Top 16 # Xem Nhiều Nhất Cách Vái Cúng Ngày Rằm / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Herodota.com

Cách Khấn Vái Tổ Tiên Ngày Tết / 2023

Hướng dẫn quy tắc vái lạy khi cúng

Khi cúng gia tiên thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên.

Cúng là gì

Khi có giỗ Tết, gia chủ bày hoa (bông) quả, nước, rượu, cỗ bàn, chén bát, đũa, muỗng (thìa) lên bàn thờ rồi thắp nhang (hương), thắp đèn, đốt nến (đèn cầy), khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu kính, biết ơn, và cầu phước lành. Đây là nghĩa rộng của cúng. Trong nghĩa bình thường, cúng là thắp nhang (hương), khấn, lạy,và vái.

Vái là gì:

Là đứng (hoặc quỳ) nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên hai tay chắp như lạy nhưng động tác đưa xuống nhanh hơn và chỉ đưa đến trước ngực, đầu cúi xuống khi vái (còn gọi là bái) thì chỉ thực hiện sau khi lạy và chỉ 2 vái mà thôi (cho dù có thực hiện 2, 3, hay 4 lạy cũng thế)

Tùy theo từng trường hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái (xem phần sau).

Lạy là gì:

Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính chân thành với tất cả tâm hồn và thể xác đối với người trên hay người quá cố vào bậc trên của mình.

Lạy tức là chắp hai tay đưa cao quá trán và hạ từ từ xuống phía trước mặt đến ngang ngực và trong một số trường hợp rất cung kính thì người lạy tiếp tục quỳ xuống, chống hai lòng bàn tay xuống đất rồi đầu cuối đến khi trán chạm đất thì hết quy trình 1 lạy. Nếu người lạy ở tư thế đứng lạy thì có thể kẹp thêm một nén nhang giữa hai lòng bàn tay úp vào nhau cũng được. Với động tác lạy thì người lạy phải nhìn về phía trước, khi tay đưa xuống thì đầu đồng thời cuối xuống theo.

Các tư thế lạy khi cúng bái

Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý-nghĩa khác nhau.

Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra. Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa học và vững vàng. Sở dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn bị đứng lên cũng vậy. Sở dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.

Thế lạy phủ phục của mấy nhà sư rất khó. Các Thầy phất tay áo cà sa, đưa hai tay chống xuống ngay mặt đất và đồng thời quì hai đầu gối xuống luôn. Khi đứng dậy các Thầy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà không cần phải để tay tỳ lên đầu gối. Sở dĩ được như thế là nhờ các Thầy đã tập luyện hằng ngày mỗi khi cúng Phật. Nếu thỉnh thoảng quí cụ mới đi lễ chùa, phải cẩn thận vì không lạy quen mà lại bắt chước thế lạy của mấy Thầy thì rất có thể mất thăng bằng.

Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.

Ý nghĩa của Lạy và Vái Số lần lạy

Theo người Việt Nam, việc VÁI LẠY không chỉ dành cho khi khi đi dự đám tang, lạy khi cúng tế, lạy Phật ở chùa… mà Vái lạy còn dùng cho người sống nữa.

Ngày xưa, chắc các bạn nghe từ “Lạy mẹ con đi lấy chồng”, đọc thơ Nguyễn Du cũng thấy có việc lạy người sống đấy thôi. Ngày xưa ở miền Bắc (thời phong kiến) khi con dâu mới về nhà chồng đều phải lạy (còn gọi là “lễ”) cha mẹ chồng. Hoặc khi làm lễ mừng thọ thì cũng có chuyện người sống lạy người sống đó thôi.

Đây là phong tục đặc biệt của Việt Nam ta mà người Tàu không có tục lệ này. Khi cúng, người Tàu chỉ lạy 3 lạy hay vái 3 vái mà thôi.

Ý nghĩa Của 2 Lạy và 2 Vái :

Hai lạy dùng để áp dụng cho người sống như trong trường-hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng điếu, nếu là vai dưới của người quá cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em, v.v., ta nên lạy 2 lạy.

Hai vái: Nhưng trong trường hợp người quá-cố còn để trong quan tài tại nhà quàn, các người đến phúng điếu, nếu là vai trên của người quá cố như các bậc cao niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi.

Ba vái: Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính cẩn, chứ không có ý nghĩa nào khác.

Bốn vái: Khi quan tài đã được hạ huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái. Theo nguyên lý âm dương, khi chưa chôn, người quá cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng trưng cho âm dương nhị khí hòa hợp trên dương thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.

Ý nghĩa Của 3 Lạy và 3 Vái Khi đi lễ Phật:

Ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng trưng cho Phật, Pháp, và Tăng

Phật ở đây là giác, tức là giác ngộ, sáng suốt, và thông hiểu mọi lẽ.

Pháp là chánh, tức là điều chánh đáng, trái với tà ngụy.

Tăng là tịnh, tức là trong sạch, thanh tịnh, không bợn nhơ.

Đây là nói về nguyên tắc phải theo. Tuy nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy. Trong trường hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ Âu phục, nếu cảm thấy khó khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.

Ý Nghĩa Của 4 Lạy và 4 Vái

Bốn lạy để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần. Bốn lạy tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ tượng (Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú ngụ.

Bốn vái dùng để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp dụng thế lạy.

– Ý nghĩa Của 5 Lạy và 5 Vái Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy:

Năm lạy tượng trưng cho ngũ-hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng trưng cho trung cung tức là hành thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý-kiến cho rằng 5 lạy tượng trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ Tổ Hùng Vương, quí vị trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng Vương là vị vua khai sáng giống nòi Việt.

Ngày Tết người Việt ta thường có tục lệ cúng giao thừa vào ngày 30 Tết để tiễn các vị quan hành khiển năm cũ và nghênh đón các quan mới. Trong ngày Tết các bạn cũng nên chú ý đọc các bài khấn Tết nguyên đán Kỷ Hợi sao cho đúng để phù hợp với nghi thức cúng lễ trong dịp Tết âm lịch.

Cách Khấn Vái Và Vật Phẩm Cúng Tế / 2023

A/-Phẩm vật:- 1/-Đào móng xây nhà:-5 chè, 3 xôi, 1 dĩa trái cây thường, 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương). Sắp chung bàn nhưng chia thành 2 mâm: mâm đất đai và mâm cúng Tổ của thợ. 2/- Dựng nhà:- 5 chè, 3 xôi, 1 dĩa trái cây ngũ quả (5 thứ, thường dùng: thơm, mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài hoặc trái sung ), 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương). Sắp chung bàn nhưng chia thành 2 mâm: mâm đất đai và mâm cúng Tổ của thợ. 3/-Về nhà mới:- 5 chè, 3 xôi, 1 dĩa trái cây ngũ quả (có phủ kín bằng tờ giấy hồng đơn đỏ ), 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương). Sắp chung bàn nhưng chia thành 2 mâm: mâm đất đai và mâm cúng Tổ của thợ. Hoặc nếu nấu mâm cơm canh để cúng thì miễn bớt chè xôi. 4/-Khai trương:- 4 chè, 2 xôi, 1 dĩa trái cây thường, 1 bình bông, 1 dĩa trầu cau, trà, rượu, đèn, nhang (lư hương). 5/- Lấy huyệt mã hoặc bốc mộ (cải táng) :- 1 dĩa tam sênh (tam sanh) :- khổ thịt heo luộc, trứng vịt (ga), tôm khô, trà , rượu, đèn cầy , nhang.

B.- Cách vái nguyện:- Thắp 3 (hoặc 5 ) cây nhang, châm đèn, rót trà, rượu, đưa nhang lên trán khấn nguyện :- “Nam-mô A-Di-Đà Phật, Trời che đất chở, nước có quốc thánh, làng có hương thần, nơi ngụ cư có Đất Đai Viên Trạch. Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, kính trình “ĐẤT ĐAI VIÊN TRẠCH” nhậm lễ chứng minh, cho phép con được (đào móng, dựng nhà v.v…). Kính xin Đất Đai phù hộ độ trì cho công việc ……… (Nếu là đào móng, xây, dựng nhà, thì vái cho được tiến triển tốt đẹp, an toàn khi làm việc, chủ thợ đều bình an, nhanh chóng thuận lợi, vui vẻ mọi bề …// Nếu về nhà mới thì vái cho toàn gia được bình an mạnh khỏe, đời sống được ấm no, sung túc, trên thuận dưới hòa, v.v…

II.- CÚNG TỔ CỦA THỢ :- (Trong lễ đào móng (động thổ), dựng nhà (gác đòn tay, kèo ), khai trương ngành nghề ……)

A/-Phẩm vật:- Thông thường là con gà luộc tréo cánh, nếu không có thì 3 chè, 1 xôi cũng được. -1 bình bông, 1 đĩa trái cây thường, gạo muối. *Quan trọng là nhớ đặt “TIỀN TỔ” ! B/- Khấn nguyện:-” Nam-mô A-Di-Đà Phật, Tay nghề khéo léo, nhờ ơn Tổ-Cuộc sống vươn lên, nhớ đức Sư. Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, kính trình “THẬP NHỊ CÔNG NGHỆ TỔ SƯ, LỖ BAN TỔ SƯ ” nhậm lễ chứng minh, cho phép chúng con được (đào móng, dựng nhà v.v…). Kính xin chư vị Tổ Sư hiển kinh phù hộ độ trì chúng con được … tốt đẹp, an toàn khi làm việc, chủ thợ đều bình an, nhanh chóng thuận lợi, vui vẻ mọi bề …// Nếu về nhà mới thì vái cho toàn gia được bình an mạnh khỏe, đời sống được ấm no, sung túc, trên thuận dưới hòa, v.v…

III.- CÚNG ÔNG BÀ TỔ TIÊN:-

A/-Phẩm vật:- Nấu mâm cơm canh để cúng là gọn nhất, nếu không có thì có gì cúng nấy, chè xôi hoa quả gì cũng tốt, cốt ở lòng thành tưởng nhớ ông bà là tốt rồi. B/-Khấn nguyện:- “Nam-mô A-Di-Đà Phật, Cây có cội, nước có nguồn; người phải có tổ tiên, ông bà, cha me. Hương lửa lưu truyền, có thân lớn khôn đây là nhờ ơn Cửu Huyền ban phước. Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, kính trình “CỬU HUYỀN THẤT TỔ, NỘI NGOẠI TÔNG THÂN” nhậm lễ chứng minh, cho phép con được (đào móng, dựng nhà v.v…). Kính xin Ông Bà Tổ Tiên phù hộ độ trì cho công việc ……… (Nếu là đào móng, xây, dựng nhà, thì vái cho được tiến triển tốt đẹp, an toàn khi làm việc, chủ thợ đều bình an, nhanh chóng thuận lợi, vui vẻ mọi bề …// Nếu về nhà mới thì vái cho toàn gia được bình an mạnh khỏe, đời sống được ấm no, sung túc, trên thuận dưới hòa, v.v…

IV.- CÚNG CÔ HỒN CHIẾN SĨ:-

A/-Bày trên mâm hoặc sàng hay nia, trải ra xếp đều trên mâm các thứ sau:- -Giấy áo cắc đảng (các đẳng) ngũ sắc, giấy tiền vàng bạc (thường hoặc đại cũng được), bánh ngọt, kẹo………… nhiều thứ, thuốc hút, 1 dĩa gạo muối, 4 chung trà, 4 chung rượu, bông trái tùy ý.

B/- Khấn nguyện:- Châm đèn, đốt 10 cây nhang, vái :- “Nam-mô A-Di-Đà Phật, Trời đất thuận lý, âm dương an bài. Trời cao đất dày che chở, âm siêu dương thới xưa nay. Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……… (ÂL), con tên họ là …………(xưng họ tên), ……….tuổi, hiện ở tại ………(ấp, xã, huyện, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, cung thỉnh “MƯỜI PHƯƠNG CHỦNG LOẠI CÔ HỒN, CÁC ĐẲNG CHIẾN SĨ” về đây thọ tài hưởng lộc, trợ giúp tôi được (đào móng, dựng nhà, về nhà mới, khai trương buôn bán cửa tiệm gì…………hoặc xuất hành chiếc xe loại gì…… mang biển số là………………v.v…). Kính xin chư vị, thọ nhơn tài hãy cứu nhơn tai, giúp đỡ chúng tôi trong công việc ……… được đầu xuôi đuôi lọt, khách thuận chủ hòa, tất cả đồng vui vẻ, đi về bình an v.v…Chúng tôi xin biết ơn và hậu tạ sau nầy”.

*Đọc bài chú vãng sanh sau 3 lần :- “Nam-mô a-di-đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tì, a di rị đa tất đam bà tì . A di rị đa tì ca lan đế, a di rị đa tì ca lan đa. Dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha”. Nam-mô A-Di-Đà Phật. (3 lần)

*Cúng xong, rải gạo muối ra bốn hướng, đốt giấy tiền vàng bạc, giấy áo v.v…Bánh kẹo các thứ thì phát cho trẻ con.

Nguồn: Hoangthantai.com

Cách Vái Cúng Lạy Ở Chùa Đúng Cách Tránh Phạm / 2023

Cách vái cúng lạy ở chùa đúng cách tránh phạm là điều mà tất cả mọi người từ nam, nữ, già, trẻ đều cần phải nắm được. Có tâm là tốt nhưng phải biết cách để điều chỉnh sao…

Cách vái cúng lạy ở chùa đúng cách tránh phạm là điều mà tất cả mọi người từ nam, nữ, già, trẻ đều cần phải nắm được. Có tâm là tốt nhưng phải biết cách để điều chỉnh sao cho phù hợp hoàn cảnh.

Cách vái cúng lạy ở chùa đúng cách tránh phạm

Thắp hương, khấn, vái, lạy là một chuỗi các hành động liên tục trong quá trình thực hiện một nghi lễ thờ cúng, có thể là ở nhà (cúng gia tiên), ở đền, chùa. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đưa ra một số cách thực hiện việc vái, lạy ở chùa dành cho những người quan tâm.

Cách vái cúng lạy ở chùa đúng cách tránh phạm: cách vái lạy cơ bản

Vái: Vái thường được áp dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Ở Chùa nhiều nơi cấm khách thập phương châm hương trong chùa, mà chỉ cho thắp ở vạc hoặc lư hương to để ở ngoài cửa.

Vái thay thế cho lạy trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Số lượng lần vái thường là lẻ, phổ biến nhất là 3 vái hay 5 vái.

Lạy: Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính chân thành với tất cả tâm hồn và thể xác. Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều mang ý nghĩa khác nhau. Việc lạy được thực hiện trước Tam bảo.

Cách lạy như sau: đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và giơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuông gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống (hoặc ngửa), đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất (tùy có thể phải hoặc trái theo thói quen của mỗi người), và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang vối đầu gốỉ chân phải đang quì để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Số lần lạy là số lẻ: 3,5,7,9. Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra. Về việc xòe bàn tay úp hay ngửa là tùy người lạy, cũng chưa có một tiền lệ nào “bắt buộc” phải úp hay ngửa lòng bàn tay.

Cách lạy nêu trên hiện nay chỉ có các bậc cao niên áp dụng thường trong dịp lễ, vì khá cầu kỳ.

Cách lạy khác (thế phủ phục) thường được các nhà sư thực hiện: đưa hai tay chống xuống ngay mặt đất, đồng thòi quì hai đầu gối xuống luôn; khi đứng dậy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà không cần phải để tay tỳ lên đầu gối.

Với phụ nữ hoặc với người bị đau đầu gối thì có cách phổ biến như sau: ngồi bệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trưóc và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trưốc ngực rồi đưa cao lên ngang vói tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết. Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.

Phật giáo Việt Nam thường lạy theo phương cách ngũ thể đầu địa (hai tay, hai chân và cái đầu đụng mặt đất). Đây là một phương cách lạy tôn kính nhất trong tất cả các cung cách lễ lạy, thể hiện lòng biết ơn và niềm tôn kính với Tam Bảo

Cách vái cúng lạy ở chùa đúng cách tránh phạm: vái lạy bao nhiêu lần là đủ

Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy.

Theo giáo lý của đạo Phật thì ba cái lạy chính là lễ lạy ba ngôi Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, có năng lực dẫn dắt con người thoát khỏi mọi phiền não và ra khỏi sinh tử luân hồi.

Đức Phật là người đã giác ngộ và giải thoát hoàn toàn. Ngài là một bậc đạo sư, một người chỉ lối dẫn đường cho mọi chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi. Vì thế người Phật tử lạy cái lạy đầu tiên là để tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ và nhớ ơn Phật đồng thời là thề nguyện sẽ theo gương Ngài mà tu hành để về bến giác.

Pháp là những lời Phật dạy các đệ tử, sau đó được ghi bằng chữ, gọi là Kinh và Luật. Vì thế người Phật tử lạy cái lạy thứ hai là lạy Pháp Bảo nhằm bày tỏ lòng thành kính, biết ơn và tưởng nhớ đến những lời dạy của Phật. Nếu những người con Phật thực hành theo lời dạy của Phật thì sẽ có công năng qua khỏi bể khổ, đến bến bờ giải thoát.

Tăng là một đoàn thể sống chung với nhau ít nhất là bốn người, bỏ nhà xuất gia đi tu, giữ đầy đủ giới luật của Phật đặt ra, với mục đích tu hành giải thoát cho mình và cho tất cả chúng sinh. Vì thế cái lạy thứ ba là lạy Tăng Bảo, từ các vị Thánh Tăng xuất thế đến các vị Tỳ Kheo trụ thế tu hành chân chính, đạo đức trong sạch và giới luật trang nghiêm.

Ngoài ý nghĩa lễ lạy Phật, Pháp và Tăng nêu trên, ba lạy cũng còn mang ý nghĩa lễ lạy ba ngôi báu bên trong chúng ta và trong mỗi chúng sinh.

Vì chúng sinh cùng chư Phật đồng một thể tính sáng suốt (Phật tính), đồng một pháp tính từ bi và bình đẳng (Pháp tính) và đồng một đức tính thanh tịnh, hòa hợp (Thanh tịnh tính).

Khi lạy phải tuân theo lời Phật dạy không được suy nghĩ gì cả. Chỉ theo dõi hành động và hơi thở của mình. Tâm phải ở trạng thái thanh tịnh, không tạp nhiễm.

Đồng thời phải quán chiếu được việc mình đang làm, lễ xuống thì chỉ biết là lễ xuống, đứng lên thì chỉ biết là đứng lên, chắp tay thì chỉ biết là chắp tay. Tuyệt đối không nghĩ đến bất cứ ai hay tưởng nhớ đến bất cứ cái gì. Như thế mới thể hiện lòng tôn kính với ba ngôi báu Tam Bảo.

Phật ở đây là giác, tức là giác ngộ, sáng suốt, thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong sạch, thanh tịnh, không bơn nhơ. Đây là nói về nguyên tắc phải theo. Tuy nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy. Trong trường hợp cúng Phật, khi ta mặc âu phục, nêu cảm thấy khó khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.

Cách vái cúng lạy ở chùa đúng cách tránh phạm: đến chùa cúng gì khấn gì

Đi lễ chùa là một nét đẹp tâm linh trong phong tục của người Việt Nam trong những ngày giằm, mùng một, ngày lễ Tết hay những lúc gia đình có việc quan trọng hoặc tâm trạng bế tắc người ta cũng cầu khấn đến chùa, nhằm tìm sự bình an và sức khỏe, không cầu lợi lộc hay tiền tài địa vị.

Chùa là nơi thanh tịnh nên khi sắm sửa lễ vật bạn phải chọn những lễ chay như hương, hoa quả tươi (hoa tươi lễ Phật là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại), oản, xôi chè, trầu cau, đèn, nến và cấm kị lễ vật mặn. Hiện nay rất nhiều người đang bị nhầm lẫn việc mang lễ mặn lên cúng chùa.

Dâng lễ mặn chỉ được áp dụng trong trường hợp đền chùa đó có các vị Thánh , Mẫu, Thành Hoàng,…Các vị này thường an tọa ở các khu ngoài chính điện. Lễ mặn có thể dâng gồm gà , giò , chả, rượu, vàng mã,…

Đến Chùa phải khấn ban Tam Bảo, ban Đức Ông, ban Đức Thánh Hiền, Quan Thế âm Bồ tát. Có những bài khấn theo truyền thống hoặc có thể diễn nôm theo ý hiểu của mỗi người miễn là thành tâm, không cần sự cầu kỳ.

Ban thờ Đức Ông chùa Quán Sứ

Cách vái cúng lạy ở chùa đúng cách tránh phạm: Văn khấn Đức Ông – Đức Chúa Ông (Tôn giả Tu-đạt)

Ban Đức Ông là nơi khấn đầu tiên không phải là ban Tam bảo vì Đức Ông là người trông chùa: Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn Giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Ngụ tại …………………………………………………………………………………………….. Cùng cả gia đình thân tới cửa chùa …………………………….. trước điện Đức Ông, thành tâm kính lễ, (nếu có đang lễ vật thì khấn thêm “hiến dâng phẩm vật, kim ngân tịnh tài”), chúng con tâu lên Ngài Tu Đạt Tôn Giả từ cảnh trời cao soi xét. Chúng con kính tâu lên Ngài Già Lam Chân Tể cai quản trong nội tự cùng các Thánh Chúng trong cảnh chùa đây. Thiết nghĩ chúng con sinh nơi trần tục, nhiều sự lỗi lầm, hôm nay tỏ lòng thành kính, cúi xin Đức Ông thể đức hiếu sinh, rủ lòng tế độ che chở cho chúng con, ba tháng hè chín tháng đông, tiêu trừ bệnh tật tai ương, vui hưởng lộc tài may mắn, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

Cách vái cúng lạy ở chùa đúng cách tránh phạm: cách khấn ở ban Tam Bảo

Nam mô a di đà phật (3 lần 3 lạy) Đệ tử con nay thành tâm kính lạy mười phương chư Phật Hôm nay là ngày, tháng , năm. Tín chủ con là… ngụ tại… Con thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên mười phương thường trụ Tam Bảo. Kính xin chư vị rủ lòng từ bi , phù hộ độ trì cho con được …. (công danh, tài lộc, nhân duyên, sức khỏe)…. Chúng con người trần phàm tục còn nhiều lỗi lầm, cúi mong Phật Thánh từ bi đại xá để cho con và gia đình được tai qua nạn khỏi, mọi sự bình an, sở cầu như ý. Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin phù hộ độ trì. Nam mô a di đà Phật (3 lần 3 lạy) Hoặc đầy đủ như sau: Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Ngụ tại ……………………………………………………………………………………………… Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng (nếu viết sớ đặt trên mâm lễ vật) lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo. Chúng con xin dốc lòng kính lễ: – Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương. – Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà. – Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương. – Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát. – Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát. Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ……………………………… (công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…). Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai quan nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khoẻ, trên dưới thuận hoà an khang thịnh vượng. Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Ngoài ra có thể khấn Nôm theo ý tự hiểu miễn là thành tâm.

Cách vái cúng lạy ở chùa đúng cách tránh phạm: Văn khấn Đức Thánh Hiền

Văn khấn Đức Thánh Hiền (Đức A-nan-đà Tôn Giả)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Con cúi lạy Đức Thánh Hiền, Đại Thánh Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Ngụ tại ……………………………………………………………………………………………… Chúng con thành tâm tiến dâng lễ bạc, oản quả, hương hoa. Cầu mong Tam Bảo chứng minh, Đức Thánh Hiền chứng giám, rủ lòng thương xót phù hộ cho con được mọi sự tốt lành, sức khỏe dồi dào, an ninh khang thái, gia đạo hưng long, thịnh vượng. Cúi mong Ngài soi xét tâm thành, phù hộ cho gia đình chúng con được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

Cách vái cúng lạy ở chùa đúng cách tránh phạm: Văn khấn Bồ-tát Quán Thế Âm

Văn khấn Bồ-tát Quán Thế Âm Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy) Nam mô Đại từ Đại bi Linh cảm Quán Thế Bồ Tát. Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thuỳ từ chứng giám. Chúng con có nghe Đức Phật dạy trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn rằng “Dù chỉ nghe tên Quán Thế Âm Hay dù chỉ thấy bức chân dung, Nhất tâm trì niệm hồng danh ấy, Thoát mọi hung tai, được cát tường”. Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ con là ……………………………………………………………………………………. Ngụ tại ……………………………………………………………………………………………… Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng. Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành. Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát! (3 lần, 3 lạy)

Ly Kute tâm sự nơi cửa chùa sẵn sàng buông vì Mạc Hồng Quân trẻ con

Hoài Linh xây nhà thờ tổ 100 tỉ và hình ảnh mới về nhà thờ tổ trăm tỉ

Cách Cúng, Khấn, Lễ Vái Và Chuẩn Bị Lễ Khi Vào Chùa / 2023

Theo phong tục cổ truyền, trong các ngày rằm, mồng một, ngày lễ Phật giáo, Tết nguyên đán, hoặc những ngày gia đình có việc hệ trọng, người Việt thường đến chùa lễ Phật, thành tâm cầu khấn hồng ân chư Phật, chư đại Bồ Tát, Hiền Thánh Tăng gia hộ cho bản thân và gia đình mạnh khoẻ, tai qua nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, gia đình hoà thuận, thế giới hoà bình, chúng sinh an lạc v.v.

Tuy nhiên, việc sửa soạn đi lễ chùa, hoặc sắm lễ vật để đi lễ chùa, người đi lễ cần phải biết những quy định căn bản của nhà chùa mà người hành lễ phải tuân thủ là:

– Đến dâng hương tại các chùa chỉ được sắm các lễ chay: hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi chè… không được sắm sửa lễ mặn chư cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt mồi, gà, giò, chả…

– Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Thánh, Mẫu và chỉ dâng ở đó mà thôi. Tuyệt đối không được dâng đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện (chính diện), tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Lễ mặn (nhưng thường chỉ đơn giản: gà, giò, chả, rượu, trầu cau…) cũng thường được đặt tại ban thờ hay điện thờ (nếu xây riêng) của Đức Ông – Vị thần cai quản toàn bộ công việc của một ngôi chùa.

– Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì thí chủ đặt ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.

– Tiền giấy âm phủ hay hàng mã kiêng đặt ở ban thờ Phật, Bồ Tát. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện, mà nên bỏ vào hòm công đức.

– Hoa tươi lễ Phật là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại…

1. Đặt lễ vật: Thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước.

2. Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang.

3. Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.

4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu)

5. Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tuỳ tâm công đức.

Bạn lưu ý, trong chùa thường ghi tên của vị thần, phật, nên cúng đọc luôn tên dưới biển.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn Giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Cùng cả gia đình thân tới cửa chùa …………………………….. trước điện Đức Ông, thành tâm kính lễ, (nếu có đang lễ vật thì khấn thêm “hiến dâng phẩm vật, kim ngân tịnh tài”), chúng con tâu lên Ngài Tu Đạt Tôn Giả từ cảnh trời cao soi xét.

Chúng con kính tâu lên Ngài Già Lam Chân Tể cai quản trong nội tự cùng các Thánh Chúng trong cảnh chùa đây.

Thiết nghĩ chúng con sinh nơi trần tục, nhiều sự lỗi lầm, hôm nay tỏ lòng thành kính, cúi xin Đức Ông thể đức hiếu sinh, rủ lòng tế độ che chở cho chúng con, ba tháng hè chín tháng đông, tiêu trừ bệnh tật tai ương, vui hưởng lộc tài may mắn, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Con cúi lạy Đức Thánh Hiền, Đại Thánh Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Chúng con thành tâm tiến dâng lễ bạc, oản quả, hương hoa.

Cầu mong Tam Bảo chứng minh, Đức Thánh Hiền chứng giám, rủ lòng thương xót phù hộ cho con được mọi sự tốt lành, sức khỏe dồi dào, an ninh khang thái, gia đạo hưng long, thịnh vượng.

Cúi mong Ngài soi xét tâm thành, phù hộ cho gia đình chúng con được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng (nếu viết sớ đặt trên mâm lễ vật) lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo.

Chúng con xin dốc lòng kính lễ:

– Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.

– Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà.

– Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.

– Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

– Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.

Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ……………………………… (công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…).

Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai quan nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khoẻ, trên dưới thuận hoà an khang thịnh vượng.

Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Nam mô Đại từ Đại bi Linh cảm Quán Thế Bồ Tát.

Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thuỳ từ chứng giám.

Chúng con có nghe Đức Phật dạy trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn rằng

“Dù chỉ nghe tên Quán Thế Âm

Hay dù chỉ thấy bức chân dung,

Nhất tâm trì niệm hồng danh ấy,

Thoát mọi hung tai, được cát tường”.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng.

Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát! (3 lần, 3 lạy)