【#1】Bàn Thờ Phật Bà Quan Âm Treo Tường Nên Bài Trí Thế Nào Là Tốt Nhất

Bàn thờ Phật Bà Quan Âm treo tường từ lâu đã là một phần không thể thiếu của những gia đình theo theo đạo phật. Những mẫu bàn thờ Quan Âm Bồ Tát phù hợp với những ngôi nhà có không gian nội thất phòng thờ không quá rộng.

Để có thể tìm hiểu kĩ hơn về bàn thờ Quan Âm mời bạn cùng tìm hiểu qua bài chia sẻ từ chuyên của chúng tôi sau đây.

Bàn thờ Phật Bà Quan Âm treo tường là gì?

Phật bà quan âm (Bồ Tát) là vị thần độ trì cứu khổ cứu nạn chúng sinh thoát khỏi sự khổ ải bi cực.

Bàn thờ Phật Bà Quan Âm treo tường là một trong những mẫu bàn thờ phật được lắp ở trên cao trong không gian nội thất của mỗi ngôi nhà.

Mẫu bàn thờ Quan Âm treo tường có thể được thiết kế những loại gỗ khác nhau. Trong đó phổ biến nhất có thể nhắc đến là gỗ Gụ, Hương ,Sồi, Mít.

Bởi đây là những loại gỗ có chất lượng gần như là tốt nhất, không những vậy những mẫu bàn thờ loại này còn vô cùng hợp phong thủy.

Điều này sẽ giúp cho con đường tài vận của gia đình trở nên vô cùng tốt sau này.

Không chỉ những gia chủ có không gian nội thất hạn chế mà hiện nay những chủ nhà có không gian rộng cũng thường xuyên lựa chọn bàn thờ Quan Âm Bồ Tát treo tường.

Do hiện nay việc thờ vật nói chung và Quan Âm nói riêng thương không tốn quá nhiều không gian nên việc lựa chọn bàn thờ treo tường là điều phù hợp.

Bàn thờ Phật Bà Quan Âm treo tường đẹp

Đức Quan Âm Bồ Tát với sự bao dung và tình thương bao la luôn luôn mong muốn và phù hộ cho tất cả chúng sinh có được sự bình yên và an lành.

Người cứu khổ cứu nạn, phù hộ độ trì cứu vớt những con người đang trong cơn bị cực, tội lỗi, ốm đau làm bớt đi muôn phần đau khổ của chúng sinh. Những gia chủ được ngài độ trì sẽ tránh được những điều ô uế, trần tục của thế gian.

Mặc dù vậy để có thể gặp được những điều tốt lành thì những thành viên trong gia đình và gia chủ cũng cần phải làm nhiều việc tốt. Bởi dù có vị thần hay bồ tát nào phù hộ đi nữa thì chúng sinh cũng không thể thoát được luật nhân quả.

Hướng đặt bàn thờ Quan Âm đúng

Khi đặt bàn thờ Phật Bà Quan Âm treo tường trong nhà sẽ mang lại rất nhiều điều có ích cho gia chủ.

Bởi đã từ lâu việc thờ Phật Bà Quan Âm hay còn gọi là Quan Thế Âm Bồ Tát là một trong những tín ngưỡng và nét đẹp văn hóa vô cùng đáng quý của người dân Việt Nam chúng ta.

Hình tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát tay phải người cầm bông liễu và tay trái người cầm bình thanh tịnh để cứu độ chúng sinh là hình ảnh đẹp và thường thấy nhất trong tâm thức của những người theo phật.

Lúc thỉnh ban thờ Quan Âm Bồ Tát về nhà việc gia chủ xem hướng và chọn kích thước ban thờ hợp phong thủy là điều vô cùng quan trọng.

Bởi sẽ làm cho con đường tài vận của gia chủ trở nên tốt đẹp hơn trong tương lai, đồng thời có thể tránh được những điều xấu khi chưa có sự hiểu biết về phong thủy.

Cách đặt bàn thờ Phật Bà Quan Âm đúng là để vị trí của ban thờ vào những hướng thông thoáng. Tránh đặt vào những góc bí hoặc mặt bàn thờ vào góc tường như vậy sẽ không tốt.

Đặc biệt là tránh quay mặt vào phòng bếp, nhà vệ sinh và phòng ngủ vì đây là sự thiếu tôn kính đối với đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

Thông tin hữu ích về bàn thờ gia tiên sẽ có tại: https://www.banthohoaphat.com/ban-tho-gia-tien

Quan Âm Bồ Tát

Bàn thờ Quan Âm gồm những gì?

Việc thờ Phật Quan Âm đúng cách là điều vô cùng quan trọng đối với gia chủ.

Ban thờ Quan Âm không những phải có sự trang nghiêm mà còn cần cả sự thanh tịnh, yên tĩnh trong không gian phòng thờ.

Gia chủ cần bài trí ở chính giữa bàn thờ là tượng Quan Âm Bồ Tát, phía hai bên là đèn và nước, phía trước là nước tinh khiết và đồ chay.

Bên cạnh đó phía sau tượng quan âm chủ nhà cũng cần phải bài trí 2 bình hoa ở 2 bên kèm theo đó là một vài đĩa hoa quả ở phía trước.

Vào mỗi ngày rằm và mùng 1 gia chủ nên sắp xếp đồ lễ tùy tâm để dâng lên đức Quan Âm.

Mỗi sáng khi thức dậy phật tử cần gõ 3 tiếng chuông, thắp 3 nén nhang và đọc một bài kinh trước ban thờ phật bà quan âm.

Vào buổi tối trước khi đi ngủ gia chủ cũng cần thắp 1 nén hương trước ban thờ Bồ Tát.

Ngoài ra bất cứ ai cũng nên học bài chú đại bi để khi gặp khó khăn hay những điều bi cực bạn có thể nhẩm đọc để tâm thanh tịnh và bình yên hơn.

Kèm theo đó khi thỉnh bàn thờ phật bà Quan Âm treo tường gia chủ cũng cần lưu ý một số điều sau:

  • Những chén nước trên ban thờ phải thay thường xuyên bằng nước tinh khiết mỗi ngày một lần.

  • Lau sạch bàn bụi bẩn trên ban thờ hằng ngày.

  • Phải thờ phật ở những không gian thanh tịnh, trang nghiêm.

  • Nên để bàn thờ phật ngang với bàn thờ gia tiên.

  • Không được làm những điều ô uế trước ban thờ phật bà quan âm.

Bài trí bàn thờ Quan Âm đúng

Nên mua bàn thờ Phật Bà Quan Âm treo tường ở đâu tốt?

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều những mẫu bàn thờ Phật Bà Quan Âm. Nhưng không phải đơn vị nào cũng cung cấp những sản phẩm đẹp và tốt cho gia chủ.

Nội Thất Hòa Phát với hơn 20 năm kinh nghiệm thiết kế và lắp đặt nội thất phòng thờ tự hào vì đã mang đến sự hài lòng tuyệt đối dành cho khách hàng khi đến với chúng tôi.

Với châm ngôn “Hướng Về Chân Thiện Mỹ” chúng tôi luôn luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất đến với khách hàng và tất cả mọi người.

Những mẫu bàn thờ Quan Âm Bồ Tát treo tường được Nội Thất Hòa Phát thiết kế với kích thước hợp phong thủy sẽ đem đến sự thịnh vượng cho khách hàng.

Ngoài ra với chính sách tư vấn và lắp đặt miễn phí, bảo hành 10 năm với mọi loại sản phẩm.

Mẫu bàn thờ Phật Bà Quan Âm treo tường đẹp

Địa chỉ Showroom:

Showroom 1: Số nhà 20- Ngõ 22- Trung Kính- Trung Hòa- Cầu Giấy- Hà Nội.

Showroom 2: Số 6- Vũ Trọng Khánh- Mỗ Lao- Hà Đông- Hà Nội.

Showroom 3: Số 814- Đường Trường Chinh- Phường 15- Quận Tân Bình- TPHCM.

Hotline: 0901029666

【#2】Mẫu Bài Phát Biểu Khai Trương Cho Cửa Hàng, Spa, Quán Cà Phê

Khai trương được xem là một sự kiện quan trọng của bất kỳ đơn vị kinh doanh nào không chỉ đối với phương Đông mà cả phương Tây. Chính vì vậy, việc chuẩn bị kỹ lưỡng cho sự kiện khai trương không thể làm thiếu nghiêm túc. Một khâu quan trọng và không thể thiếu đó là chuẩn bị bài phát biểu trong ngày khai trương.

Bài phát biểu khai trương có ý nghĩa nhằm thông báo tới tất cả mọi người công việc kinh doanh sắp tới của cửa hàng. Thông báo với trời đất và thần linh nhằm cầu mong sự may mắn và thuận lợi.

Các phần của một bài phát biểu khai trương hoàn chỉnh

Thông thường các bài phát biểu khai trường dài hay ngắn cần đảm bảo đủ 3 phần sau: Mở đầu bắt đầu bằng lời chào và giới thiệu về buổi lễ, tiếp theo là phần giới thiệu sơ lược cửa hàng, những cam kết, kế hoạch trong tương lai; cuối cùng là câu kết, cảm ơn và kết thúc bài phát biểu.

Mở đầu bài phát biểu bắt đầu bằng lời chào và giới thiệu bản thân của chủ shop (người đại diện) tới khách tham dự. Kèm theo đó là lời cảm ơn chân thành tới quý khách hàng và bạn bè đã tham dự sự kiện khai trương của cửa hàng.

Ví dụ:

” Xin kính chào quý khách hàng, bạn hữu đã tham gia sự kiện khai trương ngày hôm nay của cửa hàng chúng tôi. Xin tự giới thiệu tôi là Nguyễn Văn A, chủ của cửa hàng/spa/quán XYZ. Trước tiên thay mặt cửa hàng tôi xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng và bạn hữu đã bỏ chút thời gian quý báu của mình tới tham dự ngày khai trương của chúng tôi”

2. Giới thiệu sơ lược về cửa hàng của bạn

Trong phần này, bạn kể sơ lược về quá trình bạn bắt đầu kinh doanh, các mặt hàng/dịch vụ bạn kinh doanh cũng như những cam kết dịch vụ và mục tiêu của cửa hàng trong thời gian tới..

Bạn nên chuẩn bị cho mình một câu chuyện của chính bạn về những cảm hứng để bạn bắt đầu công việc kinh doanh này. Đó có thể là những trăn trở về tạo ra những sản phẩm/dịch vụ chất lượng, mong muốn đóng góp những giá trị tới cộng đồng, xã hội của bạn.

Gắn liền câu chuyện của bạn với các mặt hàng/dịch vụ mà bạn kinh doanh, không chỉ cung cấp hàng chất lượng mà trong đó là những giá trị bạn muốn mang lại cho người khác.

Bạn không cần phải kể chi tiết về sản phẩm/dịch vụ của mình, điều đó sẽ khiến khách tham dự cảm thấy nhàm chán.

Hãy đưa ra những cam kết của cửa hàng bạn khi phục vụ khách hàng như thế nào. Nếu có đưa ra mục tiêu sắp tới hãy gắn liền mục tiêu của cửa hàng với giá trị mang lại cho khách hàng.

3. Cảm ơn lần nữa và kết thúc bài phát biểu

Kết thúc bài phát biểu hãy gửi lời cảm ơn lần tới khách tham dự, bạn có thể lồng ghép sự cảm ơn đó với chương trình ưu đãi đặc biệt của cửa hàng khi mua hàng trong ngày khai trương. Điều này sẽ giúp thúc đẩy bạn có những đơn hàng đầu tiên trong ngày khai trương của mình.

Một số lưu ý khi phát biểu tại ngày khai trương

  1. Kiểm tra các thiết bị có thể sử dụng khi phát biểu, tránh sự cố xảy ra
  2. Thời lượng phát biểu có thể từ 3-5 phút hoặc hơn một chút
  3. Giọng nói nên truyền cảm hứng, dễ đi vào lòng người nghe. Tránh nói lan man.

Trên là những chia sẻ của Iparty về cách tự viết một bài phát biểu trong ngày khai trương cửa hàng. Chúng tôi hi vọng nó sẽ giúp ích cho bạn để có một ngày khai trương suôn sẻ và thành công.

Mẫu bài phát biểu khai trương cửa hàng, spa, quán cà phê, cửa hàng quần áo (Sưu tầm)

【#3】Cúng Rằm Tháng 7. Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Bài Cúng Rằm Tháng 7

Nguồn gốc và ý nghĩa ngày Cúng rằm tháng 7.

Về sau, người ta thường gọi ngày Cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu, và được tổ chức vào ngày rằm tháng 7 âm lịch hằng năm. Về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành “tha tội cho tất cả những người chết”. Cho nên ngày nay mới có câu “Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”.

Tháng 7 âm lịch có hai lễ lớn là Lễ cúng cô hồn (Cúng rằm tháng 7) và Lễ Vu Lan

Đa phần mọi người thường hay nhầm lẫn Lễ Vu Lan và Cúng rằm tháng 7 là 1. Tuy nhiên trên thực tế mục đích của hai ngày lễ này là hoàn toàn khác nhau.

Lễ Vu Lan xuất phát từ sự tích Bồ tát Kiều Liên đại hiếu đã cứu mẹ mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Theo kinh Vu Lan, Mục Kiều Liên sau khi tu luyện thàn thông quảng đại, ông tưởng nhớ mẹ mình là bà Thanh Đề và muốn biết mẹ mình đang chịu tình cảnh thế nào. Ông dùng mắt phép tìm mẹ và thấy mẹ ông bị đày làm ngạ quỷ. Vì gây nhiều nghiệp ác nên phải xuống tận cõi quỷ. Ông đem cơm xuống tận ngã quỷ dâng cho mẹ. Mẹ ông vì chịu đói lâu ngày nên che cơm lại không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, cho nên khi cơm đến miệng đã hóa thành lửa đỏ.

Như vậy, về bản chất thì Cúng cô hồn và Lễ Vu Lan đều được gọi là rằm tháng 7 nhưng ý nghĩa của lễ cũng hoàn toàn khác nhau, nên sẽ có những cách làm lễ khác nhau mà mọi người cần chú ý.

Các bài khấn cúng rằm tháng 7

Cúng rằm tháng 7 hay còn gọi là cúng Tết Trung Nguyên. Vào ngày này có những nghi thức cúng như sau: Cúng Phật, Cúng Thần Linh, Cúng Gia Tiên, Cúng thí thực cô hồn và Cúng phóng sinh. Nhiều gia đình Việt thường cúng rằm tháng 7 vào buổi chiều tối ngày 14/7 hoặc 15/7 âm lịch. Người ta quan niệm, đây là thời gian các vong linh trở về địa ngục. Để tránh sự quấy rối của các vong linh hay cô hồn, mọi người cần phải “hối lộ” cho những vong linh đấy. Chúng ta cần nắm rõ để thực hiện chuẩn các nghi thức cúng theo đúng truyền thống văn hóa Việt Nam.

Cúng phật

Cúng và thụ lộc ngay tại nhà. Mọi người có thể chuẩn bị cơm chay hoặc đơn giản là mâm ngũ quả. Khi cúng, chúng ta sẽ đọc kinh Vu Lan.

Cúng thần linh và gia tiên

Lễ cúng này xuất phát từ quan niệm về công việc đồng áng của người nông dân trước kia. Hằng năm cứ đến tháng 6-7 âm lịch là vào đúng mùa vụ thu hoạch mùa màng. Người nông dân mong muốn những ngày này mọi việc trở nên trôi chảy, tránh sự quấy nhiễu của vong hồn, họ thường hay cầu xin thần linh, thổ địa bắt giam các yêu ma, oan hồn để tránh sự những nhiễu. Ngày 15/7, khi mọi thứ mùa vụ đã hoàn tất, người nông dân sẽ thường làm lễ cúng bái tạ ơn thần lịn và một mâm tưởng nhớ ông bà tổ tiên, cũng như cầu mong cho các cô hồn vong linh không nơi nương tựa được siêu thoát, mang lại bình yên cho mọi nhà. Mâm cơm thường là cúng chay hoặc cúng mặn tùy theo căn số của mỗi người.

Cúng thí thực cô hồn (Cúng chúng sinh)

Ngoài việc cúng Phật, cùng thần linh và gia tiên, còn một lễ nữa là cúng Cô hồn (còn gọi là cúng chúng sinh), cúng bố thí cho các cô hồn sa cơ lỡ vận không nơi nương tựa.

* Thời gian: Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).

* Sắm lễ:

  • Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh từ 20 đến 50 bộ.
  • Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc).
  • Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc.
  • Kẹo bánh. Tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).
  • Nếu cúng thêm cháo thì thêm mâm gạo muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)
  • Chú ý: Không cúng xôi, gà. Khi rải tiền vàng ra mâm, để 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hướng từ 3-5-7 cây hương. Bày lễ và cúng ngoài trời. Cúng cô hồn chỉ cúng đồ chay, không cúng đồ mặn vì sẽ khơi gợi tham, sân, si.
  • Cúng cô hồn phải đặt lễ cúng trước cửa nhà hoặc nơi đang buôn bán.
  • Kết thúc buổi cúng ngoài trời, gạo, muối được vãi ra sân, đường, sau đó là đốt vàng mã. Một số nơi có xảy ra tình trạng cướp cỗ cô hồn, đấy được xem là “cô hồn sống”. Nếu “cô hồn sống” cướp càng nhiều thì có nghĩa là gia đình đã mua chuộc được cô hồn không đến quấy phá.
  • Nên cúng buổi chiều, tối và không nên cúng sau 21 giờ thì các cô hồn mới dễ nhận được đồ cúng.
  • Cúng chúng sinh xong, đốt đồ mã ngay tại chỗ để các cô hồn nhận và đi ngay.
  • Nghiêm cấm không được giật lại đồ từ “cô hồn sống”, vì giật lại sẽ mang đến những điều vô cùng xui xẻo tai hại cho gia chủ.
  • Văn khấn cúng cô hồn rằm tháng 7

Cúng phóng sinh

Có thể phóng sinh chim, cá, tôm, cua v.v, tuyệt đối không phóng sinh rùa tai đỏ hoặc một số sinh vật ngoại lai vì hủy hoại môi trường. Việc phóng sinh này tùy theo tín tâm và điều kiện của mỗi gia đình phật tử, không bắt buộc.

Sau khi thực hiện đầy đủ các bài khấn và nghi thức cúng rằm tháng 7, chúc gia chủ và gia đình sẽ xua đuổi được tà ma, oan hồn vất vưởng, gặp nhiều điều may mắn trong cuộc sống và công việc làm ăn.

Bài tiếp theo: Tránh 30 điều đại kỵ này để được bình an trong tháng 7 cô hồn

【#4】Bài Cúng Thần Tài Thổ Địa Chuẩn Theo Phong Tục Người Việt

Theo thuyết ngũ hành tương sinh – thổ sinh kim tức đất sinh vàng bạc mà đến tận bây giờ Thần Tài và Thổ Địa vẫn luôn song hành với nhau ngay cả trong thờ cúng. Để hiểu rõ hơn về việc thờ cúng hai vị thần này cũng như để biết được bài cúng thần tài, thổ địa gồm những gì? Bài viết sau sẽ giúp chúng ta đi tìm câu trả lời.

1. Cúng Thần Tài, Thổ Địa có những ngày nào?

Từ lâu, việc thờ cúng Thần Tài, Thổ Địa được xem là tín ngưỡng văn hóa tâm linh mang ý nghĩa sâu sắc của người Việt. Theo quan niệm của người xưa, Thần Tài và Thần Thổ Địa là những vị thần đại diện cho 5 vị quan thần khác nhau.

Thần tài được biết đến với hình ảnh ông thần ăn vận trang phục chỉnh tề, trang nghiêm, đội một chiếc mão và trên tay cầm một thỏi vàng. Ông là hiện thân của sự may mắn, vinh hiền, phú quý, tài lộc và thịnh vượng. Thần tài đại diện cho 5 vị thần là Hắc Thần tài, Thanh Thần tài, Xích Thần tài, Bạch Thần tài và Hoàng Thần tài – vị thần chủ chốt trong các vị thần.

Thần Thổ Địa là người có dáng hình tròn trịa với chiếc bụng phệ, ngực để trần, trên đầu quấn khăn và tay cầm quạt với dáng vẻ rất an yên, bình thản. Là hiện thân của vị thần che chở, bảo vệ và giúp gia chủ cai quản nhà cửa.

Những ngày cúng Thần tài Thổ Địa

Thông thường, việc cúng thần tài, thổ địa sẽ làm vào mùng 1 và rằm hàng tháng như thờ tổ tiên và Thần Phật. Lễ cúng thần tài vào ngày mùng 1 được gọi là lễ Sóc. Lễ cúng thần tài vào chiều tối ngày rằm gọi là lễ Vọng. Ngoài ra, người ta còn lấy mùng 10 hàng tháng là ngày để cúng Thần tài. Trong đó ngày 10/1 AL là ngày đặc biệt nhất gọi là lễ vía thần tài. Không những thế, việc cúng Thần Tài Thổ địa còn được giới kinh doanh, buôn bán thực hiện hằng ngày nhằm mong cho một ngày buôn may bán đắt, công việc thuận lợi hanh thông.

Cứ vào ngày vía Thần tài hàng tháng, mọi người sẽ dâng lễ cúng thần tài, thổ địa để cảm tạ những điều may mắn, phước báu mà các vị thần đã mang đến. Đồng thời mong cầu trong tháng mới lại có thêm nhiều may mắn về tài lộc, công danh, sức khỏe…

Trong những năm trở lại đây, người Việt còn có tục lệ đi mua vàng trong ngày vía thần tài để mong rằng cả năm sẽ được may mắn, tài lộc dồi dào.

Thần Tài, Thổ Địa khác với các vị thần khác là họ dùng vừa mặn vừa chay. Với các ngày mùng 1, mùng 10 và 15 hàng tháng chúng ta nên làm mâm cúng Thần tài mặn. Đối với mâm cúng hằng ngày có thể thay bằng mâm ngũ quả hoặc có thể thay thế bằng bánh…

Mâm cúng mặn cúng thần tài

Theo người xưa, Thần tài có sở thích là ăn thịt luộc, tôm cua và chuối chín. Còn Thần Thổ địa là vi thần có sở thích hút thuốc lá, uống cà phê, heo quay, cá lóc. Do đó, mâm cỗ cúng thần tài, thổ địa thường lựa chọn những món này để bày tỏ lòng thành kính của gia chủ.

Theo đó, những lễ vật cho mâm cỗ cúng mặn Thần tài, Thổ địa gồm có:

Hương nhang.

1 bát Muối hạt sạch.

1 gói Thuốc lá.

Thịt heo luộc (thịt heo phải có cả mỡ, nạc, da), 3 quả trứng luộc, 3 con tôm ( có thể thay bằng cua)

1 bình Hoa tươi

Trầu cau (1 quả cau, 1 quả trầu)

Tiền vàng mã

Xôi đậu xanh.

Ngoài ra có thể có heo quay, cá lóc nướng…

Mâm ngũ quả cúng thần tài

Trái cây chính là sự kết tinh của thiên nhiên và trời đất. Do vậy ngoài những mâm cúng mặn, ngày thường chúng ta có thể sử dụng trái cây để làm lễ vật cúng thần tài, thổ địa.

Tuy nhiên, cần hiểu ý nghĩa của những loại trái cây theo góc nhìn phong thủy để lựa chọn những loại quả phù hợp. Điều này sẽ mang đến cho gia đình nhiều thuận lợi, may mắn hơn trong cuộc sống.

Theo đó, khi chọn ngũ quả các bạn cần tránh lựa chon những loại quả mang ý nghĩa xấu khiến tài lộc bị giảm đi. Ví dụ như:

– Trái cây giả vì nó sẽ không thể hiện hết tấm lòng thành kính của bạn đối với bề trên.

– Quả mọc sát đất vì có quan niệm cho rằng loại trái này thường dễ bị nhiễm ô uế từ phân bón, làm mất tính trang nghiêm khi thờ cúng.

– Quả có các hương vị đắng, cay, chát như: khổ qua, ớt…vì nó sẽ khiến người ta liên tưởng đến những thăng trầm, đắng cay trong cuộc sống.

– Loại trái cây có mùi hương nồng bởi khu vực thờ cúng là nơi thiêng liêng, cần phải giữ không gian thoáng đãng, sạch sẽ.

– Trái cây quá chín vì sẽ rất nhanh hỏng, thu hút côn trùng, ảnh hưởng đến không gian thờ cúng.

– Loại trái cây có gai sắc nhọn. Nó sẽ khiến các thành viên trong gia đình cảm thấy bất an, gây bất hòa, lục đục trong gia đạo…

Những loại trái cây nên chọn trong bài cúng Thần Tài Thổ Địa

Khi biết những lưu ý trên thì việc lựa chọn ngũ quả cúng sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Bài viết xin gợi ý cho ban 5 loại trái cây hợp tâm linh phong thủy mang ý nghĩa tài lộc, sức khỏe, tiền tài như:

Chuối là loại trái cây đầu tiên mà bạn không nên bỏ qua. Trong quan niệm của phong thủy thì chuối mang ý nghĩa của sự thu hút. Nếu đặt trên gian thờ sẽ mang ý nghĩa thu hút được nhiều tiền bạc và may mắn trong cuộc sống.

Quả Phật Thủ được biểu trưng cho bàn tay Phật. Đây hình ảnh cao quý với lòng vị tha, bao dung mang đến bình an, hạnh phúc cho con người

Quả đào là loại trái cây thể hiện cho sự bất tử, giàu sang và có tuổi thọ cao.

Quả nho là biểu tượng của sự đa dạng về nguồn thực phẩm. Chúng mang ý nghĩa phong thủy về vật chất. Ngoài ra còn thể hiện được sự thành công trong tương lai gần của gia chủ và các thành viên trong gia đình.

Quả lựu có nhiều hạt mọng nước, khi chín sẽ có màu sắc bắt mắt. Nó tượng trưng cho sự sinh sôi phát triển và thể hiện được sự xum xuê về lộc con cái.

Ngoài ra, các bạn có thể lựa chọn cam, quýt, bưởi, bòng, dứa, xoài, táo…

Bài cúng thần tài thổ địa chuẩn tâm linh

Việc cúng bái Thần Tài Thổ địa nhìn chung đều dựa trên lòng thành tâm của gia chủ. Tùy thuộc vào mong muốn và mục đích của mình, gia chủ có thể nguyện cầu những điều khác nhau. Do đó, mỗi gia đình sẽ có cách khấn, thắp hương khác nhau. Theo phong thủy học, bài cúng thần tài thổ địa chuẩn tâm linh được thể hiện như sau:

4. Cách cúng trong bài cúng thần tài thổ địa chuẩn

Việc thờ cúng là vấn đề linh thiêng nên cách cúng cũng cần hết sức lưu ý. Bàn thờ ông địa thần tài thường được đặt dưới đất sát mép tường và gần cửa ra vào. Vị trí này giúp nghênh tiếp tài lộc và phù hộ cho gia đình được an yên, gặp nhiều may mắn.

Khi thực hiện lễ cúng thần tài, thổ địa cần phải thực hiện trang nghiêm, cung kính. Gia chủ hoặc người khấn cầu cần ăn mặc lịch sự, chỉnh tề. Mâm cỗ cúng thần tài, thổ địa cần được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp với đầy đủ lễ vật. Ngoài ra, khi đọc bài cúng thần tài, thổ địa cần đọc rõ ràng, mạch lạc, dễ nghe.

Sau bài cúng thần tài thổ địa thì muối và gạo cúng phải giữ lại trong nhà cho có lộc. Rượu và nước khi đã cúng sau thì bạn phải đem tưới xung quanh nhà. Vàng thật thì nên cất giữ bên mình để lấy may. Tiền vàng mã đem đốt ở ngoài cổng để cầu xin Thần Tài Thổ địa gia hộ cho gia đình cả năm may mắn.

【#5】17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế

Đầy đủ 17 bài văn tế thập loại Cô Hồn dành cho chẩn tế âm linh cô hồn, chiến sĩ trận vong, đồng bảo tử nạn, chiêu hồn, giải oan bạt độ, cúng tế thí thực.

KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn I)

Trước cửa Phật lập đàn phổ thí,

Cho trọn đều quân lợi âm dương,

Quang minh tỏ khắp mười phương,

Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào.

Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp,

Bóng mây từ che rợp mọi nơi,

Lọt đâu dưới đất trên trời,

Từ bi tế độ muôn đời viên thông.

Trên đức Phật rất công rất chính,

Dạy cho đời luyện tính tu tâm,

Thương người đọa kiếp tối tăm,

Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.

Lòng từ mẫn mọi bề thương hết,

Nay gặp ngày Đản tiết nên quy,

Trước Đàn tề chỉnh oai nghi,

Tuyên dương để chứng quy y thực hành.

Hạnh giải thoát chúng sinh khổ não,

Cõi Ta bà sáu đạo loanh quanh,

Âm ty địa ngục đã đành,

Dương gian địa ngục nỗi tình thêm thương.

Nói không xiết trăm đường đày đọa,

Rồi mang tai trát họa vào thân,

Không sao khỏi nghiệp tham sân,

Ăn quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.

Nào những hạnh ranh ma quỉ quái,

Dối lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?

Bo bo giữ thói ở xằng,

Cái dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.

Nào những hạng lòng chim dạ thú,

Ghét ghen nhau làm đủ tội tình,

Khư khư quen thói chẳng lành,

Cái vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.

Nào những kẻ yếu đau què quặt,

Phận hẩm hiu trời bắt chịu đày,

Thật là khổ ách không may,

Nào ai có muốn thân này thế đâu!

Nào những kẻ âu sầu lòa lẫm,

Số cưu mang câm điếc phải đành,

Thực là khốn khổ thương tình,

Ý ai chẳng muốn thân mình phong quang?

Vì túc trái ngỡ ngàng sao đó,

Hoặc tiền nhân nghiệp thọ thế nào,

Thực lòng luống những lao đao,

Cửa từ bi nỡ để ngơ sao đành.

Thầy nay dạy thực hành chánh đạo.

Dòng Thiền học Phật giáo chủ trương,

Quang minh quảng đại vô lường,

Ba thừa giáo hóa mọi phương thi hành.

Giữ một mực chí thành tinh tiến,

Dập các duyên hư huyễn hão huyền,

Những môn tà đạo lưu truyền,

Nay quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.

Trước Đàn ngoại lễ nghi các thưùc,

Trên đài sen tỏ đức huyên minh,

Thầy đây lập nguyện chí thành,

Tuyên dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.

Hiện nay có chư Thiên hậu thổ,

Cửa từ bi tế độ không cùng,

Đạo tràng Thiền học lưu thông,

Tu hành chân thật thủy chung một lòng.

Đàn phổ thí phẩm vật nghi tiết,

Thầy dạy thêm cho biết công duyên,

Những người quỳ trước Phật tiền,

Đem câu nhân quả phổ truyền rộng ra.

Dặn hết thảy gần xa thiện tín,

Nên thành tâm phát nguyện quy y,

Nương nhờ Tam bảo hộ trì,

Ăn chay niệm Phật mà quy cho tròn.

Xem nhân thế càn khôn che chở,

Nhứt hoàn hương duyên nợ phong trần,

Hỡi ai kết quả tạo nhân,

Xem cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.

Muốn xét lại cho hay nghiệp trước,

Hiện thọ đây thấy được tỏ tường,

Muốn mong kiếp nữa vẻ vang,

Sự hành trì phải sửa sang tự giờ.

Nhân mấy quả trong cơ chuyển hóa,

Nhân có đầy thì quả mới nên,

Thầy nay chỉ dẫn căn nguyên,

Cõi dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.

Ơn đức Phật lời vàng khuyên nhủ,

Dạy chúng sinh tín thụ cho hay,

Phúc thời vui vẻ như đây,

Họa thời khổ não đọa đầy như trên.

Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ-tát Ma ha tát.

-Trích Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971

Ngạ quỷ đói

SÁM TRIỆU CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 2)

Hỡi linh hồn trước sau tề tựu,

Nghe lời khuyên để rũ tội mình,

Quan Âm Địa Tạng oai linh,

Thích Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.

Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất!

Noi tâm lành của Phật làm gương,

Diêm La cực khổ trăm đường,

Mau tu thì đặng Tây phương thâu về.

Hỡi linh hồn chết chìm đáy biển,

Và bao người độc dược bỏ thân!

Tiếng chuông tỉnh thức dần dần,

Đừng ham cõi tục trầm luân luân hồi.

Hỡi các hồn chết thiêu chết chém,

Hổ giảo thân bị yểm bị trù!

Kíp tìm kinh kệ sớm tu,

Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa,

Chết phong ba chết giữa núi non!

Nếu nghe chuông dục bon bon,

Mùi hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.

Hỡi hồn ơi! Vì tình chư Phật,

Ta khuyên hồn đất Phật là nơi,

Các hồn sẽ đặng thảnh thơi,

Hưởng mùi hương Phật suốt đời đặng an.

Hỡi hồn đã lỡ làng trót dại,

Theo đàng taø quỉ quái yêu tinh,

Nay đây khẩn nguyện chân kinh,

Khuyên hồn phải rán sửa mình cho tinh.

Hỡi hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,

Nương gió mây thừa thải từ xưa!

Hồn ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,

Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

Hỡi hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,

Ngài ra ơn gột khổ sanh linh.

Hỡi hồn bị bịnh bỏ mình,

Và hồn dậy phá chân kinh loạn trần.

Nghe ta kinh kệ giải phân,

Cầu cho hồn đặng muôn phần yên vui.

Hỡi hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,

Ta khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,

Mùi hương lư ngọc bổng trầm

Khéo tu hồn sẽ an tâm giữa trời.

Các hồn bị cá xơi, rắn cắn,

Cùng những hồn số vắn vô danh,

Hãy nghe kinh kệ ăn năn,

Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

Hỡi những hồn vì lời gièm xiểm,

Nên hủy mình chết lụn căm gan,

Sớm nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,

Phật kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

Nam mô độ hộ muôn hồn,

Vì hồn trót dại quáng mù từ xưa.

Kinh là phước, cầu đưa tội lỗi,

Tu là lành, sám hối ngàn năm.

Lạy cầu chư Phật từ tâm,

Khẩn van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.

Tiếng chuông ngân hương thơm giải thoát.

Nước nhành dương rảy mát xác phàm,

Hỡi hồn cư ngụ muôn am!

Về đây hưởng thực cầu van sửa mình.

Nam Mô Bộ Độ Đế Rị Già Rị Đa Rị Đát Đa Nga Đa Gia (3 lần)

-Trích Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974

-Bài dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.

SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA

(Thí thực cô hồn 3)

NGUYỄN DU

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

Toát hơi may lạnh ngắt xương khô;

Não người thay buổi chiều thu!

Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,

Đường bạch dương bóng chiều man mát,

Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

Lòng nào lòng chẳng thiết tha?

Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,

Xót khôn thiêng phảng phất u minh!

Thương thay thập loại chúng sinh,

Phách đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.

Hương khói đã không nơi nương tựa,

Phận mồ côi lần lữa đêm đêm;

Còn chi ai khá ai hèn,

Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu!

Tiết đầu thu dựng Đàn giải thoát,

Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.

Muôn nhờ Phật lực từ bi,

Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,

Chí những lăm cướp gánh non sông;

Nói chi đương thuở thị hùng,

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

Bỗng phút đâu mưa bay, ngói lở,

Khôn đem mình làm đứa sất phu;

Giàu sang càng nặng oán thù,

Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

Quỷ không đầu van khóc đêm mưa;

Đã hay thành bại là cơ,

Mà u hồn biết bao giờ cho tan!

Nào những kẻ màn loan, trướng huệ,

Nhưõng cậy mình cung quế Hằng nga;

Một phen thay đổi sơn hà

Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?

Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,

Phận đã đành trâm gãy bình rơi;

Khi sao đông đúc vui cười,

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

Thảm thiết nhẽ không hương, không khói,

Hồn ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;

Thương thay chân yếu tay mềm,

Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.

Nào những kẻ mũ cao áo rộng,

Ngòi bút son thác sống ở đây;

Kinh luân chất một túi đầy,

Đã đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh;

Nghìn vàng không đổi được mình,

Lầu ca, viện xướng, tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

Biết lấy ai bát nước nén nhang?

Cô hồn thất thểu dọc ngang,

Mạng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

Nào những kẻ bày binh bố trận,

Đem mình vào cướp ấn Nguyên nhung.

Gió mưa sấm sét đùng đùng,

Rải thây trăm họ, làm công một người.

Khi thất thế cung rơi, tên lạc,

Bãi sa trường, thịt nát máu rơi;

Bơ vơ góc biển chân trời,

Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

Khí âm huyền mờ mịt trước sau;

Ngàn cây nội cỏ rầu rầu,

Naøo đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,

Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn;

Ruột rà không kẻ chí thân,

Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

Của phù vân dù có như không;

Sống thời tiền chảy bạc ròng,

Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn thương gì hàng xóm,

Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm;

Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm,

Tàn hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp càu chữ quí,

Dấn mình vào thành thị lân la;

Mấy thu lìa cửa, lìa nhà,

Văn chương đã chắc đâu mà chí thân?

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng?

Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

Anh em thieân hạ láng giềng người dưng.

Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

Bãi tha ma kẻ dọc người ngang;

Cô hồn nhờ gởi tha hương,

Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,

Cánh buồm mây chạy xế gió đông;

Gặp cơn giông tố giữa dòng,

Đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán,

Đòn gánh tra chín dạn hai vai;

Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan;

Nước khe cơm vắt gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.

Buổi chiến trận mạng người như rác,

Phận đã đành đạn lạc tên rơi;

Lập lòe ngọn lửa ma chơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;

Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con tá biết mà cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não,

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa;

Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

Rồi tháng ngày hành khất ngược xuôi;

Thương thay cũng một kiếp người,

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc,

Gởi mình vào chiếu rách một manh;

Nấm xương chôn rấp góc thành,

Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha;

Lấy ai bồng bế xót xa.

U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

Cũng có người sẩy cỗi sa cây;

Có người gieo giếng thắt dây,

Ngược trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,

Người thì mắc sơn tinh thủy quái,

Người thì sa nanh sói ngà voi;

Có người hay đẻ không nuôi,

Có người sa sẩy, có người khốn thương.

Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

Cầu Nại hà kẻ trước người sau;

Mỗi người một kiếp khác nhau,

Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ, dọc bụi,

Hoặc là nương ngọn suối chân mây;

Hoặc là điếm cỏ bóng cây,

Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ.

Hoặc là nương thần từ Phật tự,

Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông;

Hoặc là trong quảng đồng không,

Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,

Ruột héo khô, dạ rét căm căm;

Dãi dầu trong mấy mươi năm,

Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương;

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra;

Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

Có khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.

Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,

Bóng hào quang cứu khổ độ ưu;

Rắp hòa tứ hải quần chu,

Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

Nhởn nhơ Tiêu Diện đại vương,

Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,

Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;

Mười loài là những loài nào,

Gái trai, già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như bào như ảnh,

Có chữ rằng: vạn cảnh giai không;

Ai ơi lấy Phật làm lòng,

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

Của có chi bát nước nén nhang;

Gọi là manh áo thoi vàng,

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đấy dưới trên ngồi lại,

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu:

Phép thiêng biến ít thành nhiều,

Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ,

Chớ ngại rằng có có không không;

Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

-Trích Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1973

VĂN TẾ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 4)

TRÀ AM VIÊN THÀNH

Tượng nghe đại địa sơn hà,

Luống trong sinh tử cửa nhà vốn không.

Cô hồn hoạnh tử yểu vong,

Nương thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.

Trên thì tướng tướng, vương công,

Dưới thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.

Gái trai những kẻ tôn ti,

Hoặc là tử trận, có khi oan tình.

Hoặc là vương pháp gia hình,

Uống trúng độc dược hại mình tự nhiên.

Sa cơ sống gió chìm thuyền,

Lỡ làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.

Xà thương hổ đả hải hùng,

Huyết hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!

Hoặc là mắc phải thiên lôi,

Vong thân chú trớ bồi hồi mạng chung.

Hoặc là đường sá lỡ làng,

Mắc phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.

Hà sa phẩm loại khôn cùng,

Lòng thành tín chủ mời chung các loài.

Từ rằng theo bóng Như lai,

Đã không cứu vớt lấy ai nương nhờ.

Từ đường đâu có phụng thờ,

Cô đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.

Thảm thương mặt nước cung mây,

Rả rời xương thịt, hồn bay lạc loài.

Chẳng hay thử vãng hàn lai,

Bốn mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.

Thân bằng ít kẻ tri âm,

Lấy ai cứu vớt mà hòng thoát ly!

Thảm thương về chốn thổ ty,

Luôn trong diểu diểu lấy gì mà ra!

Nương nhờ tín chủ toàn gia,

Thọ tài hưởng thực mà qua Liên trì.

Từ rằng vâng phép từ bi,

Siêu phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.

Sớm khuya cửa Phật ân cần.

Phù trì gia chủ thừa ân những ngày.

Đừng còn theo thói mê say,

Tham lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.

Nam mô đức Phật Di Đà,

Phóng quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.

Trước triệu thỉnh lủy triều đế chủ,

Trên ngai vàng trải nối hầu vương.

Chín tầng điện các đài gương,

Nước non muôn dặm, mười phương cầm quyền.

Nghìn năm vương khí danh truyền.

Xe loan để tiếng oán phiền chưa thôi!

Tiếng quyên kêu nguyệt bồi hồi,

Gành đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.

Tiền vương hậu bá khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,

Đấng hiền lương trí dũng khôn ngoan.

Giá trong tieát trắng làm quan,

Một lòng báo quốc nên trang đan thành.

Nam châu bắc huyện thơm danh,

Theo nơi tang thác bỏ đành quê hương.

Thiên nhai hải giác khôn lường,

Sa cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.

Than ôi! Những đấng anh tài,

Theo dòng thệ thủy cách đài dương quan.

Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Chức phong hầu đứng trước muôn dân.

Sức dời bảo đỉnh nghìn cân,

Trường thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.

Trước hùm sương nhiễm, ghê thay!

Sa cơ một phút đổi thay công hầu.

Thương ôi người ngựa ở đâu,

Xui nên họa cả thảm sầu khôn dung.

Xiết bao tướng súy anh hùng,

Lánh nơi vinh hiển theo cùng âm ty.

Những người sa trụy bất kỳ,

Nghe lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.

Lại thỉnh kẻ văn nhân tài tử,

Chốn thư phòng cửa Khổng vào ra,

Bút nghiên kinh sử ngâm nga,

Văn chương tu luyện đợi khoa nương mình.

Mơ màng lấp lóa đèn huỳnh,

Công phu khổ dụng đăng trình gặp khi.

Mười năm tân khổ mong thi,

Naøo hay một phút xa kỳ công danh!

Hồng lô tính tự rành rành,

Đất vàng một nấm lấp thành văn chương.

Văn nhân tài tử không lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,

Nương rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.

Cao Tăng quyết chí tinh tu,

Trăm năm giới luật công phu dùi mài.

Giữ gìn phạm hạnh hôm mai,

Tỳ-kheo Ni chúng khác người thế gian.

Hoàng hoa, thủy trúc luận bàn,

Không đàm bí mật nên mang thế tình.

Bóng đèn lấp lóa hư minh,

Than ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.

Nghe lời Bát nhã, Phạm âm,

Truy y Thích tử lại lâm đáo đàn.

Lại thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,

Chốn Bồng lai sớm luyện đan tiên.

Nương theo thạch động đào nguyên,

Tu tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.

Danh thơm chưa nức trong đời.

Vô thường khi đã đổi dời công phu.

Thương ôi! Sương tuyết dãi dầu,

Tiêu điều gió thảm hoa sầu hơi sương.

Huyền môn đạo sĩ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,

Với những kẻ lâm trận kiện nhi.

Cầm bạch tiết, vác hồng kỳ,

Tức gan quyết chí trận kỳ hơn thua.

Trung thành hết sức phò vua,

Nào hay một phút xa đưa dặm trường.

Thương ôi! Huyết lụy sa trường,

Thà ôm xương trắng để đường cho ai!

Trận vong binh sĩ an tài,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.

Lại thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,

Chốn lâu đài khuê các vào ra.

Ướp xông hương xạ diềm dà,

Phấn thoa sáp đánh màu da khác người.

Mặt hoa mày liễu tốt tươi,

Hình dung yểu điệu, miệng cười như hoa,

Hồn tiên kim ốc vào ra,

Hoa tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!

Thương ôi! Ngọn gió thổi sầu,

Đống xương khô héo dãi dầu cỏ sương.

Quần thoa phụ nữ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,

Trải tháng ngày mua bán tranh đua.

Đổi dời lừa tráo hơn thua,

Đào công nối nghiệp bán mua so lường.

Chẳng ngờ nổi trận phong sương,

Mình vào ngư phúc dương trường, khốn thay!

Hồn dời bể bắc dặm dài,

Phách về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.

Tha hương lữ khách lỡ thời,

Nghe lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,

Chịu đắng cay tọa thảo tam triêu;

Bằng khi loan phụng hòa yêu,

Hùng bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.

Gái trai còn hãy chưa hay,

Đêm trường mẫu tử, phút này giai quy.

Thương ôi! Hoa nở chính kỳ,

Nào hay một phút gặp khi mưa dầm.

Huyết hồ sản nạn lỗi lầm,

Nghe lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ nhung di man địch,

Tiếng chẳng thuần ngọng lịu như câm.

Lại còn trong dạ hiểm thâm,

Cưu điều hung dữ lưu tâm hại người.

Khinh khi Tam bảo chê cười,

Tội khiên chất để bằng mười hà sa.

Ngổ ngang mắng mẹ khinh cha,

Ác cao như núi chết mà không tha.

Chẳng may hồn phách la đà,

Mịt mờ vũ trụ bao là đớn đau!

Thương ôi! Ẩn ẩn phương nào,

Ngày xuân chẳng thấy ra vào u quan!

Hỡi người bội nghịch si ngoan,

Nghe lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,

Bị lao tù mắc phải gia hình.

Gặp cơn thủy hỏa bất bình,

Một đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.

Nghìn năm oan khí chưa xong,

Linh hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.

Trời xanh tiếng hạc rộn ràng,

Gió lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!

Mấy người hoạnh tử xưa nay,

Nghe lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.

-Trích Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha Trang, 1972

1 Câu này thỉnh kẻ cô hồn hoạnh tử khi lâm sản hoạc bị sẩy thai, sút thai.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

(Thí thực cô hồn số 5)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Đến khi trăm tuổi mạng chung

Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Đà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Đài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn số 6)

Hỡi ôi !

Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,

Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.

Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,

Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.

Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,

Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.

Nên phải mang phiền não dập dồn,

Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.

Cầu chư Phật oai thần tế bạt,

Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.

Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,

Xin chư vị tề lai thọ hưởng.

Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,

Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,

Độ mười phương sanh chúng bình yên,

Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.

Lụy trào đế hầu vương đáng kính,

Vận nước vong khó tính mưu thành.

Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,

Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.

Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,

Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.

Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,

Nơi dương thế âm dung đà khuất.

Tài bút nghiên văn thần báo quốc,

Tấm lòng son công chất nhà vàng.

Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,

Rồi một thuở danh vang tể tướng.

Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,

Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.

Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,

Ba thước đất vùi danh tài tử.

Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,

Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.

Đèn tắt khuya Thiền thất hư minh,

Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.

Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,

Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.

Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,

Chí chưa toại tầm đàng Địa phủ.

Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,

Tại trận tiền củ củ oai hùng.

Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,

Lằn tên đạn không dung tánh mạng.

Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,

Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.

Sóng ba đào phong võ khó lường,

Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.

Mười tháng chẵn mang con trong dạ,

Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.

Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,

Hoa mới nở vội liền mưa gió.

Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,

Công sanh thành chưa rõ cao dày.

Hoặc huyền lương độc dược ra tay,

Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.

Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,

Thác giữa đàng không đất gởi thây.

Hồn dật dờ theo gió theo mây,

Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.

Người nghèo khó đốn cây non lãnh,

Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.

Bị độc trùng ác thú hổ lang,

Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.

Người lương thiện tao phùng tật đố,

Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.

Oan hồn tìm đến chốn u thâm,

Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.

Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,

Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.

Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,

Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.

Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,

Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.

Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,

Hồn lìa cách dương trần rất thảm.

Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,

Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !

Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,

Rủi một phút thân thiêu tro bụi.

Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,

Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.

Mạng số suy, thần tử chẳng tha,

Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.

Khi bão tố đá cây ngã liệt,

Sập cửa nhà đè chết nào hay.

Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,

Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.

Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,

Chấn động miền non núi đất liền.

Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,

Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.

Bị xe cán nát thây rùng rợn,

Vận kiếp xui họa lớn nào hay.

Bà con trông than khóc thảm thay,

Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.

Vì ái dục si tình tự tử,

Cơn đắm mê nào sợ tội mang.

Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,

Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.

Ít phước đức họa tai lôi kéo,

Đời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,

Trên giàn cao ngã té bất kỳ,

Thân tan nát hồn phi phách tán.

Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,

Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.

Thảm thương cho hồn phách linh đinh,

Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.

Người lương thiện chết oan điên đảo,

Vì đạn tên lạc náo xóm làng.

Oan hồn cam vào chốn nguy nan,

Chịu u ám, xa đàng giải thoát.

Bị khổ bức vì tình đen bạc,

Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.

Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,

Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !

Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,

Đoạt của rồi giết chủ thác oan.

Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,

Kết thù oán khôn toan siêu độ.

Đời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,

Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.

Phách hồn oan lạc lối u minh.

Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.

Đời giặc giã nghịch thù vô tận,

Chôn sống người giữa đám đồng hoang.

Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,

Trong giây phút dương gian cách biệt.

Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,

Trói lương dân thù ghét quăng sông.

Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,

Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.

Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,

Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.

Hồn phất phơ nơi chốn long đong,

Biết bao thuở thoát vòng khổ não.

Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,

Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.

Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,

Bà con thấy, ai bi thống thiết !

Người tắm biển tắm sông biệt tích,

Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.

Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,

Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.

Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,

Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.

Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,

Rủi một phút hồn phi phách tán.

Còn nhiều loại hồn oan ta thán,

Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,

Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,

Đương xiêu lạc khắp nơi khổ não.

Lời thiển bạc nay đà trần tố,

Thương xót thay nỗi khổ các vì.

Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,

Xin sám hối tiền phi hậu quá.

Xét tội lỗi oan khiên vay trả,

Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,

Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,

Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.

Quy y Phật tịnh yên hồn phách,

Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.

Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,

Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.

Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,

Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.

Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,

Độ chư vị thoát đàng khổ não.

Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,

Thập Điện đồng mở đạo Từ bi.

Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,

Đức Địa Tạng đại bi cứu rỗi.

Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,

Vãng sinh miền Tịnh Độ thảnh thơi.

Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,

Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.

Nam mô A Di Đà Phật.

VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN

(Thí thực cô hồn số 7)

Hỡi chư chiến sĩ trận vong !

Hỡi chư lương dân tử nạn !

Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Người sanh trên thế ai không chết,

Để tấm lòng son rạng sử xanh.

Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,

Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.

Chí trung cang nghĩa khí sắc son,

Gương Thánh Đế nay còn nêu đó !

Nợ nước non ai ai cũng có,

Phận công dân giao phó phải mang.

Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,

Phải đáng bực trung thần liệt nữ.

Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,

Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.

Nay tuy là u hiển biệt ly,

Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,

Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,

Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.

Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,

Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.

Thôi nợ nước nay đà tận báo,

Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.

Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,

Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,

Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,

Rửa cừu oan diệt tất não phiền.

Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,

Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác

Sen chín phẩm nở ra trước mắt,

Hết tử sanh quả Phật thấy liền.

Hỡi các vì hồn có linh thiên,

Nơi chín suối khá liền sám hối,

Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,

Dắt dìu ra khỏi lối u minh.

Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,

Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.

Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,

Lập đức công báo bổ tứ ân,

Lời thiết tha đạo đức phân trần,

Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.

Nam Mô A Di Đà Phật.

VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

ĐỒNG BÀO TỬ NẠN.

(Thí thực cô hồn số 8)

Hỡi ôi !

Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,

Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,

Chúng sanh phải chịu khổ nguy,

Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.

Việc may rủi biết đâu chọn lánh,

Nhận làm người mang gánh sự trần,

Tam cang mới nặng muôn cân,

Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.

Lẽ sống thác là tùy số phận,

Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,

Mình là bổn phận con dâu,

Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.

Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,

Giận quân thù chí dốc tòng quân,

Ra đi dạ luống bâng khuâng,

Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.

Khi lặn suối trèo non vượt bể,

Khi lên truông qua ải xuống đèo,

Đai cơm, bầu nước, gươm đeo,

Chút thân sống thác do theo số trời.

Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,

Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,

Nhớ con thổn thức canh gà,

Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.

Khi sớm tối ai vào thăm viếng,

Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?

Đêm ngày giọt lệ chứa chan,

Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.

Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,

Đánh liều theo máy tạo vần xoay,

Trước cờ da ngựa bọc thây,

Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!

Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,

Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,

Con thơ vợ yếu lao nhao,

Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?

Đêm tủi phận dở dang duyên nợ,

Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,

Trông cho chiến thắng khải hoàn,

Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.

Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,

Cùng anh em chung chạ một nhà,

Xóm làng cô bác ông bà,

Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.

Người muốn vậy không hề được vậy,

Bãi trường sa thịt nát máu tơi,

Tên rơi đạn lạc hết đời,

Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!

Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,

Dưới hố hầm chân núi cội cây,

Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,

Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.

Ai có phước thi hài chôn lấp,

Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,

Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,

Đến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?

Vợ con với mẹ cha đâu biết,

Chừng hay tin thì việc đã rồi,

Nợ trần phủi sạch ai ôi,

Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !

Khen anh dũng xông pha tên đạn,

Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,

Sống làm Tướng, thác làm Thần,

Non sông gánh vác tử phần đao binh.

Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,

Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,

Trận vong chiến sĩ vì đời,

Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.

Nén hương đốt gội nhuần trước án,

Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,

Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,

Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.

Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,

Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,

Hồi đầu nương cửa từ bi

Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.

Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,

Phật mười phương quảng đại độ siêu,

Nương đàn chẩn tế tiêu dao,

Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

(Thí thực cô hồn số 9)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Đến khi trăm tuổi mạng chung

Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Đà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Đài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ LIỆT SĨ

(Thí thực cô hồn 10)

Hỡi chư Liệt sĩ ôi!

Họa đao binh từng đốt nung đất Việt

Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam

Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông

Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt

Nhớ những anh hùng xưa!

Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc

Rửa nhục chung, sống chết đâu màng

Chốn sa tràng, trải mật phơi gan

Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết

Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết

Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương

Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương

Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt

Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến

Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng

Đạn nổ súng rền, gió hơi bom,

long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .

Cờ phất còi reo, tiếng trống dục,

chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.

Dưới làn bom, thịt nát xương tan,

Đành ngã gục không hề khuất tiếc.

Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ,

cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.

Người chiến sĩ, đền xong nợ nước,

trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.

Đấng anh hùng, rửa sạch nhục chung,

đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.

Than ôi!

Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.

Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang

Cảm thương người, tai nạn tràn lan

Thương xót kẻ, uổng oan mất tích

Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh

Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh

Nơi dạ đài, người tử si có linh

Nương thể phách, về trai đàn chứng giám

Hỡi ơi! Thương thay!

Có linh xin chứng! Có linh xin chứng!

– Trích soạn “Kinh Nhựt tụng” – Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.

VĂN TẾ CÔ HỒN (II)

(Thí thực cô hồn 11)

Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê

Cõi nhơn gian thủy lục ê chề

Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán

Trên đến bực vương hầu khanh tướng

Dưới đến người sĩ cổ nông công

Nào kẻ ty, nào người tôn

Nào là nam, nào là nữ

Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ

Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng

Hoặc sa hầm sa hang

Hoặc trúng thang trúng dược

Đau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn

Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm

Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều

Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết

Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt,

Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi

Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển

Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,

Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay

Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai

Mãn tám tiết vắng người đơm quảy

Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu

Mù mù mịch mịch, đường xuất lý m

ảng đợi trông ngày tháng

Hội vô giá may vừa gặp khoản,

Nương theo công bí mật hôm nay

Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh

Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần

Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi!

Ngôi liên đài quanh quất bên thân

Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt

Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức

Đã chứng vào trong bực vô sanh

Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh

Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.

Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.

– Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng – Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê – Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

HỒI HƯỚNG TẾ VĂN

(Thí thực cô hồn 12)

Kiến văn như huyển ế

Tam giới nhược không hoa

Văn phục, ế căn trừ

Trần tiêu, giác viên tịnh

Phục dĩ,

Nguyên chơn như thanh tịnh

Tội tánh vốn là không

Biển khổ rộng mênh mông

Sóng quanh theo đuổi mãi

Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải

Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày

Địa ngục đà thọ báo đắng cay

Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát

Đã chẳng có ngày giải thoát

Ắt là không chỗ đặng siêu thăng

Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân

Để mở đặng đảo huyền dây ác thú

Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú

Thí ra trên tiệc cam lồ

Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn

Soi khắp trong đường minh giới

Nào những mấy dòng mê cả thảy

Khiến đều về cực lạc phương tây

Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực

Đem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi

Diệm nhiên Đại sĩ một tay

Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng

Ngạ quỉ hằng hà sa số

Vô lượng vô biên xiết kể biết bao

Cúi xin từ kiếp bỏ liền

Cho đến ngày tái thế

Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để

Rửa tội khiên phút đã sạch rồi

Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức

Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân

Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ

Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn

Khắp nơi bủa chật thiết sàng

Hiện pháp tòa Bồ đề là đó

Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ

Sái đề hồ cam lộ vào đây

Gặp người trái chủ hôm nay

Buổi đó hết đòi hết hỏi

Nhóm kiếp oan gia buổi trước,

Cùng nhau thôi vấn thôi vương

Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương

Lòng từ thiện minh quang bảo hộ

Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ

Nay thời nhập Thánh siêu phàm

Nợ nhơn thân lụy thế hết còn

Rày đã thừa ân giải thoát

Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện

Miền nhơn gian tứ tướng có chi

Tu la đà bỏ cả sân si

Địa ngục lại hết điều khổ não

Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo

Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng

Giống làm sanh chật nức mười loài

Lên bờ giác lánh nơi đường tối

Khắp xin cả hữu tình một nỗi

Quốc độ này, quốc độ nọ

Và vô lượng các quốc độ thảy

Cùng nhau chung chứng chơn thường

Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài

Thế giới đó, thế giới đây

Và vô lượng các thế giới nào

Buổi đó đều nên Phật đạo

Tứ ân khắp báo

Tam hữu đều nhờ

Người trong pháp giới bao giờ

Ai ai cũng đồng nên chưởng trí.

– Trích soạn “Kinh Nhựt Tụng ” Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG

(Thí thực cô hồn 13)

Nam mô Từ phụ Di Đà,

Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.

Thương đời bá tánh vạn dân,

Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.

Thế gian mong được an nhàn,

Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.

Chết ao, khe, biển, suối, sông,

Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.

Gió giông bão tố thủy triều,

Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.

Hồn phi phách lạc mất rồi,

Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.

Cõi đời sanh tử mơi chiều,

Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.

Lại còn giặc giã đao binh,

Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.

Núi rừng đồng rộng biển sông,

Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.

Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,

Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.

Sông sâu biển rộng bốn phương,

Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.

Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,

Độ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.

Linh đinh hồn vía mịt mờ,

Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.

Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,

Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.

Hồn về cảnh Phật đề huề,

Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.

Quan Âm đại sĩ từ hàng,

Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.

Nguyện cho hồn đặng vui mừng,

Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.

Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,

Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.

Vớt vong khỏi chốn suối sông,

Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.

Đưa vong khỏi biển ba đào,

Đến nơi bờ giác lên mau lạ thường.

Nam Mô Địa Tạng Minh Vương,

Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.

Chúng sanh chìm đắm hải hà,

Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.

Nổi trôi khổ sở tấm thân,

Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.

Nam mô đức Phật Thích Ca,

Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.

Ở trong thế giới U Minh,

Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.

Nguyện ngài giáo chủ A Di,

Độ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.

Ở yên mát mẻ tu hành,

Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.

Nam mô Tịnh độ Lạc bang,

Độ vong hồn đặng Tây phang mau về.

– Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Độ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.

– Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.

VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ

(Thí thực cô hồn 14)

Bích Liên Pháp Sư

SÁM TÁN KHÔ LÂU

(Thí thực cô hồn 15)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm qua đồng vắng ngoạn du

Thấy liền Đại đức khô lâu một vùng

Bốn bên ghê gốc bịt bùng

Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh

Dàu dàu âm khí lạnh tanh

Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Quê người ở mé giang đầu thiu thiu

Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu

Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời

Phèo phèo khí lạnh đòi nơi

Anh em lai vãng, có người nào đâu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Ấy người quân tử ở đâu bên đường

Nhà ai vang vọng đêm trường

Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào

Đau thay gan ruột như bào

Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Đôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này

Xiết thay, người thế ra chi

Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm

Ác vàng thỏ bạc xa xăm

Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi

Dần dà chi nữa người ơi

Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma

Hôm nay thiện tín trai gia

Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”

Lò vàng vừa bén mùi hương

Đạo tràng mời khắp mười phương cô hồn

Bao nhiêu tội chướng để dồn

Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu

Ân triêm phước lợi thắm mầu

Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.

– Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng năm 1940.

– Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre

TRẠO VĂN DIỄN ÂM

(Thí thực cô hồn 16)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm nay cúng thí trai đàn,

Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.

Quan Âm cứu khổ đã đành,

Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.

Niệm câu Mô Phật từ bi,

Tuyên lời bí mật đức dày công cao.

Độ người thập loại nao nao,

Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.

Trước đây triều đại còn truyền,

Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.

Hầu vương huân thích vang danh,

Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.

Trung cung, Tể chấp, đại quan,

Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.

Điềm hoa tươi đã vứt đi,

Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.

Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,

Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.

Chăn dân bủa hóa giữa giòng,

Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.

Đau lòng một chiếu thôi thương,

Phải khi trích án sa trường biên bang.

Hồn còn trìu mến giang san,

Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.

Người võ sĩ, kẻ nhung thần,

Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.

Băng xông trăm trận mũi vàng,

Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.

Đánh Nam dẹp Bắc tơi bời,

Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.

Tấm lòng vì nước mà vong,

Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.

Những người học cổ cùng kinh,

Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.

Bóng quang, hột tuyết dòm theo,

Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!

Ta đà mạng vận làm sao,

Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.

Hương hồn uất uất chi linh,

Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.

Những người cắt ái từ thân,

Cửa không sớm đã chân lần vào trong.

Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,

Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.

Trải bao lạnh nắng xoay quanh,

Sự vô thường đã đến mình nào hay!

Hồi quang soi chút bóng dày,

Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.

Những người võ phục huỳnh quan,

Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.

Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,

Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.

Lao thần khổ hạnh đòi phen,

Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.

Thôi đừng tiếc chút dị hình,

Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.

Những người con thảo cháu lành,

Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.

Những người liệt nữ trinh thê,

Cái thân coi chết như về đâu đâu.

Với người trọng tiết vong xu,

Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.

Hồn còn chói lọi linh thiêng,

Đến đây hưởng thọ một diên cam lồ.

Những người đạo nữ Ni đồ,

Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.

Phụng loan bỏ khống duyên phần,

Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.

Còn chưa liễu đặng vô vi,

Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!

Hồn người thăm thẳm thanh thanh,

Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?

Những người địa lý thiên văn,

Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.

Bói qui, dịch sủ qui vàng,

Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.

Mách người hung kiết biết bao,

Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.

Thôi rày xả ngụy qui chân,

Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.

Những người tọa mãi hành thương,

Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.

Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,

Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.

Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,

Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.

Một niềm lữ mộng vơi vơi,

Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.

Những người phạm pháp tạo hình,

Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.

Hại người toan lấy của người,

Oan gia trái chủ trả đời nào xong!

Người tật ác, kẻ tai hung,

Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.

Suối vàng kíp kíp đôi chân,

Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.

Những người ngựa đạp, xe thương,

Vách đè thân nát như tương rã rời!

Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.

Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.

Hoặc là thủy hỏa tai ương,

Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.

Hồn người bất hạnh trầm trầm,

Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.

Những người âm huyết dương mao,

Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.

Thi công mà trả nợ đày,

Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.

Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,

Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.

Hồn người oan khổ biết bao,

Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.

Những người ngỗ nghịch mẹ cha,

Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.

Những người chê Phật khinh Tăng,

Đốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.

Lắm điều tà kiến trầm mê,

Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.

Hồn người thật ác, thương ôi,

Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.

Cửa nhà đại thí mở ra,

Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.

Tiên vong hòa tổ hòa tôn,

Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.

Đường ba, nạn tám thiếu chi,

Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.

Cậy chưng Phật Pháp quang miên,

Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.

A Di Đà Phật Bồ Đề,

Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,

Đường mê trông thấy nhãn tiền,

Đắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!

Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,

Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.

Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,

Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.

– Đây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định soạn, khoảng năm 1940.

– Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.

VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 17)

Bích Liên Pháp Sư

Dấu người thập loại biết là đâu?

Hồn phách mơ màng trải mấy thu,

Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,

Những mồ vô chủ thấy mà đau!

Tịch mịch dạ canh thâm,

Hoa Đàm bá phạm âm,

Cô hồn văn triệu thỉnh,

Bộ bộ tốc lai lâm.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Ác vàng tên ruỗi,

Thỏ bạc thoi dong,

Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,

Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!

Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,

Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,

Nghe lời triệu thỉnh đành rành,

Hồn chơi trong cõi U minh xin về.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Màu non lờ lạc,

Dòng nước thầm thì,

Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,

Người mới đó, chim rày đã lặn.

Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,

Đôi phen mời, linh sản ở đâu đây,

Vong linh ơi hỡi có hay,

Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Biển trần lênh láng,

Sóng nghiệp lao xao,

Người mê man trong giấc chiêm bao,

May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.

Sống chẳng niệm Di Đà Phật hiệu,

Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,

Đầy ba phen, hương thắp bảo đàn,

Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.

Xin vâng Tam Bảo pháp lành,

Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.

Về đây hưởng thọ hương huê,

Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.

– Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,

Triều đại xưa, trải quá biết bao!

Đền đài chín lớp ở cao,

Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.

Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,

Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,

Đỗ quyên kêu trót tàn canh,

Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.

Trước sau vương bá những là,

Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.

– Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,

Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,

Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.

Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,

Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,

Ngựa xe chiến tướng vắng không,

Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!

Anh hùng tướng soái bao nhiêu,

Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?

– Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,

Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.

Ba năm thanh tiết làm quan,

Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.

Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,

Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,

Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,

Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.

Văn thần xiết kể muôn ngàn,

Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.

– Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,

Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,

Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,

Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.

Tan bữa đốm, tiếc dày công học,

Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,

Lụa hồng bảy thước đề tên,

Đất vàng một cụm, lấp nền văn chương.

Văn nhân biết mấy đâu lường,

Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.

– Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,

Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,

Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,

Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.

Làn hoa trúc, vài câu mật đế,

Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,

Tam canh song tẩm lạnh lùng,

Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.

Trung lưu này những bi ai,

Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,

Dòng vũ y phong cách nhà tiên,

Tu chơn trong động đào nguyên,

Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.

Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,

Đất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,

Lò đơn lẫm quán lạnh sương,

Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.

Bao nhiêu đạo sĩ những là,

Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.

– Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,

Đường bắc nam trải thử hành thương,

Lợi quyền muôn dặm, toan đương,

Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.

Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,

Bước đá mây, xương rã đường dê,

Phách theo mây cuốn sè sè,

Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Đông.

Thương nhân, sau trước một dòng,

Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,

Sức phương cường, mình bận áo binh,

Cờ điều phất bóng tương tranh,

Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.

Ruột gan nát, thao trường kim cổ,

Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,

Cát vàng văng vẳng tiếng ma,

Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.

Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,

Đêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.

– Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,

Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,

Trước mừng loan phụng hiệp bầy,

Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.

Vầng cung phụng, phút tường hung cát.

Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,

Nhành hoa nở, trận mưa tuông,

Đường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.

Những người sản nạn qui âm,

Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,

Với những người ú ớ điếc đui,

Chết mình, tôi tớ lui thui,

Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.

Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,

Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,

Đêm trường thăm thẳm bóng mơi,

Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.

Những người bội nghịch hoang hung,

Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.

– Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,

Gái má đào, sắc nước kém đâu,

Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,

Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.

Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,

Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,

Phong lưu ngày trước đâu rồi,

Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.

Những trang xinh tốt xưa nay,

Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.

– Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,

Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,

Gặp tai nước lửa hại mình,

Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.

Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,

Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,

Mưa chiều khói lạnh nước reo,

Lá thu gió thổi dập dìu như bay.

Những người hoạnh tử xưa nay,

Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.

– Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,

Những cô hồn mười loại đâu đây,

Diện-Nhiên sở thống một tay,

Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.

Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,

Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,

Hồn cô, phách trệ linh đinh,

Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.

Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,

Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.

Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,

Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.

Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,

Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.

A Di Đà Phật Như Lai,

Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.

– Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.

【#6】Chia Sẽ Bài Văn Cúng Bốc Bát Hương Bàn Thờ Thần Tài, Thổ Địa Bàn Thờ Gia Tiên

Văn Khấn Thay Bàn Thờ Mới – Văn Khấn Bốc Bát Hương

Nội dung bài viết

Bài Văn Khấn Thay Bàn Thờ Mới, Thay Bàn Thờ Gia Tiên Và Văn Khấn Bốc Bát HươngVào các dịp gia đình đổi bàn thờ mới, cũng như bốc Bát Hương thì cần phải chuẩn bị chu tất từ mâm lễ cúng cho đến bài văn khấn xin các cụ cho phép chúng ta được lập lại bàn thờ Mới cũng như tiến hành Bốc Lại Bát Hương thờ cúng. Việc này là việc trọng đại, tương tự như việc động thổ, cất nóc, nhập trạch, đây là phép văn hóa tôn trọng bề trên và đức thánh thần.

Về phần lễ vật thay bàn thờ – Bốc Bát Hương cần phải chuẩn bị bao gồm :Mâm Cúng Thay Bàn Thờ Mới – Bốc Bát Hương+ 1 con gà lễ (nếu có) : Gà là thực phẩm quen thuộc hằng ngày, trong dịp lễ cúng thay bàn thờ, bốc bát hương bạn cần phải chuẩn bị một con gà trống tơ, luộc xếp chéo cánh, lựa gà đẹp nhất và có trọng lượng từ 1,2 đến 1,5 kg là được.

+ 1 chân giò trước làm sạch luộc chín : Chân giò heo lựa chân ngon nhất, không bị bầm tụ máu, khi luộc xong thì cho vào đĩa và đưa lên mâm cúng.

+ 1 đĩa xôi trắng : Xôi trắng có thể mua hoặc tự nấu, lựa loại ngon.

+ 1 chai rượu trắng (1/2 lít) : Rựu để cho các cụ về thưởng thức và nhân đó con cháu giải bày lý do đổi bàn thờ.

+ 5 quả trứng gà ta (để sống) 2 lạng thịt vai (để sống), lễ xong phải luộc chín luôn

+ 3 lá trầu + 3 quả cau : Trầu cau không thể thiếu trong câu chuyện quan trọng của người Việt, miếng trầu đầu câu chuyện, vì vậy ở đây cũng phải chuẩn bị đầy đủ.

+ 3 chén nước,

+ 5 quả tròn (táo hay lê…),

+ 9 bông hồng màu hồng son,

+ 1 đĩa gạo mối (không trộn lẫn),

+ 1 lạng chè ngon + 1 bao thuốc lá,

+ 1 đinh vàng hoa,

+ 5 lễ vàng tiền,

+ 1 bộ quần áo quan thần linh đỏ, hia, mũ, ngựa đỏ, kiếm trắng,

+ 1 mâm cơm canh (không hành tỏi).

Không Gian Gốm Bát Tràng lắp đặt bàn thờ gia tiên cho một gia đình ở quận 1 Tp.HCM

Cách Bốc Bát Hương Bàn Thờ Gia TiênCách Bốc bát hương: Chọn bát hương Bát Tràng vì loại bát hương này chuẩn nhất bát hương hình họa tiết vẽ rồng phải chọn kỉ chú ý đầu rồng châu vào 1 thái cực. Sau khi chọn mua được mẫu bát hương ưng ý Bát Tràng thì tiến hành Rửa sạch bát hương bằng nước sạch, để khô. Kế đến tiến hành lấy lễ tiền vàng chuẩn bị sẳn lau trong ngoài và hóa tiền vàng vừa mới lau xong. Khi hóa lễ tiền vàng thì bắt đầu cấm bát hương úp xuống hơ bát hương trên lữa hóa, chú ý dùng tay cái bịt mắt rồng khi hơ lữa. Sau đó, bạn hãy lấy ngay một phần tro tiền vàng vừa hóa cho vào Bát Hương ( Đây được xem là cốt bát hương ) Cuối cùng lấy một ít tro rơm nếp để lên trên, không ấn không day chỉ cần bỏ đầy vào là được.

Cách bày bát hương: Bày bát hương cách tường tối thiểu 10cm, và đặt ở vị trung tâm của bàn thờ, đây là bát hương chính dùng để thờ thần linh, chư thần và bát hương bên phải dùng để thờ bà cô ông mãnh, bát hương bên trái thờ gia tiên. Các bát hương cách nhau từ 5 đến 10 cm là phù hợp.

Xem Thêm

Mẫu Bát Hương Bát Tràng thờ cúng chuẩn nhất, Bát Hương Đẹp .

Cách thắp hương khi đổi bàn thờ mới, bốc bát hương : Bát hương thần linh thắp 9 nén hương, hai bát hương còn lại thắp 5 nén hương. Hết tuần hương này thì thắp thêm một tuần nữa, mỗi bát chỉ cần 3 nén. Khi cháy hết hương nếu hương thông thì được việc, nếu tắt hương là việc không thành. Nếu chân giò hoặc thịt cúng xong có mùi thơm như mùi cơm nếp là rất tốt (Có mùi tanh thì phải làm lễ hoá giải).

Văn khấn thay ban thờ, bốc bát hương chuẩn nhất Khi bốc bát hương bàn thờ gia tiên, bàn thờ tổ.Đây là bài văn khấn thay bàn thờ mới, Văn Khấn Bốc Bát Hương

♦ Nam Mô A Di Đà Phật!

♦ Nam Mô A Di Đà Phật!

♦ Nam Mô A Di Đà Phật!

♦ Con lạy chín phương trời mười phương Phật. Con kính lạy các chư vị thần linh, hiển linh, hiển pháp, pháp thuật vô biên.

♦ Hôm nay là ngày …. tháng …. năm ….

♦ Tên con là ………… (Tín chủ của ………. địa chỉ ………..)

♦ Con làm lễ bốc bát hương mới (thay bàn thờ mới), mục đích con xin cầu………, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, ăn nên làm ra, cầu được ước thấy, vạn sự như ý.

♦ Con xin kính lạy các cụ tổ tiên nội ngoại sống khôn thác thiêng, hôm nay con làm lễ bốc bát hương mới (thay bàn thờ mới), kính xin các cụ về phù hộ độ trì cho con cho cháu mạnh khoẻ, an ninh khang thái, mọi việc được hanh thông.

♦ Con kính lạy các bà cô tổ ông mãnh nội ngoại sống khôn chết thiêng cho con cầu ……………………

♦ Cúng xong, hương cháy hết đợt thứ nhất, sau khi thắp đợt thứ hai thì bắt đầu hóa tiền vàng, tờ văn khấn. Vãi gạo, muối ra trước cửa ngõ (vãi riêng từng thứ). Lúc tàn hết hương thì xin hạ lễ. Lúc tàn hết hương thì xin hạ lễ, đem thịt và trứng sống luộc chín.

Bài văn cúng, Văn Khấn Thay bốc bát hương bàn thờ Thần Tài, Thổ Địa

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

♦ Con lạy chín phương trời mười phương Phật. Con kính lạy các chư vị thần linh, hiển linh, hiển pháp, pháp thuật vô biên.

♦ Hôm nay là ngày …. tháng …. năm ….

♦ Tên con là ………… (Tín chủ của ………. địa chỉ ………..)

♦ Con làm lễ bốc bát hương mới cho bàn thờ ông Thần Tài ( Thỏ Công ), mục đích con xin cầu………, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, ăn nên làm ra, cầu được ước thấy, vạn sự như ý.

♦ Con xin kính lạy Ông Thần Tài ( Thổ Công ), hôm nay con làm lễ bốc bát hương mới , kính xin Chư Vị phù hộ độ trì cho con cho cháu mạnh khoẻ, an ninh khang thái, mọi việc được hanh thông.

bốc bát hương thần tài như thế nào cho đúng cách

Văn khấn chuyển bàn thờ thần tài ♦ Vẫn đặt ban thờ ở vị trí cũ đặt ba lễ tiền vàng, một cốc nước lã, ba chén rượu và một lọ hoa hồng 5 bông

♦ Chủ nhà thắp hương mỗi bát hương 3 nén hương, rót một chút rượu ra tay rắc lên ban thờ rồi khấn

“Nam mô A Di Đà Phật”

♦ Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật

Hôm nay là ngày: …. tháng … năm ………… 20…

Tín chủ con là: …………………..tuổi….

Hiện đang trú tại: ………………………………………………

♦ Kính cáo chư vị Tôn thần, nay vì cơ quan có thay đổi vị trí mặt bằng cho các phòng ban, chúng con xin làm lễ Thiên Linh vị Tài thần Thổ địa, để đặt bàn thờ Thổ Địa Tài Thần vào nơi mới.

♦ Hôm nay nhân cát nhật lương thần, con xin làm lễ “Thiên di linh vị Thần đài” – Chuyển ban thờ Thổ địa mạch long thần từ vị trí ……….. sang phòng ……… Tuy vị trí có thay đổi nhưng hướng bàn thờ vẫn giữ nguyên như trước.

♦ Con kính xin chư vị Tôn thần bản gia, bản địa chấp lễ chấp cầu cho được phép di chuyển ban thờ sang nơi mới.

♦ Tín chủ: ……………………. con xin rập đầu kính bái.

♦ Chờ khoảng một nửa tuần hương, thì lấy tiền vàng trên ban thờ lót dưới bàn thờ. Rồi chuyển ban thờ và các đồ thờ tới vị trí mới, khi hương vẫn đang còn thắp. Khi đặt bát hương lên bàn thờ ở vị trí mới rồi thì hóa toàn bộ số tiền vàng lót dưới, lấy rượu đã rót trong chén rắc vào tro tiền vàng

♦ Sau đó, bày lễ vật: Xôi gà, hoa quả, tiền vàng mới, rượu, sớ chuyển ban thờ.v.v… trước ban thờ.

♦ Tín chủ thắp một tuần hương mới vào các bát hương, rót rượu mới ra chén, rắc một chút vào ban thờ và dưới đất rồi khấn:

“Nam mô A Di Đà Phật”

♦ Con lạy chín phương Trời, mười phương Phật

Hôm nay là ngày: …. tháng …. năm ……….. 20…..

Tín chủ con là: …………… tuổi…..

♦ Tín chủ con kính cáo: Chư vị Thổ địa mạch long thần, Tài thần cho phép con sửa soạn lễ vật : Nhục kê quí tửu, phù lưu thanh chước, kim ngân hương đăng, cùng thứ phẩm chi nghi xin làm lễ chuyển ban thờ Thổ địa bản gia, đến vị trí mới đắc đáo linh địa.

♦ Con là người trần, việc thưa gửi có bề chưa thấu tỏ, con có tờ giấy cánh sớ xin kính cẩn tấu bày. Kính xin chư vị tôn thần cho con được thành tâm kính lễ.

♦ Sau đó chủ lễ đọc sớ thiên di linh vị thần tài:

Thiên di bản gia linh vị thần đài lễ (chắp tay lễ 3 lễ)

Phục dĩ (chắp tay lễ 1 lễ)

thay bát hương bàn thờ ông địa như thế nào đúng♦ Phúc lộc thọ khang ninh, nãi nhân tâm chi kỳ nguyện, Thiên di bản gia linh vị thần đài lễ đắc hanh thông phát đạt, tai ương hạn ách bằng. Thánh lực dĩ giải trừ. Nhất nhiệm chí thành, thập phương cảm cách.

Viên hữu (chắp tay lễ 1 lễ)

http://dothobattrang.vn/van-khan-thay-ban-tho-moi-van-khan-boc-bat-huong/

……… quốc – (Hà nội)………. thị – ……… quận – ……….. phố, …… ngõ, …..số

Thượng phụng (chắp tay lễ 3 lễ)

♦ Thiên thánh hiến cống, Hạ thiên tiến lễ bái thánh thần Thiên di bản gia linh vị thần đài đắc bình an thông thuận, gia đình đắc phát đạt hưng vượng (chắp tay lễ 1 lễ)

♦ Kim thần tín chủ:……………..tuổi……Ngũ thập tứ tuế.

♦ Chủ Lễ: Tiến lễ bái thánh thần thiên di Thổ địa long mạch Tài thần

♦ Đầu thành ngũ thể, tịnh tín nhất tâm, cụ hữu sớ văn chí tâm.

♦ Thượng phụng – Cung duy (chắp tay lễ 3 lễ)

♦ Đương xứ Thành Hoàng, Hành khiển thổ địa – Phúc đức chính thần vị tiền. Ngũ phương long mạch, Tiền hậu địa chủ,Tiếp dẫn Tài thần vị tiền. Tôn thần động thừa, chiếu giám phục nguyện.

♦ Thiên vận: ……… niên; Ngũ nguyệt; Sơ lục nhật

♦ Lễ tạ lập bàn thờ thần tài

♦ Chờ đến khi trên bàn thờ còn khoảng ¼ tuần hương thì lễ tạ:

♦ Hôm nay là ngày … tháng …. năm ……… 20…….

♦ Tín chủ con là:……………, …….. tuổi, xin tâm thành tiến lễ bái Thánh thần lai lâm trước linh đài, thụ hưởng lễ vật và chứng giám lòng thành của chúng con. Cho phép chúng di chuyển ban thờ của chư vị Tôn thần bản gia. Chúng con thiết nghĩ, xưa nay âm có thuận dương mới hòa. Chúng con xin phép các vị Tôn thần chuyển ban thờ đắc đáo linh địa, cư trung chính gia trung, tăng thêm mãnh lực. Từ nay trở đi, tuần rằm mồng một, lễ tết, chúng con xin tôn nhang, sửa lễ dâng cúng chư vị Tôn thần để tạ ơn và xin cầu Phúc Lộc.

♦ Kính xin chư vị phù độ cho ……………….. chúng con được nhân khang vật thịnh, khỏe mạnh, bình an, mọi sự vạn cầu sở nguyện, vạn ước khả thành, mọi công việc làm ăn hanh thông thuận toại, tài lộc dồi dào tốt tươi, bát tiết tứ thời hưởng vinh hoa phú quí.

♦ Tín chủ: ……………………. cùng toàn gia chúng con xin rập đầu bái tạ!

♦ Sau đó, hóa vàng mã và kết thúc buổi lễ. (Rắc vài giọt rượu vào hóa tiền vàng).

bát hương giá rẻ ở chợ

http://dothobattrang.vn/van-khan-thay-ban-tho-moi-van-khan-boc-bat-huong/

【#7】Các Bài Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Năm 2021 Chuẩn Nhất

Các bài văn khấn rằm tháng Giêng hay nhất năm canh tý 2021

1.Văn khấn rằm tháng Giêng cho gia chủ

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.

Tín chủ (chúng) con là: ………………………………………..

Ngụ tại:………………………………………. ……………………..

Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm Canh Tý gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngày Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời Ông bà Tiền chủ, Hậu chủ tại về hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành phù hộ độ trì cho gia chung chúng con được vạn sự tôn lành. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng an bình.

Khấn xong, vái 3 vái.

Văn khấn rằm tháng Giêng hay nhất năm 2021 2. Bài cúng rằm tháng Giêng thần Tài, Thổ Công

Dùng cho những gia đình có bàn thờ các vị thần tài, hoặc các cơ quan, doanh nghiệp có bàn thờ thổ công, các vị thần.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Thần Quân

Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa Long Mạch

Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần

Con kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần

Con kính lạy các Tôn thần cai quản trong khu vực này.

Tín chủ (chúng) con là: ……………………………

Ngụ tại: ………………………………

Hôm nay là ngày … tháng … năm … tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả đốt nén hương thơm dâng lên trước án. Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim Niên đương cai Thái Tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ Địa. Long Mạch Tôn thần, các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc đức chính thần, các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các Ngài nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc công việc hanh thông. Người người được bình an, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Rằm tháng Giêng là ngày rằm đầu tiên của năm mới. Theo nhiều thầy phong thủy cho rằng 23 tháng chạp hàng năm là lúc các quan đóng cửa các phủ để trở về thiên đình báo cáo Ngọc Hoàng thượng đế những việc đã làm được trong một năm qua dưới trần gian. Vì vậy nếu người dân muốn được giải quyết việc gì trong năm mới thì phải đợi đến ngày rằm tháng Giêng. Vì đây là thời gian các vị thần trên thiên đình bắt đầu trở về các phủ để mở cửa lắng nghe những ý kiến muốn tâu, muốn được các quan xem xét và giải quyết trong năm tới. Một trong số những điều mà nhiều người chú ý đặc biệt hơn để cúng trong ngày rằm tháng giêng đó là việc cúng giải hạn xấu có thể gặp trong năm mới này. Nếu gia đình bạn muốn cúng dâng sao giải hạn trong năm mới thì cần phải biết bài văn khấn cúng sao giải hạn vào rằm tháng Giêng như sau.

3. Bài Văn khấn cúng dâng sao giải hạn Rằm tháng Giêng

Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm …………..

Tín chủ (chúng) con là: ………………….

Ngụ tại: ………………………………………..

Chúng con thành tâm có lời kính mời:

Nhật cung Thái Dương Thiên Tử tinh quân

Nam Tào Bắc Đẩu tinh quân

Thái Bạch, Thi Tuế tinh quân

Bắc cực Tử vi Đại Đức tinh quân

Văn Xương Văn Khúc tinh quân

Nhị thập Bát Tú, Ngũ Hành tinh quấn

La Hầu, Kế Đô tinh quân

Giáng lâm trước án, nghe lời mời cẩn tấu:

Ngày rằm Nguyên Tiêu, theo lệ trần tục, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả thắp nén tâm hương dâng lên trước án, kính mời các vị lai lâm hâm hưởng, phù hộ cho toàn gia chúng con luôn luôn mạnh khoẻ, mọi sự bình an, vạn sự tối lành, gia đình hoà thuận, trên bảo dưới nghe.

Đèn trời xán lạn.

Chiếu thắp cõi trần.

Xin các tinh quân.

Lưu ân lưu phúc.

Lễ tuy mọn bạc.

Lòng thành có dư.

Mệnh vị an cư.

Thân cung khang thái.

Phục duy cẩn cáo!

Văn khấn dâng sao giải hạn rằm tháng Giêng Những điều cần chú ý khi cúng trong ngày rằm tháng Giêng

Trong ngày rằm tháng Giêng các gia đình thường chuẩn bị mâm cỗ rất chu đáo và cẩn thận tùy vào những vùng miền khác nhau. Tuy nhiên có những điểm chung mà các gia chủ cần chú ý thận cẩn thận khi cúng rằm tháng Giêng như:

Dọn dẹp ban thờ

Hàng năm chúng ta có ngày 23 tháng chạp hàng năm để dọn dẹp và sửa soạn bát hương thật cẩn thận. Vì vậy đến ngày rằm tháng Giêng gia chủ không nên xê dịch bát hương để dọn dẹp nữa, chỉ nên lau dọn xung quanh bát hương bằng khăn sạch, trước khi lau dọn nên thắp một nén hương để xin các vị thần về việc lau dọn sắp tới. Nếu cố tình xê dịch bát hương sẽ bị các thần linh trách phạt.

Không dùng hoa giả

“Hoa tươi, quả ngọt” là một điều rất quan trọng trong ngày rằm tháng Giêng, vì vậy gia chủ không nên sử dụng bất cứ loại hoa hay quả giả nào trong ngày này. Nên mua các loại hoa cúc vàng, cúc vạn thọ, huệ trắng sẽ tốt cho ngày này.

Phải sử dụng đồ mới để cúng

Đồ cúng trên bàn thờ phải là những đồ mới hoặc các đồ riêng biệt dùng để thắp hương hàng ngày, không nên sử dụng các loại đồ đã qua sử dụng hàng ngày của gia đình vì như vậy sẽ không được sạch sẽ.

Đồ cúng lễ nên chia làm hai lễ: Lễ chay để lễ Phật và lễ mặn để lễ thần linh, tổ tiên. Nếu gia chủ làm hai lễ thì phải để riêng. Hoa quả có thể để ở ban trên để lễ Phật, còn đồ cúng mặn thì nên kê thêm bàn để ở dưới sau đó thắp hương , không nên để chung các lễ với nhau rất dễ nhầm lẫn mà còn bị phạt.

Lưu ý khi thắp hương

Thắp hương trên ban thờ tuyệt đối không thắp hương số chẵn mà cần phải thắp theo số lẻ như 1,3,5,7,9 nén hương trên mỗi bát hương. Nên ăn mặc chỉnh tề để thắp hương, không mặc quần áo cộc, váy vóc hay mặc quá luộm thuộm.

Khi khấn cần phải thành tâm chấp tay cúi lạy để tỏ ý lòng thành như vậy thì điều cầu nguyện mới được thực hiện.

【#8】#1 Bài Văn Khấn Bà Chúa Xứ

Từ xưa miếu Châu Đốc, An Giang đã nổi tiếng về linh thiêng nên được rất nhiều người nhiều nơi trên khắp đất nước tìm đến. Vì thế, những chi tiết ở bà Chúa Xứ, đặc biệt là bài văn khấn cúng bà Chúa Xứ luôn rất được quan tâm. Cùng Tâm Linh tìm hiểu ở bài viết sau.

Giới thiệu về miếu bà Chúa Xứ

Bà chúa Xứ Châu Đốc

Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nằm tại huyện Châu Đốc, tỉnh An Giang, vị trí cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 6 tiếng chạy xe. Chùa Bà Chúa Xứ được bết đến bởi những câu chuyện lưu truyền mà Châu Đốc cũng dần trở thành một trong những địa điểm thu hút nhiều du khách thập phương tìm tới để trẩy hội, hành hương.

Đặc biệt, vào tháng 4 âm lịch hàng năm là mùa lễ hội bà Chúa Xứ nên lượng người tìm tới Châu Đốc lại càng đông hơn.

Miếu bà Chúa Xứ

Hiện tại miếu bà Chúa Xứ đang nằm tại núi Sam. Phía sau miếu là vách núi, chính điện nhìn thẳng ra những cánh đồng bát ngát của Châu Đốc. Miếu được xây dựng với kiểu kiến trúc khá độc đáo, có hình chữ “Quốc” và theo dạng khối tháp.

Nhìn từ xa, miếu bà Chúa Xứ giống như một bông hoa sen đang vươn lên nở rộ. Bên cạnh đó, miếu còn gây ấn tượng với lối thiết kế kiểu tam cấp 3 tầng độc đáo có các góc mái cong vút như mũi thuyền và được lợp ngói xanh đẹp mắt.

Bà chúa xứ núi Sam

Miếu nằm ở trên núi Sam nhưng không quá cao, đường đi cũng khá dễ, không gây khó khăn nhiều cho khách hành hương tìm đến để cúng bái. Nhìn từ xa miếu giống như bông sen xanh còn khi nhìn gần mỗi chi tiết đều vô cùng tinh xảo và mang đậm vẻ đẹp nghệ thuật Ấn Độ.

Chuẩn bị lễ vật và bài văn khấn cúng bà Chúa Xứ núi Sam

Khi đi lễ bà Chúa Xứ núi Sam có hai điều mà các bạn cần phải biết và chuẩn bị, một là lễ vật cúng và hai là văn khấn bà Chúa Xứ Châu Đốc.

Về đồ khấn cúng cần có các lễ vật sau:

Bài văn khấn cúng bà chúa Xứ

Nội dung văn khấn cúng bà Chúa Xứ tương đối ngắn và dễ nhớ. Các bạn có thể học thuộc trước khi vào miếu dâng hương. Cụ thể, nội dung văn khấn như sau:

“Hương tử con lễ bạc thành tâm, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Xứ

Cúi xin được phù hộ độ trì. Hương tử con là: ……………………………………………..

Ngụ tại:……………………………………………………………………………………..

Ngày hôm nay là Ngày…………..Tháng……………….Năm

Con sắm sửa kim ngân, hương hoa, lễ vật chí thiết một lòng thành tâm dâng lễ, sám hối cầu xin phù hộ cho hương tử con được gia quyến bình an, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, bách sự cầu được như ý,…….(gia chủ muốn điều gì thì cầu xin bà chúa xứ điều đó).

Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ bà chúa xứ, cúi xin được phù hộ độ trì”.

Xin lộc và cách sử dụng lộc bà chúa Xứ linh nghiệm

Đa số mọi người đi chùa bà Chúa Xứ là để xin lộc. Lộc ở đây là bao lì xì nhỏ, được coi là bao lì xì lộc. Người ta cho rằng khi xin được các bao lì xì này có thể gặp được nhiều may mắn trong tương lai.

Cách sử dụng bao lì xì lộc như sau:

  • Sau khi xin được bao lì xì lộc phải tổ chức thỉnh lộc bà Chúa Xứ lên một cái đĩa. Bên cạnh đĩa, đặt 4 cốc nước rồi cần từng cố lên và khấn. Mục đích là để cung nghinh bà Chúa Xứ về cư gia. Ly nước sau khi khấn xong đem đổ mỗi ly một góc nhà
  • Đặt lộc của bà Chúa Xứ lên bàn thờ Mẹ Quan m chứ không nên đặt ở bàn thờ Ông Địa. Khi đặt lên bàn thờ Mẹ Quan m cần tuân thủ tục 9 ngày thay nước và 3 ngày thay trầu cau tươi 1 lần
  • Thường xuyên khấn bà Chúa Xứ để xin bà phù hộ cho bản thân cũng như các thành viên trong gia đình
  • Nếu muốn hóa lộc của bà Chúa Xứ thì nên hóa vào ngày 23 âm lịch

Lễ hội tắm cho bà Chúa Xứ thường được tổ chức vào 24 giờ đêm ngày 23, rạng sáng 24 âm lịch. Mặc dù gọi là lễ hội tắm cho bà Chúa Xứ nhưng thực chất chỉ là dùng nước thơm nấu lên pha cùng các loại nước hoa do tín chủ công đức để lau bụi bặm trên tượng bà.

Sau khi lau xong sẽ thay xiêm y, hài, mão mới cho bà. Những người tham gia tắm cho bà Chúa Xứ được Ban quản trị lựa chọn tham gia. Lễ tắm thường diễn ra trong khoảng 1 giờ. Sau khi bà tắm xong thì mọi người có thể tự do chiêm bái.

Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà

Thời gian tổ chức lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu bà là vào 15h ngày 24/04 âm lịch. Tham gia lễ này có các bô lão được làng cử ra và Ban quản trị miếu. Khi tham gia phải mặc trang phục nghiêm chỉnh, lịch sự.

Trong đoàn thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu, đi rước là đội múa lân, sau đó là ông Chánh bái rồi tới hai vị bô lão cùng với các chức sắc khác, tiếp đến là các học trò trong tay cầm cờ phướn.

Mọi người tới điện thờ Thoại ngọc hầu sẽ tiến hành dâng hoa, niệm hương và tế lễ rồi thỉnh bốn bài vị (bài vị ông Thoại Hầu, bà Chánh phẩm Châu Thị Tế, bà Nhị phẩm Trương Thị Miệt cùng bài vị Hội đồng) lên long đình về miếu bà.

Lễ túc yết

Nghi lễ này diễn ra vào 24h ngày 25, rạng sáng 26/04 âm lịch tạ chùa bà Chúa Xứ. Tham gia lễ có các bô lão trong làng, Ban quản trị miếu. Khi tham gia phải ăn mặc chỉnh tề, đứng thẳng hàng ở hai bên phía trước chánh điện. Theo sau có 4 vị học trò lễ cùng với 4 đào thầy. Ông Chánh bái là người đứng đối diện với tượng bà.

Lễ vật cúng túc yết gồm:

  • 01 mâm xôi
  • 01 mâm trái cây
  • 01 mâm trầu cau
  • 01 đĩa gạo, muối
  • 01 đĩa đựng lông và máu heo
  • 01 con heo trắng cạo lông, mổ bụng, làm sạch nhưng chưa chế biến

Ông Chánh bái và các bô lão sẽ đến trước bàn thờ để niệm hương cúng bái. Khi 3 hồi trống gỗ và 3 hồi chiêng trống kết thúc thì lễ bắt đầu. Đầu tiên sẽ là lễ dâng hương, chúc tửu, hiến trà.

Dựa theo lệnh của người xướng lễ, một người trong ban quản trị sẽ đại diện để đọc tế đọc xong thì Chánh bái sẽ đốt văn đi và heo trên bàn cúng được lật ngửa lại khiêng đi chế biến.

Lễ xây chầu

Lễ xây chầu tổ chức sau lễ túc yết và hiện được tổ chức ở hầu hết các lễ hội cúng đình tại các ngôi làng thuộc vùng Nam Bộ.

Trong buổi lễ, ông Chánh khi nghe thấy người xướng nội hô “Ca công tựu vị” sẽ tới bàn thờ đặt giữa võ ca rồi vừa cầm 2 dùi trống nâng lên tới ngang trán vừa khấn vái.

Khấn xong ông Chánh sẽ bái ca công và cầm nhành dương liễu nhúng vào tô nước trên bàn cúng vẩy khắp xung quanh, vừa vẩy vừa hô to:

“Nhất xái thiên thanh (một rảy cho trời xanh)

Nhị xái địa linh (hai rảy cho đất tốt lành)

Tam xái nhân trường (ba rảy cho con người trường thọ)

Tứ xái quỷ diệt hình (bốn rảy cho ma quỷ tiêu tan)”

Cuối cùng ông Chánh đặt lại cành dương liễu và tô nước lên bàn thờ và vừa xướng “Ca công tiếp giá” vừa đánh 3 hồi trống. Lúc này đoàn hát bội cũng nổi chiêng trống và bắt đầu hát. Các tuồng hát cũng chuẩn bị để ca múa mua vui cho bà con tham gia.

Lễ chánh tế

Lễ tổ chức từ 4h sáng ngày 26/04 âm lịch. Ngoài việc thêm một phần nội văn tế và “ẩm phước” thì về cơ bản lễ cúng này cũng giống với lễ cúng túc yết.

Vào khoảng 14h ngày 27/04 âm lịch, sẽ tiến hành làm lễ hồi sắc để đưa 4 bài bị về lại lăng ông Thoại Ngọc Hầu và chính thức kết thúc lễ hội.

Bà chúa xứ linh thiêng

Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu được tổ chức sau khi hoàn thành lễ mộc dục. Thời gian tổ chức lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu là vào 15h ngày 24 âm lịch.

Khi này, tại miếu bà, tất cả bô lão của làng cùng với Ban quản trị đều sẽ tập trung tại miếu, ăn mặc chỉnh tề với áo dài khăn đóng và xếp thành hai hàng bên tượng bà.

Đi đầu sẽ là đội múa lân. Tiếp đến sẽ là ông Hương lễ trong tay bưng theo khay trầu rượu. Hai bên sẽ là học trò lễ và sau đó là 2 ống Chánh tế cùng với 3 ông Bồi tế, 3 ông Chấp tế, các bô lão, đại diện dân làng.

Khi đi tới trước lăng Thoại Ngọc Hầu, từng bô lão lần lượt đi vào lăng dâng hương và xin phép được thỉnh bài vị.

Bốn bài vị sẽ được thỉnh lên long đỉnh đưa về miếu bà và đặt trong chính điện. Sau đó Ban quản trị sẽ tiến hành dâng hương thỉnh an tại miếu bà và tuyên bố lễ thỉnh sắc kết thúc.

Lúc này, hàng nghìn du khách hàng hương từ từ khắp các nơi cùng người dân đến dự lễ sẽ vào khấn vái cho tới tận khuya, thậm chí có khi kéo dài tới sáng hôm sau. Vì vậy, trong lễ tắm bà Chúa Xứ, thời điểm đông vui nhất chính là vào ngày lễ chính.

Tương truyền từ bao nhiêu năm nay về sự linh thiêng của miếu bà Chúa Xứ cùng kiến trúc đặc biệt, hàng năm, lượng du khách thập phương đổ về chùa luôn đông đúc, đặc biệt là tới mùa lễ hội.

Du khách khi tìm đến đây có thể tham quan kiến trúc độc đáo và vẻ đẹp khác lạ của miếu, đồng thời xin lộc của bà Chúa về để mang đến nhiều may mắn, tài lộc.

Nếu có dịp, hãy ghé qua miếu vào thời điểm lễ hội để được chứng kiến khung cảnh đông vui, nhộn nhịp nhưng cũng không kém phần thành kính, trang nghiêm.

Mặc khác, khi xin được lộc cũng phải sử dụng đúng cách để không mạo phạm bà, được bà phù hộ cho mãi về sau. Nếu hãy đến ngôi miếu này một lần, đặc biệt là vào dịp lễ hội để trải nghiệm về phong tục nơi đây.

Bài viết này đã được DMCA

【#9】3 Bài Văn Khấn Rằm Tháng 7 Cô Hồn Chuẩn Nhất

Cúng rằm tháng 7 chia ra thành lễ cúng cô hồn và cúng gia tiên. Hai lễ cúng này hoàn toàn khác nhau, bạn đọc tuyệt đối không được đồng nhất chúng thành một lễ cúng.

(Ảnh: phunutoday)

Văn khấn cúng cô hồn, chúng sinh chuẩn nhất

Xá tội vong nhân hay còn gọi là cúng chúng sinh, cúng cô hồn cần thực hiện bài cúng như sau:

Nam mô A Di Đà Phật

Nam mô A Di Đà Phật

Nam mô A Di Đà Phật

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con lạy Đức Phật Di Đà.

Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.

Tiết tháng 7 sắp thu phân

Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

Âm cung mở cửa ngục ra

Vong linh không cửa không nhà

Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả

Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

Gốc cây xó chợ đầu đường

Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

Quanh năm đói rét cơ hàn

Không manh áo mỏng, che làn heo may

Cô hồn Nam Bắc Đông Tây

Trẻ già trai gái về đây họp đoàn

Dù rằng chết uổng, chết oan

Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu

Chết tai nạn, chết ốm đau

Chết đâm chết chém, chết đánh nhau tiền tình

Chết bom đạn, chết đao binh

Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi

Chết vì sét đánh giữa trời

Nay nghe tín chủ thỉnh mời

Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

Cơm canh cháo nẻ trầu cau

Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

Gạo muối quả thực hoa đăng

Mang theo một chút để dành ngày mai

Phù hộ tín chủ lộc tài

An khang thịnh vượng hoà hài gia trung

Nhớ ngày xá tội vong nhân

Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

Bây giờ nhận hưởng xong rồi

Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

Tín chủ thiêu hoá kim ngân

Cùng với quần áo đã được phân chia

Kính cáo Tôn thần

Chứng minh công đức

Cho tín chủ con

Tên là:………………………………

Vợ/Chồng:………………………….

Con trai:……………………………

Con gái:…………………………….

Ngụ tại:……………………………..

Nam mô A Di Đà Phật

Nam mô A Di Đà Phật

Nam mô A Di Đà Phật

Văn khấn cúng thần linh tại gia rằm tháng 7

(Ảnh: vtc news)

Mâm cúng tổ tiên, thần linh tại gia thường là cỗ mặn và hương hoa, vàng mã, trầu cau, đèn, nến…

Bài văn khấn cung thần linh như sau:

Nam mô A Di Đà Phật

Kính lạy: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản xứ này.

Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm ….

Tín chủ chúng con tên là: … ngụ tại nhà số …., đường …., phường (xã) …., quận (huyện) …, tỉnh (thành phố) …. thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.

Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, soi xét chứng giám.

Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội, chúng con đội ơn Tam bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.

Do vậy, chúng con kính dâng lễ bạc, bày tỏ lòng thành, nguyện xin nạp thọ, phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình chúng con, người người khỏe mạnh, già trẻ bình an hương về chính đạo, lộc tài vương tiến, gia đạo hưng long.

Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

Văn tế khấn tổ tiên ngày rằm tháng 7

(Ảnh: eva)

Nam mô A Di Đà Phật

Kính lạy tổ tiên nội ngoại họ … và chư vị hương linh.

Hôm nay là rằm tháng Bảy năm ….

Gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung nguyên, nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức. Vi vậy cho nên nghĩ, đức cù lao không báo, cảm công trời biển khó đền. Chúng con sửa sang lễ vật, hương hoa kim ngân và các thứ lễ bày dâng trước án linh tọa.

Chúng con thành tâm kính mời: Các cụ Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Bá thúc đệ huynh, cô dì tỷ muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ … (Dương. Nguyễn, Lê, Trần …)

Cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng lâm linh sàng chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, bình an, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, hướng về chính đạo.

Tín chủ lại mời: Các vị vong linh y thảo phụ mộc, phảng phất ở đất này, nhân lễ Vu Lan giáng lâm linh tọa, chiêm ngưỡng tôn thần, hâm hưởng lễ vật, độ cho tín chủ muôn sự bình an, sở cầu như ý.

Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

Mâm cỗ cúng cô hồn bao gồm những gì?

Sau khi biết được thông tin về ngày cúng cô hồn chính xác thì người chủ sẽ tiến hành lựa chọn các lễ vật để dâng cúng. Tuy nhiên, tùy vào từng vùng miền, phong tục tập quán mà sẽ có những cách chuẩn bị lễ vật cũng như khấn cúng cô hồn khác nhau. Chính vì thế, bạn lưu ý mâm cúng cô hồn trọn gói của người Miền Nam có những đồ như sau:

– Ngũ quả: mãng cầu, xoài, sung, đu đủ, dừa,…Ngũ quả tính đúng khi dựa vào số loại quả chứ không tính số lượng.

– 1 đĩa muối, gạo.

– 12 chén nhỏ cháo trắng nấu lỏng.

– 3 hoặc 5 bát cơm vắt.

– 12 cục đường thẻ.

– Giấy áo, giấy tiền vàng bạc.

– Mía (để nguyên vỏ hoặc chặt từng khúc nhỏ có độ tầm 15cm). Bánh, kẹo.

– Tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá, và thường những loại tiền có mệnh giá nhỏ).

– 3 ly nước nhỏ.

– Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc.

– 3 cây nhang.

– 2 ngọn nến nhỏ.

– Hoa đĩa tươi, trầu cau.

Có nên cúng cô hồn hàng tháng không?

Theo tín ngưỡng tâm linh của người xưa hay quan niệm Việt Nam ta, thì việc chuẩn bị một mâm cúng cô hồn trọn gói để cúng giúp cho gia đình hòa hợp, công việc làm ăn được thuận lợi, không bị cô hồn quấy phá, quấy nhiễu.

Bên cạnh đó, việc cúng kiếng vào tháng cô hồn còn một nghi lễ bố thí, từ bi bác ái, muốn chia sẻ sự đau khổ cho các cô hồn, vong linh (ma đói) thiếu phước, đang bị bỏ đói khát triền miên, bơ vơ, vất vưởng không nơi cư trú, lang thang không siêu thoát và đặc biệt là không có người cúng giỗ cẩn thận.

Việc cúng cô hồn được xem như việc tích đức cho cuộc sống ở cõi trần được hưởng sự an lành, thoải mái. Sẽ không bao giờ phải lo sợ những cô hồn luôn luôn quấy nhiễu, cản trở công việc, sức khỏe

Những điều kiêng kỵ khi cúng cô hồn

1. Không đi chơi đêm trong tháng cô hồn vì theo quan niệm dân gian, buổi đêm là lúc ma quỷ lộng hành nhất nên người dương cần hạn chế đi chơi đêm để tránh gặp rắc rối.

2. Không phơi quần áo vào ban đêm vì ma quỷ có thể “mượn tạm” để mặc sẽ khiến bạn gặp xui xẻo.

3. Không gọi, gào thét tên nhau giữa đêm khuya vì hành động này sẽ khiến ma quỷ ghi nhớ tên người được gọi và có thể sẽ ám người đó.

4. Không tùy tiện đốt tiền vàng, vàng mã trong tháng cô hồn vì việc này có thể khiến ma lang thang khắp nơi bu quanh bạn nhiều hơn, quấy nhiễu cuộc sống của bạn.

5. Không ăn vụng đồ khi cúng cô hồn. Đến rằm tháng 7, nhà nào cũng làm mâm cúng cô hồn để ban phát đồ ăn, thức uống cho các linh hồn, quỷ đói, nhưng nếu ăn đồ của người âm mà chưa cúng hoặc chưa xin phép sẽ rước họa vào thân.

6. Không đứng gần cây đa, cây đề vì theo quan niệm dân gian, vào ban đêm dưới gốc cây đa, cây đề hội tụ rất nhiều âm khí, đặc biệt vào tháng cô hồn. Do đó người dương không nên ngồi, nằm, trốn ở đó để tránh ma quỷ trêu đùa.

7. Không treo chuông gió ở đầu giường vì tiếng chuông gió sẽ gọi ma quỷ đến nhà gây ảnh hưởng đến giấc ngủ và cuộc sống của bạn.

8. Không bơi lội trong tháng cô hồn, nhất là ở sông suối, ao hồ vì ở đây âm khí rất nhiều. Khi bơi nếu không cẩn thận sẽ bị trẹo chân chuột rút thậm chí bị ma rủ.

9. Không được hù dọa người khác vì có thể khiến họ bị “hồn bay phách lạc”, dễ bị ma quỷ xâm nhập lúc nào không hay.

10. Không nhổ lông chân trong tháng cô hồn. Theo quan niệm dân gian, “một sợi lông chân quản 3 con quỷ” nên nếu nhổ lông chân trong tháng cô hồn thì người đó rất dễ gặp phải chuyện xui xẻo trong cuộc sống.

11. Không quay đầu nhìn lại phía sau khi đến nơi vắng vẻ và nếu có cảm giác như đang có người đi theo hoặc gọi tên mình thì bạn cũng tuyệt đối không được quay đầu lại vì rất có thể là bạn đang bị ma quỷ trêu chọc. Nếu quay đầu lại sẽ dễ bị rủ về cõi âm.

12. Không nên thức quá khuya vì ảnh hưởng đến sức khỏe dẫn đến suy nhược và dễ nhiễm quỷ khí.

13. Không nhặt tiền rơi trong tháng cô hồn vì đó có thể là tiền người ta cúng dùng để mua chuộc bọn quỷ đầu trâu mặt ngựa. Nếu nhặt tiền đó, người nhặt sẽ phải hứng chịu những tai họa thay cho người rải tiền.

14. Không mài dao kéo.

15. Hạn chế làm những chuyện đại sự như ký hợp đồng làm ăn, cưới hỏi, xây nhà… Trong trường hợp bất khả kháng thì cần phải xem kỹ ngày.

XEM THÊM

【#10】Chi Tiết Bài Văn Khấn Tứ Phủ Khi Đi Lễ

Chi Tiết Bài Văn Khấn Tứ Phủ Khi Đi Lễ là Bản đầy đủ dành cho các thầy và Bản Văn khấn ngắn gọn dành cho các con nhang, đệ tử.

VĂN KHẤN TỨ PHỦ

Đối với các con nhang, đệ tử đi lễ không thường xuyên thì nên khấn ngắn gọn như sau: Nam mô a di đà phật ( 3 lần ) Con lạy chín phương trời, con lạy mười phương đất, con lạy chư phật mười phương, mười phương chư phật. Con lạy toàn thể chư phật, chư tiên, chư thánh. Con lạy: ………..( tên thánh chủ bản đền. Ví dụ, đến đền Cô Chín ta khấn: Con lạy Cô Chín tối linh) Đệ tử con tên là:…………. tuổi:………. Hôm nay, (không cần nói rõ ngày tháng làm gì – Nếu không nói thì nhà thánh không biết hay sao), Chúng con đến đây có chút hương hoa, phẩm quả, lễ mặn (chú ý dâng gì thì kêu đó nghe – không có lễ mặn mà kêu lễ mặn là phải tội đó, nên nhớ không bày lễ mặn ở cung phật) xin dâng lên các chư tiên, chư thánh để cảm tạ ơn đức của các ngài đã phù hộ độ trì cho chúng con suốt thời gian qua. Vừa qua, được sự lưu tâm độ trì của các ngài mà công việc (Nếu đã xin việc gì cụ thể mà thành công thì xin trình bày ) của con đã hanh thông vẹn tròn. Chúng con xin được cảm tạ và lễ tạ tất cả các Ngài. Hôm nay, chúng con tới đây với tất cả lòng thành kính xin các ngài phù hộ độ trì cho con các việc sau: ( Nêu cụ thể các việc cần xin, các khó khăn có thể gặp phải và có thể cả hướng định giải quyết ra sao). Một lần nữa, thay mặt gia chung chúng con, con xin các ngài giang tay cứu giúp cho chúng con. Chúng con xin đa tạ …( tên vị thánh bản đền) và toàn thể các chư tiên, chư thánh. Nam mô a di dà phật (3 lần).

Một số lưu ý về bài khấn trên:

-Do các ngôi vị của nhà thánh rất nhiều chúng ta chỉ khấn: Toàn thể chư tiên, chư thánh là đủ hết cả rồi, chả sót một ai. Nên các bác cứ an tâm mà khấn.

– Cũng lưu ý khi khấn bên cung phật thì đoạn “chư phật, cư tiên, chư thánh” thì chỉ cần khấn chư phật thôi, còn khấn bên cung thánh thì có thể khấn chư tiên, chư thánh thôi.

Một số điểm lưu ý khi khấn để có ứng nghiệm được tốt nhất

– Cần quỳ lạy tốt hơn nếu có điều kiện về vị trí, chỉ đứng khi không có chỗ để ngồi. Nhà thánh không chấp nếu ta không có chỗ quỳ lạy, nhưng sẽ chấp ta nếu có chỗ mà không quỳ. Quỳ là sự thể hiện sự tôn kính mà.

– Khi khấn cần chắp tay cung kính, dồn toàn bộ tâm trí vào câu khấn,. Có thể mở mắt, nhưng phải để hướng mắt vào các tượng thánh. Có thể nhắm mắt để tiện cho dồn tâm trí vào câu khấn thì trong tâm vẫn phải hướng thẳng vào cung thờ.

– Không quá nặng nề về câu chữ để sao cho lời khấn được mạch lạc, để có thể khấn bằng cả cái tâm của mình. Đây là phần quan trọng nhất trong khi khấn. Có làm được như vậy thì cây cầu tâm linh giữangười khấn với cõi tâm linh mới được kết nối. Khi đó lời khấn của mình mới được chứng. Nếu trong khi khấn mà không tâm niệm được điều này thì có khấn hay đến đâu cũng khó được chứng giám. Tuyệt đối không được mang bản in sẵn ra mà đọc. Nếu ta đọc thì cây cầu âm dương không bao giờ được kết nối.

– Nên dãi bày chi tiết cụ thể các việc mình cần xin thì càng tốt. Có như vậy, cõi âm mới biết mình vướng cái gì, mắc ở đâu, chỗ nào ngăn trở mình thì cõi âm mới có cách giải quyết cho chúng ta được. Không nên khấn chung chung không cụ thể như: Mua một bán mười, tài lắm, nhiều lộc, gặp may gặp mắn…..

– Đi lễ không quá cầu kỳ về đồ lễ vì cõi âm thường: Chứng tâm không chứng lễ. Nếu có lễ thì nên đơn sơ. Chúng ta nên dành bớt phẫn lễ để cung tiến, hay giọt dầu. Việc đó tốt hơn vì góp công của xây dựng nhà đền sẽ được nhà ngài chứng tâm nhiều hơn. Cha mẹ nào chả thương con nghèo. Vì thế, không nên đua đòi sắm lễ, đặc biệt là mã cho tốn kém mà không giúp gì cho hưng thịnh đền nhà ngài. Nhà thánh hàng năm nhận hàng vạn mã, vàng thử hỏi có dùng làm chi ở cõi đó. Lễ mã chẳng qua là thể hiện lòng tôn kính mà thôi.

– Hãy tự mình khấn thì tốt hơn vì các thầy chỉ thay mình khấn hộ nên chỉ khấn được chung chung hoặc chỉ là tên sự việc chứ không thể tả được các khúc mắc trong sụ việc như chính bản thân chúng ta. Vì vậy, khi thầy khấn xong ta nên tự khấn một mình sau, nếu không thì có thể khấn thầm ngay khi các thầy khấn chung. Lưu ý, chỉ khấn nhẩm thầm để tránh ảnh hưởng đến người xung quanh. Nếu ta làm ảnh hưởng đến người xung quanh thì chính chúng ta không tôn trọng chính mình thì há chi nhà thánh còn muốn nghe chi lời trình bày của mình nữa.

– Một điểm lưu ý thêm là bà con hay có cái tật đi với thầy, khi thầy lễ cho người khác thì mình không thèm để ý. Tốt nhất là phải lắng tâm để nghe và cùng lạy tạ cho người ta. Mình không tiếp phúc cho người thì há chi người tiếp phúc cho ta. Mà với nhà thánh ai chả là con, nhà thánh không thích những kẻ chỉ biết cho chính mình mà quên đi đồng loại.

Bản Văn khấn Tứ Phủ đầy đủ

Bản này dành cho các thanh đồng và đồng thày. Các bác đi lễ không thường xuyên không nên khấn vì khấn ấp úng sẽ không kết nối được âm dương. Con niệm Nam Mô A Di Đà Phật(3 lần) – Con lạy chín phương Trời, con lạy mười phương Đất, con lạy mười phương chư Phật ,chư Phật mười phương, – Nam Mô Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật. – Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. – Nam Mô Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật. – Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Con Lạy Chư Đại Bồ Tát, Chư Hiền Thánh Tăng .Hộ Pháp Chư Thiên, Thiện Thần Bồ Tát. – Con lạy Tam Vị Đức Vua Cha Đức Tam Thập Tam Thiên Thiên Chúa Đế Thích Đề Hoàn Nhân Thánh Đế Ngọc Bệ Hạ Con Lạy Hiệu Thiên chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Huyền Cung Đại Đế Ngọc Điện Hạ. Con lạy Đức Phật Mẫu Hoàng Thiên Con Lạy Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình Thủy Quốc Long Vương. -Con lạy Tam Tòa Thánh Mẫu: Con Lạy Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên Con Lạy Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn Con Lạy Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ Con Lạy Mẫu Đệ Tứ Khâm Sai Con Lạy Hội Đồng Quan Tứ Trụ Triều Đình Con Lạy Tam Phủ Công Đồng, Tứ Phủ Vạn Linh hội Đồng Tiên Thánh Đông A Phủ. -Con lạy Trần Triều Hiển Thánh Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương. Con lạy Trần Triều Khải Thánh Vương Phụ, Vương Mẫu, Vương Phi Phu Nhân, Trần Triều Vương Huynh, Vương Đệ.Vương Tử ,Vương Tế, Vương Nữ Vương Tôn Con Lạy văn võ bá quan quân thần trần triều Con lạy Tam Tòa chúa bói -Hội đồng Chúa bói Chúa chữa Chúa Mán Chúa Mường Con Lạy Chúa Đệ Nhất Tây Thiên Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ Chúa Đệ Tam Lâm Thao Tiên Chúa Thác Bờ Con Lạy Ngũ Phương Bản Cảnh Vũ Quận Bạch Hoa -Năm Phương Chúa Bà -Con lạy Ngũ Vị Vương Quan, Tôn Quan Đệ Nhất Thượng Thiên , Tôn quan Đệ Nhị Giám Sát, Tôn Quan Đệ Tam Thoải Phủ, Tôn quan Đệ Tứ Khâm Sai, Tôn Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh. Con lạy Tôn Quan Điều Thất . -Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Chầu Bà: Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn Đông Cuông Chầu Đệ Tam Thoải Phủ Chầu Đệ Tứ Khâm Sai Chầu Năm Suối Lân Chầu Lục Cung Nương Chầu Bảy Tiên La Chầu Bát Nàn Đông Nhung Đại Tướng Quân Chầu Cửu Sòng Sơn Chầu Mười Đồng Mỏ Con lạy Hội Đồng Chầu Bé-Con Lạy Chầu Bé Thượng Ngàn Quyền Cai Bắc Lệ -Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Thánh Hoàng, thập vị quan Hoàng: Quan Hoàng Quận, Quan Hoàng Đôi Triệu Tường, Quan Hoàng Bơ Thoải Cung, Quan Hoàng Tư Thủy Phủ, Quan Hoàng Năm, Quan Hoàng Sáu , Quan Hoàng Bảy Bảo Hà, Quan Hoàng Tám, Quan Hoàng Chín, Quan Hoàng Mười. Con lạy 36 tòa Sơn Trang , Tám Tướng Thập Nhị Tiên Nàng -Con lạy Tứ Phủ Thánh Cô Con xin kính lạy Cô Nhất Thượng Thiên- Cô Cả đền Dùm Con lạy Cô đôi Thượng Ngàn Cô bơ Thoải, con lạy Cô Tư Ỷ La, Cô Năm Suối Lân, Cô Sáu Lục Cung, Cô bảy Tân La, cô Tám Đồi Chè, Cô chín Sòng Sơn, Cô Mười Đổng Mỏ, Hội đồng cô bé, Con Lạy Cô Bé Thượng ngàn, cô bé Thoải .con lạy cô Bé Bản Đền (bản điện), Con lạy Tứ Phủ Thánh Cậu trên Ngàn dưới Thoải, Con lạy Cậu đệ nhất Hoàng Thiên , Cậu Hoàng Đôi Thượng Ngàn, Cậu Hoàng Ba Thoải, Cậu Hoàng Tư Long Thành , Con Lạy Cậu Bé Hoàng Thiên , Cậu Bé Thượng Ngàn, Cậu Quận Phủ Dầy, Cậu Đồi Ngang Phố Cát .Con lạy cậu bé bản Đền (Bản Điện). – Con Lạy Hội Đồng Quan Ngũ Dinh, Đôi quan Thanh Xà Bạch Xà, Sơn Thần Bản Thổ Ngũ Hổ Thần Tướng- – Con cung thỉnh mời chư vị Chúa Chầu các Quan thủ Đền thủ Điện, Chư vị Thành Hoàng Bản Thổ , Chư vị Thần thổ cư đồng ngự dải đất này. -Đệ tử con tên là:…………. tuổi:………. Kim niên kim nguyệt cát nhật lương thời. Hôm nay ngày:… Tháng:… Năm:… ( Dâng gì cầu gì khấn nấy hoặc theo bài bên dưới) Đệ tử con nhất tâm 1 lòng, nhất tòng 1 đạo, nhất tâm trí thiết, nhất dạ chí thành, đêm tưởng ngày mong, tu thiết hương, hoa, đăng, trà, quả, thực (mang miệng về tâu, mang đầu về bái), trên con tấu thượng thiên, dưới con đệ trình long cung thuỷ phủ cùng đồng gia quyến đăng cung phụng cửa đình thần tam tứ phủ ……………(tên đền) linh từ. Mong trên cha độ, dưới mẫu thương, đèn trời đuốc biển soi đường dẫn lối, phù hộ độ trì cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà , vuốt ve che trở cho gia chung chúng con trong 3 tháng hè, 9 tháng đông, tai qua nạn khỏi- Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được bình an vô sự, cửa nhà khang ninh, cầu danh đắc danh , cầu phúc đắc phúc, đắc tài sai lộc…… Dãi tấm lòng thành cúi xin Phật Thánh Chúa Tiên anh linh chứng giám!!! -Cung thỉnh công đồng Lục Cung Tiên Tổ dòng họ….. nguyên quán…..,Tổ Cô Mãnh Tướng,cậu bé cô bé tại gia, chư vị tiên linh trong dòng họ theo hầu Phật Thánh cửa Đình Thần Tam Tứ Phủ, trên tấu tòa vàng Thượng Thiên , dưới tấu Thủy Cung Địa Phủ ,cho con cháu nhất một lòng, tòng một đạo Sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm… Kim niên kim nguyệt cát nhật lương thời. Hôm nay ngày:… Tháng:… Năm:… Đệ tử con nhất tâm 1 lòng, nhất tòng 1 đạo, nhất tâm trí thiết, nhất dạ chí thành, đêm tưởng ngày mong, tu thiết hương, hoa, đăng, trà, quả, thực mang miệng về tâu, mang đầu về bái, trên con tấu thượng thiên, dưới con đệ trình long cung thuỷ phủ cùng đồng gia quyến đăng bái yết cửa đình thần tam tứ phủ ……………(tên đền) linh từ. Mong trên cha độ, dưới mẫu thương, đèn trời đuốc biển soi đường dẫn lối, phù hộ độ trì cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà cung như vuốt ve che trở cho gia chung chúng con trong 3 tháng hè, trong 9 tháng đông, đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được bình an vô sự, vạn sự như ý, có bệnh thì tan, có nạn thì qua, tai quan nạn khỏi …… Dãi tấm lòng thành cúi xin Phật Thánh Chúa Tiên anh linh chứng giám!!! – Cung thỉnh công đồng Lục Cung Tiên Tổ dòng họ….. nguyên quán…..,Tổ Cô Mãnh Tướng,cậu bé cô bé tại gia, chư vị vong linh trong dòng họ đang hầu hạ phật thánh, làm đầy tôi kẻ tớ tại các bản đền bản phủ tấu đối phụng đình cho con cháu nhất tâm một lòng nhất tòng một đạo cầu được ước thấy, cầu sao được vậy…

Xin chúc bà con đi lễ vui vẻ và gặp may nhiều may mắn. Với sự thành tâm của mình, người viết hy vọng các điều cầu xin của bà con đều được cõi trên lưu ân, giáng phúc.

Xem Ngay Tuổi Xông Đất 12 Con Giáp 2021