【#1】Top 6 Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng Giêng

Văn khấn tết Nguyên Tiêu

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật,Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.

Tín chủ (chúng) con là: ………………………………………..

Ngụ tại:………………………………………………………………

Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm… gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời Ông bà Tiền chủ, Hậu chủ lại về hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành phù hộ độ trì cho gia đạo chúng con được vạn sự an lành. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng an bình.

Phục duy cẩn cáo!

Văn khấn dâng cúng sao giải hạn

Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm……………..

Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….

Ngụ tại:…………………………………..

Chúng con thành tâm có lời kính mời:

Nhật cung Thái Dương Thiên Tử tinh quân

Nam Tào Bắc Đẩu tinh quân

Thái Bạch, Thi Tuế tinh quân

Bắc cực Tử vi Đại Đức tinh quân

Văn Xương Văn Khúc tinh quân

Nhị thập Bát Tú, Ngũ Hành tinh quấn

La Hầu, Kế Đô tinh quân

Giáng lâm trước án, nghe lời mời cẩn tấu:

Ngày rằm Nguyên Tiêu, theo lệ trần tục, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả thắp nén tâm hương dâng lên trước án, kính mời các vị lai lâm hâm hưởng, phù hộ cho toàn gia chúng con luôn luôn mạnh khoẻ, mọi sự bình an, vạn sự tối lành, gia đình hoà thuận, trên bảo dưới nghe.

Đèn trời xán lạn.

Chiếu thắp cõi trần.

Xin các tinh quân.

Lưu ân lưu phúc.

Lễ tuy mọn bạc.

Lòng thành có dư.

Mệnh vị an cư.

Thân cung khang thái.

Phục duy cẩn cáo!

Bài khấn gia tiên

Con lạy tổ tiên nội ngoại hai bên. Con tên là… Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng, ngày rằm đầu năm, con cháu chúng con có tấm lòng thành kính, có mâm cơm, chút lễ vật, nhang đèn để kính mời tổ tiên nội ngoại về chứng giám và phù hộ độ trì cho con cháu năm mới mạnh khỏe, hạnh phúc, an khang thịnh vượng, mọi điều tốt đẹp, mọi sự hanh thông. Cầu xin thượng uyển phù hộ cho chúng con (Lạy 3 lạy).

Sau đó, đi ra hướng Đông khấn: Con lạy các vị hoàng đế Việt Nam, con lạy các vị đại thần Việt Nam, các vị trạng Việt Nam, hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng là ngày Tết Nguyên Tiêu, ngày hoàng đế mời các vị trạng vào triều để vịnh thơ và bàn luận việc nước. con là những người dân được hưởng ân phúc của các vị hoàng đế, được hưởng thái bình, chúng con tưởng nhớ đến công lao to lớn của các vị hoàng đế, các vị đại thần, vua quan. Hôm nay, gia đình chúng con kính mời các vị vua, các vị quan thần các triều đại từ thời vua Hùng đến nay về thụ hưởng và chứng giám cho tấm lòng thành kính của con dân chúng con. Con xin cám ơn. Lạy.

Tiếp đến, đi xuống hướng Nam khấn: Con lạy các vị thần tiên trên trời dưới đất, hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng, gia đình con với tấm lòng thành kính gọi là có chút lễ vật nhang đăng thỉnh cầu, kính mời chư vị chứng giám cho tấm lòng của chúng con.Cầu năm sang năm mới, các vị thần tiên và long thần, sơn thần thổ địa giúp đỡ phù hộ độ trì cho chúng con sang năm mới mạnh khỏe, hạnh phúc an khang thịnh vượng, mọi sự cát tường. Con xin đa tạ các ngài. Lạy.

Quay sang hướng Tây khấn: Con Nam mô A Di Đà Phật, con lạy chín phương trời, con lạy mười phương đất, con lạy chư vị mười phương. Con lạy Thiên đế vạn năng. Con lạy Phật tổ vạn pháp. Con lạy chư vị Tam thiên, chư vị Phật pháp.Con Nam mô Hội thượng Phật Bồ Tát, con nam mô bạch y thần chú, cảm quan thiên bồ tát ma ha tát hồng niên. Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng, gia đình chúng con có tấm lòng thành, lễ vật cơm chay, cầu xin Phật Tổ, cầu xin chư vị bồ tát, hội thượng phật bồ tát, quan thế âm bồ tát hạ giá phù hộ độ trì cho gia đình chúng con. Chúng con xin đa tạ chư Phật. Lạy

Quay về hướng Bắc khấn: Con lạy thượng đế, con lạy ngũ đế, con lạy các vị thánh tổ, con lạy các vị thiên binh thiên mã. Hôm nay là ngày 15 tháng Giêng là ngày rằm đầu năm, chúng con là người trần mắt thịt được hưởng thiên đức của thượng đế, của các vị thần tiên trên trời đã cho chúng con được sống, thành người được làm ăn phát triển trên trần gian này.Tất cả những điều chúng con có là nhờ sáng lập của thượng đế. Hôm nay nhân ngày rằm đầu năm, chúng con làm mâm cơm đạm bạc kính mời thượng đế, kính mời các vị thần tiên trên trời, các vị thiên binh thiên tướng chứng giám cho chúng con. Chúng con xin khấu lạy và đa tạ các ngài. Lạy

Bài cúng Rằm tháng Giêng trên chùa

Nam mô A Di Đà Phật!( 3 lần)

Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ (chúng) con là: …………………..

Ngụ tại: ………………….

Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo.

Chúng con xin dốc lòng kính lễ:

– Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.

– Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Ta Bà.

– Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.

– Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

– Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.

Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được …………………. (công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…).

Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai qua nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khỏe, trên dưới thuận hòa an khang thịnh vượng.

Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

Bài văn khấn rằm tháng Giêng tại chùa

Phật thân rực rỡ tựa kim san

Thanh tịnh không gì thể sánh ngang

Vô Thượng Chí Tôn công đức mãn

Cúi đầu con lạy Phật Sơn Vương.

Phật đức bao la như đại dương

Bảo châu tàng chứa đủ bên trong

Trí tuệ vô biên vô lượng đức

Đại định uy linh giác vẹn toàn.Phật tại chân như pháp giới tàng

Không sắc không hình chẳng bụi mang

Chúng sinh bái vọng muôn hình Phật

Bỗng thấy tai nàn tận hóa tan.

Nam mô Thâp phương Thường trụ Tam Bảo

Nam mô Thâp phương Thường trụ Tam Bảo

Nam mô Thâp phương Thường trụ Tam Bảo

Văn khấn cúng tổ tiên

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!Nam mô a di Đà Phật!- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.

– Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.

– Các cụ Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

– Thúc bá đệ huynh và các hương linh nội, ngoại.Hôm nay là ngày…….. tháng….. năm…………..Tín chủ con là………………………………………………Ngụ tại………………………………………………… cùng toàn gia quyến.Thành tâm sửa biện hương hoa, lễ vật, trà quả và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.Chúng con thành tâm kính mời

– Các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này.

– Hương hồn Gia tiên nội, ngoại

Cúi xin các Ngài thương xót tín chủ

Giáng lâm trước án. Chứng giám lòng thành. Thụ hưởng lễ vật

Phù trì tín chủ chúng con:Toàn gia an lạc, mọi việc hanh thông

Người người được chữ bình an,Tám tiết vinh khang thịnh vượng,Lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang

Sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.Cẩn cáo!

【#2】Văn Khấn Cúng Rằm Gia Tiền Và Bài Cúng Rằm Thổ Công Trong Ngày Rằm Tháng 6 Âm Lịch

Văn khấn Rằm tháng 6 Âm lịch theo phong tục dân gian lâu đời, nhân dân ta đều cúng vào ngày rằm hàng tháng.

Văn khấn ngày Rằm hàng tháng

Theo quan niệm lâu đời của người Việt Nam, ngày Rằm gọi là ngày vọng. Vọng có nghĩa là nhìn xa trông rộng, ngày mặt trăng, mặt trời đối xứng nhau ở hai cực xa nhất trong tháng. Người xưa cho rằng, ngày này, mặt trăng mặt trời nhìn rõ nhau, thấu suốt nhau, soi chiếu vào mọi tâm hồn. Con người trở nên sáng suốt trong sạch, đẩy lùi được mọi đen tối vẩn đục trong lòng.

Ngày Vọng còn có ý nghĩa “Cát tường” xem ngày tốt xấu thấy là ngày tốt nhất trong tháng. Cúng vào ngày Rằm và chiều ngày 14 hàng tháng đều được.

Lễ vật cúng ngày rằm hàng tháng đơn giản

– Hương hoa, Trầu rượu, Nước, Hoa quả.

Cách cúng ngày rằm hàng tháng

– Trước khi cúng gia tiên thường cúng ông Công trước.

Văn khấn ngày rằm cúng Thổ Công và các vị Thần

Nam mô A Di Đà Phật ! Nam mô A Di Đà Phật ! Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy) – Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Tín chủ (chúng) con là:…… Ngụ tại: ……… Hôm nay là ngày … tháng … năm … tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả đốt nén hương thơm dâng lên trước án. Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim Niên đương cai Thái Tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ Địa. Long Mạch Tôn thần, các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc đức chính thần, các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này. Cúi xin các Ngài nghe thấu lời mời thương xót thương tín chủ giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc công việc hanh thông. Người người được bình an, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy).

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy) – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Tín chủ (chúng) con là:…… Ngụ tại:…… Hôm nay là ngày ….. gặp tiết ….. (ngày rằm, mồng một), tín chủ con nhờ ơn đức trời đất, chư vị Tôn thần, cù lao Tiên Tổ, thành tâm sắm lễ, hương, hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. Chúng con kính mời: Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật. Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ…, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật. Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, phù hộ cho gia chúng con luôn luôn mạnh khỏe, mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, làm ăn phát tài, gia đình hòa thuận. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy).

– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng chư vị Tôn Thần.

– Con kính lạy Tổ tiên, Hiển khảo, Hiển Tỷ, chư vị Hương linh (nếu bố, mẹ còn sống thì thay bằng Tổ Khảo, Tổ Tỷ). – Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Thần Quân.

– Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa Long Mạch.

– Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần.

– Con kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần.

– Con kính lạy các Tôn thần cai quản trong khu vực này.

Bài cúng ngày rằm cúng gia tiên

【#3】Văn Khấn Rằm Gia Tiên, Bài Cúng Rằm Thổ Công Và Lễ Cúng Ngày Rằm Tháng 6 Âm Lịch

(Thethaovanhoa.vn) – Văn khấn Rằm tháng 6 Âm lịch: Theo phong tục lâu đời, nhân dân ta đều cúng vào ngày rằm hàng tháng.

Văn khấn mùng 1 tháng Bảy Âm lịch: Hôm nay là ngày 1 tháng 7 lịch âm, phong tục lâu đời, nhân dân ta đều cúng vào ngày rằm và mồng một hàng tháng.

Văn khấn ngày rằm mùng 1 hàng tháng

Theo quan niệm lâu đời của người Việt Nam, ngày Rằm gọi là ngày vọng. Vọng có nghĩa là nhìn xa trông rộng, ngày mặt trăng, mặt trời đối xứng nhau ở hai cực xa nhất trong tháng.

Người xưa cho rằng, ngày này, mặt trăng mặt trời nhìn rõ nhau, thấu suốt nhau, soi chiếu vào mọi tâm hồn. Con người trở nên sáng suốt trong sạch, đẩy lùi được mọi đen tối vẩn đục trong lòng.

Còn ngày mùng 1 đầu tháng âm lịch gọi là ngày sóc. Nguyên nghĩa từ sóc là khởi đầu, bắt đầu. Ngày mùng 1 là ngày bắt đầu của một tháng nên gọi là ngày sóc.

Người Việt ta coi ngày Sóc, Vọng là ngày tưởng nhớ tổ tiên, cúng ông bà, ông vải. Ngày Sóc, Vọng còn có ý nghĩa “Cát tường” xem ngày tốt xấu thấy là ngày tốt nhất trong tháng. Cúng vào mùng 1 và ngày Rằm, hoặc cúng vào chiều ngày 30 và chiều ngày 14 hàng tháng đều được.

Lễ vật và văn khấn ngày rằm và mùng 1 hàng tháng

Lễ vật cúng ngày rằm và ngày mồng 1 hàng tháng đơn giản:

Hương hoa, Trầu rượu, Nước, Hoa quả.

Cách cúng ngày mùng 1 và ngày rằm hàng tháng

Trước khi cúng gia tiên thường cúng ông Công trước.

Văn khấn ngày rằm cúng Thổ Công và các vị Thần Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy) – Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vị Tôn thần. – Con kính lạy ngài Đông Thần Quân – Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa Long Mạch – Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần – Con kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần – Con kính lạy các Tôn thần cai quản trong khu vực này. Tín chủ (chúng) con là:…… Ngụ tại: ……… Hôm nay là ngày … tháng … năm … tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả đốt nén hương thơm dâng lên trước án. Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim Niên đương cai Thái Tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ Địa. Long Mạch Tôn thần, các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc đức chính thần, các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này. Cúi xin các Ngài nghe thấu lời mời thương xót thương tín chủ giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc công việc hanh thông. Người người được bình an, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy). Bài cúng ngày rằm cúng gia tiên Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy) – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. – Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng chư vị Tôn Thần. – Con kính lạy Tổ tiên, Hiển khảo, Hiển Tỷ, chư vị Hương linh (nếu bố, mẹ còn sống thì thay bằng Tổ Khảo, Tổ Tỷ) Tín chủ (chúng) con là:…… Ngụ tại:…… Hôm nay là ngày ….. gặp tiết ….. (ngày rằm, mồng một), tín chủ con nhờ ơn đức trời đất, chư vị Tôn thần, cù lao Tiên Tổ, thành tâm sắm lễ, hương, hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. Chúng con kính mời: Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật. Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ…, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật. Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, phù hộ cho gia chúng con luôn luôn mạnh khỏe, mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, làm ăn phát tài, gia đình hòa thuận. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy).

【#4】Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Tết Nguyên Tiêu 2021

Văn khấn Tết nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) tại nhà 2021

– Con lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ chư vị tôn thần.

– Con kính lạy ngài bản cảnh Thành hoàng, ngài bản xứ Thổ địa, ngài bản gia Táo quân cùng chư vị tôn thần.

– Con kính lạy Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỉ, thúc bá đệ huynh, cô di, tỉ muội họ nội họ ngoại.

Tín chủ (chúng) con là: ………………………………………..

Ngụ tại:………………………………………………………………

Hôm nay là ngày rằm tháng giêng năm… gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngài bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các các cụ Tổ khảo, Tổ tỉ, chư vị hương linh gia tiên nội ngoại họ………………. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời ông bà Tiền chủ, Hậu chủ tại về hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành phù hộ độ trì cho gia chung chúng con được vạn sự tôn lành. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng an bình.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy).

Văn khấn tết Nguyên Tiêu rằm tháng giêng 2021

– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.

Tín chủ (chúng) con là: ………………………………………..

Ngụ tại:………………………………………………………………

Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm… gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời Ông bà Tiền chủ, Hậu chủ lại về hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành phù hộ độ trì cho gia đạo chúng con được vạn sự an lành. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng an bình.

Phục duy cẩn cáo!

Bài cúng sao giải hạn tết nguyên tiêu rằm tháng giêng tại nhà

Trong đó có sao vận tốt, lại có sao vận xấu. Nếu ai bị sao vận xấu chiếu mạng trong năm thì làm lễ dâng sao giải hạn; Nếu ai được sao tốt chiếu mạng thì làm lễ dâng sao nghinh đón.

Lễ nghênh, tiễn nhương tinh (cúng sao) được tiến hành thường kỳ vào những ngày nhất định của các tháng trong năm.

Bàn hương án cúng dâng sao thường đặt ở sân trước nhà hoặc trên sân thượng.

Văn khấn cúng dâng sao giải hạn (ngày Rằm tháng Giêng)

Nam mô A-di-đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm……………..

Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….

Ngụ tại:…………………………………..

Chúng con thành tâm có lời kính mời:

Nhật cung Thái Dương Thiên Tử tinh quân

Nam Tào Bắc Đẩu tinh quân

Thái Bạch, Thi Tuế tinh quân

Bắc cực Tử vi Đại Đức tinh quân

Văn Xương Văn Khúc tinh quân

Nhị thập Bát Tú, Ngũ Hành tinh quấn

La Hầu, Kế Đô tinh quân

Giáng lâm trước án, nghe lời mời cẩn tấu:

Ngày rằm Nguyên Tiêu, theo lệ trần tục, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả thắp nén tâm hương dâng lên trước án, kính mời các vị lai lâm hâm hưởng, phù hộ cho toàn gia chúng con luôn luôn mạnh khoẻ, mọi sự bình an, vạn sự tối lành, gia đình hoà thuận, trên bảo dưới nghe.

Đèn trời sán lạn.

Chiếu thắp cõi trần.

Xin các tinh quân.

Lưu ân lưu phúc.

Lễ tuy mọn bạc.

Lòng thành có dư.

Mệnh vị an cư.

Thân cung khang thái.

Nam mô A-di-đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

【#5】Tâm Linh: Cúng Bố Thí Chúng Sanh Hàng Tháng Mùng 2, Mùng 16 Và Rằm Tháng 7 Lễ Vật Và Bài Văn Khấn

[Phong thuỷ tâm linh] Cúng bố thí chúng sanh – cúng thí thực (dân gian thường gọi là cúng Cô hồn). Thường thường Ông Bà ta hay cúng vào ngày mùng 2 và 16 âl mỗi tháng, là một lễ nhỏ, còn rằm tháng 7 là lễ lớn (Vu Lan). Cúng bố thí chúng sanh không phải là một sự mê tín như bao nhiêu người đã lầm tưởng. Bởi vì, ở thế kỷ 21 này các nhà Ngoại Cảm trên thế giới và Việt Nam đã minh chứng được có thế giới của người chết, có linh hồn tồn tại ở cõi âm mà sự rung động và cảm xúc như người sống của chúng ta!

Cúng bố thí chúng sanh – cúng thí thực (cúng Cô Hồn) đó là một hành động bố thí, từ bi bác ái, muốn chia sẻ sự đau khổ cho các chúng sanh thiếu phước, thường bị đói khát triền miên, bơ vơ, sống vất vưởng, lang thang đã từ lâu không siêu thoát và nhất là không được người thân quyến cúng kiến. Bài này sử dụng được cho rằm tháng bảy âm lịch, và cũng là dùng để cúng bố thí chúng sanh lúc nào cũng được, tức là dùng để cúng hàng tháng vào mùng 2 và mùng 16 âm lịch tại miền Nam, mùng 1 và rằm tại miền Trung và Bắc.

  1. Xin nhớ là đặt lễ cúng ngoài hành lang, chứ không cúng trong nhà
  2. Quý vị cứ y theo bài văn khấn mẫu bên dưới mà đọc, cúng SAU 12 GIỜ TRƯA, (vì từ khi mặt trời mọc đến 12 giờ trưa là giờ dương khí, còn sau 12 giờ trưa đến khuya là giờ khí âm ). Chúng tôi ghi rất rõ.
  3. Quý vị nên in lại bài nầy trong tờ giấy (nếu sử dụng thường xuyên), rồi nhìn đọc cho đúng, nhất là các câu Thần chú.
  4. Các phẩm vật cúng bố thí chúng sanh, tuyệt đối không được dùng tới, phải bỏ đi hay là cho súc vật ăn.
  5. Tàn 2/3 nhang , đốt giấy , rải gạo, muối.
  1. Nước : 3 chun (hay 3 ly nhỏ ), 3 cây nhang , 2 ngọn nến nhỏ.
  2. Gạo, muối hột .( chút ít, không được bỏ gạo nhiều vì ở thành phố không có chim ăn gạo).
  3. Cháo trắng nấu lỏng ( 12 chén nhỏ hoặc tô cháo lớn ) , hay là cơm vắt : 3 vắt .
  4. Giấy áo, giấy tiền vàng bạc ( chút ít, đại khái thôi, không nên có nhiều, lãng phí )
  5. Bánh, kẹo
  6. 12 cục đường thẻ
  7. Bắp rang
  8. Mía (để nguyên vỏ và chặt tùng khúc nhỏ độ 15 cm )

Quý vị nên cúng chay thì tốt hơn (vì chúng sanh không đòi hỏi ta phải cúng chay hay mặn, tuỳ tâm của quý vị, cũng không nên cầu kỳ phài cúng cho giống người khác) Điều quan trọng là: phải đọc Thần chú và niệm Phật cho đúng và đủ, thành tâm, mong cho chúng sanh an vui và no . Gạo, muối, cháo, không cần nhiều. Nhờ có chú biến thực là đã biến hoá được hàng hà sa số thực phẩm rồi .(Theo Sư Ông Thích Thông Bửu , cô hồn rất thích bắp rang và mía ) .

1. Tịnh pháp giới chân ngôn : ÔM LAM, ÔM SĨ LÂM ( 7 lần )

2. Chân ngôn phá địa ngục : ÁN GIÀ RA ĐẾ DẠ, TA BÀ HA .( 7 lần )

3. Chân ngôn biến thực : ( biến thức ăn cho nhiều )

NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA, NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ , ÁN TÁM BẠT RA , TÁM BẠT RA HỒNG .( 7 lần )

4/ Chân ngôn Cam lồ thủy 🙁 biến nước uống cho nhiều )

NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN TÔ RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ , TA BÀ HA .( 7 lần )

Con tên …tuổi…ngụ tại (thường trú hay tạm trú ) số nhà …, phường (xã)….. , quận (huyện )….

Hôm nay ngày …tháng …năm…. Thành tâm kính mời các chư vị khuất mặt, khuất mày, kẻ lớn, người nhỏ , thập loại chúng sanh, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, oan gia trái chủ, tai nạm đường phố, vô gia cư…về nơi đây hưởng lộc thực đầy đủ…và cùng với chúng con niệm Phật cầu vãng sanh :

  • NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ( 10 lần , hay nhiều hơn nữa )
  • NAM MÔ ĐA BẢO NHƯ LAI (10 lần)
  • NAM MÔ BẢO THẮNG NHƯ LAI ( 10 lần)
  • NAM MÔ QUẢNG BÁC THÂN NHƯ LAI (10 lần )
  • NAM MÔ DIỆU SẮC THÂN NHƯ LAI ( 10 lần)
  • NAM MÔ LY BỐ UÝ NHƯ LAI (10 lần)
  • NAM MÔ CAM LỒ VƯƠNG NHƯ LAI . ( 10 lần )
  • NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT. (10 lần)

( Sau đó quý vị cầu bình an cho gia đình mình chúng tôi muốn cầu gì cũng được, tuỳ ở sự thành tâm ) .

Giải thích ý nghĩa của thần chú : Thần chú là mật chú của chư Phật, khó có thể trình bày, chỉ trình bày đại ý dùng sự.

Thế giới ta bà nầy rất dơ uế, muốn Chư Thiên cõi trên chứng giám, hoặc các chúng hửu tinh thọ dụng thức ăn, chúng ta bắt buộc phải tụng chú nầy .Trì chú nầy thân, tâm, cảnh vật đều được thanh tịnh, sạch sẽ. Nếu ai đọc tụng chú nầy sẽ được ba nghiệp trong sạch các tội chướng đều tiêu tan, các công đức hết thảy thành tựu.

2. ÁN GIÀ RA ĐẾ DẠ, TA BÀ HA :

Khi tụng Thần chú phải quán tưởng tiếng đọc chú và uy lực cũng như hào quang Đức Phật đều soi khắp thấu đến các địa ngục mười phương, ở tất cả địa ngục đều được cởi bỏ xiềng xích, các tội nhận được dứt nghỉ khổ não.

3. NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA NGA ĐÀ, PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ, ÁN TÁM BẠT RA, TÁM BẠT RA HỒNG :

Niệm chú nầy cho các món ăn đều được mùi vị cam lồ rất thơm ngon, lại biến rất nhiều hàng hà sa số , đầy đủ cho các ngạ quỷ no đủ, ăn rồi được siêu sinh, khiến cho hành giả tiêu trừ nghiệp chướng, thọ mạng sống lâu.

4. NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA ĐÁT ĐIỆT THA, ÁN, TÔ RÔ TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, TA BÀ HA.

Tụng thần chú nầy khiến cho nước nhiều như biển cả, biến thành màu sửa cam lộ, mở rộng cuống họng như cây kim, tất cả Ngạ Quỷ đều được cùng ăn uống với nhau vui vẻ.

5. CHÚ ÁN THỔ ĐỊA : NAM MÔ TAM MÃN ĐA MỘT ĐÀ NẪM , ÁN ĐỘ RÔ, ĐỘ RÔ, ĐỊA VĨ TA BÀ HA .

Khi tụng chú Đại Bi, hoặc tụng kinh ở nhà , quý vị phải nhớ là phải tụng chú nầy. Lý do là ông Địa và ông Thần Tài là hai vị thần nhỏ, khi ta tụng niệm, nhất là chú Đại Bi các chư Thiên chư Thánh mặt mày trang nghiêm , thân hình to lớn , bệ vệ, râu tóc dựng ngược…Các vị Thần nhỏ của chúng ta thấy khiếp sợ bỏ chạy…Khi hết tụng, các vị trở lại , nhưng lòng buồn (Thần còn sân ), ta sẽ bị ảnh hưởng không tốt.

Ta đọc Thần chú nầy, có nghĩa :” xin hai ông an tọa, hoan hỉ , đây là chư Thiên …”

Phật tử Từ Tâm Đạo sưu tầm :

– Mông Sơn thí thực ( kinh Phổ Môn )

– Nhà sư Thích Năng, tác giả của sách kinh “Căn nguyên và công dụng các loại Thần Chú “.

( vào mùng 2 âm lịch hay mùng 16 âm lịch : 1 ngày trong tháng, cúng trong nhà, để trên cái bàn nhỏ, không được đặt trên bàn thờ.)

Lễ vật: & đồ cúng cần chuẩn bị:

  1. Gạo, muối.
  2. Bánh ngọt loại ngon ( không phải loại cúng cô hồn ) .
  3. Kẹo sô cô la.
  4. 3 chun nước .
  5. Môt bộ quần áo giấy của trẻ nhỏ , cặp, sách, bút , tập cũng bắng giấy, kèm theo tiền, vàng .

1. Tịnh pháp giới chân ngôn : ÔM LAM, ÔM SỈ LÂM . ( 7 LẦN )

2. Chân ngôn biến thực : NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ , ÁN TÁM BẠT RA , TÁM BẠT RA HỒNG

3. Chân ngôn biến thủy : NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA , ÁN TÔ RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ , TA BÀ HA. ( 7 LẦN ) .

Hôm nay là ngày … tháng …năm…, con tên là …tuổi… ngụ tại số …phường…quận…con xin Thổ Công, Thần Tài, Thổ Địa , cho phép con cúng lễ cho ấu nhi hữu danh vô vị, hữu vị vô danh (súc sảo)

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (10 LẦN )

NAM MÔ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT (10 LẦN )

NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT (10 LẦN )

….Vái vong hồn hữu danh vô vị, hữu vị vô danh , mẹ mời ấu nhi cậu Trạng (hay đồng cô ) về đây hưởng lễ mẹ cúng, gồm các bánh kẹo, quần áo bạc tiền , sách vở . Ấu nhi hãy thọ nhận rồi theo Cha Mẹ Bề Trên mà tu học, độ trì cho cả nhà ta vạn sự may mắn tốt lành , tài lộc dồi dào ….Ấu nhi hãy vui vẻ thông cảm cho ba mẹ vì hoàn cảnh thế gian mà không thể bảo vệ cho con được , từ đây, biết có con cha mẹ sẽ lo cho con..

  1. Tàn 2/3 nhang , đốt giấy , rải gạo, muối.
  2. Bánh kẹo không bỏ, chia nhau cả nhà dùng , để có lộc cậu (cô) .
  3. CÚNG TRONG NHÀ, để trên cái bàn nhỏ, không được đặt trên bàn thờ.
  4. CÚNG SAU 12 GIỜ TRƯA .

Câu chuyện này dành cho các bậc cha mẹ đã lầm lỡ, hay vô tình bị hư thai không biết:

Trong sách Địa Ngục Du Ký, có nói về những đứa bé vì nhiều lý do khắc nghiệt của hoàn cảnh cha mẹ chúng, mà không thể cho ra đời.

Sự thật, không phải là xong rồi, khi đã được kế hoạch hóa. Một linh hồn được tồn tại cõi âm và luôn luôn hiện diện trong nhà , bên cạnh cha mẹ và anh chị em, mà mắt thường chúng ta không thấy được. Chúng cũng lớn lên, cũng đòi hỏi và ganh tị giận hờn …Bởi vậy, chúng tôi thường nghe kể lại với những giấc chiêm bao, những chuyện nóng nảy bực mình trong nhà mà không biết nguyên nhân? ấy là sự phá quấy của đứa trẻ.

Muốn giải quyết điều nầy thì nên cúng cho chúng đầy đủ như trên và thường xuyên niệm Phật ( NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ) khuyên chúng đi tu học .

Cha mẹ nào cảm thấy hối hận ăn năn ,việc làm đáng tiếc của mình , vì không cho một sinh mạng được làm người, thì nên :

  • Niệm Phật , làm từ thiện , bố thí , phóng sanh, cúng dường …
  • Hồi hướng công đức cho bé được siêu thoát .
  • Một lần lầm lỡ, không nên tái phạm, và cản ngăn, giúp đỡ kẻ lâm vào tình trạng bế tắc như mình khi xưa.

【#6】6 Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng 7 Trong Nhà, Ngoài Trời

6 bài văn khấn cúng rằm tháng 7 trong nhà, ngoài trời…

6 bài văn khấn cúng rằm tháng 7 trong nhà, ngoài trời…

Kính chào quý độc giả!

Cũng sắp đến rằm tháng 7, Tháng Vu Lan Báo Hiếu, tháng cúng chúng sinh cô hồn. Trong bài viết này cơ sở đá mỹ nghệ Bảo Châu xin chia sẻ cùng quý độc giả những bài văn khấn cúng rằm tháng 7 để cúng gia tiên trong nhà, ngoài trời, tại nhà thờ họ hay ở chùa…

Văn khấn cúng thần linh thổ công thổ địa tại nhà và cơ quan vào rằm tháng 7

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Kính lạy!

– Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát

– Đức Mục Kiền Liên Tôn Giả.

Hôm hôm nay ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất

Tín chủ con tên là: (đọc tên của gia chủ)

Ngụ tại: (đọc địa chỉ cụ thể của gia chủ)

Thành tâm sửa biện hương hoa, lễ vật đủ đầy cúng dâng bầy lên trước án!

Chúng con thành tâm kính mời:

Ngài Địa Đại Vương Bồ Tát; Ngài Mục Kiền Liên Tôn Giả.

Chúng con kính mời Ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức tôn thần. Ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương. Ngài Bản xứ thần linh thổ địa. Ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, xét soi chứng giám. Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xóa tội. Chúng con đội ơn Tam bảo Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.

Do vậy, con xin kính dâng lễ bạc lòng thành nguyện mong nạp thụ. Phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình, người người mạnh khỏe già trẻ bình anh, hướng về chính đạo. Lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long.

Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám!

Cẩn cáo!

Văn khấn rằm tháng 7 tại nhà thờ họ, gia tiên

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Kính lạy tổ tiên nội ngoại và chư vị hương linh!

Hôm nay là ngày rawmg tháng 7 năm Mậu Tuất.

Gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung Nguyên, nhớ đến tổ tiên ông bà cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nên nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức.

Do vậy cho nên nghĩ đức cù lao khôn báo, cảm công trời biển khó đền. Chúng con sửa sang lễ vật, hương hoa kim ngân và các thứ lễ nghi bày trước linh tọa.

Thành tâm kính mời:

Các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá thúc đệ huynh, cô di tỷ muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ…

Cúi xin thương xót cháu con, linh thiếng giáng về linh sàng chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu mạnh khỏe bình an, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, hướng về chính giáo.

Tín chủ lại mời: Các vị vong linh y thảo phụ mộc phảng phất ở trong đất này. Nhân lễ Vu Lan giáng tới linh tọa, chiêm ngưỡng tôn thần, hâm hưởng lễ vật, độ cho tín chủ muôn sự bình anh sở cầu xứng ý.

Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám!

Cẩn cáo!

Văn khấn thần tài ngày rằm tháng 7

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Kính lạy:

Hoàng Thiên Hậu Thổ Chư Vị Tôn Thần

Đức Tài Thần Vị Tiền

Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất.

Tín chủ chúng chon là: (Tên gia chủ)

Cùng gia quyến ở tại: (Địa chỉ cụ thể)

Trước linh vị tài thần quỳ khấn rằng:

Thần quyền nảy mực ầm cân, giữ hết của kho trong thiên hạ, sẵn có sinh tài đạo lớn, thi ân cho cả mọi người. Từ nhà phú quý cho đến dân đen, chẳng ai không dốc lòng tôn kính thờ phụng ngài. Chúng con cũng đã được ban lợi lộc, để tỏ lòng biết ơn nay chuẩn bị xôi thịt, rượu trầu, vàng mã dâng cúng để tỏ chút chút lòng thành. Cúi mong đức tài thần giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho tín chủ chúng con, lộc tài thịnh vượng, công việc hanh thông, an minh khang thái. Mong được tôn thần chiếu cố.

Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám!

Cẩn cáo!

Quý độc giả chú ý bài văn khấn thần tài này có thể áp dụng bất cứ khi nào cúng thần tài chứ không riêng gì ngày rằm tháng 7!

Bài văn khấn cúng cô hồn thập loại chúng sinh rằm tháng 7 ngoài trời

Tiết tháng 7 mưa dầm sùi sụt

Toát hơi may lạnh buốt xương khô

Não người thay, buổi chiều thu

Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng

Đường bạch dương bóng chiều man mác

Dịp đường lê lác đác sương sa

Lòng nào lòng chẳng thiết tha

Cõi dương còn thế nữa là cõi âm

Trong trường dạ tối tăm trời đất

Có khôn thiêng phảng phất u minh

Thương thay thập loại chúng sinh

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

Hương lúa đã không nơi nương tựa

Hồn mồ côi lần nữa đêm đen

Còn chi ai quý ai hèn

còn chi mà nói ai hiền ai ngu

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

Nước tịnh đàn rưới hạt dương chi

Muốn nhờ đức Phật từ bi

Giải oan cứu khổ hồn về Tây Phương

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh

Chí những lăm cướp gánh non sông

Nói chi những buổi tranh hùng

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau

Bỗng phút đâu mưa xa ngói lở

Khôn đem mình làm đứa sất phu

Lớn sang giàu, nặng oán thù

Máu tươi lai láng xương khô rã rời

Đoàn vô tự, lạc loài nheo nhóc

Quỷ không đầu, đớn khóc đêm mưa

Cho hay thành bại là cơ

Mà cô hồn biết bao giờ cho tan

Nào những kẻ màn lan trướng huệ

Những cậy mình cung quế Hằng Nga

Một phen thay đổi sơn hà

Mảnh thân chiếc lá, biết là về đâu?

Trên lầu cao, dưới cầu nước chảy,

Phận đã đành châm gãy bình rơi

Khi sao đông đúc vui cười

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương

Đau đớn nhẽ! Không hương không khói

Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim

Thương thay chân yếu tay mềm

Càng năm càng yếu một đêm một rầu

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng

Ngọn bút son thác sống ở tay

Kinh luân găm một túi đầy

Đã đem quản nhạc lại ngày y chu

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh

Nghìn vàng khôn đổi được mình

Lầu ca viện hát tan tnahf còn đâu

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

Biết lấy ai bát nước nén nhang

Cô hồn thất thểu dọc ngang

Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh

Kìa những kẻ bày binh bố trận

Dấn mình vào cướp ấn nguyên nhung

Gió mưa sấm sét đùng đùng

Giãi thây trăm họ làm công một người

Khi thất thế tên rơi đạn lạc

Bãi xa trường thịt nát máu trôi

Mênh mông góc bể bên trời

Nắm xương vô chủ biết nơi chốn nào

Trời xây xẩm mưa gào gió thét

Khí âm huyền mờ mịt trước sau

Ngàn cây nội cỏ rầu rầu

Nào đâu điếu tế nào đâu chưng thường

Cũng có kẻ tính đường trí phú

Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn

Ruột già không kẻ chí thân

Dẫu làm nên dễ dành phần cho ai

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

Của phù vân dẫu có như không

Sống thời tiền chảy bạc dòng

Thác không đem được một đồng nào đi

Khóc ma mướn thương gì hàng xóm

Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

Ngẩn ngơ trong quãng đường chiêm

Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu

Cũng có kẻ sắp cầu chữ quý

Dấn mình vào thành thị lân la

Mấy thu lìa cửa lìa nhà

Văn chương đã chắc đâu mà chen chân

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng

Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng

Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng

Anh em thiên hạ láng giềng người dưng

Bóng phần tử xa chừng hương khúc

Bãi tha ma kẻ dọc người ngang

Cô hồn nhờ gửi tha hương

Gió trăng hiu hắt lửa hương lạnh lùng

Cũng có kẻ vào sông ra bể

Cánh buồm bay chạy xế gió đông

Gặp cơn giông tố giữa dòng

Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê

Cũng có kẻ đi về buôn bán

Đòn gánh tre chín rạn hai vai

Gặp cơn mưa nắng giữa trời

Hồn đường vách xá lạc loại nơi nao

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính

Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan

Nước khe cơm ống gian nan

Giãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

Buổi chiến trận mạng người như rác

Phận đã đành đạn lạc tên rơi

Lập lòe ngọn lửa ma chơi

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa

Ngẩn ngơ khi trở về già

Ai chồng con tá biết là cậy ai

Sống đã chịu một đời phiền não

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa

Đau đớn thay phận đàn bà

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất

Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi

Thương thay cũng một kiếp người

Sống nhờ hàng sứ chết vùi đường quan

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

Gửi mình vào chiếu lác một manh

Nắm xương chôn rấp góc thành

Kiếp nào cởi được oán thù ấy đi

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha

Lấy ai bồng bế vào ra

U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối

Cũng có người xẩy cối ngã cây

Có người leo giếng đứt dây

Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành

Người thì mắc sơn tinh thủy quái

Người thì vương nanh khái ngà voi

Có người có đẻ không nuôi

Có người xa xẩy có người vong thương

Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước

Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

Mỗi người một nghiệp khác nhau

Hồn siêu phách lạc biết đâu bây giờ

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

Hoặc là nương ngọn suối chân mây

Hoặc là bãi cỏ bóng cây

Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ

Hoặc là nương thần thờ phật tự

Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông

Hoặc là trong khoảng đồng không

Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre

Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết

Ruột héo kho da rét căm căm

Dãi dầu trong mấy mươi năm

Thở than dưới đất ăn nằm trong sương

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn

Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra

Lôi thôi bồng trẻ dắt già

Có khôn thiêng nhẽ lặng mà nghe kinh

Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ

Phóng hào quang cứu khổ độ u

Rắp hòa tứ hải quần chu

Não phiền rũ sạch oán thù rửa trong

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại

Chuyển pháp luân trăm giới thập phương

Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương

Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh

Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao

Mười loài là những loài nào

Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh

Kiếp phù sinh như hình bảo ảnh

Có chữ rằng vạn cảnh giai không

Ấy ai lấy phật làm lòng

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo

Của có chi bát cháo nén hương

Gọi là manh áo thỏi vàng

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên

Ai đến đây dưới trên ngồi lại

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu

Phép thiêng biến ít thành nhiều

Trên nhờ tôn giả chia đều chúng sinh

Phật hữu tình từ bi phổ độ

Chớ ngại rằng có có không không

Nam mô phật, nam mô pháp, nam mô tăng

Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài!

Văn khấn rằm tháng 7 tại chùa

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Hôm nay là ngày….. tháng….. năm……………………………………………

Tín chủ con là …………………………………………………………………………………………..

Ngụ tại…………………………………………………………………………………

Cùng toàn thể gia đình thành tâm trước Đại Hùng Bảo Điện, nơi chùa.

Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Di Đà, Mười phương chư Phật, Vô thượng Phật pháp, Quan Âm Đại sỹ, cùng hiền Thánh Tăng.

Đệ tử lâu đời lâu kiếp

Nghiệp chướng nặng nề

Nay đến trước Phật đài,

Thành tâm sám hối

Thề Tránh điều dữ

Nguyện làm việc lành,

Ngửa trông ơn Phật,

Quán Âm Đại sỹ,

Chư Thánh hiền Tăng,

Thiên Long Bát bộ,

Hộ pháp Thiên thần,

Từ bi gia hội.

Cúi xin các vị phù hộ cho chúng con và cả gia đình tâm không phiền não, thân không bệnh tật, hàng ngày an vui làm việc theo pháp Phật nhiệm màu, để cho vận đáo hanh thông, muôn thuở nhuần ơn Phật pháp.

Đặng xin cứu độ cho các bậc Tôn Trưởng cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng cả chúng sinh đều thành Phật đạo.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Sau cùng là văn khấn hóa vàng mã rằm tháng 7

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Kính lạy:

Hoàng Thiên Hậu Thổ Chư Vị Tôn Thần

Thần Vũ Lâm sứ giả

Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất

Tín chủ con là: (Tên gia chủ)

Ngụ tại: (Địa chỉ cụ thể nơi gia chủ ở)

Nay nhân tiết Vu Lan (ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất) Âm dương cách trở ngày tháng vắng tăm. Lòng con cháu tưởng nhớ khôn nguôi, đã sắm sanh quần áo dụng cụ, tiện nghi khác chi lúc sống, nhưng xin theo lối đường âm, báo đáp ân thâm tỏ lòng hiếu kính. Xin được kính dâng Hương Linh gia tiên chúng con là:

Kể tên các Hương Linh, nơi an táng và tên đồ mã cúng…Mọi thứ được kê tên rành rõ trong giấy vong nhận, không lo ngại quỷ, chứng kiến chúng con trình lên trên sét, hội trí nhờ đức Vũ Lâm. Kính ngài cho phép vong linh được nhận.

Cẩn cáo!

【#7】Ý Nghĩa Ngày Rằm Tháng 6 Trong Phật Giáo Nam Tông

Ngày Rằm tháng Sáu, có lẽ đối với người Việt Nam thì chỉ là một ngày Rằm bình thường, chẳng có chút gì gọi là quan trọng, nếu không nói là quá xa lạ với người Việt chúng ta.

Tuy nhiên, với Tăng Tín đồ Phật Giáo Nam truyền, ngày Rằm tháng Sáu có rất nhiều ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời lịch sử và hoằng pháp của Đức Phật. Ngày Rằm tháng Sáu còn được gọi là ngày Āsaḷhapūjā.

Pūjā nghĩa là tôn kính, quý kính, còn có nghĩa là sự dâng cúng, cúng dường. Ở đây, Pūjā còn có nghĩa là ngày lễ lớn. Āsaḷha là tên một tháng trong lịch của Ấn Độ. So với âm lịch Việt Nam, Āsaḷha tương ứng với tháng Sáu.

Āsaḷhapūjā là ngày lễ Rằm tháng Sáu, ngày kỷ niệm trọng đại một lúc bốn sự kiện lịch sử:

1/ Bồ tát giáng trần

2/ Bồ tát xuất gia

3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân

4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo

5/ Và sau ngày này, chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

Mơ màng ứng hiện mộng lành

Uy nghiêm bạch tượng hóa thành thánh thai

Theo Buddhavaṃsa (Phật sử), Bồ tát tu hạnh Trí tuệ phải thực hành pháp độ khoảng 20 A tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Tiền kiếp của Phật Thích Ca là Ngài Vessantara thực hành pháp bố thí ba-la-mật bậc thượng (Dānaparamatthapāramī) thành tựu viên mãn. Sau đó hết tuổi thọ, Ngài tái sanh vào cõi Trời Tusita có tên là Santusita. Trong những ngày trai giới, Chư Thiên các nơi vân tập về đây để nghe đức Bồ tát Setaketu thuyết pháp. Thường thường Ngài giảng về bố thí, trì giới, tham thiền, tội ngũ trần, đề cao hạnh xuất gia, ba tướng của vũ trụ… giọng nói của Ngài thanh tao như trời Phạm thiên, y phục chỉnh tề, hào quang sáng chói. Sau thời giảng, Chư Thiên vô cùng hoan hỷ, chấp thọ lời dạy của Ngài và cáo biệt trở về cung điện của mình.

Riêng đức Bồ tát lúc nào cũng trầm tư mặc tưởng về chí nguyện độ đời của mình. Vì thế Ngài lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng giáng phàm để thành đạo. Thông lệ các vị Bồ tát mặc dù tu hạnh nào trước khi thành Phật cũng phải ngụ trên cõi Trời này để chờ thời gian thích hợp giáng phàm. Bồ tát Setasetu sống trên cõi Trời Ðâu suất khoảng thời gian rất lâu thì đến thời gian sắp hết tuổi thọ. Lúc đó, trời Ðế Thích và Chư Thiên đã đồng nhau cung thỉnh Ngài giáng phàm để sau này cứu độ chúng sinh. Ngài quán chiếu năm điều:

Thời kỳ (Kāla): Tuổi thọ chúng sanh thời này không quá 1000 tuổi mà cũng không kém 100 tuổi. Lý do là, nếu sống lâu thì con người đâm ra dãi đãi, bất chấp tội phước; còn như yểu số thì con người chỉ lo mưu cầu danh lợi, thỏa mãn vật chất, không đủ thời gian tu niệm. Do đó, Ngài xuất hiện ở thời kỳ này.

Quốc độ (Desa): Ngài chọn Trung Ấn Độ, ở đấy không quá giàu mà cũng không quá nghèo, sự bất công và sự phủ phàng lúc nào cũng hiện diện trong cuộc sống. Hơn nữa, có nhiều sự bất đồng về giai cấp, nghèo khổ, bệnh hoạn luôn là mối đe dọa con người, nhờ thế loài người dễ hướng thiện.

Dòng dõi (Kula): Ngài chọn hoàng tộc Sakya. Vì trong 30 tục lệ của chư Phật, tất cả các vị Chánh đẳng giác kiếp cuối không được tái sanh trong dòng dõi thấp hèn, vì nếu tái sanh vào đó thì sẽ bất lợi cho việc hoằng pháp độ đời. Còn như giáng phàm trong giòng dõi cao quý thì việc hoằng pháp sẽ thuận lợi trong việc hoằng pháp.

Châu (Padīpa): Loài người đang sống và tồn tại ở bốn châu thiên hạ: Đông thắng thần châu (Pubbavideha), Tây ngưu hóa châu (Āparagoyāna), Bắc cưu lưu châu (Uttarakuru) và Nam thiệm bộ châu (Jambudīpa). Ngài chọn Nam thiệm bộ châu vì ở châu này loài người không văn minh kiêu kỳ mà cũng không quá lạc hậu đần độn. Nhờ vậy khi gặp Phật, họ dễ dàng lãnh hội giáo lý, tu hành mau đắc đạo.

Cha mẹ (Mātara): Đức Phật là thầy của tam giới nên Ngài phải chọn người có đại duyên, đại nguyện với Ngài trong vô lượng kiếp. Vua Suddhodana và chánh hậu Mahāmāyādevī, hai người này đã từng là cha mẹ của Ngài trong nhiều kiếp nên Ngài chọn hai vị này làm quyến thuộc.

Sau khi quan sát năm điều thích hợp trên, Ngài đồng ý giáng sanh xuống trần gian để sau này thành đạo tiếp độ chúng sinh. Hôm đó là ngày Rằm tháng Sáu, năm 624 trước tây lịch.

Xa nhau chẳng phải phụ nhau

Quyết tìm phương dứt khổ đau muôn loài

Một ngày vẻ vang kia, thái tử ra khỏi hoàng cung để nhìn xem thế gian bên ngoài và trực tiếp tiếp xúc với sự thật phũ phàng của đời sống. Trong phạm vi nhỏ hẹp của cung điện, Ngài chỉ thấy phần tươi đẹp, nhưng đám đông nhân loại thì biết bề đen tối, đáng ghê sợ của đời. Chính cặp mắt quan sát của thái tử đã nhận thấy một cụ già chân mỏi gối dùn, một người bệnh hoạn đau khổ, một thây ma hôi thúi và một đạo sĩ nghiêm trang khả kính. Ba cảnh già, bệnh và chết, hùng hồn xác nhận quan điểm của thái tử về đời sống đau khổ của nhân loại. Hình ảnh thong dong từ tốn của nhà tu sĩ thoáng cho Ngài hé thấy con đường giải thoát, con đường an vui hạnh phúc thật sự. bốn quang cảnh bất ngờ ấy càng thúc giục thái tử ghê tởm và sớm thoát ly thế tục.

Nhận định rõ ràng rằng những thú vui vật chất mà phần đông tranh nhau tìm kiếm đều không thể đem lại lợi ích, chỉ có sự xuất gia, sự từ bỏ tất cả mùi danh bã lợi của trần gian này mới thật là chân giá trị, Thái Tử Siddhattha nhất định rời bỏ cung điện đền đài để ra đi tìm chân lý, nơi không còn phải tái sanh, già đau, bệnh, chết như thế.

Giữa lúc ấy thì có tin đưa đến rằng Công Chúa Yasodharā, vợ Ngài, vừa hạ sanh hoàng nam. Đối với thế gian, đó là một tin lành. Nhưng, trái hẳn với mọi dự đoán, Ngài không quá đỗi vui mừng vì thấy đó là thêm trở ngại. Thế thường, khi sanh được người con đầu lòng, cha mẹ cảm nghe trong lòng chớm nở lần đầu tiên một tình thương mặn nồng sâu sắc, một tình thương mới mẻ đậm đà, vô cùng trong sạch. Nỗi vui mừng của người làm cha đầu tiên thật không sao tả được. Nhưng Thái Tử Siddhattha không phải là một người cha thường, Ngài than: “Lại thêm một trở ngại, lại thêm một dây trói buộc”. Do đó, Đức Vua Suddhodana đặt tên cháu nội là Rāhula.

Ngài truyền lệnh cho Channa, người đánh xe yêu chuộng, thắng yên ngựa Kaṇṭhaka và thẳng đến điện của công chúa. Ngài khẽ hé cửa nhìn vợ và con đang yên giấc với một tấm lòng từ ái nhưng bình thản, không chao động, không trìu mến. Tình thương đối với vợ, con thật mặn nồng sâu sắc. Nhưng đối với nhân loại trầm luân đau khổ, lòng trắc ẩn của Ngài lại càng thâm thậm vô ngần. Ra đi, Ngài không lo sợ cho tương lai của công chúa và hoàng tử, vì biết chắc chắn rằng vợ và con sẽ có đầy đủ tiện nghi và đảm bảo để sống an toàn và sung sướng. Ra đi, không phải vì kém tình thương vợ, thương con, mà vì tình thương của Ngài mở rộng cho mọi người, bao trùm tất cả nhân loại và chúng sanh.

Thái Tử Siddhattha ra đi giữa đêm khuya, để lại sau lưng tất cả đền đài cung điện, người cha yêu quý, vợ đẹp, con thơ, và cả một tương lai huy hoàng rực rỡ. Ngài trốn ra khỏi thành và giục ngựa thẳng xông trong đêm tối. Cùng đi với Ngài chỉ có Channa. Không tiền của, không cửa nhà, nay đây mai đó, Ngài bắt đầu lần bước trên đường đi tìm chân lý. Thế là Ngài từ bỏ thế gian.

Đây không phải là sự từ bỏ của một cụ già đã trải qua hầu hết cuộc đời của mình, hay của người bần cùng nghèo đói không còn gì để bỏ lại phía sau, nhưng là sự khước từ của một hoàng tử vinh quang giữa thời niên thiếu, trong cảnh ấm no, sung túc và thịnh vượng. Một sự thoát ly chưa từng có trong lịch sử. Lúc ấy thái tử Siddhattha được 29 tuổi, vào năm 234 trước tây lịch.

3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân.

Sau khi giác ngộ, vị trời Phạm thiên Sahampati cung thỉnh Thế tôn vì lòng từ bi thuyết pháp độ đời. Ngài quan sát thế gian và nhận lời thuyết pháp. Ðầu tiên Ngài nghĩ sẽ thuyết pháp cho ai, người được nghĩ đến là đạo sĩ Ālārakālāma và đạo sĩ Uddakarāmaputta, hai vị này là thầy dạy đạo cho Ngài khi còn là Bồ tát, nhưng Chư Thiên báo là hai vị này đã qua đời. Tiếp đến Ngài nghĩ đến năm người bạn Kiều Trần Như đồng tu khổ hạnh với Ngài và hiện giờ họ đang ở vườn Lộc Uyển Isipatana gần thành Bārāṇasī.

Từ Bồ đề đạo tràng sang vườn Lộc Uyển rất xa, khoảng 18 do tuần, chư Phật trong quá khứ chuyển bánh xe Pháp lần đầu thường đi bằng thần thông. Nhưng đức Phật Thích Ca quan sát thấy du sĩ Upaka có duyên với Ngài, nếu Ngài đi bằng thần thông thì du sĩ sẽ không có cơ hội gặp gỡ Ngài, mặc dù cuộc hạnh ngộ với đức Phật ngắn ngủi nhưng là một túc duyên cho Upaka sau này giác ngộ. Chính vì thế nên Ngài quyết định đi bộ. Ðường xá xa xôi, đường đi hiểm trở, tất cả cũng vì tình thương và sự giác ngộ của chúng sinh. Không màng những khó khăn cực nhọc trên một đoạn đường dài như vậy và cuối cùng Ngài đến vườn Lộc Uyển đúng vào ngày Rằm tháng Sáu, năm 228 trước tây lịch.

Ðây là bài pháp nồng cốt trong triết lý Phật Giáo, là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật thuyết giảng sau khi Ngài giác ngộ, cũng còn gọi là Kinh Chuyển Pháp Luân – Dhammacakkappavattanasutta.

Nội dung bài pháp đầu tiên, gồm có bốn vấn đề:

1. Khổ đế: trình bày tất cả những nỗi đau khổ trên trần gian

2. Tập đế: chỉ rõ nguyên nhân của đau khổ là Ái dục

3. Diệt đế: là trạng thái tịch tịnh, vắng lặng, Níp-bàn

4. Ðạo đế: là con đường Trung đạo có tám ngành.

Tóm lại, Ngài chỉ cho chúng sinh thấy niềm đau nỗi khổ trên cuộc đời và nguyên nhân đưa đến đau khổ. Ðồng thời Ngài giới thiệu sau khi hết khổ sẽ có hạnh phúc, an lạc, tự do và thoải mái và sau đó Ngài chỉ cho thấy những con đường phải đi để thành tựu được niềm hạnh phúc vĩnh cửu.

Kinh ghi lại trước khi Ngài bắt đầu thuyết pháp Tứ diệu đế, Ngài giảng hai điều mà các thầy cần phải tránh xa, đó là khổ hạnh và lợi dưỡng. Khổ hạnh ép xác thái quá và sống lợi dưỡng thái quá cũng không đưa đến giải thoát. Mà tránh xa hai con đường này đó là con đường Trung đạo – Majjhimapaṭipadā. Kết quả sau thời giảng là năm vị Koṇḍañña mở pháp nhãn, giác ngộ đạo quả Tu đà hườn, trở thành 5 vị Thánh Tăng đầu tiên trong Phật giáo

4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo.

Trong 30 tục lệ của chư Phật, dùng thần thông để nhiếp phục ngoại đạo là một trong ba mươi tục lệ đó. Ðã là tục lệ thì vị Phật tổ nào cũng phải thực thi đúng như vậy. Tục lệ có nghĩa là luật lệ, quy định, điều lệ đã định sẵn để dành cho những vị Phật tổ trong quá khứ, hiện tại và tương lai thi hành đúng niêm luật. Cho nên câu chuyện Đức Phật nhiếp phục ngoại đạo bằng thần thông là một chuyện bình thường vì đây chỉ là một việc làm kế thừa truyền thống của chư Phật.

Từ khi thành đạo dưới cội Bồ đề và Ngài thuyết pháp giảng đạo, có rất nhiều người hữu duyên tìm đến với Ngài. Pháp của Ngài giảng hoàn hảo đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, chúng sinh nào có duyên chắc chắn giác ngộ ngay trong kiếp hiện tiền. Do đó nhiều đệ tử của Ngài xuất gia, đắc đạo mặc dù họ đã có nhiều năm tu hành theo sáu vị lãnh đạo của lục đại môn phái nổi tiếng khắp nơi tại xứ Ấn Độ bấy giờ. Các vị lãnh đạo đó nhìn thấy đệ tử của mình mỗi ngày mỗi ít, đa số đã từ giã mình đi theo thọ giới với Sa môn Cồ Ðàm. Không nói được, nhưng càng nhìn đệ tử từ giã ra đi lại càng thêm căm phẫn. Thế nên hình ảnh đức Phật và đệ tử của Ngài là một sự căm thù đối với nhóm lục sư ngoại đạo trên. Mọi sinh hoạt của Ngài đều bị họ theo dõi để tìm khuyết điểm xuyên tạc, nhục mạ, hạ uy tín… nhưng tất cả đều như gió thoảng mây bay.

Có một ông trưởng giả tìm được một khối trầm, cho tạc thành một bình bát và ông ta treo giải thưởng nếu ai lấy được bát ông sẽ trọng thưởng và cả gia đình theo nương nhờ làm học trò. Nhóm lục sư ngoại đạo nghe vậy cho người môi giới đến xin nhưng ông từ chối. Họ nói với ông trưởng giả chẳng lẽ vì một cái bát mà phải dùng thần thông thì không xứng đáng. Họ tìm nhiều mưu mô để đoạt được bát trầm nhưng không được. Ông trưởng giả nghĩ rằng trong nước mình đang ở có nhiều tôn giáo họ tự xưng là A-la-hán cho nên ông treo giải thưởng như vậy người nào lấy được mới quả là A-la-hán. Nhưng bảy ngày trôi qua nhóm lục sư ngoại đạo không người nào thi hành theo tâm nguyện của ông trưởng giả.

Khi đức Phật cấm chế điều luật đó, nhóm lục sư ngoại đạo hay biết được và cho người đi tuyên truyền rằng: đệ tử của Sa môn Gotama còn vì danh lợi nên mới đi lấy bát còn chúng tôi là A-la-hán không vì danh lợi nên không lấy bát theo lời yêu cầu của trưởng giả. Sa môn Cồ Ðàm còn đập bát và cấm chế điều luật, không cho đệ tử sử dụng thần thông. Do đó họ quyết định thi thố thần thông với ông Sa môn Cồ Ðàm.

Vua Ajātasattu hay tin ngoại đạo nói như vậy, vội vã vào yết kiến Thế tôn và bạch rõ vấn đề những vị lãnh đạo tôn giáo đó muốn thách thức so tài thần lực với Thế tôn. Ðức Thế tôn trầm lặng trong giây lát, Ngài nói với nhà vua rằng Như Lai đồng ý so tài thần thông với họ. Vua nói:

– Bạch Thế tôn, còn việc Ngài cấm sử dụng thần thông thì sao?

– Tâu Ðại vương, Như Lai cấm đệ tử chứ Như Lai đâu có cấm Như Lai đâu!

Thế là đức Phật báo rõ địa điểm và thời gian để so tài thần thông với nhóm Lục sư ngoại đạo. Ngày đó là Rằm tháng Sáu tại Sāvatthī.

Khi ngoại đạo hay tin đức Phật đồng ý so tài thần thông với họ, nên họ rất sợ và hoang mang. Vì họ nghĩ rằng, Ngài cấm chế không cho đệ tử sử dụng thần thông thì chắc Ngài cũng không được phép sử dụng, ai ngờ bây giờ ông ta đồng ý đấu thần thông với chúng ta thì chúng ta tính sao đây? Nhưng dù sao thì đã lỡ công bố rồi! Nhóm Lục sư ngoại đạo cùng nhau kéo về Sàvatthì và họ kêu gọi tín đồ hùn tiền để xây tháp đài để so tài thần lực với Sa môn Gotama, nên họ thu được một số tiền rất lớn. Vua Pasenadi hay biết tín đồ của nhóm lục sư ngoại lo lắng cho thầy như vậy Ngài cũng nao nao trong lòng. Hôm sau vua vào lễ Phật và xin Phật cho Ðại vương xây một tháp đài giống như ngoại đạo để Thế tôn so tài với họ. Ðức Phật khước từ và Ngài bảo sẽ hiện thần thông dưới gốc cây xoài.

Ngoại đạo biết được cuộc nói chuyện giữa đức Phật và vua Pasenadi, nên họ cho đệ tử chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī. Ðã đến ngày giờ so tài với ngoại đạo, Phật ngự vào thành nhưng chưa đến thành thì có một người giữ vườn Thượng Uyển thấy xoài chín hái dâng cho Phật. Phật hoan hỷ thọ lãnh và tìm một chỗ thích hợp ngồi thọ xoài, còn hạt xoài Ngài bảo người giữ vườn đào lỗ trồng và chính tay Ngài tưới nước. Chẳng bao lâu hạt xoài mọc lên một cây xoài xanh tươi nhiều hoa lá và có nhiều trái thơm ngon.

Dân chúng đến tham dự cuộc so tài của đức Phật và ngoại đạo, họ thấy xoài có nhiều trái chín nên họ hái cùng nhau ăn. Họ ăn xoài thấy hương vị ngon lạ lùng, càng ngon họ càng nguyền rủa bọn ngoại đạo vô cớ chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī, nên họ thấy bọn ngoại đạo ở đâu họ dùng hạt xoài ném vào bọn ngoại đạo.

Sắp đến giờ so tài, bọn ngoại đạo khủng hoảng tinh thần trước quần chúng. Liền sau đó đức Phật hóa một con đường bằng ngọc báu, rồi Ngài đi thiền hành trên con đường đó.Tiếp theo, Ngài hóa thân, từ một thân thành nhiều thân, lúc đó quần chúng thấy nhiều Phật, Phật ngồi, nằm hoặc hai vị thuyết pháp với nhau… Cuối cùng, Ngài thị hiện song thông (yamakapāṭihāriya), với năng lực này chỉ có đức Chánh đẳng Chánh giác mới có thể thực hiện được.

Thần thông này cùng một lúc hiện ra hai điều kỳ diệu: từ thân vừa phún tia nước, vừa phún tia lửa; từ thân phát hào quang xanh và đỏ… Trước uy lực của một vị Phật như vậy, bọn ngoại đạo kiếp sợ và rút lui chạy tán loạn chỉ còn lại dân chúng đang hướng về đức Phật thành kính lễ bái. Ðồng thời Ngài thuyết một bài pháp đúng vào tâm lý của từng chúng sinh, nên hôm đó Chư thiên và nhân loại đắc đạo chứng quả nhiều vô số kể.

Trong giây lát, đức Phật chiêm nghiệm bằng tuệ giải thoát, Ngài thấy chư Phật trong quá khứ sau khi dùng thần thông thắng ngoại đạo là ngự lên cõi Trời Tāvatiṃsā thuyết pháp độ Phật mẫu bằng tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Hôm ấy đúng vào ngày Rằm tháng Sáu.

5/ Chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

Một ngày sau lễ Rằm tháng Sáu, chư Tăng trong truyền thống Phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ. Trong chương “Vào Mùa Mưa”, Đại Phẩm, Tạng Luật, có ghi:

Đức Thế Tôn ngự tại thành Vương-xá, Trúc Lâm. Lúc bấy giờ, việc an cư mùa mưa chưa được đức Thế Tôn quy định cho các Tỳ-kheo. Các vị Tỳ-kheo đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng và cả trong mùa mưa nữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao các Sa-môn Thích Tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Ngay cả các du sĩ ngoại đạo, dù có giáo lý được thuyết tồi tệ, vẫn sống cố định một chỗ trong mùa mưa, ngay cả những con chim sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng sống cố định trong mùa mưa. Còn các sa-môn Thích Tử thì lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị ấy đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt chúng sanh nhỏ nhoi.

Các Tỳ-kheo nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Vì thế, các vị đã đem sự việc ấy trình lên đức Thế Tôn. Đức Phật nhân sự việc này mà bảo các Tỳ-kheo rằng:

– Này các Tỳ-kheo, ta cho phép an cư trong mùa mưa. Đây là hai thời điểm vào mùa an cư: thời điểm trước và thời điểm sau.

Thời điểm trước là ngày kế của ngày trăng tròn tháng Āsaḷha, thời điểm sau là vào ngày sau trăng tròn tháng sau. Tính theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thời điểm trước là ngày 16 tháng 6, thời điểm sau là ngày 16 tháng 7. Ngài dạy tiếp:

– Này các Tỳ-kheo, trong mùa an cư ba tháng thì không nên ra đi du hành. Vị nào ra đi thì phạm tội tác ác (dukkata).

Tuy nhiên, nếu có chuyện cần kíp và được thỉnh mời, vị Tỳ-kheo được phép rời trú xứ trong thời hạn không quá bảy ngày. Đức Phật dạy:

– Này các Tỳ-kheo, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày; và không nên đi, nếu không được thỉnh mời.

Mùa an cư bắt đầu từ ngày rằm tháng Āsaḷha (rằm tháng Sáu). Tuy nhiên, đức Phật cũng cho phép bất kỳ một Tỳ-kheo nào khởi sự chậm hơn một tháng, vào ngày rằm tháng Bảy – gọi là “hậu An cư”. Việc đình chỉ du hành chấm dứt vào ngày rằm tháng Chín (Āssina). Nếu vị nào khởi sự chậm hơn một tháng, thì chấm dứt vào tháng Mười (Kattikā). Chư Tăng tổ chức lễ sám hối Bố-tát (Uposatha) đặc biệt, gọi là lễ Tự tứ (Pavāraṇā), đánh dấu kết thúc mùa an cư. Sau đó, các Tỳ-kheo công bố hoàn tất các phận sự trong Giới luật, rời nơi an cư và bắt đầu du hành truyền đạo.

Như vậy, chúng ta thấy rằng: nếu như mình bỏ quên ý nghĩa của ngày rằm tháng sáu là mình đã bỏ quên một phần quan trọng trong lịch sử hoằng pháp của đức thế tôn.

Kính chúc chư Tăng, Tu nữ và quý Phật tử một mùa an cư nhiều sức khỏe, thật an lạc và tràn đầy hạnh phúc trong Giáo Pháp của Đức Thế Tôn.

theo: Báo Giác Ngộ Online

【#8】Bài 1: Một Năm Của Người Việt Có Bao Nhiêu Ngày Tết?

Tết Thượng Nguyên diễn ra vào ngày rằm tháng Giêng, ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa chiền, vì rằm Tháng Giêng còn gọi là ngày vía của Phật tổ.

Ta thường có câu: “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng giêng”. Tục ta tin rằng ngày rằm tháng giêng, đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng độ lòng thành của các tín đồ Phật giáo. Trong dịp này, chùa nào cũng đông người đến lễ bái và sau khi đi chùa, mọi người về nhà họp mặt cúng gia tiên và ăn cổ.

Là tiết thứ năm trong “nhị thập tứ khí” và đã được người phương Đông coi là một lễ tiết hàng năm. Tiết Thanh Minh đến sau ngày Lập Xuân 45 ngày. Nhân ngày thanh minh, dân ta có tục đi viếng mộ gia tiên và làm lễ cúng gia tiên sau cuộc tảo mộ.

Lễ tảo mộ: Tảo một chính là sửa sang ngôi một cho được sạch sẽ, rẫy hết cỏ dại, đắp lại nấm mồ cho to. Đây là dịp duy nhất trong năm mà có thể phạm tới hài cốt của người thân đã khuất mà không làm “chấn động” nhiều. Tuy vậy, có một số nơi người ta tảo mộ vào dịp trước và sau ngày Tết.

Nhiều làng ở vào vùng đất thấp, ruộng nương và cả bãi tha ma đều ngập nước, thì người ta đi tảo một vào đầu tháng chín, sau khi nước đã rút. Dù đi tảo mộ vào ngày nào thì việc thăm nom mồ mả tổ tiên cũng là việc nên làm. Nghĩ đến gia tiên tức là nghĩ đến gốc, tưởng đến nguồn.

“Hàn thực” nghĩa là ăn đồ nguội. Tết này vào ngày mồng Ba tháng Ba (âm lịch). Theo phong tục cổ truyền, ngày mồng 3 tháng 3 tức Tết Hàn Thực ta làm bánh chay.

Tết này có xuất xứ từ Trung Quốc, làm giỗ ông Giới Từ Thôi (một hiền sĩ thời Xuân Thu có công phò Tần Văn Công), bị chết cháy ở núi Điền Sơn. Đành rằng dân ta theo tục đó nhưng khi cúng chỉ cúng gia tiên nhà mình.

4. Tết Đoan Ngọ (Tết diệt sâu bọ)

Tết Đoan Ngọ còn gọi là tết Đoan Dương. Sáng sớm cho trẻ ăn hoa quả, rượu nếp, trứng luộc, bôi hồng hoàng vào thóp đầu, vào ngực, vào rốn để giết sâu bọ. Người lớn giết sâu bọ bằng rượu hoặc ăn rượu nếp.

Lý do ngày Tết Đoan Ngọ còn có tên là Tết diệt sâu bọ vì đây la giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh.

5. Tết Trung Nguyên (Rằm tháng Bảy)

Xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung).

Ngoài ra, rằm tháng Bảy theo tín ngưỡng là ngày xá tội vong nhân. Bao nhiêu tội nhân ở dưới âm phủ ngày hôm đó đều được tha tội. Bởi vậy trên dương thế gia đình đều cúng gia tiên, còn ở chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu Lan.

Tết Trung Nguyên đồng thời để cúng những linh hồn bơ vơ không được ai chăm sóc. Người ta hay thả chim lên trởi, thả cá xuống sông để làm điều phúc đức.

Theo tục cúng cháo Xưa, tại các cầu quán, đình chùa, đều có tổ chức “cúng cháo” để cúng các cô hồn không ai cúng giỗ. Thông thường, người cúng đốt vàng mã và bày cúng ở trước cửa nhà.

6. Tết Trung Thu

Trung Thu ở giữa mùa thu, tức vào rằm tháng 8 Âm lịch. Tết Trung Thu là Tết của trẻ em. Trẻ em khắp Việt Nam mong đợi ngày Tết này vì được người lớn tặng quà bánh như lồng đèn, bánh Trung Thu. Tết này người ta thường cùng nhau ngồi uống trà thưởng Nguyệt, nên còn được gọi là Tết Trông trăng hay Tết Đoàn viên.

7. Tết Trùng Cửu (Tết Trùng Dương)

Nhằm ngày mồng Chín tháng Chín (âm lịch) là Tết Trùng Cửu. Tết này bắt nguồn từ sự tích của đạo Lão. Nho sĩ Việt Nam du nhập và theo lễ này, nhưng lại biến ngày Tết này thành cuộc du ngoạn núi non, uống rượu cúc.

8. Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm Mới)

Tết Song thập (mùng 10 tháng 10 hoặc 15 tháng 10 Âm lịch). Tết này được tổ chức rất lớn ở nông thôn vì đầy là dịp nấu cơm gạo mới của vụ mùa vừa xong.

Trước là để cúng tổ tiên, sau để thưởng công cấy cầy. Trong Tết cũng có lễ dâng hương cầu cho quốc thái dân an, phong điều vũ thuận.

9. Tết Trùng Thập

Ngoài ra, mùng mười tháng mười Âm lịch cũng là Tết của các nhà thuốc. Cây thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết hợp được sắc tứ thời (Xuân – Hạ – Thu – Đông) nên trở nên tốt nhất.

Đến ngày này, người ta thường làm bánh dày, nấu chề để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc.

10. Tết Táo Quân

Rơi vào ngày 23 tháng Chạp, mỗi gia đình thường mua 2 mũ ông Táo, 1 mũ bà Táo bằng giấy và 3 con cá chép làm “ngựa” để tiễn Táo quân về trời.

Sau khi cúng trong bếp, mũ được đốt và cá chép được mang ra thả ở ao, hồ, sông…

11. Tết Nguyên Đán

Còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm Lịch, Tết cổ truyền. Đây là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa người Việt Nam. Chữ “Tết” là do chữ “Tiết” mà thành. “Nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai. “Đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”.

Chi tiết về ngày Tết Nguyên Đán chúng tôi sẽ trình bày sâu trong các bài tiếp theo. Nghiệm lại các ngày Tết mà ông bà truyền lại, âu cũng là cố tạo cơ hội để nhà nhà xum họp, quốc thái dân an.

【#9】Rằm Tháng Giêng Là Tết Gì?

Rằm tháng Giêng còn được gọi là Tết Nguyên tiêu, đây là một trong những lễ quan trọng của người Việt.

Dịp Tết Nguyên Tiêu ở nhiều nơi thường thả đèn hoa đăng

Rằm tháng Giêng là Tết còn được gọi là Tết Nguyên tiêu

Thành ngữ có câu “giỗ Tết cả năm không bằng ngày rằm tháng Giêng” cho thấy, quan niệm từ xưa ngày rằm tháng Giêng được coi là một trong những ngày lễ quan trọng của những ngày đầu năm mới.

Ngày rằm tháng Giêng còn được gọi là Tết Nguyên tiêu, đây là rằm đầu tiên của năm mới theo lịch âm của người Việt.

Vào dịp rằm tháng Giêng, dù có bận rộn thế nào các gia chủ cũng sắm mâm lễ dâng lên thần linh, gia tiên để bày tỏ tấm lòng thành kính và cầu một năm mới may mắn, thuận lợi.

Ngày rằm tháng Giêng năm 2021 là ngày 15 tháng Giêng âm lịch, rơi vào ngày thứ 7 cuối tuần.

Ngày rằm tháng Giêng nên lễ như thế nào?

Ngày rằm tháng Giêng các gia đình thường làm mâm cơm cúng gia tiên tại gia. Thông thường người Việt sẽ cúng rằm tháng Giêng vào chính rằm nhưng có nhiều gia đình bận rộn có thể sắp xếp cúng trước ngày rằm tháng Giêng để con cháu có dịp quây quần trong ngày Tết Nguyên tiêu.

Mâm lễ cúng gia tiên là mâm lễ mặn hoặc chay với đầy đủ các món ăn truyền thống của ngày Tết. Trong mâm lễ còn có bánh trôi (chè trôi nước). Nhiều người quan niệm trằng, ăn bánh trôi ngày Tết Nguyên tiêu là mong muốn mọi việc quanh năm được hanh thông, trôi chảy.

Theo phong tục, lễ cúng rằm tháng Giêng thường được mọi người cúng vào giờ Ngọ (tức là từ 11h đến 13h) ngày chính rằm (15/1 âm lịch).

Tuy nhiên, trong trường hợp bận rộn thì có thể sắp xếp cúng rằm tháng Giêng năm nay vào ngày 14 âm lịch.

4 việc nên làm vào ngày Thần Tài mùng 10 tháng Giêng để phát tài phát lộc cả năm

Vào ngày Thần Tài mùng 10 tháng Giêng Âm lịch, cần chuẩn bị lễ cúng Thần Tài, lau dọn ban thờ và làm lễ đón …

Bộ VHTT&DL: ‘Tạm ngừng tổ chức lễ hội vì virus corona’

Bộ VHTT&DL yêu cầu tạm ngưng tổ chức lễ hội trước tình trạng virus corona gây viêm phổi cấp bùng phát và lan rộng trên …

Văn khấn Rằm tháng Giêng Tết Nguyên đán 2021 đẩy đủ và chuẩn nhất

Các bài văn khấn lễ Rằm tháng Giêng cho Tết Nguyên đán Canh Tý 2021 theo phong tục dân gian đầy đủ và chuẩn xác …

【#10】Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Sâu Sắc Của Tết Trung Thu Không Phải Ai Cũng Biết

Sự tích Hằng Nga hay chú Cuội chỉ là những truyền thuyết không có thực để người ta lý giải về sự ra đời của tết Trung thu tại Việt Nam.

Tại Việt Nam, tết Trung thu hay còn gọi là ngày Tết thiếu nhi, được tổ chức vào ngày Rằm tháng Tám (âm lịch) hằng năm. Thế nhưng, không phải ai cũng biết về nguồn gốc và ý nghĩa từ xa xưa của ngày lễ.

Giải thích vấn đề này, ông Nguyễn Hùng Vĩ – nhà nghiên cứu văn học dân gian, nguyên giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho hay, con người từ xa xưa bằng kinh nghiệm và quan sát tự nhiên thấy trong vòng xấp xỉ 30 ngày đêm thì có 1 ngày trăng tròn. Đồng thời, người ta thấy trong 1 năm có 12 lần trăng như vậy và trong đó có 1 lần trăng tròn hơn tất cả những lần trăng tròn khác.

Khi đó, con người chưa biết cách tính quỹ đạo của mặt trăng, mặt trời nên người ta quan sát xung quanh, cứ đến ngày ánh trăng tròn nhất, sáng nhất, trời mát… thì đi ra khỏi nơi cư trú để giao lưu, nhảy múa, ca hát và thậm chí là đi kiếm ăn trong ngày đó. Và lâu dần thành thói quen.

Sau đó, các hệ thống tín ngưỡng và tập tục, đặc biệt là tôn giáo ra đời, người ta dựa vào đó để tạo ra lễ tiết.

Người phương Đông sử dụng lịch âm dương (hay còn gọi là âm lịch) nên lấy trăng tròn làm mốc. Họ thấy vào mùa thu (tháng Tám âm lịch) trăng thường tròn nhất nên lấy ngày Rằm tháng Tám làm lễ Trung thu.

Khi Việt Nam hội nhập vào nền tảng văn hóa châu Á thì có tết Trung thu. Các nước sử dụng âm lịch như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore… đều có tết Trung thu.

Từ những lễ tiết như vậy, mỗi nơi sáng tạo ra một số truyền thuyết về nguồn gốc ra đời để giải thích cho nhau hiểu vì sao lại như thế. Ở Việt Nam có các sự tích như Hậu Nghệ – Hằng Nga, sự tích chú Cuội…

“Sáng tạo theo truyền thuyết đó là nghệ thuật thì chúng ta nên tôn trọng tác phẩm nghệ thuật dân gian ấy, chứ đó không phải khoa học”, ông Vĩ nói.

Chuyên gia văn hóa Nguyễn Hùng Vĩ nói thêm, thời kỳ chưa có tôn giáo, Trung thu mang ý nghĩa đó là ngày trăng sáng nhất, mọi người ra khỏi nơi cư trú để giao lưu, nhảy múa, hát ca, gia tăng tinh thần cộng đồng.

Từ khi trở thành nghi lễ, lễ hội, Trung thu mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Trước hết, ngày tết Trung thu là để con người đoàn viên với nhau, ra tăng sự đoàn kết. Tiếp theo đó là hướng đến trăng (hay còn gọi là Tết trông trăng) và hướng đến truyền thuyết cổ xưa về trăng để không quên gốc gác của mình.

Cuối cùng, Trung thu là dịp để mọi người vui chơi, giải trí, hướng đến cuộc sống an lành, tương lai tốt đẹp hơn. Đây mới là giá trị chính của tết Trung thu.

Tại Việt Nam, theo ông Vĩ, tết Trung thu gần với ngày Tết độc lập (2/9/1945), cũng Trung thu năm 1945, Bác Hồ gửi thư cho thiếu nhi. Do đó, tết Trung thu Việt Nam hướng đến thiếu niên, nhi đồng một cách mạnh mẽ, thậm chí ở Việt Nam còn gọi tết Trung thu là tết Thiếu nhi.

Việt Nam cũng có 1 bài hát “Rước đèn ông sao” ra đời năm 1956 của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Bài hát mang bản sắc Việt Nam và bản sắc cách mạng.

Tất cả những thứ trên đối với chuyên gia Nguyễn Hùng Vĩ đó là một thành quả, một biểu tượng về mặt văn hóa của riêng Việt Nam.

Về mâm cỗ Trung thu, theo ông Vĩ, thường có các loại bánh hình mặt trăng, các bánh hình con vật, tò he, các con vật bằng bưởi, hoa trái. … Mâm cỗ cũng là mâm cúng gia tiên, cúng Phật… tùy theo phong tục của mỗi tôn giáo.

Để quý độc giả tiện theo dõi, VietNamNet xin giới thiệu bài cúng Rằm tháng 8 theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam.

Theo Dân Việt