Top 7 # Xem Nhiều Nhất Cách Cúng 5 Mẹ Ngũ Hành Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Herodota.com

Giải Nghĩa Tượng 5 Mẹ Ngũ Hành

Trong tín ngưỡng thờ nữ thần, thờ Mẫu tại Việt Nam, nếu như trong các miếu, đền tại miền Bắc thường thờ các thánh Mẫu, ông Hoàng, Bà Chúa, … thì tại các đền miền Nam, Chúa Bà Ngũ Hành hay còn gọi là bà Ngũ Hành, Ngũ Hành Nương Nương hay 5 mẹ Ngũ Hành được thờ tự phổ biến hơn cả. Vậy tục thờ này cụ thể như thế nào? Oản Cô Tâm sẽ giới thiệu cho bạn đọc trong bài viết sau đây.

Đầu tiên, để tìm hiểu về Chúa Bà Ngũ Hành, chúng ta tìm hiểu qua về khái niệm Ngũ Hành.

Ngũ Hành là khái niệm bắt nguồn từ quan niệm triết học của người Trung Quốc cổ. Theo đó, quan niệm này chỉ ra rằng trời đất, vũ trụ được vận hành bởi 5 yếu tố: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Tức biểu trưng lần lượt cho kim loại, gỗ, nước, lửa và đất. Gọi tắt 5 yếu tố này là Ngũ Hành. Mỗi yếu tố lại có sự tương sinh tương khắc theo quy luật nhất định. Quy luật này đã được phát triển và ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực thuộc đời sống xã hội như y học, ẩm thực, thiên văn, …

Dần dần, thuyết Ngũ Hành được tín ngưỡng hóa, trở thành sự thờ phụng mang tính chất tâm linh thiêng liêng phổ biến tại rất nhiều nước Á Đông, trong đó có Việt Nam.

Với sự tiếp nhận có chọn lọc hòa quyện với những tín ngưỡng dân gian đã có trước, người Việt cổ đã đưa thuyết này vào thờ phụng với hình tượng đại diện là Chúa Bà Ngũ Hành hay 5 mẹ Ngũ Hành. Cũng từ đó, tục thờ Ngũ Hành Nương Nương được hình thành.

Với đặc điểm là một nước nông nghiệp trồng lúa nước. Vụ mùa bội thu cuộc sống ấm no hay không phụ thuộc rất nhiều vào nắng, gió, mưa sa của trời đất nên tín ngưỡng thờ Chúa Bà Ngũ Hành càng phát triển và trở nên phổ biến tại Việt Nam đặc biệt tại các tỉnh Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Các vị Chúa Bà Ngũ Hành được thờ tự bao gồm:

Đệ Nhất Chúa Bà Kim Tinh Thần Nữ

Đệ Nhị Chúa Bà Mộc Tinh Thần Nữ

Đệ Tam Chúa Bà Thủy Tinh Thần Nữ

Đệ Tứ Chúa Bà Hỏa Phong Thần Nữ

Đệ Ngũ Chúa Bà Thổ Đức Thần Nữ

Sắc phong của các đời vua chúa rất quan trọng. Bởi nó là minh chứng quan trọng thể hiện tính chính thống quan phương của triều đình cho phép xã dân được thờ tự Ngũ Hành Nương Nương. Đồng thời công nhận Chúa Bà là vị nữ thần đồng vị giống những bách thần khác theo quan niệm của người xưa.

Theo đó, Ngũ Hành Nương Nương đã được triều Nguyễn sắc phong và liệt vào từ điển truyền tới ngàn đời sau. Sắc phong cho Bà Ngũ Hành được tồn tại dưới hai dạng là phong chung và phong riêng tùy thuộc vào việc thờ tự tại mỗi địa phương. Bởi có những địa phương chỉ thờ tự một trong năm bà hoặc cũng có thể thờ cả năm bà. Thứ hạng cao nhất mà Chúa Bà được phong đó là thượng đẳng thần – hàng vị thần cao nhất.

Cũng theo khảo sát các tư liệu Sắc phong, bài vị, văn tế còn tồn tại đến ngày nay tại các di tích thì tên gọi chung của 5 mẹ ngũ hành thường là Ngũ Hành Thần Nữ, Ngũ Hành Nương Nương, Ngũ Hành Tiên Nương. Tại mỗi di tích, tên gọi của từng bà cũng không đồng nhất. Có khi là Kim đức thánh phi, Thủy đức thánh phi hoặc Hỏa tinh thần nữ hay Chúa Sắt thần nữ,…

Về việc sắm lễ, giống như việc thờ các vị thần linh Tứ Phủ khác, nhân dân cũng sắm lễ, dâng hương Chúa Bà vào những ngày đầu năm đầu tháng với các thứ lễ đầy đủ, tùy tâm. Nếu như bạn muốn có một lễ vật có thể dâng cúng lâu dài trên ban thờ thánh thì có thể tham khảo Oản Tài Lộc. Oản Tài Lộc có thể được lâu với thời gian khoảng 6 tháng được trang trí tỉ mỉ, trang trọng rất thích hợp đặt trong không gian cúng lễ.

thuộc thương hiệu Oản Cô Tâm là loại oản đặc biệt, được đơn vị này đầu tư nghiên cứu, thiết kế sao cho đẹp mắt, vừa lòng khách hàng lại phù hợp với văn hóa thờ cúng Chúa Bà Ngũ Hành của người Việt. Loại oản này đặc biệt thích hợp dâng lên các vị chúa bà thể hiện lòng thành tâm của người lễ bởi các chi tiết trang trí trên oản đều thuộc chất liệu cao cấp, được sắp xếp có chủ ý, mang nhiều ý nghĩa tốt lành. Oản chính là vật đại diện tài lộc cầu một năm tấn tài, tấn lộc, tấn bình an đến với gia chủ.

Trước kia, Ngũ Hành Nương Nương thường được thờ trong những am, miếu, điện, … phổ biến nhất là các ngôi miếu lớn, nhỏ mà người dân quen gọi ngắn gọn là “miếu ngũ hành” hay “miếu bà”. Ngoài ra cũng có những tên gọi khác mà tên miếu gắn với tên địa phương, bên trong có đặt tượng thờ Chúa Bà Ngũ Hành. Tại vùng đất phương nam, những ngôi miếu Bà xuất hiện khắp nơi. Nhiều hơn cả là tại các vùng nông thôn. Đôi khi, Chúa Bà được thờ tại miếu riêng giống như các vị thần khác thường thấy nhưng cũng có khi Chúa Bà được phối thờ trang trọng trong các am thờ nhỏ hoặc các ban thờ riêng tại các miếu thờ hay tại đình, lăng, … Chúa Bà được thờ phổ biến tại các miếu liền kề nhau trên khắp các thôn ấp đường phố. Như tại quận Gò Vấp thuộc tỉnh Gia Định cũ, nơi có rất nhiều chùa, miếu, thì chỉ một trong hai khu phố liền kề nhau, đã có tới bốn chỗ thờ Chúa Bà Ngũ Hành. Hay trong đất thổ cư, vườn tược của mình, nhiều nhà giàu cũng cung dựng ngôi miếu thờ Bà thật nhỏ đặt ngay cạnh ao nuôi cá hay chuồng gà vịt. Hay đôi khi, chúa bà cũng được cạnh ban thờ Thành Hoàng (vị thần bảo hộ cho làng xã) cùng với Thổ Địa, Tiền Hiền, Hậu Hiền, … Lễ cúng vía bà cũng lớn như lễ cúng vía thành Hoàng vậy. Không chỉ thế, dù thuộc về tín ngưỡng dân gian chứ không thuộc tín ngưỡng “thờ Phật” nhưng Ngũ Hành Nương Nương vẫn được thờ trong chùa. Tiêu biểu là những ngôi chùa cổ như chùa Phổ Đà Quan Âm – Gò Vấp, Chùa Vạn Thọ (quận 1), Chùa Bình An (Bình Tân), … Điều này cho thấy, tục thờ Chúa Bà Ngũ Hành đã phổ biến và phát triển sâu rộng đến nhường nào trong đời sống dân cư người Việt,

Theo đúng tục lệ thì lễ vía Bà Chúa Ngũ Hành là vào ngày 19/3 âm lịch nhưng cũng có nơi cúng lễ vào một số ngày khác, nhưng vẫn chỉ xoay quanh tháng 3 âm lịch. Bởi theo người Việt quan niệm thì “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, nên lệ này luôn được giữ.

Trước ngày kỵ của bà, bà con thường làm lễ “đắp y cho Mẹ” tức nghi thức lau chùi, sơn sửa thay áo mới cho các pho tượng Chúa Bà. Tới ngày kỵ, ngoài việc sắm lễ, dâng hương Ngũ Hành Nương Nương thì tại các miếu thờ bà còn mời người về múa bóng rỗi, hát, tế, dâng bông Chúa Bà.

Như vậy tục thờ Chúa Bà Ngũ Hành là tục thờ phổ biến trong cộng đồng người Việt đặc biệt người Việt ở phương Nam. Đó là nét đẹp tâm linh đáng trân trọng trong văn hóa tín ngưỡng thờ nữ thần, mẫu thần.

Đại Lễ Động Thổ Xây Dựng” Miếu Năm Mẹ Ngũ Hành”

Đại lễ động thổ xây dựng” Miếu năm mẹ ngũ hành”

Từ thời Trung Hoa cổ đại, Ngũ Hành vốn là một khái niệm siêu hình học nền tảng trong các học thuyết về Âm Dương/Ngũ Hành của Khổng tử và Lão tử. Ngũ Hành là năm loại vật chất căn bản, gồm: Kim (kim loại), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa ( lửa) và Thổ (đất). Như giải thích trong kinh Dịch và kinh Thư, năm chất liệu ấy vận động, phát triển theo hướng “tương sinh” và ” tương khắc”, đồng thời biểu thị quy luật sinh thành/vận động của toàn vũ trụ, thế giới và cả trong cuộc sinh tồn của nhân loại. Xuất phát từ Trung Quốc, lần hồi thuyết Ngũ Hành được tín ngưỡng hóa, thành sự thờ phượng “vạn vật linh thiêng”, rất phổ biến trong nhiều dân tộc Á Đông cho đến ngày nay.

Theo sự đánh giá của Trọng Hùng fengshui thì cho thấy Ngũ hành kim, thủy, mộc, hỏa, thổ luôn luôn lúc nào cũng theo sát chúng ta trong cuộc sống thực tế. Khi xây nhà sơn màu nước, mua xe hay đeo trang sức…đều cũng phải dựa vào thuyết ngũ hành tương sinh và tương khắc. Để nhằm phát huy tính mạnh của tương sinh hay không chế cho sự tương khắc ngũ hành, thì mỗi con người chúng ta phải hiểu biết tuổi của chúng ta thuộc hành gì? Ví dụ tuổi 1967 Đinh Mùi, thuộc hành Thủy (Thiên hà Thủy) có nghĩa là Nước trời mưa. Thì Thủy rất kỵ Hỏa, vì hỏa sẽ làm khô nước. Nhưng theo quan điểm của Trọng Hùng fengshui cho rằng cũng tùy theo mỗi loại hành hỏa mà cho tương sinh và tương khắc có loại hành Hỏa kỵ cho hành Thủy đó là Thiên thượng Hỏa rất tối kỵ cho Thiên hà Thủy. Thiên thượng Hỏa là Lửa trên trời (mặt tròi) sẽ làm “khô” và ức chế cho Thiên hà Thủy là nước trời mưa. Tuy nhiên có loại hành Hỏa mà giúp ít cho sự tương sinh mà không có tương khắc cho Thiên hà thủy đó là Tích lịch Hỏa còn gọi là Lửa sấm sét. Lửa sấm sét gây sấm chớp điên cuồng gây những tia lửa điện trên bầu trời nhằm kích hoặt cho nước trời mưa (Thiên hà thủy) ngày càng cho mưa to và lớn cả dãy Thiên hà. Ngoài ra có loại Hỏa rất quan trọng cho Nước trời mưa khi mỗi đêm khuya có giông mưa to bảo tố đó là Phúc đăng Hỏa còn gọi là đèn hỏa đăng hay đèn đi biển. Đèn hỏa Đăng sẽ soi sáng cho cả bầu trời luôn cả biển rộng khi mưa to gió lớn và cũng giúp cho các con tàu muốn vào bờ. Thiên hà Thủy góp phần rất nhiều cho Đại hải Thủy là nước biển lớn (1982 và 1983) hay cho Đại khê Thủy là dòng suối lớn (1974 và 1975) hoặc Trường lưu Thủy là nước chảy dài. Vì thế các mệnh thủy vừa rồi Trọng Hùng fengshui vừa nêu chớ xem thường Thiên hà Thủy.Tóm lại, có loại Ngũ Hành tương khắc mà lại không khắc mà còn hổ trợ Tương sinh. Vì thế, trong phong thủy nói chung và các quý thầy phong thủy nói riêng nên chú ý xem xét cẩn thận khi xem ngày, tháng, năm cho gia chủ khi mưu sự một việc gì đó phải cần chú ý và chủ động đánh giá Ngũ hành, nhằm phát huy thế mạnh của tương sinh giúp cho gia chủ thành công trong công việc xuất hành đi xa, xây nhà động thổ, nhập trạch ,chuyển bàn làm việc, ký kết hợp đồng, kết bạn…Nhưng đặc biệt đừng quên luật Thiên Can và Địa Chi.

Do sự tín ngưỡng ơn trên từ thửa nhỏ Trọng Hùng fengshui được may mắn Năm mẹ Ngũ hành độ trì cho dân làng chúng sinh và Khiến duyên Ơn lành cho Trọng Hùng fengshui xem phong thủy xây dựng động thổ Miếu bà Năm mẹ Ngũ hành, còn gọi là MIỂU BA BÀU tọa tại đường hương lộ 319 ấp Thị Cầu, xã Phú Đông, Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai. Miếu Ba Bàu được xây dựng rất lâu và được sửa chữa tái chế nhiều lần.

Một góc Miếu Bà.

Nay do Ban hội hương và cùng làng xóm muốn xây dựng mới toàn bộ lại miếu bà để cho sạch sẽ khai trang và linh ứng giúp cho đời sống bà con trong làng khỏe mạnh, hạnh phúc và tài lộc. Nay cơ duyên, Ban hội hương và cùng làng xóm quyết định xây lại miếu hoàn toàn mới nhằm gĩư gìn Bản sắc tín ngưỡng của dân tộc nói chung và làng xóm dân làng khi tạo dựng miếu bà nói riêng và mong muốn trong tương lai là nơi thỉnh cầu chiêm bái tạp tục dân chúng và cũng là nơi tham quan cho khách thập phương nơi xa đến và ngoài ra cũng là sự giáo dục cho thế hệ trẻ biết gìn giữ cái vốn sẵn có. Thật ra, không chỉ có miễu, đình, chùa…mà còn có những tài sản quý báu mà Ông cha đã để lại cho chúng ta.

Cổng Miếu Bà Bàu.

Do kinh phí còn hạn hẹp và khó khăn, nay Trọng Hùng fengshui mong quý các nhà Mạnh thường quân bỏ ra công sức và có ít chút tấm lòng vàng cùng đồng hành với Trọng Hùng fengshui và Ban hội hương cùng nhau đóng góp Hiện Vật hay Hiện Kim, dù chỉ là một bao cát hay bao xi măng cũng góp phần một cái gì đó có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống quanh ta. Trọng Hùng fengshui tin rằng sự đóng góp của các quý vị sẽ là luồng sức mạnh cho tập thể của Ban hội hương để cùng nhau xây dựng Miếu Ba Bàu khang trang và đẹp đẻ hơn và sự đóng góp quý báu này Trọng Hùng fengshui tin tưởng Năm mẹ ngũ hành sẽ độ trì cho các quý vị gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

Chuẩn bị hành lễ động thổ.

Để trở lại bài viết này, thì trong khoa học phong thủy nói chung hay các nhà phong thủy nói riêng thì hãy nên chú ý Năm mẹ ngũ hành cho cái nghiệp của mình, vì thầy phong thủy phải biết rõ tính chất Ngũ hành mà áp dụng khi tiến hành mưu sự cho gia chủ khi cần thiết và đặc biệt chú ý đến Ông TỔ CỔ NGHỀ PHONG THỦY .

Ông tổ nghề phong thủy.

( Một bộ áo được lát vàng lá cán mõng và được chạm trổ có hình Bông hoa Mẫu Đơn trên áo) Do ơn trên ban phước lành và Trọng Hùng fengshui được cơ duyên thừa hưởng cung thỉnh, cúng kiến và chiêm bái thờ cúng Ông Tổ nghề Phong thủy tại gia thất và luôn cầu mong cho gia chủ luôn bình yên trong cuộc sống và hưng thịnh tài chính trường tồn mỗi sau khi đi xem phong thủy thực tế nhà gia chủ.

Một bàn tay “Ban” và một bàn tay “Phước” cực kỳ linh nghiệm.

Hình tượng năm mẹ Ngũ hành tại Nhơn Trạch, Đồng Nai.

– “NĂM CHẤT” ĐƯỢC TÍN NGƯỠNG THỜ “MẪU” BIẾN THÀNH “NĂM BÀ”. Tiếp nhận thuyết Ngũ Hành từ phương Bắc, rồi hòa quyện vào những tín ngưỡng dân gian đã có trước, người Việt cổ đã đưa thuyết này vào thờ phượng với những nhận định thực tiễn, giản dị. Chẳng hạn như ở vùng nóng bức quanh năm, thường xảy ra hoả hoạn, thì hành Hỏa được lập miếu thờ; vùng duyên hải, sông rạch thì thờ Thủy thần; vùng rừng núi thì thờ Bà Chúa Thượng Ngàn; vùng trồng lúa, trồng màu thì thờ Thổ thần v.v… Mặt khác, tại nước Việt xưa, so với các tục thờ Thổ Địa, Tài Thần, Chúa Xứ Thánh mẫu.v.v…, thì tục thờ Ngũ Hành Nương Nương – tức thờ Ngũ Hành (vật chất) như một nhóm năm vị nữ thần – đã xuất hiện muộn hơn. Còn muộn hơn là mãi đến năm Duy Tân thứ năm (tức năm1911), triều đình nhà Nguyễn mới sắc phong chung cho năm Bà là các “Đức Thánh Nương, Trứ Phong Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần”, phân ra là: Thổ Đức Thánh Phi, Hoả Đức Thánh Phi, Kim Đức Thánh Phi, Thủy Đức Thánh Phi và Mộc Đức Thánh Phi.

Khung cảnh chuẩn bị Đại Lễ.

Nghiên cứu các trụ cột phải theo Sinh, Lão, Bệnh, Tử.

1- Nghiên cứu sâu trường phái Loan đầu.

2- Nghiên cứu cục đất dựng Miếu, hiểu và đánh giá thực tế.

3- Nghiên cứu màu sắc trong Miếu, những điều bất cập.

4- Nghiên cứu vị trí tọa của Năm mẹ ngũ hành Nương nương.

5- Nghiên cứu Cổng vào Miếu và xác định tâm điểm vùng Trung cung Miếu.

6- Nghiên cứu nơi toilet và nơi nấu ăn uống khi có ngày Vía bà.

7- Nghiên cứu nơi ăn ngủ, sinh hoặt của Ông Từ (người trông nom miếu).

8- Nghiên cứu các cột dựng Miếu theo Sinh, lão, bệnh, tử.

9- Nghiên cứu thước đo Lỗ ban cho toàn bộ cánh cửa cho thích hợp.

10- Nghiên cứu trồng cây xanh cho thích hợp.

11- Nghiên cứu nhà mái cao theo bát quái.

12- Nghiên cứu mái che cổng và che Miếu cho thích hợp tương xứng.

13- Nghiên cứu hành lang và nơi qua lại chiêm bái cho thích hợp.

14- Nghiên cứu ngày giờ tháng năm để làm đại lể Động Thổ.

Với những sự nghiên cứu cho mưu sự trên và được ơn trên phát huệ cho Trọng Hùng fengshui cách hành lễ Động lễ xây Miếu và cách chuẩn bị đồ cúng từng bước như sau:

1- 5 Con gà mái dầu luộc.

2- 5 Bắp cải Thảo.

3- 5 Chun rượu trắng và 5 chun trà.

4- 5 Mâm giấy tiền Bạc Đại.

5- 5 Dĩa muối gạo.

7- 5 Ly đèn cầy.

8- 5 Cây nhang ngũ sắc.

9- 5 Dĩa Xôi ngũ hành (Trắng, đen, xanh, đỏ và vàng)

10- 5 Dĩa trái cây Ngũ quả.

11- 2 Đèn cầy to.

12- 1 Bộ giấy tiền quần áo Thần đất.

13- 1 Dĩa trầu cau têm sẵn.

14- 2 bình bông Cúc vàng.

Mọi người thay phiên nhau chiêm bái.

Kính cầu Năm Mẹ cho được may mắn.

Kính cầu Năm Mẹ cho được may mắn.

Nơi cúng Cô Hồn được trân trọng.

Về cúng các Cô Hồn, âm binh chiến sĩ gồm có đầy đủ nhang đèn bánh kẹo, cháo trắng, 3 cục đường thẻ và giấy tiền quần áo. Về cúng ông Thổ Thần có dĩa trái cây thêm theo nghi thức và ngoài ra cúng Ông Hổ gồm có 5 cái trứng hột vịt sống và 1 dĩa thịt heo ba chỉ. Ngày cúng động thổ vào ngày 19/6/2011 (Âm lịch) vào lúc 9g30 sáng cùng ngày. Người đứng ra thay mặt Ban hội Hương và dân làng để làm Đại lể động thổ do Trọng Hùng fengshui thực hiện.

Lễ Hội Vía Bà Ngũ Hành

Lễ hội vía Bà Ngũ hành

Long An là một vùng đất được lưu dân người Việt khai phá sớm, có nhiều tín ngưỡng dân gian, trong đó có tục thờ Ngũ Hành Nương Nương – dân gian còn gọi là Bà Ngũ hành, 5 vị phúc thần quyền năng: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; bảo hộ cộng đồng cư dân nông nghiệp trong buổi đầu khai phá vùng đất Nam Bộ đầy khắc nghiệt.

Ra đời trong công cuộc khai hoang lập làng của cộng đồng địa phương, Miếu Bà Ngũ hành ở xã Long Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An thờ 5 vị phúc thần được triều đình sắc phong (năm Duy Tân thứ 8) là: Kim Đức Thánh Phi, Mộc Đức Thánh Phi, Thủy Đức Thánh Phi, Hỏa Đức Thánh Phi, Thổ Đức Thánh Phi. Ngoài ra, trong miếu còn thờ Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh, Quan Thánh Đế Quân, các vị Tiền Hiền, Hậu Hiền, Tả Ban, Hữu Ban,…

Hàng năm, lễ hội diễn ra từ ngày 18 – 21 tháng Giêng. Ngày 18 là lễ Khai môn thượng kỳ, mở cửa chính của miếu, thượng cờ, người dân cùng nhau quét dọn, bày biện, trang trí, treo đèn, kết hoa để chuẩn bị cho đại lễ. Tiếp đến là lễ Mộc Dục, tắm rửa thần vị của Ngũ Hành Nương Nương (người thực hiện việc tắm Thần mặc áo dài, khăn đóng, pha nước hoa, dùng khăn sạch nghiêm cẩn lau rửa 5 vị Thánh Phi). Lễ Khai chung cổ là nghi lễ đánh những tiếng chuông và tiếng trống đầu tiên trong lễ Kỳ yên/Cầu an. Sau đó, khai mạc lễ hội Miếu Bà. Tối cùng ngày là nghi thức tụng kinh cầu an do một vị sư trụ trì chùa hành lễ cùng một vị Hương cả, quỳ trước bàn thờ, khấn Bồ Tát phù hộ cho bá tánh an cư lạc nghiệp, nhà nhà hạnh phúc ấm no. Lễ vật cúng Kỳ yên ở Miếu Bà Ngũ hành ở Long Thượng là những sản phẩm nông nghiệp do địa phương sản xuất, ngoài ra còn có heo Yết (heo dùng để tế Bà).

Ngày 19 tháng Giêng, cùng với nghi lễ là các trò diễn dân gian như: hát bóng rỗi, múa bóng ca tụng sự linh hiển và công đức của Bà. Tiết mục Hát bóng rỗi diễn ra trước sân miếu, những người diễn xướng, người hát và múa mặc trang phục đặc trưng với áo, mũ, khăn, váy, ngạch quan và trang điểm cầu kỳ. Hát bóng rỗi có ý nghĩa như một bản nhạc khai tràng cúng Bà, có dàn nhạc diễn tấu các điệu nhạc lễ và đệm cho các điệu hát; sau các điệu nhạc lễ khai tràng là những bài hát bóng rỗi chầu mời Ngũ Hành Nương Nương, chư tiên, chư thánh, các chiến sĩ… về dự lễ. Người diễn xướng, thường gọi là “bóng”, hát những bài bản có sẵn hoặc ứng tác nội dung phù hợp với đối tượng mời, bằng các làn điệu như tuồng, lý, kể vè… Sau khi hát chầu mời, các “bóng” bắt đầu trình diễn điệu múa dâng mâm vàng một cách nghiêm trang và thành kính. Không khí trang nghiêm của nghi lễ được chuyển dần sang không khí sôi động của sinh hoạt cộng đồng khi các “bóng” bắt đầu trổ tài trình diễn các tiết mục múa đặc sắc. Đó là những màn trình diễn mang tính chất “xiếc” theo sở trường riêng, nhưng chủ yếu là dùng đầu, trán, môi, mũi, mặt nâng giữ vật nặng, tạo thăng bằng và di chuyển theo các vũ điệu đặc trưng của múa bóng với điệu múa dâng bông và hát theo điệu Xây tá. Bóng nhấc tộ bông có cắm bông vạn thọ, trang, cúc đặt lên bàn tay trái, xoay người 3 lần rồi đặt tộ bông lên đầu để múa một cách ngẫu hứng theo điệu đàn, nhịp trống của dàn nhạc bóng. Các động tác múa ở đây hết sức uyển chuyển, mềm mại, khi nhanh, khi chậm sao cho lễ vật đội trên đầu không rơi xuống đất, các “bóng” vừa múa, vừa di chuyển đến bàn thờ Bà, để dâng bông cho chủ lễ đặt lên bàn thờ.

Sau tiết mục múa dâng bông là các trò diễn dân gian, như: múa dâng lộc, múa bông huệ, múa ghế, múa khạp, múa dao, múa dâng rượu, trong đó một số trò diễn mang chất xiếc được cộng đồng rất tán thưởng.

Buổi tối diễn ra lễ Đại Bội trước khi đoàn hát bội trình diễn các vở tuồng cổ. Lễ Đại Bội gồm 3 nghi tiết: nhứt thái, nhị nghi, tam hiền và gia quan tấn tước. Các nghi tiết diễn ra tượng trưng cho việc khai mở bốn cửa trời, sự hòa hợp trong vũ trụ để tạo ra vạn vật, mong muốn cuộc sống thần tiên, vui vẻ.

Những ngày tiếp theo, người dân tiếp tục thực hiện các nghi lễ truyền thống, như: lễ Túc yết, lễ Đoàn cả – lễ Tạ thần. Bên cạnh đó, trò diễn dân gian hát bóng rỗi, múa bóng vẫn được trình diễn tại miếu Bà. Ngoài ra, trò diễn hát chặp Địa Nàng có sức cuốn hút người xem với nội dung hài hước thể hiện sự lạc quan, thông minh cũng như phản ánh thói hư, tật xấu của con người.

Tục Vía Bà “Ngũ Hành Nương Nương”

Từ thời Trung Hoa cổ đại, Ngũ Hành vốn là một khái niệm siêu hình học nền tảng trong các học thuyết về Âm Dương/Ngũ Hành của Khổng tử và Lão tử. Ngũ Hành là 5 loại vật chất căn bản, gồm: Kim (kim loại), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa ( lửa) và Thổ (đất). Như giải thích trong kinh Dịch và kinh Thư, 5 chất liệu ấy vận động, phát triển theo hướng “tương sinh” và “ tương khắc”, đồng thời biểu thị quy luật sinh thành/vận động của toàn vũ trụ, thế giới và cả trong cuộc sinh tồn của nhân loại. Xuất phát từ Trung Quốc, lần hồi thuyết Ngũ Hành được tín ngưỡng hóa thành sự thờ phượng “vạn vật linh thiêng”, rất phổ biến trong nhiều dân tộc Á Đông – trong đó có Việt Nam –  cho đến ngày nay.

“NĂM CHẤT” ĐƯỢC TÍN NGƯỠNG THỜ “MẪU” BIẾN THÀNH “NĂM BÀ” 

Tiếp nhận thuyết Ngũ Hành từ phương Bắc rồi hòa quyện vào những tín ngưỡng dân gian đã có trước, người Việt cổ đã đưa thuyết này vào thờ phượng với những nhận định thực tiễn, giản dị. Chẳng hạn như ở vùng nóng bức quanh năm, thường xảy ra hoả hoạn, thì hành Hỏa được lập miếu thờ; vùng duyên hải, sông rạch thì thờ Thủy thần; vùng rừng núi thì thờ Bà Chúa Thượng Ngàn; vùng trồng lúa, trồng màu thì thờ Thổ thần v.v… Mặt khác, tại nước Việt xưa, so với các tục thờ Thổ Địa, Tài Thần, Chúa Xứ Thánh mẫu v.v…, thì tục thờ Ngũ Hành Nương Nương – tức thờ Ngũ Hành (vật chất) như một nhóm năm vị nữ thần – đã xuất hiện muộn hơn.

Còn muộn hơn là mãi đến năm Duy Tân thứ năm (tức năm 1911), triều đình nhà Nguyễn mới sắc phong chung cho năm Bà là các “Đức Thánh Nương, Trứ Phong Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần”, phân ra là: Thổ Đức Thánh Phi, Hỏa Đức Thánh Phi, Kim Đức Thánh Phi, Thủy Đức Thánh Phi và Mộc Đức Thánh Phi. 

Nhưng tại sao biểu tượng cho “năm chất căn bản tạo nên trời đất” lại là các nữ thần mà không là nam thần?

Theo thiển ý (bởi chưa thấy có tài liệu, sách vở nào về khảo cổ học, nhân chủng học, tôn giáo học… đưa ra lý giải tương tự), là vào thời tiền sử, theo cái nhìn sơ khai của các dân tộc trồng lúa nước, sống phụ thuộc vào thiên nhiên – như người Việt cổ – thì, giới tự nhiên, hoang dã có tính chất tạm gọi là “âm sinh”, bởi ở đâu cũng thế, con người cổ đại nhìn thấy việc đẻ đái, trẻ con sơ sinh cũng như các thú vật sơ sinh khác được sinh ra duy nhất chỉ từ người đàn bà hay các con thú giống cái.

Có thể nói, dù chỉ là một kinh nghiệm hết sức hồn nhiên, thô thiển trước thế giới quanh mình nhưng kinh nghiệm trực quan nói trên đã mang tính chất vũ trụ quan nguyên thủy của con người bầy – đàn. Hơn thế, đây cũng là nguyên do có trước tiên trong số những nguyên do dẫn tới chế độ mẫu hệ cùng tín ngưỡng thờ Mẫu – biểu tượng thần linh nghiêng về “Mẹ”, “Mẹ Đất” rất phổ biến trong các chủng người cổ đại.

Trước kia, Ngũ Hành Nương Nương thường được thờ trong những am, miếu, điện…, phổ biến nhất là các ngôi miếu lớn, nhỏ mà người dân quen gọi ngắn gọn là “miếu Ngũ Hành” hay “miếu Bà” – hiếm khi nghe kiểu gọi “miếu năm Bà”. Tiến về phương Nam, đến vùng đất Gia định cũ, rồi TP HCM ngày nay (mở rộng từ đô thành Sài Gòn cũ), tục thờ Bà Ngũ Hành càng được quảng bá rộng rãi, những ngôi miếu Bà xuất hiện khắp nơi, nhất là ở các vùng nông thôn và vùng ven đô.

Ban đầu, người ta thờ Bà bằng bài vị chữ Nho, nhưng mấy mươi năm gần đây, bài vị lần hồi được thay bằng tượng tô, đúc bằng xi măng. Cần để ý là từ màu sơn thân tượng cho đến màu y áo, khăn choàng khoác ngoài, ở mỗi Đức Bà (tức mỗi Hành) đều có màu chủ đạo riêng biệt, đó là: Kim Bà màu trắng, Mộc Bà màu xanh, Hỏa Bà màu đỏ, Thủy Bà màu đen (hoặc tím) và Thổ Bà màu vàng. 

“BÀ” Ở TRONG ĐÌNH, CHÙA, CẢ TRONG KHU PHỐ, NGÕ HẺM 

Ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định cũ, do phần lớn giới trung lưu và giới bình dân (tiểu thương, sản xuất tiểu/thủ công nghiệp, buôn gánh bán bưng, lao động chân tay…), thường cùng tin là Bà Ngũ Hành linh hiển, nên từ xa xưa, trước ngày 30/4/1975, miếu Bà được cất, dựng rải rác, liền kề nhau ở khắp các thôn ấp, đường phố. Như ở quận Gò Vấp (thuộc tỉnh Gia Định cũ, vùng đất có rất nhiều chùa, miếu), ở một đoạn đường Nguyễn Thái Sơn giáp đường Lê Lợi thuộc phường 3,  chỉ nội trong hai khu phố kề nhau, đã có tới 4 chỗ thờ Bà Ngũ Hành, gồm một miếu ở mặt tiền đường và ba cái kia thì khuất trong ngõ hẻm, cách nhau chỉ chừng 500 – 600 mét.

Xưa nay, trong đất thổ cư, vườn tược của mình, nhiều nhà giàu đã cúc cung dựng miếu thờ Bà, như ở vùng quận 9 (gần Trường Bộ Binh Thủ Đức cũ) hiện nay, có những ngôi miếu Bà thật nhỏ, có khi chỉ bằng cái tủ áo, được cất ngay cạnh ao nuôi cá và chuồng gà vịt. Có nơi Bà được gia chủ thờ riêng một miếu, cũng có nơi thờ chung với Thổ Địa, Quan Công, Mẹ Thai Sanh…

Còn ở các nơi thờ phượng công cộng là các ngôi đình làng, kiểu thờ “quần tiên, chư thần” càng phồn tạp hơn. Mang danh nghĩa “đình” là dành thờ Thành Hoàng (vị nhân thần bảo hộ cho làng, xã), nhưng trong đình thì ngoài bệ thờ Thành Hoàng, luôn luôn có thêm bàn thờ, trang thờ Ngũ Hành Nương Nương, Quan Thánh, Thổ Địa, Tiền Hiền, Hậu Hiền, Linh Sơn Thánh Mẫu .v.v…

Ở những ngôi đình cổ, như đình Minh Hương Gia Thạnh (ở quận 5, xây năm 1797) , đình Phong Phú (ở quận 9, xây năm 1937), đình Phú Nhuận ( 150 năm tuổi), đình An Phú (ở quận 12, khoảng 250 năm tuổi) .v.v…, thì hằng năm, bá tánh cùng vía Bà cũng lớn không thua gì lễ vía Thành Hoàng địa phương. 

Một điểm đặc biệt nữa là dù chỉ thuộc về tín ngưỡng dân gian chứ không thuộc hàng “chư Phật” trong Phật giáo, Bà Ngũ Hành vẫn được thờ trong chùa (chính danh là cửa Phật), có điều phải là những ngôi chùa cổ (theo Đại Thừa). Như trong khuôn viên một số ngôi cổ tự như chùa Phổ Đà Quan Âm (quận Gò Vấp), chùa Vạn Thọ (quận 1), chùa Bình An (quận Bình Tân), chùa Bửu Long sơn tự ở tận Dĩ An (Bình Dương).v.v…, những ngôi miễu Bà được bá tánh cúc cung quanh năm hương khói… Còn ở những ngôi chùa tạm gọi là ‘tân thời’, mới cất gần đây như trường hợp chùa Quảng Đức (mới xây dựng sau 30-4 ở quận 3), không thấy có những am, khám thờ các vị thần bên tín ngưỡng dân gian, như Bà Ngũ Hành, Quan Công, Linh Sơn Thánh Mẫu…

Được thờ cúng từ ở những ngôi miếu khang trang, lộng lẫy, cho đến những bàn thờ, trang thờ nhỏ bé, đơn sơ tại tư gia, có thể nói “Bà” là nhóm thần linh rất gần gũi với bá tánh. Thậm chí ở vài cái miếu trong ngõ hẻm – có khi nhỏ, hẹp đến nổi chỉ bằng chừng 2-3 chiếc chiếu đôi trải ra – miếu vẫn còn là “hộ khẩu 1 người” bởi người coi sóc miếu ăn ở, sinh hoạt luôn ở phía sau bàn thờ Bà. 

VÍA BÀ LUÔN CÓ BÓNG RỖI ĐẾN HÁT, TẾ…

Theo đúng tục lệ thì lễ vía Ngũ Hành Nương Nương là vào ngày 19 tháng Ba âm lịch hằng năm, nhưng có vài nơi cúng trễ hơn, như ở ngôi miếu Bà nằm ở đường Phan Văn Khỏe, gần chợ Bình Tây (cất năm 1970), lại cúng Bà vào ngày 23 tháng Ba.

Cũng theo đúng lệ thì vào kỳ vía, các miếu Bà phải mời đám bóng rỗi – pêđê nam – đến hát, tế, múa dưng bông… thật tưng bừng, thu hút rất đông bá tánh xa, gần đến coi. Trước vía 1- 2 ngày, bà con bổn đạo thường cùng nhau “đấp y cho Mẹ”, là nghi thức lau chùi, sơn sửa, thay áo, mão mới cho các pho tượng Bà.

Vừa rồi, một ngôi miếu Ngũ Hành nằm ở đường Trương Đăng Quế (phường 3 Gò Vấp), dù chẳng rõ dự án mở rộng  con đường này có thực hiện hay không, tức tương lai ngôi miếu có bị giải tỏa trắng hay không, trước mắt vẫn rục rịch tô sửa, sơn phết chuẩn bị cho kỳ vía Bà năm nay. Đúng ra, theo chị Dung, người vừa coi sóc miếu vừa có nghề tế bóng rỗi, bà con ở đây vẫn có lệ riêng là bất kỳ lúc nào trong năm, hễ trong bổn đạo có ai phát tâm cúng Bà là đến nhờ chị tổ chức, sửa soạn mâm lễ, chứ không cần chờ đến kỳ vía tháng Ba âm lịch như lúc này mới cúng.

Còn theo bà Ba Thích, thuộc gia đình đã bỏ công bỏ của cất ngôi miếu này từ năm 1950, cứ 3 năm một lần, gia đình bà đều giữ đúng lệ cúng tạ Ngũ Hành Hành Nương, bởi: “Bao năm qua, có Bà, Mẹ Mẫu đã gia ơn phò hộ thì gia đình tôi mới được mạnh khỏe, bình an bấy lâu…”.

PHẠM NGA thực hiện