Cúng Thần Tài Ngày Rằm: Nhẩm Khấn Đúng Bài Để Thần Ưng Bụng Mở Túi Ban Phát Lộc Lá, Làm Gì Cũng Gặp May

--- Bài mới hơn ---

  • Thần Cấp Căn Cứ Chương 158: Yêu Tinh Nước Trái Cây
  • Tả Một Ngày Mới Bắt Đầu Ở Quê Em
  • 30 Ngày Thiền Thất Bên Trong Vạn Phật Thánh Thành
  • Mối Liên Hệ Giữa Đức Phật Và Thánh Mẫu
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài
  • Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

    Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    Con kính lạy ngày Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

    Con kính lạy Thần tài vị tiền.

    Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

    Tín chủ con là…… Ngụ tại………

    Hôm nay là ngày… tháng… năm…

    Tôi chủ thành sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị.

    Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Khi bài biện bàn thờ Thần tài cần lưu ý những thứ không thể thiếu sau:

    – Tượng ông Thần Tài đặt bên trái, tượng ông Thổ Địa đặt bên phải (hoặc bài vị).

    – Một bát hương đặt ở giữa bàn thờ.

    – Lọ hoa đặt bên tay phải. Hoa cúng nên là hoa cúc, hoa đồng tiền hoặc hoa hồng.

    – Đĩa quả tươi đặt bên tay phải. Chuẩn bị 5 loại trái cây khác nhau.

    – Chén nước

    – Đèn hoặc nến

    – Đĩa bày đồ lễ

    Bàn thờ Thần Tài đặt ở vị trí sáng sủa, có ánh sáng tự nhiên là tốt nhất. Nếu bàn thờ tối thì có thể thắp thêm đèn cho sáng. Bên cạnh bàn thờ, để tăng thêm những linh khí tốt đẹp, bạn có thể đặt một chậu cây xanh tốt quanh năm.

    Khi cúng Thần Tài – Ông Địa người ta thường cúng nhiều thứ, nhưng có lẽ các vị này thích nhất là đồ ngọt. Thịt quay, bánh hỏi, chuối, bưởi….

    Gia chủ nên mua tiền giấy cúng riêng Thần Tài – Ông Địa, người ta làm sẵn cả một bộ, trong đó có tiền Quý Nhân (Âm và Dương – Tức là những tờ giấy gập đôi màu đỏ có đục những hình Thần Tài khắp bề mặt).

    (Bài viết chỉ mang tính tham khảo)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Chép Đỏ (Chép Ông Táo)
  • Đỏ Rực Cả Làng, Hàng Tấn Cá Chép Chuẩn Bị Tết Ông Táo
  • Thắp Hương Ngày Rằm Và Mồng 1 Cần Có Những Gì?
  • Cách Nấu Bún Riêu Chay Để Thắp Hương Mồng 1 Và Ngày Rằm
  • Những Món Ngon Ngày Tết Miền Bắc Trong Nỗi Nhớ Của Người Xa Xứ
  • Hướng Dẫn Cách Thờ Phật Bà Quan Âm Từ Bố Trí Đến Văn Khấn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Đặt Tượng Phật Bà Quan Âm Ngoài Trời Đúng Phong Thủy
  • Cách Đặt Tượng Phật Bà Quan Âm Ngoài Trời Giúp Gia Đình Bình An
  • Cách Đặt Tủ Thờ Phật Bà Quan Âm Tại Nhà Để Mang Lại Bình An
  • Cách Lập Bàn Thờ Phật Quan Âm Tại Nhà
  • Cách Chọn Đèn Thờ Phật Bà Quan Âm Bồ Tát Sao Cho Đúng Nhất
  • Cuộc sống ngày càng hiện đại, con người càng chạy theo những hào nhoáng bên ngoài. Điều này đẩy họ vào hố sâu hơn của thống khổ. Khi quá thống khổ bởi những vô thường của đời người từ sinh lão bệnh tử, danh vọng, con người thường tìm về với đức tin. Lúc này, Phật Bà Quan Âm như một người mẹ hiền từ gần gũi được nhiều người tin kính. Nhưng, cách thờ Phật Bà Quan Âm như thế nào để bày tỏ lòng thành kính sâu sắc nhất? Chúng ta cùng tìm hiểu qua nội dung sau.

    Ý nghĩa của bàn thờ Phật Bà Quan Âm

    Người ta thường nói mẹ Quan Âm, nghĩa là như một người mẹ hiền từ đầy lòng từ bi đối với mọi người con. Nhắc đến mẹ Quan Âm là nhắc đến một hình ảnh thướt tha trong tà áo thoát tục, gương mặt phúc hậu và ánh mắt như nhìn thấu cả chúng sinh ba cõi.

    Phật Bà Quan Âm còn là đại biểu của đức hạnh nhẫn nhục. Điều này có thể thấy qua hình ảnh của nhành liễu và bình cam lồ. Khi người dùng nhành liễu lấy cam lồ đi rưới khắp thế gian, hay còn có nghĩa là muốn có được từ bi phải lấy chữ nhẫn làm đầu. Nếu không có tính nhẫn, tâm tư sẽ nổi lên muôn tầng oán hận, trách mắng, thì làm sao có được bao dung và từ bi?

    Vậy nên, thờ Phật Bà Quan Âm là học theo đức hạnh của người, rèn lòng yêu thương trắc ẩn đối với mỗi người xung quanh. Có như vậy mới xứng đáng là những người con của Đạo.

    Bên cạnh đó, với lòng từ bi hỷ xả của mình, mẹ Quan Âm nguyện chở che cho hết thảy những đứa con tôn kính người, mang họ đi ra khỏi vũng bùn của khổ đau và vô minh. Đồng thời cũng giúp chúng ta rước vào nhà những may mắn, thiện lành, hạnh phúc.

    Nên thờ Phật Quan Âm đứng hay ngồi

    Hình ảnh Phật Quan Âm dù đứng hay ngồi cũng đều mang thần thái trang nghiêm của đấng tối cao. Nếu là mẹ Quan Âm đứng thường được thờ ngoài trời, nơi có không gian rộng lớn như trên đỉnh núi của chùa, trong khuôn viên thanh tịnh tại gia, hoặc trên sân thượng của một số gia đình ở thành thị. Nếu là mẹ Quan Âm ngồi thì thường được thờ bên trong đền chùa, miếu mạo hoặc trên bàn thờ trong nhà của mỗi gia đình.

    Nói chung, thờ Phật Quan Âm đứng hay ngồi không phải là vấn đề, cái chính ở đây là không gian thờ như thế nào, phù hợp với tư thế nào của mẹ Quan Âm. Còn điều quan trọng nhất là cách thờ, quý vị có đủ lòng thành kính không, không gian có trang nghiêm không, mâm quả có tươi xanh không, hương hỏa có đầy đủ không,…

    Chỉ cần bạn đủ lòng tin vào mẹ Quan Âm, tu theo đạo hành của người, để bản thân có đủ dũng cảm vượt qua những sai trái lỗi lầm, học sự nhẫn nhục của người, nuôi dưỡng lòng từ bi. Lúc này, quý vị sẽ trở thành người con của mẹ Quan Âm và sẽ được người che chở, bảo vệ.

    Cách bố trí bàn thờ Phật Bà Quan Âm

    Khi bố trí bàn thờ Phật Bà Quan Âm, cần chú ý đến một số yếu tố như:

    • Đặt bàn thờ Phật Bà Quan Âm hướng ra cửa chính, cửa sổ hoặc ban công của gia đình. Tuyệt đối quý vị không nên đặt bàn thờ hướng vào phía trong nhà vệ sinh, nhà bếp hoặc phòng ngủ, nơi diễn ra sinh hoạt hằng ngày của chúng ta, thường phát sinh những ô uế, như vậy là có tội với thần linh.
    • Vị trí đặt bàn thờ nên có không gian tôn nghiêm riêng, có thể là ở giữa nhà, cao hơn chúng ta ít nhất một cái đầu. Còn nếu có điều kiện, quý vị nên xây một phòng riêng ở vị trí cao nhất và biệt lập với sinh hoạt chung để thờ phượng Phật Bà Quan Âm.
    • Thường xuyên lau chùi, dọn dẹp sạch sẽ bàn thờ và khu vực thờ. Không để bàn thờ Phật lạnh lẽo mà phải thường xuyên hương hỏa, mâm quả tươi mới, đầy đủ. Lòng thành kính không phải chỉ nói mà phải làm, những gì cần làm đơn giản nhất là những điều như vậy.
    • Nên thỉnh tượng Phật phù hợp với không gian thờ, không nên quá to hoặc quá nhỏ. Nếu nhà quý vị kinh doanh nhà hàng ăn uống đồ mặn thì không nên thờ tượng Phật Bà Quan Âm ngay không gian đón đãi khách. Vì như thế được xem là bất kính với người.
    • Đặc biệt, nên thỉnh tượng Phật ở nơi có uy tín, bởi vì những đơn vị này thường tạc tượng bằng tất cả sự chân thành của mình, ký thác sự trung thành với đạo vào từng tác phẩm tượng. Những bức tượng như vậy sẽ có giá trị thẩm mỹ rất cao và toát ra thần thái trang nghiêm vốn có của thân Phật.

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát. Con kính lạy Đức Viên Thông Giáo chủ thùy từ chứng giám. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm Canh Tý Tín chủ con là: ………………………………………. Ngụ tại: ………………………………………….. Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng. Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con, như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

    Văn khấn Quan thế âm Bồ Tát

    Chú ý: Văn khấn chỉ mang tính chất tham khảo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Đặt Tủ Thờ Phật Chung Với Gia Tiên Đem Lại May Mắn Cho Gia Chủ
  • Cách Bố Trí Bàn Thờ Phật Chung Với Gia Tiên Hợp Phong Thủy
  • Mẫu Bàn Thờ Phật Chung Với Gia Tiên
  • Đặt Bàn Thờ Phật Chung Với Gia Tiên Có Được Không?
  • Có Nên Thờ Phật Chung Với Ban Thờ Tổ Tiên Không?
  • Bài Khấn Nguyện Trước Bàn Thờ Phật, Ông Bà, Bàn Thiên Khan Truoc Ban Tho Ong Ba Ban Tho Phat Ban Thien Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Ý Nghĩa Bài Nguyện Trước Bàn Thờ Ông Bà
  • Cách Cắm Hoa Cúc Vàng Để Bàn Thờ Ngày Tết Và Các Ngày Lễ
  • Hướng Dẫn Cắm Hoa Cúc Để Bàn Thờ Đẹp Cho Ngày Lễ Tết
  • Cách Cắm Hoa Cúc Vàng Để Bàn Thờ Ngày Tết Và Ngày Lễ Đẹp Nhất
  • 8 Cách Cắm Hoa Cúc Vàng Trên Bàn Thờ Cúng Mà Bạn Nên Biết
  • BÀI KHẤN NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜ ÔNG BÀ, BÀN THỜ PHẬT, BÀN THIÊN

    1.Bài Khần Nguyện trước Bàn thờ Ông Bà – Cửu Huyền Thất Tổ

    ( Do Đức Huỳnh Giáo Chủ truyền dạy lại cho chúng ta ):

    *Cầm hương xá 3 xá, quỳ xuống chắp tay đưa lên trán nguyện:

    Cúi kính dâng hương trước Cửu-Huyền.

    Cầu trên Thất-Tổ chứng lòng thiềng.

    Nay con tỉnh ngộ quy-y Phật.

    Chỉ dốc tu hiền tạo phước duyên.

    *Cắm hương rồi đứng ngay thẳng chắp tay vào ngực đọc tiếp:

    Cúi đầu lạy tạ Tổ-Tông.

    Báo ơn sanh-dưỡng dày công nhoc nhằn.

    Rày con xin giữ Đạo hằng.

    Tu cầu Tông-Tổ siêu thăng Phật-đài.

    Nguyện làm cho đẹp mặt mày.

    Thoát nơi khổ hải Liên-đài được lên.

    Mong nhờ Đức Cả bề trên.

    Độ con yên ổn vững bền cội tu.

    2.Bài Khấn Nguyện trước Bàn thờ Phật

    ( Do Ngài Từ Vân Sám Chủ truyền dạy cho chùng ta ):

    -Vào buổi sáng sớm ( Công việc rãnh , sau khi đã súc miệng, đánh răng, rửa mặt và mặc quần áo sạch sẽ ).

    Nếu có bàn Phật thì đến trước lễ 3 lạy ( Nếu không có thì xoay mặt về hướng Tây, xá 3 xá ).

    -Đứng thẳng, mắt nhắm, chắp tay trước ngực, hít 1 hơi thật sâu rồi ngưng lại, miệng niệm ra tiếng câu ” NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT “, hết 1 hơi tính là 1 niệm ( Hơi theo tiếng mà ra ). Cứ như vậy niệm cho đủ 10 hơi ( Tùy hơi ngắn dài không ép, ép thì lao hơi, chỉ đủ 10 niệm, nếu hơn cũng lao hơi ).

    -Sau khi niệm đủ 10 hơi như trên. Tiếp đọc bài Kệ Phát Nguyện

    ” Con nguyện cùng người niệm Phật. Lâm chung thấy Phật. Vãng sanh Cực Lạc. Như Phật độ tất cả “

    sau đó lễ Phật 3 lạy rồi lui ra làm việc ( Hoặc nế u không có bàn Phật thì xá 3 xá ).

    Đây là phép Thập Niệm Kí Số do Ngài Từ Vân Sám Chủ lập ra cho vua quan vì bận việc triều chính không có đủ thời giờ tu niệm. Do dó, chúng ta là người trong thời buổi hiện nay, nếu không có nhiều thời giờ tu niệm thì cứ việc giữ y pháp này mà tu niệm. Ngay cả chính bản thân tôi và tất cả mọi người cùng áp dụng cách tu niệm này, không hình thức, không lễ nghi cầu kỳ, chỉ việc giữ cho liên tục là được ( Có 1 bà cụ thường niệm Phật mà không Phát Nguyện cụ thể. Khi bà gặp tôi , tôi đã chỉ cho bà bài Phát Nguyện ngắn gọn ở trên mà Chư Tổ đã truyền lại. Khoảng thời gian sau đó bà mất, theo lời Chư Tăng và các đạo hữu đã xác nhận là bà đã vãng sanh. Vì lúc bà trút hơi thở cuối cúng thì tâm bà vẫn bình tĩnh không xao động, miệng vẫn luôn niệm Phật không lơi. khi chết sắc mặt bà vẫn tươi hồng mặc dù trước đó bà bệnh lao, và miệng bà vẫn nở một nụ cười đầy mãn nguyện. Các đạo hữu thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng niệm Phật của bà vang vẳng bên tai khi ở trong chính điện ). Phép này tuy số niệm có ít, do đó phải giữ liên tục không cho gián đoạn ( Dù không niệm vào buổi sáng được thì có thể niệm vào các thời gian khác trong ngày, nên giữ cho đúng vào buổi sáng là tốt hơn hết nên nhớ đừng quên ), công đức sâu dày của phép niệm Phật này sẽ là hành tranh đưa chúng ta vãng sanh Cực Lạc. Kính mong quí vị và các ban thự hành phép niệm Phật đơn giản, mạnh khỏe và đầy sự mầu nhiệm này.

    3.Bài Khấn Nguyện trước Bàn Thiên

    ( Do Đức Diêu Trì Tây Vương Mẫu truyền dạy cho vị nữ đệ tử của Ngài từ thuở trước ):

    Cầu nguyện bàn Phật xong, nếu có ít thời giờ thì ra ngoài Trời chỗ Bàn Thông Thiên, nguyện vái bài này:

    Nam mô Đại Đức Phật Thiên Hoàng.

    Nam mô Đại Đức Phật Địa Mẫu Hoàng.

    Nam mô Các Đại Đức thiêng liêng.

    Đêm 5 canh có 5 ông tuần vảng, ngày 6 khắc có các ông du Thánh xét soi, đồng cảm ứng chứng minh cho đệ tử… Cầu nguyện dân an quốc thới, xứ xứ đều hòa phục, đẳng nguyện giao do phước tho trường và bá tánh bá gia cùng nội bửu quyến, con cháu lớn nhỏ xa gần tai qua nạn khỏi, tật bệnh tiêu trừ, viễn cận đàn na tăng duyên phước thọ.

    ( Lạy 4 hướng mỗi hướng 3 lạy, lạy đứng hay lạy quỳ tùy theo lúc mạnh yếu, nếu không lạy được thì xá 4 hướng mỗi hướng 3 xá ).

    Ngưỡng mong Tam Bảo chứng minh tiếp độ và gia hộ cho toàn thể chúng con.

    Nam mô Nho-Thích-Đạo Tam Giáo Giác Thế Đại Thiên Tôn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Cắm Hoa Bàn Thờ Gia Tiên Giúp Thu Tài, Nạp Khí, Đón May Mắn
  • 10 Mẫu Bàn Thờ Gia Tiên Đẹp Đơn Giản Và Hiện Đại Được Yêu Thích Nhất
  • Trang Trí Bàn Thờ Gia Tiên Đẹp Hơn Trong Ngày Cưới Với Những Loại Hoa Sau
  • Nét Hồn Việt Trong Những Bức Tranh Hoa Sen Treo Phòng Thờ “liên Hoa Diệu Pháp”
  • Tranh Treo Ở Phòng Thờ Sao Cho Đẹp Và Ý Nghĩa Để Cả Năm Đại Phát?
  • Sự Tích Đức Phật A Di Đà

    --- Bài mới hơn ---

  • 5. Nghi Cúng Vía Phật A Di Đà
  • Phân Biệt Cách Dùng Kỷ 5 Ly Và Kỷ 3 Ly Trong Thờ Cúng
  • Hỏi Đáp Phật Giáo: Xá Lợi Phật Là Gì?
  • Phong Tục Thờ Cúng Gia Tiên Và Đức Phật Trong Văn Hóa Phật Giáo
  • Shop Bán Tượng Phật Đẹp Tại Quận 5
  • Đức phật A Di Đà là một ngôi giáo chủ trên cõi Lạc Bang, oai đức không cùng, thệ nguyện rất lớn, mở môn phương tiện, độ kẻ chúng sanh ra khỏi Ta bà đem về Tịnh độ.

    Trong Kinh Bi Hoa nói rằng: “Về khoảng hằng sa kiếp trước, có một đại kiếp gọi là Thiện trì”. Khi ấy tại cõi Tản đề lam thế giới có vua Chuyển Luân Thánh Vương, tên Vô Tránh Niệm, thống lãnh cả bốn xứ thiên hạ: một là Đông thắng thần châu, hai là Nam thiệm bộ châu, ba là Tây ngưu hóa châu, và bốn là Bắc cu lô châu, tiếng nhơn hiền đồn dậy bốn phương, đức từ thiện đượm nhuần khắp xứ, nên hết thảy nhân dân ai nấy cũng sẳn lòng ái kính.

    Vua ấy có nhiều người con và có một vị đại thần, tên là Bảo Hải, con dòng Phạm Chí, rất tinh thông về nghề xem thiên văn.

    Ông Bảo Hải lại có một người con trai tướng tốt lạ thường, từ dưới chân lên đến trên đầu đều có ba mươi hai dấu tốt.

    Khi con ông mới sanh ra, thì có các hàng khách tôn quý đem nhiều đồ lễ vật đến dưng cho, nhơn vậy mà đặt tên là Bảo Tạng.

    Lúc khôn lớn, thì Bảo Tạng xem biết việc đời là thống khổ thân mạng lại vô thường, tự nhiên sanh lòng chán ngán, bỏ cuộc vinh hoa, liền xuất gia tu hành, chẳng đặng bao lâu mà đã thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai, đủ các đạo Pháp nhiệm mầu, thần thông rộng lớn. Khi thành Phật rồi, thì Ngài dạo khắp các nơi mà hóa độ chúng sanh, có nhiều hàng đệ tử đã chứng đặng quả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, nên nhơn dân ai nấy cũng sẵn lòng hoan nghinh.

    Có một bữa kia, vua Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng cùng Đại chúng đến giảng Đạo tại vườn Diêm Phù, gần bên thành, thì tự nghĩ rằng: “Nay Ta muốn đến chỗ Phật, đặng xem coi giảng Đạo lý gì mà thiên hạ tín ngưỡng đông như thế!”

    Nghĩ như vậy rồi, vua cùng các vị vương tử, đại thần và quyến thuộc bèn đến vườn Diêm phù lễ Phật vừa xong, liền đi chung quanh ba vòng, rồi ngồi bên Ngài mà nghe Pháp.

    Vua Vô Tránh Niệm xem thấy Đức Bảo Tạng Như Lai khoanh chân ngồi trên bảo tọa có hình con sư tử, rất bực trang nghiêm, đủ tướng tốt đẹp, chung quanh thân Ngài có ánh sáng nhiều sắc chói lòa.

    Còn trong Pháp hội thì thấy: nào là những người đã xuất gia làm đệ tử của Phật cạo tóc đắp y, nào là những hàng vương tử đại thần mặc đồ anh lạc, nào là cung nga mỹ nữ dung mạo tốt xinh, nào là sĩ, nông, công, thương, áo xiêm chỉnh đốn, kẻ thì chấp tay ngồi im lặng, người thì quỳ gối thưa hỏi, xem bộ ai nấy cũng chăm ngó Phật mà nghe Pháp cả.

    Vua Vô Tránh Niệm quan sát khắp đủ mọi lẽ, bèn ngắm nhìn thân mình, rồi trở lại ngó Phật, mắt sững không nháy, lòng thiệt hoan nghênh, cái tâm niệm tín ngưỡng tự nhiên phát lộ, liền đảnh lễ Ngài và đi xung quanh ba vòng, rồi cũng ngồi xuống một bên Ngài mà chăm nghe lời giảng dạy.

    Vua nghe đức Bảo Tạng Như Lai diễn đủ các Pháp, thì lòng đã mở thông, căn thân thanh tịnh, rõ đường giải khổ, biết sự làm lành, liền quỳ xuống chấp tay mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Nay tôi muốn sắm đủ những đồ ăn uống: áo chăn, mền nệm và thuốc men, đặng dưng cúng cho Ngài và đại chúng luôn trọn ba tháng ở đây mà giảng đạo, xin Ngài từ bi ai nạp”.

    Vua Vô Tránh Niệm thấy Phật nhận lời, liền trở về truyền lịnh sắm sửa đủ mọi lễ, cứ đúng buổi mà dưng cúng không hề trễ nãi.

    Vua lại khuyên bảo các vị vương tử, đại thần, quyến thuộc và nhơn dân rằng: “Các ngươi có biết hay không?

    Nay Trẫm đã mở lòng bố thí, kính thỉnh Đức Bảo Tạng Như Lai và đại chúng đến mà cúng dường trọn ba tháng. Những đồ báu trọng ngon đẹp của Trẫm thọ dụng bấy lâu nay đều đem dâng cúng tất cả. Các ngươi cũng thể theo ý Trẫm xả bớt huyễn tài mà cúng Phật Tăng đặng cầu phước báu”

    Cả thảy đều vâng lời vua khuyên, hết lòng sắm sửa lễ vật mà dưng cúng Phật.

    Có một hôm, quan Đại thần Bảo Hải, là phụ thân Đức Bảo Tạng Như Lai, nằm chiêm bao thấy vua Vô Tránh Niệm làm sự bố thí thì lớn, mà việc cầu phước báu thì nhỏ. Sự ao ước của vua còn thuộc về phước hữu lậu trong cõi nhơn thiên, chưa thoát ra khỏi luân hồi sanh tử.

    Vậy nên quan Đại thần chẳng đặng vui lòng, vì ý của ông muốn làm sao cho vua phát tâm cầu quả Bồ đề, tu thành Phật đạo mà cứu vớt mọi loài chúng sanh, chớ không muốn cho vua cầu phước báu nhỏ nhen như hàng tiểu dân vậy.

    Quan Đại thần suy nghĩ như vậy, bèn đến chỗ Phật Bảo Tạng Như Lai tỏ điềm chiêm bao ấy, và tâu với vua Vô Tránh Niệm rằng: “Muôn tâu Đại Vương! Xin suy nghĩ đến việc này. Về sự sanh tử luân hồi phải bỏ thân này mang lốt khác, nên khó đặng thân người. Nay Đại Vương đã cảm lấy phước báu làm đặng vương thân, thiệt là quí báu biết dường nào! Các Đức Phật tùy cơ duyên của chúng sanh cảm triệu mà ứng hiện ra đời, cũng như bông ưu đàm ứng thời mà nở, thiệt là ít có! Nay Đại Vương gặp Phật xuất thế, thì phần hân hạnh biết bao! Dứt trừ lòng dục vọng, làm mọi sự phước duyên, cũng là việc khó mà Đại vương làm đặng như vậy, thiệt là ít ai bì đặng!

    Xin Đại Vương thứ lỗi cho ngu thần hỏi lời này: Ngày nay Đại Vương cúng dường Phật Tăng, dùng phước duyên đó mà cầu nguyện những việc chi, xin cho ngu thần rõ.

    Nếu Đại Vương muốn cầu sanh về cõi Trời mà làm một vị thiên tử hưởng sự phước thọ hay là muốn cầu sanh về cõi Nhơn gian làm vua Chuyển Luân, thống lãnh bốn châu thiên hạ như ngày nay vậy, thì cũng còn ở trong khổ ải, chớ chưa ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.

    Thưa Đại Vương! Hai sự phước báu tôi đã trần tấu đó đều là tướng vô định, đều là sự vô thường, thí như cơn gió thổi, dường tợ đám mây tan, có chắc chắn lâu dài chi đâu mà phải cầu nguyện!

    Nếu sanh về cõi Trời, khi hưởng sự khoái lạc mà có tạo ác nghiệp, thì cũng phải đọa vào địa ngục, đặng chịu khổ. Còn như sanh về cõi nhơn gian, thì lại chịu mọi sự khổ não phần thì oán cừu gặp gỡ, phần thì ân ái chia lìa cái khổ trạng ấy không thể kể xiết.

    Vì Đại Vương nhờ nhân duyên tu phước đời trước, nên mới hưởng đặng sự tôn vinh như vầy. Nếu nay Đại vương giữ gìn giới luật, thì sẽ đặng phước báu lớn hơn nữa: còn như tu học chánh pháp, thì sẽ thành chưởng trí.

    Vậy xin Đại vương nên phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, chớ đừng cầu nguyện những việc phước nhỏ nhen như hạng người thường kia vậy.

    Vua Vô Tránh Niệm nghe quan Đại thần Bảo Hải khuyến thỉnh như thế, thì tâm lượng tự nhiên mở rộng, liền đáp rằng: ” Trẫm chẳng cầu những việc như khanh nói đó đâu! Trẫm muốn trải khắp trong đường sanh tử, làm sự bố thí, trì giới, hầu nghe những pháp mầu nhiệm, tu hạnh Bồ Tát và cứu vớt chúng sanh, do nhân duyên ấy mà phát tâm Bồ Đề”.

    Đại thần Bảo Hải lại nói rằng: “Bồ đề là một đạo rất trong sạch sáng suốt, rất ngay thẳng chính đáng rất trang nghiêm tốt đẹp, rất rộng lớn cao sâu, khắp cả hư không, trùm cả sa giới rất có oai thần mảnh lực.

    Vả lại đạo Bồ đề là hạnh bố thí, sẽ đặng giàu sang, là hạnh trì giới, sẽ đặng thanh tịnh, là hạnh nhẫn nhục, sẽ đặng vô ngã, là hạnh tinh tấn, sẽ đặng bất thối, là hạnh thiền định, sẽ đặng vắng lặng, là hạnh Bát nhã, sẽ đặng sáng suốt.

    Tu được như vậy mới đến chỗ an lạc và mới chứng đặng quả Niết Bàn. Vậy xin Đại vương nên phát tâm mà cầu đạo ấy.

    Vua Vô Tránh Niệm đáp rằng: “Này khanh! Đương thời trung kiếp, mỗi người sống lâu chỉ có tám vạn tuổi mà thôi! Nay Đức Bảo Tạng Như Lai ứng hiện ra đời mà giáo hóa chúng sanh, hoặc có kẻ chứng pháp Tam muội, hoặc có người đặng bực Bồ Tát, hoặc đặng thọ ký làm Phật, hoặc đặng quả báo nơi cõi Nhơn Thiên. Trong hàng chúng sanh có một người nào không trồng căn lành mà Đức Như Lai chẳng nói Pháp đoạn khổ.

    Tuy Ngài là phước điền của chúng sanh, song những người không có căn lành thì Ngài không có thể hóa độ cho dứt đặng mọi sự khổ não”.

    Nay Trẫm phát Bồ đề tâm, tu Bồ Tát hạnh, học đạo Đại thừa, chứng pháp môn rất mầu nhiệm, chuyên làm Phật sự mà giáo hóa chúng sanh. Trẫm muốn cầu làm sao cho khi thành Đạo Bồ đề, thì Thế giới đặng trang nghiêm thanh tịnh chúng sanh không còn có một chút khổ gì. Nếu đặng như vậy thì Trẫm sẽ chứng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    Vua Vô Tránh Niệm nói như vậy rồi, bèn đi với quan Đại thần Bảo Hải đến chỗ Đức Bảo Tạng Như Lai, thấy Ngài đương nhập định, lại dùng phép thần thông biến hóa và phóng hào quang sáng suốt, hiện cả mười phương thế giới của Chư Phật ra trước mặt cho chúng hội xem: hoặc có cõi Phật đã Niết Bàn rồi, hoặc có cõi Phật đương Niết Bàn, hoặc có các cõi vị Bồ Tát mới ngồi nơi đạo tràng dưới cây Bồ đề, đương hàng phục chúng ma, hoặc có cõi Phật mới thành đạo và mới nói Pháp, hoặc có cõi Phật thành đạo đã lâu, đương còn nói Pháp, hoặc có thế giới toàn là các bực Bồ tát, hoặc có thế giới toàn là những hàng Thinh Văn và Duyên Giác, hoặc có thế giới không có Phật, Bồ Tát, Thinh Văn và Duyên Giác chi hết, hoặc có thế giới đủ năm món ác trược, hoặc có thế giới đủ các thứ trang nghiêm, hoặc có thế giới hèn dơ nhớp, hoặc có thế giới tốt đẹp lạ thường, hoặc có thế giới mà nhơn dân sống lâu vô cùng, hoặc có thế giới mà nhơn dân thọ mạng ngắn ngủi, hoặc có thế giới thường bị tai nạn thủy hỏa, hoặc có thế giới hằng bị tai nạn gió bão, hoặc có thế giới gần thành tựu, hoặc có thế giới đã thành tựu rồi.

    Đại thần Bảo Hải thấy vậy, bèn tâu với vua Vô Tránh Niệm rằng: “Nay Đại vương nhờ sức oai thần của Đức Như Lai mà đặng thấy các thế giới, vậy Đại vương phát Bồ đề tâm muốn cầu lấy thế giới nào”

    Vua chấp tay mà thưa với Đức Bảo Tạng Như Lai rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Chẳng biết các vị Bồ Tát tu hạnh gì mà chiếm đặng cõi Phật tốt đẹp trang nghiêm, tu nghiệp gì mà chiếm đặng thế giới xấu xa ác trược.

    Do nghiệp gì mà đặng thọ mạng lâu dài, tạo nghiệp gì mà thọ số ngắn ngủi? Xin Ngài chỉ dạy cho tôi biết mà tu học”.

    Đức Bảo Tạng Như Lai nói rằng: “Vì bởi các vị Bồ Tát có sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới thanh tịnh, không có các điều ác trược, nên sau khi thành đạo được về ở cõi ấy rất trang nghiêm.

    Còn các vị Bồ Tát nào do sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới ngũ trược đủ sự phiền não, nên sau khi thành đạo về ở cõi ấy”.

    Vua Vô Tránh Niệm lễ Phật rồi lui trở về trong cung, một mình ngồi im lìm mà suy nghĩ đến sự thệ nguyện của mình, mong cầu cho đặng cõi cực kỳ tốt đẹp, đặng tiếp dẫn chúng sanh.

    Suy nghĩ rồi vua bèn trở lại lễ Phật mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Vì tôi muốn chứng đạo Bồ đề, nên đem công đức cúng dường Ngài và đại chúng trong ba tháng mà cầu đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm.

    Bạch đức Thế Tôn!

    1- Nay tôi nguyện trong khi tôi thành Phật, làm sao đặng một thế giới đủ sự vui đẹp, hình dạng nhơn dân trong cõi ấy toàn là sức vàng và không có những đường địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh xen ở chung lộn. Hết thảy chúng sanh nơi cõi ấy chẳng khi nào còn phải thối chuyển mà đọa vào trong ba đường dữ đó nữa, và người nào cũng đủ sáu phép thần thông và căn thân tốt đẹp.

    2- Tôi nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy, đều thành đàn ông tươi tốt vô cùng, không còn thọ báo sắc thân đàn bà và cũng chẳng cần có danh hiệu của người đàn bà nữa. Hết thảy chúng sanh khi được về đó, thần thức đầu thai trong bông sen, lúc bông nở ra thì căn thân xinh tốt, thọ mạng lâu dài, không kể xiết đặng.

    3- Tôi nguyện cõi ấy đặng trang nghiêm, cảnh vật thiệt xinh đẹp, không có mọi sự nhiễm trược, hằng có hoa tốt hương thơm mùi bay các hướng.

    4- Tôi nguyện cho chúng sanh trong cõi ấy, ai nấy cũng đều đặng ba mươi hai tướng tốt, sáu phép thần thông, trong giây phút dạo khắp các cõi Phật trong mười phương, đặng cúng dường và nghe Pháp, rồi trở về cũng chưa trễ buổi ăn.

    5- Tôi nguyện nhơn dân trong cõi ấy đều đặng mọi sự thọ dụng tự nhiên, đúng giờ ăn thì có đủ các món ngon vật lạ hiện ra trước mắt, còn muốn bận đồ gì thì có áo xiêm tốt đẹp hiện ra bên mình, không cần phải sắm sửa như trong cõi nhơn gian vậy.

    6- Tôi phát nguyện cầu đặng cõi Phật như vậy, đặng từ rày về sau, đời đời kiếp kiếp, thường tu hạnh Bồ tát, làm sự hi hữu mà tạo thành cõi Tịnh Độ, đến thời kỳ chứng đạo thì ngồi dưới cây Bồ đề mà thành quả Chánh Giác, phóng hào quang soi các thế giới cho các Đức Phật đều xem thấy, đặng khen ngợi danh hiệu của tôi.

    7- Tôi nguyện khi thành Phật rồi, những loài chúng sanh ở trong thế giới khác, đã có tu tập thiện căn, hễ nghe danh hiệu tôi mà muốn sanh về cõi tôi, đến khi lâm chung đặng vãng sanh, chỉ trừ những người phạm tội ngũ nghịch, tội chê bai các Pháp Đại thừa và phá hư Chánh Pháp mà thôi.

    8- Tôi nguyện khi tôi thành Phật rồi, mà có chúng sanh ở các thế giới đã phát Bồ đề tâm, tu Bồ tát đạo, muốn sanh về cõi tôi, thì đến khi mạng chung, tôi và đệ tử tôi đều hiện thân đến trước mặt người ấy đặng tiếp dẫn.

    9- Tôi nguyện khi tôi nhập diệt, trải vô số kiếp về sau những người nữ nhơn ở trong các thế giới nghe danh hiệu tôi mà chăm lòng vui mến và phát Bồ đề tâm, cho đến lúc thành Phật, cứ cảm báo đặng làm thân đàn ông hoài, chớ không khi nào còn mang lấy thân đàn bà nữa.

    Bạch Đức Thế Tôn! Tôi nguyện đặng cõi Phật như vậy, chúng sanh như vậy, mọi sự thanh tịnh trang nghiêm như vậy, thì tôi mới chịu thành Phật.

    Đức Bảo Tạng Như Lai nghe vua Vô Tránh Niệm nguyện mấy lời ấy rồi khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Đại vương phát nguyện sâu lớn, muốn cõi thanh tịnh. Kìa Đại vương hãy xem qua hướng Tây, cách trăm ngàn muôn ức cõi Phật có một thế giới gọi là Tôn Thiện Vô Cấu, giáo chủ cõi ấy hiệu là Tôn Âm Vương Như Lai, hiện nay đương vì các bực Bồ Tát mà giảng dạy Pháp Đại thừa, giáo hóa các người Thượng căn, chứ không diễn thuyết mấy Pháp quyền tiểu”.

    Trong cõi ấy cũng không có chúng sanh căn trí Tiểu thừa và cũng không có một người nữ nhân. Nhưng y báo (y báo là cảnh vật) và chánh báo (chánh báo là căn thân) của Phật Tôn Âm Vương Như Lai thiệt thanh tịnh trang nghiêm, rất xứng hiệp với chỗ cầu nguyện của Đại vương đó! Vì Đại vương có thệ nguyện muôn cõi thanh tịnh, nên nay Ta đổi hiệu Đại vương là Vô Lượng Thanh Tịnh.

    Khi Vô Lượng Thanh Tịnh mãn một trung kiếp, thì Đức Phật Tôn Âm Vương Như Lai nhập Niết Bàn, Chánh Pháp truyền bá đặng mười trung kiếp. Đến khi diệt rồi, trải qua sáu mươi trung kiếp, thì cõi Tôn thiện vô cấu đổi tên lại là: Di Lâu Quang Minh có Đức Phật, hiệu là Bất Khả Tư Nghị Công Đức Vương Như Lai, ứng hiện ra đời mà hóa đạo chúng sanh. Sau khi Đức Phật ấy nhập Niết Bàn rồi, trải vô số hằng sa kiếp và vô lượng Phật diệt độ, thì cõi Di lâu Quang Minh đổi tên lại là: An lạc, đến thời kỳ Vô Lượng Thanh Tịnh chứng quả về cõi đó mà thành Phật thì hiệu là: A Di Đà Như Lai (dịch là Vô Lượng Thọ), sống lâu vô cùng, tiếp dẫn vô lượng chúng sanh trong các thế giới về đó, rồi giáo hóa cho thành Phật đạo tất cả.

    Vua Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng Như Lai thọ ký như vậy liền thưa rằng: “Bạch Đức thế Tôn! Nếu lòng thệ nguyện của tôi quả đặng y như lời thọ ký của Ngài, thì tôi kỉnh lễ xin nhờ Ngài dùng phép thần thông làm cho các Đức Phật ở trong hằng sa thế giới cũng thọ ký cho tôi như Ngài nữa”.

    Vua Vô Tránh Niệm thưa rồi, đương cúi đầu thi lễ, tức thì mười phương thế giới thảy đều vang động.

    Vua ở trong pháp Hội nghe Chư Phật đều thọ ký cũng như lời Đức Phật Bảo Tạng đã nói trên đó, thì rất đổi vui mừng, liền chấp tay đảnh lễ, rồi ngồi nghe Phật Bảo Tạng thọ ký cho các vị Bồ Tát khác.

    Từ đó về sau, vua Vô Tránh Niệm mạng chung thọ sanh ra các đời khác, kiếp nào cũng giữ lời bổn nguyện, tu hạnh Bồ Tát cứu độ chúng sanh, trải vô lượng kiếp quả mãn công viên hiện thành Chánh Giác, đến nay đã mười đại kiếp rồi, Ngài ở cõi Cực Lạc Thế Giới bên Tây Phương, đương giảng dạy các Pháp Đại Thừa và hằng tiếp dẫn chúng sanh đem về cõi ấy.

    (SỰ TÍCH PHẬT A-DI-ĐÀ VÀ BẢY VỊ BỒ TÁT

    Phật học tạp chí Từ Bi Âm (200-204)

    Thanh Tâm sưu tầm và đánh máy)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tượng Phật A Di Đà
  • Những Kiêng Kỵ Và Cách Thờ Cúng Tượng Phật A Di Đà
  • Nghi Cúng Đại Lễ Đức Phật Thành Đạo Ngày Mồng 08.12.âl
  • Phật Giáo: Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Tại Sao Thường Cúng Rằm Tháng Bảy Trước Ngày 15?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Rằm Ngày 14 Hay 15 Mới Chuẩn Theo Phong Tục Việt Nam
  • Nên Cúng Rằm Tháng Giêng Ngày 14 Hay 15? Đây Là Câu Trả Lời!
  • Nên Cúng Rằm Tháng Giêng Ngày 14 Hay 15 Để Cả Năm Sung Túc?
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Vào Ngày 14 Hay 15
  • Cúng Rằm Tháng 7 Vào Ngày 14 Hay 15 Âm Lịch?
  • Nguyên nhân nào mà vào dịp rằm tháng bảy, chúng ta thường cúng trước ngày 15 và hóa vàng mã cũng trước ngày này?

    Đúng ngày 15 rằm, Phật tổ xá tội vong nhân trong vòng 01 ngày, mọi linh hồn kể cả tội lỗi, quỷ dữ dạ xoa đều được tự do, vì vậy nên nếu cúng các cụ đúng ngày này thì sợ bị những linh hồn này phá phách, cho dù ta đã cúng cháo cho họ, vậy nên các cụ có thể không nhận được gì con cháu cúng tế. Thế nên thường cúng trước là hợp lẽ – (Lê Hùng Sơn)

    Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết.

    Những điều trên là hoàn toàn mê tín nó chỉ giúp những ông già bà cả an tâm, và giúp 1 số người sợ hãi mà hướng thiện hơn, còn giới trí thức thì nên hiểu nền tảng của Phật Giáo là Nhân Quả chỉ có gieo Nhân lành thì mới có cơ hội hái Quả thiện thôi.

    – (quangbson)

    “Tích kể rằng: ngài Mục Kiền Liên là tôn giả rất giỏi của Đức Phật, người biết rất nhiều phép thần thông, khi nhìn thấy mẹ bị đói khổ ở Địa ngục liền dùng phép thần thông xuống địa ngục thăm mẹ. Ngài bưng bát cơm lên dâng mẹ, cơm chưa đưa vào miệng thì đã hóa thành lửa. Ngài Mục Kiền Liên rất đau đớn xin với Đức Phật cách cứu mẹ. Ngài đã phải nhờ đến các chư tăng tụng kinh niệm Phật cho mẹ của ngài, các nhà sư về tụng kinh niệm Phật với mong muốn trong quá trình này sẽ được Đức Phât độ trì gia hộ cho. Có nghĩa là làm cho bản chất xấu xa của bà ấy thay đổi, trở thành người tốt, khi nào trở thành người tốt mới được chúng tôi khi ông Mục Kiền Liên làm được như vậy, bà mẹ được tha khỏi ngục. Từ đấy trở đi, mọi người lấy rằm tháng bẩy là ngày lễ để con cháu thể hiện tấm lòng thành với tổ tiên,ngày đó gọi là ngày lễ Vu Lan.” Hanhthong”

    Không phải vong nào cũng bị nhốt trong ngục, mà chỉ có những vong có tội mà thôi. Thường thì mọi người hay cúng trước ngày rằm để cho tiện. Tuy nhiên nên cúng đúng vào ngày rằm là tốt nhất. – (daiminh)

    Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ túa ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục. Bởi vậy, vào đêm 14/7, người ta thường đốt nến, hóa vàng bạc hoặc giết gà vịt cúng quỷ đói để cầu được bình an và những điều tốt đẹp, không bị ma quỷ hại phá, đó chính là nguồn gốc của tên gọi Tết Quỷ. Nguồn cội của Tết Quỷ gắn liền với văn hoá Đạo giáo của Trung Quốc, bởi Phật giáo không có chủ trương sát sinh hoặc đốt vàng bạc hàng mã để cúng tế quỷ thần. (ST) – (VDNHMC)

    Dưới âm cũng như trên Trần, có thể cúng trước để người âm đi về đỡ tắc đường, tránh xe cộ đi lại đông đúc… – (Duongquy)

    Theo quan niệm dân gian thì vào ngày rằm tháng 7 sẽ có rất nhiều vong hồn được “thả” đi lang thang nên nếu ta hóa vàng mã vào ngày này thì sẽ bị cướp, giật mất người thân khó nhận.

    Cũng vì vậy trên quần áo, đồ đạc hàng mã thường sẽ ghi rõ tên người nhận, khi cúng cũng đọc rõ tên và xin phép các thần linh thổ địa cho phép vong vào nhận đồ, cúng trước và hóa trước để người thân dễ nhận được. – (Minh)

    Bạn Trần Cha Thân! Cúng rằm tức là ngày 15 âm lịch hằng tháng, phong tục ở quê mình thì thường cúng vào ngày mùng 1 và 15 âm lịch. Theo bên Phật thì 2 ngày này là ngày của Phật, (Phật thường đi cứu khổ cứu nạn chúng sanh vào 2 ngày này). Mẹ mình từng nói nếu cúng vào ngày 14 và hoá vàng mã ngày này thì người được cúng ko nhận được vì “cô hồn” cướp và giành giật hết. còn cúng ngày 1 &15 thì ngược lại, ngày đó là ngày của Phật nên các vong hồn được theo Phật và cô hồn ko giật được. Vì VẬY CÚNG RẰM LÀ PHẢI CÚNG VÀO NGÀY 15 BẠN NHÉ! Có lẽ bạn ko tin nhưng mình tin (ko phải mình mê tín đâu) tại mình thấy tận mắt nên mới tin đó. Chính lẽ đó nên có câu: “có thờ có thiêng có kiêng có lành” – (Đặng Diệu Hoài)

    vì rằm tháng 7 ko vào ngày nghỉ; ở TP thì mọi ngừơi phải đi làm, ở các vùng quê thì con cái đi học đi làm xa ko về được….dần dần thành thói quen. Theo tôi ngày giỗ, ngày riằm cứ làm lễ đúng ngày là tốt nhất. – (samar trần)

    Cũng giống như nhà nước thường kỹ niệm ngày 2/9 vào trước đó 1 hoặc 2 ngày. Không phải tất cả mọi nhà đều làm vào ngày 13 -14, vẫn rất nhiều nhà làm đúng ngày rằm. – (Quốc Ân)

    Theo như Mẹ chồng tôi thì ở dưới âm quy định ngày phát đồ cho người âm.

    Nếu như đốt vàng mã vào ngày 15 thì đến năm sau người nhà mới nhận được nên phải hóa vàng mã trước ngày 15 tháng 7 âm lịch. – (Trần Thị Lựu)

    Phải cúng trước vì ngày rằm không phải cuối tuần hoặc mọi người không thể tụ tập sum vầy đúng ngày rằm được vì công việc riêng, còn cúng đúng ngày rằm mới là đúng truyền thống từ trước đến giờ. Mình ở quê cũng toàn cúng rằm ngày này. – (Pham Dai)

    dan gian xua tung co cau trẻ 13 già 14, có lẽ chính vì thế mà rằm tháng 7 duoc cac gia đình cúng trước 15 – (Phạm Thị Kim Liên)

    chả có gì gọi là nguyên nhân cả, cũng như mua một thứ gì đó trước, ăn một thứ gì đó trước thôi – (cuongnv)

    Lễ gì cũng từ tâm mình cả, các cụ chọn rằm tháng 7 hay rằm tháng nào cũng thế cả thôi chỉ với một mục đích giúp con người ta hướng thiện, tu thân tích đức để cho xã hội tốt đẹp hơn. Mà với xã hội hiện tại thì điều đó càng cần nhiều hơn, tôi mong rằm tháng nào mọi người cũng coi là “xá tội”…để chúng ta cùng làm nhiều điều tốt cho nhau. – (Thuhương)

    Tôi chẳng biết các bạn nghĩ thế nào, chứ các bạn lên phường xin dấu người ta quy định làm việc thứ 2,4,6 thì cứ đúng ngày đó mà đến. Chứ lên vào 3,5,7 thì có mặt từ 6h sáng cũng chẳng ai tiếp.

    Đã quy định là cúng mùng 1 và 15 thì cứ đúng ngày đó mà làm. – (dương huy)

    Theo Tôi cúng vào đúng ngày rằm mới là đúng. Vì các cụ có câu “Cúng cả năm không bằng rằm tháng 7” tức là 15/7. Tục đốn vàng mã trước là do mọi người bận công việc nên làm lễ trước thôi. Ở quê tôi từ xa xưa mọi nhà vẫn cúng, đốt vàng mã cho Ông, Bà vào đúng ngày 15/7. – (Lê Hiếu)

    Tất cả chỉ để giải quyết khâu tâm lý thôi! – (phuongtt85)

    Đó là cách cúng của người miến Bắc, người miền Nam thì từ ngày 15 trở đi mới cúng. Tôi không biết lý do của miền bắc tại sao lại cúng rằm tháng 7 lại như vậy, nhưng người miền nam, thì cúng rằm thì phải là ngày 15 chứ. Sau ngày 15 thì người ta cúng cô hồn. Cúng cô hồn thì được cúng mặn, còn cúng Phật thì phải là cúng chay. Phong tục của miền bắc thờ cúng tại nhà đa số không thờ Phật, chỉ thờ Gia tiên nên thường những ngày Lễ lớn đa số là cúng mặn. Mỗi nơi 1 phong tục, miễn sao có lòng thành là được. – (ledaitrangdai)

    Tôi cúng vào ngày chủ nhật trong tháng 7, ngày đó mọi cô hồn âm binh đều rãnh, dễ tham dự đông đúc! – (Thu Trang)

    theo như mình được ông mình nói là ngày 14 là các chư phật, bồ tát, chư tăng hoá độ cho chúng sinh và cũng là ngày cho các chư tăng ni & chúng sinh tập chung tại chùa để sám hối những gì mình làm trong nữa tháng cũng như bên thiên chúa giáo hay đi lễ vào mỗi tuần vậy đó,cho nên các chùa hay cúng rằm sám hối vào ngày 14. còn ngày 15 là ngày để tưởng nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ và cúng đất đai cúng cho các vị thần phù hộ cho gia đình được bình an và trấn những cái điều không tốt vào nhà mình. Còn ngày 16 là ngày cúng cho các âm hồn lang thang ngoài đường hay trước nhà mình để họ có ăn và không vào nhà mình phá. Nó là vậy đó.. – (Lê Kiên)

    có ai khẳng định là ngày đúng ngày sai tóm lại là tâm linh ở mình cúng trước sau ăn – (lethanhha2003)

    Tháng 7 âm lịch các ngạ quỹ sẽ được phóng thích từ mồng 2 đến 14/07 âm lịch đến ngày 15/07 âm lịch các ngã qũy sẽ bị bắt trở lại vì vậy người dân thường cúng trước rằm để bố thí cho các cô hồn đó. – (funny0604)

    Quê tôi – ở trong Nam – cúng tháng 7 sau ngày rằm mà? Trước ngày Rằm là để cho các chùa cúng, sau ngày rằm mới đến lượt người dân cúng. Đó là lời giải thích của các bậc trưởng thượng trong xóm tôi – (Trần Khánh Dung)

    Mình thường hối Má cúng ngày 14 để được ăn sớm, hehehe – (Bi)

    Không phải ngày chính rằm thì chỉ là thói biện hộ của thày cúng và dân công sở sành điệu. Thời gian giữa dương gian và âm phủ khác nhau. Những nghi lễ Phật giáo đã được mặc định trong những ngày, giờ, thời gian mà chúng ta đã biết. Ngày Rằm là ngày Rằm, mùng Một là mùng Một, không phải thế thì không phải ngày Phật đâu các bạn ạ. – (Phiêu.)

    Dân Thái đen Thái trắng chúng tôi coi rằm tháng 7 là tết “xíp xí” vào đúng 14/7. 15 đã là hết tết. Tết này to không kém tết nguyên đán, ăn uống vui chơi linh đình, mừng mùa màng tốt tươi chứ không có khái niệm xá tội vong nhân gì cả. – (yenbaitv)

    Chuyện cúng bái là lòng thành tâm,thành kính đối với các đấng tối cao,đối với tổ tiên . Vì vậy chỉ cần sống có hiếu thì ngày nào cũng là ngày vu lan cả. Chỉ cần có lòng thành tâm cúng bái thì ngày rằm hay 14 có khác gì nhau. Tôi không hiểu nhiều về đạo phật nên suy nghĩ vậy. – (nguyen.theanh)

    theo quam niệm dân gian thì có thờ có thiêng, ở quê tôi là cúng vào ngày 15. chúng ta tin vào ngưỡng nào thì cứ theo đó mà cúng. dân gian nói rằng tháng 7 âm lịch là tháng cô hồn. – (daohoaviet)

    và đúng hơn và hoàn thiện hơn nữa là các ý kiến trên đều hoàn toàn chính xác,thật ra thì mọi quan điểm lý giải của các bạn nói trên hoàn toàn “hoàn hảo”,vì mỗi người xưa mỗi làng mỗi địa phương có văn hoá tín ngưỡng khác nhau,có nhà cúng đúng rằm người cúng trước 1 ngày tức ngày 14,người cúng sau tức ngày 16,tuỳ thổ nhưỡng văn hoá vùng miền thôi,còn cúng trước hay cúng sau theo tôi là bình thường – (lưu anh văn)

    mình nghĩ cúng đúng rằm là tốt . cũng trước cũng ko sao . quan trọng là tâm mình thôi . phật tại tâm mình có tâm thiện thì mình cúng ngày nào cũng đc . đúng ngày sẽ tốt hơn để mình nhớ những ngày lễ quan trọng trong năm . để nhớ tới cội nguồn cũng la cách cho tâm mình thanh thản bình an . – (thoconanconon)

    cúng rằm thì phải đúng rằm cúng.không thì cổ nhân đã gọi là cúng tháng 7. – (thanh)

    Phú quý sinh lễ nghĩa, vấn đề này bạn nghĩ thế nào thì nó là thế đó… chả có vấn đề gì truớc hay đúng hay sau ngày 15 cả. Tất cả là do mình mà ra. – (ngonchym)

    Trong miền Nam từ xưa đến nay cúng rằm thường là ngày 14, 15 còn cúng cô hồn là ngày 16. Nói chung mỗi miền mỗi khác không có quy định chung nào cả – (vinhtoduc)

    về khách quan: thông thường người ta hay cúng trước ngày này vì: cúng vào các ngày thứ 7 hay chủ nhật con cháu trong gia đình đông đủ quây quần nhất nên tiện hơn

    thứ 2: cũng theo lệ ngưòi ta hay cúng ngày sống trước ngày đã mất, ngày rằm chỉ thắp hương đơn giản, ăn uống thôi, còn đốt vàng mã… thì hay cúng trước đó..

    không chỉ ngày rằm tháng 7 mà các dịp cũng lễ trong nhà cũng hay cũng trước là vậy – (Khoahoc)

    Cúng ngày rằm (15) hay mồng 1 là truyền thống của dân tộc để tưởng nhớ đến các bậc sinh thành đã về với tổ tiên. Như vậy tùy thuộc vào Tâm của mình thôi. Bởi chắc chẳng có ai đi dưới đấy về mà trả lời là đúng hay sai khi cúng đúng/trước ngày 1, 15. Theo tập quán mà thực hiện là tốt rồi. – (ngxuanvinh)

    Không có tục lệ nào cúng trước hay sao bạn à. Rằm tháng 7 nói riêng là mùa vu lang báo hiếu, ngày 15/7 đến chùa thắp hương cầu nguyện an lành cho cha mẹ còn sống, ai bất hạnh không còn cha mẹ thì cầu siêu tưởng nhớ cha mẹ nơi chín suối và kèm theo tục cài hoa hồng, vàng, trắng tượng trưng. Tháng 7 âm lịch nói chung là tháng các âm hồn được đặc xá cho về hưởng thực cúng thí. Nhà tù dương trần hay địa ngục cũng đều có tính nhân văn trong đó cả. – (diepchauminhtr)

    Mình cũng chẳng biết, chỉ biết ở quê mình ăn rằm 14 to hơn 15. – (Mr.Duc)

    Theo phong tục quê mình cho rằng đến ngày 13 là tàu/thuyền chở vàng mã rời bến mang đồ mã xuống cõi âm, nên nếu cúng vào đúng ngày 15 thì tàu chở mã đi mất rồi, do đó muốn đồ cho tổ tiên thì phải cúng, nhất là cần phải đốt mã trước ngày 15 (khoảng từ 10 đến 13). – (Dothien Hoang)

    Cúng trước ngày rằm vài ngày 15/7 là quỷ được thả cửa ( xá tội vong nhân) vì vậy nếu ta đốt tền vàng quần áo vào ngày hôm đó thì người nhà mình dưới âm không nhận được mà quỷ sẽ tranh cướp mất – (dung)

    đây là lễ của người Hoa, báo hiếu, cúng dường, cha mẹ, tổ tiên.. – (nguyễn)

    14 hay 15 cúng ngày nào trong tháng 7 đều được, – (diemvuong)

    Không chỉ ngày rằm tháng 7 người ta mới cúng trước đó ít nhất 1 ngày mà cả các ngày rằm khác cũng vậy. Ví dụ cúng mồng 1 thì tối 30 hay cúng rằm thì tối 14.

    – (huycuongkt)

    Vì ngày 15 các cao hồn đều về chùa nghe tung kinh giảm tôi lỗi – (truongna)

    Nhớ đến tổ tiên và người thân đã đi xa ở dưới cõi âm nên cúng lễ dịp này, nhà tôi cúng trước ngày 15 vì muốn tổ tiên và người thân dưới ấy được hường trước và chọn vẹn tình cảm của gia đình mình, còn đến ngày 15 thì các Đình và Chùa cũng có cúng lễ cho tất cả cùng được hưởng. . – (Trần Thủy)

    Theo tôi nghĩ thì tất cả những điều luật về tâm linh đều do con người đặt ra. Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền đều có những điều luật khác nhau. Tất cả đều hướng thiện và mong cho cuộc đời này có nhiều điều tốt lành. Các cụ có câu: “Tâm xuất Phật biết”. Việc cúng ngày rằm tháng bảy đúng ngày hay trước vài ngày đều có ý nghĩa như nhau. Ở trần gian hay âm phủ thời nào chẳng có người ngay kẻ gian. Căn bản là sự thành tâm của người thắp nén nhang, dâng lễ vật mà thôi. – (Huỳnh Bá Chung)

    Vào ngày rằm tháng 7, các vong đi lên nhiều quá nên làm trước phát cháo, ngô, khoai sắn cho các vong vào các ngày trước để tránh tắc đường, chen lấn, xô đẩy. Tiếp nữa là vào đúng ngày đấy cửa âm sẽ đóng vào đúng 12h trưa nên đi sớm về sớm khỏi bị ở ngoài. – (thulan)

    Ngày rằm (15) trong gia đình thường có người ăn chay, người không. Do vậy, để cúng rằm mà mọi người cùng …hưởng nên họ quyết định cúng trước ngày rằm, đơn giản là thế thôi??? – (Tôi yêu VN)

    Cúng rằm 14,15 đều được, nhưng ngày 15 phải cúng trc 12h trưa vì sau 12h cửa âm sẽ đóng lại vong ko nhận đc đồ nữa. Mà buổi trưa ngày 15 khó chuẩn bị nên nhiều ng sẽ cúng tối hôm 14 cho tiện. – (hgtt)

    Tôi chỉ có một điều. Rằm tức là ngày 15 âm lịch vậy rằm tháng bảy thì cứ đúng 15 tháng bảy mà cúng còn cùng trước sao không bảo tết 12 hay 13 tháng bảy đi cho rồi sao gọi là cúng rằm – (khaikv)

    tại sao phải cúng rằm tháng 7 trứơc ngày 16 thì mới đúng chứ – (hùynhhưng)

    Theo như mẹ mình nói thì “Tháng bảy âm ti địa phủ sẽ mở cửa Quỷ Môn Quan, các vô hồn có thể ra ngoài dạo chơi như một đặt xá và kiếm thức ăn” nên người ta thường cúng cho những cô hồn lang thang vào tháng bảy.

    Ở gần khu mình sống thì đa số người Quảng Đông thường cúng vào ngày 14 âm lịch, người Tiều thì 15 âm lịch, người Việt 16 âm lịch – (Jack)

    vì mọi người muốn kéo dài ngày cúng cho vui…như lể tết vậy. – (trantram)

    Người ta thường cúng trước ở nhà vì đến ngày 15 tháng 7 các linh hồn đều về hết các đình chùa, không ai ở lại để ăn đồ cúng của các gia đình nữa. – (thongvra)

    theo minh thi ram thang bay tuc la ngay xoa tui vong nhan, len moi nguoi deu co the cung to tien chứ ko phai ngay ma cac ma quái den, da la tuc lệ va văn hóa viet nam thi chung ta hay lam theo va hay ton trong van hoa, ko len me tin hay vẽ them ra. – (nguyen van dang)

    cúng rằm là 15,chẳng qua người ta hay suy diễn thôi.phong tục từ xưa,vùng miền ước lệ,người dương gian hay tính toán kiểu tắc đường về quê trước 1 ngày… – (nguyên đức tuân)

    Các bạn ơi.

    Điều này chẳng phụ thuộc vào điều nào cả. Ở nhà cúng rằm trước ngày 15, tại vì ngày 15 phải để dành cho việc lên Chùa nghe kinh Phật, hưởng được nhiều ơn đức hơn thôi các bạn ạ.

    – (Lê Đình Tuấn)

    Cung phai dung ngay 15 – (Duong truong)

    Mình thấy mỗi người một ý nhưng quan niệm từ gia đình là. Ngày 14 cúng mặn và ngày 15 cúng chay, – (Lê Ly)

    Ông cha ngày xưa cúng truyền thừa lại ta cứ cúng thôi. – (dreamtrinh)

    Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết. – (Bean Toan)

    Cúng vàng mã hay hoá vàng mã không có trong Phật Giáo đó là truyền thong dân gian! Nhưng cúng âm linh Co Hồn thì có trong Phật Giáo! – (T Liễu Nguyên)

    Lễ Vu Lan báo hiếu, hãy cúng bằng cả tấm lòng thì không sợ cha mẹ ông bà mình không nhận được. – (Hiểu Bình)

    Ngày rằm tháng bảy. Còn gọi là ngày xoá tội vong nhân. Vậy mình nên làm cơm cúng vào đúng ngày rằm và nên cúng vào sáng sớm vì theo mình được biết thì bắt đầu 00h ngày rằm tất cả đc về với gd – (Khuat khang)

    Ngày rằm tháng 7 có nguồn gốc được ghi rỏ trong Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ: Nhân vào một buổi sang đi khác thực, Đức Phật thấy một đông xương khô Ngài đảnh lễ. Tôn giả A nan thấy vậy nên hỏi về việc này nên được Đức Phat dạy rỏ về công ơn của Cha Mẹ ở kiếp này và nhiều kiếp trước gọi là Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. Nhân sự kiện này Ngài Đại Hiếu Mục Kiên Liên nhớ đến người mẹ vừa quá vãng nên dung than thong quán sát thấy mẹ của mình bị đoạ vào chon địa ngục mà tự sức Ngài không cứu được nên về hỏi Đức Phật thì đức Phật dạy vào rằm tháng 7 cúng dường 10 phương Tăng và bố thí và phóng sanh và đem công đức đó hồi hướng cho cha mẹ hiện đời và nhiều đời thì cha mẹ sẽ nhờ đó mà vãng sanh về tịnh độ. Cúng cô hồn cũng là hình thức báo hiếu trong ý nghĩa Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. – (T Liễu Nguyên)

    tại vì cúng trước thì mua đồ sẽ rẻ và dễ hơn sau mùng 15/7 – (lucife)

    vì rằm tháng 7 la ngày xoá tội vong nhân nên có nhiều ma trên trần gian , nếu cúng và đốt vàng mã vào ngày 15 thì bị ma lang thang cướp hết , ma nhà mình không nhận được . – (caotrunghieu)

    Thường rằm tháng 7 là ngày xá tội vong nhân. Các linh hồn được đi chơi, nên người ta phải cúng lễ trướng ngày (Trong niên từ 01 đến 14). Chúng ta cúng và hoá tiền, vàng, áo, mũ trước ngày rằm để đúng ngày 15 các linh hồn có quần áo mới, tiền tiêu. Đó chính là lý do mà ta cúng rằm tháng 7 trước ngày 15 âm lịch. – (Nhat)

    Có thờ có thiêng, có kiêng có lành! – (Xuan loc)

    .Nếu con cháu mà không cúng các cụ trước thì ngày rằm các cụ sẽ chưa nhận được lại phải chờ đến năm sau mới nhận đc.Bởi ngày 14,7 là chuyến đò chở mã xuất bến ,nên phải cúng trước ngày rằm – (huy nguyễn)

    các bạn muốn biết rõ hãy tìm đọc kinh vu lan báo hiếu phụ mẫu thì rõ thôi – (tăng)

    có người âm hả các bác? – (Danang)

    khong ai chung minh dieu nay dau a ,dieu chinh xac la muon an che som thoi – (tam)

    Mọi người nói cứ như thể mọi người đã xuống dưới đó rồi vậy. Cốt là ở cái tâm mình thôi. – (Silver)

    Ca dao có câu “Hôm nay 14, mai rằm. Ai muốn ăn oản lên nằm với sư”! Hic! Chả biết thế nào? Chắc lên từ đêm 14 rạng ngày 15. – (Nguyễn Văn Nội)

    tất cả đều do quan niệm của con người mà ra cả.thế giới tâm linh thật sự có tồn tại,vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh cả.vậy nên con người ta quan niệm thế nào thì thế giới tâm linh là như vậy. mọi sự giải thích chỉ là cho hợp lý vs cách suy nghĩ của người dương gian.vì ko biết chính xác nên ta phải làm theo quan điểm của số đông và sợ ko dám làm ngược lại vì sẽ thấy ko an tâm,mà nếu chẳng may bản thân hay gia đình có chuyện gì thì lại nghĩ là do ko làm giống mọi người. – (heroiszero)

    Sai het sai het ngay xa toi vong nhan khong phai ai cung duoc ve . Cung nhu tren tran gian vay ngay an xa. – (cautrung)

    tại vì trước 15/7 giá vàng mã rẻ hơn – (dinhnhiqni)

    Cũng như nghỉ 2/9 hoặc 1/5, có ai về đúng ngày đó đâu, thường về quê trước 1 đến 2 ngày. – (Trần Canh)

    Theo ý tôi cúng trước ngày 15 là dịp các vị buôn bán tăng giá vàng mã,làm như thế mới có lời nhiều.Nguyên nhân do các vị đó? – (cachang)

    Theo phật giáo thì mở cửa từ ngày 2-14 còn theo đạo giáo thì hình như đúng ngày 15 mới mở. – (Mình Không)

    ơ thế sao rằm tháng 7 mổ gà mổ lợn để cúng không phải là xát sinh hả? .. gieo nhân nào ăn quản đấy – (dainghia_vt9x)

    các bạn phải phân biệt ngày rằm tháng 7 trong dân gian và trong Phật giáo có ý nghĩa khác nhau. Ngày rằm tháng 7 trong Phật giáo gọi là ngày Lễ Vu Lan có bắt nguồn từ sự tích của tôn giả Mục Kiền Liên. Còn trong dân gian ngày rằm tháng bảy được gọi là ngày xá tội vong nhân là ngày cúng cô hồn, đây cũng là ngày cúng quan trọng nhất trong năm “Cúng quanh năm cũng không bằng rằm tháng bảy” – (Vịt Con Xấu Xí)

    Theo luật nhân quả, thì nếu bạn có tâm niệm thiện, nuoi dưỡng lòng từ bi, tạo nhiều nghiệp lành, biết sám hối tội lỗi thì nghiệp xấu sẽ giảm, chứ Phật không ban phước hay gián họa cho ai…”sống thuận theo chân lý, thì chân lý sẽ soi sáng trong bạn” – (Võ minh phước)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Mâm Cỗ Cúng Rằm Tháng Giêng
  • Cúng Rằm Tháng 7 Và Những Điều Đặc Biệt Lưu Ý
  • Cúng Rằm Vào Ngày Nào Trong Tháng 7 Âm Lịch?
  • Thời Điểm Cúng Rằm Tháng 7 Lúc Nào Là Chuẩn Nhất?
  • ‘cúng Rằm Tháng 7, Chỉ Có 3 Loại Quả Không Thể Thờ’
  • 17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • Bài Văn Cúng Gia Tiên
  • Bài Văn Cúng Ngày Mùng Một Tết Nguyên Đán
  • Mẫu Những Bài Văn Cúng Khấn Trong Lễ Dâng Sao Giải Hạn
  • Đầy đủ 17 bài văn tế thập loại Cô Hồn dành cho chẩn tế âm linh cô hồn, chiến sĩ trận vong, đồng bảo tử nạn, chiêu hồn, giải oan bạt độ, cúng tế thí thực.

    KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn I)

    Trước cửa Phật lập đàn phổ thí,

    Cho trọn đều quân lợi âm dương,

    Quang minh tỏ khắp mười phương,

    Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào.

    Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp,

    Bóng mây từ che rợp mọi nơi,

    Lọt đâu dưới đất trên trời,

    Từ bi tế độ muôn đời viên thông.

    Trên đức Phật rất công rất chính,

    Dạy cho đời luyện tính tu tâm,

    Thương người đọa kiếp tối tăm,

    Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.

    Lòng từ mẫn mọi bề thương hết,

    Nay gặp ngày Đản tiết nên quy,

    Trước Đàn tề chỉnh oai nghi,

    Tuyên dương để chứng quy y thực hành.

    Hạnh giải thoát chúng sinh khổ não,

    Cõi Ta bà sáu đạo loanh quanh,

    Âm ty địa ngục đã đành,

    Dương gian địa ngục nỗi tình thêm thương.

    Nói không xiết trăm đường đày đọa,

    Rồi mang tai trát họa vào thân,

    Không sao khỏi nghiệp tham sân,

    Ăn quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.

    Nào những hạnh ranh ma quỉ quái,

    Dối lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?

    Bo bo giữ thói ở xằng,

    Cái dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.

    Nào những hạng lòng chim dạ thú,

    Ghét ghen nhau làm đủ tội tình,

    Khư khư quen thói chẳng lành,

    Cái vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.

    Nào những kẻ yếu đau què quặt,

    Phận hẩm hiu trời bắt chịu đày,

    Thật là khổ ách không may,

    Nào ai có muốn thân này thế đâu!

    Nào những kẻ âu sầu lòa lẫm,

    Số cưu mang câm điếc phải đành,

    Thực là khốn khổ thương tình,

    Ý ai chẳng muốn thân mình phong quang?

    Vì túc trái ngỡ ngàng sao đó,

    Hoặc tiền nhân nghiệp thọ thế nào,

    Thực lòng luống những lao đao,

    Cửa từ bi nỡ để ngơ sao đành.

    Thầy nay dạy thực hành chánh đạo.

    Dòng Thiền học Phật giáo chủ trương,

    Quang minh quảng đại vô lường,

    Ba thừa giáo hóa mọi phương thi hành.

    Giữ một mực chí thành tinh tiến,

    Dập các duyên hư huyễn hão huyền,

    Những môn tà đạo lưu truyền,

    Nay quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.

    Trước Đàn ngoại lễ nghi các thưùc,

    Trên đài sen tỏ đức huyên minh,

    Thầy đây lập nguyện chí thành,

    Tuyên dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.

    Hiện nay có chư Thiên hậu thổ,

    Cửa từ bi tế độ không cùng,

    Đạo tràng Thiền học lưu thông,

    Tu hành chân thật thủy chung một lòng.

    Đàn phổ thí phẩm vật nghi tiết,

    Thầy dạy thêm cho biết công duyên,

    Những người quỳ trước Phật tiền,

    Đem câu nhân quả phổ truyền rộng ra.

    Dặn hết thảy gần xa thiện tín,

    Nên thành tâm phát nguyện quy y,

    Nương nhờ Tam bảo hộ trì,

    Ăn chay niệm Phật mà quy cho tròn.

    Xem nhân thế càn khôn che chở,

    Nhứt hoàn hương duyên nợ phong trần,

    Hỡi ai kết quả tạo nhân,

    Xem cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.

    Muốn xét lại cho hay nghiệp trước,

    Hiện thọ đây thấy được tỏ tường,

    Muốn mong kiếp nữa vẻ vang,

    Sự hành trì phải sửa sang tự giờ.

    Nhân mấy quả trong cơ chuyển hóa,

    Nhân có đầy thì quả mới nên,

    Thầy nay chỉ dẫn căn nguyên,

    Cõi dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.

    Ơn đức Phật lời vàng khuyên nhủ,

    Dạy chúng sinh tín thụ cho hay,

    Phúc thời vui vẻ như đây,

    Họa thời khổ não đọa đầy như trên.

    Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ-tát Ma ha tát.

    -Trích Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971

    Ngạ quỷ đói

    SÁM TRIỆU CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 2)

    Hỡi linh hồn trước sau tề tựu,

    Nghe lời khuyên để rũ tội mình,

    Quan Âm Địa Tạng oai linh,

    Thích Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.

    Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất!

    Noi tâm lành của Phật làm gương,

    Diêm La cực khổ trăm đường,

    Mau tu thì đặng Tây phương thâu về.

    Hỡi linh hồn chết chìm đáy biển,

    Và bao người độc dược bỏ thân!

    Tiếng chuông tỉnh thức dần dần,

    Đừng ham cõi tục trầm luân luân hồi.

    Hỡi các hồn chết thiêu chết chém,

    Hổ giảo thân bị yểm bị trù!

    Kíp tìm kinh kệ sớm tu,

    Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

    Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa,

    Chết phong ba chết giữa núi non!

    Nếu nghe chuông dục bon bon,

    Mùi hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.

    Hỡi hồn ơi! Vì tình chư Phật,

    Ta khuyên hồn đất Phật là nơi,

    Các hồn sẽ đặng thảnh thơi,

    Hưởng mùi hương Phật suốt đời đặng an.

    Hỡi hồn đã lỡ làng trót dại,

    Theo đàng taø quỉ quái yêu tinh,

    Nay đây khẩn nguyện chân kinh,

    Khuyên hồn phải rán sửa mình cho tinh.

    Hỡi hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,

    Nương gió mây thừa thải từ xưa!

    Hồn ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,

    Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

    Hỡi hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,

    Ngài ra ơn gột khổ sanh linh.

    Hỡi hồn bị bịnh bỏ mình,

    Và hồn dậy phá chân kinh loạn trần.

    Nghe ta kinh kệ giải phân,

    Cầu cho hồn đặng muôn phần yên vui.

    Hỡi hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,

    Ta khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,

    Mùi hương lư ngọc bổng trầm

    Khéo tu hồn sẽ an tâm giữa trời.

    Các hồn bị cá xơi, rắn cắn,

    Cùng những hồn số vắn vô danh,

    Hãy nghe kinh kệ ăn năn,

    Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

    Hỡi những hồn vì lời gièm xiểm,

    Nên hủy mình chết lụn căm gan,

    Sớm nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,

    Phật kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

    Nam mô độ hộ muôn hồn,

    Vì hồn trót dại quáng mù từ xưa.

    Kinh là phước, cầu đưa tội lỗi,

    Tu là lành, sám hối ngàn năm.

    Lạy cầu chư Phật từ tâm,

    Khẩn van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.

    Tiếng chuông ngân hương thơm giải thoát.

    Nước nhành dương rảy mát xác phàm,

    Hỡi hồn cư ngụ muôn am!

    Về đây hưởng thực cầu van sửa mình.

    Nam Mô Bộ Độ Đế Rị Già Rị Đa Rị Đát Đa Nga Đa Gia (3 lần)

    -Trích Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974

    -Bài dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.

    SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA

    (Thí thực cô hồn 3)

    NGUYỄN DU

    Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh ngắt xương khô;

    Não người thay buổi chiều thu!

    Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,

    Đường bạch dương bóng chiều man mát,

    Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

    Lòng nào lòng chẳng thiết tha?

    Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    Xót khôn thiêng phảng phất u minh!

    Thương thay thập loại chúng sinh,

    Phách đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.

    Hương khói đã không nơi nương tựa,

    Phận mồ côi lần lữa đêm đêm;

    Còn chi ai khá ai hèn,

    Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu!

    Tiết đầu thu dựng Đàn giải thoát,

    Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.

    Muôn nhờ Phật lực từ bi,

    Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

    Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,

    Chí những lăm cướp gánh non sông;

    Nói chi đương thuở thị hùng,

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

    Bỗng phút đâu mưa bay, ngói lở,

    Khôn đem mình làm đứa sất phu;

    Giàu sang càng nặng oán thù,

    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    Quỷ không đầu van khóc đêm mưa;

    Đã hay thành bại là cơ,

    Mà u hồn biết bao giờ cho tan!

    Nào những kẻ màn loan, trướng huệ,

    Nhưõng cậy mình cung quế Hằng nga;

    Một phen thay đổi sơn hà

    Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?

    Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi;

    Khi sao đông đúc vui cười,

    Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

    Thảm thiết nhẽ không hương, không khói,

    Hồn ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;

    Thương thay chân yếu tay mềm,

    Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.

    Nào những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngòi bút son thác sống ở đây;

    Kinh luân chất một túi đầy,

    Đã đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.

    Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

    Trăm loài ma mồ nấm chung quanh;

    Nghìn vàng không đổi được mình,

    Lầu ca, viện xướng, tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    Cô hồn thất thểu dọc ngang,

    Mạng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

    Nào những kẻ bày binh bố trận,

    Đem mình vào cướp ấn Nguyên nhung.

    Gió mưa sấm sét đùng đùng,

    Rải thây trăm họ, làm công một người.

    Khi thất thế cung rơi, tên lạc,

    Bãi sa trường, thịt nát máu rơi;

    Bơ vơ góc biển chân trời,

    Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

    Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau;

    Ngàn cây nội cỏ rầu rầu,

    Naøo đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú,

    Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn;

    Ruột rà không kẻ chí thân,

    Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

    Của phù vân dù có như không;

    Sống thời tiền chảy bạc ròng,

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn thương gì hàng xóm,

    Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm;

    Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm,

    Tàn hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp càu chữ quí,

    Dấn mình vào thành thị lân la;

    Mấy thu lìa cửa, lìa nhà,

    Văn chương đã chắc đâu mà chí thân?

    Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng?

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

    Anh em thieân hạ láng giềng người dưng.

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

    Bãi tha ma kẻ dọc người ngang;

    Cô hồn nhờ gởi tha hương,

    Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông;

    Gặp cơn giông tố giữa dòng,

    Đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán,

    Đòn gánh tra chín dạn hai vai;

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

    Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

    Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan;

    Nước khe cơm vắt gian nan,

    Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.

    Buổi chiến trận mạng người như rác,

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi;

    Lập lòe ngọn lửa ma chơi,

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

    Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

    Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;

    Ngẩn ngơ khi trở về già,

    Ai chồng con tá biết mà cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não,

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa;

    Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

    Rồi tháng ngày hành khất ngược xuôi;

    Thương thay cũng một kiếp người,

    Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

    Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc,

    Gởi mình vào chiếu rách một manh;

    Nấm xương chôn rấp góc thành,

    Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

    Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha;

    Lấy ai bồng bế xót xa.

    U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

    Cũng có người sẩy cỗi sa cây;

    Có người gieo giếng thắt dây,

    Ngược trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,

    Người thì mắc sơn tinh thủy quái,

    Người thì sa nanh sói ngà voi;

    Có người hay đẻ không nuôi,

    Có người sa sẩy, có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

    Cầu Nại hà kẻ trước người sau;

    Mỗi người một kiếp khác nhau,

    Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ, dọc bụi,

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây;

    Hoặc là điếm cỏ bóng cây,

    Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ.

    Hoặc là nương thần từ Phật tự,

    Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông;

    Hoặc là trong quảng đồng không,

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

    Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,

    Ruột héo khô, dạ rét căm căm;

    Dãi dầu trong mấy mươi năm,

    Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương;

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

    Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra;

    Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

    Có khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.

    Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,

    Bóng hào quang cứu khổ độ ưu;

    Rắp hòa tứ hải quần chu,

    Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

    Nhởn nhơ Tiêu Diện đại vương,

    Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

    Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,

    Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;

    Mười loài là những loài nào,

    Gái trai, già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như bào như ảnh,

    Có chữ rằng: vạn cảnh giai không;

    Ai ơi lấy Phật làm lòng,

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

    Của có chi bát nước nén nhang;

    Gọi là manh áo thoi vàng,

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đấy dưới trên ngồi lại,

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu:

    Phép thiêng biến ít thành nhiều,

    Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ,

    Chớ ngại rằng có có không không;

    Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

    Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

    -Trích Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1973

    VĂN TẾ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 4)

    TRÀ AM VIÊN THÀNH

    Tượng nghe đại địa sơn hà,

    Luống trong sinh tử cửa nhà vốn không.

    Cô hồn hoạnh tử yểu vong,

    Nương thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.

    Trên thì tướng tướng, vương công,

    Dưới thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.

    Gái trai những kẻ tôn ti,

    Hoặc là tử trận, có khi oan tình.

    Hoặc là vương pháp gia hình,

    Uống trúng độc dược hại mình tự nhiên.

    Sa cơ sống gió chìm thuyền,

    Lỡ làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.

    Xà thương hổ đả hải hùng,

    Huyết hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!

    Hoặc là mắc phải thiên lôi,

    Vong thân chú trớ bồi hồi mạng chung.

    Hoặc là đường sá lỡ làng,

    Mắc phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.

    Hà sa phẩm loại khôn cùng,

    Lòng thành tín chủ mời chung các loài.

    Từ rằng theo bóng Như lai,

    Đã không cứu vớt lấy ai nương nhờ.

    Từ đường đâu có phụng thờ,

    Cô đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.

    Thảm thương mặt nước cung mây,

    Rả rời xương thịt, hồn bay lạc loài.

    Chẳng hay thử vãng hàn lai,

    Bốn mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.

    Thân bằng ít kẻ tri âm,

    Lấy ai cứu vớt mà hòng thoát ly!

    Thảm thương về chốn thổ ty,

    Luôn trong diểu diểu lấy gì mà ra!

    Nương nhờ tín chủ toàn gia,

    Thọ tài hưởng thực mà qua Liên trì.

    Từ rằng vâng phép từ bi,

    Siêu phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.

    Sớm khuya cửa Phật ân cần.

    Phù trì gia chủ thừa ân những ngày.

    Đừng còn theo thói mê say,

    Tham lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.

    Nam mô đức Phật Di Đà,

    Phóng quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.

    Trước triệu thỉnh lủy triều đế chủ,

    Trên ngai vàng trải nối hầu vương.

    Chín tầng điện các đài gương,

    Nước non muôn dặm, mười phương cầm quyền.

    Nghìn năm vương khí danh truyền.

    Xe loan để tiếng oán phiền chưa thôi!

    Tiếng quyên kêu nguyệt bồi hồi,

    Gành đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.

    Tiền vương hậu bá khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,

    Đấng hiền lương trí dũng khôn ngoan.

    Giá trong tieát trắng làm quan,

    Một lòng báo quốc nên trang đan thành.

    Nam châu bắc huyện thơm danh,

    Theo nơi tang thác bỏ đành quê hương.

    Thiên nhai hải giác khôn lường,

    Sa cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.

    Than ôi! Những đấng anh tài,

    Theo dòng thệ thủy cách đài dương quan.

    Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

    Chức phong hầu đứng trước muôn dân.

    Sức dời bảo đỉnh nghìn cân,

    Trường thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.

    Trước hùm sương nhiễm, ghê thay!

    Sa cơ một phút đổi thay công hầu.

    Thương ôi người ngựa ở đâu,

    Xui nên họa cả thảm sầu khôn dung.

    Xiết bao tướng súy anh hùng,

    Lánh nơi vinh hiển theo cùng âm ty.

    Những người sa trụy bất kỳ,

    Nghe lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.

    Lại thỉnh kẻ văn nhân tài tử,

    Chốn thư phòng cửa Khổng vào ra,

    Bút nghiên kinh sử ngâm nga,

    Văn chương tu luyện đợi khoa nương mình.

    Mơ màng lấp lóa đèn huỳnh,

    Công phu khổ dụng đăng trình gặp khi.

    Mười năm tân khổ mong thi,

    Naøo hay một phút xa kỳ công danh!

    Hồng lô tính tự rành rành,

    Đất vàng một nấm lấp thành văn chương.

    Văn nhân tài tử không lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,

    Nương rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.

    Cao Tăng quyết chí tinh tu,

    Trăm năm giới luật công phu dùi mài.

    Giữ gìn phạm hạnh hôm mai,

    Tỳ-kheo Ni chúng khác người thế gian.

    Hoàng hoa, thủy trúc luận bàn,

    Không đàm bí mật nên mang thế tình.

    Bóng đèn lấp lóa hư minh,

    Than ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.

    Nghe lời Bát nhã, Phạm âm,

    Truy y Thích tử lại lâm đáo đàn.

    Lại thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,

    Chốn Bồng lai sớm luyện đan tiên.

    Nương theo thạch động đào nguyên,

    Tu tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.

    Danh thơm chưa nức trong đời.

    Vô thường khi đã đổi dời công phu.

    Thương ôi! Sương tuyết dãi dầu,

    Tiêu điều gió thảm hoa sầu hơi sương.

    Huyền môn đạo sĩ khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,

    Với những kẻ lâm trận kiện nhi.

    Cầm bạch tiết, vác hồng kỳ,

    Tức gan quyết chí trận kỳ hơn thua.

    Trung thành hết sức phò vua,

    Nào hay một phút xa đưa dặm trường.

    Thương ôi! Huyết lụy sa trường,

    Thà ôm xương trắng để đường cho ai!

    Trận vong binh sĩ an tài,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,

    Chốn lâu đài khuê các vào ra.

    Ướp xông hương xạ diềm dà,

    Phấn thoa sáp đánh màu da khác người.

    Mặt hoa mày liễu tốt tươi,

    Hình dung yểu điệu, miệng cười như hoa,

    Hồn tiên kim ốc vào ra,

    Hoa tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!

    Thương ôi! Ngọn gió thổi sầu,

    Đống xương khô héo dãi dầu cỏ sương.

    Quần thoa phụ nữ khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,

    Trải tháng ngày mua bán tranh đua.

    Đổi dời lừa tráo hơn thua,

    Đào công nối nghiệp bán mua so lường.

    Chẳng ngờ nổi trận phong sương,

    Mình vào ngư phúc dương trường, khốn thay!

    Hồn dời bể bắc dặm dài,

    Phách về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.

    Tha hương lữ khách lỡ thời,

    Nghe lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,

    Chịu đắng cay tọa thảo tam triêu;

    Bằng khi loan phụng hòa yêu,

    Hùng bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.

    Gái trai còn hãy chưa hay,

    Đêm trường mẫu tử, phút này giai quy.

    Thương ôi! Hoa nở chính kỳ,

    Nào hay một phút gặp khi mưa dầm.

    Huyết hồ sản nạn lỗi lầm,

    Nghe lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ nhung di man địch,

    Tiếng chẳng thuần ngọng lịu như câm.

    Lại còn trong dạ hiểm thâm,

    Cưu điều hung dữ lưu tâm hại người.

    Khinh khi Tam bảo chê cười,

    Tội khiên chất để bằng mười hà sa.

    Ngổ ngang mắng mẹ khinh cha,

    Ác cao như núi chết mà không tha.

    Chẳng may hồn phách la đà,

    Mịt mờ vũ trụ bao là đớn đau!

    Thương ôi! Ẩn ẩn phương nào,

    Ngày xuân chẳng thấy ra vào u quan!

    Hỡi người bội nghịch si ngoan,

    Nghe lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,

    Bị lao tù mắc phải gia hình.

    Gặp cơn thủy hỏa bất bình,

    Một đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.

    Nghìn năm oan khí chưa xong,

    Linh hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.

    Trời xanh tiếng hạc rộn ràng,

    Gió lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!

    Mấy người hoạnh tử xưa nay,

    Nghe lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.

    -Trích Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha Trang, 1972

    1 Câu này thỉnh kẻ cô hồn hoạnh tử khi lâm sản hoạc bị sẩy thai, sút thai.

    SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

    (Thí thực cô hồn số 5)

    Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

    Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

    Tiệc chay cúng thí vừa xong

    Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

    Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

    Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

    Cam lồ rưới khắp mười phương

    Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

    Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

    Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

    Từ rày bá tánh bình yên

    Phước lành để lại trong miền nhân gian

    Tuổi đời lộc nước chứa chan

    Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

    Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

    Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

    Vinh hoa phú quí đủ điều

    Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

    Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

    Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

    Đến khi trăm tuổi mạng chung

    Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

    A Di Đà Phật phóng quang

    Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

    Khổ đau biển cả chập chùng

    Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

    Đài sen hoa nở vãng sanh

    Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

    Từ đây bỏ việc hơn thua

    Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

    – Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

    VĂN TẾ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn số 6)

    Hỡi ôi !

    Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,

    Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.

    Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,

    Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.

    Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,

    Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.

    Nên phải mang phiền não dập dồn,

    Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.

    Cầu chư Phật oai thần tế bạt,

    Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.

    Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,

    Xin chư vị tề lai thọ hưởng.

    Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,

    Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,

    Độ mười phương sanh chúng bình yên,

    Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.

    Lụy trào đế hầu vương đáng kính,

    Vận nước vong khó tính mưu thành.

    Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,

    Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.

    Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,

    Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.

    Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,

    Nơi dương thế âm dung đà khuất.

    Tài bút nghiên văn thần báo quốc,

    Tấm lòng son công chất nhà vàng.

    Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,

    Rồi một thuở danh vang tể tướng.

    Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,

    Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.

    Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,

    Ba thước đất vùi danh tài tử.

    Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,

    Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.

    Đèn tắt khuya Thiền thất hư minh,

    Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.

    Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,

    Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.

    Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,

    Chí chưa toại tầm đàng Địa phủ.

    Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,

    Tại trận tiền củ củ oai hùng.

    Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,

    Lằn tên đạn không dung tánh mạng.

    Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,

    Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.

    Sóng ba đào phong võ khó lường,

    Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.

    Mười tháng chẵn mang con trong dạ,

    Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.

    Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,

    Hoa mới nở vội liền mưa gió.

    Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,

    Công sanh thành chưa rõ cao dày.

    Hoặc huyền lương độc dược ra tay,

    Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.

    Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,

    Thác giữa đàng không đất gởi thây.

    Hồn dật dờ theo gió theo mây,

    Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.

    Người nghèo khó đốn cây non lãnh,

    Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.

    Bị độc trùng ác thú hổ lang,

    Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.

    Người lương thiện tao phùng tật đố,

    Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.

    Oan hồn tìm đến chốn u thâm,

    Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.

    Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,

    Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.

    Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,

    Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.

    Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,

    Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.

    Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,

    Hồn lìa cách dương trần rất thảm.

    Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,

    Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !

    Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,

    Rủi một phút thân thiêu tro bụi.

    Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,

    Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.

    Mạng số suy, thần tử chẳng tha,

    Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.

    Khi bão tố đá cây ngã liệt,

    Sập cửa nhà đè chết nào hay.

    Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,

    Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.

    Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,

    Chấn động miền non núi đất liền.

    Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,

    Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.

    Bị xe cán nát thây rùng rợn,

    Vận kiếp xui họa lớn nào hay.

    Bà con trông than khóc thảm thay,

    Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.

    Vì ái dục si tình tự tử,

    Cơn đắm mê nào sợ tội mang.

    Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,

    Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.

    Ít phước đức họa tai lôi kéo,

    Đời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,

    Trên giàn cao ngã té bất kỳ,

    Thân tan nát hồn phi phách tán.

    Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,

    Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.

    Thảm thương cho hồn phách linh đinh,

    Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.

    Người lương thiện chết oan điên đảo,

    Vì đạn tên lạc náo xóm làng.

    Oan hồn cam vào chốn nguy nan,

    Chịu u ám, xa đàng giải thoát.

    Bị khổ bức vì tình đen bạc,

    Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.

    Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,

    Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !

    Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,

    Đoạt của rồi giết chủ thác oan.

    Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,

    Kết thù oán khôn toan siêu độ.

    Đời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,

    Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.

    Phách hồn oan lạc lối u minh.

    Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.

    Đời giặc giã nghịch thù vô tận,

    Chôn sống người giữa đám đồng hoang.

    Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,

    Trong giây phút dương gian cách biệt.

    Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,

    Trói lương dân thù ghét quăng sông.

    Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,

    Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.

    Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,

    Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.

    Hồn phất phơ nơi chốn long đong,

    Biết bao thuở thoát vòng khổ não.

    Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,

    Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.

    Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,

    Bà con thấy, ai bi thống thiết !

    Người tắm biển tắm sông biệt tích,

    Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.

    Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,

    Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.

    Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,

    Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.

    Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,

    Rủi một phút hồn phi phách tán.

    Còn nhiều loại hồn oan ta thán,

    Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,

    Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,

    Đương xiêu lạc khắp nơi khổ não.

    Lời thiển bạc nay đà trần tố,

    Thương xót thay nỗi khổ các vì.

    Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,

    Xin sám hối tiền phi hậu quá.

    Xét tội lỗi oan khiên vay trả,

    Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,

    Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,

    Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.

    Quy y Phật tịnh yên hồn phách,

    Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.

    Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,

    Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.

    Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,

    Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.

    Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,

    Độ chư vị thoát đàng khổ não.

    Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,

    Thập Điện đồng mở đạo Từ bi.

    Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,

    Đức Địa Tạng đại bi cứu rỗi.

    Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,

    Vãng sinh miền Tịnh Độ thảnh thơi.

    Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,

    Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.

    Nam mô A Di Đà Phật.

    VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

    CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN

    (Thí thực cô hồn số 7)

    Hỡi chư chiến sĩ trận vong !

    Hỡi chư lương dân tử nạn !

    Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,

    Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

    Người sanh trên thế ai không chết,

    Để tấm lòng son rạng sử xanh.

    Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,

    Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.

    Chí trung cang nghĩa khí sắc son,

    Gương Thánh Đế nay còn nêu đó !

    Nợ nước non ai ai cũng có,

    Phận công dân giao phó phải mang.

    Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,

    Phải đáng bực trung thần liệt nữ.

    Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,

    Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.

    Nay tuy là u hiển biệt ly,

    Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,

    Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,

    Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.

    Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,

    Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.

    Thôi nợ nước nay đà tận báo,

    Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.

    Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,

    Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,

    Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,

    Rửa cừu oan diệt tất não phiền.

    Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,

    Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác

    Sen chín phẩm nở ra trước mắt,

    Hết tử sanh quả Phật thấy liền.

    Hỡi các vì hồn có linh thiên,

    Nơi chín suối khá liền sám hối,

    Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,

    Dắt dìu ra khỏi lối u minh.

    Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,

    Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.

    Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,

    Lập đức công báo bổ tứ ân,

    Lời thiết tha đạo đức phân trần,

    Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

    ĐỒNG BÀO TỬ NẠN.

    (Thí thực cô hồn số 8)

    Hỡi ôi !

    Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,

    Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,

    Chúng sanh phải chịu khổ nguy,

    Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.

    Việc may rủi biết đâu chọn lánh,

    Nhận làm người mang gánh sự trần,

    Tam cang mới nặng muôn cân,

    Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.

    Lẽ sống thác là tùy số phận,

    Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,

    Mình là bổn phận con dâu,

    Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.

    Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,

    Giận quân thù chí dốc tòng quân,

    Ra đi dạ luống bâng khuâng,

    Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.

    Khi lặn suối trèo non vượt bể,

    Khi lên truông qua ải xuống đèo,

    Đai cơm, bầu nước, gươm đeo,

    Chút thân sống thác do theo số trời.

    Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,

    Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,

    Nhớ con thổn thức canh gà,

    Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.

    Khi sớm tối ai vào thăm viếng,

    Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?

    Đêm ngày giọt lệ chứa chan,

    Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.

    Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,

    Đánh liều theo máy tạo vần xoay,

    Trước cờ da ngựa bọc thây,

    Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!

    Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,

    Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,

    Con thơ vợ yếu lao nhao,

    Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?

    Đêm tủi phận dở dang duyên nợ,

    Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,

    Trông cho chiến thắng khải hoàn,

    Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.

    Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,

    Cùng anh em chung chạ một nhà,

    Xóm làng cô bác ông bà,

    Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.

    Người muốn vậy không hề được vậy,

    Bãi trường sa thịt nát máu tơi,

    Tên rơi đạn lạc hết đời,

    Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!

    Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,

    Dưới hố hầm chân núi cội cây,

    Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,

    Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.

    Ai có phước thi hài chôn lấp,

    Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,

    Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,

    Đến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?

    Vợ con với mẹ cha đâu biết,

    Chừng hay tin thì việc đã rồi,

    Nợ trần phủi sạch ai ôi,

    Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !

    Khen anh dũng xông pha tên đạn,

    Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,

    Sống làm Tướng, thác làm Thần,

    Non sông gánh vác tử phần đao binh.

    Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,

    Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,

    Trận vong chiến sĩ vì đời,

    Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.

    Nén hương đốt gội nhuần trước án,

    Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,

    Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,

    Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.

    Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,

    Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,

    Hồi đầu nương cửa từ bi

    Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.

    Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,

    Phật mười phương quảng đại độ siêu,

    Nương đàn chẩn tế tiêu dao,

    Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.

    SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

    (Thí thực cô hồn số 9)

    Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

    Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

    Tiệc chay cúng thí vừa xong

    Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

    Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

    Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

    Cam lồ rưới khắp mười phương

    Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

    Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

    Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

    Từ rày bá tánh bình yên

    Phước lành để lại trong miền nhân gian

    Tuổi đời lộc nước chứa chan

    Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

    Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

    Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

    Vinh hoa phú quí đủ điều

    Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

    Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

    Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

    Đến khi trăm tuổi mạng chung

    Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

    A Di Đà Phật phóng quang

    Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

    Khổ đau biển cả chập chùng

    Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

    Đài sen hoa nở vãng sanh

    Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

    Từ đây bỏ việc hơn thua

    Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

    – Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

    VĂN TẾ LIỆT SĨ

    (Thí thực cô hồn 10)

    Hỡi chư Liệt sĩ ôi!

    Họa đao binh từng đốt nung đất Việt

    Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam

    Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông

    Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt

    Nhớ những anh hùng xưa!

    Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc

    Rửa nhục chung, sống chết đâu màng

    Chốn sa tràng, trải mật phơi gan

    Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết

    Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết

    Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương

    Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương

    Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt

    Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến

    Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng

    Đạn nổ súng rền, gió hơi bom,

    long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .

    Cờ phất còi reo, tiếng trống dục,

    chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.

    Dưới làn bom, thịt nát xương tan,

    Đành ngã gục không hề khuất tiếc.

    Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ,

    cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.

    Người chiến sĩ, đền xong nợ nước,

    trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.

    Đấng anh hùng, rửa sạch nhục chung,

    đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.

    Than ôi!

    Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.

    Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang

    Cảm thương người, tai nạn tràn lan

    Thương xót kẻ, uổng oan mất tích

    Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh

    Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh

    Nơi dạ đài, người tử si có linh

    Nương thể phách, về trai đàn chứng giám

    Hỡi ơi! Thương thay!

    Có linh xin chứng! Có linh xin chứng!

    – Trích soạn “Kinh Nhựt tụng” – Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.

    VĂN TẾ CÔ HỒN (II)

    (Thí thực cô hồn 11)

    Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê

    Cõi nhơn gian thủy lục ê chề

    Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán

    Trên đến bực vương hầu khanh tướng

    Dưới đến người sĩ cổ nông công

    Nào kẻ ty, nào người tôn

    Nào là nam, nào là nữ

    Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ

    Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng

    Hoặc sa hầm sa hang

    Hoặc trúng thang trúng dược

    Đau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn

    Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm

    Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều

    Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết

    Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt,

    Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi

    Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển

    Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,

    Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay

    Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai

    Mãn tám tiết vắng người đơm quảy

    Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu

    Mù mù mịch mịch, đường xuất lý m

    ảng đợi trông ngày tháng

    Hội vô giá may vừa gặp khoản,

    Nương theo công bí mật hôm nay

    Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh

    Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần

    Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi!

    Ngôi liên đài quanh quất bên thân

    Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt

    Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức

    Đã chứng vào trong bực vô sanh

    Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh

    Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.

    Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.

    – Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng – Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê – Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

    HỒI HƯỚNG TẾ VĂN

    (Thí thực cô hồn 12)

    Kiến văn như huyển ế

    Tam giới nhược không hoa

    Văn phục, ế căn trừ

    Trần tiêu, giác viên tịnh

    Phục dĩ,

    Nguyên chơn như thanh tịnh

    Tội tánh vốn là không

    Biển khổ rộng mênh mông

    Sóng quanh theo đuổi mãi

    Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải

    Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày

    Địa ngục đà thọ báo đắng cay

    Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát

    Đã chẳng có ngày giải thoát

    Ắt là không chỗ đặng siêu thăng

    Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân

    Để mở đặng đảo huyền dây ác thú

    Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú

    Thí ra trên tiệc cam lồ

    Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn

    Soi khắp trong đường minh giới

    Nào những mấy dòng mê cả thảy

    Khiến đều về cực lạc phương tây

    Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực

    Đem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi

    Diệm nhiên Đại sĩ một tay

    Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng

    Ngạ quỉ hằng hà sa số

    Vô lượng vô biên xiết kể biết bao

    Cúi xin từ kiếp bỏ liền

    Cho đến ngày tái thế

    Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để

    Rửa tội khiên phút đã sạch rồi

    Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức

    Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân

    Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ

    Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn

    Khắp nơi bủa chật thiết sàng

    Hiện pháp tòa Bồ đề là đó

    Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ

    Sái đề hồ cam lộ vào đây

    Gặp người trái chủ hôm nay

    Buổi đó hết đòi hết hỏi

    Nhóm kiếp oan gia buổi trước,

    Cùng nhau thôi vấn thôi vương

    Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương

    Lòng từ thiện minh quang bảo hộ

    Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ

    Nay thời nhập Thánh siêu phàm

    Nợ nhơn thân lụy thế hết còn

    Rày đã thừa ân giải thoát

    Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện

    Miền nhơn gian tứ tướng có chi

    Tu la đà bỏ cả sân si

    Địa ngục lại hết điều khổ não

    Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo

    Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng

    Giống làm sanh chật nức mười loài

    Lên bờ giác lánh nơi đường tối

    Khắp xin cả hữu tình một nỗi

    Quốc độ này, quốc độ nọ

    Và vô lượng các quốc độ thảy

    Cùng nhau chung chứng chơn thường

    Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài

    Thế giới đó, thế giới đây

    Và vô lượng các thế giới nào

    Buổi đó đều nên Phật đạo

    Tứ ân khắp báo

    Tam hữu đều nhờ

    Người trong pháp giới bao giờ

    Ai ai cũng đồng nên chưởng trí.

    – Trích soạn “Kinh Nhựt Tụng ” Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

    SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG

    (Thí thực cô hồn 13)

    Nam mô Từ phụ Di Đà,

    Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.

    Thương đời bá tánh vạn dân,

    Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.

    Thế gian mong được an nhàn,

    Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.

    Chết ao, khe, biển, suối, sông,

    Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.

    Gió giông bão tố thủy triều,

    Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.

    Hồn phi phách lạc mất rồi,

    Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.

    Cõi đời sanh tử mơi chiều,

    Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.

    Lại còn giặc giã đao binh,

    Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.

    Núi rừng đồng rộng biển sông,

    Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.

    Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,

    Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.

    Sông sâu biển rộng bốn phương,

    Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.

    Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,

    Độ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.

    Linh đinh hồn vía mịt mờ,

    Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.

    Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,

    Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.

    Hồn về cảnh Phật đề huề,

    Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.

    Quan Âm đại sĩ từ hàng,

    Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.

    Nguyện cho hồn đặng vui mừng,

    Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.

    Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,

    Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.

    Vớt vong khỏi chốn suối sông,

    Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.

    Đưa vong khỏi biển ba đào,

    Đến nơi bờ giác lên mau lạ thường.

    Nam Mô Địa Tạng Minh Vương,

    Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.

    Chúng sanh chìm đắm hải hà,

    Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.

    Nổi trôi khổ sở tấm thân,

    Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.

    Nam mô đức Phật Thích Ca,

    Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.

    Ở trong thế giới U Minh,

    Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.

    Nguyện ngài giáo chủ A Di,

    Độ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.

    Ở yên mát mẻ tu hành,

    Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.

    Nam mô Tịnh độ Lạc bang,

    Độ vong hồn đặng Tây phang mau về.

    – Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Độ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.

    – Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.

    VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ

    (Thí thực cô hồn 14)

    Bích Liên Pháp Sư

    SÁM TÁN KHÔ LÂU

    (Thí thực cô hồn 15)

    Bích Liên Pháp Sư

    Hôm qua đồng vắng ngoạn du

    Thấy liền Đại đức khô lâu một vùng

    Bốn bên ghê gốc bịt bùng

    Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh

    Dàu dàu âm khí lạnh tanh

    Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Quê người ở mé giang đầu thiu thiu

    Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu

    Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời

    Phèo phèo khí lạnh đòi nơi

    Anh em lai vãng, có người nào đâu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Ấy người quân tử ở đâu bên đường

    Nhà ai vang vọng đêm trường

    Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào

    Đau thay gan ruột như bào

    Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Đôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này

    Xiết thay, người thế ra chi

    Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm

    Ác vàng thỏ bạc xa xăm

    Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi

    Dần dà chi nữa người ơi

    Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma

    Hôm nay thiện tín trai gia

    Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”

    Lò vàng vừa bén mùi hương

    Đạo tràng mời khắp mười phương cô hồn

    Bao nhiêu tội chướng để dồn

    Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu

    Ân triêm phước lợi thắm mầu

    Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.

    – Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng năm 1940.

    – Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre

    TRẠO VĂN DIỄN ÂM

    (Thí thực cô hồn 16)

    Bích Liên Pháp Sư

    Hôm nay cúng thí trai đàn,

    Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.

    Quan Âm cứu khổ đã đành,

    Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.

    Niệm câu Mô Phật từ bi,

    Tuyên lời bí mật đức dày công cao.

    Độ người thập loại nao nao,

    Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.

    Trước đây triều đại còn truyền,

    Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.

    Hầu vương huân thích vang danh,

    Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.

    Trung cung, Tể chấp, đại quan,

    Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.

    Điềm hoa tươi đã vứt đi,

    Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.

    Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,

    Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.

    Chăn dân bủa hóa giữa giòng,

    Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.

    Đau lòng một chiếu thôi thương,

    Phải khi trích án sa trường biên bang.

    Hồn còn trìu mến giang san,

    Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.

    Người võ sĩ, kẻ nhung thần,

    Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.

    Băng xông trăm trận mũi vàng,

    Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.

    Đánh Nam dẹp Bắc tơi bời,

    Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.

    Tấm lòng vì nước mà vong,

    Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.

    Những người học cổ cùng kinh,

    Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.

    Bóng quang, hột tuyết dòm theo,

    Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!

    Ta đà mạng vận làm sao,

    Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.

    Hương hồn uất uất chi linh,

    Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.

    Những người cắt ái từ thân,

    Cửa không sớm đã chân lần vào trong.

    Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,

    Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.

    Trải bao lạnh nắng xoay quanh,

    Sự vô thường đã đến mình nào hay!

    Hồi quang soi chút bóng dày,

    Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.

    Những người võ phục huỳnh quan,

    Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.

    Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,

    Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.

    Lao thần khổ hạnh đòi phen,

    Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.

    Thôi đừng tiếc chút dị hình,

    Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.

    Những người con thảo cháu lành,

    Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.

    Những người liệt nữ trinh thê,

    Cái thân coi chết như về đâu đâu.

    Với người trọng tiết vong xu,

    Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.

    Hồn còn chói lọi linh thiêng,

    Đến đây hưởng thọ một diên cam lồ.

    Những người đạo nữ Ni đồ,

    Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.

    Phụng loan bỏ khống duyên phần,

    Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.

    Còn chưa liễu đặng vô vi,

    Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!

    Hồn người thăm thẳm thanh thanh,

    Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?

    Những người địa lý thiên văn,

    Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.

    Bói qui, dịch sủ qui vàng,

    Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.

    Mách người hung kiết biết bao,

    Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.

    Thôi rày xả ngụy qui chân,

    Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.

    Những người tọa mãi hành thương,

    Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.

    Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,

    Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.

    Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,

    Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.

    Một niềm lữ mộng vơi vơi,

    Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.

    Những người phạm pháp tạo hình,

    Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.

    Hại người toan lấy của người,

    Oan gia trái chủ trả đời nào xong!

    Người tật ác, kẻ tai hung,

    Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.

    Suối vàng kíp kíp đôi chân,

    Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.

    Những người ngựa đạp, xe thương,

    Vách đè thân nát như tương rã rời!

    Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.

    Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.

    Hoặc là thủy hỏa tai ương,

    Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.

    Hồn người bất hạnh trầm trầm,

    Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.

    Những người âm huyết dương mao,

    Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.

    Thi công mà trả nợ đày,

    Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.

    Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,

    Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.

    Hồn người oan khổ biết bao,

    Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.

    Những người ngỗ nghịch mẹ cha,

    Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.

    Những người chê Phật khinh Tăng,

    Đốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.

    Lắm điều tà kiến trầm mê,

    Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.

    Hồn người thật ác, thương ôi,

    Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.

    Cửa nhà đại thí mở ra,

    Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.

    Tiên vong hòa tổ hòa tôn,

    Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.

    Đường ba, nạn tám thiếu chi,

    Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.

    Cậy chưng Phật Pháp quang miên,

    Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.

    A Di Đà Phật Bồ Đề,

    Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,

    Đường mê trông thấy nhãn tiền,

    Đắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!

    Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,

    Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.

    Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,

    Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.

    – Đây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định soạn, khoảng năm 1940.

    – Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.

    VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 17)

    Bích Liên Pháp Sư

    Dấu người thập loại biết là đâu?

    Hồn phách mơ màng trải mấy thu,

    Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,

    Những mồ vô chủ thấy mà đau!

    Tịch mịch dạ canh thâm,

    Hoa Đàm bá phạm âm,

    Cô hồn văn triệu thỉnh,

    Bộ bộ tốc lai lâm.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Ác vàng tên ruỗi,

    Thỏ bạc thoi dong,

    Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,

    Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!

    Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,

    Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,

    Nghe lời triệu thỉnh đành rành,

    Hồn chơi trong cõi U minh xin về.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Màu non lờ lạc,

    Dòng nước thầm thì,

    Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,

    Người mới đó, chim rày đã lặn.

    Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,

    Đôi phen mời, linh sản ở đâu đây,

    Vong linh ơi hỡi có hay,

    Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Biển trần lênh láng,

    Sóng nghiệp lao xao,

    Người mê man trong giấc chiêm bao,

    May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.

    Sống chẳng niệm Di Đà Phật hiệu,

    Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,

    Đầy ba phen, hương thắp bảo đàn,

    Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.

    Xin vâng Tam Bảo pháp lành,

    Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.

    Về đây hưởng thọ hương huê,

    Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.

    – Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,

    Triều đại xưa, trải quá biết bao!

    Đền đài chín lớp ở cao,

    Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.

    Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,

    Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,

    Đỗ quyên kêu trót tàn canh,

    Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.

    Trước sau vương bá những là,

    Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.

    – Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

    Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,

    Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,

    Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.

    Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,

    Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,

    Ngựa xe chiến tướng vắng không,

    Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!

    Anh hùng tướng soái bao nhiêu,

    Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?

    – Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,

    Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.

    Ba năm thanh tiết làm quan,

    Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.

    Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,

    Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,

    Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,

    Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.

    Văn thần xiết kể muôn ngàn,

    Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.

    – Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,

    Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,

    Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,

    Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.

    Tan bữa đốm, tiếc dày công học,

    Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,

    Lụa hồng bảy thước đề tên,

    Đất vàng một cụm, lấp nền văn chương.

    Văn nhân biết mấy đâu lường,

    Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.

    – Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,

    Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,

    Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,

    Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.

    Làn hoa trúc, vài câu mật đế,

    Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,

    Tam canh song tẩm lạnh lùng,

    Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.

    Trung lưu này những bi ai,

    Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,

    Dòng vũ y phong cách nhà tiên,

    Tu chơn trong động đào nguyên,

    Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.

    Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,

    Đất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,

    Lò đơn lẫm quán lạnh sương,

    Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.

    Bao nhiêu đạo sĩ những là,

    Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.

    – Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,

    Đường bắc nam trải thử hành thương,

    Lợi quyền muôn dặm, toan đương,

    Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.

    Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,

    Bước đá mây, xương rã đường dê,

    Phách theo mây cuốn sè sè,

    Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Đông.

    Thương nhân, sau trước một dòng,

    Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,

    Sức phương cường, mình bận áo binh,

    Cờ điều phất bóng tương tranh,

    Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.

    Ruột gan nát, thao trường kim cổ,

    Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,

    Cát vàng văng vẳng tiếng ma,

    Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.

    Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,

    Đêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.

    – Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,

    Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,

    Trước mừng loan phụng hiệp bầy,

    Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.

    Vầng cung phụng, phút tường hung cát.

    Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,

    Nhành hoa nở, trận mưa tuông,

    Đường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.

    Những người sản nạn qui âm,

    Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,

    Với những người ú ớ điếc đui,

    Chết mình, tôi tớ lui thui,

    Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.

    Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,

    Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,

    Đêm trường thăm thẳm bóng mơi,

    Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.

    Những người bội nghịch hoang hung,

    Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.

    – Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,

    Gái má đào, sắc nước kém đâu,

    Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,

    Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.

    Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,

    Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,

    Phong lưu ngày trước đâu rồi,

    Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.

    Những trang xinh tốt xưa nay,

    Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.

    – Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,

    Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,

    Gặp tai nước lửa hại mình,

    Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.

    Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,

    Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,

    Mưa chiều khói lạnh nước reo,

    Lá thu gió thổi dập dìu như bay.

    Những người hoạnh tử xưa nay,

    Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.

    – Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,

    Những cô hồn mười loại đâu đây,

    Diện-Nhiên sở thống một tay,

    Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.

    Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,

    Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,

    Hồn cô, phách trệ linh đinh,

    Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.

    Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,

    Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.

    Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,

    Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.

    Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,

    Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.

    A Di Đà Phật Như Lai,

    Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.

    – Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai, Bé Gái Mau Ăn Chóng Lớn
  • Ông Trùm Giải Trí Bí Mật Cưng Chiều: Cô Vợ Ngốc Ngọt Ngào
  • Sa Vào Trêu Ghẹo Vợ Yêu : Tổng Giám Đốc Vô Cùng Cưng Chiều
  • Văn Khấn Tết Trung Nguyên (Rằm Tháng 7 Âm Lịch)
  • Dropdeck Giành Giải Nhất Cuộc Thi Start Jerusalem 2021
  • Bài Văn Khấn Cúng Phật Chuẩn Nhất Trong Năm 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Phật Bà Quan Âm Tại Nhà Và Cách Thờ Cúng
  • Bài Khấn Nguyện Ngày Lễ Đức Phật Thích Ca Đản Sanh
  • Lễ Phật Đản 2021 Vào Ngày Nào? Ý Nghĩa Lễ Phật Đản
  • Văn Khấn Lễ Phật Ở Chùa,van Khan Le Phat O Chua
  • Các Bài Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Tại Nhà Và Ngoài Chùa
  • Theo phong tục tập quán cổ truyền: Mọi người Việt Nam trong các ngày Rằm, mồng Một, ngày Lễ Tết, cùng những ngày có việc hệ trọng, thường đến Chùa lễ Phật với tấm lòng thành cầu khấn nhờ nghiệp lực vô biên của Phật, của chư vị Bồ Tát, Hiền thánh mà được thiện duyên, gặp may cầu cho được: mạnh khoẻ, sống lâu, tai qua, nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, có con nối dõi, yêu vui thân mệnh, gia đình hoà thuận, hạnh phúc an khang, thế giới hoà bình, văn minh xã hội và ngoài ra không chỉ cầu cho người sống ở thế giới bên kia được siêu sinh Tịnh độ… Ước vọng chính đáng ấy được thể hiện qua các bài văn khấn.

    2. Sắm lễ khi đi chủa lễ Phật

    Việc sửa soạn đi lễ Chùa, sắm lễ vật để đi lễ Chùa đều có những quy định mà người hành lễ phải tuân thủ là:

    – Đến dâng hương tại các Chùa chỉ được sắm các lễ chay: hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi chè… không được sắm sửa lễ mặn chư cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt mồi, gà, giò, chả…

    – Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực Chùa có thờ tự các vị Thánh, Mẫu và chỉ dâng ở đó mà thôi. Tuyệt đối không được dâng đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện (chính diện), tức là nơi thờ tự chính của ngôi Chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Lễ mặn (nhưng thường chỉ đơn giản: gà, giò, chả, rượu, trầu cau…) cũng thường được đặt tại ban thờ hay điện thờ (nếu xây riêng) của Đức Ông – Vị thần cai quản toàn bộ công việc của một ngôi chùa.

    – Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cùng, Lễ Phật tại Chùa. Nếu có sửa lễ này thì chủ đặt ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.

    – Tiền giấy âm phủ hay hàng mã kiêng đặt ở ban thờ Phật, Bồ Tát và cả tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện. Mà tiền, vàng công đức nên để vào hòm công đức đặt tại Chùa.

    – Hoa tươi lễ Phật là: hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại…

    – Trước ngày dâng hương Lễ Phật ở Chùa cần chay tịnh trong đời sống sinh hoạt ngày thường: ăn chay, kiêng giới, làm việc thiện…

    Tại Chùa, cứ đến rằm tháng Bảy thì mọi người sắm sửa lễ vật đến cầu siêu cho ông bà, cha mẹ hay những người đã khuất, thậm chí cho cả cô hồn. Vào tiết này, sắm thêm lễ vật đặc trưng: đồ hàng mã chế tác theo hình vật dụng thường ngày: mũ, áo, xe cộ… nhưng chớ có sắm sửa các hình nhân thế mạng. Ngoài ra còn có lễ vật cúng chúng sinh: cháo lá đa, ngôi, bánh đa, khoai… Tất cả dâng đặt ở bàn thờ Đức Thánh chứ không đặt ở bàn thờ khác hay ban chính điện.

    Riêng với các trường hợp “bán khoán” hay làm lễ “cầu siêu” thì cần phải sắm sửa lễ vật theo chỉ dẫn cụ thể của vị Tăng trụ tại Chùa.

    Nên biết: Những lễ nghi đừng quên khi tới cửa chùa dâng hương bái Phật

    – Đến Chùa hành lễ cần theo thứ tự như sau:

    1. Đặt lễ vật: Thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước.

    2. Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang, thỉnh 3 hồi chuông rồi làm lễ chư Phật, Bồ Tát.

    3. Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu Chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.

    4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu)

    5. Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nàh trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tuỳ tâm công đức.

    3. Văn khấn lễ Phật

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. âm lịch

    Tín chủ con là ……………………

    Ngụ tại ………………………………

    Cùng toàn thể gia đình thành tâm trước Đại Hùng Bảo Điện, nơi chùa ………… dâng nén tâm hương, dốc lòng kính lạy: Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Di Đà, Mười phương chư Phật, Vô thượng Phật pháp, Quán Âm Đại Sỹ, cùng Thánh hiền Tăng.

    Đệ tử lâu đời, lâu kiếp, nghiệp chướng nặng nề, si mê lầm lạc. Nay đến trước Phật đài, thành tâm sám hối, thề tránh điều dữ, nguyện làm việc lành. Ngửa trông ơn Phật, Quán Âm Đại Sỹ, chư Thánh hiền Tăng, Thiên Long Bát bộ, Hộ pháp Thiên thần, từ bi gia hộ. Khiến cho chúng con và cả gia đình tâm không phiền não, thân không bệnh tật, hàng ngày an vui, sống và làm việc theo pháp Phật nhiệm màu, để cho vận đáo hanh thông, muôn thuở nhuần ơn Phật pháp.

    Đặng mà cứu độ cho các bậc Tôn Trưởng cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng cả chúng sinh đều thành Phật đạo.

    Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

    Cẩn nguyện.

    Liên Quan Khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phật Hoàng Trần Nhân Tông Với Thơ Thiền Nhập Thế
  • Phật Hoàng Trần Nhân Tông Làm 4 Câu Thơ Thiền, Hậu Thế Nghìn Năm Còn Ngưỡng Vọng
  • Tại Sao Có Ít Chùa Thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông?
  • Bí Ẩn 3000 Viên Xá Lợi Của Phật Hoàng Trần Nhân Tông (Kỳ 2)
  • Phật Bốn Mặt Thái Lan Nguồn Gốc Và Sự Linh Thiêng
  • Các Bài Văn Khấn Phật Phổ Biến

    --- Bài mới hơn ---

  • Phải Thỉnh Tượng Phật Về Thờ Như Thế Nào Mới Đúng?
  • Hướng Dẫn Cách Thỉnh Phật Bà Quan Âm Về Thờ Tại Gia
  • Thỉnh Phật Bà Quan Âm Tại Gia Và Những Điều Cần Lưu Ý
  • Bí Mật 400 Năm Về Sự Tu Hành Của Thiền Sư Chuyết Chuyết Và Nhục Thân Của Ngài Tại Chùa Phật Tích
  • Những Cần Biết Về Chùa Phật Tích Bắc Ninh
  • 1. Văn khấn Phật khi lễ chùa

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Hôm nay là ngày…….. tháng…….. năm………

    Tín chủ con là …………………………

    Ngụ tại………………………

    Cùng toàn thể gia đình thành tâm trước Đại Hùng Bảo Điện, nơi Chùa …….. dâng nén tâm hương, dốc lòng kính lạy:

    Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Di Đà, Mười phương chư Phật, Vô thượng Phật pháp, Quan âm Đại sỹ, và Thánh hiền Tăng.

    Đệ tử lâu đời lâu kiếp, nghiệp chướng nặng nề, si mê lầm lạc.

    Ngày nay đến trước Phật đài, thành tâm sám hối, không làm điều dữ ,nguyện làm việc lành, ngửa trông ơn Phật, Quan âm Đại sỹ chư Thánh hiền Tăng, Thiên Long bát bộ, Hộ pháp Thiên thần, từ bi gia hộ. Khiến cho chúng con và cả gia đình tâm không phiền não, thân không bệnh tật, hàng ngày an qui làm việc theo pháp Phật nhiệm màu, để cho vận đảo hanh thông, muôn thuở nhuần ơn Phật pháp.

    Đặng mà cứu độ cho các bậc Tôn trưởng Cha mẹ, anh em, thần bằng quyến thuộc, cùng cả chúng sinh đều thành Phật đạo.

    Tâm nguyện lòng thành kính bái thỉnh cúi xin chứng giám.

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Con xin Nam Mô Phật (quỳ gối xá một lạy hai tay và đầu dập sát đất)

    Con xin Nam Mô Pháp(quỳ gối xá một lạy hai tay và đầu dập sát đất)

    Con xin Nam Mô Tăng(quỳ gối xá một lạy hai tay và đầu dập sát đất)

    (Làm chậm rãi hết sức cung kính và nhất tâm )

    Nam Mô A Di Đà Phật

    Nam Mô A Di Đà Phật

    Nam Mô A Di Đà Phật

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

    Hôm nay, ngày…tháng…năm….

    Phật tử con là……………….hiện cư trú tại……………………

    Cùng toàn thể gia đình thành tâm trước Đại Hùng Bảo Điện,nơi chùa

    Con Nam Mô Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

    Con Nam Mô Đức Phật A Di Đà,

    Con Nam Mô Đức Phật Quán Thế Âm Bồ Tát

    Con Nam Mô Đức Phật Đại Thế Chí Bồ Tát

    Con Nam Mô Đức Phât Địa Tạng Vương Bồ Tát

    Con Nam Mô Mười phương chư Phật

    Con Nam Mô Vô thượng Phật pháp

    Và hằng hà sa số Phật cùng hiền Thánh,Tăng

    Hôm nay Phật tử con

    Được quay trở về đây

    Được nương tựa,che chở dưới bóng Phật,Pháp,Thánh ,Tăng

    Là phúc phận của con

    Không có gì sung sướng,phúc đức nào so sánh bằng

    Nay đứng trước Phật Thánh đài

    Con cúi đầu đảnh lễ

    Xin Phật gia trì độ

    Cho gia tiên,tiền tổ,ông bà cùng cha mẹ

    Và anh em,thân bằng quyến thuộc

    Trong nhiều đời nhiều kiếp

    Cũng như hiện kiếp

    Còn ở dưới suối vàng

    Hay còn trong “âm phủ ”

    Hay còn đang luyến tiếc

    Sắc, dục, tham, sân, si

    Và vô minh che lối

    Sớm được đi siêu thoát

    Được sinh cõi tốt đẹp

    Xin Phật gia trì độ

    Cửu huyền thất tổ con

    Sinh ra gặp Phật Pháp

    Được tu tập đắc ngộ

    Thành tựu chứng niết bàn

    Con cúi đầu đảnh lễ

    Xin Phật gia trì độ

    Cho con…(tên đọc ra)

    Nay con xin Phát nguyện

    Từ tâm thành tha thiết

    Từ sâu thẳm đáy lòng

    Được tu, gặp Phật Pháp

    Ngộ giáo lý Phật dạy

    Được thuận duyên tiến tu

    Phương tiện xin Phật Độ nhiều thuận lợi cho con

    Mọi chướng nghiệp đều biến tan

    Xin Phật độ con gặp

    Nhiều bậc thầy “minh sư”

    Chỉ dạy con Phật Pháp

    Thiền tông,tịnh,mật tông

    Và kinh kệ thần chú

    Con xin Phật gia hộ

    Trên con đường tu tập

    Thành tựu sớm viên mãn

    Con xin phát nguyện rằng

    Khi tu thành viên mãn

    Nguyện đem công đức đó

    Hướng về khắp tất cả

    Đệ tử và chúng sanh

    Được tròn thành Phật Đạo

    Con không màng tư lợi

    Không nghĩ cho thân mình

    Dù bất luận thế nào

    Nguyện đem thân xác này

    Dù thân tan,dập nát

    Hướng về khắp tất cả

    Chúng sanh được an vui

    Sau con thành tâm xám hối

    Hổ thẹn với lương tâm

    Phật tử con lâu đời lâu kiếp

    Đức mỏng nghiệp chướng dày

    Và vô mình che lối

    Hiểu biết thì nông cạn

    Nay đến trước Phật Đài

    Thành tâm con xám hối

    Tất thảy việc đã tạo

    Từ đời đời kiếp kiếp

    Điều xấu hại người,vật

    Và ác ý,thâm ô

    Từ tâm tham,sân,si,mạn

    Cũng như vô số tội

    Nguyện con luôn tinh tấn

    Trước diệt tam tâm độc

    Sau diệt ác nghiệp đã gây

    Cũng như việc xấu ác

    Nguyện con làm việc lành

    Việc thiện giúp chúng sinh

    Bá gia và bá tánh

    Lợi lạc hướng tất cả

    Trời người và chúng sinh

    Không nề hà thân con

    Ngửa trông ơn Phật dạy

    Thích Ca Mâu Ni Phật

    Phật Bà Quán Thế Âm

    Cùng Chư Thánh hiền Tăng

    Thiên Long Bát bộ

    Hộ pháp Thiên thần

    Từ bi gia hội

    Cúi xin đảnh lễ các vị phù hộ cho chúng con và cả gia đình tâm không phiền não, thân không bệnh tật, luôn luôn khỏe mạnh, hàng ngày an vui làm việc theo pháp Phật nhiệm màu, để cho vận đáo hanh thông, để luôn luôn đời đời thấm nhuần ơn Phật Pháp.

    Cúi xin con luôn luôn hạnh đạo vuông tròn, làm tròn chữ hiếu, bổn phận với ông bà, cha mẹ

    Cúi xin cho các con của con, luôn luôn được khỏe mạnh,học hành luôn tinh tấn.. Học một hiểu biết mười, là con ngoan trò giỏi

    Đặng xin cứu độ cho các bậc Tôn Trưởng cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng cả chúng sinh đều thành Phật đạo.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    3. Các bài văn khấn Phật trong các trường hợp cụ thể

    Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thập Phương Tam Thế Chư Phật, chư Bồ Tát,

    Tam Bảo khắp mười phương (3 lần)

    Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần).

    Hôm nay lại bước qua một ngày, con tự biết con đã được rất nhiều may mắn, con đã hưởng được tha lực từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát và Đức Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát ban cho, và được chư vị giúp đỡ mà con mới có được ngày hôm nay. Con xin thành tâm thành kính quỳ nơi đây dâng lòng chí thành chí kính tri ân. (1 lạy)

    Con xin thành tâm thành kính cầu nguyện sự an lành, an lạc, thanh bình, hạnh phúc cho cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng khắp các chúng sanh hữu tình, vô tình.

    Con cầu xin thập phương tam thế chư Phật, chư Bồ Tát, Đức mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát, và chư vị từ bi gia hộ, giúp đỡ để chúng con đồng được sự an lành, an lạc, tu hành đến Tri Kiến Giải Thoát, thoát khỏi sanh tử luân hồi (1 lạy).

    Con cũng thành tâm cầu siêu cho vong linh cửu huyền thất tổ, cha mẹ, tổ tiên, thân bằng quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp.

    Những vong linh liên hệ và không liên hệ đến con,

    Những vong linh con đã lỡ gây hại, sát hại trong quá khứ,

    Cho những vong linh tên:…..

    Cùng những vong linh mất trong chiến tranh, thiên tai, tật bệnh, và vì mọi lý do chưa được vãng sanh.

    Con thành tâm cầu nguyện xin tha lực từ bi của mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, cùng chư vị giúp đỡ để các vong linh được tiếp dẫn về nơi an lạc, siêu sanh Tịnh Độ (1 lạy).

    Nay con xin chí thành sám hối mọi tội lỗi con đã lỡ gây tạo từ nhiều kiếp cho đến nay, những tội con đã gây tạo trong kiếp sống hiện tại.

    Những tội con gây tạo do bởi vô tình hay cố ý, gây hại, sát hại đến nhân mạng, đến giới hữu tình hoặc vô tình, những tội do bởi Tham, Sân, Si, do bởi ngã mạn, vô minh che lấp.

    Từ nay, mỗi ngày con xin kiểm soát hành động, tư tưởng để sám hối, sửa sai và xin nguyện giữ mình không tái phạm.

    Hết thảy các tội, con xin chí thành quỳ nơi đây dâng lòng sám hối. Xin chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát chứng minh cho lòng thành của con (1 lạy).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Rằm Tháng 7 Tại Mộ Đầy Đủ Nhất
  • Khấn Tại Chùa Đồng Yên Tử
  • Mẫu Văn Khấn Chùa Hà
  • Văn Khấn Chúng Sinh, Cúng Cô Hồn Rằm Tháng 7 Do Trụ Trì Chùa Quán Sứ Hiệu Đính
  • Lịch Dâng Sao Giải Hạn Chùa Phúc Khánh Năm Canh Tý 2021
  • Bài Văn Khấn Lễ Quan Thế Âm Bồ Tát Chuẩn Nhất Cho Phật Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Hình Tượng Bồ Tát Quán Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt
  • Văn Khấn Đền Quán Thánh
  • Văn Khấn Thần Linh Ngoài Nghĩa Trang Tết Thanh Minh
  • Cách Thờ Quan Thánh Đế Quân Vào Ngày Vía Tại Chùa Ông Để Được Độ Mạng!
  • Văn Khấn Đền Chúa Thác Bờ
  • Quán Thế Âm tiếng Phạn gọi là Avalokitévara, nghĩa là vị Bồ Tát quán sát âm thanh đau khổ của thế gian kêu cầu mà cứu độ một cách tự tại.

    Theo Kinh Bi Hoa, Ngài vốn là Thái tử Bất Huyền, con của vua Vô Tránh Niệm, trong thời của Đức Phật Bảo Tạng Như Lai. Vua Vô Tránh Niệm hết lòng sùng bái đạo Phật, Thái tử tin nghe theo Vua cha mà thành tâm nguyện cầu cả đời quán sát chúng sinh, cứu độ những con người lâm vào đau khổ. Các Đức Phật trong mười phương cùng thọ ký cho Ngài, ban Phật hiệu “Biến Xuất Nhất Thế Công Đức Sơn Vương Như Lai”.

    Khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa, kết hợp với văn hóa tín ngưỡng bản địa, dần hình thành phái Đại Thừa. Hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân đa dạng, từ hình nam nhân, hình nữ nhân, dạ xoa, phi nhân,.. đến hơn 500 loại khác. Trong đạo Nho, hình tượng “cha nghiêm mẹ từ” là cốt lõi của hình thái xã hội xưa. Vì Ngài tu hạnh từ bi, thường cứu khổ chúng sanh, gần với tình thương của mẫu nên hình ảnh biểu trưng trong dân gian là thân nữ giới.

    Tại Việt Nam, tín ngưỡng Thờ Mẫu đã tồn tại và đồng hành cùng nền văn minh lúa nước từ rất sớm. Hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát được nhân vật hóa thành một cá thể hiện diện trong đời sống đó là Phật bà Quan Âm – Quan Âm Thị Kính.

    Mặc dù có rất nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Ngài, nhưng Quán Thế Âm Bồ Tát chính là hiện thân của lòng từ bi, giải hóa đau khổ của chúng sanh.

    Quán Thế Âm Bồ Tát ngự tại Tây Phương giới, nơi có Phật A Di Đà làm giới chủ

    Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát có ý nghĩa gì trong thờ cúng?

    Tượng Quán Thế Âm thường được đặt ở vị trí quan trọng, nơi có không gian thanh tịnh. Vào mỗi dịp đặc biệt, hay những khi con người lâm vào một sự việc cấp thiết, người ta sẽ thành tâm dâng lễ, nguyện cầu được hóa giải.

    Vị Bồ Tát có tấm lòng tại thế gian, theo dõi vạn vật để hóa giải mọi lầm than, dẫn dắt con người về đường hướng thiện. Cá thể Ngài thành một tượng Phật, thỉnh về thờ phụng là việc thể hiện sự thành kính. Bồ Tát Quán Âm biểu thị cho tinh thần đại bi. Ngài chiếc khắp cõi chúng sinh để hóa giải những đau khổ, những tiếng kêu oán thán của muôn loài, đưa chúng sanh thoát khoải cõi u minh. Ngài cũng là vị Bồ Tát che trở cho những người phụ nữa sắp sinh nở, giúp họ bình an qua khỏi. Những ai cầu con trai, hay hiếm muộn Ngài ban phước cho có đinh tử.

    Đôi khi, chỉ cần ngắm nhìn tượng Ngài, sẽ làm cho lòng thanh tĩnh, dẫn lối tư tưởng về đúng mực, tránh có quyết định sai lầm.

    Quán Thế Âm Bồ Tát có hạnh nguyện là cứu độ cho tất cả cõi chúng sanh khỏi đau khổ, lắng nghe lời cầu cứu mà ban phép

    Bài văn khấn lễ Quán Thế Âm Bồ Tát

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương

    Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát.

    Con kính lạy Đức Viên Thông Giáo chủ thuỳ từ chứng giám.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm Canh Tý

    Tín chủ con là: ……………………………………….

    Ngụ tại: …………………………………………..

    Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng.

    Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con, như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước.

    Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

    Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát! (3 lần, 3 lạy).

    Bài văn khấn lễ Quan Thế Âm Bồ Tát được dùng trong các ngày rằm, mùng 1 hay ngày vía Ngài

    Mâm lễ cúng Quân Thế Âm Bồ Tát gồm những gì?

    • Hoa tươi (nên chọn hoa huệ, hoa cúc vàng, hoa sen,…)
    • Hoa quả tươi (nên chọn những loại quả có thân hình tròn, căng mọng và màu sắc tươi sáng như cam, bưởi, lê, quýt,…)
    • Bánh kẹo, phẩm oản
    • Đĩa xôi chay

    Bảo Long là địa chỉ uy tín chuyên nhận đúc tượng Quán Thế Âm bằng đồng

    Đúc đồng Bảo Long là đơn vị uy tín chuyên đúc và bán các loại tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, tượng Phật bằng đồng, đồ thờ cúng. Chúng tôi có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề đúc đồng truyền thống. Các sản phẩm đều được chế tác thủ công bởi các nghệ nhân lâu năm. Sản phẩm đa dạng về mẫu mã, kích thước, chất liệu… Để biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng liên hệ Hotline để được tư vấn tốt hơn.

    ĐÚC ĐỒNG BẢO LONG Hotline: 0968.966.268

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Đức Phổ Hiển Và Văn Thù Bồ Tát * Phong Linh Gems
  • Có Thể Tu Theo 10 Hạnh Nguyện Của Bồ Tát Phổ Hiền Được Không?
  • Phổ Hiền Bồ Tát Là Ai?
  • Phân Biệt Đức Phổ Hiển Và Văn Thù Bồ Tát
  • Văn Khấn Ngày Rằm Tháng 11 Âm Lịch
  • Bài Văn Khấn Lễ Quan Âm Bồ Tát Chuẩn Nhất Cho Phật Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát
  • Văn Khấn Lễ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà Quan Âm) Ở Chùa
  • Văn Khấn Ngày Rằm Tháng 11 Âm Lịch
  • Phân Biệt Đức Phổ Hiển Và Văn Thù Bồ Tát
  • Phổ Hiền Bồ Tát Là Ai?
  • Quán Thế Âm tiếng Phạn gọi là Avalokitévara, nghĩa là vị Bồ Tát quán sát âm thanh đau khổ của thế gian kêu cầu mà cứu độ một cách tự tại. Sau này, dân gian Trung Quốc tránh không gọi chữ Thế, chỉ còn Quan Âm vì phạm húy với vua Lý Thế Dân nhà Đường.

    Theo Kinh Bi Hoa, Ngài vốn là Thái tử Bất Huyền, con của vua Vô Tránh Niệm, trong thời của Đức Phật Bảo Tạng Như Lai. Vua Vô Tránh Niệm hết lòng sùng bái đạo Phật. Thái tử tin nghe theo Vua cha mà thành tâm nguyện cầu cả đời quán sát chúng sinh, cứu độ những con người lâm vào đau khổ. Các Đức Phật trong mười phương cùng thọ ký cho Ngài, ban Phật hiệu “Biến Xuất Nhất Thế Công Đức Sơn Vương Như Lai”.

    Quán Thế Âm Bồ Tát ngự tại Tây Phương giới, nơi có Phật A Di Đà làm giới chủ

    Khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa, kết hợp với văn hóa tín ngưỡng bản địa, dần hình thành phái Đại Thừa. Hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân đa dạng, từ hình nam nhân, hình nữ nhân, dạ xoa, phi nhân,.. đến hơn 500 loại khác. Trong đạo Nho, hình tượng “cha nghiêm mẹ từ” là cốt lõi của hình thái xã hội xưa. Vì Ngài tu hạnh từ bi, thường cứu khổ chúng sanh, gần với tình thương của mẫu nên hình ảnh biểu trưng trong dân gian là thân nữ giới.

    Tại Việt Nam, tín ngưỡng Thờ Mẫu đã tồn tại và đồng hành cùng nền văn minh lúa nước từ rất sớm. Hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát được nhân vật hóa thành một cá thể hiện diện trong đời sống đó là Phật Bà Quan Âm – Quan Âm Thị Kính. Các truyền thuyết khác còn lưu truyền về hóa thân như: Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Diệu Thiện.

    Mặc dù có rất nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Ngài, nhưng Quán Thế Âm Bồ Tát chính là hiện thân của lòng từ bi, giải hóa đau khổ của chúng sanh. Người dân thường cúng dường Ngài vào ngày vía, hay ngày rằm, mùng 1.

    Tượng Quan Âm Bồ Tát có ý nghĩa gì trong thờ cúng?

    Tượng Quán Thế Âm thường được đặt ở vị trí quan trọng, nơi có không gian thanh tịnh. Vào mỗi dịp đặc biệt, hay những khi con người lâm vào một sự việc cấp thiết, người ta sẽ thành tâm dâng lễ, nguyện cầu được hóa giải.

    Vị Bồ Tát có tấm lòng tại thế gian, theo dõi vạn vật để hóa giải mọi lầm than, dẫn dắt con người về đường hướng thiện. Cá thể Ngài thành một tượng Phật, thỉnh về thờ phụng là việc thể hiện sự thành kính. Bồ Tát Quán Âm biểu thị cho tinh thần đại bi. Đây cũng là đặc trưng cho tinh thần “Giác tha” của đạo Phật.

    Ngài chiếc khắp cõi chúng sinh để cứu độ những người đau khổ. Tìm những tiếng kêu oán thán của muôn loài, giác ngộ chúng sanh thoát khoải cõi u minh. Ngài cũng là vị Bồ Tát che trở cho những người phụ nữa sắp sinh nở, giúp họ bình an qua khỏi. Những ai cầu con trai, hay hiếm muộn Ngài ban phước cho có đinh tử.

    Đôi khi, chỉ cần ngắm nhìn tượng Ngài, sẽ làm cho lòng thanh tĩnh, dẫn lối tư tưởng về đúng mực, tránh có quyết định sai lầm.

    Quán Thế Âm Bồ Tát có hạnh nguyện là cứu độ cho tất cả cõi chúng sanh khỏi đau khổ

    Bài văn khấn lễ Quan Âm Bồ Tát

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương

    Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát.

    Con kính lạy Đức Viên Thông Giáo chủ thuỳ từ chứng giám.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm Canh Tý

    Tín chủ con là: ……………………………………….

    Ngụ tại: …………………………………………..

    Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng.

    Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con, như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước.

    Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

    Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Bài văn khấn lễ Quan Âm Bồ Tát được dùng trong các ngày rằm, mùng 1 hay ngày vía Ngài

    Mâm lễ cúng Quan Âm Bồ Tát gồm những gì?

    • Hoa tươi (nên chọn hoa huệ, hoa cúc vàng, hoa sen,…)
    • Hoa quả tươi (nên chọn những loại quả có thân hình tròn, căng mọng và màu sắc tươi sáng như cam, bưởi, lê, quýt,…)
    • Bánh kẹo, phẩm oản
    • Đĩa xôi chay

    Bảo Long là địa chỉ uy tín chuyên nhận đúc tượng Quan Âm Bồ Tát bằng đồng

    Đúc đồng Bảo Long là đơn vị uy tín chuyên đúc và bán các loại tượng Quan Âm Bồ Tát, tượng Phật bằng đồng, đồ thờ cúng. Chúng tôi có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề đúc đồng truyền thống. Các sản phẩm đều được chế tác thủ công bởi các nghệ nhân lâu năm. Sản phẩm đa dạng về mẫu mã, kích thước, chất liệu… Để biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng liên hệ Hotline để được tư vấn tốt hơn.

    Hotline: 0984.888.889 – 0915.979.388

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Mùng 1 Tết Canh Tý
  • Văn Khấn Phủ Tây Hồ Đầy Đủ, Chính Xác Nhất
  • Văn Khấn Phủ Tây Hồ Và Cách Thức Đi Lễ Phủ Tây Hồ
  • Bài Văn Khấn Lễ Phật Tại Chùa
  • Nội Dung Đầy Đủ Của Bài Văn Khấn Lễ Phật Tại Chùa Là Gì?
  • Tin tức online tv