Top 20 # Xem Nhiều Nhất Cách Xới Cơm Cúng Giỗ / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Herodota.com

Cúng Giỗ Ông Bà Tổ Tiên Như Thế Nào? Cách Làm Mâm Cơm Cúng Giỗ / 2023

Riêng giỗ, ông cha ta xưa rất coi trọng. Cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, được coi là “báo hiếu”, là ngày con cháu tưởng nhớ đến công lao sinh thành, xây nếp đắp móng của các vị tiền hiền, và cầu xin vong linh các vị phù hộ độ trì cho.

Các cụ chia giỗ làm hai loại: giỗ trọng và giỗ thường

Giỗ trọng là giỗ những người thân mới mất, thường là ông bà, cha me. Còn giỗ thường là giỗ những người ở thế hệ xa hơn: cụ kỵ, chú bác, cô, anh chị… Các cụ vẫn truyền cho con cháu câu: “Ngũ đại mai tiền chi” (năm đời không còn chủ), tức là từ đời thứ 5 trở lên (đời kỵ) các cháu chắt không phải cúng giỗ nữa, nhưng những ngày tết và những ngày giỗ khác, các vị từ đời thứ năm trở lên vẫn được tiến chủ (người đứng lễ) khấn, mời về “đồng hưởng” cùng vong linh những người đã khuất của gia đình.

Nhân dân ta mang truyền thống “uống nước nhớ nguồn” nên hàng năm những vị khai sáng ra một dòng họ – được suy tôn là “khởi tổ” hoặc “thuỷ tổ” – vẫn được chắt chút cúng giỗ ở nhà thờ “đại tôn” (nhà thờ của họ).

Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nhiều nhà thờ họ được xây lại, được tôn tạo sửa chữa tôn tạo và việc cúng giỗ tổ tiên được khôi phục. Họ nội nhà tôi là một họ nhỏ, lại phân tán, kỳ giỗ Tổ tộc họ hàng năm cũng được 6-7 chục chắt chút về dự. Họ ngoại của tôi là một họ lớn, mỗi lần giỗ tập trung tới 5-7 trăm người ở khắp nơi trong cả nước và ở cả nước ngoài. Đó là dịp để các chắt chút… của Tổ gặp nhau, trước tỏ lòng thành kính với Tổ, sau là nhận họ, nhận hàng.

Nhiều họ, ngày giỗ Tổ còn là ngày động viên chắt, chút… làm những việc tốt, tuyên dương những chắt, chút mới tốt nghiệp đại học, trên đại học, có phần thưởng cho những chút, chít mới đỗ vào đại học hoặc học giỏi. Ở Phú Thọ, còn có phong trào “dòng họ tự quản” với những “tộc ước” rất cụ thể.

Riêng ngày giỗ trọng thì mỗi gia đình tổ chức một khác

Quê tôi xưa thuộc ngoại thành Hà Nội, nay là quận Hoàng Mai, có một nếp sống rất đẹp là đám ma đám giỗ thì tuỳ tâm gia chủ, tổ chức như thế nào do gia đình bàn bạc thống nhất. Các cụ truyền dạy: “Đó là việc hiếu, mọi người đến không phải vì cỗ to, vì miếng ăn, mà là để tưởng nhớ người đã mất, vì họ hàng làng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”. Vì vậy, các đám ma, đám giỗ ở quê tôi, không ai buông một lời chê, không có cãi vã, to tiếng, say rượu, cờ bạc…

Các cụ rất coi trọng cỗ, chứ không coi trọng cỗ. Ngày giỗ lấy tâm thành là chính chỉ cần “bát cơm, quả trứng” cúng là đủ. Vì vậy, hầu như tất cả các gia đình ở Hà Nội, dù làm giỗ to nhỏ, nhiều ít, mâm cao cỗ đầy như thế nào thì gần cuối buổi lễ đều dâng lên bàn thờ một bát hoặc một liễn cơm và một quả trứng (hột) vịt hoặc gà luộc đã bóc vỏ, và bóp vỡ một chút ở chỗ ít lòng trắng để lộ phần lòng thêm một ít muối bên cạnh.

Xưa những đám giỗ trọng ở quê tôi có hai cách tổ chức gàn như là lệ làng: Làm mở rộng đối với những giỗ mới, nhất là giỗ đầu (một năm sau ngày mất và giỗ hết (hai năm sau ngày mất, có nhà làm vào ngày thứ 100 sau hai năm gọi là giỗ bỏ tang hay “bỏ trở” – từ sau ngày đó, con cháu không phải để trở).

Làm trong phạm vi hẹp (chú bác, anh chị em, con cháu) rượu từ giỗ sau giỗ bỏ tang trở đi. Gia chủ có làm rộng cũng ít người đến.

Về cỗ, quê tôi có hai loại, tuỳ hoàn cảnh gia đình mà chọn:

– Làm cỗ bình thường (quê tôi gọi cỗ “bàn than”): chỉ có mấy món chế biến từ thịt lợn: luộc, rang, lòng, có thể thêm đĩa giò.

– Làm cỗ to (gọi là cỗ “đồ Tàu”) có những món cầu kỳ hơn, thường mỗi mâm có có bốn bát và tám đĩa: giò, nem, ninh, mọc, nấm, bóng…

Có gia đình khá giả làm cả bò, lơn, gà (hoặc dê) gọi là cỗ “tam sinh”.

Những giỗ làm theo phạm vi rộng thường 30 mâm, có nhà tới hàng trăm mâm, trong phạm vi hẹp độ 5- 10 mâm (mỗi mâm 6 người).

Trước ngày giỗ độ 10 ngày, ông trưởng (con trai đầu) mời tất cả con trai, con gái của người mất đến họ để thống nhất cách làm giỗ và phân công mỗi người một nhiệm vụ; người mua thực phẩm, người mượn bát đũa, mâm nồi, người dựng rạp. Các người con tự nguyện đóng góp, tùy khả năng và tùy tâm, không bổ bán, không chia đều. Sau khi thống nhất, hai vợ chồng trưởng nam phải đích thân đi mời từng nhà: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ!”, có nhà ế hàng chục mâm cỗ chỉ vì sơ suất khi mời.

Cũng như các nơi khác, quê tôi nhà nào cũng có một bàn thờ gia tiên đặt ở gian giữa – nơi trang trọng nhất, từ hai cột chính đến sát tường sau. Nhà nghèo thì bàn thờ là một tấm gỗ sơn đỏ nối hai cột chính với hai cột sau. Trên tường chính giữa dán một vuông giấy đỏ có viết một chữ Hán to “Phúc” hoặc “Thần”. Trên tấm gỗ, đặt ba bát hương, bát giữa kê cao hơn thờ thần linh, bát bên phải thờ gia tiên và bát bên trái thờ các “bà cô, ông mãnh” – những người chết chưa vợ, chưa chồng và được gia đình coi là linh thiêng. Hai góc trước của bàn thờ có hai cây nến tiện bằng gỗ.

Nhà khá hơn thì bàn thờ là một án thư có trang trí hoa văn, sơn son hoặc sơn then (đen), đèn nến bằng gỗ tiện sơn son. Nhà giàu thì chạm trổ “tứ linh” (bốn con vật thiêng: long (rồng), ly (kỳ lân), quy (rùa), phượng (chim phượng hoàng); mặt trước án thư là một tấm gỗ quý chạm “mai long” (cây hoa mai uốn hình rồng) hoặc chữ “ngũ long” (năm con rồng quây thành một vòng tròn), tất cả đều bằng sơn son thếp vàng.

Trên án thư có bộ “tam sự” bằng đồng, có nhà còn thêm bộ đài rượu bằng gỗ sơn son hoặc bằng đồng (gồm ba khối hình ống, đáy cao, có nắp đậy, trên mỗi đáy đặt một chiếc chén hạt mít, khi cúng cơm, gia chủ mở nắp, rót vào chén). Có nhà thêm ống cắm hương chưa thắp, mâm bồng để bày hoa quả…

Những năm từ giữa thế kỷ XX, khi kỹ thuật chụp ảnh phổ cập, thì trên án thư còn đặt ảnh những người đã mất; trên tường sau còn treo một bức hoành, có 3-4 chữ Hán to, ghi nguyện vọng, sự cầu mong của gia đình và đôi câu đối phẳng hoặc hình lòng máng nói về công đức của tổ tiên và lòng hiếu của con cháu; tất cả đều sơn son thiếp vàng.

Ở các nhà thờ “đại tôn”, sau án thư là một tấm cửa võng, chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng, phía sau treo hai cánh màn bằng vóc hoặc nhiễu đỏ, ngăn án thư với “hậu cung”, khi cúng, gia chủ vén màn sang hai bên, để lộ cung sau. Hậu cung là một cái bục lớn, cao ngang án thư bằng gỗ hoặc xây gạch, sát đến tường sau, trong cùng có một chiếc bàn vuông, trên đặt chiếc ngai sơn son thiếp vàng, trên ngai đặt chiếc bài vị gỗ mấy dòng chữ Hán: họ, chi, quê…

Hai bên ngai, đặt hai giá cắm nến; khi cúng, gia chủ thắp nến để chiếu sáng cho cung. Trước ngai có một chiếc mâm gỗ vuông cao để đặt cỗ khi cúng cơm. Thường vào ngày giỗ trong, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng cơm.

Thường vào ngày giỗ trọng, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng “tiên thường”. Hôm giỗ, mọi việc diễn ra khẩn trương từ 2-3 giờ sáng dưới ánh đèn đuốc, nhóm giết lợn, giết bò, chuẩn bị thực phẩm, người vo gạo, thổi xôi… Tiếng cóc cách giã giò hoà tiếng lao xao người nọ hỏi người kia, lệnh của ông trưởng vang vang… tạo ra một không khí nhộn nhịp của một nhà có đám.

Khoảng 8 giờ sáng, các mâm cỗ đã xong, một hoặc ba mâm được để lên bàn thờ (hoặc cung sau). Ông trưởng nam, áo the khăn xếp, bước lên chiếc sập trước bàn thờ để thắp hương, đèn nến rồi đứng giữa sập, hai tay chắp giữa ngực, lên gối xuống gối lễ ba lần, đoạn đứng nghiêm, mười ngón tay đan vào nhau và đưa lên ngang trán, miệng lầm rầm khấn.

Bài nhấn có ba phần. Mở đầu là ngày tháng năm (âm lịch), tại nhà thờ ở thôn, xã, huyện, tỉnh… tiến chủ tên gì, nhân ngày giỗ ai, thành tâm cúng tiến những gì. Phần sau là gia chủ kính mời từ thần linh, thổ địa, táo quân… đến tên họ và hiệu, nơi an táng các vị trong gia đình theo thứ tự từ trên xuống (chỉ khấn nam và dâu họ, nữ không khấn, trừ trường hợp chết chưa có chồng).

Cuối bài khấn là những cầu xin. Khấn xong, ông trưởng nam lễ một lễ và ba vái nữa, rồi rót rượu cúng. Một số họ lớn, khi giỗ tổ họ, tổ chức dâng hương tế tổ và thay bài khấn bằng một bài văn tế, ông trưởng lễ xong thì đọc bài văn tế, rồi đem ra sân đốt như đốt sớ ở đình chùa.

Khi ông trưởng nam khấn xong, những người đến dự giỗ lần lượt già trước, trẻ sau vào lễ, người nào cũng đem một ít hoa, quả hoặc vàng hương, trầu rượu đặt lên bàn thờ rồi lễ, mỗi người ba lễ một bái, nam thì lễ như ông trưởng, nữ thì ngồi vào góc sập, chắp hai tay trước ngực, khi cúi thì giáp mặt tận chiếu, hai bàn tay xoè ra đặt hai bên đầu. Những bà gia đình có đại tang (bố mẹ hoặc chồng mới chết) phải lật một phần chiếu, ngồi xuống mặt sập, hai tay lật ngửa vòng khăn trắng quấn tóc mà lễ.

Thường cháy dở tuần nhang (hương) thứ hai thì cúng cơm và cuối tuần nhang thì ông trưởng nam tạ lễ, hoá vàng rồi hạ cỗ cho con cháu xin lộc.

Sơ qua phong tục cúng giỗ của người Hà Nội khoảng giữa thế kỷ XX như vậy để thấy ông cha ta rất cẩn trọng khi cúng giỗ. Giỗ là để họp mặt gia đình, để tưởng nhớ và noi gương tốt của những người thân trong gia đình đã mất, đó là việc hiếu, là một hoạt động tâm linh của người Việt nói chung, người Hà Nội nói riêng. Nó mang nặng tính truyền thống và là một phong tục đậm đà bản sắc dân tộc, cần được duy trì.

Khoảng trên chục năm nay, khi đời sống nói chung khấm khá, việc cúng giỗ được nhiều gia đình, dòng họ khôi phục. Nhưng do không hiểu hết ý nghĩa đúng hoặc không có ai hướng dẫn, hoặc cố tình làm to, làm trong diện rộng để khoe khoang, để thu lời.

Có người đi ăn giỗ để đền ơn người sống, để hối lộ, nên đặt lên bàn thờ không phải đồ lễ mà là phong bì… làm cho đám giỗ mất đi ý nghĩa cổ truyền của nó, gây một sự ganh đua giữa các gia đình, tạo điều kiện cho một số việc làm xấu, một số tệ nạn xã hội – thường là cờ bạc, đốt vàng mã – phát triển.

Mâm Cơm Cúng Giỗ Miền Bắc / 2023

Cúng giỗ là một công việc không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Việt, nhằm tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên đã khuất, cũng như cầu mong những người thân của gia đình ở thế giới bên kia có thể phù hộ cho gia đình mình được bình an, may mắn và hạnh phúc, có nhiều tiền tài, phúc lộc.

Trong những ngày này, người ta thường dâng lên người đã khuất những sản vật đặc sắc nhất, thơm ngon nhất của cuộc sống. Và ở mỗi vùng miền, những sản vật ấy lại không hề giống nhau.

Mâm cơm cúng giỗ miền Bắc gồm những gì?

Ngày giỗ của người miền Bắc có thể chia thành ba loại dựa theo mốc thời gian như sau:

Ngày giỗ đầu, là ngày tưởng nhớ tròn 1 năm ngày mất của người thân trong gia đình. Ngày giỗ này đối với người miền Bắc là quan trọng nhất, nên ngoài mâm cơm cúng, người ta thường mời thêm những người bạn, anh em và làng xóm đến chia buồn cùng gia đình

Ngày giỗ xong tang, là ngày tròn 2 năm ngày mất của người thân trong gia đình, cũng là ngày đánh dấu sự kết thúc những tháng năm buồn bã nhất của gia đình ấy với hi vọng người mất được siêu thoát, bình an ở thế giới bên kia. Trong ngày này, người ta thường làm mâm cơm cúng thịnh soạn, đốt nhiều vàng mã mời các thầy tâm linh về khấn bái.

Từ ngày giỗ lần thứ 3 trở đi, nỗi đau cũng vơi dần nên ngoài việc tưởng nhớ người đã khuất, đây còn là dịp những thành viên trong gia đình đoàn viên. So với hai ngày giỗ trên, ngày gỗ này thường được làm đơn giản hơn tùy điều kiện từng gia đình

Trong ngày giỗ của người thân trong gia đình, người miền Bắc thường sửa soạn mâm cơm cúng gồm những sản vật như:

Thịt gà luộc hoặc thịt lợn luộc, thường là chân giò luộc.

Các loại xôi như xôi gấc, xôi đỗ hoặc xôi lạc. Có thể thay thế bằng bánh chưng. Người ta cũng kiêng kị các loại xôi như xôi ngô, xôi đỗ đen,…

Giò chả hoặc nem rán.

Các món canh như canh măng, canh bí nấu xương hoặc canh miến,..

Một số món xào như giá đỗ xào lòng gà, miến xào, măng xào,..

Một số món nộm như nộm hoa chuối, nộm đu đủ,…

Các món rau luộc.

Một số món chiên như tôm chiên, cá chiên, thịt chiên,…

Thực đơn Mâm cơm cúng giỗ miền Trung 

Cũng giống như người miền Bắc, người miền Trung thường làm những tiết giỗ đầu và giỗ lần 2 của những người thân rất to và có mời anh em bạn bè. Từ tiết giỗ thứ 3, quy mô ngày giỗ cũng nhỏ hơn và độ to nhỏ cũng tùy thuộc vào điều kiện của gia đình ấy.

Tuy nhiên, mâm cơm cúng của người miền Trung lại có đôi chút khác biệt so với người miền Bắc. Nếu người miền Bắc kiêng kị việc mâm cơm cúng có xuất hiện thịt vịt thì đối với người miền Trung, đây lại là món quan trọng nhất và gần như là bắt buộc trong mâm cơm cúng.

Và trong khi người miền Bắc rất coi trọng các món xôi và bánh chưng, coi đây là những món bắt buộc phải có trong mâm cơm cúng thì người miền Trung lại thường không có những món này.

Một mâm cơm cúng điển hình của người miền Trung thường gồm những món như sau:

Thịt vịt: vịt được chọn ở đây là vịt béo vừa phải, không quá nạc cũng không quá nhiều mỡ. Tốt nhất là vịt khoảng 3kg. Vịt được luộc và được cúng đi kèm nước mắm gừng.

Thịt gà bóp lá răm và tiêu muối ớt: thay vì đĩa gà luộc như người miền Bắc, người miền Trung chuộng món gà xé phay và trộn với các gia vị đặc trưng của họ như muối tiêu ớt hơn bởi món này dễ ăn và cũng rất lịch sự, bắt mắt.

Canh bún giò heo nấu với lòng gà, lòng vịt. Đây là món canh được người miền Trung ưa chuộng nhất và hầu như không thể thiếu trong mâm cơm cúng giỗ.

Một số món thịt heo khác như thịt heo chiên, canh thịt heo nhồi mướp đắng, thịt heo luộc,…

Một số món thịt bò. Đối với người miền Trung, một mâm cơm cúng đầy đủ và lịch sự không thể thiếu các món thịt bò. Đây là điểm khác biệt so với mâm cơm cúng của người miền Bắc, bởi mâm cơm cúng của người miền Bắc thường không có thịt bò. Một số món thịt bò thường xuất hiện trong mâm cơm của người miền Trung là thịt bò xào, thịt bò nướng, canh bò hầm,…

Một số món tôm chiên, cá chiên, nem rán hay giò chả cũng hay xuất hiện trong mâm cơm cúng giỗ của người miền Trung.

Mâm cơm cúng giỗ của người miền Nam

Mâm cơm cúng của người miền Nam thường bao gồm những món điển hình như sau:

Thịt gà hoặc thịt vịt. Tuy vậy, người miền Nam ưa chuộng các món quay hơn nên trong mâm cơm cúng thường không xuất hiện món gà luộc như người miền Bắc và cũng không phải vịt luộc như người miền Trung mà là vịt quay và gà quay.

Bánh tét cũng là một món không thể thiếu trong mâm cơm cúng của họ.

Các món giò lụa, chả cốm, chả nem,…

Thịt kho tàu cũng là một món ăn gần như bắt buộc phải có trong mâm cơm cúng của người Miền Nam.

Một số món canh như canh khổ qua nhồi thịt, canh bông điên điển, canh nấm,

Đặc biệt là một số món gỏi. Điều này rất khác biệt so với mâm cơm cúng của người miền Bắc và miền Trung, bởi 2 miền này kiêng kỵ cúng các món gỏi.

Cách làm mâm cơm cúng giỗ 

Người Việt có quan niệm trần sao âm vây, nên cũng không có yêu cầu gì quá khắt khe với mâm cơm cúng giỗ. Những món thường ngày khi còn sống người ấy hay ăn thì khi người thân ấy mất đi đều có thể dùng để cúng, đặc biệt là nên cúng những món ăn mà khi người ấy còn tại thế thích ăn. Cũng không nên cúng những món ăn mà khi còn sống, người ấy không thích hoặc không ăn được.

Thông thường, một mâm cơm cúng giỗ của người Việt nên đầy đủ các món sau:

Thịt luộc

Giò lụa, chả hoặc nem rán

Cơm và các món bánh đặc trưng theo vùng miền hoặc xôi

1 đến 2 món canh

Khoảng 3 đến 4 món chiên xào

1 món rau củ quả luộc và 1 đĩa nộm

1 đĩa hoa quả tươi

Rượu hoặc bia

Cách bày mâm cơm cúng giỗ đầy đủ và đơn giản nhất

Cách bày trí mâm cơm cúng giỗ không có một quy chuẩn nào quy định rõ ràng, nhưng quan trọng nhất vẫn là tính lịch sự và đẹp mắt, sang trọng. Để đảm bảo những yêu cầu này, một mâm cơm cúng giỗ có thể bày trí như sau:

Các món chính như thịt gà, thịt vịt hay thịt lợn nên được bày ở vị trí trung tâm, sau là các món xào, chiên rán và ngoài cùng là các món nấu. Nên bày trí các món ăn thành một vòng tròn và nên đặt trong mâm to để đảm bảo tính lịch sự.

Các loại bát, đĩa sử dụng trong mâm cơm cúng không được cũ hay sứt mẻ. Tốt nhất là nên sử dụng đồ mới.

Các món ăn cần sử dụng bát đĩa chén sao cho cân đối với lượng thức ăn, không nên quá to hay quá bé gây mất thẩm mỹ. Các loại nước chấm nên dùng chén bát dành riêng để đựng đồ chấm, không nên dùng chén đĩa to để đựng.

Bát ăn cơm và đũa, chén uống rượu phải sử dụng theo bộ 6 chiếc cùng họa tiết hoa văn và nên đặt đối xứng trong mâm cơm, mỗi bên ba bộ.

Cùng với đó là vàng mã nên đặt cạnh mâm cơm cúng, trong một chiếc mâm nhỏ hơn.

Gợi Ý Cách Làm Mâm Cơm Cúng Giỗ Đơn Giản, Đẹp Mắt / 2023

Cúng giỗ được xem là một nét đẹp văn hóa của người Á Đông, được truyền từ đời này sang đời khác. Ngày giỗ rất quan trọng, trong gia đình không ai được quên và bắt buộc phải chuẩn bị mâm cơm cúng giỗ dù chỉ là chút lễ nhỏ.

Mâm cơm cúng giỗ biểu trưng cho tấm lòng thành, sự thương sót, tưởng nhớ nhũng người đã khuất. Ngày này, con cháu từ khắp nơi về sum họp và cùng bàn bạc để có thể thống nhất đưa ra quyết định tổ chức giỗ cho người đã khuất.

Mâm cúng rằm tháng Giêng như nào là đầy đủ, cần những gì?

Mâm cúng ông Táo gồm những gì?

Các cột mốc quan trọng cần nhớ khi làm cơm cúng giỗ

Giỗ đầu (tiểu tường)

Đây là ngày giỗ đầu tiên của người mất sau 1 năm. Chắc hẳn, thời gian 1 năm vẫn chưa đủ để làm vơi bớt đi nỗi thương nhớ người đã khuất. giỗ đầu thường tổ chức khá long trọng, trang nghiêm gần như ngày tang năm trước và con cháu vẫn mặc tang phục

Giỗ hết (đại tường)

Ngày giỗ sau 2 năm của người mất.

Giỗ thường (cát kỵ)

Cát kỵ có nghĩa là ngày giỗ lành. Đây là ngày giỗ người mất sau 3 năm trở đi. Ngày giỗ nàu không còn cảnh sầu não, bi ai và tổ chức không lớn mời ít người khách hơn hai giỗ đầu và giỗ hết.

Ngày giỗ người mất thường được duy trì đến sau năm đời, linh hồn người quá cố được siêu thoát và đầu thai nên không cần thiết phải cúng giỗ nữa.

Mâm cơm cúng giỗ đơn giản, độc đáo

Mâm cơm cúng giỗ miền Bắc

– Cơm trắng

– Xôi gấc ( xôi đỗ, xôi vò, chè đường)

– Một con cua và một quả trứng bày trên 1 chiếc đĩa

– Gà luộc ( thịt luộc)

– Giò chả

– Bát canh măng

– Lòng gà xào dứa

Để mâm cỗ thêm phần hấp dẫn, gia chủ có thể chuẩn bị thêm các món như: nem rán, nộm,… hay những món tùy thích. Hoặc cũng có thể sử dụng các món ăn đặc sản theo từng vùng miền để mâm cúng giỗ thêm ấn tượng, ý nghĩa.

Mâm cơm cúng giỗ miền Nam

Mâm cơm cúng giỗ miền Nam thì có chút khác biệt so với mâm cơm cơm cúng của miền Bắc vì có số món khác biệt như:

– Món kho thường là thịt heo, cá lóc, kho với nước dừa đậm hương vị miền nam

– Thịt luộc

– Món hầm

– Món xào: xào chua, xào mặn, tuyệt đối không dùng thịt rừng

Người miền Trung vốn cầu kì trong món ăn, nhất là xứ Huế ( do có sự ảnh hưởng của văn hoá cung đình Huế). Cho nên, mâm cơm cúng giỗ cũng thật cầu kì. Thường người ta sẽ phân ra trên mâm cỗ phải có 4 loại: món canh, món ăn từ thịt, món xào, món từ tôm cá,… cụ thể thực đơn chuẩn bị mâm cơm cúng giỗ miền Trung bao gồm:

– Thịt gà bóp chua ngọt với các loại rau thơm

– Thịt heo quay

– Bánh tráng ram

– Nem chả

– Canh bún giò heo hay nấu với lòng gà, vịt

– Canh khổ hoa nhồi thịt

Xưởng sản xuất số 1: Xóm 1, Giang Cao, Bát Tràng, TP Hà Nội, Việt Nam

Xưởng sản xuất số 2: Lô B14 – Cụm làng nghề sản xuất tập trung Bát Tràng – Gia Lâm – Hà Nội

Tổng Hợp Mẫu Câu Đối Hay, Ý Nghĩa Nhất Trên Bàn Thờ Gia Tiên Đèn Thờ – Nên Dùng Đèn Dầu Hay Đèn Điện Trên Bàn Thờ? Cách Rút Chân Nhang Bàn Thờ Thần Tài Đúng Nhất

Mâm Cơm Cúng Giỗ Cần Những Gì? / 2023

Mâm cơm cúng giỗ cần những gì?

1/ Mâm cúng giỗ ở miền Trung

Người miền Trung nổi tiếng cầu kỳ trong các món ăn, nhất là Huế có sự ảnh hưởng lớn từ cung đình Huế từ các triều đại xưa. Do đó món ăn cũng có phần cầu kỳ không kém khi làm mâm cúng giỗ. Các món cúng sẽ được phân ra làm 04 loại là: món xào, món canh, món ăn từ thịt, món từ tôm cá:

Thịt vịt luộc chấm nước mắm gừng

Thịt gà bóp với rau răm tiêu muối

Thịt heo luộc với mắm tôm, kèm với rau sống, vã xắt lát

Thịt heo quay

Thịt gà ru ty

Thịt bò nướng

Thịt heo kho rim

Thịt heo kho nước với sã và đậu phụng

Bánh tráng ram ( người Nam gọi là chả giò, loại bánh trán cuốn thịt băm rồi chiên dầu ăn cho vàng)

Nem chả

Cá chiên khúc

Cá thu hay cá to chặt khúc kho nước

Tôm rim hay tôm rang

Vã trộn với tôm,

Canh ổ khoa nhồi thịt

Canh bún nổi giò heo hay nấu với lòng gà, vịt

Canh củ hầm thịt bò

Thường là món củ hay légume xào với thịt heo nạc, có khi thịt bò hay tôm

Đậu cô ve, Su

Xà lách bóp thịt bò với dầu dấm

Đậu trắng, Khoai tây chiên

Món khoai Tây, với hành Tây nấu với thịt gà hay bò theo kiểu Ấn Độ gọi là món Ca ry.(người ta thường ăn với bánh mì)

Với mâm cỗ giỗ truyền thống miền bắc thì đây gần như là tất cả các món bạn có thể gặp trên hầu hết mâm cỗ ở các gia đình miền bắc từ xưa đến nay:

Cơm trắng, Xôi gấc (ăn kèm với giò, chả)

Xôi vò, chè đường

Một con cua và một quả trứng bày chung trên một đĩa

Bánh dầy đậu

Chả quế

Thịt quay, Bê thui (chấm tương gừng)

Giò lụa hay giò bò thì là, Giò thủ, Giò bì

Thịt kho tầu

Chân giò (giò heo) hầm măng khô, mộc nhĩ

Chả giò cua bể + bún

Gà quay hay gà luộc (chặt miếng, sắp vào một chiếc đĩa sâu, những miếng đẹp và có da thì nằm sát đáy đĩa, rồi úp ngược đĩa gà này vào một chiếc đĩa trảng khác, cho ngon mắt)

Thịt đông, dưa chua (nếu cúng giỗ vào mùa lạnh)

Nem dê (làm bằng thịt bò nhưng gọi là nem dê)

Tôm sú hay tôm càng rim

Tôm thịt xào nấm đông cô, đậu ve, cà rốt, su hào

Lươn om với bắp chuối bào

Nộm măng (+ tôm, thịt, khế thái dọc, mè rang)

Miến xào lòng gà (+ mộc nhĩ)

Món bóng cá nhồi giò sống hay bóng lợn (canh bóng, nấu với rau củ, nấm, mộc nhĩ)

Xà lách búp, cà chua, dưa deo (chấm nước tôm rim)

Dịp cúng giỗ tổ tiên, chẳng ai hiểu rõ ông bà thời xa xưa khi vào Nam thích ăn món gì, chế biến các vật tư ra sao, nhưng tùy hoàn cảnh mà có bốn món : Hầm, Thịt luộc, Xào, Kho. Nên hiểu không phải là dâng cúng cho cha mẹ đã quá cố nhưng là cho tổ tiên đời ông cố của gia chủ, hiểu ngầm rằng những bà con xa gần thời xa xưa cũng được tham dự, vì vậy, nếu cúng 3 mâm ở 3 bàn thờ (giữa, bên trái, bên mặt), hoặc 1 bàn thờ, thì thức ăn phải giống nhau.

Món kho thường là thịt heo, cá lóc, kho với nước dừa để gợi phong vị miền Nam.

Món thịt luộc là thịt ba chỉ, xắt mỏng.

Món hầm, tức là thịt heo hầm, thường là giò heo hầm măng tre Mạnh Tông, loại măng ngon nhất của Nam Bộ (gợi tích ông Mạnh Tông trong nhị thập tứ hiếu).

Xào là món thịt bị câu thúc về hình thức: xào chua, xào mặn, với rau cải đồ lòng, hoặc tôm, gần như tuyệt đối không dùng thịt rừng.

Ở mỗi vùng quê có cách cúng và chuẩn bị mâm cổ khác nhau, để giúp bạn đọc chuẩn bị mâm cổ đám giỗ đầy đủ, bài viết: Mâm cơm cúng giỗ cần những gì? chia sẻ trên hi vọng giúp bạn chuẩn bị tốt mâm cơm cúng giỗ ông bà.