【#1】Sao Thái Âm Chiếu Cung Phu, Nữ Qúy Sửu Không Lo Hạnh Phúc Gia Đình Tan Vỡ

Xưa nay người ta thường so tuổi nam nữ để dự đoán hôn nhân tốt xấu thế nào, thường là xét đến sự sinh khắc theo can chi, ngũ hành của hai tuổi. Tương sinh thì tốt, tương khắc thì xấu.

Chị sinh năm 1973, tuổi Quý Sửu. Anh sinh năm 1968, tuổi Mậu Thân. Về can, Mậu hợp với Quý là tốt. Về chi, Sửu với Thân không xung khắc với nhau. Tuổi Quý Sửu thuộc hành Mộc (Tang đố Mộc – gỗ cây dâu), khắc tuổi Mậu Thân thuộc hành Thổ (Đại dịch Thổ – đất thuộc một khu lớn) là xấu. Ấy là nói thế, nhưng cây không mọc trên đất thì mọc ở đâu, đất không cây nào mọc được thì quý giá gì!

Nếu quy ra Bát quái, tuổi anh thuộc quẻ Khôn, tuổi chị thuộc quẻ Càn, nam Khôn, nữ Càn lại là tốt đấy! Có người tuổi không khắc nhau, quẻ lại hợp nhau mà không sống được với nhau là vì sao? Là vì số phận của hai người, thể hiện qua các cung Phu Thê, cung Mệnh, Thân, Phúc Đức.

Cung Phu Thê tốt xấu thể hiện qua hai yếu tố là cung và sao. Trong 12 cung, có 1 cung được coi là xấu với bản mệnh. Tiểu vận đến cung đó thường xảy ra nhiều chuyện. Đó là cung Tý với mệnh Kim, cung Ngọ với mệnh Mộc, cung Dần với mệnh Thủy, cung Dậu với mệnh Hỏa và cung Mão với mệnh Thổ. Cung Ngọ thuộc quẻ Ly, cung Hỏa như cái lò lửa, hành Mộc là củi gỗ, đến cung này sẽ bị hao tiết (Mộc sinh Hỏa), không tốt.

Có phải cung Phu của chị là cung Ngọ nên chị mới ở vào hoàn cảnh khó khăn, bế tắc như vậy hay không? Không hẳn thế! Một người bạn tôi, mệnh thuộc quẻ Chấn, chồng mệnh thuộc quẻ Tốn là tốt. Mệnh Thủy, cung Phu ở cung Thân – cung Kim là tốt (Kim sinh Thủy). Thế mà vợ chồng cũng phải chia tay nhau.

Các hung tinh, sát tinh, bại tinh, hao tinh, Tuần Triệt ở cung Phu Thê cũng gây ra nhiều bất lợi trong cuộc sống vợ chồng. Ví dụ, cung Phu Thê có Phá Quân, có sách viết rằng trai lấy vợ hay ghen, gái lấy chồng bất nghĩa. Cung Thê có Tuần, Triệt gặp Thiên Mã – Triệt Tuần ngộ Mã ưu phiền, bỏ chồng vợ trốn đến miền xa phương. Có người cũng có cách ấy, nhưng vợ chồng vẫn sống với nhau hạnh phúc, tuy rằng cũng có lúc khó khăn.

Phú có câu: Tham, Dương (Kình Dương), Phá, Sát giai tam độ (“ba lần đò”), Trinh, Vũ, Dương, Đà hữu khắc ly (xung khắc hay bỏ nhau). Đâu phải ai có cách này vợ chồng cũng xung khắc, cũng phải đi ba lần đò đâu? Cung Phu của chị không có các sao nêu trên. Cung Phu của bạn tôi cũng không có các sao trên, nhưng cung Mệnh lại có những sao bất lợi cho hạnh phúc gia đình.

Xét về Thiên can, Địa chi, tuổi anh chị không hề xung khắc, qua bao năm chung sống, con cái chính là vốn quý của cả hai

Cung Mệnh cho biết những nét cơ bản nhất về số phận một người. Cung Mệnh dù tốt đẹp, nhưng lại có những sao cô độc, những sát tinh, bại tinh thì cũng bất lợi về cuộc sống gia đình. Ví dụ: Mệnh có sao Vũ Khúc đắc địa thì thông minh, có chí lớn, có tài tổ chức, có óc kinh doanh… nhưng hay tách biệt với người thân, nếu không khắc cha mẹ, anh em thì cũng khắc vợ (chồng), khắc con hay hiếm con.

Mệnh có Thái Âm đắc địa, nữ giới, là người có nhan sắc, đức độ, tài giỏi, đảm đang, vượng phu, ích tử. Mệnh có Kình Dương ở Tứ Mộ, thêm các sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp thì được hưởng phú quý, danh tiếng lừng lẫy. Thái Âm và Kình Dương đắc địa đi với nhau thì giỏi kinh doanh buôn bán, nhưng khó tránh được hình khắc chia ly. Bạn tôi ở vào trường hợp này. Cung Mệnh của chị không có những cách đó.

Cung Thân không có vị trí cố định, mà đóng cùng vào một chỗ với cung Mệnh, hoặc cung Phúc Đức, cung Tài… cho biết đương số chuyên chú vào đâu. Thân cư Mệnh thì tự lo lấy cho mình, có sao hưởng vậy. Thân cư Phúc Đức thì lấy hạnh kiểm, tư cách để chống đỡ với các tai họa ở đời. Thân cư Tài thì chỉ lo chuyện kiếm tiền, lấy của che thân…

Cung Thân có các sao hung, sát, bại, hao, Tuần Triệt thì cũng kém. Cung Thân của chị không có các sao ấy. Chị có cách Thân cư Tài, hay là chị chỉ mải lo chuyện kiếm tiền mà không để ý đến các chuyện khác trong nhà chăng? Người có Thiên Mã ngộ Triệt cung Thê tôi vừa nói ở trên, Mệnh, Thân không có gì đặc biệt, làm sao gia đạo tránh được đổ vỡ? Là bởi người đó có cung Phúc Đức tốt, là người ăn ở phúc thiện.

Người ta cho rằng cung Phúc Đức cho biết sự thọ yểu, cùng là sự thịnh suy, tụ tán của họ hàng, ngoài ra còn cho biết về âm phần mà mình chịu ảnh hưởng. Cung Phúc Đức chi phối 11 cung còn lại, những được mất, may rủi, thêm hay bớt, nặng hay nhẹ đều từ cung Phúc Đức tốt hay xấu mà ra.

Ở đời, không có cho làm gì có nhận! Phúc Đức nên được hiểu vừa là hưởng phúc, vừa là tạo phúc: Phúc là hưởng phúc, Đức là tạo phúc. Cung Phúc Đức của chị Vô chính diệu, nhưng được hai sao lành là Thiên Cơ, Thiên Lương chiếu. Thiên Cơ là thiện tinh, tính sáng suốt, khéo léo, mưu cơ, nhân hậu, từ thiện. Thiên Lương là thọ tinh, chủ phúc thọ, nhân hậu, khoan hòa, giải trừ bệnh tật, tai họa.

Mệnh chị có sao Long Đức, cung Phúc Đức lại có ba sao Đức là Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức, thế là thành Tứ Đức. Chữ Đức được chiết tự như sau: Chim chích mà đậu cành tre. Thập trên, tứ dưới nhất đè chữ tâm. Trong chữ Đức có chữ tâm, nghĩa là phải xuất phát từ tấm lòng mình. Để được chữ Đức thì mình phải chịu thiệt: Thiệt về điều ăn tiếng nói, thiệt về quyền lợi vật chất… Muốn được hưởng phúc dày cần phải tích đức hành thiện, ngoài ra không có cách nào khác.

Cung Phu của chị có sao Đào Hoa, mang lại vui vẻ, may mắn cho tuổi trẻ nhưng không đẹp với người lớn tuổi. Bộ sao Tứ Đức, sao Lộc Tồn có thể hóa giải tác dụng xấu đó, ngoài ra, còn có sao Hóa Khoa được mệnh danh là “đệ nhất giải thần”, sao Thiên Giải có khả năng cứu giải rất mạnh, vô hiệu hóa được cả Thiên Không, Địa Kiếp.

Vả lại, Triệt chỉ ảnh hưởng mạnh khi người ta còn trẻ, vào vận chỉ ảnh hưởng trong thời gian đầu của vận. Khi đó, cung Phu của chị lại được Thái Âm sáng sủa chiếu rọi, mọi chuyện sẽ êm đẹp, chị đừng lo nghĩ quá!

Mọi chuyện đã qua, được sao Thái Âm chiếu rọi nên việc gia đình chị rồi sẽ êm đẹp

Anh chị được 3 cháu đều tài năng, nghị lực, mẫn cán, có cá tính mạnh. Cháu trai đầu cung Mệnh ở Sửu, có Nhật Nguyệt đồng cung và các sao đẹp là Hóa Quyền, Tả Phụ, Hữu Bật, Ân Quang, Thiên Quý. Nhật Nguyệt đồng cung thì thông minh, phong nhã, tài giỏi. Hóa Quyền thì mạnh dạn. Tả Hữu đồng cung thì tài năng, khoan hòa nhân hậu. Quang Quý đồng cung ở Sửu thì may mắn trong đường đời: Sửu Mùi Quang Quý tương phùng tam sinh hữu hạnh.

Cung Quan của cháu có các sao Thiên Mã, Thiên Lương, Triệt thì hay phải đi làm chỗ này chỗ khác, đúng là làm nghề xây dựng. Cháu có Thân cư Tài mà cung Tài lại có cách Song Lộc thì khá giả.

Cháu gái cung Mệnh ở Mão, có saoThái Âm tuy không giàu có như anh cháu, nhưng cuộc đời cũng được phong lưu, và không phải lo ngại nhiều đến những sự chẳng lành xảy đến. Mệnh cháu có các sao Hóa Khoa, Thiên Khôi là thông minh, học giỏi, đỗ cao. Cung Quan giáp Văn Xương, Văn Khúc là có văn tài, có Tả Phụ, Hữu Bật là được nhiều người nâng đỡ trên đường công danh.

Cháu mệnh Kim, cung Quan lại ở cung Mùi là cung Thổ – Thổ sinh Kim – thì sẽ được làm công việc phù hợp với cháu. Sang năm, lưu Lộc Tồn ở cung Phúc là gặp may mắn, tiểu vận ở cung Điền có Đào Hoa, Hồng Loan là xin được việc làm. Cháu nên lấy chồng sinh năm 1985, 1986, 1989, 1993.

Cháu trai út cung Mệnh ở Tỵ, có các sao Thiên Mã, Trường Sinh – Thiên Mã nhập Mệnh mẫn tiệp đa năng (siêng năng và đa tài), Mã ngộ Trường Sinh thanh vân đắc lộ (đường công danh rộng mở). Mệnh cháu có cách Binh Hình Tướng Ấn: Tính cháu ít nói (Binh Hình nói chẳng hở răng), theo ngạch quân sự thì hợp.

Cháu có Triệt đóng giữa hai cung Phụ Mẫu và Phúc Đức thì nên lập nghiệp nơi xa – xa bố mẹ, xa quê hương bản quán. Cháu có Thân cư Thiên Di, cung Thiên Di có cách Song Lộc thì thích nay đây mai đó, ra ngoài ích lợi và thành đạt hơn ở nhà.

Chúc chị may mắn và hạnh phúc!

Nghĩa Thanh (Nguồn ảnh Baidu) (Theo Báo Người Giữ Lửa )

Theo Báo Người Giữ Lửa

【#2】1001 Bài Thơ Tiếc Thương Cha Mẹ Đã Mất, Nhớ Hơi Ấm Ngày Xưa!

Hơi ấm ngày xưa…

Tuổi thơ con đã từng theo Mẹ ngồi lê la ở những khu chợ quê, nhìn xem Mẹ bán từng trái mít, trái na, trái ổi. Khi buồn ngủ lại nằm trên tấm nilon Mẹ trải sẵn ngủ một giấc thật ngon lành dẫu mưa hay nắng, bởi vì Mẹ luôn che chắn cho con để con được đủ giấc nồng.

Vòng tay Mẹ yêu thương vén từng sợi tóc tơ lòa xòa trên gương mặt con, ánh mắt đầy trìu mến, yêu thương.

Làng quê nghèo luôn chịu nhiều thiên tai bão nổi, mái nhà vẹo xiêu Cha hay chằn gạch lên trên mỗi khi mưa giông gió lớn. Nhà dột, vách lá cứ cột kẹt khi gió lùa, Cha Mẹ đưa các con vào một góc an toàn rồi ra cột lại những chỗ lá rách nát, người ướt sũng trong cơn mưa. Trong ánh đèn dầu leo loét trong đêm các con co ro nhìn Cha Mẹ mà lòng đầy ấm áp.

Những vỏ xe được Cha Mẹ cắt ra đốt lên sưởi ấm, gia đình nhỏ quây quần bên nhau nói cười trong đêm giông gió mà vẫn thấy ấm lòng.

Cha chẳng nói nhiều nhưng luôn che chở và dạy cho các con những điều nghĩa nhân tuyệt vời nhất.

Mẹ luôn dành lời yêu thương và những cái hôn cho các con khi trở về nhà sau một chuyến bôn ba.

Bao nhiêu lâu rồi con đã không nhận được sự ấm áp như thế nữa, từ hai đấng sinh thành mà con yêu kính.

Nợ trần đã dứt Cha Mẹ quay về với cát bụi, bỏ lại các con tiếc thương vô hạn. Ôm kỉ niệm ít ỏi về Cha Mẹ mà nhớ mong, nhớ những đêm trăng sáng gia đình quây quần bên bếp than hồng, ngồi chờ Mẹ nướng ngô để mà thưởng thức. Cha ngồi nhâm nhi tách trà nhìn các con chơi đùa ríu rít, mà con cứ tưởng chừng bức tranh ấy mãi trường tồn theo năm tháng.

Ngày xưa ơi! Xin cho tôi một lần được trở về quá khứ đẹp đẽ ấy, quá khứ có Cha Mẹ cạnh bên dìu dắt tôi đi trên con đường ngập nắng, băng qua cánh đồng đến trường mỗi ngày để học.

Cho tôi được một lần nũng nịu với Mẹ, hay lén nhìn Ba làm việc mà mồ hôi tuôn đổ.

Cho tôi một lần cạnh bên gia đình có cả sự yêu thương trọn vẹn từ Cha Mẹ, để những khi yếu lòng mệt mỏi ngoài kia tôi còn có vòng tay ấm áp của hai đấng sinh thành dang rộng ra đón tôi quay về nương náu.

Cái cột nhà vẹo xiêu trong cơn giông bão, sao chiều nay con không thấy Cha Mẹ dầm mình cột lại nữa rồi, cuối đầu chợt nghe nước mắt mặn môi…

Xin giới thiệu chùm thơ viết về Nỗi Nhớ Thương Cha Mẹ đã mất của nhiều tác giả, mời các bạn đón xem những cung bậc cảm xúc nhớ thương qua những bài thơ mang nhiều kỉ niệm yêu thương mà các tác giả đã gửi gắm nỗi lòng của mình vào từng câu chữ.

VẮNG MẸ – Thơ: Mami Vam

KHÓC THƯƠNG CHA – Thơ: Nguyễn Phú Bình

TIỄN CHA VỀ CÕI VĨNH HẰNG – Thơ: Nguyễn Phú Bình

Khăn tang trắng phủ một màu

Hoa cài di ảnh úa màu dương gian

Nỗi đau cứ mãi ngập tràn

Lệ dâng tuôn chảy mênh mang cõi lòng

Người đi trời đất ngóng trông

Rời xa nhân thế rực hồng chốn mơ

Người về cõi lạc hư vô

Để lại thương tiếc vô bờ cháu con.

NHỚ CHA – Thơ: Quốc Phương

VIẾNG MỘ CHA

Thơ: Minh Lý

Nghẹn ngào giây phút viếng cha

Khói hương nghi ngút lệ nhoà mắt cay

Cha đi đã mấy Thu rày

Âm dương cách biệt bao ngày nhớ thương

Hàng cây xào xạc bên đường

Cha nằm yên nghỉ hàng dương ru hời

Nhớ ngày con bé cha ơi

Lời cha ấm áp bên nôi quê nhà

Hôm nay ngày giỗ của cha

Tâm hương con thắp lệ nhoà tim đau

Cha ơi con khấn nguyện cầu

Mong cha siêu thoát thẳm sâu trong lòng.

MẸ ƠI! CON ĐÃ VỀ – Thơ: Phan Trong Tiến

TÌNH CHA – Thơ: Nguyễn Thư

HÌNH BÓNG MẸ TRONG CON

Thơ: Nguyễn Ngọc Bích

Mẹ đi con tuổi còn thơ

Từng đêm nhớ mẹ bơ vơ một mình

Còn đây chỉ bóng với hình

Thắt lòng con trẻ phải ghìm lệ rơi

Lớn lên xa biệt phương trời

Long đong giữa chốn chợ đời nổi trôi

Đắng cay cực khổ mẹ ơi !

Hướng về nơi ấy tìm lời ủi an

Biết rằng sông núi cách ngăn.

Âm dương ly biệt bao năm mỏi mòn

Nụ cười dấu nỗi héo hon

Ước rằng có mẹ cho tròn niềm vui

Đông về nuốt những ngậm ngùi

Thương cho cánh nhạn dập vùi gió sương

Trong giấc mơ đẹp lạ thường

Thấy hình bóng mẹ dặm đường bên con.

Lời ru ngày ấy vẫn còn

Mùa Vu Lan đến núi non điệp trùng

Vần thơ gửi trọn nhớ nhung

Nén nhang dâng mẹ cầu mong an bình.

CHA MẸ TÔI – Thơ: Vũ Duy Đà

【#3】Rằm Tháng Bảy Là Ngày Mấy? Cách Sắm Lễ, Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng Bảy

Ngày Rằm tháng Bảy vừa là ngày Lễ Vu Lan, vừa là ngày Tết Trung Nguyên (xá tội vong nhân ). Lễ Vu Lan là lễ báo hiếu còn Tết Trung Nguyên là ngày xá tội vong nhân.

Sự tích Rằm tháng Bảy – Vu lan báo hiếu

Người miền Bắc vẫn quen gọi ngày rằm tháng 7 là ngày “xá tội vong nhân” cúng các chúng sinh không nhà không cửa. Các chùa lớn vào ngày này thường mở khoá lễ phá ngục cho chúng sinh và tổ chức đại lễ Vu Lan.

Ở miền Nam, rằm tháng 7 thường gọi là tết Vu Lan, ngày để con cái báo hiếu cha mẹ. Sự tích của ngày cúng rằm tháng 7 cũng bắt nguồn từ Phật giáo. Theo đó, Mục Liên không phải tên thật mà chỉ là hiệu. Tên thật của Mục Liên là La Bộc.

Chuyện xưa kể rằng La Bộc là con ông Phổ Tướng và bà Thanh Đề. Vì gia đình túng thiếu, La Bộc phải đi buôn bán ở tỉnh Kiên Liên. Khi đã giàu có, La Bộc nhớ tới mẹ già liền cho người về quê biếu tiền mẹ. Bà mẹ ăn xài hết nhẵn số tiền đó rồi, lại sai người giết chó làm nhân bánh biếu sư. Đến lúc La Bộc về thì bà mẹ lại chối và nói rằng bao nhiêu tiền con gửi về cho đã đem cúng cả vào đền chùa miếu vũ rồi. Chẳng bao lâu bà mẹ chết.

Chịu tang mẹ 3 năm, La Bộc đi qua nước Ki Đô là nơi Phật ở, La Bộc xin ở lại tu luyện. Phật thương tình ưng thuận, sai thầy Kha Na cắt tóc ông và đặt tên là Đại Mục Khiên Liên (Mục Liên) và cho vào tu ở chùa Lã Bí trong rừng Quýt Sơn. Muốn đến rừng Quýt Sơn phải đi qua ngôi chùa Thiên Giai là nơi có những âm hồn nghe kinh. Mục Liên chỉ nhận ra người cha là Phổ Tướng còn mẹ là Thanh Đề thì không. Mục Liên ôm mặt khóc, Phật hiện lên bảo cho biết là Thanh Đề vì khi sống điêu ngoa gian ác nên bị đầy xuống ngục A Tỳ rồi. Mục Liên nghe vậy liền lặn lội xuống ngục A Tỳ tìm mẹ.

Nơi đây bà mẹ Mục Liên phải chịu trăm ngàn cực hình, thấy con tới bà khóc lóc nhờ con tìm cách cứu. Mục Liên thấy mẹ bị như vậy liền lấy bình bát, đem cơm dâng mẹ. Mẹ ngài được cơm nhưng chưa vào miệng cơm đã hoà ra than lửa đỏ hồng. Tôn giả Mục Liên thấy mẹ như thế gào khóc bi thảm, về bạch Đức Phật. Phật dạy phải nhờ tới uy lực mười phương Chúng Tăng, cách cứu độ để những bà mẹ hiện đang đau khổ đều được giải thoát.

Ngày rằm tháng 7 là ngày tự thứ của mười phương Tăng, tất thảy đều tư bi, ứng thọ. Ai được cúng đường Thánh Tăng thì tất cả đều vượt ác đạo, ứng niệm giải thoát. Cũng thế chiếc chậu Vu Lan đựng những tu lực chứng tâm hậu nhất của những đệ tử Đức Phật có thể chuyển nghiệp ác thành nghiệp lành của con người. Mục Liên làm đúng lời Phật dạy, quả nhân mẹ ông được giải thoát. Mục Liên theo mẹ bay lên trời cầu xin Đức Phật xoá tội cho bảy đời họ hàng nhà mình.

Cũng xuất phát từ tư tưởng “nhân- hiếu- trung- tín” của Nho giáo và Đạo giáo bên Trung Quốc, ngày rằm tháng 7 còn gọi là tết Trung Nguyên có tục tế lễ tổ tiên. Đạo giáo còn cho rằng Trung Nguyên một trong ba “nhật kỳ” của tam cung thần cai quản họa phúc của con người chính là ngày Địa cung xá tội. Theo tín ngưỡng dân gian thì ngày này ở âm phủ khảo chiếu sổ sách để đại xá cho các linh hồn ma quỷ cô đơn ngoài đồng nội.

Vì vậy ngày này cùng với cúng tổ tiên nhân dân còn nấu cháo hoa, bỏng ngô, tiền giấy cúng chúng sinh mong họ siêu thoát cũng để tích công đức cho bản thân.

Dựa vào tích ấy, vào ngày rằm tháng 7, các chùa đều làm lễ chay chạy đàn, phá ngục cho các tội nhân. Nhà nhà cũng theo đó thành kính làm lễ vì tin rằng ngày đó dưới âm vong nhân xá tội cho những người quá cố. Noi gương hiếu thuận của Mục Liên, ngày rằm tháng 7 trở thành ngày tết Vu Lan, con cái báo ân cha mẹ.

Lễ cúng rằm tháng bảy hay còn gọi cúng Tết Trung Nguyên. Cách cúng lễ Vu Lan, rằm tháng Bảy tại nhà thường có các lễ: cúng Phật, cúng thần linh, cúng gia tiên, cúng thí thực cô hồn và cúng phóng sinh.

Vào ngày rằm tháng Bảy, sắp một mâm cơm chay hoặc đơn giản hơn là mâm ngũ quả để cúng Phật rồi thụ lộc tại nhà. Khi cúng, tốt nhất là đọc một khoá kinh – Kinh Vu Lan – để hiểu rõ về ngày này, hồi hướng công đức cho những người thân trong quá khứ được siêu sinh. Kinh Vu Lan khá dài, nhưng không đến mức quá dài, lại thuộc thể thơ song thất lục bát nên đọc cũng nhanh thôi.

2. Cúng thần linh và gia tiên

Một số người Việt Nam tin rằng Lễ Xá tội vong nhân bắt nguồn từ công việc đồng áng của người nông dân trước kia. Hằng năm, cứ đến tháng 6-7 âm lịch là vào vụ thu hoạch mùa màng. Để công việc được may mắn, không gặp trắc trở, người dân thường cầu xin thần linh, thổ địa… bắt giam những yêu ma, oan hồn lại cho khỏi quấy nhiễu.

Đến đúng ngày 15/7, mọi việc phải được hoàn tất, đó cũng là lúc “ông thần tha ma, chủ nhà tha thợ cấy”, “mở cửa ngục xá tội vong nhân”. Và cũng vào ngày này, người ta thường làm một lễ cúng tạ ơn các thần linh, và một mâm tưởng nhớ ông bà tổ tiên để cầu nguyện cho các vong hồn siêu thoát và cầu bình an cho gia đình. Vì vậy nên đa phần các gia đình thường cúng cơm mặn, nhưng cúng chay tốt hơn.

a. Văn khấn cúng thần linh tại gia rằm tháng Bảy

Nam mô A Di Đà Phật

Kính lạy: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản xứ này.

Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm …. (Nhâm Thìn)

Tín chủ chúng con tên là: … ngụ tại nhà số …., đường …., phường (xã) …., quận (huyện) …, tỉnh (thành phố) …. thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.

Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, soi xét chứng giám.

Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội, chúng con đội ơn Tam bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.

Do vậy, chúng con kính dâng lễ bạc, bày tỏ lòng thành, nguyện xin nạp thọ, phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình chúng con, người người khỏe mạnh, già trẻ bình an hương về chính đạo, lộc tài vương tiến, gia đạo hưng long.

Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

b. Văn tế khấn Tổ tiên ngày rằm tháng Bảy

Nam mô A Di Đà Phật

Kính lạy Tổ tiên nội ngoại họ … và chư vị hương linh.

Hôm nay là rằm tháng bảy năm ….

Gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung nguyên, nhớ đến Tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức. Vi vậy cho nên nghĩ, đức cù lao không báo, cảm công trời biển khó đền. Chúng con sửa sang lễ vật, hương hoa kim ngân và các thứ lễ bày dâng trước án linh tọa.

Chúng con thành tâm kính mời: Các cụ Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Bá thúc đệ huynh, cô dì tỷ muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ … (Nguyễn, Lê, Trần …)

Cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng lâm linh sàng chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, bình an, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, hướng về chính đạo.

Tín chủ lại mời: các vị vong linh y thảo phụ mộc, phảng phất ở đất này, nhân lễ Vu Lan giáng lâm linh tọa, chiêm ngưỡng tôn thần, hâm hưởng lễ vật, độ cho tín chủ muôn sự bình an, sở cầu như ý.

Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

3. Cúng thí thực cô hồn (hay còn gọi cúng chúng sinh – theo Phật giáo miền Bắc) tại nhà

Ngoài việc cúng Phật, cúng thần linh và cầu siêu cho gia tiên, người Việt còn có lễ cúng bố thí cho các cô hồn khi tại thế thất cơ lỡ vận, không nơi nương tựa và chịu nhiều oan trái trong xã hội…

* Thời gian: Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).

* Sắm lễ:

– Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh từ 20 đến 50 bộ.

– Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc).

– Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc.

– Kẹo bánh. Tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).

– Nếu cúng thêm cháo thì thêm mâm gạo muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)

Chú ý: Không cúng xôi, gà. Khi rải tiền vàng ra mâm, để 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hướng từ 3-5-7 cây hương. Bày lễ và cúng ngoài trời.

Sắp lễ cúng thí thực cô hồn tại nhà

Văn khấn:

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương,

Con lạy Đức Phật Di Đà.

Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.

Tiết tháng 7 sắp thu phân

Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

Âm cung mở cửa ngục ra

Vong linh không cửa không nhà

Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả

Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

Gốc cây xó chợ đầu đường

Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

Quanh năm đói rét cơ hàn

Không manh áo mỏng, che làn heo may

Cô hồn nam bắc đông tây

Trẻ già trai gái về đây họp đoàn

Dù rằng: chết uổng, chết oan

Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu

Chết tai nạn, chết ốm đâu

Chết đâm chết chém chết đánh nhau tiền tình

Chết bom đạn, chết đao binh

Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi

Chết vì sét đánh giữa trời

Nay nghe tín chủ thỉnh mời

Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

Cơm canh cháo nẻ trầu cau

Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

Gạo muối quả thực hoa đăng

Mang theo một chút để dành ngày mai

Phù hộ tín chủ lộc tài

An khang thịnh vượng hoà hài gia trung

Nhớ ngày xá tội vong nhân

Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

Bây giờ nhận hưởng xong rồi

Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

Tín chủ thiêu hoá kim ngân

Cùng với quần áo đã được phân chia

Kính cáo Tôn thần

Chứng minh công đức

Cho tín chủ con

Tên là:………………………………

Vợ/Chồng:………………………….

Con trai:……………………………

Con gái:…………………………….

Ngụ tại:……………………………..

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

4. Cúng phóng sinh

Có thể phóng sinh chim, cá, tôm, cua v.v, tuyệt đối không phóng sinh rùa tai đỏ vì hủy hoại môi trường. Việc phóng sinh này tùy theo tín tâm và điều kiện của mỗi gia đình phật tử, không bắt buộc.

Văn khấn cúng phóng sinh

Chúng sanh nay có bấy nhiêu

lắng tai nghe lấy những lời dạy răn

các ngươi trước lòng trần tục lắm

nên đời nay chìm đắm sông mê

tối tăm chẳng biết làm lành

gây bao tội ác, lạc vào trầm luân

do vì đời trước ác tâm

nên nay chịu quả khổ đau vô cùng

mang, lông, mai, vẩy, đội sừng

da trơn, nhám, láng, các loài súc sanh

do vì ghen ghét, tham sân

do vì lợi dưỡng hại người làm vui

do vì gây oán chuốc thù

do vì hại vật, hại sanh thoả lòng

do vì chia cách, giam cầm

do vì đâm thọc chịu bao khổ hình

cầu xin Phật lực từ bi

lại nhờ Phật tử mở lòng xót thương

nay nhờ Tăng chúng hộ trì

kết duyên Tam bảo thoát vòng khổ đau

hoặc sanh lên các cõi trời

hoặc liền thức tỉnh về nơi cõi lành

hoặc sanh lên được làm người

biết phân thiện ác, tránh điều lầm mê…..

Chúng sanh quy y Phật

Chúng sanh Quy y Pháp

Chúng sanh Quy y Tăng….

Úm, ngâm ngâm ngâm (3 lần)

【#4】Bài Cúng Tết Thanh Minh Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam

Tết Thanh minh là dịp để con cháu bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn đối với người đã khuất. Chúng tôi xin giới thiệu bài cúng tết Thanh minh theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam.

Bài văn khấn Âm phần long mạch theo sách Văn khấn cổ truyền của Đại đức Thích Thanh Tâm, NXB Thời Đại:

Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).

Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.

Con kính lạy hoàng thiên hậu thổ, chư vị tôn thần.

Con kính lạy các ngài thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.

Hôm nay là ngày …

Tín chủ chúng con là: (tên người khấn).

Ngụ tại: (địa chỉ của nhà tín chủ).

Nhân tết Thanh minh, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước án, kính mời chư vị tôn thần lai lâm chiếu giám.

Gia đình chúng con có ngôi mộ của: (cha, ông hay cụ tam đại, tứ đại theo vai của người dưới mộ so với tín chủ), táng tại xứ này, nay muốn sửa sang xây đắp.

Vì vậy chúng con xin kính cáo các đấng thần linh, thổ công, thổ phủ, long mạch, tiền chu tước, hậu huyền vũ, tả thanh long, hữu bạch hổ và chư vị tôn thần cai quản trong khu vực này.

Chúng con kính mời các vị chư thần về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho vong linh được an nhàn yên ổn, siêu thoát.

Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con toàn gia mạnh khỏe an bình, bốn mùa không tật ách, tám tiết hưởng thái bình.

Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).

Trong tiết Thanh minh, các gia đình cũng thường có cúng gia tiên tại nhà.

Bài khấn gia tiên thì có thể tham khảo mẫu văn khấn gia tiên như sau:

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Nay con giữ việc phụng thờ tên là… ,… tuổi, sinh tại xã… , huyện…. , tỉnh… cùng toàn gia, trước bàn thờ gia tiên cúi đầu bái lễ.

Kính mời thổ công Táo quân đồng lai cách cảm.

Kính dâng lễ bạc: Trầu rượu, trà nước, vàng hương, hoa quả cùng phẩm vật lòng thành nhân dịp…

Kính mời hương hồn nội ngoại tổ tiên, kỵ, cụ, ông bà, cha mẹ, cô dì chú bác, anh chị em chứng giám và hưởng lễ.

Chuyên gia cho rằng, thay vì về quê trong dịp Tết Thanh minh, người dân không rời khỏi nơi cư trú và có thể thắp hương, vái vọng từ xa.

【#5】Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên Ở Việt Nam

Thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội Việt Nam. Đây là cách thể hiện lòng biết ơn và sự tri ân với những người đã khuất. Theo quan niệm, những người đã khuất thường xuyên can dự vào cuộc sống hiện tại, họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo vệ chúng ta… Cho đến nay, hiện tượng thờ cúng tổ tiên còn tồn tại ở nhiều quốc gia, dân tộc. Tuy vậy, vị trí và vai trò của nó trong đời sống tinh thần của con người ở mỗi nơi mỗi khác. Ở một số quốc gia, thờ cúng tổ tiên có vai trò mờ nhạt trong đời sống tinh thần cộng đồng, nhất là những quốc gia và dân tộc đưa một tôn giáo thành độc tôn, nhất thần. Nhưng ở những quốc gia đa, phiếm thần thì thờ cúng tổ tiên có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của mỗi cá nhân, cộng đồng, xã hội. Ở Việt Nam, hầu hết mọi người đều thờ cúng tổ tiên kể cả những tín đồ của một số tôn giáo. Mọi người quan niệm tín ngưỡng này vừa như là một phong tục truyền thống, vừa như một đạo lý làm người, lại vừa như một hình thức sinh hoạt tâm linh.

1. Đối tượng của thờ cúng tổ tiên

Ở Việt Nam, đối tượng của thờ cúng tổ tiên được thể hiện ở 3 cấp: gia đình, làng xã, đất nước.

Ở cấp độ gia đình, người Việt Nam thờ cúng ông bà, cha mẹ,… là những người cùng huyết thống đã chết. Đã là người Việt Nam, dù sang hèn, giàu nghèo khác nhau ai cũng thờ cúng cha mẹ, ông bà, tổ tiên của mình. Đây không chỉ là vấn đề tín ngưỡng mà còn là vấn đề đạo lý, phản ánh lòng biết ơn của con cháu đối với công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Nơi thờ cúng là ở gia đình và nhà thờ họ.

Ở cấp độ làng xã, người Việt còn thờ cúng những người có công với làng xã và được tôn vinh là Thành hoàng và nơi thờ cúng ở đình làng.

Ở cấp độ Nhà nước, người Việt thờ cúng những người có công đối với đất nước, như các Vua Hùng, Thánh Gióng, Trần Hưng Đạo, Hồ Chủ tịch…

Ở Việt Nam có 3 cộng đồng vốn từ xa xưa đã có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đó là: gia đình, làng xã và quốc gia. Vì vậy, tổ tiên gia đình, làng xã và đất nước không tách rời nhau. Từ thực tế đó, chúng ta có thể hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng tâm lý xã hội thể hiện sự biết ơn của người còn sống đối với người đã chết có công lao với cá nhân, gia đình, dòng tộc, làng xã, đất nước, thể hiện niềm tin rằng, tổ tiên tuy đã chết nhưng linh hồn vẫn tồn tại ở một thế giới khác và linh hồn tổ tiên có khả năng tác động tới đời sống, số phận của con cháu thông qua các nghi lễ thờ cúng.

2. Sự hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam

Trong nhận thức dân gian, người Việt quan niệm rằng, con người có 2 phần: phần xác và phần hồn. Hai phần này vừa gắn bó, vừa tách biệt, chúng gắn bó với nhau. Khi con người còn sống, hồn nhập vào xác điều khiển hành vi của con người. Khi con người chết, phần hồn rời khỏi xác, thể xác của họ hòa vào cát bụi, phần hồn vần tồn tại và chuyển sang sống ở một thế giới khác (cõi âm). Ở Cõi Âm (được mô phỏng từ Cõi Dương) mọi linh hồn đều có các nhu cầu như cuộc sống nơi trần thế.

Nỗi lo sợ bị trừng phạt của con người không phải là yếu tố duy nhất và chủ yếu dẫn đến sự hình thành và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Nếu chỉ vì sợ hãi mà con người phải thờ cúng thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã không thể tồn tại lâu bền và đầy giá trị nhân văn như vậy. Yếu tố tâm lý có vai trò quyết định trong việc duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt là sự tôn kính, biết ơn đối với các thế hệ trước, là tình yêu và lòng hiếu thảo của con cháu đối với ông bà, cha mẹ.

Trong cuộc sống con người còn gặp nhiều khó khăn, rủi ro, bất hạnh, sa cơ, lỡ vận, bệnh tật hiểm nghèo… luôn đe doạ sự bình an của con người. Con người còn thiếu tự tin vào chính bản thân khi phải đối mặt giải quyết với các vấn đề trên trong cuộc sống của chính bản thân họ. Họ luôn mong muốn có sự giúp đỡ của các thế lực khác nhau, trong đó họ cần đến sức mạnh của ông bà tổ tiên ở “thế giới bên kia” che chở, nâng đỡ. Từ quan niệm dân gian về linh hồn, người ta cho rằng, nếu không cúng tế linh hồn ông bà tổ tiên đầy đủ thì những linh hồn này trở thành ma đói và sẽ mang lại rủi ro, quấy nhiễu cuộc sống của những người đang sống. Trong cuộc sống của mỗi con người, càng về già, cái chết luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với mỗi người, con người không muốn nó diễn ra, ngay cả khi họ có cuộc sống nơi dương thế luôn gặp khó khăn và trắc trở, nhưng họ lại luôn phải đối mặt với nó. Thực hiện các lễ nghi thờ cúng tổ tiên trong không gian thiêng đó, mỗi người được trải nghiệm và cũng như một lần được chuẩn bị tâm thế chấp nhận cái chết một cách thanh thản, bình tĩnh và nhẹ nhàng hơn.

2.4. Ảnh hưởng của một số tư tưởng tôn giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam

– Ảnh hưởng của tư tưởng Khổng giáo (Khổng giáo do Khổng Tử sáng lập): Tư tưởng của đạo Khổng là đề cao chữ hiếu và coi đó là nền tảng của đạo làm người. Theo Khổng Tử, sự sống của mỗi con người không phải do tạo hóa sinh ra, càng không phải do bản thân tự tạo, mà nhờ cha mẹ. Sự sống của mỗi người gắn liền với sự sống của cha mẹ, sự sống của cha mẹ lại gắn liền với sự sống của ông bà và cứ như vậy thế hệ sau là sự kế tiếp của thế hệ trước. Vì thế, con người phải biết ơn không chỉ với cha mẹ mà cả đối với thế hệ tổ tiên trước đó.

– Ảnh hưởng của tư tưởng Đạo giáo: Nếu như Khổng giáo đặt nền tảng lý luận về giá trị đạo đức, về trật tự kỷ cương xã hội cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, thì Đạo giáo góp phần củng cố niềm tin vào sự tồn tại và năng lực siêu nhiên của linh hồn những người đã chết thông qua một số nghi lễ thờ cúng như: gọi hồn, bùa chú, ma chay, tang lễ, mồ mả và đốt vàng mã.

– Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo:

Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến sự giữ gìn và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam, trước hết là quan niệm của Phật giáo về cái chết, về kiếp luân hồi và nghiệp báo,… Phật giáo đề cập rất nhiều đến thờ cúng tổ tiên theo cả hai nghĩa rộng và hẹp. Thờ cúng tổ tiên trong Phật giáo theo nghĩa rộng chính là thờ Phật. Phật thường được dân gian hiểu một cách nôm na là người sáng lập ra Phật giáo, là Buddha, mọi người gọi là ông Bụt, ông Phật hay đôi khi là “Phật tổ”. Hay những người đứng đầu, người sáng lập ra các tông phái Phật giáo và người kế thừa, những vị sư sáng lập chùa được các hậu duệ của họ gọi là “Sư tổ”. Các tự viện nơi họ được khai sáng thì gọi là “Tổ đình”. Theo nghĩa hẹp, cũng có nghĩa là thờ cúng ông bà, cha mẹ, những người có cùng huyết thống với mình. Chính vì vậy, chúng ta thấy rằng giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có những điểm tương đồng trong ý tưởng giáo dục, trong văn hóa tín ngưỡng và trong nghi lễ thờ cúng. Đây chính là cơ sở cho sự hội nhập giữa đạo Phật với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam.

Những tư tưởng cơ bản của Phật giáo có ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, nhưng không vì thế mà nó là sự sao chép y nguyên tư tưởng của Phật giáo. Người Việt Nam quan niệm rằng, cha mẹ và tổ tiên luôn lo lắng và quan tâm cho con cái ngay cả khi họ đã chết. Người sống chăm lo đến linh hồn người chết, vong hồn người chết cũng quan tâm đến cuộc sống của người đang sống.

3. Nghi thức thờ cúng tổ tiên

Việc bài trí bàn thờ gia tiên thường không giống nhau, điều này phụ thuộc vào quan niệm tâm linh và cả điều kiện kinh tế của gia đình. Nhìn chung, bàn thờ gia tiên nào cũng có một số đồ thờ chủ yếu sau: bài vị, bát hương, đĩa đèn, bình hoa, chén rượu, mâm đựng hoa quả… Các gia đình bình dân, đồ thờ thường được làm bằng gỗ hoặc sành sứ, còn các gia đình giàu có thế nào cũng có đồ thờ tự bằng đồng. Bàn thờ gia tiên của ngành trưởng phức tạp hơn ngành thứ, của chi trưởng phức tạp hơn chi thứ, gia đình con thứ, con út chỉ thờ vọng nên bài trí bàn thờ cũng đơn giản hơn con trưởng.

Việc thờ cúng tổ tiên tại gia đình thường được tiến hành quanh năm, xuất phát từ quan niệm dù đã khuất nhưng linh hồn họ vẫn luôn ở bên cạnh con cháu. Không chỉ cúng lễ trong các dịp quan trọng như tang ma, giỗ chạp, cưới xin…, không chỉ trong những ngày lễ tiết như Tết Nguyên đán, Thanh minh, Hàn thực, Đoan ngọ…, các ngày Sóc (ngày mồng một), Vọng (ngày rằm) theo chu kỳ tuần trăng, mà các vị tổ tiên còn được con cháu kính cáo mọi chuyện vui buồn: sinh nở, ốm đau, thi cử, đỗ đạt, kiện cáo, bất hòa, dựng vợ gả chồng… Con cháu còn kính mời các vị về hưởng thụ hoa trái đầu mùa, lễ tạ tổ tiên khi có phúc, có lộc. Có thể nói trong tâm thức những người sống tổ tiên là bất tử. Người Việt dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ, hay để tạ ơn khi công việc thành công. Bản chất việc thờ cúng tổ tiên của người Việt là từ niềm tin người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau. Con cháu thì thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân. Tổ tiên thì che chở, dẫn dắt hậu thế nên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm.

Thay lời kết

Là một loại hình tín ngưỡng dân gian từ lâu đã thấm đượm và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của mọi người dân Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có sức sống lâu bền. Tín ngưỡng này không chỉ chứa đựng những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của dân tộc mà còn thể hiện quan niệm của người Việt về thế giới, về nhân sinh. Do vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có ảnh hưởng tích cực tới đời sống của mỗi cá nhân, cộng đồng và xã hội. Sự ảnh hưởng này được thể hiện thông qua hệ thống giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được chuyển tải vào hoạt động giáo dục nhân cách con người Việt cũng như trong việc thoả mãn nhu cầu tâm linh của mỗi cá nhân.

【#6】Người Sài Gòn Thờ Cúng Ông Bà Đến Ông Bà Nào?

Căn nhà truyền thống của người Việt được quy định từ thời nhà Hậu Lê rất cụ thể: nhà một gian dành để thờ phụng, ba gian của thường dân, năm gian và bảy gian là nhà quan lại, chín gian thuộc về vua chúa.

Vị trí đặt bàn thờ ông bà

Hai bên trái phải của gian nhà là hai chái, tức là hai mái nghiêng hai bên trái phải căn nhà, mở rộng thêm không gian nội thất của căn nhà. Do đó, tên gọi “nhà ba gian, hai chái” là rất quen thuộc mọi người dân Việt Nam.

Nhà có số gian lẻ lấy gian giữa làm nơi đặt bàn thờ ông bà, tổ tiên; còn số gian bằng nhau của các gian ở hai bên gian giữa nhằm tạo sự cân đối, vừa là một nét đẹp thời xưa, vừa tạo không khí tôn nghiêm nơi thờ phụng.

Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh, một vùng đất của người Việt, cũng từng một thời những ngôi nhà ba gian hai chái là hình ảnh thân quen.

Tuy nhiên, với thời gian, cư dân Sài Gòn tiếp thu nhiều phương tiện, kỹ thuật xây dựng hiện đại. Những căn nhà đúc, nhà lầu… đã dần thay thế mái nhà xưa.

Từ đó, vị trí đặt bàn thờ ông bà trong căn nhà hiện đại của người Sài Gòn cũng đã thay đổi. Vị trí đó có thể ở tầng trệt hay tầng lầu, nhưng phải là một vị trí tôn nghiêm nhất trong căn nhà là được.

“Nhất bái sinh, nhị bái tử, tam bái phật, tứ bái thần, ngũ bái quân”

Văn hóa tâm linh của người Việt tin rằng linh hồn của ông bà trú ngụ trên bàn thờ, dõi theo các thế hệ con cháu, phù hộ độ trì cho cháu con được bình an và thành đạt trong cuộc sống, cũng như quở trách cháu con khi làm những công việc trái với nề nếp gia phong…

Từ niềm tin đó, người Việt bao đời đã truyền cho nhau mức độ tôn kính ông bà bằng quy định “dâng lên ông bà 4 lạy” mỗi khi cúng bái, ngang hàng với các bậc linh thần, như trong nghi thức bái lạy cũng đã đặt ra từ thời Hậu Lê “nhất bái sinh, nhị bái tử, tam bái phật, tứ bái thần, ngũ bái quân” (nghĩa là: một lạy cho người sống, hai lạy cho người chết trong đám tang, ba lạy dâng lên Phật, bốn lạy dâng lên Thần, năm lạy dâng lên vua).

Đa số gia đình người Việt phân công một thành viên trong gia đình hằng ngày, khi chiều hôm, phải thắp một cây nhang, gọi là tâm hương, trên bàn thờ ông bà để thể hiện tấm lòng thơm thảo của con cháu đối với ông bà.

Khi gia đình có người qua đời, gia chủ cũng phải thắp nhang bẩm báo ông bà, tổ tiên. Và mùng 1 và ngày rằm âm lịch hàng tháng, cùng với ảnh hưởng của Phật giáo, bên cạnh nén nhang, truyền thống của người Sài Gòn còn dâng lên bàn thờ ông bà các món bánh trái, trà rượu tùy tấm lòng, khả năng của con cháu…

Hằng năm, đến ngày giỗ ông bà, con cháu phải dâng lên ông bà mâm cơm mang trọn niềm tôn kính. Tùy theo tập quán và tình hình kinh tế mỗi gia đình, trong lễ giỗ, người Sài Gòn thường bày ba mâm cơm:

– Mâm thứ nhất bày trên bàn thờ để cúng ông bà quá cố.

– Mâm thứ hai bày trên bộ bàn ghế trước bàn thờ để cúng những bậc trên trước khác trong gia tộc đã quá cố.

– Mâm thứ ba bày dưới mái hiên để cúng những người qua đời mà không có người cúng kiếng: đó là thế hệ những người Việt đã có công khai hoang cũng như gìn giữ mảnh đất phương Nam của Tổ quốc…

Mỗi mâm cúng một nén nhang và bốn lạy.

Gia đình làm lễ giỗ, người Sài Gòn xưa mời bà con, họ hàng, láng giềng đến dự để thắt chặt thêm sợi dây liên kết của gia tộc, xóm làng.

Các vị cao niên được mời dự tiệc giỗ ở bộ bàn ghế đặt ngay trước bàn thờ ông bà. Trung niên nam nữ thì ngồi ở bộ ván hay bộ bàn ghế đặt ở gian hai bên.

Lứa tuổi thanh niên chung vui ở bộ bàn ghế bày dưới mái hiên hay ra sân, ra vườn.

Riêng trẻ nít thường được sắp xếp… sau bếp.

Thờ cúng ông bà đến khi nào?

Thế hệ con thờ cha mẹ gọi là thờ một đời. Thế hệ cháu (cháu nội, cháu ngoại) thờ ông bà nội ngoại gọi là thờ hai đời. Thế hệ chắt (người miền Nam gọi là cháu cố) thờ ông bà cố gọi là thờ ba đời. Thế hệ chiu (người miền Nam gọi là cháu sơ – thành ngữ có câu “ông cố ông sơ”

là vậy) thờ ông bà sơ gọi là thờ bốn đời.

Theo thông lệ xa xưa, khi ông bà trở thành đời thứ năm thì việc thờ phụng sẽ dừng lại khi vong linh đã theo cát bụi thời gian, đã siêu thoát. Các bài vị (chữ Nho gọi là thần chủ) sẽ mang đi đốt hay đi chôn, đúng với câu “Ngũ đại mai thần chủ” (mang bài vị của ông bà đời thừ năm đem chôn, nghĩa là không thờ phụng nữa).

Trong nền nếp phong tục chung đó, người Sài Gòn thường thờ ông bà cao nhất là ông bà sơ. Tuy nhiên, phong tục cũng bị thay đổi theo thời gian.

Ngày nay, đa số người Sài Gòn chỉ thờ phụng, cúng kiếng đến ông bà cố. Các gia đình thờ ông bà sơ đã trở nên hiếm thấy.

【#7】Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên Và Những Điều Cấm Kỵ Trong Nhân Gian Cổ Đại Bài Cuối

Bài Cuối 越南道教道士 越南道士 NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ CHĂN NUÔI

Trồng dâu nuôi tằm là một điểm đặc sắc lớn trong kinh tế canh nông của người xưa từ xưa đến nay. Bắt đầu từ thời nhà Thương, người ta đã liệt thần Tằm vào đại điển tế tự. Dân gian cho rằng, tằm là một động vật cực kỳ nhõng nhẽo, lại rất thần thánh và có tính linh, nếu có chút chểnh mảng không cẩn trọng thì cũng khiến cho chúng bị tổn thương.

Trong “U phong quảng nghĩa”, người Thanh có viết: “Buồng tằm nhất thiết không được mở ra phía sau: vì tằm thuộc loại hóa khí, mùi thơm có thể làm tán khí, mùi hôi thối có thể làm kết khí, vì vậy, khi tằm ngửi thấy mùi thơm thì sẽ bị mềm nát, ngửi thấy mùi thối thì cứng lại. Phàm là những thứ có mùi thơm như xạ hương, đàn hương, linh lăng… và những vật có mùi hôi như hành, hẹ, tỏi, kiệu,… thì đều cấm không được mang vào buồng tằm. Kỵ gió Tây Nam, kỵ đốt đèn, đốt giấy trong buồng, kỵ thổi tắt khí của khói dầu, kỵ gõ vào những vật có thể phát ra tiếng kêu như cửa, cửa sổ, vành nong; kỵ để ánh đèn chiếu vào khe cửa sổ buồng tằm vào ban đêm; kỵ mang rượu giấm vào và cũng kỵ để người uống rượu vào trong buồng; kỵ chiên xào thịt; kỵ gió lạnh quét vào lúc nóng nực; kỵ giã đồ gần bên; kỵ kêu khóc trong buồng tằm, kỵ những lời ô uế dâm tà; dùng lửa lớn khi trời đang rét; kỵ bỏ dao vào trong nong; kỵ người không sạch sẽ bước vào buồng tằm; kỵ nước tràn xuống lửa; kỵ nướng những vật có mùi khét như xương, lông lợn; kỵ mở cửa sổ đón gió; kỵ tất cả những khí có mùi tanh; kỵ khí đá vôi bị nung; kỵ khí lưu huỳnh bị đốt, kỵ mở cửa một cách vội vã, kỵ ném thải những vật ra xa, kỵ những lá đẫm nước, kỵ những lá dâu đẫm sương lạnh hay những lá khô; kỵ nóng nực, hanh khô. Những điều kiêng kỵ trên đều cần phải chú ý đến, nếu không thì tằm sẽ không nằm yên trong nong, sẽ bò ra ngoài mà chết”. Từ đó có thể thấy rằng, các triều đại nhà Nguyên, Minh, Thanh, các cấm kỵ về việc nuôi tằm thì ngày càng nhiều và rõ ràng hơn. Lá dâu nuôi tằm cũng phải dùng kéo sắt để cắt, kỵ không được dùng tay hái. Mà khi dùng kéo cắt thì cũng phải đợi khi mặt trời mọc, hơi ẩm bốc hết thì mới được tiến hành cắt lấy, kỵ cắt lấy những lá dâu đẫm hơi nước và sương. Có những cấm kỵ về việc nuôi tằm, như người vùng Sơn Đông thì kỵ không động thổ buồng tằm khi đã xuất tằm; kỵ người già, sản phụ bước vào buồng tằm, kỵ ngủ trong buồng tằm, e rằng tằm cũng trở nên lười nhác không chịu nhả tơ làm kén.

Những hộ nuôi tằm ở vùng Triết Giang nếu thấy rắn bò vào buồng tằm thì kỵ không được hô hoán, đuổi đánh. Vì họ cho rằng Thanh Long giáng lâm, thì sẽ đem lại cái phúc cho nghề tằm, nên phải khấu bái, cúng chay, để nó tự đi.

Nuôi lợn cũng là một nghề phụ phổ biến rất được nông dân xem trọng, nó là một “con đường giàu sang”, “con đường tiền tài” của người nghèo. Rất nhiều những cấm kỵ trong nghề nuôi lợn cũng đã hình thành nên tập tục trong dân gian.

Xây hàng cột rào lợn cũng phải hết sức thận trọng, tục thời xưa còn mời cả thầy phong thủy đến để lựa chọn phương vị tránh sát khí, chọn ngày tốt để phá thổ động công, chiêu đãi thợ xây như chiêu đãi khách quý. Tục quy định, khi châm trà, dâng rượu, gắp thức ăn và tặng tiền cho thợ xây thì không được nói chuyện. Đặc biệt là, phong bì đựng tiền không được dán kín cả hai đầu, và phong bì cần phải để trên cột rào ở chuồng lợn mà không trực tiếp giao cho thợ. Khi thợ xây nhận phong bì đựng tiền thì cũng không được nói năng gì cả. Người ta cho rằng, làm như thế để làm yên hàng cột, khiến lợn mau lớn. Có nơi, khi làm xong nền hàng cột, khi mời thợ xây đến để làm hàng rào thì thợ cần phải ăn điểm tâm ngay ở hàng cột rào, không được từ chối, và phải ăn cho hết để tỏ ý là sau này lợn sẽ ăn hết bữa ăn. Nếu như thợ xây ăn không hết thì gia chủ sợ rằng, sau này lợn sẽ biếng ngủ biếng ăn, nên sẽ nhặt phần thức ăn còn lại ăn cho kỳ hết ngay tại hiện trường. Những người chủ nhà mà là người già thì cho rằng như thế đã phạm vào cấm kỵ, nên vội vàng chạy ra giành lấy phần thức ăn đó, đến nằm trong hàng cột mà ăn ngấu nghiến cho đến hết, sau khi ông ta đã ăn xong thì không ai được kéo ông ta dậy, vì cho rằng như thế, sau này lợn sẽ không những ham ăn mà còn tranh ăn, ăn xong rồi ngủ, ngủ rồi lại ăn, lớn rất nhanh. Do vậy, thợ xây hàng cột rào cho lợn cũng phải cẩn thận, có nơi còn phải phun nước thần trước khi khởi động công trình, khiến “thiên sát quy thiên, địa sát quy địa” (khí sát ở Trời thì về Trời, khí sát của Đất thì về Đất”. Có nơi còn vạch chữ “tỉnh” ( 井 ) lên nên đất để ép “sát khí”, để đảm bảo được bình an. Có nơi, người ta còn chú trọng đến vật liệu làm hàng cột rào, thường là chọn gỗ cây phong, tục cho rằng nếu dùng gỗ cây phong làm cột rào thì sẽ khiến cho lợn “phong xuy dạ trưởng” ( 風吹夜長 : qua đêm đã lớn như gió thổi). Khi đóng cọc rào, bất kỳ là ai cũng không được bước ngang qua hàng cột rào ấy, mà phải chui qua hàng cột với một thái độ cung kính rất mực, nếu không, sau này lợn cũng sẽ nhảy qua hàng cột rào, như thế thì không tốt.

Sau khi làm xong hàng cột rào mới mua lợn con về. Khi mua lợn con, cũng phải chọn lựa ngày lành. Tục cho rằng “ngày tai”, “ngày đuôi” đều là những ngày tốt, bảo là “tai đuôi thì lớn như gió thổi”; “ngày miệng”, “ngày lưỡi” mà mua lợn về là không tốt, bảo rằng “miệng lưỡi ắt phải chết”. Mua lợn phải lựa ngày tốt lành, thích ngày chẵn và kỵ ngày lẻ. Kỵ mua lợn có đầu quá lớn, tục cho rằng những con lợn như thế sẽ chậm lớn.

Những hộ nuôi lợn nái thường đều kỵ không giết lợn nái, người ta cũng thường kỵ ăn thịt lợn nái, cho rằng, thịt lợn nái có “độc”, ăn vào sẽ sinh bệnh. Ở một vài hộ, khi lợn nái đã già, thì mời thầy thiến lợn đến để thiến nái, đợi khi nuôi cho mạnh lên rồi mới được giết, tục gọi là “bà lợn già bị thiến một dao”.

Khi muốn ăn thịt lợn nuôi thì đợi đến lúc lợn mạnh khỏe mới giết. Trong dân gian, việc giết lợn cũng có nhiều cấm kỵ. Lưu hành nhất là giết lợn đầu năm năm. Giết lợn thì không được nói là “giết”, mà phải gọi là “xuất chuồng”. Xuất chuồng vào ngày sửu mới được xem là tốt, kỵ không giết vào ngày tý, để tránh sau này lợn nuôi chỉ bé bằng con chuột, mà chỉ mong cho nó lớn như con trâu vậy. Khi xuất chuồng, cần phải cúng tế “thần rào lợn”, và chúc nó kiếp này làm lợn, kiếp sau làm người, khi giết lợn đầu năm thì kỵ không có dây buộc, để lợn chạy qua nhà người. Vì có người tin rằng “lợn đến thì nghèo”, chủ nhà chỉ đành “treo vải đỏ”, đốt pháo để cáo lỗi, sau đó mới có thể dẫn lợn trở về. Khi xuống dao giết lợn, người đồ tể sẽ nói “xuất thế làm người”. Trẻ em và phụ nữ cấm không được nhìn. Có nơi, người phụ nữ nuôi lợn sẽ đứng ở cửa kêu lên “Lợn về đi!”, tỏ ý lợn không đi, mỗi năm đều có thể có lợn để giết thịt. Chủ nhà đều hy vọng là một nhát dao giết chết lợn đầu năm, ộc ra máu đỏ tươi và có lẫn bọt bóng, người ta bảo rằng, đó là điềm “huyết tài tốt”, nuôi lợn sẽ rất hưng thịnh, kỵ một nhát dao giết không chết lợn. Nếu giết một dao, máu ộc ra, lợn giãy giụa lăn xuống đất nhưng lại không chết, thậm chí còn chạy đi, thì cần phải giết thêm một nhát dao nữa; hoặc khi máu đỏ có sắc đen, bọt bóng không đỏ cũng không trắng; hoặc là khi cạo lông mà trong mõm lợn vẫn còn khí thở và có tiếng thở nhè nhẹ, người ta gọi đó là tiếng than thở của lợn, đều là những điềm không tốt, gia chủ lo sợ rằng, năm sau nuôi sẽ không được hưng thịnh, lại vừa lo rằng, nếu đó là lợn Linh Quan, thì không được giết. Khi giết thì cần phải “hóa thân” (hóa trang), dùng nhọ nồi, mực… để bôi lên mặt, lấy áo trùm lên đầu, và đội lên cái nón lá, lưng thì mặc áo tơi, chân thì mang giày, giết mạnh bằng một nhát dao rồi quay mình mà chạy đi. Cấm không được giết lợn Linh Quan ngay trong phòng, mà phải giết ở nơi góc đường. Máu của nó không được dùng để cúng thần, cũng không để người ăn, cứ để cho nó chảy đi. Sau khi giết chết rồi thì phải đợi ít nhất là nửa tiếng đồng hồ sau mới có thể khiêng về trong nhà.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ SĂN BẮN Săn bắn là một nghề mưu sinh có từ thời xa xưa, rất nhiều các tộc người của xưa đều có lịch sử săn bắn rất lâu dài. Trong nghề săn bắn cũng có rất nhiều tập tục cấm kỵ.

Trước khi đi săn, thợ săn phải tiến hành nghi thức tế tự, cúng hiến thần săn. Những người thợ săn còn tin rằng, dã thú có linh tính, vì vậy mà thường thì không dám gọi thẳng tên của chúng, mà phải gọi với một cái tên khác. Ví dụ, người ta gọi hổ là con “đại trùng”, là “thần”; còn gấu thì gọi là “lão gia”, “lão gia tử”… Họ còn tin rằng, dã thú có khả năng dự báo trước những sự việc, nếu thợ săn không tuân thủ nghiêm chỉnh những cấm kỵ nào đó thì dã thú có thể biết được phương hướng hành động của thợ săn mà chạy đi mất. Ví dụ như, người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc thì đều cấm kỵ việc nói cho người khác biết chuyện mình đi săn trước khi đi săn, cấm kỵ nói “chúng ta đi đặt bẫy”. Và càng cấm kỵ không nói cho người khác biết nơi chốn và phương hướng đi săn, ngay đến người trong nhà cũng không ngoại lệ.

Trong thời gian săn bắn, thợ săn người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc cấm kỵ không nhắn thư cho người nhà, và người nhà cũng không được nhắn đến, nếu không thì không có lợi cho việc săn bắn. Khi săn thú, cấm kỵ không được dùng cây gậy để vắt ngang lên trên đường đã đi qua, khi cần dùng gậy để là dấu hiệu thì cũng phải để thuận chiều. Người ta nói rằng, nếu để gậy ngang đường thì sẽ khiến cho việc săn bắn gặp nhiều trở ngại, không thuận lợi. Việc nhóm củi lửa khi săn cũng cấm kỵ để củi cháy sụp xuống, vì cho rằng củi lửa bị sụp sẽ làm động đến Sơn thần gia (Bạch Tra Na) khiến việc săn bắn không có hiệu quả. Củi dùng để nhóm lửa nên ngắn, kỵ dài, vì nếu củi nhóm mà dài thì số ngày đi săn cũng sẽ bị kéo dài ra. Trong thời gian săn bắn, người ta kiêng kỵ tất cả mọi tiếng động. Không được ca hát, nhảy múa hay nói chuyện lớn. Khi đi săn, người Ngạc Luân Xuân cấm không được huýt gió tùy tiện, vì người ta cho rằng, nếu làm như thế thì sẽ gây gió lớn; khi đi săn, người Ngạc Ôn Khắc cấm kỵ không được kéo động cái nồi lúc nấu cơm, khi bới cơm thì cũng không được cạo nồi gây ra tiếng vang. Khi gặp dã thú thì cũng không được chỉ trỏ, nói năng bừa bãi.

Khi đi săn, người Ngạc Luân Xuân và người Ngạc Ôn Khắc còn kỵ giữa những người đi săn với nhau mà tạo nên sự mất đoàn kết, kỵ cãi nhau và đánh nhau khi ra đi săn, nếu không thì nhất định sẽ không gặp được con thú nào. Nếu có hai đoàn người đi săn gặp nhau thì phải hợp lại làm một, cùng nhau vây thú, và chia thú đồng đều cho nhau. Nhưng thời gian tối đa mà hai đoàn người đi săn này sáp nhập với nhau là một hoặc hai ngày, sau đó sẽ phân rẽ ra. Khi săn thú, nếu gặp dã thú thì không được tranh bắn thú trước, nếu không, không ai có thể tìm ra được con thú bị bắn ấy. Sau khi săn được hươu, ngạn thì cần phải xóa sạch vết máu, vết dơ lưu lại trên đất. Tại hiện trường đợi thú săn, thì không được vứt đầu thuốc, vỏ đạn, phân, một phần là e rằng sẽ gây ảnh hưởng cho người đi săn đến sau.

Khi săn thú, người Ngạc Luân Xuân còn cấm kỵ không được bắn con dã thú đang giao phối, vì cho rằng, khi bắn loại thú này thì sau này sẽ không thể nào săn được những con thú khác nữa. Nhưng nếu đợi đến khi con dã thú giao phối xong thì lại có thể bắn nó.

Đối với một số tộc người, khi săn bắn thì người ta còn sợ gặp phải sự quấy nhiễu của người ngoài hoặc của thần linh ngoài thần săn bắn. Ví dụ như, khi đi săn thì người Lạc Ba kỵ gặp phải người ngoài, nếu nhỡ gặp phải thì phải nhẹ nhàng tránh đi. Vũ khí săn bắn cũng kỵ để người ngoài nhìn thấy, nếu không, họ cho rằng linh hồn của người lạ sẽ cướp con thú đã săn được đi, khiến họ có săn mà không có thú. Người Ngõa thì kỵ không cho người khác mượn súng và cung mà bản thân mình chưa dùng qua, nếu không, bản thân người chủ sẽ không bắt được thú. Người Ngạc Luân Xuân cũng cấm vẩy rượu lên lửa trong lồng vào lúc săn thú.

Đối với người Ngạc Luân Xuân, trong khi săn bắn mà săn được một con hươu, một con ngạn hoặc một con lợn rừng, thì đầu tiên cần phải tế Sơn thần tại nơi ấy. Nếu không dùng con vật ấy để tế thì trong khi săn, thợ săn sẽ bị bệnh hoặc săn không được thú. Đối với thợ săn của vùng núi Trường Bạch, mỗi khi bắn trúng một con hươu đực, cần nhanh chóng chạy đến và ôm đầu hươu, nhằm phòng tránh hiện tượng do bị thương mà hươu làm gãy nát nhung hươu. Khi săn hươu đực thì kỵ những con hươu có nhung chưa lớn. Bình thường khi săn “thái vi”, tức chỉ tìm một con thú để săn, như báo chẳng hạn, thì cấm kỵ nhất là giết hươu đực, hươu cái. Thời xưa, người Tích Bá cấm kỵ săn giết cáo. Người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc khi săn được con dã thú lớn, như gấu, lợn rừng… thì khi mổ bụng lấy nội tạng ra, trái tim và lưỡi cần phải để ở cùng một chỗ. Chỉ khi nấu ăn chín thì mới được chặt thịt ra, nếu không, sau này sẽ không săn được loài dã thú này nữa.

Người Ngõa khi đi săn, họ chấp hành câu cách ngôn người gặp cũng có phần” một cách rất nghiêm túc, kỵ chia thiếu phần. Nếu không, đó chính là một sự miệt thị rất lớn đối với người bạn săn, sẽ dẫn đến tranh chấp. Tục này còn cho rằng, khi đi săn trên núi cao, thì thịt của mỗi bữa ăn cần phải ăn cho hết, không được mang trở về nhà.

Người Ngạc Luân Xuân và người Ngạc Ôn Khắc có nghi thức sùng bái và một vài cấm kỵ rất đặc biệt đối với gấu. Sau khi thợ săn săn được gấu thì không được nói “săn trúng rồi”, mà phải nói rằng “thật là đáng tội nghiệp cho tôi”. Gấu bị bắn chết không được nói là “chết rồi”, mà phải nói thành “bố thổ cáp”, hoặc “a phạ kháp”, tức có nghĩa là “thành rồi”, hoặc “ngủ rồi”. Ở bãi săn, sau khi đã săn được gấu thì đầu tiên, người già sẽ đến để xem đó là gấu đực hay gấu cái, cấm trai tráng đếm xem. Bởi vì sinh thực khí của gấu hoàn toàn giống với của người, cho rằng, nếu để thanh niên trái tráng đếm xem thì sẽ mắc bệnh đái gắt. Khi lột da thì phải dùng tấm thảm hoặc những thứ khác để đậy lên phần thân dưới của gấu. Nếu là gấu đực thì đầu tiên là cắt tinh hoàn treo lên trên cây, sau đó mới lột da. Người ta cho rằng, chỉ có như vậy thì gấu đực mới thành thực khi gặp người. Đồng thời, phải đẩy máu động mạch về tim, không được cắt đứt động mạch. Sau khi moi lấy ruột ra và quấn ba vòng quanh đầu gấu thì mới được cắt cổ gấu. Không được ăn thịt đầu gấu, sau khi cắt ra thì dùng cỏ quấn lại, để lên trên giá cây tiến hành nghi thức phong táng. Những người thợ săn còn phải quỳ lạy đầu gấu, kính hương, dập đầu trước gấu và cầu xin thú săn trước đầu gấu, đồng thời, phải dùng khói hương hơ đầu gấu. Sau đó, cầm tấm da gấu đi qua cửa của từng nhà để cho gấu từ biệt mọi người, tấm da gấu ấy sẽ được tặng cho người già. Khi trở về nơi khiêng gấu đi, thì còn phải giả bộ khóc lóc. Phải dùng ngựa thiến để thồ gấu đi, không được dùng ngựa cái hoặc ngựa đực để thồ gấu. Thịt gấu phải được người của cả thôn cùng ăn. Con dao cắt thịt gấu không được gọi là dao, mà phải gọi là “khắc nhĩ căn cơ”, ý nghĩa là con dao cùn cắt không đứt gì cả. Cây súng bắn chết gấu thì cũng không được gọi là súng, mà phải gọi là “hô ông cơ”, ý là công cụ bắn không chết một loài động vật nào, hoặc gọi là “ống thổi (khạc) lửa”. Khi ăn thịt gấu, trong miệng phải phát ra tiếng “chách chách, cụp cụp”, tỏ ý rằng không phải họ đang ăn thịt gấu, mà là con quạ đang ăn vậy. Hai chân trước của gấu thì đàn ông không được ăn. Nếu đã ăn rồi, thì sau này gấu sẽ cướp mất súng săn. Đối với đầu gấu, tim gấu và nội tạng của gấu thì cho dù bất kỳ là ai thì cũng không được ăn, mà phải phong táng cùng với xương còn lại sau khi ăn. Khi phong táng, mọi người cần phải ra vẻ đau thương khóc lóc, và còn phải dập đầu, kính hương, cầu chúc.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ ĐÁNH CÁ Những người sống gần sông rạch, hồ, biển đa phần là những người sống bằng nghề đánh cá. Nguồn tài nguyên thủy sản phong phú như cá, tôm, trai, cua đều là mục tiêu đánh bắt và là điều kiện mưu sinh của ngư dân. Việc làm ăn trường kỳ trên sông nước đã khiến cho con người kết một duyên kiếp không thể nào dứt ra được với những công cụ đánh bắt như thuyền, lưới… Những điều mê tín trong phương thức sử dụng công cụ và phương thức đánh bắt, cùng với ý thức cầu cát tỵ hung thể hiện trong tín ngưỡng và ngôn ngữ thuộc nghề đánh cá đã tạo nên những cấm kỵ dân gian.

Thuyền là một công cụ quan trọng trong nghề đánh bắt thủy hải sản. Người và thuyền được gắn liền nhau, thuyền là “sợi dây sinh mệnh” của ngư dân. Ngư dân thường nhân tính hóa, sinh mệnh hóa con thuyền, ở hai tuyến giữa ngang và dọc dưới thuyền thì tuyệt đối không được đóng đinh, người ta nói rằng, nếu đóng đinh lên hai tuyến giữa thì sẽ khiến cho tính đực của thuyền sẽ lớn lên, khi ở trên biển mà tính đực của thuyền phát tác thì khó mà khống chế được, nó sẽ chủ động đụng húc vào thuyền khác, gây nguy hại đến sự an toàn của con người. Ngoài ra, khi đóng thuyền, người ta có cách nói “đầu không đụng vào cây dâu, chân không đạp vào cây hòe”, có nghĩa là, khi đóng thuyền thì không dùng gỗ cây dâu làm mũi thuyền, không dùng ván cây hòe làm đuôi thuyền. Bởi vì “cây dâu” ( 桑 tang) đồng âm với “tang” ( 丧 tang tóc), phạm vào kỵ húy, vì thế mà tuyệt đối không được dùng gỗ cây dâu đóng mũi thuyền. Cây hòe tượng trưng cho điều phúc, nên không được dùng để đóng đuôi thuyền, e rằng sẽ giẫm phải lên điều phúc.

Những cấm kỵ về thuyền của ngư dân Đông Hải lại rất đặc biệt. Trước khi ra biển, những đồ vật chỉ có thể đưa vào trong thuyền mà không được mang từ trong thuyền ra. Vào buổi tối, nếu ngư dân đưa nhầm mùng mền của mình vào thuyền của người khác thì cũng không thể trả về, đợi đến khi cho thuyền chạy ngược lại thì mới đem trả mùng mền lại. Sau khi ngư dân lên thuyền thì không được mang giày, không rửa mặt. Bất luận là vào mùa đông hay mùa hè thì cũng chỉ được mặc quần đơn, khi mùa xuân đến thì anh cả (lão đại) trong thuyền mới mới quần dài, tất cả anh em cùng làm ăn trong thuyền chỉ mặc quần cộc, vì như thế thì mới dễ dàng nhận ra ai là anh cả trong thuyền.

Khi làm ăn trên thuyền, làm việc gì cũng phải làm dấu hiệu, tất cả đều có luật vận tiết tấu của nó, nhưng khi gặp gió to thổi tốc mái che thì không cần dùng dấu hiệu. Khi kéo lưới bắt cá thì không được thò tay bắt đuôi cá, mà phải bắt đằng đầu, ngụ ý rằng, bắt đầu cá thì sẽ hốt được cả bầy cá. Theo tục xưa, ngư dân vùng Hoàng Hải rất sùng kính Long vương, Thiên hậu và Sở Thái gia. Trên mỗi một chiếc thuyền còn có “lão tiên sinh”, như “gia đường bồ tát”, ngày thường, anh em sẽ bưng cơm đến cúng. Khi sửa thuyền, cần phải dùng ván khoang hoặc những vật khác để dựng tạm một “miếu đường” trên bãi biển, đây cũng chính là nơi cấm kỵ như nơi cấm kỵ ở trên thuyền, những sinh hoạt ngày thường cấm không được tiến hành ở nơi này. Khi sửa thuyền xong và cho xuống nước, thì cần thỉnh “lão tiên sinh” và bài vị lên thuyền. Tương truyền rằng, “lão tiên sinh” chính là người trên thuyền bị lâm nạn trong thời gian trước kia, do vậy mà ông ấy biết dạy cho mọi người phải giữ gìn tuân thủ cấm kỵ như thế nào, để tránh không cho xảy ra những điều bất hạnh ấy nữa.

Tục có câu “trong nửa tấc ván là nhà mẹ đẻ, ngoài nửa tấc ván là phủ Diêm vương”, khi làm việc trên thuyền, thì khó có thể biết rằng khi nào sẽ có điều bất trắc xảy ra, luôn ở trong biên giới của sự nguy hiểm, vì thế mà những cấm kỵ càng nhiều, càng nghiêm.

Nhà có thuyền thì gọi là thuyền hộ 船户 , một số thuyền hộ lớn có thể kiêm cả một số nghề công thương khác, theo cách nói của xã hội thì có thể gọi đấy là “ông chủ” (lǎo bǎn), nhưng ở đây, người ta kỵ không nói như vậy, vì “ông chủ” (lǎo bǎn 老闆 ) lại đồng âm với “vớt ván” (láo bǎn 撈版 ), chỉ khi thuyền gặp gió lớn trên mặt biển, sau khi thuyền bị gió giật vỡ thì người vớt ấy mới được gọi là “vớt ván”, nếu gọi là “ông chủ” thì sẽ phạm vào ngôn ngữ cấm kỵ của người trong thuyền hộ. Trên thuyền, người ta kỵ nhất là những chữ “lật, chìm, vỡ, dừng, xa, tán, lộn ngược, lửa”

Khi nói đến chữ “phàm bồng 帆蓬 ” (fan péng – buồm) thì người ta chỉ nói đến chữ 翻 bồng, mà không được nói đến chữ “phàm”, vì nó đồng âm với chữ “phiên” (fan – lật ngược). Khi kéo vật từ trên cao xuống, hay lật ngược những vật đang đựng xuống thì không được nói là kéo hay lật ngược, mà phải gọi là “tiểu 小 “. Hạ buồm xuống thì gọi là “tiểu bồng 小蓬 “; gác chèo xuống thì gọi là “tiểu nguy 小桅 “. Hạ buồm xuống một phần thì gọi là “tha bồng 擦蓬 “, hạ xuống 1/5 thì gọi là “tha lương đại bả giác” (xoa hai góc lớn 擦梁大把角 ); buông ½ thì gọi là “tha lương tiểu bả giác” (xoa hai góc nhỏ 擦梁大把角 ); hạ xuống đến mức thấp nhất chỉ còn khoảng 1/10 thì gọi là “tha đáo ma ma sí” (xoa đến cánh ma ma 擦到媽媽翅 ). Khi kéo vật từ dưới thấp lên cao thì kỵ không nói là kéo hay lôi, mà phải nói là “nâng”, “giơ”, “nâng buồm”, “bắt neo”. Nếu muốn chuyển đề tài hoặc đổi đầu thì nói nói chữa thành “chuyển một sào chống”, chữ “lật ngược” bị cấm kỵ một cách rất rõ ràng. Những thứ như cái búa, con dao, dao đá, cái kéo đều được gọi là “anh chàng nhanh nhẹn”. Cá chết rồi thì gọi là “cá thẳng rồi”.

Trong thuyền không được chở người chết, tục cho rằng như thế sẽ không tốt. Người ta còn cấm chữ “tắm 洗 “, ví dụ như khi tắm gội thì nói là “gội một chút mát mẻ 沖涼 “, vào sáng sớm thì kỵ những chữ như “cọp”, “khỉ”, “ma”. Nếu có chút không cẩn trọng thì chủ thuyền sẽ trách mắng. Chống cái gì hoặc đệm cao cái gì đó thì đều gọi là “nâng cao một chút”. Khi thuyền cập bến hoặc vào cảng, thì gọi là thu bờ, thu cảng, thu cửa; người ngủ trên thuyền thì gọi là “khải giác 凱覺 “, ngủ một lát thì gọi là “khải nhất hội 凱一會 “. Khi ở trên thuyền, cầm vật mà không cẩn thận để vật rơi xuống, thì không được hốt hoảng la lên rằng “oái oái”, càng không được nói “oái, vuột tay mất rồi”, trên thuyền tối cấm kỵ nói đến chữ “vuột tay”, vì đó là biểu hiện của hiện tượng không cứu được người chết đuối. Nếu có người không biết hoặc vô ý mà phạm phải cấm kỵ này thì cần phải đến anh cả (lão đại) của thuyền mà hung hăng đánh ông ấy một bạt tai, người bị đánh không được có phản ứng gì, người khác thì cảm thấy đánh như vậy là đáng, và đánh càng mạnh thì càng tốt. Vì đánh bạt tai khiến cho người ta có thể khu trừ xui xẻo, đánh càng mạnh thì xui xẻo càng bị trừ sạch sẽ.

Ở Thượng Hải, những lời kiêng kỵ thì không được nói, những việc cấm kỵ thì không được làm. Hải Châu dân tục chí” có đoạn viết giới thiệu về ngư dân như sau: “Những đồ gia cụ, những sọt cá khi hong phơi thì chỉ được để miệng đồ hướng lên phía trên mà không được lật hướng về phía dưới”. Lại nói rằng “Khi ngủ chỉ được nằm nghiêng hoặc nằm ngửa, không được nằm sấp. Đó là vì khi đàn ông chết đuối, thây nổi lên, phần mông hướng về phía trên”. Chiếc neo sắt lớn nhất để ở đầu thuyền được gọi là neo thái bình, nếu chưa đến nỗi vạn phần nguy khốn thì không được động đến chiếc neo đó. Phía sau thuyền có một vài cái rổ lớn đan bằng tre, chuyên để dùng khi gió to đứt neo, người ta bỏ những cái rổ ấy để cản nước, có tác dụng là làm ổn định thần thuyền, khiến thuyền có thể trôi chầm chậm thuận theo thế gió, người ta gọi đó là rổ thái bình. Trong khoang sau, người ta để một cái búa lớn, rất bén, chuyên dùng để chặt cột chèo và chặt dây neo một cách cấp thời khi thuyền gặp phải gió giật, gọi là búa thái bình. Vào lúc bình thường, người ta không được động chạm gì đến ba vật “thái bình” này, không được bước ngang qua chúng, càng không được làm những việc phạm vào cấm kỵ, nói những lời kiêng kỵ ngay trước chúng. Nếu có người vô ý nói những lời hoặc làm những chuyện phạm cấm kỵ thì ngoài việc bị đánh bạt tai, anh cả còn phải đốt hương dập đầu trước chiếc neo thái bình, miệng lẩm nhẩm: “Lão neo lão neo đừng trách cứ, phải nới lòng (lượng thứ) đối với chuyện làm của tiểu nhân”. Khi thuyền đang trên biển, bất có bất kỳ thứ gì trôi trên sóng trên gió đều không được nhìn và cũng không được nhặt lấy.

Tất cả mọi sinh hoạt của con người trên thuyền đều phải được tiến hành trên mui sau của khoang thuyền, vì cho rằng mui sau cách xa với mặt nước biển; khoang sau được gọi là khoang rỗng, nếu sinh hoạt ở đây thì sẽ tránh được những động chạm đến thế giới của Long vương. Vào bất kỳ lúc nào cũng không được tiểu tiện ở hai bên mạn thuyền, mà là ở mui sau, và vào bất cứ lúc nào cũng không cho phép hai người đại tiểu tiện cùng lúc với nhau, cho rằng “hai người đái vào nhau, tất sẽ gặp gió bạo”. Ở vùng Triết Giang, người ta kỵ không để phụ nữ đi lên trên đầu thuyền, người ngoài mà chân không sạch cũng không được đến đầu thuyền. Ngư dân vùng Phương nam thì kỵ người bước ngang qua mũi thuyền, cho đó là điềm không lành; ở vùng Triết Giang, nếu như hai chiếc thuyền song hành với nhau, thì kỵ không được dùng dây lòi tói sắt để xích vào nhau; vùng Triết Giang, An Huy thì cấm không được chở vật chết trong khoang thuyền, tục cho rằng như thế sẽ bất cát bất lợi; ở một dải đất Hồ Châu Triết Giang, cấm kỵ hành khách nam nữ giao cấu với nhau trên thuyền; vùng Phương nam khi ra biển đánh cá thì kỵ để chuột trong thuyền chạy mất, tục cho rằng, đó là điềm không lành. Khi gặp tình hình như vậy thì cần phải tìm cách mời chuột trở lại thuyền, sau đó mới dám ra biển đánh bắt cá.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGÀNH THƯƠNG NGHIỆP Trong ngành thương nghiệp thì đầy rẫy những rui ro, ẩn tàng nhiều cái bẫy chết người, vì thế mà ngay từ thời xưa, giới thương nhân cũng đã hình thành những tập tục cấm kỵ tránh hung tìm cát. Những người trong ngành thương nghiệp luôn hy vọng rằng, khi thông qua những cấm kỵ ấy thì có thể gặp may mắn trên con đường tiền tài, buôn bán.

Có nhiều phương pháp trong giao dịch thương mại, nhưng thường được chia thành hai loại chủ yếu là ngồi tại chỗ mà buôn bán tại (tọa thương) và đi lại để buôn bán (hành thương). Đi lại buôn bán còn được gọi là chạy bán, hay bán du động. Còn ngồi tại chỗ buôn bán là thường cố định buôn bán tại một nơi, nhiều nhất là các hàng quán, tiệm bán hàng, thường tập trung nhiều ngành nghề buôn bán lại với nhau. Hai loại buôn bán này cũng đều có những cấm kỵ của nó.

Những cấm kỵ trong loại buôn bán cố định là rất nhiều. Chủ tiệm rất kỵ vào sáng sớm mà mua bán không thành với người khách đầu tiên, vì e rằng suốt ngày sẽ phải gặp xui xẻo. Trong tiệm, kỵ chống eo lười nhác, hoặc ngáp, hoặc đạp lên vải bọc trên đất, hoặc ngồi ở ngạch cửa, hay gõ vào bàn tính tiền, đứng tựa cửa mà lưng hướng ra ngoài, đùa bàn tính và cất bàn tính…, tục cho rằng, những hành vi này là biểu hiện bất kính với thần tài bồ tát, sẽ gây bất lợi cho việc làm ăn kinh tế. Khi quét tiệm thì kỵ quét ra ngoài, mà cần phải quét hướng vào trong, ý là quét vàng bạc châu báu vào nhà. Gặp ống đồng trên mặt đất thì kỵ không được nhặt lấy, khi đếm tiền bạc thì phải hướng ra bên ngoài.

Khi bán vải vóc thì kỵ không gõ vào cân; khi bán rượu thì kỵ không lắc lắc chai rượu, nếu không, người ra bảo rằng, khi uống thì đầu óc sẽ choáng váng. Đầu năm, khi nhập hàng vào cửa hiệu thuốc, thì phải nhập vào vị thuốc đại hải lớn và hạt sen lớn để lấy cái ý đại phát đại lợi. Ở các tiệm uống trà, tiệm cơm thuộc vùng Nam Kinh Giang Tô, thì ba người ngồi một bàn, nếu như trống một ghế thì không được ngồi, gọi là “ngồi kiểu đóng cửa”, chủ tiệm rất kỵ. Những người hầu bàn trong các nhà hàng, quán rượu thì tối kỵ người khách đứng đầu gọi món “cơm chiên” ( 炒飯 ), vì trong tiếng Quảng Đông, “chiên” ( 炒 chǎo) có nghĩa là sập tiệm. Khi làm bếp mà nghe thấy tiếng “chiên” thì cũng cho là không tốt. Những nhân viên làm việc trong cửa hiệu không được đọc sách, cho dù có rảnh rỗi thì cũng không có ngoại lệ. Ông chủ thì muốn một vốn vạn lời, đâu dễ gì để bị thua lỗ? Vì thế nên mới cấm kỵ vậy. shu) và “thua” ( . Trước đây, ở một số khu vực của người Hán, người ta có cấm kỵ khi bán lợn là bán lợn không bán dây. Người bán lợn thì tất sẽ phải dùng dây buộc để dẫn lợn đi, nhưng khi bán lợn thì phải thu lấy dây về, vì cho rằng nếu bán luôn dây thì sẽ bị người ta mang vận may của mình đi mất, sau này có nuôi lợn nữa cũng sẽ không tốt. (Ở đây, các ông chủ cửa hiệu cũng kỵ hiện tượng hài âm giữa “sách” (

Trong các cửa hiệu thương nghiệp thì cửa hiệu thuốc là nơi có nhiều cấm kỵ nghiêm ngặt nhất. Khi học trò bước vào tiệm, đầu tiên phải nhặt lấy “vạn kim chi” (nhành vàng), “kim ngân hoa” (hoa vàng hoa bạc) và “kim đấu” (đấu vàng), với ý nghĩa là lấy vàng bạc vậy, hoặc nhặt “bách tử nhân”, vì “bách tử nhân” cũng tương tự như hạt gạo, nhằm để nuôi tác phong làm việc cẩn thận cho bọn học trò học nghề. Trong lời nói bình thường thì thường lấy tên thuốc để lấy cái may. Ví dụ như “liên kiều” để gọi “thái hợp”, “bối mẫu” để gọi “nguyên bảo bối”, “quất lạc” để gọi “phúc lộc”, “trần bì” để gọi “đầu hồng”, “quất hồng” để gọi “đại hồng bào”, cắt thuốc thì gọi là “đuôi hổ”, ghế thuốc thì gọi là “thanh long”; vào mùa xuân thì lấy “đông mộc” khai đao, mùa đông thì lấy “đơn bì” thu đao. Gói thuốc thì phải gói cho có hình như dấu ấn của vàng, vào mùa xuân thì còn phải dùng dây đỏ để buộc. Cấm để những người làm việc chung ngửi thuốc. Trao thuốc thì cấm kỵ chuyền qua tay người khác, vì cho rằng, nếu chuyền qua tay người khác thì sẽ chạm vào khí độc của người ấy. Khi đi hành nghề bán thuốc thì cũng phải có những quy tắc riêng, như khi dân gian đang ăn tết thì kỵ chẩn đoán bệnh, vì sợ chạm phải “khí độc”, trừ phi có hai khoản phí chẩn đoán bệnh để phá tai ách thì mới được. Bình thường, khi đi chẩn đoán bệnh, cũng không được gõ vào cửa của người bệnh, tục có câu “Thầy thuốc gõ cửa, phải mời vào mới xong”. Nhằm để giữ bí mật nghề nghiệp của mình, nên trong dân gian có cách nói đối với những thầy thuốc là “cho thuốc không cho đơn”. Thời xưa, những thầy thuốc rất kính trọng Hoa Đà, Tôn Tư Mạc, xem đó là tổ sư gia, không dám có chút gì bất kính.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGÀNH THỦ CÔNG Người thời xưa trong tình trạng sản xuất nhỏ, phương pháp làm việc không những rất kém an toàn, hơn nữa, những kiến thức về an toàn cũng khá nghèo nàn, vì vậy, tự nhiên là họ sẽ có những lo lắng đối với sự an toàn của bản thân. Nhằm để cân bằng và thỏa mãn tâm lý, những người trong ngành thủ công nghiệp cũng đã thực hành việc tế tự và những hành vi cấm kỵ.

Do các ngành thủ công trong dân gian là rất khác nhau nên những cấm kỵ trong các ngành cũng mang những nét đặc thù riêng. Trong tất cả các ngành nghề, nghề khai khoáng là một trong những nghề nguy hiểm nhất. Công nhân khai khoáng khi tiến hành đào mỏ thì hệ số an toàn là rất nhỏ, đặc biệt là trong thời gian trước đây, những biện pháp an toàn là rất kém, vì vậy mà sự nguy hiểm đối với sinh mệnh là rất lớn. Vì vậy, công nhân khai khoáng khi ở trên giếng, khi xuống giếng thì kỵ nói đến những lời đại loại như “chết”, “ngạt chết”, “đè chết”, kỵ chửi tục. Bản thân công nhân không được nói, mà cũng không được để người khác nói, khi vợ chồng cãi vả nhau thì cũng không được nói. Công nhân cảm thấy trong lòng mình buồn phiền, hoặc cãi với người khác, thì trong ngày ấy không được phép xuống giếng. Về hành vi, thì công nhân khai khoáng kỵ để người khác đánh vào mũ của anh ta (mũ an toàn), không được ném nón lên mặt đất. Bởi vì chiếc nón là cái bảo vệ phần đầu, cũng chính là biểu trưng và một phần thân thể của đầu. Người ta kỵ để người khác đánh hoặc đùa giỡn đầu mình. Về phương diện ẩm thực, khi công nhân xuống giếng thì kỵ uống rượu, ngửi mùi rượu cũng không được. Khi xuống giếng thì kỵ mang theo diêm quẹt, đây có lẽ là do người ta sợ dưới giếng có khí mêtan (gaz), gặp diêm sẽ bị nổ. Bất kỳ ai cũng không được đốt giấy trên miệng giếng, chỉ vì chỉ có người chết thì mới đốt giấy.

Nếu dưới giếng của mỏ mà có động vật thì đó là điềm tốt, công nhân mỏ than vùng Tây Bắc thì kỵ bắt chuột trong giếng mỏ. Khi công nhân khai khoáng xuống giếng, thì kính chuột như thần, cho dù nghèo nàn đến đâu, ngày ba bữa rau cải không no bụng, nhưng khi ăn cơm ở dưới giếng thì luôn dành một phần cơm và thức ăn cho chuột, cơm thừa ăn không hết cũng không được mang về nhà, mà đổ xuống giếng để mời chuột. Tập quán này có nguyên nhân là do ba loại khí gaz, khí bùn và khí than đều rất nguy hại đối với sức khỏe của con người, mà chuột lại rất nhạy cảm với ba loại khí này, chỉ cần ở những nơi nào không có độc khí thì loại động vật tinh ranh nhỏ bé này sẽ xuất hiện, vì vậy, công nhân khai khoáng một khi nhìn thấy chuột thì đã có ngay một cảm giác an toàn; nếu dưới giếng mỏ mà không thấy chuột chạy qua chạy lại thì sẽ phát sinh ngay một tâm lý vô cùng sợ hãi.

Cấm kỵ đối với người làm nghề đồ tể là không được giết lợn vào ngày hợi. Khi giết súc vật, cần phải giết chết bằng một nhát dao, kỵ giết bằng hai nhát dao. Nếu không, người ta xem đó là điềm bất tường, và nó dự báo rằng, sang năm nuôi lợn sẽ không được thịnh vượng. Sau khi chọc dao vào cổ lợn, thì khi quăng dao xuống đất, mũi dao không được hướng về phía cửa chính của người chủ, nếu không, nhà ấy tất sẽ gặp phải chuyện không lành. Khi rạch mổ bụng, không được treo lợn nhằm thẳng về nơi có đặt thần vị, nhằm tránh đắc tội với thần. Sau khi giết lợn xong thì đầu tiên là phải cắt một miếng thịt vuông vức nặng khoảng một hai cân để hiến cho “đại thần nuôi dưỡng”, sau đó con người mới được ăn, nếu không, vào năm sau, gia chủ cho dù có nuôi lợn đi nữa thì cũng không được thuận lợi.

Thợ làm đá làm nhiều đến thế nào cũng không bằng mài nước. Ngày xưa, trong phòng mài nước có thờ Lão quân, thần Sông và Thần tài, vào ngày mùng hai, mùng ba tháng giêng đều phải đốt đèn, thắp hương, cúng tế, cầu xin thần linh bảo vệ sự bình yên. Bởi vì, con vật được Lão quân cưỡi là con trâu xanh, vì vậy, khi người thợ làm đá đục đẽo mài nước, những người bình thường không được cầm roi đánh ngựa đứng một bên mà nhìn, nếu không, sẽ làm cho con trâu mà Lão quân cưỡi bị giật mình, việc mài nước sẽ không thể nào hoàn thành được. Thợ làm đá khi khoan lỗ thì kỵ đánh búa hụt. Khi đục đá, thì bất kỳ là ai cũng không được mở miệng nói một lời nào, vì cho rằng, mở miệng nói chuyện thì dễ khiến thợ làm đá bị thương, tục quy định rằng, ai nói chuyện mà xảy ra sự cố thì tự mình chịu. Có nơi thì không cho phép nói lớn tiếng. Có nơi còn quy định không cho phụ nữ đi vào trong hang đá và vào miệng hang đá, tục cho rằng, người nữ bước vào thì Sơn thần sẽ nổi giận. Nhiều nơi còn cấm kỵ không được úp chén, tục cho đó là điềm động đá, có nơi sắp sụp. Sau khi thợ làm đá khắc xong bia đá cho người ta, vào buổi sáng ngày dựng bia thì không được nói những lời bất cát bất lợi; vào thời khắc dựng bia cho ổn định thì càng kỵ những người ăn nói bậy bạ. Ngoài ra, theo sự khác biệt của phương ngữ từng nơi mà cũng có những tập tục quy định khác nhau. Vùng Thanh Điền Triết Giang thì kỵ nói chữ “động” (hang), khi vào trong động khoáng vật thì gọi là “tiến tài” (vào tiền), kỵ nói “về nhà”, mà tục phải gọi là “dời hài cỏ?; kỵ nói “rửa” ( 洗 ), vì nó hài âm với “chết” ( 死 ), vì thế mà đến cả nồi, chén, những người thợ làm đá cũng không rửa, mà chỉ dùng vải để lau sạch.

Thời xưa, việc may áo được xem là chuyện của thần thánh, người ta đã có quan niệm “may áo cầu lành”. Thời xưa, người ta đã có những quy định rõ ràng vào ngày nào không được may áo. Theo những ghi chép của Đôn Hoàng văn hiến: Ngày Thân trong ba tháng mùa xuân không được may áo, may áo vào ngày Dậu trong ba tháng mùa hạ thì sẽ không tốt, đại kỵ may áo vào mùa thu, phàm là vào những ngày sáu, ngày mười sáu, ngày hai mươi tháng tám đều không được may áo. Đại kỵ may áo vào ngày mười tháng mười, nếu may áo vào ngày cuối tháng ba thì sẽ bị cọp vồ, là điều đại hung. Người xưa cho rằng không nên may áo vào ngày kỵ máu.

“Tại sao may áo vào ngày mười tháng mười là điều đại kỵ? Vì đây là ngày sinh nhật của hoàng đế đời Đường là Đường Văn Tông Lý Ngang, nếu động dao kéo may vá trong ngày này thì sẽ bị xem là cử chỉ bất trung, biểu thị cho hành động “?động đao” mưu phản, vì vậy mà người ta liệt việc may áo vào dạng bị cấm kỵ.

May áo có cấm kỵ, và vá áo cũng không ngoại lệ, cho đến nay, dân gian vẫn còn hưng thịnh tập tục “tháng giêng không đụng kim chỉ”. Ngạn ngữ có câu:

Mùng một không kỵ kim, quốc khố trong năm trống Mùng hai không kỵ kim, thiên hạ trăm họ nghèo Mùng ba không kỵ kim, góa lẻ càng thịnh dữ Mùng bốn không kỵ kim, trong triều sinh sự loạn Mùng năm không kỵ kim, mùng năm tháng năm sấm dậy vang.

Từ ngày mùng một đến ngày mười ba, đều có kiếp số phạm điều cấm kỵ. Tương truyền rằng, tập tục này bắt nguồn từ những năm cuối đời Bắc Tống, do Trương Thiên sư xướng lên nhằm giải cứu những cung nga suốt cả đời mình thêu thùa may vá.

Những kiểu loại của ngành thủ công nghiệp là rất nhiều, và các bộ phận của nó đều có những cấm kỵ riêng. Những cấm kỵ này kết hợp với nội dung và hình thức sản xuất của các ngành nghề khác nhau làm một, cùng cấu thành đặc trưng cho nghề nghiệp. Vỉ thế, người trong nghề hoàn toàn không cho rằng cấm kỵ là điều mê tín, mà xem đó là những phép tắc cần phải tuân thủ nghiêm túc.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ HÝ KỊCH, GIẢI TRÍ Nghề hý kịch là một nghề mua vui cho người khác, vào thời xưa, những người theo nghề này thường có thân phận thấp kém, nhằm để sinh tồn và phát triển, những tín ngưỡng thần linh và những cấm kỵ trở nên hết sức nghiêm ngặt và có nhiều khác biệt nhau.

Khi một lầu kịch, một sân khấu kịch, một hội quán, một miếu hậu mới được xây lên, thì vở diễn trên sân khấu diễn xuất đầu tiên đều phải cử hành nghi lễ cúng tế “phá sân khấu”. Nếu như khi diễn kịch mà xảy ra những sự cố lớn nào đó, gây chết người, thì cũng phải phá sân khấu. Người trong nghề hý kịch gọi sân khấu quay về hướng Nam, sân khấu quay về hướng Đông là “Dương đài”, sân khấu quay về hướng Bắc là “Âm đài”, quay về hướng Tây thì gọi là “Bạch Hổ đài”, tục nói rằng: “Nếu muốn phát tài lớn, thì cấm kỵ nhất là Bạch Hổ đài”. Vì vậy, phàm là “Bạch Hổ đài” quay về hướng Tây thì cũng phải “phá đài”, sau đó mới được diễn xuất. Nếu không, tục cho rằng, trong ê-kíp kịch sẽ xảy ra tranh cãi, đánh nhau; hoặc diễn xuất không tốt, diễn võ kịch thì bị thương; thậm chí là không diễn được, sau này sẽ không có ai đến mời đoàn kịch ấy diễn cả.

Ở mỗi trường hợp khác nhau thì hình thức phá đài thường cũng khác nhau. Có trường hợp thì khá đơn giản, chỉ cần treo một chòm râu đỏ lên tường vách phía sau sân khấu, ý cho rằng đó chính là phán quan, sẽ khu tà trừ tai. Thông thương thì vào đêm tối, để một diễn viên có võ diễn vai linh quan, trên sàng diễn, anh ta sẽ truy đuổi con ma nữ do một vai đán thủ diễn, và đuổi ma nữ này đi. Giết một con gà trống, lấy máu gà vảy ra bốn bên sân khấu. Sau đó thì đốt pháo, đánh chiêng đánh trống một hồi, như thế thì được xem là đã phá được đài rồi. Trước khi phá đài thì cấm kỵ đốt đèn phía trước sân khấu, ngay cả đèn dầu được đốt ở đằng sau sân khấu để giúp hóa trang, thì sau khi hóa trang xong cũng phải thổi tắt. Khi “phá đài” thì kỵ để người ngoài nhìn trộm, kỵ nói chuyện. Diễn viên ngậm một cái túi cát màu đỏ chu trong miệng, cho rằng như thế thì có thể tránh tà, tránh được ma quỷ lên người mình.

Việc nhận đồ đệ trong ban kịch phải tuân theo những quy củ rất nghiêm ngặt, thường là khi đoàn kịch dạy nghề thì cấm người khác nhìn trộm. Nghệ nhân cũng không được đùn đẩy trách nhiệm khi lên sân khấu, không được xin nghỉ không ra sân khấu diễn. Cấm kỵ phân nhóm, kết bè phái trong ban kịch. Khi diễn xuất, diễn viên không được nhầm. Khi diễn thì cấm không được đùa giỡn, không được biếng nhác, không được sơ suất, không được làm tổn thương người khác trên sàn diễn, không được cười. Không được “sưu đài”, “tao đài” (tức là cấm không được nhìn ngắm phụ nữ khi đang ở trên sàn diễn). Khi diễn kịch thì cấm kỵ để người học nghề ăn mặc không chuẩn xác, tục có câu: “thà là mặc áo rách, chứ không mặc áo sai”. Ngoài ra, trên phương diện kỹ xảo diễn xướng và đóng vai thì cũng còn có nhiều cấm kỵ khác, đều thuộc về mặt kỹ thuật nghề nghiệp, ví dụ như “khi tịnh đi thì không được thêm mảnh vải màu, khi thiếp đi thì không được để lưng trần, khi sinh đi thì kỵ để rơi râu mồm” (tịnh, thiếp, sinh… đều là những loại vai trong hý kịch cổ điển , người ta thường cho rằng, trong kịch có đến năm loại vai diễn: sinh, đán, tịnh, mạt, sửu, năm vai này điển hình cho năm tính cách khác nhau – TDK). “Kỵ đảo âm hòa vận, kỵ nhả chữ không thật, kỵ lạc giọng do sợ sệt, kỵ phách nhịp không tròn”

Ở hậu trường, ở phía sau sân khấu thì cũng có nhiều quy ước. Ở phía sau sân khấu thì cấm không được đi lại lung tung, nằm ngồi ngổn ngang, tay chân thái mái, tất cả những khám thờ tổ sư, bàn hương, đạo cụ đều không được làm hư hoại; những rương áo, rương mũ đều được phân loại, không được ngồi tùy tiện. Chỉ có vai sửu (còn gọi là tiểu hoa kiểm) thì có thể ngồi tự do, nhưng cũng bị cấm kỵ không được ngồi lên giữa hai cái rương. Bình thường, mặt nạ được dùng vải lụa phủ lên, không để diễn viên nhìn thấy. Cấm kỵ soi gương khi mang mặt nạ. Diễn viên không được phép ngồi ở cửa miệng Cửu Long, cấm không được gõ bừa vào các khí cụ có tiếng vang như trống đánh, trống nhỏ. Kỵ nói đến những từ không tốt như tản ( 傘 : ô dù), canh ( 更 : canh giờ), mộng ( 夢 : chiêm bao), ở phía sau sân khấu, không được giương ô dù, không được đánh cờ, không được đan tay vào nhau hay ôm đầu gối. Vào ban đêm, kỵ có đi ra mà không quay về. Cấm không được đi ngủ nếu chưa cởi bỏ đồ diễn. Cấm đi tiệm vào ban đêm. Khi đi ngủ, kỵ để mũi giày hướng ra bên ngoài, nếu không, sẽ bị chủ đoàn kịch cho nghỉ làm việc. Trong cuộc sống thường nhật thì cấm không được nuôi bồ câu, nuôi mèo. “Bồ câu” ( 鴿 ge) đồng âm với chữ “gác” ( 擱 gé), e rằng sẽ gây bất lợi cho nghề diễn kịch. Mèo thì ăn thịt chuột, e sẽ gây bất lợi cho chuột. Cấm kỵ gáy nhại theo tiếng gà trống, vì sợ rằng sẽ làm hỏng giọng. Khi ăn cơm, bạn diễn ngồi chung một bàn, không được tự tiện chen vào. Chỉ có vai sửu thì có thể chen vào bàn để ăn. Ăn cơm thì kỵ ăn bánh không nhân, vì cho rằng, nó không có lợi cho đoàn kịch.

Khi diễn tại nhà thì cần chú ý đến những cấm kỵ trong nhà người chủ. Người quản sự sẽ thăm hỏi xem chủ nhà là một nhân vật như thế nào, cấm kỵ những thứ gì, ví dụ như khi vào vương phủ để diễn thì không được mặc đồ màu xanh, vì màu xanh là màu áo của quan lại trong triều đnh. Tên họ, tiểu danh, trác hiệu và cả những chữ mà ông ấy không thích thì cũng không được nói. Gặp khi người ta làm lễ mừng thọ, thì những chữ bất cát bất lợi như “giết”, “chết”, “róc” thì càng phải kiêng tránh. Khi diễn đến đoạn văn xướng mà có những chữ này thì có thể bỏ (hoặc đổi), nếu quả thực tránh không được nữa thì phải cắt bỏ cả một đoạn ấy.

Diễn kịch cũng phải hạn định trong một khoảng thời gian và ở một nơi nhất định. Ở Hà , người ta kỵ diễn vào ngày hắc đạo, mà phải vào ngày hoàng đạo. Ở một số nơi khác còn quy định không được diễn vào tháng nào đó, hoặc vào tháng hai, tháng tám, hoặc vào tháng ba, tháng bảy. Nghe người ta bảo rằng, vào thời gian ấy mà động đến những đồ phát ra tiếng kêu (tức minh khí) thì sẽ mạo phạm đến thiên thần, sẽ gặp phải hung họa, như mưa đá chẳng hạn.

Có một số vai trong kịch bản, theo truyền thuyết thì chính là một người ở nơi nào đó, vì vậy mà, nếu diễn vai ấy ở ngay trên vùng đất ấy thì cần phải chú ý, không được diễn những hý khúc làm thương hại đến tình cảm quần chúng nhân dân. Như trong “Thanh bái loại sao” có nói, vùng Tây Bắc huyện Dương Cốc, Duẫn Châu có mộ, tục gọi là mả cửa tây, theo truyền thuyết thì đó chính là nơi chôn cất của Tây Môn Khánh. Ở vùng này, người ta đều có tục cấm diễn vở “Thủy Hử truyện”; ở nơi nào đó thuộc Đơn Giang Hồ Bắc, truyền thuyết cho đó là quê hương của Trần Thế Mỹ, vì vậy mà ở đây, người ta cấm không được diễn vở “Trác Mỹ án”; ngoài ra, có nơi được xem là quê hương của Quan công thì cấm diễn “Tẩu Mạch thành”; ở Nam Kinh thì cấm diễn vở “Thủ Kim Lăng”…, đều thuộc vào dạng cấm kỵ này. Khi đi diễn, thì không được diễn “Ngũ Lôi trận”, vì cho rằng, Tôn Tẫn là tổ sư của nghề giày dép, nếu trong vở diễn mà có tình tiết Tôn Tẫn bị vây khốn trong Ngũ Lôi trận thì tất sẽ làm thương tổn đến tình cảm của những người theo nghề làm giày dép.

Thời xưa, nghề diễn kịch bị xem là nghề hạ tiện, vì chuyên môn chiều theo thú vui của con người ta. Đời Nguyên, Minh, Thanh, những nghệ nhân này bị cấm không được ứng thí trong chế độ khoa cử.

【#8】Vũ Khúc Lục Cúng Hoa Đăng Trên Sân Khấu Unesco

Để kỷ niệm 40 năm bang giao Pháp Việt (1973-2013), sau năm Việt Pháp 2013, đến lượt năm Pháp Việt khai mạc hôm 14.02.2014 tại Nhà hát Châtelet ở Paris qua đêm văn nghệ

Hoa sen. Trong số những đoàn Việt Nam được mời qua biểu diễn, có Đoàn múa Cung đình Huế với tiết mục Lục cúng hoa đăng. Đoàn nầy còn biểu diễn tối 15.02 ở trụ sở UNESCO, ngày 16.02 ở Nhà hát Villeurbanne. Tuy không phải lần đầu tiên ra mắt ở Pháp, Đoàn múa cung đình Huế cùng tiết mục Lục cúng hoa đăng còn rất xa lạ với khán giả, Việt hay Pháp.

. Lục cúng hoa đăng, còn gọi tắt Lục cúng, một điệu múa có từ thời thượng cổ, do các vị sư Ấn Độ du nhập vào nước ta. Hằng năm khi vụ mùa được bội thu, tại các nơi thờ Phật Tứ Pháp, trong những lúc tổ chức các lễ lớn ở chùa thường có biểu diễn vũ khúc này để dâng hương, hoa, đèn, trà, quả, thực lên Tam Bảo. Đến nay, chưa thấy tài liệu nào ghi lại vũ khúc Lục cúng được truyền bá rộng rãi, đã nam tiến vào xứ Đàng Trong và kinh đô Phú Xuân thế nào. Các vị tăng am tường và đã từng trình diễn về vũ khúc này hiện còn sống tại cố đô Huế cũng chỉ biết vũ khúc Lục cúng là do chư Tổ truyền lại. Tuy nhiên, trong các thế hệ Thầy Tổ của Phật giáo xứ Huế còn có nhiều vị rất giỏi và điêu luyện về vũ khúc này. Tác phẩm “Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam” cho biết đến đời Minh Mạng (1820 – 1840), vua hạ lệnh cho viện Hàn Lâm học tập, tiếp nhận và sửa lại vũ khúc. Cái tên Lục cúng hoa đăng chính thức có từ thời ấy. Như vậy, Lục cúng hoa đăng từ tính chất vốn có của nó là một loại hình âm nhạc tôn giáo đã được tiếp thu và cải biên thành một loại hình âm nhạc cung đình. Ngoài nhiệm vụ cúng dường, truyền giáo, Lục cúng còn có chức năng giải trí, thẩm mỹ.Trong suốt lịch sử tồn tại của nó, Lục cúng luôn được thay đổi, bồi đắp và phát triển đến đỉnh cao nghệ thuật

Như tên gọi, nội dung vũ khúc gồm có sáu phần tượng trưng cho sáu lần cúng dường chư Phật là mục đích của Lục cúng. Trước hết là tưởng nhớ ân sâu hóa độ của đức Phật và qua đó là thực hành hạnh phụng sự chúng sanh, truyền bá chánh pháp. Các lễ vật là hương, hoa, đèn, trà, quả và oản. Mỗi phần có một kiểu bước khác nhau : khi múa, hai vị tăng mặc áo cà sa vàng, đầu đội mũ thất phật, chỉ cử động cổ hai bàn tay để kiết ấn, xả ấn, hai bàn chân khẽ rê đi, dàn ra theo hình chữ nhật (lúc dâng hương), hình liên hoa bốn cánh (lúc dâng hoa) hình chữ á (lúc dâng đăng), hình chữ thuỷ (lúc dâng trà), hình chữ vạn (lúc dâng quả) và hình chữ điền (lúc dâng thực). Mỗi phần có một khúc nhạc khác nhau, lời Hán Việt, toàn bộ mang âm hưởng điệu tán trong âm nhạc Phật giáo : tán hoa đăng, tán hương phù, tán hoa quả, tán trí đăng, tán phật điện, tán khế thủ, khúc nào cũng bắt đầu bằng một câu khởi xướng và vũ sinh vừa múa vừa hát. Vì là dâng cúng Phật, cách hát phải ngân nga, trầm bổng, điệu múa phải dịu dàng, khoan thai. Sau nầy, có khi các vị tăng không múa mà lại cho bốn hoặc tám em nhỏ hoá trang làm Kim Đồng – Ngọc Nữ múa thay. Các em này đầu đội mũ trang kim, mặc áo màu, chân có bít tất trắng, chỗ trên hai khuỷu tay có vắt một mảnh lụa màu vàng lạt. Ứng với sáu lần múa có sáu khúc hát, điệu hát ngân nga, du dương, trầm tĩnh. Dứt mỗi khúc hát, nhạc công gõ vào não bạt và đánh trống đỗ hồi.

Về trang phục, trên vai áo của các vũ sinh có năm tua vải, tương trưng cho ngũ hành : kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Họ mặc áo mã tiền, trong áo lót màu lục, xiêm trường, quần giáp, giải quần màu hồng, chàn quấn xà cạp, mang tất trắng, đầu đội mũ vàng tượng trưng cho nhụy sen. Ở Huế từ thời vua Minh Mạng trở về sau, đội múa có 16, 32, 48, hay 64 vũ sinh, đội mũ hoa sen, thắt dây kết bông, trong mặc áo lót màu lục, tay đính vỏ lừa, ngoài mặc áo mã tiên, xiêm dài, quần giáp, giải quần màu hồng, chân quấn xà cạp, bít tất trắng. Mỗi vũ sinh cầm trên hai tay cây đèn hình hoa sen biểu hiện sự thanh cao, tinh khiết và là cũng nơi đức Phật tọa thiền, vừa múa vừa hát. Đó là điểm độc đáo, đẹp mắt của điệu múa vì trong suốt thời gian biểu diễn những ngọn đèn luôn tỏa sáng lung linh gây ra một cảnh tượng huyền ảo. Ngoài ra, điệu múa còn được dàn dựng công phu, đầy tính sáng tạo, lắm khi khéo léo như trong tiết mục chồng người. Trong cảnh Cổ la liệt chẳng hạn, ba nam vũ sinh dàng hàng ngang gác tay lên vai nhau và dang tay ở hai đầu hàng ngang ; người đứng giữa làm trụ cõng người thứ tư lên vai, hai người thứ năm và thứ sáu ngồi trên những cánh tay gác lên vai của những người đứng dưới. Trong cảnh Cổ giá hoàng, người thứ tư đứng thẳng trên vai người đứng giữa làm trụ. Còn trong cảnh Cổ tướng hào, ba người đứng thành hàng ngang và ba người khác đứng trên vai ba người nầy…

.

Lục cúng là một đàn trong bộ ba của nghi thức Chạy đàn : Lục cúng – Khai tịch – Bạt độ. Môi trường diễn xướng của Lục cúng hoa đăng trong Phật giáo và trong cung đình có sự khác nhau. Trong khi Lục cúng ở cung đình thường chỉ được trình diễn trong các ngày lễ Thánh thọ (sinh nhật Hoàng Thái Hậu), Tiên thọ (sinh nhật Hoàng Thái Phi), Vạn thọ (sinh nhật vua), Thiên Xuân (sinh nhật Hoàng Thái Tử)….và lễ Cúng Mụ, thì trong Phật giáo vũ khúc này chỉ được trình diễn trong những hoàn cảnh đặc biệt như lễ Lạc thành, An vị hay Lễ hội, Vía Phật nếu có tổ chức Giải oan Bạt độ, Trai đàn Chẩn tế. Khai tịch – Bạt độ được diễn trong đêm tổ chức đàn Bạt độ với ý nghĩa nguyện cầu cho những người đã khuất giải thoát oan khiên. Lục cúng được diễn trong đêm có tổ chức đàn Chẩn tế với ý nghĩa hoàn mỹ, vui mừng, chúc mọi người còn sống được thái bình, hạnh phúc, an lạc. Khi Lục cúng đang còn thịnh hành cách đây mấy chục năm, thường chỉ 10, 12 hoặc 20 vị tăng trình diễn ở các đàn tràng, hoá trang làm chư tiên. Đại để cách phục sức ở nhà chùa cũng giống như trong nhã nhạc cung đình đã duy trì. Nhưng áo mã tiên được mặc kèm xà phu mặc rồng (xà cạp chỉ được mang kèm với áo bá nạp biểu diễn trong đàn Khai tịch và Bạt độ). Mọi người đều cầm lam ba (đèn hoa sen), riêng hai vị thủ (hai người đứng trước có vai trò ra hiệu lệnh, dẫn đường) thì có khi cầm não bạt (xập xoã) bằng đồng để ra hiệu lệnh. Mọi người đều vừa múa vừa tán. Các động tác ký vạn thọ là động tác một chân bước lùi một bước, chân còn lại gập xuống, hai tay một cao một thấp đưa đèn lên trong tư thế chào. Động tác này thường kèm theo động tác xoay tròn cả người hai vòng ngược – xuôi. Thuật ngữ Lục cúng gọi là l àm bông (hai mặt phải trái), chạy đàn song lục (nghĩa là cặp sáu bởi vì ngày xưa 12 người trình diễn). Khi chia hai hàng thì mỗi hàng có sáu người, xếp song song với nhau cho nên gọi là song lục), đôn bình, nâng hoa v.v…có khi nhanh khi chậm nhưng đều rập ràng, uyển chuyển, hoa mỹ mang tính nghệ thuật cao.

Phụ hoạ theo các bài tán và các điệu múa, điệu vấn, điệu chạy, điệu nhảy là một dàn nhạc giao hưởng gồm có tang, mõ, trống, kèn, đàn, sênh, phách… Thời gian trình diễn thường vào ban đêm, kéo dài từ một đến hai tiếng đồng hồ. Địa điểm diễn xướng chính là nơi đã được thiết trí sẵn cho đàn Bạt độ, Chẩn tế Lục cúng là một loại hình nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc và vũ đạo. Nội dung cụ thể và sinh động của nó chỉ được truyền đạt trọn vẹn qua sự trình diễn sinh động trong một môi trường cụ thể, phù hợp. Lục cúng của nhã nhạc cung đình Huế hiện chỉ có sáu khúc hát : Đăng hoa, Hương phù, Hoa quả, Trí đăng, Phật điện, Khể thủ và Tam tự quy. Biểu trưng của sáu khúc hát là sáu lễ phẩm : hoa, hương, đăng, trà, quả, nhạc. Trong quá trình tiếp nhận có thêm bớt, về sau lại bổ sung thêm bài La liệt. So với Lục cúng của nhã nhạc cung đình Huế, Lục cúng trong Phật giáo vẫn còn bảo lưu được sự phong phú về hình thức, sự đa dạng về nội dung. Đặc biệt, chức năng, tính chất, môi trường diễn xướng và mục đích của nó vẫn còn giữ gìn trọn vẹn. Trong khi nhã nhạc cung đình Huế do môi trường diễn xướng không còn giữ nguyên như thời phong kiến cho nên Lục cúng của cung đình đã không còn bảo lưu được chức năng nghi lễ của nó.

Công việc phục hồi hiện tại cũng chỉ đạt đến 60%. Hơn nữa, do mục đích giới thiệu, du lịch là chủ yếu, vì vậy vũ khúc này chưa bao giờ được trình diễn có tính bài bản trọn vẹn. Trong khi ấy công việc phục hồi vũ khúc Lục cúng này trong Phật giáo mặc dầu đã đạt được những thành quả rõ ràng song vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn về nhân sự, tài chính, sự tập luyện bền bỉ. Hiện nay, múa cung đình đang được trình diễn thường xuyên tại nhà Duyệt thị đường trong Thành nội và Minh khiêm đường ở Khiêm lăng, để phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế. Trong các buổi trình diễn ở Paris, vũ sinh chỉ giới hạn lại số tối thiểu nhưng bản chất điệu múa vẫn được diễn tả trọn vẹn. Một sáng kiến tích cực cho chiếu lên phông sân khấu những hình ảnh xứ Huế làm tăng thêm ấn tượng những màn múa, nhắc nhở quê hương cho những ai đã từng đi qua đất nước Hương Bình. Dù biểu diễn với một phong cách mới, cận đại hơn, trong điệu Lục cúng hoa đăng cũng như trong các điệu múa khác tối đêm Hoa Sen, những nghệ sĩ trẻ, đẹp đã tỏ ra tha thiết với nghệ thuật múa nói chung, múa cung đình Huế nói riêng. Khi tìm về truyền thống dân tộc, bản sắc văn hóa cội nguồn, các nghệ nhân cũng như những nhà trách nhiệm đã đóng góp tích cực vào cuộc bảo tồn một di sản văn hóa trong kho tàng nghệ thuật Việt Nam và viết vào lịch sử nhạc múa nước nhà những trang sử quí giá.

ảnh chụp hai tối 14 và 15.02.2014 ở Nhà hát Châtelet và Trụ sở UNESCO tại Paris

Tài liệu tham khảo

– Lê Tấn Quỳnh, Một cánh của ra thế giới, Việt Báo 21.07.2007

– Việt Liên – L.Hạnh, Hôi sinh vũ khúc cung đình Huế, Đại Đoàn Kết 21.04.2008

– Huệ Thiện, Múa Lục cúng hoa đăng, một loại âm nhạc đặc sắc của Phật gìáo xứ Huế, 03.12.09. Nhiều đoạn trong bài nầy đã được trích dẫn.

– Trần Văn Khê, Giá trị của nhạc cung đình Huế, Tạp chí Sông Hương, 29.06.2009

– Trọng Bình, Múa cung đình Huế – Một giá trị nghệ thuật, Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình nhanhac.com.vn

【#9】Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư

1 PHÁP LỄ CÚNG DƯỜNG PHẬT DƯỢC SƯ MEDICINE BUDDHA PUJA TIBETAN PHONETICS ENGLISH VIETNAMESE TẠNG VĂN TẠNG ÂM ANH VIỆT hongnhu-archives

2 hongnhu-archives FREE BOOK NOT FOR SALE SÁCH ẤN TỐNG KHÔNG BÁN Version / Ấn bản {20/09/2017} Tùy nghi sử dụng với điều kiện giữ nguyên nội dung và không bán Prerequisites: Everyone can read and practice Điều kiện hành trì: Mọi người đều có thể đọc và hành trì Based on FPMT text, Vietnamese translation added by Hong Nhu Thubten Munsel for the occasion of Geshe Thubten Dawa s birthday, October Typo mistakes checked under the guidance of Lab Kyabgon Rinpoche the 15th. Hồng Như chuyển Việt ngữ (dựa trên văn bản của FPMT) nhân dịp Pháp lễ cúng dường Phật Dược Sư mừng thọ Hòa Thượng Geshe Thubten Dawa tháng 10, 2021 Mọi sai sót là của người dịch Mọi công đức xin hồi hướng vô thượng bồ đề.

3 NOTES REGARDING THIS PRACTICE Altar and Gompa Set-up: When performing this puja extensively, it is best to set out 108 sets of offering bowls. If this is not possible, then 8 sets will suffice. The offerings for this puja are set out in a unique fashion: Starting toward the back of the altar and working forward, one places a row of 8 argham, followed by a row of 8 padhyam, then 8 pushpe, and so on, rather than consecutive rows of all 8 offerings. Ideally, one should also ppare and offer 8 tormas made from the 3 white substances (milk,butter and yoghurt) and the 3 sweet substances (sugar, molasses, and honey) in the shape of tear drops. Other offerings of food, flowers, etc. are optional. It is recommended by Lama Zopa Rinpoche to also have on the altar, if possible, a repsentation of the Medicine Buddha mandala in a mandala house and above that, a copy of the Medicine Buddha Sutra wrapped in five-colored cloth. Ritual Implements: One should have both dorje and bell, but no damaru or inner offering. Practice Tips: Because this is a practice belonging to Kriya (Action) Tantra, it is best not to eat black foods the day one performs the puja. After the puja, one can eat whatever one wishes, but before doing the puja, avoid black foods. References: Extracted from a Compilation of the Rituals of Offerings to the Seven Tathāgathas called Yeshe ön gyäl, by Losang Chökyi Gyältsän.

4 4 Medicine Buddha Concise Puja GHI CHÚ VỀ PHÁP TU NÀY Pháp đàn và Bàn Thờ: Nếu muốn hành trì pháp lễ cúng dường này một cách rộng rãi, tốt nhất là bày biện 108 lần tám phẩm cúng dường. Nếu không làm được như vậy, bày 8 lần tám phẩm cũng đủ. Phẩm cúng dường ở đây cần xếp theo thứ tự đặc biệt: bắt đầu từ phía trong bàn thờ bày ra, đặt một hàng 8 lần phẩm argham, rồi một hàng 8 lần phẩm padhyam, rồi 8 phẩm pushpe, v.v… chứ không phải mỗi hàng có đủ 8 phẩm khác nhau. Cho thật đúng thì phải chuẩn bị tám phẩm bánh cúng torma làm bằng ba chất trắng (sữa, bơ và sữa chua) và ba chất ngọt (đường, mật đường (molasses), và mật ong) nắn hình giọt nước. Tùy ý cúng dường các phẩm hương hoa thực phẩm khác, không nhất thiết phải có. Lama Zopa Rinpoche khuyên nếu được hãy nên bày cung điện mạn đà la trên bàn thờ, bên trong đặt biểu tượng mạn đà la của đức Phật Dược Sư, bên trên đặt một bản kinh Dược Sư bọc trong vải năm màu. Pháp Khí: Cần chùy kim cang và chuông báu, nhưng không cần trống con (damaru), phẩm cúng nội tại. Lưu Ý: Vì pháp lễ này thuộc hệ Mật tông Kryia, tốt nhất ngày hành lễ nên tránh dùng hắc thực (tránh dùng món mặn và ngũ vị tân). Sau khi hoàn tất pháp lễ có thể ăn gì cũng được, nhưng trước pháp lễ nên tránh dùng hắc thực. Xuất Xứ: Trích Yeshe Ön Gyäl: Pháp Lễ Cúng Dường Bảy Đức Dược Sư Như Lai do đức Losang Chökyi Gyältsän biên soạn.

5 The Concise Essence Sutra Ritual of Bhagavan Medicine Buddha called The Wish-Fulfilling Jewel Composed by Panchen Losang Chökyi Gyältsen English translation: David Molk Vietnamese Translation: Hong Nhu Thubten Munsel Bản Ngắn Tinh Túy Lễ Kinh Phật Dược Sư mệnh danh Ngọc Như Ý Do đức Losang Chökyi Gyältsen biên soạn Tiếng Anh: David Molk Tiếng Việt: Hong Nhu Thubten Munsel

7 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 7 NAMO GURU MUNI INDRAYA GANG GI TSHÄN TSAM THÖ PÄI CHHU GYÜN GYI The river of merely hearing your names Chỉ cần nghe được / suối ngọt hồng danh, NAR ME ME YANG RAB SIL PÄ TSHO TAR Makes even Avīci s hell-fires as cool as a lotus pond. lửa ngục A Tì / thành hồ sen mát. GYUR DZÄ NYIG MÄI GÖN PO DE SHEG DÜN Protectors in degenerate times, seven sugatas Là bậc hộ trì / thời kỳ tối ám, / bảy đấng Như Lai SHA KYÄI TOG DANG CHÄ PÄI ZHAB TÜ NÄ And head of the Shākyas, to your feet I bow. đầu dòng họ Thích, / đệ tử chúng con / đê đầu đảnh lễ. CHHOG MÄN JA WÄ YENG SHING NAM CHÖ KYI Distracted by activities of varying importance, Việc làm lớn bé, / xao lãng trăm vạn, NYIG MÄI GYÄL WA DÜN GYI NAM THAR LA To benefit myself and those with faith in the life stories nên vì lợi mình, / và vì những ai MÖ PÄI LO DÄN DAG LANG PHÄN PÄI CHHIR Of these seven buddhas for degenerate times, tin nơi công hạnh / bảy Phật Dược Sư / trong thời tối ám

8 8 Medicine Buddha Concise Puja DO CHHOG DÜ TSII YANG ZHÜN NYING PO DRI I ll condense the Sutra Ritual s ambrosia to its molten essence. tôi xin tóm lược, / ghi lại tinh túy / cam lồ Lễ Kinh. Because of the infallibility of Ārya Buddha s proclamation that the Medicine Buddhas power and blessings are greater and swifter in degenerate times, we accept it. One who wishes to perform this quintessential ritual for invoking the heart commitment of the degenerate time s protectors, the seven sugatas, having already made pparations as described in the Sutra Ritual, fully infusing the mind with refuge and bodhichitta, should recite as follows: Vì lời tuyên thuyết không hư ngụy của đức Thánh Phật đã dạy rằng dũng lực và sức mạnh gia trì của đức Phật Dược Sư đặc biệt to lớn và chóng vánh trong thời kỳ suy đồi, vì vậy chúng con xin tin nhận. Hãy phát tâm hành trì pháp lễ tinh túy này để thỉnh cầu thệ nguyện sâu xa của Bảy Đức Như Lai hộ trì thời đại tối ám, bày biện đúng như Lễ Kinh hướng dẫn, phát tâm qui y và tâm bồ đề, rồi tụng niệm như sau:

9 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 9 Refuge and Bodhichitta Qui Y & Phát Tâm Bồ Đề CHHOG CHU DÜ SUM GYI DE ZHIN SHEG PA THAM CHÄ KYI Nature incorporating the entire body, speech, mind, Như lai của khắp / mười phương ba thời, KU SUNG THUG YÖN TÄN THRIN LÄ qualities and activity Thân Khẩu và Ý, / thiện đức, thiện hạnh, THAM CHÄ CHIG TU DÜ PÄI NGO WOR GYUR PA of all ten directions three times tathāgatas, đều qui làm một / ở nơi chân tánh, CHHÖ KYI PHUNG PO TONG THRAG GYÄ CHU TSA ZHII JUNG NÄ Source of eighty-four thousand collections of Dharmas, là cội nguồn của / tám vạn bốn ngàn / pháp môn chánh Pháp; PHAG PÄI GEN DÜN THAM CHÄ KYI NGA DAG Lord of all ārya Sangha là chủ tể của / hết thảy Thánh Tăng: DRIN CHÄN TSA WA DANG GYÜ PAR CHÄ PÄI I seek refuge in the kind root and Bổn sư từ hòa, / chư tổ truyền thừa

10 10 Medicine Buddha Concise Puja PÄL DÄN LA MA DAM PA NAM LA KYAB SU CHHI WO lineage glorious, holy gurus. và chư đạo sư / cát tường tôn quí, / con nguyện qui y; DZOG PÄI SANG GYÄ CHOM DÄN DÄ NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the completely enlightened lord Buddhas. chư Phật Thế Tôn / giác ngộ viên mãn, / con nguyện qui y; DAM PÄI CHHÖ NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the holy Dharma. chánh Pháp mầu nhiệm / con nguyện qui y; PHAG PÄI GEN DÜN NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the ārya Sangha. Tăng đoàn thánh chúng / con nguyện qui y; CHOM DÄN DÄ MÄN GYI LA DE WAR SHEG PA CHHE GYÄ KYI LHA TSHOG I seek refuge in the eight brothers gone to bliss, tám đấng Thiện thệ / Thế Tôn Dược Sư KHOR DANG CHÄ PA NAM LA KYAB SU CHHI WO The lord Medicine Buddhas with their retinue hosts of deities. cùng chúng tùy tùng, / con nguyện qui y.

11 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 11 PÄL GÖN DAM PA CHHÖ KYONG WÄI SUNG MA I seek refuge in the glorious, holy protectors, bậc có mắt tuệ, / hộ pháp, giữ pháp, / YE SHE KYI CHÄN DANG DÄN PA NAM LA KYAB SU CHHI WO (X3) Dharma Protector Guardians endowed with the wisdom eye. (x3) cát tường tối thắng, / con nguyện qui y. (x3) SANG GYÄ CHHÖ DANG TSHOG KYI CHHOG NAM LA In the Buddha, Dharma and Sangha Nơi Phật, nơi Pháp, / cùng Tăng tôn quí, JANG CHHUB BAR DU DAG NI KYAB SU CHHI I seek refuge until I am enlightened. cho đến bồ đề / xin về qui y. DAG GI JIN SOG GYI PÄI TSHOG NAM KYI By my merit from giving and other perfections nhờ công đức tu / hạnh thí, hạnh khác. DRO LA PHÄN CHHIR SANG GYÄ DRUB PAR SHOG (3X) May I attain buddhahood to benefit all sentient beings. (3x) nguyện vì chúng sinh / viên thành Phật đạo (x3)

12 12 Medicine Buddha Concise Puja The Four Immeasurables Tứ Vô Lượng Tâm DAG DANG NANG WA THAM CHÄ CHHÖ KYI All sentient beings who, although self and all appearances Khắp chúng hữu tình / tuy có ngã tướng, JING KYI RANG ZHIN YIN PA LA are dharmadhātu by nature, nhưng nơi tự tánh / đều là pháp tánh, DE TAR MA TOG PÄI SEM CHÄN THAM CHÄ DE WA DANG have not realized it thus, I shall endow with happiness and chỉ vì không biết, / nên tôi nguyện xin DE WÄI GYU DANG DÄN PAR JA the causes of happiness, chúng sinh được vui / cùng nhân tạo vui, DUG NGÄL DANG DUG NGÄL GYI GYU DANG DRÄL WAR JA Separate from suffering and the causes of suffering, thoát mọi khổ đau / cùng nhân tạo khổ, DUG NGÄL ME PÄI DE WA DANG MI DRÄL WAR JA Make them inseparable from happiness without suffering không bao giờ lìa / an lạc vắng khổ,

13 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 13 DE DUG GI GYU CHHAG DANG NYE RING NYI DANG And set in equanimity, the cause of well-being, thoát mọi tham sân / chấp có lạ-thân, DRÄL WÄI TANG NYOM LA NÄ PAR JA WO (X3) free from attachment, aversion, and partiality. (x3) trú tâm bình đẳng, / nhân của an lạc. (x3) Special Bodhichitta Tâm Bồ Đề Phi Thường MA SEM CHÄN THAM CHÄ KYI DÖN DU For the sake of all mother sentient beings, Vì lợi ích của / phụ mẫu đa sinh, DZOG PÄI SANG GYÄ KYI GO PHANG THOB PAR JA I shall attain complete buddhahood. tôi nguyện thành tựu / quả Phật viên mãn. DEI CHHIR DU CHOM DÄN DÄ MÄN GYI LA DE WAR SHEG PA For that purpose I shall practice the stages of the path such Hướng mục tiêu này, / nay tôi đối trước / Thế Tôn Dược sư, CHHE GYÄ KYI LHA TSHOG KHOR DANG CHÄ PA NAM LA as prostrating, offering and exhorting the solemn promises tám đấng Thiện Thệ / cùng chư tùy tùng,

14 14 Medicine Buddha Concise Puja CHHAG CHHÖ THUG DAM KÜL WA LA SOG PÄI LAM GYI Of the blessed Medicine Guru Buddhas, đảnh lễ, cúng dường, / cung thỉnh bản nguyện, RIM PA LA JUG PAR GYI WO (X3) the eight brothers gone to bliss, and their entourages. (x3) dấn thân bước vào / tuần tự đường tu. (x3) Purifying the Place Làm Sạch Cảnh Giới THAM CHÄ DU NI SA ZHI DAG May the surface of the Earth in every direction Nguyện mặt đất mọi nơi trong cõi thế SEG MA LA SOG ME PA DANG Be stainless and pure, without roughness or fault, được thanh tịnh, không đá sỏi gập ghềnh, LAG THIL TAR NYAM BAIDURYI As smooth as the palm of a child s soft hand như ngọc xanh biếc sáng trong, RANG ZHIN JAM POR NÄ GYUR CHIG And as natural polished as lapis lazuli. như lòng bàn tay phẳng mịn.

15 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 15 Offering Prayer Nguyện Dâng Cúng Phẩm LHA DANG MI YI CHHÖ PÄI DZÄ May the material offerings of gods and humans, Hết thảy phẩm vật / trong cõi trời, người, NGÖ SU SHAM DANG YI KYI TRÜL Both those set before me and those visualized, cụ thể bày ra, / hay trong ý tưởng, KÜN ZANG CHHÖ TRIN LA NA ME Like a cloud of peerless offerings of Samantabhadra, biển mây trùng điệp / cúng phẩm Phổ Hiền, NAM KHÄI KHAM KÜN KHYAB GYUR CHIG Pervade and encompass the vastness of space. nguyện dâng đầy khắp / không gian vô tận. Offering Cloud Mantra Mây Cúng Dường This mantra multiplies the offerings so that they become numberless. OM NAMO BHAGAVĀTE VAJRA SĀRA PRAMARDANE / TATHĀGATĀYA / ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA / TADYATHĀ / OM VAJRE VAJRE / MAHĀ VAJRE / MAHĀ TEJA VAJRE / MAHĀ VIDYA VAJRE / MAHĀ BODHICHITTA VAJRE / MAHĀBODHI MANDOPASAMKRAMANA VAJRE / SARVA KARMA ĀVARANA VISHO DHANA VAJRE SVĀHĀ (X3)

16 16 Medicine Buddha Concise Puja Extensive Power of Truth Năng Lực Sự Thật bản dài KÖN CHHOG SUM GYI DEN PA DANG By the force of the truth of the Three Jewels of Refuge, Nguyện nương năng lực / chân thật Tam Bảo, SANG GYÄ DANG JANG CHHUB SEM PA THAM CHÄ KYI JIN GYI LAB DANG By the firm inspiration from all buddhas and bodhisattvas, nương lực gia trì / của Phật, bồ tát, TSHOG NYI YONG SU DZOG PÄI NGA THANG CHHEN PO DANG By the power of the buddhas who have fully completed their collections of both good merit and insight, and nương lực tư lương / phước trí viên mãn, CHHÖ KYI YING NAM PAR DAG CHING SAM GYI MI KHYAB PÄI By the might of the dharmadhātu, inconceivable and pure, và nương Pháp tánh / thanh tịnh triệt để / ngoài tầm nghĩ bàn, TOB KYI DE ZHIN NYI DU GYUR CHIG May all of these offerings be hereby transformed into their actual nature of voidness. nguyện cúng phẩm này / đều thành tánh như. (In this way bless the surrounding and the articles of offering) (Nhờ đó làm sạch ngoại cảnh và làm sạch phẩm cúng dường)

17 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 17 CHHOG DEN GYÄL WA SÄ CHÄ JIN LAB DANG Through the power of the supme truth of the buddhas and bodhisattvas blessings, Nương lực gia trì / chân lý vô thượng / của Phật, bồ tát, TSHOG NYI NGA THANG CHHÖ YING DAG PÄI THÜ The might of the two collections, and the dharmadhātu s purity, Nương lực hai bồ / tư lương phước trí, / và nương năng lực / pháp tánh thanh tịnh, ZHING DIR DE WA CHÄN TAR NÖ CHÜ KYI May this realm s beings and environment be enriched nguyện cho cõi này, / ngoại cảnh, hữu tình / giàu như Cực Lạc, SI ZHII PHÜN TSHOG DÖ GÜ JOR GYUR CHIG With all samsāra and nirvana s desirable perfections like Sukhāvatī. luân hồi, niết bàn / có được đầy tràn / mọi điều ước mong. RIN CHHEN SA ZHI JÖN SHING CHHU TSHÖ GYÄN Jeweled ground, adorned with trees and with ponds, đất ngọc trang nghiêm, / cây với sông hồ, SER NGÜL MU TIG JE MA DRAM BUR DÄL Bottoms covered with gold, silver and pearl dust, bờ hồ cát vàng, / cát bạc, ngọc trai,

18 18 Medicine Buddha Concise Puja ME TOG CHÄL TRAM TSÄN DÄN DRI SUNG DEN Flowers strewn and sandalwood fragrance rising; hoa nở bạt ngàn, / trầm hương tỏa ngát, LHA MII LONG CHÖ KÜN ZANG CHHÖ PÄ KHYAB Human and pine enjoyments, Samantabhadra s offerings, everywhere. thọ dụng trời người, / cúng phẩm Phổ Hiền / trùng điệp khắp nơi. DER NI YI ONG NOR BÜI PHO DRANG Ü There, in a charming jeweled palace s center, Chính giữa cung điện / ngọc báu rạng ngời, PÄD MA SENG THRIR GYÄL WA SÄ CHÄ NAM On lotuses and lion thrones, buddhas and bodhisattvas abide. ngự trên đài sen / pháp tòa sư tử / là Phật, bồ tát. ZHUG NÄ ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜN PÄI May it be filled with oceans of offering clouds, biển mây cúng phẩm / sinh từ minh chú, / đại định, đại nguyện, CHHÖ TRIN GYA TSHÖ GANG ZHING CHÖ GYUR CHIG Born through the force of mantra, samādhi and aspiration, which they enjoy. nguyện dâng đầy khắp, / đẹp lòng các Ngài.

19 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 19 Invocation Cung Thỉnh NYIG MÄI GÖN PO TSE DÄN DE SHEG DÜN Degenerate times compassionate protectors: seven sugatas, Hết thảy các đấng / từ bi hộ trì / thời kỳ tối ám: / bảy vị Như Lai, THUB WANG DAM CHHÖ JANG SEM KA DÖ CHÄ Buddha Shākyamuni, holy Dharma, bodhisattvas and guardians, đức Phật Thích Ca, / diệu Pháp, bồ tát, / cùng chư hộ pháp, DAG SOG KYOB CHHIR GÖN KYAB PUNG NYEN DU To protect me and others, invited as support and protector refuge, xin hãy từ bi / làm chốn chở che, / nâng đỡ chúng con, CHÄN DREN DIR SHEG DÄN DZOM JIN LAB DZÖ May you come here, gather and grant your blessings. kính thỉnh chư vị / về đây an tọa, / ban lực gia trì. Prostrations Đảnh lễ KA DRIN NYAM ME TSA WÄI LA MA DANG Root Guru whose kindness is without equal, Bổn sư tôn kính / với lòng từ bi / không ai sánh bằng, SHAK YÄI GYÄL PO JAM YANG ZHI TSHO SOG King of the Shākyas, Mañjushrī, Shantarakshita and so on, vua dòng họ Thích, / Văn Thù Sư Lợi, / Thiện Hải Tịch Hộ…

20 20 Medicine Buddha Concise Puja ZAB MÖI DO DI CHHAG TSHÄN ZHE PA YI Holding in their hands this profound sutra, đều nắm trong tay / kinh thâm sâu này: NGÖ GYÜ LA MA NAM LA CHHAG TSHÄL LO To the direct and lineage gurus, I prostrate. Đối trước tất cả / tổ sư, đạo sư, / đệ tử đảnh lễ. NYAM THAG DRO NAM DRÖL WÄI THUG JE CHÄN To the compassionate ones who liberate destitute beings, Các đấng từ bi / độ thoát chúng sinh / trầm luân cảnh khổ: DE SHEG DÜN DANG THUB WANG DAM PÄI CHHÖ Seven sugatas, Buddha Shākyamuni and holy Dharma, bảy đức Như Lai, / đức Phật Mâu Ni 1, / cùng với diệu Pháp, JAM PÄL KYAB DRÖL SANG DAG TSHANG WANG DANG Mañjushrī, Kyab Dröl, Vajrapāni, Brahma and Ishvara, Mạn Thù, Kyab Drol, / Mật Sư 2, Phạm Thiên, GYÄL CHHEN NÖ JIN NAM LA CHHAG TSHÄL LO And the mahārajas and yakshas, I prostrate. đại vương Dạ xoa, / đệ tử đảnh lễ. 1 Đức Thích Ca Mâu Ni Phật 2 Đức Kim Cang Thủ

21 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 21 NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

22 22 Medicine Buddha Concise Puja Beseeching Thỉnh Cầu CHOM DÄN DÄN DZOM CHHEN PO GONG SU SÖL Great bhagavan assembly, pray listen! chư Phật Thế Tôn / xin hãy lắng nghe / lời khẩn nguyện này: DE SHEG DÜN GYI NGÖN GYI MÖN LAM DAG Seven sugatas, just as you promised, vào thời xa xưa / Thất Phật Như Lai / đã từng phát thệ SHĀK YÄI TÄN PA NGA GYÄI THA MA LA Your pvious prayers will be fulfilled rằng thời cuối cùng / của pháp Mâu Ni DRUB PAR GYUR WA ZHÄL GYI ZHE PA ZHIN During Shākyamuni s teachings final period. là lúc chư vị / bản nguyện viên thành: DAG LA DEN PA NGÖN SUM TÄN DU SÖL Pray, show me in actuality it is true! Kính xin chư vị / cho chúng con thấy / thật đúng như vậy.

23 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 23 Prayers to the Inpidual Medicine Buddhas Thỉnh từng đức Phật Dược Sư 1 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ TSHÄN LEG PAR YONG DRAG PÄL GYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (7X) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha King of Renowned Glory of Excellent Signs (Suparikirtitanamasriraja), I prostrate, offer and go for refuge (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately.1 Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương Phật. (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

24 24 Medicine Buddha Concise Puja SER GYI DOG CHÄN KYAB JIN CHHAG GYA CHÄN Golden in color, with mudra of granting refuge, Thân tỏa sắc vàng / kết ấn tam bảo, MÖN LAM GYÄ DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI Having accomplished eight prayers, majestic with two accumulations glory, thành tựu tám nguyện / trang nghiêm nhị lương, ZHÄN GYI MI THUB ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Unconquered by Others; là đấng Cát tường / ở nơi cõi Phật / Không-Ai-Thắng-Nổi: TSHÄN LEG YONG DRÄ PÄL LA CHHAG TSHÄL LO To Renowned Glory of Excellent Signs, I prostrate. đức Thiện Danh Xưng / Cát Tường Vương Phật / chúng con đảnh lễ. TSHÄN GYI ME TOG GYÄ SHING DAG PA LA In flowers of the major marks flourishing and pure, Tướng hảo Phật đà / trổ hoa thanh tịnh, PE JÄ ZANG PÖI DRU CHHA DZE PÄI KU Anthers of minor signs, such beautiful body, nụ phấn tướng phụ / thân đẹp vô cùng.

25 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 25 GANG GI THONG THÖ DRÄN PÄI PÄL GYUR PA One who sees, hears or thinks of you is glorified; chỉ thấy, nghe, nhớ, / là được cát tường: TSHÄN LEG YONG DRAG PÄL LA CHHAG TSHÄL LO To Renowned Glory of Excellent Signs, I prostrate. đức Thiện Danh Xưng / Cát Tường Vương Phật / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp / phá giới phạm giới, GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

26 26 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, Nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG May all sentient beings such as ourselves nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, NÄ RIM SHE JE DIG CHÄN DÖN LÄ THAR Be freed from epidemics, execution, criminals and spirits, thoát khổ tật dịch / hành hình, bắt bớ, / tà ma ám chướng, WANG PO KÜN TSHANG DUG NGÄL DIG GYÜN CHHÄ Have faculties fully complete, suffering and negativities continuum cut, đầy đủ giác quan / đoạn dòng luân chuyển / khổ đau ác nghiệp, NGÄN DROR MI TUNG LHA MII DE WA NYONG experience the happiness of humans and gods. không sa ác đạo / hưởng lạc trời-người, TRE KOM BÜL PHONG ZHI ZHING JOR GYUR CHIG With hunger, thirst and poverty pacified, may there be wealth. sạch cảnh đói khát, / khổ đau bần hàn, / dồi dào tài sản,

27 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 27 CHING DANG DEG SOG LÜ KYI DUNG WA ME Without torments of body such as bindings and beatings, thân sạch cảnh khổ / không bị trói, đánh, TAG SENG THRÜL GYI TSHE DRÄL THAB TSÖ ZHI Without harm of tigers, lions and snakes, conflict pacified, hùm beo sư tử, / rắn độc, tranh chấp / đều được tịnh yên. JAM PÄI SEM DÄN CHHU YI TRAG NAM KYANG Endowed with loving minds and relieved from fear of flood as well, Với tâm từ bi / thoát sợ nước lũ, BUG CHHIN JIG ME DE WAR GYÄL GYUR CHIG may we pass to fearless bliss. nguyện vào cảnh giới / an lạc vô úy. DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau ZHING DER PÄD MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ,

28 28 Medicine Buddha Concise Puja TSHÄN LEG YONG DRAG LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as Renowned Glory of Excellent Signs, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Thiện Danh Xưng Phật KÄ LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

29 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 29 2 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ RIN PO CHHE DANG DA WA DANG PÄD MÄ RAB TU GYÄN PA KHÄ PA ZI JI DRA YANG KYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (X7) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha King of Melodious Sound, Brilliant Radiance of Ability, Adorned with Jewels, Moon and Lotus (Svaragosaraja), I prostrate, offer and go for refuge. (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Phật (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

30 30 Medicine Buddha Concise Puja KU DOG SER PO CHHOG JIN CHHAG GYA CHÄN Color yellow, with mudra of granting the supme, Thân tỏa sắc vàng / kết ấn thí nguyện, MÖN LAM GYÄ DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI Having accomplished eight prayers, majestic with two accumulations glory, thành tựu tám nguyện / trang nghiêm nhị lương, RIN CHHEN DÄN PÄI ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Endowed With Jewels; là đấng Cát tường / cõi Phật Ngọc-Báu, RIN CHHEN DA WÄI ZHAB LA CHHAG TSHÄL LO To Jewel Moonlight s feet, I prostrate. đê đầu gót chân / đức Phật Bảo Nguyệt / chúng con đảnh lễ. RIN CHHEN DA DANG PÄDMÄ RAB GYÄN CHING Well adorned with jeweled moon and lotus, Sen nguyệt trân bảo, / trang nghiêm rạng ngời, SHE JA KÜN LA KHÄ SHING KHYEN PA GYÄ Wisdom expanded in mastery of all knowable objects, trí giác thông tuệ / thấu rõ vạn pháp,

31 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 31 GYA TSHO TA BUR ZAB PÄI THUG NGA WA Endowed with mind as deep as the ocean; ý sâu thăm thẳm / như lòng đại dương, DRA YANG GYÄL PÖI ZHAB LA CHHAG TSHÄL LO To King of Melody s feet, I prostrate. đê đầu gót chân / Âm Tự Tại Vương / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

32 32 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm, / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, / DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG For all sentient beings such as ourselves, nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, YENG NAM CHHÖ PHEL LHA MII TSHOG CHHÄ JOR may the distracted flourish in the Dharma, kẻ xao lãng này / được đầy chánh pháp, TSA WÄI DUNG DRÄL TAG TU KYE PAR GYUR Have wealth and goods of humans and gods, without torment of conception, be always born strong, dồi dào tài sản / trong cõi trời-người, / thoát khổ thọ sinh / luôn được mạng cao, JANG CHHUB SEM DANG MI THRÄL GE CHHÖ GYÄ Never be separated from bodhichitta, increase in virtuous Dharma, và không bao giờ / lìa bồ đề tâm, / thiện pháp tăng trưởng,

33 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 33 DRIB JANG LHA MII DE WA THOB GYUR CHIG Purify obscurations and attain the happiness of humans and gods. May we be freed of separation from the sạch hết điều ác, / được sự an vui / cõi trời, cõi người, / SHE DRÄL MÜN BAR DÖN TSE CHHI DANG DRA spiritual guide, From dark ages, spirit harm, death and enemies, and from the dangers of isolated places thoát hết tất cả / cảnh lìa đạo sư, / cảnh thời dữ dội, / tà ám, chết, thù, / hung hiểm biên địa. GÖN PÄI NÖ ME CHHÖ DANG RIM DROR TSÖN May we have enthusiasm for making offerings and performing ritual services. nguyện luôn hoan hỉ / cúng dường, phụng sự, MÄN NAM TING DZIN DRÄN TOB ZUNG DÄN CHING May lesser beings have samādhi, mindfulness, strength, the dharani of non-forgetfulness, nguyện kẻ thấp kém / đạt định, niệm, lực, / được đà la ni / của pháp tổng trì, SHE RAB CHHOG THOB ME NYEN SIL GYUR CHIG attain supme wisdom, and may tormenting fires be cooled. đạt tuệ vô thượng, / dịu cơn lửa bỏng.

34 34 Medicine Buddha Concise Puja DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau, ZHING DER PÄ MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ, DRA YANG GYÄL PO LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as King of Melody, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Âm Tự Tại Vương, KA LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

35 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 35 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ MÄN GYI LA BAI DUR YEI Ö KYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (7X) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha Medicine Guru, King of Lapis Light (Bhaisajyaguru), I prostrate, offer and go for refuge. (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật(x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

56 56 Medicine Buddha Concise Puja KU DOG NGÖN PO CHHOG JIN CHHAG GYA CHÄN Color blue, with mudra of granting the supme, Having accomplished Thân sắc xanh dương, / kết ấn thí nguyện, CHU NYI MÖN DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI twelve prayers, majestic with two accumulations glory, đạt mười hai nguyện, / trang nghiêm nhị lương. BAIDURYA NANG ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Lapis Light; là đấng cát tường / cõi Lưu-Ly-Quang: MÄN PÄI GYÄL PO DE LA CHHAG TSHÄL LO To that King of Doctors, I prostrate. đức Dược Sư Vương, / chúng con đảnh lễ. THUG JE KÜN LA NYOM PÄI CHOM DÄN DÄ Bhagavan with equal compassion for all, Là đấng Thế Tôn / với lòng đại bi / dành cho tất cả / đồng đều như nhau. TSHÄN TSAM THÖ PÄ NGÄN DRÖI DUG NGÄL SEL Whose name, when merely heard, dispels lower realms suffering, chỉ cần nghe được / hồng danh của ngài / là tiêu tan hết / khổ đau ác đạo,

57 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 57 DUG SUM NÄ SEL SANG GYÄ MÄN GYI LA Dispeller of disease and the three poisons; tiêu tan tất cả / bệnh dữ, tam độc: / kính đức Dược Sư BAIDURYA YI Ö LA CHHAG TSHÄL LO To Buddha Medicine Guru Lapis Light, I prostrate. Lưu Ly Quang Phật / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

58 58 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, Nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, / DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG May each and every sentient being such as ourselves nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, TSHÄN PE DZE SHING DRO KÜN DAG DRAR GYUR All become, like you, graced with the marks and signs, đều được trở thành / giống y như Ngài, / đầy đủ tất cả / tướng hảo chánh phụ. Ö KYI MÜN SEL SHE RAB THAB KHÄ KYI May light dispelling darkness, the enjoyment of wisdom and skillful means be inexhaustible. Nguyện cho ánh sáng / quét sạch bóng đêm, / trí tuệ phương tiện, / không bao giờ cạn. / LONG CHÖ MI ZÄ LAM LOG MÄN MÖ NAM May those attracted to mistaken and lesser paths Nguyện kẻ lầm đường, / lạc vào lối nhỏ,

59 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 59 THEG CHHEN LAM ZHUG DOM PÄ DZE GYUR CHIG Enter Mahāyana paths, and all be beautified by their vows. Được Đại thừa đạo, / trang nghiêm giới thệ. TSHÜL CHHÄL DUNG DRÄL WANG PO KÜN TSHANG ZHING May we be free from pain caused by immorality, complete in faculties, Nguyện cho chúng con / thoát khổ đọa giới, / đầy đủ giác quan, NÄ ME YO JÄ PHEL ZHING BÜ ME KYI without disease and have abundant goods. không bệnh, và được / sống đời phồn vinh. NGÖ PÖ KYO NAM TAG TU KYE WANG DÄN May those disillusioned with weaker conditions always have powerful faculties, Nguyện kẻ mõi mòn / luôn khởi sức mạnh. DÜ ZHAG TA WA NGÄN LÄ DRÖL GYUR CHIG And may we be freed from Mara s noose and perverse viewpoints. nguyện thoát ác kiến, / thòng lọng ma vương. / GYÄL PÖ NAR NAM DE ZHING TRE PÄI GYÜ May those tormented by kings gain bliss, and those who, out of hunger, ai vì lệnh vua / phải chịu khổ ải, / nguyện được an vui.

60 60 Medicine Buddha Concise Puja DIG PÄ TSHO NAM CHHÖ JOR ZÄ KYI TSHIM support themselves through negativity Be satisfied with food received in accordance with the Dharma. ai vì đói kém / phải làm việc ác, / nguyện nhờ Pháp thực / mà được no đủ. TSHA DRANG NGÄL ZHI SAM PA YONG DZOG SHING May hardships of heat and cold be pacified, all good wishes be fulfilled, Nguyện khổ nóng, lạnh / đều được tịnh yên; / mọi ước nguyện lành / đều thành sự thật. PHAG PA GYE PÄI TSHÜL DÄN DRÖL GYUR CHIG And, endowed with morality that pleases the āryas, may we be liberated. giữ giới trang nghiêm / đẹp lòng thánh giả, / nguyện cho chúng con / mau chóng giải thoát. DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau, ZHING DER PÄ MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ,

61 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 61 MÄN PÄI GYÄL PO LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as King of Doctors, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Dược Sư Vương Phật KA LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

62 62 Medicine Buddha Concise Puja [8] CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ PÄL GYÄL WA SHĀ KYA THUB PA LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (X7) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha Glorious Conqueror Shākyamuni, I prostrate, offer and go for refuge. (x7) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Tối Thắng Cát Tường Thích Ca Mâu Ni Phật (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

【#10】Người Việt Với Những Lưu Ý Để Cúng Rằm Tháng Giêng Sao Cho Đúng Thuần Phong Mỹ Tục

Tết Nguyên Tiêu có nghĩa là đêm rằm đầu tiên của năm mới. “Nguyên” là thứ nhất, “tiêu” là đêm. Tết Nguyên Tiêu còn gọi là Tết Thượng Nguyên, bởi còn có Tết Trung Nguyên (rằm tháng Bảy) và Tết Hạ Nguyên (rằm tháng mười). Trước đây, lễ rằm tháng Giêng còn thường gọi là Tết muộn bởi những gia đình khá giả tiếp tục ăn Tết và chơi mai, đào nở muộn; những người đi làm ăn xa ở lại qua ngày rằm tháng Giêng mới lên đường; những người không may đau yếu vào đúng dịp Tết, sau Tết đã khoẻ mạnh trở lại hoặc nhiều gia đình tang ma có người chết vào dịp Tết Nguyên Đán, được ăn Tết bù…

Đêm ngày rằm tháng Giêng âm lịch cũng gọi là Tết Hoa Đăng. Do đó những nơi có người Hoa sinh sống lễ đón rằm tháng Giêng thường treo đèn kết hoa, mọi người ra ngắm cảnh hoa đăng, đố câu đối…

Về cội nguồn của Tết Nguyên Tiêu, dân gian có nhiều giải thích. Nhiều tài liệu viết phong tục này bắt nguồn từ thời Tây Hán ở Trung Quốc với lễ hội rước đèn lồng long trọng.

Ngày nay, Rằm tháng Giêng là một trong những ngày lễ rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt. Vào ngày này, mọi người thường đi lễ chùa, cầu mong an lành cho bản thân và gia đình. Việc cúng rằm tại nhà cũng hết sức được chú trọng. Tuy nhiên, nghi lễ này thực hiện sao cho đúng, cho chuẩn thì không phải ai cũng biết.

Bánh trôi được nhiều gia đình dâng cúng Rằm tháng Giêng để mong mọi việc trôi chảy, hạnh phúc tròn đầy Chuẩn bị lễ cúng Rằm tháng giêng

Trả lời báo Gia đình & Xã hội, Thượng tọa Thích Thanh Duệ cho biết Rằm tháng Giêng các gia đình thường sắm 2 lễ: Lễ cúng Phật và lễ cúng gia tiên.

Lễ cúng Phật là mâm lễ chay tinh khiết cùng hương hoa đèn nến. Lễ cúng gia tiên có hương hoa, đèn nến, trầu cau, một ít vàng mã, rượu.

Tùy theo tín ngưỡng và ngành nghề, có nhà lễ bái chư Phật, có nhà cúng thổ công, thần tài… nhưng luôn có cúng gia tiên, bày tỏ lòng hiếu kính với ông bà, cha mẹ, tạ ơn trên đã phù hộ cho con cháu an lành, làm ăn khá giả.

Rằm tháng Giêng nhà nào theo đạo Phật cúng chay và ăn chay. Lễ vật dâng cúng thường dùng rau quả, trầu cau, chè xôi, các món đậu, canh xào… chay, tránh chế biến thức ăn chay hình dạng tôm kho, thịt nướng… vì cho rằng thế là cái tâm vẫn còn hướng về mặn.

Gia chủ là Phật tử thì có thể ngồi trước bàn thờ Phật tụng một thời kinh Phổ Môn, hoặc kinh Dược Sư để cầu bình an cho gia đạo. Nếu không tụng kinh được thì có thể dâng hương và tụng đọc bài lễ bái Tam Bảo.

Nhà không theo đạo Phật thì Rằm tháng Giêng cúng chè xôi và cúng mặn (không thịnh soạn như Tết Nguyên đán).

Ngày nay nhiều người dân cúng Rằm tháng Giêng có món bánh trôi nước, với ý nghĩa cầu mong mọi việc quanh năm được hanh thông, trôi chảy, hạnh phúc tròn đầy…

Nội dung bài văn khấn cũng không cần quá phức tạp. Gia chủ có thể tham khảo mẫu văn như sau: Kính lạy Thần linh Thổ địa, Gia tiên họ …., bà cô ông mãnh, chư vị tiên linh. Hôm nay là ngày rằm tháng Giêng, năm Ất Mùi. Chúng con là…, ngụ tại… Chúng con thành tâm, bày biện hương hoa, nghi lễ cung trần, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh. Kính xin phù hộ độ trì, con cháu mạnh khỏe, gia đạo bình an, sở cầu như ý.

Nguồn: http://baoduhoc.vn/bai-viet/60232/cung-ram-thang-gieng-nhu-the-nao-cho-dung.html