Top 15 # Xem Nhiều Nhất Bài Cúng Phật Giáo Hòa Hảo / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Herodota.com

Bài Cúng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, Phật Giáo Hòa Hảo / 2023

4.5

/

5

(

2

bình chọn

)

SỰ CÚNG LẠY của người cư sĩ Tại Gia – PHẬT GIÁO HOÀ HẢOBÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜ ÔNG BÀ (Bài Cúng Cửu Huyền Thất Tổ),BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜ PHẬT (Bài Cúng Ngôi Tam Bảo),BÀN THÔNG THIÊN,NIỆM PHẬT.

Đang xem: Bài cúng đạo phật giáo hòa hảo

SỰ CÚNG LẠY CỦA NGƯỜI CƯ SĨ TẠI GIA – PHẬT GIÁO HOÀ HẢO :

Cúng lạy của người cư sĩ tại gia

BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀNTHỜ ÔNG BÀ (Bài Cúng Cửu Huyền Thất Tổ) :

Cầm hương xá 3 xá, quỳ xuống chấp tay đưa lên trán nguyện:Cúi kính dưng hương trước Cữu Huyền,Cầu trên Thất Tổ chứng lòng thiềng.Nay con tỉnh ngộ quy y Phật,Chí dốc tu hiền tạo phước duyên”.Cấm hương rồi đứng ngay thẳng chắp tay vào ngực đọc tiếp:Cúi đầu lạy tạ Tổ Tông,Báo ơn sanh dưỡng dày công nhọc nhằn.Rày con xin giữ Đạo hằng,Tu cầu Tông Tổ siêu thăng Phật đài.Nguyện làm cho đẹp mặt mày;Thoát nơi khổ hải Liên đài được lên.Mong nhờ Đức Cả bề trên,Độ con yên ổn vững bền cội tu”. (lạy 4 lạy)

BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜPHẬT (Bài Cúng Ngôi Tam Bảo):

Cầm hương xá 3 xá, qùy xuống chắp tay đưa lên trán đọc bài Quy y :Nam Mô Thập Phương Phật.Nam Mô Thập Phương Pháp.Nam Mô Thập Phương Tăng”. “Nam Mô Phật Tổ, Phật Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại thần, chư quan cựu thần, chưvị sơn thần, chư vị Năm Non Bảy Núi, cảm ứng, chứng minh, nay con nguyện cảihối ăn năn, làm lành lánh dữ, quy y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật Đạo”.Cắm hương, lạy 4 lạy cũng được, hoặc cắm hương đứng ngay thẳng chắp tay vàongực đọc: “Nam Mô Tây Phương Cực lạc thế giới Đại từ Đại bi phổ độ chúng sanh A Di ĐàPhật”.“Nam Mô nhứt nguyện cầu: Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhơn Hoàng, Liên Hoa hải hội,thượng Phật từ bi, Phật vương độ chúng, thế giới bình an”.“Nam Mô nhị nguyên cầu: Cữu Huyền Thất Tổ Tịnh độ siêu sanh”.“Nam Mô tam nguyện cầu: Phụ Mẫu tại đường tăng long phước thọ, Phụ Mẫu quá khứtrực vãng Tây Phương”.“Nam Mô tứ nguyện cầu: Bá tánh vạn dân từ tâm bác ái, giải thoát mê ly”.“Nam Mô ngũ nguyện cầu: Phật Tổ, Phật Thầy từ bi xá tội đệ tử tiêu tai tịnh sự,trí huệ thông minh, giai đắc đạo quả”. Lạy 4 lạy rồi xá:1 xá chính giữa niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật”.1 xá bên trái niệm: “Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát”.1 xá bên phải niệm: “Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát”.

BÀN THÔNG THIÊN:

Cầu nguyện bàn Phật xong, ra bàn Thông Thiên cầu nguyện 4 hướng (lấy bàn ThôngThiên làm hướng chánh) trước mặt, sau lưng, hai bên vai.Hướng chánh bàn Thông Thiên có nguyện, đọc bài Quy Y, còn ba hướng kia chỉ đọcbài Tây Phương ngũ nguyện. (mỗi hướng đọc rồi lạy 4 lạy – Khi cầu nguyện nếukhông thể lạy được thì xá 3 xá) Lạy đứng hay lạy quỳ tùy theo lúc yếu mạnh.

NIỆM PHẬT:

Cúng xong, muốn niệm Phật cũng được. Ngồi bán già thẳng lưng niệm: “Nam Mô A DiĐà Phật“. Hay niệm: “Nam Mô Tây Phương Cực lạc thế giới tam thập lục vạn ức,nhứt thập nhứt vạn, cữu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại từ đại bi phổ độchúng sanh A Di Đà Phật”.

(Niệm Phật nhiều ít tùy theo sức mình, lúc cầu nguyện và niệm Phật chỉ niệmtrong tâm) “Nam Mô-A-Di-Đà-Phật”, đi, đứng, nằm, ngồi rán niệm chớ quên khôngđợi gì thời khắc.

KHI ĂN CƠM

Mỗi khi ăn cơm với mắm muối chi cũng vậy, đều nguyện vái Cữu Huyển, Thất Tổ,Ông Bà, Cha Mẹ quá vãng về ăn với mình để tỏ lòng hiếu thảo.

ĂN CHAY

Đến ngày đơm quảy có chi cúng nấy.Ăn chay ngày 14-15, 29-30, tháng thiếu 29 – 1, có nhang thì đốt, không có thìnguyện không.Hàng năm, đến ba ngày xuân nhựt thì ngày 29-30 và mồng 1 phải ăn chay, trongmấy ngày ăn chay phải cúng chay, qua đến ngày mồng 2 có chi cúng nấy cũng được,đến ngày mồng 3 ra mắt không nên sát sanh loài vật mà cúng tế Trời Phật, chỉdùng bông hoa mà cúng thôi.

ĐI XA NHÀ

Đi làm ruộng đến thời cúng, ngó về hướng Tây nguyệnrồi xá.Còn đi xa thì nguyện tưởngtrong tâm cũng được.Xem tiếpCách Thờ Phượng Và Hành Lễ Của Người Tín Đồ PGHHCỬU HUYỀN THẤT TỔ LÀ GÌ?

Phật Giáo Hòa Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! / 2023

Trên mảnh đất chữ S này hội tụ nhiều tinh hoa tôn giáo. Nhưng có lẽ một trong những tôn giáo lâu đời nhất với sức sống bền bỉ, đó là đạo Phật.

Với sự phát triển hàng ngàn năm cùng nhiều hình thức tông môn chi phái, Phật giáo đã thu hút số lượng các tín đồ đông đảo tham gia.

Trong đó, Phật giáo Hòa Hảo là một trong những tôn giáo nội sinh, có tầm ảnh hưởng lớn trong khu vực miền Tây , và trở thành là tôn giáo có số tín đồ đông thứ 4 tại Việt Nam.

Để giúp mọi người hiểu rõ hơn về Phật giáo Hòa Hảo, cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia xin cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác, rõ ràng về tông phái này.

XEM THÊM TƯỢNG PHẬT ĐẸP DO ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA TÔN TẠO

1/ Phật giáo Hòa Hảo là gì?

Phật giáo Hòa Hảo là một tông phái Phật giáo chính thống do Đức Thầy tục danh Huỳnh Phú Sổ sáng lập năm 1939.

Mục đích của Phật giáo Hòa Hảo là giúp nhân dân Học Phật tu Nhân hành thiện, chủ trương tu hành tại gia, giải trừ mê tín dị đoạn.

Đây chính là một tôn giáo nội sinh mang đậm tính dân tộc, ảnh hưởng tới Nam Bộ và phù hợp với mọi tầng lớp bình dân.

Phật giáo Hòa Hảo là một tông phái thu hút khá nhiều tín đồ

2/ Phật giáo Hòa Hảo ra đời khi nào?

Phật giáo Hòa Hảo xuất hiện tại làng Hòa Hảo, tỉnh Châu Đốc nay thuộc tỉnh An Giang vào năm 1939 do đức thầy Huỳnh Phú Sổ sáng lập.

Nên nhiều người hiện nay vẫn hay gọi Phật giáo Hòa Hảo An Giang là do nơi khởi nguồn của tông phái này.

Nói về hoàn cảnh lúc đó là đất nước bị xâm chiếm bởi hai thế lực là Pháp- Nhật. Xã hội loạn lạc, Phật giáo đứng trước sự áp lực của văn hóa phương Tây .

Hầu hết mọi người dân đều nghiêng về Tây học, nho giáo trở nên lỗi thời, các ông đồ và thầy sư đều tìm lối thoát cho mình.

Thời điểm đó Phật giáo tại chùa chiền bị biến tướng chỉ phục vụ cho ma chay, các sư biến thành thầy cúng.

Càng ngày Phật giáo càng chìm đắm trong mê tín. Trước tình hình đó, Đức Huỳnh Phú Sổ với sứ mệnh Thiên Cơ đứng ra hành đạo, lập đạo và truyền đạo.

Ngài Huỳnh Phú Sổ được gọi là Thầy Tư Hòa Hảo, con của ông Huỳnh Công Bộ và Bà Lê Thị Nhậm. Là một gia đình trung lưu, được nhiều uy tín với người dân địa phương.

Khi còn nhỏ, học đến bậc tiểu học thì ông đau ốm liên miên nên đành phải rời nhà trường để dưỡng bệnh. Từ 15 đến 18 tuổi, không có một lương y nào trị dứt được các cơn đau của ông.

Phật giáo Hòa Hảo do Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ sáng lập

Năm 1939, sau khi cùng với thân phi viếng các am động miền Thất Sơn, Tà Lơn, và ông chính thức được đại ngộ.

Sau đó ông mở Đạo khi chưa tròn 20 tuổi, Và nơi tổ chức khai đạo là gia đình ông. Đồng thời ông lấy tên ngôi làng để đặt tên cho tôn giáo mới: Phật Giáo Hòa Hảo. Ông được các tín đồ suy tôn và gọi là Đức Thầy, Đức Tôn Sư.

Đức Thầy cho biết mình là bậc : Sinh nhi tri, nhìn rõ được quá khứ và tương lai. Xuống hạ dưới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương, khôi phục lại Phật giáo, cứu độ chúng sinh thoát khỏi vòng mê mị biển khổ.

Ông bắt đầu công việc chữa bệnh bằng các bài thuốc nam do ông kê toa từ lá cây, nước lá, giấy vàng đồng thời truyền dạy đạo lý bởi những bài sám giảng ( sấm giảng) do ông soạn.

Những bài sám giảng này với nội dung cốt lõi là giáo lý của Đức Phật Thích Ca, đồng thời gần gũi với mọi người dân ở Nam Bộ lúc bấy giờ bởi nhờ áp dụng lối văn thơ dễ hiểu, bình dị để truyền.

Vừa chữa bệnh vừa truyền giáo. Nhờ vậy mà Phật giáo Hòa Hảo phát triển rộng rãi khắp miền Tây Nam Bộ.

Phật giáo Hòa Hảo phát triển ở miền Tây Nam Bộ

3/ Giáo lý phật giáo Hòa Hảo ( sấm giảng Phật giáo Hòa Hảo ):

Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo được thể hiện rõ ràng trong các bài sấm kệ của ngài Huỳnh Phú Sổ soạn thảo dựa trên sự tiếp thu của tư tưởng Bưu Sơn Kỳ Hương của Phật Thầy Tây An, kết hợp với quan điểm đạo đức Nho giáo, Lão giáo và xu hướng của phong trào chấn hưng Phật giáo.

Phật giáo Hòa Hảo sấm giảng do ngài Huỳnh Phú Sổ biên soạn gồm 2 phần là: Sấm giảng giáo lý Phật giáo Hòa Hảo và thi Văn giáo lý gồm có 6 quyển:

Giáo lý của Phật giáo Hòa Hảo do chính đức thầy Huỳnh Phú Sổ biên soạn

Sấm giảng Phật giáo Hòa Hảo quyển 1: Chính là sấm giảng khuyên người đời tu niệm. Được viết theo lối văn lục bát, dài 912 câu.

Sấm giảng Phật giáo Hòa Hảo quyển 2: Kệ dân của người khùng. Được viết theo lối văn thất ngôn trường thiên, dài 476 câu.

Sấm giảng Phật giáo Hòa Hảo quyển 3 : là Phật giáo Hòa Hảo Sám Giảng. Được viết theo lối văn lục bát, dài 612 câu.

Sấm giảng Phật giáo Hòa Hảo quyển 4 là Giác mê tâm kệ. Viết theo thể văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu.

Sấm giảng Phật giáo Hòa Hảo quyển 5: Khuyến thiện. Với độ dài 776 câu,  được viết kết hợp thể thơ lục bát đoạn đầu và đoạn cuối, thể thất ngôn trường thiên ở đoạn giữa.

Sấm giảng Phật giáo Hòa Hảo quyển 6: Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền. Được viết theo lối tản văn, trình bày tôn chỉ, giới luật của Đạo.

Phần thứ hai: Thi Văn Giáo Lý. Gồm hơn 200 bài thơ do ngài viết từ năm Kỷ Mão (1939) đến năm Đinh Hợi (1947).

Nội dung chính của giáo lý Phật giáo Hòa Hảo có thể tổng kết thành 2 phần là Học Phật và Tu Nhân.

Đối với “Học Phật” đều lấy giáo lý đạo Phật làm nền tảng và có giản lược, thêm bớt một số. Phần này chủ yếu khuyên các tín đồ ăn ở ngay thẳng.

Có 3 pháp môn chính là Ác pháp, Chân pháp và Thiện pháp

Đối với “Tu Nhân” khuyên các tín đồ phải “ tứ ân hiếu nghĩa” gồm: Ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân đồng bào nhân loại, ân tam bảo gồm Phật, Pháp, Tăng.

Phật giáo Hòa Hảo khuyên tín đồ phải vừa học Phật vừa tu nhân để tạo công đức. Nhờ công đức để thành hiền nhân.

Việc tu hành cần phải dựa trên đạo làm người. “Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên” (Nghĩa là học Phật mà không tu nhân thì vô nghĩa)

Kinh Phật giáo Hòa Hảo sám giảng đã để lại nhiều tinh hoa cho các tín đồ tu tập. Một trong những lời khuyên răn mà các tín đồ thường phải lưu tâm khắc cốt là Phật giáo hòa hảo 8 điều ngăn cấm được nằm ở phần “Lời khuyên bổn đạo” trong quyển Trung phần 1 của chú Giải sám giảng.

4/ 8 điều răn cấm Phật giáo Hòa Hảo như sau:

Đối với những người khi đặt chân vào cửa Đạo, bất kỳ ai cũng phải chuyên trì giới luật: hàng cư sĩ giữ Ngũ giới, hàng xuất gia như tỳ kheo giữ 250 giới, tỳ kheo ni giới 348 giới.

Với Phật giáo Hòa Hảo khuyên các tín độ giữ gìn để không vi phạm Phật Giáo Hòa Hảo 8 điều ngăn cấm:

Điều thứ nhất:

Phải lánh xa Tứ đồ tường tức như: tửu, sắc, tài, khí. Nếu mê đắm thì cuộc đời trụy lạc, hư hỏng, bê tha, nhơ nhuốc. Nếu thắng được thì trở thành con người tốt đẹp:  “Người tu hành phải trừ nghiệp chướng,

 Với bốn ma mới đặng an nhàn”.

Phải ăn ở đúng Đạo lý và trọn vẹn ba giềng mối lớn Tam Cang và Ngũ Thường để toàn phần Nhân đạo.

Tam Cang: là ba giềng mối lớn gồm: vua tôi, cha con, chồng vợ. Đối với người chưa có gia đình thì: Vua tôi, cha con, sư đệ. Nghĩa là phải đối xử:

Một công dân thì tận trung với đất nước

Một người con thì phải hiếu thảo với cha mẹ

Vợ chồng thì ân nghĩa song toàn

Sư đệ: thầy tận tâm dạy dỗ, trò phải tôn kính phụng hành

Ngũ thường: Đức thầy có răn dạy: :“Ngũ luân lễ nghĩa năm hằng” bao gồm Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Nhân chính là lòng hiếu đạo, thương người, tận tâm giúp đỡ người khác, không phân biệt.

Nghĩa: Lòng tốt, làm việc phải có ích cho mọi người, theo đạo lý, không vụ lợi.

Lễ: Phải kính trên, nhường dưới từ cách chào hỏi đối xử với mọi người, luôn tôn kính với Phật, Trời, Thần, Thánh.

Trí: Đó là trước khi nói hay làm việc phải dùng trí để suy xét cẩn thận bằng sự ngay chánh.

Tín: Đó chính là sự chân thật với đạo lý chân chính, thầy Tổ sáng lành, bạn bè trung thực, chung thủy.

Khi chúng ta hành được Ngũ Thường sẽ không vi phạm Ngũ giới bởi:

Nếu hành được chữ Nhân thì không Sát sinh

Nếu hành được chữ Nghĩa thì không Đạo tặc

Nếu hành được chữ Lễ thì không Tà dâm

Nếu hành được chữ Trí thì không nhiễm: tửu, sắc, tài, khí

Nếu hành được chứ Tín thì không vọng ngữ .

Các tín đồ phật giáo Hòa Hảo cần trì 8 điều điều răn

 Điều thứ hai:     

Không nên lười biếng, phải cần-kiệm, sốt sắng, lo làm ăn và lo tu hiền chân chất, không nên gây gổ với nhau và hãy tha thứ tội lỗi cho nhau khi nóng giận.

Ý của Đức thầy là phải bỏ tính lười biếng, siêng năng tiết kiêm. Nếu không tiết kiệm thì làm được bao nhiêu cũng phung phí.

Tiết kiệm không phải hà tiền mà là biết cách tiêu tiền, việc nào đáng và đúng thì tiêu, còn không thì dành cho việc công ích.

Đồng thời phải lo tu hành nhưng vẫn phải làm ăn nếu không sẽ không có tiền của sinh sống và giúp đời, cũng không thể an tâm tu niệm .

Ngoài ra, không nên oán hận, hiềm khích với mọi người dù người trong gia đình, dòng họ hay ngoài xã hội.

Mọi người cần mở lòng yêu thương, khoan dung với những kẻ lầm đường lạc lối.

Điều thứ ba:

Ta chẳng nên ăn xài chưng dọn cho thái quá, lợi dụng tiền tài mà quên nhân nghĩa và đạo lý, đừng ích kỷ, xu nịnh kẻ giàu sang, phụ người nghèo khó .

Đức thầy khuyên răn tín đồ không ăn xài phung phí, chưng diện lòe loẹt từ trang phục cho đến nhà cửa, nên sống thanh đạm, có thời gian thì tu học, dư tiền thì bố thí giúp đời.

Đức thầy cũng khuyên không nên ích kỷ, hạm muốn lợi ích riêng tư mà nghĩ đến việc lợi dụng tiền của, lợi dụng lòng tốt của người khác, của quốc gia và Đạo giáo.

Đối với những người tham lam, ích kỷ nên khi nào cũng muốn danh lợi cho bản thân. Nên nịnh bợ kẻ giàu sang, phụ bạc người nghèo khổ. Hãy tập cho mình tính thanh đạm, chân thực, ngay thẳng, cương trực.

Điều thứ tư: Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai hoặc nguyền rửa, vì Thần Thánh không can phạm đến ta.

Thông thường người trần khi giận dữ, ghét ai thì thường có tật kêu Trời, Phật, Thần Thánh mà sai khiến hoặc trù rủa. Đây là phạm ác khẩu rất lớn và bị trả quả.

Muốn chừa bỏ lời nói ác xấu nên thay vào lời hiền lương đức hạnh để đối xử với mọi người. Mục đích của điều răn cấm thứ tư là chừa Ác khẩu và hành Chánh Ngữ.

Điều thứ năm:

Ta chẳng nên ăn thịt trâu, chó, bò và không nên sát sinh hại vật mà cúng Thần Thánh nào, vì Thần Thánh không bao giờ dùng hối lộ mà tha tội cho ta.

Nếu ta làm ta sẽ chịu tội, còn những hạng ăn đồ cúng kiếng mà làm hết bệnh là Tà Thần, nếu ta cúng kiếng mãi thì nó ăn quen và nhiễu hại ta.

Ý của Ngài là bớt sát sinh, không nên ăn những con vật quan trọng có công ơn với đời, giúp ích cho ta việc sinh hoạt hàng ngày. Nên đỗi đãi bằng lòng biết ơn, lòng nhân và từ bi, bình đẳng.

Tiếp theo không giết sinh vật cúng tế. Vì các Thần Thánh ở cảnh giới khác và có thức ăn riêng không phải như chúng ta.

Đồng thời các Ngài ngay thẳng, không vì ăn đồ cúng kiếng mà ban phước hay thiếu cúng tế mà giáng họa.

Cứ theo luật nhân quả, ai làm lành hưởng phước, tạo ác mang tai.

Chúng sinh phải nhận định rõ chánh tà. Nếu mê tín giết sinh vật cúng Thần Thánh để cầu phước thì chỉ có Tà thần hưởng. Và nếu hưởng quen thì sẽ tìm cách quấy phá.

Do vậy tín đồ bớt sát sinh, đừng mù quán mà hãy tập đức hiếu sinh, tin vào luật nhân quả.

Điều thứ sáu:

Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc, quần áo và các vật dụng bằng giấy mà tốn tiền vì cõi Diêm Vương không bao giờ ăn hối lộ và cũng không tiêu xài được. Nên để tiền đó mà trợ cứu cho những người lỡ đường, đói rách, tàn tật.

Các tín đồ không nên đốt vàng mã cho người chết. Đây là tục lệ do người Tàu bày ra.

Đã tu hành ai cũng muốn mình và những người thân được về với Tiên Phật, nhưng lại lo gửi tiền xuống Địa ngục. Tu để đi lên mà tâm nguyện đi xuống, thực sự là trái ngược.

Đức Thầy dạy tín đồ đừng mê tín tà kiến mà hãy rèn luyện được chánh tín, đúng với chân lý, tiết kiệm tiền để làm việc phước thiện, vun trồng gốc phúc.

Điều thứ bảy:

Đứng trước mọi việc về sự đời hay đạo đức, cần phải suy xét cho minh lý rồi sẽ phán đoán việc ấy.

Đức Thầy mong muốn tín đồ dùng chánh trí, chánh kiến để suy xét, nhận định các việc Đời và Đạo rõ ràng, đúng sự thật.

Việc đời chính là việc cư xử với mọi người trong gia đình, dòng họ và xã hội. Đây thuộc phần tu Nhân.

Việc đạo đức cần dùng trí huệ xét mọi vấn đềnhư lành dữ, chính hay tà trước khi nói hay hành động. Đây thuộc phần tu Phật.

Sau khi đã suy xét sáng suốt mới nói hay làm và không có sự nhầm lẫn nào.

Việc đời theo nhân đạo công bằng, chính nghĩa, Việc Đạo đúng chân lý , vô vi thật tướng.

Muc đích điều răn thứ 7 giúp tín độ dẹp bỏ Tà kiến, mê lầm, diệt trừ mười món phiền não để rèn được chánh trí và chánh kiến.

Mười món phiền não gồm: ngũ độn sử và ngũ lợi sử:          .

NGŨ ĐỘN SỬ:

1-Món THAM: Lòng ham muốn quá độ.

2-Món SÂN: Tâm nóng nảy thù hận.

3-Món SI: Lòng mê tối lầm lỗi

4-Món MẠN: kiêu mạn, tự phụ, háo thắng.

5-Món NGHI: Lòng nghi ngờ do dự, không quyết đoán.

NGŨ LỢI SỬ: Năm món phiền não lanh lợi là:

1-Thân kiến: Giải nghĩa là chấp thân ngũ uẩn giả hợp là thật.

2-Biên kiến: Giải nghĩa là chấp một bên, như chấp thân nầy còn hoài, hoặc chấp có, chấp không…

3-Tà kiến: Giải nghĩa là chấp theo các chủ thuyết tà như là mê tín

4-Kiến thủ: Giải nghĩa là bảo thủ

5-Giới cấm thủ: Giải nghĩa là chấp thủ các giới lặt vặt vô lý, như việc ép xác hành khổ…

Đây là chìa khóa giúp chúng sinh mở rộng cửa tâm chân lý để chứng thành Phật Đạo

Điều thứ tám:

Ta phải thương yêu lẫn nhau như con một cha, dìu dắt lẫn nhau vào con đường đạo đức.

Nếu ai giữ đặng trọn lành trọn sáng về nơi Tây Phương an dưỡng mà học Đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sinh.

Đạo Phật là đạo từ bi, không chỉ yêu thương đồng Đạo mà còn cả các chúng sinh.

Cây từ bi được mọc lên từ hạt giống yêu thương, trổ quả Bồ đề( chánh giác). Do vậy nếu muốn đắc quả Phật thì hành giả phải có tình yêu thương và đặt đúng chỗ.

Và chỉ có con đường Đức thì mới hết khổ, và phải dìu dắt lẫn nhau vào con đường Đạo Đức, cùng nương vào nhau để chứng thành Đạo quả như nhau.

Cuối cùng phải tu cho mình trọn lành trọn sáng. Có 2 cách để đạt điều này.

Cách thứ nhất là Báo đáp Tứ ân, diệt Thập ác là Trọn lành. Hành Bát Chánh Đạo là Trọn sáng.

Muốn trọn lành thì phải ngăn ác và hành thiện. Bởi nguyên nhân của luân hồi chuyển kiếp chính là 10 điều ác và là nghiệp nợ.

Dứt được nghiệp là ngăn ác. Báo đáp tứ ân là trả được nợ và tạo phước đức gọi là hành thiện. Đây thuộc phần tu nhân, ngăn ác và hành thiện thì gọi là tròn lành.

Muốn tròn sáng thì phải hành “Bát Chánh Đạo” và “Niệm Phật”.Bởi phải triệt trừ vọng niệm mới thanh tịnh và khai sáng trí huệ nên phải trì hành Bát chánh. Trong Bát chánh sẽ có Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Tinh Tấn, Chánh Mạng, Chánh Niệm, Chánh Định để diệt phiền não, tâm định, bất loạn lúc đấy trí huệ sáng màu gọi là tròn sáng.

Cách thứ hai là cần làm theo ba điều mà Đức Thầy chỉ dạy: Làm hết các việc từ thiện”, “tránh tất cả điều độc ác” là trọn lành. Còn “Quyết rửa tấm lòng cho trong sạch” là trọn sáng.

5/ Phật giáo Hòa Hảo thờ gì?

Phật giáo Hòa Hảo thờ gì rất được nhiều người quan tâm.

Trong Phật giáo Hòa Hảo chủ trương thờ đơn giản, không cầu kỳ, tập trung nội tâm hơn là bề ngoài, đúng với tinh thần vô vi mà Đức Phật Thích Ca nêu rõ trước đây.

Thờ cúng của Phật giáo Hòa Hảo khá đơn giản

Theo nghi thức thờ phụng của Phật giáo Hòa Hảo trong gia đình đều có ba ngôi thờ cúng: Bàn thờ phật, bàn thờ thông thiên và bàn thờ cửu huyền thất tổ.

Bàn thờ Phật hay được gọi là ngôi thờ Tam Bảo, được thờ ở giữa nhà, cao hơn bàn thờ Cửu huyền thất tổ.

Theo Đức thầy, các cư sĩ tại gia nên thờ đơn giản, cần tín ngưỡng xoay về tâm hơn là tướng sắc bên ngoài.

Đức Thầy dạy tín đồ trang trí ngôi Tam Bảo một bức trần màu dà bởi màu dà là biểu hiện cho sự thoát tục.

Màu dà do sự kết hợp của màu khác nên còn biểu trưng cho sự hài hòa, bình đẳng.

Bức trần dà là tiêu biểu tinh thần vô thượng của nhà Phật.

Bàn thờ Phật tượng trưng cho Phật Đạo, tôn thờ vị Phật trong cõi Ta Bà và mười phương chư Phật, Pháp, Tăng, cùng Phật Tổ, Phật Thầy…

Bàn thờ thông thiên: được dựng trước sân nhà hoặc mái nhà. Theo Đức Thầy nếu nhà chật hẹp thì chỉ cần 1 bài Thông thiên.

Nếu trường hợp ở cùng với một người không theo cùng đạo thì tới thờ cúng chỉ niệm thầm đủ các bài nguyện và khởi tâm là được.

Bàn thờ thông thiên là bàn thờ thông lên trời hay được gọi là bàn thờ Cộng đồng Tam Giáo dùng tưởng niệm bốn phương Trời Phật.

Điều này thể hiện tinh thần tín ngưỡng trời Phật. Theo Đức Thầy có 3 vị Thiên hoàng (vua các cõi Trời), Địa hoàng (vua các cõi địa ngục), Nhơn hoàng (vua các cõi người) và được gọi là Phật Thánh Tiên.

Do vậy bàn Thông Thiên mang ý nghĩa biểu tượng cho Tiên Đạo.

Bàn thờ Cửu huyền thất tổ: Được đặt ngay giữa nhà, thấp hơn ngôi Tam Bảo hoặc dưới ngôi Tam Bảo.

Đây là bàn thờ truyền thống của Tổ tiên từ thời vua Hùng lập nước tới giờ. Đây là bàn thờ tượng trưng cho Thánh Đạo tôn thờ Tổ Quốc và ông bà cha mẹ từ vô lượng kiếp của chúng ta.

Các vật dâng cúng:

Trời Phật không dùng vật thực của thế gian mà chỉ chứng nhận lòng thành mà thôi. Hay nói đúng hơn là chứng tâm chứ không chứng lễ.

Do vậy, Ngài dạy bàn thờ Phật và bàn thờ Thông Thiên chỉ cúng 3 món tiêu biểu gồm:

Nước lạnh: thể hiện cho sự trong sạch

Bông hoa: thể hiện cho sự tinh khiết

Nhánh hương: tẩy mùi uế trược

Đối với bàn thờ Cửu huyền thất tổ có mòn gì cũng được.

Người theo Phật Giáo Hòa Hảo chỉ thờ Phật, Tổ tiên, Ông Bà, Cha Mẹ và những vị anh hùng của đất nước, không thờ bất cứ vị tà thần nào mà mình không rõ gốc rễ.

6/ Các ngày lễ tết trong Phật giáo Hòa Hảo:

Trong đạo Hòa Hảo, các ngày lễ đều tính là ngày âm lịch. Trong một năm, các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo sẽ có các ngày lễ tết chính gồm:

Tết Nguyên Đán: ngày 1/1

Lễ Thượng Ngươn: Rằm tháng giêng

Ngày Đức Huỳnh Giáo chủ vắng mặt: 25/02

Lễ Phật Đản: 08/04

Lễ khai sáng Đạo Phật giáo Hòa Hảo: 18/05

Lễ Trung Ngươn, Vu Lan Báo Hiếu: Rằm tháng bảy

Vía Phật Thầy Tây An: 12/08

Lệ Hạ Ngươn: Rằm tháng mười

Lệ Phật Adida: 17/11

Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo Chủ: 25/11

Lễ Phật thành đạo: Ngày 8 tháng chạp

Trải qua bao nhiêu thăng trầm, Phật Giáo Hòa Hảo vẫn thu hút đông đảo các tín đồ tham gia, tu hành, sống tốt đời đẹp Đạo.

Quý Phật tử có nhu cầu xem giảng giáo lý Phật giáo Hòa Hảo có thể nghe online hoặc tải về máy các tài liệu kinh sấm giảng Phật giáo Hòa Hảo mp3 hoặc xem video tổng hợp giảng kinh Phật giáo Hòa Hảo do cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia dày công tổng hợp phía dưới.

XEM THÊM TƯỢNG PHẬT ĐẸP DO ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA TÔN TẠO

Nhận xét tích cực từ quý khách hàng của cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia:

CƠ SỞ ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA.

Chuyên Tư Vấn – Thiết Kế – Thi Công Các Công Trình Nghệ Thuật 

Đa Dạng Kích Thước – Đa Dạng Chất Liệu .

Trụ sở chính :  27 Đường số 1, khu phố 5, P. Hiệp Bình Phước, Q. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh

Lâm Đồng      : 57 Nguyễn Chí Thanh, Nghĩa Lập, Đơn Dương, Lâm Đồng

Website          : dieukhactrangia.com

Hotline            : 0931.47.07.26

​Email               : dieukhactrangia@gmail.com

5. Sự Thờ Phượng Của Phật Giáo Hòa Hảo / 2023

Trong chủ trương canh tân nói trên, sự thờ phượng trong nhà các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thật là giản dị.

Trên bàn thờ, không có tượng Phật, không có chuông mõ. Chỉ có một tấm Trần bằng vải màu dà, tượng trưng cho sự hòa hợp nhơn loại, và cho màu sắc nhà thiền. Đó là bàn thờ Chư Phật. Dưới bàn thờ Phật là bàn thờ Cữu Huyền Thất Tổ, ông bà cha mẹ đã khuất. Trước nhà có một bàn thờ lộ thiên ( gọi là bàn Thông Thiên) để người tín đồ cảm thông với Trời Đất , bốn phương trời, mười phương Phật. Chỉ dùng nước lạnh, bông hoa, và nhang để cúng Phật. Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn nhang dùng đặng bán mùi uế trược.

Mỗi ngày người tín đồ PGHH làm lễ cúng Phật, ít nhứt hai lần, buổi sáng và buổi tối. Trong các ngày rằm, mồng một, ngày vía Chư Phật, họ đến chùa hay hội quán hành lễ, và nghe kinh giảng hay nghe thuyết pháp.

Lúc đãnh lễ họ không dùng mõ chuông, mà chỉ lâm râm tâm niệm. Khi nào mắc công việc thì đến giờ hành lễ họ quay mặt về hướng Tây mà cúng Phật, và khuyến khích nhau ngồi đâu, ở đâu cũng tụng niệm trong tâm.

Ngoài ra trong các Xã, Ấp có những độc giảng đường trang bị máy phóng thanh, để mỗi ngày trong những giờ nhất định, có những giảng viên đến đọc kinh giảng hay thuyết pháp cho người chung quanh cùng nghe.

Độc Giảng Đường Phật Giáo Hòa Hảo là những ngôi chùa thâu hẹp chỉ để truyền đạo, chớ không phải để cư trú, nên nhỏ hơn chùa, bởi bản chất Phật Giáo Hòa Hảo là cư sĩ tại gia.

Hiện nay ( trước 1975) chỗ nào có nhiều tín đồ PGHH đều có Độc Giảng Đường, với nét kiến trúc đặc biệt của Phật Giáo Hòa Hảo. Theo kiểm kê năm 1965, Phật Giáo Hòa Hảo có 390 Độc Giảng Đường. (Sau 1975, trên 300 độc giảng đường đã bị nhà cầm quyền Việt Nam đập bỏ)

Về Nguồn Gốc Lịch Sử Của Phật Giáo Hòa Hảo / 2023

Từ lâu nay người ta đã biết và nhất trí với nhau rằng Huỳnh Phú Sổ thành lập Phật giáo Hòa Hảo vào ngày 18-5 năm Kỷ Mão (1939) ở quê hương ông – làng Hòa Hảo nay là làng Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.[1] Để hiểu rõ hơn lịch sử mới đây của tín ngưỡng này cũng như của cộng đồng tín đồ của nó, chúng tôi giới thiệu một tài liệu đầu tiên bằng tiếng Pháp nhắc đến cuộc đời của Huỳnh Phú Sổ và sự xuất hiện của phong trào tôn giáo mới do ông khởi xướng. Tài liệu ấy có đề cập đến vấn đề về sự hình thành giáo lí của phái Phật giáo này nhưng không vì thế mà có ý vén đi tấm màn linh thiêng bao phủ quanh nhân vật Huỳnh Phú Sổ.

Nó cũng không đặt ra vấn đề làm rõ thực chất và những khả năng có tính mầu nhiệm của người thanh niên ấy – một nhà sư khác lạ, một thày lang. Nó cũng không phân tích cái “cơ duyên” khởi dậy từ những nhân tố khác nhau (không gian xã hội cụ thể, những thời điểm xác định, những ảnh hưởng lẫn nhau giữa sự thần khải có tính tiên tri và môi trường huyền bí, những hình thái và cách thức truyền bá những lời giảng), mà chỉ riêng sự kết hợp của chúng thôi cũng đôi khi gây ra, trình diễn hay ít ra cũng phải dẫn đến tái diễn sự hậu nghiệm, giải thích sự “thiên khải” và sự xuất hiện của một nhân vật cứu thế.

Dù vắn tắt và không rõ ràng, bản tài liệu mà chúng tôi đang nói tới vẫn là một tư liệu không kém phần cơ bản để nghiên cứu về sự xuất hiện của Phật giáo Hòa Hảo. Nó cung cấp những sự kiện cơ bản về tiểu sử Huỳnh Phú Sổ, chỉ ra thời điểm phát hiện ra hiện tượng tôn giáo này, và cuối cùng, nó cho phép tập hợp những đánh giá của chính quyền sở tại cùng phản ứng tiếp theo của chính quyền thuộc địa.

Hòa Hảo cho đến đầu thế kỉ XX là một ngôi làng yên tĩnh thuộc tổng An Lạc, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Cái tên hiền lành của nó gợi nên “sự hài hòa hết mực”. Vị trí địa lí cũng như những điều kiện thủy văn và thổ nhưỡng địa phương (vùng đất cao, ít phèn, ít lụt lội) cắt nghĩa sự tụ cư lâu đời và thịnh vượng của nó so với khu vực. Ngôi làng không chỉ được bao quanh bởi hai nhánh của sông Mê Kông[2] mà còn bởi một dòng hợp lưu tự nhiên của chúng là con sông Vàm Nao. Chiếm vị trí tận cùng của một doi đất, ngôi làng hướng mặt về phía đất liền của doi đất này, hoàn toàn mở ra về phía Đồng Tháp Mười, Hậu Giang và huyện Chợ Mới (tỉnh Long Xuyên) ở phía đối diện với nó. Đồng thời, ngôi làng cũng phát triển về phía ven sông và có một vùng đất rộng trồng lúa.

Dưới con mắt cảnh giác của chính quyền thuộc địa, các thôn làng khác ở vùng này vẫn bị coi là chống đối, tựa như các địa phương này ngay từ những năm 1860 đã tỏ ra là các căn cứ kháng chiến chống cuộc xâm chiếm của Pháp (cuộc khởi nghĩa của Trần Văn Thành ở Bảy Thưa), rồi thời gian sau đó còn là nơi trú ngụ của các tổ chức yêu nước đầu tiên, hay là nơi xuất hiện các chi bộ tiền cộng sản trong thời kì giữa hai cuộc đại chiến. Sau các cuộc biến loạn những năm 1930-31, sự kiểm soát được siết chặt hơn đối với các tổ chức này. Đó cũng là những tổ chức kể từ thời gian đó trở đi đã tố cáo thẳng thừng sự đồi bại của chế độ thực dân và sự hỗn loạn trong cơ cấu của chế độ khai thác lúa gạo theo kiểu điền trang, mà trực tiếp vì nó, tầng lớp nông dân nhỏ ở đồng bằng sông Mê Kông bị đẩy vào khốn khó, nợ nần và phá sản.

Quận Tân Châu không biết tới tình trạng khủng hoảng đặc biệt ấy do tính chất tương đối lâu đời của sự thành lập các làng, do sự đa dạng của các hoạt động kinh tế, do cơ cấu ruộng đất bị chia nhỏ hơn[3] và cuối cùng là do những quan hệ thông cảm lẫn nhau giữa các địa chủ nhỏ và những người lĩnh canh. Nhưng quận Tân Châu và làng Hòa Hảo, như một ốc đảo, nằm ngay bên các trung tâm bất ổn về xã hội – chính trị của Miền Tây Nam Bộ.

Những cuộc tiếp xúc lẫn nhau giữa các thành phần dân cư, mỗi thành phần mang theo một kho tàng riêng về văn hóa cổ truyền, về các truyền thuyết, về các văn bản cổ, hệ quả là dẫn đến những cách thức tiếp xúc văn hóa bình đẳng có thể nhận thấy trong lĩnh vực tín ngưỡng bình dân. Mặt khác, thời kì thuộc địa của Pháp đã đẩy nhanh những biến đổi xã hội ở đồng bằng sông Mê Kông và áp đặt một tầng thứ hai của sự tiếp xúc văn hóa trong hoàn cảnh thống trị về chính trị (những tiếp xúc Đông – Tây), thuận lợi cho các tư duy liên tôn giáo, hay ngược lại, cho những phản ứng văn hóa.[5]

Xét vấn đề từ tính chất phức tạp của tình trạng ở địa phương – tình trạng làm xuất hiện trên một mặt bằng như vậy những truyền thống tôn giáo cùng những biểu lộ không chính thống hay hỗn hợp của chúng, và sau đó lại có nhân tố đến từ phương Tây vừa gây ra sự phản ứng về văn hóa vừa tạo điều kiện cho những tín ngưỡng cứu thế – chính quyền thuộc địa do những lệch lạc về tư tưởng tự coi là mình có sứ mệnh khai hóa đã nhanh chóng hướng cái nhìn phê phán về phía các tín ngưỡng bình dân cũng như về các tôn giáo và triết học lớn của phương Đông. Thêm vào đó, lo lắng cho sự vững vàng lâu dài của chế độ, chính quyền đã coi những người truyền giảng các đạo này như những nhà sư phản nghịch hay các gian đạo sĩ. Chính quyền đã ngờ rằng những người có uy tín nhất trong số đó đang sống ẩn dật trong các vùng núi cao hiu quạnh vùng Thất Sơn là nguồn gốc của các bất ổn trong dân chúng hay các cuộc nổi loạn. Quan niệm này ít nhất đã góp phần coi các tín ngưỡng bình dân địa phương, trước hết là Bửu Sơn Kì Hương (hương thơm trên núi quý), là nhân tố xấu.

Thời kì giữa hai cuộc đại chiến có một vài sự kiện mới gây chú ý đối với chính quyền thuộc địa: Đạo Cao Đài, một phong trào tâm linh và tôn giáo có tính chất tổng hợp, đã chính thức thành lập vào năm 1926. Được hưởng sự khoan dung tương đối, nó đã nhanh chóng trở thành một trong những tôn giáo có đông quần chúng nhất trên toàn Nam Kỳ. Phong trào chấn hưng Phật giáo Đại thừa hướng đến việc tái tổ chức và thống nhất Tăng đoàn, in ấn và dịch kinh sách sang Quốc ngữ, rốt cuộc cũng đã khiến chính quyền bận tâm, tìm cách định quy chế cho những hội đoàn Phật giáo mới và ngăn ngừa mọi phong trào quần chúng có khả năng đưa tới sự phản loạn.

Trong suốt thời kì hình thành nên những biểu hiện chính trị mới ấy, một thời kì vừa tiếp diễn những sự thờ cúng bình dân vừa ló dạng những tín ngưỡng mới, làng Hòa Hảo không gây chú ý bởi bất kì một hoạt động tôn giáo bất thường nào. Không có bất cứ một tiếng vang đặc biệt nào, ngôi đình làng và chùa làng (An Hòa Tự) không được xếp vào hàng những địa chỉ hành hương. Dân cư trong làng ít cảm nhận trước các tín ngưỡng mới và dường như thiên hơn về sự cách tân Phật giáo hay thờ cúng những vị thần địa phương, thần Thành hoàng và thờ Mẫu, nhất là Bà Chúa Xứ, vị thần tỏa sáng từ trên núi Sam. Sự dửng dưng ấy được giải thích chủ yếu là do sự thấm đẫm của truyền thống Bửu Sơn Kì Hương – được xem như một vectơ chỉ dẫn cả về tinh thần và xã hội – trong văn hóa bình dân địa phương. Trên thực tế, làng Hòa Hảo nằm lọt thỏm giữa một loạt các di tích khác nhau của tín ngưỡng ấy[6] và trong vùng ảnh hưởng của nó; và dường như sự hiện diện có tính biểu tượng của Phật Thày Tây An trên điện thần Phật giáo ở chùa An Hòa Tự[7] có thể xác nhận điều đó dẫu cho không hề có một ông đạo nào xuất hiện ở làng này trong hơn 70 năm dưới chế độ thực dân. Làng Hòa Hảo sống trong cái nhịp điệu của các công việc đồng áng mùa vụ, của những buôn bán ven sông, của các lễ hội được tổ chức thường kì trong năm tại đình hay chùa, của việc thực hành tu theo Phật giáo tại gia. Cho tới khi có tin tức về sự mở màn cuộc Đại chiến thế giới II vào tháng 9-1939, sự yên bình vẫn ngự trị ở đây.

Nhưng vào tháng 2 năm 1940, ngôi làng bắt đầu khiến người ta phải nói đến nó. Do những nỗ lực nhằm vây bắt các tổ chức cộng sản bị cấm hoạt động bởi sắc lệnh 26-9-1939, những truyền đơn của những người theo chủ nghĩa Stalin bị phát hiện[8] (đây là lần đầu tiên) ở làng Hòa Hảo quận Tân Châu vào 9-2-1940. Đặc biệt là vào những tháng tiếp theo, một sự kiện hoàn toàn khác về bản chất đã thực sự đặt chính quyền địa phương vào tình trạng báo động. Trong một bản thông tri vào ngày 15-3-1940, các ông Đốc phủ sứ Thái Minh Phát, người đứng đầu về hành chính của quận Tân Châu, và phó của ông ta là Nguyễn Văn Lễ đã thông báo cho các cơ quan tỉnh về một trường hợp theo thuyết thần bí được phát hiện ở Châu Đốc.[9] Đây cũng là lần đầu tiên cái tên Huỳnh Phú Sổ và “sứ mệnh” tự xưng của ông được nhắc đến.

Người thanh niên 21 tuổi ấy là “con trai của hương cả Huỳnh Công Bộ” và là “cựu học sinh của Trường tiểu học Tân Châu”. Vừa qua khỏi “cơn bệnh nặng và kéo dài”, anh ta đã bộc lộ thiên hướng “chấn hưng đạo Phật”. Giống như “một nhà sư giàu kinh nghiệm”, anh ta đã truyền giảng mà không cần tới kinh sách; giống như “một nhà nho già”, anh ta bắt đầu làm những bài thơ bằng chữ Hán mà không cần biết chữ Hán. “Thiên tư phi thường” ấy còn đi kèm với một “năng lực chữa bệnh […] bằng hương và giấy vàng”. Danh tiếng của anh ta nổi đến mức không chỉ rất nhiều “tín đồ” đến thăm viếng anh từ khắp nơi mà cả một số đáng kể ở ngay Phú Tân và Hòa Hảo cũng bị cha anh ta xua đuổi bởi những phiền phức do họ gây ra và do sự thăm viếng của họ đã “biến nhà của ông thành ngôi chùa”. Được kính trọng như một “người thầy”, bản thân anh ta tự nhận là “hiện thân […] của thần linh” và đã được tôn kính dưới các cái tên “Cậu Tư”, “Thầy Tư”, “Bác Khùng”. Tóm lại, bản thông tri này cho biết mật thám ở Sa Đéc đang theo dõi thêm về anh ta.

Từ tài liệu này chúng ta có thể suy ra là Huỳnh Phú Sổ xuất thân từ một gia đình tương đối khá giả và có chút ít danh vọng ở Hòa Hảo. Trong vùng này, mọi trẻ em quả thực đều không có điều kiện được hưởng sự giáo dục Pháp-Việt, ngay cả ở cấp tiểu học, không được đến một ngôi trường như vậy ở thị trấn của quận. Cha của Huỳnh Phú Sổ quả thật là có danh vọng ở địa phương nhờ kinh nghiệm và tài sản, những thứ đem lại cho ông một cương vị là Hương cả (chủ tịch hội đồng thân hào của làng).[10] Được trợ giúp bởi người có địa vị phó cho ông (Hương sư), ông chăm lo đến toàn bộ các công việc quan trọng trong làng, nhất là ông tự xem bản thân như người canh giữ thuần phong mĩ tục, người bảo vệ các truyền thống, các chức năng mà ông có vẻ như đặc biệt yêu thích. Điều ấy thể hiện qua những sáng kiến bận rộn để trùng tu chùa An Hòa năm 1936 hay để xây dựng một ngôi am mới dành cho những hoạt động tôn giáo của con trai ông.

Người thanh niên ấy được thiên phú cho sức hấp dẫn riêng và không thể giải thích điều ấy chỉ bằng thanh danh của người cha trong làng. Bản tài liệu không khẳng định rằng cái “thiên tư phi thường” ấy được lan truyền chủ yếu là nhờ những đồn đại trong dân chúng. Nếu như khả năng xuất khẩu thành chương của Huỳnh Phú Sổ được thừa nhận về sau này thì sự hiểu biết của anh về chữ Hán là rất không đáng tin hoặc rất hạn chế. Tóm lại, không thể nói nhiều về nguồn gốc thần bí của những phép mầu của anh. Chỉ có những sự kiện xác thực về sự phát triển sớm khả năng hấp dẫn của Huỳnh Phú Sổ và về sự chữa khỏi một căn bệnh kéo dài ở anh mà từ đó làm nảy sinh trong anh một thiên hướng tôn giáo. Anh rồi sẽ có thể chứng tỏ, trong các bài giảng về sau, rằng “thời kì hành xác” này thực ra đi kèm với “thời kì thụ pháp”: Những thày lang truyền thống mà anh đã gần gũi để chữa bệnh ở các địa phương khác nhau vào cuối những năm 1930, đặc biệt là ở vùng Thất Sơn, đã góp phần lớn vào việc khơi dậy trong anh cái thiên hướng tôn giáo của một ông đạo theo truyền thống thuần khiết Bửu Sơn Kì Hương.

Mặc dù tài liệu này không đề cập gì đến nội dung xác thực của các bài giảng, cũng không mô tả gì về nghi lễ, nhưng sự giống nhau ở Huỳnh Phú Sổ với Bửu Sơn Kì Hương ngay từ bấy giờ ta có thể nhận thấy là trong cách thức truyền bá bằng các bài nói. Sự tách biệt trong tài liệu này giữa các bài giảng đạo Phật và các bài thơ có vẻ như không chính xác. Ngay từ thời kì ấy, Huỳnh Phú Sổ thực tế là đã dạy đời bằng miệng và dưới hình thức thơ – những bài thuyết giáo vừa áp dụng thuật dễ nhớ vừa có tính cách giảng đạo. Huỳnh Phú Sổ cũng dùng những vần luật thơ ca từng được Đoàn Minh Huyên và những người kế tục ông sử dụng. Một số trong những ông này đã ghi lại các bài giảng của mình ra giấy. Bản tài liệu không xác định rõ liệu những bài thơ được sáng tác bởi Huỳnh Phú Sổ, theo ý kiến của họ, có phải là được cóp nhặt từ các tập thơ trên hay không. Có một sự giống nhau nữa có thể nhận ra là về cách chữa bệnh. Ngoài việc thường sử dụng hoa cho vào nước thuốc sắc từ thuốc nam, người ta còn nói “giấy vàng” liên kết lại phép mầu của người thanh niên ấy với phép mầu của Đoàn Minh Huyên. Những người bệnh đến khám quả thực đã hi vọng rằng giấy vàng sau khi đốt thành tro và uống vào có thể chữa cho họ khỏi bệnh tật và phòng ngừa cho họ khỏi dịch bệnh, thậm chí bảo vệ họ trước ma quỷ. Huỳnh Phú Sổ cũng sử dụng cách thức vừa chữa bệnh vừa giảng đạo Phật ( lợi sanh nhi hoằng pháp).

Vào lúc mà chính quyền sở tại ngày 15-3-1940 thông báo về trường hợp theo thuyết thần bí này, chính bản thân nó bị bất ngờ trước hết, bởi danh tiếng của chàng thanh niên Huỳnh Phú Sổ, theo như bản thông báo viết, làm cho “tín đồ đến từ khắp nơi” và những thân hào hàng đầu cũng trở thành môn đồ. Cái cảm tưởng bị bất ngờ ấy đặt ra một câu hỏi về lí do và thời điểm phát hiện ra phong trào tôn giáo này.

Có phải do những sự thăm viếng đi lại tăng lên bất thường trong làng từ thời gian ấy đã gây chú ý? Có phải do một vài thân hào nào đó trong làng hay do những người đi ngang qua làng hay do những nhân viên mộ lính đã cấp báo cho nhà cai trị? Có phải việc theo dõi các phong trào chính trị và việc phát hiện truyền đơn của các cơ quan cảnh sát đã đưa tới sự quan tâm đặc biệt hướng vào ngôi làng? Không có một giả thiết nào trong số đó được xác nhận.

Việc phát hiện ra phong trào tôn giáo này thật ra bắt đầu từ một vụ đổ máu ở Tân Châu vào tháng trước đó. Ngày 16 tháng Hai, khoảng vài chục người đi theo Đạo Tưởng, tin rằng thân thể họ không thể bị thương và tin vào thủ lĩnh của họ ở vương quốc định mệnh (Minh Hoàng Quốc), đã quyết định dùng sức mạnh chiếm lấy huyện lị. Bị hoang tưởng rằng vụ rắc rối này là sự trỗi dậy của hội kín Thiên Địa Hội,[12] tổ chức đã tham gia vào vụ Phan Xích Long cách đấy hai thập kỉ, chính quyền đã mở cuộc điều tra về các chân rết của hội kín này. Sự việc trước đấy vào năm 1916 bắt giữ một nhà sư có liên lụy đến vụ Phan Xích Long[13] đi ngang qua làng Hòa Hảo chắc chắn là đã gợi ý cho chính quyền tìm hiểu về những sinh hoạt bên trong ngôi làng.

Mặc dù phong trào hội kín ấy không có bất kì một mối liên hệ nào với hiện tượng tôn giáo sau này, nhưng một tháng sau vụ rắc rối ở Tân Châu, những hệ quả của nó đã dẫn đến việc phát hiện ra những hoạt động tiên tri của Huỳnh Phú Sổ.

Điều đó phải chăng có thể hiểu là “sứ mệnh” của người thanh niên Huỳnh Phú Sổ bộc lộ ra vào đúng thời điểm ấy. Chắc chắn là không! Thực tế là đã qua tám tháng kể từ lúc anh ta “thức tỉnh” tự xưng (4-7-1939) cho đến lúc chính quyền phát hiện ra anh ta (15-3-1940). Sự nổi danh của anh ta gây bất ngờ cho các cấp chính quyền thuộc địa được giải thích một phần qua lời mào đầu, theo đó thì Huỳnh Phú Sổ đã chữa bệnh, tiến hành thuyết giáo và tới vùng Thất Sơn nhiều lần một cách vô cùng kín đáo.

Nhưng sự lặng lẽ này đã thực sự chấm dứt kể từ ngày 15 tháng Ba năm 1940. Kể từ ngày đó, chính quyền thuộc địa tung ra một loạt các cuộc điều tra chuẩn bị để định đoạt về số phận của “người thanh niên cuồng tưởng” ấy. Chưa đầy hai tháng sau đó, Huỳnh Phú Sổ được yêu cầu tách khỏi những người sùng bái mình để chuyển đến sống ở một tỉnh khác. Ngày 18 tháng Năm năm 1940, ông rời ngôi làng quê hương và bắt đầu một cuộc viễn du trên vùng đồng bằng sông Mê Kông./.

[1] Ban Đại diện Phật giáo Hòa Hảo. Sấm giảng giáo lý Phật giáo Hòa Hảo của Đức Huỳnh Giáo chủ. Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2001, tr. 7. Đây là bản in chính thức gần đây nhất sưu tập những tác phẩm của Huỳnh Phú Sổ.

[2] Tiền Giang (sông Trước) và Hậu Giang (sông Sau) được chính quyền Pháp gọi tách riêng là Mê Kông và Bassac.

[3] Trong những năm 1930, 82% diện tích chia lô ở tỉnh đã bị chiếm bởi các chủ sở hữu có dưới 10 ha, chỉ có 10% có trên 50 ha (UBND tỉnh An Giang, Địa chí An Giang, 2003, tr. 376). Trong các tỉnh ở miền Hậu Giang, một số địa chủ có thể bay trên những miền đất thuộc sở hữu của họ bằng máy bay riêng.

[4] Nếu mô tả rất sơ lược thì người Kinh theo Phật giáo Đại thừa (cũng như người Hoa) và Công giáo, người Khmer theo Phật giáo Nguyên thuỷ, và mấy nghìn người Chăm cư trú trong một số ngôi làng ở Châu Đốc theo đạo Islam.

[5] Như Roger Bastide viết: “Thương mại và sự phát triển của văn hóa đã làm xáo trộn lớn về dân cư. Vì vậy, tương ứng với sự hỗn hợp về xã hội là sự hỗn hợp về tôn giáo, cái sau bao giờ cũng chỉ là hình ảnh phản chiếu của cái trước. (Roger Bastide. Eléments de sociologie religieuse. Sưu tập của A. Colin, 1935, tr. 131).

[6] Các di tích chủ yếu là: chùa Tây An Cổ Tự do Đoàn Minh Huyên lập ở làng Long Kiến (huyện Chợ Mới), chùa Tây An và mộ Đoàn Minh Huyên ở chân núi Sam, các thôn làng mới khai khẩn ở Thới Sơn và Láng Linh, chùa Phi Lai ở Ba Chúc do một trong các học trò của ông và là người sáng lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa xây dựng, cuối cùng là vùng Thất Sơn huyền thoại, nơi khởi xướng nhiều tín ngưỡng.

[7] Phạm Bích Hợp. Làng Hòa Hảo xưa và nay. Nxb TP HCM, 1999, tr. 29.

[9] Thông tri số 26 của quận Tân Châu, 15 tháng Ba năm 1940 (Trung tâm Tư liệu Hải ngoại, Kho tư liệu Sở Phòng vệ Binh đoàn Viễn chinh, tài liệu số N 385).

[10] Schreiner A. Thể chế Annam vùng đồng bằng sông Cửu Long trước cuộc xâm chiếm của Pháp ( Les institutions annamites en Basse Cochinchine avant la conquête francaise). Tập 2, tr. 23-23: Các chức trách của thân hào trong làng.

[12] Thiên Địa hội (La Société du Ciel et de la Terre) là một hội kín mạnh nhất trong số những hội phỏng theo lối Trung Hoa (phong trào Bạch Liên giáo, Tam tài) du nhập vào Nam Kỳ trong thời kì khai phá.

[13] Các công trình của một uỷ ban thuộc Hội Tam Điểm về nghiên cứu Pháp – Việt (Travaux du comité maconnique d’études franco annamites). Tập VII: Sư sãi và các ngôi chùa của họ ở Nam Kỳ (Les bonzes et leurs pagodes en Cochinchine). Sài Gòn 1927, tr. 14.