạo.

    Nay gia đình chúng con hoàn tất tân gia, chọn được ngày lành dọn đến cư ngụ, phần sài nhóm nhóm lửa, kính lễ khánh hạ. Cầu xin chư vị minh Thần cho chúng con được nhập vào nhà mới tại:………………………………. và lập bát nhang thờ chư vị Tôn thần. Chúng con xin phép chư vị Tôn thần cho rước vong linh Gia tiên chúng con về ở nơi này để thờ phụng. Chúng con cầu xin chư vị minh Thần gia ân tác phúc, độ cho gia quyến chúng con an ninh, khang thái, làm ăn tiến tới, tài lộc dồi dào vạn sự như ý, vạn điều tốt lành.

    Tín chủ lại mời các vong linh Tiền chủ, Hậu chủ ở trong nhà này, đất này xin cùng về đây chiêm ngưỡng Tôn thần, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho tín chủ con sức khoẻ dồi dào, an khang, thịnh vượng.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Văn khấn các Yết Gia Tiên

    Nam mô a di Đà Phật !

    Kính lạy Tiên nội ngoại họ………………………

    Hôm nay là ngày……… tháng.:……. năm……….

    Gia đình chúng con mới dọn đến đây là: (địa chỉ):…………..

    Chúng con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước ban thờ Cụ nội ngoại gia tiên. Nhờ hồng phúc tổ tiên, ông bà cha mẹ, chúng con đã tạo lập được ngôi nhà mới. Nhân chọn được ngày lành tháng tốt, thiết lập án thờ, kê giường nhóm lứa, kính lễ khánh hạ.

    Cúi xin các cụ, ông bà cùng chư vị Hương linh nội ngoại họ……………….. thương xót con cháu, chứng giám lòng thành, giáng phó linh sàng thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì cho chúng con, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, cháu con được bình an mạnh khoẻ.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam nô a di Đà Phật!

    --- Bài cũ hơn ---

  • 17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế
  • Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai, Bé Gái Mau Ăn Chóng Lớn
  • Ông Trùm Giải Trí Bí Mật Cưng Chiều: Cô Vợ Ngốc Ngọt Ngào
  • Sa Vào Trêu Ghẹo Vợ Yêu : Tổng Giám Đốc Vô Cùng Cưng Chiều
  • Văn Khấn Tết Trung Nguyên (Rằm Tháng 7 Âm Lịch)
  • Chia Sẽ Bài Văn Cúng Bốc Bát Hương Bàn Thờ Thần Tài, Thổ Địa Bàn Thờ Gia Tiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Giao Thừa Trong Nhà Và Ngoài Trời Năm Kỷ Hợi 2021
  • Văn Cúng Giao Thừa Ngoài Trời Năm Tân Sửu (2021)
  • Bài Văn Cúng Giao Thừa Ở Ngoài Trời Cho Năm 2021 Ất Mùi
  • Tải Về Tập Văn Cúng Gia Tiên Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Tải Về Tập Văn Tế Mẫu Cúng Gia Tiên Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Văn Khấn Thay Bàn Thờ Mới – Văn Khấn Bốc Bát Hương

    Nội dung bài viết

    Bài Văn Khấn Thay Bàn Thờ Mới, Thay Bàn Thờ Gia Tiên Và Văn Khấn Bốc Bát HươngVào các dịp gia đình đổi bàn thờ mới, cũng như bốc Bát Hương thì cần phải chuẩn bị chu tất từ mâm lễ cúng cho đến bài văn khấn xin các cụ cho phép chúng ta được lập lại bàn thờ Mới cũng như tiến hành Bốc Lại Bát Hương thờ cúng. Việc này là việc trọng đại, tương tự như việc động thổ, cất nóc, nhập trạch, đây là phép văn hóa tôn trọng bề trên và đức thánh thần.

    Về phần lễ vật thay bàn thờ – Bốc Bát Hương cần phải chuẩn bị bao gồm :Mâm Cúng Thay Bàn Thờ Mới – Bốc Bát Hương+ 1 con gà lễ (nếu có) : Gà là thực phẩm quen thuộc hằng ngày, trong dịp lễ cúng thay bàn thờ, bốc bát hương bạn cần phải chuẩn bị một con gà trống tơ, luộc xếp chéo cánh, lựa gà đẹp nhất và có trọng lượng từ 1,2 đến 1,5 kg là được.

    + 1 chân giò trước làm sạch luộc chín : Chân giò heo lựa chân ngon nhất, không bị bầm tụ máu, khi luộc xong thì cho vào đĩa và đưa lên mâm cúng.

    + 1 đĩa xôi trắng : Xôi trắng có thể mua hoặc tự nấu, lựa loại ngon.

    + 1 chai rượu trắng (1/2 lít) : Rựu để cho các cụ về thưởng thức và nhân đó con cháu giải bày lý do đổi bàn thờ.

    + 5 quả trứng gà ta (để sống) 2 lạng thịt vai (để sống), lễ xong phải luộc chín luôn

    + 3 lá trầu + 3 quả cau : Trầu cau không thể thiếu trong câu chuyện quan trọng của người Việt, miếng trầu đầu câu chuyện, vì vậy ở đây cũng phải chuẩn bị đầy đủ.

    + 3 chén nước,

    + 5 quả tròn (táo hay lê…),

    + 9 bông hồng màu hồng son,

    + 1 đĩa gạo mối (không trộn lẫn),

    + 1 lạng chè ngon + 1 bao thuốc lá,

    + 1 đinh vàng hoa,

    + 5 lễ vàng tiền,

    + 1 bộ quần áo quan thần linh đỏ, hia, mũ, ngựa đỏ, kiếm trắng,

    + 1 mâm cơm canh (không hành tỏi).

    Không Gian Gốm Bát Tràng lắp đặt bàn thờ gia tiên cho một gia đình ở quận 1 Tp.HCM

    Cách Bốc Bát Hương Bàn Thờ Gia TiênCách Bốc bát hương: Chọn bát hương Bát Tràng vì loại bát hương này chuẩn nhất bát hương hình họa tiết vẽ rồng phải chọn kỉ chú ý đầu rồng châu vào 1 thái cực. Sau khi chọn mua được mẫu bát hương ưng ý Bát Tràng thì tiến hành Rửa sạch bát hương bằng nước sạch, để khô. Kế đến tiến hành lấy lễ tiền vàng chuẩn bị sẳn lau trong ngoài và hóa tiền vàng vừa mới lau xong. Khi hóa lễ tiền vàng thì bắt đầu cấm bát hương úp xuống hơ bát hương trên lữa hóa, chú ý dùng tay cái bịt mắt rồng khi hơ lữa. Sau đó, bạn hãy lấy ngay một phần tro tiền vàng vừa hóa cho vào Bát Hương ( Đây được xem là cốt bát hương ) Cuối cùng lấy một ít tro rơm nếp để lên trên, không ấn không day chỉ cần bỏ đầy vào là được.

    Cách bày bát hương: Bày bát hương cách tường tối thiểu 10cm, và đặt ở vị trung tâm của bàn thờ, đây là bát hương chính dùng để thờ thần linh, chư thần và bát hương bên phải dùng để thờ bà cô ông mãnh, bát hương bên trái thờ gia tiên. Các bát hương cách nhau từ 5 đến 10 cm là phù hợp.

    Xem Thêm

    Mẫu Bát Hương Bát Tràng thờ cúng chuẩn nhất, Bát Hương Đẹp .

    Cách thắp hương khi đổi bàn thờ mới, bốc bát hương : Bát hương thần linh thắp 9 nén hương, hai bát hương còn lại thắp 5 nén hương. Hết tuần hương này thì thắp thêm một tuần nữa, mỗi bát chỉ cần 3 nén. Khi cháy hết hương nếu hương thông thì được việc, nếu tắt hương là việc không thành. Nếu chân giò hoặc thịt cúng xong có mùi thơm như mùi cơm nếp là rất tốt (Có mùi tanh thì phải làm lễ hoá giải).

    Văn khấn thay ban thờ, bốc bát hương chuẩn nhất Khi bốc bát hương bàn thờ gia tiên, bàn thờ tổ.Đây là bài văn khấn thay bàn thờ mới, Văn Khấn Bốc Bát Hương

    ♦ Nam Mô A Di Đà Phật!

    ♦ Nam Mô A Di Đà Phật!

    ♦ Nam Mô A Di Đà Phật!

    ♦ Con lạy chín phương trời mười phương Phật. Con kính lạy các chư vị thần linh, hiển linh, hiển pháp, pháp thuật vô biên.

    ♦ Hôm nay là ngày …. tháng …. năm ….

    ♦ Tên con là ………… (Tín chủ của ………. địa chỉ ………..)

    ♦ Con làm lễ bốc bát hương mới (thay bàn thờ mới), mục đích con xin cầu………, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, ăn nên làm ra, cầu được ước thấy, vạn sự như ý.

    ♦ Con xin kính lạy các cụ tổ tiên nội ngoại sống khôn thác thiêng, hôm nay con làm lễ bốc bát hương mới (thay bàn thờ mới), kính xin các cụ về phù hộ độ trì cho con cho cháu mạnh khoẻ, an ninh khang thái, mọi việc được hanh thông.

    ♦ Con kính lạy các bà cô tổ ông mãnh nội ngoại sống khôn chết thiêng cho con cầu ……………………

    ♦ Cúng xong, hương cháy hết đợt thứ nhất, sau khi thắp đợt thứ hai thì bắt đầu hóa tiền vàng, tờ văn khấn. Vãi gạo, muối ra trước cửa ngõ (vãi riêng từng thứ). Lúc tàn hết hương thì xin hạ lễ. Lúc tàn hết hương thì xin hạ lễ, đem thịt và trứng sống luộc chín.

    Bài văn cúng, Văn Khấn Thay bốc bát hương bàn thờ Thần Tài, Thổ Địa

    Nam Mô A Di Đà Phật!

    Nam Mô A Di Đà Phật!

    Nam Mô A Di Đà Phật!

    ♦ Con lạy chín phương trời mười phương Phật. Con kính lạy các chư vị thần linh, hiển linh, hiển pháp, pháp thuật vô biên.

    ♦ Hôm nay là ngày …. tháng …. năm ….

    ♦ Tên con là ………… (Tín chủ của ………. địa chỉ ………..)

    ♦ Con làm lễ bốc bát hương mới cho bàn thờ ông Thần Tài ( Thỏ Công ), mục đích con xin cầu………, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, ăn nên làm ra, cầu được ước thấy, vạn sự như ý.

    ♦ Con xin kính lạy Ông Thần Tài ( Thổ Công ), hôm nay con làm lễ bốc bát hương mới , kính xin Chư Vị phù hộ độ trì cho con cho cháu mạnh khoẻ, an ninh khang thái, mọi việc được hanh thông.

    bốc bát hương thần tài như thế nào cho đúng cách

    Văn khấn chuyển bàn thờ thần tài ♦ Vẫn đặt ban thờ ở vị trí cũ đặt ba lễ tiền vàng, một cốc nước lã, ba chén rượu và một lọ hoa hồng 5 bông

    ♦ Chủ nhà thắp hương mỗi bát hương 3 nén hương, rót một chút rượu ra tay rắc lên ban thờ rồi khấn

    “Nam mô A Di Đà Phật”

    ♦ Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật

    Hôm nay là ngày: …. tháng … năm ………… 20…

    Tín chủ con là: …………………..tuổi….

    Hiện đang trú tại: ………………………………………………

    ♦ Kính cáo chư vị Tôn thần, nay vì cơ quan có thay đổi vị trí mặt bằng cho các phòng ban, chúng con xin làm lễ Thiên Linh vị Tài thần Thổ địa, để đặt bàn thờ Thổ Địa Tài Thần vào nơi mới.

    ♦ Hôm nay nhân cát nhật lương thần, con xin làm lễ “Thiên di linh vị Thần đài” – Chuyển ban thờ Thổ địa mạch long thần từ vị trí ……….. sang phòng ……… Tuy vị trí có thay đổi nhưng hướng bàn thờ vẫn giữ nguyên như trước.

    ♦ Con kính xin chư vị Tôn thần bản gia, bản địa chấp lễ chấp cầu cho được phép di chuyển ban thờ sang nơi mới.

    ♦ Tín chủ: ……………………. con xin rập đầu kính bái.

    ♦ Chờ khoảng một nửa tuần hương, thì lấy tiền vàng trên ban thờ lót dưới bàn thờ. Rồi chuyển ban thờ và các đồ thờ tới vị trí mới, khi hương vẫn đang còn thắp. Khi đặt bát hương lên bàn thờ ở vị trí mới rồi thì hóa toàn bộ số tiền vàng lót dưới, lấy rượu đã rót trong chén rắc vào tro tiền vàng

    ♦ Sau đó, bày lễ vật: Xôi gà, hoa quả, tiền vàng mới, rượu, sớ chuyển ban thờ.v.v… trước ban thờ.

    ♦ Tín chủ thắp một tuần hương mới vào các bát hương, rót rượu mới ra chén, rắc một chút vào ban thờ và dưới đất rồi khấn:

    “Nam mô A Di Đà Phật”

    ♦ Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật

    Hôm nay là ngày: …. tháng …. năm ……….. 20…..

    Tín chủ con là: …………… tuổi…..

    ♦ Tín chủ con kính cáo: Chư vị Thổ địa mạch long thần, Tài thần cho phép con sửa soạn lễ vật : Nhục kê quí tửu, phù lưu thanh chước, kim ngân hương đăng, cùng thứ phẩm chi nghi xin làm lễ chuyển ban thờ Thổ địa bản gia, đến vị trí mới đắc đáo linh địa.

    ♦ Con là người trần, việc thưa gửi có bề chưa thấu tỏ, con có tờ giấy cánh sớ xin kính cẩn tấu bày. Kính xin chư vị tôn thần cho con được thành tâm kính lễ.

    ♦ Sau đó chủ lễ đọc sớ thiên di linh vị thần tài:

    Thiên di bản gia linh vị thần đài lễ (chắp tay lễ 3 lễ)

    Phục dĩ (chắp tay lễ 1 lễ)

    thay bát hương bàn thờ ông địa như thế nào đúng♦ Phúc lộc thọ khang ninh, nãi nhân tâm chi kỳ nguyện, Thiên di bản gia linh vị thần đài lễ đắc hanh thông phát đạt, tai ương hạn ách bằng. Thánh lực dĩ giải trừ. Nhất nhiệm chí thành, thập phương cảm cách.

    Viên hữu (chắp tay lễ 1 lễ)

    http://dothobattrang.vn/van-khan-thay-ban-tho-moi-van-khan-boc-bat-huong/

    ……… quốc – (Hà nội)………. thị – ……… quận – ……….. phố, …… ngõ, …..số

    Thượng phụng (chắp tay lễ 3 lễ)

    ♦ Thiên thánh hiến cống, Hạ thiên tiến lễ bái thánh thần Thiên di bản gia linh vị thần đài đắc bình an thông thuận, gia đình đắc phát đạt hưng vượng (chắp tay lễ 1 lễ)

    ♦ Kim thần tín chủ:……………..tuổi……Ngũ thập tứ tuế.

    ♦ Chủ Lễ: Tiến lễ bái thánh thần thiên di Thổ địa long mạch Tài thần

    ♦ Đầu thành ngũ thể, tịnh tín nhất tâm, cụ hữu sớ văn chí tâm.

    ♦ Thượng phụng – Cung duy (chắp tay lễ 3 lễ)

    ♦ Đương xứ Thành Hoàng, Hành khiển thổ địa – Phúc đức chính thần vị tiền. Ngũ phương long mạch, Tiền hậu địa chủ,Tiếp dẫn Tài thần vị tiền. Tôn thần động thừa, chiếu giám phục nguyện.

    ♦ Thiên vận: ……… niên; Ngũ nguyệt; Sơ lục nhật

    ♦ Lễ tạ lập bàn thờ thần tài

    ♦ Chờ đến khi trên bàn thờ còn khoảng ¼ tuần hương thì lễ tạ:

    ♦ Hôm nay là ngày … tháng …. năm ……… 20…….

    ♦ Tín chủ con là:……………, …….. tuổi, xin tâm thành tiến lễ bái Thánh thần lai lâm trước linh đài, thụ hưởng lễ vật và chứng giám lòng thành của chúng con. Cho phép chúng di chuyển ban thờ của chư vị Tôn thần bản gia. Chúng con thiết nghĩ, xưa nay âm có thuận dương mới hòa. Chúng con xin phép các vị Tôn thần chuyển ban thờ đắc đáo linh địa, cư trung chính gia trung, tăng thêm mãnh lực. Từ nay trở đi, tuần rằm mồng một, lễ tết, chúng con xin tôn nhang, sửa lễ dâng cúng chư vị Tôn thần để tạ ơn và xin cầu Phúc Lộc.

    ♦ Kính xin chư vị phù độ cho ……………….. chúng con được nhân khang vật thịnh, khỏe mạnh, bình an, mọi sự vạn cầu sở nguyện, vạn ước khả thành, mọi công việc làm ăn hanh thông thuận toại, tài lộc dồi dào tốt tươi, bát tiết tứ thời hưởng vinh hoa phú quí.

    ♦ Tín chủ: ……………………. cùng toàn gia chúng con xin rập đầu bái tạ!

    ♦ Sau đó, hóa vàng mã và kết thúc buổi lễ. (Rắc vài giọt rượu vào hóa tiền vàng).

    bát hương giá rẻ ở chợ

    http://dothobattrang.vn/van-khan-thay-ban-tho-moi-van-khan-boc-bat-huong/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Bà Mụ Đầy Cữ Là Gì Và Những Điều Trong Nghi Thức Cần Nhớ
  • Bài Văn Cúng Khấn Ngày Tết Trung Thu (Ngày Rằm Tháng 8)
  • Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng 8
  • Văn Khấn Cúng Gia Tiên Mùng Một Và Ngày Rằm Âm Lịch Hàng Tháng Tại Nhà
  • {Top} 27 Văn Khấn Đêm 30 Tết 2021, Văn Khấn Cúng Mùng 1 Tháng 8 Âm Lịch 2021 Chuẩn Và Chính Xác …
  • 3 Bài Văn Khấn Rằm Tháng 7 Cô Hồn Chuẩn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Rằm Tháng 7 Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam ⋆ Vn
  • 3 Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng Giêng Chuẩn Nhất Cho Mọi Nhà
  • Văn Khấn Cúng Rằm Tháng Giêng Năm Canh Tý 2021 Chuẩn Nhất Để Cả Năm Tài Lộc
  • Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Năm Canh Tý 2021 Chuẩn Nhất Dành Cho Mọi Nhà
  • Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Đúng Chuẩn Nhà Nhà Nên Biết
  • Cúng rằm tháng 7 chia ra thành lễ cúng cô hồn và cúng gia tiên. Hai lễ cúng này hoàn toàn khác nhau, bạn đọc tuyệt đối không được đồng nhất chúng thành một lễ cúng.

    (Ảnh: phunutoday)

    Văn khấn cúng cô hồn, chúng sinh chuẩn nhất

    Xá tội vong nhân hay còn gọi là cúng chúng sinh, cúng cô hồn cần thực hiện bài cúng như sau:

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con lạy Đức Phật Di Đà.

    Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

    Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.

    Tiết tháng 7 sắp thu phân

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

    Âm cung mở cửa ngục ra

    Vong linh không cửa không nhà

    Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả

    Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

    Gốc cây xó chợ đầu đường

    Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

    Quanh năm đói rét cơ hàn

    Không manh áo mỏng, che làn heo may

    Cô hồn Nam Bắc Đông Tây

    Trẻ già trai gái về đây họp đoàn

    Dù rằng chết uổng, chết oan

    Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu

    Chết tai nạn, chết ốm đau

    Chết đâm chết chém, chết đánh nhau tiền tình

    Chết bom đạn, chết đao binh

    Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi

    Chết vì sét đánh giữa trời

    Nay nghe tín chủ thỉnh mời

    Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

    Cơm canh cháo nẻ trầu cau

    Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

    Gạo muối quả thực hoa đăng

    Mang theo một chút để dành ngày mai

    Phù hộ tín chủ lộc tài

    An khang thịnh vượng hoà hài gia trung

    Nhớ ngày xá tội vong nhân

    Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

    Bây giờ nhận hưởng xong rồi

    Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

    Tín chủ thiêu hoá kim ngân

    Cùng với quần áo đã được phân chia

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức

    Cho tín chủ con

    Tên là:………………………………

    Vợ/Chồng:………………………….

    Con trai:……………………………

    Con gái:…………………………….

    Ngụ tại:……………………………..

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Văn khấn cúng thần linh tại gia rằm tháng 7

    (Ảnh: vtc news)

    Mâm cúng tổ tiên, thần linh tại gia thường là cỗ mặn và hương hoa, vàng mã, trầu cau, đèn, nến…

    Bài văn khấn cung thần linh như sau:

    Nam mô A Di Đà Phật

    Kính lạy: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản xứ này.

    Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm ….

    Tín chủ chúng con tên là: … ngụ tại nhà số …., đường …., phường (xã) …., quận (huyện) …, tỉnh (thành phố) …. thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.

    Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, soi xét chứng giám.

    Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội, chúng con đội ơn Tam bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.

    Do vậy, chúng con kính dâng lễ bạc, bày tỏ lòng thành, nguyện xin nạp thọ, phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình chúng con, người người khỏe mạnh, già trẻ bình an hương về chính đạo, lộc tài vương tiến, gia đạo hưng long.

    Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

    Văn tế khấn tổ tiên ngày rằm tháng 7

    (Ảnh: eva)

    Nam mô A Di Đà Phật

    Kính lạy tổ tiên nội ngoại họ … và chư vị hương linh.

    Hôm nay là rằm tháng Bảy năm ….

    Gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung nguyên, nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức. Vi vậy cho nên nghĩ, đức cù lao không báo, cảm công trời biển khó đền. Chúng con sửa sang lễ vật, hương hoa kim ngân và các thứ lễ bày dâng trước án linh tọa.

    Chúng con thành tâm kính mời: Các cụ Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Bá thúc đệ huynh, cô dì tỷ muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ … (Dương. Nguyễn, Lê, Trần …)

    Cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng lâm linh sàng chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, bình an, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, hướng về chính đạo.

    Tín chủ lại mời: Các vị vong linh y thảo phụ mộc, phảng phất ở đất này, nhân lễ Vu Lan giáng lâm linh tọa, chiêm ngưỡng tôn thần, hâm hưởng lễ vật, độ cho tín chủ muôn sự bình an, sở cầu như ý.

    Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

    Mâm cỗ cúng cô hồn bao gồm những gì?

    Sau khi biết được thông tin về ngày cúng cô hồn chính xác thì người chủ sẽ tiến hành lựa chọn các lễ vật để dâng cúng. Tuy nhiên, tùy vào từng vùng miền, phong tục tập quán mà sẽ có những cách chuẩn bị lễ vật cũng như khấn cúng cô hồn khác nhau. Chính vì thế, bạn lưu ý mâm cúng cô hồn trọn gói của người Miền Nam có những đồ như sau:

    – Ngũ quả: mãng cầu, xoài, sung, đu đủ, dừa,…Ngũ quả tính đúng khi dựa vào số loại quả chứ không tính số lượng.

    – 1 đĩa muối, gạo.

    – 12 chén nhỏ cháo trắng nấu lỏng.

    – 3 hoặc 5 bát cơm vắt.

    – 12 cục đường thẻ.

    – Giấy áo, giấy tiền vàng bạc.

    – Mía (để nguyên vỏ hoặc chặt từng khúc nhỏ có độ tầm 15cm). Bánh, kẹo.

    – Tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá, và thường những loại tiền có mệnh giá nhỏ).

    – 3 ly nước nhỏ.

    – Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc.

    – 3 cây nhang.

    – 2 ngọn nến nhỏ.

    – Hoa đĩa tươi, trầu cau.

    Có nên cúng cô hồn hàng tháng không?

    Theo tín ngưỡng tâm linh của người xưa hay quan niệm Việt Nam ta, thì việc chuẩn bị một mâm cúng cô hồn trọn gói để cúng giúp cho gia đình hòa hợp, công việc làm ăn được thuận lợi, không bị cô hồn quấy phá, quấy nhiễu.

    Bên cạnh đó, việc cúng kiếng vào tháng cô hồn còn một nghi lễ bố thí, từ bi bác ái, muốn chia sẻ sự đau khổ cho các cô hồn, vong linh (ma đói) thiếu phước, đang bị bỏ đói khát triền miên, bơ vơ, vất vưởng không nơi cư trú, lang thang không siêu thoát và đặc biệt là không có người cúng giỗ cẩn thận.

    Việc cúng cô hồn được xem như việc tích đức cho cuộc sống ở cõi trần được hưởng sự an lành, thoải mái. Sẽ không bao giờ phải lo sợ những cô hồn luôn luôn quấy nhiễu, cản trở công việc, sức khỏe

    Những điều kiêng kỵ khi cúng cô hồn

    1. Không đi chơi đêm trong tháng cô hồn vì theo quan niệm dân gian, buổi đêm là lúc ma quỷ lộng hành nhất nên người dương cần hạn chế đi chơi đêm để tránh gặp rắc rối.

    2. Không phơi quần áo vào ban đêm vì ma quỷ có thể “mượn tạm” để mặc sẽ khiến bạn gặp xui xẻo.

    3. Không gọi, gào thét tên nhau giữa đêm khuya vì hành động này sẽ khiến ma quỷ ghi nhớ tên người được gọi và có thể sẽ ám người đó.

    4. Không tùy tiện đốt tiền vàng, vàng mã trong tháng cô hồn vì việc này có thể khiến ma lang thang khắp nơi bu quanh bạn nhiều hơn, quấy nhiễu cuộc sống của bạn.

    5. Không ăn vụng đồ khi cúng cô hồn. Đến rằm tháng 7, nhà nào cũng làm mâm cúng cô hồn để ban phát đồ ăn, thức uống cho các linh hồn, quỷ đói, nhưng nếu ăn đồ của người âm mà chưa cúng hoặc chưa xin phép sẽ rước họa vào thân.

    6. Không đứng gần cây đa, cây đề vì theo quan niệm dân gian, vào ban đêm dưới gốc cây đa, cây đề hội tụ rất nhiều âm khí, đặc biệt vào tháng cô hồn. Do đó người dương không nên ngồi, nằm, trốn ở đó để tránh ma quỷ trêu đùa.

    7. Không treo chuông gió ở đầu giường vì tiếng chuông gió sẽ gọi ma quỷ đến nhà gây ảnh hưởng đến giấc ngủ và cuộc sống của bạn.

    8. Không bơi lội trong tháng cô hồn, nhất là ở sông suối, ao hồ vì ở đây âm khí rất nhiều. Khi bơi nếu không cẩn thận sẽ bị trẹo chân chuột rút thậm chí bị ma rủ.

    9. Không được hù dọa người khác vì có thể khiến họ bị “hồn bay phách lạc”, dễ bị ma quỷ xâm nhập lúc nào không hay.

    10. Không nhổ lông chân trong tháng cô hồn. Theo quan niệm dân gian, “một sợi lông chân quản 3 con quỷ” nên nếu nhổ lông chân trong tháng cô hồn thì người đó rất dễ gặp phải chuyện xui xẻo trong cuộc sống.

    11. Không quay đầu nhìn lại phía sau khi đến nơi vắng vẻ và nếu có cảm giác như đang có người đi theo hoặc gọi tên mình thì bạn cũng tuyệt đối không được quay đầu lại vì rất có thể là bạn đang bị ma quỷ trêu chọc. Nếu quay đầu lại sẽ dễ bị rủ về cõi âm.

    12. Không nên thức quá khuya vì ảnh hưởng đến sức khỏe dẫn đến suy nhược và dễ nhiễm quỷ khí.

    13. Không nhặt tiền rơi trong tháng cô hồn vì đó có thể là tiền người ta cúng dùng để mua chuộc bọn quỷ đầu trâu mặt ngựa. Nếu nhặt tiền đó, người nhặt sẽ phải hứng chịu những tai họa thay cho người rải tiền.

    14. Không mài dao kéo.

    15. Hạn chế làm những chuyện đại sự như ký hợp đồng làm ăn, cưới hỏi, xây nhà… Trong trường hợp bất khả kháng thì cần phải xem kỹ ngày.

    XEM THÊM

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Bài Văn Khấn Rằm Tháng 7 Phổ Biến Nhất Bạn Nên Biết
  • 3 Bài Văn Khấn Rằm Tháng 7 Phổ Biến Nhất
  • Văn Khấn Rằm Tháng Bảy Cúng Chúng Sinh Bài Văn Khấn Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7 : Những Bài Văn Khấn Rằm Tháng 7 Hay Nhất
  • Văn Khấn Ông Táo Về Nhà Mới Chuẩn Nhất Trong Năm Kỷ Hợi 2021
  • Tin tức online tv