【#1】Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Mộ phần Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

Từ trung tâm Hà Nội, du khách lái xe hướng qua ra đường CT 01/ CT Pháp Vân – Cầu Giẽ. Đến đoạn giao giữa CT Hà Nội – Ninh Bình và CT Pháp Vân – Cầu Giẽ, lái xe qua vòng xuyến sang QL 21B vào Đại lộ Thiên Trường. Tại vòng xuyến Big C Nam Định, dẽ phải vào QL10/QL38B qua cầu Lộc An tới Đại Lộ Lê Đức Thọ qua cầu Nam Định dẽ phải vào ĐT490/ ĐT 490C, dẽ trái vào ĐT487 đến ngã rẽ phải thứ 5 dẽ vào và đi thẳng đến ngã dẽ thứ 4 bên trái dẽ vào đi thẳng theo đường làng Phú Hào là tới đền Phủ Giày.

Đền Phủ Giày thờ ai?

Đền là một quần thể gồm nhiều ngôi đền nhỏ ghép lại. Đặc biệt phải nói đến kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là Tiên Hương, Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là đền chính của Mẫu Liễu Hạnh và thờ bên chồng của Mẫu, còn phủ Vân Cát và Phủ Tổ là nơi thờ Mẫu và bên ngoại (bên bố mẹ đẻ) của Mẫu.

Lịch sử đền Phủ Giày

Đền Phủ Dầy có truyền thuyết kể lại rằng xưa kia vì nhớ thương chồng con trước khi về trời mà bà chúa Liễu Hạnh đã để lại chiếc giày ở trần gian. Cũng có truyền thuyết kể lại rằng vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy. Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.

Phủ Dầy bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của Trọng Nội, Xuất bản năm 1959 thì: đời Vua Anh Tông (1557) làng kẻ Giầy đổi thành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu. Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái. Sang đời Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam định.

Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất. Phủ Dầy chính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho một quần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản Nam định. Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương.

Kiến trúc đền Phủ Giày

Đền Phủ Giày gồm 3 quần thể chính:

Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định; nằm cạnh đường giao thông liên xã. Đây là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671), trải qua bao thăng trầm lịch sử, phủ vẫn giữ được nét cổ kính thời xưa.

Năm 1996 Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

Cảnh quan của phủ rất rộng rãi và thoáng đãng. Mới bước vào, du khách sẽ thấy một giếng nước tròn bên trong là ụ đất để cắm cờ khi diễn ra lễ hội. Cán cờ bằng gậy gỗ, trên đầu buộc túm lá hoặc quạ đen làm thiên sứ của trời. Lá cờ thần được treo trên đỉnh. Tiếp đến là sân lớn diễn ra các trò chơi hay là nơi những sập bán hàng được bày bán trong mùa lễ hội. au sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống. Tiếp nối 3 phương đình là hồ bán nguyệt, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô.

Kiến trúc các dãy nhà tại Phủ được nối liền nhau tạo thành thể thống nhất. Mỗi nhà sẽ có phòng riêng gọi là cung, có tất cả 4 cung: Cung đệ tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng. Đối xứng với cung Đệ Tứ bên trái là Ban Quan lớn Thủ phủ và bên phải là Ban Chầu Thủ phủ; cung đệ tam thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng và Hội Đồng các quan hay Ngũ vị vương quan; Cung đệ nhị thờ Tứ Vị Chầu bà và ba bộ long ngai; Cung Đệ nhất là cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung này ở trong cùng. Tuy nhiên, đa phần nơi thờ Mẫu Tứ phủ có nội cung (cung cấm).

Cung cấm có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh cùng với hai Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân đều được phong thần và sắc phong. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể vào đó được mà phải có sự cho phép của ban quản lý khu di tích mới được đặt chân vào đó.

Bên cạnh các dãy nhà thờ có 1 dãy nhà nữai là Ban Trần Triều. Trong dãy nhà này có đặt ban thờ Ban Trần Triều và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau nơi thờ chính là Động Sơn Trang, nơi này thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn Hai Chầu và mười hai cô Sơn Trang.

Phủ nằm phía bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo nên một quần thể thờ Phật – Mẫu – Thần.

Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: ” .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành “.

Từ cổng bước vào, du khách sẽ gặp Ngũ Vân Lâu, gác chuông với 5 cổng lớn xây dựng từ năm Tự Đức. Phía trong là hồ bán nguyệt xây bằng đá. Giữa hồ bán nguyệt có phương du nằm ở giữa và có hai cầu đá dẫn ra ngoài. Phương du gồm có ba gian làm bằng gỗ lim, mái có góc uốn cong, xung quanh lan can được ghép bằng những tường hoa bằng đá với những mảng phù điêu trạm khắc một số loài hoa và những con voi. Phương du có bốn mặt thoáng, là nơi khách đứng xem kéo chữ vào ngày hội.

Bên trong phủ có 4 cung thờ: kết câu hai cung đệ nhất và đệ nhị đều có 3 gian, và cả 2 đều được xây từ năm Tự Đức (1879). Cả hai cung đều bị giặc Pháp phá hủy mãi về sau mới được tôn tạo lại.

Cung đệ nhất là chính cung khép kín thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.

Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).

Trong Phủ còn dấu tích nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, nét độc đáo còn nằm ở văn bia cùng ngũ vân lâu ngay tại mặt chính của đền, các công trình bố trí chặt chẽ tạo thành thể thống nhất, giữ lại nét giá trị từ ngàn đời.

Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Lăng mộ Thánh Liễu Hạnh nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn cá chép. Ngôi mộ trước kia là bãi đất với lùm cây xanh lá, sau đó được xây thành khu nhỏ gồm gạch lát đá. Sau đó, vua Bảo Đại cầu tự được con và được thánh Mẫu báo mộng cho, năm 1938, vua Bảo Đại biết ơn mẫu và cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen hồng quy mô như hiện nay.

Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương. Từ ngoài vào bước theo bậc tam cấp lên đến mộ phải qua 5 lớp tường toàn bằng đá được chạm khắc, mỗi lớp tường vuông đều có cửa, cửa được bổ trụ bằng đá vuông với ba mặt đều khắc câu đối và phía trên đặt các nụ sen bằng đá hồng nhạt tới 60 nụ sen đá.

Xung quanh lăng mộ là hàng cây 4 mùa xanh mát, 4 cột trụ chính đặt 4 góc khiến lăng mộ càng thêm long trọng và trang nghiêm. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở chỗ cao nhất của cả khu lăng. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên.

Bên cạnh khu lăng mộ còn có một gian nhà thờ tự với kết cấu sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần. Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.

Hàng năm vào mùa lễ hội, đền đón hàng ngàn khách du lịch về trẩy hội. Hòa chung không khí tấp nập của mùa lễ hội, dân làng và du khách càng thấy hứng khởi đón chào một năm mới đầy thắng lợi./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./

Các dạng thức thờ Mẫu Thờ Mẫu ở Bắc bộ

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,…

Thờ Mẫu ở Trung Bộ Thờ Mẫu ở Nam bộ

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…

Liễu Hạnh công chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Mẫu Liễu Hạnh)

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

Đền thờ Thánh Mẫu, đường Ngô Quyền, thành phố Thông tin chung Đà Lạt

Tên thật Phạm Tiên Nga

Liễu Hạnh Công chúa ( chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Truyền thuyết

Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

Lần giáng sinh đầu tiên

Căn cứ vào ” Quảng Cung linh từ phả ký”, ” Quảng Cung linh từ bi ký” và ” Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnh như sau:

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn ( 1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Lần giáng sinh thứ hai

Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 ( 1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Hành thiện giúp đời

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh ( Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ tân phả của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Cảnh Hồ Tây.

Ông bèn lên tiếng ghẹo: 三木森庭,坐著好兮女子 – Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Người con gái nghe vậy, đối ngay: 重山出路走來使者吏人 – Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc bèn nói tiếp: 山人憑一几,莫非仙女臨凡 – Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.

c âu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên . Chữ bàng có bộ kỷ . Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm .

Cuộc tái hợp với Đào Lang- Người chồng kiếp trước

Hiện nay những câu đối, những dấu tích về 2 lần gặp gỡ tại Lạng Sơn và Phủ Tây Hồ còn lưu lại ở Đền Mẫu Đồng Đăng (nơi Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh lần đầu) và Phủ Tây Hồ (lần gặp thứ hai)

Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

Lễ hội

Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại.

Cung thờ Sơn Trang trong Phủ Tây Hồ

Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch – ngày giỗ của bà.

Địa điểm là:

Đền Sòng Sơn ở đường Hàng Bột, Hà Nội

Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ. Riêng lễ hội Phủ Dầy, còn gắn liền với Hội chợ Viềng, họp vào ngày 7 tháng giêng./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ (miền trời): mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
  • Nhạc phủ (miền rừng núi): mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

Tam phủ và Tứ phủ Hát Chầu Văn

Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thiên Y A Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên . Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.

Đó là hình thức hầu đồng với 36 giá chầu:

Thỉnh Mẫu Và Quan Đệ Nhất

【#2】Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Trong Nhà

Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Trong Nhà, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Ban Thần Tài, Bài Cúng 16 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng 15 Tháng Giêng, Bài Văn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày 7 Tháng Giêng, Bài Cúng Phật Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Tại Nhà Năm 2021, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Bài Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Thủ Tục Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng ông Công Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày 07 Tháng Giêng, Van Cung Mung 9 Thang Gieng, Bài Khấn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng ông Công Ngày Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày Mùng 9 Tháng Giêng, Van Cung Mong Chin Thang Gieng , Bài Cúng Mùng Chín Tháng Giêng Ta, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng Trong Nhà, Một Cửa Hàng Trong Quý 1 Bán Được 380 Tấn Gạo Số Gạo Bán Được Trong Tháng Giêng Bằng 2/5 Số Gạo Bán , Một Cửa Hàng Trong Quý 1 Bán Được 380 Tấn Gạo Số Gạo Bán Được Trong Tháng Giêng Bằng 2/5 Số Gạo Bán, Sau Khi Tu Tu O Gieng Loa Thanh Xuong Thuy Cung Trong Thuy Da Tim Gap Lai Mi Chau Hay Tuong Va Ke La, Bài Cúng Khoan Giếng, Dàn ý Bài Rằm Tháng Giêng, Văn Tế Rằm Tháng Giêng, Lập Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Về Bài Rằm Tháng Giêng, Bài Thơ Rằm Tháng Giêng, Văn Bản Rằm Tháng Giêng, Dàn Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Rằm Tháng Giêng, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Tại Nhà, Bài Giảng Rằm Tháng Giêng, Văn Khấn 30 Tháng Giêng, Nội Dung Bài Rằm Tháng Giêng, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng, Bài Khấn 15 Tháng Giêng, Văn Khấn Mùng 7 Tháng Giêng, Văn Khấn Mùng 9 Tháng Giêng, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Văn Khấn Ngày 7 Tháng Giêng, Câu Thơ Tháng Giêng Ngon Như Một Cặp Môi Gần Có Thể Hiểu Là, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Cac Gio Kinh Phung Vu Thang Gieng 2021, Câu Thơ Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính ở Trong Bài Thơ Nào Của Ai Câu T, Bài Tiểu Luận Mẫu Lãnh Đạo Cấp Phòng Tình Huống Làm Việc Giêng Trong Giờ Hành Chính, 25 Tháng 2 2021 … Trong Toàn Quân, Chỉ Thị Số 91/ct-bqp Ngày 22 Tháng 11 Năm 2021 Của Bộ Trưởng Bộ, 25 Tháng 2 2021 … Trong Toàn Quân, Chỉ Thị Số 91/ct-bqp Ngày 22 Tháng 11 Năm 2021 Của Bộ Trưởng Bộ, Câu Thơ Nay ở Trong Thơ Nên Có Thép / Nhà Thơ Cũng Phải Biết Xung Phong Trong Bài Th, 12 Tháng 1 Cung Gì , Bài Cúng Đất Tháng 2, Bài Cúng Xe Đầu Tháng, Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà, Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Gái, Bài Cúng 23 Tháng 12, Bài Cúng Mụ Đầy Tháng, Bài Cúng 5 Tháng 5, Thủ Tục Cúng Rằm Tháng 7, Bài Cúng Đầy Tháng, Bài Cúng Tháng 7, Bài Cúng Rằm Tháng 7, Bài Cúng Nôm Đầy Tháng, Bài Cúng Rằm Tháng 8, Bài Cúng Rằm Tháng 07, Bài Cúng Rằm Tháng 9, Thủ Tục Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà, Cúng Rằm Tháng 7 Văn Khấn, Bài Cúng Mùng 5 Tháng 5, Bài Cúng 30 Hàng Tháng, Bài Cúng Xe Hàng Tháng, Bài Cúng 30 Tháng Chạp, Thủ Tục Cúng 23 Tháng Chạp, Bài Cúng 25 Tháng Chạp, Đấu Thầu Cung Cấp Lắp Đặt Thang Máy, Bài Cúng Hàng Tháng, Bài Cúng 23 Tháng Chạp, Bài Khấn Cúng Rằm Tháng 8, Thủ Tục Cúng ông Táo 23 Tháng Chạp, Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai, Bài Cúng Rằm Tháng 7 Ngoài Trời, Bài Cúng 23 Tháng Chạp 2014, Bài Cúng 23 Tháng Chạp 2013, Giấy Đề Nghị Cung ưng Sec Thang Toán, Can Bo Wuan Doi Trong Nien Han Thang Quan Ham Bi Ky Luat Khien Trach Co Duov Thang Quan Ham Khong, Lúc 8h ô Tô A Chuyển Động Thẳng Đều Với Tốc Độ 60km/h . Cùng Líc ô Tô 2 Xuất Phát Từ B Với Tốc Độ 40, Lúc 8h ô Tô A Chuyển Động Thẳng Đều Với Tốc Độ 60km/h . Cùng Líc ô Tô 2 Xuất Phát Từ B Với Tốc Độ 40, Điểm Thi Đua Trong Các Tháng Của Một Năm Học Của Lớp 7a Được Liệt Kê Trong B, Bài Cúng 30 Tết Trong Nhà, Don Xin Ra O Cung Vo Trong Quan Doi, Bài Cúng Vong Trong Nhà, Lao Động Trong Chuỗi Cung ứng, Các Yếu Tố Rủi Ro Trong Chuỗi Cung ứng May Mặc Việt Nam, Các Yếu Tố Động Năng Trong Chuỗi Cung ứng Là Gì, Yếu Tố Động Năng Trong Chuỗi Cung ứng, Tuan 25 Tiet 3 Trong Cung Em Hoc Toan, Dàn Bài Đã Có Lần Em Cùng Bố Mẹ Đi Thăm Mộ Người Thân Trong Ngày Lễ Tết, Nội Cung Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong QĐnd Việt Nam,

Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Trong Nhà, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Ban Thần Tài, Bài Cúng 16 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng 15 Tháng Giêng, Bài Văn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày 7 Tháng Giêng, Bài Cúng Phật Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Tại Nhà Năm 2021, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Bài Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Thủ Tục Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng ông Công Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày 07 Tháng Giêng, Van Cung Mung 9 Thang Gieng, Bài Khấn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng ông Công Ngày Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày Mùng 9 Tháng Giêng, Van Cung Mong Chin Thang Gieng , Bài Cúng Mùng Chín Tháng Giêng Ta, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng Trong Nhà, Một Cửa Hàng Trong Quý 1 Bán Được 380 Tấn Gạo Số Gạo Bán Được Trong Tháng Giêng Bằng 2/5 Số Gạo Bán , Một Cửa Hàng Trong Quý 1 Bán Được 380 Tấn Gạo Số Gạo Bán Được Trong Tháng Giêng Bằng 2/5 Số Gạo Bán, Sau Khi Tu Tu O Gieng Loa Thanh Xuong Thuy Cung Trong Thuy Da Tim Gap Lai Mi Chau Hay Tuong Va Ke La, Bài Cúng Khoan Giếng, Dàn ý Bài Rằm Tháng Giêng, Văn Tế Rằm Tháng Giêng, Lập Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Về Bài Rằm Tháng Giêng, Bài Thơ Rằm Tháng Giêng, Văn Bản Rằm Tháng Giêng, Dàn Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Rằm Tháng Giêng, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Tại Nhà, Bài Giảng Rằm Tháng Giêng, Văn Khấn 30 Tháng Giêng, Nội Dung Bài Rằm Tháng Giêng, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng, Bài Khấn 15 Tháng Giêng, Văn Khấn Mùng 7 Tháng Giêng, Văn Khấn Mùng 9 Tháng Giêng, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Văn Khấn Ngày 7 Tháng Giêng, Câu Thơ Tháng Giêng Ngon Như Một Cặp Môi Gần Có Thể Hiểu Là, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Cac Gio Kinh Phung Vu Thang Gieng 2021, Câu Thơ Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính ở Trong Bài Thơ Nào Của Ai Câu T, Bài Tiểu Luận Mẫu Lãnh Đạo Cấp Phòng Tình Huống Làm Việc Giêng Trong Giờ Hành Chính, 25 Tháng 2 2021 … Trong Toàn Quân, Chỉ Thị Số 91/ct-bqp Ngày 22 Tháng 11 Năm 2021 Của Bộ Trưởng Bộ,

【#3】Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư

1 PHÁP LỄ CÚNG DƯỜNG PHẬT DƯỢC SƯ MEDICINE BUDDHA PUJA TIBETAN PHONETICS ENGLISH VIETNAMESE TẠNG VĂN TẠNG ÂM ANH VIỆT hongnhu-archives

2 hongnhu-archives FREE BOOK NOT FOR SALE SÁCH ẤN TỐNG KHÔNG BÁN Version / Ấn bản {20/09/2017} Tùy nghi sử dụng với điều kiện giữ nguyên nội dung và không bán Prerequisites: Everyone can read and practice Điều kiện hành trì: Mọi người đều có thể đọc và hành trì Based on FPMT text, Vietnamese translation added by Hong Nhu Thubten Munsel for the occasion of Geshe Thubten Dawa s birthday, October Typo mistakes checked under the guidance of Lab Kyabgon Rinpoche the 15th. Hồng Như chuyển Việt ngữ (dựa trên văn bản của FPMT) nhân dịp Pháp lễ cúng dường Phật Dược Sư mừng thọ Hòa Thượng Geshe Thubten Dawa tháng 10, 2021 Mọi sai sót là của người dịch Mọi công đức xin hồi hướng vô thượng bồ đề.

3 NOTES REGARDING THIS PRACTICE Altar and Gompa Set-up: When performing this puja extensively, it is best to set out 108 sets of offering bowls. If this is not possible, then 8 sets will suffice. The offerings for this puja are set out in a unique fashion: Starting toward the back of the altar and working forward, one places a row of 8 argham, followed by a row of 8 padhyam, then 8 pushpe, and so on, rather than consecutive rows of all 8 offerings. Ideally, one should also ppare and offer 8 tormas made from the 3 white substances (milk,butter and yoghurt) and the 3 sweet substances (sugar, molasses, and honey) in the shape of tear drops. Other offerings of food, flowers, etc. are optional. It is recommended by Lama Zopa Rinpoche to also have on the altar, if possible, a repsentation of the Medicine Buddha mandala in a mandala house and above that, a copy of the Medicine Buddha Sutra wrapped in five-colored cloth. Ritual Implements: One should have both dorje and bell, but no damaru or inner offering. Practice Tips: Because this is a practice belonging to Kriya (Action) Tantra, it is best not to eat black foods the day one performs the puja. After the puja, one can eat whatever one wishes, but before doing the puja, avoid black foods. References: Extracted from a Compilation of the Rituals of Offerings to the Seven Tathāgathas called Yeshe ön gyäl, by Losang Chökyi Gyältsän.

4 4 Medicine Buddha Concise Puja GHI CHÚ VỀ PHÁP TU NÀY Pháp đàn và Bàn Thờ: Nếu muốn hành trì pháp lễ cúng dường này một cách rộng rãi, tốt nhất là bày biện 108 lần tám phẩm cúng dường. Nếu không làm được như vậy, bày 8 lần tám phẩm cũng đủ. Phẩm cúng dường ở đây cần xếp theo thứ tự đặc biệt: bắt đầu từ phía trong bàn thờ bày ra, đặt một hàng 8 lần phẩm argham, rồi một hàng 8 lần phẩm padhyam, rồi 8 phẩm pushpe, v.v… chứ không phải mỗi hàng có đủ 8 phẩm khác nhau. Cho thật đúng thì phải chuẩn bị tám phẩm bánh cúng torma làm bằng ba chất trắng (sữa, bơ và sữa chua) và ba chất ngọt (đường, mật đường (molasses), và mật ong) nắn hình giọt nước. Tùy ý cúng dường các phẩm hương hoa thực phẩm khác, không nhất thiết phải có. Lama Zopa Rinpoche khuyên nếu được hãy nên bày cung điện mạn đà la trên bàn thờ, bên trong đặt biểu tượng mạn đà la của đức Phật Dược Sư, bên trên đặt một bản kinh Dược Sư bọc trong vải năm màu. Pháp Khí: Cần chùy kim cang và chuông báu, nhưng không cần trống con (damaru), phẩm cúng nội tại. Lưu Ý: Vì pháp lễ này thuộc hệ Mật tông Kryia, tốt nhất ngày hành lễ nên tránh dùng hắc thực (tránh dùng món mặn và ngũ vị tân). Sau khi hoàn tất pháp lễ có thể ăn gì cũng được, nhưng trước pháp lễ nên tránh dùng hắc thực. Xuất Xứ: Trích Yeshe Ön Gyäl: Pháp Lễ Cúng Dường Bảy Đức Dược Sư Như Lai do đức Losang Chökyi Gyältsän biên soạn.

5 The Concise Essence Sutra Ritual of Bhagavan Medicine Buddha called The Wish-Fulfilling Jewel Composed by Panchen Losang Chökyi Gyältsen English translation: David Molk Vietnamese Translation: Hong Nhu Thubten Munsel Bản Ngắn Tinh Túy Lễ Kinh Phật Dược Sư mệnh danh Ngọc Như Ý Do đức Losang Chökyi Gyältsen biên soạn Tiếng Anh: David Molk Tiếng Việt: Hong Nhu Thubten Munsel

7 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 7 NAMO GURU MUNI INDRAYA GANG GI TSHÄN TSAM THÖ PÄI CHHU GYÜN GYI The river of merely hearing your names Chỉ cần nghe được / suối ngọt hồng danh, NAR ME ME YANG RAB SIL PÄ TSHO TAR Makes even Avīci s hell-fires as cool as a lotus pond. lửa ngục A Tì / thành hồ sen mát. GYUR DZÄ NYIG MÄI GÖN PO DE SHEG DÜN Protectors in degenerate times, seven sugatas Là bậc hộ trì / thời kỳ tối ám, / bảy đấng Như Lai SHA KYÄI TOG DANG CHÄ PÄI ZHAB TÜ NÄ And head of the Shākyas, to your feet I bow. đầu dòng họ Thích, / đệ tử chúng con / đê đầu đảnh lễ. CHHOG MÄN JA WÄ YENG SHING NAM CHÖ KYI Distracted by activities of varying importance, Việc làm lớn bé, / xao lãng trăm vạn, NYIG MÄI GYÄL WA DÜN GYI NAM THAR LA To benefit myself and those with faith in the life stories nên vì lợi mình, / và vì những ai MÖ PÄI LO DÄN DAG LANG PHÄN PÄI CHHIR Of these seven buddhas for degenerate times, tin nơi công hạnh / bảy Phật Dược Sư / trong thời tối ám

8 8 Medicine Buddha Concise Puja DO CHHOG DÜ TSII YANG ZHÜN NYING PO DRI I ll condense the Sutra Ritual s ambrosia to its molten essence. tôi xin tóm lược, / ghi lại tinh túy / cam lồ Lễ Kinh. Because of the infallibility of Ārya Buddha s proclamation that the Medicine Buddhas power and blessings are greater and swifter in degenerate times, we accept it. One who wishes to perform this quintessential ritual for invoking the heart commitment of the degenerate time s protectors, the seven sugatas, having already made pparations as described in the Sutra Ritual, fully infusing the mind with refuge and bodhichitta, should recite as follows: Vì lời tuyên thuyết không hư ngụy của đức Thánh Phật đã dạy rằng dũng lực và sức mạnh gia trì của đức Phật Dược Sư đặc biệt to lớn và chóng vánh trong thời kỳ suy đồi, vì vậy chúng con xin tin nhận. Hãy phát tâm hành trì pháp lễ tinh túy này để thỉnh cầu thệ nguyện sâu xa của Bảy Đức Như Lai hộ trì thời đại tối ám, bày biện đúng như Lễ Kinh hướng dẫn, phát tâm qui y và tâm bồ đề, rồi tụng niệm như sau:

9 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 9 Refuge and Bodhichitta Qui Y & Phát Tâm Bồ Đề CHHOG CHU DÜ SUM GYI DE ZHIN SHEG PA THAM CHÄ KYI Nature incorporating the entire body, speech, mind, Như lai của khắp / mười phương ba thời, KU SUNG THUG YÖN TÄN THRIN LÄ qualities and activity Thân Khẩu và Ý, / thiện đức, thiện hạnh, THAM CHÄ CHIG TU DÜ PÄI NGO WOR GYUR PA of all ten directions three times tathāgatas, đều qui làm một / ở nơi chân tánh, CHHÖ KYI PHUNG PO TONG THRAG GYÄ CHU TSA ZHII JUNG NÄ Source of eighty-four thousand collections of Dharmas, là cội nguồn của / tám vạn bốn ngàn / pháp môn chánh Pháp; PHAG PÄI GEN DÜN THAM CHÄ KYI NGA DAG Lord of all ārya Sangha là chủ tể của / hết thảy Thánh Tăng: DRIN CHÄN TSA WA DANG GYÜ PAR CHÄ PÄI I seek refuge in the kind root and Bổn sư từ hòa, / chư tổ truyền thừa

10 10 Medicine Buddha Concise Puja PÄL DÄN LA MA DAM PA NAM LA KYAB SU CHHI WO lineage glorious, holy gurus. và chư đạo sư / cát tường tôn quí, / con nguyện qui y; DZOG PÄI SANG GYÄ CHOM DÄN DÄ NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the completely enlightened lord Buddhas. chư Phật Thế Tôn / giác ngộ viên mãn, / con nguyện qui y; DAM PÄI CHHÖ NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the holy Dharma. chánh Pháp mầu nhiệm / con nguyện qui y; PHAG PÄI GEN DÜN NAM LA KYAB SU CHHI WO I seek refuge in the ārya Sangha. Tăng đoàn thánh chúng / con nguyện qui y; CHOM DÄN DÄ MÄN GYI LA DE WAR SHEG PA CHHE GYÄ KYI LHA TSHOG I seek refuge in the eight brothers gone to bliss, tám đấng Thiện thệ / Thế Tôn Dược Sư KHOR DANG CHÄ PA NAM LA KYAB SU CHHI WO The lord Medicine Buddhas with their retinue hosts of deities. cùng chúng tùy tùng, / con nguyện qui y.

11 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 11 PÄL GÖN DAM PA CHHÖ KYONG WÄI SUNG MA I seek refuge in the glorious, holy protectors, bậc có mắt tuệ, / hộ pháp, giữ pháp, / YE SHE KYI CHÄN DANG DÄN PA NAM LA KYAB SU CHHI WO (X3) Dharma Protector Guardians endowed with the wisdom eye. (x3) cát tường tối thắng, / con nguyện qui y. (x3) SANG GYÄ CHHÖ DANG TSHOG KYI CHHOG NAM LA In the Buddha, Dharma and Sangha Nơi Phật, nơi Pháp, / cùng Tăng tôn quí, JANG CHHUB BAR DU DAG NI KYAB SU CHHI I seek refuge until I am enlightened. cho đến bồ đề / xin về qui y. DAG GI JIN SOG GYI PÄI TSHOG NAM KYI By my merit from giving and other perfections nhờ công đức tu / hạnh thí, hạnh khác. DRO LA PHÄN CHHIR SANG GYÄ DRUB PAR SHOG (3X) May I attain buddhahood to benefit all sentient beings. (3x) nguyện vì chúng sinh / viên thành Phật đạo (x3)

12 12 Medicine Buddha Concise Puja The Four Immeasurables Tứ Vô Lượng Tâm DAG DANG NANG WA THAM CHÄ CHHÖ KYI All sentient beings who, although self and all appearances Khắp chúng hữu tình / tuy có ngã tướng, JING KYI RANG ZHIN YIN PA LA are dharmadhātu by nature, nhưng nơi tự tánh / đều là pháp tánh, DE TAR MA TOG PÄI SEM CHÄN THAM CHÄ DE WA DANG have not realized it thus, I shall endow with happiness and chỉ vì không biết, / nên tôi nguyện xin DE WÄI GYU DANG DÄN PAR JA the causes of happiness, chúng sinh được vui / cùng nhân tạo vui, DUG NGÄL DANG DUG NGÄL GYI GYU DANG DRÄL WAR JA Separate from suffering and the causes of suffering, thoát mọi khổ đau / cùng nhân tạo khổ, DUG NGÄL ME PÄI DE WA DANG MI DRÄL WAR JA Make them inseparable from happiness without suffering không bao giờ lìa / an lạc vắng khổ,

13 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 13 DE DUG GI GYU CHHAG DANG NYE RING NYI DANG And set in equanimity, the cause of well-being, thoát mọi tham sân / chấp có lạ-thân, DRÄL WÄI TANG NYOM LA NÄ PAR JA WO (X3) free from attachment, aversion, and partiality. (x3) trú tâm bình đẳng, / nhân của an lạc. (x3) Special Bodhichitta Tâm Bồ Đề Phi Thường MA SEM CHÄN THAM CHÄ KYI DÖN DU For the sake of all mother sentient beings, Vì lợi ích của / phụ mẫu đa sinh, DZOG PÄI SANG GYÄ KYI GO PHANG THOB PAR JA I shall attain complete buddhahood. tôi nguyện thành tựu / quả Phật viên mãn. DEI CHHIR DU CHOM DÄN DÄ MÄN GYI LA DE WAR SHEG PA For that purpose I shall practice the stages of the path such Hướng mục tiêu này, / nay tôi đối trước / Thế Tôn Dược sư, CHHE GYÄ KYI LHA TSHOG KHOR DANG CHÄ PA NAM LA as prostrating, offering and exhorting the solemn promises tám đấng Thiện Thệ / cùng chư tùy tùng,

14 14 Medicine Buddha Concise Puja CHHAG CHHÖ THUG DAM KÜL WA LA SOG PÄI LAM GYI Of the blessed Medicine Guru Buddhas, đảnh lễ, cúng dường, / cung thỉnh bản nguyện, RIM PA LA JUG PAR GYI WO (X3) the eight brothers gone to bliss, and their entourages. (x3) dấn thân bước vào / tuần tự đường tu. (x3) Purifying the Place Làm Sạch Cảnh Giới THAM CHÄ DU NI SA ZHI DAG May the surface of the Earth in every direction Nguyện mặt đất mọi nơi trong cõi thế SEG MA LA SOG ME PA DANG Be stainless and pure, without roughness or fault, được thanh tịnh, không đá sỏi gập ghềnh, LAG THIL TAR NYAM BAIDURYI As smooth as the palm of a child s soft hand như ngọc xanh biếc sáng trong, RANG ZHIN JAM POR NÄ GYUR CHIG And as natural polished as lapis lazuli. như lòng bàn tay phẳng mịn.

15 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 15 Offering Prayer Nguyện Dâng Cúng Phẩm LHA DANG MI YI CHHÖ PÄI DZÄ May the material offerings of gods and humans, Hết thảy phẩm vật / trong cõi trời, người, NGÖ SU SHAM DANG YI KYI TRÜL Both those set before me and those visualized, cụ thể bày ra, / hay trong ý tưởng, KÜN ZANG CHHÖ TRIN LA NA ME Like a cloud of peerless offerings of Samantabhadra, biển mây trùng điệp / cúng phẩm Phổ Hiền, NAM KHÄI KHAM KÜN KHYAB GYUR CHIG Pervade and encompass the vastness of space. nguyện dâng đầy khắp / không gian vô tận. Offering Cloud Mantra Mây Cúng Dường This mantra multiplies the offerings so that they become numberless. OM NAMO BHAGAVĀTE VAJRA SĀRA PRAMARDANE / TATHĀGATĀYA / ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA / TADYATHĀ / OM VAJRE VAJRE / MAHĀ VAJRE / MAHĀ TEJA VAJRE / MAHĀ VIDYA VAJRE / MAHĀ BODHICHITTA VAJRE / MAHĀBODHI MANDOPASAMKRAMANA VAJRE / SARVA KARMA ĀVARANA VISHO DHANA VAJRE SVĀHĀ (X3)

16 16 Medicine Buddha Concise Puja Extensive Power of Truth Năng Lực Sự Thật bản dài KÖN CHHOG SUM GYI DEN PA DANG By the force of the truth of the Three Jewels of Refuge, Nguyện nương năng lực / chân thật Tam Bảo, SANG GYÄ DANG JANG CHHUB SEM PA THAM CHÄ KYI JIN GYI LAB DANG By the firm inspiration from all buddhas and bodhisattvas, nương lực gia trì / của Phật, bồ tát, TSHOG NYI YONG SU DZOG PÄI NGA THANG CHHEN PO DANG By the power of the buddhas who have fully completed their collections of both good merit and insight, and nương lực tư lương / phước trí viên mãn, CHHÖ KYI YING NAM PAR DAG CHING SAM GYI MI KHYAB PÄI By the might of the dharmadhātu, inconceivable and pure, và nương Pháp tánh / thanh tịnh triệt để / ngoài tầm nghĩ bàn, TOB KYI DE ZHIN NYI DU GYUR CHIG May all of these offerings be hereby transformed into their actual nature of voidness. nguyện cúng phẩm này / đều thành tánh như. (In this way bless the surrounding and the articles of offering) (Nhờ đó làm sạch ngoại cảnh và làm sạch phẩm cúng dường)

17 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 17 CHHOG DEN GYÄL WA SÄ CHÄ JIN LAB DANG Through the power of the supme truth of the buddhas and bodhisattvas blessings, Nương lực gia trì / chân lý vô thượng / của Phật, bồ tát, TSHOG NYI NGA THANG CHHÖ YING DAG PÄI THÜ The might of the two collections, and the dharmadhātu s purity, Nương lực hai bồ / tư lương phước trí, / và nương năng lực / pháp tánh thanh tịnh, ZHING DIR DE WA CHÄN TAR NÖ CHÜ KYI May this realm s beings and environment be enriched nguyện cho cõi này, / ngoại cảnh, hữu tình / giàu như Cực Lạc, SI ZHII PHÜN TSHOG DÖ GÜ JOR GYUR CHIG With all samsāra and nirvana s desirable perfections like Sukhāvatī. luân hồi, niết bàn / có được đầy tràn / mọi điều ước mong. RIN CHHEN SA ZHI JÖN SHING CHHU TSHÖ GYÄN Jeweled ground, adorned with trees and with ponds, đất ngọc trang nghiêm, / cây với sông hồ, SER NGÜL MU TIG JE MA DRAM BUR DÄL Bottoms covered with gold, silver and pearl dust, bờ hồ cát vàng, / cát bạc, ngọc trai,

18 18 Medicine Buddha Concise Puja ME TOG CHÄL TRAM TSÄN DÄN DRI SUNG DEN Flowers strewn and sandalwood fragrance rising; hoa nở bạt ngàn, / trầm hương tỏa ngát, LHA MII LONG CHÖ KÜN ZANG CHHÖ PÄ KHYAB Human and pine enjoyments, Samantabhadra s offerings, everywhere. thọ dụng trời người, / cúng phẩm Phổ Hiền / trùng điệp khắp nơi. DER NI YI ONG NOR BÜI PHO DRANG Ü There, in a charming jeweled palace s center, Chính giữa cung điện / ngọc báu rạng ngời, PÄD MA SENG THRIR GYÄL WA SÄ CHÄ NAM On lotuses and lion thrones, buddhas and bodhisattvas abide. ngự trên đài sen / pháp tòa sư tử / là Phật, bồ tát. ZHUG NÄ ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜN PÄI May it be filled with oceans of offering clouds, biển mây cúng phẩm / sinh từ minh chú, / đại định, đại nguyện, CHHÖ TRIN GYA TSHÖ GANG ZHING CHÖ GYUR CHIG Born through the force of mantra, samādhi and aspiration, which they enjoy. nguyện dâng đầy khắp, / đẹp lòng các Ngài.

19 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 19 Invocation Cung Thỉnh NYIG MÄI GÖN PO TSE DÄN DE SHEG DÜN Degenerate times compassionate protectors: seven sugatas, Hết thảy các đấng / từ bi hộ trì / thời kỳ tối ám: / bảy vị Như Lai, THUB WANG DAM CHHÖ JANG SEM KA DÖ CHÄ Buddha Shākyamuni, holy Dharma, bodhisattvas and guardians, đức Phật Thích Ca, / diệu Pháp, bồ tát, / cùng chư hộ pháp, DAG SOG KYOB CHHIR GÖN KYAB PUNG NYEN DU To protect me and others, invited as support and protector refuge, xin hãy từ bi / làm chốn chở che, / nâng đỡ chúng con, CHÄN DREN DIR SHEG DÄN DZOM JIN LAB DZÖ May you come here, gather and grant your blessings. kính thỉnh chư vị / về đây an tọa, / ban lực gia trì. Prostrations Đảnh lễ KA DRIN NYAM ME TSA WÄI LA MA DANG Root Guru whose kindness is without equal, Bổn sư tôn kính / với lòng từ bi / không ai sánh bằng, SHAK YÄI GYÄL PO JAM YANG ZHI TSHO SOG King of the Shākyas, Mañjushrī, Shantarakshita and so on, vua dòng họ Thích, / Văn Thù Sư Lợi, / Thiện Hải Tịch Hộ…

20 20 Medicine Buddha Concise Puja ZAB MÖI DO DI CHHAG TSHÄN ZHE PA YI Holding in their hands this profound sutra, đều nắm trong tay / kinh thâm sâu này: NGÖ GYÜ LA MA NAM LA CHHAG TSHÄL LO To the direct and lineage gurus, I prostrate. Đối trước tất cả / tổ sư, đạo sư, / đệ tử đảnh lễ. NYAM THAG DRO NAM DRÖL WÄI THUG JE CHÄN To the compassionate ones who liberate destitute beings, Các đấng từ bi / độ thoát chúng sinh / trầm luân cảnh khổ: DE SHEG DÜN DANG THUB WANG DAM PÄI CHHÖ Seven sugatas, Buddha Shākyamuni and holy Dharma, bảy đức Như Lai, / đức Phật Mâu Ni 1, / cùng với diệu Pháp, JAM PÄL KYAB DRÖL SANG DAG TSHANG WANG DANG Mañjushrī, Kyab Dröl, Vajrapāni, Brahma and Ishvara, Mạn Thù, Kyab Drol, / Mật Sư 2, Phạm Thiên, GYÄL CHHEN NÖ JIN NAM LA CHHAG TSHÄL LO And the mahārajas and yakshas, I prostrate. đại vương Dạ xoa, / đệ tử đảnh lễ. 1 Đức Thích Ca Mâu Ni Phật 2 Đức Kim Cang Thủ

21 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 21 NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

22 22 Medicine Buddha Concise Puja Beseeching Thỉnh Cầu CHOM DÄN DÄN DZOM CHHEN PO GONG SU SÖL Great bhagavan assembly, pray listen! chư Phật Thế Tôn / xin hãy lắng nghe / lời khẩn nguyện này: DE SHEG DÜN GYI NGÖN GYI MÖN LAM DAG Seven sugatas, just as you promised, vào thời xa xưa / Thất Phật Như Lai / đã từng phát thệ SHĀK YÄI TÄN PA NGA GYÄI THA MA LA Your pvious prayers will be fulfilled rằng thời cuối cùng / của pháp Mâu Ni DRUB PAR GYUR WA ZHÄL GYI ZHE PA ZHIN During Shākyamuni s teachings final period. là lúc chư vị / bản nguyện viên thành: DAG LA DEN PA NGÖN SUM TÄN DU SÖL Pray, show me in actuality it is true! Kính xin chư vị / cho chúng con thấy / thật đúng như vậy.

23 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 23 Prayers to the Inpidual Medicine Buddhas Thỉnh từng đức Phật Dược Sư 1 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ TSHÄN LEG PAR YONG DRAG PÄL GYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (7X) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha King of Renowned Glory of Excellent Signs (Suparikirtitanamasriraja), I prostrate, offer and go for refuge (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately.1 Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương Phật. (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

24 24 Medicine Buddha Concise Puja SER GYI DOG CHÄN KYAB JIN CHHAG GYA CHÄN Golden in color, with mudra of granting refuge, Thân tỏa sắc vàng / kết ấn tam bảo, MÖN LAM GYÄ DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI Having accomplished eight prayers, majestic with two accumulations glory, thành tựu tám nguyện / trang nghiêm nhị lương, ZHÄN GYI MI THUB ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Unconquered by Others; là đấng Cát tường / ở nơi cõi Phật / Không-Ai-Thắng-Nổi: TSHÄN LEG YONG DRÄ PÄL LA CHHAG TSHÄL LO To Renowned Glory of Excellent Signs, I prostrate. đức Thiện Danh Xưng / Cát Tường Vương Phật / chúng con đảnh lễ. TSHÄN GYI ME TOG GYÄ SHING DAG PA LA In flowers of the major marks flourishing and pure, Tướng hảo Phật đà / trổ hoa thanh tịnh, PE JÄ ZANG PÖI DRU CHHA DZE PÄI KU Anthers of minor signs, such beautiful body, nụ phấn tướng phụ / thân đẹp vô cùng.

25 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 25 GANG GI THONG THÖ DRÄN PÄI PÄL GYUR PA One who sees, hears or thinks of you is glorified; chỉ thấy, nghe, nhớ, / là được cát tường: TSHÄN LEG YONG DRAG PÄL LA CHHAG TSHÄL LO To Renowned Glory of Excellent Signs, I prostrate. đức Thiện Danh Xưng / Cát Tường Vương Phật / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp / phá giới phạm giới, GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

26 26 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, Nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG May all sentient beings such as ourselves nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, NÄ RIM SHE JE DIG CHÄN DÖN LÄ THAR Be freed from epidemics, execution, criminals and spirits, thoát khổ tật dịch / hành hình, bắt bớ, / tà ma ám chướng, WANG PO KÜN TSHANG DUG NGÄL DIG GYÜN CHHÄ Have faculties fully complete, suffering and negativities continuum cut, đầy đủ giác quan / đoạn dòng luân chuyển / khổ đau ác nghiệp, NGÄN DROR MI TUNG LHA MII DE WA NYONG experience the happiness of humans and gods. không sa ác đạo / hưởng lạc trời-người, TRE KOM BÜL PHONG ZHI ZHING JOR GYUR CHIG With hunger, thirst and poverty pacified, may there be wealth. sạch cảnh đói khát, / khổ đau bần hàn, / dồi dào tài sản,

27 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 27 CHING DANG DEG SOG LÜ KYI DUNG WA ME Without torments of body such as bindings and beatings, thân sạch cảnh khổ / không bị trói, đánh, TAG SENG THRÜL GYI TSHE DRÄL THAB TSÖ ZHI Without harm of tigers, lions and snakes, conflict pacified, hùm beo sư tử, / rắn độc, tranh chấp / đều được tịnh yên. JAM PÄI SEM DÄN CHHU YI TRAG NAM KYANG Endowed with loving minds and relieved from fear of flood as well, Với tâm từ bi / thoát sợ nước lũ, BUG CHHIN JIG ME DE WAR GYÄL GYUR CHIG may we pass to fearless bliss. nguyện vào cảnh giới / an lạc vô úy. DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau ZHING DER PÄD MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ,

28 28 Medicine Buddha Concise Puja TSHÄN LEG YONG DRAG LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as Renowned Glory of Excellent Signs, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Thiện Danh Xưng Phật KÄ LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

29 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 29 2 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ RIN PO CHHE DANG DA WA DANG PÄD MÄ RAB TU GYÄN PA KHÄ PA ZI JI DRA YANG KYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (X7) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha King of Melodious Sound, Brilliant Radiance of Ability, Adorned with Jewels, Moon and Lotus (Svaragosaraja), I prostrate, offer and go for refuge. (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Bảo Nguyệt Liên Hoa Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Phật (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

30 30 Medicine Buddha Concise Puja KU DOG SER PO CHHOG JIN CHHAG GYA CHÄN Color yellow, with mudra of granting the supme, Thân tỏa sắc vàng / kết ấn thí nguyện, MÖN LAM GYÄ DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI Having accomplished eight prayers, majestic with two accumulations glory, thành tựu tám nguyện / trang nghiêm nhị lương, RIN CHHEN DÄN PÄI ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Endowed With Jewels; là đấng Cát tường / cõi Phật Ngọc-Báu, RIN CHHEN DA WÄI ZHAB LA CHHAG TSHÄL LO To Jewel Moonlight s feet, I prostrate. đê đầu gót chân / đức Phật Bảo Nguyệt / chúng con đảnh lễ. RIN CHHEN DA DANG PÄDMÄ RAB GYÄN CHING Well adorned with jeweled moon and lotus, Sen nguyệt trân bảo, / trang nghiêm rạng ngời, SHE JA KÜN LA KHÄ SHING KHYEN PA GYÄ Wisdom expanded in mastery of all knowable objects, trí giác thông tuệ / thấu rõ vạn pháp,

31 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 31 GYA TSHO TA BUR ZAB PÄI THUG NGA WA Endowed with mind as deep as the ocean; ý sâu thăm thẳm / như lòng đại dương, DRA YANG GYÄL PÖI ZHAB LA CHHAG TSHÄL LO To King of Melody s feet, I prostrate. đê đầu gót chân / Âm Tự Tại Vương / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

32 32 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm, / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, / DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG For all sentient beings such as ourselves, nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, YENG NAM CHHÖ PHEL LHA MII TSHOG CHHÄ JOR may the distracted flourish in the Dharma, kẻ xao lãng này / được đầy chánh pháp, TSA WÄI DUNG DRÄL TAG TU KYE PAR GYUR Have wealth and goods of humans and gods, without torment of conception, be always born strong, dồi dào tài sản / trong cõi trời-người, / thoát khổ thọ sinh / luôn được mạng cao, JANG CHHUB SEM DANG MI THRÄL GE CHHÖ GYÄ Never be separated from bodhichitta, increase in virtuous Dharma, và không bao giờ / lìa bồ đề tâm, / thiện pháp tăng trưởng,

33 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 33 DRIB JANG LHA MII DE WA THOB GYUR CHIG Purify obscurations and attain the happiness of humans and gods. May we be freed of separation from the sạch hết điều ác, / được sự an vui / cõi trời, cõi người, / SHE DRÄL MÜN BAR DÖN TSE CHHI DANG DRA spiritual guide, From dark ages, spirit harm, death and enemies, and from the dangers of isolated places thoát hết tất cả / cảnh lìa đạo sư, / cảnh thời dữ dội, / tà ám, chết, thù, / hung hiểm biên địa. GÖN PÄI NÖ ME CHHÖ DANG RIM DROR TSÖN May we have enthusiasm for making offerings and performing ritual services. nguyện luôn hoan hỉ / cúng dường, phụng sự, MÄN NAM TING DZIN DRÄN TOB ZUNG DÄN CHING May lesser beings have samādhi, mindfulness, strength, the dharani of non-forgetfulness, nguyện kẻ thấp kém / đạt định, niệm, lực, / được đà la ni / của pháp tổng trì, SHE RAB CHHOG THOB ME NYEN SIL GYUR CHIG attain supme wisdom, and may tormenting fires be cooled. đạt tuệ vô thượng, / dịu cơn lửa bỏng.

34 34 Medicine Buddha Concise Puja DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau, ZHING DER PÄ MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ, DRA YANG GYÄL PO LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as King of Melody, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Âm Tự Tại Vương, KA LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

35 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 35 CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ MÄN GYI LA BAI DUR YEI Ö KYI GYÄL PO LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (7X) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha Medicine Guru, King of Lapis Light (Bhaisajyaguru), I prostrate, offer and go for refuge. (7x) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật(x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

56 56 Medicine Buddha Concise Puja KU DOG NGÖN PO CHHOG JIN CHHAG GYA CHÄN Color blue, with mudra of granting the supme, Having accomplished Thân sắc xanh dương, / kết ấn thí nguyện, CHU NYI MÖN DRUB TSHOG NYI PÄL GYI JI twelve prayers, majestic with two accumulations glory, đạt mười hai nguyện, / trang nghiêm nhị lương. BAIDURYA NANG ZHING GI PÄL GYUR PÄI Glorious one of the buddha-field Lapis Light; là đấng cát tường / cõi Lưu-Ly-Quang: MÄN PÄI GYÄL PO DE LA CHHAG TSHÄL LO To that King of Doctors, I prostrate. đức Dược Sư Vương, / chúng con đảnh lễ. THUG JE KÜN LA NYOM PÄI CHOM DÄN DÄ Bhagavan with equal compassion for all, Là đấng Thế Tôn / với lòng đại bi / dành cho tất cả / đồng đều như nhau. TSHÄN TSAM THÖ PÄ NGÄN DRÖI DUG NGÄL SEL Whose name, when merely heard, dispels lower realms suffering, chỉ cần nghe được / hồng danh của ngài / là tiêu tan hết / khổ đau ác đạo,

57 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 57 DUG SUM NÄ SEL SANG GYÄ MÄN GYI LA Dispeller of disease and the three poisons; tiêu tan tất cả / bệnh dữ, tam độc: / kính đức Dược Sư BAIDURYA YI Ö LA CHHAG TSHÄL LO To Buddha Medicine Guru Lapis Light, I prostrate. Lưu Ly Quang Phật / chúng con đảnh lễ. NGÖ SHAM ZUNG RIG MÖ TOB KYI TRÜL PÄI I make all collections of offerings actually arranged and emanated through the force of mantra, samādhi, and aspiration Kính dâng cúng phẩm / thật sự bày ra / hay từ mật chú, / đại định, đại nguyện; CHHÖ TSHOG KÜN BÜL DIG TUNG THAM CHÄ SHAG Confess all downfalls and negativities, sám hối ác nghiệp, / phá giới, phạm giới; GE LA YI RANG KÜL ZHING SÖL WA DEB Rejoice in virtues, request and beseech, tùy hỉ công đức / cung thỉnh, / khẩn nguyện; DI TSHÖN GE WA JANG CHHUB CHHEN POR NGO And dedicate virtues such as these to the great enlightenment. với công đức này, / nguyện xin hồi hướng / về đại bồ đề.

58 58 Medicine Buddha Concise Puja GYÄL WÄI TSHÄN THÖ DRÄN JÖ CHHAG CHHÖ THÜ Through the force of hearing the conqueror s name, Expssing it, remembering, prostrating and offering, Nương nhờ năng lực / nhớ, nghe, tụng niệm / cúng dường, đảnh lễ / hồng danh Thế Tôn, / DAG CHAG LA SOG SEM CHÄN GANG DANG GANG May each and every sentient being such as ourselves nguyện khắp chúng sinh / như chúng con đây, TSHÄN PE DZE SHING DRO KÜN DAG DRAR GYUR All become, like you, graced with the marks and signs, đều được trở thành / giống y như Ngài, / đầy đủ tất cả / tướng hảo chánh phụ. Ö KYI MÜN SEL SHE RAB THAB KHÄ KYI May light dispelling darkness, the enjoyment of wisdom and skillful means be inexhaustible. Nguyện cho ánh sáng / quét sạch bóng đêm, / trí tuệ phương tiện, / không bao giờ cạn. / LONG CHÖ MI ZÄ LAM LOG MÄN MÖ NAM May those attracted to mistaken and lesser paths Nguyện kẻ lầm đường, / lạc vào lối nhỏ,

59 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 59 THEG CHHEN LAM ZHUG DOM PÄ DZE GYUR CHIG Enter Mahāyana paths, and all be beautified by their vows. Được Đại thừa đạo, / trang nghiêm giới thệ. TSHÜL CHHÄL DUNG DRÄL WANG PO KÜN TSHANG ZHING May we be free from pain caused by immorality, complete in faculties, Nguyện cho chúng con / thoát khổ đọa giới, / đầy đủ giác quan, NÄ ME YO JÄ PHEL ZHING BÜ ME KYI without disease and have abundant goods. không bệnh, và được / sống đời phồn vinh. NGÖ PÖ KYO NAM TAG TU KYE WANG DÄN May those disillusioned with weaker conditions always have powerful faculties, Nguyện kẻ mõi mòn / luôn khởi sức mạnh. DÜ ZHAG TA WA NGÄN LÄ DRÖL GYUR CHIG And may we be freed from Mara s noose and perverse viewpoints. nguyện thoát ác kiến, / thòng lọng ma vương. / GYÄL PÖ NAR NAM DE ZHING TRE PÄI GYÜ May those tormented by kings gain bliss, and those who, out of hunger, ai vì lệnh vua / phải chịu khổ ải, / nguyện được an vui.

60 60 Medicine Buddha Concise Puja DIG PÄ TSHO NAM CHHÖ JOR ZÄ KYI TSHIM support themselves through negativity Be satisfied with food received in accordance with the Dharma. ai vì đói kém / phải làm việc ác, / nguyện nhờ Pháp thực / mà được no đủ. TSHA DRANG NGÄL ZHI SAM PA YONG DZOG SHING May hardships of heat and cold be pacified, all good wishes be fulfilled, Nguyện khổ nóng, lạnh / đều được tịnh yên; / mọi ước nguyện lành / đều thành sự thật. PHAG PA GYE PÄI TSHÜL DÄN DRÖL GYUR CHIG And, endowed with morality that pleases the āryas, may we be liberated. giữ giới trang nghiêm / đẹp lòng thánh giả, / nguyện cho chúng con / mau chóng giải thoát. DI NÄ SHI PHÖ GYUR TSHE SANG GYÄ KYI And when we pass away from this life, Đến khi đời này / bỏ lại phía sau, ZHING DER PÄ MO LÄ KYE YÖN TÄN DZOG May we be born from a lotus in that buddha-field, qualities complete, nguyện từ lòng sen / sinh vào tịnh độ, / đức hạnh đầy đủ,

61 Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư bản ngắn 61 MÄN PÄI GYÄL PO LA SOG GYÄL NAM KYI Become a vessel for transmission of the teachings of conquerors such as King of Doctors, thành nơi chấp trì / giáo pháp của đức / Dược Sư Vương Phật KA LUNG NÖ CHING NYE PAR JE GYUR CHIG And cause them delight. cùng chư vị khác, / khiến Phật đẹp lòng.

62 62 Medicine Buddha Concise Puja [8] CHOM DÄN DÄ DE ZHIN SHEG PA DRA CHOM PA YANG DAG PAR DZOG PÄI SANG GYÄ PÄL GYÄL WA SHĀ KYA THUB PA LA CHHAG TSHÄL LO CHHÖ DO KYAB SU CHHI WO (X7) To the Bhagavan Tathāgata Arhate Samyak Sambuddha Glorious Conqueror Shākyamuni, I prostrate, offer and go for refuge. (x7) Please may the pledges you made ripen upon myself and all sentient beings right now. May all my pure prayers succeed immediately. Đệ tử đảnh lễ, cúng dường qui y đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri Tối Thắng Cát Tường Thích Ca Mâu Ni Phật (x7) Nguyện đại nguyện năm xưa Phật đã từng phát tức thì thành thục nơi con và chúng sinh. Nguyện lời nguyện trong sáng của con tức thì thành sự thật.

【#4】Bài Văn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng

Van Cung Mung 9 Thang Gieng, Bài Văn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Thủ Tục Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Mùng Chín Tháng Giêng Ta, Bài Khấn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Văn Khấn Mùng 7 Tháng Giêng, Văn Khấn Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng 16 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Ban Thần Tài, Bài Cúng 15 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày 07 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Trong Nhà, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Bài Cúng Ngày 7 Tháng Giêng, Bài Cúng ông Công Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Tại Nhà Năm 2021, Bài Cúng Phật Rằm Tháng Giêng, Van Cung Mong Chin Thang Gieng , Bài Cúng ông Công Ngày Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Mùng 5 Tháng 5, Bài Cúng Khoan Giếng, Văn Tế Rằm Tháng Giêng, Lập Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Rằm Tháng Giêng, Dàn Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Về Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Bài Thơ Rằm Tháng Giêng, Văn Bản Rằm Tháng Giêng, Bài Văn Cúng Mùng 9, Bài Cúng Sao Mùng 8, Bài Cúng Mùng 9 Đầu Năm, Bai Cung Mung 9, Bài Cúng Tết Mùng 5, Bài Văn Cúng Mùng 9 Tết, Bài Cúng Mùng 8, Bài Cúng Rằm Mùng 1, Bài Cúng Mùng 1, Bài Cúng Xe Mùng 2, Bài Cúng Mùng 1 Tết, Văn Khấn 30 Tháng Giêng, Nội Dung Bài Rằm Tháng Giêng, Bài Giảng Rằm Tháng Giêng, Bài Khấn 15 Tháng Giêng, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Tại Nhà, Văn Khấn Cúng Mùng 9, Văn Khấn Cúng Mùng 9 Đầu Năm, Văn Khấn Cúng Mùng 8, Bài Khấn Cúng Mùng 9, Bài Cúng Tiên Sư Mùng 9, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Câu Thơ Tháng Giêng Ngon Như Một Cặp Môi Gần Có Thể Hiểu Là, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Văn Khấn Ngày 7 Tháng Giêng, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng Trong Nhà, Cac Gio Kinh Phung Vu Thang Gieng 2021, Văn Khấn Mùng 5 Tháng Năm, Văn Khấn Mùng 1 Tháng 6, Truyện Cười Mùng 8 Tháng 3, Lời Phát Biểu Mùng 8 Tháng 3, Bài Khấn Mùng 1 Hàng Tháng, Lời Phát Biểu Ngày Mùng 8 Tháng 3, Sau Khi Tu Tu O Gieng Loa Thanh Xuong Thuy Cung Trong Thuy Da Tim Gap Lai Mi Chau Hay Tuong Va Ke La, Giấy Mời Văn Nghệ Mừng Đảng Mừng Xuân, Mẫu Giấy Mời Văn Nghệ Mừng Đảng Mừng Xuân, Tuyển Tập Thơ Mừng Đảng Mừng Xuân, Một Cửa Hàng Trong Quý 1 Bán Được 380 Tấn Gạo Số Gạo Bán Được Trong Tháng Giêng Bằng 2/5 Số Gạo Bán, Một Cửa Hàng Trong Quý 1 Bán Được 380 Tấn Gạo Số Gạo Bán Được Trong Tháng Giêng Bằng 2/5 Số Gạo Bán , Bài Cúng Rằm Tháng 9, Bài Cúng Rằm Tháng 07, Bài Cúng Xe Đầu Tháng, Bài Cúng Mụ Đầy Tháng, Bài Cúng Nôm Đầy Tháng, Bài Cúng 5 Tháng 5, Thủ Tục Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà, Thủ Tục Cúng Rằm Tháng 7, Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Gái, Bài Cúng Rằm Tháng 7, Bài Cúng Đầy Tháng, Bài Cúng Đất Tháng 2, Bài Cúng 23 Tháng 12, 12 Tháng 1 Cung Gì , Bài Cúng Rằm Tháng 8, Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà, Bài Cúng Tháng 7, Bài Cúng 30 Hàng Tháng, Bài Cúng 23 Tháng Chạp, Bài Cúng 25 Tháng Chạp, Bài Cúng Hàng Tháng, Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai, Thủ Tục Cúng 23 Tháng Chạp, Cúng Rằm Tháng 7 Văn Khấn, Đấu Thầu Cung Cấp Lắp Đặt Thang Máy, Bài Khấn Cúng Rằm Tháng 8, Thủ Tục Cúng ông Táo 23 Tháng Chạp,

Van Cung Mung 9 Thang Gieng, Bài Văn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Thủ Tục Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Mùng Chín Tháng Giêng Ta, Bài Khấn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Văn Khấn Mùng 7 Tháng Giêng, Văn Khấn Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng 16 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Ban Thần Tài, Bài Cúng 15 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày 07 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Trong Nhà, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Bài Cúng Ngày 7 Tháng Giêng, Bài Cúng ông Công Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Tại Nhà Năm 2021, Bài Cúng Phật Rằm Tháng Giêng, Van Cung Mong Chin Thang Gieng , Bài Cúng ông Công Ngày Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Mùng 5 Tháng 5, Bài Cúng Khoan Giếng, Văn Tế Rằm Tháng Giêng, Lập Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Rằm Tháng Giêng, Dàn Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Về Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Bài Thơ Rằm Tháng Giêng, Văn Bản Rằm Tháng Giêng, Bài Văn Cúng Mùng 9, Bài Cúng Sao Mùng 8, Bài Cúng Mùng 9 Đầu Năm, Bai Cung Mung 9, Bài Cúng Tết Mùng 5, Bài Văn Cúng Mùng 9 Tết, Bài Cúng Mùng 8, Bài Cúng Rằm Mùng 1, Bài Cúng Mùng 1, Bài Cúng Xe Mùng 2, Bài Cúng Mùng 1 Tết, Văn Khấn 30 Tháng Giêng, Nội Dung Bài Rằm Tháng Giêng, Bài Giảng Rằm Tháng Giêng, Bài Khấn 15 Tháng Giêng, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Tại Nhà,

【#5】Bài Cúng Ông Công Rằm Tháng Giêng

Bài Cúng ông Công Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng ông Công Ngày Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng 16 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng 15 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Ban Thần Tài, Bài Cúng Ngày 07 Tháng Giêng, Bài Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Phật Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày 7 Tháng Giêng, Thủ Tục Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Văn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Van Cung Mung 9 Thang Gieng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Tại Nhà Năm 2021, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Trong Nhà, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Van Cung Mong Chin Thang Gieng , Bài Khấn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Mùng Chín Tháng Giêng Ta, Bài Cúng Khoan Giếng, Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Về Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Bài Rằm Tháng Giêng, Văn Bản Rằm Tháng Giêng, Văn Tế Rằm Tháng Giêng, Lập Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Bài Thơ Rằm Tháng Giêng, Văn Khấn 30 Tháng Giêng, Nội Dung Bài Rằm Tháng Giêng, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Tại Nhà, Bài Khấn 15 Tháng Giêng, Bài Giảng Rằm Tháng Giêng, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng Trong Nhà, Văn Khấn Mùng 9 Tháng Giêng, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Văn Khấn Ngày 7 Tháng Giêng, Văn Khấn Mùng 7 Tháng Giêng, Câu Thơ Tháng Giêng Ngon Như Một Cặp Môi Gần Có Thể Hiểu Là, Cac Gio Kinh Phung Vu Thang Gieng 2021, Sau Khi Tu Tu O Gieng Loa Thanh Xuong Thuy Cung Trong Thuy Da Tim Gap Lai Mi Chau Hay Tuong Va Ke La, Một Cửa Hàng Trong Quý 1 Bán Được 380 Tấn Gạo Số Gạo Bán Được Trong Tháng Giêng Bằng 2/5 Số Gạo Bán , Một Cửa Hàng Trong Quý 1 Bán Được 380 Tấn Gạo Số Gạo Bán Được Trong Tháng Giêng Bằng 2/5 Số Gạo Bán, Bài Cúng 23 Tháng 12, Bài Cúng Rằm Tháng 8, Bài Cúng Đầy Tháng, Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà, Bài Cúng Nôm Đầy Tháng, Bài Cúng Rằm Tháng 7, Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Gái, Bài Cúng Xe Đầu Tháng, Bài Cúng Rằm Tháng 9, Bài Cúng Tháng 7, Bài Cúng Rằm Tháng 07, 12 Tháng 1 Cung Gì , Bài Cúng 5 Tháng 5, Thủ Tục Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà, Bài Cúng Mụ Đầy Tháng, Thủ Tục Cúng Rằm Tháng 7, Bài Cúng Đất Tháng 2, Bài Cúng 23 Tháng Chạp, Bài Cúng 25 Tháng Chạp, Bài Cúng 30 Hàng Tháng, Bài Cúng 30 Tháng Chạp, Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai, Đấu Thầu Cung Cấp Lắp Đặt Thang Máy, Thủ Tục Cúng 23 Tháng Chạp, Bài Cúng Mùng 5 Tháng 5, Bài Cúng Hàng Tháng, Bài Khấn Cúng Rằm Tháng 8, Thủ Tục Cúng ông Táo 23 Tháng Chạp, Cúng Rằm Tháng 7 Văn Khấn, Bài Cúng Xe Hàng Tháng, Bài Cúng 23 Tháng Chạp 2014, Bài Cúng 23 Tháng Chạp 2013, Bài Cúng Rằm Tháng 7 Ngoài Trời, Giấy Đề Nghị Cung ưng Sec Thang Toán, Lúc 8h ô Tô A Chuyển Động Thẳng Đều Với Tốc Độ 60km/h . Cùng Líc ô Tô 2 Xuất Phát Từ B Với Tốc Độ 40, Lúc 8h ô Tô A Chuyển Động Thẳng Đều Với Tốc Độ 60km/h . Cùng Líc ô Tô 2 Xuất Phát Từ B Với Tốc Độ 40, Kết Quả Hoạt Động 9 Tháng Đầu Năm Và Kế Hoạch Công Tác 3 Tháng Cuối Năm, Dự Thảo Báo Cáo Kết Quả Công Tác Tháng 7 Và Kế Hoạch Công Tác Tháng, Báo Cáo Tháng Công Tác Đảng Tháng 8năm 2021, Giếng Thở Than, Đồ án Giếng Đứng, Văn Khấn Cô 9 Giếng, Truyện Ma Cái Giếng, Dự Toán Khoan Giếng, Bài Khấn Khoan Giếng, Hợp Đồng Khoan Giếng, Mẫu Hợp Đồng Khoan Giếng, Thủ Tục Cúng ông Công ông Táo, Bài Cúng 23 ông Công, Bài Cúng ông Công, Thủ Tục Làm Lễ Cúng ông Công ông Táo, Bài Cúng Ong Cong Ong Tao, Bài Cúng Thổ Công,

Bài Cúng ông Công Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng ông Công Ngày Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng 16 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng 15 Tháng Giêng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Ban Thần Tài, Bài Cúng Ngày 07 Tháng Giêng, Bài Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Phật Rằm Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày 7 Tháng Giêng, Thủ Tục Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Văn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Van Cung Mung 9 Thang Gieng, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Tại Nhà Năm 2021, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Trong Nhà, Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Van Cung Mong Chin Thang Gieng , Bài Khấn Cúng Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Ngày Mùng 9 Tháng Giêng, Bài Cúng Mùng Chín Tháng Giêng Ta, Bài Cúng Khoan Giếng, Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Về Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn Bài Rằm Tháng Giêng, Dàn ý Bài Rằm Tháng Giêng, Văn Bản Rằm Tháng Giêng, Văn Tế Rằm Tháng Giêng, Lập Dàn ý Rằm Tháng Giêng, Bài Thơ Rằm Tháng Giêng, Văn Khấn 30 Tháng Giêng, Nội Dung Bài Rằm Tháng Giêng, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Tại Nhà, Bài Khấn 15 Tháng Giêng, Bài Giảng Rằm Tháng Giêng, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Bài Khấn Rằm Tháng Giêng Trong Nhà, Văn Khấn Mùng 9 Tháng Giêng, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Năm 2021, Văn Khấn Ngày 7 Tháng Giêng, Văn Khấn Mùng 7 Tháng Giêng, Câu Thơ Tháng Giêng Ngon Như Một Cặp Môi Gần Có Thể Hiểu Là, Cac Gio Kinh Phung Vu Thang Gieng 2021, Sau Khi Tu Tu O Gieng Loa Thanh Xuong Thuy Cung Trong Thuy Da Tim Gap Lai Mi Chau Hay Tuong Va Ke La, Một Cửa Hàng Trong Quý 1 Bán Được 380 Tấn Gạo Số Gạo Bán Được Trong Tháng Giêng Bằng 2/5 Số Gạo Bán , Một Cửa Hàng Trong Quý 1 Bán Được 380 Tấn Gạo Số Gạo Bán Được Trong Tháng Giêng Bằng 2/5 Số Gạo Bán, Bài Cúng 23 Tháng 12, Bài Cúng Rằm Tháng 8, Bài Cúng Đầy Tháng,

【#6】Kết Nối Được Họ Nhờ Bài Văn Cúng Giỗ

Sau mấy năm tìm tòi và nghiên cứu, vừa rồi 3 họ đã chính thức xác đinh Ngô Đình Tư chính là Ngô Đình Khôi. Sự việc được phát hiện qua một bài văn khấn kỵ nhật được cất giữ bấy lâu nay.

Chúng tôi xin đăng lại toàn văn bức thư của Đại diện 3 họ: Phúc Tiên, Mỹ Xá, Đông Bạn và văn bản báo cáo của ông Ngô Xuân Ngoạn – người đã tìm ra manh mối để bà con tham khảo.

Kính gửi: Hội đồng Ngô Tộc Việt Nam

Ngày 15/10/2015, ông Ngô Xuân Ngoạn, một thành viên cao tuổi của họ Ngô Mỹ Xá, huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên, có báo cáo lên Hội đồng Gia tộc việc sưu tầm được bài văn khấn kỵ nhật, được chép trong quyển sổ ghi các bài văn cúng trong đó có bài Văn khấn kỵ nhật Thủy Tổ họ Ngô Phúc Tiên. Ông cho biết, quyển sổ nói trên là của ông Ngô Xuân Trang, Trưởng tộc họ Ngô Mỹ Xá, chuyển vào Sài Gòn cư trú từ năm 1954, khi mất để lại. Năm 1994 ông Ngô Xuân Quỳnh vào miền Nam chơi với con trai, khi trở về miền Bắc, bà vợ ông Trang gửi ông Quỳnh một tập sổ sách, giấy tờ cho họ Ngô ở quê để ông Ngô Xuân Nhân sử dụng. Ông Nhân là em trai ông Trang, năm 1954 ông Trang vào Nam, ông Nhân thay làm Trưởng tộc.

Cách đây hơn 10 năm, một lần ông Ngoạn cùng ông Nhân bàn việc họ, thấy tập sổ sách của ông Nhân có quyển sổ ngoài bìa ghi ” Văn Kỵ Nhật” ông Ngoạn mượn về xem Khi về nhà, thấy trong quyển sổ viết toàn chữ nho, nên ông xem qua vài ba tờ rồi cất trong tủ sách. Mãi gần đây con cháu dọn nhà cửa, nhân dịp này ông cùng sắp xếp lại sổ sách, tài liệu thấy quyển số ” Văn Kỵ Nhật” ấy, lấy ra xem kỹ mới phát hiện có bài văn Khấn Thủy tổ họ Ngô Phúc Tiên, Thái Bình tỉnh, Hưng Nhân huyện chép trong cuốn sổ này, trong đó đã xác định rõ tên Thủy tổ của 3 họ.

Sau khi ông Ngô Xuân Ngoạn báo cáo với gia tộc, đại biểu 3 họ Ngô: Phúc Tiên, Đông Bạn và Mỹ Xá chúng tôi quyết định cùng nhau họp để xem xét, bàn luận. Trong quá trình xem xét, thấy bài văn Khấn Kỵ Nhật Thủy tổ họ Ngô Phúc Tiên Thái Bình tỉnh, Hưng Nhân huyện trong quyển sổ có ghi: “Ngô Quý Công húy KHÔI, tự Đình Tư”.

Như vậy, tên vị Thủy Tổ họ Ngô Phúc Tiên trùng với tên cụ Ngô Đình Khôi, một trong 9 con trai cụ Ngô Đình Bàn (đời ) họ Tả Thanh Oai đươc lược ghi trong Phả đồ Phả hệ họ Ngô Việt Nam tái bản năm 2011.

Trên cơ sở ấy có thể khẳng định đây là bút tích, một cứ liệu xác thực. Từ đó một lần nữa khẳng định lời truyền lại của ông cha chúng tôi rằng, Thủy tổ của 3 họ Ngô Phúc Tiên, Đông Bạn và Mỹ Xá là Ngô Đình Tư, con trai của cụ Ngô Đình Bàn, từ họ Ngô Tả Thanh Oai chuyển về là chính xác.

Vì vậy, thay mặt dòng họ Ngô Phúc Tiên, Đông Bạn và Mỹ Xá, chúng tôi xin báo cáo lên Hội đồng Ngô tộc Việt Nam, để có sự thống nhất, lý giải một tồn nghi, chưa rõ về Thủy Tổ của 3 họ Ngô Phúc Tiên, Đông Bạn và Mỹ Xá.

(Kèm theo bản sao bài văn khấn Kỵ Nhật thủy Tổ họ Ngô Phúc Tiên và báo cáo của ông Ngô Xuân Ngoạn).

Ngày 20 tháng 10 năm 2021

T.M DÒNG TỘC HỌ NGÔ PHÚC TIẾN, ĐÔNG BẠN VÀ MỸ XÁ

Ngô Xuân Nhân

Một sự kiện mới về “Vấn Tổ tìm tông”

Của dòng họ Ngô Phúc Tiên, Hưng Nhân Thái Bình

Như các bác đã biết, sau một thời gian dài nghiên cứu, tìm hiểu, chúng ta đã xác định lời di huấn của ông cha ta rằng, ba họ Ngô: Phúc Tiên, Đông Bạn và Mỹ Xá là ba anh em, do cụ Ngô Đình Tư sinh ra và cụ là Thủy Tổ của ba họ. Vấn đề này đã đi đến hồi kết cho công việc “Vấn Tổ tìm tông” , đồng thời kết quả cũng được báo cáo với Ban liên lạc họ Ngô Việt nam (Nay là Hội đồng Ngô tộc Việt Nam).

Những tưởng như thế là đủ căn cứ để Hội đồng Ngô tộc Việt Nam xác định, sắp xếp thế thứ của các dòng họ, tuy nhiên khi tôi xem Phả hệ họ Ngô Việt Nam tái bản lần thứ nhất có sửa chữa, bổ sung, thấy giữa trang 134 có ghi một đoạn 12 dòng, nguyên văn như sau:

“Ngô Đình Bàn, con trai trưởng Ngô Đình Thạc, có 9 con trai như trên lược phả đồ. Trong 9 người đó không có ai là Ngô Đình Tư. Ba họ Ngô: Phúc Tiên, (Hưng Nhân, Thái Bình), Đông Bạn (Ân Thi, Hưng Yên) và Mỹ Xá (Tiên Lữ, Hung Yên) có chung Thủy tổ là Ngô Đình Tư ở Tả Thanh Oai chuyển về Phúc Tiên, người con út Xuân Hoằng chuyển về Mỹ Xá, người con thứ hai là Đình Tướng đến đời cháu nội là Đình Mậu mới chuyến về Đông Bạn.

Đọc nội dung ghi trong Phả hệ họ Ngô Việt Nam tái bản lần thứ nhất như trên khiến tôi cũng như các bác và con cháu dòng tộc có nhiều băn khoăn, suy nghĩ. Như vậy là chúng ta vẫn chưa thực hiện được một cách trọn vẹn lời truyền lại của ông cha ta để báo cáo với Hội đồng Ngô tộc Việt Nam. Điều đó đòi hỏi mỗi con cháu trong dòng tộc chúng ta có bổn phận phải tìm hiểu thêm.

Sau đó tôi tiếp tục thực hiện một số hướng tìm hiểu thêm, nhưng năm tháng dần trôi đi mà vẫn chăng tìm hiểu thêm được gì; đã có lúc tự cảm thấy lực bất tòng tâm, đành chờ mong sự tiếp tay của con cháu sau này để làm nôt công việc mà cha ông chưa hoàn thành được.

Bẵng đi một thời gian, thế rồi không biết có phải do nhân thấm, đức nhuần mà Tổ tiên run rủi, khiến cho tâm linh thức tỉnh? Một hôm, nhân con cháu quét dọn để sửa tường quét vôi nhà, tôi cũng mở tủ sắp xếp lại tài liệu, sách vở trong đó có sổ sách tài liệu lưu giữ của mấy năm trước đây nghiên cứu để bổ sung, xây dựng gia phả cho họ Ngô Mỹ Xá, Đông Bạn và Phúc Tiên, thấy quyển sổ nhỏ ghi ” Văn Kỵ Nhật ” vẫn để trong ngăn tủ. Quyển sổ này trước đây tôi mượn của ông Ngô Xuân Nhân, Trưỏng tộc, khi đem về xem, thấy viết bằng chữ Hán nên tôi cũng chỉ xem qua vài trang, rồi bấy lâu vẫn xếp vào đó

Lần này lấy ra xem, do có bài văn kỵ nhật viết bằng chữ Hán và chữ Nôm trong đó có nhiều chữ chưa hiểu, phải tra kỹ. Tôi xem đến hai ba chục đầu đề văn khấn về thần phật, về thánh mẫu, thổ thần, thổ địa, tiên tổ gia tiên… Khi xem đến bài văn khấn viết bằng chữ Nôm, dòng đầu là văn khấn Thủy tổ Ngô tộc Phúc Tiên, Thái Bình tỉnh, Hưng Nhân huyên, lúc đó tự nhiên tôi thấy giật mình, hoa mắt. Sau trấn tĩnh lại, tôi ngồi dạy tiếp tục xem đến chữ: “Cao Cao tằng Thủy khảo”, nhất là đến đoạn “Ngô quý công húy Khôi tự Tư”, khiến tôi càng thêm sửng sốt, đầu óc lúc đó suy luận miên man, nghĩ trước nghĩ sau, nghĩ gần nghĩ xa, rằng sự việc mới phát hiện là nhờ sự ân cần chỉ dẫn của Hội đồng Ngô tộc Việt Nam. Kể từ những ngày đầu được tiếp cận với Ban liên lạc họ Ngô Việt Nam (nay là Hội đồng Ngô Tộc Việt Nam) đã giúp ta có chỗ dựa và lòng tin đế có đường hướng cho công việc “Vấn Tổ tìm tông” lâu nay. Rồi lại suy nghĩ sang một hướng khác, về chủ quan, đây có phải do lòng hiếu thảo và truyền thống của gia tộc Ngô Xuân, mà ông Ngô Xuân Trang được ông cha dưỡng dục, sớm được hiểu, được truyền tâm cho nên lúc sinh thời, khi vào cư trú ở Sài Gòn bao năm ông vẫn giữ gìn một gia bảo tâm linh quý báu độc nhất vô nhị của dòng tộc, đế ngày hôm nay những điều tổ tiên gửi gắm cho thế hệ kế tiếp về tên tuổi Thủy tổ dòng tộc họ Ngô Phúc Tiên đã được những người có trách nhiệm của thế hệ sau tiếp nhận và sáng tỏ.

Cách viết trong văn khấn Thủy Tổ dòng họ Ngô Phúc Tiên như trên cũng phù hợp với cách trình bày chung trong gia phả Ngô tộc, như tên các cố thưòng ghi tên gốc tức là tên húy (thường gọi là tên cúng cơm), rồi có tên Tự, lại có tên Hiệu hay tên Thụy… , chẳng hạn, Thủy tổ dòng họ Phúc Tiên cũng viết: “Ngô quý công húy Khôi – tự Đình Tư”…

Tôi nghĩ rằng, có thể vì một lý do nào đấy cụ Ngô Đình Khôi đã chuyển cư về Phúc Tiên, Hưng Nhân, Thái Bình. Khi về Phúc Tiên cụ đi học hoặc tham gia công việc nào đó ở làng xã nên mới đặt tên tự là Tư. Trong dân chúng địa phương cũng như trong dòng họ Ngô Phúc Tiên cụ thường được gọi bằng tên tự là Tư mà không gọi tên húy Khôi. Chắc hẳn sau khi cụ mất, tên húy của cụ cùng tên tự mới được chép vào văn cúng. Mặt khác, khi cụ từ Tả Thanh Oại chuyển về Phúc Tiên, trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động, mối liên lạc giữa Phúc Tiên và Tả Thanh Oai bị gián đoạn trong một thời gian dài, nên ở Tả Thanh Oai, nơi sinh quán không biết được tên tự của cụ để mà chép vào gia phả.

Tôi nghĩ rằng, với bút tích bài văn khấn Kỵ Nhật Tổ dòng họ Ngô Phúc Tiên được ghi trong quyến số do ông Ngô Xuân Trang, trưởng tộc họ Ngô Mỹ Xá cư trú tại Sài Gòn bấy lâu giữ gìn bảo quản, sẽ là cứ liệu chắc chắn để một lần nữa chúng ta khẳng định lời di truyền của ông cha ta: Thủy tố của ba họ Ngô Phúc Tiên, Đông Bạn và Mỹ Xá, đúng là Ngô Đình Tư húy “Khôi” – một trong 9 người con trai của cố Ngô Đình Ban thuộc Chi Ất, họ Ngô Tả Thanh Oai.

Ngày 15 tháng 10 năm 2021

Người tìm hiểu, thẩm tra báo cáo

Cụ Ngô Xuân Ngoạn nguyên là thành viên Ban Liên lạc họ Ngô Việt Nam (nay là Hội đồng Ngô tộc VN)

【#7】Bài Văn Khấn Cúng Giỗ 49 Ngày, Lễ Tất Khốc 100 Ngày Ngoài Mộ

Nam mô A di đà phật!

Nam mô A di đà phật!

Nam mô A di đà phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

Hôm nay là ngày………..tháng………..năm…………. (âm lịch), tức là ngày………….tháng………..năm…….. (dương lịch).

Tại địa chỉ:…………..

Con trai trưởng là: ……………

Vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là Mẹ)/Vâng theo lệnh của phụ thân (nếu là Cha), các chú bác, anh rẻ cùng chị gái, em trai em gái và các dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Hôm nay nhân ngày lễ Chung Thất theo nghi lễ cổ truyền, kính cẩn sắm các lễ vật dâng lên bao gồm : Đọc tên các lễ vật đã sắm.

Kính dâng lễ mọn với tấm lòng thành.

Trước linh vị hiển chân linh.

Xin kính cẩn trình thưa rằng:……….

Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế (nếu là người Cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế (nếu là người Mẹ). Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng biết là bao. Mất lâu nay thở than trầm mơ màng. Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ. Sống thời lai lai láng láng hớn hở chừng nào. Thác thời kể tháng kể ngày buồn tênh mọi lẽ.

Tính đến nay Chung Thất tới tuần. Lễ bạc nhưng tâm thành gọi là có nén nhang.

Xin mời hiển……….

Xin mời hiển……….

Xin mời hiển……….

Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về tâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn Thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ và toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

Nam mô A di Đà phật!

Nam mô A di Đà phật!

văn khấn tạ mộ mới xây,văn khấn xây mộ,văn khấn cúng tạ mộ mới xây xong,van khan,bai van khan,bài văn khấn,văn khấn,văn khấn nôm,tạ mộ thanh minh,tạ mộ mới xây,văn khấn tạ mộ mới,văn khấn sửa chữa mộ phần,khấn sửa chữa mộ,văn khấn cải táng,văn khấn giỗ đầu,bài văn khấn ngoài mộ ngày giỗ đầu,văn khấn ngoài mộ ngày giỗ thường,văn khấn ngoài mộ ngày giỗ hết,văn khấn cúng 49 ngày,văn khấn 100 ngày,văn khấn 49 ngày,văn khấn 49 ngày cho người mất.

Xin chân thành cảm ơn.

【#8】Hướng Dẫn Làm Lễ Và Cách Đọc Bài Văn Khấn Ngày Cúng Giỗ

Cúng giỗ ông bà cha mẹ là nghi thức có từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Đây là phong tục giúp cho con cháu luôn ghi nhớ đến tổ tiên, thể hiện lòng thành kính đến công lao sinh thành dưỡng dục của ông bà cha mẹ.

Trong ngày giỗ, ngoài chuẩn bị mâm cơm cúng và hoa quả, chúng ta còn phải biết cách khấn vái.

Hãy ghi nhớ 3 bài văn khấn ngày cúng giỗ ông bà cha mẹ đúng chuẩn tâm linh 2021 của Web Tử Vi tổng hợp để ngày giỗ được hoàn thiện trọn vẹn.

Ngày Giỗ Thường hay còn được gọi là ” Cát Kỵ “, đó là ngày Giỗ của người quá cố kể từ năm thứ ba trở đi. Ngày giõ này của người quá cố sẽ được duy trì đến hết năm đời.

Ngoài năm đời, người ta rằng vong linh người quá cố đã siêu thoát hay đầu thai trở lại nên không cần thiết phải cúng giỗ nữa.

Đây là dịp để con cháu hai họ nội, ngoại tề tựu họp mặt đông đủ. Những dịp như thế cũng là dịp để mọi người trong gia đình, dòng họ gặp nhau thêm phần thăm viếng sức khỏe cộng đồng gia đình, dòng họ.

Ngày giỗ hay còn gọi là kỵ nhật, là ngày hàng năm người sống làm đám giỗ mời gia tiên cùng với người thân đã khuất trở về nhà.

Đồng thời cũng là dịp để con cháu tụ họp bày tỏ sự thương nhớ, hiếu kính đến cha mẹ ông bà và cầu mong sự phù hộ che chở đến toàn thể con cháu dòng họ mình.

Có nhiều ngày cúng giỗ dành cho người khuất như: cúng 49 ngày, cúng 100 ngày, ngày giỗ đầu, giỗ cuối hay giỗ thường. Liệu có thể cúng giỗ trước 2 ngày có được không hay phải đúng ngày?.

Nên cúng giỗ lúc mấy giờ và nên làm món gì là câu hỏi nhiều người băn khoăn. Nếu như ngày giỗ thường có thể tổ chức cúng giỗ trước 1 ngày, hoặc 2 ngày thì những đám giỗ còn lại buộc phải tuân thủ những nghi thức cúng giỗ theo thọ mai gia lễ hoặc sắm cúng giỗ đầu theo phật giáo với những bài văn khấn ngày giỗ kiểu mẫu.

Theo quan niệm của phật giáo, sau khi chết linh hồn đi xuống địa ngục sẽ trải qua 7 quan môn địa ngục, mỗi cửa sẽ được xét hỏi trong 7 ngày bởi Diêm vương, vì thế sau 7×7 là 49 ngày, linh hồn mới được siêu thoát. Cúng giỗ trước hay sau ngày mất giúp người đã khuất được nhận hương quả để trải qua những kiếp nạn cõi âm.

Trong thời gian 49 ngày này, người nhà của người đã khuất phải cúng kiếng hoa quả, tìm hiểu cách bày mâm cúng giỗ đúng lễ nghi, dọn mâm cơm cúng hàng ngày mời người chết về nhà.

Đây là một nghi thức vô cùng quan trọng đối với tang gia, giúp người thân đã khuất của mình được thanh thản, thoát tục. Về phần con cháu, họ thường tụng đọc kinh Phật hoặc bài văn khấn cúng ông bà tổ tiên bằng âm hán vào ngày giỗ 49 ngày này.

Ngoài những nghi lễ cúng giỗ trên ban thờ gia tiên, thông thường người nhà hay làm những mâm cơm đãi khách rất to.

Một mặt để thể hiện lòng thành với người chết, mặt khác để cảm ơn anh em, bạn hữu, hàng xóm đã đến tiễn đưa thân nhân của họ trong tang lễ trước đó. Đây là một cách đáp lễ vô cùng ý nghĩa và tế nhị, thường thấy ở người Việt.

Văn khấn ngày cúng giỗ đám giỗ 100 ngày

Theo thông lệ người ta cúng 49 ngày để giúp người mất thanh thản siêu thoát sau khi trải qua quãng thời gian xét xử nơi cửa ngục, thì đến 100 ngày, việc cúng giỗ sẽ giúp phúc phần của người đã khuất thêm sâu dày hơn.

Không tổ chức linh đình như các ngày giỗ khác, ngày giỗ 100 ngày thường tổ chức trong phạm vi gia đình. Mâm cỗ cúng bày gia tiên vẫn được sửa soạn chu đáo, các bài văn khấn, kinh chú tụng dành cho người mất được con cháu cầu đọc.

Thậm chú gia chủ có thể mời các nhà sư về để cúng dường tăng trai cho người mất. Dù không khí bi thương đã bớt đi phần nào nhưng tình cảm và lòng thành dành cho người đã khuất không hề mất đi.

Nhiều người chưa biết liệu cúng giỗ đầu vào ngày nào là chính xác? Cúng giỗ đầu là gì và cúng giỗ như thế nào? Câu trả lời là: ngày đầu tiên sau một năm mất.

Trong quãng thời gian này, không khí tang thương vẫn còn trong gia đình. Con cháu vẫn mặc áo tang hoặc đeo khăn tang trong ngày giỗ đầu (1 năm), thậm chí vì quá thương nhớ người thân mà con cháu vẫn khóc thương buồn bã.

Trong ngày cúng giỗ 1 năm đầu này, người nhà thường làm đám giỗ rất trang nghiêm và đủ lễ. Khách mời đến cũng phải ăn mặc kín đáo lịch sự,mang theo lễ vật cúng giỗ, bày tỏ sự kính lễ đối với người đã khuất.

Tròn 2 năm sau ngày mất là lễ cúng giỗ hết, là ngày đánh dấu sự kết thúc của tang kỳ. Một thời gian dài trước đây, sau ngày giỗ hết, người nhà phải để tang thêm 3 tháng nữa mới là chính thức hết tang. Khi đó thân nhân của họ được bỏ ban thờ vong để chuyển bài vị lên ban thờ chung với gia tiên ông bà.

Tuy nhiên ngày nay nhiều gia đình sau đúng 2 năm đã chức thức chuyển bát hương người mất lên ban thời, chấm dứt để tang.

Sau ngày lễ đại tường này, gia đình người đã khuất có thể trở lại sinh hoạt, tham gia hội hè, giao lưu văn hóa như bình thường. Gia chủ cũng có thể bày trí đồ đạc lại cho hợp phong thủy mà không sợ bất kính với người mất như lúc còn tang kỳ.

Sau khi chấm dứt tang kỳ, đến ngày giỗ năm sau của người mất gọi là ngày giỗ thường. Cách làm đám giỗ hay thủ tục sắm lễ cúng, văn khấn nôm ngày giỗ thường cho ông bà, cha mẹ cũng khác hơn so với những năm trước.

Vào ngày giỗ thường (Cát Kỵ), gia chủ sắm sửa chuẩn bị đồ lễ cúng giỗ bày ban thờ, lên thực đơn nấu nướng những món mặn đãi khách, chuẩn bị những bài văn khấn gia tiên ngày giỗ, bài văn khấn ngày cúng giỗ bố mẹ, cúng giỗ cụ là những việc cần phải làm.

3 năm sau khi người thân mất, sự đau đớn tiếc thương cũng đã vơi đi phần nào, vì vậy ngày giỗ không chỉ là nghi lễ dành cho người mất mà còn là dịp để con cháu họ hàng tề tựu đông đủ với nhau. Chính những dịp như vậy đã giúp cho sợi dây tình thân được đan kết bền chặt hơn.

Đôi khi người ta cũng tự hỏi liệu làm cúng giỗ trước 1, 2 ngày có được không? Hay cúng giỗ vào giờ nào thì tốt nhất? Với ý nghĩa của ngày giỗ cộng với nếp văn hóa hiện đại, việc làm đám giỗ đúng ngày cũng không quá cứng nhắc nữa.

Nhiều gia đình làm ngày giỗ sớm cho trùng với ngày nghỉ để con cháu có cơ hội được tham dự đông đủ hơn cũng không có gì sai. Vì vậy làm giỗ sớm trong nhiều nhà là điều dễ chấp nhận.

Trong các dòng họ lớn, thường có ngày giỗ họ. Ngày giỗ này thường được tổ chức hàng năm với sự tham gia của tất cả các con cháu trong dòng tộc.

Việc giỗ họ thường được trưởng họ đứng lên đảm nhiệm và các thành viên trong họ có trách nhiệm đóng góp.

Có họ chỉ tính suất đóng góp theo đinh, tức là nhà có con trai mới phải đóng, nhưng cũng có họ yêu cầu góp giỗ bình đẳng.

Ngày nay để duy trì những dòng họ lớn còn sinh hoạt với nhau là điều hiếm thấy, vì vậy, việc giỗ họ không chỉ nằm trong phạm vi của họ mà còn còn là một nét văn hóa đặc sắc cần được duy trì và kế tục.

Hướng dẫn sắm lễ, cách cúng đám giỗ đúng cách

Đám giỗ là cách mà con cháu thể hiện sự hiếu kính, tôn trọng đối với ông bà cha mẹ đã khuất, vì thế việc chuẩn bị lễ cúng giỗ gồm những gì, bài văn khấn thế nào, cách ghi sớ, cách ghi giấy cúng giỗ sao cho đúng là việc cần phải lưu ý.

+ Mâm lễ cúng trong nhà và cúng giỗ ngoài mộ: gồm các món cúng giỗ dễ làm như gà luộc cánh tiên, xôi, các món ăn mặn tùy theo cách làm mâm cơm cúng giỗ với các món cúng giỗ miền Bắc, Trung, Nam mà các món này sẽ khác nhau. Hoa quả, bánh kẹo cũng được bày biện gọn gàng.

+ Tiền vàng mã,hình nhân, cách viết sớ cúng giỗ.

+ Bài văn khấn nôm cho 49 ngày, bài cúng giỗ tại nhà.

Thông thường, cúng trong nhà trước, sau đó mới ra mộ cúng, đọc văn khấn cáo giỗ ngoài mộ và hóa vàng ngay cạnh mộ. Theo tín ngưỡng thì như vậy người đã khuất mới nhận được các lễ vật mà người ở trên gửi xuống.

Nếu đơn giản, gia chủ đứng trước ban thờ, đọc văn khấn cho người đã khuất, đợi hết 3 tuần hương là có thể hạ lễ mời khách ăn cỗ. Nhưng cũng có gia đình mời các vị sư thầy trong chùa đến để tụng kinh siêu thoát cho người đã mất rồi mới được hạ lễ.

Như đã nói ở trên, cúng 100 ngày là ngày giỗ đơn giản hơn so với 49 ngày và các ngày giỗ khác. Lễ vật cúng cũng tương tự như 49 ngày nhưng thường không mời khách ăn uống mà chỉ hạ lễ cho con cháu nhận lộc.

Cách cúng cũng đơn giản hơn, gia chủ ăn mặc chỉnh tề trang nghiêm, các con cháu đứng đằng sau chắp tay lễ 3 vái để gia chủ đọc văn khấn. Sau khi khấn thì lễ tạ 4 lễ là xong.

Ngày giỗ đầu dù ở gia đình nào, địa phương nào cũng rất được chú trọng, không kém gì lễ 49 ngày. Các lễ vật gia chủ cần chuẩn bị là mâm cơm cúng gồm xôi, gà, 2 mặn, 2 canh, hoa quả, hương nến, tiền vàng, quần áo giấy, ngựa giấy, hình nhân,v..v..

Đám giỗ cúng mấy mâm? Vì là ngày giỗ đầu nên cũng phải làm vài mâm cơm ít nhiều phụ thuộc vào gia cảnh của chủ nhà để mời khách. Khách có lòng sẽ tự đến đặt lễ thắp hương cho người đã mất.

Trước ngày giỗ 1 ngày bày 1 mâm lễ mời người mất và gia tiên về dự lễ, ngày hôm sau mới chính thức tổ chức đám giỗ,

Giỗ hết cũng sắm sang đồ cúng tương tự như giỗ đầu, chỉ có một điều khác là trong ngày giỗ sẽ hóa hết những đồ tang như quần áo, khăn tang, phướn, cờ, gậy chống, rèm xô. Như một cách thể hiện rằng tang kỳ đã kết thúc.

Ngày giỗ thường được tổ chức hàng năm, còn gọi là cũng giỗ 3 năm sau khi mất, quy mô vì thế cũng nhỏ gọn đơn giản hơn. Chủ yếu là lòng thành của con cháu là chính. Thông thường sẽ chia ra 2 ngày, 1 ngày trước giày giỗ gọi là lễ tiên thường, và ngày hôm sau là lễ chính kỵ.

Ngày tiên thường, gia chủ cùng với mâm lễ vật đã sắm sửa đầy đủ, đứng nghiêm trang chắp tay lễ 3 lần rồi đọc văn khấn mời gia tiên trước, sau mới đến người đã mất về dự lễ chính kỵ vào hôm sau. Đọc xong lễ 3 lễ kết thúc.

Ngày hôm sau lễ chính kỵ thì khấn mời người đã mất trước, rồi đến mời tổ tiên về dự giỗ. Sau 3 tuần hương thì hạ lễ cho con cháu thụ lộc. Cúng giỗ buổi sáng hay chiều tùy thuộc thời gian của chủ nhà.

Cùng là một ngày giỗ nhưng mỗi miền lại có cách làm cơm cúng và đãi khách khác nhau. Cúng giỗ nên cúng chay hay mặn đều được, phụ thuộc vào lệ mỗi nhà.

Như ở miền bắc, cơm cúng không thể thiếu con gà luộc và đĩa xôi, có thể là xôi trắng, xôi gấc hay xôi vò đều được. Tiếp đến là khoanh giò lụa hoặc giò bò, miếng bánh chưng xanh, một đĩa nem rán và một món xào thập cẩm. Tùy hoàn cảnh kinh tế từng nhà có thể làm thêm nhiều món hơn như các món nộm, món rau. Cách xới cơm cúng ngày giỗ phải xới đầy ắp chén cơm để thể hiện âm dương hòa hợp. Khi cúng giỗ xới 1 chén cơm là đủ.

Mâm cơm miền Trung có đôi chút khác so với miền Bắc. Người miền Trung thay bánh chưng bằng bánh tét, không dùng các loại nộm mà thay bằng đồ muối chua như hành kiệu.

Còn cơm cúng miền Nam thường giản dị hơn vì người ta quan niệm người đã khuất thì cũng đã khuất rồi, người ở lại quan trọng là lòng thành.

Vì vậy dù mâm cơm có giản dị, nhưng khi đã đến ngày giỗ của ông bà cha mẹ, các con cháu dù ở xa cũng phải tề tựu cho đông đủ.

Các bài văn khấn ngày cúng giỗ

Khi tổ chức các nghi thức cúng giỗ không thể thiếu các bài văn khấn, bài cúng giỗ cha mẹ, bài cúng ông bà tổ tiên cũng như cách viết sớ cúng giỗ đúng đủ theo nguyên tắc.

Có sự khác nhau giữa văn khấn cúng giỗ cha mẹ, vợ, chồng với văn khấn cúng giỗ ông bà nội ngoại, khác nhau giữa văn khấn giỗ bà cô tổ, ông mãnh với văn khấn cúng giỗ cậu bé đỏ, trẻ sơ sinh.

Con cháu đứng trang nghiêm đọc bài cúng giỗ ông bà, giỗ chú bác như mẫu sau:

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch.

Con/cháu/ phu/ thê là………cùng các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ Chung Thấtt heo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm có:…………………………..

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của …tên người đã khuất…

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Cha/ mẹ/vợ/ chồng/con/cháu… đi đâu, vội vàng chi mấy;

Trời cao có thấy, thảm thiết muôn phần thương thay!

Đời người giấc mộng, hình ảnh phù vân;

Ngày tựa chim hay, tiết vừa bốn chín (hoặc trăm ngày);

Thoi đưa thấm thoát nay đã bảy tuần (hoặc trăm ngày).

Cây lặng gió lay, khóc làm sao được;

Lưng cơm đĩa muối, gọi chút đền ân.

Xin cha (mẹ) về thượng hưởng.

Bài cúng 100 ngày

Gia chủ đứng nghiêm trang, cách xưng hô khi cúng giỗ phải trịnh trọng.

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch.

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm:…………………………..

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của Hiển:………………… chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế. (nếu là mẹ)

Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;

Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.

Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;

Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.

Sống thời lai lai láng láng, hớn hở chừng nào!

Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!

Ngày qua tháng lại, tính đến nay Tốt Khốc tới tuần;

Lễ bạc tâm thành gọi là có nén nhang kính tế.

Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.

Kính cáo; Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòangia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

Mâm lễ cúng giỗ và văn khấn cần chuẩn bị cẩn thận, tránh thất lễ với người đã mất

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ

Tín chủ (chúng) con là:…………………………………………………. Tuổi…………………………………………….

Ngụ tại:………………………………………………………………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày……………tháng……….năm…………….(Âm lịch).

Chính ngày Giỗ Đầu của:……………………………………………………………………………………………………

Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời:………………………………………………………………………………………………………..

Mất ngày tháng năm (Âm lịch):…………………………………………………………………………………………….

Mộ phần táng tại:………………………………………………………………………………………………………………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Đây là bài văn cúng giỗ hàng năm thường được sử dụng:

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ: …………………

Tín chủ (chúng) con là: ……………………

Ngụ tại: ……………………

Hôm nay là ngày ……… tháng ………. Năm…………

Là chính ngày Cát Kỵ của ………………………………

Thiết nghĩ ………. (dài) vắng xa trần thế, không thấy âm dung.

Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời ………………

Mất ngày …………….. tháng …………. năm ……………

Mộ phần táng tại: ……………………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

-2. Không đặt lên mâm cúng các món sống như gỏi cá, món tanh như lươn, cũng không nên cúng các loại thịt như thịt chó, mèo, vịt… Không cúng mắm tôm hoặc các món mà người mất khi còn sống không ăn được.

-3. Bày chén bát riêng. Khi cúng giỗ, cần chuẩn bị bát đũa mới, không dùng những đồ mà người sống đang dùng.

-4. Không cúng hoa quả giả. Chuẩn bị hoa tươi quả ngọt để thắp hương cho người đã khuất là bày tỏ lòng thành kính với họ, vì thế đại kị dùng hoa giả, quả giả thắp hương trong ngày giỗ.

-5. Đám giỗ cho người chết trẻ (chết yểu) theo tập quán thường không được tổ chức. Sau khi hết tang, chuyển di ảnh lên ban thờ coi kết thúc việc cúng giỗ. Tuy nhiên ngày nay các gia đình vẫn làm giỗ cho con cháu không may chết trẻ để bày tỏ lòng thương xót.

-6. Không làm cúng giỗ online nếu ở xa, càng không nên dùng văn khấn giỗ bằng tiếng Anh nếu bạn là Việt kiều, đó là sự bất kính rất lớn với người đã khuất.

Lòng thành kính với ông bà tổ tiên cũng giúp cho phúc phần của gia đình sẽ còn mãi để phúc phần gia đình không bị mất đi việc chọn nơi an táng hợp phong thủy cũng là điều vô cùng quan trọng.

【#9】Văn Khấn Bài Cúng Thất

  • Cúng thất là một nghi lễ Phật giáo thỉnh thoảng tôi cũng hay được mời tham dự nơi những ngôi chùa, do chư tăng cử hành. Nếu những nghi lễ khi tang lễ có thể có mặt nhiều người ngoài gia đình, họ hàng, thì cúng thất thường chỉ bao gồm những người thân trong gia đình người quá cố, và một số ít họ hàng thân thuộc, cúng thất có thể được cử hành tại gia với những nhà sư được mời tới nhà, nhưng thường được cử hành tại chùa, là nơi thờ phượng đặt tro cốt của người quá cố.
  • Cúng thất là một nghi thức quan trọng bên Phật giáo dành cho người mới khuất, cúng thất bao gồm 7 thất, mỗi thất 7 ngày, vị chi là 49 ngày kể từ ngày mất. Theo quan niệm truyền thống dân gian, con người khi sinh ra sau 7 ngày thì được một lạp, và khi mất sau 7 ngày thì được một kỵ. Mỗi lạp thì sinh ra một vía, còn mỗi kỵ thì mất đi một vía. Con người có 7 vía (chúng ta thường hay nghe nói réo 3 hồn 7 vía), cho nên người ta có lệ cứ 7 ngày sau khi mất cúng một lần, gọi là cúng thất, tất cả bao gồm 7 thất, thất cúng cuối cùng gọi là chung thất, trọn 49 ngày,
  • Trong kinh Địa Tạng của Phật giáo, có nói đến trong 49 ngày nếu tạo được nhiều phước lành cho người đã khuất, thời có thể cứu người đã khuất khỏi đọa vào chốn ác đạo, và được sinh lên cõi thiện. Đối với thân quyến hiện tại cũng được nhiều phước lành. Cứ 7 ngày như thế là một tuần chay, cúng 7 tuần chay trọn 49 ngày gọi là “Thất thất lai tuần”. Như chúng ta đã biết triết lý Phật giáo tin rằng khi chưa dứt khỏi luân hồi, thì con người luân hồi trong lục đạo, gồm 3 ác đạo là Súc sanh, Ngạ quỷ, Đia ngục, và 3 thiện đạo là Cõi người, A tu la (Phi thiên), và Thiên.
  • Tín ngưỡng Phật giáo tin rằng trong vòng 49 ngày sau khi mất (Thân trung ấm), là thời gian hồn phách của con người chờ được xem xét để tái sinh trong lục đạo (một trong sáu cõi kể trên). Nếu thực vật chỉ có một phần sinh hồn, động vật (các loài vật) có sinh hồn và giác hồn, thì con người có sinh hồn, giác hồn, và linh hồn (3 hồn 7 vía).
  • Trong vòng 49 ngày mất chúng ta thường thấy mỗi ngày người trong gia đình cúng cơm cho người đã khuất, cúng cơm này là cúng cho người đã khuất hưởng khi chưa biết sẽ về đâu. Nhưng cúng thất không phải là cúng cho người đã khuất, mà đây là lễ vật dâng cúng lên chư Phật, Bồ Tát để cầu xin vong linh được tiếp dẫn, siêu thoát về nơi Thiện đạo (3 cõi lành trong 6 cõi luân hồi).
  • Trong nghi lễ cúng thất được cử hành tại chùa tôi đã có dịp tham dự, thường thấy có một vài cho đến vài chục chư tăng cử hành lễ, tùy theo yêu cầu của gia chủ. Như vào dịp An cư kiết hạ vừa rồi, nhân có các chư tăng về an cư, tại một Tu viện Phật giáo tôi đã được tham dự một lễ cúng chung thất có đến 50 chư tăng hành lễ, rất trang trọng và ấn tượng. Tôi cũng thường thấy trong nghi lễ có phóng sinh chim chóc để cầu phước cho người quá vãng.
  • Nhân đây tôi cũng muốn nói thêm về một tục lệ dân gian chúng ta thường thấy trong đám tang tôi đã đọc được trong sách vở, là tục đội mũ rơm, thắt lưng bằng dây gai dây chuối, và chống gậy tre hay gậy vông. Nguyên do của tập tục này lại chính là để bảo vệ an toàn cho thân nhân người quá cố. Ngày xưa đường xá chật hẹp, người quá vãng thường được an táng nơi đồng ruộng, hay trên núi. Đường xá đi lại trơn trượt, khó khăn, đã có trường hợp sau mấy ngày tang ma mệt mỏi, người đi đưa mất thăng bằng ngã đập đầu hay rơi xuống vực, cũng có khi con cái quá thương tiếc tự đập đầu gây thương tích. Để tránh những điều đó người ta mới làm ra những chiềc mũ bện bằng rơm cho người thân đội (tạo an toàn khi va đập giống như mũ bảo hộ chạy xe gắn máy bây giờ). Áo tang lụng thụng dễ vướng víu vấp ngã nên được buộc lại bằng giây chuối, giây lạt, còn cây gậy chống cũng có tác dụng đi lại thêm vững chắc trên đường trơn trượt hay đường núi gập ghềnh. Tục phân biệt tang cha chống gậy tre còn tang mẹ chống gậy vông.

Bài văn khấn, cúng làm tuần ( cúng vong ) hoặc lễ cúng 7, 14, 21, 28, 35, 42, 49, 100 ngày người mất. khấn vái cúng thất tuần người mới mất

    VĂN CÚNG LÀM TUẦN

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    ……………….tỉnh,……………..huyện,……………….xã,………….thôn, ………….xứ chi nguyên. Tuế Thứ………..niên,………………….ngoạt,………………..nhựt Tư nhơn trưởng nam…………..Hiền thê………………cùng toàn gia đẳng. Cung lễ……………phụ thân ( mẫu thân)…………trọng phủ………………..trọng nương;……………..quận. Từ trần ngày……….tháng……….năm……….hưởng………tuổi. Thành tâm cẩn dụng…hương đăng hoa quả thanh chước thứ phẩm chi nghi. Cẩn ủy hiếu bái…………………..cẩn dĩ phỉ nghi. ĐIẾU CÁO VU – Thiết niệm ngài (1)Thái Quản nhờ ơn độ dẫn vong linh phục vị vong chánh hồn chi vị. – Cung niệm hiển khảo (tỷ) …….trọng………..quận phần hồn chi vị lễ tuần linh. Toàn gia đẳng xin bái khấp phụ (mẫu) thân. Thương thay xin thượng hưởng lễ (2) sơ tuần thất nhựt tuần (3) 7 ngày. Qui linh an lạc miền tiên cảnh. Xin phò hộ con cháu gia nương bình an.

    HIẾU TƯ CẨN CÁO DI

Nên Cúng Cơm Cho Người Chết Như Thế Nào Và Trong Bao Lâu?

    Theo nhà Phật giáo lý “sanh lão bệnh tử” là quy luật tự nhiên trong quá trình duyên khởi, giúp cho con người có ý thức hệ về cuộc sống ra sau cho tốt, sống như thế nào có ích lợi cộng đồng và theo quy luật tất yếu nghiên cứu tu hành giải thoát khổ đau sanh tử luân hồi. Sanh lão bệnh tử là quy luật tất yếu nhưng không có tín điều sắp sẳn, được áp dụng cho chúng sanh chung và con người trên hành tinh, có công năng giúp cho con người giác ngộ. Sanh trụ dị diệt là lực đẩy, không ai có thể tránh những quy luật cộng đồng. Sống chết là việc có sẵn trong cuộc đời, từ giáo lý nầy mà nhà Phật cân nhắc để chúng sanh giác ngộ, hướng dẫn chúng sanh nhất là con người có thể vượt quy luật sống chết bằng cách sống theo đời sống tâm linh. Vì tâm linh thì vô biên, vô bờ bến, không sanh không diệt, tức là không có sanh ra nên không có chết đi và không có tìm kiếm sự tồn tại nên không trốn chạy sự hủy diệt, bất sanh bất diệt là thường trụ niết bàn. Phật là tĩnh thức giác ngộ. giác ngộ thì không còn nằm trong quy luật sanh tử, thành, trú, họai, không nữa. Tuy nhiên, nhà Phật cũng dạy, con người do mang thân tứ đại, gồm đất, nước, lửa, gió, thêm cả thức đại, không đại, nên có hòa hiệp, có tan rã, có hiện tiền có họai diệt, tức có sống, có chết. Con người từ Vua đến Quan đến hàng thứ dân, dân giả giàu nghèo khi hưng thời thì oai phong lẫm liệt, lúc già cỗi hưu trí ngẫm nghĩ lại cuộc đời, có sự tiếc nuối sợ chết, sợ tử thần đến viếng nhà thì không ổn. Từ khi có giáo lý Đức Phật con người không còn kinh hoàng trước cái tham sống sợ chết nữa.

Phong tục tập quán

  • Phong là phong hóa, một thói quen nhất định của một dân tộc, của người địa phương trở thành nếp văn hóa chung của một dân tộc. Tục là tuc lệ những thói quen không bỏ được nhự tục ăn trầu, hút thuốc, tục đám ma chay rườm rà…Tuy nhiên, có thời điểm những phong tục trở thành lạc hậu, chỉ còn là một nếp văn hóa của một dân tộc địa phương nào đó trong đời người. Tập quán là thói quen của con người trong một vùng miền hay một quốc gia, tập quán con người trong một sớm một chiếu khó có thể bỏ được và nếu có bỏ chỉ là thời điểm lịch sử, ví như người dân quê Việt Nam đến mùa cấy thì có người đứng đầu trong “vạn cấy” thổi tù và để gom công, Tuy nhiên, ngày nay có thể bỏ khi người nông dân phục vụ cho nông trường làm tính giờ, không tính công.
  • Phong tục tập quán về việc tổ chức tang lễ của người Việt. Nói đến tang lễ là nói đến chết, nói đến chết là nói đến việc làm đám tang (tang lễ). Chúng ta sẽ tìm hiểu một số lễ tang của các nước lân bang và Việt Nam, sau đó sẽ bàn đến chi tiết khi gia đình hữu sự và hậu sự thực hiện các nghi cúng cho đủ lễ
  • Lễ tang cho gia đình Phật tử theo hệ thống Phật giáo Nam tông, cụ thể như ở vương quốc Lào là nước thuộc quốc giáo Phật giáo nguyên thủy. Trong gia đình có người qua đời tất cả đều vui, hát ca ngâm vịnh, rượi thịt, vui vì người thân sẽ chuyển sang kiếp khác sung sướng hơn, bà con hàng xóm láng giềng tụ tập phụ khâm liệm người chết, đặt áo quan vào một gốc nhà, cho hàng xóm láng giềng đến cúng lạy. Mọi người đến viếng lễ tang được mời sang nhà khác đãi ăn uống, lễ tang được tổ chức ba ngày, hoặc bốn ngày tùy theo quý Sư phán định. Ngày cuối cùng tang chủ và mọi người đem đi hỏa thiêu, sau đó hốt tro cốt đem vào chùa gần nhất phụng thờ. Từ đó mỗi năm gia đình đến thăm cúng giỗ, cúng dường chùa (Bài học thêm – sách địa lý Lớp Đệ Nhất 1969 – nói về phong tục lễ táng của người Lào)
  • Lễ tang xứ Tây Tạng-Trung Quốc, là xứ sở có đá không có đất, không có rừng, không có gỗ làm củi. Gia đình có người qua đời, sau khi làm lễ tang xong, đội mai táng đem người chết ra bãi tha ma, phân thây người chết bằng cách, chặt từng mảnh nhỏ thân thể người chết, bằm nhỏ cho loài chim kên kên đến tha mổ ăn cho đến khi hết những phần thịt xương của người chết mới thôi, phong tục nầy gọi là “điểu táng” (Ánh sáng Á châu – Đoàn Trung Còn)
  • Lễ tang theo Phật giáo Hòa Hảo ở An Giang, miền Tây Nam phần Việt Nam. Ban Tổ chức thường đến tụng kinh cầu an lúc sanh tiền, đến khi chết tụng kinh cầu siêu cho vong hồn người chết nghe kinh, nghe niệm Phật mà siêu thoát về với Phật A Di Đà. Lễ Tang chỉ tổ chức một ngày từ sáng đền chiều, thì động quan an táng gọi là “tử là táng”. Lễ tang theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Tứ Ân ở Ba Chúc, huyện Tri Tôn, Nhà Lớn Ông Trần ở Long Sơn, Bà Rịa thì con người sau khi chết thân xác được bó trong 7 “nẹp tre” khiêng đem đi chôn trong vòng một ngày đó. Điều ngày có nghĩ tang lễ cũng theo phung tục tập quán “tử là táng” chết là chôn cất, không coi ngày giờ năm tháng xấu hay tốt lành chi cả (Tổ đình Thành An – Thích Minh Tâm). Tục nầy giúp cho con người tự tin hơn vì không tin vào lý số, nên không có ngày kỵ, không hao tốn tiền của, không sát sanh hại vật.

Lễ phạn hàm

  • Những việc làm trong lễ tang thì nhiều, thật là phức tạp. Một Thầy cúng khi lãnh đàm quý Thầy thực hiện từng chi tiết nhỏ không sai sót chút nào. Khi người thân trút hơi thở, gia quyến sẵn sàng làm các việc gần gũi người thân, như làm lễ hú hồn, lễ đốt đồ cũ. Người Phật giáo thì dọn dẹp hết tất cả các vật dụng của người chết, vật dụng của gia đình, ghế đẳng sắp xếp có thứ lớp để mọi người đi tới lui không dụng chạm khua động lớn, làm chấn động người chết, thần thức nổi sân sẽ bị đọa lạc. Gia đình thỉnh đạo tràng nam nữ Phật tử chùa gần nhất đến hộ niệm, niệm Phật đến qua khỏi 8 tiếng đồng hồ đến khi thân xác hoàn toàn không còn cảm giác “sống” đau đớn, hoặc cho đền khi làm lễ khâm liệm.
  • Lễ phạn hàm: Tiếp theo là làm lễ phạn hàm, hay ngậm hàm, phạn là lương thực cơm gạo, hàm là ngậm, tức là bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền (đồng kẽm, đồng chinh) vào miệng người chết. Gạo để linh hồn người chết ăn, khỏi phải thành ma đói ( ngạ quỷ). Tiền dùng để đi đò hay qua cầu sang bên kia thế giới. Những người lúc sống ăn ở bạc ác thì lúc chết linh hồn phải qua cầu Nại hà. Người lương thiện được qua cầu Kim ngân. Ngày xưa nhà giàu dùng gạo và vàng, ngọc để làm lễ phạn hàm. Ở nông thôn miền Nam để trà, gạo, có khi là vài phân vàng, nếp sồng, đắp mặt người chết bằng tờ giấy trắng hoặc giấy quyền, loại giấy hút thuộc rê (vấn) (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư)

Ba vắt cơm để trên đầu người chết

  • Cúng Phía đầu nằm người chết có đặt cúng 3 vắt cơm, 4 cây đền sáp đặt ở bốn gốc, không dâng hương. Có nơi dâng hương do người nhà không biết đó thôi vì dâng hương có mùi thơm bắt buộc mọi người phải ngửi, nếu ngửi thì ngửi luôn mùi xác chết, bất tiện mất vệ sinh quá, nên không dâng hương.
  • Lệ cúng 3 vắt cơm: Do quý Thầy cúng đã từng làm và chuyền nối nhau thực hiện từ lâu đời, 3 vắt cơm là biểu tượng của tam tài “Thiên Địa Nhơn” (theo Nho gia, Đạo gia), lúc người chết trở về với linh khí tinh nguyên của trời đất. Ba vắt cơm sau khi tẩm liệm xong đa phần các gia đình tin tưởng đem treo ở giàn bếp. Khi nào người nhà có bệnh hoạn hiểm nghèo đem ra đốt tán nhuyễn cho uống sẽ hết bệnh. Có nhiều nơi người thân quý mến người chết đem ăn luôn ba vắt cơm để thể hiện tình cảm với người chết, việc làm nầy quá mất vệ sinh dễ sanh bệnh đối với người ăn. Về sau những tu sĩ Phật giáo tiến bộ, tu sĩ chuyên tu lần lượt bỏ hình thức đặt ba vắt cơm cúng trên đầu người chết. (tác giả nhận định không phải truyền thống nhà Phật)
  • Đặt nải chuối xanh: Theo xưa có đặt nải chuối dằn bụng phòng linh miêu nhảy qua người chết sẽ hồi dương, người cõi âm nhập tràng, thành quỷ nhập tràng. Ở một thuyết khác câu chuyện bất đầu từ chàng trai sống chung với người mẹ già. Một ngày nọ chàng trai này lên rừng đốn và bất ngờ thấy cây chuối già xanh có hoài gần chín nên đã chặt đem về nhà để chín đem đi bán và ăn. Thế là chàng trai đã chặt buồng chuối này đèm về nhà. Khi đem về tới nhà thì không biết để đâu, cất đâu sợ mẹ già ở nhà thèm và đói ăn hết làm sau. Vì vậy chàng trai mới nghĩ ra cách là phải treo buồng chuối này lên cao để bảo quản. Thế là qua ngày hôm sau chàng trai lên rừng đốn củi tiếp thì ở nhà người mẹ chờ con về mà không thấy về trưa rồi nên cũng đói bụng thấy chuối con trai mình treo trên nhà bếp đã chín nên có ý định lấy chuối để ăn. Không ngờ là trèo lên thì bất ngờ ngã xuống bà cụ chết. Khi chàng trai về đến nhà thì gọi Mẹ ơi! Mẹ ơi! …Không nghe mẹ trả lời chàng trai mới vào nhà thì bất ngờ thấy mẹ mình đã chết vì trèo lên để lấy chuối ăn cho đỡ đói. Thế là chàng trai mới trách mình là tại mình mà mẹ mới chết. Khi mẹ chết trong nhà không cò gì hết chỉ có buồng chuối nên cậu ta mới lấy nải chuối còn xanh để trên bụng Mẹ mình nghĩ rằng mẹ mình đói bụng mà không ăn được nên bằng cách để trên bụng mẹ.. Sự tích về nải chuối để trên bụng người chết là vậy (trang mạng Văn hóa xã hội – tôn giáo, tâm linh – Đào Minh Định)

Lễ nhập quan, thành phục, thọ tang

  • Nhập quan: Linh cữu được khiêng ra đặt giữa nhà, người chết ngoài đời do nhà đồ làm tất cả các việc. Việc tẩn liệm bằng trà, cách đây 60 năm nhà đồ không có trà, nên đồ tẩn liệm bằng rơm quấn trong giấy mỏng gọi là giấy súc. Vật dụng nầy ngày nay không còn, mà để trà rồi để thêm những đồ cũ, vật dụng của người chết được đem theo. Kế đến đậy nắp áo quan, gắn sơn chai, đóng lại theo kiểu mang cá hoặc đóng đinh cho kín.
  • Thành phục: Là lễ phát tang, cũng là lễ chính thức của đám tang, phát tang, giúp cho các thành viên vợ chồng, dâu rể con cháu trực hệ trong gia đình thọ tang người chết, ông bà cha mẹ. Thọ tang là chịu tang đối với những người lớn hơn mình, hay ngang mình là vợ chồng không chịu tang với người chết thấp hơn mình và có lễ cúng cơm cho người chết.
  • Thọ tang: Tang ai nấy mặc. Có gia đình sang giàu thì may đồ tang bằng vải tốt. Có gia đình nghèo may đồ tang bằng vải bô, áo bả hài gai, vải mùng, vì nghĩ đồ tang chỉ có mặc trong thời gian ngằn rồi đốt, nên đa phần các gia đình không quan tâm vải tốt xấu lắm. Trong thập niên 50 Thầy cúng thường lấy đồ xả tang của gia chủ may quần áo rồi nhuộm lại màu đen rồi mặc.
  • Trong giới tu sĩ xuất gia thọ tang màu vàng để nói lên đây là việc thọ tang người xuất gia, xuất thế gian. Tang trong đạo không phải như con cháu thọ tang cha mẹ ngoài đời nữa, mà đệ tử thọ tang Thầy Tổ, những bậc Cao Tăng, do đó chư Tăng Ni thọ tang màu vàng là vậy.
  • Thứ bậc thọ tang: Theo thứ bậc trong gia đình mà thọ tang: – Con trai, con gái, rễ, dâu thọ tang trắng – Trai trưởng nam thọ tang trắng có chống gậy tang cha chống gậy trúc (tròn), tang mẹ chống gậy vông (vuông), đội bích cân – Anh hoặc các em của người mất thọ tang trắng – Cháu nội thọ tang trắng có chấm đỏ – Cháu ngọai thọ tang trắng có chấm xanh – Cháu cố thọ tang trắng có chấm vàng – Cháu kêu bằng chú thọ tang trắng. Trong thời gian thọ tang, con cháu đi làm ăn hay đi làm việc đều có mang tang màu đen hay màu trắng, tùy theo màu áo mậc trong mình kich thước 2 cm x 1,5 cm.

Cúng cơm trong lễ tang:

  • Cúng cơm: Phải cúng như thế nào cho đúng, tại bàn vong linh có cúng 3 chén cơm, đồ ăn, hương hoa trà quả. Cơm gồm một chén giữa đầy cúng cho vong linh người mới chết, hai chén hai bên thì hơi lưng để hai bên, biểu hiện hai bên vai giác, kiến cho những người hầu cận vong linh Thầy cúng gọi là Tả mạng thần quang, Hữu mạng thần quang. Có nơi cúng 3 chén, có nơi cúng 6 chén, không nên để 5 chén là sai. Ý nghĩa chén cơm ở giữa có cắm đôi đũa, hai chén cơm hai bên mỗi chén một chiếc đũa là cúng cơm cho vong linh (ma mới) mới ăn. Tuy nhiên, nếu hai bên để mỗi nơi một đôi đũa nữa thì các cô hồn (ma cũ) sẽ đến dành giựt, vong mới không được ăn, nên có thành ngữ “ma cũ ăn hiếp ma mới” là vậy. Theo quý Thầy cúng thì nghi thức nầy không phải của Phật giáo, mà chỉ làm theo tục lệ tín ngưỡng dân gian từ xa xưa lưu truyền lại.
  • Thuyết khác, ý nghĩa cúng 3 chén cơm chén giữa đầy dành cúng cho vong linh mới chết, có cắm một đôi đũa. Hai chén hai bên có cắm mỗi chén một chiếc đũa dành cho người giữ vong linh ăn chậm hơn vong linh chánh, nếu không thì vong linh chánh sẽ bị dành giựt, ăn không kịp. Đây cũng là tục lệ văn hóa vùng, tục cúng kiến riêng tại các địa phương trong dân gian Trung quốc có ảnh hưởng đến tục lệ Việt Nam (theo Đại Đức Thạc sĩ Thích Thiện Huy các tục lệ trên chỉ có truyền khẩu trong dân gian, xưa bày nay vẽ chứ không có trong nhà Phật)
  • Theo tuc miền Trung trên nóc áo quan bày một bát cơm úp, cắm một chiếc đũa vót cho sơ ra như gai nhọn (có nơi gọi là chiếc đũa bông), một quả trứng luộc, ba nén hương. Bát cơm, quả trứng, có thể là bữa ăn để linh hồn người chết khỏi trở thành ma đói. Nhưng chiếc đũa có gai nhọn thì chắc chắn không phải là để dùng ăn cơm. Không ai có thể ăn với một chiếc đũa như thế. Chiếc đũa bông nhiều gai nhọn có ý nghĩa không cho giặc cướp lấy cơm của người chết và trừ ma quỷ hiếp đáp vong linh (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư). Đến ngày động quan, Thầy cúng kêu làm lại chén cơm có để trứng gà luộc mới, một đôi đũa bông, chén cơm mới để lại trên nắp áo quan, đến khi đem ra huyệt chôn cất xong, Thầy cúng hướng dẫn để chén cơm, trứng luộc, đôi đũa bông trên nấm mộ, nhiều nơi còn đặt thêm mớ bùi nhùi. Tục nầy mang ý nghĩa chúc tụng: “mớ bùi nhùi tượng trưng cho thế giới hỗn mang; trong hỗn mang hình thành nên thái cực (bát cơm); thái cực sanh ra lưỡng nghi (đôi đũa). Có lưỡng nghi (âm dương) là có sự sống (quả trứng)”.
  • Thầy cúng: Xưa chỉ một, nay có rất nhiều Thầy dự có tổ chức thành Ban gọi là Ban kinh sư từ 4 đến 6, hoặc 8 vị có trách nhiệm điều hành đám tang. Ban Kinh sư hướng dẫn như thế nào làm như thế nấy, Thầy cúng khi lãnh đám tang có trách nhiệm cúng cơm vào buổi sáng, trưa, chiều, có nơi cúng trưa và chiều.
  • Tu sĩ Phật giáo, người xuất gia, Sa môn viên tịch chỉ cúng cơm ngọ thời, không cúng cơm chiều.

Lo hậu sự là báo hiếu

  • Hậu sự là lo việc báo hiếu, cúng kiến người chết sau lễ tang. Trong đời dù Bạn có làm việc quan được trọng thị ở thế gian đến đâu, nhưng không thể bỏ bê việc cúng kiếng ông bà cha mẹ từ lúc người còn sống đến những ngày cuối cùng cho đến khi qua đời. Lễ tang tuy không bận rộn lắm nhưng được ràng buộc bởi đạo hiếu nghĩa, đạo làm con cháu với người trên trước, đạo làm người đối với người đã qua.
  • Ngoài đời những người có hiếu đạo bao giờ cũng được tôn kính trọng dụng, mọi người tin tưởng, là chỗ dựa tinh thần của gia đình. Đôi khi lan tỏa đến xã hội và là người tiêu biểu trong xã hội xóm làng. Người xưa tôn trọng đạo hiếu, ông bà cha mẹ qua đời, phận làm con có khi là con trai trưởng nam, hoặc con lớn, con trai con gái lớn cạo tóc để thọ tang thờ cúng người thân qua đời trong thời gian 3 năm. Có khi mỗi đêm trải chiếu, nằm cạnh bàn thờ vong để dâng hương cho vong linh, hoặc cũng có khi cao đầu, ăn chay trường ba năm để cầu cho người qua đời được gần gủi Phật, nghe kinh mau siêu thoát luân hồi, tái sanh vào chỗ tốt lành.
  • Theo Hiếu kinh của Mạnh Tử dạy: khi cha me qua đời, dù cho con có làm quan lớn ở cấp bậc nào đi nữa cũng phải mặc áo bả hài gai, cất chòi ngoài mộ để cúng kiếng, đêm nằm canh giữ quạt mồ cha mẹ đúng ba năm cho mồ khô ráo để tỏ lòng tôn kính (theo đạo hiếu. Khổng giáo, Lão giáo).
  • Trong Đại Luật mặc dù chuyên hoằng giới nhưng Đức Phật cũng thường cân nhắc môn đệ xuất gia cũng như tại gia giữ đạo hiếu. Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới Đức Phật dạy: “Hiếu thuận đối với cha mẹ, Sư trưởng, chư Tăng, đối với Tam bảo, sự hiếu thuận phù hợp chánh pháp chí thượng, sự hiếu thuận ấy gọi là giới, cũng gọi là năng lực chế ngự, đình chỉ mọi sự tội lỗi”.
  • Con cháu nhà Phật muốn báo hiều trọn vẹn thì tự phát tâm tụng kinh Bộ cầu nguyện cho ông bà cha me tại gia lúc sanh tiền cũng như khi qua đời, phát nguyện ăn chay trường, hoặc phát tâm rước chư Tăng Ni đến tụng kinh Địa Tạng. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế gia đình làm việc từ thiện xã hội giúp đỡ người nghèo giúp cho họ qua cơn họan nạn, làm việc phóng sanh, ấn tống kinh sách Phật giúp cho người cải ác tùng thiện, đi cúng thập tự cầu cho ông bà cha mẹ siêu sanh Tịnh độ đó mới là đạo hiếu của Nhà Phật và có kết quả thực tế. Đức Phật dạy: ” Hiếu với Mẹ Cha tức là kính Phật. Nếu ở đời không có Phật thì hãy khéo thờ cha mẹ. Khéo phụng thờ Cha mẹ như phụng thờ Phật vậy” (Kinh Đại Tập)
  • Nhân nói việc lễ tang và lo hậu sự là báo hiếu ông bà cha mẹ đã qua, Đức Phật còn quan tâm đến những lúc ông bà cha me tại tiền, khi cha mẹ còn làm con phải hết lòng hiếu thuận, niềm tin vững vàng với Thầy Tổ, Tam Bảo. Cho nên đạo Phật còn gọi là Đạo Hiếu…”

Cúng cơm sau lễ tang

  • Sau lễ tang mọi người đều mệt mỏi. Tuy nhiên, đối với người còn ở lại dù khổ đau bao nhiêu cũng phải tỉnh táo để lo việc cúng kiếng, các lễ cúng đối với vong linh. Nhất là lễ cúng cơm là lễ quan trọng trong đạo hiếu. Người có lòng hiếu thảo hay không phải xem cung cách đối xử của con cháu đối với người đã qua, ai hiếu thảo, ai không hiếu thảo. Lời Phật dạy: “vạn hạnh Bồ tát hiếu nghĩa vi tiên”, trong các hạnh Bồ tát thì hiếu đạo là việc trước tiên. Phật xưa thị hiện vao đời cứu chúng sanh, có khi thị hiện làm con, lúc cha mẹ mù lòa, muốn đi đâu con phải gánh cha gánh mẹ giúp cha me đi đây đi đó cho thỏa dạ. Cha mẹ đói khát con lóc thịt thân mình cho cha mẹ ăn, để đổ đói qua ngày (Kinh Đại phương tiện Phật Báo Ân – bản dịch HT Thích Trí Tịnh).
  • Việc lễ tang ngày nay dù chúng ta biết có nhiều hủ tục cần bỏ bớt, nhưng những việc còn lại phải làm, làm cho chí vóc, làm cho đầy đủ không được sai sót, như:
  • Cúng an sàng: Là an vị vong linh, sau khi hạ huyệt chôn cất xong, đem vong vị về tại nhà, thiết lập bàn thờ vong, an sàng linh vị, cũng gọi cúng an sàng. Bàn thờ nầy dành để cúng vong, cúng cơm sau lễ tang. Việc cúng kiếng nầy được thực hiện đến khi mãn tang (mãn khó), sau đó thỉnh vong linh thờ cúng chung với bàn thờ cửu huyền (thờ cúng ông bà) và mọi năm cúng giỗ tưởng niệm người đã qua.
  • Cúng mở cửa mộ: Còn gọi là mở cửa mả hay khai mộ, sau lễ an sàng, tức là từ khi chôn cất đến ngày thứ ba mọi người trong gia đình ra thăm mộ có đem theo lễ vật cúng, như: thang 9 bậc đối với người nữ, thang 7 bậc đối với người nam. Cây thang 5 tấc tượng trưng cho ngũ thường, 3 ống trúc đựng gạo nước tượng trưng cho tam cang, gà con kêu chi chít, tiếng kêu của gà con làm cho vong linh đã chết sau 3 ngày tỉnh thức biết đường lên khỏi mộ, cây mía lau tượng trưng cho công lao của cha mẹ lo cho con cái đến ốm o gầy mòn như cây mía, nhưng vẫn ngọt ngào với con. Ngoài các vật dụng đặc biệt trên còn có chè xôi, tam sên (hay tam sanh, gồm thịt, tôm, trứng luộc), trái cây, rượu, trà, gạo, muối, giấy tiền vàng bạc, trầu cau…Ở nhà cúng 4 mâm cơm, cúng ông bà, đất đai, cô hồn, cúng vong.
  • Cúng thất: lấy dấu mốc ngày người chết là ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy làm lễ cúng thất, cúng tuần thất, 7 ngày, Nghi thức cúng thất bắt đầu từ buổi chiều ngày trước khoảng 16 giờ, tức ngày còn sống, rước Thầy đến cúng khai kinh, có sắm hương hoa trà quả, chè xôi, cúng tất cả các bàn thờ trong nhà, như cúng ông bà, cúng đất đai, cúng vong linh người chết và một mâm cúng cô hồn. Ngày hôm sau huờn kinh, không có cúng cơm. Nghi thức các lễ cúng thất đều giống nhau.
  • Cúng 21 ngày: tức là cúng thất thứ ba, 7 x 3 = 21 ngày gọi là tuần tam thất
  • Cúng 49 ngày gọi là cúng thất thứ bảy 7 x 7 = 49 ngày gọi là cúng 49 ngày hay gọi cúng tuần chung thất
  • Cúng 100 ngày trong thời gian nầy từ khi người thân qua đời đến ngày thứ 100. Trong những lúc gia đình ăn cơm vào buổi trưa và chiều con cháu có để bát cơm trên bàn ăn và một đôi đũa, mời ông bà về ăn rồi mới ăn, gọi là trả hiếu ông bà cha mẹ, cho đến khi nào phôi pha sự đau buồn cuộc tử biệt sanh ly mới thôi.
  • Cúng giáp năm cũng gọi là cúng Tiểu tường.
  • Cúng mãn tang, cũng gọi mãn khó, cũng gọi là Đại tường… Các nghi cúng 21 ngày, 49 ngày, 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang vẫn y như lễ cúng mỗi tuần thất, có khai kinh và huờn kinh.
  • Nghi thức cúng dành cho người xuất gia viên tịch hình thức như nhau, nhưng có khác nội dung do Ban kinh sư chịu trách nhiệm biên soạn.
  • Việc cúng cơm cho người chết ngoài thế gian ông bà già xưa quy định con cháu phải cúng cơm hằng ngày, trưa, chiều đủ 3 năm mới hết cúng. Ngày nay các Thầy cúng giảm chế bớt lý do con cháu đi làm ăn xa, người ở ngoai quốc, nhà đơn chiếc, nên chỉ còn cúng cơm đến 100 ngày thì ngưng. Rồi đến cúng tiểu tường, tròn một năm đối cha mẹ, người thân qua đời. Người Phật giáo, hoặc tu sĩ xuất gia, hàng giáo phẩm Tăng Ni trong chốn thiền môn, việc cúng kiếng dành cho các tu sĩ có phần trịnh trọng hơn nhiều. Các đệ tử thay phiên lo việc cúng cơm, làm các việc báo ân Thầy Tổ, nên việc cúng cơm được duy trì đến 3 năm mới không còn cúng nữa. Tuy nói 3 năm nhưng chỉ có 24 tháng là tới ngày cúng mãn khó, mãn tang, đại tường..Chúng ta cũng cần nên biết thêm việc tính ngày mãn tang, ngày giỗ chạp. Ngày cúng 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang thì tính tháng nhuần, mặc dù có dư một tháng nhưng vẫn tính là 24 tháng, đàm giỗ thì tính nhuần, nhơn gian có câu : “đám giỗ tính nhuần, làm tuần tính đủ” là vậy.

  • Lễ tang là công việc quan trọng. Nhà có lễ tang thì mọi việc đều tạm ngưng, giảm bớt công việc ngoài xã hội để lo lễ tang cho ông bà cha mẹ. Đạo hiếu ở thế gian rất cần được phổ cập trong nhân gian thật nhiều, đem lại đạo đức hấp thụ thật nhiều cho con người, nhất là người hung ác hiện nay ngày càng nhiều. Phật giáo còn quan trọng hơn, nhất là đối với các bậc tôn túc Thầy Tổ, hàng giáo phẩm, nhưng không chú trọng nhiều về hình thức lễ tang mà chú trọng đến việc thác sanh cao đăng thượng phẩm, cao đăng bảo địa, cao đăng Phật quốc.
  • Việc tín ngưỡng các tập tục ma chay có ảnh hưởng nhiều theo tập tục từng vùng văn hóa của xứ sở Trung Hoa rộng lớn, ảnh hưởng mấy nghìn năm theo Mật giáo, đạo thờ cúng, tang chay của Khổng giáo, Đạo giáo cũng xuất phát từ Trung Hoa. Vì vậy, việc tổ chức lễ tang hiện nay ảnh hưởng nhiều tập tục của Trung Hoa kết hợp với tập tục của người Việt…Như vậy một lễ tang dành cho một người chết là một tập hợp những tập tục văn hóa nhiều miền vùng văn hóa khác nhau của các quốc gia đuợc giới thiệu tại một lễ tang “đúng nghĩa”. Chúng ta thấy có một sự áp đặt nặng nề bất công quá, rườm rà, tốn kém, tổn hao công sức tài sản tiền bạc của gia đình thật vô lý vô cảm.
  • Đối với Phật giáo khi trong nhà có người thân qua đời thì nên thực hiện lễ tang cho chu đáo giản dị nhưng không kém phần trang nghiêm, không giết mổ heo, trâu, bò, gà vịt, giảm bớt những hủ tục rườm rà hao tốn thời gian kinh phí, nên cúng cơm chay cho vong linh. Những nghi lễ vô lý như đốt vàng mã, để nải chuối xanh trên bụng người chết, khóc mướn, leo lên nóc nhà hú hồn, nhất là không nên để thời gian lễ tang quá lâu, không mở cửa mộ theo hủ tục vác mía lau, kéo gà, làm than 7 nấc, 9 nấc, cúng tam sên…. Những tôn giáo khác và các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Phật giáo Tứ Ân cũng làm tròn đạo hiếu, nhưng tổ chức lễ tang rất đơn giản.
  • Từ thập niên 60 đến nay, các Giáo hội Phật giáo tại Việt Nam, tông cũng như giáo từng kêu gọi thống nhất các nghi lễ trong cả nước, tiến đến giản dị hóa những tập tục lễ tang, những nghi không có trong Đạo Phật. Tổ chức lễ tang theo nghi lễ Nhà Phật gọn, giản đơn gọi là “tam nhựt bất cấm” hay “tử là táng” trong hai ngày nầy là nhanh gọn, không phải xem lịch số ngày giờ tốt xấu.
  • Từ lễ tang đến các việc cúng hậu sự theo xưa bày nay vẽ thì quá rườm rà, Sư có lời khuyên gia đình Phật tử chúng ta nên gởi vong linh vào chùa nghe kinh được siêu thoát. Thỉnh thoảng quý vị đến thăm ông bà vào các ngày lễ cúng tuần đầu, tuần tam thất, tuần chung thất, 100 ngày, giáp năm, mãn khó mà thôi chứ không đi cúng kiếng hằng ngày, hay hằng tuần trở ngại nhiều việc
  • Việc sanh là đến, đến đây từ mình, mang gánh nặng tham sân si, những gì hiện nay ta có, như: hạnh phúc khổ đau, nhiễm ô, bệnh hoạn, có đủ tiền tài danh vong, quyền thế, chức vị, vợ chồng con cái, gia cang sự nghiệp một gánh tình tang nặng nề vô cùng như núi tu di. Tử là đi, đi về với vĩnh cửu vô biên, đi về với không ta, bỏ tham sân si, không còn hình bóng của ta, không còn thân tứ đại giả danh của ta, đi về với hư vô, không cần phải xây lâu đài dưới âm phủ như các vua chúa, quan tham sợ mất của…Cuối đời phải để cho nhẹ nhàng mà quẳng gánh ra đi về cố quán, về với chính mình, về với Cực lạc Tây phương.

Hủ tục lễ cũ xưa bày

Nay xin đừng vẽ lại ngày tháng qua.

Chúng sanh: sanh, tử, bệnh, già,

Theo chi lệ cũ rườm rà tốn hao.

HT Thích Giác Quang

【#10】Suy Niệm Tin Mừng Mồng 2 Tết Bài 1

Suy Niệm Tin Mừng Mồng 2 Tết Bài 1-50 Kính nhớ tổ tiên ông bà

ĐÃ ĐƯA BẠN QUA SÔNG

Kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ:

Đừng ruồng bỏ chà đạp con xuồng đã đưa bạn qua sông.

Đừng đánh đập vú nuôi. Đừng lăng mạ thầy cô. Đừng khinh chê những nguyên tắc của cha mẹ. Nên lắng nghe câu chuyện của những người đã từng chiến đấu. Tất cả những người đi trước tôi và cưu mang tôi, đều là những chiếc xuồng: cần biết ơn và kính trọng. Nhưng cũng đừng đi ngược dòng thời gian. Con xuồng quá khứ chỉ dùng có một lần. Đến phiên tôi, tôi lại phải đóng một chiếc khác để đi xa hơn. Tôi sẽ đóng theo kiểu mẫu nào đây?

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Ca nhập lễ hôm nay trích lời sách Châm ngôn : ” Con ơi giữ lấy lời cha, chớ quên lời mẹ, nhớ mà ghi tâm. Đèn soi trong chốn tối tăm, ấy là chính những lời răn, lệnh truyền. Nhớ cầu cho bậc tổ tiên, khắc ghi công đức một niềm tri ân”( Cn 6, 20.23abc ). Dân tộc Việt Nam ta có truyền thống đạo đức rất đáng trân trọng: chữ hiếu lúc nào cũng được đặt nặng. Vì thế, việc đền ơn báo hiếu tổ tiên, ông bà, cha mẹ mang một tầm vóc rất quan trọng trong gia đình, cá nhân và từng gia tộc. Người có đạo và người không có đạo vẫn tương đồng về chữ hiếu. Đạo hiếu được người Việt Nam rất tôn trọng, nó không đi ngược lại với niềm tin Kitô giáo.

ĐẠO HIẾU TRONG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

Người Việt Nam vốn có truyền thống đạo đức rất đáng trân trọng. Chữ hiếu lúc nào cũng được người Việt đặt ở hàng đầu. Người con hiếu thảo là người con biết nhớ đến cội nguồn của mình. Tổ tiên, ông bà, cha mẹ là những bậc sinh thành và là nguồn gốc của sự giầu sang, phú quí. Tổ tiên, ông bà, cha mẹ trải qua dòng đời có một mối giây kết hợp mật thiết và linh thiêng, huyền nhiệm.

Dân tộc Việt Nam có lòng đạo sâu xa, vì thế họ diễn tả chữ hiếu bằng nhiều cách: khi ông bà, cha mẹ còn sống, họ vâng phục, phụng dưỡng, biết ơn. Khi các Ngài khuất bóng, người Việt nhớ tới các bậc sinh thành trong những ngày giỗ, ngày kỵ, ngày tết, ngày lễ lớn, những biến cố của gia đình. Theo tập tục, truyền thống, bàn thờ tổ tiên, cha mẹ luôn có đèn nhang, hoa quả đầy ắp. Con cái, cháu, chắt luôn hướng về cội nguồn và tỏ lòng biết ơn các bậc sinh thành, dưỡng dục.

Người Việt Nam ta không những chỉ có gia đình, gia tộc. Lòng biết ơn đối với tiền nhân, đối với các bậc đi trước trong làng, trong xã, trong xóm luôn được thể hiện bằng sự tưởng nhớ, ghi công trên bia, trên mộ, cả những anh hùng vô danh cũng luôn được người Việt trân trọng ghi nhớ, biết ơn. Đây là nét đặc biệt trong nền văn hóa nước ta.

ĐIỀU RĂN THỨ BỐN TRONG MƯỜI THẬP GIỚI CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO

Điều răn thứ bốn trong mười điều răn dạy : ” Hãy thảo kính cha mẹ”. Lòng tôn kính, hiếu thảo đối với cha mẹ phát xuất từ sự biết ơn đối với các bậc sinh thành, đã nuôi dưỡng, giáo dục con cái, giúp con cái lớn lên về tầm vóc, khôn ngoan và ân sủng “Hãy hết lòng tôn kính cha con, và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau. Hãy luôn nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, công ơn ấy con lấy chi đáp đền cho cân xứng?” (Hc 7, 27-28 ). Lòng hiếu thảo được bày tỏ qua sự khôn ngoan và vâng phục chân thành ” Con khôn giữ lời cha nghiêm huấn, kẻ nhạo báng chẳng nghe lời sửa dạy” ( Cn 13, 1 ). Điều răn thứ tư còn cho những người con đã trưởng thành biết trách nhiệm của họ đối với cha mẹ, về vật chất cũng như tinh thần, khi các Ngài già yếu, bệnh tật, cô đơn hay hoạn nạn. Lòng hiếu thảo sưởi ấm bầu khí gia đình ” con cái là vinh quang của tuổi già” ( Cn 17, 6 )( Sách giáo lý công giáo số 2215-2219 ). Người công giáo vừa sống chữ hiếu theo truyền thống mà vẫn hài hòa trong việc giữ giới răn thứ tư của Đạo trong mười thập giới của Thiên Chúa.

ĐẠO HIẾU XƯA VÀ NAY

Hơn bao giờ hết chữ hiếu luôn đứng hàng đầu trong văn hóa dân tộc Việt Nam. Với các tư tưởng của Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử và Phật Giáo, chữ hiếu luôn được trân trọng, bảo tồn và phát huy. Người Kitô hữu không chỉ có bổn phận phải thảo hiếu với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Nhưng theo Chúa, người tín hữu còn biết ơn biết bao vị thánh đã ra đi trước, đã làm đẹp lòng Chúa và đã được tôn vinh trên bàn thờ, trên trời. Họ là những người đã xây dựng Giáo Hội. Theo Chúa người Kitô hữu không chỉ dừng lại ở đạo hiếu đối với tổ tiên, cha mẹ, thân bằng, quyến tộc mà Đạo của Chúa trải rộng vô biên, bao la. Chúa dạy: ” Hãy thương yêu nhau”. Đức ái của Kitô giáo bao la, vô biên và vô giới hạn. Yêu thương, yêu người không có nghĩa dừng lại trên những người thận, trên những người yêu mình, mà yêu người vì mọi người đều mang hình ảnh Thiên Chúa, họ là anh em với ta trong tư cách họ được Chúa dựng nên. Yêu người không chỉ yêu người yêu ta mà yêu ngay chính cả kẻ thù nữa. Đó là tình yêu đích thực của Kitô giáo. Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu hy sinh, từ bỏ để làm cho người khác được hạnh phúc: ” Không có tình yêunào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng vì người mình yêu” ( Ga 15, 13 ). Đức thánh cha Gioan Phaolô II đã làm một cử chỉ nêu gương sự hiếu thảo khi về thăm quê hương Ba Lan vào tháng 5 năm 1987: Ngài thăm mộ song thân và cầu nguyện cho cha mẹ của Ngài nơi chính phần mộ ngoài nghĩa địa.

Ngày mồng hai tết Giáo Hội dành riêng để kính nhớ Tổ Tiên- Ông Bà Cha Mẹ, xin Chúa ban cho mọi Kitô hữu biết sống hiếu thảo, xứng đáng là những người con của Đạo Tình Thương và là những người theo Chúa.

“Lạy Chúa là cha rất nhân từ, Chúa dạy chúng con phải giữ lòng hiếu thảo. Hôm nay nhân dịp đầu năm mới, chúng con họp nhau để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ. Xin Chúa trả công bội hậu cho những bậc đã sinh thành dưỡng dục chúng con, và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với các Ngài ” ( Lời nguyện nhập lễ, lễ kính nhớ tổ tiên-ông bà cha mẹ, Mồng Hai Tết).

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Sách khải huyền có viết:”

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Phúc thay kẻ nhắm mắt lìa đời, đã lìa đời trong ơn nghĩa Chúa. Trải qua bao nhọc nhằn vất vả, giờ đây họ xứng đáng nghỉ ngơi. Vì công đức xưa kia vẫn còn theo họ mãi“(Kh 14, 13 ). Lời Kinh thánh giúp ta hiểu rõ của những người đi trước đã nhắm mắt lìa đời trong ân nghĩa Chúa. Niềm tin Kitô giáo dậy nhân loại, dậy mỗi người Kitô hữu rằng bổn phận của người còn sống có bổn phận và nghĩa vụ đối với những người đã khuất, đặc biệt đối với các bậc tiền nhân, tiên tổ, ông bà, cha mẹ. Đây cũng là điều răn thứ bốn trong mười thập giới của Đạo công giáo. Riêng đối với người Việt Nam vấn đề đạo hiếu có một tầm quan trọng đối với cá nhân, gia đình và họ hàng thân tộc.

NGƯỜI VIỆT NAM MANG NẶNG CHỮ HIẾU:

Đối với người Việt Nam chữ hiếu luôn đứng đầu trong mọi đức tính sẵn có của con người. Người Việt Nam vốn lấy đạo đức làm căn ban cho cuộc sống, cho bản thân, cho gia đình và cho dòng tộc của mình. Con cái thảo hiếu với cha mẹ lúc còn sống, khi cha mẹ đã khuất, người con hiếu thảo là người con luôn tưởng nhớ tới cha mẹ bằng việc cầu nguyện, xin lễ cho những người thân đã mất. Người Việt thường có bàn thờ gia tiên để tôn kính tổ tiên, ông bà cha mẹ đã qua đời. Sự hiếu thảo của con cái được thể hiện bằng nhiều cách như khi cha mẹ còn sống, con cái kính trọng, nuôi dưỡng, vâng phục cha mẹ và khi các vị đã mất, con cái cháu chắt lại tưởng nhớ tới các bậc tiền nhân trong những ngày giỗ, ngày kỵ, này tết nơi gia đình, nơi dòng tộc của mình. Người Việt Nam cũng không chỉ đóng khung trong gia tộc, gia đình mà họ còn đi xa hơn biết ơn cả đối với những người đã hy sinh để xây dựng quê hương, bảo vệ đất nước.

Tấm lòng tốt, sự biết ơn là một nét độc đáo trong nền văn hóa và đạo đức của người Việt Nam. Chính vì thế, người Kitô hữu Việt Nam đã cảm nghiệm sâu xa giới luật thứ bốn của đạo công giáo và hài hòa với truyền thống tôn kính, tưởng nhớ, ghi ơn những người đã có công với đất nước, quê hương, dân tộc.

NIỀM TIN KITÔ GIÁO :

Người Kitô hữu thể hiện chữ hiếu Kitô giáo bằng nhiều cách:khi cha mẹ còn sống, con cái chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ, khi cha mẹ đã khuất lòng hiếu thảo được thể hiện bằng việc cầu nguyện, dâng lễ, làm việc lành dành riêng cho cha mẹ đã qua đời. Việc chăm sóc mồ mả, nhớ ngày giỗ, ngày kỵ, hương nhang, nến đèn cho người chết cũng là một cách biểu tỏ lòng biết ơn đối với những kẻ đã khuất, đã chết. Xưa có quan niệm theo Chúa, theo đạo công giáo là bỏ tổ tiên, bỏ ông bà cha mẹ, quan niệm ấy đã lỗi thời vì xưa kia đã có ngộ nhận như thế. Nay, người công giáo là người nhận mọi người là anh em. Theo Chúa, theo đạo, người Kitô hữu như được dọn trước để mở rộng vòng tay đón nhận mọi người. Người Kitô hữu không chỉ đóng khung trong gia đình, gia tộc, họ hàng của mình mà họ còn có nhiều tổ tiên, ông bà, cha mẹ vì đạo Chúa bao gồm tất cả mọi người không loại trừ bất cứ ai. Trong tình yêu của Chúa mọi người đều là anh em với nhau. Đức ái Kitô giáo không phân biệt, không loại trừ bất cứ người nào.

Ngày mồng hai tết, Giáo Hội Việt Nam dành ngày này để kính nhớ tổ tiên, ông bà cha mẹ, đây là một việc làm thật đáng trân trọng và hữu ích vì trong những ngày tết, mọi người đều vui vẻ, hạnh phúc sum vầy, êm ấm để ăn tết, tưởng nhớ, dâng lễ và cầu nguyện cho những bậc tiền nhân là một nghĩa cử cao đẹp và là một nhắc nhớ cho mọi người hãy sống hiếu thảo, hãy thực hành giới luật thứ bốn của thập giới Kitô giáo. Sống đạo hiếu là nét son văn hóa và nét nổi bật đức tin của người Kitô hữu Việt Nam.

Lạy Chúa là Cha rất nhân từ, Chúa dậy chúng con phải giữ lòng hiếu thảo. Hôm nay, nhân dịp đầu năm mới, chúng con họp nhau để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ.Xin Chúa trả công bội hậu cho những bậc đã sinh thành dưỡng dục chúng con, và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với các Ngài ( Lời nguyện nhập lễ, lễ Kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ ).

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Đạo hiếu dưới cái nhìn Kitô giáo

Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Thế đó thật nhẹ nhàng, nhưng từng lời ru của người mẹ Việt Nam đung đưa bên chiếc nôi của đứa con nhỏ, ngày qua ngày đã dần đi sâu vào trái tim, làm nên dòng máu thắm đỏ của những người con, tạo nên trong tâm thức của từng người dân đất Việt một tâm tình thảo hiếu, biết ơn sâu sắc đối với các bậc sinh thành. Các cụ ngày xưa cho là hiếu đứng đầu trăm nết: “Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết, thời suy ra trăm nết đều nên”. Do đó, đối với cái nhìn tự nhiên của mọi người, bất hiếu là một trong những tội lớn nhất và cũng bị mọi người kết án nhiều nhất. Bộ luật Hồng Đức ban hành thời Lê Thánh Tông cũng ghép tội bất hiếu vào trọng tội. Không chỉ con trai, con dâu không thờ cha mẹ chồng cũng bị coi là phạm tội “thất xuất” (Nhất Thanh, Đất lề quê thói, trang 326).

Chính vì thế, vào những ngày Tết, giỗ chạp… trong các gia đình Việt Nam chúng ta, con cái dù có đi làm ăn đâu xa, thì ba ngày Tết cũng cố gắng về nhà để tết cha, tết mẹ. Nếu cha mẹ không còn, thì cũng về để thắp nén hương cầu nguyện cho ông bà cha mẹ. Cùng chung cảm thức đó của dân tộc, Giáo Hội Việt Nam đã dành ngày Mồng Hai Tết này để kính nhớ tổ tiên ông bà cha mẹ. Rồi từ đạo hiếu với cha mẹ, Giáo Hội muốn từng người chúng ta tỏ lòng hiếu kính với người Cha cao cả và tuyệt đối hơn, đó là Thiên Chúa.

Truyền thống cha ông chúng ta rất coi trọng chữ hiếu. Để đánh giá tư cách của một người nào, các cụ ngày xưa thường dựa vào cách người đó đối xử với cha mẹ, anh chị em. Thậm chí, các cụ coi việc báo hiếu còn quan trọng hơn cả việc đi tu: Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ, ấy là chân tu”. Hơn nữa, việc thảo kính cha mẹ, xét về mặt tự nhiên, cũng là hợp với lẽ công bằng, bởi vì cha mẹ là người đã có công sinh thành, dưỡng dục giúp ta khôn lớn thành người.

Mặt khác, đối với người kitô hữu, việc thảo kính cha mẹ không chỉ là một bổn phận tự nhiên, nhưng còn là một đòi hỏi của Thiên Chúa. Nhìn lại bản thập giới, chúng ta thấy ngay sau ba giới răn nói về bổn phận của con người đối với Thiên Chúa, thì giới răn “thảo kính cha mẹ” được đặt đầu tiên trong các giới răn nói về mối tương quan của con người với nhau. Điều đó, cho thấy, việc hiếu thảo với cha mẹ là bổn phận hàng đầu của mỗi người kitô hữu. Trong bài Tin mừng, Đức Giêsu cũng đã lập lại giới răn này và khẳng định đó chính là ý muốn từ ban đầu của Thiên Chúa và con người không có quyền thay đổi, Ngài nói: “Thiên Chúa dạy: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử”. Còn thánh Phaolô thì nói: “Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và trường thọ trên mặt đất này”.

Như thế, việc chúng ta thảo kính cha mẹ không còn tùy thuộc vào ý thích cá nhân của chúng ta, nhưng là thánh ý của Thiên Chúa. Được Thánh Thần soi sáng, tác giả sách Huấn ca nhắc nhở chúng ta: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và trường thọ trên mặt đất này”. Và vì là ý muốn của Thiên Chúa, nên những ai trung thành tuân giữ việc thảo kính cha mẹ không những là chu toàn bổn phận làm con, nhưng còn được Thiên Chúa chúc phúc. Tác giả Thánh vịnh đã cất lời ca ngợi những ai luôn sống theo đường lối của Thiên Chúa: “Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người. Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may”.

Tóm lại, về mặt tự nhiên, việc hiếu thảo là bổn phận tự nhiên và là dấu chỉ của một con người trưởng thành. Đồng thời, khi sống hiếu thảo cũng là lúc chúng ta chu toàn giới luật của Thiên Chúa và nhờ đó được Ngài chúc lành. Tuy nhiên, trong niềm tin, chúng ta biết rằng tất cả chúng ta: cha mẹ và con cái, đều nhận được sự sống từ nơi Thiên Chúa. Do đó, trong ngày đầu năm kính nhớ tổ tiên, chúng ta cũng cần lưu ý đến bổn phận của chúng ta đối với Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng ta sự sống và hết lòng yêu thương chúng ta, như lời Ngài phán qua miệng ngôn sứ Isaia: “Mẹ nào lại quên con đẻ của mình, cạn lòng thương đối với con dạ nó đã mang? Cho dù chúng quên được nữa, thì phần Ta, Ta sẽ không hề quên ngươi! Này: Ta đã khắc ghi ngươi trên bàn tay Ta” (Is 49, 15-16a).

Dưới cái nhìn của đức tin, cha mẹ là những người được Thiên Chúa cho cộng tác vào chương trình sáng tạo của Người. Cha mẹ là những người thay mặt Thiên Chúa để hướng dẫn con cái. Do đó, việc đầu tiên mà các bậc cha mẹ cần làm là giáo dục con cái trung thành với Thiên Chúa theo lời nhắn bảo của thánh Phaolô: “Những người làm cha mẹ,… hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy”.

2. Sống trung thành với Thiên Chúa, dấu chỉ của đạo hiếu: Giáo dục con cái thánh thiện, trung thành với Thiên Chúa, các bậc cha mẹ sẽ có được một kho tàng quý giá không bao giờ hư mất: “Các ngài sống mãi trong dòng dõi các ngài; gia tài quí báu của các ngài để lại là lũ cháu đàn con”. Đây là điều quan trọng mà chng ta vẫn thường hay quên. Chúng ta thường la rầy con cháu, nhắc nhở chúng hiếu thảo, vâng lời chúng ta, nhưng lại chẳng bao giờ nhắc chúng về bổn phận với Thiên Chúa. Chắc hẳn với kinh nghiệm sống của mình, quý vị cũng nhận ra rằng: những người nào thật sự trung thành với Thiên Chúa, chắc chắn sẽ hết lòng hiếu thảo với cha mẹ, vì khi họ đến với Thiên Chúa, thì họ sẽ được Thiên Chúa nhắc bảo bổn phận của họ đối với cha mẹ. Còn những người nào quay lưng lại với Thiên Chúa, Đấng ban sự sống cho mình, thì khó mà có lòng hiếu thảo thật với cha mẹ. Cảm nghiệm điều đó, tác giả sách Huấn ca khen ngợi dòng dõi những người trung thành với Thiên Chúa: “Dòng dõi các ngài giữ vững các điều giao ước, nhờ các ngài, con cháu cũng một mực trung thành. Dòng dõi các người sẽ muôn đời tồn tại, vinh quang các ngài sẽ chẳng phai mờ. Các ngài sẽ được mồ yên mả đẹp, và danh thơm mãi lưu truyền hậu thế”. Còn tác giả Thánh vịnh thì mô tả: “Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ô liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn”, thật là một khung cảnh ấm êm, hạnh phúc.

Lắng nghe lời Chúa trong những ngày đầu năm này, chớ gì từng người chúng ta một lần nữa ý thức hơn về những hồng ân Thiên Chúa ban cho mình trong một năm qua, để hết lòng tri ân và cảm tạ Ngài. Đồng thời, đây cũng là cơ hội thuận tiện nhắc nhở chúng ta về bổn phận đối với ông bà cha mẹ, những bậc sinh thành ra chúng ta. Việc thảo kính này, không chỉ là một ít lễ vật, một lời cầu chúc trong ngày đầu năm, nhưng cần được kéo dài trong suốt cuộc sống mỗi ngày của chúng ta. Lòng thảo hiếu đó được thể hiện qua cách chúng ta nói năng, xưng hô với cha mẹ. Nó còn được thể hiện qua việc chúng ta vâng lời, chăm nom, săn sóc cho cha mẹ khi còn sống, nhất là khi các ngài già yếu, bệnh tật; và cầu nguyện cho các ngài khi đã qua đời, theo đúng truyền thống của cha ông chúng ta: “Sống tết, chết giỗ”. Amen.

Hc 44,1.10-15 Ep 6,1-4 Lc 1,67-75

1. Bài đọc I trích sách Huấn ca, nội dung là ca ngợi công đức của tổ tiên : các ngài là những người nhân đức, đã tạo dựng cơ nghiệp và truyền lại cho con cháu ; các thế hệ con cháu sẽ ghi nhớ ký ức về các ngài, giữ gìn thanh danh các ngài và truyền tụng sự khôn ngoan của các ngài.

2. Bài đọc II trích thư Êphêxô ghi những lời khuyên cụ thể cho những kẻ làm con cháu :

– Phải vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa.

– Hãy tôn kính cha mẹ.

3. Bài Tin Mừng trích bài ca Benedictus của ông Dacaria nói về di sản của tổ tiên là thừa hưởng Lời Thiên Chúa hứa sẽ “giải phóng ta khỏi địch thù”. Lời hứa này nhằm mục đích “cho ta chẳng còn sợ hãi”, “để ta sống thánh thiện công chính trên nhan Ngài và phụng thờ Ngài suốt cả đời ta”.

1. Việc tôn kính ông bà tổ tiên nhắc chúng ta :

– nhớ đến công ơn của các ngài – ta phải cố gắng sống xứng đáng để đền đáp những công ơn ấy.

– nhớ đến tâm nguyện của các ngài muốn chúng ta là những con người tốt, những kitô hữu tốt, những tu sĩ Linh mục tốt – ta phải cố gắng hoàn thành những tâm nguyện ấy.

– nhớ rằng cuộc đời cũng như một sân khấu, người này bước lên diễn xong vai tuồng của mình thì bước xuống cho người sau bước lên. – Ta phải diễn thật đạt vai tuồng của mình, để khỏi phụ lòng những người đi trước và khỏi xấu hổ cho người đi sau.

2. Một góa phụ vất vả làm lụng trong nhà máy để nuôi bốn đứa con, giờ nằm hấp hối trên giường.

Đứng xung quanh bà bây giờ là con cái lớn khôn. Anh trai cả khóc và nói với bà : “Mẹ ạ, mẹ thật tốt và hết lòng yêu thương chúng con. Chúng con muốn cám ơn mẹ. Chúng con thật hãnh diện về mẹ”.

Bà nhướng đôi mắt và hỏi : “Tại sao các con đợi cho đến bây giờ mới nói điều đó ? Trước đây các con chẳng bao giờ nói như vậy”.

Rồi bà nhắm mắt từ biệt. (Góp nhặt)

.Ý nghĩa cử hành Phụng vụ: Kính nhớ Tổ Tiên và Ong Bà Cha Mẹ.

Thật là một chọn lựa có ý nghĩa khi Giáo hội Việt Nam cho chúng ta đọc đoạn Tin Mừng về cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu và mấy kinh sư về việc tuân giữ và vi phạm truyền thống, trong ngày Mồng Hai Tết cổ truyền dân tộc. Ngày Mồng Hai Tết là ngày dành cho việc kính nhớ tổ tiên, ông bà và cha mẹ. Chúng ta có thể hiểu rộng ra là kính nhớ tất cả những vị tiền bối của chúng ta, những người đã có công tạo dựng nên đất nước quê hương cũng như Giáo hội Việt Nam này. Ngày hôm nay là ngày thể hiện lòng hiếu thảo, biết ơn, “uống nước nhớ nguồn” của người Công giáo, của người Việt Nam.

Kính nhớ tổ tiên ông bà và cha mẹ bao hàm nhiều việc: kính trọng, yêu mến, biết ơn, phụng dưỡng, giúp đỡ. Cũng có nghĩa là bảo tồn di sản văn hóa và tâm linh của các thế hệ có trước. Còn có nghĩa là phát huy những giá trị văn hóa và đạo đức của tổ tiên, của dân tộc. Người Việt Nam bao dung và chấp nhận những khác biệt. Dân tộc Việt Nam gồm 54 sắc dân sống hài hòa với nhau trên mọi miền đất nước. Vì thế tinh thần cục bộ, phe phái, kỳ thị, phân biệt đối xử, độc quyền (dù là độc quyền yêu nước, yêu Giáo hội hay yêu con người) là không phù hợp với truyền thống bao dung của cha ông ta. Vì thế não trạng và cơ chế xin-cho còn ngự trị trong guồng máy chính quyền hiện nay là những cách làm mang tính bất hiếu với cha ông, nghịch với hương hồn các Anh hùng Liệt sĩ, các Vị Tử vì Đạo là những người đã hy sinh mạng sống mà không chút tính toán so đo. Kính nhớ tổ tiên, ông bà cha mẹ là mọi người Việt Nam phải biết chấp nhận tôn trọng nhau, tạo điều kiện cho nhau sống và đóng góp vào việc xây dựng Tổ quốc chung, chứ không phải là loại trừ nhau, gạt nhau ra ngoài lề lịch sử dân tộc. Đoàn kết thì sống chia rẽ thì chết, đó là bài học xương máu của loài người, của mọi cộng đồng, mọi dân tộc.

Ca nhập lễ hôm nay có viết: “Con ơi giữ lấy lời cha, chớ quên lời mẹ, nhớ mà ghi tâm. Đèn soi trong chốn tối tăm, ấy là chính những lời răn, lệnh truyền. Nhớ cầu cho bậc tổ tiên, khắc ghi công đức một niềm tri ân” (Cn 6, 20.23abc). Dân tộc Việt Nam ta có truyền thống đạo đức rất đáng trân trọng: chữ hiếu lúc nào cũng được đặt nặng. Vì thế, việc đền ơn báo hiếu tổ tiên, ông bà, cha mẹ mang một tầm vóc rất quan trọng trong gia đình, cá nhân và từng gia tộc. Người có đạo và người không có đạo vẫn tương đồng về chữ hiếu. Đạo hiếu được người Việt Nam rất tôn trọng, nó không đi ngược lại với niềm tin Kitô giáo.

Người Việt Nam vốn có truyền thống đạo đức rất đáng trân trọng. Chữ hiếu lúc nào cũng được người Việt đặt ở hàng đầu. Người con hiếu thảo là người con biết nhớ đến cội nguồn của mình. Tổ tiên, ông bà, cha mẹ là những bậc sinh thành và là nguồn gốc của sự giầu sang, phú quí. Tổ tiên, ông bà, cha mẹ trải qua dòng đời có một mối giây kết hợp mật thiết và linh thiêng, huyền nhiệm. Dân tộc Việt Nam có lòng đạo sâu xa, vì thế họ diễn tả chữ hiếu bằng nhiều cách: khi ông bà, cha mẹ còn sống, họ vâng phục, phụng dưỡng, biết ơn. Khi các Ngài khuất bóng, người Việt nhớ tới các bậc sinh thành trong những ngày giỗ, ngày kỵ, ngày tết, ngày lễ lớn, những biến cố của gia đình. Theo tập tục, truyền thống, bàn thờ tổ tiên, cha mẹ luôn có đèn nhang, hoa quả đầy ắp. Con cái, cháu, chắt luôn hướng về cội nguồn và tỏ lòng biết ơn các bậc sinh thành, dưỡng dục. Người Việt Nam ta không những chỉ có gia đình, gia tộc. Lòng biết ơn đối với tiền nhân, đối với các bậc đi trước trong làng, trong xã, trong xóm luôn được thể hiện bằng sự tưởng nhớ, ghi công trên bia, trên mộ, cả những anh hùng vô danh cũng luôn được người Việt trân trọng ghi nhớ, biết ơn. Đây là nét đặc biệt trong nền văn hóa nước ta.

Điều răn thứ bốn trong mười điều răn đã viết: “Hãy thảo kính cha mẹ”. Lòng tôn kính, hiếu thảo đối với cha mẹ phát xuất từ sự biết ơn đối với các bậc sinh thành, đã nuôi dưỡng, giáo dục con cái, giúp con cái lớn lên về tầm vóc, khôn ngoan và ân sủng: “Hãy hết lòng tôn kính cha con, và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau. Hãy luôn nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, công ơn ấy con lấy chi đáp đền cho cân xứng?” (Hc 7, 27-28). Lòng hiếu thảo được bày tỏ qua sự khôn ngoan và vâng phục chân thành “Con khôn giữ lời cha nghiêm huấn, kẻ nhạo báng chẳng nghe lời sửa dạy” (Cn 13, 1). Điều răn thứ tư còn cho những người con đã trưởng thành biết trách nhiệm của họ đối với cha mẹ, về vật chất cũng như tinh thần, khi các Ngài già yếu, bệnh tật, cô đơn hay hoạn nạn. Lòng hiếu thảo sưởi ấm bầu khí gia đình “con cái là vinh quang của tuổi già” (Cn 17, 6) (Sách giáo lý công giáo số 2215-2219). Người công giáo vừa sống chữ hiếu theo truyền thống mà vẫn hài hòa trong việc giữ giới răn thứ bốn

Hơn bao giờ hết chữ hiếu luôn đứng hàng đầu trong văn hóa dân tộc Việt Nam. Với các tư tưởng của Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử và Phật Giáo, chữ hiếu luôn được trân trọng, bảo tồn và phát huy. Người Kitô hữu không chỉ có bổn phận phải thảo hiếu với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Nhưng theo Chúa, người tín hữu còn biết ơn biết bao vị thánh đã ra đi trước, đã làm đẹp lòng Chúa và đã được tôn vinh trên bàn thờ, trên trời. Họ là những người đã xây dựng Giáo Hội. Theo Chúa người Kitô hữu không chỉ dừng lại ở đạo hiếu đối với tổ tiên, cha mẹ, thân bằng, quyến tộc mà Đạo của Chúa trải rộng vô biên, bao la. Chúa dạy: “Hãy thương yêu nhau”. Đức ái của Kitô giáo bao la, vô biên và vô giới hạn. Yêu thương, yêu người không có nghĩa dừng lại trên những người thận, trên những người yêu mình, mà yêu người vì mọi người đều mang hình ảnh Thiên Chúa, họ là anh em với ta trong tư cách họ được Chúa dựng nên. Yêu người không chỉ yêu người yêu ta mà yêu ngay chính cả kẻ thù nữa. Đó là tình yêu đích thực của Kitô giáo. Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu hy sinh, từ bỏ để làm cho người khác được hạnh phúc: “Không có tình yêunào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng vì người mình yêu” (Ga 15, 13). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã làm một cử chỉ nêu gương sự hiếu thảo khi về thăm quê hương Ba Lan vào tháng 5 năm 1987: Ngài thăm mộ song thân và cầu nguyện cho cha mẹ của Ngài nơi chính phần mộ ngoài nghĩa địa.

Ngày mồng hai tết Giáo Hội dành riêng để kính nhớ Tổ Tiên-Ông Bà Cha Mẹ, xin Chúa ban cho mọi Kitô hữu biết sống hiếu thảo, xứng đáng là những người con của Đạo Tình Thương và là những người theo Chúa.

“Lạy Chúa là cha rất nhân từ, Chúa dạy chúng con phải giữ lòng hiếu thảo. Hôm nay nhân dịp đầu năm mới, chúng con họp nhau để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ. Xin Chúa trả công bội hậu cho những bậc đã sinh thành dưỡng dục chúng con, và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với các Ngài ” (Lời nguyện nhập lễ, lễ kính nhớ tổ tiên-ông bà cha mẹ, mồng hai tết).

Ngày Mồng Hai Tết là ngày dành cho việc kính nhớ tổ tiên, ông bà và cha mẹ. Chúng ta có thể hiểu rộng ra là kính nhớ tất cả những vị tiền bối của chúng ta, những người đã có công tạo dựng nên đất nước quê hương cũng như Giáo hội Việt Nam này. Nên ngày Mồng Hai Tết là ngày thể hiện lòng hiếu thảo, biết ơn, của người Việt Nam nói chung và của người Công giáo Việt Nam nói riêng.

Kính nhớ tổ tiên ông bà cha mẹ bao hàm việc kính trọng, yêu mến, biết ơn, phụng dưỡng, giúp đỡ. Cũng có nghĩa là bảo tồn di sản văn hóa và tâm linh của các thế hệ trước và phát huy những giá trị văn hóa và đạo đức của tổ tiên, của dân tộc. Người Việt Nam bao dung và chấp nhận những khác biệt. Dân tộc Việt Nam gồm 54 sắc dân sống hài hòa với nhau trên mọi miền đất nước. Vì thế tinh thần cục bộ, phe phái, kỳ thị, phân biệt đối xử, độc quyền (dù là độc quyền yêu nước, yêu Giáo hội hay yêu con người) là không phù hợp với truyền thống bao dung của cha ông ta. Não trạng và cơ chế “xin-cho” còn tồn tại trong guồng máy chính quyền hiện nay là những cách cư xử bất hiếu với cha ông, nghịch với hương hồn các Anh hùng Liệt sĩ, các Vị Tử vì Đạo là những người đã hy sinh mạng sống mà không chút tính toán so đo. Kính nhớ tổ tiên, ông bà cha mẹ là mọi người Việt Nam phải biết chấp nhận nhau, tôn trọng nhau, tạo điều kiện cho nhau sống và đóng góp vào việc xây dựng Tổ quốc chung, chứ không phải là loại trừ nhau, gạt nhau ra ngoài lề lịch sử dân tộc. “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, đó là bài học xương máu của loài người, của mọi cộng đồng, mọi dân tộc.

Chúa Giêsu nói: “Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thảo kính cha mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử.”

Đối với người Việt Nam, lòng thảo kính biết ơn tiền nhân, biết ơn các bậc tổ tiên ông bà đã là “đạo”. Đó là đạo hiếu. Hay người ta còn gọi là đạo ông bà. Người Việt Nam đã vậy. Người Công giáo Việt Nam càng phải sống đạo hiếu lớn hơn, bởi họ có Lời Chúa dạy bảo, có chính mẫu gương thảo hiếu của Chúa Giêsu làm đối chiếu, có lề luật làm thước đo: có giáo huấn của Hội Thánh luôn luôn nhắc nhở.

Thật đáng trách nặng lời, đáng lên án gắt gao, khi có nhiều người Công giáo coi thường cha mẹ. Nhiều người con tỏ ra xấu hổ về cha mẹ, phủ nhận cha mẹ chỉ vì cha mẹ nghèo hèn, dốt nát, không địa vị … Nhiều người con xua đuổi cha mẹ, coi cha mẹ già yếu, đau bệnh là nợ mà họ phải mang, phải gánh. Có kẻ nhẫn tâm đẩy cha mẹ vào trại dưỡng lão như trút một gánh nặng. Thậm chí nhiều người con mong cho cha mẹ chết sớm để chiếm đoạt tài sản, hoặc để rảnh nợ, để đỡ tốn tiền chữa chạy thuốc men…

Chúng ta tin rằng, những người con bất hiếu bên trên chỉ là thiểu số. Chúng ta càng tin mạnh hơn rằng, hầu như người tín hữu Công giáo Việt Nam nào cũng có lòng biết ơn và kính nhớ tổ tiên của mình. Nhất là trong bầu khí thiêng liêng như ngày đầu năm, càng làm cho các gia đình trở nên ấm cúng tình yêu giữa cha mẹ và con cái. Đó cũng là dịp đặc biệt gợi nhớ công lao của bao nhiêu bậc tổ tiên, bao nhiêu đấng sinh thành đã khuất mặt để mà tưởng nhớ, để mà cầu nguyện. Chính vì thế, trong ngày Tết, ngoài việc chuẩn bị mọi hình thức ăn Tết, người ta không quên chuẩn bị bàn thờ gia tiên cách chu đáo. Ngày đầu năm, bàn thờ gia tiên trong mọi nhà đều luôn có hoa hương nhang khói chân thành ấm cúng …

Tuy nhiên, ngoài ông bà cha mẹ dưới đất, chúng ta còn có Thiên Chúa là Cha trên trời. Người là Bậc Tổ Tiên trên mọi tổ tiên của ta. Trong ngày đầu năm, kính nhớ tổ tiên, chúng ta không quên ơn Thiên Chúa đã cho chúng ta làm người, đã ban sự sống của Người cho chúng ta. Người luôn là Người Cha tận tình yêu thương mọi con cái của mình. Vì thế, giờ đây, chúng ta biết ơn Chúa. Xin cho ngày lìa thế, chúng ta cùng tổ tiên sum họp trong nhà Cha chúng ta trên quê trời vĩnh phúc.

1Bàn thờ tổ tiên – 1 Trống đại – 1 chiêng 1 Giới thiệu viên ( Xướng ngôn viên) 1 Nghi lễ viên ( Lễ sinh) áo thụng khăn đóng 1 chủ sự ( Người đọc văn tế) áo thụng khăn đóng 2 giúp lễ ( Thiếu nhi) áo giúp lễ khăn đóng 8 dâng lễ vật ( Nữ: Ao dài,khăn đóng – Nam: Khăn đóng, áo thụng) Lễ nghi cử hành sau lời nguyện hiệp lễ

A. MỞ ĐẦU: ( Tất cả ổn định ở hàng ngũ ở cuối nhà thờ)

Mỗi năm vào ngày mồng hai tết, Giáo Hội luôn dành một ngày để con cái cháu chắt có dịp báo hiếu tưởng nhớ tới ông bà tổ tiên.Đây là hình thức rất có ý nghĩa, Giáo Hội giúp mỗi người còn được diễm phúc sống dưới trần gian này hiểu được thế nào là công lao của ông bà tổ tiên. Có tổ tiên, có ông bà mới có cha mẹ rồi mới có chúng ta: đây là một điều hiển nhiên ai cũng phải hiểu và cảm nghiệm một cách sâu sắc công ơn trời biển của tổ tiên ông bà, của cha mẹ vv…” Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra “, ca dao Việt Nam quả có lý khi đề cập tới nghĩa vụ của con cái đối với mẹ cha. Do đó, hôm nay, mọi người dâng thánh lễ này cầu nguyện cho các bậc sinh thành rất hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam chúng ta, đồng thời cũng rất thực tế với dạy của Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng của thánh Matthêu.

CUỘC TRANH LUẬN GIỮA CÁC NGƯỜI PHARISÊU, CÁC KINH SƯ VÀ CHÚA GIÊSU:

Trong đoạn Tin Mừng thánh Matthêu xoay quanh cuộc tranh luận của Đức Giêsu với các người Pharisêu, các Kinh sư về bổn phận của con cái đối với cha mẹ. Đối với các người Pharisêu, các kinh sư họ cho rằng theo lời của tiền nhân thì tất cả những gì họ làm cho cha mẹ đều là tế phẩm dâng lên Thiên Chúa, do đó, họ làm như thế là vừa đủ rồi, không cần phải thờ cha kính mẹ nữa. Người Pharisêu và Kinh sư giới hạn bổn phận con cái dựa trên hoàn toàn vật chất, một nghĩa vụ vật chất được họ gán cho nghĩa vụ đạo đức. Đối với Đức Giêsu, Ngài nhắc nhở cho các Pharisêu, các Kinh sư và mọi thế hệ, mọi người chúng ta rằng: ” Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, và kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử “.Ngay trong điều răn thứ bổn của thập giới cũng viết:” Thảo kính cha mẹ “. Như thế rõ ràng Thiên Chúa dạy con người phải thảo hiếu với mẹ cha không chỉ dừng ở của cải vật chất nhưng phải hiếu thảo bằng cả tấm lòng yêu thương, tôn kính, mến yêu đến nỗi ai nguyền rủa cha mẹ tức là đụng đến nhân phẩm, đụng đến quyền làm người của cha mẹ, thì phải bị xử tử. Chính vì thế, lập trường của Chúa Giêsu hoàn toàn khác với người Pharisêu và các Kinh sư. Chúa Giêsu mở ra một giá trị mới, một đạo hoàn toàn dựa trên tình thương.

VẤN ĐỀ HIẾU THẢO BỊ LUNG LAY:

Nếu lược qua các nơi, các nước chúng ta như nhận ra được cái yếu của nhiều gia đình. Bởi vì đời sống của nhiều gia đình hiện nay đang vấp phải khủng hoảng về đức tin, về đạo lý, Nhiều con cái chỉ dừng trên nghĩa vụ, bổn phận lo lắng cho cha mẹ của cải vật chất, mà quên đi cha mẹ còn phải được kính trọng và yêu mến. Vật chất chỉ là giá trị bề ngoài nhưng chính giá trị tinh thần, giá trị đạo đức mới quan trọng cho đời sống cha mẹ. Ngày nay có nhiều gia đình con cái đối với cha mẹ không ra làm sao cả. Nên, giá trị đạo đức bị đảo lộn, con cái coi vật chất là trên hết, có nhiều đứa con đặt tiền tài trên nghĩa vụ làm con.Ở nhiều nước văn minh có nhiều gia đình con cái sẵn sàng gửi cha mẹ vào các nhà dưỡng lão đầy đủ tiện nghi nhưng lại thiếu thái độ”thờ cha kính mẹ ” theo ý của Thiên Chúa là ” Hãy thảo kính cha mẹ “.Các Giám mục Việt Nam trong năm 2007 và 2008 đã ra hai thư mục vụ nói về gia đình. Điều này nói lên sự quan trọng của nền tảng gia đình. Thư mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 2008 viết về gia đình Nagiarét: ” Các Ngài là những bậc cha mẹ gương mẫu, luôn biết đón nhận thánh ý Chúa và đem ra thực hành. Trong gia đình Nagiarét mọi thành viên đều tôn trọng nhau, mong muốn cho nhau điều tốt và cùng nhau thực hiện ý của Cha trên trời. Thánh Giuse và Đức Maria là những nhà giáo dục tài giỏi đã chu toàn sứ mạng được trao phó trong sự khôn ngoan và trung tín. Xin các Ngài chuyển cầu và luôn phù trợ cho các gia đình chúng ta”.Gia đình thánh gia là gia đình gương mẫu cho mọi gia đình bởi vì Chúa luôn hiếu thảo đối với thánh Giuse và mẹ Maria.

ÁP DỤNG VÀO ĐỜI SỐNG :

Cha mẹ là người sinh ra chúng ta, chúng ta phải hết lòng tôn kính, yêu thương cha mẹ. Ai cũng có cha có mẹ. Cha mẹ sinh ra chúng ta, cha mẹ nuôi dưỡng chúng ta, chúng ta phải hết lòng hiếu thảo với cha mẹ. Chúa nói: ” Hãy thảo kính cha mẹ “. Bổn phận của con cái là nuôi dưỡng, thăm hỏi khi cha mẹ còn sống, lúc qua đời phải xin lễ, cầu nguyện cho cha mẹ.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con hiểu được rằng Chúa cũng có một gia đình, có cha có mẹ, Chúa đã hiếu thảo với cha mẹ, xin cho chúng con luôn biết báo đáp mẹ cha. Amen.

Ngày Mồng Hai Tết: “Xin Đừng Quên Công Ơn Cha Mẹ”

Mồng Hai Tết – Mt 15,1-6

Ý nghĩa cử hành Phụng vụ: Kính nhớ Tổ Tiên và Ong Bà Cha Mẹ.

Thật là một chọn lựa có ý nghĩa khi Giáo hội Việt Nam cho chúng ta đọc đoạn Tin Mừng về cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu và mấy kinh sư về việc tuân giữ và vi phạm truyền thống, trong ngày Mồng Hai Tết cổ truyền dân tộc. Ngày Mồng Hai Tết là ngày dành cho việc kính nhớ tổ tiên, ông bà và cha mẹ. Chúng ta có thể hiểu rộng ra là kính nhớ tất cả những vị tiền bối của chúng ta, những người đã có công tạo dựng nên đất nước quê hương cũng như Giáo hội Việt Nam này. Ngày hôm nay là ngày thể hiện lòng hiếu thảo, biết ơn, “uống nước nhớ nguồn” của người Công giáo, của người Việt Nam.

Kính nhớ tổ tiên ông bà và cha mẹ bao hàm nhiều việc: kính trọng, yêu mến, biết ơn, phụng dưỡng, giúp đỡ. Cũng có nghĩa là bảo tồn di sản văn hóa và tâm linh của các thế hệ có trước. Còn có nghĩa là phát huy những giá trị văn hóa và đạo đức của tổ tiên, của dân tộc. Người Việt Nam bao dung và chấp nhận những khác biệt. Dân tộc Việt Nam gồm 54 sắc dân sống hài hòa với nhau trên mọi miền đất nước. Vì thế tinh thần cục bộ, phe phái, kỳ thị, phân biệt đối xử, độc quyền (dù là độc quyền yêu nước, yêu Giáo hội hay yêu con người) là không phù hợp với truyền thống bao dung của cha ông ta. Vì thế não trạng và cơ chế xin-cho còn ngự trị trong guồng máy chính quyền hiện nay là những cách làm mang tính bất hiếu với cha ông, nghịch với hương hồn các Anh hùng Liệt sĩ, các Vị Tử vì Đạo là những người đã hy sinh mạng sống mà không chút tính toán so đo. Kính nhớ tổ tiên, ông bà cha mẹ là mọi người Việt Nam phải biết chấp nhận tôn trọng nhau, tạo điều kiện cho nhau sống và đóng góp vào việc xây dựng Tổ quốc chung, chứ không phải là loại trừ nhau, gạt nhau ra ngoài lề lịch sử dân tộc. Đoàn kết thì sống chia rẽ thì chết, đó là bài học xương máu của loài người, của mọi cộng đồng, mọi dân tộc.

Hc 44,10-15; Ep 6,1-4.18-23; Mt 15,1-6

Tưởng nhớ công ơn Tổ Tiên Ông Bà Cha Mẹ là một nét đặc biệt của văn hóa dân tộc Việt Nam. Mặc dầu truyền thống Kinh Thánh nuôi dưỡng lòng kính nhớ Tổ Tiên Ông Bà và Phụng Vụ Giáo Hội cũng dành một Thánh lễ và nhiều nghi thức cầu nguyện, cầu lễ cho tiên nhân, nhưng mãi vào bán thế kỷ 20, người Công giáo mới lãnh nhận vào nếp sống đạo và lễ nghi tôn giáo những nét tôn kính bên ngoài của người Việt Nam.

Ngày mồng 2 Tết dâng kính Tổ Tiên, cũng là một cách thánh hóa tập tục mừng Tết cùng với Tổ Tiên trong các gia đình: phải uống nước nhớ nguồn, thảo kính cha mẹ, vừa nói lại cho chúng ta mặc khải tình thương muôn đời của Thiên Chúa: do từ Ngài mọi gia tộc được có tên (Ep 3,14), bởi vì Chúa Giêsu là con của Abraham, của Ađam, của Thiên Chúa (Lc 3,34-38). Gia đình chúng ta cuối cùng bắt nguồn từ Thiên Chúa. Nói “lá rụng về cội” là nói mọi người sẽ về Nhà Cha, nơi có nhiều chỗ ở cho mọi người (Ga 14,2) xum họp một nhà với Tổ Tiên Ông Bà.

Anh chị em thân mến,

Truyền thống Kitô giáo Việt Nam đã dành ngày mồng 2 Tết để kính nhớ Tổ Tiên Ông Bà như muốn tạo bầu khí xum họp thân thiết giữa những người chết, để tỏ lòng hiếu thảo, biết ơn và cố gắng sống xứng đáng với công ơn của Tổ Tiên, Ông Bà.

– Là con cháu trong gia tộc, Tổ Tiên chúng ta là các cha ông đã truyền lại huyết thống di sản của gia đình chúng ta.

– Là người Kitô hữu, Tổ Tiên chúng ta là những vị Thánh Tổ Phụ trong lịch sử cứu độ, đã trung thành tuân giữ Giao Ước của Thiên Chúa và truyền lại cho chúng ta ngày nay. Ai đã tin vào Đức Giêsu Kitô đều là con cháu của Abraham, là cha của những kẻ tin.

Đặc biệt, người Kitô hữu Việt Nam chúng ta còn có các Thánh Tử Đạo là những cha ông đã đổ máu ra để khai sinh Giáo Hội Việt Nam chúng ta hôm nay trong đức tin.

Tất cả những vị đó là những người chúng ta tưởng nhớ đến hôm nay, đó là những người chúng ta mang ơn về mọi mặt trong đời sống làm người và làm con Chúa.

“Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Công ơn các ngài như trời như biển, như thác như nguồn. Làm sao chúng ta có thể đền đáp được. Nhờ ơn các ngài, ghi công và phát huy truyền thống tốt đẹp của các ngài, đó là đền đáp công ơn và cũng chính là Đạo Hiếu.

Đối với người Kitô hữu, hiếu thảo đối với Tổ Tiên Ông Bà là một điều răn của Chúa truyền: “Con cái hãy vâng phục cha mẹ trong Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy thảo kính cha mẹ. Lệnh truyền ấy là lệnh truyền thứ nhất”. Đó là lời Thánh Phaolô nhắn nhủ chúng ta hôm nay (Ep 6,1-2).

Điều đó thật gần gũi với người Việt Nam chúng ta. Trong cuộc sống của người Kitô hữu Việt Nam, sau nghĩa vụ đối với Thiên Chúa, điều quan trọng nhất là đạo hiếu đối với Tổ Tiên Ông Bà, là điều răn đầu tiên của Đạo yêu người.

Thảo hiếu đối với Tổ Tiên Ông Bà, không phải chỉ những lúc các ngài còn sống, mà ngay cả khi các ngài đã qua đời. Bởi “người chết chỉ thực sự qua đi khi người sống không nhớ đến họ”. Hơn nữa, vì tình yêu và công ơn của ông bà cha mẹ có một cái gì trường cửu, cả khi các ngài khuất bóng. Tình yêu thương đó vẫn ở bên trong chúng ta: chính con người chúng ta là kết quả của lòng yêu thương của các ngài, và công ơn các ngài dưỡng dục. Vì thế, bao lâu chúng ta còn sống, bấy lâu chúng ta còn phải nhớ công ơn ông bà cha mẹ.

Đầu Thánh lễ, chúng ta đã cầu nguyện: Xin Chúa trả công bội hậu cho những bậc sinh thành dưỡng dục chúng ta, và cho chúng ta biết trọn niềm hiếu thảo với các ngài. Hiếu thảo khi các ngài còn sống cũng như khi các ngài đã qua đời.

Ngày nay, Giáo Hội chấp nhận cho người Công giáo được thực hiện theo hình thức Đông Phương, những nghi lễ cùng tế lễ để tỏ lòng kính nhớ và biết ơn ông bà cha mẹ. Nghi lễ cúng tế ông bà làm cho con cháu thấy gần gũi Tổ Tiên, dường như các ngài đang cảm thông với con cháu. Điều này, không có gì xa lạ với mầu nhiệm “hiệp thông các thánh” và nói lên niềm tin mãnh liệt về đời sau, đồng thời nhắc nhở con cháu biết nối tiếp sự nghiệp của cha ông: Cha ông đã ăn ngay ở lành, đã ra công tìm kiếm chân lý, con cháu sẽ tiếp tục công cuộc của các ngài, phát huy tinh thần đạo đức và truyền thống tốt đẹp của các ngài.

Cuối cùng, nếu phải biết ơn Tổ Tiên, thì chúng ta càng phải tạ ơn và tri ơn Thiên Chúa, vì chính Thiên Chúa là nguồn cội đầu tiên, Ngài đã sinh dựng nên Tổ Tiên của chúng ta -Tổ Tiên về phương diện huyết tộc cũng như Tổ Tiên về phương diện đức tin.

Chúng ta chúng ta cảm tạ Chúa đã ban sự sống cho Tổ Tiên, Ông Bà chúng ta, đã ban cho các ngài ơn huệ dư đầy, để các ngài truyền lại cho con cháu, và cho chúng ta được thừa hưởng hạnh phúc mà nhận biết, tôn thờ và phụng sự Chúa.

Trong ngày đầu Xuân hôm nay là dịp để chúng ta kính nhớ và cầu nguyện cho Ông Bà Tổ Tiên.

Xin Thiên Chúa là Đấng nhân từ vô biên, xin thương đoái đến Ông Bà Tổ Tiên chúng con và thương thứ tha những lỗi lầm thiếu sót, hầu các ngài sớm được hưởng tôn nhan Chúa, Đấng đã tạo thành các ngài.

Một trong những nét đặc sắc, tinh hoa trong đời sống tinh thần và văn hóa dân tộc Việt Nam là lòng tôn kính, yêu thương, biết ơn cha mẹ ông bà tổ tiên. Cả một kho tàng ca dao tục ngữ, truyền thống văn hóa đề cao công đức sinh thành dưỡng dục của ông bà cha mẹ và giáo dục lòng thảo hiếu. Hiếu không chỉ là một nhân đức để rèn luyện, để sống mà là Đạo. Đạo Hiếu. Hiếu trở nên một con đường tất yếu để nên người. Hiếu thảo là đạo lý làm người, đã là người thì phải thảo hiếu mẹ cha. Thảo hiếu khi cha mẹ còn sống cũng như khi đã qua đời. Ngày tư, ngày tết việc thờ cúng ông bà tổ tiên, đón ông bà tổ tiên về ăn tết là một trong những phận vụ thiêng liêng quan trọng nhất trong gia đình. Hòa trong dòng chảy văn hóa dân tộc, với nỗ lực hội nhập văn hóa, Giáo Hội Việt Nam trong phụng vụ những ngày đầu Xuân cũng dành ngày Mùng Hai Tết để dâng lễ cầu nguyện kính nhớ ông bà tổ tiên. Vừa sống đúng truyền thống văn hóa dân tộc, vừa sống đúng lời dạy thảo hiếu của Thiên Chúa.

1. Từ hiếu với ông bà cha mẹ:

“Công cha như núi Thái Sơn,

nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha,

cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Người ta không thể nên người, không thể là con nếu không biết thảo hiếu. “Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư”. Hiếu là lòng biết ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ để rồi cuộc đời người con luôn cố gắng phụng dưỡng cha mẹ khi tuổi cao, sức yếu; sống thế nào để luôn làm vui lòng cha mẹ và nỗ lực vươn lên để làm nở mặt, nở mày cha mẹ, làm rạng rỡ gia phong. Hiếu thảo do đó đi theo suốt cuộc đời làm người ở dương gian này, nên người hay không là ở thảo hiếu, động lực để phấn đấu cố gắng thành nhân, thành đạt, thành công ở đời là thảo hiếu. Hiếu với cha mẹ khi còn sống bằng việc phụng dưỡng và đời sống đạo đức làm vui lòng cha mẹ. Hiếu khi cha mẹ qua đời bằng việc lo ma chay, cúng giỗ. Từ hiếu với cha mẹ, người ta đi tới chỗ tưởng nhớ đến nguồn gốc của mình, tấm lòng hướng về ông bà tổ tiên. Trong mọi sự kiện quan trọng của đời người như hôn nhân, trong mọi biến cố vui buồn như ngày Tết luôn nhớ về ông bà tổ tiên với nghi lễ Gia Tiên, con cháu thắp hương không chỉ là tưởng nhớ mà còn là khấn xin ông bà chứng giám, hộ phù con cháu được bình an, hạnh phúc.

Hiếu là gốc của lòng nhân, của tình yêu con người phải có để nên người: “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu”.

Mùng Hai Tết, Phụng Vụ, trong nỗ lực hội nhập văn hóa, mời gọi kính nhớ ông bà tổ tiên. Việc kính nhớ này chỉ thực sự có giá trị, mang lại kết quả dồi dào cho đời sống làm người, làm con cái Chúa khi đặt trên nền tảng của lòng thảo hiếu, biết ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, ông bà và của Thiên Chúa. Nhân ngày đầu Xuân, khởi đầu của một Năm Mới, khởi đầu của những nỗ lực mới, công việc mới, chúng ta cũng khởi đầu lại tinh thần thảo hiếu nơi con cháu, nơi thanh niên giới trẻ và nơi mọi người. Xin cho mọi người con biết sống thảo hiếu, vâng lời làm vui lòng cha mẹ. Xin cho mọi Kitô hữu biết sống thảo hiếu, vâng lời để làm sáng danh Chúa. 2. Đến hiếu với Thiên Chúa: Với người Kitô hữu đi từ lòng thảo hiếu biết ơn cha mẹ đến việc kính nhớ nguồn gốc của mình là ông bà tổ tiên, chúng ta đi tới tận nguồn cội của mọi sự là chính Thiên Chúa. Chính Ngài dựng nên chúng ta, chính Ngài dưỡng nuôi chúng ta và chính Ngài đã yêu thương cứu độ chúng ta. Thiên Chúa đã lấy tình Cha mà âu yếm đoái nhìn đến thân phận con người để nâng loài người sa ngã lên làm con cái của Ngài. Cũng chính Ngài đã dạy con người phải thảo hiếu cha mẹ. Chúa Giêsu trong lời dạy và trong đời sống đã nêu gương thảo hiếu cho mọi người. Người được Chúa Cha nhìn nhận là “Con yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng”. Chính nơi Chúa Giêsu chúng ta mới thấy trọn vẹn ý nghĩa và cách sống hiếu thảo. Thảo hiếu với cha mẹ ông bà dẫn chúng ta thảo hiếu với Thiên Chúa. Sống thảo hiếu với Chúa bằng chính lời Kinh Lạy Cha Chúa Giêsu dạy. Nơi kinh này người ta dễ dàng hiểu được rằng sự thảo hiếu làm vui lòng Chúa Cha là gì? Nếu hiếu thảo làm rạng rỡ gia phong, làm vui lòng cha mẹ, thì Chúa Giêsu cũng dạy và nêu gương cho chúng ta thảo hiếu với Chúa Cha như thế: “Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến”. Nếu thảo hiếu là biết vâng lời cha mẹ, thì Chúa Giêsu cũng dạy và nêu gương như thế: “Xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Chính Người cũng thừa nhận lương thực của Người là làm theo ý Chúa Cha, Đấng đã sai Người. 3. Đi tới Năm Giáo Dục Kitô Giáo bắt đầu bằng đạo hiếu: Hiếu thảo rất quan trọng là nền tảng để sống đạo làm con trong gia đình, làm người trong xã hội và làm con cái Chúa trong Giáo Hội. Cho nên, giáo dục rèn luyện chữ hiếu rất quan trọng trong việc giáo dục con người toàn diện. Trong Năm Giáo Dục Kitô Giáo này, theo tinh thần Thư Chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đề nghị tiến trình giáo dục khởi đầu là chấn chỉnh môi trường giáo dục gia đình Công giáo, thiết tưởng chúng ta phải khởi sự từ chính việc giáo dục lòng thảo hiếu ngay từ trong gia đình. Ngôi trường gia đình là nơi chính yếu để giáo dục và thực hành đạo hiếu. Có thảo hiếu, vâng lời, biết ơn cha mẹ mới có thể vâng lời, biết ơn thầy cô và có như vậy mới có thể thảo hiếu với Thiên Chúa. Làm sao người ta có thể yêu mến Thiên Chúa Đấng vô hình nếu không biết yêu thương cha mẹ, ông bà của mình? Giáo dục Kitô giáo mang tính toàn diện, con người trưởng thành đòi hỏi phải đi từ gốc làm người con thảo trong gia đình. Cổ nhân cũng đã dạy: tu thân, rồi mới tề gia. Có tề gia mới có thể trị quốc bình thiên hạ. Tu thân tề gia chỉ có thể thành công nếu biết xây dựng trên đạo làm con thảo hiếu mẹ cha.

Anh chị em thân mến

Dân tộc Việt Nam vốn trọng Đạo Hiếu, cho nên trong những ngày Tết vui vẻ, chúng ta vẫn không quên Ông Bà Tổ Tiên của mình đã qua đời. Trong Thánh Lễ ngày Mồng Hai Tết hôm nay, chúng ta đặc biệt cầu nguyện cho các Ngài ; đồng thời cũng cầu xin Chúa giúp chúng ta sống tốt để làm các ngài được vui lòng, đó chính là cách thể hiện lòng hiếu thảo đúng nhất.

    • Chúng ta đã không hiếu thảo đủ với Ông Bà Cha Mẹ chúng ta khi các ngài còn sống.
    • Chúng ta không thường xuyên cầu nguyện cho những ông bà cha mẹ đã quá cố.
    • Chúng ta đã làm nhiều điều mà nếu ông bà cha mẹ chúng ta thấy được chắc hẳn sẽ không vui lòng.

Một nhà văn Việt Nam, về cuối đời, chắc là để cho có vẻ giống với các cây đại thụ trong khu rừng văn học nhân loại, đã tuyên bố cái gọi là “Nhân sinh quan của tôi”, trong đó, có câu viết :”Đời sống tự nó vô ý nghĩa, trừ ý nghĩa truyền chủng”. Vô hình trung, ông đã nhận ra một trong những ý nghĩa của cuộc đời là truyền lưu sự sống. Ông bà để lại sự sống cho cha mẹ. Cha mẹ tặng lại sự nghiệp cho chúng ta. Đến lượt chúng ta truyền lưu sự sống và sự nghiệp cho con cái. Cứ thế lưu truyền từ đời này đến đời kia.

Lòng biết ơn ông bà tổ tiên đã vun trồng cây sự sống cho thế hệ đời sau, là nội dung của phong tục thờ cúng tổ tiên, mà các dân tộc Châu Á, đặc biệt là dân tộc ta, rất coi trọng.

Thánh Augutinh cũng đã viết về sự truyền thừa các thế hệ một cách hình tượng như sau : “Các ngài thấy, các thế hệ loài người trên mặt đất cũng giống như những chiếc lá trên cành cây, luôn luôn xanh tươi. Trái đất này cũng mang những con người, như cây mang những chiếc lá. Trái đất đầy dẫy những con người kế tiếp nhau, người này chào đời, trong khi người kia vẫy tay giã biệt. Cây không bao giờ cởi bỏ bộ áo màu xanh của mình, nhưng xin hãy nhìn xuống gốc cây : các ngài đang đạp trên một tấm thẩm đầy những chiếc lá khô mục” (Enarratio in Psalmum 101).

Người tín hữu Công giáo Việt Nam nào cũng có lòng biết ơn và kính nhớ tổ tiên của mình. Bàn thờ ông bà cha mẹ nhà nào cũng luôn hoa hương nhang khói chân thành ấm cúng. Ngày xuân ngày tết lại là dịp đặc biệt gợi nhớ đến công lao các vị tiền bối trong gia đình họ mạc. Hội thánh Việt Nam đã dành ngày mùng hai tết để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ. Nhớ đến công lao sinh thành dưỡng dục của các ngài, chúng ta tỏ lòng biết ơn các ngài và chân thành tâm nguyện sẽ tiếp tục sự nghiệp còn dang dỡ của các ngài, lo vun trồng tươi tốt những cây non là các thế hệ đến sau, để cho cây nhân sinh của dòng họ ta mãi mãi xanh tươi và đơm nhiều hoa trái, đóng góp với sự tốt tươi chung của rừng cây nhân loại. (CgvDt, số đặc biệt Giáng sinh ’99)

IV. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến, Chúa đã dạy chúng ta phải luôn hiếu thảo với ông bà cha mẹ, khi các ngài còn sống cũng như khi đã qua đời. Chúng ta cùng dâng những lời cầu nguyện sau đây : 1- Hội thánh luôn khuyến khích chúng ta phải nhớ ơn ông bà cha mẹ và các ân nhân đã qua đời / Xin cho mọi người trong Hội thánh luôn làm gương cho mọi người chung quanh về lòng biết ơn đối với những người đã qua đời.

2- Truyền thống của dân tộc Việt Nam có những ngày tảo mộ, ngày giỗ, để tỏ lòng kính nhớ ông bà tổ tiên / Xin cho các nhà cầm quyền trong dân tộc luôn cổ võ và duy trì truyền thống tốt đẹp này.

3- Nhờ sự hiệp thông trong Hội thánh giữa các người còn sống với những người đã qua đời / Xin cho những người đã qua đời mà không có ai nhớ cầu nguyện cho / sớm được hưởng phúc trường sinh với Chúa. 4- Tham dự Thánh lễ là việc làm tốt đẹp nhất để cứu giúp các linh hồn còn đang phải luyện tội / Xin cho anh chị em trong họ đạo chúng ta biết sốt sắng tham dự Thánh lễ / để đền ơn trả nghĩa cho ông bà cha mẹ đã qua đời. CT : Lạy Chúa, nhờ lời cầu nguyện và Thánh lễ chung con dâng lên Thiên Chúa hôm nay, xin Chúa thương giải thoát các linh hồn còn đang phải luyện tội / để sớm về nơi an nghỉ muôn đời với Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

Chân tu hiểu là sống đúng với lương tri con người. Không vì tình mà quên nghĩa. Không vì tiền mà vong ân. Người chân tu phải biết sống ân nghĩa với cha với mẹ. Sống tốt với gia đình. Sống đẹp lòng mẹ cha. Đó là nền tảng đạo đức để sau này tung cánh vào đời, trở thành kẻ có ích cho người, cho đời. “Tu thân tích đức, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”

Đạo Hiếu Việt Nam dạy rằng:

Có cha có mẹ rồi sau có mình”.

Là con cháu Lạc Hồng ai cũng cảm thấy tình cha nghĩa mẹ như núi non cao vời, như sông sâu biển rộng. Ai cũng cảm thấy bổn phận phải sống sao cho trọn chữ hiếu. Ai cũng cảm thấy cần phải sống đển đáp ân nghĩa sinh thành vì:

“Công cha như núi thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nuồn chảy ra

Cho tròn chữ hiếu mời là đạo con”. Với lòng thành kính nhớ ơn tổ tiên, người Việt Nam thường đặt bát hương trước bài vị, hay di ảnh ông bà tổ tiên. Có thể nói, bát hương là một vật linh thiêng nhất trong các gia đình Việt Nam xưa. Với gia đình nghèo người ta dùng chén ăn cơm với lưng chén gạo làm thành bát hương để rồi có thể cắm vào đó vài cây nhang tỏ lòng thành kính tổ tiên. Bát hương không nói lên lời nhưng với hành vi thắp nén hương nó gửi gắm biết bao điều yêu mến tổ tiên. Với gia đình nghèo bát hương là chiếc bát đẹp nhất trong gia đình. Thế nhưng, dù cho có nghèo đến đâu, vẫn không bao giờ oán trách tổ tiên. Và cũng chẳng bao giờ vì nghèo mà quên tổ quên tông. Khi hái được trái cây đầu mùa, người dân Việt vẫn dành dâng kính tổ tiên vì “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Đó là những hình ảnh rất đẹp của văn hoá dân tộc Việt Nam. Nó đẹp bởi vì tấm lòng tri ân thẳm sâu của con cháu đối với tổ tiên. Nó đẹp bởi vì cho dẫu có nghèo khó vẫn giữ được sạch, dẫu rách vẫn giữ cho thơm, cho nét gia phong của gia tộc được duy trì từ đời này đến đời khác. Đó là cái đẹp mộc mạc, chân chất tựa như cuộc đời chân lấm tay bùn của cha của mẹ đã lận đận lao đao nuôi con khôn lớn nên người. Cha mẹ không mong gì nơi con, chỉ mong cho con “đói cho sạch rách cho thơm”. Gia tài cha mẹ để lại cho con không đặt trên giá trị vật chất để có thể cân đo đong đếm, mà là cái đức của người làm cha làm mẹ, sống một đời lam lũ chỉ mong để đức lại cho con.

Đạo Hiếu của dân tộc Việt nam còn dạy rằng: “sống ở trên đời cần có một tấm lòng”. Tấm lòng nhân nghĩa thay cho mọi lễ vật dâng tặng mẹ cha. Không có tấm lòng nhân nghĩa thì mọi hình thức phô trương bên ngoài chỉ là giả dối và trống rỗng như cha ông ta vẫn nói: “Khi sống chẳng cho ăn – Đến khi thác xuống làm văn tế ruồi”.

Hôm nay ngày Mồng Hai Tết Giáo hội mời gọi chúng ta hãy dành trọn ngày này để tỏ lòng hiếu kính với ông bà cha mẹ. Vì trong đời một người, không ai có công lao với mình bằng cha mẹ. Và càng không có ai dám hy sinh một đời vì chúng ta ngoài cha mẹ. Ơn sinh thành, công dưỡng dục của cha mẹ thật lớn lao đến nỗi việc hiếu kính tổ tiên đã trở thành đạo của cả dân tộc Việt Nam:

Năm nay năm “giáo dục gia đình theo giáo huấn thánh Phao-lô. Giáo hội mời gọi các gia đình sống yêu thương nhau theo lời dạy thánh Phaolo”. Hãy biết sống yêu thương nhau. Hãy biết chịu đựng lẫn nhau trong tha thứ và bao dung. Gia đình cũng cần phải có sự yêu thương và phục vụ của từng thành viên trong gia đình mới mang lại một mái ấm yên vui đầm ấm. Gia đình không có yêu thương sẽ biến ngôi nhà thành hoả ngục. Gia đình không có tinh thần phục vụ sẽ biến cuộc đời mình thành gánh nặng cho những người thân yêu trong gia đình. Thờ cha kính mẹ mới là chân tu”.

Bên cạnh đó, lòng yêu thương và tinh thần phục vụ sẽ dạy chúng ta phải thảo kính cha mẹ, phải dấn thân để làm sao cho gia đình chúng ta được an khang hạnh phúc. Lòng yêu thương và tinh thần phục vụ cho tròn chữ hiếu còn là cái đức chúng ta để lại cho đời và cho con cháu mai sau: “Đời trước đắp nấm, đời sau đắp mồ”. Nếu không sống đúng với đạo làm con, thì chính mình mai sau sẽ lãnh lấy hậu quả của một cuộc đời bất hiếu vong ân vì: “sóng trước đổ đâu sóng sau đổ đó”. Amen

Lòng hiếu thảo, đạo làm con ấy được Thiên Chúa quy định trong giới răn thứ tư: “Ngươi hãy thảo kính cha mẹ ngươi”. Đây là giới răn duy nhất trong 10 giới răn nhận được lời chúc phúc nếu tuân giữ một cách trọn vẹn sẽ được sống lâu trên mặt đất. “Hãy thảo kính cha mẹ ngươi thì ngươi sẽ được sống lâu trên mặt đất”.

Theo tục lệ Việt nam, ngày Tết là ngày con cháu dù ở nơi xa cũng xum họp cùng gia đình để chúc tuổi mới ông bà cha mẹ. Đồng thời nói lên lòng yêu mến, biết ơn của con cháu đối với các bậc tiền bối.

Giáo hội Việt nam cùng đồng hành với dân tộc cũng muốn đề cao ba ngày Tết để giúp giáo dân thánh hóa ngày Tết với ý chỉ :

* Mùng một : cầu bình an cho năm mới.

* Mùng hai : kính nhớ ông bà tổ tiên.

* Mùng ba : thánh hoá công việc làm ăn.

Hôm nay mùng hai Tết, Giáo hội muốn cho giáo dân tỏ lòng hiếu thảo đối với ông bà tổ tiên bằng cách dâng thánh lễ đặc biệt để cầu cho các ngài còn sống hay đã qua đời, tuy đã khuất nhưng còn luôn ở bên cạnh chúng ta.

Hằng tuần chúng ta vẫn đọc kinh Mười điều răn Đức Chúa Trời, khi đọc đến giới răn thứ bốn , ta nhớ ngay đến nghĩa vụ phải thảo kính cha mẹ. Thảo kính cha mẹ là gì ? Thưa là phải yêu mến, biết ơn, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi còn sống và khi đã qua đời. Ta phải hiếu thảo ngay cả khi cha mẹ đã qua đời, vì tuy các ngài đã khuất nhưng vẫn còn ở bên chúng ta.

a) Người Á đông đề cao chữ hiếu, coi như cội rễ của mọi đức. Người con bất hiếu là người con bỏ đi, và tội nặng nhất là tội “bất hiếu”.

Bác Năm Hớn có một vợ và hai con. Chẳng may vợ mất sớm. Một hôm bác mời cha Piô Ngô phúc Hậu đến dùng cơm với bác. Trong mâm chỉ có bốn người mà sao lại thắp những 5 đôi đũa bát. Cha Hậu ngạc nhiên hỏi :”Bát đũa này dành cho ai” ? Bác trả lời :”Dành cho vợ bác”. Tuy vợ bác đã khuất nhưng bác vẫn mời vợ về cùng dùng cơm.

Giáo hội Việt nam luôn đồng hành với dân tộc, không những phải giữ lấy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà còn nâng cao lên, cho nó một ý nghĩa cao qúi. Vì thế, Giáo hội Việt nam muốn dùng ngày mùng hai Tết để chúng ta kính nhớ ông bà tổ tiên, vì

Không có ông bà tổ tiên thì không có ta, tất cả những cái ta có là do ông bà cha mẹ để lại. Không ai đuợc quên công ơn lớn lao đó :

Tại bang New Jersey bên Hoa kỳ, một bà mẹ 78 tuổi bị đứa con trai kiện vì bà không trả tiền công cho chàng đã sửa chiếc xe vận tải của bà.

Bà đã đệ đơn tố ngược lại con mình, với đề nghị là chàng phải bị đánh đòn vì lúc chàng còn nhỏ, bà đã không áp dụng câu :”Thương con cho roi cho vọt”.

Trả lời đơn người con trai kiện mình, bà đã viết :”Nguyên cáo mắc nợ bị cáo 40 năm phục dịch của một người mẹ, một người giữ em, một người giúp việc nhà, một nhà tâm lý để cố vấn khuyên bảo… Tất cả những dịch vụ trên nguyên cáo đã không trả tiền công cho bị cáo”.

Bà mẹ viết tiếp :”Như một người mẹ, nếu luật pháp cho phép, tôi sẽ công khai đánh con tôi, những roi vọt cần thiết cho nó mà tôi đã không dành cho nó lúc nó còn bé. Nếu pháp luật không cho phép mẹ đánh con, thì xin tòa hãy cử một nhân viên ngành tư pháp đánh đòn để sửa trị con tôi”.

(R.D. Warhreit, Ánh sáng hy vọng, tr 226)

Phúc cho anh chị khi hiểu rằng tay tôi đã khởi sự run rẩy và chân tôi bắt đầu yếu dần.

Phúc cho anh chị khi nhớ rằng tai tôi không còn nghe rõ như xưa và dù muốn hay không những người lớn tuổi cũng phải chấp nhận câu :”Trẻ khôn ra, già lú lại”.

Phúc cho anh chị nếu biết rằng mắt tôi không còn sáng được như xưa.

Phúc cho anh chị nếu không giận dữ vì tôi đánh rơi một cái tách đắt tiền, khi tôi năm lần bảy lượt thuật lại cùng một câu truyện.

Phúc cho anh chị nếu anh chị biết trao cho tôi những nụ cười thông cảm, nếu anh chị hỏi tôi về quãng đời quá khứ, những kinh nghiệm của tuổi thanh xuân, nếu anh chị hiểu được những dòng nước mắt cô đơn của tôi, nếu anh chị dành cho tôi chút tình yêu thương kính trọng.

Phúc cho anh chị nếu ở lại với tôi thêm giây lát dù trời sắp tối.

Phúc cho anh chị nếu nắm lấy tay tôi khi tôi phải giã từ cõi đời để một mình đi vào bóng đêm, bóng đêm của sự chết.

Phải, phúc cho anh chị, vì khi lên thiên đàng, tôi sẽ thắp cho anh chị những vì sao.

Chúng ta có hiểu câu thành ngữ tha thiết và trách móc này không :

Để dễ dàng lấp đầy hố sâu chia cách hai thế hệ, giới trẻ chúng ta phải ghi nhớ công ơn sinh thành của cha mẹ mà giữ trọn chữ hiếu. Đấy là bài học hữu hiệu để giữ được mãi trong xã hội chúng ta nét đặc thù mà xã hội Âu Mỹ đã đánh mất từ lâu.

Hôm nay chúng ta hãy làm hai việc khẩn thiết trong ngày kính nhớ ông bà tổ tiên

1. Sốt sắng hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cho các ngài vì Thánh lễ là một phương thế hiệu nghiệm nhất chúng ta có thể kéo ơn Chúa xuống cho ông bà cha mẹ chúng ta khi các ngài còn sống cũng như đã qua đời.

2. Khơi lại lòng hiếu thảo của chúng ta đối với các ngài bằng những việc làm cụ thể nhất là trong những ngày Tết này. Hãy ghi nhớ lại điều răn Chúa đã dạy chúng ta trong kinh Mười điều răn :”Thứ bốn thảo kính cha mẹ”.

Cây có cội, nước có nguồn và con người có tổ tiên. Trong những ngày lễ Tết là dịp con cái cháu chắt nhớ đến tổ tiên ông bà. Tổ tiên đã truyền lại cho chúng ta sự sống và giang sơn gấm vóc. Tổ tiên còn để lại cho chúng ta một kho tàng đạo đức, văn hóa và truyền thống. Những cái chúng ta đang vui hưởng trong cuộc sống hiện tại là do sự góp nhặt công sức từ bao đời. Tỏ lòng biết ơn ông bà tổ tiên đó là bổn phận của mỗi người.

Nhiều khi chúng ta giới hạn ông bà tổ tiên là những người chúng ta nghe nói hay đã được gặp trong đời. Chúng ta biết ơn và cầu nguyện cho các ngài. Sự sống của chúng ta không bị đứt quãng, sự sống khởi nguồn từ Thiên Chúa và sự sống đó đã trải qua biết bao nhiêu đời, chúng ta có ngàn ngàn các tổ tiên đã đi trước, nhiều ông bà tổ tiên đã không có cơ hội biết Chúa và tôn thờ Chúa. Chúng ta cũng nhớ cầu nguyện xin Chúa ghé mắt đoái nhìn và thương xót đến các ngài.

Cuộc sống của các ngài dài hay ngắn không quan trọng. Quan trọng là các ngài đã đi đến cùng đường và giữ vững đức tin. Các ngài đã để lại nơi con cháu niềm yêu thương luyến nhớ. Cứ nhìn qủa thì biết cây. Hoa qủa của các ngài để lại cho cháu đó chính là tình yêu thương, lòng qủa cảm và sự hy vọng vào sự sống vĩnh cửu.

Tôn kính những bậc cha ông đã lãnh nhận hạt giống đức tin và đã truyền đạt đức tin cho chúng ta. Chính các ngài đã giữ vững đức tin cho đến giây phút cuối của cuộc đời. Các ngài là những chứng nhân anh dũng đáng được kính mến. Chúng ta có bổn phận tiếp lời cầu nguyện để vì lòng Chúa nhân từ đón các ngài vào nơi vinh phúc.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

(Lm. Tạ Duy Tuyền)

Theo tục lệ Việt nam, ngày Tết là ngày con cháu dù ở nơi xa cũng sum họp cùng gia đình để chúc tuổi mới ông bà cha mẹ. Đồng thời nói lên lòng yêu mến, biết ơn của con cháu đối với các bậc sinh thành.

Nhiều bài ca dao, tục ngữ, nhiều bài hát, câu chuyện, đã kể về công cha nghĩa mẹ và răn dạy con cái cần sống đáp đền công ơn ấy:

Khi nhận ra công cha nghĩa mẹ, thì đạo hiếu luôn nhắc nhở chúng ta: Sinh thành kể mấy non cao cho vừa”.

Phiền ai một chút để bên cạnh lòng”

Ai mà phụ nghĩa quên công, Lòng hiếu thảo quả là một tấm lòng thơm tho, đáng yêu. Lòng hiếu thảo làm cho con người thêm thanh cao, giá trị. Bởi được người đời kính trọng, yêu thương những ai có hiếu với mẹ cha.

Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm Thế nhưng, giữa dòng đời hôm nay vẫn còn đó những mảnh đời cô đơn nơi các bậc cha mẹ vì thiếu tình thương của con. Ở đâu đó, trong nhiều mái gia đình, ông bà cha mẹ lại là gánh nặng cho con cái. Ở đâu đó, vẫn còn những tiếng nghẹn ngào của những bậc sinh thành bị bỏ rơi ngay giữa đàn con cháu của mình.

Thiết tưởng, ngày đầu xuân chúng ta cùng lắng đọng tâm hồn để nghe lời bộc bạch chân thành từ lá thư của một người cha viết cho con.

Lá thư ấy viết rằng:

Ngày bố mẹ già đi, con hãy cố gắng kiên nhẫn và hiểu giùm cho bố mẹ. Nếu như bố mẹ ăn uống rớt vun vãi… Nếu như bố mẹ gặp khó khăn ngay cả đến cái ăn cái mặc… Xin con hãy bao dung!

Con hãy nhớ những ngày giờ mà bố mẹ đã trải qua với con, để dạy cho con bao điều lúc thuở bé.

Nếu như bố mẹ cứ lập đi lập lại hàng trăm lần mãi một chuyện, thì đừng bao giờ cắt đứt lời bố mẹ… mà hãy lắng nghe!

Khi con còn ấu thơ, con hay muốn bố mẹ đọc đi đọc lại mãi một câu truyện hằng đêm cho đến khi con đi vào trong giấc ngủ… và bố mẹ đã làm vì con.

Nếu như bố mẹ không tự tắm rửa được thường xuyên, thì đừng quở trách bố mẹ và đừng nên cho đó là điều xấu hổ.

Con hãy nhớ… lúc con còn nhỏ, bố mẹ đã phải viện cớ bao lần để vỗ về con trước khi tắm.

Khi đôi chân của bố mẹ không còn đứng vững như xưa nữa… hãy giúp bố mẹ, nắm lấy tay bố mẹ như thể ngày nào bố mẹ đã tập tềnh con trẻ những bước đi đầu đời.

Và một ngày như một ngày sẽ đến, bố mẹ sẽ nói với con rằng… bố mẹ không muốn sống, bố mẹ muốn từ biệt ra đi.

Là người Ki-Tô, chúng ta cũng được mời gọi sống giới răn: “hãy thảo hiếu cha mẹ”. Đây là lệnh truyền chứ không phải lời khuyên. Lời khuyên thì có thể không làm nhưng lệnh truyền thì buộc phải thi hành. “Phải thờ cha kính mẹ” còn là lễ dâng đẹp lòng Thiên Chúa. Ngược lại, Kinh Thánh còn ví kẻ khinh rẻ cha mẹ là chọc giận Thiên Chúa: ” Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai khinh rẻ mẹ, là chọc giận Đấng tạo thành ra nó” (Hc 3, 16). “Phải thờ cha kính mẹ” đó là điều răn duy nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6, 1-3). “Phải thờ cha kính mẹ” còn phải được thể hiện qua những lời khuyên nhủ thật chân tình trong sách Huấn Ca: “Con ơi, hãy săn sóc cha con, khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dễ người” (Hc 3, 12-16). Con đừng oán giận và buồn khổ… vì con sẽ hiểu và thông cảm cho bố mẹ khi thời gian sẽ tới với con.

Người ta nói:”Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó”. Việc thất đức mình làm cho tiền nhân cũng có thể tái diễn ngay chính cuộc đời chúng ta. Nếu chúng ta không muốn con bất hiếu với mình thì chính chúng ta hôm nay cũng phài làm gương sáng về hiếu thuận với mẹ cha. Nếu chúng ta muốn con cái đối xử tốt với mình thì hôm nay chúng ta cũng phải ân cần săn sóc mẹ cha. Hãy giúp bố mẹ trong từng bước đi vào chiều…

Nguyện xin Chúa Xuân chúc lành cho buổi họp mặt gia đình hôm nay. Xin Chúa Xuân cư ngụ đến từng gia đình, mang ơn lành đến cho muôn nhà để mọi người được hưởng nếm những giây phút bình yên nhất bên gia đình và người thân. Amen Cách duy nhất còn lại mà bố mẹ muốn cảm ơn con là nụ cười và cả tình thương để lại trong con.

Có một chàng trai sắp thi tốt nghiệp đại học. Trước đó, anh đã nói với cha về ước muốn có chiếc xe thể thao xinh đẹp và mong rằng nó sẽ là quà tặng của cha nhân ngày tốt nghiệp.

Người cha nghe xong im lặng, không có ý kiến gì.

Sau ngày chàng trai tốt nghiệp, người cha đã gọi anh vào phòng, nói rằng ông rất yêu thương và hãnh diện có được đứa con như anh. Sau đó, ông trao cho anh một hộp quà được gói cẩn thận. Ngạc nhiên, chàng trai mở hộp quà và nhìn thấy đó là một quyển sách thể loại “rèn nhân cách” được đóng gáy và bọc bìa da rất đẹp. Chàng trai nhíu mày, “với tất cả tài sản mà cha mình đã có… và món quà tặng cho con tốt nghiệp đại học chỉ là một quyển sách tầm thường này hay sao?”.

Chán nản và buồn phiền với ý nghĩ đó, chàng trai không nói lời nào với cha mình, rời khỏi phòng, để lại quyển sách trên bàn. Sau đó anh bỏ nhà ra đi…

Trong một thời gian dài, chàng trai không liên hệ với cha mình. Cho đến một ngày anh nhận được tin cha mình đã qua đời và để lại toàn bộ tài sản cho anh ta.

Khi anh về đến căn nhà cũ xưa, sự buồn phiền và hối hận tràn ngập trong lòng chàng trai khi anh nhớ đến sự cư xử lạnh nhạt mà anh đã có với cha trước đây. Anh tìm đọc những giấy tờ quan trọng của cha mình và nhìn thấy cuốn sách “rèn nhân cách” vẫn còn nguyên vẹn trên bàn như ngày anh từ bỏ nó. Chàng trai mở cuốn sách ra, lật từng trang và thấy một bao thư được ép chặt trong đó. Anh đã nhẹ nhàng mở bao thư ra, và bỗng dưng nước mắt anh tuôn trào khi nhận ra đó chính là một chìa khóa xe hơi và tờ hóa đơn của chính chiếc xe mà anh ta yêu thích ngày trước. Tờ hóa đơn ghi đúng ngày anh ta tốt nghiệp với dòng chữ đã thanh toán đầy đủ…

Trong cuộc sống của chúng ta, không ai mà không mắc những sai lầm. Có những sai lầm thì sau đó được sửa chữa và trở nên bình thường. Nhưng có những sai lầm sau khi khắc phục rồi, nó vẫn còn để lại “một vết sẹo” mà khó có thể phai mờ được.

Có thể nói, “vết sẹo” mà chúng ta đã gây ra đối với đấng sinh thành, là đáng trách nhất. Vết sẹo đó sẽ mãi mãi ở bên chúng ta, khiến chúng ta luôn bị nhức nhối lương tâm mỗi khi nhớ đến nó. Như trong câu chuyện trên, chàng trai sau khi thức tỉnh, đã vô cùng ân hận, nhưng người cha đã không còn nữa để anh ta làm một cái gì đó, dù chỉ là một lời xin lỗi…

Ngày Tết là dịp để chúng ta về đoàn tụ bên các đấng sinh thành để xin lỗi, để cầu chúc các đấng an khang trường thọ.

Ngày Tết là dịp để con cái nhìn nhận tình thương của cha mẹ là tình thương không thể thiếu cho con bước đi trong cuộc đời.

Dầu rằng, Tình Cha, Tình Mẹ có khác nhau nhưng nhờ Ơn Cha, nhờ Nghĩa Mẹ mà con cái mới đứng vững trước những sóng gió cuộc đời.

Thực vậy, tình cảm của người cha không bao giờ như người mẹ.

Tình thương của cha luôn giấu kín trong lòng, đôi khi còn tỏ ra nghiêm nghị, cứng rằn mỗi khi dạy con. Cha giống như một thân cây vững chắc, bám rễ thật sâu dưới lòng đất để hút nhựa nuôi dưỡng cành lá, hoa, quả.

Mẹ là tình cảm, cha là lý trí, mẹ mềm lòng, cha phải giữ kỷ cương, mẹ chín bỏ làm người, cha phải cầm cân nảy mực. Cuộc sống đòi buộc cha lăn lộn với đời để kiếm tìm miếng cơm manh áo cho gia đình.

Cha thường xuyên phải xa gia đình, xa con cái, nên tình cảm đôi khi cũng lạt hơn mẹ.

Cha còn thẳng tay trừng phạt những đứa con thiếu ý chí vươn lên, lười biếng, vô dụng.

Cha luôn đòi đứa con phải tự bước đi trên đôi chân của mình, cho dù có té ngã, vẫn phải một mình đứng dậy. Đó chính là một tình thương mà chỉ có người cha mới rèn nên cho con tính đoan trang, tính mực thước và nghị lực khi bước vào đời vốn dĩ luôn ngập tràn những khó khăn.

Nhưng đáng tiếc, chỉ khi nào mất cha, người con mới cảm thấy mất núi Thái Sơn, mất đi cái nóc cột trụ gia đình.

Mất cha, người con mới ngậm ngùi nói rằng:

Còn cha, gót đỏ như son

Mất cha, gót mẹ, gót con đen sì.

Thương cha lam lũ một đời,

Tìm trong xa vắng những lời xa xưa.

Bồng bềnh gió đẩy mây đưa,

Bơ vơ con đứng, bóng mưa ngập lòng.

(Nguyễn Ánh Hồng)

Vâng, đời của những người làm con sẽ trở nên trống vắng lạc lõng vô cùng nếu như một ngày kia cha mẹ vĩnh viễn ra đi, bỏ lại thân xác trong nấm mồ cô đơn lạnh lẽo. Lúc đó, lòng con lại dâng trào một nỗi buồn mênh mông sâu lắng:

Thấy bơ vơ lạc lõng dấy trong lòng

Khi chợt nhớ mẹ già không còn nữa.

Mẹ ơi, trên vạn nẻo đường

Con đi, mới hiểu tình thương mẹ hiền.

Đời con xuôi ngược bao miền

Nhưng tình của mẹ là nguồn yêu thương.

Bởi thế, đạo làm con luôn mời gọi chúng ta hãy thờ cha kính mẹ, để mai này, chúng ta khỏi phải xót xa mà nói rằng:

Tình thương xuôi chảy một miền

Nhưng con nào biết giữ niềm kính yêu

Con nay hầu mẹ tuổi chiều

Nuôi cha dưỡng mẹ, ít nhiều kể công.

Và với lòng hiếu kính đang trào dâng trong ngày Mồng Hai Tết, có lẽ ai trong chúng ta cũng thầm mong ước cho cha mẹ mãi mãi ở cùng chúng ta:

“Ngày đêm khấn nguyện cầu Trời

Cầu cho cha mẹ sống đời với con”.

Cầu cho cha mẹ sống đời với con, đó là tâm nguyện của tất cả những người con dành cho cha mẹ. Bởi lẽ không có một tình con người nào sâu đậm, gắn bó, chân thành bằng tình cha mẹ yêu con, và càng không có một tình yêu nào trên trái đất này có thể thay thể được tình phụ mẫu yêu con, mà bài cầu cho cha mẹ của Linh mục Nguyễn duy đã lột tả.

“Này chúng con sinh vào đời nhờ có tay của mẹ cha. Là Thái Sơn cao xa cao xa, là Biển Đông bao la bao la, như một rừng hoa ngát hương cả bốn mùa. Ôi tình mẹ cha nói lên tình Chúa. Đời chúng con yên vui hân hoan, nhờ mẹ cha gian nan lo toan, trong giọt mồ hôi có chung cả máu hồng, luôn dạy lòng con biết câu mặn nồng.

Rồi lớn lên, con vào đời, gặp biết bao nhiêu người thương. Dù có ai hy sinh cho con. Dù được ai cho mâm cơm ngon, đi gần về xa, thấy đâu một mái nhà, như nhà mẹ cha thiết tha từ ấy. Rồi lớn lên, con xây non cao, vượt biển khơi bay lên trăng sao. Khi về nhà xưa với cha và với mẹ, vẫn là trẻ thơ bé như ngày nào”

Vâng, lời ca như muốn mời gọi chúng ta hãy sống trọn tình con thảo ngay từ hôm nay. Hãy sống ngoan hiền bên những người cha mẹ đang còn trẻ để hưởng nếm giây phút ngọt ngào mà ai đó nói rằng: là chùm khế ngọt cho con trèo hái mỗi ngày.

Hãy sống thảo hiếu, quan tâm chăm sóc các đấng sinh thành khi đã còng lưng vì một đời lam lũ cho đoàn con.

Vâng, hãy tạ ơn Chúa đi, hãy sống cho trọn vẹn đạo làm con, trọn nghĩa tình với cha mẹ mình, vì cha mẹ là món quà thiêng liêng và quí giá nhất, tình cha mẹ là cái gì rất cao siêu lành thánh, mà lại thật thân mật gần gũi, được Chúa dành cho chúng ta.

Nguyện xin Chúa chúc lành và trả công cho các bậc sinh thành và ước gì những ngừơi con hôm nay đang vinh dự được chúc mừng tuổi mới của cha mẹ, thì cũng biết sống hiếu thảo để đền đáp ân nghĩa cù lao chín chữ mà cha ông ta đã từng khuyên răn rằng:

Công cha như núi ngất trời

Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông

Núi cao biển rộng mênh mông

Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi.

Note: Chín chữ cù lao, tức là chín điều khó nhọc của cha mẹ sanh dưỡng con cái.

Chín chữ cù lao gồm:

1. Sinh: Sanh đẻ.

2. Cúc: Nâng đỡ.

4. Phủ: Vuốt ve triều mến.

5. Xúc: Cho bú sữa.

6. Trưởng: Nuôi cho khôn lớn.

7. Cố: Trông nom.

9. Phúc: Bảo vệ.

(Danh ngôn đạo đức)

Đạo hiếu, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Nó được thể hiện rõ nét trong mỗi dịp Tết cổ truyền. Những ngày vui tươi đầu xuân cũng là thời điểm thuận tiện để con cháu bày tỏ lòng biết ơn, hiếu kính đối với các đấng bậc đã có công sinh thành dưỡng dục mình cả về thể lý và tâm linh. Người Kitô hữu ý thức Đạo hiếu mang một chiều kích sâu xa hơn trong mối tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại và giữa con người với nhau. Do đó, khi chúng ta sống trọn chữ Hiếu cũng đồng thời ta đáp trả lời mời gọi của Tin Mừng trong thái độ yêu mến và tôn phục Thiên Chúa.

Tiếp sau bổn phận của con người đối với Thiên Chúa được nêu lên trong Thập giới (mười điều răn), Kinh Thánh đã coi thái độ hiếu thảo với cha mẹ là nền tảng thứ nhất và quan trọng nhất trong những tương quan giữa con người với con người (Is 49, 15; 63, 16…).

“Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: Để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6, 1-3).

Đạo hiếu đối với bề trên được khởi đi từ việc thấu hiểu và đáp trả xứng hợp công ơn của các ngài là những cánh tay nối dài của Thiên Chúa ở dưới thế, đã hy sinh, nâng đỡ ta trên đường trọn lành. “Hãy hết lòng tôn trọng cha con và đừng quên những cơn đau đớn của mẹ. Hãy nhớ rằng nhờ cha mẹ, con mới sinh ra. Làm sao con báo đền được điều cha mẹ cho con” (Hc 7, 27-28). “Hỡi những người con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là đẹp lòng Chúa” (Cl 3, 20).

Biểu lộ của lòng hiếu thảo thể hiện qua sự chú tâm lắng nghe lời chỉ bảo của cha mẹ trong sự vâng phục, khiêm kính. “Hỡi con, hãy giữ lấy lời huấn hụ của cha, và đừng ruồng rẫy giáo huấn của mẹ… Chúng sẽ hướng dẫn con khi con đi, canh giữ con khi con nằm, và khi con thức dậy, chúng chuyện trò với con” (Cn 6, 20-22). “Con ngoan mến chuộng lời cha quở mắng, kẻ nhạo báng chẳng nghe lời khiển trách” (Cn 13, 1).

Lòng hiếu thảo là một hành vi nhân linh đặc biệt quan trọng có giá trị kiện toàn bản thân ta nên công chính thánh thiện hơn mỗi ngày. “…Vì của dâng cho cha sẽ không rơi vào quên lãng. Của biếu cho mẹ sẽ đền bù tội lỗi, và xây dựng đức công chính của ngươi…” (Hc 3, 14-15).

Tân ước đề cao Đạo hiếu qua mẫu gương của Chúa Giêsu. Ngài đã chu toàn trọn hảo bổn phận làm con với cha mẹ trong suốt ba mươi năm sống cùng Thánh Gia (Lc 2, 51-52). Trong thời gian thi hành sứ vụ, lòng hiếu thảo được Ngài đề cập như một trong những chuẩn mực nền tảng của luật Thiên Chúa. “Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ kính cha mẹ, và kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải xử tử”.

Thư 1Tm 5, 8 xác quyết bổn phận sống đạo hiếu là đòi buộc của đức tin: “Ai không biết lo lắng đến người thân và nhất là gia quyến mình, thì nó đã chối bỏ đức tin, và còn tệ hơn là người không tin” (1Tm 5, 8).

Công đồng Vatican II dạy: “Con cái sẽ đáp lại công ơn cha mẹ với lòng biết ơn, tâm tình hiếu thảo và tin cậy, sẽ theo đạo làm con mà phụng dưỡng cha mẹ trong nghịch cảnh cũng như trong tuổi già cô quạnh” (MV, số 48).

Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo nêu lên vai trò của cha mẹ và bổn phận đáp trả của chúng ta: “Thiên Chúa muốn rằng sau Ngài, chúng ta phải tôn kính cha mẹ vì đã sinh thành và dạy cho chúng ta biết Thiên Chúa” (GLHTCG, số 2197).

Trong ngày đầu xuân, thật hạnh phúc khi chúng ta được đoàn tụ trong bầu khí yêu thương của gia tộc để bày tỏ đạo hiếu với tổ tiên. Nhưng niềm vui của chúng ta chưa thể trọn vẹn được, khi vẫn còn đó bao cụ già neo đơn, bao bậc làm cha, làm mẹ phải đau xót khốn cùng vì bị con cái hắt hủi, bỏ rơi giữa ngày đời tàn hơi, xế bóng…

Chúng ta vui sao được trước thực trạng xã hội, trong đó, một bộ phận đông đảo những người trẻ đang chạy theo lối sống tự do mất định hướng, cố tình ngoảnh mặt trước các chuẩn mực truyền thống và quan niệm sự vâng phục các đấng bậc sinh thành như một thứ bó buộc tiêu cực đối với họ.

Nếp sống đề cao tính cố kết gia tộc trong bản sắc văn hóa của các làng xã Việt Nam dường như đang bị phai nhạt dần. Các cặp vợ chồng trẻ mới thành hôn có xu hướng thích “ra riêng” (gia đình độc lập) hầu có thể thoát ra ngoài “chiếc vòng kim cô” của đại gia đình nhiều thế hệ. Điều này đang có nguy cơ dẫn tới việc các thế hệ sau ngày càng có biểu hiện xem nhẹ vai trò của những người đi trước. Và hậu quả là, họ cố tình “bỏ ngoài tai” những giáo huấn vốn được kết tinh từ kinh nghiệm sống của ông bà, cha mẹ, thầy cô.

Ngày Tết là thời điểm thật thuận tiện để những người con, người cháu cháu chúng ta tự vấn lại bổn phận và thái độ sống cần thiết đối với các bậc tiền nhân. Năm cũ qua đi, có biết bao lần ta đã làm phiền lòng những người đã phải vật lộn một nắng hai sương, lam lũ giữa dòng đời cay đắy với bao nhiêu mồ hôi nước mắt chỉ vì mong muốn, dìu dắt ta nên người. Biết bao lần ta đã vi phạm trầm trọng chuẩn mực đạo hiếu chỉ vì muốn được tự do sống theo ý riêng mình…

Năm mới, ta hãy sống sao cho đẹp Chữ Hiếu.

Nhiều giáo xứ đang phát huy truyền thống tốt đẹp, đó là tổ chức long trọng thánh lễ kính nhớ tổ tiên tại nghĩa trang giáo xứ vào ngày Mồng Hai Tết. Trong ngày này, con cháu, dâu rể… dù ở phương xa phải bận bịu trăm công nghìn việc, vẫn cố gắng sắp xếp quy tụ về bên phần mộ gia tộc, cùng nhau thắp lên nén hương lòng kính hiếu và chung lời nguyện xin cho người quá cố được sớm an nghỉ trong Chúa. Thật là nghĩa cử đẹp đẽ, nói lên Đức ái Kitô giáo được biểu lộ qua đạo hiếu.

Ước mong nén hương lòng trong ngày đầu năm sẽ cháy mãi và bừng lên nơi tâm hồn của những người con hiền, cháu thảo như một lời tri ân đáp trả nồng nhiệt công ơn của các đấng bậc đã sinh thành, dưỡng dục ta.

Ước mong nén hương lòng trong ngày đầu năm cho tổ tiên sẽ lan tỏa trong đời bạn, đời tôi để chúng ta luôn sống xứng với truyền thống Đức tin rạng ngời của tiền nhân.

Ước mong nén hương lòng trong ngày đầu năm luôn thơm phức hương thảo hiếu của chúng ta khi chu toàn bổn phận của người con, người cháu với ông bà, cha mẹ.

Ước mong nén hương lòng đầu năm trước người quá cố đang và sẽ thức tỉnh những ai có biểu hiện xem thường chuẩn mực đạo hiếu.

Và nguyện ước cho nén hương lòng đầu năm trước tổ tiên là tất cả tâm thành của ta hướng về Chúa, cảm tạ Ngài đã ban cho ta có được tổ tiên ông bà cha mẹ. Nhờ sống trọn, sống đẹp Đạo Hiếu, chúng ta góp phần tôn vinh Thiên Chúa, tôn vinh Đạo Trời.

(Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi)

Giáo Hội Việt Nam luôn dành ngày mồng hai tết mỗi năm để cầu nguyện cho tổ tiên và ông bà cha mẹ đúng như đoạn Sách Cách ngôn 6, 29-23abc viết trong ca nhập lễ:

” Con ơi giữ lấy lời cha,

Chớ quên lời mẹ nhớ mà ghi tâm.

Đèn soi trong chốn tối tăm,

Ấy là chính những lời răn, lệnh truyền.

Nhớ cầu cho bậc tổ tiên,

Khắc ghi công đức một niềm tri ân “.

Vâng, Giáo Hội là người Mẹ luôn âu yếm, nâng niu đoàn con và dạy dỗ con cái hãy sống điều răn Chúa phán truyền:” Hãy thảo kính cha mẹ ” (Điều răn thứ 4 của Thập Giới Đạo Công Giáo).

Từ ngàn xưa nhân loại luôn ghi nhớ công ơn tổ tiên, ông bà cha mẹ. Bởi vì, nước có nguồn, sông có cội, con người phải có tổ tông. Tổ tiên sinh ra ông bà nội ngoại và rồi nội ngoại sinh ra con cái, sinh ra chúng ta. Công ơn tổ tiên, công ơn ông bà, ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ luôn luôn phải được đền đáp cho cân xứng. Chỉ cần đọc lại kinh tiền tụng lễ mồng hai tết, chúng ta sẽ thấy Giáo Hội chủ tâm tới những Đấng Bậc sinh thành, dưỡng dục như thế nào:” Quả thực, khi ngẫm xem muôn loài trong vũ trụ, tự nhiên chúng con thấy vạn sự đều có cội rễ căn nguyên: chim có tổ….Nhưng phải nhờ ơn Cha mạc khải, chúng con mới nhận biết Cha là nguyên lý sáng tạo muôn loài, là Cha chung của tất cả chúng con. Cha đã ban sự sống cho tổ tiên và ông bà cha mẹ chúng con, để các ngài truyền lại cho con cháu. Cha cũng đã ban cho các ngài ơn huệ dư đầy, để chúng con được thừa hưởng mà nhận biết, tôn thờ và phụng sự Chúa “. Do đó, con người phải có hiếu đễ, lúc cha mẹ còn sống phải thăm nom, chăm sóc, khi cha mẹ khuất bóng, phải cầu nguyện, lo ngày giỗ ngày chạp vv…Đó là ơn nghĩa con cái phải đáp trả báo đền. Thánh vịnh 111,1-2 viết rất rõ:” Hạnh phúc thay, người kính sợ Chúa, những ưa cùng thích mệnh lệnh Chúa truyền ban. TRên mặt đất, con cháu của họ sẽ hùng cường, dòng dõi kẻ ngay lành được Chúa thương giáng phúc “. Thánh Phaolô khuyên nhủ giáo đoàn Êphêxô:” Kẻ làm con, hãy vânbg lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này “. Thánh Matthêu còn nhấn mạnh hơn:” Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải xử tử “.

Vâng, đạo hiếu vẫn là đạo mà mọi nước, mọi dân tộc trên thế giới này đều khuyên nhủ con người thực hiện. Còn sống phụng dưỡng cha mẹ, không được làm phật lòng cha mẹ để cho cha mẹ buồn. Khi qua đời phải hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã chết, vì cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh…”. Bởi vì như Sách Khải Huyền viết:” Phúc thay kẻ nhắm mắt lìa đời, đã lìa đời trong ơn nghĩa Chúa. Trải qua bao nhọc nhằn vất vả. Giờ đây họ xứng đáng nghỉ ngơi. Vì công đức xưa kia vẫn còn theo họ mãi “.

Những ngày đầu năm mới trong khi mọi người ăn uống, sum vầy, Giáo Hội luôn khuyên dạy chúng ta hãy nhớ tới công ơn của tổ tiên, ông bà và cha mẹ. Chính là các bậc tiên tổ, bậc cha ông mà chúng ta mới có ngày hôm nay…

Lạy Chúa là Cha rất nhân từ,

Chúa dạy chúng con phải giữ lòng hiếu thảo.

Hôm nay nhân dịp đầu năm mới Nhâm Thìn

Chúng con họp nhau để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ.

Xin Chúa trả công bội hậu

cho những bậc đã sinh thành dưỡng dục chúng con,

và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với các ngài. Amen (lời nguyện nhập lễ, lễ mồng hai tết).

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

1.Tại sao ngày mồng hai tết, Giáo Hội lại dành để cầu cho tổ tiên, ông bà và cha mẹ?

2.Tổ tiên là ai?

3.Ông bà là ai?

4.Tại sao chúng ta lại phải trả ơn cho tổ tiên, ông bà và cha mẹ?

(Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi)

Truyền thống Dân tộc Việt Nam chúng ta luôn đề cao chữ hiếu. Bởi vì, dù có đi đạo hay không, người Việt Nam từ ngàn xưa đã biết thờ Cha kính Mẹ. Như thế, quả rất thích hợp với điều răn thứ tư trong mười điều răn của Thiên Chúa. Ngày mồng hai tết bao giờ, Giáo Hội cũng dành riêng để kính nhớ ông bà cha mẹ, tổ tiên. Đây là nét son của Giáo Hội.

Vâng, ngay từ khi khởi đầu công cuộc truyền giáo ở đất nước chúng ta, Cha Alexandre de Rhodes đã luôn quan tâm và dạy dỗ con người hãy trung thành, hiếu thảo với Thiên Chúa, với Vua và với Cha mẹ. Đây là giáo lý nói về tam phụ. Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời đất, dựng nên con người. Nên, con người phải biết ơn Thiên Chúa, trung thành với Ngài. Cha mẹ thừa lệnh Thiên Chúa sinh ra chúng ta, do đó, chúng ta phải hiếu thảo và trung thành với Cha mẹ. Con người có đất nước, có tổ quốc.Đứng đầu nước là Vua, nên con người phải trung với Vua vv…Đây là đạo lý của con người. Tuy nhiên, lúc đó vì chưa hiểu rõ các địa phương, các đất nước. Giáo Hội đã có những thông tư nghịch lại với nghi lễ Trung Hoa. Nên, một thời gian dài đã có những hiểu lầm và nghi kỵ đối với đạo Công giáo.

Ngày nay, với Công Đồng Vatỉcanô II, Giáo Hội đã có cái nhìn phù hợp với hoàn cảnh, truyền thống của các đất nước, các địa phương. Nên, mọi Kitô hữu đều cảm thấy thoải mái hơn với việc tôn kính tổ tiên vv…Giới răn bốn trong thập giới đã viết:” Hãy tháo kính Cha mẹ “. Điều này rất phù hợp với các đoạn Sách Thánh như Cn 6,20,23abc:” Con ơi giữ lấy lời cha, chớ quên lời mẹ, nhớ mà ghi tâm.Đèn soi trong chốn tối tăm, ấy là chính những lời răn, lệnh truyền.Nhớ cầu cho bậc tổ tiên, khắc ghi công đức một niềm tri ân “. Hoặc Sách Khải Huyền 14, 13 viết:” Phúc thay kẻ nhắm mắt lìa đời, đã lìa đời trong ơn nghĩa Chúa. Trải qua bao nhọc nhằn vất vả, giờ đây họ xứng đáng nghỉ ngơi, vì công đức xưa kia vẫn còn theo họ mãi “.

Người công giáo Việt Nam bao giờ cũng có lòng biết ơn và kính nhớ ông bà tổ tiên cha mẹ. Hầu như nhà nào cũng có bàn thờ ông bà tổ tiên với những hoa nến, nhang hương tỏa hương thơm ngát, nghi ngút khói bay…Thật đúng như lời Sách Đức Huấn Ca viết:” Dòng dõi các ngài sẽ muôn đời tồn tại, vinh quang các ngài sẽ chẳng phai mờ. Các ngài được mồ yên, mả đẹp, và danh thơm mãi lưu truyền hậu thế.Dân dân sẽ kể lại đức khôn ngoan của các ngài, và cộng đoàn vang tiếng ngợi khen “. Thánh Augustinô cũng viết một đoạn đáng ghi nhớ:” Các ngài thấy, các thế hệ loài người trên mặt đất cũng giống như những chiếc lá trên cành cây, luôn luôn xanh tươi.Trái đất này cũng mang những con người, như cây mang những chiếc lá. Trái đất đầy dẫy những con người kế tiếp nhau, người này chào đời, trong khi người kia vẫy tay giã biệt.Cây không bao giờ cởi bỏ bộ áo màu xanh của mình, nhưng hãy nhìn xuống gốc cây: các ngài đang đạp trên một tấm thảm dầy những chiếc lá khô mục “.Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Êphêsô đã khuyên nhủ:” Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa,vì đó là điều phải đạo.Hãy tôn kính cha mẹ…”.

Thảo kính cha mẹ, tôn kính tổ tiên là truyền thống đạo lý của dân tộc Việt Nam. Cài bông hồng đỏ trên áo để chứng tỏ cha mẹ còn sống.Đó là cách biểu lộ tình thương đối với cha mẹ, do đó, phụng dưỡng cha mẹ, an ủi cha mẹ là tỏ lòng hiếu thảo đối với cha mẹ. Cài bông hồng trắng trên áo để tưởng nhớ cha mẹ đã khuất. Con người nhớ để cầu nguyện, dâng lời kinh, tạ lễ cầu cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã mất là cách tỏ lòng tôn kính, thảo hiếu đối với các bậc sinh thành…

Xin Chúa cho chúng con luôn biết hiếu thảo với ông bà tổ tiên cha mẹ và quyết tâm nối tiếp sự nghiệp của các ngài, để luôn luôn làm rạng rỡ dòng họ và làm rực sáng gia phong.

Lạy Chúa là Cha rất nhân từ,

Chúa dạy chúng con phải giữ lòng hiếu thảo.

Hôm nay nhân dịp đầu năm mới,

Chúng con họp nhau để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ.

Xin Chúa trả công bội hậu

Cho những bậc đã sinh thành dưỡng dục chúng con,

Và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với các ngài.(Lời nguyện nhập lễ, lễ Kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ).

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

1. Tại sao lại phải hiếu thảo đối với Ông bà cha mẹ và tổ tiên?

2. Chúa dạy sao về hiếu thảo?

3. Cài bông hồng đỏ trên áo có nghĩa gì?

4. Cài bông hồng trắng trên áo có ý nghĩa gì?

(Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi)

Hôm nay Hội Thánh dành riêng ngày mồng hai tết để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ. Giáo Hội quả thực là người Mẹ rất khôn ngoan dậy con cái đủ điều. Thảo kính cha mẹ và các bậc tổ tiên là việc làm vừa phù hợp với tập tục, truyền thống hiếu thảo của dân tộc Việt Nam, vừa phù hợp với điều răn thứ tư trong thập giới của Chúa, đồng thời thực hiện lời Chúa trong đoạn Tin Mừng Mt 15, 1-6 hôm nay.

CUỘC TRANH LUẬN CỦA PHARISIÊU VỚI CHÚA GIÊSU: Đọc Tin Mừng hôm nay chúng ta nửa khóc nửa cười với các ông Pharisiêu và kinh sư bề ngoài xem ra đạo mạo, đạo đức nhưng bên trong lại toàn dao găm. Họ sống cái vỏ bên ngoài chứ thực ra họ chẳng sống cái lõi của Tin Mừng là bác ái yêu thương. Cuộc tranh luận của nhóm Pharisiêu và các kinh sư xoay quanh vấn đề rửa tay trước bữa ăn để rồi họ muốn tránh điều căn bản nhất là thảo kính cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Kinh sư và Pharisiêu giới hạn việc làm con trong bổn phận thuần túy thế tục, vật chất, một nghĩa vụ vật chất được họ gán cho ý nghĩa tôn giáo, ý nghĩa đạo đức. Đức Giêsu nhắc lại, nói lại với Pharisiêu, với kinh sư và với con người muôn thời:” Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, và kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử” (Mt 15, 4). Rõ ràng, đối với Chúa Giêsu, nghĩa vụ đối với cha mẹ không chỉ dừng lại ở vật chất, nhưng còn đi tới cả nghĩa vụ tinh thần, thái độ đối với cha mẹ, đến nỗi ai nguyền rủa cha mẹ sẽ bị xử tử.

CUỘC SỐNG HÔM NAY VÀ MUÔN THỜI ĐỐI VỚI LỜI DẬY CỦA CHÚA GIÊSU: Ông bà cha mẹ, tổ tiên là những người có công sinh ra, dưỡng dục và xây dựng cuộc đời cho chúng ta. Các Ngài tận tụy dậy dỗ chúng ta sống đời sống làm người, đặc biệt nhờ các Ngài mà chúng ta được biết Chúa và yêu mến Ngài. Công lao của các bậc tiền nhân, ông bà, cha mẹ thật bao la trời biển. Ca dao Việt Nam đã viết:” Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Chữ hiếu đối với chúng ta rất có giá trị hợp với đạo lý làm người. Hiếu là yêu thương. Chúa là tình yêu. Do đó, đạo công giáo chúng ta là đạo yêu thương. Chính vì thế, mà tục ngữ ca dao đã viết rất dí dỏm, nửa khóc, nửa mếu vì nếu khi cha mẹ ông bà còn sống mà chẳng cho ăn, chẳng chăm sóc: vật chất cũng như tinh thần sẽ mang cái tội tầy trời:” Khi sống mà chẳng cho ăn, đến khi thác xuống làm ma tế ruồi “. Cuộc sống của chúng ta hôm nay và mãi mãi đang vấn nạn chúng ta hay đang hạch xét chúng ta về chữ hiếu, về nền tảng của gia dình. Các giá trị của đời sống gia đình hình như bị lung lay khá nhiều, nếu nói được là đang bị giao động đến tận gốc rễ, đến tận cuộc sống của nhiều người, của nhiều gia đình. Ngày nay, có nhiều người định mức cuộc sống bằng việc làm ra vật chất, làm ra của cải. Người ta định mức số tiền, của cải làm ra được bao nhiêu. Người trẻ không thích cha mẹ sống lâu, người già sống thọ. Muốn tiến thân người trẻ phải loại trừ người già vv…Nhiều nước trên thế giới, con cái đưa cha mẹ vào viện dưỡng lão cho xong, vì viện dưỡng lão nhiều tiện nghi vật chất, nhưng lại thiếu thái độ cần thiết nhất là ‘ thờ cha, kính mẹ “. Chính vì thế, con người ngày nay cũng na ná như Pharisiêu và kinh sư tưởng rằng mình biện minh được cho thái độ bất hiếu của mình cũng như nhóm Pharisiêu và kinh sư xưa đã nhân danh lời của tiền nhân để lại. Lời của Đức Giêsu nhắc lại trong đoạn Tin Mừng Mt 15, 1-6 không cho phép ai được biện hộ cho thái độ bất kính, bất hiếu đối với cha mẹ, ông bà tổ tiên, ngay cả khi họ nại ra lý do tôn giáo nữa.

Ngày đầu xuân Giáo Hội nhắc lại cho mỗi người, mọi người sự đáp trả, báo ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên là việc làm rất ư cần thiết. Ngày đầu xuân mới, chúng ta nhớ đến các Ngài. Chúng ta xin lễ, cầu nguyện cho các Ngài, xin Chúa là Đấng từ bi thương xót xóa hết lỗi lầm các Ngài đã trót phạm và mau đưa các Ngài về hưởng nhan thánh Chúa mãi mãi, muôn đời.

Lạy Chúa, xin thương ban thiên đàng cho tất cả những người đã nuôi nấng, lo lắng và giáo dục chúng con. Amen.

(Lm Giuse Nguyễn Hữu An)

Ngày Tết Việt nam luôn có một ý nghĩa gia đình rất sâu đậm. Dù đi đâu xa người ta vẫn cố gắng về quê ăn Tết. Ngày xuân gia đình đoàn tụ, con cái chúc tuổi cha mẹ, học trò chúc tuổi thầy cô, kẻ dưới chúc tuổi người trên, bà con bạn bè thăm viếng nhau. Ngày Tết mọi người được liên kết trong niềm vui yêu thương chia sẽ. Ngày Tết còn liên kết người sống với người chết, hiệp thông con cháu với tổ tiên ông bà cha mẹ đã qua đời. Nhiều người có thói quen đi tảo mộ những ngày trước Tết. Người ta tin rằng dịp đầu năm ông bà tổ tiên về sum họp với con cháu. Niềm tin đó có tác dụng tích cực giúp người sống luôn nhớ tới cội nguồn, sống hiếu thảo, ăn ở xứng đáng với dòng tộc của mình.

Người Việt nam rất trọng lễ giáo,coi trọng sự bền vững gia đình với những tôn ti trật tự,với cung cách ứng xử theo mỗi bậc người.Theo đó người Việt nam có nét đặc trưng trong cách thức chào hỏi,xưng hô giao tiếp mà những ngôn ngữ của các dân tộc khác dù văn minh cũng không có được.Linh mục F. Buzomi,dòng Tên,nhà truyền giáo đã đặt chân lên đất Việt nam khá sớm vào ngày 18.1.1615, có nhận xét chí lý: “Nhờ Khổng giáo,xã hội và gia đình Việt nam đã có một tổ chức rất cao,người dân Việt nam có những đức tính,phong tục rất đáng khâm phục,nó đã giúp rất nhiều vào công việc truyền giáo”(Nguyễn Hồng “Lịch sử truyền giáo ở Việt nam”, Sài gòn 1959, tr.55).

Trong lễ giáo thì ân nghĩa là đầu tiên.Tôn kính tổ tiên là một cách tỏ ân nghĩa đối với các vị tiên nhân,ông bà cha mẹ.Lúc ông bà cha mẹ còn sống,con cháu phải kính mến, phụng dưỡng các ngài thì lòng phải vui,vâng lời chiều ý các ngài, ăn ở sao cho các ngài hài lòng. Khi các ngài qua đời,lo an táng tử tế,con cháu thờ kính, giỗ chạp hàng năm. Khi tam giáo (Phật, Khổng, Lão) chưa du nhập Việt Nam thì người Việt đã biết kính thờ tổ tiên, trọng kính cha mẹ, thương yêu anh, chị, em và hầu như mọi gia đình đều lập bài vị ông bà, cha mẹ để thờ cúng. Những ngày giỗ kị thì thắp nhang, dâng hoa quả, cơm nước đặt trên bàn thờ để mong ông bà, cha mẹ (những người đã khuất) về hưởng. Nhà nghèo nhất cũng có chén cơm trắng với quả trứng luộc dâng lên với tất cả lòng thành. Tuy người đã khuất không hưởng được, nhưng lễ nghi ấy lại cần thiết để giáo hóa con cái để sau này chúng cũng nhớ đến ông bà, cha mẹ như vậy. Người Việt vốn hiền hoà, tình cảm, lại chung sống cộng đồng với nhau, suốt đời quanh quẩn bên luỹ tre làng; cho nên dù sống, dù chết, họ vẫn gần gũi bên nhau, ấm áp tình người. Việc thờ cúng tổ tiên là mạch nước ngầm trong mát vẫn mãi nuôi sống và nối kết những tâm hồn Việt Nam giàu tình trọng nghĩa.

Mỗi người Việt nam đều có một đạo rất gần gũi,đó là Đạo Ông Bà hay Đạo Hiếu.Trong mỗi gia đình người Việt,dù sang hay hèn cũng dành một nơi trang trọng nhất để đặt bàn thờ gia tiên.Ông bà cha mẹ dù có khuất đi nhưng vẫn luôn hiện diện gần gũi với con cháu.Những ngày đầu tháng,ngày rằm,ngày tết,gia đình làm mâm cơm cúng ông bà.Tấm lòng của con cháu tỏ bày lòng hiếu kính biết ơn.Mỗi khi trong gia đình có việc gì quan trọng như dựng vợ gã chồng cho con cái,hoặc con cái thi cử đổ đạt…cha mẹ đều dẫn con cái đến trước bàn thờ gia tiên để trình diện với các ngài,bày tỏ mọi việc để các ngài chứng giám.(x.Gia đình Việt nam,mãnh đất phì nhiêu cho hạt giống Tin mừng, Thời sự thần học số 32 tháng 06/03).

Đạo Hiếu là cốt tuỷ của nền văn hoá Á châu trong đó có Việt nam.Hiếu là gốc của đức.Người ta có 100 nết nhưng hàng đầu vẫn là Hiếu.Chưa từng có người nào hiếu thảo lại bất trung,cũng như chưa từng có người hiếu thảo nào lại bất nhân.

Cốt lõi của Hiếu bắt đầu bằng: tôn kính cha mẹ lúc còn sống,thờ phượng cha mẹ lúc qua đời.Biết ơn cha mẹ phải được nói lên bằng đạo hạnh,bằng thờ cúng tổ tiên.Đó là nhiệm vụ thiêng liêng,là phẩm chất tối cao của con người.

Việc hiếu lễ từ ngàn xưa đã in sâu vào tâm linh mỗi người.Dân tộc Việt nam từ nam chí bắc dù ai theo tín ngưỡng nào,dù có bài bác thần linh nhưng với ý niệm “Cây có cội,nước có nguồn” đều coi trọng gia lễ.

Ca dao đã đúc kết lòng hiếu nghĩa ấy:

Cây có gốc mới nở ngành sanh ngọn.

Nước có nguốn mới bể rộng sông sâu.

Người ta có gốc từ đâu.

Có cha có mẹ rồi sau có mình.

Đạo Hiếu chính là đạo của lòng biết ơn.Biết ơn trời đất,biết ơn tổ tiên ông bà cha mẹ.Ơn cha nghĩa mẹ sinh thành,ơn chín chữ,đức cù lao,ơn võng cực biển trời “Ai ai phụ, mẫu sinh ngã cù lao,dục báo chi đức,hạo thiên võng cực”. Cha mẹ sinh ra ta,nâng đỡ ta từ cung lòng,vỗ về âu yếm,nuôi dưỡng bú mớm,bồi bổ cho lớn khôn,dạy ta điều hay lẽ phải,dõi theo mỗi bước đường đời của ta,tuỳ tính tình mỗi đứa con mà khuyên dạy,che chở bảo vệ con.Ơn đức cha mẹ như trời biển “Công cha như núi thái sơn,nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Đạo Hiếu là nền tảng văn hoá gia đình Việt nam.Người Việt yêu chuộng những gì là tình,là nghĩa,coi tình nghĩa hơn lý sự “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”;chấp nhận “bán anh em xa mua láng giềng gần”; thích “dĩ hoà vi quý”, độ lượng “chín bỏ làm mười”;quý trọng con người,không tôn thờ của cải “người là vàng,của là ngãi;người làm ra của chứ của không làm ra người”; mong muốn anh em bốn biển một nhà “tứ hải giai huynh đệ”;đề cao tinh thần khoan dung “đánh kẻ chạy đi,ai đánh người chạy lại”. Đỉnh cao của lòng nhân ái là “thương người như thể thương thân”.

Gia đình Việt nam có nhiều thế hệ sống với nhau “tứ đại đồng đường”. Người Việt quan niệm “một mẹ già bằng ba hàng dậu”. Cha mẹ già không còn lo việc đồng áng,ở nhà chăm nom giữ cháu.Bầu khí gia đình luôn ấm cúng. Tuổi thơ con trẻ được ươm đầy tiếng ầu ơ của bà,câu chuyện cổ tích của ông.Từ lúc chưa rời vành nôi, trẻ thơ đã được trau dồi cái nhân cái nghĩa. Khi lớn lên, con cái lập gia thất,cha mẹ cho miếng đất dựng căn nhà,con cháu sum vầy bên ông bà cha mẹ,tối lửa tắt đèn có nhau.Chính gia sản tinh thần gia đình là chất keo nối kết tầm hồn con người lại để rồi ai ai cũng cảm thấy “quê hương mỗi người chỉ một….đi đâu cũng phải nhớ về” (Quê hương,Đỗ trung Quân). Dù đi học xa,đi làm xa,đi đâu xa cũng phải về với gia đình sum họp những ngày cuối năm,ngày đầu năm.Ngày Tết là những ngày thiêng liêng ấm áp tình gia đình.Con cháu quy tụ chúc Tết với cử chỉ thành kính chắp tay chào lạy,dâng quà lễ mừng thọ.

Gia đình Việt nam là môi trường đào tạo con người toàn diện,tỉ mỉ và hiệu lực nhất.Dưới mái trường này,con người được đào tạo cả về kiến thức,tâm hồn,tư duy,nhân cách,lối sống để rồi có đủ bản lãnh và khả năng bước vào đời sống xã hội.Gia đình là nơi đào tạo căn bản nhất lòng đạo đức,giúp phát triển cái tài,nhân rộng cái đức cho con cái vào đời.

Đạo Hiếu chính là sợi chỉ vàng nối kết mọi người,mọi sinh hoạt gia đình.Đạo Hiếu làm nên bản sắc văn hoá người Việt. Như thế, tâm thức dân Việt rất gần với Tin mừng Đạo Chúa.Điều răn thứ bốn dạy thảo kính cha mẹ được đặt ngay sau ba điều răn về Thiên Chúa đủ nói lên tính cách quan trọng của nó.Sách Giảng Viên dạy: “thảo kính cha mẹ là thảo kính Chúa,tôn kính cha mẹ là tôn kính Chúa”.Chính Chúa Giêsu là mẫu mực hiếu thảo với Cha,yêu mến Cha,vâng ý Cha,luôn làm đẹp lòng Cha.Chúa Giêsu đã lên án bọn người lấy cớ để tiền của dâng cúng vào đền thờ mà trốn tránh bổn phận giúp đỡ cha mẹ. Đạo Chúa cũng là Đạo Hiếu.Hiếu với cha mẹ,đấng bậc sinh thành dưỡng dục.Hiếu với Thiên Chúa và thờ phượng Người,Đấng sáng tạo muôn loài,dựng nên con người giống hình ảnh Người.Như vậy Đạo Chúa cũng chỉ gồm chữ Hiếu.Thờ lạy Thiên Chúa là chân nhận Người chủ tể muôn loài,con người có bổn phận tôn vinh thờ phượng tỏ bày lòng hiếu thảo.Đối với tha nhân,Đạo Chúa dạy phải sống hiếu,phải thể hiện hiếu.Điều răn trọng nhất “kính Chúa,yêu người” là điều răn của Đạo Hiếu.Không một tôn giáo nào khai triển Đạo Hiếu cho bằng Đạo Chúa.Hiếu với Chúa,hiếu với tha nhân,đặc biệt hiếu với tổ tiên ông bà cha mẹ.Vì hiếu với Chúa nên phải tu thân tích đức để làm vui lòng Chúa,xứng đáng làm con cái của Người.Vì hiếu với ông bà cha mẹ nên phải sống đạo làm con,giữ nề nếp gia phong lễ nghĩa,làm vinh dự cho gia đình,gia tộc.

Chính từ tổ tiên ông bà cha mẹ mà người Việt nam có thể tìm đến với Đấng là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất.Đạo Hiếu là một điểm tựa,một bước đi khởi đầu thuận lợi,một lối đi dễ dàng,gần gũi,một mãnh đất phì nhiêu để đưa con người vào Đạo Chúa.Loan báo Tin mừng của Đạo Chúa chính là làm sáng lên những nét tinh tuý tiềm tàng trong mỗi nền văn hoá.Đối với môi trường gia đình Việt nam,đó chính là “minh minh đức”,làm sáng cái đức sáng trong môi trường gia đình. Tin mừng chính là nguồn nước thẩm thấu qua mọi lớp ngăn văn hóa và tôn giáo, Tin mừng là ánh sáng các dân tộc (LG), là ánh sáng trần gian (Ga 8,12). Tin mừng và văn hóa giao thoa và hoà điệu với nhau. Phụng vụ Giáo hội dành ngày Mồng Hai Tết để cầu cho tổ tiên. Hằng ngày trong mọi thánh lễ, Giáo hội đều có lời cầu nguyện cho ông bà tổ tiên.

Đạo Chúa dạy, có một Cha trên trời mà con người phải tôn kính hiếu thảo;dạy yêu thương nhau “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”;dạy sống chan hoà,bình dị “anh em hãy học cùng tôi vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”,dạy yêu quý sự sống “Tôi đến để chiên được sống và sống dồi dào”.Tin mừng làm sáng lên những giá trị sáng ngời có sẵn trong môi trường văn hoá Việt nam,mang đến cho các giá trị văn hoá ấy chiều kích siêu việt,chiều kích cứu độ. (Quốc Văn,OP).

Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận đã đề cao vai trò gia đình,lòng thảo hiếu của con cái “chủng viện thứ nhất,đệ tử viện thứ nhất,trường sư phạm thứ nhất là gia đình công giáo.Không vị giám đốc tài ba,chuyên môn đến đâu có thể thay thế cha mẹ được.Nếu cơ sở bậc nhất ấy bị hỏng,tương lai Hội thánh và xã hội nhân loại cũng rung rinh sụp đổ.Đức Gioan XXIII biên thư cho cha mẹ ngày ngài được ngũ tuần: “Thưa thầy mẹ,hôm nay con được 50 tuổi.Chúa thương ban cho con nhiều chức trong Hội thánh,đi nhiều nơi,học nhiều sách,nhưng không trường nào dạy dỗ con,làm ích cho con hơn hồi con được ngồi trên chân thầy mẹ” (ĐHV 505).

Tinh thần hiếu hoà,lòng thảo hiếu của người Việt là điểm son đậm đà bản sắc dân tộc.Tin mừng bén rễ sâu vào nền văn hoá ấy làm xanh lên chồi lộc sự sống tình yêu rồi kết thành hoa trái tốt lành cho con người và cuộc đời.

(Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi)

Truyền thống dân tộc Việt Nam quả rất cao quí khi ông bà tổ tiên, cha mẹ luôn được mọi người kính yêu, hiếu thảo. Tuy nhiên, Hội Thánh Việt Nam luôn dành ngày mồng hai tết để con cái cháu chắt tưởng nhớ tới tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Giáo Hội luôn cho con cái hiểu rằng việc hiếu thảo có giá trị rất cao và là một trong những điều Chúa dạy. Bởi vì, trong mười điều răn của Chúa, giới răn thứ bốn:” Hãy thảo kính cha mẹ ” là một giới răn được xếp trong mười điều Chúa dạy bảo. Chính vì thế, hôm nay, con cái của Chúa dâng thánh lễ này để cầu nguyện cho ông bà tổ tiên, cha mẹ là một điều thích hợp, phải lẽ đồng thời cũng rất hợp với lời dạy của Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng của thánh Matthêu 15, 1-6.

Ngược lại với quan niệm, suy nghĩ của dân Do Thái, đặc biệt là các Kinh sư, Pharisêu về vấn đề báo hiếu, Chúa Giêsu luôn đề cao việc hiếu thảo đối với ông bà tổ tiên, cha mẹ, các bậc sinh thành, dưỡng dục. Kinh sư và Pharisêu cho rằng theo lời của tiền nhân thì tất cả những gì họ làm cho cha mẹ đều là tế phẩm dâng lên Thiên Chúa,do đó, họ làm như thế là đủ rồi, là tròn bổn phận và trách nhiệm rồi, không cần phải thờ cha kính mẹ nữa. Họ giới hạn bổn phận và nghĩa vụ dựa trên vật chất, và họ gán cho nó tính chất đạo đức. Đối với Chúa Giêsu, Ngài nói cho các Pharisêu, các Kinh sư và mọi người biết rằng:” Phải thảo kính cha mẹ…” theo đúng giới răn thứ bốn trong thập giới của Thiên Chúa đã trao cho ông Môsê:” Thảo kính cha mẹ “. Chúa nói :” Kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử “. Chúa Giêsu mở ra cho thế giới, cho con người, cho mỗi người một chân trời mới về nghĩa vụ và bổn phận đối với các bậc sinh thành. Vật chất cần thật nhưng tấm lòng, con tim, tinh thần còn có giá trị cao vời hơn. Thật vậy, xưa cũng như nay, vấn đề hiếu thảo đối với các bậc sinh thành luôn được đặt ra với nhiều quan niệm và suy nghĩ khác nhau. Ngày nay, tại nhiều đất nước, việc truyền bá tự do luôn được đề cao, nhiều nơi xem sự tự do là chính mà quên đi giá trị đạo đức. Do đó, giá trị truyền thống hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ bị coi nhẹ. Nhiều nước, luật pháp bảo vệ tự do quá đáng: cha mẹ không được nói nặng tới con cái, chứ chưa nói tới quát nạt, to tiếng hay đánh sửa dạy. Nhiều nước, con cái tới 18 tuổi được luật pháp bảo hộ theo ý của mình. Cha mẹ luôn phải dè chừng với con cái. Nên, giá trị đạo đức bị lung lay: con cái muốn làm gì thì làm.Luân lý bị coi nhẹ. Cha mẹ được xem như gánh nặng đối với con cái. Con cái thích tự lập, ở riêng. Người già đã có nhà xã hội, nhà dưỡng lão vv…Việc hiếu thảo đối với cha mẹ được xem nhẹ. Cha mẹ già thường cảm thấy cô đơn, buồn tủi.Có người đã nói cay chua, mỉa mai:” Ước gì mình được con cái chăm sóc như con chó mà con mình đang nuôi “. Đó là sự thực nhưng sự thực thật cay đắng và mỉa mai.Thiết tưởng, mọi gia đình phải nhìn vào mẫu của gia đình thánh Giuse, Mẹ Maria và Chúa Giêsu để noi gương bắt chước. Chúa là Chúa nhưng làm người, Ngài luôn vâng lời, tuân phục và sống thảo hiếu với cha mẹ của mình.

Dân tộc Việt Nam luôn còn giữ được truyền thống thảo hiếu và giáo dân Việt Nam còn biết lắng nghe lời Chúa và thực hành lời Chúa. Do đó, nghĩa vụ, bổn phận đối với các bậc sinh thành, tổ tiên luôn được trân trọng giữ gìn.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng mến cho chúng con để chúng con luôn biết thảo hiếu với tổ tiên, cha mẹ: sống thì thăm hỏi, giúp đỡ, nuôi dưỡng, khi các Ngài khuất bóng thì biết xin lễ, cầu nguyện và làm những việc phúc đức dâng cho cha mẹ, tổ tiên. Amen.

Lời Chúa trong đoạn Tin Mừng trên cho thấy, cuộc đụng độ giữa Chúa Giêsu và những người lãnh đạo Do Thái. Trọng tâm chính của lần này, không phải là cuộc chạm trán trực tiếp có tính cách cá nhân giữa Chúa Giêsu và các rapbi nữa, nhưng là sự đụng độ giữa hai quan niệm về những đòi hỏi của Thiên Chúa, hai hình thức giữ luật. Các luật sĩ thắc mắc: “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân?…” Chúa Giêsu trả lời họ cũng bằng một câu hỏi: “Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa?”

Theo người Do Thái, quan niệm về những đòi hỏi của Thiên Chúa được ghi trong luật. Luật gồm hai phần: Luật thành văn là luật Chúa chứa đựng trong Kinh Thánh, và luật truyền khẩu được các kinh sư triển khai qua nhiều thế hệ, và được xem như là truyền thống của tổ tiên. Luật này có tính cách bắt buộc tuân giữ, nếu không muốn nói là hơn cả luật thành văn. Đối với người Do Thái, tất cả những luật truyền thống là lệnh truyền của Chúa, thực thi những điều luật truyền thống là làm vừa lòng Chúa, là trở nên một người công chính. Tuân giữ luật Chúa là tuân thủ những luật lệ, những nguyên tắc và những lễ nghi bề ngoài, nghiêm ngặt phần hình thức như “rửa tay trước khi ăn”, “dâng lễ phẩm cho Chúa thay thế sự hiếu kính cha mẹ”.

Đối với Chúa Giêsu, quan niệm về những đòi hỏi của Thiên Chúa được thể hiện lớn nhất bằng luật yêu thương. Ngài xem giữ luật là một cảm nghiệm sống ở trong lòng, một biểu hiện liên đới, nhân từ, vượt trên hình thức, là tấm lòng trong sạch và đời sống yêu thương.

Hôm nay, Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi của Pharisêu và các kinh sư cách trực tiếp. Nhưng Ngài lấy một ví dụ về việc thực hành luật truyền khẩu để cho họ thấy, chẳng những đây không phải là luật Chúa mà còn có thể đi ngược lại Luật Chúa. Luật Thiên Chúa đã đặt ra là phải “hiếu thảo với cha mẹ của mình”. Nhưng những người Do Thái lại nói: “Những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi”. Những người Do Thái này, đã dùng nghi lễ bề ngoài, để thoái thác một bổn phận căn bản là hiếu kính cha mẹ. Họ đã lấy quy ước của các kinh sư để xóa bỏ đi điều răn của Thiên Chúa.

Quý vị và các bạn thân mến,

Hôm nay ngày mùng hai Tết, Giáo Hội Việt Nam dành để nhắc nhở mọi thành phần dân Chúa về lòng hiếu thảo, biết ơn tổ tiên – ông bà – cha mẹ. Trong 10 điều răn Chúa truyền dạy, sau ba điều dành cho Thiên Chúa thì đến điều thứ tư dành cho ông bà, cha mẹ. Thánh Phaolô đã làm cho điều răn thứ tư này mạnh mẽ hơn khi nói: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: Để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này (Ephêsô 6,1-3)”.

Vâng, thảo kính cha mẹ không phải là chuyện gởi những món quà to, nhưng lỡi tết nặng, nhưng thảo kính cha mẹ là về bên các ngài trong những ngày nghỉ, thăm hỏi, chăm sóc, hiện diện, an ủi, đỡ đần và yêu thương. Thảo kính cha mẹ không phải là chuyện khoe thành tích, cũng chẳng là chuyện dâng cúng ít nhiều, nhưng là biết vâng nghe nhưng lời dạy dỗ bảo ban; biết kính trên nhường dưới; biết ghi lòng tạc dạ đền đáp công ơn:

Công cha như núi ngất trời,

Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.

Núi cao biển rộng mênh mông,

Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!

Lời Chúa hôm nay mạnh dạn nhắc nhở, không thể có một sự thỏa hiệp nào giữa hai quan niệm luật hình thức và luật yêu thương; không thể san bằng nghi thức bên ngoài với lệnh truyền của Chúa. Những kinh sư đã lẫn lộn mọi luật lệ của Chúa với những nguyên tắc bên ngoài, và họ đã biến những nguyên tắc ấy thành một thứ luật mà họ coi là điều Thiên Chúa đòi hỏi cho riêng họ.

Thảo kính cha mẹ là điều Thiên Chúa muốn, Giáo Hội nhắc nhở, đạo làm người mong khắc ghi:

Đố ai đếm được lá rừng,

Đố ai đếm được mấy từng trời cao,

Đố ai đếm những vì sao,

Đố ai đếm được, công lao mẹ thầy.

Xin chúc lành cho cha mẹ của chúng con.

Xin ban muôn ơn lành hồn xác cho các ngài.

Xin chúc phúc cho những người con thảo hiếu như Chúa đã hứa.

Giáo hội dành ngày mùng hai tết để cầu nguyện cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ, và cũng là để nhớ đến công ơn của các ngài. Giáo hội nhớ đến và cầu nguyện cho các ngài là bởi vì, tổ tiên, ông bà, cha mẹ là những người có công sinh thành, dưỡng dục và xây dựng cuộc đời cho chúng ta. Các ngài tận tụy dậy dỗ mình sống đời sống làm người, và đặc biệt nhờ các ngài mà mình được biết Chúa và yêu mến Ngài. Công lao của các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ thật bao la trời biển.

“Công cha như núi Thái Sơn.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Quả thật, truyền thống cha ông chúng ta rất coi trọng chữ hiếu. Chính vì vậy mà để đánh giá tư cách của một người nào, các cụ ngày xưa thường dựa vào cách người đó đối xử với cha mẹ của mình như thế nào. Thậm chí, các cụ coi việc báo hiếu còn quan trọng hơn cả việc đi tu:

“Tu đâu cho bằng tu nhà,

thờ cha kính mẹ, ấy là chân tu”.

Và hơn nữa, đối với người kitô hữu, việc thảo kính cha mẹ không chỉ là một bổn phận tự nhiên, nhưng còn là một đòi hỏi của Thiên Chúa. Nhìn lại bản thập giới, ngay sau ba giới răn nói về bổn phận của con người đối với Thiên Chúa, thì giới răn “thảo kính cha mẹ” được đặt đầu tiên trong các giới răn nói về mối tương quan của con người với nhau.

Trong bài đọc thứ hai, thánh Phaolô cũng nhắc: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo”.

Và đặc biệt trong bài Tin mừng, Đức Giêsu nhắc lại với Pharisiêu, với kinh sư và với con người mọi thời rằng: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, và kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử”. Rõ ràng, đối với Chúa Giêsu, việc hiếu thảo đối với cha mẹ là điều hết sức quan trọng và là bổn phận hàng đầu của mỗi người kitô hữu.

Như thế, việc thảo kính cha mẹ không còn tùy thuộc vào ý thích cá nhân, nhưng đó là thánh ý của Thiên Chúa, đó là lệnh truyền của Thiên Chúa, và đó là đòi buộc của Thiên Chúa.

Ngày đầu xuân Giáo hội nhắc lại sự đáp trả, báo ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên là việc làm rất ư cần thiết. Thế nhưng, ta phải có những thái độ nào, phải có những cách hành xử như thế nào, để đạo “thờ cha, kính mẹ” cho phù hợp với thánh ý Thiên Chúa? Đó có phải chỉ là cấp tiền nuôi dưỡng cha mẹ? Hay đó có phải chỉ là đến ngày, đến tháng vào xin một thánh lễ cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên là xong?

Trong sách xưa có một bài về đạo hiếu rất hay và cũng phù hợp với tinh thần Kitô giáo:

“Hiếu hữu tam:

Đại hiếu tôn thân

Kỳ thứ phất nhục

Kỳ thứ năng dưỡng”

Đạo hiếu có ba điều:

Hiếu lớn nhất là tôn vinh cha mẹ

Hai là không làm nhục cha mẹ mình

Ba là có thể nuôi dưỡng cha mẹ mình.

Vậy, thế nào là tôn vinh cha mẹ? Thế nào là không làm nhục cha mẹ? Và thế nào là dưỡng nuôi cha mẹ mình?

Theo quan niệm của Kitô giáo, thì sự tôn vinh cha mẹ ở cấp độ cao nhất đó là sự tôn vinh cha mẹ, làm rạng rỡ cha mẹ ở trước mặt Thiên Chúa. Niềm vinh dự lớn lao của cha mẹ đó là được tôn vinh trước mặt Thiên Chúa. Thành ra, người có hiếu lớn nhất đó là người sống ngay lành, làm điều tốt trước mặt Thiên Chúa: sống theo thánh ý Chúa, sống theo luật Chúa đó là tốt nhất. Do đó khi sống đạo tốt, đó là mình thể hiện cái hiếu lớn nhất đối với cha mẹ.

Mặt khác, tôn vinh cha mẹ không chỉ trước mặt Thiên Chúa mà còn là tôn vinh, làm rạng danh cha mẹ trước mặt người đời. Mình không thể nói là có hiếu với cha mẹ khi mà đời sống của mình bê bối đủ điều. Mình không thể nói là có hiếu nếu mình cứ sống một cuộc sống mua gian bán lận, một cuộc sống thiếu yêu thương bác ái đối với người khác, một cuộc sống muốn loại trừ những người khác. Do đó, cái hiếu đối với cha mẹ, đó còn là việc thể hiện một đời sống tốt trước mặt người đời. Bởi vì khi mình sống tốt trước mặt người đời là mình đang làm rạng danh, đang tôn vinh cha mẹ mình.

Hơn thế nữa, cái hiếu lớn nhất là tôn vinh cha mẹ, không chỉ là tôn vinh cha mẹ trước mặt Thiên Chúa và tôn vinh cha mẹ trước mặt người đời, nhưng còn là thể hiện cái hiếu qua việc tôn vinh cha mẹ trước mặt chính mình. Tôn vinh cha mẹ trước mặt chính mình đó là khi mình biết vâng lời cha mẹ, tôn kính cha mẹ. Do đó, mình không thể nói là có hiếu trong khi mình cứ luôn cãi lời cha mẹ, không biết tôn kính cha mẹ.

Trước hết chúng ta xét đến tương quan với Thiên Chúa, đó là đừng làm nhục cha mẹ trước mặt Thiên Chúa. Nghĩa là, khi xa lánh tội lỗi, không làm điều xấu đó là mình thể hiện cái hiếu đối với cha mẹ. Chúng ta không thể là người có hiếu nếu cứ sống trong tình trạng lầm lạc, trong những đam mê, những thú vui tội lỗi. Khi chúng ta phạm tội đó là mình đang làm nhục cha mẹ trước mặt Thiên Chúa, và như thế thì không thể nói là mình đang sống trọn chữ hiếu với cha mẹ được. Và chúng ta không chỉ đừng làm nhục cha mẹ trước mặt Thiên Chúa mà còn không làm nhục cha mẹ trước mặt người đời. Mình đừng để cho người đời vì mình mà chửi cha mẹ mình. Con cái đi làm điều bậy bạ để rồi cha mẹ phải lãnh lấy hậu quả, bị người đời coi thường, khi đó chúng ta không thể là người sống có hiếu được.

Nuôi dưỡng hay chu cấp cho cha mẹ ở đây không chỉ là về những nhu cầu vật chất nhưng là còn về tinh thần.

Trước mặt Thiên Chúa, mình cầu nguyện cho cha mẹ đó là nuôi dưỡng cha mẹ. Khi cha mẹ còn sống hay đã qua đời, lời cầu nguyện của chúng ta cho cha mẹ thể hiện lòng hiếu thảo đối với cha mẹ.

Trước mặt người đời, người có hiếu là người có thể phụng dưỡng cho cha mẹ về vật chất cũng như tinh thần, đem lại niềm vui, đem lại niềm hạnh phúc cho cha mẹ.

Như vậy, cái hiếu lớn nhất của mỗi người đó là tôn vinh cha mẹ, làm rạng danh cha mẹ trước mặt Thiên Chúa, trước mặt người đời và trước mặt chính mình.

Cái hiếu thứ hai đó là không làm nhục cha mẹ trước mặt Thiên Chúa, không làm nhục cha mẹ trước mặt người đời.

Cái hiếu thứ ba đó là nuôi dưỡng cha mẹ, phụng dưỡng cha mẹ trước mặt Thiên Chúa, trước mặt người đời.

Làm được như thế đó là mình sống trọn lòng hiếu thảo đối với cha mẹ như lòng Chúa mong muốn.

Lắng nghe lời Chúa trong ngày đầu năm này, ước gì mỗi người một lần nữa ý thức hơn về những hồng ân Thiên Chúa đã ban cho mình qua ông bà cha mẹ, để hết lòng tri ân và cảm tạ các ngài. Đồng thời, đây cũng là cơ hội thuận tiện để mình duyệt xét lại lòng thảo hiếu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Việc thảo kính này, không chỉ là dâng một ít quà hay một lời cầu chúc trong ngày đầu năm, nhưng lòng thảo hiếu này, cần được kéo dài trong suốt cuộc đời mỗi người.

Xin Chúa cho mỗi người có được lòng mến yêu, có được một tinh thần thảo hiếu, để chúng ta có thể luôn biết thể hiện lòng hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà cha mẹ.

Suy niệm Tin Mừng Mt 15, 1 – 6

HÒA HỢP VỚI MỌI NGƯỜI

( Nhân – Nhân giao hòa )

Ngày Mồng Hai Tết được Lịch Công Giáo Việt Nam gọi là ngày “Kính Nhớ Tổ Tiên, Ông Bà Cha Mẹ”. Nhiều người muốn biến ngày này thành ngày cầu nguyện cho vong hồn tổ tiên ông bà cha mẹ, có lẽ xuất phát từ việc hiểu lầm chữ “kính nhớ”. Theo quan niệm Nhân Hòa trong văn hóa Việt, “Nhân” đây gồm cả người sống lẫn kẻ chết, người thân cận cũng như kẻ xa lạ, và kính nhớ hay tôn kính được hiểu như kiến tạo một tương quan hòa hợp với hết mọi người, bắt đầu từ Cận Nhân, điển hình là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, còn sống hay đã khuất núi. Đây là nền tảng của “đạo hiếu”, không chỉ được hiểu hạn hẹp như thảo hiếu đối với ông bà cha mẹ ( nhất là khi đã qua đời ) mà thôi, nhưng còn là hiếu với đồng bào, với dân nước, và xa hơn nữa là hiếu hay thuận thảo với toàn thể bàn dân thiên hạ ( Nhân Hòa ).

Văn hóa Do Thái còn khá xa vời với khái niệm “nhân hiếu” này. Trong cuộc tranh luận về truyền thống với nhóm Pharisêu và các kinh sư, Đức Giêsu chỉ mới đề cập tới và chỉnh sửa một phần nhỏ cái mối tương quan xã hội đa diện vốn có nơi các thính giả Do Thái. Giới luật Cựu Ước chỉ qui định “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ”, hiểu là khi các ngài còn sống chứ không đề cập chi tới khi các ngài đã khuất bóng. Ấy thế mà các kinh sự luật sĩ vẫn viện những lý lẽ này nọ để lướt qua: “Ai nói với cha mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa”. Rõ ràng cái tối thiểu của chữ Hiếu chữ Nhân họ còn chưa có nữa là. Chả trách sự hiểu biết “nhân hiếu” của họ thật quá hạn hẹp. Nếu họ có mở rộng nó ra hơn một chút nữa thì cùng lắm cũng chỉ tới bạn bè thân quen, “… yêu thương những kẻ yêu thương mình” ( Mt 5, 46 ).

Trong cái văn hóa Nhân Hòa, hồn Việt có khả năng hiểu sâu hơn các điều mà Đức Giêsu trong chương 5 Phúc Âm theo Thánh Mátthêu gọi là “kiện toàn Luật Môsê”, như đừng giận ghét, chớ ngoại tình, đừng thề thốt, chớ trả thù và nhất là yêu thương kẻ thù. Thiết tưởng bác ái của Tin Mừng, nếu phải diễn tả trong văn hóa thuần Việt, sẽ là đưa Nhân Hòa lên tới tột đỉnh và mở rộng nó ra, thoát khỏi mọi biên cương giới hạn của lòng dạ con người.

Tin Mừng đồng thời cũng cống hiến cho Hồn Việt phương thế để thực hiện được cái lý tưởng Nhân Hòa đầy thử thách và cam go, thay vì chỉ mãi mãi là một mơ ước thanh tao cao đẹp trong những ngày đầu năm mới. Cái “hòa” mà Tin Mừng cống hiến không phải là vắng bóng các đố kị căng thẳng, tranh chấp chia rẽ, nhưng đúng là giao hòa dựa trên Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa. Đức Giêsu Kitô thập giá chính là “Nhân Hòa” đầu tiên của toàn lịch sử nhân loại khi Người không những giao hòa Trời với Đất mà còn giữa người với người. “Lạy Cha, xin tha cho họ !” ( Lc 35, 34 ).

Thánh Phaolô đã triển khai tư tưởng hòa giải này trong chương 5 thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô, trong khi Thánh Gioan đã dùng nó làm nền cho lời kêu gọi xây dựng Nhân Hòa giữa các tín hữu và với hết mọi người, “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối…” ( 1Ga 4, 20… )

Như vậy, nếu trong ngày mồng Hai Tết người Công Giáo Việt Nam có cử hành bất cứ nghi lễ hay tập tục nào để kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ mình ( còn sống hay đã qua đời ) thì cái tâm của họ phải rộng mở hướng về mọi người. Chính sự rộng mở này sẽ giúp họ trong năm mới càng chấp nhận và triển khai Tin Mừng bác ái yêu thương của Đức Kitô cách sâu sắc và triệt để hơn. Họ thâm tín rằng: nhờ niềm tin vào Ơn Cứu Độ giao hòa của Đức Kitô, chính họ sẽ trở thành tác nhân có khả năng biến niềm mơ ước mãnh liệt nhất của dân Việt, và của toàn nhân loại, trở thành hiện thực: “Tứ hải giai huynh đệ”.

Lạy Đức Kitô – Đấng giao hòa, trên thập giá Chúa không chỉ giao hòa nhân loại với Thiên Chúa ( Thiên – Nhân ) và còn giao hòa nhân loại chúng con với nhau ( Nhân – Nhân ). Trong ngày đầu xuân này, xin giúp con khởi động trở lại tiến trình giao hòa với mọi người, bắt đầu từ những người thân cận nhất là Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ của con, còn sống hoặc đã qua đời. Xin cho việc kính nhớ các ngài càng thôi thúc con sống Tin Mừng cứu độ của Chúa cách trọn vẹn và quảng đại hơn trong mối tương quan với hết mọi người trong suốt năm Quí Tỵ này. Amen.

I. Công ơn của Tổ tiên Ông Bà cha mẹ thật không sao mà kể cho hết, như trời như biển. Công cha chẳng khác gì núi Thái – Nghĩa mẹ chẳng khác gì như nước trong nguồn.

Ngày xưa Đức Phật đã dạy các đệ tử: “Trên đời này có hai người mà ta không thể trả hết ơn được là cha và mẹ ta. Dù có cõng cha mẹ trên vai suốt cả trăm năm cuộc đời, hay có tán xương lóc thịt để làm thức ăn cho cha mẹ cả trăm ngàn kiếp, cũng chưa đáp đền được công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, vì công ơn cha mẹ to lớn lắm” (Kinh Vu Lan).

II. Nếu công ơn của tổ tiên Ông Bà Cha mẹ lớn lao như thế thì con cái phải làm gì để đền đáp?

Trong bức tâm thư gửi các gia đình nhân dịp năm quốc tế gia đình năm 1994 số 18 Đức Thánh Cha Gioan Phao-lô đã viết như sau: “Hãy thảo kính cha mẹ bởi vì theo một nghĩa nào đó, các vị ấy đối ngươi là những người đại diện của Chúa, những người dẵ ban tặng sự sống cho ngươi, đã đưa ngươi vào cõi sống nhân linh, vào trong một dòng dõi, một quốc gia, một nền văn hóa. Sau Thiên Chúa các vị ấy là những ân nhân đầu tiên của ngươi. Nếu chỉ một mình Thiên Chúa là đấng tốt lành, nếu chỉ mình Ngài là Đấng thiện hảo, thì cha mẹ ngươi cũng được thông phần một cách độc nhất vô nhị vào chính sự tốt lành tối thượng ấy. Bởi đó ngươi hãy thảo kính Cha mẹ ngươi”.

Bằng cách nào kính thưa anh chị em?

a- Trước hết là phải biết ơn ông bà cha mẹ tổ tiên mình

b – Điều thứ hai là phải hiếu thảo với ông bà cha mẹ.

+ Tiếp đến là hãy biết làm vui lòng cha m. Đời nhà Hán bên Trung hoa có một người nổi tiếng là có lòng hiếu thảo với cha với mẹ. Đó là Bá Du. Hồi còn nhỏ mỗi khi làm điều gì sai quấy mà bị mẹ đánh thì Bá Du luôn tươi cười vui vẻ nhận lỗi, không bao giờ dám cãi. Nhưng một ngày nọ sau khi bị mẹ sửa phạt bằng roi thì Bá Du oà lên khóc. Thấy thế bà mẹ thắc mắc hỏi:

Một khía cạnh khác nữa mà chúng ta có thể thấy khác, “Thảo hiếu cha mẹ” là một mệnh lệnh của Thiên Chúa, đó không chỉ là một lời mời gọi hay một lời khuyên. Lời khuyên thì có thể bỏ qua, nhưng lệnh truyền thì buộc phải thi hành. Hơn nữa trong kinh thánh, nói rất nhiều và mạnh mẽ đến lòng hiếu thảo với cha mẹ: “Thờ cha kính mẹ” là lễ dâng đẹp lòng Thiên Chúa; kẻ khinh rẻ cha mẹ là chọc giận Thiên Chúa:

Rất nhiều người ngoài Công Giáo nghĩ rằng: theo đạo công giáo là phải bỏ tổ tiên, ông bà cha mẹ. Đây là một sự hiểu lầm trầm trọng, một ngộ nhật còn kéo dài cho đến ngày nay.

Thực tế khi suy nghĩ thật kỹ, chúng ta nhận thấy rằng, không có một tôn giáo nào lại dạy người ta nhớ đến tổ tiên, ông bà cha mẹ đã qua đời hay còn sống nhiều và sâu xa như đạo Công Giáo. Thật vậy, người Kitô hữu thể hiện chữ hiếu Kitô giáo bằng nhiều cách: khi cha mẹ còn sống, con cái luôn được mời gọi chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ; khi cha mẹ qua đời, con cài được mời gọi thể hiện lòng hiếu thảo bằng việc cầu nguyện, dâng lễ, làm việc lành dành riêng cho cha mẹ đã qua đời. Đặc biệt, trong ngày mòng 2 đầu năm mới, Giáo Hội Việt Nam dành ngày này để kính nhớ tổ tiên, ông bà cha mẹ, đây là một việc làm thật đáng trân trọng và hữu ích vì trong những ngày tết, mọi người đều vui vẻ, hạnh phúc sum vầy, êm ấm để ăn tết, tưởng nhớ, dâng lễ và cầu nguyện cho những bậc tiền nhân là một nghĩa cử cao đẹp và là một nhắc nhớ cho mọi người hãy sống hiếu thảo, hãy thực hành điều răn thứ tư của mười điều răn của Chúa. Với cái nhìn như thế, chúng ta thấy đạo Công Giáo rất gần với văn hóa của người Việt Nam: luôn nhớ đến tổ tiên, ông bà cha mẹ.

“Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai khinh rẻ mẹ, là chọc giận Đấng tạo thành ra nó” (Hc 3, 16); “Phải thờ cha kính mẹ” đó là điều răn duy nhất có kèm theo lời hứa: “để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6, 1-3). “Phải thờ cha kính mẹ” còn được thể hiện qua những lời khuyên nhủ thật chân tình trong sách Huấn Ca: “Con ơi, hãy săn sóc cha con, khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dễ người” (Hc 3, 12-16). Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, Chúa dậy chúng con phải giữ lòng hiếu thảo. Hôm nay, nhân dịp đầu năm mới, chúng con họp nhau để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ, xin Chúa trả công bội hậu cho những bậc đã sinh thành dưỡng dục chúng con, và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với các Ngài. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen

Thông cáo HĐGM Việt Nam về việc tôn kính Tổ Tiênđược soạn thảo trong khóa họp của các Giám Mục Miền Nam Việt Nam tại Đà Lạt từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Sáu năm 1965. Huấn thị

Thông cáo tôn kính Tổ Tiên vừa hợp với tâm nguyện của tín hữu tại Việt Nam vừa hợp với đường hướng của Công Đồng Vaticanô II là muốn khẳng định vai trò tích cực của “Giáo Hội trong thế giới ngày nay” qua việc “đối thoại với các nền văn hóa nhân loại cũng như với các tôn giáo ngoài Kitô giáo”.

Plane compertum est (Đức Thánh Cha Piô XII công bố ngày 08/12/1939) được HĐGM áp dụng cụ thể vào việc tôn kính Tổ Tiên đối với người Công Giáo tại Việt Nam. Tòa Thánh chính thức chấp thuận ngày 20 tháng 10 năm 1964.

Các Giám Mục Việt Nam với tư cách thầy dạy đức tin đã đi tiên phong trong việc áp dụng giới răn yêu người và thảo kính cha mẹ vào hoàn cảnh cụ thể tại Việt Nam. Gần một thập niên sau đó, nền móng này được củng cố thêm nhờ vào văn thư của các Đấng Bản Quyền tại Miền Nam Việt Nam đề ngày 14/11/1974, quy định thực hành một số việc cụ thể để tôn kính Tổ Tiên, như : Ngoài những yếu tố tam giáo, mỗi người Việt Nam còn có một cái đạo rất gần gũi và cơ bản nhất: đó là Đạo Ông Bà. Nói tới Đạo Ông Bà trước tiên là nghĩ ngay đến bàn thờ tổ tiên, tới cúng giỗ và tất cả những thực hành diễn ra ngay trong nơi sinh sống hàng ngày tại gia đình chứ không phải trong đình chùa hay thánh thất. Điều người ta lo lắng là phải có kẻ nối dõi tông đường, lo việc cúng giỗ. Điều mà người ta lo sợ khi nhắm mắt lìa đời là gặp cảnh hương khói vắng lạnh “Mỗi gia đình dù nghèo khổ đến đâu cũng dành một chỗ riêng, thường là chỗ trang trọng nhất làm bàn thờ tổ tiên ông bà. Cái linh thiêng như vậy rất gần gũi, thân thương “đạo bất viễn nhân”. Một tấm lòng thành kính và tâm tình biết ơn những bậc sinh thành. Đạo Ông Bà tiếp nối Đạo Hiếu. Tổ tiên ông bà cha mẹ không chết nhưng là khuất núi, là khuất bóng, là sang bên kia thế giới, là xuống suối vàng, là quy tiên chầu trời. Vì tổ tiên ông bà không mất hoàn toàn hiện hữu nhưng vẫn còn hiện diện đâu đó nên phải lo sao cho trọn đạo với các ngài. “Người Việt Nam cho rằng con người chỉ thực sự hạnh phúc khi cùng chia sẻ hạnh phúc đó với những người thân yêu nhất của mình. Bởi vì kinh nghiệm ở đời này cho thấy con người chỉ được hạnh phúc trong một gia đình hoà thuận đầm ấm. Quan niệm “Người Việt Nam cũng nặng tình với nơi chôn nhau cắt rốn, “

cho phép lập bàn thờ Ông Bà được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình; thắp hương và vái trước di ảnh Tổ Tiên; tổ chức ngày giỗ; cho phép con dâu và con rể trong hôn lễ được làm lễ Gia Tiên; chấp thuận việc thắp hương và cúi mình trước thi hài người quá cố để tỏ lòng kính cẩn; ngoài ra còn cho phép “được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần tại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn những vị mà theo lịch sử đã có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng“. Trải qua quãng thời gian gần 30 năm, Giáo Hội Việt Nam mới có được kết quả mỹ mãn. Ngày 07 tháng 01 năm 1994, Tòa Thánh chấp nhận tạm thời bản văn Tiếng Việt các thánh lễ riêng tại Việt Nam, như : Thánh lễ Tất Niên và Tân Niên âm lịch, Thánh lễ dịp Tết Trung Thu cho thiếu nhi và Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. (x.Tìm hiểu thông cáo HĐGM Việt Nam về việc tôn kính Tổ Tiên, Lm Giuse Vũ Tiến Tặng).

Thông cáo tôn kính Tổ Tiênxác định 6 điểm quan trọng:

Các nhà nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam đều nhất trí cho rằng người Việt Nam, ngoài Kitô giáo, còn có một tôn giáo tổng hợp ba đạo: Đạo Lão, Đạo Khổng và Đạo Phật. Đó là tam giáo hoà đồng. Một cách giản lược có thể nói rằng :

triệu người thân có mấy người quen? khi lìa trần có mấy người đưa?” (Vũ Thành An).

Sự tử như sự sinh“, phải đối xử với các ngài như khi các ngài còn sống hay nói đúng hơn như các ngài vẫn sống. Bởi thế mà có việc cúng bái “Sống Tết chết giỗ”. Giỗ đây là một cách tết ông bà tổ tiên. Bởi đó người Việt Nam bao giờ cũng đi thăm mồ mả ông bà cha mẹ vào dịp giỗ, dịp Tết Nguyên Đán. Bao người đi xa cũng về với gia đình. Con cháu đi mừng thọ, dâng lễ vật cho ông bà cha mẹ.

Đa tử đa tôn đa phú quý” một gia đình đông con nhiều cháu là phúc lộc trời ban cho, đó là một truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam chúng ta. Sống chết có nhau“. Vì thế kẻ sống người chết tuy có khuất hình khuất bóng nhưng không xa cách mà vẫn hiện diện bên nhau trong yêu thương tưởng nhớ và trong những hành vi tôn kính cụ thể. Đặt một bức ảnh trên bàn thờ, sắp một đĩa trái cây, thắp một nén nhang, những cử chỉ đó chưa phải là đã có tính cách tôn giáo theo quan niệm của Tây phương nhưng đó lại là bước đầu của tôn giáo. Niềm tin và cử chỉ ấy đặt con ngưởi vào trong tương quan với cái bên kia của cuộc đời.

Cốt tuỷ của Hiếu là phải bắt đầu bằng: Người Kitô hữu càng phải sống Đạo Hiếu hơn vì điều răn thứ bốn đã dạy: Tinh thần kính trọng bên trong cần phải được diễn tả qua những cử chỉ bên ngoài.Nhiều người con tỏ ra xấu hổ về cha mẹ mình, phủ nhận cha mẹ mình chỉ vì họ nghèo hèn. Có khi còn dùng lời lẽ xúc phạm để nói với cha mẹ, đối xử với cha mẹ cách khinh miệt như đưa cha mẹ vào viện dưỡng lão để rảnh nợ tang bồng. Chống lại cha mẹ đó là tội bất hiếu.Nuôi dưỡng cha mẹ mới chỉ là yêu cầu tối thiểu của đạo làm con. Vậy mà đã có nhiều gia đình nạnh nhau hoặc suy bì thiệt hơn với nhau. Chuyện kể rằng, ngày xửa ngày xưa có một gia đình có bốn anh em trai đều đã yên bề gia thất, người cha già vẫn còn sống. Vì nạnh nhau nên chẳng có người con nào chịu nuôi cha. Cuối cùng họ thống nhất là mỗi người nuôi cha trong ba tháng và trước khi chuyển giao cho người kế tiếp phải đem cha ra cân, nếu sụt cân thì người sau sẽ không nhận. Có một anh do nuôi cha một cách thơ bơ thất bất nên biết khi chuyển giao sẽ thiếu cân nên anh ta đã giở trò ma giáo là ấy miếng chì giấu vào mình cha cho đủ cân. Hoặc chuyện mỗi đứa con nuôi cha mẹ trong một tháng, nhưng ngặt nỗi tháng có 30, tháng có 31 ngày nên tháng có ngày thứ 31 cha mẹ phải ra đứng ngoài đường. Dân gian thường nói “Lời Tiền Tụng lễ Mồng Hai Tết, thật cảm động, nói đến công ơn các bậc sinh thành : “Ngày Mồng Hai Tết, Giáo hội mời gọi con cái mình kính nhớ tổ tiên ông bà cha mẹ, sống Đạo Hiếu.Tình yêu của con cháu đối với ông bà cha mẹ phải là một tình yêu mang sắc thái của lòng biết ơn. Mỗi người con trong gia đình sống vâng phục, yêu mến, biết ơn cha mẹ sẽ tạo nên sự ấm êm cũng như nâng cao thanh danh của gia đình. Các giáo xứ tổ chức tặng quà chúc thọ các cụ ông, cụ bà trong thánh lễ Mồng Hai Tết, điều này thật ý nghĩa, có giá trị giáo dục con cháu sống hiếu thảo.Thánh lễ cũng được cử hành nơi nghĩa trang giáo xứ ngày Mồng Hai Tết. Người sống, kẻ chết gặp nhau trong yêu thương tưởng nhớ trong mầu nhiệm hiệp thông của Giáo hội.Thế giới của người sống và người chết không còn ngăn cách nữa nhưng trở nên gần gũi, được nối kết với nhau trong cõi linh thiêng. Như thế Tôn kính cha mẹ lúc còn sống.Thờ phụng cha mẹ khi các ngài qua đời. Biết ơn cha mẹ phải được nói lên bằng đạo hạnh, bằng thờ cúng tổ tiên. Đó là nhiệm vụ thiêng liêng, là phẩm chất tối cao của con người. Càng có địa vị cao càng phải Đại Hiếu. Người lãnh đạo mà bất hiếu thì làm sao có ân nghĩa với ai !

Khởi đi từ tâm thức Đạo Hiếu của người Việt Nam, các nhà truyền giáo đã hội nhập văn hoá, mang Tin mừng của Chúa thấm nhập vào cuộc sống. Đạo Hiếu gần gũi với Đạo Chúa biết bao.

Hãy thảo kính cha mẹ. Chính Chúa Giêsu đã hai lần trưng dẫn và xác nhận điều răn này.Thảo kính cha mẹ là do mầu nhiệm sự sống.Cha mẹ là người cộng tác với Thiên Chúa trong mầu nhiệm này và cha mẹ có trách nhiệm quan trọng về con cái trước mặt Chúa.

cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày“; ” Một mẹ nuôi nổi chín, mười con, chín mười con không nuôi nổi một mẹ“. Sách Đức Huấn Ca đề cao đức hiếu thảo: ” Ai yêu mến cha mình, thì đền bù tội lỗi, ai thảo kính mẹ mình, thì như người thu được một kho tàng. Ai thảo kính cha mình sẽ được vui mừng trong con cái. Khi cầu xin người ấy được nhậm lời. Ai thảo kính cha mẹ sẽ được sống lâu dài. Ai vâng lời cha sẽ làm vui lòng mẹ. Hỡi kẻ làm con hãy gánh lấy tuổi già cha ngươi, chớ làm phiền lòng người, khi người còn sống. Nếu tinh thần người sa sút thì hãy rộng lượng, ngươi là kẻ trai tráng chớ đành khinh dễ người. Vì của dâng cho cha sẽ không rơi vào quên lãng, của biếu cho mẹ sẽ đền bù tội lỗi và xây dựng đức công chính của ngươi“.Thánh Phaolô nhắc nhở mỗi người về bổn phận làm con: Khi ngắm xem muôn loài trong vũ trụ, tự nhiên chúng con thấy vạn sự đều có cội rễ căn nguyên : chim có tổ, nước có nguồn, con người sinh ra có cha có mẹ. Nhưng nhờ ơn Cha mạc khải chúng con mới nhận biết Cha là nguyên lý sáng tạo muôn loài, là Cha chung của tất cả chúng con. Cha đã ban sự sống cho tổ tiên và ông bà cha mẹ chúng con để các ngài truyền lại cho con cháu. Cha cũng ban cho các ngài ân huệ dư đầy, để chúng con được thừa hưởng mà nhận biết, tôn thờ và phụng sự Cha“. “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6,1-3). “người chết nối linh thiêng vào đời và nụ cười nở trên môi”. Qua chính những nghĩa cử này, hình ảnh của người thân sống lại, người còn sống nói chuyện với người đã khuất như là hai người còn sống đang nói chuyện với nhau.

Chính từ cha mẹ tổ tiên ông bà mà người Việt Nam có thể và đi xa hơn, lên cao hơn tới chốn trời cao siêu nhiên huyền bí của cõi linh thiêng của thần thánh. Từ đó tìm đến với Đấng là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất.

Đạo Ông Bà, Đạo Hiếu không những chẳng đối nghịch, chẳng cản trở đối với Đạo Thiên Chúa mà còn là một điểm tựa, một bước khởi đầu thuận lợi, một lối đi dễ dàng và gần gũi nhất có thể đưa con người đi vào Đạo Thiên Chúa.

Tình yêu và lòng yêu mến biết ơn đối với ông bà cha mẹ càng làm cho người tín hữu hướng về Thiên Chúa là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Trong sự vui mừng của ngày tết, tôi chợt nhớ đến một bài hát của nhạc sĩ Trần Long Ẩn. Bài hát có tựa đề: Mỗi mùa xuân sang ,mẹ tôi già thêm một tuổi.

Mỗi mùa xuân sang, ngày tôi xa mẹ càng gần.

Rồi một ngày kia, tóc trắng mẹ bay,

Như gió như mây bay qua đời con.

Mẹ già như chuối chín cây,

Gió lay mẹ rụng, con thời mồ côi.

Mồ côi khổ lắm ai ơi,

Đói cơm lỡ nước, biết người nào lo.

Dù biết như thế, tôi vẫn phải tin: Mẹ tôi còn trẻ.

Mỗi mùa xuân mới, con mừng tuổi mẹ.

Bài hát nói lên tâm tình của người con, nhìn thấy mẹ như một ngọn đèn đã lụy dần với năm tháng. Người con hiếu thảo vẫn tin rằng mẹ mình còn trẻ, không phải vì thời gian, nhưng trẻ vì những sự việc mà con đã làm cho mẹ mình để nói lên tâm tình hiếu thảo. Mừng tuổi mẹ, không phải mừng vì mẹ chóng già, nhưng mừng tuổi mẹ vì thấy mẹ mỗi ngày được hạnh phúc vì những người con của mình. Mừng tuổi mẹ không phải chỉ bằng những lời nói, nhưng bằng cả tâm tình của người con hiếu thảo, thể hiện bằng những việc trong suốt cả năm và suốt cả cuộc đời.

Trong những ngày đầu năm mới, những người Công giáo đã dâng cho Chúa những giây phút đầu tiên của năm, để xin Chúa thánh hóa và ban phúc lành.

Hôm nay chúng ta cũng hiến dâng cho Chúa những người thân thuộc nhất của mình, những người đã vâng lời Chúa, hy sinh cả cuộc sống để lo lắng cho chúng ta. Tôi thiết nghĩ rằng: chúng ta cầu nguyện cho ông bà cha mẹ trong những giây phút linh thiên của ngày đầu năm, cũng không phải là những lời nói suông, nhưng bằng cả tâm tình của người con hiếu thảo, bằng cả những việc làm trong suốt cả năm và suốt cả cuộc đời của mình để làm cho cha mẹ được vui lòng. Chúng ta đã trải qua biết bao mùa xuân, tuổi đời càng lớn, cha mẹ cũng càng gần ngày để rời xa chúng ta. Nhưng cha mẹ rời xa trong tâm trạng âu lo, buồn phiền, thất vọng. Hay cha mẹ rời xa chúng ta trong tâm trạng vui mừng, hạnh phúc vì những gì mà con mình đã mang đến. Không phải bằng những lời chúc hoa mỹ trong những ngày xuân, nhưng bằng lòng hiếu thảo, diển tả qua con người và phong cách sống, mà mỗi mùa xuân, mỗi lần Mừng Tuổi Mẹ, niềm hạnh phúc đó càng được vươn cao hơn.

Việc cầu nguyện cho ông bà cha mẹ trong giờ phút linh thiêng của những ngày đầu năm mới, là một việc làm rất tốt. Nhưng để đạt kết quả thật sự, thì cần có cả tâm tình và hành động cần thiết, không phải chỉ cho ngày hôm nay mà suốt cả cuộc đời. Mong sao, những hành động, những lời nói, những suy tư của mỗi người chúng ta trong cuộc sống, là những lời Mừng tuổi Mẹ thật xứng đáng.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta luôn biết cầu nguyện cho cha mẹ, biết Mừng Tuổi Mẹ bằng đời sống tốt đẹp với tâm tình của người con thảo hiền, để cha mẹ được có đời sống tươi trẻ mãi trong Chúa.

“Con người có cố có ôngChính Chúa đã dạy chúng con phải vâng lời ông bà cha mẹ trong những điều phả lí lẽ và khiêm tốn sửa mình khi được cha mẹ răn bảo. Trong sách châm ngôn nói rõ:

Như cây có cội như sông có nguồn”

Người Việt Nam mang đậm ý thức về cội nguồn và có truyền thống tỏ lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ. Nét đẹp này rất phù hợp với lời Chúa mạc khải trong Kinh thánh, cụ thể trong điều răn thứ 4 : thảo kính cha mẹ, ông bà khi còn sống cũng như lúc qua đời.

Hôm nay, ngày đầu năm, ngày tết vui tươi của dân tộc, chúng ta cùng nhớ đến công ơn của ông bà cha mẹ đối với từng người chúng ta, nhờ các ngài mà chúng ta có được sự sống và và những ngày xuân hạnh phúc này. Mỗi khi nhắc đến công ơn cha mẹ, tôi nhớ đến bàn tay chai sạn của cha làm lụng vất vả để gánh vác gia đình, kiếm từng miếng cơm manh áo cho chúng tôi; nhớ đến những đêm thức trắng của mẹ để chăm sóc tôi khi yếu đau. Đó là chưa kể đến chín tháng cưu mang, 3 năm bú mớm, những năm tháng đưa đón tôi đến trường, khuyến khích học hành suốt bao nhiêu năm, bao vất vả nhọc nhằn không thể kể ra cho hết được. Tất cả những cực nhọc, lo toan vì con cái hôm nay vẫn còn chưa hết:

Ông bà cha mẹ đã nhận trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục ta từ thuở chưa biết gì đến khi khôn lớn, có đủ lông đủ cánh để tự lập cho nên việc tỏ lòng biết ơn đối với các ngài là điều phải lẽ. Đó là đạo hiếu, là điều cơ bản mà mọi người phải giữ.

Việc thảo kính cha mẹ được Chúa Giêsu nhắc bảo rõ trong Tin Mừng Thánh Matthêu (Mt 15, 3-8). Luật của Thiên Chúa không ai tự ý vi phạm hay sửa đổi được. Khi ông bà cha mẹ còn sống, chúng ta phải có bổn phận chăm sóc; khi các ngài khuất bóng, con cháu phải nhớ thi hành lời dạy của các ngài, đồng thời phải cầu nguyện, xin lễ, viếng mộ … để tỏ lòng hiếu kính, biết ơn.“hỡi con, lệnh cha truyền, hãy lo tuân giữ, lời mẹ con dạy, chớ bỏ ngoài tai, vì huấn lệnh là ngọn đèn, lời dạy dỗ là ánh sáng và lời quở trách bảo ban là đường dẫn tới sự sống” (Cn 6, 20. 23). Cha mẹ ông bà là những người thương yêu chúng ta nhất trên đời, những điều các ngài dạy xuất phát từ tình thương nên chúng ta phải vâng theo. Vâng lời là điều đẹp lòng các ngài nhất và thường rất ích lợi cho bản thân chúng ta. Chúa dạy chúng con biết vâng lời cha mẹ ông bà trong những điều phảI lẽ và khiêm tốn sửa mình khi được cha mẹ răn bảo đúng đắn.

Khi nhớ về cội nguồn của mình là ông bà, tổ tiên, chúng ta hiểu được lý do phải tôn thờ Thiên Chúa là cội nguồn. Ngài là nguyên lý sáng tạo, là Cha chung của tất cả chúng ta. Chính Ngài đã ban sự sống cho tổ tiên ông bà chúng ta để các ngài truyền lại cho con cháu. Ngài cũng tiếp tục ban ân huệ dư đầy cho từng người chúng ta, nhất là ơn cứu độ của Chúa Giêsu Kitô. Do đó bổn phận của chúng ta là biết ơn và phụng thờ Thiên Chúa Ba Ngôi.

Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con giữ lòng hiếu thảo đối với ông bà tổ tiên. Xin Chúa tuôn đổ hồng ân xuống trên ông bà cha mẹ chúng con. Xin Chúa trả công cho bội hậu cho những bậc sinh thành dưỡng dục chúng con và ban ơn cho chúng con luôn sống phải đạo đối với các ngài.

Ðạo hiếu được coi là đạo của dân tộc Việt Nam . Ðây là một truyền thống đáng tôn trọng và cần được phát huy qua mọi thời đại. Nói cho đúng thì không phải là một tôn giáo nhưng chỉ là một truyền thống, một tập tục mang tính tinh thần, một lối sống phù hợp với lương tri và luân lý của con người. Thảo kính cha mẹ cũng là một Giới luật mà chính Thiên Chúa dạy bảo con người phải tuân giữ: Thiết nghĩ, tội bất hiếu với ông bà, cha mẹ là tội rất lớn và không có gì có thể che lấp được. Ai không thảo kính cha mẹ mình đừng mong là một người tốt trong xã hội và trong cuộc đời này. Thánh Phaolô đã dạy: Có câu chuyện kể rằng: Có một người con trai đã lập gia đình riêng và đã có con. Nhưng vì là người con trai út trong gia đình nên anh phải lãnh trách nhiệm phụng dưỡng người cha già của mình trong chính căn nhà mà cha mẹ anh đã để lại cho anh. Vì cao niên tuổi tác, người cha già không còn điều khiển đôi tay theo ý muốn của mình được, nên ông thường đánh rơi và làm vỡ chén bát khi dùng bửa. Lâu ngày, hai vợ chồng không chịu nổi nữa, nên họ quyết định lấy một gáo dừa, cạo sạch làm chén cho cha mình dùng bữa. Ông già tội nghiệp cầm chén bằng gáo dừa mà nước mắt lưng tròng, nuốt cơm không nổi. Một hôm, hai vợ chồng có dịp ra tỉnh, khi họ trở về thì thấy đứa con trai của họ đang cặm cụi cạo sạch hai cái gáo dừa. Họ tưởng cha già của họ đã làm bể cái gáo dừa cũ rồi. Nhưng không phải. Bấy giờ, họ mới ngạc nhiên hỏi đứa con của mình xem nó cạo gáo dừa để làm gì. Cậu bé vô tư trả lời rằng: Bài Tin mừng hôm nay được trích trong bài ca Benedictus (hãy ca tụng Thiên Chúa) của ông Dacaria. Ông sung sướng hát lên bài ca tụng Thiên Chúa vì tổ tiên của ông được thừa hưởng lời hứa Thiên Chúa làKính nhớ ông bà tổ tiên hôm nay, chúng ta hãy quyết tâm chỉnh đốn đời sống của mình mỗi ngày cho xứng đáng hơn, mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Chúng ta hãy quyết tâm xây dựng mình để trở một người thật hữu ích Giáo hội, cho xã hội và cho những người sống xung quanh chúng ta. Ðó là cách tốt nhất chúng ta bày tỏ lòng biết ơn, tôn kính tổ tiên và thảo hiếu với cha mẹ của chúng ta. Mỗi người hãy cố gắng xây đắp đời mình hôm nay và mãi mãi sao cho được “ngươi hãy kính trọng cha mẹ ngươi, ngõ hầu ngày đời ngươi được kéo dài trên thưở đất mà Yavê Thiên Chúa của ngươi sắp ban cho ngươi” (Xh 20,12).

Việc tôn kính cha mẹ, ông bà tổ tiên là việc làm đẹp lòng Thiên Chúa. Ðó cũng là một trách nhiệm và là bổn phận của kẻ làm con. Sách Ðức Huấn ca đã đề cao công đức của các vị tiền bối. Các ngài là những người hiền đức và khôn ngoan, đã tạo dựng cơ nghiệp và truyền lại cho con cháu. Chúng ta là những người thừa hưởng những thành quả tốt đẹp của các bậc tiền nhân. Vì thế, chúng ta phải tỏ lòng biết ơn và nhớ đến công đức của các ngài. Cách thế tốt nhất để tỏ lòng biết ơn là cố gắng sống tốt lành và có ích cho đời. Không làm điều đáng chê trách và hổ danh. Không có một người cha người mẹ nào trên đời này lại không muốn cho con mình là những người có ích và sống tốt lành. Làm được điều đó là chúng ta đã giúp cho các ngài hoàn thành tâm nguyện và cũng là cách chúng ta báo hiếu cho các ngài vậy.

Chúng ta hãy ngược dòng thời gian trở về quá khứ để cùng nhau suy niệm một chút. Khi đạo Chúa được truyền vào quê hương Việt Nam , các nhà truyền giáo đã phải gian nan, cực khổ và hy sinh rất nhiều. Rồi các bậc tiền nhân của chúng ta, các vị anh hùng tử đạo Việt Nam đã dùng chính mạng sống mình để làm cho Tin mừng và lòng tin tưởng của mình vào Thiên Chúa. Các ngài đã coi cái chết nhẹ tựa lông hồng trước đặc ân được làm con Thiên Chúa. Ðược sống trong Giáo hội Việt Nam ngày nay, chúng ta phải biết nhớ đến công lao của các bậc tiền bối của chúng ta mà cố gắng sống đạo cho thật tốt, thật sốt sắng, làm cho đời sống đức tin của chúng ta không ngừng tinh tấn. Chúng ta hãy biết tự hào vì mình được ở trong Giáo hội Chúa, được làm con Chúa. Ðây là một hồng ân, một quà tặng vô giá mà cha ông chúng ta đã dùng chính sự sống của mình đổi lấy cho chúng ta. Rồi chính cha mẹ của chúng ta là những người thầy đầu tiên đã nuôi dưỡng niềm tin cho chúng ta.

“Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo” (Ep 6,1). Hãy ngắm nhìn cuộc đời của Chúa Giêsu để suy gẫm. 33 năm Ngài sống ở trần gian thì đã hết 30 năm Ngài âm thầm sống tuân phục Ðức Mẹ và Thánh Giuse tại làng quê Nazareth . Dù là Con Thiên Chúa, nhưng Ngài vẫn sống tùng phục cha mẹ trần thế của Ngài một cách trọn vẹn trong những điều hợp lẽ phải. Sách Ðức Huấn ca có nói: “Hãy hết lòng tôn trọng cha con, và đừng quên những cơn đau của mẹ. Hãy nhớ rằng, nhờ họ con được sinh ra, làm sao con báo đền được điều họ cho con” (Hc 7,27) “Con làm chúng để mai này, khi cha mẹ già, con cho cha mẹ ăn cơm như cha mẹ đã cho ông nội đang dùng vậy” . Bấy giờ, họ mới hối hận và không còn đối xử tệ bạc và vô ơn với người cha già đáng thương của họ nữa.

: “Giải phóng ta khỏi tay địch thù, làm cho ta chẳng còn sợ hãi, để ta sống thánh thiện công chính trước nhan Người và phụng thờ Người suốt cả đời ta” . Ðây là lời hứa ban thưởng Nước trời, ban sự sống vĩnh cho những ai trung thành, hết lòng tin tưởng và gắn bó với Thiên Chúa.

“trọn bề nhân nghĩa với tổ tiên” theo đúng ý muốn của Thiên Chúa. Amen.

Mt 15, 1 – 6 THỨ BA – 09. 02.2016

1. Ghi nhớ: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. (Mt 15, 4)

Mọi người được sinh ra đều có ông bà, cha mẹ. thảo kính cha mẹ mình là điều rất hợp lẽ tự nhiên, vì cha mẹ đã có công sinh thành dưởng dục ta. Thảo hiếu là yêu thương, giúp đỡ và cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ khi các ngài còn sống cũng như khi đã qua đời. Trong mười điều răn Chúa ban, sự thảo kính được đặt ở điều thứ tư sau việc tôn thờ Chúa; cho thấy bổn phận hiếu thảo với ông bà cha mẹ mình là điều rất quan trọng. Vậy, tôi đã sống thảo hiếu như thế nào ?

3. Sống Lời Chúa: Sống hiếu thảo với ông bà, cha mẹ

Thứ ba – Mồng Hai Tết Nguyên đán)

Bấy giờ có mấy người Pharisêu và mấy kinh sư từ Giêrusalem đến gặp Ðức Giêsu và nói rằng: “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa?” Người trả lời: “Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa? Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: ‘Ai nói với cha mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy, không phải thờ cha kính mẹ nữa’. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà hủy bỏ lời Thiên Chúa.”

Giáo Hội dành Mồng Hai Tết để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ. Người Công Giáo thường bị coi là bỏ rơi việc thờ cúng ông bà tổ tiên, như thế họ có thể bị coi là bất hiếu.

Thật ra thảo kính cha mẹ là điều răn thứ bốn Thiên Chúa đòi chúng ta phải giữ.

Cha Đắc Lộ trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày (1651) cho rằng thảo kính cha mẹ gồm bốn phần, đó là yêu mến, kính sợ, chịu lụy và giúp đỡ.

Cha còn ghi nhận một tập tục đặc biệt vào thời đó.

Ngày Mồng Một Tết, người dân và cả những quan lớn, sau khi theo vua chúa đi tế Nam Giao về,

“ai nấy về nhà mà lạy cha mẹ ông bà ông vải.”

Vào năm 1625, các thừa sai cho phép cúng giỗ các vị đã khuất.

Trong các gia đình, ngoài bàn thờ kính Chúa, còn có “bàn thờ” tổ tiên

Chỉ có hai điều không được phép,

đó là đốt vàng mã và tin tổ tiên về ăn đồ cúng.

Thật ra, người Công Giáo nhớ đến người quá cố

không qua những nghi lễ giỗ chạp hàng năm,

cho bằng qua việc cầu nguyện và dâng lễ hàng ngày.

Nhà Vua tế Trời ở đàn Nam Giao, nhà sư thờ Phật tại Chùa,

các bậc chức sắc trong làng xã thờ Thành Hoàng tại đình làng,

còn việc cầu nguyện, cúng giỗ tổ tiên được cử hành tại gia đình,

nơi người sống và người đã qua đời vẫn thông hiệp với nhau chặt chẽ.

Trong bài Tin Mừng hôm nay Đức Giêsu bênh vực quyền lợi của cha mẹ.

Ngài đòi người ta phải giữ điều răn thứ tư của Thiên Chúa.

Thảo kính cha mẹ hàm chứa việc săn sóc và phụng dưỡng cha mẹ.

Cụ thể người con phải giúp cha mẹ về mặt tài chánh.

Đức Giêsu phản đối một truyền thống được bày đặt bởi người Pharisêu,

đó là khi một người con lấy số tiền lẽ ra dành để nuôi cha mẹ

mà dâng cúng cho đền thờ làm lễ phẩm

thì anh ta khỏi phải dùng tiền đó mà nuôi cha mẹ nữa (cc. 5-6).

Đối với Đức Giêsu, làm thế là nhân danh một truyền thống con người

mà “vi phạm điều răn của Thiên Chúa”và “hủy bỏ lời của Thiên Chúa” (cc. 3.6).

Khi suy nghĩ về tương quan giữa cha mẹ và con cái,

chúng ta cần tự hỏi:

Làm sao để có sự cảm thông giữa những thế hệ?

Làm sao để con cái biết vâng phục và tôn kính cha mẹ?

Làm sao để cha mẹ biết giáo dục con cái bằng khuyên răn và sửa dạy?

Bầu khí yêu thương đã góp phần không nhỏ

trong việc hình thành nhân cách của Chúa.

Chúa đã học nơi thánh Giuse

sự lao động miệt mài,

sự mau mắn thi hành Thánh ý Thiên Chúa,

sự âm thầm chu toàn trách nhiệm đối với gia đình.

Dù là Thiên Chúa, nhưng khi Đức Giêsu giáng sinh làm người, Ngài cũng sinh trưởng trong một gia đình. Điều đó chứng tỏ gia đình rất quan trọng. Hai tiếng “gia đình” đơn giản lắm, nhưng cũng phức tạp lắm. Louisa May Alcott ( 1832-1888, Hoa Kỳ ) nhận xét:

Chắc chắn ai cũng có một gia đình, dù là “ông kia, bà nọ” thì cũng vẫn xuất thân từ một gia đình – dù gia đình giàu hay nghèo, to hay nhỏ. Có điều tất yếu là người ta có thể tự chọn nhiều thứ, nhưng không ai có thể tự chọn cha mẹ – tất nhiên kể cả ông bà, tổ tiên. Chắc hẳn không ngẫu nhiên mà người ta gọi gia đình là Tổ Ấm hoặc Mái Ấm. Dấu hiệu đầu tiên của hạnh phúc gia đình là tình yêu gia đình, chính “ngọn lửa” tình yêu làm cho gia đình ấm áp.

“Khả năng tìm được cái đẹp trong những điều nhỏ bé nhất khiến gia đình trở nên hạnh phúc và cuộc đời trở nên đáng yêu” ( The power of finding beauty in the humblest things makes home happy and life lovely ). Thomas Fuller ( 1608-1661, Anh Quốc ) đề nghị: “Lòng nhân đức bắt đầu từ gia đình nhưng không nên kết thúc ở đó” ( Charity begins at home but should not end there ). Bộ ba Cha-Mẹ-Con là chiếc kiềng ba chân yêu thương để chống đỡ gia đình: “Yêu nhau trăm sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng” ( Ca dao ).

Ngày lễ, tết, và những dịp đặc biệt, nhớ tới công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và tiền nhân là điều cần thiết. Trên đời này, không có công ơn nào to lớn bằng công ơn cha mẹ, đặc biệt là người mẹ. Chữ Hiếu ( mệnh danh là Đạo Hiếu ) không thể nào bù đắp chín Đức Cù Lao (*). Cứ tính đơn giản theo nghĩa đen thì cũng thấy không cân xứng: Một chữ không thể so với chín chữ. Con cái chỉ có một chữ mà vẫn không giữ trọn !

Dịp đầu Xuân, thời gian đẹp nhất trong năm – cả nghĩa đen và nghĩa bóng, sách Huấn Ca mời gọi: Ai cũng có cha mẹ, dù cha mẹ có thế nào thì cũng vẫn là người sinh thành dưỡng dục mình. Ai sống có hiếu thì được Chúa chúc lành: “Giờ đây, chúng ta hãy ca ngợi những vị danh nhân, cũng là cha ông của chúng ta qua các thế hệ” ( Hc 44, 1 ). Tại sao ? Lý do minh nhiên: “Họ là những người đạo hạnh, công đức của các ngài không chìm vào quên lãng. Dòng dõi các ngài luôn được hưởng một gia tài quý báu đó là lũ cháu đàn con. Dòng dõi các ngài giữ vững các điều giao ước; nhờ các ngài, con cháu cũng một mực trung thành. Dòng dõi các ngài sẽ muôn đời tồn tại, vinh quang các ngài sẽ chẳng phai mờ. Các ngài được mồ yên mả đẹp và danh thơm mãi lưu truyền hậu thế. Dân dân sẽ kể lại đức khôn ngoan của các ngài và cộng đoàn vang tiếng ngợi khen” ( Hc 44, 10-15 ).

Chúa Giêsu đã nêu gương về đạo Hiếu để chúng ta noi theo. Sau ba ngày lo việc của Chúa Cha, Cậu Hai Giêsu ở lại Đền Thờ khiến Cô Maria và Chú Giuse lo thắt ruột thắt gan, tìm kiếm xuôi ngược suốt ba ngày. Khi gặp cha mẹ, Cậu Hai Giêsu mau mắn “đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài” ( Lc 2, 51 ).

“Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người. Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may” ( Tv 128, 1-2 ).

Thứ nhất là cầu nguyện, thứ nhì là hành động. Thánh Phaolô nhắn nhủ: Người cha, người mẹ và người con đều sống tâm linh như vậy thì chắc chắn gia đình hạnh phúc, là Tổ Ấm thực sự, ấm trong tình yêu của Thiên Chúa, nóng hổi ngọn lửa thương xót của Thiên Chúa: Trình thuật Mt 15, 1-6 cho biết: Bấy giờ có mấy người Pharisêu và mấy kinh sư từ Giêrusalem đến gặp Đức Giêsu và hỏi Ngài:

“Theo Thần Khí hướng dẫn, anh em hãy dùng mọi lời kinh và mọi tiếng van nài mà cầu nguyện luôn mãi. Để được như vậy, anh em hãy chuyên cần tỉnh thức và cầu xin cho toàn thể dân thánh” ( Ep 6, 18-19 ). Cầu nguyện là việc làm phải liên tục, bất kể thời gian hoặc địa điểm. Thật vậy, cầu nguyện có thể thực hiện ngay tại bàn tiệc, khi đang nói chuyện với người khác, khi chạy xe… thậm chí ngay khi chúng ta ở giữa một đám đông ồn ào náo nhiệt. Đừng chỉ cầu nguyện khi vào nhà thờ hoặc ở nơi tĩnh lặng, vì cầu nguyện rất dễ: Hướng tâm hồn lên với Chúa, gặp Chúa, có khi không cần nói gì cả. Cầu nguyện liên lỉ là “thói quen” của người sống tâm linh theo tinh thần của Đức Kitô.

“Hạnh phúc thay, người kính sợ Chúa, những ưa cùng thích mệnh lệnh Chúa truyền ban. Trên mặt đất, con cháu của họ sẽ hùng cường, dòng dõi kẻ ngay lành được Chúa thương giáng phúc” ( Tv 112, 1-2 ). Niềm hạnh phúc thánh đức thật tuyệt vời !

Thiên Chúa phù trì liên vạn đại

Thánh Gia bảo giám mãi thiên thu

Nước có quốc pháp, nhà có gia phong. Truyền thống là điều nên duy trì, nếu đó là truyền thống tốt đẹp và hợp lòng người. Đừng bao giờ câu nệ !

“Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa ?” Ngài trả lời bằng một câu hỏi: “Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa ?” Ngài biết chẳng ai trả lời được nên Ngài lý luận: “Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: ‘Ai nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa’. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa”. Họ chỉ có nước “ngậm tăm”, im như thóc thối, câm như hến.

Có khi chúng ta cũng như bọn Pharisêu đấy, đầu toàn là “đậu hũ” mà bày đặt lý luận để bắt bẻ người khác. Dốt mà chảnh là thế đấy ! Không chỉ vậy, chúng ta lấy lý do “vì, bởi, tại…” mà biện hộ cho mình. Thật nguy hiểm ! Thiết tưởng đôi khi chúng ta phải tự xét lại về các động thái của mình, đừng tưởng những gì chúng ta đưa ra đều là vì Chúa, có thể chính chúng ta “chơi ép” Chúa, “điều khiển” Chúa, rồi lại tự tôn bằng các biện hộ đó là Ý Chúa. Ôi, lạy Thiên Chúa !

Ngày Xuân, dịp Tết, nếu còn cha mẹ, thật hạnh phúc cho bạn, nhưng hãy “động não” một chút: Khi bạn đang uống ly nước giải khát, hãy nghĩ xem cha mẹ thường uống gì. Khi bạn mặc những bộ quần áo đắt tiền hàng hiệu, xin hãy nghĩ xem cha mẹ bạn thường mặc ra sao. Khi bạn thoải mái chi tiêu, hãy nghĩ đến những thứ cha mẹ bạn thường dùng thế nào. Cha mẹ đã vì chúng ta mà bỏ bao công sức, đổ bao hạt mồ hôi, đều chỉ vì mong cho bạn có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Những thứ bạn đang dùng đều là do công sức cha mẹ tạo ra. Xin hãy yêu quý cha mẹ và cố gắng giữ trọn chữ hiếu cho xứng đáng là người con. Hãy hành động ngay khi cha mẹ còn sống, cụ thể là ngay trong dịp Tết này, biết đâu bạn không còn kịp nữa đâu !

Tết đến bình an nhờ Thiên Chúa

Xuân về hạnh phúc với Thánh Gia

Lạy Thiên Chúa, xin cảm tạ Ngài đã ban cho chúng con có ông bà, cha mẹ, xin thương chúc lành cho họ; xin giúp chúng con biết giữ trọn Ân Nghĩa với Chúa và với ông bà, cha mẹ của chúng con. Xin tình yêu Thánh Gia luôn tràn đầy trong mọi gia đình. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

Chú thích: Cù Lao là siêng năng, cần mẫn, nhọc nhằn. Chín đức cù lao gồm: CÚC: Nâng đỡ, SÚC: Cho ăn, bú mớm; DỤC: Giáo dưỡng tinh thần; PHỤC: Quấn quít, săn sóc không ngơi; [9] PHÚC: Bồng ẵm, gìn giữ, lo cho con đầy đủ, bảo vệ con khỏi bị ăn hiếp.

Báo chí địa phương đưa tin vụ việc trên xảy ra ở tỉnh Quảng Tây. Theo đó, bà cụ họ Yang bị nhốt trong một căn phòng rộng vỏn vẹn 10mĐoạn clip trên nhanh chóng đạt hơn 1,8 triệu lượt xem sau khi được đăng tải lên mạng vào ngày 6.1.2017. Nhiều người dùng mạng đã bày tỏ sự phẫn nộ trên các trang mạng xã hội Trung Quốc, gọi con trai và con dâu của bà Yang là 2 và phải ngủ trên một băng ghế gỗ, trích bài viết của tờ Southern Morning Post ( SMP ) hôm 12.1.2017. Tình cảnh của bà Yang được một phụ nữ địa phương công bố trên mạng xã hội với những hình ảnh quay cảnh bà ngồi đằng sau song sắt của cánh cửa. “cầm thú”, “cặn bã” và kêu gọi “trừng phạt” hai người này. Sự giận dữ càng tăng thêm sau khi tờ SMP tiếp tục đăng tải các bức ảnh về thân hình suy dinh dưỡng nặng của bà Yang trong quá trình kiểm tra sức khỏe. Theo thông tin của tờ báo này, hiện tại bệnh viện địa phương đang chăm sóc bà cụ trong khi người dân địa phương ra tay giúp đỡ bằng cách cung cấp chăn ga gối đệm và quần áo. “Sao các người có thể để bà ấy sống ở đây và không cho bà ấy ăn ?” người phụ nữ hỏi những người nhốt bà Yang.

Trường hợp của bà Yang không phải câu chuyện đầu tiên khiến nhiều người giận dữ. Vào năm 2014, một bà cụ 90 tuổi khác ở tỉnh Hà Nam đã qua đời vì phải chịu đựng tình cảnh tương tự.

Những tháng gần đây, các câu chuyện như trên đã báo động tình trạng bỏ bê cha mẹ lớn tuổi của một bộ phận người Trung Quốc và tạo ra các cuộc tranh luận trên mạng xã hội. Vào tháng 11 năm 2021, hàng ngàn cư dân mạng bày tỏ sự phẫn nộ trước một đoạn clip quay ở tỉnh Hà Nam, cho thấy một người đàn ông 62 tuổi, nhặt rác và ăn thức ăn thừa ở nhà hàng để không phải làm gánh nặng cho con gái.

Chủ nghĩa duy vật và xu hướng hưởng thụ, thực dụng, tục hoá đã xói mòn, quên lãng và từ chối đạo hiếu, vốn từ lâu rất thịnh hành trong những quốc gia Đông Á. Không riêng ở Trung Quốc, mà ngay tại đất Việt cũng nhan nhản con cái bất hiếu, bất kính các đấng sinh thành. Trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Đức Giêsu nhấn mạnh bổn phận báo hiếu, tôn kính ông bà, cha mẹ. Trong sách Xuất Hành, Lời Chúa ân cần răn dạy: “

Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất, mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi ban cho người.” ( Xh 20, 12 ). Còn trong sách Đệ Nhị Luật, Lời Chúa nhắn nhủ còn tha thiết hơn nữa: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, như Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã truyền cho ngươi, để được sống lâu và để được hạnh phúc trên đất, mà Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi, ban cho ngươi.” ( Đnl 5, 16 ).

Với dân Việt, đạo hiếu đã thấm đậm vào tâm hồn dân tộc, phản ảnh qua ca dao, tục ngữ, nay vẫn còn truyền tụng dân gian. Hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, tổ tiên trước hết là biết ơn, cảm tạ, ghi lòng tạc dạ công lao vất vả sinh thành, dưỡng dục nên người.

Dẫu khó khăn, nghèo túng, vì chữ hiếu, con cái vẫn phải tận tuỵ hy sinh, chẳng để cha mẹ phải chịu cùng cực thiếu ăn, thiếu mặc.

Hiếu thảo còn là kính thờ ông bà, cha mẹ đã khuất núi, không chỉ nhang hoa đèn nến, mà bằng chính những lời cầu nguyện tha thiết, xin Chúa cho các ngài hưởng phúc viên mãn. Cũng như nguyện các ngài phù giúp con cái đang còn bấp bênh trong đời.

Dựa trên Lề Luật, Đức Giêsu phán: “

Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử.” ( Mt 15, 4 ). Từ xa xưa, sách Xuất Hành đã quy định rõ ràng án phạt tử hình nghiêm nhặt, dành cho kẻ bất hiếu, xúc phạm thô bạo danh dự, phẩm giá, hay thân thể cha mẹ: “Ai đánh cha mẹ thì phải bị giết chết… Kẻ nào nguyền rủa cha hoặc mẹ, thì phải bị giết chết.” ( Xh 21, 15-17; Lv 20, 9 ).

Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con luôn biết hiếu đễ, phụng dưỡng và kính nhớ với các đấng sinh thành, vì các ngài đã hiệp lực cùng Chúa sinh dưỡng, để chúng con được hạnh phúc và hưởng thọ ngay trên mặt đất này.

Khấn xin Mẹ cầu bầu cho chúng con biết báo đáp công ơn cha mẹ, ông bà, cho xứng đáng, để chúng con cũng được Chúa thương chúc phúc lành. Amen.

Tết đã đến và đang đến! Chúng ta thường chúc nhau một năm mới hạnh phúc. Nhưng để sống hạnh phúc và làm cho người khác hạnh phúc mới là điều căn bản. Đọc lại bài Tin Mừng về các mối phúc, một trong những bài hay nhất của Tin Mừng, chúng ta có thể nghĩ rằng Mối Phúc mà Chúa Giêsu hứa chỉ có ở đời sau mà thôi. Đúng vậy niềm vui trọn vẹn và tuyệt đối chỉ có trong Nước Trời mai sau. Tuy nhiên, ngay ở đời này cũng có thể có thứ hạnh phúc đó, vì Nước trời đã hiện diện ngay ở trần gian này. Chúa Giêsu đã chẳng là một người vui mừng hạnh phúc, nhất là khi Ngài hướng về Chúa Cha: “Lạy Cha, con tạ ơn Cha vì Cha đã mặc khải tất cả những điều này cho những kẻ bé mọn” đó sao? Và các tông đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần đã chẳng quá vui mừng đến nỗi người ta nghĩ rằng họ say rượu đó sao? Chúa Giêsu đã chẳng muốn họ có sự vui mừng trong chính họ và sự vui mừng đó được tràn đầy đó sao?

Lẽ dĩ nhiên, hạnh phúc mà bài Tin Mừng đề cập đến không phải là thứ hạnh phúc mang đến của ăn vật chất, nhưng là hạnh phúc đời đời vì con người sung sướng được nhìn thấy Thiên Chúa. Tuy nhiên, thứ hạnh phúc đó đã bắt đầu có ngay nơi những tâm hồn được Thiên Chúa Tình Yêu ngự trị:

– Hạnh phúc cho những ai yêu và cảm thấy mình được yêu.

– Hạnh phúc cho những ai biết thú vui của cuộc gặp gỡ đích thực.

– Hạnh phúc cho những ai hiểu rằng mình được Thiên Chúa yêu dù bất cứ điều gì xẩy ra, họ vẫn hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Ngài.

Nhưng để được sống trong bầu khí tình yêu như vậy, cần phải đơn sơ, nghèo khó, trong sạch, biết khóc, hay thương xót người và khát khao sự công chính. Tất cả các mối phúc của bài Tin Mừng là những khía cạnh khác nhau của mối phúc TìnhYêu cao cả.

1– Hạnh phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó! Để yêu Thiên Chúa và tha nhân, chúng ta còn phải luôn sống thanh thoát khỏi những ràng buộc vật chất và tình yêu vụ lợi. Lúc đó chúng ta sống một mối tương quan thực sự với Thiên Chúa và cứ để cho Thiên Chúa yêu chúng ta. Vì thế:

– Hạnh phúc cho ai vui lòng nở hoa nơi mà họ đã được gieo trồng.

– Hạnh phúc cho ai chấp nhận những yếu đuối và giòn mỏng của mình.

– Hạnh phúc cho ai không so sánh mình với người khác: luôn nhìn nhận người khác quan trọng hơn.

– Hạnh phúc cho ai đừng cho mình là quan trọng.

– Phúc cho ai biết dùng thời gian chơi và thư giãn.

– Phúc cho ai vui vẻ biết cho đi.

– Phúc cho ai biết nghe trước khi nói.

– Phúc cho ai biết dùng thời gian làm bạn với người khác.

– Phúc cho ai biết cần người kitô khác để cùng sống đức tin.

– Phúc cho ai biết mình cần Thiên Chúa.

– Phúc cho ai biết hướng về Thiên Chúa vì cảm thấy mình nghèo.

– Phúc cho ai cần đọc một quyển sách hay để tĩnh tâm.

– Phúc cho ai biết dùng thời gian để cầu nguyện.

2- Phúc cho ai biết khóc, bị bách hại vì lẽ công chính. Chúa Giêsu không nói: Phúc cho sự nghèo khó, phúc cho sự bách hại. Ngài nói: phúc cho anh em là những người nghèo, phúc cho anh em là những người khóc lóc. Tất cả những ai như vậy là đối tượng đặc biệt của tình Yêu Thiên Chúa. Vậy khi đau khổ hoặc khi chịu bách hại, chúng ta có biết chịu đựng để yêu Thiên Chúa không? Và yêu Ngài tới mức nào? Chúng ta có biết khóc vì lỗi lầm của chúng ta không? Hoặc có biết chịu đựng đau khổ để thanh tẩy không?

Nước mắt cũng là lời mời gọi tình yêu. Vì thế:

– Phúc cho ai biết cho đi nước mắt

– Phúc cho ai tin rằng những khó khăn hiện tại có thể là một con đường hạnh phúc

– Phúc cho ai khi chịu đau khổ biết tìm lại ý nghĩa của giá trị đích thực

– Phúc cho ai tin rằng trong họ cũng có sức mạnh để vượt qua thử thách

– Phúc cho ai biết rằng mình chịu đau khổ vì một lý do chính đáng

– Phúc cho ai biết rằng mình chịu đau khổ vì người mình yêu

– Phúc cho ai vui lòng để Thiên Chúa ủi an nâng đỡ

3- Phúc cho ai xây dựng hoà bình và đói khát sự công chính. Đó là những người biết giữ bầu khí tình yêu giữa mọi người. Người công chính là người làm theo ý Chúa, mà ý Thiên Chúa chính là sự bình yên ngự trị giữa anh em. Người công chính là người biết tìm cách để trở nên hoàn thiện như Cha trên trời. Vì thế:

– Phúc cho ai hoạt động tích cực để tìm kiếm hoà bình mà không dùng bạo lực.

– Phúc cho ai giữ được bình tĩnh trước những người hung hăng khiêu khích.

– Phúc cho ai vui mừng vì đóng cửa một nhà máy sản xuất vũ khí.

– Phúc cho ai biết tắt tivi trước những phim bạo lực.

– Phúc cho ai không sợ những đòi hỏi của Thiên Chúa.

– Phúc cho ai biết từ chối tất cả những gì có hại.

– Phúc cho ai tìm kiếm sự hoàn thiện nhưng không cầu toàn.

4- Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch. Tình yêu chỉ lớn lên nơi những ai có tâm hồn trong sạch. Tâm hồn trong sạch mà Tin Mừng nói tới đó là những người không có tính giả dối hai lòng. Họ thật thà với chính họ: thật thà với người khác, thật thà với Thiên Chúa. Ngay ở trần gian này họ có khả năng thấu suốt mầu nhiệm về Thiên Chúa. Họ tạo nên môi trường chung quanh bầu khí trong sáng không có gì là mờ ám. Vì thế:

– Phúc cho ai có đôi mắt sáng như phalê.

– Phúc cho ai thống nhất giữa lời nói và việc làm.

– Phúc cho ai không bị giằn vặt bởi ghen tương.

– Phúc cho ai khát khao tính rõ ràng và trong sạch.

– Phúc cho ai chỉ nói một lời.

– Phúc cho ai con tim không bị chia sẻ.

– Phúc cho ai cầu ngyện bằng tất cả con tim chứ không chỉ bằng môi miệng

5- Phúc cho ai có lòng thương xót. Lòng thương xót chính là tình yêu cúi xuống trước mọi khốn cùng. Đó là lòng tha thứ đối với tội nhân, là bác ái tích cực đối với cảnh thiếu thốn vật chất. Thiên Chúa yêu chúng ta đến thế, vì Ngài có lòng thương xót trổi vượt. Vì vậy:

– Phúc cho ai hào hiệp trước khổ đau mà họ gặp thấy trên đường.

– Phúc cho ai không làm điều xấu cho người khác.

– Phúc cho ai không phô trương khi làm điều tốt cho anh em mình.

– Phúc cho những Simon giúp đỡ người khác vác thập giá.

– Phúc cho ai là người trước tiên biết xin ơn tha thứ.

– Phúc cho ai biết quên đi và tha thứ cho những người xúc phạm đến mình.

– Phúc cho ai biết ngợi khen Thiên Chúa vì lòng thương xót của Ngài.

– Phúc cho ai không nghi ngờ Thiên Chúa đã tha thứ cho họ.

Vâng, nếu chúng ta muốn, thì trời đã ở giữa chúng ta. Tại sao phải đợi đến khi chết thì mới được về trời? Trời ở nơi nào mà tình Yêu đích thực, không vụ lợi, biếu không và quảng đại ngự trị. Chìa khoá của hạnh phúc là sống tình yêu qua các mối phúc Chúa dạy. Tôn giáo của chúng ta không nói rằng: cuộc sống trần gian chỉ là thung lũng đầy nước mắt. Thiên Chúa là hạnh phúc và niềm vui cho chúng ta. Tôn giáo của chúng ta, lòng đạo đức của chúng ta chính là niềm vui của Thiên Chúa.

Lm Gioan Đặng Văn Nghĩa