17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • Bài Văn Cúng Gia Tiên
  • Bài Văn Cúng Ngày Mùng Một Tết Nguyên Đán
  • Mẫu Những Bài Văn Cúng Khấn Trong Lễ Dâng Sao Giải Hạn
  • Đầy đủ 17 bài văn tế thập loại Cô Hồn dành cho chẩn tế âm linh cô hồn, chiến sĩ trận vong, đồng bảo tử nạn, chiêu hồn, giải oan bạt độ, cúng tế thí thực.

    KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn I)

    Trước cửa Phật lập đàn phổ thí,

    Cho trọn đều quân lợi âm dương,

    Quang minh tỏ khắp mười phương,

    Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào.

    Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp,

    Bóng mây từ che rợp mọi nơi,

    Lọt đâu dưới đất trên trời,

    Từ bi tế độ muôn đời viên thông.

    Trên đức Phật rất công rất chính,

    Dạy cho đời luyện tính tu tâm,

    Thương người đọa kiếp tối tăm,

    Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.

    Lòng từ mẫn mọi bề thương hết,

    Nay gặp ngày Đản tiết nên quy,

    Trước Đàn tề chỉnh oai nghi,

    Tuyên dương để chứng quy y thực hành.

    Hạnh giải thoát chúng sinh khổ não,

    Cõi Ta bà sáu đạo loanh quanh,

    Âm ty địa ngục đã đành,

    Dương gian địa ngục nỗi tình thêm thương.

    Nói không xiết trăm đường đày đọa,

    Rồi mang tai trát họa vào thân,

    Không sao khỏi nghiệp tham sân,

    Ăn quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.

    Nào những hạnh ranh ma quỉ quái,

    Dối lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?

    Bo bo giữ thói ở xằng,

    Cái dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.

    Nào những hạng lòng chim dạ thú,

    Ghét ghen nhau làm đủ tội tình,

    Khư khư quen thói chẳng lành,

    Cái vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.

    Nào những kẻ yếu đau què quặt,

    Phận hẩm hiu trời bắt chịu đày,

    Thật là khổ ách không may,

    Nào ai có muốn thân này thế đâu!

    Nào những kẻ âu sầu lòa lẫm,

    Số cưu mang câm điếc phải đành,

    Thực là khốn khổ thương tình,

    Ý ai chẳng muốn thân mình phong quang?

    Vì túc trái ngỡ ngàng sao đó,

    Hoặc tiền nhân nghiệp thọ thế nào,

    Thực lòng luống những lao đao,

    Cửa từ bi nỡ để ngơ sao đành.

    Thầy nay dạy thực hành chánh đạo.

    Dòng Thiền học Phật giáo chủ trương,

    Quang minh quảng đại vô lường,

    Ba thừa giáo hóa mọi phương thi hành.

    Giữ một mực chí thành tinh tiến,

    Dập các duyên hư huyễn hão huyền,

    Những môn tà đạo lưu truyền,

    Nay quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.

    Trước Đàn ngoại lễ nghi các thưùc,

    Trên đài sen tỏ đức huyên minh,

    Thầy đây lập nguyện chí thành,

    Tuyên dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.

    Hiện nay có chư Thiên hậu thổ,

    Cửa từ bi tế độ không cùng,

    Đạo tràng Thiền học lưu thông,

    Tu hành chân thật thủy chung một lòng.

    Đàn phổ thí phẩm vật nghi tiết,

    Thầy dạy thêm cho biết công duyên,

    Những người quỳ trước Phật tiền,

    Đem câu nhân quả phổ truyền rộng ra.

    Dặn hết thảy gần xa thiện tín,

    Nên thành tâm phát nguyện quy y,

    Nương nhờ Tam bảo hộ trì,

    Ăn chay niệm Phật mà quy cho tròn.

    Xem nhân thế càn khôn che chở,

    Nhứt hoàn hương duyên nợ phong trần,

    Hỡi ai kết quả tạo nhân,

    Xem cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.

    Muốn xét lại cho hay nghiệp trước,

    Hiện thọ đây thấy được tỏ tường,

    Muốn mong kiếp nữa vẻ vang,

    Sự hành trì phải sửa sang tự giờ.

    Nhân mấy quả trong cơ chuyển hóa,

    Nhân có đầy thì quả mới nên,

    Thầy nay chỉ dẫn căn nguyên,

    Cõi dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.

    Ơn đức Phật lời vàng khuyên nhủ,

    Dạy chúng sinh tín thụ cho hay,

    Phúc thời vui vẻ như đây,

    Họa thời khổ não đọa đầy như trên.

    Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ-tát Ma ha tát.

    -Trích Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971

    Ngạ quỷ đói

    SÁM TRIỆU CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 2)

    Hỡi linh hồn trước sau tề tựu,

    Nghe lời khuyên để rũ tội mình,

    Quan Âm Địa Tạng oai linh,

    Thích Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.

    Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất!

    Noi tâm lành của Phật làm gương,

    Diêm La cực khổ trăm đường,

    Mau tu thì đặng Tây phương thâu về.

    Hỡi linh hồn chết chìm đáy biển,

    Và bao người độc dược bỏ thân!

    Tiếng chuông tỉnh thức dần dần,

    Đừng ham cõi tục trầm luân luân hồi.

    Hỡi các hồn chết thiêu chết chém,

    Hổ giảo thân bị yểm bị trù!

    Kíp tìm kinh kệ sớm tu,

    Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

    Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa,

    Chết phong ba chết giữa núi non!

    Nếu nghe chuông dục bon bon,

    Mùi hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.

    Hỡi hồn ơi! Vì tình chư Phật,

    Ta khuyên hồn đất Phật là nơi,

    Các hồn sẽ đặng thảnh thơi,

    Hưởng mùi hương Phật suốt đời đặng an.

    Hỡi hồn đã lỡ làng trót dại,

    Theo đàng taø quỉ quái yêu tinh,

    Nay đây khẩn nguyện chân kinh,

    Khuyên hồn phải rán sửa mình cho tinh.

    Hỡi hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,

    Nương gió mây thừa thải từ xưa!

    Hồn ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,

    Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

    Hỡi hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,

    Ngài ra ơn gột khổ sanh linh.

    Hỡi hồn bị bịnh bỏ mình,

    Và hồn dậy phá chân kinh loạn trần.

    Nghe ta kinh kệ giải phân,

    Cầu cho hồn đặng muôn phần yên vui.

    Hỡi hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,

    Ta khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,

    Mùi hương lư ngọc bổng trầm

    Khéo tu hồn sẽ an tâm giữa trời.

    Các hồn bị cá xơi, rắn cắn,

    Cùng những hồn số vắn vô danh,

    Hãy nghe kinh kệ ăn năn,

    Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

    Hỡi những hồn vì lời gièm xiểm,

    Nên hủy mình chết lụn căm gan,

    Sớm nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,

    Phật kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

    Nam mô độ hộ muôn hồn,

    Vì hồn trót dại quáng mù từ xưa.

    Kinh là phước, cầu đưa tội lỗi,

    Tu là lành, sám hối ngàn năm.

    Lạy cầu chư Phật từ tâm,

    Khẩn van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.

    Tiếng chuông ngân hương thơm giải thoát.

    Nước nhành dương rảy mát xác phàm,

    Hỡi hồn cư ngụ muôn am!

    Về đây hưởng thực cầu van sửa mình.

    Nam Mô Bộ Độ Đế Rị Già Rị Đa Rị Đát Đa Nga Đa Gia (3 lần)

    -Trích Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974

    -Bài dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.

    SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA

    (Thí thực cô hồn 3)

    NGUYỄN DU

    Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh ngắt xương khô;

    Não người thay buổi chiều thu!

    Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,

    Đường bạch dương bóng chiều man mát,

    Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

    Lòng nào lòng chẳng thiết tha?

    Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    Xót khôn thiêng phảng phất u minh!

    Thương thay thập loại chúng sinh,

    Phách đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.

    Hương khói đã không nơi nương tựa,

    Phận mồ côi lần lữa đêm đêm;

    Còn chi ai khá ai hèn,

    Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu!

    Tiết đầu thu dựng Đàn giải thoát,

    Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.

    Muôn nhờ Phật lực từ bi,

    Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

    Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,

    Chí những lăm cướp gánh non sông;

    Nói chi đương thuở thị hùng,

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

    Bỗng phút đâu mưa bay, ngói lở,

    Khôn đem mình làm đứa sất phu;

    Giàu sang càng nặng oán thù,

    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    Quỷ không đầu van khóc đêm mưa;

    Đã hay thành bại là cơ,

    Mà u hồn biết bao giờ cho tan!

    Nào những kẻ màn loan, trướng huệ,

    Nhưõng cậy mình cung quế Hằng nga;

    Một phen thay đổi sơn hà

    Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?

    Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi;

    Khi sao đông đúc vui cười,

    Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

    Thảm thiết nhẽ không hương, không khói,

    Hồn ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;

    Thương thay chân yếu tay mềm,

    Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.

    Nào những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngòi bút son thác sống ở đây;

    Kinh luân chất một túi đầy,

    Đã đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.

    Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

    Trăm loài ma mồ nấm chung quanh;

    Nghìn vàng không đổi được mình,

    Lầu ca, viện xướng, tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    Cô hồn thất thểu dọc ngang,

    Mạng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

    Nào những kẻ bày binh bố trận,

    Đem mình vào cướp ấn Nguyên nhung.

    Gió mưa sấm sét đùng đùng,

    Rải thây trăm họ, làm công một người.

    Khi thất thế cung rơi, tên lạc,

    Bãi sa trường, thịt nát máu rơi;

    Bơ vơ góc biển chân trời,

    Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

    Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau;

    Ngàn cây nội cỏ rầu rầu,

    Naøo đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú,

    Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn;

    Ruột rà không kẻ chí thân,

    Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

    Của phù vân dù có như không;

    Sống thời tiền chảy bạc ròng,

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn thương gì hàng xóm,

    Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm;

    Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm,

    Tàn hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp càu chữ quí,

    Dấn mình vào thành thị lân la;

    Mấy thu lìa cửa, lìa nhà,

    Văn chương đã chắc đâu mà chí thân?

    Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng?

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

    Anh em thieân hạ láng giềng người dưng.

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

    Bãi tha ma kẻ dọc người ngang;

    Cô hồn nhờ gởi tha hương,

    Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông;

    Gặp cơn giông tố giữa dòng,

    Đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán,

    Đòn gánh tra chín dạn hai vai;

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

    Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

    Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan;

    Nước khe cơm vắt gian nan,

    Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.

    Buổi chiến trận mạng người như rác,

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi;

    Lập lòe ngọn lửa ma chơi,

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

    Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

    Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;

    Ngẩn ngơ khi trở về già,

    Ai chồng con tá biết mà cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não,

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa;

    Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

    Rồi tháng ngày hành khất ngược xuôi;

    Thương thay cũng một kiếp người,

    Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

    Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc,

    Gởi mình vào chiếu rách một manh;

    Nấm xương chôn rấp góc thành,

    Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

    Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha;

    Lấy ai bồng bế xót xa.

    U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

    Cũng có người sẩy cỗi sa cây;

    Có người gieo giếng thắt dây,

    Ngược trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,

    Người thì mắc sơn tinh thủy quái,

    Người thì sa nanh sói ngà voi;

    Có người hay đẻ không nuôi,

    Có người sa sẩy, có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

    Cầu Nại hà kẻ trước người sau;

    Mỗi người một kiếp khác nhau,

    Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ, dọc bụi,

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây;

    Hoặc là điếm cỏ bóng cây,

    Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ.

    Hoặc là nương thần từ Phật tự,

    Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông;

    Hoặc là trong quảng đồng không,

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

    Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,

    Ruột héo khô, dạ rét căm căm;

    Dãi dầu trong mấy mươi năm,

    Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương;

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

    Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra;

    Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

    Có khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.

    Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,

    Bóng hào quang cứu khổ độ ưu;

    Rắp hòa tứ hải quần chu,

    Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

    Nhởn nhơ Tiêu Diện đại vương,

    Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

    Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,

    Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;

    Mười loài là những loài nào,

    Gái trai, già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như bào như ảnh,

    Có chữ rằng: vạn cảnh giai không;

    Ai ơi lấy Phật làm lòng,

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

    Của có chi bát nước nén nhang;

    Gọi là manh áo thoi vàng,

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đấy dưới trên ngồi lại,

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu:

    Phép thiêng biến ít thành nhiều,

    Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ,

    Chớ ngại rằng có có không không;

    Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

    Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

    -Trích Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1973

    VĂN TẾ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 4)

    TRÀ AM VIÊN THÀNH

    Tượng nghe đại địa sơn hà,

    Luống trong sinh tử cửa nhà vốn không.

    Cô hồn hoạnh tử yểu vong,

    Nương thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.

    Trên thì tướng tướng, vương công,

    Dưới thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.

    Gái trai những kẻ tôn ti,

    Hoặc là tử trận, có khi oan tình.

    Hoặc là vương pháp gia hình,

    Uống trúng độc dược hại mình tự nhiên.

    Sa cơ sống gió chìm thuyền,

    Lỡ làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.

    Xà thương hổ đả hải hùng,

    Huyết hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!

    Hoặc là mắc phải thiên lôi,

    Vong thân chú trớ bồi hồi mạng chung.

    Hoặc là đường sá lỡ làng,

    Mắc phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.

    Hà sa phẩm loại khôn cùng,

    Lòng thành tín chủ mời chung các loài.

    Từ rằng theo bóng Như lai,

    Đã không cứu vớt lấy ai nương nhờ.

    Từ đường đâu có phụng thờ,

    Cô đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.

    Thảm thương mặt nước cung mây,

    Rả rời xương thịt, hồn bay lạc loài.

    Chẳng hay thử vãng hàn lai,

    Bốn mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.

    Thân bằng ít kẻ tri âm,

    Lấy ai cứu vớt mà hòng thoát ly!

    Thảm thương về chốn thổ ty,

    Luôn trong diểu diểu lấy gì mà ra!

    Nương nhờ tín chủ toàn gia,

    Thọ tài hưởng thực mà qua Liên trì.

    Từ rằng vâng phép từ bi,

    Siêu phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.

    Sớm khuya cửa Phật ân cần.

    Phù trì gia chủ thừa ân những ngày.

    Đừng còn theo thói mê say,

    Tham lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.

    Nam mô đức Phật Di Đà,

    Phóng quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.

    Trước triệu thỉnh lủy triều đế chủ,

    Trên ngai vàng trải nối hầu vương.

    Chín tầng điện các đài gương,

    Nước non muôn dặm, mười phương cầm quyền.

    Nghìn năm vương khí danh truyền.

    Xe loan để tiếng oán phiền chưa thôi!

    Tiếng quyên kêu nguyệt bồi hồi,

    Gành đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.

    Tiền vương hậu bá khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,

    Đấng hiền lương trí dũng khôn ngoan.

    Giá trong tieát trắng làm quan,

    Một lòng báo quốc nên trang đan thành.

    Nam châu bắc huyện thơm danh,

    Theo nơi tang thác bỏ đành quê hương.

    Thiên nhai hải giác khôn lường,

    Sa cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.

    Than ôi! Những đấng anh tài,

    Theo dòng thệ thủy cách đài dương quan.

    Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

    Chức phong hầu đứng trước muôn dân.

    Sức dời bảo đỉnh nghìn cân,

    Trường thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.

    Trước hùm sương nhiễm, ghê thay!

    Sa cơ một phút đổi thay công hầu.

    Thương ôi người ngựa ở đâu,

    Xui nên họa cả thảm sầu khôn dung.

    Xiết bao tướng súy anh hùng,

    Lánh nơi vinh hiển theo cùng âm ty.

    Những người sa trụy bất kỳ,

    Nghe lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.

    Lại thỉnh kẻ văn nhân tài tử,

    Chốn thư phòng cửa Khổng vào ra,

    Bút nghiên kinh sử ngâm nga,

    Văn chương tu luyện đợi khoa nương mình.

    Mơ màng lấp lóa đèn huỳnh,

    Công phu khổ dụng đăng trình gặp khi.

    Mười năm tân khổ mong thi,

    Naøo hay một phút xa kỳ công danh!

    Hồng lô tính tự rành rành,

    Đất vàng một nấm lấp thành văn chương.

    Văn nhân tài tử không lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,

    Nương rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.

    Cao Tăng quyết chí tinh tu,

    Trăm năm giới luật công phu dùi mài.

    Giữ gìn phạm hạnh hôm mai,

    Tỳ-kheo Ni chúng khác người thế gian.

    Hoàng hoa, thủy trúc luận bàn,

    Không đàm bí mật nên mang thế tình.

    Bóng đèn lấp lóa hư minh,

    Than ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.

    Nghe lời Bát nhã, Phạm âm,

    Truy y Thích tử lại lâm đáo đàn.

    Lại thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,

    Chốn Bồng lai sớm luyện đan tiên.

    Nương theo thạch động đào nguyên,

    Tu tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.

    Danh thơm chưa nức trong đời.

    Vô thường khi đã đổi dời công phu.

    Thương ôi! Sương tuyết dãi dầu,

    Tiêu điều gió thảm hoa sầu hơi sương.

    Huyền môn đạo sĩ khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,

    Với những kẻ lâm trận kiện nhi.

    Cầm bạch tiết, vác hồng kỳ,

    Tức gan quyết chí trận kỳ hơn thua.

    Trung thành hết sức phò vua,

    Nào hay một phút xa đưa dặm trường.

    Thương ôi! Huyết lụy sa trường,

    Thà ôm xương trắng để đường cho ai!

    Trận vong binh sĩ an tài,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,

    Chốn lâu đài khuê các vào ra.

    Ướp xông hương xạ diềm dà,

    Phấn thoa sáp đánh màu da khác người.

    Mặt hoa mày liễu tốt tươi,

    Hình dung yểu điệu, miệng cười như hoa,

    Hồn tiên kim ốc vào ra,

    Hoa tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!

    Thương ôi! Ngọn gió thổi sầu,

    Đống xương khô héo dãi dầu cỏ sương.

    Quần thoa phụ nữ khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,

    Trải tháng ngày mua bán tranh đua.

    Đổi dời lừa tráo hơn thua,

    Đào công nối nghiệp bán mua so lường.

    Chẳng ngờ nổi trận phong sương,

    Mình vào ngư phúc dương trường, khốn thay!

    Hồn dời bể bắc dặm dài,

    Phách về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.

    Tha hương lữ khách lỡ thời,

    Nghe lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,

    Chịu đắng cay tọa thảo tam triêu;

    Bằng khi loan phụng hòa yêu,

    Hùng bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.

    Gái trai còn hãy chưa hay,

    Đêm trường mẫu tử, phút này giai quy.

    Thương ôi! Hoa nở chính kỳ,

    Nào hay một phút gặp khi mưa dầm.

    Huyết hồ sản nạn lỗi lầm,

    Nghe lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ nhung di man địch,

    Tiếng chẳng thuần ngọng lịu như câm.

    Lại còn trong dạ hiểm thâm,

    Cưu điều hung dữ lưu tâm hại người.

    Khinh khi Tam bảo chê cười,

    Tội khiên chất để bằng mười hà sa.

    Ngổ ngang mắng mẹ khinh cha,

    Ác cao như núi chết mà không tha.

    Chẳng may hồn phách la đà,

    Mịt mờ vũ trụ bao là đớn đau!

    Thương ôi! Ẩn ẩn phương nào,

    Ngày xuân chẳng thấy ra vào u quan!

    Hỡi người bội nghịch si ngoan,

    Nghe lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,

    Bị lao tù mắc phải gia hình.

    Gặp cơn thủy hỏa bất bình,

    Một đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.

    Nghìn năm oan khí chưa xong,

    Linh hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.

    Trời xanh tiếng hạc rộn ràng,

    Gió lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!

    Mấy người hoạnh tử xưa nay,

    Nghe lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.

    -Trích Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha Trang, 1972

    1 Câu này thỉnh kẻ cô hồn hoạnh tử khi lâm sản hoạc bị sẩy thai, sút thai.

    SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

    (Thí thực cô hồn số 5)

    Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

    Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

    Tiệc chay cúng thí vừa xong

    Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

    Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

    Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

    Cam lồ rưới khắp mười phương

    Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

    Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

    Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

    Từ rày bá tánh bình yên

    Phước lành để lại trong miền nhân gian

    Tuổi đời lộc nước chứa chan

    Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

    Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

    Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

    Vinh hoa phú quí đủ điều

    Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

    Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

    Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

    Đến khi trăm tuổi mạng chung

    Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

    A Di Đà Phật phóng quang

    Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

    Khổ đau biển cả chập chùng

    Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

    Đài sen hoa nở vãng sanh

    Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

    Từ đây bỏ việc hơn thua

    Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

    – Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

    VĂN TẾ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn số 6)

    Hỡi ôi !

    Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,

    Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.

    Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,

    Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.

    Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,

    Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.

    Nên phải mang phiền não dập dồn,

    Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.

    Cầu chư Phật oai thần tế bạt,

    Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.

    Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,

    Xin chư vị tề lai thọ hưởng.

    Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,

    Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,

    Độ mười phương sanh chúng bình yên,

    Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.

    Lụy trào đế hầu vương đáng kính,

    Vận nước vong khó tính mưu thành.

    Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,

    Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.

    Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,

    Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.

    Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,

    Nơi dương thế âm dung đà khuất.

    Tài bút nghiên văn thần báo quốc,

    Tấm lòng son công chất nhà vàng.

    Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,

    Rồi một thuở danh vang tể tướng.

    Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,

    Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.

    Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,

    Ba thước đất vùi danh tài tử.

    Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,

    Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.

    Đèn tắt khuya Thiền thất hư minh,

    Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.

    Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,

    Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.

    Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,

    Chí chưa toại tầm đàng Địa phủ.

    Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,

    Tại trận tiền củ củ oai hùng.

    Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,

    Lằn tên đạn không dung tánh mạng.

    Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,

    Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.

    Sóng ba đào phong võ khó lường,

    Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.

    Mười tháng chẵn mang con trong dạ,

    Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.

    Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,

    Hoa mới nở vội liền mưa gió.

    Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,

    Công sanh thành chưa rõ cao dày.

    Hoặc huyền lương độc dược ra tay,

    Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.

    Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,

    Thác giữa đàng không đất gởi thây.

    Hồn dật dờ theo gió theo mây,

    Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.

    Người nghèo khó đốn cây non lãnh,

    Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.

    Bị độc trùng ác thú hổ lang,

    Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.

    Người lương thiện tao phùng tật đố,

    Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.

    Oan hồn tìm đến chốn u thâm,

    Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.

    Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,

    Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.

    Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,

    Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.

    Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,

    Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.

    Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,

    Hồn lìa cách dương trần rất thảm.

    Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,

    Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !

    Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,

    Rủi một phút thân thiêu tro bụi.

    Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,

    Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.

    Mạng số suy, thần tử chẳng tha,

    Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.

    Khi bão tố đá cây ngã liệt,

    Sập cửa nhà đè chết nào hay.

    Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,

    Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.

    Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,

    Chấn động miền non núi đất liền.

    Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,

    Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.

    Bị xe cán nát thây rùng rợn,

    Vận kiếp xui họa lớn nào hay.

    Bà con trông than khóc thảm thay,

    Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.

    Vì ái dục si tình tự tử,

    Cơn đắm mê nào sợ tội mang.

    Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,

    Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.

    Ít phước đức họa tai lôi kéo,

    Đời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,

    Trên giàn cao ngã té bất kỳ,

    Thân tan nát hồn phi phách tán.

    Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,

    Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.

    Thảm thương cho hồn phách linh đinh,

    Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.

    Người lương thiện chết oan điên đảo,

    Vì đạn tên lạc náo xóm làng.

    Oan hồn cam vào chốn nguy nan,

    Chịu u ám, xa đàng giải thoát.

    Bị khổ bức vì tình đen bạc,

    Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.

    Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,

    Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !

    Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,

    Đoạt của rồi giết chủ thác oan.

    Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,

    Kết thù oán khôn toan siêu độ.

    Đời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,

    Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.

    Phách hồn oan lạc lối u minh.

    Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.

    Đời giặc giã nghịch thù vô tận,

    Chôn sống người giữa đám đồng hoang.

    Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,

    Trong giây phút dương gian cách biệt.

    Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,

    Trói lương dân thù ghét quăng sông.

    Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,

    Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.

    Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,

    Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.

    Hồn phất phơ nơi chốn long đong,

    Biết bao thuở thoát vòng khổ não.

    Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,

    Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.

    Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,

    Bà con thấy, ai bi thống thiết !

    Người tắm biển tắm sông biệt tích,

    Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.

    Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,

    Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.

    Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,

    Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.

    Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,

    Rủi một phút hồn phi phách tán.

    Còn nhiều loại hồn oan ta thán,

    Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,

    Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,

    Đương xiêu lạc khắp nơi khổ não.

    Lời thiển bạc nay đà trần tố,

    Thương xót thay nỗi khổ các vì.

    Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,

    Xin sám hối tiền phi hậu quá.

    Xét tội lỗi oan khiên vay trả,

    Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,

    Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,

    Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.

    Quy y Phật tịnh yên hồn phách,

    Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.

    Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,

    Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.

    Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,

    Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.

    Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,

    Độ chư vị thoát đàng khổ não.

    Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,

    Thập Điện đồng mở đạo Từ bi.

    Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,

    Đức Địa Tạng đại bi cứu rỗi.

    Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,

    Vãng sinh miền Tịnh Độ thảnh thơi.

    Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,

    Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.

    Nam mô A Di Đà Phật.

    VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

    CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN

    (Thí thực cô hồn số 7)

    Hỡi chư chiến sĩ trận vong !

    Hỡi chư lương dân tử nạn !

    Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,

    Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

    Người sanh trên thế ai không chết,

    Để tấm lòng son rạng sử xanh.

    Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,

    Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.

    Chí trung cang nghĩa khí sắc son,

    Gương Thánh Đế nay còn nêu đó !

    Nợ nước non ai ai cũng có,

    Phận công dân giao phó phải mang.

    Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,

    Phải đáng bực trung thần liệt nữ.

    Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,

    Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.

    Nay tuy là u hiển biệt ly,

    Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,

    Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,

    Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.

    Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,

    Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.

    Thôi nợ nước nay đà tận báo,

    Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.

    Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,

    Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,

    Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,

    Rửa cừu oan diệt tất não phiền.

    Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,

    Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác

    Sen chín phẩm nở ra trước mắt,

    Hết tử sanh quả Phật thấy liền.

    Hỡi các vì hồn có linh thiên,

    Nơi chín suối khá liền sám hối,

    Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,

    Dắt dìu ra khỏi lối u minh.

    Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,

    Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.

    Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,

    Lập đức công báo bổ tứ ân,

    Lời thiết tha đạo đức phân trần,

    Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

    ĐỒNG BÀO TỬ NẠN.

    (Thí thực cô hồn số 8)

    Hỡi ôi !

    Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,

    Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,

    Chúng sanh phải chịu khổ nguy,

    Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.

    Việc may rủi biết đâu chọn lánh,

    Nhận làm người mang gánh sự trần,

    Tam cang mới nặng muôn cân,

    Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.

    Lẽ sống thác là tùy số phận,

    Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,

    Mình là bổn phận con dâu,

    Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.

    Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,

    Giận quân thù chí dốc tòng quân,

    Ra đi dạ luống bâng khuâng,

    Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.

    Khi lặn suối trèo non vượt bể,

    Khi lên truông qua ải xuống đèo,

    Đai cơm, bầu nước, gươm đeo,

    Chút thân sống thác do theo số trời.

    Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,

    Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,

    Nhớ con thổn thức canh gà,

    Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.

    Khi sớm tối ai vào thăm viếng,

    Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?

    Đêm ngày giọt lệ chứa chan,

    Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.

    Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,

    Đánh liều theo máy tạo vần xoay,

    Trước cờ da ngựa bọc thây,

    Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!

    Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,

    Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,

    Con thơ vợ yếu lao nhao,

    Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?

    Đêm tủi phận dở dang duyên nợ,

    Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,

    Trông cho chiến thắng khải hoàn,

    Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.

    Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,

    Cùng anh em chung chạ một nhà,

    Xóm làng cô bác ông bà,

    Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.

    Người muốn vậy không hề được vậy,

    Bãi trường sa thịt nát máu tơi,

    Tên rơi đạn lạc hết đời,

    Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!

    Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,

    Dưới hố hầm chân núi cội cây,

    Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,

    Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.

    Ai có phước thi hài chôn lấp,

    Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,

    Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,

    Đến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?

    Vợ con với mẹ cha đâu biết,

    Chừng hay tin thì việc đã rồi,

    Nợ trần phủi sạch ai ôi,

    Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !

    Khen anh dũng xông pha tên đạn,

    Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,

    Sống làm Tướng, thác làm Thần,

    Non sông gánh vác tử phần đao binh.

    Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,

    Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,

    Trận vong chiến sĩ vì đời,

    Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.

    Nén hương đốt gội nhuần trước án,

    Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,

    Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,

    Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.

    Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,

    Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,

    Hồi đầu nương cửa từ bi

    Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.

    Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,

    Phật mười phương quảng đại độ siêu,

    Nương đàn chẩn tế tiêu dao,

    Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.

    SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

    (Thí thực cô hồn số 9)

    Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

    Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

    Tiệc chay cúng thí vừa xong

    Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

    Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

    Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

    Cam lồ rưới khắp mười phương

    Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

    Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

    Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

    Từ rày bá tánh bình yên

    Phước lành để lại trong miền nhân gian

    Tuổi đời lộc nước chứa chan

    Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

    Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

    Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

    Vinh hoa phú quí đủ điều

    Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

    Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

    Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

    Đến khi trăm tuổi mạng chung

    Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

    A Di Đà Phật phóng quang

    Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

    Khổ đau biển cả chập chùng

    Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

    Đài sen hoa nở vãng sanh

    Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

    Từ đây bỏ việc hơn thua

    Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

    – Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

    VĂN TẾ LIỆT SĨ

    (Thí thực cô hồn 10)

    Hỡi chư Liệt sĩ ôi!

    Họa đao binh từng đốt nung đất Việt

    Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam

    Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông

    Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt

    Nhớ những anh hùng xưa!

    Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc

    Rửa nhục chung, sống chết đâu màng

    Chốn sa tràng, trải mật phơi gan

    Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết

    Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết

    Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương

    Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương

    Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt

    Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến

    Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng

    Đạn nổ súng rền, gió hơi bom,

    long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .

    Cờ phất còi reo, tiếng trống dục,

    chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.

    Dưới làn bom, thịt nát xương tan,

    Đành ngã gục không hề khuất tiếc.

    Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ,

    cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.

    Người chiến sĩ, đền xong nợ nước,

    trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.

    Đấng anh hùng, rửa sạch nhục chung,

    đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.

    Than ôi!

    Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.

    Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang

    Cảm thương người, tai nạn tràn lan

    Thương xót kẻ, uổng oan mất tích

    Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh

    Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh

    Nơi dạ đài, người tử si có linh

    Nương thể phách, về trai đàn chứng giám

    Hỡi ơi! Thương thay!

    Có linh xin chứng! Có linh xin chứng!

    – Trích soạn “Kinh Nhựt tụng” – Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.

    VĂN TẾ CÔ HỒN (II)

    (Thí thực cô hồn 11)

    Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê

    Cõi nhơn gian thủy lục ê chề

    Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán

    Trên đến bực vương hầu khanh tướng

    Dưới đến người sĩ cổ nông công

    Nào kẻ ty, nào người tôn

    Nào là nam, nào là nữ

    Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ

    Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng

    Hoặc sa hầm sa hang

    Hoặc trúng thang trúng dược

    Đau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn

    Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm

    Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều

    Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết

    Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt,

    Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi

    Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển

    Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,

    Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay

    Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai

    Mãn tám tiết vắng người đơm quảy

    Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu

    Mù mù mịch mịch, đường xuất lý m

    ảng đợi trông ngày tháng

    Hội vô giá may vừa gặp khoản,

    Nương theo công bí mật hôm nay

    Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh

    Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần

    Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi!

    Ngôi liên đài quanh quất bên thân

    Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt

    Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức

    Đã chứng vào trong bực vô sanh

    Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh

    Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.

    Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.

    – Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng – Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê – Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

    HỒI HƯỚNG TẾ VĂN

    (Thí thực cô hồn 12)

    Kiến văn như huyển ế

    Tam giới nhược không hoa

    Văn phục, ế căn trừ

    Trần tiêu, giác viên tịnh

    Phục dĩ,

    Nguyên chơn như thanh tịnh

    Tội tánh vốn là không

    Biển khổ rộng mênh mông

    Sóng quanh theo đuổi mãi

    Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải

    Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày

    Địa ngục đà thọ báo đắng cay

    Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát

    Đã chẳng có ngày giải thoát

    Ắt là không chỗ đặng siêu thăng

    Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân

    Để mở đặng đảo huyền dây ác thú

    Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú

    Thí ra trên tiệc cam lồ

    Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn

    Soi khắp trong đường minh giới

    Nào những mấy dòng mê cả thảy

    Khiến đều về cực lạc phương tây

    Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực

    Đem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi

    Diệm nhiên Đại sĩ một tay

    Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng

    Ngạ quỉ hằng hà sa số

    Vô lượng vô biên xiết kể biết bao

    Cúi xin từ kiếp bỏ liền

    Cho đến ngày tái thế

    Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để

    Rửa tội khiên phút đã sạch rồi

    Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức

    Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân

    Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ

    Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn

    Khắp nơi bủa chật thiết sàng

    Hiện pháp tòa Bồ đề là đó

    Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ

    Sái đề hồ cam lộ vào đây

    Gặp người trái chủ hôm nay

    Buổi đó hết đòi hết hỏi

    Nhóm kiếp oan gia buổi trước,

    Cùng nhau thôi vấn thôi vương

    Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương

    Lòng từ thiện minh quang bảo hộ

    Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ

    Nay thời nhập Thánh siêu phàm

    Nợ nhơn thân lụy thế hết còn

    Rày đã thừa ân giải thoát

    Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện

    Miền nhơn gian tứ tướng có chi

    Tu la đà bỏ cả sân si

    Địa ngục lại hết điều khổ não

    Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo

    Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng

    Giống làm sanh chật nức mười loài

    Lên bờ giác lánh nơi đường tối

    Khắp xin cả hữu tình một nỗi

    Quốc độ này, quốc độ nọ

    Và vô lượng các quốc độ thảy

    Cùng nhau chung chứng chơn thường

    Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài

    Thế giới đó, thế giới đây

    Và vô lượng các thế giới nào

    Buổi đó đều nên Phật đạo

    Tứ ân khắp báo

    Tam hữu đều nhờ

    Người trong pháp giới bao giờ

    Ai ai cũng đồng nên chưởng trí.

    – Trích soạn “Kinh Nhựt Tụng ” Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

    SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG

    (Thí thực cô hồn 13)

    Nam mô Từ phụ Di Đà,

    Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.

    Thương đời bá tánh vạn dân,

    Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.

    Thế gian mong được an nhàn,

    Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.

    Chết ao, khe, biển, suối, sông,

    Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.

    Gió giông bão tố thủy triều,

    Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.

    Hồn phi phách lạc mất rồi,

    Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.

    Cõi đời sanh tử mơi chiều,

    Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.

    Lại còn giặc giã đao binh,

    Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.

    Núi rừng đồng rộng biển sông,

    Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.

    Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,

    Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.

    Sông sâu biển rộng bốn phương,

    Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.

    Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,

    Độ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.

    Linh đinh hồn vía mịt mờ,

    Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.

    Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,

    Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.

    Hồn về cảnh Phật đề huề,

    Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.

    Quan Âm đại sĩ từ hàng,

    Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.

    Nguyện cho hồn đặng vui mừng,

    Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.

    Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,

    Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.

    Vớt vong khỏi chốn suối sông,

    Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.

    Đưa vong khỏi biển ba đào,

    Đến nơi bờ giác lên mau lạ thường.

    Nam Mô Địa Tạng Minh Vương,

    Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.

    Chúng sanh chìm đắm hải hà,

    Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.

    Nổi trôi khổ sở tấm thân,

    Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.

    Nam mô đức Phật Thích Ca,

    Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.

    Ở trong thế giới U Minh,

    Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.

    Nguyện ngài giáo chủ A Di,

    Độ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.

    Ở yên mát mẻ tu hành,

    Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.

    Nam mô Tịnh độ Lạc bang,

    Độ vong hồn đặng Tây phang mau về.

    – Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Độ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.

    – Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.

    VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ

    (Thí thực cô hồn 14)

    Bích Liên Pháp Sư

    SÁM TÁN KHÔ LÂU

    (Thí thực cô hồn 15)

    Bích Liên Pháp Sư

    Hôm qua đồng vắng ngoạn du

    Thấy liền Đại đức khô lâu một vùng

    Bốn bên ghê gốc bịt bùng

    Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh

    Dàu dàu âm khí lạnh tanh

    Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Quê người ở mé giang đầu thiu thiu

    Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu

    Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời

    Phèo phèo khí lạnh đòi nơi

    Anh em lai vãng, có người nào đâu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Ấy người quân tử ở đâu bên đường

    Nhà ai vang vọng đêm trường

    Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào

    Đau thay gan ruột như bào

    Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Đôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này

    Xiết thay, người thế ra chi

    Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm

    Ác vàng thỏ bạc xa xăm

    Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi

    Dần dà chi nữa người ơi

    Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma

    Hôm nay thiện tín trai gia

    Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”

    Lò vàng vừa bén mùi hương

    Đạo tràng mời khắp mười phương cô hồn

    Bao nhiêu tội chướng để dồn

    Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu

    Ân triêm phước lợi thắm mầu

    Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.

    – Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng năm 1940.

    – Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre

    TRẠO VĂN DIỄN ÂM

    (Thí thực cô hồn 16)

    Bích Liên Pháp Sư

    Hôm nay cúng thí trai đàn,

    Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.

    Quan Âm cứu khổ đã đành,

    Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.

    Niệm câu Mô Phật từ bi,

    Tuyên lời bí mật đức dày công cao.

    Độ người thập loại nao nao,

    Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.

    Trước đây triều đại còn truyền,

    Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.

    Hầu vương huân thích vang danh,

    Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.

    Trung cung, Tể chấp, đại quan,

    Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.

    Điềm hoa tươi đã vứt đi,

    Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.

    Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,

    Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.

    Chăn dân bủa hóa giữa giòng,

    Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.

    Đau lòng một chiếu thôi thương,

    Phải khi trích án sa trường biên bang.

    Hồn còn trìu mến giang san,

    Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.

    Người võ sĩ, kẻ nhung thần,

    Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.

    Băng xông trăm trận mũi vàng,

    Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.

    Đánh Nam dẹp Bắc tơi bời,

    Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.

    Tấm lòng vì nước mà vong,

    Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.

    Những người học cổ cùng kinh,

    Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.

    Bóng quang, hột tuyết dòm theo,

    Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!

    Ta đà mạng vận làm sao,

    Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.

    Hương hồn uất uất chi linh,

    Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.

    Những người cắt ái từ thân,

    Cửa không sớm đã chân lần vào trong.

    Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,

    Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.

    Trải bao lạnh nắng xoay quanh,

    Sự vô thường đã đến mình nào hay!

    Hồi quang soi chút bóng dày,

    Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.

    Những người võ phục huỳnh quan,

    Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.

    Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,

    Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.

    Lao thần khổ hạnh đòi phen,

    Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.

    Thôi đừng tiếc chút dị hình,

    Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.

    Những người con thảo cháu lành,

    Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.

    Những người liệt nữ trinh thê,

    Cái thân coi chết như về đâu đâu.

    Với người trọng tiết vong xu,

    Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.

    Hồn còn chói lọi linh thiêng,

    Đến đây hưởng thọ một diên cam lồ.

    Những người đạo nữ Ni đồ,

    Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.

    Phụng loan bỏ khống duyên phần,

    Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.

    Còn chưa liễu đặng vô vi,

    Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!

    Hồn người thăm thẳm thanh thanh,

    Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?

    Những người địa lý thiên văn,

    Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.

    Bói qui, dịch sủ qui vàng,

    Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.

    Mách người hung kiết biết bao,

    Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.

    Thôi rày xả ngụy qui chân,

    Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.

    Những người tọa mãi hành thương,

    Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.

    Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,

    Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.

    Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,

    Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.

    Một niềm lữ mộng vơi vơi,

    Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.

    Những người phạm pháp tạo hình,

    Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.

    Hại người toan lấy của người,

    Oan gia trái chủ trả đời nào xong!

    Người tật ác, kẻ tai hung,

    Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.

    Suối vàng kíp kíp đôi chân,

    Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.

    Những người ngựa đạp, xe thương,

    Vách đè thân nát như tương rã rời!

    Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.

    Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.

    Hoặc là thủy hỏa tai ương,

    Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.

    Hồn người bất hạnh trầm trầm,

    Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.

    Những người âm huyết dương mao,

    Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.

    Thi công mà trả nợ đày,

    Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.

    Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,

    Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.

    Hồn người oan khổ biết bao,

    Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.

    Những người ngỗ nghịch mẹ cha,

    Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.

    Những người chê Phật khinh Tăng,

    Đốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.

    Lắm điều tà kiến trầm mê,

    Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.

    Hồn người thật ác, thương ôi,

    Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.

    Cửa nhà đại thí mở ra,

    Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.

    Tiên vong hòa tổ hòa tôn,

    Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.

    Đường ba, nạn tám thiếu chi,

    Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.

    Cậy chưng Phật Pháp quang miên,

    Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.

    A Di Đà Phật Bồ Đề,

    Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,

    Đường mê trông thấy nhãn tiền,

    Đắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!

    Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,

    Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.

    Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,

    Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.

    – Đây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định soạn, khoảng năm 1940.

    – Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.

    VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 17)

    Bích Liên Pháp Sư

    Dấu người thập loại biết là đâu?

    Hồn phách mơ màng trải mấy thu,

    Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,

    Những mồ vô chủ thấy mà đau!

    Tịch mịch dạ canh thâm,

    Hoa Đàm bá phạm âm,

    Cô hồn văn triệu thỉnh,

    Bộ bộ tốc lai lâm.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Ác vàng tên ruỗi,

    Thỏ bạc thoi dong,

    Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,

    Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!

    Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,

    Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,

    Nghe lời triệu thỉnh đành rành,

    Hồn chơi trong cõi U minh xin về.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Màu non lờ lạc,

    Dòng nước thầm thì,

    Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,

    Người mới đó, chim rày đã lặn.

    Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,

    Đôi phen mời, linh sản ở đâu đây,

    Vong linh ơi hỡi có hay,

    Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Biển trần lênh láng,

    Sóng nghiệp lao xao,

    Người mê man trong giấc chiêm bao,

    May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.

    Sống chẳng niệm Di Đà Phật hiệu,

    Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,

    Đầy ba phen, hương thắp bảo đàn,

    Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.

    Xin vâng Tam Bảo pháp lành,

    Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.

    Về đây hưởng thọ hương huê,

    Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.

    – Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,

    Triều đại xưa, trải quá biết bao!

    Đền đài chín lớp ở cao,

    Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.

    Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,

    Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,

    Đỗ quyên kêu trót tàn canh,

    Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.

    Trước sau vương bá những là,

    Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.

    – Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

    Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,

    Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,

    Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.

    Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,

    Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,

    Ngựa xe chiến tướng vắng không,

    Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!

    Anh hùng tướng soái bao nhiêu,

    Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?

    – Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,

    Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.

    Ba năm thanh tiết làm quan,

    Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.

    Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,

    Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,

    Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,

    Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.

    Văn thần xiết kể muôn ngàn,

    Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.

    – Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,

    Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,

    Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,

    Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.

    Tan bữa đốm, tiếc dày công học,

    Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,

    Lụa hồng bảy thước đề tên,

    Đất vàng một cụm, lấp nền văn chương.

    Văn nhân biết mấy đâu lường,

    Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.

    – Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,

    Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,

    Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,

    Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.

    Làn hoa trúc, vài câu mật đế,

    Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,

    Tam canh song tẩm lạnh lùng,

    Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.

    Trung lưu này những bi ai,

    Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,

    Dòng vũ y phong cách nhà tiên,

    Tu chơn trong động đào nguyên,

    Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.

    Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,

    Đất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,

    Lò đơn lẫm quán lạnh sương,

    Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.

    Bao nhiêu đạo sĩ những là,

    Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.

    – Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,

    Đường bắc nam trải thử hành thương,

    Lợi quyền muôn dặm, toan đương,

    Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.

    Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,

    Bước đá mây, xương rã đường dê,

    Phách theo mây cuốn sè sè,

    Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Đông.

    Thương nhân, sau trước một dòng,

    Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,

    Sức phương cường, mình bận áo binh,

    Cờ điều phất bóng tương tranh,

    Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.

    Ruột gan nát, thao trường kim cổ,

    Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,

    Cát vàng văng vẳng tiếng ma,

    Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.

    Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,

    Đêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.

    – Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,

    Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,

    Trước mừng loan phụng hiệp bầy,

    Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.

    Vầng cung phụng, phút tường hung cát.

    Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,

    Nhành hoa nở, trận mưa tuông,

    Đường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.

    Những người sản nạn qui âm,

    Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,

    Với những người ú ớ điếc đui,

    Chết mình, tôi tớ lui thui,

    Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.

    Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,

    Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,

    Đêm trường thăm thẳm bóng mơi,

    Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.

    Những người bội nghịch hoang hung,

    Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.

    – Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,

    Gái má đào, sắc nước kém đâu,

    Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,

    Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.

    Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,

    Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,

    Phong lưu ngày trước đâu rồi,

    Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.

    Những trang xinh tốt xưa nay,

    Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.

    – Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,

    Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,

    Gặp tai nước lửa hại mình,

    Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.

    Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,

    Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,

    Mưa chiều khói lạnh nước reo,

    Lá thu gió thổi dập dìu như bay.

    Những người hoạnh tử xưa nay,

    Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.

    – Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,

    Những cô hồn mười loại đâu đây,

    Diện-Nhiên sở thống một tay,

    Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.

    Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,

    Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,

    Hồn cô, phách trệ linh đinh,

    Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.

    Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,

    Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.

    Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,

    Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.

    Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,

    Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.

    A Di Đà Phật Như Lai,

    Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.

    – Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai, Bé Gái Mau Ăn Chóng Lớn
  • Ông Trùm Giải Trí Bí Mật Cưng Chiều: Cô Vợ Ngốc Ngọt Ngào
  • Sa Vào Trêu Ghẹo Vợ Yêu : Tổng Giám Đốc Vô Cùng Cưng Chiều
  • Văn Khấn Tết Trung Nguyên (Rằm Tháng 7 Âm Lịch)
  • Dropdeck Giành Giải Nhất Cuộc Thi Start Jerusalem 2021
  • Bài Cúng Ngoài Sân Về Nhà Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Vào Nhà Mới Cần Chuẩn Bị Những Gì? Vanmaymoingay
  • Có Cần Thiết Phải Cúng Về Nhà Mới Thuê Không?
  • Dọn Cơm Cúng Vong Như Thế Nào Mới Đúng ?
  • Bài Cúng Rằm Tháng 7, Lễ Vu Lan, Lễ Xá Tội Vong Nhân
  • Bài Văn Khấn Cúng Xe Mới Và Lễ Vật Cúng Xe Ô Tô Mới Tháng 11 2021
  • Bài Cúng Phật Giáo Hòa Hảo, Nhóm Nhà Giáo Cùng Nhau Phát Triển, Dang Ký Nhóm Nhà Giáo Cùng Nhau Phát Triển, Bản Đăng Ký Nhóm Nhà Giáo Cùng Nhau Phát Triển, Dang Ki Nhom Nha Giao Cung Nhau Phat Trien, Giáo án Tiengs Việt Lớp 1 Bộ Cùng Học … Cùng Líc ô Tô 2 Xuất Phát Từ B Với Tốc Độ 40, Lúc 8h ô Tô A Chuyển Động Thẳng Đều Với Tốc Độ 60km/h . Cùng Líc ô Tô 2 Xuất Phát Từ B Với Tốc Độ 40, Ban Dang Ký Thanh Lap Nhom Cung Nhau Phat Trien, Bản Đăng Kí Thành Lập Nhóm Cùng Nhau Phát Triển,

    Văn Tế Cúng 100 Ngày, Bài Cúng Ngày Giỗ, Bài Cúng Ngày Rằm, Bài Cúng 100 Ngày, Bài Cúng Ngày Thần Tài, Bài Cúng 100 Ngày Về Nhà Mới, Thủ Tục Làm Lễ Cúng 49 Ngày, Bài Cúng 49 Ngày, Bài Cúng Xe Ngày Rằm, Thủ Tục Làm Lễ Cúng … . .

    Văn khấn từ đường hay gọi là văn khấn nhà thờ Họ là bài văn khấn được nhiều người quan tâm khi tiến hành thủ tục cúng tại nhà thờ họ. Đây là phương thức giao tiếp giữa con cháu trong nhà đối với tổ tiên đã mất. Bài văn … Con cháu hiếu thảo với Ông Bà Cha Mẹ. Chúng con cầu xin, gia tiên tiền tổ độ trì để toàn thể con cháu trong dòng họ …: Cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu sức khỏe được sức khỏe, cầu tiến tới được tiến tới, cầu con được con, cầu cháu được cháu. Để cho toàn bộ dòng họ … chúng ta ngày càng đông đúc, phú quý, giàu sang, nhà cửa khang trang, hiển vinh mãi mãi. Chúng con

    Cúng Rằm tháng 8 – Tết Trung thu là một nghi thức văn hóa truyền thống để tưởng nhớ về tổ tiên, cha ông ta. Ý nghĩa của ngày tết trung thu Rằm tháng tám (hay còn gọi là Tết Trung thu) trong quan niệm của người Việt là ngày … Nhân dịp Tết Trung Thu mọi người đều gửi biếu ông, bà, cha, mẹ, người thân, người mà mình mang ơn bánh Trung Thu, cốm, chuối, hồng… để tỏ lòng biết ơn quí trọng. Văn khấn rằm tháng 8 – Con kính lạy Hoàng thiên hậu Thổ chư vị Tôn thần. – Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần. – Con kính lạy Cao Tằng Tổ khảo,

    Tết Trung Thu là tết được cử hành vào đêm rằm tháng 8, Tết này còn gọi là “tết trông trăng”. Hiện nay ở Việt Nam thì tết Trung Thu được ưu tiên dành cho trẻ em vui chơi với nhiều kiểu lồng đèn đẹp và các em tham gia … Trong ngày này cũng có bài văn khấn gia tiên rằm tháng 8. Nhưng trước tiên, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa tết trung thu. Ý nghĩa: tục xưa truyền lại rằng: vào một đêm rằm tháng 8 trăng sáng như gương, bầu trời bao la huyền ảo, nhà Vua nhìn lên trời và nảy ra ý muốn lên thăm cung trăng. Pháp sư đi theo nhà Vua liền ném chiếc gậy đang chống lên không trung, chiếc gậy liền biến thành một chiếc

    Theo phong tục của người Việt Nam ta, trong một năm sẽ có rất nhiều lễ cúng: cúng ông Táo, cúng mùng 1, cúng rằm, giỗ tổ tiên, cúng tết nguyên tiêu…. Tuy nhiên, có một lễ cúng vô cùng quan trọng nhưng được rất ít người quan tâm. Đó … Đó chính là lễ cúng mùng 2 và 16 hàng tháng. Theo như quan niệm từ thời xưa, mỗi một người đều sẽ có 3 hồn và 7 vía hay 3 hồn 9 vía. Khi con người chết đi, một hồn sẽ ở lại nơi họ chết, một hồn ở lại nơi mộ của học được chôn cất, một hồn phải đi theo quan ở dưới địa phủ để luận những tội đã làm khi còn sống. Đối với những ai chết ở nhà và những người

    Toàn tập bài cúng cháo cô hồn chúng sinh vào ngày mùng 2 và 16 hằng tháng ở ngoài trời Tịnh pháp giới chân ngôn: ÔM LAM, ÔM SĨ LÂM (7 lần) Chân ngôn phá địa ngục: ÁN GIÀ RA ĐẾ DẠ, TA BÀ HA .(7 lần) Chân ngôn biến … Còn đồ mã thì đốt ngay tại chỗ, đĩa muối gạo được rải ra xa. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (10 lần, hay nhiều hơn nữa ) NAM MÔ ĐA BẢO NHƯ LAI (10 lần) NAM MÔ BẢO THẮNG NHƯ LAI (10 lần) NAM MÔ QUẢNG BÁC THÂN NHƯ LAI (10 lần ) NAM MÔ DIỆU SẮC THÂN NHƯ LAI (10 lần) NAM MÔ LY BỐ UÝ NHƯ LAI (10 lần) NAM MÔ CAM LỒ VƯƠNG NHƯ LAI(10 lần ) NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT. (10 lần) Giải thích

    Để tiện cho độc giả, xin giới thiệu một số bài cúng Rằm tháng 7 tại nhà theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam. Vào ngày Rằm tháng 7, các gia đình thường chuẩn bị hai mâm cỗ cúng: Một mâm cỗ mặn để cúng tổ tiên tại bàn thờ … Bởi vậy, các gia đình ở dương gian làm cỗ bàn, vàng mã cúng gia tiên, cầu siêu độ trì cho họ. Ngoài cúng gia tiên ngày ”Xá tội vong nhân” mọi nhà còn bầy lễ cúng chúng sinh ngoài sân, trước thềm nhà để cúng cô hồn, ma đói là những vong linh ”không nơi nương tựa”. Ngày Rằm tháng 7 theo tục xưa, mọi gia đình đều sắm hai lễ để cúng + Lễ cúng gia tiên gồm: Hương, hoa, rượu, xôi và

    Theo quan niệm dân gian, ngay từ ngày mùng 1 đến hết ngày 14 tháng 7 âm lịch, Diêm Vương cho lệnh mở Quỷ Môn Quan, sau 12 giờ đêm ngày 14 cửa được đóng lại, ma quỷ sẽ trở về lại âm ti. Do đó, người ta thường cúng … Tuy nhiên, theo quan điểm của Phật giáo, điều quan trọng nhất là sự thành tâm của người cúng chứ không quan trọng chuyện cúng đúng ngày hay mâm cúng có gì. Mâm cỗ cúng cô hồn cơ bản nhất: – Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại, 5 mầu (ngũ sắc). – Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc. – Kẹo bánh, tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá). – Nếu cúng thêm cháo thì

    Rằm tháng 7 âm lịch hằng năm (dân gian vẫn gọi là tháng cô hồn) có 2 lễ lớn, đó là lễ Vu Lan báo hiếu và xá tội vong nhân. Vào ngày này, các gia đình thường chuẩn bị mâm cỗ mặn để cúng gia tiên và cỗ chay … Phù hộ độ trì cho con con, cháu cháu được đắc tài, đắc lộc, mọi việc hanh thông, sở cầu như ý, gia đạo hưng long. Tín chủ con lại mời: Các vị vong linh y thảo phụ mộc, phảng phất trên đất này, nhân lễ Vu Lan cùng về hâm hưởng. Kính mong chư vị chấp lễ chấp bái, chấp kêu, chấp cầu. Đồng lai giám cách. Kính cẩn dâng lời. Nam Mô A Di Đà Phật! Nam Mô A Di Đà Phật! Nam

    Cúng rằm tháng bảy hay còn gọi cúng Tết Trung Nguyên, cúng Vu Lan báo hiếu. Thường sẽ có 4 lễ: cúng Phật, cúng thần linh, cúng gia tiên, và cúng thí thực cô hồn. Trước tiên, đó là ngày lễ Vu Lan, xuất phát từ tích kể đức Mục … Ta sắp một mâm cơm chay hoặc đơn giản hơn là mâm ngũ quả để cúng Phật rồi thụ lộc tại nhà. Khi cúng, tốt nhất là đọc một khoá kinh – Kinh Vu Lan – để hiểu rõ về ngày này, hồi hướng công đức cho những người thân trong quá khứ được siêu sinh. Kinh Vu Lan khá dài, nhưng không đến mức quá dài, lại thuộc thể thơ song thất lục bát nên đọc cũng nhanh thôi. 2. Cúng thần linh và gia

    Kính lễ mười phương Tam Bảo chứng minh! Hôm nay, ngày …. tháng ….. năm ……. Gia đình con ………………………… Ngụ tại: ……………………………………………… Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước … Theo dân gian hay còn gọi là cúng cô hồn, cúng thí thực (tặng thức ăn). Ngoài mâm cơm cúng tổ tiên để tỏ lòng thành kính, báo hiếu, nhớ đến tổ tiên, các người họ hàng đã mất thì mâm cúng chúng sinh cũng rất quan trọng, buộc phải cúng đúng để không gặp xui xẻo trong tháng 7 cũng như tích đức, tích phước cho con cháu, xóa tội cho vong linh của gia đình dưới suối vàng. Theo Đại đức

    Bài Cúng Lễ Tạ Mộ Và Lễ Tạ Đất Việc lễ tạ mộ phần và lễ tạ thần linh Thổ địa nơi ở là vấn đề mà ai cũng quan tâm, bởi vì phần âm có yên thì người dương mới ổn và có an cư thì mới lạc nghiệp. … Thường thì đầu năm cúng, cuối năm tạ. Tức là vào đầu năm sắm sửa lễ để cúng tạ mộ phần, tạ thần linh Thổ địa nơi gia đình sinh sống. Cuối năm lại làm như vậy

    Văn khấn cô hồn là gì, cần chuẩn bị những gì trong lễ cúng cô hồn, những lưu ý và hướng dẫn cúng cô hồn đúng cách. Cúng cô hồn, cúng chúng sinh là sự chia sẻ đau khổ cho các cô hồn chúng sanh thiếu phước, không siêu thoát. … Có những nơi, người ta gọi quỷ đói là “anh em tốt”, “thần cửa sau” để lấy lòng những linh hồn quỷ đói này. Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch). Ở Việt Nam, cúng cô hồn là một tín ngưỡng tâm linh truyền thống của người Việt, được truyền từ đời này sang đời khác. Người Việt cho rằng, con người bao gồm hai phần là hồn và xác. Khi con người mất đi nhưng phần

    Trong phần này, Herodota.com xin giới thiệu văn khấn ở những nghi lễ quan trọng từ khi người mất tới khi được 100 ngày. Phần văn khấn từ giỗ đầu (tròn một năm sau ngày mất) Herodota.com chuyển sang phần văn khấn khi cúng giỗ. 1) Văn khấn lễ Thiết … ……………. vâng theo lệnh mẫu thân (nếu là cha) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể con cháu nội ngoại kính lạy. Nay nhân ngày lễ thiết Linh thích nghi lễ cổ truyền Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành. Trước linh vị của: Hiển……………. chân linh. Xin kính cấn trình thưa rằng: Than ôi! Gió thổi nhà Thung (nếu khóc cha hoặc Huyên nếu khóc

    Theo tín ngưỡng tâm linh của người Việt, tháng 7 âm lịch hàng năm được xem là tháng “cô hồn”. Không chỉ là ngày để tỏ lòng thành kính đối với tổ tiên ông bà, những người đã khuất mà còn là ngày để thí thực cho các vong linh … Nhìn chung một mâm cúng cô hồn bao gồm những lễ vật cúng sau: Hoa quả (đủ 5 loại quả tươi, sạch, không bị úng thối). Tiền vàng mã (tiền vàng 15 bộ, quần áo bằng giấy 20 bộ, các đồ dùng mã). Muối hạt sạch. Một ít gạo tẻ. Hương thắp (nhang). Trầu cau (lá trầu và quả cau phải đẹp, không được sứt mẻ hoặc bị rách). Bánh kẹo các loại. Nước (nước lọc

    Bàn thờ Thổ Công được đặt ở đâu? Theo quan niệm xưa Theo quan niệm xưa thì bàn thờ ông Công chính xác được dùng để thờ 3 vị thần: – Ví như người có mệnh Đông tứ trạch nên chọn hướng bàn thờ Thổ Công vào 1 trong 4 … Tuy nhiên, về các vật phẩm thờ cúng trên bàn thờ Thổ Công cũng không có sự thay đổi, khác biệt so với bàn thờ gia tiên. Chỉ là có sự thay đổi về số lượng bát nhang (1 bát nhang với 3 bát nhang). Trên bàn thờ gia tiên, các gia đình thường

    Thổ công hay còn gọi là Thổ địa, Thổ Thần, Ông địa. Theo quan niệm của người Chấu Á, Thổ thần là vị thần cai quản đất đai một vùng đất nào đó. ” Đât có thổ công, sông có hà bá” mỗi vùng đất đều có một vị Thổ … Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng Chư Vị Đại Vương. Ngài Bản Xứ Thần Linh Thổ Địa. Các ngài Địa Chúa Long Mạch Tôn Thần và tất cả các vị Thần Linh cai quản ở khu vực

    Theo quan niệm Phật Giáo, với những người không tu tập thiện pháp, hạng người sát sinh, trộm cắp, gây ra nhiều ác nghiệp, khi chết sẽ không được vào cõi an lạc mà bị đầy xuống địa ngục hay vào ngạ quỷ. Những chúng sinh ở cõi ngạ quỷ … Khi cúng thí chúng ta không nên sát sinh, nên cúng đồ chay để tăng thêm phước đức cho chúng sanh. NGHI THỨC CÚNG THÍ THỰC Cúng hương Nguyện dâng hương mầu này Cúng dường tất cả Phật Tôn Pháp, Chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các

    I. Khi nào nên thay bàn thờ thần tài ông địa mới? Theo văn hóa Trung Hoa xưa thì Thần Tài là nhân vật có thật trong lịch sử: Phạm Lãi – trung thần chí thân của Việt Vương Câu Tiễn. Ông là một trong những người đã hết lòng … (Âm lịch) Gia chủ tên … ngụ tại… Hôm nay nhân ngày lành tháng tốt, phước khí viên mãn. Tín chủ con xin mạn phép cung thỉnh thay bàn thờ cũ và không rộng lớn bằng bàn thờ mới để tiện việc bày cúng vật thực lễ phẩm được đầy

    Không có bàn thờ Thần Tài thì cúng ở đâu? Thông thường, việc thờ cúng Thần Tài cũng giống như thờ ông bà, thờ Phật … tức là Thần Tài phải được thờ trên một bàn thờ riêng. Không được đặt chung với bàn thờ tổ tiên. Tuy nhiên, việc … Không thờ cúng thì thôi, đã thờ tuyệt đối để ý và chu đáo với bàn thờ mình một xíu Hàng ngày phải lau dọn bàn thờ. Ngoài ra, vào vào ngày 14 âm lịch mỗi tháng gia chủ nên tiến hành lau bàn thờ bằng nước hoa bưởi. Nếu không

    Ngày 10 âm lịch hàng tháng được coi là ngày vía Thần Tài, tuy nhiên, ngày 10 tháng Giêng là ngày cúng vía Thần Tài quan trọng nhất trong năm. Đối với người kinh doanh, buôn bán, cúng vía Thần Tài rất được coi trọng vì theo quan niệm dân … Đối với người kinh doanh, buôn bán, cúng vía Thần Tài rất được coi trọng vì theo quan niệm dân gian, thờ cúng Thần Tài để cầu mong Tài lộc, may mắn, sung túc tới gia đình. Ban thờ thần Tài cũng được bố trí đặc biệt, khác với ban thờ

    Theo tín ngưỡng dân gian của người Việt, Táo Quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ (của Lão giáo Trung Quốc) nhưng được Việt hóa thành tích “2 ông 1 bà” – vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp, người dân … Đây là một tục lệ giàu ý nghĩa nhân văn, hướng con người ta tích cực làm việc tốt, sống lương thiện. Cúng Táo Quân trước ngày 23 có được không? Quan niệm của người Việt, mỗi năm chỉ có một ngày Ngọc Hoàng nghe các Táo báo

    Vận mệnh của mỗi người sẽ thay đổi theo từng năm. 2021-2021-2021 là năm may mắn nhưng cũng có thể là năm đại hạn của một số con giáp. Nếu các bạn sinh năm 1989 chưa biết cách tính hạn tam tuổi Kỷ Tỵ và không biết 2021-2021-2021 có phạm … Mà 2021 là năm Kỷ Hợi thuộc nhóm trên nên tuổi Kỷ Tỵ sẽ bị hạn Tam Tai trong năm 2021 này. Và đây chính là năm hạn Tam Tai đầu tiên trong 3 năm đại hạn liên tiếp 2021, 2021 và 2021 của hạn Tam Tai tuổi Kỷ Tỵ. ►►► Tra cứu: Chọn sim phong thủy

    Những năm tam tai của Đinh Tỵ , hạn tam tai tuổi 1977 năm 2021-2021-2021 Hạn tam tai được gọi tắt từ các từ Tai- tai họa – họa hại ý chỉ các tai họa sẽ gặp khi vào cái hạn này. Hạn tam tai theo tuổi tức là hạn … Năm thứ 3 gặp hạn tam tai tuổi Đinh Tỵ: không nên kết thúc việc quan trọng. Trong 3 năm gặp hạn tam tai tuổi Đinh Tỵ 1977 thì năm thứ 2 là nặng nhất. ⇒ Năm 2021 là năm hạn tam tai tuổi Đinh Tỵ – Năm thứ 1 XEM TỬ VI 2021 ĐỂ ĐOÁN HUNG CÁT, VƯỢNG SUY CHO NAM

    Tuổi Đinh Sửu có bản mệnh là Giản Hạ Thủy, nam và nữ mệnh đều có cung phi là Chấn. Năm 2021-2021-2021 tới là năm Kỷ Hợi, theo ngũ hành là Bình Địa Mộc, có cung phi là Cấn, đây cũng là năm tam tai cho Đinh Sửu. Đinh Sửu … Đối với cả nam và nữ mệnh Đinh Sửu bước sang năm 2021 tới đều sẽ có những thay đổi riêng biệt. Tử vi năm 2021 tuổi Sửu nam mệnh Tổng quan nam Đinh Sửu 1997 năm 2021 Đối với nam Đinh Sửu năm 2021 có sao Thái Dương chiếu mệnh. Đây là sao

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trên Bàn Thờ Thổ Công Gồm Những Gì Là Đầy Đủ?
  • Cúng Thổ Công Cần Những Gì Và Ý Nghĩa Như Thế Nào?
  • Nghi Thức Cúng Thí Thực Trong Phật Giáo
  • Thay Bàn Thờ Thần Tài Ông Địa Định Phải Biết Những Thủ Tục Này
  • Không Có Bàn Thờ Thần Tài Thì Cúng Ở Đâu Chuẩn Nhất?
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Nhà Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Cháo Cô Hồn Chúng Sinh Mùng 2 Và 16 Hằng Tháng Ngoài Sân Trời
  • Cúng Mùng 2 Và 16 Hàng Tháng Là Cúng Gì? Bài Văn Khấn Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Gia Tiên Rằm Tháng 8
  • Ý Nghĩa Tết Trung Thu Và Bài Văn Khấn Rằm Tháng 8
  • Văn Khấn Từ Đường
  • Để tiện cho độc giả, xin giới thiệu một số bài cúng Rằm tháng 7 tại nhà theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam.

    Vào ngày Rằm tháng 7, các gia đình thường chuẩn bị hai mâm cỗ cúng: Một mâm cỗ mặn để cúng tổ tiên tại bàn thờ và một mâm cỗ chay để cúng chúng sinh – gọi là cúng cô hồn đặt ở sân trước nhà hoặc trên vỉa hè.

    Dưới đây là bài văn khấn Ý nghĩa: Rằm tháng 7 tại nhà trích trong sách “Sắm lễ: Văn khấn cổ truyền Việt Nam” (NXB Hồng Đức) các gia đình có thể tham khảo:

    Văn khấn lễ tổ tiên (Ngày rằm tháng Bảy tại nhà)

    Theo tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam, Tiết Trung Nguyên là tiết của dịp ”Xá tội vong nhân” nơi Âm Phủ. Người xưa cho rằng: Ngày Rằm tháng 7 hàng năm thì mọi tội nhân cõi âm, trong đó có những vong linh của gia đình, họ tộc mình đang bị giam cầm nơi địa ngục được xá tội và ra khỏi Âm Phủ lên dương gian. Bởi vậy, các gia đình ở dương gian làm cỗ bàn, vàng mã cúng gia tiên, cầu siêu độ trì cho họ.

    Ngoài cúng gia tiên ngày ”Xá tội vong nhân” mọi nhà còn bầy lễ cúng chúng sinh ngoài sân, trước thềm nhà để cúng cô hồn, ma đói là những vong linh ”không nơi nương tựa”.

    Ngày Rằm tháng 7 theo tục xưa, mọi gia đình đều sắm hai lễ để cúng

    + Lễ cúng gia tiên gồm: Hương, hoa, rượu, xôi và mâm cỗ mặn với nhiều món ăn được chế biến cẩn thận, trình bày đẹp, vàng mã, quần áo, hài giấy…

    + Lễ cúng chúng sinh gồm các lễ vật: Bánh đa, bỏng, ngô, khoai lang luộc, trứng luộc, kẹo bánh, xôi chè và cháo hoa. Vàng mã, tiền giấy, quần áo chúng sinh…

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư vị Phật, Chư Phật mười phương.

    – Con kính lạy Tổ tiên nội ngoại và chư vị Hương linh

    Tín chủ (chúng) con là:………………………………

    Ngụ tại:…………………………………………………

    Hôm nay là ngày Rằm tháng Bả y năm ………….nhân gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung Nguyên, chúng con nhớ đến Tổ tiên ông bà cha mẹ đã sinh thành ra chúng con gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức. Chúng con cảm nghĩ ơn đức cù lao khôn báo, cảm công trời biển khó đền nên tín chủ con sửa sang lễ vật, hương hoa, trà quả, kim ngân, vàng bạc, thắp nén tâm hương.

    Văn khấn chúng sinh Rằm tháng Bảy theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam

    Thành tâm kính lên các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá Thúc, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ…………., cúi xin các vị thương xót cháu con, linh thiêng hiện về chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô a di Đà Phật!

    Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).

    Con lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương.

    Con lạy Đức Phật Di Đà

    Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

    Con lạy Táo Phủ Thần quân Chinh thần.

    Tiết tháng 7 sắp thu phân

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

    Âm cung mở cửa ngục ra

    Vong linh không cửa không nhà

    Đại Thánh Khảo giáo – A Nan Đà Tôn giả

    Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

    Gốc cây xó chợ đầu đường

    Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

    Quanh năm đói rét cơ hàn

    Không manh áo mỏng – che làn heo may

    Cô hồn năm bắc đông tây

    Trẻ già trai gái về đây hợp đoàn

    Nay nghe tín chủ thỉnh mời

    Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

    Cơm canh cháo nẻ trầu cau

    Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

    Gạo muối quả thực hoa đăng

    Mang theo một chút để dành ngày mai

    Phù hộ tín chủ lộc tài

    An khang thịnh vượng hòa hài gia trung

    Nhớ ngày xá tội vong nhân

    Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

    Bây giờ nhận hưởng xong rồi

    Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

    Tín chủ thiêu hóa kim ngân

    Cùng với quần áo đã được phân chia

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức

    Cho tín chủ con

    Tên là:………………………………

    Vợ/Chồng:…………………………

    Con trai:……………………………

    Con gái:…………………………….

    Ngụ tại:……………………………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Cô Hồn Vào Ngày Nào Trong Tháng 7 Âm Lịch Và Cần Chuẩn Bị Lễ Vật Gì?
  • Văn Khấn Gia Tiên, Chúng Sinh Chuẩn Nhất Ngày Rằm Tháng Bảy
  • Mâm Cúng Cô Hồn Hàng Tháng Mùng 2; 16
  • Bài Văn Khấn Cho Lễ Cúng Ngày Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Ngoài Trời Ngày Mùng 1 Và 15 Hàng Tháng Chính Xác Nhất Và Đầy Đủ Nhất
  • Cúng Cô Hồn Vào Ngày Nào Trong Tháng 7 Âm Lịch Và Cần Chuẩn Bị Lễ Vật Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Nhà Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Bài Cúng Cháo Cô Hồn Chúng Sinh Mùng 2 Và 16 Hằng Tháng Ngoài Sân Trời
  • Cúng Mùng 2 Và 16 Hàng Tháng Là Cúng Gì? Bài Văn Khấn Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Gia Tiên Rằm Tháng 8
  • Ý Nghĩa Tết Trung Thu Và Bài Văn Khấn Rằm Tháng 8
  • Theo quan niệm dân gian, ngay từ ngày mùng 1 đến hết ngày 14 tháng 7 âm lịch, Diêm Vương cho lệnh mở Quỷ Môn Quan, sau 12 giờ đêm ngày 14 cửa được đóng lại, ma quỷ sẽ trở về lại âm ti. Do đó, người ta thường cúng từ mùng 1 tới 14.7 âm lịch.

    Theo một sư thầy tại chùa ở quận Bình Thạnh (TP.HCM) chia sẻ về ý nghĩa của lễ cúng cô hồn trên báo Thanh niên: Vào dịp rằm tháng 7 âm lịch, mỗi gia đình đều sắm sửa mâm cúng cô hồn để cầu phúc cho gia đình mình, ban phát bố thí cho những linh hồn không nơi trú ngụ với mục đích không để những linh hồn này quấy nhiễu gia đình.

    Nhiều người còn cho rằng dịp này nên đến chùa phóng sinh cá, chim, rùa… như làm phước để giải bớt nghiệp.

    Vị sư thầy cho biết, mọi người thường cúng cô hồn từ mùng 1 tới 14/7 âm lịch. Tuy nhiên, theo quan điểm của Phật giáo, điều quan trọng nhất là sự thành tâm của người cúng chứ không quan trọng chuyện cúng đúng ngày hay mâm cúng có gì.

    Mâm cỗ cúng cô hồn cơ bản nhất:

    – Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại, 5 mầu (ngũ sắc).

    – Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc.

    – Kẹo bánh, tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).

    – Nếu cúng thêm cháo thì thêm mâm gạo muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa).

    Văn khấn chúng sinh (cúng cô hồn) theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam (NXB Văn hóa Thông tin):

    Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).

    Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.

    Con lạy Đức Phật Di Đà

    Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

    Con lạy Táo Phủ Thần quân Chinh thần.

    Tiết tháng 7 sắp thu phân

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

    Âm cung mở cửa ngục ra

    Vong linh không cửa không nhà

    Đại Thánh Khảo giáo – A Nan Đà Tôn giả

    Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

    Gốc cây xó chợ đầu đường

    Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

    Quanh năm đói rét cơ hàn

    Không manh áo mỏng – che làn heo may

    Cô hồn nam bắc đông tây

    Trẻ già trai gái về đây hợp đoàn

    Nay nghe tín chủ thỉnh mời

    Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

    Cơm canh cháo nẻ trầu cau

    Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

    Gạo muối quả thực hoa đăng

    Mang theo một chút để dành ngày mai

    Phù hộ tín chủ lộc tài

    An khang thịnh vượng hòa hài gia trung

    Nhớ ngày xá tội vong nhân

    Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

    Bây giờ nhận hưởng xong rồi

    Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

    Tín chủ thiêu hóa kim ngân

    Cùng với quần áo đã được phân chia

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức

    Cho tín chủ con

    Tên là:………………………………

    Vợ/Chồng:…………………………

    Con trai:……………………………

    Con gái:…………………………….

    Ngụ tại:……………………………..

    Lưu ý: Lễ cúng cô hồn được thực hiện ngoài trời hoặc trước cửa chính ngôi nhà. Gia chủ có thể đọc các bài văn cúng hoặc khấn nôm theo tâm nguyện. Kết thúc lễ cô hồn, gạo, muối được vãi ra sân, đường, sau đó là đốt vàng mã.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Gia Tiên, Chúng Sinh Chuẩn Nhất Ngày Rằm Tháng Bảy
  • Mâm Cúng Cô Hồn Hàng Tháng Mùng 2; 16
  • Bài Văn Khấn Cho Lễ Cúng Ngày Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Ngoài Trời Ngày Mùng 1 Và 15 Hàng Tháng Chính Xác Nhất Và Đầy Đủ Nhất
  • Bài Cúng Cô Hồn Tháng 7 Nhiều Nhà Tin Dùng
  • Văn Khấn Gia Tiên, Chúng Sinh Chuẩn Nhất Ngày Rằm Tháng Bảy

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Cô Hồn Vào Ngày Nào Trong Tháng 7 Âm Lịch Và Cần Chuẩn Bị Lễ Vật Gì?
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Nhà Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Bài Cúng Cháo Cô Hồn Chúng Sinh Mùng 2 Và 16 Hằng Tháng Ngoài Sân Trời
  • Cúng Mùng 2 Và 16 Hàng Tháng Là Cúng Gì? Bài Văn Khấn Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Gia Tiên Rằm Tháng 8
  • Rằm tháng 7 âm lịch hằng năm (dân gian vẫn gọi là tháng cô hồn) có 2 lễ lớn, đó là lễ Vu Lan báo hiếu và xá tội vong nhân. Vào ngày này, các gia đình thường chuẩn bị mâm cỗ mặn để cúng gia tiên và cỗ chay để cúng trúng sinh.

    Tín ngưỡng dân gian Việt Nam cho rằng, tháng 7 Âm lịch cũng là thời điểm mà Diêm Vương mở cửa Quỷ Môn Quan. Chính vì vậy, vào dịp Rằm tháng 7, nhiều gia đình thường chuẩn bị mâm cơm cúng để tưởng nhớ đến người thân và làm lễ cúng cho những vong hồn chưa được siêu thoát, không nơi nương tựa.

    Lễ cúng Rằm tháng 7 thông thường được người dân thực hiện từ 2-14.7 âm lịch.

    Nhà nghiên cứu tâm linh Nguyễn Xuân Cường (Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn văn hoá tín ngưỡng Việt Nam) đưa ra những bài văn khấn cho 2 lễ lớn ngày Rằm tháng 7, để người dân có thể tham khảo.

    1. Bài cúng gia tiên Rằm tháng 7 âm lịch

    Nam Mô A Di Đà Phật!

    Nam Mô A Di Đà Phật!

    Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    Kính lạy đức Bản gia Đông trù tư mệnh Táo phủ Thần quân.

    Kính lạy chư vị Tổ tiên

    Kính lạy chư vị Hương linh nội, ngoại.

    Hôm nay là ngày rằm tháng Bảy năm …. (Âm lịch)

    Tín chủ con là…. cùng toàn gia quyến.

    Nhân tiết Trung nguyên động lòng nhớ tới công đức rộng lớn của Tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, dạy dỗ chúng con nên người.

    Quả là đức cù lao khôn báo, công trời biển khó đền.

    Trước linh toạ cúi xin lượng trên thương xót. Linh thiêng giáng lâm chứng giám tấm lòng thành, thụ hưởng lễ vật cùng với kim ngân minh y. Phù hộ độ trì cho con con, cháu cháu được đắc tài, đắc lộc, mọi việc hanh thông, sở cầu như ý, gia đạo hưng long.

    Tín chủ con lại mời: Các vị vong linh y thảo phụ mộc, phảng phất trên đất này, nhân lễ Vu Lan cùng về hâm hưởng.

    Kính mong chư vị chấp lễ chấp bái, chấp kêu, chấp cầu.

    Đồng lai giám cách.

    Kính cẩn dâng lời.

    Nam Mô A Di Đà Phật!

    Nam Mô A Di Đà Phật!

    Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

    2. Văn khấn chúng sinh Rằm tháng Bảy Thông thường, một nghi thức cúng cô hồn đúng bao gồm:

    – Muối gạo (1 đĩa).

    – Cháo trắng nấu loãng (12 chén nhỏ), hay là cơm vắt: 3 vắt.

    – Giấy áo, giấy tiền vàng bạc. Trong đó, tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh từ 20 đến 50 bộ.

    – Bắp rang, khoai lang, ngô, sắn luộc…

    – Mía (để nguyên vỏ và chặt tùng khúc nhỏ độ 15 cm).

    – Bánh, kẹo, tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).

    – Nước: 3 ly nhỏ, 3 cây nhang, 2 ngọn nến nhỏ.

    Việc cúng cô hồn có thể tiến hành từ mùng 1 đến ngày rằm tháng Bảy. Tuy nhiên nhiều gia đình thường tiến hành vào ngày Rằm.

    – Đặt lễ cúng trước cửa nhà (hay nơi đang buôn bán).

    – Sau khi cúng xong, các vật phẩm cúng cô hồn không đem vào nhà (thường mang cho người nghèo, người xin ăn). Đồ mã đốt ngay tại chỗ, còn đĩa muối, gạo rải ra tám hướng.

    – Khi rải tiền vàng ra mâm cúng phải để 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hướng từ 3-5-7 cây hương.

    Văn khấn chúng sinh Rằm tháng Bảy

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà, bày lễ và cúng ngoài trời.

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Con lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương.

    Con lạy Đức Phật Di Đà

    Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

    Con lạy Táo Phủ Thần quân Chinh thần.

    Tiết tháng 7 sắp thu phân

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

    Âm cung mở cửa ngục ra

    Vong linh không cửa không nhà

    Đại Thánh Khảo giáo – A Nan Đà Tôn giả

    Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

    Gốc cây xó chợ đầu đường

    Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

    Quanh năm đói rét cơ hàn

    Không manh áo mỏng – che làn heo may

    Cô hồn năm bắc đông tây

    Trẻ già trai gái về đây hợp đoàn

    Dù rằng: Chết uổng, chết oan

    Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu

    Chết tai nạn, chết ốm đau

    Chết đâm chết chém chết đánh nhau tiền tình

    Chết bom đạn, chết đao binh

    Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi

    Chết vì sét đánh giữa trời

    Nay nghe tín chủ thỉnh mời

    Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

    Cơm canh cháo nẻ trầu cau

    Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

    Gạo muối quả thực hoa đăng

    Mang theo một chút để dành ngày mai

    Phù hộ tín chủ lộc tài

    An khang thịnh vượng hòa hài gia trung

    Nhớ ngày xá tội vong nhân

    Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

    Bây giờ nhận hưởng xong rồi

    Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

    Tín chủ thiêu hóa kim ngân

    Cùng với quần áo đã được phân chia

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức

    Cho tín chủ con

    Tên là:………………………………

    Vợ/Chồng:…………………………

    Con trai:……………………………

    Con gái:…………………………….

    Ngụ tại:……………………………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mâm Cúng Cô Hồn Hàng Tháng Mùng 2; 16
  • Bài Văn Khấn Cho Lễ Cúng Ngày Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Ngoài Trời Ngày Mùng 1 Và 15 Hàng Tháng Chính Xác Nhất Và Đầy Đủ Nhất
  • Bài Cúng Cô Hồn Tháng 7 Nhiều Nhà Tin Dùng
  • Văn Khấn Ban Thần Tài Ngày Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Ngoài Trời Ngày Mùng 1 Và 15 Hàng Tháng Chính Xác Nhất Và Đầy Đủ Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cho Lễ Cúng Ngày Rằm Tháng 7
  • Mâm Cúng Cô Hồn Hàng Tháng Mùng 2; 16
  • Văn Khấn Gia Tiên, Chúng Sinh Chuẩn Nhất Ngày Rằm Tháng Bảy
  • Cúng Cô Hồn Vào Ngày Nào Trong Tháng 7 Âm Lịch Và Cần Chuẩn Bị Lễ Vật Gì?
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Nhà Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Văn khấn ngoài trời ngày mùng 1 và 15 hàng tháng chính xác nhất

    Văn khấn ngoài trời ngày mùng 1 và 15 hàng tháng chính xác nhất theo truyền thống dân tộc nước ta.

    Khi nói đến cúng ngoài trời, chúng ta nghĩ ngay đến việc cúng chung thiên. Cúng chung thiên có nghĩa là cúng ở giữa trời và đất. Việc làm lễ cúng chung thiên ngoài trời hàng tháng vào mùng 1 và 15 là vô cùng quan trọng, đây là phong tục mà hầu hết của người dân Việt Nam.

    Theo tín ngưỡng dân gian, Trời được xếp trước phật theo thứ tự được thờ “Trời – Phật – Thánh – Thần” chính vì thế nên việc thờ Trời luôn là việc đầu tiên của mỗi người, mỗi gia đình.

    Bàn thờ thiên là sự kết nối giữa trời và đất, giữa cõi âm và cõi dương và cao hơn chính là ý nghĩa nhân văn, ước mong mưa thuận gió hòa, cầu mong những điều tốt đẹp đến với cuộc sống con người. Theo nghiên cứu trong đời sống tâm linh của người Việt, cây hương có thể giúp truyền tải thông điệp thiêng liêng giữa các thế giới, giữa chốn âm dương và giữa con người thần linh hay ma quỷ.

    Đặt bàn thờ thiên ngoài trời để thờ cúng nhằm mục đích cúng xin “thông với thiên”, cầu mong điều cát lành. Ở trong nhà bị vướng mái, không thông thiên được, cho nên làm bàn thờ thiên ngoài trời rồi ra ngửa mặt lên trời khấn vái.

    là danh từ để chỉ cho chỗ thờ phụng ở ngoài trời. Trước kia thì bàn thờ thiên thường được làm bằng chất liệu gạch và bằng gỗ. Ngày nay để bàn thờ thiên đẹp, chuẩn phong thủy người ta làm bàn thờ thiên bằng đá.

    Bài văn khấn ngoài trời mùng 1 và 15 hàng tháng

    Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ thần quân.

    Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quan trong xứ này.

    Con kính lạy ngài Bản gia Tiền chủ ngụ trong nhà này.

    Tín chủ con là …………………………….Tuổi………………….

    Ngụ tại………………………………………………………………

    Hôm nay là ngày………. tháng…………năm…………(Âm lịch)

    Tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương dâng lên trước án, thành tâm kính mời: Đức Hoàng thiên hậu Thổ Chư vị Tôn Thần, ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng Chư vị Tôn thần, ngài Bản gia Tiền Chủ. Cúi xin Chư vị Tôn thần Bản gia Tiền Chủ thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Cô Hồn Tháng 7 Nhiều Nhà Tin Dùng
  • Văn Khấn Ban Thần Tài Ngày Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Gia Tiên Xin Bán Đất, Bán Nhà Cho Đúng Đạo, Đúng Phép
  • Hướng Dẫn Cách Cúng Khai Trương Shop Quần Áo Đúng Cách Để Làm Ăn Phát Đạt
  • Văn Khấn Cúng Khi Đi Chùa Ngày Rằm, Mùng Một Âm Lịch Hàng Tháng
  • Bài Cúng Cô Hồn Tháng 7 Nhiều Nhà Tin Dùng

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Ngoài Trời Ngày Mùng 1 Và 15 Hàng Tháng Chính Xác Nhất Và Đầy Đủ Nhất
  • Bài Văn Khấn Cho Lễ Cúng Ngày Rằm Tháng 7
  • Mâm Cúng Cô Hồn Hàng Tháng Mùng 2; 16
  • Văn Khấn Gia Tiên, Chúng Sinh Chuẩn Nhất Ngày Rằm Tháng Bảy
  • Cúng Cô Hồn Vào Ngày Nào Trong Tháng 7 Âm Lịch Và Cần Chuẩn Bị Lễ Vật Gì?
  • Ngoài việc cúng thần linh, cầu siêu cho gia tiên, trong tháng 7, người Việt còn có lễ cúng bố thí cho các cô hồn không nơi nương tựa. Dưới đây là bài cúng cô hồn mọi nhà hay dùng, mời độc giả tham khảo.

    Thời gian cúng cô hồn:

    Buổi chiều tối các ngày mùng 1 đến 15/ 7 (âm lịch). Tuy nhiên, một số quan niệm cho rằng, thời gian cúng chuẩn nhất là từ mùng 2 đến 14/7 (âm lịch), vì ngày 15 Diêm Vương sẽ đóng cửa ngục lại, linh hồn nào không về kịp, sẽ vất vưởng trên nhân gian.

    – Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại, 5 mầu (ngũ sắc).

    – Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc.

    – Kẹo bánh, tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).

    – Nếu cúng thêm cháo thì thêm mâm gạo muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)

    Lưu ý: Không cúng xôi, gà. Nên bày lễ và cúng ngoài trời.

    Văn khấn chúng sinh (cúng cô hồn) theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam (NXB Văn hóa Thông tin)

    Lưu ý: Khấn ngoài trời

    Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).

    Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.

    Con lạy Đức Phật Di Đà

    Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

    Con lạy Táo Phủ Thần quân Chinh thần.

    Tiết tháng 7 sắp thu phân

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

    Âm cung mở cửa ngục ra

    Vong linh không cửa không nhà

    Đại Thánh Khảo giáo – A Nan Đà Tôn giả

    Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

    Gốc cây xó chợ đầu đường

    Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

    Quanh năm đói rét cơ hàn

    Không manh áo mỏng – che làn heo may

    Cô hồn nam bắc đông tây

    Trẻ già trai gái về đây hợp đoàn

    Nay nghe tín chủ thỉnh mời

    Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

    Cơm canh cháo nẻ trầu cau

    Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

    Gạo muối quả thực hoa đăng

    Mang theo một chút để dành ngày mai

    Phù hộ tín chủ lộc tài

    An khang thịnh vượng hòa hài gia trung

    Nhớ ngày xá tội vong nhân

    Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

    Bây giờ nhận hưởng xong rồi

    Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

    Tín chủ thiêu hóa kim ngân

    Cùng với quần áo đã được phân chia

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức

    Cho tín chủ con

    Tên là:………………………………

    Vợ/Chồng:…………………………

    Con trai:……………………………

    Con gái:…………………………….

    Ngụ tại:……………………………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Ban Thần Tài Ngày Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Gia Tiên Xin Bán Đất, Bán Nhà Cho Đúng Đạo, Đúng Phép
  • Hướng Dẫn Cách Cúng Khai Trương Shop Quần Áo Đúng Cách Để Làm Ăn Phát Đạt
  • Văn Khấn Cúng Khi Đi Chùa Ngày Rằm, Mùng Một Âm Lịch Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Tháng 7 Âm Lịch Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Ban Thần Tài Ngày Rằm Tháng 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cúng Cô Hồn Tháng 7 Nhiều Nhà Tin Dùng
  • Văn Khấn Ngoài Trời Ngày Mùng 1 Và 15 Hàng Tháng Chính Xác Nhất Và Đầy Đủ Nhất
  • Bài Văn Khấn Cho Lễ Cúng Ngày Rằm Tháng 7
  • Mâm Cúng Cô Hồn Hàng Tháng Mùng 2; 16
  • Văn Khấn Gia Tiên, Chúng Sinh Chuẩn Nhất Ngày Rằm Tháng Bảy
  • Bài văn khấn ban thần tài ngày rằm tháng 7 đầy đủ chính xác nhất và cách sắm lễ cúng ban thần tài ngày rằm tháng 7. Cúng thần Tài Thổ địa rất quan trọng

    Văn khấn ban thần tài ngày rằm tháng 7 và cách sắm lễ

    Bài văn khấn ban thần tài ngày rằm tháng 7 đầy đủ chính xác nhất và cách sắm lễ cúng ban thần tài ngày rằm tháng 7. Việc cúng thần Tài Thổ địa rất quan trọng, Thổ địa là vị thần trông coi nhà cửa, định đoạt họa phúc cho một gia đình. Thần tài là vị mang đến may mắn tài lộc sự nghiệp cho bạn.

    Vì vậy mà ngày rằm tháng 7 không thể không cúng 2 vị thần này luôn luôn có trong ngôi nhà bạn.

    Sắm lễ cúng ban thần tài ngày rằm tháng 7

    Lễ cúng vào chiều tối ngày Rằm (lễ Vọng) thường là lễ chay: Hương, loa, trầu cau, quả, tiền vàng. Ngoài lễ chay cũng có thể cúng thêm lễ mặn vào ngày này gồm: Rượu, thịt gà luộc, các món mặn nhưng đơn giản thôi.

    Bài văn khấn ban thần tài ngày rằm tháng 7

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

    Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.

    Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.

    Tín chủ là………………………………………………………………

    Ngụ tại………………………………………………………………….

    Hôm nay, là ngày Rằm tháng Bảy năm Kỷ Hợi (2019)

    Tín chủ con thành tâm sắm sửa hương, hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả, bầy ra trước án. Đốt nén hương thơm kính mời: ngày Bản gia Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ Địa Long Mạch Tôn thần, ngài Bản gia Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.

    Cúi xin các Ngày thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Gia Tiên Xin Bán Đất, Bán Nhà Cho Đúng Đạo, Đúng Phép
  • Hướng Dẫn Cách Cúng Khai Trương Shop Quần Áo Đúng Cách Để Làm Ăn Phát Đạt
  • Văn Khấn Cúng Khi Đi Chùa Ngày Rằm, Mùng Một Âm Lịch Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Tháng 7 Âm Lịch Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng Lễ Tạ Mộ Và Lễ Tạ Đất ( Thần Linh Thổ Địa)
  • Văn Khấn Cúng Khi Đi Chùa Ngày Rằm, Mùng Một Âm Lịch Hàng Tháng

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Cúng Khai Trương Shop Quần Áo Đúng Cách Để Làm Ăn Phát Đạt
  • Văn Khấn Gia Tiên Xin Bán Đất, Bán Nhà Cho Đúng Đạo, Đúng Phép
  • Văn Khấn Ban Thần Tài Ngày Rằm Tháng 7
  • Bài Cúng Cô Hồn Tháng 7 Nhiều Nhà Tin Dùng
  • Văn Khấn Ngoài Trời Ngày Mùng 1 Và 15 Hàng Tháng Chính Xác Nhất Và Đầy Đủ Nhất
  • Người Việt có thói quen đi lễ chùa vào những ngày đầu năm mới, ngày rằm, mùng Một âm lịch để cầu bình an, may mắn cho bản thân và gia đình. Bên cạnh đó, lễ chùa còn là dịp để mọi người vãn cảnh, tìm lại sự thảnh thơi, bình an trong tâm hồn sau những bộn bề của cuộc sống.

    Nhưng đi lễ chùa sao cho đúng cách, đúng chuẩn, đúng văn hóa không phải ai cũng biết. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn cách sửa soạn, sắm lễ vật đi lễ chùa đúng theo quy định của nhà chùa.

    Sắm lễ đi lễ chùa

    • Khi đi lễ chùa chỉ nên sắm các lễ chay như: hương, hoa tươi, các loại quả, oản, xôi, chè…
    • Trên hương án của chính điện tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa chỉ được dâng đặt lễ chay tịnh, không đặt lễ mặn.
    • Lễ mặn như cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt gà, giò, chả… chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông, Thánh, Mẫu.
    • Vàng mã, tiền âm phủ chỉ nên đặt ở bàn thờ thần linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.
    • Không nên đặt tiền thật trên các ban thờ mà nên bỏ vào hòm công đức.
    • Không nên đặt rượu, bia, thuốc lá trên ban thờ Phật nhưng có thể đặt trên ban thờ Thánh.
    • Hoa tươi lễ Phật nên chọn các loại hoa sen, hoa huệ, hoa ngâu, hoa mẫu đơn… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại.

    Cách hành lễ khi đi chùa

    • Đến chùa hành lễ phải đặt lễ vật, thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước.
    • Tiếp theo là chính điện nơi thờ Tam Bảo.
    • Sau đó mới đi lễ ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.
    • Cuối cùng là lễ ở nhà thờ Tổ.

    Một số bài văn khấn khi đi lễ chùa

    1. Văn khấn Đức Ông – Đức Chúa Ông (Tôn giả Tu-đạt)

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn Giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là……………………………………………………………………………………………………….. Cùng cả gia đình thân tới cửa chùa trước điện Đức Ông, thành tâm kính lễ, (nếu có đang lễ vật thì khấn thêm “hiến dâng phẩm vật, kim ngân tịnh tài”), chúng con tâu lên Ngài Tu Đạt Tôn Giả từ cảnh trời cao soi xét. Chúng con kính tâu lên Ngài Già Lam Chân Tể cai quản trong nội tự cùng các Thánh Chúng trong cảnh chùa đây. Thiết nghĩ chúng con sinh nơi trần tục, nhiều sự lỗi lầm, hôm nay tỏ lòng thành kính, cúi xin Đức Ông thể đức hiếu sinh, rủ lòng tế độ che chở cho chúng con, ba tháng hè chín tháng đông, tiêu trừ bệnh tật tai ương, vui hưởng lộc tài may mắn, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

    2. Văn khấn Đức Thánh Hiền (Đức A-nan-đà Tôn Giả)

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Con cúi lạy Đức Thánh Hiền, Đại Thánh Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là……………………………………………………………………………………………………….. Chúng con thành tâm tiến dâng lễ bạc, oản quả, hương hoa. Cầu mong Tam Bảo chứng minh, Đức Thánh Hiền chứng giám, rủ lòng thương xót phù hộ cho con được mọi sự tốt lành, sức khỏe dồi dào, an ninh khang thái, gia đạo hưng long, thịnh vượng. Cúi mong Ngài soi xét tâm thành, phù hộ cho gia đình chúng con được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

    3. Văn khấn cầu tài, cầu lộc, cầu bình an ở ban Tam Bảo (Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo)

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là……………………………………………………………………………………………………….. Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng (nếu viết sớ đặt trên mâm lễ vật) lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo. Chúng con xin dốc lòng kính lễ: Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà. Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương. Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát. Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát. Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ………………………. (công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…). Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai quan nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khoẻ, trên dưới thuận hoà an khang thịnh vượng. Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Tháng 7 Âm Lịch Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng Lễ Tạ Mộ Và Lễ Tạ Đất ( Thần Linh Thổ Địa)
  • Bài Văn Khấn Phật Tại Gia Và Lưu Ý Khi Thờ Phật
  • Bài Cúng Xe Cuối Năm
  • Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Tháng 7 Cách Cúng Cô Hồn Chuẩn Nhất
  • Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Tháng 7 Âm Lịch Chuẩn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Khi Đi Chùa Ngày Rằm, Mùng Một Âm Lịch Hàng Tháng
  • Hướng Dẫn Cách Cúng Khai Trương Shop Quần Áo Đúng Cách Để Làm Ăn Phát Đạt
  • Văn Khấn Gia Tiên Xin Bán Đất, Bán Nhà Cho Đúng Đạo, Đúng Phép
  • Văn Khấn Ban Thần Tài Ngày Rằm Tháng 7
  • Bài Cúng Cô Hồn Tháng 7 Nhiều Nhà Tin Dùng
  • Kính lễ mười phương Tam Bảo chứng minh!

    Hôm nay, ngày …. tháng ….. năm …….

    Gia đình con ………………………… Ngụ tại: ………………………………………………

    Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn, thuận lợi bán buôn, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc.

    Kính thỉnh:Cô hồn xuất tại côn lôn

    Ở tam kì nghiệp, cô hồn vô số

    Những là mãn giả hằng hà

    Đàn ông, đàn bà, già trẻ lớn nhỏ

    Ôi! Âm linh ơi, cô hồn hỡi

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Chết lại nhờ hớp cháo lá đa

    Thương thay cũng phận người ta

    Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu

    Đàn cúng thí vâng lời phật dạy

    Của có chi, bát nước nén nhang

    Cũng là manh áo thoi vàng

    Giúp cho làm của ăn đàng thăng thiên

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu

    Phép thiêng biến ít thành nhiều

    Trên nhờ tôn giả chia đều chúng sanh

    Phật hữu tình từ bi tế độ

    Chớ ngại rằng có có không không

    Nam mô Phật, Nam mô Pháp,Nam mô Tăng

    Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài.Chân ngôn biến thực:

    NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA, NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ, ÁN TÁM BẠT RA, TÁM BẠT RA HỒNG (7 lần)

    Chân ngôn cúng dường:

    ÁN NGA NGA NẴNG TAM BÀ PHẠT PHIỆT NHỰT RA HỒNG (7 lần).

    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Với người Việt chúng ta,cúng cô hồn là nghi lễ truyền thống, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Quan niệm người Việt, con người luôn có hai phần là linh hồn và thể xác. Khi con người chết đi, phần linh hồn vẫn tồn tại, có người được đầu thai kiếp khác, có người thì bị đầy xuống địa ngục, làm quỷ đói quấy nhiễu dương gian.

    Cứ mỗi năm, người Việt hay làm lễ cúng cô hồn, thường xuyên nhất là vào mùng 2 & 16 âm lịch và Rằm là mùng 1 & 15 âm lịch. Được biết là Ở Trung Quốc, việc cúng cô hồn được thực hiện vào ngày 14 – 07 âm lịch, riêng ở Việt Nam thì thời gian thường kéo dài cả một tháng

    Theo Phật giáo, cúng rằm tháng bảy hay còn gọi ngày Vu Lan báo hiếu. Ngày cúng rằm tháng 7, chúng ta nên đến chùa, hoặc cúng tại gia gồm các lễ như: Cúng thí cô hồn, cúng phóng sanh, cúng Phật, cúng gia tiên và thần linh.

    Tháng 7 không chỉ dành để “báo hiếu” mà còn là khoảng thời gian tất cả mọi người nên thành tâm giúp đỡ các linh hồn đói khát.

    Có 2 mâm lễ cúng cô hồn để xóa tội vong nhân:

    Mâm lễ cúng cô hồn 1 bao gồm:

    Quan trọng hơn cả là khi cúng cô hồn chúng ta phải nên đọc Thần chú đúng và đủ để thể hiện tấm lòng của mình mong cho chính sinh được no đủ.

    Theo truyền thống tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên của người dân Việt Nam, tháng 7 có ngày “xá tội vong nhân” nên nhiều người thường chuẩn bị mâm cơm cúng trước nhà để cúng các vong linh chơ vơ không gia đình. Theo dân gian hay còn gọi là cúng cô hồn, cúng thí thực (tặng thức ăn).

    Ngoài mâm cơm cúng tổ tiên để tỏ lòng thành kính, báo hiếu, nhớ đến tổ tiên, các người họ hàng đã mất thì mâm cúng chúng sinh cũng rất quan trọng, buộc phải cúng đúng để không gặp xui xẻo trong tháng 7 cũng như tích đức, tích phước cho con cháu, xóa tội cho vong linh của gia đình dưới suối vàng.

    Theo Đại đức Thích tâm Kiên, Trụ trì chùa Một Cột (Hà Nội) cho hay, tín ngưỡng dân gian Việt Nam coi tháng 7 là tháng cô hồn (hay còn gọi là tháng ma quỷ).

    Từ mùng 2/7 – 12/7 âm lịch, Diêm Vương ra lệnh khởi đầu mở Quỷ Môn Quan “thả cửa” cho ma quỷ và chấm dứt sau 12 giờ đêm của rằm tháng 7 cần quay lại địa ngục. Các cô hồn được xoá tội, thoát về dương thế, vất vưởng khắp nhân gian. Vì những cô hồn thường sợ ánh sáng, không dám đến đón nhận các thiết bị phẩm cúng bố thí nên mọi người cần chọn cúng vào buổi chiều tối hoặc tối hẳn, cô hồn dễ nhận được đồ mà các gia chủ cúng.

    – Đặt lễ cúng trước cửa nhà (hay nơi đang buôn bán).- Sau khi cúng xong, những lễ vật cúng cô hồn không đem vào nhà. Đồ vàng mã đốt ngay tại chỗ, còn đĩa muối, gạo rải ra tám hướng. Sau đótiến hành đốt vàng mã.

    – Theo những chuyên gia, đối với mâm cúng phật thì chỉ chuẩn bị đồ chay, còn đối với mâm cúng ông bà, tổ tiên hay cúng cô hồn tháng 7 thì có thể cúng các đồ mặn.

    – Khi rải tiền vàng ra mâm cúng cần để 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hướng từ 3-5-7 cây hương.

    – Khi việc cúng xong xuôi, thường có tục giật cô hồn (cướp đồ cúng).

    – Trước khi dọn đồ ra cúng, trường hợp gia chủ chưa kịp thắp nhang khấn vái mà có người tranh nhau giật đồ cúng từ trên tay thì ngay lập tức cần buông thả đồ cúng ra khỏi tay. Bởi theo dân gian, thí dụ giật lại, hậu quả nhận được là điều xui xẻo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Lễ Tạ Mộ Và Lễ Tạ Đất ( Thần Linh Thổ Địa)
  • Bài Văn Khấn Phật Tại Gia Và Lưu Ý Khi Thờ Phật
  • Bài Cúng Xe Cuối Năm
  • Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Tháng 7 Cách Cúng Cô Hồn Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Ngoài Mộ Ngày Giỗ
  • Tin tức online tv