Cúng Thần Tài Ngày Rằm: Nhẩm Khấn Đúng Bài Để Thần Ưng Bụng Mở Túi Ban Phát Lộc Lá, Làm Gì Cũng Gặp May

--- Bài mới hơn ---

  • Thần Cấp Căn Cứ Chương 158: Yêu Tinh Nước Trái Cây
  • Tả Một Ngày Mới Bắt Đầu Ở Quê Em
  • 30 Ngày Thiền Thất Bên Trong Vạn Phật Thánh Thành
  • Mối Liên Hệ Giữa Đức Phật Và Thánh Mẫu
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài
  • Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

    Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    Con kính lạy ngày Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

    Con kính lạy Thần tài vị tiền.

    Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

    Tín chủ con là…… Ngụ tại………

    Hôm nay là ngày… tháng… năm…

    Tôi chủ thành sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị.

    Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Khi bài biện bàn thờ Thần tài cần lưu ý những thứ không thể thiếu sau:

    – Tượng ông Thần Tài đặt bên trái, tượng ông Thổ Địa đặt bên phải (hoặc bài vị).

    – Một bát hương đặt ở giữa bàn thờ.

    – Lọ hoa đặt bên tay phải. Hoa cúng nên là hoa cúc, hoa đồng tiền hoặc hoa hồng.

    – Đĩa quả tươi đặt bên tay phải. Chuẩn bị 5 loại trái cây khác nhau.

    – Chén nước

    – Đèn hoặc nến

    – Đĩa bày đồ lễ

    Bàn thờ Thần Tài đặt ở vị trí sáng sủa, có ánh sáng tự nhiên là tốt nhất. Nếu bàn thờ tối thì có thể thắp thêm đèn cho sáng. Bên cạnh bàn thờ, để tăng thêm những linh khí tốt đẹp, bạn có thể đặt một chậu cây xanh tốt quanh năm.

    Khi cúng Thần Tài – Ông Địa người ta thường cúng nhiều thứ, nhưng có lẽ các vị này thích nhất là đồ ngọt. Thịt quay, bánh hỏi, chuối, bưởi….

    Gia chủ nên mua tiền giấy cúng riêng Thần Tài – Ông Địa, người ta làm sẵn cả một bộ, trong đó có tiền Quý Nhân (Âm và Dương – Tức là những tờ giấy gập đôi màu đỏ có đục những hình Thần Tài khắp bề mặt).

    (Bài viết chỉ mang tính tham khảo)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Chép Đỏ (Chép Ông Táo)
  • Đỏ Rực Cả Làng, Hàng Tấn Cá Chép Chuẩn Bị Tết Ông Táo
  • Thắp Hương Ngày Rằm Và Mồng 1 Cần Có Những Gì?
  • Cách Nấu Bún Riêu Chay Để Thắp Hương Mồng 1 Và Ngày Rằm
  • Những Món Ngon Ngày Tết Miền Bắc Trong Nỗi Nhớ Của Người Xa Xứ
  • Hướng Dẫn Cách Thờ Phật Bà Quan Âm Từ Bố Trí Đến Văn Khấn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Đặt Tượng Phật Bà Quan Âm Ngoài Trời Đúng Phong Thủy
  • Cách Đặt Tượng Phật Bà Quan Âm Ngoài Trời Giúp Gia Đình Bình An
  • Cách Đặt Tủ Thờ Phật Bà Quan Âm Tại Nhà Để Mang Lại Bình An
  • Cách Lập Bàn Thờ Phật Quan Âm Tại Nhà
  • Cách Chọn Đèn Thờ Phật Bà Quan Âm Bồ Tát Sao Cho Đúng Nhất
  • Cuộc sống ngày càng hiện đại, con người càng chạy theo những hào nhoáng bên ngoài. Điều này đẩy họ vào hố sâu hơn của thống khổ. Khi quá thống khổ bởi những vô thường của đời người từ sinh lão bệnh tử, danh vọng, con người thường tìm về với đức tin. Lúc này, Phật Bà Quan Âm như một người mẹ hiền từ gần gũi được nhiều người tin kính. Nhưng, cách thờ Phật Bà Quan Âm như thế nào để bày tỏ lòng thành kính sâu sắc nhất? Chúng ta cùng tìm hiểu qua nội dung sau.

    Ý nghĩa của bàn thờ Phật Bà Quan Âm

    Người ta thường nói mẹ Quan Âm, nghĩa là như một người mẹ hiền từ đầy lòng từ bi đối với mọi người con. Nhắc đến mẹ Quan Âm là nhắc đến một hình ảnh thướt tha trong tà áo thoát tục, gương mặt phúc hậu và ánh mắt như nhìn thấu cả chúng sinh ba cõi.

    Phật Bà Quan Âm còn là đại biểu của đức hạnh nhẫn nhục. Điều này có thể thấy qua hình ảnh của nhành liễu và bình cam lồ. Khi người dùng nhành liễu lấy cam lồ đi rưới khắp thế gian, hay còn có nghĩa là muốn có được từ bi phải lấy chữ nhẫn làm đầu. Nếu không có tính nhẫn, tâm tư sẽ nổi lên muôn tầng oán hận, trách mắng, thì làm sao có được bao dung và từ bi?

    Vậy nên, thờ Phật Bà Quan Âm là học theo đức hạnh của người, rèn lòng yêu thương trắc ẩn đối với mỗi người xung quanh. Có như vậy mới xứng đáng là những người con của Đạo.

    Bên cạnh đó, với lòng từ bi hỷ xả của mình, mẹ Quan Âm nguyện chở che cho hết thảy những đứa con tôn kính người, mang họ đi ra khỏi vũng bùn của khổ đau và vô minh. Đồng thời cũng giúp chúng ta rước vào nhà những may mắn, thiện lành, hạnh phúc.

    Nên thờ Phật Quan Âm đứng hay ngồi

    Hình ảnh Phật Quan Âm dù đứng hay ngồi cũng đều mang thần thái trang nghiêm của đấng tối cao. Nếu là mẹ Quan Âm đứng thường được thờ ngoài trời, nơi có không gian rộng lớn như trên đỉnh núi của chùa, trong khuôn viên thanh tịnh tại gia, hoặc trên sân thượng của một số gia đình ở thành thị. Nếu là mẹ Quan Âm ngồi thì thường được thờ bên trong đền chùa, miếu mạo hoặc trên bàn thờ trong nhà của mỗi gia đình.

    Nói chung, thờ Phật Quan Âm đứng hay ngồi không phải là vấn đề, cái chính ở đây là không gian thờ như thế nào, phù hợp với tư thế nào của mẹ Quan Âm. Còn điều quan trọng nhất là cách thờ, quý vị có đủ lòng thành kính không, không gian có trang nghiêm không, mâm quả có tươi xanh không, hương hỏa có đầy đủ không,…

    Chỉ cần bạn đủ lòng tin vào mẹ Quan Âm, tu theo đạo hành của người, để bản thân có đủ dũng cảm vượt qua những sai trái lỗi lầm, học sự nhẫn nhục của người, nuôi dưỡng lòng từ bi. Lúc này, quý vị sẽ trở thành người con của mẹ Quan Âm và sẽ được người che chở, bảo vệ.

    Cách bố trí bàn thờ Phật Bà Quan Âm

    Khi bố trí bàn thờ Phật Bà Quan Âm, cần chú ý đến một số yếu tố như:

    • Đặt bàn thờ Phật Bà Quan Âm hướng ra cửa chính, cửa sổ hoặc ban công của gia đình. Tuyệt đối quý vị không nên đặt bàn thờ hướng vào phía trong nhà vệ sinh, nhà bếp hoặc phòng ngủ, nơi diễn ra sinh hoạt hằng ngày của chúng ta, thường phát sinh những ô uế, như vậy là có tội với thần linh.
    • Vị trí đặt bàn thờ nên có không gian tôn nghiêm riêng, có thể là ở giữa nhà, cao hơn chúng ta ít nhất một cái đầu. Còn nếu có điều kiện, quý vị nên xây một phòng riêng ở vị trí cao nhất và biệt lập với sinh hoạt chung để thờ phượng Phật Bà Quan Âm.
    • Thường xuyên lau chùi, dọn dẹp sạch sẽ bàn thờ và khu vực thờ. Không để bàn thờ Phật lạnh lẽo mà phải thường xuyên hương hỏa, mâm quả tươi mới, đầy đủ. Lòng thành kính không phải chỉ nói mà phải làm, những gì cần làm đơn giản nhất là những điều như vậy.
    • Nên thỉnh tượng Phật phù hợp với không gian thờ, không nên quá to hoặc quá nhỏ. Nếu nhà quý vị kinh doanh nhà hàng ăn uống đồ mặn thì không nên thờ tượng Phật Bà Quan Âm ngay không gian đón đãi khách. Vì như thế được xem là bất kính với người.
    • Đặc biệt, nên thỉnh tượng Phật ở nơi có uy tín, bởi vì những đơn vị này thường tạc tượng bằng tất cả sự chân thành của mình, ký thác sự trung thành với đạo vào từng tác phẩm tượng. Những bức tượng như vậy sẽ có giá trị thẩm mỹ rất cao và toát ra thần thái trang nghiêm vốn có của thân Phật.

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát. Con kính lạy Đức Viên Thông Giáo chủ thùy từ chứng giám. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm Canh Tý Tín chủ con là: ………………………………………. Ngụ tại: ………………………………………….. Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng. Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con, như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

    Văn khấn Quan thế âm Bồ Tát

    Chú ý: Văn khấn chỉ mang tính chất tham khảo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Đặt Tủ Thờ Phật Chung Với Gia Tiên Đem Lại May Mắn Cho Gia Chủ
  • Cách Bố Trí Bàn Thờ Phật Chung Với Gia Tiên Hợp Phong Thủy
  • Mẫu Bàn Thờ Phật Chung Với Gia Tiên
  • Đặt Bàn Thờ Phật Chung Với Gia Tiên Có Được Không?
  • Có Nên Thờ Phật Chung Với Ban Thờ Tổ Tiên Không?
  • Tại Sao Thường Cúng Rằm Tháng Bảy Trước Ngày 15?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Rằm Ngày 14 Hay 15 Mới Chuẩn Theo Phong Tục Việt Nam
  • Nên Cúng Rằm Tháng Giêng Ngày 14 Hay 15? Đây Là Câu Trả Lời!
  • Nên Cúng Rằm Tháng Giêng Ngày 14 Hay 15 Để Cả Năm Sung Túc?
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Vào Ngày 14 Hay 15
  • Cúng Rằm Tháng 7 Vào Ngày 14 Hay 15 Âm Lịch?
  • Nguyên nhân nào mà vào dịp rằm tháng bảy, chúng ta thường cúng trước ngày 15 và hóa vàng mã cũng trước ngày này?

    Đúng ngày 15 rằm, Phật tổ xá tội vong nhân trong vòng 01 ngày, mọi linh hồn kể cả tội lỗi, quỷ dữ dạ xoa đều được tự do, vì vậy nên nếu cúng các cụ đúng ngày này thì sợ bị những linh hồn này phá phách, cho dù ta đã cúng cháo cho họ, vậy nên các cụ có thể không nhận được gì con cháu cúng tế. Thế nên thường cúng trước là hợp lẽ – (Lê Hùng Sơn)

    Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết.

    Những điều trên là hoàn toàn mê tín nó chỉ giúp những ông già bà cả an tâm, và giúp 1 số người sợ hãi mà hướng thiện hơn, còn giới trí thức thì nên hiểu nền tảng của Phật Giáo là Nhân Quả chỉ có gieo Nhân lành thì mới có cơ hội hái Quả thiện thôi.

    – (quangbson)

    “Tích kể rằng: ngài Mục Kiền Liên là tôn giả rất giỏi của Đức Phật, người biết rất nhiều phép thần thông, khi nhìn thấy mẹ bị đói khổ ở Địa ngục liền dùng phép thần thông xuống địa ngục thăm mẹ. Ngài bưng bát cơm lên dâng mẹ, cơm chưa đưa vào miệng thì đã hóa thành lửa. Ngài Mục Kiền Liên rất đau đớn xin với Đức Phật cách cứu mẹ. Ngài đã phải nhờ đến các chư tăng tụng kinh niệm Phật cho mẹ của ngài, các nhà sư về tụng kinh niệm Phật với mong muốn trong quá trình này sẽ được Đức Phât độ trì gia hộ cho. Có nghĩa là làm cho bản chất xấu xa của bà ấy thay đổi, trở thành người tốt, khi nào trở thành người tốt mới được chúng tôi khi ông Mục Kiền Liên làm được như vậy, bà mẹ được tha khỏi ngục. Từ đấy trở đi, mọi người lấy rằm tháng bẩy là ngày lễ để con cháu thể hiện tấm lòng thành với tổ tiên,ngày đó gọi là ngày lễ Vu Lan.” Hanhthong”

    Không phải vong nào cũng bị nhốt trong ngục, mà chỉ có những vong có tội mà thôi. Thường thì mọi người hay cúng trước ngày rằm để cho tiện. Tuy nhiên nên cúng đúng vào ngày rằm là tốt nhất. – (daiminh)

    Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ túa ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục. Bởi vậy, vào đêm 14/7, người ta thường đốt nến, hóa vàng bạc hoặc giết gà vịt cúng quỷ đói để cầu được bình an và những điều tốt đẹp, không bị ma quỷ hại phá, đó chính là nguồn gốc của tên gọi Tết Quỷ. Nguồn cội của Tết Quỷ gắn liền với văn hoá Đạo giáo của Trung Quốc, bởi Phật giáo không có chủ trương sát sinh hoặc đốt vàng bạc hàng mã để cúng tế quỷ thần. (ST) – (VDNHMC)

    Dưới âm cũng như trên Trần, có thể cúng trước để người âm đi về đỡ tắc đường, tránh xe cộ đi lại đông đúc… – (Duongquy)

    Theo quan niệm dân gian thì vào ngày rằm tháng 7 sẽ có rất nhiều vong hồn được “thả” đi lang thang nên nếu ta hóa vàng mã vào ngày này thì sẽ bị cướp, giật mất người thân khó nhận.

    Cũng vì vậy trên quần áo, đồ đạc hàng mã thường sẽ ghi rõ tên người nhận, khi cúng cũng đọc rõ tên và xin phép các thần linh thổ địa cho phép vong vào nhận đồ, cúng trước và hóa trước để người thân dễ nhận được. – (Minh)

    Bạn Trần Cha Thân! Cúng rằm tức là ngày 15 âm lịch hằng tháng, phong tục ở quê mình thì thường cúng vào ngày mùng 1 và 15 âm lịch. Theo bên Phật thì 2 ngày này là ngày của Phật, (Phật thường đi cứu khổ cứu nạn chúng sanh vào 2 ngày này). Mẹ mình từng nói nếu cúng vào ngày 14 và hoá vàng mã ngày này thì người được cúng ko nhận được vì “cô hồn” cướp và giành giật hết. còn cúng ngày 1 &15 thì ngược lại, ngày đó là ngày của Phật nên các vong hồn được theo Phật và cô hồn ko giật được. Vì VẬY CÚNG RẰM LÀ PHẢI CÚNG VÀO NGÀY 15 BẠN NHÉ! Có lẽ bạn ko tin nhưng mình tin (ko phải mình mê tín đâu) tại mình thấy tận mắt nên mới tin đó. Chính lẽ đó nên có câu: “có thờ có thiêng có kiêng có lành” – (Đặng Diệu Hoài)

    vì rằm tháng 7 ko vào ngày nghỉ; ở TP thì mọi ngừơi phải đi làm, ở các vùng quê thì con cái đi học đi làm xa ko về được….dần dần thành thói quen. Theo tôi ngày giỗ, ngày riằm cứ làm lễ đúng ngày là tốt nhất. – (samar trần)

    Cũng giống như nhà nước thường kỹ niệm ngày 2/9 vào trước đó 1 hoặc 2 ngày. Không phải tất cả mọi nhà đều làm vào ngày 13 -14, vẫn rất nhiều nhà làm đúng ngày rằm. – (Quốc Ân)

    Theo như Mẹ chồng tôi thì ở dưới âm quy định ngày phát đồ cho người âm.

    Nếu như đốt vàng mã vào ngày 15 thì đến năm sau người nhà mới nhận được nên phải hóa vàng mã trước ngày 15 tháng 7 âm lịch. – (Trần Thị Lựu)

    Phải cúng trước vì ngày rằm không phải cuối tuần hoặc mọi người không thể tụ tập sum vầy đúng ngày rằm được vì công việc riêng, còn cúng đúng ngày rằm mới là đúng truyền thống từ trước đến giờ. Mình ở quê cũng toàn cúng rằm ngày này. – (Pham Dai)

    dan gian xua tung co cau trẻ 13 già 14, có lẽ chính vì thế mà rằm tháng 7 duoc cac gia đình cúng trước 15 – (Phạm Thị Kim Liên)

    chả có gì gọi là nguyên nhân cả, cũng như mua một thứ gì đó trước, ăn một thứ gì đó trước thôi – (cuongnv)

    Lễ gì cũng từ tâm mình cả, các cụ chọn rằm tháng 7 hay rằm tháng nào cũng thế cả thôi chỉ với một mục đích giúp con người ta hướng thiện, tu thân tích đức để cho xã hội tốt đẹp hơn. Mà với xã hội hiện tại thì điều đó càng cần nhiều hơn, tôi mong rằm tháng nào mọi người cũng coi là “xá tội”…để chúng ta cùng làm nhiều điều tốt cho nhau. – (Thuhương)

    Tôi chẳng biết các bạn nghĩ thế nào, chứ các bạn lên phường xin dấu người ta quy định làm việc thứ 2,4,6 thì cứ đúng ngày đó mà đến. Chứ lên vào 3,5,7 thì có mặt từ 6h sáng cũng chẳng ai tiếp.

    Đã quy định là cúng mùng 1 và 15 thì cứ đúng ngày đó mà làm. – (dương huy)

    Theo Tôi cúng vào đúng ngày rằm mới là đúng. Vì các cụ có câu “Cúng cả năm không bằng rằm tháng 7” tức là 15/7. Tục đốn vàng mã trước là do mọi người bận công việc nên làm lễ trước thôi. Ở quê tôi từ xa xưa mọi nhà vẫn cúng, đốt vàng mã cho Ông, Bà vào đúng ngày 15/7. – (Lê Hiếu)

    Tất cả chỉ để giải quyết khâu tâm lý thôi! – (phuongtt85)

    Đó là cách cúng của người miến Bắc, người miền Nam thì từ ngày 15 trở đi mới cúng. Tôi không biết lý do của miền bắc tại sao lại cúng rằm tháng 7 lại như vậy, nhưng người miền nam, thì cúng rằm thì phải là ngày 15 chứ. Sau ngày 15 thì người ta cúng cô hồn. Cúng cô hồn thì được cúng mặn, còn cúng Phật thì phải là cúng chay. Phong tục của miền bắc thờ cúng tại nhà đa số không thờ Phật, chỉ thờ Gia tiên nên thường những ngày Lễ lớn đa số là cúng mặn. Mỗi nơi 1 phong tục, miễn sao có lòng thành là được. – (ledaitrangdai)

    Tôi cúng vào ngày chủ nhật trong tháng 7, ngày đó mọi cô hồn âm binh đều rãnh, dễ tham dự đông đúc! – (Thu Trang)

    theo như mình được ông mình nói là ngày 14 là các chư phật, bồ tát, chư tăng hoá độ cho chúng sinh và cũng là ngày cho các chư tăng ni & chúng sinh tập chung tại chùa để sám hối những gì mình làm trong nữa tháng cũng như bên thiên chúa giáo hay đi lễ vào mỗi tuần vậy đó,cho nên các chùa hay cúng rằm sám hối vào ngày 14. còn ngày 15 là ngày để tưởng nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ và cúng đất đai cúng cho các vị thần phù hộ cho gia đình được bình an và trấn những cái điều không tốt vào nhà mình. Còn ngày 16 là ngày cúng cho các âm hồn lang thang ngoài đường hay trước nhà mình để họ có ăn và không vào nhà mình phá. Nó là vậy đó.. – (Lê Kiên)

    có ai khẳng định là ngày đúng ngày sai tóm lại là tâm linh ở mình cúng trước sau ăn – (lethanhha2003)

    Tháng 7 âm lịch các ngạ quỹ sẽ được phóng thích từ mồng 2 đến 14/07 âm lịch đến ngày 15/07 âm lịch các ngã qũy sẽ bị bắt trở lại vì vậy người dân thường cúng trước rằm để bố thí cho các cô hồn đó. – (funny0604)

    Quê tôi – ở trong Nam – cúng tháng 7 sau ngày rằm mà? Trước ngày Rằm là để cho các chùa cúng, sau ngày rằm mới đến lượt người dân cúng. Đó là lời giải thích của các bậc trưởng thượng trong xóm tôi – (Trần Khánh Dung)

    Mình thường hối Má cúng ngày 14 để được ăn sớm, hehehe – (Bi)

    Không phải ngày chính rằm thì chỉ là thói biện hộ của thày cúng và dân công sở sành điệu. Thời gian giữa dương gian và âm phủ khác nhau. Những nghi lễ Phật giáo đã được mặc định trong những ngày, giờ, thời gian mà chúng ta đã biết. Ngày Rằm là ngày Rằm, mùng Một là mùng Một, không phải thế thì không phải ngày Phật đâu các bạn ạ. – (Phiêu.)

    Dân Thái đen Thái trắng chúng tôi coi rằm tháng 7 là tết “xíp xí” vào đúng 14/7. 15 đã là hết tết. Tết này to không kém tết nguyên đán, ăn uống vui chơi linh đình, mừng mùa màng tốt tươi chứ không có khái niệm xá tội vong nhân gì cả. – (yenbaitv)

    Chuyện cúng bái là lòng thành tâm,thành kính đối với các đấng tối cao,đối với tổ tiên . Vì vậy chỉ cần sống có hiếu thì ngày nào cũng là ngày vu lan cả. Chỉ cần có lòng thành tâm cúng bái thì ngày rằm hay 14 có khác gì nhau. Tôi không hiểu nhiều về đạo phật nên suy nghĩ vậy. – (nguyen.theanh)

    theo quam niệm dân gian thì có thờ có thiêng, ở quê tôi là cúng vào ngày 15. chúng ta tin vào ngưỡng nào thì cứ theo đó mà cúng. dân gian nói rằng tháng 7 âm lịch là tháng cô hồn. – (daohoaviet)

    và đúng hơn và hoàn thiện hơn nữa là các ý kiến trên đều hoàn toàn chính xác,thật ra thì mọi quan điểm lý giải của các bạn nói trên hoàn toàn “hoàn hảo”,vì mỗi người xưa mỗi làng mỗi địa phương có văn hoá tín ngưỡng khác nhau,có nhà cúng đúng rằm người cúng trước 1 ngày tức ngày 14,người cúng sau tức ngày 16,tuỳ thổ nhưỡng văn hoá vùng miền thôi,còn cúng trước hay cúng sau theo tôi là bình thường – (lưu anh văn)

    mình nghĩ cúng đúng rằm là tốt . cũng trước cũng ko sao . quan trọng là tâm mình thôi . phật tại tâm mình có tâm thiện thì mình cúng ngày nào cũng đc . đúng ngày sẽ tốt hơn để mình nhớ những ngày lễ quan trọng trong năm . để nhớ tới cội nguồn cũng la cách cho tâm mình thanh thản bình an . – (thoconanconon)

    cúng rằm thì phải đúng rằm cúng.không thì cổ nhân đã gọi là cúng tháng 7. – (thanh)

    Phú quý sinh lễ nghĩa, vấn đề này bạn nghĩ thế nào thì nó là thế đó… chả có vấn đề gì truớc hay đúng hay sau ngày 15 cả. Tất cả là do mình mà ra. – (ngonchym)

    Trong miền Nam từ xưa đến nay cúng rằm thường là ngày 14, 15 còn cúng cô hồn là ngày 16. Nói chung mỗi miền mỗi khác không có quy định chung nào cả – (vinhtoduc)

    về khách quan: thông thường người ta hay cúng trước ngày này vì: cúng vào các ngày thứ 7 hay chủ nhật con cháu trong gia đình đông đủ quây quần nhất nên tiện hơn

    thứ 2: cũng theo lệ ngưòi ta hay cúng ngày sống trước ngày đã mất, ngày rằm chỉ thắp hương đơn giản, ăn uống thôi, còn đốt vàng mã… thì hay cúng trước đó..

    không chỉ ngày rằm tháng 7 mà các dịp cũng lễ trong nhà cũng hay cũng trước là vậy – (Khoahoc)

    Cúng ngày rằm (15) hay mồng 1 là truyền thống của dân tộc để tưởng nhớ đến các bậc sinh thành đã về với tổ tiên. Như vậy tùy thuộc vào Tâm của mình thôi. Bởi chắc chẳng có ai đi dưới đấy về mà trả lời là đúng hay sai khi cúng đúng/trước ngày 1, 15. Theo tập quán mà thực hiện là tốt rồi. – (ngxuanvinh)

    Không có tục lệ nào cúng trước hay sao bạn à. Rằm tháng 7 nói riêng là mùa vu lang báo hiếu, ngày 15/7 đến chùa thắp hương cầu nguyện an lành cho cha mẹ còn sống, ai bất hạnh không còn cha mẹ thì cầu siêu tưởng nhớ cha mẹ nơi chín suối và kèm theo tục cài hoa hồng, vàng, trắng tượng trưng. Tháng 7 âm lịch nói chung là tháng các âm hồn được đặc xá cho về hưởng thực cúng thí. Nhà tù dương trần hay địa ngục cũng đều có tính nhân văn trong đó cả. – (diepchauminhtr)

    Mình cũng chẳng biết, chỉ biết ở quê mình ăn rằm 14 to hơn 15. – (Mr.Duc)

    Theo phong tục quê mình cho rằng đến ngày 13 là tàu/thuyền chở vàng mã rời bến mang đồ mã xuống cõi âm, nên nếu cúng vào đúng ngày 15 thì tàu chở mã đi mất rồi, do đó muốn đồ cho tổ tiên thì phải cúng, nhất là cần phải đốt mã trước ngày 15 (khoảng từ 10 đến 13). – (Dothien Hoang)

    Cúng trước ngày rằm vài ngày 15/7 là quỷ được thả cửa ( xá tội vong nhân) vì vậy nếu ta đốt tền vàng quần áo vào ngày hôm đó thì người nhà mình dưới âm không nhận được mà quỷ sẽ tranh cướp mất – (dung)

    đây là lễ của người Hoa, báo hiếu, cúng dường, cha mẹ, tổ tiên.. – (nguyễn)

    14 hay 15 cúng ngày nào trong tháng 7 đều được, – (diemvuong)

    Không chỉ ngày rằm tháng 7 người ta mới cúng trước đó ít nhất 1 ngày mà cả các ngày rằm khác cũng vậy. Ví dụ cúng mồng 1 thì tối 30 hay cúng rằm thì tối 14.

    – (huycuongkt)

    Vì ngày 15 các cao hồn đều về chùa nghe tung kinh giảm tôi lỗi – (truongna)

    Nhớ đến tổ tiên và người thân đã đi xa ở dưới cõi âm nên cúng lễ dịp này, nhà tôi cúng trước ngày 15 vì muốn tổ tiên và người thân dưới ấy được hường trước và chọn vẹn tình cảm của gia đình mình, còn đến ngày 15 thì các Đình và Chùa cũng có cúng lễ cho tất cả cùng được hưởng. . – (Trần Thủy)

    Theo tôi nghĩ thì tất cả những điều luật về tâm linh đều do con người đặt ra. Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền đều có những điều luật khác nhau. Tất cả đều hướng thiện và mong cho cuộc đời này có nhiều điều tốt lành. Các cụ có câu: “Tâm xuất Phật biết”. Việc cúng ngày rằm tháng bảy đúng ngày hay trước vài ngày đều có ý nghĩa như nhau. Ở trần gian hay âm phủ thời nào chẳng có người ngay kẻ gian. Căn bản là sự thành tâm của người thắp nén nhang, dâng lễ vật mà thôi. – (Huỳnh Bá Chung)

    Vào ngày rằm tháng 7, các vong đi lên nhiều quá nên làm trước phát cháo, ngô, khoai sắn cho các vong vào các ngày trước để tránh tắc đường, chen lấn, xô đẩy. Tiếp nữa là vào đúng ngày đấy cửa âm sẽ đóng vào đúng 12h trưa nên đi sớm về sớm khỏi bị ở ngoài. – (thulan)

    Ngày rằm (15) trong gia đình thường có người ăn chay, người không. Do vậy, để cúng rằm mà mọi người cùng …hưởng nên họ quyết định cúng trước ngày rằm, đơn giản là thế thôi??? – (Tôi yêu VN)

    Cúng rằm 14,15 đều được, nhưng ngày 15 phải cúng trc 12h trưa vì sau 12h cửa âm sẽ đóng lại vong ko nhận đc đồ nữa. Mà buổi trưa ngày 15 khó chuẩn bị nên nhiều ng sẽ cúng tối hôm 14 cho tiện. – (hgtt)

    Tôi chỉ có một điều. Rằm tức là ngày 15 âm lịch vậy rằm tháng bảy thì cứ đúng 15 tháng bảy mà cúng còn cùng trước sao không bảo tết 12 hay 13 tháng bảy đi cho rồi sao gọi là cúng rằm – (khaikv)

    tại sao phải cúng rằm tháng 7 trứơc ngày 16 thì mới đúng chứ – (hùynhhưng)

    Theo như mẹ mình nói thì “Tháng bảy âm ti địa phủ sẽ mở cửa Quỷ Môn Quan, các vô hồn có thể ra ngoài dạo chơi như một đặt xá và kiếm thức ăn” nên người ta thường cúng cho những cô hồn lang thang vào tháng bảy.

    Ở gần khu mình sống thì đa số người Quảng Đông thường cúng vào ngày 14 âm lịch, người Tiều thì 15 âm lịch, người Việt 16 âm lịch – (Jack)

    vì mọi người muốn kéo dài ngày cúng cho vui…như lể tết vậy. – (trantram)

    Người ta thường cúng trước ở nhà vì đến ngày 15 tháng 7 các linh hồn đều về hết các đình chùa, không ai ở lại để ăn đồ cúng của các gia đình nữa. – (thongvra)

    theo minh thi ram thang bay tuc la ngay xoa tui vong nhan, len moi nguoi deu co the cung to tien chứ ko phai ngay ma cac ma quái den, da la tuc lệ va văn hóa viet nam thi chung ta hay lam theo va hay ton trong van hoa, ko len me tin hay vẽ them ra. – (nguyen van dang)

    cúng rằm là 15,chẳng qua người ta hay suy diễn thôi.phong tục từ xưa,vùng miền ước lệ,người dương gian hay tính toán kiểu tắc đường về quê trước 1 ngày… – (nguyên đức tuân)

    Các bạn ơi.

    Điều này chẳng phụ thuộc vào điều nào cả. Ở nhà cúng rằm trước ngày 15, tại vì ngày 15 phải để dành cho việc lên Chùa nghe kinh Phật, hưởng được nhiều ơn đức hơn thôi các bạn ạ.

    – (Lê Đình Tuấn)

    Cung phai dung ngay 15 – (Duong truong)

    Mình thấy mỗi người một ý nhưng quan niệm từ gia đình là. Ngày 14 cúng mặn và ngày 15 cúng chay, – (Lê Ly)

    Ông cha ngày xưa cúng truyền thừa lại ta cứ cúng thôi. – (dreamtrinh)

    Đó chính là tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là Pháp thế gian đó bạn, cái này ko phải của Phật Giáo thường thì người miền Bắc tin rằng nếu cúng đúng ngày rằm sẽ rước thêm âm binh và cô hồn vào trong nhà mình. Trong miền Nam thì thường họ cúng đúng vào rằm luôn. Ở miền Bắc cúng thổ công, gia tiên, ông bà bao giờ cũng trước ngày 12 sau đó sau ngày 15 trở đi mới cúng cô hồn, chúng sinh. Có người còn cho rằng nếu cúng thổ công gia tiên trùng vào ngày chúng sinh thì sợ ông bà mình ….không được ăn vì các cô hồn vồ hết. – (Bean Toan)

    Cúng vàng mã hay hoá vàng mã không có trong Phật Giáo đó là truyền thong dân gian! Nhưng cúng âm linh Co Hồn thì có trong Phật Giáo! – (T Liễu Nguyên)

    Lễ Vu Lan báo hiếu, hãy cúng bằng cả tấm lòng thì không sợ cha mẹ ông bà mình không nhận được. – (Hiểu Bình)

    Ngày rằm tháng bảy. Còn gọi là ngày xoá tội vong nhân. Vậy mình nên làm cơm cúng vào đúng ngày rằm và nên cúng vào sáng sớm vì theo mình được biết thì bắt đầu 00h ngày rằm tất cả đc về với gd – (Khuat khang)

    Ngày rằm tháng 7 có nguồn gốc được ghi rỏ trong Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ: Nhân vào một buổi sang đi khác thực, Đức Phật thấy một đông xương khô Ngài đảnh lễ. Tôn giả A nan thấy vậy nên hỏi về việc này nên được Đức Phat dạy rỏ về công ơn của Cha Mẹ ở kiếp này và nhiều kiếp trước gọi là Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. Nhân sự kiện này Ngài Đại Hiếu Mục Kiên Liên nhớ đến người mẹ vừa quá vãng nên dung than thong quán sát thấy mẹ của mình bị đoạ vào chon địa ngục mà tự sức Ngài không cứu được nên về hỏi Đức Phật thì đức Phật dạy vào rằm tháng 7 cúng dường 10 phương Tăng và bố thí và phóng sanh và đem công đức đó hồi hướng cho cha mẹ hiện đời và nhiều đời thì cha mẹ sẽ nhờ đó mà vãng sanh về tịnh độ. Cúng cô hồn cũng là hình thức báo hiếu trong ý nghĩa Pháp Giới Đa Sanh Phụ Mẫu. – (T Liễu Nguyên)

    tại vì cúng trước thì mua đồ sẽ rẻ và dễ hơn sau mùng 15/7 – (lucife)

    vì rằm tháng 7 la ngày xoá tội vong nhân nên có nhiều ma trên trần gian , nếu cúng và đốt vàng mã vào ngày 15 thì bị ma lang thang cướp hết , ma nhà mình không nhận được . – (caotrunghieu)

    Thường rằm tháng 7 là ngày xá tội vong nhân. Các linh hồn được đi chơi, nên người ta phải cúng lễ trướng ngày (Trong niên từ 01 đến 14). Chúng ta cúng và hoá tiền, vàng, áo, mũ trước ngày rằm để đúng ngày 15 các linh hồn có quần áo mới, tiền tiêu. Đó chính là lý do mà ta cúng rằm tháng 7 trước ngày 15 âm lịch. – (Nhat)

    Có thờ có thiêng, có kiêng có lành! – (Xuan loc)

    .Nếu con cháu mà không cúng các cụ trước thì ngày rằm các cụ sẽ chưa nhận được lại phải chờ đến năm sau mới nhận đc.Bởi ngày 14,7 là chuyến đò chở mã xuất bến ,nên phải cúng trước ngày rằm – (huy nguyễn)

    các bạn muốn biết rõ hãy tìm đọc kinh vu lan báo hiếu phụ mẫu thì rõ thôi – (tăng)

    có người âm hả các bác? – (Danang)

    khong ai chung minh dieu nay dau a ,dieu chinh xac la muon an che som thoi – (tam)

    Mọi người nói cứ như thể mọi người đã xuống dưới đó rồi vậy. Cốt là ở cái tâm mình thôi. – (Silver)

    Ca dao có câu “Hôm nay 14, mai rằm. Ai muốn ăn oản lên nằm với sư”! Hic! Chả biết thế nào? Chắc lên từ đêm 14 rạng ngày 15. – (Nguyễn Văn Nội)

    tất cả đều do quan niệm của con người mà ra cả.thế giới tâm linh thật sự có tồn tại,vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh cả.vậy nên con người ta quan niệm thế nào thì thế giới tâm linh là như vậy. mọi sự giải thích chỉ là cho hợp lý vs cách suy nghĩ của người dương gian.vì ko biết chính xác nên ta phải làm theo quan điểm của số đông và sợ ko dám làm ngược lại vì sẽ thấy ko an tâm,mà nếu chẳng may bản thân hay gia đình có chuyện gì thì lại nghĩ là do ko làm giống mọi người. – (heroiszero)

    Sai het sai het ngay xa toi vong nhan khong phai ai cung duoc ve . Cung nhu tren tran gian vay ngay an xa. – (cautrung)

    tại vì trước 15/7 giá vàng mã rẻ hơn – (dinhnhiqni)

    Cũng như nghỉ 2/9 hoặc 1/5, có ai về đúng ngày đó đâu, thường về quê trước 1 đến 2 ngày. – (Trần Canh)

    Theo ý tôi cúng trước ngày 15 là dịp các vị buôn bán tăng giá vàng mã,làm như thế mới có lời nhiều.Nguyên nhân do các vị đó? – (cachang)

    Theo phật giáo thì mở cửa từ ngày 2-14 còn theo đạo giáo thì hình như đúng ngày 15 mới mở. – (Mình Không)

    ơ thế sao rằm tháng 7 mổ gà mổ lợn để cúng không phải là xát sinh hả? .. gieo nhân nào ăn quản đấy – (dainghia_vt9x)

    các bạn phải phân biệt ngày rằm tháng 7 trong dân gian và trong Phật giáo có ý nghĩa khác nhau. Ngày rằm tháng 7 trong Phật giáo gọi là ngày Lễ Vu Lan có bắt nguồn từ sự tích của tôn giả Mục Kiền Liên. Còn trong dân gian ngày rằm tháng bảy được gọi là ngày xá tội vong nhân là ngày cúng cô hồn, đây cũng là ngày cúng quan trọng nhất trong năm “Cúng quanh năm cũng không bằng rằm tháng bảy” – (Vịt Con Xấu Xí)

    Theo luật nhân quả, thì nếu bạn có tâm niệm thiện, nuoi dưỡng lòng từ bi, tạo nhiều nghiệp lành, biết sám hối tội lỗi thì nghiệp xấu sẽ giảm, chứ Phật không ban phước hay gián họa cho ai…”sống thuận theo chân lý, thì chân lý sẽ soi sáng trong bạn” – (Võ minh phước)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Mâm Cỗ Cúng Rằm Tháng Giêng
  • Cúng Rằm Tháng 7 Và Những Điều Đặc Biệt Lưu Ý
  • Cúng Rằm Vào Ngày Nào Trong Tháng 7 Âm Lịch?
  • Thời Điểm Cúng Rằm Tháng 7 Lúc Nào Là Chuẩn Nhất?
  • ‘cúng Rằm Tháng 7, Chỉ Có 3 Loại Quả Không Thể Thờ’
  • 17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • Bài Văn Cúng Gia Tiên
  • Bài Văn Cúng Ngày Mùng Một Tết Nguyên Đán
  • Mẫu Những Bài Văn Cúng Khấn Trong Lễ Dâng Sao Giải Hạn
  • Đầy đủ 17 bài văn tế thập loại Cô Hồn dành cho chẩn tế âm linh cô hồn, chiến sĩ trận vong, đồng bảo tử nạn, chiêu hồn, giải oan bạt độ, cúng tế thí thực.

    KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn I)

    Trước cửa Phật lập đàn phổ thí,

    Cho trọn đều quân lợi âm dương,

    Quang minh tỏ khắp mười phương,

    Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào.

    Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp,

    Bóng mây từ che rợp mọi nơi,

    Lọt đâu dưới đất trên trời,

    Từ bi tế độ muôn đời viên thông.

    Trên đức Phật rất công rất chính,

    Dạy cho đời luyện tính tu tâm,

    Thương người đọa kiếp tối tăm,

    Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.

    Lòng từ mẫn mọi bề thương hết,

    Nay gặp ngày Đản tiết nên quy,

    Trước Đàn tề chỉnh oai nghi,

    Tuyên dương để chứng quy y thực hành.

    Hạnh giải thoát chúng sinh khổ não,

    Cõi Ta bà sáu đạo loanh quanh,

    Âm ty địa ngục đã đành,

    Dương gian địa ngục nỗi tình thêm thương.

    Nói không xiết trăm đường đày đọa,

    Rồi mang tai trát họa vào thân,

    Không sao khỏi nghiệp tham sân,

    Ăn quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.

    Nào những hạnh ranh ma quỉ quái,

    Dối lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?

    Bo bo giữ thói ở xằng,

    Cái dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.

    Nào những hạng lòng chim dạ thú,

    Ghét ghen nhau làm đủ tội tình,

    Khư khư quen thói chẳng lành,

    Cái vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.

    Nào những kẻ yếu đau què quặt,

    Phận hẩm hiu trời bắt chịu đày,

    Thật là khổ ách không may,

    Nào ai có muốn thân này thế đâu!

    Nào những kẻ âu sầu lòa lẫm,

    Số cưu mang câm điếc phải đành,

    Thực là khốn khổ thương tình,

    Ý ai chẳng muốn thân mình phong quang?

    Vì túc trái ngỡ ngàng sao đó,

    Hoặc tiền nhân nghiệp thọ thế nào,

    Thực lòng luống những lao đao,

    Cửa từ bi nỡ để ngơ sao đành.

    Thầy nay dạy thực hành chánh đạo.

    Dòng Thiền học Phật giáo chủ trương,

    Quang minh quảng đại vô lường,

    Ba thừa giáo hóa mọi phương thi hành.

    Giữ một mực chí thành tinh tiến,

    Dập các duyên hư huyễn hão huyền,

    Những môn tà đạo lưu truyền,

    Nay quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.

    Trước Đàn ngoại lễ nghi các thưùc,

    Trên đài sen tỏ đức huyên minh,

    Thầy đây lập nguyện chí thành,

    Tuyên dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.

    Hiện nay có chư Thiên hậu thổ,

    Cửa từ bi tế độ không cùng,

    Đạo tràng Thiền học lưu thông,

    Tu hành chân thật thủy chung một lòng.

    Đàn phổ thí phẩm vật nghi tiết,

    Thầy dạy thêm cho biết công duyên,

    Những người quỳ trước Phật tiền,

    Đem câu nhân quả phổ truyền rộng ra.

    Dặn hết thảy gần xa thiện tín,

    Nên thành tâm phát nguyện quy y,

    Nương nhờ Tam bảo hộ trì,

    Ăn chay niệm Phật mà quy cho tròn.

    Xem nhân thế càn khôn che chở,

    Nhứt hoàn hương duyên nợ phong trần,

    Hỡi ai kết quả tạo nhân,

    Xem cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.

    Muốn xét lại cho hay nghiệp trước,

    Hiện thọ đây thấy được tỏ tường,

    Muốn mong kiếp nữa vẻ vang,

    Sự hành trì phải sửa sang tự giờ.

    Nhân mấy quả trong cơ chuyển hóa,

    Nhân có đầy thì quả mới nên,

    Thầy nay chỉ dẫn căn nguyên,

    Cõi dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.

    Ơn đức Phật lời vàng khuyên nhủ,

    Dạy chúng sinh tín thụ cho hay,

    Phúc thời vui vẻ như đây,

    Họa thời khổ não đọa đầy như trên.

    Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ-tát Ma ha tát.

    -Trích Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971

    Ngạ quỷ đói

    SÁM TRIỆU CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 2)

    Hỡi linh hồn trước sau tề tựu,

    Nghe lời khuyên để rũ tội mình,

    Quan Âm Địa Tạng oai linh,

    Thích Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.

    Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất!

    Noi tâm lành của Phật làm gương,

    Diêm La cực khổ trăm đường,

    Mau tu thì đặng Tây phương thâu về.

    Hỡi linh hồn chết chìm đáy biển,

    Và bao người độc dược bỏ thân!

    Tiếng chuông tỉnh thức dần dần,

    Đừng ham cõi tục trầm luân luân hồi.

    Hỡi các hồn chết thiêu chết chém,

    Hổ giảo thân bị yểm bị trù!

    Kíp tìm kinh kệ sớm tu,

    Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

    Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa,

    Chết phong ba chết giữa núi non!

    Nếu nghe chuông dục bon bon,

    Mùi hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.

    Hỡi hồn ơi! Vì tình chư Phật,

    Ta khuyên hồn đất Phật là nơi,

    Các hồn sẽ đặng thảnh thơi,

    Hưởng mùi hương Phật suốt đời đặng an.

    Hỡi hồn đã lỡ làng trót dại,

    Theo đàng taø quỉ quái yêu tinh,

    Nay đây khẩn nguyện chân kinh,

    Khuyên hồn phải rán sửa mình cho tinh.

    Hỡi hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,

    Nương gió mây thừa thải từ xưa!

    Hồn ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,

    Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

    Hỡi hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,

    Ngài ra ơn gột khổ sanh linh.

    Hỡi hồn bị bịnh bỏ mình,

    Và hồn dậy phá chân kinh loạn trần.

    Nghe ta kinh kệ giải phân,

    Cầu cho hồn đặng muôn phần yên vui.

    Hỡi hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,

    Ta khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,

    Mùi hương lư ngọc bổng trầm

    Khéo tu hồn sẽ an tâm giữa trời.

    Các hồn bị cá xơi, rắn cắn,

    Cùng những hồn số vắn vô danh,

    Hãy nghe kinh kệ ăn năn,

    Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

    Hỡi những hồn vì lời gièm xiểm,

    Nên hủy mình chết lụn căm gan,

    Sớm nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,

    Phật kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

    Nam mô độ hộ muôn hồn,

    Vì hồn trót dại quáng mù từ xưa.

    Kinh là phước, cầu đưa tội lỗi,

    Tu là lành, sám hối ngàn năm.

    Lạy cầu chư Phật từ tâm,

    Khẩn van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.

    Tiếng chuông ngân hương thơm giải thoát.

    Nước nhành dương rảy mát xác phàm,

    Hỡi hồn cư ngụ muôn am!

    Về đây hưởng thực cầu van sửa mình.

    Nam Mô Bộ Độ Đế Rị Già Rị Đa Rị Đát Đa Nga Đa Gia (3 lần)

    -Trích Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974

    -Bài dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.

    SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA

    (Thí thực cô hồn 3)

    NGUYỄN DU

    Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh ngắt xương khô;

    Não người thay buổi chiều thu!

    Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,

    Đường bạch dương bóng chiều man mát,

    Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

    Lòng nào lòng chẳng thiết tha?

    Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    Xót khôn thiêng phảng phất u minh!

    Thương thay thập loại chúng sinh,

    Phách đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.

    Hương khói đã không nơi nương tựa,

    Phận mồ côi lần lữa đêm đêm;

    Còn chi ai khá ai hèn,

    Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu!

    Tiết đầu thu dựng Đàn giải thoát,

    Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.

    Muôn nhờ Phật lực từ bi,

    Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

    Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,

    Chí những lăm cướp gánh non sông;

    Nói chi đương thuở thị hùng,

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

    Bỗng phút đâu mưa bay, ngói lở,

    Khôn đem mình làm đứa sất phu;

    Giàu sang càng nặng oán thù,

    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    Quỷ không đầu van khóc đêm mưa;

    Đã hay thành bại là cơ,

    Mà u hồn biết bao giờ cho tan!

    Nào những kẻ màn loan, trướng huệ,

    Nhưõng cậy mình cung quế Hằng nga;

    Một phen thay đổi sơn hà

    Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?

    Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi;

    Khi sao đông đúc vui cười,

    Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

    Thảm thiết nhẽ không hương, không khói,

    Hồn ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;

    Thương thay chân yếu tay mềm,

    Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.

    Nào những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngòi bút son thác sống ở đây;

    Kinh luân chất một túi đầy,

    Đã đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.

    Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

    Trăm loài ma mồ nấm chung quanh;

    Nghìn vàng không đổi được mình,

    Lầu ca, viện xướng, tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    Cô hồn thất thểu dọc ngang,

    Mạng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

    Nào những kẻ bày binh bố trận,

    Đem mình vào cướp ấn Nguyên nhung.

    Gió mưa sấm sét đùng đùng,

    Rải thây trăm họ, làm công một người.

    Khi thất thế cung rơi, tên lạc,

    Bãi sa trường, thịt nát máu rơi;

    Bơ vơ góc biển chân trời,

    Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

    Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau;

    Ngàn cây nội cỏ rầu rầu,

    Naøo đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú,

    Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn;

    Ruột rà không kẻ chí thân,

    Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

    Của phù vân dù có như không;

    Sống thời tiền chảy bạc ròng,

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn thương gì hàng xóm,

    Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm;

    Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm,

    Tàn hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp càu chữ quí,

    Dấn mình vào thành thị lân la;

    Mấy thu lìa cửa, lìa nhà,

    Văn chương đã chắc đâu mà chí thân?

    Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng?

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

    Anh em thieân hạ láng giềng người dưng.

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

    Bãi tha ma kẻ dọc người ngang;

    Cô hồn nhờ gởi tha hương,

    Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông;

    Gặp cơn giông tố giữa dòng,

    Đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán,

    Đòn gánh tra chín dạn hai vai;

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

    Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

    Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan;

    Nước khe cơm vắt gian nan,

    Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.

    Buổi chiến trận mạng người như rác,

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi;

    Lập lòe ngọn lửa ma chơi,

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

    Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

    Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;

    Ngẩn ngơ khi trở về già,

    Ai chồng con tá biết mà cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não,

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa;

    Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

    Rồi tháng ngày hành khất ngược xuôi;

    Thương thay cũng một kiếp người,

    Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

    Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc,

    Gởi mình vào chiếu rách một manh;

    Nấm xương chôn rấp góc thành,

    Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

    Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha;

    Lấy ai bồng bế xót xa.

    U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

    Cũng có người sẩy cỗi sa cây;

    Có người gieo giếng thắt dây,

    Ngược trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,

    Người thì mắc sơn tinh thủy quái,

    Người thì sa nanh sói ngà voi;

    Có người hay đẻ không nuôi,

    Có người sa sẩy, có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

    Cầu Nại hà kẻ trước người sau;

    Mỗi người một kiếp khác nhau,

    Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ, dọc bụi,

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây;

    Hoặc là điếm cỏ bóng cây,

    Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ.

    Hoặc là nương thần từ Phật tự,

    Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông;

    Hoặc là trong quảng đồng không,

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

    Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,

    Ruột héo khô, dạ rét căm căm;

    Dãi dầu trong mấy mươi năm,

    Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương;

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

    Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra;

    Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

    Có khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.

    Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,

    Bóng hào quang cứu khổ độ ưu;

    Rắp hòa tứ hải quần chu,

    Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

    Nhởn nhơ Tiêu Diện đại vương,

    Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

    Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,

    Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;

    Mười loài là những loài nào,

    Gái trai, già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như bào như ảnh,

    Có chữ rằng: vạn cảnh giai không;

    Ai ơi lấy Phật làm lòng,

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

    Của có chi bát nước nén nhang;

    Gọi là manh áo thoi vàng,

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đấy dưới trên ngồi lại,

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu:

    Phép thiêng biến ít thành nhiều,

    Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ,

    Chớ ngại rằng có có không không;

    Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

    Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

    -Trích Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1973

    VĂN TẾ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 4)

    TRÀ AM VIÊN THÀNH

    Tượng nghe đại địa sơn hà,

    Luống trong sinh tử cửa nhà vốn không.

    Cô hồn hoạnh tử yểu vong,

    Nương thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.

    Trên thì tướng tướng, vương công,

    Dưới thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.

    Gái trai những kẻ tôn ti,

    Hoặc là tử trận, có khi oan tình.

    Hoặc là vương pháp gia hình,

    Uống trúng độc dược hại mình tự nhiên.

    Sa cơ sống gió chìm thuyền,

    Lỡ làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.

    Xà thương hổ đả hải hùng,

    Huyết hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!

    Hoặc là mắc phải thiên lôi,

    Vong thân chú trớ bồi hồi mạng chung.

    Hoặc là đường sá lỡ làng,

    Mắc phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.

    Hà sa phẩm loại khôn cùng,

    Lòng thành tín chủ mời chung các loài.

    Từ rằng theo bóng Như lai,

    Đã không cứu vớt lấy ai nương nhờ.

    Từ đường đâu có phụng thờ,

    Cô đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.

    Thảm thương mặt nước cung mây,

    Rả rời xương thịt, hồn bay lạc loài.

    Chẳng hay thử vãng hàn lai,

    Bốn mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.

    Thân bằng ít kẻ tri âm,

    Lấy ai cứu vớt mà hòng thoát ly!

    Thảm thương về chốn thổ ty,

    Luôn trong diểu diểu lấy gì mà ra!

    Nương nhờ tín chủ toàn gia,

    Thọ tài hưởng thực mà qua Liên trì.

    Từ rằng vâng phép từ bi,

    Siêu phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.

    Sớm khuya cửa Phật ân cần.

    Phù trì gia chủ thừa ân những ngày.

    Đừng còn theo thói mê say,

    Tham lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.

    Nam mô đức Phật Di Đà,

    Phóng quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.

    Trước triệu thỉnh lủy triều đế chủ,

    Trên ngai vàng trải nối hầu vương.

    Chín tầng điện các đài gương,

    Nước non muôn dặm, mười phương cầm quyền.

    Nghìn năm vương khí danh truyền.

    Xe loan để tiếng oán phiền chưa thôi!

    Tiếng quyên kêu nguyệt bồi hồi,

    Gành đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.

    Tiền vương hậu bá khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,

    Đấng hiền lương trí dũng khôn ngoan.

    Giá trong tieát trắng làm quan,

    Một lòng báo quốc nên trang đan thành.

    Nam châu bắc huyện thơm danh,

    Theo nơi tang thác bỏ đành quê hương.

    Thiên nhai hải giác khôn lường,

    Sa cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.

    Than ôi! Những đấng anh tài,

    Theo dòng thệ thủy cách đài dương quan.

    Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

    Chức phong hầu đứng trước muôn dân.

    Sức dời bảo đỉnh nghìn cân,

    Trường thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.

    Trước hùm sương nhiễm, ghê thay!

    Sa cơ một phút đổi thay công hầu.

    Thương ôi người ngựa ở đâu,

    Xui nên họa cả thảm sầu khôn dung.

    Xiết bao tướng súy anh hùng,

    Lánh nơi vinh hiển theo cùng âm ty.

    Những người sa trụy bất kỳ,

    Nghe lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.

    Lại thỉnh kẻ văn nhân tài tử,

    Chốn thư phòng cửa Khổng vào ra,

    Bút nghiên kinh sử ngâm nga,

    Văn chương tu luyện đợi khoa nương mình.

    Mơ màng lấp lóa đèn huỳnh,

    Công phu khổ dụng đăng trình gặp khi.

    Mười năm tân khổ mong thi,

    Naøo hay một phút xa kỳ công danh!

    Hồng lô tính tự rành rành,

    Đất vàng một nấm lấp thành văn chương.

    Văn nhân tài tử không lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,

    Nương rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.

    Cao Tăng quyết chí tinh tu,

    Trăm năm giới luật công phu dùi mài.

    Giữ gìn phạm hạnh hôm mai,

    Tỳ-kheo Ni chúng khác người thế gian.

    Hoàng hoa, thủy trúc luận bàn,

    Không đàm bí mật nên mang thế tình.

    Bóng đèn lấp lóa hư minh,

    Than ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.

    Nghe lời Bát nhã, Phạm âm,

    Truy y Thích tử lại lâm đáo đàn.

    Lại thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,

    Chốn Bồng lai sớm luyện đan tiên.

    Nương theo thạch động đào nguyên,

    Tu tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.

    Danh thơm chưa nức trong đời.

    Vô thường khi đã đổi dời công phu.

    Thương ôi! Sương tuyết dãi dầu,

    Tiêu điều gió thảm hoa sầu hơi sương.

    Huyền môn đạo sĩ khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,

    Với những kẻ lâm trận kiện nhi.

    Cầm bạch tiết, vác hồng kỳ,

    Tức gan quyết chí trận kỳ hơn thua.

    Trung thành hết sức phò vua,

    Nào hay một phút xa đưa dặm trường.

    Thương ôi! Huyết lụy sa trường,

    Thà ôm xương trắng để đường cho ai!

    Trận vong binh sĩ an tài,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,

    Chốn lâu đài khuê các vào ra.

    Ướp xông hương xạ diềm dà,

    Phấn thoa sáp đánh màu da khác người.

    Mặt hoa mày liễu tốt tươi,

    Hình dung yểu điệu, miệng cười như hoa,

    Hồn tiên kim ốc vào ra,

    Hoa tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!

    Thương ôi! Ngọn gió thổi sầu,

    Đống xương khô héo dãi dầu cỏ sương.

    Quần thoa phụ nữ khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,

    Trải tháng ngày mua bán tranh đua.

    Đổi dời lừa tráo hơn thua,

    Đào công nối nghiệp bán mua so lường.

    Chẳng ngờ nổi trận phong sương,

    Mình vào ngư phúc dương trường, khốn thay!

    Hồn dời bể bắc dặm dài,

    Phách về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.

    Tha hương lữ khách lỡ thời,

    Nghe lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,

    Chịu đắng cay tọa thảo tam triêu;

    Bằng khi loan phụng hòa yêu,

    Hùng bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.

    Gái trai còn hãy chưa hay,

    Đêm trường mẫu tử, phút này giai quy.

    Thương ôi! Hoa nở chính kỳ,

    Nào hay một phút gặp khi mưa dầm.

    Huyết hồ sản nạn lỗi lầm,

    Nghe lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ nhung di man địch,

    Tiếng chẳng thuần ngọng lịu như câm.

    Lại còn trong dạ hiểm thâm,

    Cưu điều hung dữ lưu tâm hại người.

    Khinh khi Tam bảo chê cười,

    Tội khiên chất để bằng mười hà sa.

    Ngổ ngang mắng mẹ khinh cha,

    Ác cao như núi chết mà không tha.

    Chẳng may hồn phách la đà,

    Mịt mờ vũ trụ bao là đớn đau!

    Thương ôi! Ẩn ẩn phương nào,

    Ngày xuân chẳng thấy ra vào u quan!

    Hỡi người bội nghịch si ngoan,

    Nghe lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,

    Bị lao tù mắc phải gia hình.

    Gặp cơn thủy hỏa bất bình,

    Một đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.

    Nghìn năm oan khí chưa xong,

    Linh hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.

    Trời xanh tiếng hạc rộn ràng,

    Gió lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!

    Mấy người hoạnh tử xưa nay,

    Nghe lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.

    -Trích Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha Trang, 1972

    1 Câu này thỉnh kẻ cô hồn hoạnh tử khi lâm sản hoạc bị sẩy thai, sút thai.

    SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

    (Thí thực cô hồn số 5)

    Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

    Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

    Tiệc chay cúng thí vừa xong

    Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

    Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

    Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

    Cam lồ rưới khắp mười phương

    Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

    Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

    Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

    Từ rày bá tánh bình yên

    Phước lành để lại trong miền nhân gian

    Tuổi đời lộc nước chứa chan

    Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

    Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

    Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

    Vinh hoa phú quí đủ điều

    Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

    Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

    Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

    Đến khi trăm tuổi mạng chung

    Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

    A Di Đà Phật phóng quang

    Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

    Khổ đau biển cả chập chùng

    Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

    Đài sen hoa nở vãng sanh

    Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

    Từ đây bỏ việc hơn thua

    Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

    – Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

    VĂN TẾ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn số 6)

    Hỡi ôi !

    Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,

    Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.

    Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,

    Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.

    Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,

    Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.

    Nên phải mang phiền não dập dồn,

    Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.

    Cầu chư Phật oai thần tế bạt,

    Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.

    Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,

    Xin chư vị tề lai thọ hưởng.

    Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,

    Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,

    Độ mười phương sanh chúng bình yên,

    Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.

    Lụy trào đế hầu vương đáng kính,

    Vận nước vong khó tính mưu thành.

    Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,

    Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.

    Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,

    Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.

    Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,

    Nơi dương thế âm dung đà khuất.

    Tài bút nghiên văn thần báo quốc,

    Tấm lòng son công chất nhà vàng.

    Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,

    Rồi một thuở danh vang tể tướng.

    Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,

    Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.

    Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,

    Ba thước đất vùi danh tài tử.

    Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,

    Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.

    Đèn tắt khuya Thiền thất hư minh,

    Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.

    Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,

    Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.

    Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,

    Chí chưa toại tầm đàng Địa phủ.

    Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,

    Tại trận tiền củ củ oai hùng.

    Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,

    Lằn tên đạn không dung tánh mạng.

    Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,

    Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.

    Sóng ba đào phong võ khó lường,

    Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.

    Mười tháng chẵn mang con trong dạ,

    Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.

    Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,

    Hoa mới nở vội liền mưa gió.

    Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,

    Công sanh thành chưa rõ cao dày.

    Hoặc huyền lương độc dược ra tay,

    Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.

    Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,

    Thác giữa đàng không đất gởi thây.

    Hồn dật dờ theo gió theo mây,

    Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.

    Người nghèo khó đốn cây non lãnh,

    Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.

    Bị độc trùng ác thú hổ lang,

    Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.

    Người lương thiện tao phùng tật đố,

    Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.

    Oan hồn tìm đến chốn u thâm,

    Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.

    Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,

    Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.

    Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,

    Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.

    Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,

    Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.

    Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,

    Hồn lìa cách dương trần rất thảm.

    Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,

    Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !

    Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,

    Rủi một phút thân thiêu tro bụi.

    Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,

    Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.

    Mạng số suy, thần tử chẳng tha,

    Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.

    Khi bão tố đá cây ngã liệt,

    Sập cửa nhà đè chết nào hay.

    Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,

    Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.

    Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,

    Chấn động miền non núi đất liền.

    Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,

    Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.

    Bị xe cán nát thây rùng rợn,

    Vận kiếp xui họa lớn nào hay.

    Bà con trông than khóc thảm thay,

    Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.

    Vì ái dục si tình tự tử,

    Cơn đắm mê nào sợ tội mang.

    Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,

    Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.

    Ít phước đức họa tai lôi kéo,

    Đời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,

    Trên giàn cao ngã té bất kỳ,

    Thân tan nát hồn phi phách tán.

    Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,

    Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.

    Thảm thương cho hồn phách linh đinh,

    Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.

    Người lương thiện chết oan điên đảo,

    Vì đạn tên lạc náo xóm làng.

    Oan hồn cam vào chốn nguy nan,

    Chịu u ám, xa đàng giải thoát.

    Bị khổ bức vì tình đen bạc,

    Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.

    Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,

    Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !

    Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,

    Đoạt của rồi giết chủ thác oan.

    Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,

    Kết thù oán khôn toan siêu độ.

    Đời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,

    Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.

    Phách hồn oan lạc lối u minh.

    Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.

    Đời giặc giã nghịch thù vô tận,

    Chôn sống người giữa đám đồng hoang.

    Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,

    Trong giây phút dương gian cách biệt.

    Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,

    Trói lương dân thù ghét quăng sông.

    Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,

    Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.

    Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,

    Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.

    Hồn phất phơ nơi chốn long đong,

    Biết bao thuở thoát vòng khổ não.

    Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,

    Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.

    Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,

    Bà con thấy, ai bi thống thiết !

    Người tắm biển tắm sông biệt tích,

    Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.

    Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,

    Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.

    Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,

    Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.

    Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,

    Rủi một phút hồn phi phách tán.

    Còn nhiều loại hồn oan ta thán,

    Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,

    Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,

    Đương xiêu lạc khắp nơi khổ não.

    Lời thiển bạc nay đà trần tố,

    Thương xót thay nỗi khổ các vì.

    Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,

    Xin sám hối tiền phi hậu quá.

    Xét tội lỗi oan khiên vay trả,

    Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,

    Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,

    Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.

    Quy y Phật tịnh yên hồn phách,

    Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.

    Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,

    Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.

    Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,

    Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.

    Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,

    Độ chư vị thoát đàng khổ não.

    Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,

    Thập Điện đồng mở đạo Từ bi.

    Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,

    Đức Địa Tạng đại bi cứu rỗi.

    Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,

    Vãng sinh miền Tịnh Độ thảnh thơi.

    Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,

    Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.

    Nam mô A Di Đà Phật.

    VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

    CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN

    (Thí thực cô hồn số 7)

    Hỡi chư chiến sĩ trận vong !

    Hỡi chư lương dân tử nạn !

    Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,

    Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

    Người sanh trên thế ai không chết,

    Để tấm lòng son rạng sử xanh.

    Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,

    Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.

    Chí trung cang nghĩa khí sắc son,

    Gương Thánh Đế nay còn nêu đó !

    Nợ nước non ai ai cũng có,

    Phận công dân giao phó phải mang.

    Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,

    Phải đáng bực trung thần liệt nữ.

    Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,

    Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.

    Nay tuy là u hiển biệt ly,

    Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,

    Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,

    Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.

    Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,

    Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.

    Thôi nợ nước nay đà tận báo,

    Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.

    Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,

    Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,

    Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,

    Rửa cừu oan diệt tất não phiền.

    Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,

    Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác

    Sen chín phẩm nở ra trước mắt,

    Hết tử sanh quả Phật thấy liền.

    Hỡi các vì hồn có linh thiên,

    Nơi chín suối khá liền sám hối,

    Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,

    Dắt dìu ra khỏi lối u minh.

    Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,

    Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.

    Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,

    Lập đức công báo bổ tứ ân,

    Lời thiết tha đạo đức phân trần,

    Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

    ĐỒNG BÀO TỬ NẠN.

    (Thí thực cô hồn số 8)

    Hỡi ôi !

    Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,

    Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,

    Chúng sanh phải chịu khổ nguy,

    Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.

    Việc may rủi biết đâu chọn lánh,

    Nhận làm người mang gánh sự trần,

    Tam cang mới nặng muôn cân,

    Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.

    Lẽ sống thác là tùy số phận,

    Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,

    Mình là bổn phận con dâu,

    Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.

    Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,

    Giận quân thù chí dốc tòng quân,

    Ra đi dạ luống bâng khuâng,

    Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.

    Khi lặn suối trèo non vượt bể,

    Khi lên truông qua ải xuống đèo,

    Đai cơm, bầu nước, gươm đeo,

    Chút thân sống thác do theo số trời.

    Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,

    Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,

    Nhớ con thổn thức canh gà,

    Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.

    Khi sớm tối ai vào thăm viếng,

    Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?

    Đêm ngày giọt lệ chứa chan,

    Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.

    Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,

    Đánh liều theo máy tạo vần xoay,

    Trước cờ da ngựa bọc thây,

    Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!

    Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,

    Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,

    Con thơ vợ yếu lao nhao,

    Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?

    Đêm tủi phận dở dang duyên nợ,

    Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,

    Trông cho chiến thắng khải hoàn,

    Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.

    Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,

    Cùng anh em chung chạ một nhà,

    Xóm làng cô bác ông bà,

    Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.

    Người muốn vậy không hề được vậy,

    Bãi trường sa thịt nát máu tơi,

    Tên rơi đạn lạc hết đời,

    Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!

    Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,

    Dưới hố hầm chân núi cội cây,

    Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,

    Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.

    Ai có phước thi hài chôn lấp,

    Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,

    Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,

    Đến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?

    Vợ con với mẹ cha đâu biết,

    Chừng hay tin thì việc đã rồi,

    Nợ trần phủi sạch ai ôi,

    Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !

    Khen anh dũng xông pha tên đạn,

    Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,

    Sống làm Tướng, thác làm Thần,

    Non sông gánh vác tử phần đao binh.

    Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,

    Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,

    Trận vong chiến sĩ vì đời,

    Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.

    Nén hương đốt gội nhuần trước án,

    Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,

    Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,

    Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.

    Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,

    Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,

    Hồi đầu nương cửa từ bi

    Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.

    Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,

    Phật mười phương quảng đại độ siêu,

    Nương đàn chẩn tế tiêu dao,

    Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.

    SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

    (Thí thực cô hồn số 9)

    Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

    Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

    Tiệc chay cúng thí vừa xong

    Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

    Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

    Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

    Cam lồ rưới khắp mười phương

    Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

    Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

    Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

    Từ rày bá tánh bình yên

    Phước lành để lại trong miền nhân gian

    Tuổi đời lộc nước chứa chan

    Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

    Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

    Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

    Vinh hoa phú quí đủ điều

    Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

    Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

    Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

    Đến khi trăm tuổi mạng chung

    Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

    A Di Đà Phật phóng quang

    Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

    Khổ đau biển cả chập chùng

    Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

    Đài sen hoa nở vãng sanh

    Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

    Từ đây bỏ việc hơn thua

    Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

    – Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

    VĂN TẾ LIỆT SĨ

    (Thí thực cô hồn 10)

    Hỡi chư Liệt sĩ ôi!

    Họa đao binh từng đốt nung đất Việt

    Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam

    Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông

    Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt

    Nhớ những anh hùng xưa!

    Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc

    Rửa nhục chung, sống chết đâu màng

    Chốn sa tràng, trải mật phơi gan

    Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết

    Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết

    Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương

    Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương

    Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt

    Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến

    Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng

    Đạn nổ súng rền, gió hơi bom,

    long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .

    Cờ phất còi reo, tiếng trống dục,

    chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.

    Dưới làn bom, thịt nát xương tan,

    Đành ngã gục không hề khuất tiếc.

    Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ,

    cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.

    Người chiến sĩ, đền xong nợ nước,

    trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.

    Đấng anh hùng, rửa sạch nhục chung,

    đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.

    Than ôi!

    Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.

    Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang

    Cảm thương người, tai nạn tràn lan

    Thương xót kẻ, uổng oan mất tích

    Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh

    Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh

    Nơi dạ đài, người tử si có linh

    Nương thể phách, về trai đàn chứng giám

    Hỡi ơi! Thương thay!

    Có linh xin chứng! Có linh xin chứng!

    – Trích soạn “Kinh Nhựt tụng” – Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.

    VĂN TẾ CÔ HỒN (II)

    (Thí thực cô hồn 11)

    Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê

    Cõi nhơn gian thủy lục ê chề

    Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán

    Trên đến bực vương hầu khanh tướng

    Dưới đến người sĩ cổ nông công

    Nào kẻ ty, nào người tôn

    Nào là nam, nào là nữ

    Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ

    Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng

    Hoặc sa hầm sa hang

    Hoặc trúng thang trúng dược

    Đau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn

    Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm

    Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều

    Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết

    Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt,

    Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi

    Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển

    Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,

    Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay

    Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai

    Mãn tám tiết vắng người đơm quảy

    Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu

    Mù mù mịch mịch, đường xuất lý m

    ảng đợi trông ngày tháng

    Hội vô giá may vừa gặp khoản,

    Nương theo công bí mật hôm nay

    Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh

    Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần

    Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi!

    Ngôi liên đài quanh quất bên thân

    Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt

    Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức

    Đã chứng vào trong bực vô sanh

    Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh

    Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.

    Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.

    – Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng – Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê – Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

    HỒI HƯỚNG TẾ VĂN

    (Thí thực cô hồn 12)

    Kiến văn như huyển ế

    Tam giới nhược không hoa

    Văn phục, ế căn trừ

    Trần tiêu, giác viên tịnh

    Phục dĩ,

    Nguyên chơn như thanh tịnh

    Tội tánh vốn là không

    Biển khổ rộng mênh mông

    Sóng quanh theo đuổi mãi

    Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải

    Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày

    Địa ngục đà thọ báo đắng cay

    Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát

    Đã chẳng có ngày giải thoát

    Ắt là không chỗ đặng siêu thăng

    Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân

    Để mở đặng đảo huyền dây ác thú

    Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú

    Thí ra trên tiệc cam lồ

    Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn

    Soi khắp trong đường minh giới

    Nào những mấy dòng mê cả thảy

    Khiến đều về cực lạc phương tây

    Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực

    Đem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi

    Diệm nhiên Đại sĩ một tay

    Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng

    Ngạ quỉ hằng hà sa số

    Vô lượng vô biên xiết kể biết bao

    Cúi xin từ kiếp bỏ liền

    Cho đến ngày tái thế

    Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để

    Rửa tội khiên phút đã sạch rồi

    Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức

    Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân

    Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ

    Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn

    Khắp nơi bủa chật thiết sàng

    Hiện pháp tòa Bồ đề là đó

    Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ

    Sái đề hồ cam lộ vào đây

    Gặp người trái chủ hôm nay

    Buổi đó hết đòi hết hỏi

    Nhóm kiếp oan gia buổi trước,

    Cùng nhau thôi vấn thôi vương

    Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương

    Lòng từ thiện minh quang bảo hộ

    Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ

    Nay thời nhập Thánh siêu phàm

    Nợ nhơn thân lụy thế hết còn

    Rày đã thừa ân giải thoát

    Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện

    Miền nhơn gian tứ tướng có chi

    Tu la đà bỏ cả sân si

    Địa ngục lại hết điều khổ não

    Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo

    Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng

    Giống làm sanh chật nức mười loài

    Lên bờ giác lánh nơi đường tối

    Khắp xin cả hữu tình một nỗi

    Quốc độ này, quốc độ nọ

    Và vô lượng các quốc độ thảy

    Cùng nhau chung chứng chơn thường

    Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài

    Thế giới đó, thế giới đây

    Và vô lượng các thế giới nào

    Buổi đó đều nên Phật đạo

    Tứ ân khắp báo

    Tam hữu đều nhờ

    Người trong pháp giới bao giờ

    Ai ai cũng đồng nên chưởng trí.

    – Trích soạn “Kinh Nhựt Tụng ” Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

    SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG

    (Thí thực cô hồn 13)

    Nam mô Từ phụ Di Đà,

    Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.

    Thương đời bá tánh vạn dân,

    Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.

    Thế gian mong được an nhàn,

    Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.

    Chết ao, khe, biển, suối, sông,

    Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.

    Gió giông bão tố thủy triều,

    Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.

    Hồn phi phách lạc mất rồi,

    Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.

    Cõi đời sanh tử mơi chiều,

    Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.

    Lại còn giặc giã đao binh,

    Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.

    Núi rừng đồng rộng biển sông,

    Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.

    Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,

    Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.

    Sông sâu biển rộng bốn phương,

    Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.

    Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,

    Độ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.

    Linh đinh hồn vía mịt mờ,

    Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.

    Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,

    Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.

    Hồn về cảnh Phật đề huề,

    Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.

    Quan Âm đại sĩ từ hàng,

    Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.

    Nguyện cho hồn đặng vui mừng,

    Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.

    Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,

    Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.

    Vớt vong khỏi chốn suối sông,

    Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.

    Đưa vong khỏi biển ba đào,

    Đến nơi bờ giác lên mau lạ thường.

    Nam Mô Địa Tạng Minh Vương,

    Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.

    Chúng sanh chìm đắm hải hà,

    Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.

    Nổi trôi khổ sở tấm thân,

    Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.

    Nam mô đức Phật Thích Ca,

    Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.

    Ở trong thế giới U Minh,

    Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.

    Nguyện ngài giáo chủ A Di,

    Độ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.

    Ở yên mát mẻ tu hành,

    Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.

    Nam mô Tịnh độ Lạc bang,

    Độ vong hồn đặng Tây phang mau về.

    – Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Độ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.

    – Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.

    VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ

    (Thí thực cô hồn 14)

    Bích Liên Pháp Sư

    SÁM TÁN KHÔ LÂU

    (Thí thực cô hồn 15)

    Bích Liên Pháp Sư

    Hôm qua đồng vắng ngoạn du

    Thấy liền Đại đức khô lâu một vùng

    Bốn bên ghê gốc bịt bùng

    Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh

    Dàu dàu âm khí lạnh tanh

    Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Quê người ở mé giang đầu thiu thiu

    Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu

    Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời

    Phèo phèo khí lạnh đòi nơi

    Anh em lai vãng, có người nào đâu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Ấy người quân tử ở đâu bên đường

    Nhà ai vang vọng đêm trường

    Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào

    Đau thay gan ruột như bào

    Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Đôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này

    Xiết thay, người thế ra chi

    Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm

    Ác vàng thỏ bạc xa xăm

    Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi

    Dần dà chi nữa người ơi

    Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma

    Hôm nay thiện tín trai gia

    Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”

    Lò vàng vừa bén mùi hương

    Đạo tràng mời khắp mười phương cô hồn

    Bao nhiêu tội chướng để dồn

    Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu

    Ân triêm phước lợi thắm mầu

    Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.

    – Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng năm 1940.

    – Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre

    TRẠO VĂN DIỄN ÂM

    (Thí thực cô hồn 16)

    Bích Liên Pháp Sư

    Hôm nay cúng thí trai đàn,

    Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.

    Quan Âm cứu khổ đã đành,

    Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.

    Niệm câu Mô Phật từ bi,

    Tuyên lời bí mật đức dày công cao.

    Độ người thập loại nao nao,

    Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.

    Trước đây triều đại còn truyền,

    Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.

    Hầu vương huân thích vang danh,

    Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.

    Trung cung, Tể chấp, đại quan,

    Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.

    Điềm hoa tươi đã vứt đi,

    Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.

    Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,

    Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.

    Chăn dân bủa hóa giữa giòng,

    Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.

    Đau lòng một chiếu thôi thương,

    Phải khi trích án sa trường biên bang.

    Hồn còn trìu mến giang san,

    Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.

    Người võ sĩ, kẻ nhung thần,

    Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.

    Băng xông trăm trận mũi vàng,

    Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.

    Đánh Nam dẹp Bắc tơi bời,

    Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.

    Tấm lòng vì nước mà vong,

    Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.

    Những người học cổ cùng kinh,

    Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.

    Bóng quang, hột tuyết dòm theo,

    Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!

    Ta đà mạng vận làm sao,

    Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.

    Hương hồn uất uất chi linh,

    Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.

    Những người cắt ái từ thân,

    Cửa không sớm đã chân lần vào trong.

    Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,

    Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.

    Trải bao lạnh nắng xoay quanh,

    Sự vô thường đã đến mình nào hay!

    Hồi quang soi chút bóng dày,

    Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.

    Những người võ phục huỳnh quan,

    Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.

    Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,

    Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.

    Lao thần khổ hạnh đòi phen,

    Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.

    Thôi đừng tiếc chút dị hình,

    Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.

    Những người con thảo cháu lành,

    Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.

    Những người liệt nữ trinh thê,

    Cái thân coi chết như về đâu đâu.

    Với người trọng tiết vong xu,

    Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.

    Hồn còn chói lọi linh thiêng,

    Đến đây hưởng thọ một diên cam lồ.

    Những người đạo nữ Ni đồ,

    Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.

    Phụng loan bỏ khống duyên phần,

    Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.

    Còn chưa liễu đặng vô vi,

    Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!

    Hồn người thăm thẳm thanh thanh,

    Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?

    Những người địa lý thiên văn,

    Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.

    Bói qui, dịch sủ qui vàng,

    Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.

    Mách người hung kiết biết bao,

    Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.

    Thôi rày xả ngụy qui chân,

    Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.

    Những người tọa mãi hành thương,

    Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.

    Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,

    Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.

    Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,

    Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.

    Một niềm lữ mộng vơi vơi,

    Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.

    Những người phạm pháp tạo hình,

    Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.

    Hại người toan lấy của người,

    Oan gia trái chủ trả đời nào xong!

    Người tật ác, kẻ tai hung,

    Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.

    Suối vàng kíp kíp đôi chân,

    Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.

    Những người ngựa đạp, xe thương,

    Vách đè thân nát như tương rã rời!

    Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.

    Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.

    Hoặc là thủy hỏa tai ương,

    Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.

    Hồn người bất hạnh trầm trầm,

    Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.

    Những người âm huyết dương mao,

    Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.

    Thi công mà trả nợ đày,

    Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.

    Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,

    Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.

    Hồn người oan khổ biết bao,

    Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.

    Những người ngỗ nghịch mẹ cha,

    Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.

    Những người chê Phật khinh Tăng,

    Đốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.

    Lắm điều tà kiến trầm mê,

    Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.

    Hồn người thật ác, thương ôi,

    Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.

    Cửa nhà đại thí mở ra,

    Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.

    Tiên vong hòa tổ hòa tôn,

    Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.

    Đường ba, nạn tám thiếu chi,

    Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.

    Cậy chưng Phật Pháp quang miên,

    Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.

    A Di Đà Phật Bồ Đề,

    Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,

    Đường mê trông thấy nhãn tiền,

    Đắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!

    Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,

    Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.

    Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,

    Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.

    – Đây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định soạn, khoảng năm 1940.

    – Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.

    VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 17)

    Bích Liên Pháp Sư

    Dấu người thập loại biết là đâu?

    Hồn phách mơ màng trải mấy thu,

    Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,

    Những mồ vô chủ thấy mà đau!

    Tịch mịch dạ canh thâm,

    Hoa Đàm bá phạm âm,

    Cô hồn văn triệu thỉnh,

    Bộ bộ tốc lai lâm.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Ác vàng tên ruỗi,

    Thỏ bạc thoi dong,

    Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,

    Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!

    Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,

    Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,

    Nghe lời triệu thỉnh đành rành,

    Hồn chơi trong cõi U minh xin về.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Màu non lờ lạc,

    Dòng nước thầm thì,

    Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,

    Người mới đó, chim rày đã lặn.

    Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,

    Đôi phen mời, linh sản ở đâu đây,

    Vong linh ơi hỡi có hay,

    Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Biển trần lênh láng,

    Sóng nghiệp lao xao,

    Người mê man trong giấc chiêm bao,

    May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.

    Sống chẳng niệm Di Đà Phật hiệu,

    Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,

    Đầy ba phen, hương thắp bảo đàn,

    Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.

    Xin vâng Tam Bảo pháp lành,

    Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.

    Về đây hưởng thọ hương huê,

    Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.

    – Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,

    Triều đại xưa, trải quá biết bao!

    Đền đài chín lớp ở cao,

    Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.

    Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,

    Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,

    Đỗ quyên kêu trót tàn canh,

    Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.

    Trước sau vương bá những là,

    Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.

    – Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

    Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,

    Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,

    Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.

    Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,

    Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,

    Ngựa xe chiến tướng vắng không,

    Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!

    Anh hùng tướng soái bao nhiêu,

    Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?

    – Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,

    Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.

    Ba năm thanh tiết làm quan,

    Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.

    Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,

    Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,

    Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,

    Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.

    Văn thần xiết kể muôn ngàn,

    Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.

    – Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,

    Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,

    Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,

    Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.

    Tan bữa đốm, tiếc dày công học,

    Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,

    Lụa hồng bảy thước đề tên,

    Đất vàng một cụm, lấp nền văn chương.

    Văn nhân biết mấy đâu lường,

    Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.

    – Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,

    Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,

    Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,

    Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.

    Làn hoa trúc, vài câu mật đế,

    Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,

    Tam canh song tẩm lạnh lùng,

    Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.

    Trung lưu này những bi ai,

    Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,

    Dòng vũ y phong cách nhà tiên,

    Tu chơn trong động đào nguyên,

    Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.

    Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,

    Đất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,

    Lò đơn lẫm quán lạnh sương,

    Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.

    Bao nhiêu đạo sĩ những là,

    Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.

    – Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,

    Đường bắc nam trải thử hành thương,

    Lợi quyền muôn dặm, toan đương,

    Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.

    Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,

    Bước đá mây, xương rã đường dê,

    Phách theo mây cuốn sè sè,

    Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Đông.

    Thương nhân, sau trước một dòng,

    Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,

    Sức phương cường, mình bận áo binh,

    Cờ điều phất bóng tương tranh,

    Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.

    Ruột gan nát, thao trường kim cổ,

    Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,

    Cát vàng văng vẳng tiếng ma,

    Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.

    Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,

    Đêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.

    – Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,

    Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,

    Trước mừng loan phụng hiệp bầy,

    Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.

    Vầng cung phụng, phút tường hung cát.

    Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,

    Nhành hoa nở, trận mưa tuông,

    Đường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.

    Những người sản nạn qui âm,

    Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,

    Với những người ú ớ điếc đui,

    Chết mình, tôi tớ lui thui,

    Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.

    Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,

    Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,

    Đêm trường thăm thẳm bóng mơi,

    Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.

    Những người bội nghịch hoang hung,

    Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.

    – Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,

    Gái má đào, sắc nước kém đâu,

    Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,

    Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.

    Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,

    Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,

    Phong lưu ngày trước đâu rồi,

    Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.

    Những trang xinh tốt xưa nay,

    Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.

    – Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,

    Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,

    Gặp tai nước lửa hại mình,

    Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.

    Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,

    Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,

    Mưa chiều khói lạnh nước reo,

    Lá thu gió thổi dập dìu như bay.

    Những người hoạnh tử xưa nay,

    Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.

    – Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,

    Những cô hồn mười loại đâu đây,

    Diện-Nhiên sở thống một tay,

    Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.

    Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,

    Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,

    Hồn cô, phách trệ linh đinh,

    Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.

    Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,

    Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.

    Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,

    Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.

    Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,

    Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.

    A Di Đà Phật Như Lai,

    Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.

    – Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai, Bé Gái Mau Ăn Chóng Lớn
  • Ông Trùm Giải Trí Bí Mật Cưng Chiều: Cô Vợ Ngốc Ngọt Ngào
  • Sa Vào Trêu Ghẹo Vợ Yêu : Tổng Giám Đốc Vô Cùng Cưng Chiều
  • Văn Khấn Tết Trung Nguyên (Rằm Tháng 7 Âm Lịch)
  • Dropdeck Giành Giải Nhất Cuộc Thi Start Jerusalem 2021
  • Tổng Hợp Bài Văn Khấn Cúng Ngày Vu Lan Rằm Tháng 7 Âm Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Khấn Đền Trình Chùa Hương
  • Lịch Dâng Sao Giải Hạn Chùa Phúc Khánh Năm Canh Tý 2021
  • Văn Khấn Chúng Sinh, Cúng Cô Hồn Rằm Tháng 7 Do Trụ Trì Chùa Quán Sứ Hiệu Đính
  • Mẫu Văn Khấn Chùa Hà
  • Khấn Tại Chùa Đồng Yên Tử
  • Trong ngày lễ vu lan mọi người cùng nhau lên chùa thắp hương khấn nguyện cầu siêu cho người đã khuất cầu mong cho gia đình ,người thân được cơ may hạnh phúc bình an.

    Cúng rằm tháng Bảy hay còn gọi là cúng tết trung nguyên. Cúng vu Lan báo hiếu tại nhà thường có các lễ: cúng Phật, cúng thần linh, cúng gia tiên, cúng thực thi cô hồn và cúng phóng sinh.

    Cách Sắm lễ cúng Vu Lan rằm tháng 7

    – Cúng phật: sắp một mâm cơm chay hoặc đơn giản hơn là mâm ngũ quả để cúng phật rồi thụ lộc tại nhà và khi cúng tốt nhất đọc một khoa kinh Kinh Vu Lan để hiểu rõ về ngày này, hồi hướng công đức cho những người thân trong quá khứ được siêu sinh.

    – Cúng thần linh và gia tiên: Vào ngày này người ta thường làm lễ cúng tạ ơn các thần linh và một mâm tưởng nhớ ông bà tổ tiên để cầu nguyện cho các vong hồn siêu thoát và cầu bình an cho gia đình. mâm cơm cúng mặn nhưng cúng chay tốt hơn.

    Bài văn khấn cúng Vu Lan rằm tháng 7 âm lịch

    BÀI VĂN KHẤN CÚNG PHẬT RẰM THÁNG 7 ÂM LỊCH

    Tượng Phật của Golden Gift Việt Nam được mạ vàng thật bằng phương pháp điện phân

    Nam mô a di đà Phật (3 lần)

    Con lạy chín phương trời, con lạy mười phương Chư Phật, con lạy Chư Phật mười phương.

    Hôm nay là ngày….. tháng….. năm……………………………………………

    Tín chủ con là ……………………………………………………………………….

    Ngụ tại………………………………………………………………………………….

    Cùng toàn thể gia đình thành tâm trước Đại Hùng Bảo Điện, nơi chùa.

    Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Di Đà, Mười phương chư Phật, Vô thượng Phật pháp, Quan Âm Đại sỹ, cùng hiền Thánh Tăng.

    Đệ tử lâu đời lâu kiếp

    Nghiệp chướng nặng nề

    Nay đến trước Phật đài,

    Thành tâm sám hối

    Thề Tránh điều dữ

    Nguyện làm việc lành,

    Ngửa trông ơn Phật,

    Quán Âm Đại sỹ,

    Chư Thánh hiền Tăng,

    thiên Long Bát bộ,

    Hộ pháp Thiên thần,

    Từ bi gia hội.

    Cúi xin các vị phù hộ cho chúng con và cả gia đình tâm không phiền não, thân không bệnh tật, hàng ngày an vui làm việc theo pháp Phật nhiệm màu, để cho vận đáo hanh thông, muôn thuở nhuần ơn Phật pháp.

    Đặng xin cứu độ cho các bậc Tôn Trưởng cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng cả chúng sinh đều thành Phật đạo.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di đà Phật (3 lần)

    VĂN KHẤN THẦN LINH TẠI GIA RẰM THÁNG 7

    Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)

    Kính lạy: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản xứ này.

    Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm Quý Tỵ

    Tín chủ chúng con tên là: … ngụ tại nhà số …., đường …., phường (xã) …., quận (huyện) …, tỉnh (thành phố) …. thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.

    Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, soi xét chứng giám.

    Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội, chúng con đội ơn Tam bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.

    Do vậy, chúng con kính dâng lễ bạc, bày tỏ lòng thành, nguyện xin nạp thọ, phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình chúng con, người người khỏe mạnh, già trẻ bình an hương về chính đạo, lộc tài vương tiến, gia đạo hưng long.

    Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

    Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)

    VĂN KHẤN TỔ TIÊN NGÀY RẰM THÁNG BẢY

    Nam mô a di Đà Phật (3 lần)

    – Con lạy chín phương Trời, con lạy mười phương Chư vị Phật, con lạy Chư Phật mười phương.

    – Con kính lạy Tổ tiên nội ngoại và chư vị Hương linh Thần tài

    Tín chủ (chúng) con là:………………………………

    Ngụ tại:…………………………………………………

    Hôm nay là ngày Rằm tháng Bảy năm Quý Tỵ, nhân gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung Nguyên, chúng con nhớ đến Tổ tiên ông bà cha mẹ đã sinh thành ra chúng con gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức.

    Chúng con cảm nghĩ ơn đức cù lao khôn báo, cảm công trời biển khó đền nên tín chủ con sửa sang lễ vật, hương hoa, trà quả, kim ngân, vàng bạc, thắp nén tâm hương,thành tâm kính lên các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá Thúc, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ…………., cúi xin các vị thương xót cháu con, linh thiêng hiện về, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long, hướng về chính giáo.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật (3 lần)

    VĂN KHẤN CÚNG CHÚNG SINH (CÚNG CÔ HỒN hay còn gọi là CÚNG THÍ THỰC)

    (Ngoài việc cúng Phật, cúng thần linh và cầu siêu cho gia tiên, người Việt còn có lễ cúng bố thí cho các cô hồn khi tại thế thất cơ lỡ vận, không nơi nương tựa và chịu nhiều oan trái trong xã hội…

    Thời gian: Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).)

    Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con lạy Đức Phật Di Đà.

    Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

    Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.

    Tiết tháng 7 sắp thu phân

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

    Âm cung mở cửa ngục ra

    Vong linh không cửa không nhà

    Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả

    Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

    Gốc cây xó chợ đầu đường

    Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

    Quanh năm đói rét cơ hàn

    Không manh áo mỏng, che làn heo may

    Cô hồn nam bắc đông tây

    Trẻ già trai gái về đây họp đoàn

    Dù rằng: chết uổng, chết oan

    Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu

    Chết tai nạn, chết ốm đâu

    Chết đâm chết chém chết đánh nhau tiền tình

    Chết bom đạn, chết đao binh

    Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi

    Chết vì sét đánh giữa trời

    Nay nghe tín chủ thỉnh mời

    Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

    Cơm canh cháo nẻ trầu cau

    Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

    Gạo muối quả thực hoa đăng

    Mang theo một chút để dành ngày mai

    Phù hộ tín chủ lộc tài

    An khang thịnh vượng hoà hài gia trung

    Nhớ ngày xá tội vong nhân

    Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

    Bây giờ nhận hưởng xong rồi

    Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

    Tín chủ thiêu hoá kim ngân

    Cùng với quần áo đã được phân chia

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức

    Cho tín chủ con

    Tên là:………………………………

    Vợ/Chồng:………………………….

    Con trai:……………………………

    Con gái:…………………………….

    Ngụ tại:……………………………..

    Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)

    VĂN KHẤN CÚNG PHÓNG SINH

    (Có thể phóng sinh chim, cá, tôm, cua v.v, tuyệt đối không phóng sinh rùa tai đỏ vì hủy hoại môi trường. Việc phóng sinh này tùy theo tín tâm và điều kiện của mỗi gia đình Phật tử, không bắt buộc.)

    Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Hôm nay là ngày….. tháng….. năm……………………………………………

    Tín chủ con là ……………………………………………………………………….

    Ngụ tại………………………………………………………………………………….

    Chúng con phát nguyện lòng lành, tâm từ bi, xin được phóng sanh con vật về nơi thiên nhiên.

    Chúng sanh nay có bấy nhiêu

    lắng tai nghe lấy những lời dạy răn

    các ngươi trước lòng trần tục lắm

    nên đời nay chìm đắm sông mê

    tối tăm chẳng biết làm lành

    gây bao tội ác, lạc vào trầm luân

    do vì đời trước ác tâm

    nên nay chịu quả khổ đau vô cùng

    mang, lông, mai, vẩy, đội sừng

    da trơn, nhám, láng, các loài súc sanh

    do vì ghen ghét, tham sân

    do vì lợi dưỡng hại người làm vui

    do vì gây oán chuốc thù

    do vì hại vật, hại sanh thoả lòng

    do vì chia cách, giam cầm

    do vì đâm thọc chịu bao khổ hình

    cầu xin Phật lực từ bi

    lại nhờ Phật tử mở lòng xót thương

    nay nhờ Tăng chúng hộ trì

    kết duyên Tam bảo thoát vòng khổ đau

    hoặc sanh lên các cõi trời

    hoặc liền thức tỉnh về nơi cõi lành

    hoặc sanh lên được làm người

    biết phân thiện ác, tránh điều lầm mê…

    Chúng sanh quy y Phật

    Chúng sanh Quy y Pháp

    Chúng sanh Quy y Tăng…

    Úm, ngâm ngâm ngâm (3 lần).

    Thế Anh/ Golden Gift Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chùa Chiền Việt : Chùa Quán Thánh Thờ Ai? Ngôi Chùa Cổ Tại Hà Nội
  • Hai Bài Văn Khấn Lễ Giao Thừa Năm Giáp Ngọ Của Chùa Một Cột
  • Chùa Chiền Việt : Ngôi Chùa Cổ Côn Sơn Kiếp Bạc Hải Dương
  • Văn Khấn Đức Thánh Trần Cho Cả Năm Bình An, Nhiều Phúc Lộc
  • Văn Khấn Cúng Lễ Đức Thánh Trần
  • Hướng Dẫn Đi Lễ Chùa: Ngày Giờ Tốt, Sắm Lễ, Bài Khấn Và Kiêng Kỵ

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Phong Tục Truyền Thống Cho Năm Mới May Mắn
  • Phong Tục Tết Nguyên Đán Miền Bắc, Chợ Tết Miền Trung, Miền Nam
  • Lễ Hội Chùa Minh Khánh
  • Cách Làm Chó Bông Bằng Bưởi Trang Trí Mâm Ngũ Quả Trung Thu
  • Cách Bày Mâm Ngũ Quả Trung Thu Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất
  • (Chùa Trấn Quốc)

    Đi lễ chùa ngày, giờ nào tốt nhất?

    Đầu tiên các bạn cần nhớ đi lễ chùa là phải thành tâm, chủ yếu vẫn là trong cái tâm của mình phải luôn hướng Phật và làm việc thiện chứ không phải làm việc xấu xong đi lễ chùa để cho hết tội, do vậy yếu tố lựa chọn ngày cũng không quá quan trọng trong việc đi lễ chùa.

    Đi lễ chùa dịp Tết đầu năm

    • Đi lễ chùa Mùng 1 Tết: Theo phong tục xưa của người Việt, việc lên chùa vào mùng 1 tết đã trở thành tục lệ quen thuộc, thậm chí họ sẽ lên chùa ngay đêm giao thừa. Mọi người thường cầu cho bản thân, gia đình mạnh khỏe, tai qua nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, gia đình hòa thuận, thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc. Vì vậy, đi chùa vào mùng 1 cũng đồng nghĩa cả năm bạn sẽ có được sự an lạc, cả năm may mắn. Hứa hẹn một năm mới tràn ngập tin vui.
    • Đi lễ chùa Mùng 2, 3 Tết: Ngày mùng 2, 3 là lễ đón Hỷ thần (may mắn, hạnh phúc), đón tài thần. vậy nên, đi chùa vào 2 ngày này sẽ được cầu nhiều tài lộc, tiền bạc dư giả nguyên năm.
    • Đi lễ chùa Mùng 4 Tết: Thông thường, ngày mùng 4 là ngày các gia đình đón các vị thần từ thiên đình về hạ giới cai quản một năm. Nếu đi chùa vào ngày này và thành tâm, thì điều bạn mong muốn sẽ được linh ứng và dễ thành hiện thực, ngày này cầu gì sẽ được nấy, nên nhưng ai muốn cầu tình duyên tại các chùa cầu duyên có thể chọn ngày này.
    • Đi lễ chùa Mùng 6 Tết: Theo quan niệm của ông bà ta thì mùng 6 là ngày bình an, và mùng 6 năm nay cũng là ngày rất tốt để xuất hành cho các chuyến đi. Vậy nên, đi chùa vào ngày này cầu mong bình an, sức khỏe, gia đạo sẽ rất tốt.

    Đi lễ chùa các ngày trong tháng

    Với các ngày trong tháng, bạn cũng có thể áp dụng theo danh sách như trên. Nhưng đi lễ chùa vào ngày mồng 1 và ngày 15 hàng tháng là tốt nhất. Ngày mồng 1 và ngày 15 chính là 2 ngày trong tháng tốt nhất để đi lễ chùa, 2 ngày này nếu đi chùa sẽ gặp nhiều may mắn đặc biệt là sẽ linh thiêng hơn, việc cầu cúng dễ thành hiện thực hơn là những ngày bình thường.

    Các ngày còn lại trong tháng hầu như đều là những ngày bình thường và có thể đi chùa được, tuy không dược tốt bằng những ngày bên trên nhưng vẫn có thể đi chùa bình thường do vậy bạn nếu bạn không thể đi được những ngày mà chúng tôi vừa nêu ra thì có thể đi các ngày khác trong tháng đều được.

    Giờ đẹp đi lễ chùa

    Không quá quan trọng về giờ giấc nhưng khi đi lễ chùa bạn cũng nên tránh một số giờ nhất định.

    • Không đi vào giờ mà nhà chùa đang cúng thí thực, cúng cô hồn (Thời gian cúng cô hồn thường là giờ Dậu (17-19 giờ)).
    • Không đi chùa vào 12 giờ trưa hay đêm muộn.

    Nên đi chùa vào buổi sáng, hoặc nếu nắm được lịch đọc kinh cầu an trong ngày của các nhà sư và phật tử thì chúng ta đi chùa lúc này sẽ rất tốt.

    Các ngày cần tránh không nên đi lễ chùa:

    Theo quan niệm dân gian thì những ngày sau sẽ không nên đi lễ chùa.

    • + Ngày mồng 3, 7, 13, 18, 23, 27 đây là những ngày được coi là xuất phát không tốt, do vậy nếu bạn là người hay kiêng kỵ thì cũng không nên đi chùa vào những ngày này để tránh những phiền toái có thể xảy ra.
    • + Ngày mồng 5, 14, 24, tổng các số cộng lại đều bằng 5 và người ta coi các ngày nào là ngày Nguyệt Kỵ, dân gian truyền nhau rằng ngày “nửa đời, nửa đoạn” làm gì cũng chỉ giữa chừng, khó đạt được mục tiêu do vậy không nên đi chùa vào ngày này.

    Không nên dùng tiền lẻ để công đức trên chùa

    Hình ảnh phản cảm khi mọi người đi lễ chùa

    Ở miền Bắc mọi người hay có thói quen dùng tiền lẻ để công đức trên chùa. Nếu như trước đây, khi chúng ta còn túng thiếu và khó khăn thì điều này hoàn toàn có thể hiểu được nhưng hiện nay nhà nhà đều có kinh tế tốt hơn mà chúng ta vẫn giữ thói quen công đức 500 đồng – 1 nghìn đồng thì thật sự nên nghĩ lại.

    Vậy nên, công đức cho Tam Bảo phải công đức tiền “có thể tiêu được”. Xuất tâm ra mà trong tâm sinh cảm giác “tiếc tiếc” nhưng vẫn làm, thì cái thứ tiếc tiếc đó mới là quý giá với chúng ta. Các đấng vô hình “họ” cảm nhận qua các rung động tần số sóng não, TÂM RA SAO HỌ ĐỀU BIẾT CẢ – TOÀN BỘ CÕI GIỚI TÂM LINH KHÔNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ NHƯ TIẾNG VIỆT – TIẾNG ANH – TIẾNG TRUNG – TIẾNG IRAQ – IRAN NHƯ LOÀI NGƯỜI – “HỌ” GIAO TIẾP BẰNG TÂM THỨC – CHỈ 1 RUNG ĐỘNG NHỎ TRONG TÂM HỌ ĐỀU THẤU THỊ RẤT SẮC NÉT !

    Sắm lễ đi chùa như thế nào?

    Nên sắm đồ chay, hương hoa oản quả

    Người đi chùa nên chuẩn bị các loại lễ vật chay như hương (nhang), hoa quả, bánh oản (bánh in – gần giống một loại bánh nếp, bánh đậu xanh), xôi, chè… Chốn chùa linh thiêng, chúng ta cần hạn chế sử dụng đồ mặn làm lễ, nhằm tránh mang theo oán niệm từ các sinh linh động vật bị giết hại.

    Đến dâng hương tại các chùa chỉ được sắm các lễ chay: Hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi chè… Cách sắm lễ cầu duyên gồm trầu cau, hoa tươi, bánh kẹo, xôi trắng hoặc bánh chưng, một khoanh giò chả, rượu trắng, tiền vàng và tiền thật tùy tâm.

    Chỉ dâng lễ mặn ở khu vực thờ Mẫu, đức Ông, các vị Thánh

    Việc sắm sửa lễ mặn như cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt gà, giò, chả… chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông, Thánh, Mẫu và chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ mà thôi.

    Không sắm vàng mã, tiền âm phủ dâng cúng Phật

    Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì đặt ở bàn thờ thần linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện mà nên bỏ vào hòm công đức để phục vụ cho Phật sự tại chùa.

    Chọn hoa nào dâng lễ tại chùa

    Hoa tươi lễ Phật là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại. Dâng hoa tươi cúng Phật không phải hoa gì cũng cúng được. Trong Đà La Ni Tập Kinh, quyển 6 chép: “Hoa có mùi hôi, cây gai sanh hoa, hoa có vị đắng cay, hoa không có tên… đều không nên đem cúng

    Trước ngày dâng hương lễ Phật ở chùa cần chay tịnh trong đời sống sinh hoạt ngày thường: ăn chay, kiêng giới, làm việc thiện…

    Quy tắc chọn hoa quả dâng lễ trên chùa

    Mua đồ lễ Tam Bảo hãy chọn hoa nào thật đẹp – thật thơm – quả nào thật đẹp – thật ngon.

    “Chỉ 1 bông hoa thôi – chỉ 1 quả thôi – nhưng tâm ta chọn rất cầu kỳ rất ưng ý – hoa không dập – cánh không nát – màu không úa – quả không méo – không móp – không sâu – không lỗ rỗ – ta sẽ được chứng – các ngài không cần mua nhiều – nhưng tâm thức phải có sự lựa chọn thật đẹp – thật kỹ càng – thật đặt tâm

    PHẢI NHỚ RÕ CÔNG THỨC: CÁC SINH MỆNH CAO TẦNG CHỨNG TÂM – chỉ có người phàm – mà lại là phàm nhân kém phúc đẳng cấp thấp mới chọn số lượng càng nhiều càng tốt – vì của rẻ thì xài được nhiều dùng được lâu. ĐÂY LÀ ĐIỀU ĐẠI KỴ TRONG VIỆC MUA ĐỒ DÂNG TAM BẢO.

    Thứ tự hành lễ khi đi chùa

    Đến chùa hành lễ cần theo thứ tự như sau:

    • – Đặt lễ vật: Thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước.
    • – Sau khi đặt lễ ở ban thờ Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang.
    • – Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.
    • – Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ, còn gọi là nhà Hậu.
    • – Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tuỳ tâm công đức.

    Nếu khó nhớ các bạn chỉ cần nhớ đơn giản: Sau khi bước qua cửa chùa, chúng ta nên hành lễ theo thứ tự từ gian bên trái của chùa trước tiên, sau đó đến các gian ở giữa rồi đến các gian bên phải, đúng một vòng chùa. Thứ tự này tượng trưng cho đạo lý thuận lẽ tự nhiên (chiều kim đồng hồ) trong Phật Giáo

    Với chùa có thờ các vị thánh trong đạo Mẫu. Khi lễ ban ở các ngôi chùa như vậy, chúng ta nên hành lễ trước các bức tượng Phật tổ và Tam bảo trước, sau đó mới hành lễ trước các vị thánh của các tín ngưỡng khác.

    Văn khấn khi đi lễ chùa?

    Bài văn khấn chung, đơn giản dễ nhớ nhất khi lễ chùa

    Khi đứng khấn vái, không nên đứng thẳng ban thờ mà nên đứng chếch sang một bên.

    1. Văn khấn Đức Ông – Đức Chúa Ông (Tôn giả Tu-đạt):

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn Giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Cùng cả gia đình thân tới cửa chùa …………………………….. trước điện Đức Ông, thành tâm kính lễ, (nếu có đang lễ vật thì khấn thêm “hiến dâng phẩm vật, kim ngân tịnh tài”), chúng con tâu lên Ngài Tu Đạt Tôn Giả từ cảnh trời cao soi xét. Chúng con kính tâu lên Ngài Già Lam Chân Tể cai quản trong nội tự cùng các Thánh Chúng trong cảnh chùa đây. Thiết nghĩ chúng con sinh nơi trần tục, nhiều sự lỗi lầm, hôm nay tỏ lòng thành kính, cúi xin Đức Ông thể đức hiếu sinh, rủ lòng tế độ che chở cho chúng con, ba tháng hè chín tháng đông, tiêu trừ bệnh tật tai ương, bình an trong cuộc sống. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

    2. Văn khấn Đức Thánh Hiền (Đức A-nan-đà Tôn Giả):

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Con cúi lạy Đức Thánh Hiền, Đại Thánh Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả.

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Chúng con thành tâm tiến dâng lễ bạc, oản quả, hương hoa. Cầu mong Tam Bảo chứng minh, Đức Thánh Hiền chứng giám, rủ lòng thương xót phù hộ cho con được mọi sự tốt lành, sức khỏe dồi dào, an ninh khang thái, gia đạo hưng long. Cúi mong Ngài soi xét tâm thành, phù hộ cho gia đình chúng con được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

    3. Văn khấn cầu bình an ở ban Tam Bảo

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng (nếu viết sớ đặt trên mâm lễ vật) lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo. Chúng con xin dốc lòng kính lễ: – Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương. – Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà. – Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương. – Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát. – Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát. Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con cùng gia đình, nguyện được mạnh khỏe, bình an,… Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai quan nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, gia trung mạnh khoẻ, trên dưới thuận hoà. Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

    4. Văn khấn Bồ-tát Quán Thế Âm

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Nam mô Đại từ Đại bi Linh cảm Quán Thế Bồ Tát. Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thuỳ từ chứng giám. Chúng con có nghe Đức Phật dạy trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn rằng “Dù chỉ nghe tên Quán Thế Âm Hay dù chỉ thấy bức chân dung, Nhất tâm trì niệm hồng danh ấy, Thoát mọi hung tai, được cát tường”. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng. Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát! (3 lần, 3 lạy).

    Nên cầu gì khi đi lễ chùa?

    Theo quan niệm của nhà Phật, Phật chỉ phù hộ an bình, che chở cho con Phật chứ không thể phù hộ đường công, danh, tài, lộc.

    • Vì vậy, khi chúng ta làm lễ cầu tới cửa Phật nên xin được Phật che chở, bảo vệ.
    • Vào đình, đền hoặc ban thờ Mẫu, ban thờ Thánh trong chùa bạn có thể cầu xin may mắn trong sự nghiệp, tình cảm…

    Tốt nhất mọi người nên cầu nguyện cho quốc thái dân an, cầu cho người sống có sức khỏe, an lạc, tâm hồn luôn sáng và thiện lành, khởi tâm cầu đạo, giác ngộ và kính tin Phật pháp. Sau đó nguyện hồi hướng công đức cho các oan gia trái chủ, cho người thân, người đã khuất và các chúng sinh siêu thoát.

    Không nên cầu gì khi đi lễ chùa?

    • Cầu thuận buồm xuôi gió: Khó khăn, vấp ngã là điều ai cũng phải trải qua trong cuộc đời. Bởi nhờ đó con người mới có thể trưởng thành hơn. Thế nên, bản mệnh đừng nên cầu không gặp trắc trở, mà hãy để bản thân có thể nhờ sóng gió mà đứng lên, từ vấp ngã mà thành công.
    • Cầu tình duyên: Theo lý nhà Phật, duyên số là điều tự nhiên nên không thể cưỡng cầu. Thậm chí là duyên cha mẹ, duyên con cái cũng đều chỉ gói gọn trong một kiếp này. Bởi vì, có ai là mang theo được duyên số bên mình. Đức Phật luôn hướng con người đến sự giải thoát khỏi cõi luân hồi, và cũng là thoát khỏi những duyên nợ ân oán.
    • Cầu tiền tài, danh vọng: Cả cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dẫn dắt các đệ tử của ngài đi xin ăn, đi hóa duyên, yêu cầu họ vứt bỏ hết những tâm địa đeo bám về tiền tài danh vọng. Cho nên, những thứ này đối với con người chỉ là vật ngoài thân, không nên tham lam mà đòi hỏi nhiều.
    • Cầu người khác giúp mình: Cầu người khác giúp đỡ mình sẽ khiến cho bản thân bị phụ thuộc và không thể tự bản thân vượt qua được nghịch cảnh. Hơn thế nữa, người luôn cầu viện người khác sẽ luôn sống trong tâm lý mang ơn, mang khổ chứ không hề tự do tự tại được.
    • Cầu không bệnh tật: Người đi lễ chùa không nên cầu thoát khỏi bệnh tật, vì như vậy sẽ sinh ra tham niệm, có thể dẫn đến phạm giới. Bởi bệnh tật là do nghiệp, không phải cầu mà khỏi được. Muốn thoát khỏi đau ốm, bệnh tật thì bản mệnh nên thực hành giác ngộ, làm cho tâm không bệnh. Nhà Phật cho rằng việc hành thiện, tu dưỡng tâm tính mới có thể giúp con người đẩy lùi căn nguyên bệnh tật và đau khổ trong kiếp người.

    Khi đến chùa rồi, các bạn đừng cầu gì cho bản thân mình, cũng đừng cầu cho gia đình hay dòng tộc. Hãy cầu nguyện cho tổ quốc này, cầu nguyện cho thế giới rộng lớn này mà trong đó có cả bạn và gia đình bạn. Khi tâm chúng ta rộng lớn sẽ cảm ứng với tâm Chư Phật, lúc ấy lời cầu nguyện của chúng ta ắt linh ứng.

    Đi lễ chùa có nên mang lộc về nhà?

    Chỉ xin lộc khi được nhà chùa phát cho

    Theo nhiều kinh sách và quan niệm truyền thống, những hành vi tự ý sử dụng hoặc mang đồ nhà chùa về gọi là “đạo dụng thập phương thường trụ” (trộm dùng đồ lễ của chúng sinh cúng dàng). Phạm giới luật này khi chết sẽ bị giam vào địa ngục, chịu khổ vô kể. Kinh Phật chú đại bi, Phật điển ghi rõ, “nhân nhỏ, quả lớn”, thành tâm cúng dàng, lễ dù nhỏ nhưng phúc báo lớn lao; trộm của chùa, vật tuy sơ sài nhưng quả báo không gánh hết. Do đó, bạn không nên tự ý lấy sử dụng hoặc mang bất kỳ loại đồ đạc gì của nhà chùa về làm của riêng.

    Nhớ ngày bé theo bà tôi đi lễ chùa. Bà vào chùa không bao giờ đi thẳng vào Tam bảo ngay, mà thường vào nhà Tăng trước để gặp sư xin được lễ Phật. Bà mượn đĩa của nhà chùa, đặt 5 quả cam lên đĩa, theo sư đi vào Tam bảo. Bà chắp tay khấn vái, còn sư thỉnh thuông, mõ. Xong, bà ra ngoài đợi, hôm thì tranh thủ trò chuyện với sư, hôm thì dạo quanh sân chùa.

    Chờ cho cháy gần hết tuần nhang, bà bạch với sư rằng: Con lễ Phật xong rồi! Xin thầy hạ lễ cho, lễ này trước là cúng Phật, sau xin cúng dường sư thọ nhận. Sư hạ lễ, đưa trả lại lễ cho bà. Bà chối không nhận, bảo lễ đã cúng Phật. Tôi thay mặt Phật, chư Bồ-tát ban lộc cho bà. Bấy giờ bà mới từ tốn: Lộc thì con xin nhận, nhưng Thầy cũng phải thụ hưởng thì con mới vui. Vây là sư cầm 2 quả cam, bà cầm 3 quả đem về. Cũng có những lần khác, thấy sư hạ lễ của bà tôi, đem cất đi. Nhưng sau đó sư lại lấy phần oản, xôi mà những người khác dâng cúng đưa cho bà, bảo rằng lộc Phật ban. Có những hôm bà tôi vào chùa lễ Phật, không găp sư, thì bà để lễ đấy, không dám hạ lễ mang về.

    Không hái lộc trên chùa

    Thực ra, thứ mà chúng ta vào chùa tự ý lấy về, hoặc cướp về ấy không thể là lộc. Lên chùa hái lộc, hành vi đúng đắn là chúng ta xin và nhận lộc từ các tăng ni phát cho. Hầu hết các chùa đều chuẩn bị sẵn những cành lộc để phát cho khách đi lễ chùa đêm giao thừa.

    Đáng tiếc thay, từ việc vào chùa tự hái lộc, tự hạ lộc rồi giật lộc… đã phát sinh những cảnh tượng cướp lộc ở trong các lễ hội. Mà hiện tượng ở lễ khai ấn đền Trần năm ngoái, tình trạng người đi lễ giật hoa, tranh cướp những đồ vật trên bàn thờ là vấn đề rất đáng báo động, cho thấy sự xuống cấp nghiêm trọng về văn hóa của người đi lễ đền, chùa ngày nay.

    Những kiêng kỵ cần tránh khi đi lễ chùa?

    Đi chùa cầu bình an vốn là một nét đẹp trong văn hóa tâm linh của người Việt Nam. Người đi chùa cần tránh 8 điều kiêng kỵ sau:

    • Không đi cửa chính vào chùa: Khi bước vào nhà chính của chùa là nên bước vào từ cửa bên, không bước vào cửa chính giữa; đồng thời không dẫm lên bậu cửa, phải bước qua bậu cửa, nếu không sẽ phạm tội bất kính. Cổng chính vào chùa còn gọi là cổng Tam quan, theo quan niệm xưa cửa giữa chỉ dành cho đức Phật, Ngọc đế, Quốc vương. Vì vậy nếu để ý bạn sẽ thấy nhiều chùa không mở cửa chính. Khi đi qua cổng Tam quan vào chùa nên đi vào cửa Giả quan (bên phải) và đi ra bằng cửa Không quan (bên trái).
    • Không đi giày dép vào Phật đường, Tam Bảo: Đi giày dép vào Tam bảo, Phật đường là điều kiêng kị khi đi lễ chùa. Ở hầu hết các chùa ở Việt Nam đều hướng dẫn người đến lễ đặt dép, giày ở ngoài vì khu vực Tam bảo, Phật đường là nơi tôn nghiêm, có giới hương, định hương, chân hương, đòi hỏi phải trì giới để di dưỡng thanh tịnh, tuyệt đối không gây ồn ào, hỗn tạp. Không để trẻ em chạy loạn tam bảo, nghịch ngợm các đồ tế khí, sờ mó tượng Phật… Không được làm ồn hoặc nói những lời bất kính. Đặc biệt, cần tránh thái độ thiếu cung kính như tùy tiện dùng tay chỉ trỏ vào tượng Phật, Thánh…
    • Không đi cắt ngang mặt những người đang quỳ lạy: Khi bước đi không nên cắt ngang qua mặt những người đang quỳ lạy. Muốn làm lễ thì không nên quỳ phía sau những người đang đứng thắp hương.
    • Không dùng miệng thổi tắt hương/nến: Tuyệt đối tránh việc châm hương sau đó thổi tắt bằng miệng. Hãy nhẹ nhàng dùng tay phẩy nhẹ.
    • Không chạm, sờ vào tượng Phật: Nhiều người vẫn có những quan niệm hết sức sai lầm rằng sờ mó, xoa tiền hay chạm vào tượng Phật sẽ được nhiều lợi lộc, sức khỏe. Không hề có chuyện như vậy. Những hành vi bất kính như vậy chỉ làm nhiễu loạn không khí thanh tịnh, linh thiêng vốn có nơi cửa Phật.
    • Không ăn mặc xuề xòa hoặc phản cảm: Chùa là nơi linh thiêng thờ phật, là cõi thanh tịnh vài vậy khi bạn đi lễ chùa cần chú ý về trang phục của mình. Khi vào chùa bạn cần mặc quần áo dài, kín cổ, giản dị, sạch sẽ, đặc biệt không mặc váy ngắn, quần cộc, áo hở hang, lòe loẹt.
    • Không tự ý chụp ảnh/quay phim tượng Phật: Chụp ảnh là điều kiêng kỵ khi đi lễ chùa bởi chùa vốn là nơi thờ Phật, chốn linh thiêng. Đồng thời, khi đứng khấn vái, bạn cũng không nên đứng thẳng ban thờ mà nên đứng chéo sang một bên. Đặc biệt là chụp những bức ảnh tạo dáng không lịch sự, trang nghiêm.

    Sốt ruột tháng giêng – Nguyễn Ngọc Tư

    Tết nhứt, người miệt miền tây xưa rày hay chưng mâm trái cây mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài mà đọc trại âm là một ước mơ : cầu vừa đủ xài. Mua được giống đu đủ vàng thì coi như cầu đủ vàng. Thay dừa bằng chùm sung một bước lên cầu xài sung. Năm nay người ta bày bán trái gọi là dư, nói gọi là vì những cây có tên rất rủng rỉnh là phát tài hay kim ngân lượng, đều không phải mớ tên sơ khai của chúng. Trái dư này, biết đâu tụi con nít quê xó nào kêu bằng trái chọi (không ăn được thì để chọi nhau chứ biết làm gì) nhưng thứ chỉ bày chơi đó thay đổi chắc nụi mâm quả Tết. Ước vọng trên đó giờ gọn lỏn như vầy: Cầu Dư.

    Nó làm cho cái thế cầu vừa đủ xài cả trăm năm nay trở nên khiêm tốn, dù khái niệm “đủ xài” cũng đã là vô cùng. Mâm trái cầu dư trên bàn thờ mờ nhạt lòng thành, lẩn khuất sự tham lam, sự bất kính với vong linh người khuất mặt. Ông bà vốn bó miệng vì sung chát, đu đủ non, giờ chỉ biết ngồi ngó thứ trái lạ mà bọn người kia sợ chết dại không dám rớ. Thời của ngoại tôi, cúng vú sữa đầu mùa lên bàn thờ họ luôn chọn những trái chín ngon nhất. Bà ngoại tin người chết gì cũng biết, có lòng hay chỉ qua quýt họ đều hay. Mâm cúng thành kính xưa giờ nhuốm mùi đổi chác. Không phải ai đội hoa quả đến chùa cũng với tâm thế cho đi, chẳng cầu xin gì. Từ cầu no đủ cho đến cầu dư dả, trong lòng tham tăng bậc có sự kiên nhẫn xuống thang.

    Thời thế gì mà sốt ruột. Nhà hàng xóm lại đổi chiếc xe hơi đời mới. Thằng bạn học giờ là doanh nhân trẻ vào tốp mười cả nước. Cô bạn cùng sở làm vừa sắm túi Cucci. Ông anh bên vợ trúng số. Có hàng ngàn lý do để sốt ruột, nhấp nhổm sau cái quãng chỉ so đo chuyện mâm cơm có thịt hay không có thịt, độn khoai hay không độn khoai. Cơn khát này không phải chỉ giàu, mà phải giàu nhanh như thể thời gian chỉ dành cho những người biết chụp giật, kể cả chụp giật ơn phước của tổ tiên, thánh thần.

    Nhìn cảnh người ta giẫm đạp lên nhau xin (hoặc cướp) lộc chốn đền chùa, nghĩ xứ sở gì mà hỗn mang, nhập nhoạng. Không phải vì đạo, vì sự thiêng liêng của đức tin mà người này đạp lên vai, lưng người khác. Trong đám đông cướp ấn đền Trần, hẳn có nhiều người miệt mài làm việc nửa đời mà con đường quan trường vẫn xa. Bạn bè có đứa nhiều tiền nên mua được ghế, có đứa con ông cháu cha nên được nâng đỡ, còn mình bơ vơ chỉ có cách đi xin ấn đền Trần. Như để nuôi một hy vọng. Biết có cày cục làm lụng cả đời thì sự thăng tiến vẫn lừ lừ chậm bước. Những vị trí phải đợi lâu hoặc không bao giờ người ta có được nếu chỉ nhờ vào sức của mình, trong một hệ thống thăng tiến không mấy quan tâm tới khả năng làm việc.

    Cái sự cuồng tín với những thứ xung quanh thánh thần (không phải với thánh thần), là hệ thống đức tin sụp đổ. Người ta không quên cái câu có làm thì mới có ăn của ông bà dạy, nhưng nhìn lên họ nhìn thấy nhan nhản những kẻ chẳng làm gì mà vẫn phờn phơ, vẫn ngồi trên trước. Nhìn xuống lại muôn trùng người tốt lăn lóc mưu sinh, sống thua thiệt cả đời. Chỉ có một thứ thay đổi số phận con người : phép màu của thần thánh. Nhưng thần thánh chưa chắc công bằng, biết đâu lại chiều chuộng kẻ có tiền có quyền. Thôi cướp lấy cho chắc ăn. Chẳng có gì chắc chắn trong việc đứng chờ thì sẽ đến lượt mình như là đến tuổi sẽ nhận được số hưu.

    Trong tờ giấy mà mấy chị đàn bà xúi nhau học thuộc lòng để khấn vái lúc đi chùa, bốn chữ gia đạo bình an đứng sau cùng, sau “làm một được hai, trồng một gặt mười…”. Mấy chị, cũng như nhiều người khác, vào chùa không phải để cầu an. Bây giờ, lúc rạp mình trước đức Phật là lúc tâm chúng sinh bất an nhất.

    Chịu khó ngồi lâu nhìn tháng Giêng (không chỉ năm nay) thì sẽ thấy nó trở thành một lễ hội vơ vét khổng lồ. Kẻ vét hy vọng từ trời, kẻ vét túi khách hành hương, địa phương vét phí. Đứng ở đền chùa, thấy lòng người đang loạn lạc rõ ràng hơn bất cứ chỗ nào. Vỡ đê đạo đức, cháu vác dao rượt chém bà. Vỡ đê đức tin, lộc trời rủ nhau đi cướp. Mai kia không biết thêm hệ thống tinh thần nào đổ nữa đây, chính quyền nhìn thấy cảnh đền Trần mà không lo thì hơi lạ. Bởi chuyện ở sân đền là họ sốt ruột lắm rồi, đến nỗi giẫm đạp trên đồng loại, đức tin. Ai dám chắc sốt ruột đến thế thì thôi.

    Tamlinh.org (tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Đi Đền Hùng: Đường Đi, Địa Điểm Tham Quan, Mâm Cúng Lễ Vật
  • Đầu Năm Đi Lễ Chùa Chuẩn Bị Những Gì: Lễ Vật, Trang Phục, Lưu Ý Kiêng Kỵ
  • Ý Nghĩa Thật Sự Đằng Sau Nghi Thức Dâng 3 Nén Hương, Vái 3 Lạy Khi Cúng Tổ Tiên, Lễ Chùa Ngày Tết
  • Mâm Quả Ngoại Cao 1 Mét Giá 10 Triệu: Đại Gia Khệ Nệ Dâng Lễ Ngày Rằm
  • Kiêng Kị Cho Người Kinh Doanh: Không Nên Cài Tiền Lên Mâm Ngũ Quả, Tay Phật Khi Lễ Chùa Ngày Tết
  • 4 Bài Văn Khấn Rằm Tháng 7:cúng Phật,thần,gia Tiên,cô Hồn,phóng Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Thỉnh Phật Quan Âm Về Thờ Tại Gia Như Thế Nào Đúng Nhất?
  • Cửu Huyền Thất Tổ Là Gì? Cách Lập Bàn Thờ Cửu Huyền
  • 5. Sự Thờ Phượng Của Phật Giáo Hòa Hảo
  • Chuông Đồng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo
  • Về Nguồn Gốc Lịch Sử Của Phật Giáo Hòa Hảo
  • Hàng năm cứ vào tháng 7 Âm lịch là người Việt lại tổ chức lễ Rằm Tháng 7. Bao gồm các Lễ Cúng Phật, Thần Linh, Gia tiên và Cúng Cô Hồn (. Lễ này trùng với Vu Lan báo hiếu của Phật giáo). Theo giáo lý của Phật thì cúng rằm tháng 7 còn gọi là cúng Tết Trung Nguyên, cúng lễ Vu Lan có thể làm tại chùa, đình và cũng có thể cúng tại nhà cũng được. Cúng rằm tháng 7 đầy đủ tại nhà sẽ có 4 Lễ Cúng sau đây:

    4 Lưu ý quan trọng trước khi cúng Rằm Tháng 7 phải nhớ

    • Bạn đọc lưu ý. Lễ cúng Phật và Thần Linh, Gia tiên chung 1 bàn thờ, chung đồ lễ cũng được, không cần phải cầu kỳ làm 2 lễ. Trường hợp nhà nào có 2 bàn thờ Phật và thờ Thần Linh, Gia tiên riêng thì làm 2 lễ. Còn không nếu chỉ có 1 bàn thờ sẽ chuẩn bị 1 lễ và tiến hành cúng lần lượt Phật trước rồi tiếp đến cúng Thần linh và Gia tiên sau.
    • Tất cả các Lễ cúng rằm tốt nhất là làm lễ chay( làm chay tốt hơn làm mặn)
    • Tùy vào điều kiện của mỗi gia đình, có thể làm đủ cả 4 lễ hoặc chỉ thực hiện 1 số lễ nào đó trong 4 lễ trên mà không thực hiện được hết cũng không sao cả. Nếu có điều kiện nên làm cả 4 lễ, sẽ có được phước báu vô cùng.
    • Nên cúng rằm Tháng 7 vào khoảng thời gian nào: Thông thường, sẽ cúng Rằm tháng 7 vào khoảng thời gian từ ngày 2 – 14/7 âm lịch. Qua ngày mùng 1 sang canh ngày 2 – 14/7 là ngày các vong hồn được về với dương giới theo quan niệm dân gian. Và những vong hồn có tội thì có thể được xá tội trong những ngày này. Diêm vương cho mở cửa Quỷ Môn Quan để những linh hồn này có thể trở về trần gian và được thọ hưởng những lễ vật ở trần gian do người dương thế cúng tế. Đây là một quan niệm dân gian, từ trước đến giờ tục lệ người dân Việt vẫn thường cúng tế vào những ngày này”. “Ngày 15/7 còn là ngày lễ Vu Lan báo hiếu – một ngày lễ lớn trong Phật giáo. Đây là ngày người dương thế tưởng nhớ đến những bậc sinh thành đã khuất như cha mẹ, ông bà. Theo quan niệm dân gian, những vong hồn có con cháu dương trần cúng tế thì được về trần gian thọ hưởng vào ngày 15/7, còn những vong hồn không có người cúng tế lang thang vất vưởng thì sẽ phải trở về vào ngày 14/7. Chính vì vậy, tùy theo gia chủ sắp xếp thời gian hợp lý cho gia đình mà chọn thời gian cúng lễ phù hợp, thông thường có thể cúng vào ngày 14/7 cúng cho cả người trong gia đình và những cô hồn vất vưởng”

    1. Cúng Phật Rằm Tháng 7

    1.1. Ý nghĩa cúng Phật ngày Rằm tháng 7. Tại sao nên cúng Phật ngày rằm tháng 7.

    Theo Đạo Phật thì cúng Rằm tháng 7 được coi là 1 ngày lễ lớn. Để tưởng nhớ công ơn của đấng sinh thành trong hiện tiền cũng như nhiều đời nhiều kiếp, gia chủ phát tâm tụng kinh Vu Lan để hồi tưởng công đức cho những người thân trong quá khứ được siêu sinh.

    Kinh Vu lan ghi lại những lời Đức Phật dạy chúng ta về lòng thương yêu, bổn phận của con cái đối với cha mẹ hiện tiền hay quá cố, đối với những người đang trầm luân trong những khổ cảnh, nghịch cảnh và cách thức thể tình cảm và bổn phận ấy bằng những việc làm cụ thể, nhân dịp thưa hỏi của Ngài Mục kiền Liên.

    Bài kinh tuy ngắn, nhưng ý nghĩa vừa cao vợi, hướng thượng, lại vừa thiết thực, đáp ứng lòng từ bi, hiếu thảo của mọi người mong muốn đền ơn, đáp nghĩa đấng sinh thành, cứu giúp cha mẹ, người ơn, người thân và những người quen biết hay không quen biết đang phải chịu cảnh khổ. Đồng thời mở ra cho chúng ta những người con, đồng thời là những bậc cha mẹ trong tương lai, con đường thực hành để đi đến giải thoát khổ đau ngay trong kiếp sống hiện tại, hay hơn nữa, là tạo nền tảng để trong tương lai được giải thoát hoàn toàn, tức không còn bị chi phối trong vòng luân hồi nơi lục đạo.

    1.2. Chuẩn bị sắm lễ cúng Phật ngày rằm tháng 7

      Khi chuẩn bị đồ cúng Phật ngày Rằm tháng 7 , các gia đình chỉ nên chuẩn bị đồ chay hoặc sắm một mâm ngũ quả chứ không chuẩn bị cỗ mặn hay quá nhiều lễ lạt cầu kỳ. Chủ yếu là do lòng thành của gia chủ.

    1.3. Kinh Vu Lan:

    Mời bạn đọc bấm vào đường link : Nghi Thức Trì Tụng Kinh Vu Lan Báo Hiếu.

    2. Cúng Thần Linh, Gia tiên rằm tháng 7

    2.1. Ý nghĩa việc cúng thần linh, gia tiên ngày rằm tháng 7

    Vào ngày này, người ta thường làm một lễ cúng tạ ơn các thần linh và một mâm tưởng nhớ ông bà tổ tiên để cầu nguyện cho các vong hồn siêu thoát và cầu bình an cho gia đình. Vì vậy nên đa phần các gia đình thường cúng cơm mặn, nhưng cúng chay tốt hơn.

    2.2. Chuẩn bị sắm lễ cúng thần linh, gia tiên ngày rằm tháng 7

    • Mâm cúng Rằm tháng 7 cho thần linh, gia tiên nên làm một mâm cỗ chay, các món có thể theo mùa,( nếu làm được cỗ chay thì tốt hơn, cỗ chay cũng đơn giản vài món rau xào, đậu, đỗ luộc, nấm…)
    • Trà nước, hoa, trầu cau

    2.3. Bài khấn cúng thần linh, gia tiên ngày rằm tháng 7

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Con lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương.

    Con kính lạy Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, Đức Mục Kiền Liên Tôn Giả.

    Hôm nay là ngày rằm tháng Bảy…….

    Tín chủ chúng con là…..

    Thành tâm sửa biện hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.

    Chúng con thành tâm kính mới ngài Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, Đức Mục Kiền Liên Tôn Giả.

    Chúng con thành tâm kính mời ngài Kim Niên Đương cai Thái Tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này.

    Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, xét soi chứng giám.

    Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội. Chúng con đội ơn Tam Bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng che chở, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền báo.

    Do vậy kính dâng lễ bạc, giãi tỏ lòng thành, nguyện mong nạp thụ. Phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình luôn mạnh khỏe, già trẻ bình an, một lòng hướng về chính đạo, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long.

    Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    3. Cúng Thí Thực Cô Hồn rằm tháng 7

    3.1. Ý nghĩa cúng thí thực cô hồn tại nhà ngày rằm tháng 7

    • Cúng cô hồn hay còn gọi là cúng thí thực là cách gọi dân gian của ngày Xá tội vong nhân được thực hiện vào tháng 7 âm lịch hằng năm. Lễ cúng này nhằm mục đích bố thí, cúng dường cho những vong linh vất vưởng, không thân nhân, không người cúng kiếng.
    • Với người Việt chúng ta, cúng cô hồn là nghi lễ truyền thống, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đến rằm tháng 7, gia đình nào cũng bày một mâm cúng vào buổi chiều muộn để giúp những vong hồn còn lang bạt nơi trần gian chưa về được với cõi âm sẽ được bắc cầu siêu độ. Tùy vào điều kiện từng gia đình mà mâm cúng có phần khác nhau nhưng phải đảm bảo đầy đủ vàng mã, hoa quả, khoai luộc, kẹo bánh, gạo muối và không thể thiếu món cháo loãng.
    • Cháo loãng được coi là món không thể thiếu khi cúng rằm tháng 7. Theo thuyết nhà Phật, những linh hồn bị đày đọa phải mang một thực quản nhỏ hẹp chỉ có thể ăn cháo loãng chứ không thể nuốt được thức ăn thông thường. Tuy nhiên, không ít gia đình đã vô tình bỏ qua đồ cúng quan trọng này. Các món bỏng nẻ, khoai, sắn, ngô, kẹo bánh, sữa, bim bim… được coi là để cúng các thai nhi, em bé bị mẹ bỏ rơi.
    • Trong lễ Xá tội vong nhân, các gia chủ thường vẩy cháo, rắc gạo, muối để bố thí thức ăn khắp 4 phương 8 hướng nhằm tứ tán các cô hồn. Sau khi cúng xong, nên đốt vàng mã ngay tại chỗ để các cô hồn nhận và đi ngay, không lẩn quẩn quấy nhiễu gia chủ.
    • Sau khi cúng xong có thể mang đồ cúng ra sông, ao, hồ thả cho cá ăn.

    3.2. Sắm lễ cúng thí thực cô hồn tại nhà ngày rằm tháng 7

    • Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh từ 20 đến 50 bộ.
    • Hoa, ngũ quả: 5 loại 5 mầu (ngũ sắc).
    • Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc.
    • Nếu cúng thêm cháo thì thêm mâm gạo muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)
    • Hoặc có điều kiện có thể làm 1 mâm cúng chay.

    3.3. Văn khấn cúng thí thực cô hồn tại nhà ngày rằm tháng 7

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật!

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương, Con lạy Đức Phật Di Đà.

    Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

    Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần. Tiết tháng 7 sắp thu phân

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà m cung mở cửa ngục ra

    Vong linh không cửa không nhà

    Đại Thánh Khảo giáo

    A Nan Đà Tôn giả

    Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

    Gốc cây xó chợ đầu đường

    Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

    Quanh năm đói rét cơ hàn

    Không manh áo mỏng, che làn heo may

    Cô hồn nam bắc đông tây

    Trẻ già trai gái về đây họp đoàn

    Dù rằng: chết uổng, chết oan

    Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu

    Chết tai nạn, chết ốm đau

    Chết đâm chết chém chết đánh nhau tiền tình

    Chết bom đạn, chết đao binh

    Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi

    Chết vì sét đánh giữa trời

    Nay nghe tín chủ thỉnh mời

    Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

    Cơm canh cháo nẻ trầu cau

    Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

    Gạo muối quả thực hoa đăng

    Mang theo một chút để dành ngày mai

    Phù hộ tín chủ lộc tài

    An khang thịnh vượng hoà hài gia trung

    Nhớ ngày xá tội vong nhân

    Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

    Bây giờ nhận hưởng xong rồi

    Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

    Tín chủ thiêu hoá kim ngân

    Cùng với quần áo đã được phân chia

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức Cho tín chủ con

    Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật!

    4. Cúng Phóng Sinh ngày rằm tháng 7

    4.1. Ý nghĩa của việc cúng phóng sinh vào ngày rằm tháng 7

    • Không chỉ phóng sinh vào Rằm tháng Giêng, nhiều người còn thực hiện nghi lễ phóng sinh vào Rằm tháng 7 Âm lịch
    • Nói về tục phóng sinh vào Rằm tháng 7, TS Nguyễn Thị Hồng – Chuyên gia nghiên cứu Văn hóa Việt Nam cho biết: “Tục phóng sinh của người Việt thường diễn ra vào 2 dịp là Rằm tháng Giêng và Rằm tháng 7. Việc phóng sinh vốn để thể hiện tấm lòng từ bi, mong muốn đem lại sự an lạc cho muôn loài chúng sinh. Tích cũ kể lại, đức Phật khi còn đang là thái tử Tất Đạt Đa đã từng cứu giúp một con thiên nga bị thợ săn bắn hạ. Khi đó, thái tử mới chỉ 9 tuổi nhưng đã mở lòng từ bi, nhân ái. Sau khi đã tu thành chính quả, đức Phật khi thuyết pháp vẫn luôn đề cao việc từ bi, bất sát, phóng sinh cứu giúp muôn loài”.
    • Chuyên gia nghiên cứu Văn hóa Việt Nam này cũng cho biết, người Việt thường chọn các loài vật như chim, cá, ốc, lươn, rùa… để phóng sinh. Tuy nhiên, tùy theo từng vùng miền mà họ chọn các con vật phóng sinh khác nhau. Ví như người miền núi có thể phóng sinh các loài như khỉ, chim. Người miền biển phóng sinh cá… “Nhưng dù nghi thức phóng sinh được thực hiện thế nào thì cũng thể hiện tấm lòng từ bi bác ái, đánh thức tâm Bồ đề của chúng sinh trước khi phóng sinh, là thể hiện lòng từ bi của người con Phật, tâm không mong cầu lợi ích cho riêng bản thân mình nhưng phước báu lại to lớn vô cùng. Đạo Phật cũng dạy, người thường xuyên cứu thả các sinh mạng được tiêu trừ bệnh tật, thoát khỏi các tai nạn. Người thường xuyên phóng sinh tu phước, cứu giúp muôn loài thoát khỏi khổ ách thì bản thân không gặp các tai nạn, vận hạn xấu, con cháu đông đúc, hưởng an lành… Vậy nên, việc phóng sinh vào tháng 7 Âm lịch cũng được xem là cách để cứu vớt chúng sinh, tích đức để hồi hướng cho các linh hồn, cầu mong thoát khỏi vận hạn” – TS cho hay.

    4.2. Chuẩn bị sắm lễ cúng phóng sinh

      Mua con vật phóng sinh ngay ( tôm, cua, cá ốc….), hoặc mang về nhà khấn ở nhà, khi mang thả phóng sinh cũng làm chung cách này.

    4.3. Bài Khấn Cúng Phóng Sinh

    (Chắp tay, tâm hướng tới chư Phật bạch lễ)

    Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

    Con kính bạch chư Phật chứng minh cho con, đệ tử con tên là…. ở tại…. con một lòng tôn kính chư Phật, tôn kính giáo Pháp thoát khổ, tôn kính chư Tăng tu hành phạm hạnh. Hôm nay là ngày….. tháng…. năm…. con mua mạng những chúng (kể tên loài)…. này, cứu chúng thoát khỏi sự giam cầm trói buộc, cứu chúng thoát khỏi nghiệp bị sát mạng, con xin hướng nguyện cho chúng, được tiêu trừ nghiệp chướng, sớm thoát được nghiệp làm súc sinh, sớm được tái sinh về cõi người, được như duyên lành của con, gặp được Tam Bảo, tu hành theo giáo Pháp của Phật, làm lợi ích cho mình, đem giáo Pháp của Phật, làm lợi ích cho chúng sinh. Con cũng xin hồi hướng công đức lành này, để sám hối tất cả các tội nghiệp mà con đã giam cầm trói buộc, cũng như sát mạng chúng hữu tình, tiêu trừ được quả báo bị giam cầm, bị tổn hại đến thân thể tính mạng. Con xin hồi hướng cho gia đình chúng con, không gặp các ác duyên, để không làm các việc ác khiến bị giam cầm, khiến bị tổn hại đến thân thể và tính mạng.

    Con xin hướng nguyện, đời đời kiếp kiếp, cùng với tất cả chúng (kể tên loài)…. này, sinh ra nơi đâu cũng được gặp Chính Pháp của Phật, tinh tấn tu hành cho tới ngày nữa thoát luân hồi sinh tử.

    Con xin chư Phật chứng minh cho con, gia hộ cho con cùng các chúng (kể tên loài)…. đây, được như nguyện hồi hướng của con.

    Khi thả phóng sinh thì đọc: Hỡi các chúng sinh đây, được duyên cứu mạng này, nguyện cho đời đời kiếp kiếp PHÁT TÂM BỒ ĐỀ, HỘ TRÌ TAM BẢO CHUYỂN TẢI PHẬT PHÁP RỘNG KHẮP THẾ GIAN.

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Nghi Thức Cúng Ngọ
  • Nghi Thức Cúng Ngọ Và Những Điều Cần Biết
  • Ý Nghĩa Bài Vị Cửu Huyền Thất Tổ
  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Cải Cát Hay (Sang Tiểu, Sang Cát, Bốc Mộ, Sửa Mộ, Dời Mộ)
  • D. Sự Cúng Lạy Của Người Cư
  • Bài Văn Khấn Cúng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát Tại Nhà

    --- Bài mới hơn ---

  • +79 Mẫu Tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát Đẹp Từ Bi Bằng Đá Ngọc
  • Vàng Mã Cúng Quan Âm Bồ Tát Tại Nhà
  • Bài Cúng Quan Thế Âm Bồ Tát
  • Bài Cúng Quan Thế Âm Bồ Tát Tại Nhà
  • Văn Khấn Quan Thế Âm Bồ Tát Tại Nhà
  • 1. Lý do nên thờ cúng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát

    Để có cách thờ cúng Phật Bà tại nhà đúng cách nhất chúng ta cần tìm hiểu mục đích của việc làm này. Không phải cứ thờ theo ý mình muốn là được mà phải tuân theo quy luật chung được xây dựng từ trước đó.

    Lý do nên thờ cúng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát

    Chúng ta thờ cúng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát với mong muốn giữ cho tâm luôn trong sáng để mở lòng với tất cả mọi người. Nhờ vậy mà cuộc sống của gia chủ mới tươi vui, an nhiên và có sức khỏe dồi dào. Khi đó trí tuệ sẽ được khai thông, tiền tài danh vọng ngày càng thuận lợi theo ý muốn. Đó chính là mục đích cho việc cầu nguyện và thờ cúng Phật Bà Quan Âm.

    2. Cách thờ cúng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát tại nhà

    Có ba nguyên tắc khi thờ cúng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát tại nhà mà các bạn phải ghi nhớ, cụ thể như sau:

    • Chọn hướng để bàn thờ: Bàn thờ luôn luôn được đặt sao cho hướng ra cửa chính để tạo sự trang nghiêm, tôn kính và hợp phong thủy.

    • Cách bài trí vật dụng trên bàn thờ: Chính giữa bàn thờ chúng ta đặt một bức tượng Phật Bà Quan Âm, đặt bát hương ngay sát phía dưới chân Phật. Hai cây đèn đặt hai bên bàn thờ và có hai ly nước bên cạnh. Cùng với đó là hai đĩa hoa quả và hai bình hoa ở phía sau. Như vậy là chúng ta đã bài trí xong bàn thờ cúng Phật Bà Quan Thế Âm.

    • Vào mỗi buổi sáng, trước khi thắp hương, cần mặc áo tràng đánh 3 tiếng chuông và lạy ba lạy. Mỗi tối khi đã tắm rửa sạch sẽ, chủ nhân sẽ tiến hành thắp hương và đánh 1 hay 3 tiếng chuông kết hợp với đọc kinh phật nếu muốn.

    3. Bài văn khấn Phật Bà Quan Âm tại nhà

    Con lạy chín phương trời, con lạy mười phương chư phật, con lạy chư phật mười phương. Con Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quái thế Bồ tát. Con xin kính lạy đức Viên Thông Giáo chủ thùy từ chứng giám. Hôm nay là ngày tháng năm: Con thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện cửa Hoa, con kính dâng phẩm vật và hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu hành, con nhất tâm kính lễ dưới tòa sen hồng. Con cúi xin được Đại sỹ không rời ban nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo lợi, để chở che và cứu vớt chúng con và cả gia quyến như là mẹ hiền, phù hộ độ trì con đỏ. Nhờ nước dương phi, lòng trần cầu ân được thành tịnh, thiện nguyện được lên cao. Được ánh từ quang soi tỏ, để nghiệp trần nợ bớt, tâm đạo được khai hoa, độ cho đệ từ con cùng toàn thể gia quyến ba tháng đông và chín tháng hè luôn có sức khỏe dồi dào. Phúc thị được an khang ninh, lộc tài được vương tiến, công việc được hanh thông, vạn sự được tốt lành, sở cầu của chúng con được như ý, sở nguyện được tòng tâm. Con xin cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành. Con với lễ bạc tâm thành cúi xin được phù trì.

    Với bài văn khấn này, mọi người nên đọc một cách thành tâm, thành kính nhất khi đứng trước bàn thờ Quan Thế Âm Bồ Tát.

    Bày trí và cúng Quan Thế Âm Bồ Tát đúng chuẩn

    Mọi người cần thực hiện đầy đủ, đúng các quy tắc bài trí bàn thờ và đọc văn khấn Phật Bà Quan Âm thì mới là cách thờ đúng. Nếu bài văn khấn chuẩn xác mà bài trí chưa đúng thì chưa được mà bài trí ban thờ chuẩn quy nhưng không biết cách đọc bài khấn cũng không được.

    4. Lưu ý thờ cúng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát tại nhà

    • Mọi người cần chú ý thay nước trên bàn thờ thường xuyên. Nước được dùng ở đây là nước thanh lọc, nước tinh khiết chứ không được dùng bất kỳ loại nước nào khác.

    • Lau chùi bàn thờ thường xuyên để đảm bảo lúc nào cũng sạch sẽ. Tàn nhang nên được dọn dẹp hàng ngày.

    • Nơi đặt bàn thờ Quan Âm cần phù hợp với phong thủy, sạch sẽ cũng như khô thoáng.

    • Tuyệt đối không để hình tượng Phật Bà hay thờ Phật Bà trong phòng ngủ riêng. Bởi vì thờ cúng là việc làm trang nghiêm, tôn kính nên cần lựa chọn những nơi đảm bảo trang nghiêm, sang trọng để bày tượng Phật.

    • Nên đặt bàn thờ Tượng Phật Bà Quan Âm ngang hàng hay thấp hơn bàn thờ Gia Tiên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngày Đẹp Dọn Dẹp Ban Thờ 2021
  • Cách Rút Chân Nhang Bàn Thờ Thần Tài Như Thế Nào Là Đúng
  • Cách Lập Bàn Thờ Cha Mẹ Chi Tiết Và Bàn Thờ Vọng Cho Người Xa Quê
  • Cách Lập Bàn Thờ Cha Mẹ, Bàn Thờ Vọng Chi Tiết Nhất 2021
  • Bài Văn Khấn Chuyển Bàn Thờ Thổ Công Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Bài Văn Khấn Phật Bà Quan Âm Tại Nhà Chuẩn Xác Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Bà Cô Ông Mãnh Đầy Đủ, Chi Tiết Nhất
  • Lễ Vật Cúng Căn 9 Tuổi Cho Bé #với Bài Cúng Chuẩn
  • Văn Khấn Cúng Căn 6 Tuổi
  • Cách Làm Lễ Cúng Căn Cho Bé 6 Tuổi Với Mâm Cúng Đúng Phong Thủy
  • Cúng Tổ Nghề Tóc Cần Những Gì? Cúng Tổ Nghề Tóc Ngày Nào?
  • Lễ cúng Phật Bà Quan Âm hay còn được gọi là cúng Quan Thế Âm Bồ Tát được mỗi gia đình thực hiện thường xuyên trong nhà. Nghi lễ này đươc gia chủ thực với tâm nguyện cầu mong được mẹ Quan Âm phù hộ cho gia đình được bình an may mắn.

    Lưu ý: Nên khấn vào mỗi buổi sáng khi thức dậy và buổi tối trước khi đi ngủ. Bạn có thể chia ra các nội dung mình muốn nguyện thành nhiều ngày khác nha. Phần Sám Hối tùy thuộc, có thể lạy từ 3 lạy đến 108 lạy mỗi ngày, hoặc vào ngày 15, ngày 30, lễ Sám Hối.

    Khi lạy nên lạy thật chậm và giữ tâm chí thành, chí kính. Dâng hương và cấm hương xong quỳ đọc:

    Con xin cung kính lễ lạy:

    Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thập Phương Tam Thế Chư Phật, chư Bồ Tát,

    Tam Bảo khắp mười phương.

    Tam Bảo khắp mười phương.

    Tam Bảo khắp mười phương.

    Nam Mô A Di Đà Phật

    Nam Mô A Di Đà Phật

    Nam Mô A Di Đà Phật

    Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát

    Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát

    Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát

    Tri ân:

    Hôm nay lại bước qua một ngày, con tự biết con đã được rất nhiều may mắn, con đã hưởng được tha lực từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát. Đức Từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát ban cho, và được chư vị giúp đỡ mà con mới có được ngày hôm nay. Con xin thành tâm thành kính quỳ nơi đây dâng lòng chí thành chí kính tri ân. (1 lạy)

    Cầu an:

    Con xin thành tâm thành kính cầu nguyện sự an lành, an lạc, thanh bình, hạnh phúc cho cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng khắp các chúng sanh hữu tình, vô tình.

    Con cầu xin thập phương tam thế chư Phật, chư Bồ Tát, Đức Từ phụ A Di Đà Phật, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, và chư vị từ bi gia hộ, giúp đỡ để chúng con đồng được sự an lành, an lạc, tu hành đến Tri Kiến Giải Thoát, thoát khỏi sanh tử luân hồi, đồng xin nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Quốc (1 lạy)

    Cầu siêu:

    Con cũng thành tâm cầu siêu cho vong linh cửu huyền thất tổ, cha mẹ, tổ tiên, thân bằng quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp.

    Những vong linh liên hệ và không liên hệ đến con,

    Những vong linh con đã lỡ gây hại, sát hại trong quá khứ,

    Cho những vong linh tên: …………………….

    Cùng những vong linh mất trong chiến tranh, thiên tai, tật bệnh,và vì mọi lý do chưa được vãng sanh.

    Con thành tâm cầu nguyện xin tha lực từ bi của mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, cùng chư vị giúp đỡ để các vong linh được tiếp dẫn về nơi an lạc, siêu sanh Tịnh Độ (1 lạy)

    Sám hối:

    Nay con xin chí thành sám hối mọi tội lỗi con đã lỡ gây tạo từ nhiều kiếp cho đến nay, những tội con đã gây tạo trong kiếp sống hiện tại.

    Những tội con gây tạo do bởi vô tình hay cố ý, gây hại, sát hại đến nhân mạng, đến giới hữu tình hoặc vô tình, những tội do bởi Tham, Sân, Si, do bởi ngã mạn, vô minh che lấp.

    Từ nay, mỗi ngày con xin kiểm soát hành động, tư tưởng để sám hối, sửa sai và xin nguyện giữ mình không tái phạm.

    Hết thảy các tội, con xin chí thành quỳ nơi đây dâng lòng sám hối. Xin chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát chứng minh cho lòng thành của con. (1 lạy

    Hồi Hướng/Phát Nguyện:

    Sám hối rồi, nay con xin nguyện tiếp tục tu học, tu hành, hướng tâm tu để thoát khỏi sanh tử luân hồi. Làm việc lợi mình lợi người.

    Con xin hồi hướng, chia xẻ Công Đức đến cha mẹ, thân nhân……(tên………) Đến chư Thiên, chư Thần, chư Thánh, chư Hộ Pháp và chư vị đã giúp đỡ cho con.

    Đến những vong linh mà con đã lỡ gây hại, sát hại. Cùng tất cả các vong linh chưa được vãng sanh và pháp giới chúng sanh.

    Con nguyện dâng lòng thành kính tri ân, quy y Tam Bảo. Cầu xin Chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật , Đức Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ để con và chúng sanh đồng được duyên lành tu học thoát khỏi sanh tử luân hồi, trên tri ân chư Phật, dưới cứu độ chúng sanh. Chúng con đồng xin nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Quốc (3 lạy)

    Lưu ý khi sám hối:

    Nên nhớ chi tiết các tội mình đã làm trong những năm tháng quá khứ. Nhớ đến những lỗi lầm trong thời gian hiện tại, rồi hướng tâm lên chư Phật, lên Đức Quan Thế Âm Bồ Tát xin chứng minh cho lòng thành Sám Hối của mình. Để từ nay xin thành tâm tu học, cầu nguyện xin được thoát khỏi sinh tử luân hồi. Xin nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Quốc

    Sau khi suy nghiệm về lỗi lầm của mình và đọc bài Sám Hối xong. bạn phải phát tâm thực hành tu học, giữ tâm ý của mình trong Tình thương, Bình đẳng và Trí tuệ, chứ không nên để tâm của mình trong ý niệm mặc cảm tội lỗi. Như vậy sẽ giúp bạn cảm thấy thanh thản và yêu đời hơn.

    “Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật! (3 lạy)

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán thế Bồ Tát.

    Con xin kính lạy đức Viên thông Giáo chủ thuỳ từ chứng giám.

    Tín chủ con là …………………Tuổi………..

    Ngụ tại…………………

    Hôm nay là ngày… tháng…..năm…………… (Âm lịch)

    Tín chủ con thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Cửa hoa, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng.

    Cúi xin đước Đại sỹ không rời bạn nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo lợi, chở che cứu vớt chúng con và cả gia quyến như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao.

    Được anh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử con cùng toàn thể gia quyến ba tháng đông, chín tháng hè luôn được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vương tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

    Tín chủ con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật! (3 lạy)”

    -Hết-

    Cách thời cúng Phật Bà Quan Âm tại nhà

    Khi thờ cúng mẹ Quan Âm tại nhà, gia chủ cần chú ý các điều sau đây:

    • Chọn hướng để bàn thờ: Bàn thờ luôn luôn được đặt sao cho hướng ra cửa chính để tạo sự trang nghiêm, tôn kính và hợp phong thủy.
    • Cách bài trí vật dụng trên bàn thờ: Chính giữa bàn thờ chúng ta đặt một bức tượng Phật Bà Quan Âm. Đặt bát hương ngay sát phía dưới chân Phật. Bát hương cần để ngay chính giữa không nên để lệch. Hai cây đèn đặt hai bên bàn thờ và có hai ly nước bên cạnh. Cùng với đó là hai đĩa hoa quả và hai bình hoa ở phía sau. Như vậy là chúng ta đã bài trí xong bàn thờ cúng Phật Bà Quan Thế Âm.
    • Cách cúng mẹ Quan Âm: Vào mỗi buổi sáng, trước khi thắp hương, cần mặc áo tràng đánh 3 tiếng chuông và lạy ba lạy. Mỗi tối khi đã tắm rửa sạch sẽ, chủ nhân sẽ tiến hành thắp hương và đánh 1 hay 3 tiếng chuông kết hợp với đọc kinh phật nếu muốn.

    Các điều cần lưu ý khi thờ cúng Phật Bà Quan Âm

    • Các bạn cần chú ý thay nước trên bàn thờ thường xuyên. Nước được dùng ở đây là nước thanh lọc, nước tinh khiết chứ không được dùng bất kỳ loại nước nào khác.
    • Lau chùi bàn thờ thường xuyên để đảm bảo lúc nào cũng sạch sẽ. Tàn nhang nên được dọn dẹp hàng ngày.
    • Tránh để hình tượng Phật Bà hay thờ Phật Bà trong phòng ngủ riêng. Bởi vì thờ cúng là việc làm trang nghiêm, tôn kính. Nên cần lựa chọn những nơi đảm bảo trang nghiêm, sang trọng để bày tượng Phật.
    • Nên đặt bàn thờ Tượng Phật Bà Quan Âm ngang hàng hay thấp hơn bàn thờ Gia Tiên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thỉnh Mẹ Quan Âm Ngày Nào Tốt ? Cách Thỉnh Phật Bà Quan Âm Về Nhà .
  • Văn Khấn Cúng Phật Tại Gia Và Lễ Chùa
  • Dọn Bàn Thờ Trước Hay Sau Khi Cúng Ông Táo Tết Năm 2021【Chuẩn Nhất】
  • Nên Lau Dọn Bàn Thờ Trước Hay Sau Khi Cúng Ông Công Ông Táo?
  • Tư Vấn Đặt Bếp Và Chậu Rửa Hợp Phong Thủy
  • Bài Văn Khấn Cúng Mùng 1 Đầu Hàng Tháng Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Mùng 1, Bài Khấn Mùng 1 Hàng Tháng Cúng Gia Tiên, Thần Linh Tại Nhà
  • Văn Khấn Mồng 1, Ngày Rằm Hàng Tháng
  • Văn Khấn Mùng 1/6 Âm Lịch
  • Bài Văn Khấn Cúng Tổ Tiên Ngày Mùng 1 Tết Kỷ Hợi 2021 Được Tìm Kiếm Nhiều
  • Văn Khấn Cúng Tổ Tiên Ngày Mùng 1 Tết Kỷ Hợi 2021 Chuẩn Nhất
  • Ý nghĩa văn khấn cúng mùng 1 đầu tháng

    Ngày mùng 1 đầu tháng luôn là thời điểm quan trọng nhất trong tháng. Theo phong tục của cha ông ta, ngày mùng 1 được gọi là ngày sóc. Bởi đây là ngày bắt đầu của một tháng mới nên được gọi là ngày sóc. Để một tháng làm ăn được thuận lợi, suôn sẻ. Trước mắt ngày mùng 1 phải thật suôn sẻ và may mắn đã.

    Cha ông ta luôn có câu “đầu xuôi thì đuôi lọt” là vì vậy. Nếu ngày đầu tháng mà xảy ra biến cố gì. Tâm trạng của chúng ta sẽ luôn bất an và lo nghĩ. Từ đó dẫn đến cả tháng đó sẽ làm ăn không được thuận lợi. Những quyết định được đưa ra trong tháng đó cũng hầu như không mấy khả quan. Chính vì lẽ đó mà ngày mùng 1 đầu tháng luôn rất được mọi người chú tâm và thờ cúng rất cẩn thận.

    Một phần thờ cúng ngày mùng 1 là để tạ ơn thần linh đã phù hộ độ trì cho một tháng đã qua làm ăn suôn sẻ. Một phần là để cầu xin một tháng mới với nhiều may mắn và suôn sẻ hơn. Vì vậy một bài văn khấn ngày mùng 1 cũng rất quan trọng để trình bày những tâm tư, nguyện vọng đến các vị thần linh. Ngoài ra thì lễ vật cúng ngày mùng 1 cũng cần được chuẩn bị cẩn thận. Không cần quá cầu kì và tốn kém. Tùy vào điều kiện từng gia đình. Nhưng quan trọng nhất là phải có tâm là thần linh sẽ phù hộ.

    Những điều nên kiêng kỵ vào ngày mùng 1 đầu tháng

    Ngày mùng 1 đầu tháng luôn rất được kiêng kỵ. Đặc biệt với những người làm ăn kinh doanh thì ngày mùng 1 cần phải kiêng kỵ những điều không may mắn. Để tránh được những điều không may trong cả tháng đó. Điều này là hết sức cần thiết, vì vậy ngay cả bạn không làm kinh doanh cũng nên kiêng kỵ. Cha ông ta đã có câu: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành” là vì vậy.

    Kiêng cắt tóc, cắt móng tay

    Rất nhiều người thường hay thắc mắc về vấn đề này. Cũng có nhiều quan điểm khác nhau về việc nay. Có những người thì sẽ kiêng kỵ hoàn toàn việc cắt tóc hoặc cắt móng tay vào ngày mùng 1 hàng tháng. Tuy nhiên, cũng không ít người không mấy để ý về việc này cho lắm. Họ chỉ quan điểm việc cắt tóc hoặc cắt móng tay là việc cần thiết. Tùy điều kiện mà cắt sao cho hợp lý.

    Tuy nhiên, thì việc kiêng cắt tóc, cắt móng tay ngày mùng 1 đầu tháng là cần thiết. Từ xa xưa, cha ông ta đã quan niệm rằng cái răng cái tóc là góc con người. Tình trạng tóc ra sao cũng sẽ phản ánh phần nào tình trạng sức khỏe con người. Vì vậy, việc cắt tóc ngày mùng 1 đồng nghĩa với việc bạn đang cắt bớt đi vận may của mình. Từ đó làm hao tổn tài lộc và sức khỏe của bản thân. Việc cắt móng tay cũng được kiêng kỵ như là cắt tóc. Không nên làm những việc này vào ngày mùng 1 đầu tháng. Nên làm trước hoặc sau ngày mùng 1 thì sẽ tốt hơn.

    Những món ăn kiêng ăn vào ngày mùng 1 đầu tháng

    Vào ngày mùng 1 đầu tháng, việc ăn uống cũng thường được nhiều người kiêng kỵ rất cẩn thận. Sẽ có một số món ăn sẽ mang ý nghĩa không may mắn khi ăn. Có thể là do mọi người truyền tai nhau. Cũng có thể đó là do ông cha ta để lại kinh nghiệm.

    Việc kiêng những món ăn như trên dù chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh là sẽ tránh được xui xẻo. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên kiêng để tâm lý được thoải mái. Còn những việc gì cần đến thì vẫn sẽ xảy ra thuận theo tự nhiên.

    Kiêng cho vay và vay tiền ngày mùng một

    Việc cho vay tiền và đi vay tiền vào ngày mùng một cũng là một việc hết sức tế nhị. Hầu như sẽ không ai muốn cho bạn vay tiền vào ngày mùng một đầu tháng cả. Và bạn chắc chắn cũng không muốn móc hầu bao ra để cho người khác vay tiền vào ngày mùng một.

    Bởi theo quan niệm của mọi người, việc cho vay tiền vào ngày mùng một sẽ đồng nghĩa với việc bạn đang xuất tiền cho người khác. Và cả tháng đó tiền của bạn cũng sẽ tiêu tan hết. Còn nếu bạn đi vay tiền vào ngày mùng một đầu tháng, thì đồng nghĩa với việc cả tháng đó bạn cũng sẽ chỉ đi vay tiền của người khác. Và thực sự điều đó không tốt một chút nào cả.

    Kiêng kỵ làm đổ vỡ đồ đạc ngày mùng một

    Mọi người luôn quan niệm ngày mùng một suôn sẻ thì cả tháng sẽ suôn sẻ và thuận lợi. Vì vậy, việc đổ vỡ đồ đạc trong nhà vào ngày mùng một chính là một việc xui xẻo. Điều đó sẽ kéo theo điềm báo về cả tháng đó bạn sẽ gặp những điều xui xẻo như vậy. Ngoài ra, thì việc đổ vỡ còn mang ý nghĩa về sự chia ly trong những mối quan hệ của bạn.

    Kiêng gặp gái hoặc người nặng vía

    Nếu gặp ai đó và thường xuyên bạn gặp xui xẻo. Thì những người đó sẽ bị xếp vào những thành phần nặng vía. Và bạn sẽ cần hạn chế gặp những người như vậy vào ngày mùng một đầu tháng. Tránh xui xẻo cả tháng.

    Thêm vào đó là việc gặp gái hoặc quan hệ với con gái vào ngày mùng một đầu tháng cũng rất được hạn chế. Những người đàn ông làm ăn kinh doanh sẽ rất kiêng kỵ việc này vào ngày mùng một đầu tháng. Bởi họ luôn quan niệm rằng đàn bà rất rắc rối và mang lại những điều không may.

    Kiêng thăm bà đẻ đầu tháng

    Cha ông ta đã có câu “sinh dữ tử lành” với ý nghĩa rằng việc gặp bà đẻ chưa đầy tháng sẽ là điều không may mắn. Do đó, đối với những người làm ăn kinh doanh, họ rất kiêng kỵ điều này. Họ sẽ thường thăm bà đẻ sau khi đã qua ngày đầy tháng. Và đặc biệt không thăm vào ngày mùng một đầu tháng. Họ quan niệm rằng gặp bà đẻ sẽ mang lại điềm không lành cho họ.

    Lễ vật và văn khấn ngày mùng một đầu tháng

    Lễ vật cần chuẩn bị

    Những lễ vật cần chuẩn bị để cúng mùng một thường sẽ không quá cầu kì. Ngoài ra cũng tùy thuộc vào điều kiện tài chính của mỗi người để sắm sửa lễ vật phù hợp. Quan trọng nhất là lòng thành và cái tâm khi cúng lễ vật lên các vị thần linh và tổ tiên.

    Lễ vật sẽ rất đơn giản, gồm có hương, trầu cau, hoa quả, tiền vàng, nước và rượu. Đa phần mâm lễ cúng vào ngày mùng một sẽ chỉ gồm những lễ vật cơ bản như vậy. Hãy dành chút ít thời gian để chuẩn bị lễ vật một cách chỉn chu nhất.

    Văn khấn ngày mùng một đầu tháng

    Nam mô Adidaphat! (ba lần). Con xin lạy chín phương trời, con lạy mười phương Chư Phật, con xin lạy Chư Phật mười phương. Xin kính lạy Hoàng thiên, các vị Hậu Thổ và chư vị Tôn Thần. Con xin kính lạy ngài Đôn Thần Quân, ngài Bản gia thổ địa Long Mạch. Xin kính lạy ngài Ngũ Phương, ngài Ngũ Thổ, và ngài Phúc đức Tôn Thần. Con cũng xin kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần và các vị Tôn thần cai quản khu vực này.

    Chúng con là:………………………………. Ngụ tại:……………………………….. Hôm nay là ngày…. tháng… năm….., là ngày lành tháng tốt. Chúng con thành tâm kính dâng lễ vật lên các Ngài. Chúng con cúi xin các Ngài lắng nghe và thấu lời mời thương xót chúng con. Xin các ngài chứng giám lòng thành của chúng con, thụ hưởng lễ vật và phù trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc công việc hanh thông. Chúng con xin các ngài phù hộ độ trì cho người người được bình an, lộc tài tăng tiến, sở nguyện tòng tâm.

    Chúng con xin lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, chúng con cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô Adidaphat! (ba lạy).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn, Cúng Gia Tiên Ngày Mùng 1 Tết
  • Văn Khấn Ngày Tết: Bài Khấn Tại Gia Ngày Mùng Một Tết Nguyên Đán
  • Văn Khấn Mùng 1 Tết, Bài Cúng Mùng 1 Tết Gia Tiên, Thần Linh
  • Văn Khấn Mùng 1 Và Ngày Rằm Tháng 9 Âm Lịch
  • Bài Cúng Mùng 5 Tháng 5
  • Tin tức online tv