【#1】17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế

Đầy đủ 17 bài văn tế thập loại Cô Hồn dành cho chẩn tế âm linh cô hồn, chiến sĩ trận vong, đồng bảo tử nạn, chiêu hồn, giải oan bạt độ, cúng tế thí thực.

KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn I)

Trước cửa Phật lập đàn phổ thí,

Cho trọn đều quân lợi âm dương,

Quang minh tỏ khắp mười phương,

Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào.

Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp,

Bóng mây từ che rợp mọi nơi,

Lọt đâu dưới đất trên trời,

Từ bi tế độ muôn đời viên thông.

Trên đức Phật rất công rất chính,

Dạy cho đời luyện tính tu tâm,

Thương người đọa kiếp tối tăm,

Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.

Lòng từ mẫn mọi bề thương hết,

Nay gặp ngày Đản tiết nên quy,

Trước Đàn tề chỉnh oai nghi,

Tuyên dương để chứng quy y thực hành.

Hạnh giải thoát chúng sinh khổ não,

Cõi Ta bà sáu đạo loanh quanh,

Âm ty địa ngục đã đành,

Dương gian địa ngục nỗi tình thêm thương.

Nói không xiết trăm đường đày đọa,

Rồi mang tai trát họa vào thân,

Không sao khỏi nghiệp tham sân,

Ăn quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.

Nào những hạnh ranh ma quỉ quái,

Dối lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?

Bo bo giữ thói ở xằng,

Cái dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.

Nào những hạng lòng chim dạ thú,

Ghét ghen nhau làm đủ tội tình,

Khư khư quen thói chẳng lành,

Cái vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.

Nào những kẻ yếu đau què quặt,

Phận hẩm hiu trời bắt chịu đày,

Thật là khổ ách không may,

Nào ai có muốn thân này thế đâu!

Nào những kẻ âu sầu lòa lẫm,

Số cưu mang câm điếc phải đành,

Thực là khốn khổ thương tình,

Ý ai chẳng muốn thân mình phong quang?

Vì túc trái ngỡ ngàng sao đó,

Hoặc tiền nhân nghiệp thọ thế nào,

Thực lòng luống những lao đao,

Cửa từ bi nỡ để ngơ sao đành.

Thầy nay dạy thực hành chánh đạo.

Dòng Thiền học Phật giáo chủ trương,

Quang minh quảng đại vô lường,

Ba thừa giáo hóa mọi phương thi hành.

Giữ một mực chí thành tinh tiến,

Dập các duyên hư huyễn hão huyền,

Những môn tà đạo lưu truyền,

Nay quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.

Trước Đàn ngoại lễ nghi các thưùc,

Trên đài sen tỏ đức huyên minh,

Thầy đây lập nguyện chí thành,

Tuyên dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.

Hiện nay có chư Thiên hậu thổ,

Cửa từ bi tế độ không cùng,

Đạo tràng Thiền học lưu thông,

Tu hành chân thật thủy chung một lòng.

Đàn phổ thí phẩm vật nghi tiết,

Thầy dạy thêm cho biết công duyên,

Những người quỳ trước Phật tiền,

Đem câu nhân quả phổ truyền rộng ra.

Dặn hết thảy gần xa thiện tín,

Nên thành tâm phát nguyện quy y,

Nương nhờ Tam bảo hộ trì,

Ăn chay niệm Phật mà quy cho tròn.

Xem nhân thế càn khôn che chở,

Nhứt hoàn hương duyên nợ phong trần,

Hỡi ai kết quả tạo nhân,

Xem cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.

Muốn xét lại cho hay nghiệp trước,

Hiện thọ đây thấy được tỏ tường,

Muốn mong kiếp nữa vẻ vang,

Sự hành trì phải sửa sang tự giờ.

Nhân mấy quả trong cơ chuyển hóa,

Nhân có đầy thì quả mới nên,

Thầy nay chỉ dẫn căn nguyên,

Cõi dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.

Ơn đức Phật lời vàng khuyên nhủ,

Dạy chúng sinh tín thụ cho hay,

Phúc thời vui vẻ như đây,

Họa thời khổ não đọa đầy như trên.

Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ-tát Ma ha tát.

-Trích Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971

Ngạ quỷ đói

SÁM TRIỆU CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 2)

Hỡi linh hồn trước sau tề tựu,

Nghe lời khuyên để rũ tội mình,

Quan Âm Địa Tạng oai linh,

Thích Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.

Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất!

Noi tâm lành của Phật làm gương,

Diêm La cực khổ trăm đường,

Mau tu thì đặng Tây phương thâu về.

Hỡi linh hồn chết chìm đáy biển,

Và bao người độc dược bỏ thân!

Tiếng chuông tỉnh thức dần dần,

Đừng ham cõi tục trầm luân luân hồi.

Hỡi các hồn chết thiêu chết chém,

Hổ giảo thân bị yểm bị trù!

Kíp tìm kinh kệ sớm tu,

Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa,

Chết phong ba chết giữa núi non!

Nếu nghe chuông dục bon bon,

Mùi hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.

Hỡi hồn ơi! Vì tình chư Phật,

Ta khuyên hồn đất Phật là nơi,

Các hồn sẽ đặng thảnh thơi,

Hưởng mùi hương Phật suốt đời đặng an.

Hỡi hồn đã lỡ làng trót dại,

Theo đàng taø quỉ quái yêu tinh,

Nay đây khẩn nguyện chân kinh,

Khuyên hồn phải rán sửa mình cho tinh.

Hỡi hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,

Nương gió mây thừa thải từ xưa!

Hồn ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,

Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

Hỡi hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,

Ngài ra ơn gột khổ sanh linh.

Hỡi hồn bị bịnh bỏ mình,

Và hồn dậy phá chân kinh loạn trần.

Nghe ta kinh kệ giải phân,

Cầu cho hồn đặng muôn phần yên vui.

Hỡi hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,

Ta khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,

Mùi hương lư ngọc bổng trầm

Khéo tu hồn sẽ an tâm giữa trời.

Các hồn bị cá xơi, rắn cắn,

Cùng những hồn số vắn vô danh,

Hãy nghe kinh kệ ăn năn,

Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

Hỡi những hồn vì lời gièm xiểm,

Nên hủy mình chết lụn căm gan,

Sớm nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,

Phật kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

Nam mô độ hộ muôn hồn,

Vì hồn trót dại quáng mù từ xưa.

Kinh là phước, cầu đưa tội lỗi,

Tu là lành, sám hối ngàn năm.

Lạy cầu chư Phật từ tâm,

Khẩn van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.

Tiếng chuông ngân hương thơm giải thoát.

Nước nhành dương rảy mát xác phàm,

Hỡi hồn cư ngụ muôn am!

Về đây hưởng thực cầu van sửa mình.

Nam Mô Bộ Độ Đế Rị Già Rị Đa Rị Đát Đa Nga Đa Gia (3 lần)

-Trích Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974

-Bài dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.

SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA

(Thí thực cô hồn 3)

NGUYỄN DU

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

Toát hơi may lạnh ngắt xương khô;

Não người thay buổi chiều thu!

Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,

Đường bạch dương bóng chiều man mát,

Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

Lòng nào lòng chẳng thiết tha?

Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,

Xót khôn thiêng phảng phất u minh!

Thương thay thập loại chúng sinh,

Phách đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.

Hương khói đã không nơi nương tựa,

Phận mồ côi lần lữa đêm đêm;

Còn chi ai khá ai hèn,

Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu!

Tiết đầu thu dựng Đàn giải thoát,

Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.

Muôn nhờ Phật lực từ bi,

Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,

Chí những lăm cướp gánh non sông;

Nói chi đương thuở thị hùng,

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

Bỗng phút đâu mưa bay, ngói lở,

Khôn đem mình làm đứa sất phu;

Giàu sang càng nặng oán thù,

Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

Quỷ không đầu van khóc đêm mưa;

Đã hay thành bại là cơ,

Mà u hồn biết bao giờ cho tan!

Nào những kẻ màn loan, trướng huệ,

Nhưõng cậy mình cung quế Hằng nga;

Một phen thay đổi sơn hà

Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?

Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,

Phận đã đành trâm gãy bình rơi;

Khi sao đông đúc vui cười,

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

Thảm thiết nhẽ không hương, không khói,

Hồn ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;

Thương thay chân yếu tay mềm,

Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.

Nào những kẻ mũ cao áo rộng,

Ngòi bút son thác sống ở đây;

Kinh luân chất một túi đầy,

Đã đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh;

Nghìn vàng không đổi được mình,

Lầu ca, viện xướng, tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

Biết lấy ai bát nước nén nhang?

Cô hồn thất thểu dọc ngang,

Mạng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

Nào những kẻ bày binh bố trận,

Đem mình vào cướp ấn Nguyên nhung.

Gió mưa sấm sét đùng đùng,

Rải thây trăm họ, làm công một người.

Khi thất thế cung rơi, tên lạc,

Bãi sa trường, thịt nát máu rơi;

Bơ vơ góc biển chân trời,

Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

Khí âm huyền mờ mịt trước sau;

Ngàn cây nội cỏ rầu rầu,

Naøo đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,

Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn;

Ruột rà không kẻ chí thân,

Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

Của phù vân dù có như không;

Sống thời tiền chảy bạc ròng,

Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn thương gì hàng xóm,

Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm;

Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm,

Tàn hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp càu chữ quí,

Dấn mình vào thành thị lân la;

Mấy thu lìa cửa, lìa nhà,

Văn chương đã chắc đâu mà chí thân?

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng?

Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

Anh em thieân hạ láng giềng người dưng.

Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

Bãi tha ma kẻ dọc người ngang;

Cô hồn nhờ gởi tha hương,

Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,

Cánh buồm mây chạy xế gió đông;

Gặp cơn giông tố giữa dòng,

Đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán,

Đòn gánh tra chín dạn hai vai;

Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan;

Nước khe cơm vắt gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.

Buổi chiến trận mạng người như rác,

Phận đã đành đạn lạc tên rơi;

Lập lòe ngọn lửa ma chơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;

Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con tá biết mà cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não,

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa;

Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

Rồi tháng ngày hành khất ngược xuôi;

Thương thay cũng một kiếp người,

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc,

Gởi mình vào chiếu rách một manh;

Nấm xương chôn rấp góc thành,

Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha;

Lấy ai bồng bế xót xa.

U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

Cũng có người sẩy cỗi sa cây;

Có người gieo giếng thắt dây,

Ngược trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,

Người thì mắc sơn tinh thủy quái,

Người thì sa nanh sói ngà voi;

Có người hay đẻ không nuôi,

Có người sa sẩy, có người khốn thương.

Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

Cầu Nại hà kẻ trước người sau;

Mỗi người một kiếp khác nhau,

Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ, dọc bụi,

Hoặc là nương ngọn suối chân mây;

Hoặc là điếm cỏ bóng cây,

Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ.

Hoặc là nương thần từ Phật tự,

Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông;

Hoặc là trong quảng đồng không,

Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,

Ruột héo khô, dạ rét căm căm;

Dãi dầu trong mấy mươi năm,

Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương;

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra;

Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

Có khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.

Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,

Bóng hào quang cứu khổ độ ưu;

Rắp hòa tứ hải quần chu,

Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

Nhởn nhơ Tiêu Diện đại vương,

Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,

Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;

Mười loài là những loài nào,

Gái trai, già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như bào như ảnh,

Có chữ rằng: vạn cảnh giai không;

Ai ơi lấy Phật làm lòng,

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

Của có chi bát nước nén nhang;

Gọi là manh áo thoi vàng,

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đấy dưới trên ngồi lại,

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu:

Phép thiêng biến ít thành nhiều,

Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ,

Chớ ngại rằng có có không không;

Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

-Trích Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1973

VĂN TẾ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 4)

TRÀ AM VIÊN THÀNH

Tượng nghe đại địa sơn hà,

Luống trong sinh tử cửa nhà vốn không.

Cô hồn hoạnh tử yểu vong,

Nương thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.

Trên thì tướng tướng, vương công,

Dưới thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.

Gái trai những kẻ tôn ti,

Hoặc là tử trận, có khi oan tình.

Hoặc là vương pháp gia hình,

Uống trúng độc dược hại mình tự nhiên.

Sa cơ sống gió chìm thuyền,

Lỡ làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.

Xà thương hổ đả hải hùng,

Huyết hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!

Hoặc là mắc phải thiên lôi,

Vong thân chú trớ bồi hồi mạng chung.

Hoặc là đường sá lỡ làng,

Mắc phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.

Hà sa phẩm loại khôn cùng,

Lòng thành tín chủ mời chung các loài.

Từ rằng theo bóng Như lai,

Đã không cứu vớt lấy ai nương nhờ.

Từ đường đâu có phụng thờ,

Cô đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.

Thảm thương mặt nước cung mây,

Rả rời xương thịt, hồn bay lạc loài.

Chẳng hay thử vãng hàn lai,

Bốn mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.

Thân bằng ít kẻ tri âm,

Lấy ai cứu vớt mà hòng thoát ly!

Thảm thương về chốn thổ ty,

Luôn trong diểu diểu lấy gì mà ra!

Nương nhờ tín chủ toàn gia,

Thọ tài hưởng thực mà qua Liên trì.

Từ rằng vâng phép từ bi,

Siêu phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.

Sớm khuya cửa Phật ân cần.

Phù trì gia chủ thừa ân những ngày.

Đừng còn theo thói mê say,

Tham lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.

Nam mô đức Phật Di Đà,

Phóng quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.

Trước triệu thỉnh lủy triều đế chủ,

Trên ngai vàng trải nối hầu vương.

Chín tầng điện các đài gương,

Nước non muôn dặm, mười phương cầm quyền.

Nghìn năm vương khí danh truyền.

Xe loan để tiếng oán phiền chưa thôi!

Tiếng quyên kêu nguyệt bồi hồi,

Gành đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.

Tiền vương hậu bá khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,

Đấng hiền lương trí dũng khôn ngoan.

Giá trong tieát trắng làm quan,

Một lòng báo quốc nên trang đan thành.

Nam châu bắc huyện thơm danh,

Theo nơi tang thác bỏ đành quê hương.

Thiên nhai hải giác khôn lường,

Sa cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.

Than ôi! Những đấng anh tài,

Theo dòng thệ thủy cách đài dương quan.

Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Chức phong hầu đứng trước muôn dân.

Sức dời bảo đỉnh nghìn cân,

Trường thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.

Trước hùm sương nhiễm, ghê thay!

Sa cơ một phút đổi thay công hầu.

Thương ôi người ngựa ở đâu,

Xui nên họa cả thảm sầu khôn dung.

Xiết bao tướng súy anh hùng,

Lánh nơi vinh hiển theo cùng âm ty.

Những người sa trụy bất kỳ,

Nghe lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.

Lại thỉnh kẻ văn nhân tài tử,

Chốn thư phòng cửa Khổng vào ra,

Bút nghiên kinh sử ngâm nga,

Văn chương tu luyện đợi khoa nương mình.

Mơ màng lấp lóa đèn huỳnh,

Công phu khổ dụng đăng trình gặp khi.

Mười năm tân khổ mong thi,

Naøo hay một phút xa kỳ công danh!

Hồng lô tính tự rành rành,

Đất vàng một nấm lấp thành văn chương.

Văn nhân tài tử không lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,

Nương rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.

Cao Tăng quyết chí tinh tu,

Trăm năm giới luật công phu dùi mài.

Giữ gìn phạm hạnh hôm mai,

Tỳ-kheo Ni chúng khác người thế gian.

Hoàng hoa, thủy trúc luận bàn,

Không đàm bí mật nên mang thế tình.

Bóng đèn lấp lóa hư minh,

Than ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.

Nghe lời Bát nhã, Phạm âm,

Truy y Thích tử lại lâm đáo đàn.

Lại thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,

Chốn Bồng lai sớm luyện đan tiên.

Nương theo thạch động đào nguyên,

Tu tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.

Danh thơm chưa nức trong đời.

Vô thường khi đã đổi dời công phu.

Thương ôi! Sương tuyết dãi dầu,

Tiêu điều gió thảm hoa sầu hơi sương.

Huyền môn đạo sĩ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,

Với những kẻ lâm trận kiện nhi.

Cầm bạch tiết, vác hồng kỳ,

Tức gan quyết chí trận kỳ hơn thua.

Trung thành hết sức phò vua,

Nào hay một phút xa đưa dặm trường.

Thương ôi! Huyết lụy sa trường,

Thà ôm xương trắng để đường cho ai!

Trận vong binh sĩ an tài,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.

Lại thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,

Chốn lâu đài khuê các vào ra.

Ướp xông hương xạ diềm dà,

Phấn thoa sáp đánh màu da khác người.

Mặt hoa mày liễu tốt tươi,

Hình dung yểu điệu, miệng cười như hoa,

Hồn tiên kim ốc vào ra,

Hoa tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!

Thương ôi! Ngọn gió thổi sầu,

Đống xương khô héo dãi dầu cỏ sương.

Quần thoa phụ nữ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,

Trải tháng ngày mua bán tranh đua.

Đổi dời lừa tráo hơn thua,

Đào công nối nghiệp bán mua so lường.

Chẳng ngờ nổi trận phong sương,

Mình vào ngư phúc dương trường, khốn thay!

Hồn dời bể bắc dặm dài,

Phách về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.

Tha hương lữ khách lỡ thời,

Nghe lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,

Chịu đắng cay tọa thảo tam triêu;

Bằng khi loan phụng hòa yêu,

Hùng bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.

Gái trai còn hãy chưa hay,

Đêm trường mẫu tử, phút này giai quy.

Thương ôi! Hoa nở chính kỳ,

Nào hay một phút gặp khi mưa dầm.

Huyết hồ sản nạn lỗi lầm,

Nghe lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ nhung di man địch,

Tiếng chẳng thuần ngọng lịu như câm.

Lại còn trong dạ hiểm thâm,

Cưu điều hung dữ lưu tâm hại người.

Khinh khi Tam bảo chê cười,

Tội khiên chất để bằng mười hà sa.

Ngổ ngang mắng mẹ khinh cha,

Ác cao như núi chết mà không tha.

Chẳng may hồn phách la đà,

Mịt mờ vũ trụ bao là đớn đau!

Thương ôi! Ẩn ẩn phương nào,

Ngày xuân chẳng thấy ra vào u quan!

Hỡi người bội nghịch si ngoan,

Nghe lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,

Bị lao tù mắc phải gia hình.

Gặp cơn thủy hỏa bất bình,

Một đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.

Nghìn năm oan khí chưa xong,

Linh hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.

Trời xanh tiếng hạc rộn ràng,

Gió lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!

Mấy người hoạnh tử xưa nay,

Nghe lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.

-Trích Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha Trang, 1972

1 Câu này thỉnh kẻ cô hồn hoạnh tử khi lâm sản hoạc bị sẩy thai, sút thai.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

(Thí thực cô hồn số 5)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Đến khi trăm tuổi mạng chung

Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Đà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Đài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn số 6)

Hỡi ôi !

Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,

Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.

Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,

Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.

Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,

Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.

Nên phải mang phiền não dập dồn,

Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.

Cầu chư Phật oai thần tế bạt,

Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.

Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,

Xin chư vị tề lai thọ hưởng.

Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,

Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,

Độ mười phương sanh chúng bình yên,

Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.

Lụy trào đế hầu vương đáng kính,

Vận nước vong khó tính mưu thành.

Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,

Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.

Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,

Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.

Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,

Nơi dương thế âm dung đà khuất.

Tài bút nghiên văn thần báo quốc,

Tấm lòng son công chất nhà vàng.

Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,

Rồi một thuở danh vang tể tướng.

Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,

Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.

Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,

Ba thước đất vùi danh tài tử.

Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,

Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.

Đèn tắt khuya Thiền thất hư minh,

Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.

Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,

Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.

Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,

Chí chưa toại tầm đàng Địa phủ.

Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,

Tại trận tiền củ củ oai hùng.

Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,

Lằn tên đạn không dung tánh mạng.

Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,

Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.

Sóng ba đào phong võ khó lường,

Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.

Mười tháng chẵn mang con trong dạ,

Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.

Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,

Hoa mới nở vội liền mưa gió.

Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,

Công sanh thành chưa rõ cao dày.

Hoặc huyền lương độc dược ra tay,

Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.

Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,

Thác giữa đàng không đất gởi thây.

Hồn dật dờ theo gió theo mây,

Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.

Người nghèo khó đốn cây non lãnh,

Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.

Bị độc trùng ác thú hổ lang,

Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.

Người lương thiện tao phùng tật đố,

Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.

Oan hồn tìm đến chốn u thâm,

Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.

Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,

Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.

Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,

Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.

Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,

Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.

Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,

Hồn lìa cách dương trần rất thảm.

Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,

Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !

Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,

Rủi một phút thân thiêu tro bụi.

Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,

Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.

Mạng số suy, thần tử chẳng tha,

Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.

Khi bão tố đá cây ngã liệt,

Sập cửa nhà đè chết nào hay.

Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,

Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.

Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,

Chấn động miền non núi đất liền.

Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,

Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.

Bị xe cán nát thây rùng rợn,

Vận kiếp xui họa lớn nào hay.

Bà con trông than khóc thảm thay,

Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.

Vì ái dục si tình tự tử,

Cơn đắm mê nào sợ tội mang.

Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,

Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.

Ít phước đức họa tai lôi kéo,

Đời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,

Trên giàn cao ngã té bất kỳ,

Thân tan nát hồn phi phách tán.

Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,

Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.

Thảm thương cho hồn phách linh đinh,

Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.

Người lương thiện chết oan điên đảo,

Vì đạn tên lạc náo xóm làng.

Oan hồn cam vào chốn nguy nan,

Chịu u ám, xa đàng giải thoát.

Bị khổ bức vì tình đen bạc,

Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.

Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,

Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !

Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,

Đoạt của rồi giết chủ thác oan.

Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,

Kết thù oán khôn toan siêu độ.

Đời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,

Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.

Phách hồn oan lạc lối u minh.

Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.

Đời giặc giã nghịch thù vô tận,

Chôn sống người giữa đám đồng hoang.

Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,

Trong giây phút dương gian cách biệt.

Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,

Trói lương dân thù ghét quăng sông.

Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,

Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.

Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,

Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.

Hồn phất phơ nơi chốn long đong,

Biết bao thuở thoát vòng khổ não.

Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,

Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.

Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,

Bà con thấy, ai bi thống thiết !

Người tắm biển tắm sông biệt tích,

Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.

Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,

Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.

Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,

Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.

Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,

Rủi một phút hồn phi phách tán.

Còn nhiều loại hồn oan ta thán,

Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,

Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,

Đương xiêu lạc khắp nơi khổ não.

Lời thiển bạc nay đà trần tố,

Thương xót thay nỗi khổ các vì.

Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,

Xin sám hối tiền phi hậu quá.

Xét tội lỗi oan khiên vay trả,

Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,

Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,

Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.

Quy y Phật tịnh yên hồn phách,

Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.

Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,

Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.

Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,

Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.

Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,

Độ chư vị thoát đàng khổ não.

Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,

Thập Điện đồng mở đạo Từ bi.

Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,

Đức Địa Tạng đại bi cứu rỗi.

Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,

Vãng sinh miền Tịnh Độ thảnh thơi.

Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,

Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.

Nam mô A Di Đà Phật.

VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN

(Thí thực cô hồn số 7)

Hỡi chư chiến sĩ trận vong !

Hỡi chư lương dân tử nạn !

Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Người sanh trên thế ai không chết,

Để tấm lòng son rạng sử xanh.

Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,

Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.

Chí trung cang nghĩa khí sắc son,

Gương Thánh Đế nay còn nêu đó !

Nợ nước non ai ai cũng có,

Phận công dân giao phó phải mang.

Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,

Phải đáng bực trung thần liệt nữ.

Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,

Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.

Nay tuy là u hiển biệt ly,

Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,

Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,

Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.

Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,

Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.

Thôi nợ nước nay đà tận báo,

Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.

Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,

Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,

Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,

Rửa cừu oan diệt tất não phiền.

Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,

Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác

Sen chín phẩm nở ra trước mắt,

Hết tử sanh quả Phật thấy liền.

Hỡi các vì hồn có linh thiên,

Nơi chín suối khá liền sám hối,

Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,

Dắt dìu ra khỏi lối u minh.

Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,

Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.

Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,

Lập đức công báo bổ tứ ân,

Lời thiết tha đạo đức phân trần,

Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.

Nam Mô A Di Đà Phật.

VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

ĐỒNG BÀO TỬ NẠN.

(Thí thực cô hồn số 8)

Hỡi ôi !

Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,

Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,

Chúng sanh phải chịu khổ nguy,

Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.

Việc may rủi biết đâu chọn lánh,

Nhận làm người mang gánh sự trần,

Tam cang mới nặng muôn cân,

Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.

Lẽ sống thác là tùy số phận,

Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,

Mình là bổn phận con dâu,

Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.

Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,

Giận quân thù chí dốc tòng quân,

Ra đi dạ luống bâng khuâng,

Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.

Khi lặn suối trèo non vượt bể,

Khi lên truông qua ải xuống đèo,

Đai cơm, bầu nước, gươm đeo,

Chút thân sống thác do theo số trời.

Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,

Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,

Nhớ con thổn thức canh gà,

Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.

Khi sớm tối ai vào thăm viếng,

Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?

Đêm ngày giọt lệ chứa chan,

Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.

Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,

Đánh liều theo máy tạo vần xoay,

Trước cờ da ngựa bọc thây,

Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!

Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,

Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,

Con thơ vợ yếu lao nhao,

Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?

Đêm tủi phận dở dang duyên nợ,

Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,

Trông cho chiến thắng khải hoàn,

Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.

Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,

Cùng anh em chung chạ một nhà,

Xóm làng cô bác ông bà,

Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.

Người muốn vậy không hề được vậy,

Bãi trường sa thịt nát máu tơi,

Tên rơi đạn lạc hết đời,

Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!

Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,

Dưới hố hầm chân núi cội cây,

Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,

Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.

Ai có phước thi hài chôn lấp,

Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,

Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,

Đến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?

Vợ con với mẹ cha đâu biết,

Chừng hay tin thì việc đã rồi,

Nợ trần phủi sạch ai ôi,

Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !

Khen anh dũng xông pha tên đạn,

Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,

Sống làm Tướng, thác làm Thần,

Non sông gánh vác tử phần đao binh.

Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,

Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,

Trận vong chiến sĩ vì đời,

Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.

Nén hương đốt gội nhuần trước án,

Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,

Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,

Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.

Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,

Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,

Hồi đầu nương cửa từ bi

Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.

Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,

Phật mười phương quảng đại độ siêu,

Nương đàn chẩn tế tiêu dao,

Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

(Thí thực cô hồn số 9)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Đến khi trăm tuổi mạng chung

Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Đà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Đài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ LIỆT SĨ

(Thí thực cô hồn 10)

Hỡi chư Liệt sĩ ôi!

Họa đao binh từng đốt nung đất Việt

Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam

Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông

Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt

Nhớ những anh hùng xưa!

Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc

Rửa nhục chung, sống chết đâu màng

Chốn sa tràng, trải mật phơi gan

Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết

Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết

Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương

Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương

Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt

Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến

Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng

Đạn nổ súng rền, gió hơi bom,

long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .

Cờ phất còi reo, tiếng trống dục,

chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.

Dưới làn bom, thịt nát xương tan,

Đành ngã gục không hề khuất tiếc.

Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ,

cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.

Người chiến sĩ, đền xong nợ nước,

trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.

Đấng anh hùng, rửa sạch nhục chung,

đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.

Than ôi!

Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.

Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang

Cảm thương người, tai nạn tràn lan

Thương xót kẻ, uổng oan mất tích

Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh

Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh

Nơi dạ đài, người tử si có linh

Nương thể phách, về trai đàn chứng giám

Hỡi ơi! Thương thay!

Có linh xin chứng! Có linh xin chứng!

– Trích soạn “Kinh Nhựt tụng” – Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.

VĂN TẾ CÔ HỒN (II)

(Thí thực cô hồn 11)

Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê

Cõi nhơn gian thủy lục ê chề

Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán

Trên đến bực vương hầu khanh tướng

Dưới đến người sĩ cổ nông công

Nào kẻ ty, nào người tôn

Nào là nam, nào là nữ

Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ

Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng

Hoặc sa hầm sa hang

Hoặc trúng thang trúng dược

Đau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn

Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm

Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều

Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết

Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt,

Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi

Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển

Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,

Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay

Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai

Mãn tám tiết vắng người đơm quảy

Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu

Mù mù mịch mịch, đường xuất lý m

ảng đợi trông ngày tháng

Hội vô giá may vừa gặp khoản,

Nương theo công bí mật hôm nay

Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh

Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần

Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi!

Ngôi liên đài quanh quất bên thân

Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt

Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức

Đã chứng vào trong bực vô sanh

Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh

Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.

Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.

– Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng – Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê – Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

HỒI HƯỚNG TẾ VĂN

(Thí thực cô hồn 12)

Kiến văn như huyển ế

Tam giới nhược không hoa

Văn phục, ế căn trừ

Trần tiêu, giác viên tịnh

Phục dĩ,

Nguyên chơn như thanh tịnh

Tội tánh vốn là không

Biển khổ rộng mênh mông

Sóng quanh theo đuổi mãi

Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải

Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày

Địa ngục đà thọ báo đắng cay

Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát

Đã chẳng có ngày giải thoát

Ắt là không chỗ đặng siêu thăng

Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân

Để mở đặng đảo huyền dây ác thú

Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú

Thí ra trên tiệc cam lồ

Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn

Soi khắp trong đường minh giới

Nào những mấy dòng mê cả thảy

Khiến đều về cực lạc phương tây

Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực

Đem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi

Diệm nhiên Đại sĩ một tay

Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng

Ngạ quỉ hằng hà sa số

Vô lượng vô biên xiết kể biết bao

Cúi xin từ kiếp bỏ liền

Cho đến ngày tái thế

Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để

Rửa tội khiên phút đã sạch rồi

Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức

Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân

Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ

Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn

Khắp nơi bủa chật thiết sàng

Hiện pháp tòa Bồ đề là đó

Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ

Sái đề hồ cam lộ vào đây

Gặp người trái chủ hôm nay

Buổi đó hết đòi hết hỏi

Nhóm kiếp oan gia buổi trước,

Cùng nhau thôi vấn thôi vương

Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương

Lòng từ thiện minh quang bảo hộ

Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ

Nay thời nhập Thánh siêu phàm

Nợ nhơn thân lụy thế hết còn

Rày đã thừa ân giải thoát

Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện

Miền nhơn gian tứ tướng có chi

Tu la đà bỏ cả sân si

Địa ngục lại hết điều khổ não

Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo

Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng

Giống làm sanh chật nức mười loài

Lên bờ giác lánh nơi đường tối

Khắp xin cả hữu tình một nỗi

Quốc độ này, quốc độ nọ

Và vô lượng các quốc độ thảy

Cùng nhau chung chứng chơn thường

Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài

Thế giới đó, thế giới đây

Và vô lượng các thế giới nào

Buổi đó đều nên Phật đạo

Tứ ân khắp báo

Tam hữu đều nhờ

Người trong pháp giới bao giờ

Ai ai cũng đồng nên chưởng trí.

– Trích soạn “Kinh Nhựt Tụng ” Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG

(Thí thực cô hồn 13)

Nam mô Từ phụ Di Đà,

Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.

Thương đời bá tánh vạn dân,

Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.

Thế gian mong được an nhàn,

Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.

Chết ao, khe, biển, suối, sông,

Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.

Gió giông bão tố thủy triều,

Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.

Hồn phi phách lạc mất rồi,

Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.

Cõi đời sanh tử mơi chiều,

Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.

Lại còn giặc giã đao binh,

Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.

Núi rừng đồng rộng biển sông,

Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.

Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,

Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.

Sông sâu biển rộng bốn phương,

Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.

Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,

Độ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.

Linh đinh hồn vía mịt mờ,

Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.

Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,

Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.

Hồn về cảnh Phật đề huề,

Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.

Quan Âm đại sĩ từ hàng,

Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.

Nguyện cho hồn đặng vui mừng,

Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.

Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,

Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.

Vớt vong khỏi chốn suối sông,

Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.

Đưa vong khỏi biển ba đào,

Đến nơi bờ giác lên mau lạ thường.

Nam Mô Địa Tạng Minh Vương,

Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.

Chúng sanh chìm đắm hải hà,

Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.

Nổi trôi khổ sở tấm thân,

Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.

Nam mô đức Phật Thích Ca,

Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.

Ở trong thế giới U Minh,

Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.

Nguyện ngài giáo chủ A Di,

Độ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.

Ở yên mát mẻ tu hành,

Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.

Nam mô Tịnh độ Lạc bang,

Độ vong hồn đặng Tây phang mau về.

– Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Độ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.

– Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.

VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ

(Thí thực cô hồn 14)

Bích Liên Pháp Sư

SÁM TÁN KHÔ LÂU

(Thí thực cô hồn 15)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm qua đồng vắng ngoạn du

Thấy liền Đại đức khô lâu một vùng

Bốn bên ghê gốc bịt bùng

Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh

Dàu dàu âm khí lạnh tanh

Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Quê người ở mé giang đầu thiu thiu

Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu

Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời

Phèo phèo khí lạnh đòi nơi

Anh em lai vãng, có người nào đâu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Ấy người quân tử ở đâu bên đường

Nhà ai vang vọng đêm trường

Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào

Đau thay gan ruột như bào

Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Đôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này

Xiết thay, người thế ra chi

Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm

Ác vàng thỏ bạc xa xăm

Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi

Dần dà chi nữa người ơi

Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma

Hôm nay thiện tín trai gia

Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”

Lò vàng vừa bén mùi hương

Đạo tràng mời khắp mười phương cô hồn

Bao nhiêu tội chướng để dồn

Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu

Ân triêm phước lợi thắm mầu

Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.

– Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng năm 1940.

– Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre

TRẠO VĂN DIỄN ÂM

(Thí thực cô hồn 16)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm nay cúng thí trai đàn,

Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.

Quan Âm cứu khổ đã đành,

Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.

Niệm câu Mô Phật từ bi,

Tuyên lời bí mật đức dày công cao.

Độ người thập loại nao nao,

Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.

Trước đây triều đại còn truyền,

Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.

Hầu vương huân thích vang danh,

Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.

Trung cung, Tể chấp, đại quan,

Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.

Điềm hoa tươi đã vứt đi,

Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.

Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,

Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.

Chăn dân bủa hóa giữa giòng,

Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.

Đau lòng một chiếu thôi thương,

Phải khi trích án sa trường biên bang.

Hồn còn trìu mến giang san,

Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.

Người võ sĩ, kẻ nhung thần,

Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.

Băng xông trăm trận mũi vàng,

Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.

Đánh Nam dẹp Bắc tơi bời,

Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.

Tấm lòng vì nước mà vong,

Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.

Những người học cổ cùng kinh,

Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.

Bóng quang, hột tuyết dòm theo,

Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!

Ta đà mạng vận làm sao,

Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.

Hương hồn uất uất chi linh,

Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.

Những người cắt ái từ thân,

Cửa không sớm đã chân lần vào trong.

Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,

Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.

Trải bao lạnh nắng xoay quanh,

Sự vô thường đã đến mình nào hay!

Hồi quang soi chút bóng dày,

Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.

Những người võ phục huỳnh quan,

Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.

Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,

Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.

Lao thần khổ hạnh đòi phen,

Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.

Thôi đừng tiếc chút dị hình,

Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.

Những người con thảo cháu lành,

Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.

Những người liệt nữ trinh thê,

Cái thân coi chết như về đâu đâu.

Với người trọng tiết vong xu,

Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.

Hồn còn chói lọi linh thiêng,

Đến đây hưởng thọ một diên cam lồ.

Những người đạo nữ Ni đồ,

Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.

Phụng loan bỏ khống duyên phần,

Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.

Còn chưa liễu đặng vô vi,

Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!

Hồn người thăm thẳm thanh thanh,

Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?

Những người địa lý thiên văn,

Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.

Bói qui, dịch sủ qui vàng,

Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.

Mách người hung kiết biết bao,

Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.

Thôi rày xả ngụy qui chân,

Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.

Những người tọa mãi hành thương,

Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.

Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,

Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.

Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,

Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.

Một niềm lữ mộng vơi vơi,

Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.

Những người phạm pháp tạo hình,

Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.

Hại người toan lấy của người,

Oan gia trái chủ trả đời nào xong!

Người tật ác, kẻ tai hung,

Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.

Suối vàng kíp kíp đôi chân,

Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.

Những người ngựa đạp, xe thương,

Vách đè thân nát như tương rã rời!

Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.

Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.

Hoặc là thủy hỏa tai ương,

Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.

Hồn người bất hạnh trầm trầm,

Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.

Những người âm huyết dương mao,

Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.

Thi công mà trả nợ đày,

Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.

Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,

Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.

Hồn người oan khổ biết bao,

Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.

Những người ngỗ nghịch mẹ cha,

Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.

Những người chê Phật khinh Tăng,

Đốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.

Lắm điều tà kiến trầm mê,

Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.

Hồn người thật ác, thương ôi,

Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.

Cửa nhà đại thí mở ra,

Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.

Tiên vong hòa tổ hòa tôn,

Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.

Đường ba, nạn tám thiếu chi,

Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.

Cậy chưng Phật Pháp quang miên,

Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.

A Di Đà Phật Bồ Đề,

Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,

Đường mê trông thấy nhãn tiền,

Đắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!

Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,

Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.

Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,

Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.

– Đây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định soạn, khoảng năm 1940.

– Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.

VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 17)

Bích Liên Pháp Sư

Dấu người thập loại biết là đâu?

Hồn phách mơ màng trải mấy thu,

Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,

Những mồ vô chủ thấy mà đau!

Tịch mịch dạ canh thâm,

Hoa Đàm bá phạm âm,

Cô hồn văn triệu thỉnh,

Bộ bộ tốc lai lâm.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Ác vàng tên ruỗi,

Thỏ bạc thoi dong,

Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,

Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!

Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,

Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,

Nghe lời triệu thỉnh đành rành,

Hồn chơi trong cõi U minh xin về.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Màu non lờ lạc,

Dòng nước thầm thì,

Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,

Người mới đó, chim rày đã lặn.

Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,

Đôi phen mời, linh sản ở đâu đây,

Vong linh ơi hỡi có hay,

Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Biển trần lênh láng,

Sóng nghiệp lao xao,

Người mê man trong giấc chiêm bao,

May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.

Sống chẳng niệm Di Đà Phật hiệu,

Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,

Đầy ba phen, hương thắp bảo đàn,

Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.

Xin vâng Tam Bảo pháp lành,

Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.

Về đây hưởng thọ hương huê,

Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.

– Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,

Triều đại xưa, trải quá biết bao!

Đền đài chín lớp ở cao,

Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.

Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,

Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,

Đỗ quyên kêu trót tàn canh,

Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.

Trước sau vương bá những là,

Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.

– Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,

Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,

Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.

Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,

Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,

Ngựa xe chiến tướng vắng không,

Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!

Anh hùng tướng soái bao nhiêu,

Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?

– Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,

Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.

Ba năm thanh tiết làm quan,

Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.

Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,

Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,

Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,

Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.

Văn thần xiết kể muôn ngàn,

Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.

– Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,

Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,

Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,

Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.

Tan bữa đốm, tiếc dày công học,

Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,

Lụa hồng bảy thước đề tên,

Đất vàng một cụm, lấp nền văn chương.

Văn nhân biết mấy đâu lường,

Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.

– Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,

Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,

Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,

Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.

Làn hoa trúc, vài câu mật đế,

Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,

Tam canh song tẩm lạnh lùng,

Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.

Trung lưu này những bi ai,

Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,

Dòng vũ y phong cách nhà tiên,

Tu chơn trong động đào nguyên,

Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.

Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,

Đất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,

Lò đơn lẫm quán lạnh sương,

Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.

Bao nhiêu đạo sĩ những là,

Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.

– Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,

Đường bắc nam trải thử hành thương,

Lợi quyền muôn dặm, toan đương,

Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.

Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,

Bước đá mây, xương rã đường dê,

Phách theo mây cuốn sè sè,

Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Đông.

Thương nhân, sau trước một dòng,

Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,

Sức phương cường, mình bận áo binh,

Cờ điều phất bóng tương tranh,

Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.

Ruột gan nát, thao trường kim cổ,

Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,

Cát vàng văng vẳng tiếng ma,

Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.

Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,

Đêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.

– Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,

Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,

Trước mừng loan phụng hiệp bầy,

Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.

Vầng cung phụng, phút tường hung cát.

Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,

Nhành hoa nở, trận mưa tuông,

Đường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.

Những người sản nạn qui âm,

Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,

Với những người ú ớ điếc đui,

Chết mình, tôi tớ lui thui,

Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.

Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,

Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,

Đêm trường thăm thẳm bóng mơi,

Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.

Những người bội nghịch hoang hung,

Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.

– Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,

Gái má đào, sắc nước kém đâu,

Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,

Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.

Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,

Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,

Phong lưu ngày trước đâu rồi,

Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.

Những trang xinh tốt xưa nay,

Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.

– Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,

Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,

Gặp tai nước lửa hại mình,

Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.

Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,

Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,

Mưa chiều khói lạnh nước reo,

Lá thu gió thổi dập dìu như bay.

Những người hoạnh tử xưa nay,

Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.

– Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,

Những cô hồn mười loại đâu đây,

Diện-Nhiên sở thống một tay,

Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.

Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,

Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,

Hồn cô, phách trệ linh đinh,

Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.

Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,

Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.

Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,

Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.

Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,

Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.

A Di Đà Phật Như Lai,

Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.

– Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.

【#2】Bài Cúng Ông Công Ông Táo Tiễn Táo Quân Về Trời Ngày 23 Tháng Chạp

(Thethaovanhoa.vn) – Bài cúng Ông Công Ông Táo: Theo truyền thống của người Việt, ngày 23 tháng Chạp Âm lịch là ngày ông Công ông Táo lên Thiên đình để báo cáo việc từng nhà ở nhân gian trong một năm qua. Vì vậy lễ cúng ông Công ông Táo được người Việt rất coi trọng.

Dự báo thời tiết Tết Nguyên đán Canh Tý 2021: Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia vừa đưa ra bản tin nhận định về xu thế thời tiết dịp Tết Nguyên đán Canh Tý 2021 trong tuần từ ngày 23-29/1 tức 29 Tết đến mùng 5 Tết.

Lễ cúng ông Công ông Táo cần được chuẩn bị và tiến hành với lòng thành và sự kính cẩn của gia đình. Ngoài ý nghĩa bày tỏ lòng biết ơn đến các vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ đã phù trợ cho gia đình trong suốt một năm đã qua, tục lệ cúng ông Công ông Táo còn là nét đẹp trong văn hóa truyền thống của người Việt, hướng con người đến những điều thiện lương.

Nam mô a di đà Phật! (3 lần) Kính lạy Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân! Tín chủ con là :…………. Nhằm ngày 23 tháng Chạp, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, xiêm hài áo mũ, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén Tâm Hương dốc lòng bái thỉnh. Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật. Phỏng theo lệ cũ, Ngài là vị chủ, Ngũ Tự Gia Thần, soi xét lòng trần, Táo Quân chứng giám.

Trong năm sai phạm, các tội lỗi lầm, cúi xin Tôn Thần, gia ân châm chước. Ban lộc, ban phước, phù hộ toàn gia, trai gái trẻ già, an ninh khang thái. Dãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám. Nam mô a di đà Phật! (3 lần) Nam mô a di đà Phật! (3 lần) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương Con kính lạy Ngài đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân. Tín chủ (chúng) con là: …………… Hôm nay, ngày 23 tháng Chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái. Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật. Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm. Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai gái, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành. Chúng con lễ bạc tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì. Nam mô A di đà Phật! (3 lần) Gia chủ viết văn khấn vào một tờ giấy sớ màu đỏ hoặc màu vàng Kính lạy Ngũ Đế. Đông phương Thanh Đế, Nam phương Xích Đế, Tây phương Bạch Đế, Bắc phương Hắc Đế, Trung ương Hoàng Đế. Kính lạy các vị đại tiên. Kính lạy: Thượng đàm thần tướng thiên thiên tướng. Trung đàm thần tướng thiên thiên binh. Hạ đàm thần tướng thiên thiên mã. Kính lạy sơn thần, long thần, thổ địa, thổ công táo quân, thổ kỳ, thần tài hạ đàn chứng giám Hôm nay là ngày 23 tháng chạp năm… Kỷ Hợi. Là ngày thần Táo quân về trời tấu sớ. Tín chủ con tên là… sinh ngày… tháng… năm… nguyên quán… địa chỉ thường trú… với tấm lòng thành kính con xin sửa soạn lễ vật, cùng sơn hào hải vị, tiền vàng, nhang đăng thỉnh cầu kính mời Thượng Đế, Ngũ Đế, các vị Đại Tiên, các vị Thần Tướng, Thiên Tướng, Thiên Binh, Thiên Mã, cùng chư vị thần tiên trên trời dưới đất, chứng giám cho con được làm lễ tiễn thần Thổ Công Táo Quân về trời tấu sớ lên Ngọc Hoàng Đại Đế. Kính lạy Sơn Thần, Long Thần, Thổ thần thổ địa, thổ công táo quân, thổ kỳ hạ đàn chứng lễ. Trong năm qua nhờ ân phúc của Thượng Đế, Ngũ Đế, các vị Đại Tiên và các Ngài mà chúng con được mạnh khoẻ, hạnh phúc, vận khí hanh thông mọi việc đều như ý. Nay con làm lễ với tấm lòng thành kính biết ơn và xin được tiễn chư ngài về trời tấu xin Thượng Đế, Ngũ Đế, cùng chư vị Thần Tiên, toàn gia quyến chúng con xin vô cùng cảm tạ ân đức của Thượng Đế cùng chư ngài đã che chở cho chúng con trong suốt năm qua. Nay kính mong Thần Táo Quân gợi ý lên Tam Thanh Ngọc Hoàng Đại Đế cầu xin Thượng Đế khai ân minh xét để sang năm mới Mậu Tuất 2021, đất nước con được thái bình, quê hương con được giàu đẹp, gia tộc và gia đình con luôn được mạnh khoẻ hạnh phúc, an khang thịnh vượng, vận khí hanh thông, vạn sự như ý. Con cầu xin Thượng Đế, Ngũ Đế các vị Đại Tiên, cùng chư ngài chứng giám cho tấm lòng thành kính của chúng con. Kính chúc Thượng Đế, Ngũ Đế, các vị Đại Tiên cùng chư ngài thiên thiên tuế. Con xin tỏ lòng biết ơn và xin đa tạ. Con xin đa tạ, con xin đa tạ, con xin đa tạ!

Sau khi cúng xong thì lại kính lễ 9 lần.

Lễ xong đi lùi ba bước mới được quay lưng đi.

Chờ nhang cháy 1/3 ta đã có thể mang vàng mã đi hoá cho các vị thần. Hoá xong thì gói tro vào một tờ giấy màu đỏ sạch sẽ, rồi mang cá và tro đi thả ở sông, suối, hay hồ nước có dòng chảy lưu thông. Không nên thả ở những hồ nước bẩn, ao tù.

Ngày 23 tháng Chạp năm nay là ngày Kỷ Mùi nên cúng vào những giờ sau sẽ mang lại nhiều tốt lành cho gia chủ.

Theo các chuyên gia phong thủy, ngày 23 tháng Chạp năm nay, gia chủ có thể cúng ông Công ông Táo vào khung giờ: 5h-7h hoặc 9-11h.

Từ 5-7h sáng ngày 23 là giờ Mão – giờ Đại An.

Cúng Táo quân vào giờ này ngụ ý nhờ Táo quân mang đi những mâu thuẫn, xung đột trong gia đình, giúp gia đạo hưng vượng. Ngoài ra, tiến hành nghi lễ cúng vào giờ này còn mang tới sức khỏe tốt lành, sự bình an trong tâm trí gia chủ.

9-11h ngày 23 là giờ Tỵ. Đây là giờ Tốc Hỷ. Tiễn Táo quân lên chầu trời vào khung giờ này, Táo quân sẽ mau chóng đem về những chuyện may mắn vui vẻ, hứa hẹn trong năm mới cả gia đình có nhiều niềm vui và sự hóa giải kịp thời cho những xui xẻo có thể gặp phải.

Bên cạnh đó, chuyên gia phong thủy còn khuyên mọi người cần phải làm lễ cúng tiễn ông Táo về trời trước giờ Ngọ ngày 23 tháng Chạp.

Theo quan niệm của người xưa, Thổ Công, Táo Quân, Thổ Kỳ là ba vị thần tiên được Trung ương Hoàng Đế phái xuống để làm các vị thần cai quản những gia đình ở hạ giới.

Họ đều là nguyên thần của các vị thần tiên trên trời được nhận sắc lệnh của Ngọc hoàng thượng đế mà xuống cai quản ở trần gian. Họ là đại diện cho thần tiên.

1- Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần. Cai quản đất đai âm trạch và long mạch của gia đình. Ta hay gọi là “Thổ thần thổ địa”.

2- Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân. Cai quản toàn bộ mọi sinh hoạt và bếp núc của gia đình. Đây chính là vị thần tấu sớ lên Ngọc Đế. Ta hay gọi là “Thổ công táo quân”.

3- Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chính Thần. Cai quản toàn bộ việc mua bán hàng hoá đồ ăn thức uống cho gia đình. Ta hay gọi là “Thổ kỳ”.

Do vậy gia chủ có thể làm ban thờ ba vị này chung một bát nhang. Ta cũng không nên để bát nhang thổ thần thổ địa ở cùng với ban thờ gia tiên.

Tuy nhiên kể cả không có ban thờ thì gia chủ có thể làm lễ cúng các vị trên một chiếc bàn riêng để ở ngoài sân, ngoài hành lang hay ở giữa phòng khách nhà mình ở. Trên bàn cúng các vị nên trải vải đỏ. Những ngày mùng 1, ngày rằm… ta nên cúng cho các vị thần bằng chính lòng thành tâm của gia chủ không đòi hỏi lễ lạt quá lớn, có sao thì cúng như vậy.

Ngày 23 tháng Chạp là ngày trọng đại để làm lễ tiễn Thần Táo Quân về Trời tấu sớ nên mọi nghi lễ cần làm bài bản và thịnh soạn.

– Một chiếc bàn đủ lớn để đặt mâm lễ, mặt bàn được trải tấm vải đỏ sang trọng ngay ngắn.

– Một miếng vải đỏ dài trải dưới đất như miếng thảm đỏ để đưa tiễn Thần Táo Quân.

– Một mâm lễ gồm Gà trống trắng, xôi đỏ. Ba chén rượu ba màu đỏ, trắng, vàng. Ba chén trà ba loại mùi vị khác nhau. Màu đỏ mang lại vận khí tốt. Màu trắng mang lại tài lộc. Màu vàng mang lại sự bình an.

– Ngoài ra mâm lễ mặn có thể thêm các món sơn hào hải vị khác tuỳ theo điều kiện từng gia đình.

– Một mâm hoa quả ” ngũ quả” đầy đặn đẹp mắt, trên mâm quả có cài 9 bông hoa đồng tiền màu đỏ.

– Ba bộ quần áo, mũ, giày cho ba vị thần. Gồm: Màu đỏ cho thần Thổ Công Táo Quân. Màu vàng cho Thổ Thần Thổ Địa. Màu trắng, cho thần Thổ Kỳ.

– Vàng thuyền, vàng thỏi, vàng lá cho ba vị mỗi vị 99 thuyền, 99 thỏi, 99 lá.

* Lưu ý: không đốt tiền âm phủ vì họ là thần tiên, họ không phải là vong hồn nên nếu đốt tiền âm phủ họ sẽ không nhận.

– Cá chép 3 con, nếu mua được ba con ba màu, đỏ, vàng, trắng là tốt nhất.

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ lễ nghi cần thiết thì người lớn nhất trong nhà tắm rửa sạch sẽ, xúc miệng bằng rượu, trước khi làm thủ tục.

– Thắp 9 nén nhang.

Lễ cúng thường diễn ra trước 12h trưa ngày 23 tháng Chạp.

Mâm lễ đặt ngoài trời giữa sân hoặc nếu ở chung cư thì giữa nhà, mâm lễ đặt ở hướng Nam, nghĩa là ta quay mặt về hướng Nam mà hành lễ.

1- Hướng Bắc là làm lễ thờ Thượng Đế, Ngũ Đế.

2- Hướng tây bắc là làm lễ thờ các vị Đại Tiên

3- Hướng Đông là làm lễ cúng các vị Thiên tử là Vua hoặc các vị Thánh.

4- Hướng Nam là làm lễ thờ các vị Thần linh.

5- Hướng Tây là làm lễ thờ Phật.

6- Hướng Đông Nam là hướng của Người.

7- Hướng Đông Bắc là hướng của Quỷ.

8- Hướng Tây Nam là hướng của Ma vong.

Văn khấn cúng tiễn như sau

Gia chủ viết văn khấn vào một tờ giấy sớ màu đỏ hoặc màu vàng

Kính lạy Ngũ Đế. Đông phương Thanh Đế, Nam phương Xích Đế, Tây phương Bạch Đế, Bắc phương Hắc Đế, Trung ương Hoàng Đế. Kính lạy các vị đại tiên. Kính lạy: Thượng đàm thần tướng thiên thiên tướng. Trung đàm thần tướng thiên thiên binh. Hạ đàm thần tướng thiên thiên mã. Kính lạy sơn thần, long thần, thổ địa, thổ công táo quân, thổ kỳ, thần tài hạ đàn chứng giám Hôm nay là ngày 23 tháng chạp năm… Kỷ Hợi. Là ngày thần Táo quân về trời tấu sớ. Tín chủ con tên là… sinh ngày… tháng… năm… nguyên quán… địa chỉ thường trú… với tấm lòng thành kính con xin sửa soạn lễ vật, cùng sơn hào hải vị, tiền vàng, nhang đăng thỉnh cầu kính mời Thượng Đế, Ngũ Đế, các vị Đại Tiên, các vị Thần Tướng, Thiên Tướng, Thiên Binh, Thiên Mã, cùng chư vị thần tiên trên trời dưới đất, chứng giám cho con được làm lễ tiễn thần Thổ Công Táo Quân về trời tấu sớ lên Ngọc Hoàng Đại Đế. Kính lạy Sơn Thần, Long Thần, Thổ thần thổ địa, thổ công táo quân, thổ kỳ hạ đàn chứng lễ. Trong năm qua nhờ ân phúc của Thượng Đế, Ngũ Đế, các vị Đại Tiên và các Ngài mà chúng con được mạnh khoẻ, hạnh phúc, vận khí hanh thông mọi việc đều như ý. Nay con làm lễ với tấm lòng thành kính biết ơn và xin được tiễn chư ngài về trời tấu xin Thượng Đế, Ngũ Đế, cùng chư vị Thần Tiên, toàn gia quyến chúng con xin vô cùng cảm tạ ân đức của Thượng Đế cùng chư ngài đã che chở cho chúng con trong suốt năm qua. Nay kính mong Thần Táo Quân gợi ý lên Tam Thanh Ngọc Hoàng Đại Đế cầu xin Thượng Đế khai ân minh xét để sang năm mới Canh Tý 2021, đất nước con được thái bình, quê hương con được giàu đẹp, gia tộc và gia đình con luôn được mạnh khoẻ hạnh phúc, an khang thịnh vượng, vận khí hanh thông, vạn sự như ý. Con cầu xin Thượng Đế, Ngũ Đế các vị Đại Tiên, cùng chư ngài chứng giám cho tấm lòng thành kính của chúng con. Kính chúc Thượng Đế, Ngũ Đế, các vị Đại Tiên cùng chư ngài thiên thiên tuế. Con xin tỏ lòng biết ơn và xin đa tạ. Con xin đa tạ, con xin đa tạ, con xin đa tạ!

Sau khi cúng xong thì lại kính lễ 9 lần.

Lễ xong đi lùi ba bước mới được quay lưng đi.

Chờ nhang cháy 1/3 ta đã có thể mang vàng mã đi hoá cho các vị thần. Hoá xong thì gói tro vào một tờ giấy màu đỏ sạch sẽ, rồi mang cá và tro đi thả ở sông, suối, hay hồ nước có dòng chảy lưu thông. Không nên thả ở những hồ nước bẩn, ao tù.

Những gia đình có điều kiện thì làm được như trên. Ai không có điều kiện thì không bắt buộc phải lễ nghi trịnh trọng. Tuỳ theo hoàn cảnh của mình mà làm, có sao thì ta làm vậy, cốt ở tấm lòng thành kính là được. Trong văn khấn không nói đến Phật. Vì lễ cúng Ông Công Ông Táo là nghi lễ của Thần Tiên. Không phải nghi lễ của Phật Giáo.

Lễ quan soái rút chân hương trước lễ ông Công ông Táo

Bát hương là biểu hiện tâm linh trên ban thờ của mỗi gia đình. Các gia đình thường làm lễ quan soái sửa bát hương cùng với ngày cúng ông Công ông Táo. Lễ quan soái cần phải làm trước khi làm lễ ông Công, ông Táo. Có nghĩa là phải làm sạch lau bát hương, để lại 3 chân hương đẹp nhất lau sạch sẽ rồi cắm lại vào bát hương.

Lễ quan soái một năm chỉ có 1 ngày đó là ngày 23 tháng Chạp, chứ không phải này nào cũng làm được việc này. Sau khi làm lễ quan soái xong, thì các gia đình chuẩn bị đồ lễ cúng ông Công, ông Táo.

Người được lựa chọn làm công việc dọn dẹp ban thờ, rút chân hương cũng phải tắm rửa sạch sẽ, thực hiện nghi lễ với sự thành tâm. Sau khi thắp một nén hương xin phép trên bàn thờ, gia chủ sẽ rút từng chân hương một, cho đến khi còn lại một vài chân hương đẹp nhất thường là ở số lẻ: 3, 5, 7, 9.

Số chân hương đã rút đi này sau đó được mang hóa, tro đổ xuống sông hoặc vùi vào gốc cây. Sau khi hoàn thành công việc, cũng phải có nén nhang cẩn báo với các cụ.

Quan niệm của người Việt cũng cho rằng, việc tỉa chân hương hay lau chùi ban thờ nên tuyệt đối giữ sự yên tĩnh cho bát hương, không được làm xê dịch, di chuyển.

Theo quan niệm cổ truyền, đây là việc của đàn ông trong nhà. Thực tế, ai cũng có thể bốc được bát hương, song đích thân gia chủ bốc là tốt nhất. Đó phải là người thành tâm và chân tay sạch sẽ.

* Các bước tiến hành bốc bát hương

1. Lau rửa sạch bát hương bằng nước muối rượu gừng có pha chút nước hoa hay thả vào mấy cánh hoa hồng cho thơm. Nước đã dùng đổ ra trước sân hay vẩy chung quanh nhà, không đổ xuống cống.

2. Dùng tro đốt bằng rơm nếp (hay trấu), không nên cho cát vì cát nặng.

3. Rửa tay sạch sẽ, lần lượt bốc bát hương. Nên bốc lần lượt từng nắm cốt vào bát. Bốc xong để riêng từng vị trí, tránh nhầm lẫn. Nếu sợ nhầm, có thể viết giấy dán bên ngoài, đến khi đưa lên ban thờ cần bỏ ra.

4. Đặt bát hương lên ban thờ. Bát hương thần linh ở giữa, bát hương bà cô ở tay trái từ trong nhìn ra, bát hương gia tiên bên tay phải.

5. Lễ gồm có hoa tươi, quả tươi, nước sạch bày lên bàn thờ. Tất cả đặt ở phía trước hay bên cạnh bát hương.

6. Đọc kinh và thắp hương.

* Nguyên tắc khi dâng hương

Việc thắp nhang như thế nào cho đúng, phù hợp với văn hóa và phong tục Việt Nam là điều cần biết đối với tất cả mọi người, nó cũng thể hiện văn hóa ứng xử của mỗi người.

Người Việt thường thắp 3 nén nhang lên ban thờ. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian giải thích, 3 nén nhang thể hiện ý nghĩa là tâm nhang (lòng thành), giới nhang (theo lời răn dạy của Phật thánh tổ đường) và định nhang (tuyệt đối không thay lòng đổi dạ).

Tuy nhiên, thực tế cũng có nhiều quan niệm, lý giải khác về phong tục thắp 3 nén nhang của tổ tiên ta.

Thần Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ bắt nguồn từ sự tích “2 ông 1 bà” – vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo quân hoặc ông Táo.

Tích của người Việt kể rằng, Thị Nhi có chồng là Trọng Cao. Tuy ăn ở mặn nồng tha thiết với nhau, nhưng mãi không có con. Vì vậy, dần dà Trọng Cao hay kiếm chuyện xô xát dằn vặt vợ.

Một hôm, chỉ vì một chuyện nhỏ, Cao gây thành chuyện lớn, đánh Thị Nhi và đuổi đi. Nhi bỏ nhà, lang thang đến một xứ khác và sau đó gặp Phạm Lang. Phải lòng nhau, hai người kết thành vợ chồng. Phần Trọng Cao, sau khi nguôi giận thì quá ân hận, nhưng vợ đã bỏ đi xa rồi. Day dứt và nhớ quay quắt, Cao lên đường tìm kiếm vợ.

Ngày này qua tháng nọ, tìm mãi, hết gạo hết tiền, Cao phải làm kẻ ăn xin dọc đường. Cuối cùng, may cho Cao, tình cờ tìm xin ăn đúng nhà của Nhi, nhằm lúc Phạm Lang đi vắng. Nhi sớm nhận ra người hành khất đúng là người chồng cũ. Nàng mời vào nhà, nấu cơm mời Cao. Đúng lúc đó, Phạm Lang trở về. Nhi sợ chồng nghi oan, nên giấu Cao dưới đống rạ sau vườn. Vì quá mệt mỏi nên Trọng Cao ngủ thiếp đi không biết gì.

Chẳng may, đêm ấy, Phạm Lang nổi lửa đốt đống rạ để lấy tro bón ruộng. Thấy lửa cháy, Nhi lao mình vào cứu Cao ra. Thấy Nhi nhảy vào đống lửa, Phạm Lang thương vợ cũng nhảy theo. Cả ba đều chết trong đám lửa.

Ngọc Hoàng thương tình thấy 3 người sống có nghĩa có tình nên phong cho làm vua bếp hay còn gọi là Định phúc Táo Quân và giao cho người chồng mới là Thổ Công trông coi việc trong bếp, người chồng cũ là Thổ Địa trông coi việc trong nhà, còn người vợ là Thổ Kỳ trông coi việc chợ búa. Không những định đoạt may, rủi, phúc họa của gia chủ, các vị Táo còn ngăn cản sự xâm phạm của ma quỷ vào thổ cư, giữ bình yên cho mọi người trong nhà.

Hàng năm, đúng vào ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo Quân lên chầu trời báo cáo tất cả việc làm tốt và chưa tốt của con người trong một năm để Thiên đình định đoạt công tội, thưởng phạt phân minh cho tất cả loài người.

Có nên thờ Táo Quân trong bếp?

Về việc có nên cúng ông Công ông Táo ở chỗ bếp, theo một chuyên gia phong thủy, tín ngưỡng, thực tế là đúng ông Công là thần cai quản đất đai trong nhà còn ông Táo là 3 vị đầu rau trông coi việc bếp núc nhưng tất cả các vị này đều phải được thờ phụng ở trên bàn thờ chính của gia đình.

Không có ai đi đặt bát hương hay bàn thờ ở dưới bếp để thờ cúng các vị thần linh như ông Táo cả. Nói cúng ông Táo ở dưới bếp mới đúng như vậy là không hiểu văn hóa, tín ngưỡng, quan niệm dân gian từ nhiều đời nay của dân tộc Việt Nam.

Theo chuyên gia này, trên bàn thờ các gia đình luôn có 3 bát hương và bát hương chính giữa bao giờ cũng đều dành để thờ các vị thờ thổ công, long mạch, táo quân, tiền chủ những vị cai quản mảnh đất mình cư ngụ, cầu giúp gia đình ăn ở yên ổn. Cùng với đó, hai bát hai bên mới là thờ các vị trong gia tiên, tiền tổ.

“Phải khẳng định thêm rằng, bếp không phải là chỗ để thờ cúng, bởi nơi đó là nơi đun nấu có nhiều uế tạp, thịt sống máu me còn chỗ thờ cúng phải sạch sẽ, trang nghiêm nhất trong nhà. Mọi người nên giữ đúng truyền thống và nét đẹp trong cúng Ông Công Ông Táo ngày 23 tháng Chạp của cha ông ta đã truyền lại từ nhiều đời”, chuyên gia này nhấn mạnh.

Phong tục cúng cá chép ngày 23 tháng Chạp

Hàng năm, Táo quân được ông Trời phái xuống trần gian theo dõi và ghi chép những việc làm Thiện – Ác của loài người. Sau đó, cứ vào ngày 23 hàng năm, Táo quân lại cưỡi cá chép hóa rồng lên Thiên đình báo cáo tất cả việc làm tốt và chưa tốt của con người trong một năm để Thiên đình định đoạt công tội, thưởng phạt phân minh cho tất cả loài người.

Bởi thế, cứ đến ngày Tết ông Công ông Táo là người Việt lại làm lễ cúng cá chép. Người dân thường chuẩn bị một đôi hoặc 3 con cá chép sống, thả trong chậu nước, cúng cùng các đồ lễ khác. Sau khi cúng xong sẽ đem thả ở sông, ao, hồ, nghĩa là “phóng sinh” để đưa ông Táo về trời.

Ngoài ra, trong tâm thức người Việt, “cá vượt Vũ môn” hay “cá chép hóa rồng” còn mang ý nghĩa của sự thăng hoa, biểu tượng của tinh thần vượt khó, sự kiên trì, bền chí chinh phục tri thức để đi tới thành công, biểu trưng cho nhân cách thanh cao tiềm ẩn hoặc hướng đến một kết quả tốt đẹp. Phóng sinh cá chép ngày Tết ông Công ông Táo không chỉ là một nét đẹp văn hóa, đồng thời còn thể hiện sự từ bi quý báu của người Việt Nam.

Ngoài những điểm tương đồng này, thì tuỳ theo phong tục vùng miền mà nghi lễ cúng ông Công, ông Táo giữa 3 miền Bắc-Trung-Nam có sự khác biệt nhất định, nhưng nhìn chung là đều thể hiện tấm lòng thành kính của gia chủ đối với vị thần cai quản việc phúc đức trong nhà.

Người miền Bắc thường cúng ông Công ông Táo từ khá sớm, các gia đình phần lớn đều chuẩn bị mâm cỗ làm lễ từ khoảng 20 tháng Chạp và muộn nhất là vào trưa ngày 23. Sở dĩ không nhiều nơi làm lễ cúng sau khoảng thời gian này là vì có quan niệm rằng kể từ 12 giờ trưa ngày 23 tháng Chạp, các Táo phải về thiên đình làm lễ chầu với Ngọc Hoàng nên không còn ở dương gian để nhận lễ được.

Nét đặc trưng văn hoá khác biệt nhất của miền Bắc đối với 2 miền còn lại là đại đa số các gia đình thường dùng cá chép để làm đồ cúng lễ. Tuỳ theo từng địa phương nói chung và gia đình nói riêng mà đó có thể là cá chép sống, hoặc cá chép giấy với số lượng khác nhau. Cá chép còn sống được đặt cạnh mâm lễ vật, sau khi xong lễ thì được đem thả phóng sinh ở ao hồ, sông suối gần nhà với ý nghĩa cá chép hoá rồng, làm phương tiện đưa các Táo trở về thiên đình. Bên cạnh đó, việc phóng sinh cá chép vào ngày này còn thể hiện tấm lòng nhân hậu, đức độ và thiện lương của gia chủ.

Ngoài ra, trong mâm cúng ông Công ông Táo của người miền Bắc còn không thể thiếu bộ áo mũ các Táo. Và mâm cỗ cúng thường là những món truyền thống như xôi, gà, giò, nem, canh măng… cũng có thể là mâm cỗ chay với các món xôi, chè…

Tục cúng ông Công ông Táo của người miền Trung thường được cho là cầu kỳ nhất trong 3 miền. Không cúng áo mũ vàng mã cho các Táo như miền Bắc, người miền Trung thường dâng lên một con ngựa bằng giấy, có yên cương đầy đủ, đốt vàng mã và dâng cúng nhiều lễ vật.

【#3】Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn

Ở Trung Quốc, nguồn gốc của tháng cô hồn bắt nguồn từ việc Diêm Vương cho mở cửa Quỷ môn quan vào ngày 2/7 hàng năm để quỷ đói được trở lại trần gian rồi đến rằm lại quay về.

Chính vì thế mà theo tục lệ dân gian, người trần gian phải cúng cháo, gạo, muối cho quỷ đói để chúng không quấy nhiễu cuộc sống thường ngày. Có những nơi, người ta gọi quỷ đói là “anh em tốt”, “thần cửa sau” để lấy lòng những linh hồn quỷ đói này.

Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).

Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).

Ở Việt Nam, cúng cô hồn là một tín ngưỡng tâm linh truyền thống của người Việt, được truyền từ đời này sang đời khác. Người Việt cho rằng, con người bao gồm hai phần là hồn và xác. Khi con người mất đi nhưng phần hồn vẫn tồn tại, có người thì được đầu thai kiếp khác hay có người thì bị đầy xuống địa ngục, làm quỷ đói quấy nhiễu dương gian.

Hàng năm, người Việt cúng cô hồn kéo dài một tháng, tùy thuộc vào từng gia đình, từng vùng miền khác nhau chứ không ấn định riêng một ngày nào. Người dân cũng quan niệm rằng, tháng cô hồn là tháng ma quỷ, không đem lại may mắn nên hầu hết các công việc cưới hỏi, khởi công xây dựng, mua sắm, đi xa,… đều tránh tháng 7.

KÍNH LỄ MƯỜI PHƯƠNG TAM BẢO CHỨNG MINH Hôm nay ngày………….Chúng con tên………….. Ở tại số nhà………………………………………… Phát lòng thành tịnh,thiết lập đạo tràng,bày tiệc cam lồ,Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng.Nhờ ơn tế độ,thêm sự phước duyên,nguyện xin gia đình yên ổn,thuận lợi bán buôn,dòng họ quy hướng đạo mầu,con cháu học hành tinh tiến,nguyện cầu thế giới hòa bình,nhơn sanh phước lạc. Cô hồn xuất tại côn lôn Ở tam kì nghiệp,cô hồn vô số Những là mãn giả hằng hà Đàn ông,đàn bà,già trẻ lớn nhỏ Ôi! Âm linh ơi,cô hồn hỡi Sống đã chịu một đời phiền não Chết lại nhờ hớp cháo lá đa Thương thay cũng phận người ta Kiếp sinh ra thế,biết là tại đâu Đàn cúng thí vâng lời phật dạy Của có chi,bát nước nén nhang Cũng là manh áo thoi vàng Giúp cho làm của ăn đàng thăng thiên Ai đến đây dưới trên ngồi lại Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu Phép thiêng biến ít thành nhiều Trên nhờ tôn giả chia đều chúng sanh Phật hữu tình từ bi tế độ Chớ ngại rằng có có không không Nam mô Phật,Nam mô Pháp,Nam mô Tăng Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài. Chân ngôn biến thực: Nam mô tát phạt đát tha nga đa,phà lồ chí đế án tam bạt ra,tam bạt ra hồng ( 3 lần) Chân ngôn cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhựt ra hồng (3 lần).

Ở Việt Nam, cúng cô hồn là một tín ngưỡng tâm linh truyền thống của người Việt, được truyền từ đời này sang đời khác.

KÍNH LỄ MƯỜI PHƯƠNG TAM BẢO CHỨNG MINH Hôm nay ngày……tháng……năm………………(Âm lịch). Con tên là:…………………..tuổi……………….Ngụ tại số nhà …, đường…, phường (xã)… , quận (huyện ) ……………, tỉnh (Tp):………………… Trân trọng kính mời các chư vị khuất mặt, khuất mày, kẻ lớn, người nhỏ, thập loại cô hồn, các Đảng, âm binh ngoài đường, ngoài xá, hửu danh vô vị, hửu vị vô danh, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn…về nơi đây hưởng lộc thực đầy đủ… Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn, thuận lợi bán buôn, phù hộ được buôn may bán đắt, mọi sự được sở cầu như ý, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc. Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng. Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài. – Chân ngôn biến thực : ( biến thức ăn cho nhiều ) NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA, NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ , ÁN TÁM BẠT RA , TÁM BẠT RA HỒNG ( 7 lần ) Chân ngôn Cam lồ thủy: ( biến nước uống cho nhiều ) NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN TÔ RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ , TA BÀ HA ( 7 lần ) Chân ngôn cúng dường: ÁN NGA NGA NẴNG TAM BÀ PHẠT PHIỆT NHỰT RA HỒNG (7 lần). Sau khi cúng xong, các vật phẩm cúng cô hồn không đem vào nhà. Đồ mã đốt ngay tại chỗ. Đĩa muối gạo rải ra tám hướng. (Bài viết chỉ có tính chất tham khảo cho những ai quan tâm.) theo PNTĐ

【#4】Bài Văn Khấn Rằm Tháng Giêng 2021 Đầy Đủ Và Ý Nghĩa Nhất

Một số bài văn khấn cúng rằm tháng Giêng 2021 tại nhà riêng theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam, các gia đình có thể tham khảo.

Bài văn khấn rằm tháng Giêng 2021 đầy đủ và ý nghĩa nhất. (Nguồn: Phong Thủy)

Dân gian có câu: “Cúng quanh năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng”. Lễ cúng Rằm tháng Giêng (Tết Nguyên Tiêu) là một trong những nghi lễ quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam. Đây cũng là thời điểm, đông đảo người dân lên chùa cúng dâng sao giải hạn với mong muốn giải trừ tai ách, cầu nguyện an lành.

Chính vì vậy, các gia đình thường bày biện lễ vật cúng dường và thành tâm cầu nguyện để nhận được sự phù hộ, độ trì cho gia đình, người thân.

Năm mới Kỷ Hợi 2021, rằm tháng Giêng rơi vào ngày 19/2 dương lịch, thời gian cúng rằm tháng Giêng tốt nhất là vào giờ Ngọ (từ 11h đến 13h) ngày 19/2 dương lịch (tức ngày 15/1/2019 âm lịch) vì đây là thời khắc Thần Phật giáng thế.

Tuy nhiên, nếu không sắp xếp được công việc để cúng vào ngày giờ đó thì các gia đình có thể cúng trước từ sáng ngày 18/2 dương lịch (tức 14/1 âm lịch) đến trước 19h ngày 19/2 dương lịch (tức ngày 15/1 âm lịch).

Phật thân rực rỡ tựa kim sanThanh tịnh không gì thể sánh ngangVô Thượng Chí Tôn công đức mãnCúi đầu con lạy Phật Sơn Vương.Phật đức bao la như đại dươngBảo châu tàng chứa đủ bên trongTrí tuệ vô biên vô lượng đứcĐại định uy linh giác vẹn toàn.Phật tại chân như pháp giới tàngKhông sắc không hình chẳng bụi mangChúng sinh bái vọng muôn hình PhậtBỗng thấy tai nàn tận hóa tan.Nam mô Thâp phương Thường trụ Tam BảoNam mô Thâp phương Thường trụ Tam BảoNam mô Thâp phương Thường trụ Tam BảoBài Văn khấn cúng dâng sao giải hạn Rằm tháng Giêng:Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm Kỷ HợiTín chủ (chúng) con là: ………………….Chúng con thành tâm có lời kính mời:Nhật cung Thái Dương Thiên Tử tinh quânNam Tào Bắc Đẩu tinh quânThái Bạch, Thi Tuế tinh quânBắc cực Tử vi Đại Đức tinh quânVăn Xương Văn Khúc tinh quânNhị thập Bát Tú, Ngũ Hành tinh quấnLa Hầu, Kế Đô tinh quânGiáng lâm trước án, nghe lời mời cẩn tấu:Ngày rằm Nguyên Tiêu, theo lệ trần tục, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả thắp nén tâm hương dâng lên trước án, kính mời các vị lai lâm hâm hưởng, phù hộ cho toàn gia chúng con luôn luôn mạnh khoẻ, mọi sự bình an, vạn sự tối lành, gia đình hoà thuận, trên bảo dưới nghe.Đèn trời xán lạn.Chiếu thắp cõi trần.Xin các tinh quân.Lưu ân lưu phúc.Lễ tuy mọn bạc.Lòng thành có dư.Mệnh vị an cư.Thân cung khang thái.Phục duy cẩn cáo!

“Vedan Cooking Challenge” – Cuộc thi thử tài vào bếp, giải thưởng…

【#5】3 Bài Văn Khấn Rằm Tháng 7 Cô Hồn Chuẩn Nhất

Cúng rằm tháng 7 chia ra thành lễ cúng cô hồn và cúng gia tiên. Hai lễ cúng này hoàn toàn khác nhau, bạn đọc tuyệt đối không được đồng nhất chúng thành một lễ cúng.

(Ảnh: phunutoday)

Văn khấn cúng cô hồn, chúng sinh chuẩn nhất

Xá tội vong nhân hay còn gọi là cúng chúng sinh, cúng cô hồn cần thực hiện bài cúng như sau:

Nam mô A Di Đà Phật

Nam mô A Di Đà Phật

Nam mô A Di Đà Phật

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con lạy Đức Phật Di Đà.

Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.

Tiết tháng 7 sắp thu phân

Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

Âm cung mở cửa ngục ra

Vong linh không cửa không nhà

Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả

Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

Gốc cây xó chợ đầu đường

Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

Quanh năm đói rét cơ hàn

Không manh áo mỏng, che làn heo may

Cô hồn Nam Bắc Đông Tây

Trẻ già trai gái về đây họp đoàn

Dù rằng chết uổng, chết oan

Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu

Chết tai nạn, chết ốm đau

Chết đâm chết chém, chết đánh nhau tiền tình

Chết bom đạn, chết đao binh

Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi

Chết vì sét đánh giữa trời

Nay nghe tín chủ thỉnh mời

Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

Cơm canh cháo nẻ trầu cau

Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

Gạo muối quả thực hoa đăng

Mang theo một chút để dành ngày mai

Phù hộ tín chủ lộc tài

An khang thịnh vượng hoà hài gia trung

Nhớ ngày xá tội vong nhân

Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

Bây giờ nhận hưởng xong rồi

Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

Tín chủ thiêu hoá kim ngân

Cùng với quần áo đã được phân chia

Kính cáo Tôn thần

Chứng minh công đức

Cho tín chủ con

Tên là:………………………………

Vợ/Chồng:………………………….

Con trai:……………………………

Con gái:…………………………….

Ngụ tại:……………………………..

Nam mô A Di Đà Phật

Nam mô A Di Đà Phật

Nam mô A Di Đà Phật

Văn khấn cúng thần linh tại gia rằm tháng 7

(Ảnh: vtc news)

Mâm cúng tổ tiên, thần linh tại gia thường là cỗ mặn và hương hoa, vàng mã, trầu cau, đèn, nến…

Bài văn khấn cung thần linh như sau:

Nam mô A Di Đà Phật

Kính lạy: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản xứ này.

Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm ….

Tín chủ chúng con tên là: … ngụ tại nhà số …., đường …., phường (xã) …., quận (huyện) …, tỉnh (thành phố) …. thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.

Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, soi xét chứng giám.

Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội, chúng con đội ơn Tam bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.

Do vậy, chúng con kính dâng lễ bạc, bày tỏ lòng thành, nguyện xin nạp thọ, phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình chúng con, người người khỏe mạnh, già trẻ bình an hương về chính đạo, lộc tài vương tiến, gia đạo hưng long.

Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

Văn tế khấn tổ tiên ngày rằm tháng 7

(Ảnh: eva)

Nam mô A Di Đà Phật

Kính lạy tổ tiên nội ngoại họ … và chư vị hương linh.

Hôm nay là rằm tháng Bảy năm ….

Gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung nguyên, nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức. Vi vậy cho nên nghĩ, đức cù lao không báo, cảm công trời biển khó đền. Chúng con sửa sang lễ vật, hương hoa kim ngân và các thứ lễ bày dâng trước án linh tọa.

Chúng con thành tâm kính mời: Các cụ Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Bá thúc đệ huynh, cô dì tỷ muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ … (Dương. Nguyễn, Lê, Trần …)

Cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng lâm linh sàng chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, bình an, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, hướng về chính đạo.

Tín chủ lại mời: Các vị vong linh y thảo phụ mộc, phảng phất ở đất này, nhân lễ Vu Lan giáng lâm linh tọa, chiêm ngưỡng tôn thần, hâm hưởng lễ vật, độ cho tín chủ muôn sự bình an, sở cầu như ý.

Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

Mâm cỗ cúng cô hồn bao gồm những gì?

Sau khi biết được thông tin về ngày cúng cô hồn chính xác thì người chủ sẽ tiến hành lựa chọn các lễ vật để dâng cúng. Tuy nhiên, tùy vào từng vùng miền, phong tục tập quán mà sẽ có những cách chuẩn bị lễ vật cũng như khấn cúng cô hồn khác nhau. Chính vì thế, bạn lưu ý mâm cúng cô hồn trọn gói của người Miền Nam có những đồ như sau:

– Ngũ quả: mãng cầu, xoài, sung, đu đủ, dừa,…Ngũ quả tính đúng khi dựa vào số loại quả chứ không tính số lượng.

– 1 đĩa muối, gạo.

– 12 chén nhỏ cháo trắng nấu lỏng.

– 3 hoặc 5 bát cơm vắt.

– 12 cục đường thẻ.

– Giấy áo, giấy tiền vàng bạc.

– Mía (để nguyên vỏ hoặc chặt từng khúc nhỏ có độ tầm 15cm). Bánh, kẹo.

– Tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá, và thường những loại tiền có mệnh giá nhỏ).

– 3 ly nước nhỏ.

– Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc.

– 3 cây nhang.

– 2 ngọn nến nhỏ.

– Hoa đĩa tươi, trầu cau.

Có nên cúng cô hồn hàng tháng không?

Theo tín ngưỡng tâm linh của người xưa hay quan niệm Việt Nam ta, thì việc chuẩn bị một mâm cúng cô hồn trọn gói để cúng giúp cho gia đình hòa hợp, công việc làm ăn được thuận lợi, không bị cô hồn quấy phá, quấy nhiễu.

Bên cạnh đó, việc cúng kiếng vào tháng cô hồn còn một nghi lễ bố thí, từ bi bác ái, muốn chia sẻ sự đau khổ cho các cô hồn, vong linh (ma đói) thiếu phước, đang bị bỏ đói khát triền miên, bơ vơ, vất vưởng không nơi cư trú, lang thang không siêu thoát và đặc biệt là không có người cúng giỗ cẩn thận.

Việc cúng cô hồn được xem như việc tích đức cho cuộc sống ở cõi trần được hưởng sự an lành, thoải mái. Sẽ không bao giờ phải lo sợ những cô hồn luôn luôn quấy nhiễu, cản trở công việc, sức khỏe

Những điều kiêng kỵ khi cúng cô hồn

1. Không đi chơi đêm trong tháng cô hồn vì theo quan niệm dân gian, buổi đêm là lúc ma quỷ lộng hành nhất nên người dương cần hạn chế đi chơi đêm để tránh gặp rắc rối.

2. Không phơi quần áo vào ban đêm vì ma quỷ có thể “mượn tạm” để mặc sẽ khiến bạn gặp xui xẻo.

3. Không gọi, gào thét tên nhau giữa đêm khuya vì hành động này sẽ khiến ma quỷ ghi nhớ tên người được gọi và có thể sẽ ám người đó.

4. Không tùy tiện đốt tiền vàng, vàng mã trong tháng cô hồn vì việc này có thể khiến ma lang thang khắp nơi bu quanh bạn nhiều hơn, quấy nhiễu cuộc sống của bạn.

5. Không ăn vụng đồ khi cúng cô hồn. Đến rằm tháng 7, nhà nào cũng làm mâm cúng cô hồn để ban phát đồ ăn, thức uống cho các linh hồn, quỷ đói, nhưng nếu ăn đồ của người âm mà chưa cúng hoặc chưa xin phép sẽ rước họa vào thân.

6. Không đứng gần cây đa, cây đề vì theo quan niệm dân gian, vào ban đêm dưới gốc cây đa, cây đề hội tụ rất nhiều âm khí, đặc biệt vào tháng cô hồn. Do đó người dương không nên ngồi, nằm, trốn ở đó để tránh ma quỷ trêu đùa.

7. Không treo chuông gió ở đầu giường vì tiếng chuông gió sẽ gọi ma quỷ đến nhà gây ảnh hưởng đến giấc ngủ và cuộc sống của bạn.

8. Không bơi lội trong tháng cô hồn, nhất là ở sông suối, ao hồ vì ở đây âm khí rất nhiều. Khi bơi nếu không cẩn thận sẽ bị trẹo chân chuột rút thậm chí bị ma rủ.

9. Không được hù dọa người khác vì có thể khiến họ bị “hồn bay phách lạc”, dễ bị ma quỷ xâm nhập lúc nào không hay.

10. Không nhổ lông chân trong tháng cô hồn. Theo quan niệm dân gian, “một sợi lông chân quản 3 con quỷ” nên nếu nhổ lông chân trong tháng cô hồn thì người đó rất dễ gặp phải chuyện xui xẻo trong cuộc sống.

11. Không quay đầu nhìn lại phía sau khi đến nơi vắng vẻ và nếu có cảm giác như đang có người đi theo hoặc gọi tên mình thì bạn cũng tuyệt đối không được quay đầu lại vì rất có thể là bạn đang bị ma quỷ trêu chọc. Nếu quay đầu lại sẽ dễ bị rủ về cõi âm.

12. Không nên thức quá khuya vì ảnh hưởng đến sức khỏe dẫn đến suy nhược và dễ nhiễm quỷ khí.

13. Không nhặt tiền rơi trong tháng cô hồn vì đó có thể là tiền người ta cúng dùng để mua chuộc bọn quỷ đầu trâu mặt ngựa. Nếu nhặt tiền đó, người nhặt sẽ phải hứng chịu những tai họa thay cho người rải tiền.

14. Không mài dao kéo.

15. Hạn chế làm những chuyện đại sự như ký hợp đồng làm ăn, cưới hỏi, xây nhà… Trong trường hợp bất khả kháng thì cần phải xem kỹ ngày.

XEM THÊM

【#6】Bài Văn Khấn Ông Công Ông Táo

Thần Táo quân gồm 3 người, 03 táo ông và 01 táo bà. Hàng năm, cứ đến ngày 23 tháng Chạp (tháng 12 âm lịch), thần Táo quân cưỡi cá chép lên thiên đình để bẩm báo với Ngọc Hoàng mọi việc tốt xấu trong năm của từng người trong gia đình, nên ngày 23 tháng Chạp còn gọi là ngày Tết ông Táo.

Táo quân cũng còn gọi là Táo Công, là vị thần bảo vệ nơi gia đình mình cư ngụ và thường được thờ ở nhà bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp.

Vị Táo quân quanh năm chỉ ở trong bếp, biết hết mọi chuyện trong nhà, cho nên để Vua Bếp “phù trợ” cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới, người ta thường làm lễ tiễn đưa ông Táo về chầu Trời rất trọng thể.

VĂN KHẤN ÔNG CÔNG ÔNG TÁO SỐ 1

NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT!

Kính lạy Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân!

Tín chủ con là:

Nhằm ngày 23 tháng Chạp, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, xiêm hài áo mũ, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén Tâm Hương dốc lòng bái thỉnh.

Chúng con kính mời:

Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.

Phỏng theo lệ cũ, Ngài là vị chủ, Ngũ Tự Gia Thần, soi xét lòng trần, Táo Quân chứng giám.

Trong năm sai phạm, các tội lỗi lầm, cúi xin Tôn Thần, gia ân châm chước. Ban lộc, ban phước, phù hộ toàn gia, trai gái trẻ già, an ninh khang thái.

Dãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

Cẩn cáo.

BÀI CÚNG ÔNG CÔNG ÔNG TÁO SỐ 2

Bài cúng khấn Tết ông Táo 23 tháng Chạp theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam – (NXB Văn hóa Thông tin)

Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

Con kính lạy Ngài đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân. Tín chủ (chúng) con là:

Ngụ tại:

Hôm nay ngày 23 tháng Chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái. Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật.

Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm. Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai gái, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạn tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì.

Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật!

BÀI KHẤN NÔM NGÀY 23 THÁNG CHẠP

Theo Nguyễn Thị Nhi – Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Hôm nay là ngày… tháng… năm.

Tên tôi (hoặc con là), cùng toàn gia ở

Kính lạy đức “Đông Trù tư mệnh Táo phủ Thần Quân:

(Có thể khấn thêm: Thổ địa Long Mạch Tôn Thần. Ngũ phương ngũ thổ Phúc Đức chính Thần)

Hàng năm gặp tiết hết năm, tháng vừa cuối Chạp. Gia đình sửa lễ bạc dâng lên. Cảm tạ phúc dày nhờ Thần phù hộ. Kính mong thần tâu bẩm giúp cho:

Bếp trong nếp sống rất hòa, ngoài mặt dám rằng cũng đẹp. Cảm thông xin tấu thực thà.

Cầu mong giúp đỡ lợi lạc. Người người lo ấm, cả nhà thêm tiếng tốt lẫy lừng. Việc việc thành công, một cửa ngút khí lành man mác. Muôn trông ơn đức vô cùng.

Cẩn cốc (vái 4 vái)

Chú ý: Sau khi bày lễ, thắp hương và khấn xong, đợi hương tàn lại thắp thêm một tuần hương nữa lễ tạ rồi hóa vàng mã và thả cá chép ra ao, hồ, sông, suối… để cá trở ông Táo lên chầu trời.

SỚ KHẤN NÔM TÁO QUÂN 23 TẾT

Nam Quốc……………………………………………..

* Tỉnh…………………………………………………….

* Thị………………………………………………………

* Địa danh. Phường, Xã, Thôn………………………..

* Đệ tử……………..Tên………………………………..

Hôm nay ngày…………………Tại………………….

Tấu thỉnh Thổ Công Táo Quân thiên đình, tam giới, thần thánh chư thiên.

Thiên phủ, địa phủ, thủy phủ. Nhạc phủ vạn pháp thần thông. Tấu thỉnh Thổ Địa thần kỳ, Thành Hoàng xá lệnh. Cung duy Thổ Công Táo Quân thiên đình.

Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân. Thổ Gia Thổ Trạch Tứ Phương Ứng Giáng.

Thỉnh Môn Thần, Phúc Sự. Thỉnh Tĩnh Thần Thanh Thủy. Thỉnh Hỏa Thần Thượng thiên.

Thỉnh Bếp Thần Linh Hỏa. Thỉnh Vua Bếp Tam Tài. Thỉnh Xí Thần. Thỉnh Khố Cung Thần trông nom trông gia nhân. Thỉnh Ngũ Phương Ngũ Đế.

Hỏa hóa ngân lưỡng tống Táo vương. Thượng thiên hảo sự quảng tuyên dương. Phụng đạo tụng kinh.

Kì thao thanh bình đệ tử…. Phàm cư đại trung hoa…tỉnh…thị…hiệu. Kim nhật kiền thành. Dĩ hương chúc thanh sái chi nghi kính cáo

Cửu thiên trù phủ tôn thần chi vị tiền viết duy:

Thần linh thông thiên phủ. Trạch phái nhân hoàn. Công sùng viêm đế. Đức bị dưỡng quần sinh.

Đệ tử mỗi niên tứ quý. Ngưỡng lại tôn thần bảo hữu. Nhật thực tam xan. Toàn cảm đại đức khuông phù.

Thánh đức quảng bác. Thốn tâm nan báo. Nhật thường chi gian. Ngôn hoặc phi lễ. Hành hoặc phi nghi. Trù tạo chi tế. Hoặc phần mao cốt. Hoặc đôi uế ô.

Bất tri cấm kị. Mạo phạm táo quân đại vương. Hàng tai trí họa. Dĩ trí gia trạch bất an.

Kinh doanh bất thông. Nhân đinh bất vượng. Sinh súc bất lợi. Thường sinh tật bệnh chi tai.

Đệ tử hạp gia kiền niệm. Bắc kim đại cát lương thần.

Phụng tụng táo vương phủ quân chân kinh nhất quyển.

Bổ tạ linh văn nhất hàm.

Thành khẩn lễ bái.

Thượng phụng.

Cửu thiên nhạc trù tư mệnh.

Thái ất nguyên hoàng định phúc. Phụng thiện thiên tôn vị tiền. Phục nguyện đại thi xá hựu.

Vĩnh tăng phúc lộc. Phùng hung hóa cát. Phổ ước an ổn. Thánh từ động hồi. Chiêu cách văn sơ.

Thiên vận…niên….nguyệt….nhật.

Lễ vật chuẩn bị cúng ông Công ông Táo gồm có:

– Cá chép sống để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời. Ở miền Bắc người ta còn cúng một con cá chép còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý “cá hóa long” nghĩa là cá sẽ biến thành Rồng đưa ông Táo về trời. Con cá chép này sẽ “phóng sinh” (thả ra ao hồ hay ra sông sau khi cúng).

Có thể cúng 1 hoặc 3 con cá chép sống để Táo quân lấy phương tiện về chầu trời.

– 1 mâm cỗ mặn, bánh kẹo, trầu cau, rượu, hương, đèn nến, lọ hoa tươi, đĩa ngũ quả tươi, tiền vàng

Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng…) hay chỉ lễ chay để tiễn Táo công.

Lưu ý: Khi mua đồ cúng ông Công ông Táo cần lưu ý màu sắc của mũ, áo hay hia ông Công thay đổi hàng năm theo ngũ hành. Năm Đinh Dậu (2017) hành hỏa thì nên dùng mũ áo màu đỏ.

Địa điểm cúng ông Công ông Táo

Theo chuyên gia phong thủy Phạm Cương, trong lễ cúng ông Công ông Táo, nếu nhà bạn có ban thờ Táo quân (thường đặt gần bếp) thì thắp hương ở ban thờ này. Nếu không có ban thờ Táo quân riêng thì phải thắp hương ở ban thờ thần linh hoặc gia tiên chứ không nên cúng lễ ở bếp vì từ xưa đến nay, ban thờ luôn được coi là ăng ten để giao tiếp giữa hai thế giới âm dương, giữa người trần thế và thần linh.

Thời gian cúng ông Công ông Táo

Lễ cúng ông Táo cần phải được tiến hành trước khi ông Táo bay về trời báo cáo Ngọc hoàng. Theo quan niệm dân gian từ 11 giờ – 13 giờ là giờ Ngọ và đây thời điểm các thần quy tụ để chuẩn bị về trời nên thời điểm đẹp nhất vẫn là tối ngày 22 và sáng ngày 23 tháng Chạp.

Sau khi bày lễ, thắp hương và khấn vái xong, đợi hương tàn lại thắp thêm một tuần hương nữa, lễ tạ rồi hóa vàng mã và thả cá chép ra ao, hồ, sông, suối… để thả cá chở ông Táo lên chầu Trời.

Thần Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc. Nhưng được Việt hóa thành sự tích “2 ông 1 bà” – vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo quân hoặc ông Táo.

Tích của người Việt kể rằng, Thị Nhi có chồng là Trọng Cao. Tuy ăn ở mặn nồng tha thiết với nhau, nhưng mãi không có con. Vì vậy, dần dà Trọng Cao hay kiếm chuyện xô xát dằn vặt vợ.

Một hôm, chỉ vì một chuyện nhỏ, Cao gây thành chuyện lớn, đánh Thị Nhi và đuổi đi. Nhi bỏ nhà, lang thang đến một xứ khác và sau đó gặp Phạm Lang. Phải lòng nhau, hai người kết thành vợ chồng. Phần Trọng Cao, sau khi nguôi giận thì quá ân hận, nhưng vợ đã bỏ đi xa rồi. Day dứt và nhớ quay quắt, Cao lên đường tìm kiếm vợ.

Ngày này qua tháng nọ, tìm mãi, hết gạo hết tiền, Cao phải làm kẻ ăn xin dọc đường. Cuối cùng, may cho Cao, tình cờ tìm xin ăn đúng nhà của Nhi, nhằm lúc Phạm Lang đi vắng. Nhi sớm nhận ra người hành khất đúng là người chồng cũ. Nàng mời vào nhà, nấu cơm mời Cao. Đúng lúc đó, Phạm Lang trở về. Nhi sợ chồng nghi oan, nên giấu Cao dưới đống rạ sau vườn.

Chẳng may, đêm ấy, Phạm Lang nổi lửa đốt đống rạ để lấy tro bón ruộng. Thấy lửa cháy, Nhi lao mình vào cứu Cao ra. Thấy Nhi nhảy vào đống lửa, Phạm Lang thương vợ cũng nhảy theo. Cả ba đều chết trong đám lửa.

Thượng đế thương tình thấy 3 người sống có nghĩa có tình nên phong cho làm vua bếp hay còn gọi là Định phúc Táo Quân và giao cho người chồng mới là Thổ Công trông coi việc trong bếp, người chồng cũ là Thổ Địa trông coi việc trong nhà, còn người vợ là Thổ Kỳ trông coi việc chợ búa. Không những định đoạt may, rủi, phúc họa của gia chủ, các vị Táo còn ngăn cản sự xâm phạm của ma quỷ vào thổ cư, giữ bình yên cho mọi người trong nhà.

Hàng năm, đúng vào ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo Quân lên chầu trời báo cáo tất cả việc làm tốt và chưa tốt của con người trong một năm để Thiên đình định đoạt công tội, thưởng phạt phân minh cho tất cả loài người.

【#7】Bài Văn Khấn Việt 1.1.1 Apk

Danh sách:

1,LỜI DẶN CẦN NHỚ KHI CÚNG LỄ

2,Cúng Khai trương cửa hàng

3,Cúng Nhập Trạch

4,Cúng Động Thổ

5,Khánh thành nhà thờ tổ

9,Cúng giỗ thường

10,”Cúng Lễ Khai Trương công ty, văn phòng, cửa hàng”

6,Cúng ngày rằm

11,Cúng lễ mộ ngày 30 tết

8,”Cúng ngày 1, 15 hàng tháng”

12,Cúng giao thừa

7,Cúng ngày 3 hoặc 7

14,Cúng tổ tiên ngày mồng 1 tết

15,Cúng thần linh trong ngày mồng 1 tết

16,Cúng giao thừa trong nhà

17,Cúng cô hồn

18,”Cúng xe ô tô, mô tô mới mua”

13,Văn khấn khi cưới gả

19,Lễ đầy tháng – thôi nôi cho bé

20,”Văn khấn trong lễ cúng Mụ (Đầy cữ, đầy tháng, đầy năm)”

21,Văn khấn lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ

22,Văn khấn lễ Cải Cát

23,Văn khẫn lễ Thượng Thọ

24,Văn khấn dâng sao – cúng sao giải hạn

25,Văn khấn lễ hồi hoàn địa mạch

26,Văn khấn lễ tân gia (Ăn mừng nhà mới)

27,Văn khấn lễ nhập trạch – Dọn vào nhà mới

28,”Bài văn khấn Khi chuyển nhà, khi phải sửa chữa lớn”

29,Văn khấn Tết Trung Thu (Ngày Rằm Tháng 8)

30,Tết Trung Nguyên (Ngày Rằm Tháng 7)

31,Bài văn khấn Tết Đoan Ngọ (Ngày Mồng 5 Tháng 5)

32,Tết Hàn Thực (Ngày Mồng 3 Tháng 3)

33,Bài văn khấn theo Tiết Thanh minh (Từ mồng 5 Đến Mồng 10 Tháng Ba)

34,Lễ dâng sao giải hạn vào ngày tết Nguyên Tiêu

35,”Văn khấn Thổ Thần, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh vào ngày Tiên Thường”

36,Văn khấn Gia tiên ngày Tiên Thường

37,Văn cúng ngày Giỗ Hết (Lễ Đại Tường)

38,Văn cúng ngày giỗ đầu

73,Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm mới)

39,Văn khấn chính ngày Giỗ Đầu

40,” Văn khấn khi cúng giỗ”

41,Văn khấn cầu tự

42,”Văn khấn Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu”

43,Văn khấn tại đền Bà Chúa Kho

44,Văn khấn lễ Đức Thánh Trần

45,Văn khấn ban Công Đồng

46,Văn khấn lễ Tam Toà Thánh Mẫu

47,”Văn khấn tại Đình, Đền, Miếu”

48,Văn khấn xin giải trừ bệnh tật

49,Văn khấn lễ Đức địa Tạng Vương Bồ Tát (U Minh giáo chủ)

50,Văn khấn lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (Phật bà Quan Âm)

51,”Văn khấn cầu tài, cầu lộc, cầu bình an ở ban Tam Bảo”

52,Văn khấn lễ Đức Thánh Hiền

53,Văn khấn lễ Đức Ông

54,Văn khấn lễ Phật

55,Văn khấn Tiền chủ

56,Văn khấn Thánh sư

57,Văn khấn Thần Tài

58,Văn khấn thần Thổ Công

59,Văn khấn chúng sinh – Ngày Rằm tháng Bảy

60,Văn cúng gia tiên (Nhân lễ cúng Tân Gia)

61,” Văn khấn trong lễ tang”

62,Văn khấn lễ Thiết Linh

63,Văn khấn lễ Thành Phục

64,Văn khấn lễ Chúc Thực

65,Văn khấn Lễ cáo Long Thần Thổ địa

66,Văn khấn lễ Thành Phần

67,Văng khấn lễ Hồi Sinh

68,Văn khấn lễ Chầu Tổ (Triều Tổ lễ cáo)

69,Văn khấn lễ Tế Ngu

70,” Văn khấn Lễ Chung Thất và Tốt Khốc”

71,”Văn khấn Lễ Tiểu Tường, Đại Tường (Giỗ đầu, giỗ thứ 2)”

72,Văn khấn Lễ Đàm tế

76,Lễ dâng sao giải hạn vào ngày tết Nguyên Tiêu

77,Văn khấn Đức thánh Trần Hưng Đạo

78,Văn khấn cầu thi cử

79,Văn khấn giải hạn tam tai

80,Văn khấn bồi hoàn địa mạch

Van cung, van khan, to tien, nha dat, nhap trach, cong ty, van phong, thoi noi, day thang @ v.v…

【#8】Ý Nghĩa Và Bài Văn Khấn Cúng Đầy Cữ Cho Bé

Sau khi người mẹ sinh hạ đứa trẻ, thường thì bảy ngày (đối với bé trai) và chín ngày (đối với bé gái) người nhà sẽ làm lễ cúng đầy cữ cho đứa trẻ vừa mới trào đời để tạ ơn bà Mụ và xin bà phù hộ, tập dạy cho đứa trẻ biết cười, lật, bò, đứng, đi, ăn, nói…

Bà Mụ gọi nôm na là Mẹ sanh (hay “Mẹ sinh”) theo quan niệm dân gian là những tiên nương phụ trách vấn đề sinh đẻ, được người dân tại một số vùng miền châu Á, trong đó có Việt Nam, thờ cúng theo tín ngưỡng.

Sự tích về bà Mụ:

Sự tích 12 Bà Mụ được Nguyễn Đổng Chi kể trong sách Lược khảo về thần thoại Việt Nam. Sự tích của 12 vị nữ thần này hiện nay chúng ta chỉ còn biết một cách lờ mờ. Có thuyết nói đó là các thần giúp việc cho Ngọc Hoàng từ lúc ông ta có ý định sáng tạo ra loài người. Nhưng cũng có thuyết lại cho đó là những thần được Ngọc Hoàng giao phó trách nhiệm sau khi ông đã sáng tạo ra đủ số lượng người và vật ở hạ giới. Nói cách khác, 12 bà Mụ là những vị thần có trách nhiệm nắn lại cơ thể cho một người nào đó khi được lệnh đầu thai.

Con số 12 Bà Mụ thường được giải thích bằng một vài quan điểm khác biệt nhau: có quan điểm cho rằng đó là một tập thể chịu trách nhiệm chung công việc tạo thành con người, và cách giải thích khác là mỗi Bà Mụ lo một việc: người nắn tai, người nắn mắt, người nắn tứ chi, người dạy trẻ cười, người dạy trẻ nói. Ở vùng đất phương Nam lại có quan niệm cho rằng 12 Bà Mụ là 12 vị luân phiên nhau lo việc thai sản trong 12 năm, tính theo “thập nhị chi” – tức theo 12 con giáp.

Theo phong tục tập quán của người Việt, khi đứa trẻ ra đời khi đứa trẻ ra đời được một tháng thì phải làm lễ đầy tháng, để tạ ơn bà Mụ, mong bà ban cho đứa trẻ mọi điều tốt lánh, xin phép bà Mụ đặt tên cho bé khi bé đầy một tuổi, còn gọi là lễ thôi nôi.

2. Lễ vật cúng Mụ:

Xôi gấc: 7 nắm nếu là bé trai, 9 nắm nếu là bé gái.

Cua bể: 7 con nếu là bé trai, 9 con nếu là bé gái (có thể thay cua bể bằng cua thường).

Trứng gà nhuộm đỏ luộc: 7 quả nếu là bé trai, 9 quả nếu là bé gái.

Hoa tươi, trái cây, bánh kẹo, tiền vàng bạc, trầu cau, nến tùy tâm Tất cả được bày trên mâm kê cao cúng Mụ.

3. Văn khấn cúng Mụ:

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Kính lạy:

ĐỆ NHẤT THIÊN TỶ ĐẠI TIÊN CHỦ ĐỆ NHỊ THIÊN ĐẾ ĐẠI TIÊN CHỦ ĐỆ TAM TIÊN MỤ ĐẠI TIÊN CHỦ THẬP NHỊ BỘ TIÊN NƯƠNG TAM THẬP LỤC CUNG CHƯ VỊ TIÊN NƯƠNG

Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……. Vợ chồng con là ……. Sinh được con (trai, gái) đặt tên là …… Nay nhân ngày đầy cữ (hoặc đầy tháng, đầy năm ) thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thứ cúng dâng bày lên trước án, trước bản tọa chư vị Tôn Thần kính cẩn tâu trình : Nhờ ơn Thập phương Chư PHẬT, Chư vị Thánh Hiền, Chủ Tiên Bà, các Đấng Thần Linh, Thổ Công Địa Mạch, Thổ Địa Chính Thần, Tiên Tổ nội ngoại cho con sinh ra cháu …… sinh ngày ……. được mẹ tròn con vuông.

Cúi xin: Chư Tiên Bà, Chư vị Tôn Thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì, vuốt ve che chở cho cháu được ăn ngon, ngủ kỹ, hay ăn chóng lớn, vô bệnh, vô tật, vô tai, vô ương, vô hạn, vô ách, phù hộ cho cháu bé được thân mệnh bình yên, cường tráng, kiếp kiếp được hưởng vinh hoa phú quý. Gia đình con được phúc thọ an khang, nhân lành nẩy nở, nghiệp dữ tiêu trừ, 4 mùa không hạn ách nghĩ lo. Con xin thành tâm đỉnh lễ. Cẩn cáo.

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

【#9】Đặt Mâm Cúng Đầy Tháng Bé Trai Tphcm

Cúng đầy tháng cho bé trai dù bất cứ vùng miễn nào từ Bắc, Trung tới miền Nam. Thì cúng đầy tháng của bé trai chính là nghi lễ thể hiện lời cảm ơn của gia đình đến các vị thần bởi đã giúp che chở cho bé suốt một quãng thời gian rất dài. Tiếp đến, nghi lễ được thực hiện để gia đình có thể cầu an cho bé, mong cho bé có sức khỏe hay ăn chóng lớn và sau này gặp nhiều may mắn.

Dịch vụ đặt mâm cúng đầy tháng TPHCM:

  • Tiết kiệm được một phần chi phí, thời gian chuẩn bị, lên kế hoạch.
  • Bớt lãng phí các khoản phát sinh hay những lễ vật không cần thiết, không phù hợp.
  • Cung cấp dịch vụ nhanh gọn, hỗ trợ tư vấn cho cha mẹ tiến hành được ngày lễ đầy tháng, để lại cho bé và gia đình những khoảnh khắc ấm áp, tuyệt vời nhất.
  • Có thể lựa chọn những lễ vật theo yêu cầu.
  • Tiết kiệm thời gian. Tiết kiệm chi phí.

Đây là dịp để gia đình cảm tạ ơn trên đã giúp bé khỏe mạnh. Ngoài ra, mọi người trong đại gia đình cũng gửi những lời chúc, cầu mong những điều tốt đẹp nhất cho bé.

Lễ vật cúng đầy tháng cho bé trai sẽ bao gồm:

  • 12 chén chè nhỏ 3 tô chè lớn
  • 13 đĩa xôi
  • 1 con gà luộc
  • Bộ tam sên: thịt heo luộc, trứng luộc, tôm hoặc cua luộc.
  • Mâm ngũ quả, hoa tươi, nhang, đèn, trà, rượu, nước muối, gạo.
  • 1 bộ đồ hình thế (ghi tên và ngày tháng năm sinh của bé, cúng xong sẽ đốt đi để giải hạn cho bé)

Lễ vật được đặt trên mâm sắp xếp tùy ý sao cho cân đối và hợp lý nhất. Trong cách bày sắp mâm lễ cúng đầy tháng bé trai có quy định về việc đặt mâm và bình hoa. Theo đó thì mâm cúng sẽ được đặt ở phía tây còn bình hoa thì ở phía đông theo nguyên tắc “đông bình tây quả”. Bình hoa và mâm quả cũng sẽ được sắp xếp cân xứng trong không gian cúng. Mâm cúng đầy tháng dành cho bé trai thường cúng chè đậu trắng (tùy theo từng vùng miền thì sẽ cúng các loại chè khác nhau).

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát Con kính lạy Thiên chủ Đế Thích Con kính lạy chư vị Thánh hiền Con kính lạy các Đấng thần linh Con kính trình lên Cửu Huyền thất tổ

Hôm nay, là ngày … tháng … năm …

Vợ chồng con là ….. sinh được con (trai, gái) đặt tên là …..

Chúng con ngụ tại ……………….. Nay, nhân ngày đầy tháng chúng con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thứ cúng dâng bày lên trước án, trước bàn tọa chư vị Tôn thần kính cẩn tấu trình:

Nhờ ơn thập phương chư Phật, chư vị Thánh hiền, chư vị Tiên Bà, các đấng Thần linh, Thổ công địa mạch, Thổ địa chính thần, Tiên tổ nội ngoại, cho con sinh ra cháu, tên chúng tôi ngày ………………………..được mẹ tròn, con vuông.

Cúi xin chư vị tiên Bà, chư vị Tôn thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì, che chở cho cháu được ăn ngon, ngủ yên, hay ăn chóng lớn, thân mệnh bình yên, ngoan ngoãn, cho cháu bé được tươi đẹp, thông minh, sáng láng, cường tráng, biết thương yêu mọi người, sẽ là người tài đức dựng xây Đất nước và thế giới này tốt đẹp hơn. Xin cho gia đạo con được bình an, gia đình êm ấm thuận hòa, tử tôn hiếu thuận, tật bệnh tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, nhân lành gieo mãi, nghiệp dữ tiêu tan. Xin thành tâm đỉnh lễ, cúi xin được chứng giám lòng thành.

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật!

Theo cách tính truyền thống, ngày cúng đầy tháng bé trai được căn cứ vào lịch âm và sẽ lùi lại 1 ngày. Ví dụ: Nếu bé trai sinh vào ngày 03/03 âm lịch thì ngày cúng đầy tháng sẽ là ngày 02/04 âm lịch.

Thông thường, lễ cúng đầy tháng này được thực hiện vào trước 12 giờ trưa. Hiện nay, các bố mẹ thường căn cứ ngày sinh của con dựa trên lịch dương và ngày cúng đầy tháng là ngày trùng ngày sinh vào đúng tháng sau.

#XoiChe #XoiCheCung #DayThangThoiNoi #MamCungDayThang #MamCungDayThangBeTrai #MamLeCungDayThang #BaiCungThoiNoi #VanKhanDayThang #MuaBanNhanh #VIPMuaBanNhanh #MBN #TPHCM #VietNam

【#10】Bài Văn Khấn Rằm Tháng 8

Rằm tháng 8 âm lịch – Tết Trung thu là một trong những dịp lễ rất quan trọng trong đời sống văn hóa của người Việt. Năm nay, Rằm tháng 8 (15 tháng 8 âm lịch năm Canh Tý) rơi vào ngày 1 tháng 10 năm 2021.

Chuẩn bị lễ cúng thần linh và tổ tiên là một phần không thể thiếu trong dịp lễ này. Các gia đình làm một mâm cỗ chay hoặc mặn kèm với hương hoa, bánh trái, vàng mã… để dâng lên cúng theo đúng nghi lễ truyền thống.

– Con kính lạy Hoàng thiên hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.

Tín chủ (chúng) con là: … Tuổi: …

Ngụ tại: …

Hôm nay là ngày Rằm tháng Tám gặp tiết Trung thu, tín chủ chúng con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại…, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng. Xin các ngài độ cho chúng con thân cung khang thái, bản mệnh bình an. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng vinh quang thịnh vượng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Bài văn khấn Rằm tháng 8 âm lịch – Tết Trung thu 2021

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

– Con kính tay Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại

Tín chủ (chúng) con là:……………………..

Ngụ tại:………………………..

Hôm nay là ngày Rằm tháng Tám gặp tiết Trung Thu tín chủ chúng con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng. Xin các ngài độ cho chúng con thân cung khang thái, bản mệnh bình an. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng vinh quang thịnh vượng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

* Thông tin mang tính chất tham khảo, chiêm nghiệm. Theo giadinhmoi