Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ

--- Bài mới hơn ---

  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam,mieu Ba Chua Xu Nui Sam
  • Đồng Tháp: Chuyển Vụ Tu Bổ Miếu Thờ Bà Chúa Xứ Gò Tháp Sang Cqđt
  • Dấu Xưa Đồng Tháp Mười: Bà Chúa Xứ Gò Tháp Và Đìa Phật
  • Sai Phạm Tại Công Trình Miếu Thờ Bà Chúa Xứ: Khởi Tố Một Phó Trưởng Phòng
  • Châu Đốc Tăng Cường Phòng, Chống Dịch Corona Và Mở Cửa Đón Khách Du Lịch Bình Thường
  • Truyền thuyết về Miếu Bà Chúa Xứ

    Nhắc đến Châu Đốc hay Núi Sam thì người ta lại nhớ ngay đến Miếu Bà Chúa Xứ. Từ lâu, nơi đây đã trở thành trung tâm văn hóa tín ngưỡng của các đoàn hành hương và du khách gần xa, đặc biệt là với dân miền Tây. Với niềm tin vào sự linh thiêng, ứng nghiệm, “cầu được ước thấy”.

    Miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng vào năm 1820, với kiến trúc kiểu chữ “quốc” – hình dáng tựa đóa hoa sen nở. Mái miếu tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang rẽ sóng. Các hoa văn ở cổ lầu chánh điện mang đậm tính nghệ thuật. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ dang tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ. Bên trong thờ tượng Bà Chúa được tạc bằng đá xanh. Miếu thuộc địa phận xã Vĩnh Tế, Châu Đốc, An Giang.

    Về nguồn gốc tượng Bà Chúa Xứ có nhiều truyền thuyết khác nhau. Một trong số những truyền thuyết đó kể lại rằng, trước đây tượng Bà Chúa Xứ chỉ là một hòn đá ở trên lưng núi Sam. Minh chứng cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

    Bệ đá có chiều ngang khoảng 1,60m, dài khoảng 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại đá trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không tìm thấy ở địa phương. Theo nghiên cứu khảo cổ của người Pháp cho rằng tượng Bà Chúa Xứ là một loại tượng thần Vishnu, được tạc từ cuối thế kỷ thứ VI, mang văn hóa Óc Eo. Còn theo nhà khảo cổ học Sơn Nam: “Tượng Bà Chúa Xứ là một pho tượng Phật cổ của người Khơ Me xưa đã bỏ lại khi di chuyển. Đặc biệt đây là một pho tượng Phật có giới tính Nam. Và người Việt đã đem tượng Phật về điểm tô thêm nước sơn thành tượng Bà Chúa Xứ.”

    Dân gian kể lại, khi xưa lúc xây dựng miếu thờ Bà Chúa Xứ ở chân núi, để thỉnh bà xuống núi, chín thanh niên lực lưỡng dùng kiệu nghênh tiếp tượng bà nhưng bức tượng vẫn không hề lay chuyển. Lúc ấy bà đã hiển linh và báo mộng là cần chín người trinh nữ khiêng xuống. Quả nhiên, sau khi chín người trinh nữ lên khiêng đã dễ dàng nâng được tượng bà xuống núi.

    Năm 1820 – 1825, quân Xiêm sang xâm lược nước ta. Khi lên gặp tượng Bà, quân Xiêm khiêng tượng Bà xuống núi. Giữa chừng, tượng Bà bỗng nặng trĩu khiến chúng không thể khiêng nổi nữa và ngã lăn ra. Từ đó quân Xiêm kính sợ, không dám sách nhiễu dân làng ở vùng đó nữa. Dân làng cũng từ đấy tôn kính gọi Bà là Bà Chúa Xứ.

    Không phải ngẫu nhiên mà miếu Bà Chúa Xứ mỗi năm thu hút hơn 3 triệu Phật tử từ các nơi đổ về hành hương, cúng bái cầu bình an, may mắn, tài lộc. Có du khách kể lại rằng, khi làm ăn họ không gặp vận, gặp thời. Người đó cúng bái khắp nơi, sau này nghe lời đồn, ông đã cất công từ Đà Nẵng bay vào Nam và viếng Miếu Bà Chúa Xứ. Và từ đó thời vận ông kéo về không thể hơn được. Từ đó hàng năm, ông đều vào Nam trả lễ Miếu Bà Chúa Xứ.

    Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” hàng năm sẽ diễn ra từ ngày 23 đến 27/4 Âm lịch. Hàng vạn người từ khắp mọi nơi đổ về dự lễ và tham gia các trò vui như: hát bội, múa võ, ca nhạc ngũ âm, múa lân, đánh cờ… Các nghi lễ chính trong lễ hội bao gồm:

    – Lễ “Tắm Bà” (tương tự như lễ mộc dục ở miền Bắc): Được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24/4 Âm lịch.

    – Lễ Thỉnh sắc: cử hành vào khoảng 16h chiều ngày 25.

    – Lễ Túc yết: được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26-04 âm lịch, gồm có hai phần: nghi thức cúng tế và phần xây chầu.

    – Lễ Chánh tế: được tổ chức vào tờ mờ sáng ngày 27, gần giống như nghi thức cúng Túc yết.

    – Lễ Hồi sắc: cử hành vào khoảng 15h ngày 27-04, đoàn hành lễ sẽ rước bài vị Thoại Ngọc Hầu và nhị vị phu nhân từ miếu trở về Sơn Lăng. Kết thúc lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam .

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Di Sản Trên Đường Đệ Trình Unesco Ghi Danh (Kỳ 1): Độc Đáo Lễ Vía Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Đề Cử Top 10 Điểm Đến Hấp Dẫn An Giang (P7) Miếu Bà Chúa Xứ Bàu Mướp, Huyện Tịnh Biên
  • “cầu Được Ước Thấy” Ở Miếu Bà Chúa Xứ Bàu Mướp An Giang
  • Những Điều Cần Biết Về Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc An Giang ⋆ Innotour.vn
  • Bảng Giá Thuê Xe 4 Chỗ 7 Chỗ 16
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Của Hồ Chí Minh
  • Bài Văn Mẫu Giải Thích Câu Tục Ngữ Đêm Tháng Năm Chưa Nằm Đã Sáng, Ngà
  • Vì Sao Nói Đêm Tháng Năm Chưa Nằm Đã Sáng, Ngày Tháng Mười Chưa Cười Đã Tối
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Đêm Tháng Năm Chưa Nằm Đã Sáng Ngày Tháng Mười Chưa Cười Đã Tối
  • Vì Sao Nói: Đêm Tháng Năm Chưa Nằm Đã Sáng, Ngày Tháng Mười Chưa Cười Đã Tối
  • Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

    Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên

    Yên ba thâm xứ đam quân sư

    Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

    Bản dịch gần nhất: Rằm xuân lồng lông trăng soi

    Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

    Giữa dòng bàn bạc việc quân

    Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

    Mở đầu bài thơ “Rằm tháng giêng” tác giả Hồ Chí Minh đã nói rõ về không gian và thời gian là thời điểm rằm trăng sáng nhất của một tháng không gian bao la mang tới cho chúng ta một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp tràn ngập sức sống. Từ nước sống, màu ánh trăng, cảnh núi rừng đều gợi lên sự giao thoa gần gũi của đất trời.

    Phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Rằm tháng giêng

    Ở những câu thơ đều thể hiện được tâm thế vô cùng nhàn nhã thích thú của tác giả Hồ Chí Minh khi được ngắm trăng vô cùng tươi đẹp. Trong những bài thơ khác tác giả Hồ Chí Minh từng nhiều lần đã ngắm trăng và coi trăng chính là người bạn tri kỷ, tâm giao thân thiết của mình. Ánh trăng xuất hiện nhiều trong thơ cổ nhưng lần nào xuất hiện trong thơ của tác giả Hồ Chí Minh ánh trăng đều có những thần thái, và sức gợi cảm khác nhau cho toàn bộ bài thơ.

    Giữa dòng bàn bạc việc quân

    Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

    Trong hai câu thơ kết của bài thơ “Rằm tháng giêng” tác giả đã thể hiện một tâm thế vô cùng ung dung, những chiến sĩ cách mạng của chúng ta tuy hoạt động cách mạng trong hoàn cảnh nhiều thiếu thốn về vật chất, nhưng vẫn tràn đầy lạc quan tinh thần. Và hình ảnh con thuyền ánh trăng đó chính là hình ảnh mà tác giả tin tưởng vào tương lai của đất nước ta. Một tương lai với sự thành công của con đường mà tác giả và những chiến sĩ của mình đã lựa chọn.Tinh thần tin tương lạc quan vào vận mệnh dân tộc quê hương ta sẽ chiến thắng vẻ vang. Chính niềm tin đó đã tiếp thêm sức mạnh cho tác giả và những người chiến sĩ của mình tiếp tục vững bước trên con đường sự nghiệp mà mình đã đi. Niềm tin đã giúp cho tác giả và biết bao người chiến sĩ của dân tộc ta vượt qua những khó khăn thử thách để đi tới con đường giải phóng dân tộc.

    Bài thơ “Rằm tháng giêng” là một bài thơ hay của tác giả Hồ Chí Minh, bài thơ cho em cảm nhận vô cùng sâu sắc về nghệ thuật sự dụng từ ngữ cũng như hình ảnh ‘trăng ngân đầy thuyền” ở cuối bài thơ đã làm cho bài thơ sáng bừng sức sống, một bức tranh hoàn mỹ về một ngày mai tươi đẹp của quê hương chúng ta.

    Thùy Chi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 6 Mẫu Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Hay Nhất
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Cảnh Khuya, Rằm Tháng Giêng
  • Từ Rằm Tháng 10 Âm Lịch, 3 Con Giáp Này Gặp Nhiều May Mắn, Sự Nghiệp Tài Vận Suôn Sẻ, 10 Người Hết 9 Người Tìm Được Cơ Hội Đổi Đời
  • Ý Nghĩa Ngày Rằm Tháng Giêng
  • 10 10 Là Ngày Gì? Ý Nghĩa Ngày Tết 10
  • Em Hãy Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử: “miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam”

    --- Bài mới hơn ---

  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam An Giang
  • Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Ở Vùng Châu Đốc An Giang
  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Giúp Người Dân Cầu Được Ước Thấy
  • Tục Thờ Bà Chúa Xứ Ở Cà Mau
  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam tọa lạc nơi chân núi Sam, trước thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, Việt Nam. Đây là một di tích (lịch sử, kiến trúc và tâm linh) quan trọng của tỉnh và của khu vực.

    Nguồn gốc

    Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng “cô đồng”, nên người dân đã lập miếu để tôn thờ .

    Có ý kiến cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm và kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa

    Kiến trúc

    Ban đầu miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam được cất đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng.

    Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miểng và lợp ngói âm dương. Năm 1965, Hội quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu. Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng.

    Đến khi ấy, kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế…

    Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

    Ở thời điểm năm 2009, thì miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam là “ngôi miếu lớn nhất Việt Nam”

    Tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam

    Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh). Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không có ở địa phương.

    Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Vishnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ 6, và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo [4].

    Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng đã chép rằng: Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…

    Cũng theo lời truyền miệng dân gian, thì khi xưa có một nhóm người đến quấy nhiễu nơi đây. Gặp tượng Bà, họ muốn lấy đi nhưng xê dịch không được nên tức giận đập gãy cánh tay trái của pho tượng

    Chung quanh tượng Bà (đặt ở giữa chính điện), còn có bàn thờ Hội Đồng (phía trước), Tiền hiền và Hậu hiền (hai bên), bàn thờ Cô (bên phải, có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ), bàn thờ Cậu (bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m)…

    Theo sách Kỷ lục An Giang, 2009, thì tượng Bà là “pho tượng bằng đá sa thạch xưa nhất Việt Nam”, và “có áo phụng cúng nhiều nhất”

    Việc thờ cúng

    Lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch hàng năm, trong đó ngày vía chính là ngày 25. Các lễ chính gồm:

    • Lễ “tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch.
    • Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24.
    • Lễ túc yết và Lễ xây chầu: Lễ “túc yết” là lễ dâng lễ vật (lễ vật chính là con heo trắng) và tiến hành nghi thức cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là “Lễ xây chầu” mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng).
    • Lễ chánh tế được cử hành vào 4 giờ sáng ngày 27.
    • Lễ hồi sắc được cử hành lúc 16 giờ chiều cùng ngày, ngay sau khi Lễ chánh tế kết thúc. Đây là lễ đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.

    Theo tín ngưỡng của người dân, nơi đây vẫn còn có những tục như xin xăm Bà, vay tiền Bà, thỉnh bùa Bà…

    Ý nghĩa việc thờ cúng

    Nhà văn Sơn Nam viết:

    Bà Chúa Xứ, dạng đạo Lão dân gian, thu hút bá tánh nhiều nhất Nam Bộ. Cất bên chùa Tây An nhưng trong “Đại Nam nhất thống chí” không ghi tên, phải chăng đời Tự Đức và khi Pháp đến hồi cuối thế kỷ 19, miễu hãy còn khiêm tốn, khách hành hương chỉ là người phụ cận mà thôi. Miễu phát triển về sau, qua thời kháng Pháp rồi chống Mỹ…

    Lăng Thoại Ngọc Hầu được trùng tu, rồi lập miếu thờ trang nghiêm như đình làng, nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu của con người khi quá đau khổ, bế tắc. Miễu bà Chúa Xứ được nâng cấp, thay cho miễu sơ sài…Đây là dạng tu tiên, một dạng như: Tây Vương Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, hoặc Liễu Hạnh công chúa…nên việc thờ phượng, cúng vái để “tự nhiên”, khách có thể ăn mặc lòe loẹt, trai gái đùa giỡn, cúng rượu thịt… Vị trí miễu Bà bên núi Sam hội đủ: Sông rộng, đồi núi trập trùng, vùng biên giới…Người hành hương cảm thấy được thỏa mãn về tâm thần, hòa mình vào”sơn hà xã tắc”, “khí thiêng sông núi”…

    Theo Nguyễn Đức Toàn, thì:

    Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, chúa Liễu đã từ Phủ Giầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nưgar tại Nha Trang, gặp bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu) ở Tây Ninh và bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc…Tất cả các bà đều là mộtMẹ duy nhất trong tâm thức của tín ngưỡng và tập tục thờ mẫu của người Việt…

    Sách Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch giải thích thêm:

    Do ảnh hưởng Phật giáo, Lão giáo cùng với các tín ngưỡng đồng bóng của dân gian mà các vị thần được thờ chủ yếu là nữ, như: Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỷ, Bà Thủy, Bà Hỏa…Và Bà Chúa Xứ trở thành một dạng như “Phật Bà Quan Âm” (đối với người Việt), “Bà Mã Hậu” hay “Thiên Hậu Nương Nương” (đối với người Hoa). Bà được tin tưởng đến độ có rất nhiều huyền thoại về “quyền lực linh thiêng” của Bà trong việc “ban phúc, giáng họa” cho con người. Như hai câu liễn đối treo ở miếu Bà như sau:

    Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thi

    Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.

    Tạm dịch:

    Xin thì được, ban thì linh, báo trong giấc mông

    (Người) Xiêm sợ hãi, (Người) Hoa kính mộ, ý tứ khôn lường.

    Từ năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài phần Lễ được tổ chức trang trọng theo lối cổ truyền, phần Hội cũng được tổ chức trọng thể hàng năm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuê Xe Du Lịch Đi Hành Hương Châu Đốc Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ
  • Du Lịch Châu Đốc Đến Thăm Miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Hang, Rừng Tràm Trà Sư Và Nhiều Địa Điểm Tuyệt Đẹp Nữa
  • Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ Thủy Tề Bạc Liêu
  • Tour Du Lịch 2022 : Hà Tiên
  • Lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Nghi Lễ Của Lễ Hội Bà Chúa Xứ Núi Sam Tổ Chức Không Quá 30 Người
  • Lễ Hội Bà Chúa Xứ,le Hoi Ba Chua Xu
  • Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Thu Hút Khách Đến Lễ Hội Bà Chúa Xứ
  • Nơi Nghỉ Chân Tốt Nhất Trong Lễ Hội Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Núi Sam nằm cách thành phố Châu Đốc (tỉnh An Giang) 5 km, là nơi có quần thể di tích lịch sử văn hoá với chùa cổ Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, chùa Hang, lăng Thoại Ngọc Hầu… Lễ hội Bà Chúa Xứ ( còn gọi là lễ Vía Bà) được tổ chức hàng năm bắt đầu từ đêm 23/4 âm lịch đến 27/4 âm lịch.

    Khách hành hương đến lễ hội có thể đi theo đường bộ từ Long Xuyên lên Châu Đốc theo tỉnh lộ 10, rẽ vào 7km là tới núi Sam; hoặc đi bằng đường thủy từ Cần Thơ, Sóc Trăng lên hay từ Sài Gòn xuống.

    Đêm 23/4 là lễ tắm và thay xiêm y cho tượng Bà. Nước tắm tượng là nước thơm, bộ y phục cũ của Bà được cắt nhỏ ra phân phát cho khách trẩy hội và được coi như lá bùa hộ mệnh giúp cho người khoẻ mạnh và trừ ma quỷ. Tiếp theo là lễ rước bốn bài vị từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà. Lễ Túc Yết được tổ chức vào lúc 24 giờ ngày 25 rạng ngày 26. Lễ được tiến hành theo trình tự: dâng hương, chúc tửu, hiến trà, đọc văn tế. Sau đó bài văn tế được hoá cùng với một ít giấy vàng bạc. Tiếp ngay sau lễ Túc Yết là đến lễ Xây Chầu – Hát Bội do do một người sành nghi lễ và có uy tín trong ban tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu nguyện cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà. 4 giờ sáng ngày 26/4 lễ Chánh Tế được tiến hành (lễ nghi được tiến hành giống lễ Túc Yết). Chiều ngày 27/4 bài vị Thoại Ngọc Hầu được đưa về lăng. Chương trình hát bội cũng chấm dứt. Kết thúc lễ cúng vía bà.

    Lễ Vía Bà hằng năm thu hút rất đông khách thập phương. Đến với lễ hội hội họ vừa được tham dự lễ hội dân gian phong phú để xin cầu tài cầu lộc, đồng thời họ có dịp để du ngoạn, chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên ở An Giang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Biện Pháp Bảo Vệ An Toàn Lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ
  • Bộ Y Tế Kiểm Tra An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Tại Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ
  • Hàng Ngàn Người Đổ Về Châu Đốc Dự Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Lễ Nhập Trạch Nhà Mới Cần Chuẩn Bị Những Gì?
  • Viếng Miếu Bà Chúa Xứ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Cần Thơ Châu Đốc
  • Viếng Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Du Lịch Châu Đốc Miếu Bà Chúa Xứ Giá Rẻ
  • Miếu Bà Chúa Xứ Một Điểm Đến Du Lịch Tâm Linh Ở Miền Tây
  • Qua Sông Đồng Nai Là Tới… Châu Đốc!
  • Châu Đốc, một địa danh gắn liền với sự linh thiêng với thế phong thủy tiền tam giang, hậu thất sơn và huyền bí cùng nhiều tín ngưỡng tôn giáo tồn tại từ lâu đời. Nhắc tới mảnh đất này, người ta không thể không nhớ tớiMiếu Bà Chúa XứNúi Samlà điểm du lịch tâm linh nổi tiếng không chỉ ở miền Tây Nam Bộ, mà ngay cả người Việt ở nước ngoài vẫn biết đến.

    Miếu Bà Chúa Xứtọa lạc dưới chânnúi Samthuộc phườngnúi Sam, TP Châu Đốc, tỉnh An Giang. Miếu Bà Chúa Xứcó rất nhiều truyền thuyết huyền bí xung quanh hoàn cảnh ra đời của ngôi miếu, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Theo truyền thuyết kẻ lại, cách đây khoảng 200 năm, người dân địa phương tại Châu Đốc đã phát hiện ra tượng Bà ở trên đỉnh núi Sam và muốn đưa xuống. Tuy nhiên, mấy chục thanh niên cường tráng định khiêng tượng Bà nhưng không được. Sau đó qua miệng bà “cô Đồng” bảo chỉ cần 9 cô gái đồng trinh lên khiêng xuống. Nhưng đến chân núi thì tượng Bà bất ngờ nặng trịch không thể đi nữa. Người dân nghĩ Bà chọn nơi đây để an vị ở đây và đã lập miếu tôn thờ.

    Ngày trước miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm quay về hướng tây bắc, phần lưng thì quay về vách núi, còn chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng. Vào năm 1870, miếu được người dân xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Trong 4 năm từ 1972 đến 1976, miếu Bà được hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng tái thiết lớn tạo nên dáng vẻ như hiện nay.

    Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy. Đặc biệt, bức tượng phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ.

    Quần thể kiến trúc miếu có chính điện (nơi thờ tượng Bà), võ ca, phòng khách và phòng Ban quý tế.

    Bên trong miếu thì lại được thiết kế và trang trí mang đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Các cánh cửa miếu được các nghệ nhân chạm trổ, điêu khắc tinh xảo. Đặc biệt, nhiều liễn đối và hoành phi ở nơi đây cũng được dát vàng son rực rỡ.

    Tượng Bà được người dân đặt ở giữa chính điện, xung quanh đó còn có bàn thờ Hội đồng ở phía trước, Tiền hiền và Hậu hiền thì đặt hai bên. Bàn thờ Cậu đặt ở bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m, còn bàn thờ Cô thì ở bên phải thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ,…

    Về nguồn gốc tượng Bà Chúa Xứ có nhiều truyền thuyết khác nhau. Theo lời truyền miệng dân gian thì vào những năm 1820 – 1825, quân Xiêm sang quấy phá nước ta và đuổi theo dân lên đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà. Bọn chúng ra sức khiêng bức tượng nhưng không nhấc nổi, một tên trong số đó đã làm tức giận làm gãy tay Bà và ngay lập tức hắn bị trừng phạt. Từ đó người dân gọi là Bà Chúa Xứ và lập miếu thờ để cho Bà Chúa phù hộ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tránh được giặc cướp, thoát khỏi dịch bệnh.

    Vào mỗi dịp Tết đến, Miếu Bà Chúa Xứ lại thu hút đông đảo người dân địa phương và khách thập phương. Họ đến để thắp hương, cầu nguyện về một năm mới ấm no, hạnh phúc. Miếu Bà chúa xứ Núi Sam thể hiện rõ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà miếu Bà Chúa Xứ mỗi năm thu hút hơn 3 triệu Phật tử từ các nơi đổ về hành hương, cúng bái cầu bình an, may mắn, tài lộc. Có du khách kể lại rằng, khi làm ăn họ không gặp vận, gặp thời. Người đó cúng bái khắp nơi, sau này nghe lời đồn, ông đã cất công từ Đà Nẵng bay vào Nam và viếng Miếu Bà Chúa Xứ. Và từ đó thời vận ông kéo về không thể hơn được. Từ đó hàng năm, ông đều vào Nam trả lễ Miếu Bà Chúa Xứ.

    Khuôn viên vô cùng rộng rãi thoáng đãng với những cây cổ thụ rợp bóng xanh mát và nhiều cảnh được tạo dáng đẹp mắt. Điểm tô cho không gian là sắc hoa rực rỡ. Vào buổi tối, khi đèn lên, không gian miếu cổ kính lại thêm phần lung linh. Vãn cảnh chùa, thắp nhang cầu những điều bình an tốt lành cho bản thân và gia đình xong, bạn có thể leo lên tầng cao của ngôi miếu, ngắm nhìn cảnh vật từ trên cao, đưa mắt hướng về phía xa, bạn có thể thấy được cả 1 góc của thành phố.

    Từ tháng 1 đến tháng 4 âm lịch hàng năm, Miếu Bà luôn nô nức dòng người đến thăm viếng. Bởi đây chính là khoảng thời gian diễn ra lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam ( 24-27.4 âm lịch). Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ chính thức diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 4 âm lịch hàng năm, trong đó có ngày vía chính là ngày 25. Năm 2022, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tục Thờ Bà Chúa Xứ Ở Cà Mau
  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Giúp Người Dân Cầu Được Ước Thấy
  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Ở Vùng Châu Đốc An Giang
  • Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam An Giang
  • Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng

    --- Bài mới hơn ---

  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Xam
  • Những Lưu Ý Cần Nằm Lòng Khi Hành Hương Chùa Bà Chúa Xứ Dịp Rằm Tháng Giêng
  • Bát Nháo Ở Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam (An Giang)
  • Sớm Xây Dựng Hồ Sơ Đề Nghị Unesco Công Nhận “lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam” Là Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Của Nhân Loại
  • Chăm Lo Cho Người Lao Động Tại Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Miếu Bà Chúa Xứ thuộc xã Vĩnh Tế, thành phố Châu Ðốc, tỉnh An Giang.

    Đặc điểm miếu Bà Chúa Xứ

    Ðược lập vào năm 1820, kiến trúc theo kiểu chữ “quốc”. Trong miếu thờ tượng Bà Chúa được tạc bằng đá xanh.

    Truyền Thuyết miếu Bà Chúa Xứ

    Truyện xưa kể lại rằng: Những năm 1820 – 1825, Quân Xiêm thường sang nước ta quấy nhiễu, cướp bóc. Mỗi khi giặc đến, người dân quanh vùng lại phải bồng bế nhau chốn chạy lên núi lánh nạn. Có lần quân giặc đuổi theo lên đến đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà. Chúng hì hục cậy ra, lấy dây buộc lại dùng đòn khiêng xuống núi để mang về xứ. Nhưng khi bọn chúng mới khiêng đi được một đoạn đường ngắn, lạ thay tượng Bà bỗng dưng nặng trĩu không thể nào nhấc lên được nữa. Khi đó, một tên trong bọn tức giận đập vào cốt tượng làm gãy một phần cánh tay bên trái và ngay tức khắc hắn bị Bà trừng phạt.

    Kiến trúc miếu Bà Chúa Xứ

    Ngôi miếu có bố cục kiểu chữ 国 – Quốc, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Các hoa văn ở cổ lầu chánh điện thể hiện đậm nét nghệ thuật. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ.

    Chánh điện gồm hai lớp. Lớp trong cùng là nơi thờ Bà Chúa Xứ với tượng Bà bằng đá đặt trên bệ cao, sát hai bên là hai con hạc trắng biểu tượng cốt cách tiên thánh của Bà. Bên phải tượng Bà là một linga cũng bằng đá đặt trên một hương án thờ, gọi là bàn thờ Cậu. Bên trái tượng Bà là hương án thờ một tượng gỗ chạm hình yoni, gọi là bàn thờ Cô. Lớp thứ hai là bàn thờ Hội đồng, sát liền hai tượng chim phượng. Hai bên trái, phải của bàn thờ Hội đồng là bàn thờ Tiền hiền khai khẩn (ở bên trái) và bàn thờ Hậu hiền khai cơ (ở bên phải). Ngay lối vào chánh điện có đôi câu đối thể hiện quyền lực linh thiêng của Bà trong việc ban phúc, bảo vệ nhân dân.

    Lễ Hội miếu Bà Chúa Xứ

    Hàng năm, lễ hội “Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” diễn ra từ ngày 23 đến 27-04 âm lịch. Hàng vạn người đổ về dự lễ và tham gia các trò vui như: hát bội, múa võ, ca nhạc ngũ âm, múa lân, đánh cờ… Phần lễ có những nghi lễ chính như sau:

    Lễ “Tắm Bà” (tương tự như lễ mộc dục ở miền Bắc)

    Được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24-04 âm lịch. Mở đầu lễ, 2 ngọn nến to được đốt sáng lên trong chánh điện. Ông lễ chánh bái nghi cùng với 2 vị bô lão, ban quản lý miếu niệm hương, dâng rượu và trà. Bức màn vải có viền ren lộng lẫy kéo ngang bệ thờ, che khuất khu vực đặt tượng, 9 cô gái trẻ được phân công trước bắt đầu vén màn tắm cho tượng Bà. Đầu tiên là cởi mũ, áo, khăn đai từ lớp ngoài vào trong để lộ toàn thân pho tượng. Những cô gái được phân công việc tắm Bà lần lượt nhúng từng chiếc khăn mới vào chậu nước thơm, vắt ráo rồi lau tượng nhiều lần. Sau đó, họ dùng nước hoa xịt khắp bức tượng rồi chọn bộ đồ mới đẹp nhất khoác lên bức tượng, thắt chặt đai, chít khăn, đội mão, gắn lại những ngọn đèn màu trang trí như cũ. Lễ tắm Bà thường kéo dài khoảng một giờ, sau đó bức màn ngăn được kéo lên để cho khách tự do chiêm bái, dâng hương, hoặc xin lộc Bà. Phần Lễ Tắm Bà kết thúc…Nước tắm cho Bà còn lại sẽ đem hoà trong 2 thùng nước lớn để phân phát cho du khách trẩy hội.

    Cử hành vào khoảng 16h chiều ngày 25, một đoàn người gồm các bô lão trong làng quần áo chỉnh tề, tiến từ miếu Bà sang lăng Thoại Ngọc Hầu để thỉnh sắc (thật ra, đây là lễ rước bài vị, vì sắc đã không còn). Dẫn đầu có đội múa lân, các học trò lễ tay cầm cờ phướn đi hầu phía trước và sau chiếc kiệu sơn son thiếp vàng gọi là long đình. Đến điện thờ, ông chánh bái làm lễ niệm hương, rồi thỉnh bài vị đưa lên kiệu trở về miếu Bà. Ba chiếc bài vị mang tên Thoại Ngọc Hầu và tên bà vợ chánh Châu Thị Tế, bà vợ thứ Trương Thị Miệt được đặt trên bàn thờ ở chánh điện. Bài vị thứ tư mang tên Hội đồng, ghi công lao các quan quân đã theo Thoại Ngọc Hầu xưa kia, được đặt riêng ở bàn thờ phía trước.

    Được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26-04 âm lịch, gồm có hai phần: nghi thức cúng tế và phần xây chầu. Lễ vật dâng cúng gồm có: một con heo trắng, một đĩa huyết heo có kèm theo nhúm lông nhỏ. Một mâm trái cây, trầu cau, gạo, muối. Sau ba hồi chiêng, trống, nhạc lễ nổi lên, lễ dâng hương, dâng trà bắt đầu. Nghi thức cúng tế kết thúc bằng động tác của ông chánh tế đốt bản văn tế cùng giấy vàng bạc. Tiếp theo nghi thức cúng tế là phần xây chầu được tiến hành ở nhà võ ca. Sau phần cầu nguyện của ông Chánh bái, xin cho mưa thuận gió hoà, đất đai phì nhiêu, mùa màng bội thu, dân chúng khỏe mạnh, yên vui, các loài quỷ dữ bị tiêu diệt, lễ Xây chầu bắt đầu bằng ba hồi trống lệnh. Sau đó, chiêng trống rộ lên, chương trình hát bội bắt đầu.

    Cử hành vào khoảng 15h ngày 27-04, đoàn hành lễ sẽ rước bài vị Thoại Ngọc Hầu và nhị vị phu nhân từ miếu trở về Sơn Lăng. Kết thúc lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam.

    Miếu Bà chúa Xứ là một trong những danh thắng của núi Lam được nhà nước xếp hạng. Nơi đây đã mang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng, thời đại chống giặc ngoại xâm. Và ngay nay miếu Bà Chúa Xứ vẫn thật sự là điểm đến của du khách bốn phương, là nơi mà con người cầu mong về những điều thiêng liêng, tốt đẹp nhất.

    Nguồn:Tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Thăm Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Ở Núi Sam
  • Du Khách Đến Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam Tăng Cao
  • 10 Nhà Nghỉ An Giang Giá Rẻ Đẹp Gần Châu Đốc, Núi Cấm, Miếu Bà 100K
  • Miếu Bà Chúa Xứ Ở Châu Đốc
  • Du Khách Hiến Kế Cách Thu Hút Khách Đến Miếu Bà Chúa Xứ
  • Ly Kỳ Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam

    --- Bài mới hơn ---

  • Truyền Thuyết Bà Chúa Xứ
  • Thăm Dinh Thờ Bà Chúa Xứ Trà Cốt
  • Tây Ninh Với Những Miếu Thờ Bà
  • Đến An Giang, Ghé Thăm Miếu Bà Chúa Xứ Ở Núi Sam Nổi Tiếng Linh Thiêng
  • Khám Phá Điểm Du Lịch Tâm Linh Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Miếu bà Chúa xứ Núi Sam

    Nhắc đến Châu Đốc hay Núi Sam thì người ta lại nhớ ngay đến Miếu Bà Chúa Xứ. Từ lâu, nơi đây đã trở thành trung tâm văn hóa tín ngưỡng của các đoàn hành hương và du khách gần xa, đặc biệt là vơi dân miền Tây. Với niềm tin vào sự linh thiêng, ứng nghiệm, “cầu được ước thấy, hàng năm, miếu Bà thu hút hơn 5 triệu lượt khách đến tham quan, cúng viếng.

    “Điểm nhấn” của du lịch tâm linh vùng ĐBSCL

    Với vị trí địa lý thuận lợi cùng nhiều di tích nổi tiếng chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng, giá trị về lịch sử, kiến trúc, hội họa, tâm linh, tín ngưỡng đã giúp Châu Đốc trở thành thành phố du lịch tâm linh của khu vực ĐBSCL.

    Trong đó, Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam chính là tâm điểm. Đặc biệt, năm 2022, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Qua đó, đã phần nào nâng du lịch Châu Đốc lên một tầm cao mới, góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội địa phương. Điển hình là lượng du khách đến thăm viếng tăng dần qua các năm.

    Miếu Bà Chúa Xứ tọa lạc dưới chân núi Sam thuộc phường núi Sam, TP Châu Đốc, tỉnh An Giang. Mỗi năm có hàng triệu lượt khách đến hành hương và chiếm bái tại miếu Bà. Chẳng biết từ khi nào, Bà Chúa Xứ đã trở thành điểm tựa tâm linh của người dân khắp nơi trên cả nước.

    Lịch sử Miếu Bà có từ khi nào đến nay vẫn là điều bí ẩn, tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu thì miếu Bà được xây dựng từ khoảng đầu thế kỉ XVIII khi ông Thoại Ngọc Hầu đến trấn giữ vùng đất Tây Nam. Ông được triều đình giao trọng trách đào kênh Vĩnh Tế, con kênh này dài 100km, rộng 50m, nối Châu Đốc với Hà Tiên. Đây là công trình vĩ đại nhằm mục đích thoát lũ, xả phèn cho ĐBSCL, rút ngắn con đường giao thương đường thủy vùng phía Tây. Tuy nhiên, khi tiến hành thì liên tục gặp trục trặc, nhiều người chết do tai nạn, bệnh tật hay bị thú dữ tấn công.

    Trước tình hình đó, vợ ông là bà Châu Thị Vĩnh Tế đã nghe lời dân làng đến cúng bái tượng Bà, quả nhiên ngay sau đó việc xây dựng diễn ra rất suông sẻ. Không những thế, bà còn khấn vái cầu cho ông Thoại Ngọc Hầu đánh thắng giặc, bảo vệ yên bình cho nhân dân. Về sau, để tạ ơn, bà cho xây dựng lại ngôi miếu to và khang trang hơn. Nếu đúng như vậy thì rất có thể Miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng dưới thời Minh Mạng.

    Sau nhiều lần trùng tu, sửa chữa, đến nay kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Chánh điện gồm hai lớp. Lớp trong cùng là nơi thờ Bà Chúa Xứ với tượng Bà bằng đá đặt trên bệ cao, sát hai bên là hai con hạc trắng biểu tượng cốt cách tiên thánh của Bà.

    Bên phải tượng Bà là một linga bằng đá đặt trên một hương án thờ, gọi là bàn thờ Cậu. Bên trái tượng Bà là hương án thờ một tượng gỗ chạm hình yoni, gọi là bàn thờ Cô. Lớp thứ hai là bàn thờ Hội đồng, sát liền hai tượng chim phượng. Hai bên trái, phải của bàn thờ Hội đồng là bàn thờ Tiền hiền khai khẩn (ở bên trái) và bàn thờ Hậu hiền khai cơ (ở bên phải).

    Mỗi năm có hàng triệu lượt du khách tứ phương đến cúng viếng

    Nhiều truyền thuyết ly kỳ về sự linh ứng

    Khi bước vào chánh điện của miếu Bà, chúng ta dễ dàng bắt gặp đôi câu đối thể hiện quyền lực linh thiêng của Bà trong việc ban phúc, bảo vệ nhân dân.

    Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị

    Xiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng

    (Cầu nhất định được, ban nhất định linh, báo mộng cho biết

    Người Xiêm phải sợ, người Thanh phải nể, không thể tưởng tượng nổi)

    Bởi sự linh ứng đó mà số lượng du khách đến ngày càng đông đúc. Bà con quanh năm làm ăn thuận lợi, phát đạt, mùa màng bội thu. Giặc ngoại xâm nghe tới danh bà cũng phải khiếp sợ.

    Theo truyền thuyết, những năm 1820 – 1825, quân Xiêm thường xuyên quấy nhiễu nước ta, có lần chúng đuổi theo dân lên đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà. Chúng ra sức khiêng tượng Bà xuống núi nhưng đến một đoạn thì lạ thay tượng Bà nặng trĩu, không nhấc lên được. Một tên trong đó tức giận làm gãy cánh tay trái của Bà, ngay lập tức hắn bị Bà trừng phạt. Từ đó, Bà thường hiện về tự xưng là Bà Chúa Xứ dạy dân cách lập miếu thờ để Bà phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tránh được giặc cướp, thoát khỏi dịch bệnh.

    Trước đây, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Cũng theo dân gian kể lại, khi nhìn thấy sự linh ứng, người dân quyết định khiêng tượng Bà về thờ cúng nhưng lạ thay mấy chục thanh niên cường tráng không thể lay chuyển được tượng Bà. Trong lúc đó, có một cô gái “lên đồng” bảo rằng Bà chỉ cần 9 cô gái đồng trinh lên khiêng, quả nhiên tượng Bà được khiêng xuống một cách dễ dàng. Nhưng khi khiêng đến chân núi thì tượng Bà bất ngờ nặng trịch, không thể khiêng một bước nào nữa. Lúc đó các bậc cao niên nghĩ rằng Bà chọn nơi đây để an vị và lập miếu thờ cúng ngay chỗ đó.

    Nói về nguồn gốc của tượng Bà cũng lại là một “ẩn số” và có nhiều truyền thuyết ly kỳ, huyền bí. Người dân Vĩnh Tế xưa chỉ biết rằng có một pho tượng đá lớn không ai biết từ đâu đến ngồi ngự trên lưng chừng núi Sam. Theo nhà văn Sơn Nam, “tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy”.

    Đến nay, mỗi khi về đến chân núi Sam mà hỏi về những truyền thuyết và sự linh ứng của Bà Chúa Xứ thì người dân địa phương kể chẳng biết đến khi nào cho hết. Những truyền thuyết và lời kể đó đến nay chẳng biết có hay không tuy nhiên niềm tin tưởng của du khách gần xa đối với bà là có thật. Miếu Bà Chúa Xứ không chỉ là có ý nghĩa tâm linh to lớn đối với người dân An Giang mà còn là chỗ dựa tâm linh vững chắc cho nhân dân trong khắp cả nước. Người hành hương đến viếng Bà bằng tất cả sự tôn kính để cầu mong cuộc sống được an yên, ấm no, hạnh phúc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vườn Cò Sáu Xom Và Những Giai Thoại Về Miếu Bà Chúa Xứ
  • Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông (Sóc Trăng): Di Tích Lịch Sử Cấp Quốc Gia
  • Du Lịch Miền Tây Côn Đảo Giá Rẻ
  • Tour An Giang Châu Đốc Rừng Tràm Trà Sư 1 Ngày Vietnam Booking
  • Tour Hàng Ngày 01: Sài Gòn
  • Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Châu Đốc Đến Thăm Miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Hang, Rừng Tràm Trà Sư Và Nhiều Địa Điểm Tuyệt Đẹp Nữa
  • Thuê Xe Du Lịch Đi Hành Hương Châu Đốc Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ
  • Em Hãy Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử: “miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam”
  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam An Giang
  • Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ là một công trình kiến trúc đẹp và tôn nghiêm, tọa lạc dưới chân núi Sam, thuộc phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là một di tích nổi tiếng ở khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hàng năm thu hút gần 2 triệu lượt người đến cúng bái, tham quan. Khách hành hương, du lịch đến từ khắp nơi trên cả nước, tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo kéo dài suốt nhiều tháng.

    Theo số liệu của Sở Văn hoá – Thể thao – Du lịch An Giang, nếu năm 1990 có khoảng 1 triệu du khách đến miếu Bà thì năm 2007 đã có trên 2,5 triệu lượt người đến. Sồ tiền khách thập phương hỷ cúng tại miếu mỗi năm lên đến hàng chục tỷ đồng. Nhiều dự án giao thông, trường học, trạm cấp nước phục vụ cho dân làng Vĩnh Tế đã được xây dựng từ nguồn tiền này.

    Năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được chính thức công nhận là lễ hội quốc gia. Năm 2008, lễ hội được tổ chức với tên gọi Tuần lễ quốc gia Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam. Lễ hội chính thức khai mạc vào tối ngày 25-05 tại Trung tâm thương mại núi Sam. Lễ khai mạc đã thu hút khoảng 10.000 lượt khách trong nước và quốc tế đến tham dự. Dịp này, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã tiến hành nghi thức trao giấy xác nhận và cúp lưu niệm kỷ lục Việt Nam đối với “Ngôi miếu lớn nhất Việt Nam” và “Tượng bà bằng đá sa thạch xưa và lớn nhất Việt Nam” cho đại diện Ban quản trị lăng miếu núi Sam.

    Miếu Bà chúa Xứ có từ khi nào cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn, nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng miếu thành hình sau năm 1824. Tương truyền, lúc đầu, miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra cánh đồng bát ngát. Năm 1870, miếu được xây lại bằng đá miểng và lợp ngói. Đến năm 1972, miếu được xây dựng mới, đồ sộ và lộng lẫy theo lối kiến trúc cổ kính phương Đông. Công trình là một quần thể hoành tráng trên mặt bằng rộng với dãy Đông lang, Tây lang, chánh điện, nhà khách…theo đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, nhưng xây dựng dở dang. Mãi đến năm 1995, Ban Quản trị lăng miếu núi Sam mới tiếp tục xây dựng phần còn lại.

    Tương truyền, dưới triều Minh Mạng, khi Thoại Ngọc Hầu giữ trọng trách trấn giữ biên giới Tây Nam, giặc ngoại xâm thường sang quấy nhiễu. Mỗi lần ông xuất quân, bà chánh thất phu nhân Châu Thị Tế thường đến khấn vái, mong Bà phù hộ Thoại Ngọc Hầu đánh thắng giặc, bảo vệ cuộc sống yên lành cho dân. Về sau, để tạ ơn những điều ứng nghiệm, phu nhân Thoại Ngọc Hầu đã cho xây cất lại ngôi miếu to và khang trang hơn. Lễ khánh thành được tổ chức trong 3 ngày 24, 25, 26 tháng 4 âm lịch. Từ đó về sau thành lệ, dân chúng lấy những ngày trên làm lễ Vía Bà. Nếu chi tiết này có thật, thì đây cũng là một thông tin cho biết rằng miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng từ thời Minh Mạng.

    Tham Khảo: tour hành hương Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc

    Kiến trúc Miếu Bà Chúa Xứ

    Ngôi miếu có bố cục kiểu chữ 国 – Quốc, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Các hoa văn ở cổ lầu chánh điện thể hiện đậm nét nghệ thuật. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ.

    Chánh điện gồm hai lớp. Lớp trong cùng là nơi thờ Bà Chúa Xứ với tượng Bà bằng đá đặt trên bệ cao, sát hai bên là hai con hạc trắng biểu tượng cốt cách tiên thánh của Bà. Bên phải tượng Bà là một linga cũng bằng đá đặt trên một hương án thờ, gọi là bàn thờ Cậu. Bên trái tượng Bà là hương án thờ một tượng gỗ chạm hình yoni, gọi là bàn thờ Cô. Lớp thứ hai là bàn thờ Hội đồng, sát liền hai tượng chim phượng. Hai bên trái, phải của bàn thờ Hội đồng là bàn thờ Tiền hiền khai khẩn (ở bên trái) và bàn thờ Hậu hiền khai cơ (ở bên phải).

    Ngay lối vào chánh điện có đôi câu đối thể hiện quyền lực linh thiêng của Bà trong việc ban phúc, bảo vệ nhân dân. Nội dung như sau:

    求必應試必霛夢中指示

    暹可驚清可慕意外難量

    Phiên âm:

    Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị

    Xiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng

    Dịch nghĩa:

    Cầu nhất định được, ban nhất định linh, báo cho biết trong mộng

    Người Xiêm phải sợ, người Thanh phải nể, không thể tưởng tượng nổi

    miếu bà chúa xứ

    Những bí ẩn quanh bức tượng Bà Chúa Xứ

    Truyền thuyết

    Truyện xưa kể lại rằng: Những năm 1820 – 1825, Quân Xiêm thường sang nước ta quấy nhiễu, cướp bóc. Mỗi khi giặc đến, người dân quanh vùng lại phải bồng bế nhau chốn chạy lên núi lánh nạn. Có lần quân giặc đuổi theo lên đến đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà. Chúng hì hục cậy ra, lấy dây buộc lại dùng đòn khiêng xuống núi để mang về xứ. Nhưng khi bọn chúng mới khiêng đi được một đoạn đường ngắn, lạ thay tượng Bà bỗng dưng nặng trĩu không thể nào nhấc lên được nữa. Khi đó, một tên trong bọn tức giận đập vào cốt tượng làm gãy một phần cánh tay bên trái và ngay tức khắc hắn bị Bà trừng phạt.

    Thời gian sau, Bà thường hiện về xưng là Bà Chúa Xứ, dạy dân làng khiêng xuống núi lập miếu thờ cúng. Bà sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tránh được giặc cướp quấy phá, thoát khỏi dịch bệnh hoành hành. Thấy vậy, dân làng họp nhau lên núi khiêng tượng về thờ cúng. Nhưng lạ thay, dù mấy chục thanh niên trai tráng hò nhau gắng sức vẫn không lay chuyến nổi tượng Bà. Trong lúc mọi người đang rất thất vọng, có ý định bỏ dở thì một cô gái trong làng bỗng dưng lên đồng cho biết : “Bà chỉ cần 9 cô gái đồng trinh lên khiêng”. Dân làng làm theo lời dạy ấy và qủa đúng thật 9 cô gái đồng trinh khiêng tượng Bà đi xuống một cách nhẹ nhàng.

    Bỗng nhiên khi đi đến chân núi thì tượng Bà trở nên nặng, không thể khiêng nổi thêm một bước nào nữa. Khi đó mọi người đã hiểu rằng, Bà đã chọn nơi đây để an vị nên đã không cố gắng di chuyển đi nữa mà lập miếu thờ cúng chỗ đó.

    Khảo cứu

    Các nhà nghiên cứu phỏng đoán tượng Bà được tạc vào thế kỷ VI, theo mô típ tượng thần Vinus thường thấy ở các nước Lào, Campuchia, Ấn Độ. Thực chất, tượng Bà vốn là một pho tượng đá, thể hiện dáng hình một người đàn ông trong tư thế ngồi, chân trái của tượng xếp bằng tròn, mũi bàn chân giáp với chân phải; chân phải để gập, co gối, chống thẳng bàn chân xuống mặt bệ đá. Tay trái của tượng ở tư thế chống nạnh, bàn tay xoải xuống mặt bệ đá, phía sau đùi trái. Tay phải tượng thả tự nhiên, bàn tay úp trên đầu gối phải. Tóc tượng uốn thành những búp xoăn, thả về phía sau. Trên mặt tượng có một vành ngấn, là nơi đặt mão lên đầu tượng. Trong vành ngấn này có những hoa văn hình móc câu, riêng ở phần vành nằm trước trán của tượng có một hình tròn, chung quanh là những hoa văn kiểu ngọn lửa. Trên cánh tay để trần của tượng có một vành đai, giống như cái vòng đeo tay. Toàn bộ dáng hình của pho tượng là dáng hình một người đàn ông tràn đầy sức sống, với bộ ngực căng nở và chiếc bụng phệ. Trên ngực của tượng có một vành đai như vòng kiềng, trước ngực là hình mảnh trăng lưỡi liềm khá rộng. Toàn bộ pho tượng cao chừng 1,25 m, được tạc liền một thớt đá cùng loại, với bệ tượng dày chừng 10 cm. Về trang phục, tượng được tạc trong tư thế đang vận một chiếc khố. Ở bắp cánh tay, gần bả vai của tượng, sát nách, nổi cộm một vòng đai có hình dạng như một chiếc vòng đeo tay. Ở cổ tượng nổi cộm một vòng đai hình vòng kiềng, chỗ vòng nằm ngay ngực khá to, hình lưỡi liềm, có lẽ là một thứ vòng đeo cổ xưa.

    Nhà văn Sơn Nam từng viết: “Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miếu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…..”.

    Theo nhà khảo cổ học người Pháp, ông Malleret, trong thời gian tiến hành khai quật khu di chỉ Óc Eo từ năm 1942 đến năm 1944, ông có đến núi Sam nghiên cứu tượng Bà Chúa Xứ và cho biết rằng đây là loại tượng nam thần, được tạo theo dáng người ngồi nghỉ ngơi, vương giả, vật liệu bằng sa thạch, giá trị nghệ thuật cao. Năm 1989, một đoàn ngoại giao Ấn Độ có đến thăm vùng này, vào miếu Bà Chúa Xứ, họ rất ngạc nhiên khi được gặp tượng thần Shivalinga ở khu vực núi Sam trong danh xưng Bà Chúa Xứ.

    Lễ hội Miếu Bà Chúa Xứ

    Hàng năm, lễ hội “Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” diễn ra từ ngày 23 đến 27-04 âm lịch. Hàng vạn người đổ về dự lễ và tham gia các trò vui như: hát bội, múa võ, ca nhạc ngũ âm, múa lân, đánh cờ… Phần lễ có những nghi lễ chính như sau:

    – Lễ “Tắm Bà” (tương tự như lễ mộc dục ở miền Bắc): Được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24-04 âm lịch. Mở đầu lễ, 2 ngọn nến to được đốt sáng lên trong chánh điện. Ông lễ chánh bái nghi cùng với 2 vị bô lão, ban quản lý miếu niệm hương, dâng rượu và trà. Bức màn vải có viền ren lộng lẫy kéo ngang bệ thờ, che khuất khu vực đặt tượng, 9 cô gái trẻ được phân công trước bắt đầu vén màn tắm cho tượng Bà. Đầu tiên là cởi mũ, áo, khăn đai từ lớp ngoài vào trong để lộ toàn thân pho tượng. Những cô gái được phân công việc tắm Bà lần lượt nhúng từng chiếc khăn mới vào chậu nước thơm, vắt ráo rồi lau tượng nhiều lần. Sau đó, họ dùng nước hoa xịt khắp bức tượng rồi chọn bộ đồ mới đẹp nhất khoác lên bức tượng, thắt chặt đai, chít khăn, đội mão, gắn lại những ngọn đèn màu trang trí như cũ. Lễ tắm Bà thường kéo dài khoảng một giờ, sau đó bức màn ngăn được kéo lên để cho khách tự do chiêm bái, dâng hương, hoặc xin lộc Bà. Phần Lễ Tắm Bà kết thúc…Nước tắm cho Bà còn lại sẽ đem hoà trong 2 thùng nước lớn để phân phát cho du khách trẩy hội.

    – Lễ Thỉnh sắc: cử hành vào khoảng 16h chiều ngày 25, một đoàn người gồm các bô lão trong làng quần áo chỉnh tề, tiến từ miếu Bà sang lăng Thoại Ngọc Hầu để thỉnh sắc (thật ra, đây là lễ rước bài vị, vì sắc đã không còn). Dẫn đầu có đội múa lân, các học trò lễ tay cầm cờ phướn đi hầu phía trước và sau chiếc kiệu sơn son thiếp vàng gọi là long đình. Đến điện thờ, ông chánh bái làm lễ niệm hương, rồi thỉnh bài vị đưa lên kiệu trở về miếu Bà. Ba chiếc bài vị mang tên Thoại Ngọc Hầu và tên bà vợ chánh Châu Thị Tế, bà vợ thứ Trương Thị Miệt được đặt trên bàn thờ ở chánh điện. Bài vị thứ tư mang tên Hội đồng, ghi công lao các quan quân đã theo Thoại Ngọc Hầu xưa kia, được đặt riêng ở bàn thờ phía trước.

    – Lễ Túc yết: được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26-04 âm lịch, gồm có hai phần: nghi thức cúng tế và phần xây chầu. Lễ vật dâng cúng gồm có: một con heo trắng, một đĩa huyết heo có kèm theo nhúm lông nhỏ. Một mâm trái cây, trầu cau, gạo, muối. Sau ba hồi chiêng, trống, nhạc lễ nổi lên, lễ dâng hương, dâng trà bắt đầu. Nghi thức cúng tế kết thúc bằng động tác của ông chánh tế đốt bản văn tế cùng giấy vàng bạc. Tiếp theo nghi thức cúng tế là phần xây chầu được tiến hành ở nhà võ ca. Sau phần cầu nguyện của ông Chánh bái, xin cho mưa thuận gió hoà, đất đai phì nhiêu, mùa màng bội thu, dân chúng khỏe mạnh, yên vui, các loài quỷ dữ bị tiêu diệt, lễ Xây chầu bắt đầu bằng ba hồi trống lệnh. Sau đó, chiêng trống rộ lên, chương trình hát bội bắt đầu.

    – Lễ Chánh tế: được tổ chức vào tờ mờ sáng ngày 27, gần giống như nghi thức cúng Túc yết.

    – Lễ Hồi sắc: cử hành vào khoảng 15h ngày 27-04, đoàn hành lễ sẽ rước bài vị Thoại Ngọc Hầu và nhị vị phu nhân từ miếu trở về Sơn Lăng. Kết thúc lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam.

    Miếu Bà chúa Xứ là một trong những danh thắng của núi Lam được nhà nước xếp hạng. Nơi đây đã mang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng, thời đại chống giặc ngoại xâm. Và ngay nay miếu Bà Chúa Xứ vẫn thật sự là điểm đến của du khách bốn phương, là nơi mà con người cầu mong về những điều thiêng liêng, tốt đẹp nhất.

    Quý khách có thể tham gia chuyến du lịch Miền Tây 3 ngày để đến với Miếu Bà Chúa Xứ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Miếu Bà Chúa Xứ Thủy Tề Bạc Liêu
  • Tour Du Lịch 2022 : Hà Tiên
  • Những Lưu Ý Khi Hành Hương Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông
  • Xây Dựng Trái Phép Tượng Bà Chúa Xứ Trên Đỉnh Núi Sam
  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Xam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lưu Ý Cần Nằm Lòng Khi Hành Hương Chùa Bà Chúa Xứ Dịp Rằm Tháng Giêng
  • Bát Nháo Ở Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam (An Giang)
  • Sớm Xây Dựng Hồ Sơ Đề Nghị Unesco Công Nhận “lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam” Là Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Của Nhân Loại
  • Chăm Lo Cho Người Lao Động Tại Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Thần Thoại: Bà Chúa Xứ Nguyên Nhung
  • Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng “cô đồng”, nên người dân đã lập miếu để tôn thờ .

    Có ý kiến cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm và kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa.

    Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam

    Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

    Nguồn gốc pho tượng đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Tục truyền, tượng được đem đến đây bằng thuyền.

    Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh). Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không có ở địa phương.

    Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Visnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ 6, và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo .

    Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng đã chép rằng: Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…

    Cũng theo lời truyền miệng dân gian, thì khi xưa có một nhóm người đến quấy nhiễu nơi đây. Gặp tượng Bà, họ muốn lấy đi nhưng xê dịch không được nên tức giận đập gãy cánh tay trái của pho tượng .

    Chung quanh tượng Bà (đặt ở giữa chính điện), còn có bàn thờ Hội Đồng (phía trước), Tiền hiền và Hậu hiền (hai bên), bàn thờ Cô (bên phải, có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ), bàn thờ Cậu (bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m)…

    Lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch hàng năm, trong đó ngày vía chính là ngày 25. Các lễ chính gồm:

    * Lễ “tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch.

    * Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24.

    * Lễ túc yết và Lễ xây chầu: Lễ “túc yết” là lễ dâng lễ vật (lễ vật chính là con heo trắng) và tiến hành nghi thức cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là “Lễ xây chầu” mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng) .

    * Lễ chánh tế được cử hành vào 4 giờ sáng ngày 27.

    * Lễ hồi sắc được cử hành lúc 16 giờ chiều cùng ngày, ngay sau khi Lễ chánh tế kết thúc. Đây là lễ đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.

    Theo tín ngưỡng của người dân, nơi đây vẫn còn có những tục như xin xăm Bà, vay tiền Bà, thỉnh bùa Bà…

    Nhà văn Sơn Nam viết:

    Bà Chúa Xứ, dạng đạo Lão dân gian, thu hút bá tánh nhiều nhất Nam Bộ. Cất bên chùa Tây An nhưng trong “Đại Nam nhất thống chí” không ghi tên, phải chăng đời Tự Đức và khi Pháp đến hồi cuối thế kỷ 19, miễu hãy còn khiêm tốn, khách hành hương chỉ là người phụ cận mà thôi. Miễu phát triển về sau, qua thời kháng Pháp rồi chống Mỹ…

    …Lăng Thoại Ngọc Hầu được trùng tu, rồi lập miếu thờ trang nghiêm như đình làng, nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu của con người khi quá đau khổ, bế tắc. Miễu bà Chúa Xứ được nâng cấp, thay cho miễu sơ sài…Đây là dạng tu tiên, một dạng như: Tây Vương Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, hoặc Liễu Hạnh công chúa…nên việc thờ phượng, cúng vái để “tự nhiên”, khách có thể ăn mặc lòe loẹt, trai gái đùa giỡn, cúng rượu thịt… Vị trí miễu Bà bên núi Sam hội đủ: Sông rộng, đồi núi trập trùng, vùng biên giới…Người hành hương cảm thấy được thỏa mãn về tâm thần, hòa mình vào”sơn hà xã tắc”, “khí thiêng sông núi”…

    Theo Nguyễn Đức Toàn, thì:

    Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, chúa Liễu đã từ Phủ Giầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nưgar tại Nha Trang, gặp bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu) ở Tây Ninh và bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc…Tất cả các bà đều là một Mẹ duy nhất trong tâm thức của tín ngưỡng và tập tục thờ mẫu của người Việt…

    Sách Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch giải thích thêm:

    Do ảnh hưởng Phật giáo, Lão giáo cùng với các tín ngưỡng đồng bóng của dân gian mà các vị thần được thờ chủ yếu là nữ, như: Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỷ, Bà Thủy, Bà Hỏa…Và Bà Chúa Xứ trở thành một dạng như “Phật Bà Quan Âm” (đối với người Việt), “Bà Mã Hậu” hay “Thiên Hậu Nương Nương” (đối với người Hoa). Bà được tin tưởng đến độ có rất nhiều huyền thoại về “quyền lực linh thiêng” của Bà trong việc “ban phúc, giáng họa” cho con người. Như hai câu liễn đối treo ở miếu Bà như sau:

    Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thi

    Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.

    Tạm dịch:

    Xin thì được, ban thì linh, báo trong giấc mông

    (Người) Xiêm sợ hãi, (Người) Hoa kính mộ, ý tứ khôn lường.

    Ngày 10 tháng 7 năm 2000, Bộ Văn Hóa đã ký quyết định số 92/VH-QĐ công nhận Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc khu di tích Núi Sam là cấp Quốc gia.

    Từ năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài phần Lễ được tổ chức trang trọng theo lối cổ truyền, phần Hội cũng được tổ chức trọng thể hàng năm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng
  • Về Thăm Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Ở Núi Sam
  • Du Khách Đến Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam Tăng Cao
  • 10 Nhà Nghỉ An Giang Giá Rẻ Đẹp Gần Châu Đốc, Núi Cấm, Miếu Bà 100K
  • Miếu Bà Chúa Xứ Ở Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Ở Vùng Châu Đốc An Giang
  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Giúp Người Dân Cầu Được Ước Thấy
  • Tục Thờ Bà Chúa Xứ Ở Cà Mau
  • Viếng Miếu Bà Chúa Xứ
  • Tour Cần Thơ Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc – điểm đến tâm linh lớn nhất An Giang

    Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc nằm dưới chân Núi Sam (Châu Đốc, An Giang), cách trung tâm thành phố Châu Đốc khoảng 8km. Miếu Bà ra đời vào khoảng thời gian sau khi Thoại Ngọc Hầu – Nguyễn Văn Thoại về trấn nhậm, tức cách đây khoảng 200 năm.

    Tương truyền, Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ ông là bà Châu Thị Tế đã ban lệnh và hỗ trợ để lập miếu.

    Trong miếu, tượng Bà Chúa Xứ được đặt ở chánh điện. Bà được đeo vòng vàng, choàng áo vàng. Người ta nói rằng hiện nay “tài sản” của Bà là cả trăm tỷ do những người đến Chiêm bái cầu lộc đi lễ dâng lên. Bởi thế mới thấy

    Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc có gì hay?

    Đến Miếu Bà Chúa Xứ, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên vì cảnh đẹp và kiến trúc độc đáo của toàn bộ công trình. Không những vậy, câu chuyện đi lễ Bà Chúa Xứ để cầu lộc, mượn tiền bà làm ăn của những người tin vào tâm linh cũng sẽ cuốn hút bạn.

    Nét kiến trúc độc đáo

    Bước vào miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc, điểm đầu tiên là bạn sẽ vô cùng ấn tượng với lối kiến trúc tinh tế từ cổng miếu cho đến Chánh Điện, cổng sau và các gian nhà mới xây.

    Chúng tôi đến đây 2 lần, một lần vào ban ngày và một lần vào ban đêm. Quả thực, mỗi thời điểm là một vẻ đẹp khác nhau. Nếu ban ngày, bạn sẽ được nhìn rõ từng chi tiết tinh tế chạm khắc trang trí trên các câu đối, hoành phi, từng mái ngói, cột nhà… thì ban đêm, ánh điện lung linh sẽ làm bạn choáng ngợp với sự lộng lẫy của nơi đây. Đứng giữa tòa kiến trúc có vẻ đẹp khác thường, chúng t có cảm giác mình đang lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh.

    Được biết, xưa kia, Miếu bắt đầu được xây dựng rất đơn sơ bằng tre lá, nằm quay về hướng Tây Bắc, phần lưng thì quay về vách núi, còn chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng.

    Năm 1870, Miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Từ năm 1972 – 1976, suốt 4 năm ròng rã, miếu Bà được hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng xây dựng lại để có được diện mạo như ngày nay.

    Nhìn chung, Miếu mang kiến trúc hình chữ quốc, có hình dáng như một bông sen đang tỏa ra. Miếu cũng được xây mái tam cấp ba tầng lầu, ngói được lợp là ngói đại ống màu xanh. Góc mái của miếu vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng.

    Bên trong miếu thì lại được thiết kế và trang trí mang đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Có nhiều liễu đối, hoành phi rực rỡ, đẹp mắt. Các phần bên trong miếu là võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế… Bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

    Lễ Bà chúa Xứ

    Sở dĩ nhiều khách hành hương mà chủ yếu là người làm ăn từ khắp nơi đều tìm về đây là vì niềm tin: đi lễ bà Chúa Xứ, cầu lộc, vay tiền Bà để làm ăn. Đặc biệt, trong miếu Bà còn có một bức tường kỳ lạ mà người dân thường đứng úp mặt vào đó để lầm rầm cầu khấn, “tỉ tê tâm sự” với Bà.

    Thời điểm người dân hành hương đến Miếu đông nhất thường là dịp từ tháng Giêng đến tháng 3 âm lịch hàng năm (sau Tết Nguyên Đán).

    Lễ Vía Bà Chúa Xứ có các lễ chính như sau:

    • Lễ “tắm Bà”
    • Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà,
    • Lễ túc yết và Lễ xây chầu (dâng lễ vật và tiến hành nghi thức cúng bà)
    • Lễ chánh tế
    • Lễ hồi sắc (đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng).

    Lễ vật cúng miếu Bà Chúa Xứ bao gồm: Trái cây, Hoa lay ơn, nhang rồng phụng 5 tấc, Đèn cầy, Gạo hũ, Muối hũ, trà pha sẵn, Rượu nếp Hà Nội 420ml, Nước chai 500ml, Giấy cúng Bà Chúa Xứ, Bánh kẹo, Trầu cau, Chè, Xôi, Cháo trắng, Heo quay con, Bộ Tam sên, bánh bao, Vịt luộc, Gà luộc.

    Kinh nghiệm đi Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc

    Từ TP. Hồ Chí Minh, bạn di chuyển xuống TP. Châu Đốc bằng xe máy, ô tô du lịch tự lái hoặc xe khách.

    Nếu đi xe khách thì có nhiều nhà xe từ TP. Hồ Chí Minh đi Châu Đốc như: Phương Trang, Huệ Nghĩa, Hùng Cường. V.v… Bạn chỉ cần gọi điện đặt vé và đến điểm đón của xe là được. Xe thường sẽ khởi hành ở bến xe miền Tây hoặc văn phòng của nhà xe. Đến Châu Đốc thì xe sẽ trả khách ở nhà xe hoặc Bến xe Châu Đốc (tùy hãng). Vé xe trung bình khoảng 150k/ vé.

    Nếu từ TP. Châu Đốc thì bạn đi theo đường Tân Lộ Kiều Lương cho đến khi gặp nhà khách Núi Sam thì rẽ phải, đi thẳng là tới.

    Xung quanh miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc có rất nhiều khách sạn nhà nghỉ giá rẻ và rất tiện để vào miếu Bà. Tuy nhiên vì rẻ và nhiều (đông người từ khắp nơi đến) nên cũng khá phức tạp. Do đó lời khuyên là nếu thuê phòng thì nên đặt phòng khách sạn có chất lượng, an toàn.

    Một số gợi ý cho bạn là:

    • Nhà khách Núi Sam. Địa chỉ: Quốc lộ 91, P. Núi Sam, Châu Đốc, An Giang
    • Khách Sạn Trâm Anh. Địa chỉ: Tân Lộ Kiều Lương, P. Núi Sam, Châu Đốc, An Giang
    • Khách Sạn Bến Đá Núi Sam. Địa chỉ: QUỐC LỘ 91, P. Núi Sam, Châu Đốc, An Giang

    Ngoài ra, một lựa chọn hay ho là bạn có thể thuê phòng khách sạn ở khu vực trung tâm thành phố Châu Đốc để có thể tiện kết hợp đi tham quan nhiều điểm khác. Mọi thứ cũng tiện nghi và bớt phức tạp hơn. Các khách sạn ở trung tâm Thành phố Châu Đốc thì có khách sạn Hải Châu, khách sạn Victoria Châu Đốc.

    • Khách sạn Hải Châu. Địa chỉ: 63 Sương Nguyệt Ánh, Châu Phú A, Châu Đốc, An Giang.
    • Khách sạn Victoria Châu Đốc. Địa chỉ: Sô 1 Lê Lợi, Tp. Châu Đốc, Châu Phú B.
    • Khách sạn Ngọc Phú. Địa chỉ: 25 Đống Đa, Châu Phú A, Châu Đốc, An Giang

    Về ăn uống thì có thể ăn ở các quán xung quanh miếu, đặc biệt là các gánh hàng rong ở cổng sau miếu. Các món ăn ở đây phổ biến có bún riêu, bún cá, bún mắm, mì, hủ tiếu. v.v…

    Ngoài ra cũng có các loại bánh bò và nhiều loại bánh khác với đủ màu sắc trông rất ngon mắt.

    Dọc đường để lên cổng trước của miếu thì bán rất nhiều đặc sản là các loại mắm, khô: mắm lóc xổ, mắm sặc, mắm linh, mắm lóc nhỏ, lóc khúc, mắm chốt, lóc phi lê… Trong đó mắm chốt 60.000đ/ kg, mắm lóc khúc thì 160.000/kg. mắm lóc nhỏ thì 80.000đ/ kg…

    Đi Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc khi nào?

    Tháng giêng – tháng 3 âm lịch, thời điểm sau Tết là khoảng thời gian lý tưởng để đi miếu Bà Châu Đốc. Hoặc từ ngày 23-27/4 âm lịch (lễ Vía Bà). Đây là những thời điểm thập phương về đây rất đông để làm lễ ở miếu Bà. Nếu bạn muốn đi với mục đích hành hương vào dịp lễ lớn thì chọn thời gian này.

    Nếu muốn chuyến đi của mình bớt đông đúc, thoải mái hơn, không bị kẹt xe, kẹt đường thì nên tránh đi vào thời điểm trên. Thời điểm này cũng là lúc dịch vụ phòng, vé xe đều đồng loạt tăng cao.

    Nếu đi hành hương thì nên đi đầu tuần và giữa tuần. Nếu đi để đi lễ miếu Bà Chúa Xứ và xin lộc, vay tiền Bà để làm ăn thì nên đi vào buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa lên. Theo lời người dân ở đây thì như vậy mới hiệu nghiệm.

    Nếu chỉ đi tham quan thì nên đi ban đêm để bớt đông và thoải mái hơn.

    Các lưu ý khi đi Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc

    • Lưu ý bảo quản tư trang cá nhân, các đồ quý giá, ví tiền.
    • Nên mua đồ lễ từ trước ở chợ, hoặc nếu đến đó mua thì mua tại các hàng/shop lớn xung quanh miếu.
    • Trên đường vào miếu, hạn chế mua hàng của những người bán dạo (tránh gặp phải các trường hợp bị lừa đảo lấy trộm ví tiền, tư trang…) Mặc dù không phải ai cũng lừa đảo nhưng nên tránh trước cho an toàn.
    • Không nên mang theo nhiều tiền mặt.
    • Nên mang giỏ xách phía trước người để tránh bị móc túi.
    • Không mua, thuê heo quay gần chùa vì giá ở đây sẽ rất mắc. Chưa kể có thể bạn sẽ mua phải heo đã cúng, được đem dùng lại.
    • Không nhận “lộc” từ người lạ dúi vào tay các bạn, vì họ sẽ đòi tiền bạn ngay sau đó
    • Không thả chim phóng sinh, vì những con chim ơ đây bị nhốt lâu ngày thường không thể bay nổi nữa.

    Các điểm tham quan gần Miếu Bà Chúa Xứ

    Khi đi miếu bà Chúa Xứ Châu Đốc xong thì bạn có thể đi thăm lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Tây An… bên cạnh. Ngoài ra bạn nên lên kế hoạch kết hợp tham quan những địa điểm gần miếu bà Chúa Xứ như Chợ Châu Đốc, làng nổi cá Bè Châu Đốc, Làng Chăm Đa Phước…

    Hạ Khương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam An Giang
  • Em Hãy Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử: “miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam”
  • Thuê Xe Du Lịch Đi Hành Hương Châu Đốc Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ
  • Du Lịch Châu Đốc Đến Thăm Miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Hang, Rừng Tràm Trà Sư Và Nhiều Địa Điểm Tuyệt Đẹp Nữa
  • Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×