Top 16 # Xem Nhiều Nhất Cúng Người Khuất Mặt / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Herodota.com

Cúng Dường Người Đã Khuất / 2023

Thực ra việc cúng 7 thất chỉ có ở một số quốc gia, như Trung Hoa, Việt Nam, chớ không phải ở toàn thể các nước theo Phật giáo. Tuy nhiên, chúng ta có thể duy trì những cuộc lễ nầy như những cơ hội tốt để người Phật tử làm mười điều tạo phước báu, nhứt là bố thí cúng dường, lợi ích cho mình, cho người hiện tiền và quá vãng.

Thường thì người còn sống tổ chức nấu nướng những món ăn, thức uống thịnh soạn để cúng người quá vãng, họ tin tưởng rằng người quá cố sẽ trở về thọ hưởng những vật thực họ cúng. Việc làm nầy như thế nào đứng trên quan điểm của Phật giáo? Chúng ta nên đọc lại trong kinh tạng, xem Ðức Phật dạy như thế nào. Kinh Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, III, 177, Phẩm Jànussoni có ghi lại cuộc đối thoại giữa Ðức Phật với Bà la môn Jànussoni cho biết không phải lúc nào sự cúng dường cũng đến được với người đã khuất.

Một lần nọ, Bà la môn Jànussoni đến bạch hỏi Ðức Thế Tôn. Ðại ý như sau:

– Bạch Tôn giả Gotama, chúng tôi là các Bà la môn chuyên làm các lễ cúng những người chết với mục đích mong rằng sẽ đem lại lợi ích cho người chết. Thưa Tôn giả Gotama, việc chúng tôi cúng người chết như vậy thật sự có lợi ích không ? Những người đã chết rồi có thọ hưởng được của bố thí cúng dường của thân nhân không ?

Ðức Phật trả lời:

– Nầy Bà la môn, nếu việc cúng dường người đã khuất đó có tương xứng xứ thì mới có lợi ích. Ngược lại nếu không có tương xứng xứ thì không có lợi ích cho người chết.

– Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là tương xứng xứ? Thế nào là không tương ứng xứ?

– Nầy Bà la môn, ai sống sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời vô ích, có tham ái, có sân, có tà kiến, sau khi mạng chung sanh vào địa ngục. Tại đây, y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của địa ngục. Cúng thức ăn của con người là không tương xứng xứ. Vị nầy không hưởng được lợi ích gì từ thức ăn của người thân thuộc cúng kiến.

Cũng vậy, Ðức Phật giảng giải thêm rằng một người do làm mười điều ác như trên, sau khi thân hoại mạng chung, người nầy sanh vào loài bàng sanh. Tại đây, y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của loài bàng sanh. Do đó, không tương xứng, khi thân quyến đem thức ăn của con người để cúng quải, sẽ không được lợi ích gì từ thức ăn của người thân cúng .

Với những người khi sống biết tu tập mười nghiệp lành: từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham ái, không sân hận, có chánh kiến, sau khi chết được tái sanh làm người, hoặc có phước báu hơn thì tái sanh làm chư Thiên, thì tại đấy, tùy theo là con người, hoặc là chư Thiên, họ có thức ăn riêng ở cảnh giới đó để nuôi sống họ. Cả 2 trường hợp nầy đều là không tương ứng xứ. Họ không  thọ hưởng sự bố thí, cúng dường của người thân còn hiện tiền.

Kế tiếp Ðức Phật cho biết: đối với người nào từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, có tham ái, có sân, có tà kiến, sau khi chết tái sanh vào cõi ngạ quỷ. Chỉ riêng một loài ngạ quỷ mới có thể thọ hưởng sự bố thí cúng dường thức ăn uống của bạn bè, bà con. Món ăn nào mà thân quyến hiến cúng cho ngạ quỷ thì họ sẽ hưởng được món đó. Ðây là trường hợp tương xứng duy nhứt.

Sau khi Ðức Phật giải thích như thế, Bà la môn Jànussoni tiếp tục hỏi: nếu bà con huyết thống đã chết ấy không sanh vào loài ngạ quỷ thời ai sẽ hưởng việc bố thí cúng dường đó ?

– Nầy Bà la môn, các bà con huyết thống khác đã chết nay đang ở cảnh giới ấy sẽ thọ hưởng.

Bà la môn Jànussoni lại hỏi tiếp:

– Thưa Tôn giả Gotama, nếu cả dòng họ bà con huyết thống của người cúng, không một ai tái sanh vào ngạ quỷ thời ai sẽ hưởng việc bố thí cúng dường ấy?

Ðức Phật trả lời:

– Không có trường hợp nầy, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài mà không có một ai trong huyết thống bị tái sanh vào đó. Nhưng nầy Bà la môn, người bố thí vẫn hưởng quả tốt.

Sau đó, Ðức Phật dạy thêm về phước báu của sự bố thí.

Ngài dạy rằng người nào trong đời sống tuy có sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham, có sân, có tà kiến, nhưng lại biết bố thí cho Sa môn, cho Bà la môn, các món ăn thức uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi mạng chung sẽ sanh vào loài voi, nhưng là con voi được ăn uống, chăm sóc và trang phục đầy đủ. Nếu sanh làm ngựa, bò hay các loài gia cầm khác thì vẫn thọ hưởng đầy đủ đồ ăn uống, được chăm sóc và đeo vòng hoa, đầy đủ đồ trang phục, tương xứng với phước duyên bố thí của họ khi còn làm người.

– Ðối với những người đầy đủ mười hạnh lành như từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ lời phù phiếm, từ bỏ tham ái, từ bỏ sân, có chánh kiến, lại còn biết trau dồi hạnh bố thí, cúng dường các Sa môn, Bà la môn các món ăn, thức uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Sau khi thân hoại mạng chung, người nầy sanh làm người, được hưởng năm dục công đức của loài người, hoặc được sanh làm chư Thiên và tại đấy được hưởng năm dục công đức của chư Thiên.

Cuối cùng Ðức Phật xác định người bố thí đương nhiên có kết quả, chứ không phải không có kết quả.

Tóm lại, bài kinh nầy cho chúng ta biết rằng chỉ có chúng sanh ở cõi ngạ quỷ, trong một giới hạn nào đó, mới có thể thọ hưởng những gì người sống bố thí cúng dường.

Trong kinh Singàlovàda Ðức Phật dạy người con phải làm tròn 5 bổn phận. Phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, làm công việc thay thế cha mẹ, gìn giữ truyền thống tốt đẹp của gia đình, tỏ ra xứng đáng thọ hưởng di sản của ông cha và điều cuối cùng là đặt bát cúng dường Tam bảo, hồi hướng phước báu đến những thân nhân quá vãng. Không phải chỉ tổ chức cúng dường hồi hướng phước trong tang lễ, mà còn phải tinh tấn tu tập, làm nhiều việc lành trong suốt cuộc sống, và trong những dịp giỗ, hoặc bất cứ khi nào thuận tiện cũng phải tạo cơ hội để làm nhiều phước sự và hồi hướng đến người đã mất.

Trong dân gian, do tập nhiễm những tục lệ lỗi thời lâu đời của Trung Hoa xưa, thay vì làm phước đúng theo pháp để hồi hướng cho người quá cố, người ta phung phí tiền bạc mua các loại vàng mã đốt cúng người chết. Ngày nay với kỹ thuật hiện đại người ta in những đồng dollars Mỹ, rất giống tiền thiệt, để cúng người chết, phải nhìn thật kỹ mới biết đó là tiền giả. Trên thế gian nầy tiền nước nào thì phải do ngân hàng chính phủ nước đó in ấn phát hành. Giấy bạc nào không do ngân hàng của nước đó phát hành thì xem như bất hợp pháp. Việc lưu hành và sử dụng tiền giả là một trọng tội. Giả sử ở cảnh giới mới, người thân của chúng ta sử dụng được tiền của chúng ta đốt cúng đó, thì có phải người thân quá vãng của chúng ta sẽ phạm tội của luật pháp nơi cõi đó hay không. Người ta cũng có thể làm được những nhà cửa, tivi, thẻ tín dụng, telephone, các vật dụng khác .v.v… trông như thật, thậm chí làm những hình người rất đẹp đốt cúng người chết xem như để cưới vợ cho con của mình đã chết. Giả sử người đã khuất sẽ nhận được một tivi, một chiếc xe hơi, telephone, hay các vật dụng khác .v.v…, tất cả đều là cái vỏ không có ruột, không có máy móc bên trong, không có nhiên liệu, không pin, không điện v.v… họ có thể sử dụng được hay không ? Hay là một người vợ bằng giấy, chỉ có da, không có lục phủ ngũ tạng, không có thần kinh, không máu .v.v…thì có lợi ích gì cho người chết hay không ?

Lại nữa thông thường người Việt chúng ta khi nghĩ đến người thân quá vãng, nhứt là lúc họ vừa mới qua đời, chúng ta chỉ nghĩ đến việc cúng dường thức ăn thôi. Làm sao nấu nướng và dọn lên bàn những thức ăn ngon, mâm cao cổ đầy để cúng người quá vãng, mà chúng ta không nghĩ đến phần tinh thần. Chúng sanh vừa cần đến đời sống vật chất mà cũng cần đến đời sống tinh thần. Chúng ta nên phân biệt về sự cúng tế của nhân gian và cách tạo phước để hồi hướng, phù hợp với lời dạy của Ðức Phật. Sự tạo phước của người Phật tử không thuần là lễ nghi. Lễ nghi chỉ làm đẹp, làm trang nghiêm, làm cho tâm chúng ta hoan hỷ thêm, nhưng điều cốt yếu là chúng ta tạo những phước lành. Ðức Phật dạy chúng ta những pháp mà khi thực hành chúng ta tạo ra những phước báu, để rồi chúng ta đem những phước báu đó hồi hướng cho người quá vãng. Ðó là mười phước nghiệp sự, tạo phước báu bằng: bố thí, trì giới, tu thiền, cung kính, phục vụ, thính pháp, thuyết pháp, hồi hướng phước, tùy hỷ phước, cải thiện tri kiến.

Trong việc tạo phước hồi hướng đến người quá vãng, từ ngàn xưa trong truyền thống Phật giáo, chúng ta thường quan trọng trong việc để bát, trai tăng. Chẳng hạn vua Bimbisàra nằm mộng thấy thân nhân bị khổ quả đói lạnh, vua đến bạch hỏi Thế Tôn. Ðức Ðiều Ngự bi mẫn chỉ dạy cách tạo phước hồi hướng các vong linh thoát ly mọi khổ ách, được sanh vào cõi chư Thiên. Hay là chẳng hạn, Tôn giả Sariputta gặp một ngạ quỷ thân mình trần truồng, hình dung xấu xí, gầy guộc và thân thể nổi gân, người yếu ớt, xương sườn lộ rõ, trong kiếp thứ năm về trước đã là mẹ của ngài Sariputta. Chồng của ngạ quỷ nầy trong kiếp đó là đại phú gia thường xuyên bố thí cúng dường thực phẩm, y phục, sàng tọa, nhiều vật dụng đến người nghèo, du sĩ, lữ khách, hành khất và nhất là các Sa môn, Bà la môn. Vị đại phú gia nầy dặn vợ mỗi khi ông vắng nhà, bà nên bố thí, cúng dường rộng rãi như vậy. Mặc dầu bà đã hứa với chồng, bà sẽ giúp đỡ, bố thí rộng rãi như lời ông căn dặn, nhưng khi ông đại phú gia đi vắng thì bà cắt giảm tục lệ cúng dường chư Tăng. Ðối với các khách lỡ đường đến xin tạm trú, bà chỉ cho ở túp lều xiêu vẹo bị bỏ phế sau nhà. Khi đám du sĩ đến xin thực phẩm nước uống và các thức ăn khác, bà thường buông lời nguyền rủa như: hãy ăn phân đi! Hãy uống nước tiểu đi! Hãy uống máu đi! Hãy ăn óc của mẹ ngươi đi! Do ác hạnh nầy, sau khi từ trần bà tái sanh làm nữ ngạ quỷ có thân hình đáng ghê như trên. Nữ ngạ quỷ nầy than với tôn giả Sariputta, do ác nghiệp đã tạo, nữ ngạ quỷ phải ăn hoặc uống những thứ gì từ sự nôn tháo, bọt mồm, nước mũi, nước đờm dãi, chất mỡ rỉ ra từ xác chết bị thiêu, máu sản phụ lâm bồn, máu mủ của các loài thú và máu của người nam người nữ. Ngạ quỷ phải ăn tất cả những gì cấu uế khác trong người nam và người nữ, mặc dầu vậy vẫn đói khát vô cùng. Lại nữa, không nơi cư trú, không nhà cửa, chỗ nằm là chiếc giường đen ở nghĩa địa.

Nữ ngạ quỷ thỉnh cầu tôn giả cúng dường chư Tăng, tạo phước bố thí hồi hướng để từ đó ngạ quỷ giải thoát khỏi cảnh khổ phải ăn uống dơ bẩn, và đày đọa như vậy. Hôm sau, tôn giả Sariputta, cùng với tôn giả Moggallanà (Mục Kiền Liên), Anurudha (A na luật đà), và Kappina (Kiếp tân na) đến gặp vua Bimbisàra (Tần bà sa). Tôn giả Mục Kiền Liên trình bày những việc xảy ra về nữ ngạ quỷ nầy. Nghe xong, sau đó vua cho xây 4 am thất, có đủ bóng mát và nước. Sau khi am thất được hoàn tất, nhà vua đem chúng cùng các vật dụng cần thiết trong cuộc sống cúng dường tôn giả Sàriputta. Tôn giả nhận xong, đem dâng đến tất cả chư Tăng có Ðức Phật làm thượng thủ, và hồi hướng phước đến nữ ngạ quỷ nhờ vậy nữ ngạ quỷ liền tái sanh lên thiên giới thân hình đẹp đẽ, có đầy đủ thức uống, thức ăn, lẫn áo quần. (xem chú giải Ngạ Quỷ Sự, Chương II, chuyện ngạ quỷ Mẹ Xá Lợi Phất)

Một số người chỉ lo tạo chùa to tượng lớn, nhưng lãng quên, hoặc xem nhẹ việc đào tạo tăng tài và làm sao duy trì Tăng đoàn.Vận mạng Phật giáo không nằm ở chùa to, Phật lớn, những cái nầy rất cần nhưng vẫn là việc phụ. Phật Pháp tồn tại và hưng thạnh nằm ở đạo cao đức trọng của tập thể chư Tăng. Tăng tài có thể tạo ra chùa lớn và gìn giữ giáo pháp lâu dài. Chớ chùa lớn không tạo ra chư Tăng. Việc bố thí cúng dường cho tập thể quan trọng hơn cá nhân. Nếu không có sự cúng dường của thiện tín thì chư Tăng Ni phải lo cái ăn mặc …không có thì giờ, không thể an tâm tu tập, học pháp, hành pháp, hoằng pháp. Từ đó không có người gìn giữ giáo pháp và hoằng pháp, Phật Pháp sẽ mai một, suy đồi. Một khi nền tảng đạo đức suy đồi thì người làm ác sẽ gia tăng, xã hội sẽ bất ổn. Lúc đó chúng sanh sẽ sống bất an, đau khổ gia tăng. Do vậy, một chén cơm, một bộ y, một trú xứ thích hợp, một viên thuốc mà người thiện tín cúng dường đến Tăng già có ý nghĩa bảo vệ Phật Pháp, bảo vệ an ninh cho mọi người. Thế thì, việc cúng dường trai tăng quả là có phước báu vô lượng, đem lại an vui cho mình, cho người, cho muôn loài. Việc bố thí cúng dường quan trọng không phải ở số lượng lễ vật nhiều và sang trọng mà cốt yếu ở tấm lòng. Tấm lòng vì mình, vì người, vì an vui của muôn loài. Vật thí phải hợp đạo tức là không do sự trộm cắp, không do tà mạng. Một vật thí hợp đạo đó nếu được xuất ra với tấm lòng, đó là một hành động sống vị tha.

Sống vị tha là sự vĩ đại. Một người biết mở lòng mình ra bao trùm đến tha nhân thì tâm của họ không chật hẹp, tù túng. Một đại nhân là người sống bằng cái tâm bao trùm đại thể, sống biết mình mà cũng biết người. Người như vậy thì tâm của họ rất nhẹ nhàng, rất an vui, đây là nguồn phước báu vô vàn. Trái lại, một người sống chỉ biết mình thôi thì có thể còn tệ hơn loài bàng sanh. Một người sống bằng tâm trạng ích kỷ hẹp hòi, không biết tùy hỷ với việc tốt của người thì khi chết rất khó nhận được phước báu của người khác hồi hướng cho mình. Bởi vậy biết bố thí, cúng dường, san sẻ cho kẻ khác là phước báu lớn lao. Chúng ta tổ chức một buổi lễ trai tăng trang nghiêm đó là lễ cúng dường rất tốt. Những khi khác không có chư Tăng, chúng ta nên san sẻ những gì chúng ta có cho một người nghèo đói đang thực sự cần những thứ đó, đấy là việc làm đặc biệt quý báu. Thậm chí thực phẩm mình cho chim hay những con vật khác ăn cũng là một điều chúng ta nên làm và làm thường xuyên để hồi hướng cho người đã khuất.

Một nếp sống đạo đức, có giới hạnh là một hạnh phúc cho chính mình mà cũng là một niềm an lành cho xã hội, cho chúng sanh, một phước báu lớn, nếu được hồi hướng là điều vô cùng thanh cao và lợi ích. Hành thiền, giữ chánh niệm tỉnh giác là phước báu cũng rất lớn. Trong đời sống, biết cung kính quý trọng, biết phục vụ tha nhân là phước báu quan trọng có thể hồi hướng được. Thấy người khác được hoan hỷ, chúng ta tùy hỷ với họ cũng là một phước báu vô lượng. Người mà biết tùy hỷ với người khác thì sau nầy người khác hồi hướng cho mình, mình mới có khả năng nhận được phước hồi hướng. Bây giờ nếu mình không tùy hỷ với người khác, sau nầy khi có ai hồi hướng cho mình, mình không khả năng nhận được, vì mình đã không biết tùy hỷ. Nghe Pháp, nói Pháp, giúp người khác những ý kiến đem lại hạnh phúc chân thật và lâu dài, hoặc giả một khóa lễ tụng kinh cho mình và người khác nghe và cho phi nhân nghe để sống hợp với Pháp và cải thiện tri kiến là những phước báu khác cũng vô cùng cần thiết để hồi hướng cho người quá vãng. Chúng ta có thể làm, làm hoài vì lợi ích cho chính mình và cho người hiện tiền lẫn người quá vãng. Làm phước hoài mà không bao giờ thấy đủ và khi làm xong chúng ta hồi hướng đến tất cả. Một ngọn nến nếu được mồi cho ngọn nến khác, ngọn lửa nơi ngọn nến ban đầu vẫn còn sáng, nhưng thêm ngọn lửa nơi ngọn nến thứ hai sẽ làm ánh sáng trong phòng tăng thêm. Nếu mồi cho nhiều ngọn nến nữa thì không những ngọn lửa ban đầu vẫn còn, mà bây giờ càng có thêm nhiều ngọn nến cháy thì ánh sáng nơi đó sẽ càng tăng thêm nữa. Việc hồi hướng cũng như việc mồi lửa cho nhiều ngọn nến khác, nó giúp cho thiện tâm được phát triển, phước báu được tăng trưởng nơi người. Ðó là những việc làm hợp với Pháp, hợp lẽ đạo.

Một người muốn trị lành bệnh cho người khác, trước hết phải học về y khoa để có khả năng trị bệnh. Một người muốn cứu kẻ khác sắp chết đuối, người ấy phải biết bơi, hoặc phải có các phương tiện thích nghi chẳng hạn ghe thuyền, phao …Muốn cúng dường người đã khuất và muốn sự cúng dường đó có thể đến được với người đã khuất thì tối thiểu phải có những phẩm vật tương xứng. Phẩm vật đó nên là những phước báu do sự huân tu, làm các thiện sự, nhứt là việc làm phước đến tăng già. Bởi vì chư Tăng “là phước điền vô thượng trong đời”, nếu gieo giống vào “ruộng phước” phì nhiêu đó đương nhiên sẽ có lợi ích lớn, quả lớn.

Sau khi chúng ta làm được những điều phước, chúng ta nên đem hồi hướng cho những người thân trong kiếp nầy, mà hơn thế nữa cũng hồi hướng đến tất cả thân bằng quyến thuộc từ nhiều đời nhiều kiếp đến kiếp hiện tại nầy. Ðó là những lễ vật cúng dường có lợi ích, hợp đạo, sẽ thành tựu đến người quá vãng.

Bài Cúng Giỗ Người Đã Khuất Như Thế Nào? / 2023

10:19 sáng | 26 Tháng Mười Một, 2019

Giỗ là nghi thức theo phong tục tập quán của người Việt Nam nhằm tưởng nhớ những người đã khuất. Ngày giỗ được tổ chức đúng ngày mất theo ngày âm lịch của người được thờ cúng. Ý nghĩa của ngày giỗ là để con cháu nhớ về những người đã đi trước; gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, đôi khi lại trong cùng nghề.

Xem thêm: Mâm cơm cúng giỗ gồm những gì? 3 miền Bắc – Trung – Nam

Hãy cùng Gốm Sứ Bảo Lộc tìm kiểu về ngày giỗ và bài văn khấp cúng giỗ nào đúng chuẩn nhé!

Ý nghĩa của ngày cúng giỗ trong gia đình Việt

Cúng giỗ là lễ kỷ niệm ngày mà người mất qua đời, mang lại ý nghĩa quan trọng của người Việt, ngày làm cúng giỗ được tính theo âm lịch. Ngày cúng giỗ là ngày để thể hiện lòng thủy chung, thương xót của người còn sống đối với người đã khuất, thể hiện đạo lý với tổ tiên.

Nhà giàu thì làm đám giỗ linh đình, mời hết người thân trong dòng họ, bạn bè gần xa, anh bằng hữu về dự đám giỗ. Còn nhà nghèo thì chỉ cần lưng cơm, đĩa muối, quả trứng, ba nén hương, một đôi nến và vài món ăn giản dị để cúng cũng là đã có lòng thành kính với người đã khuất.

Lòng thủy chung, thương xót với người đã khuất chỉ phụ thuộc vào việc con cháu phải nhớ ngày của người mất để làm đám giỗ, không quan trọng hóa việc làm giỗ lớn hay nhỏ.

Thân bằng, cố hữu của người đã khuất nếu vẫn còn lưu luyến thì đến dự đám giỗ theo ngày đã được định sẵn từ trước, không cần phải chờ có thiệp mời đến dự như tiệc cưới, lễ mừng, không nên có tư tưởng ” hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo“, câu này có nghĩa là ” Mời thì đến, không mời thì thôi “.

Cách khấn trong ngày lễ cúng giỗ:

Sau đây là cách khấn khi đọc bài cúng giỗ theo vai vế trong gia đình mà bạn nên biết:

Nếu bố đã mất thì phải khấn Hiển khảo;

Nếu mẹ đã mất thì phải khấn Hiển tỷ;

Nếu ông đã mất thì phải khấn Tổ khảo;

Nếu bà đã mất thì phải khấn Tổ tỷ;

Nếu cụ ông đã mất thì phải khấn Tằng Tổ khảo;

Nếu cụ bà đã mất thì phải khấn Tằng Tổ tỷ;

Nếu anh hoặc em trai đã mất thì phải khấn Thệ huynh, Thệ đệ;

Nếu chị hoặc em gái đã mất thì phải khấn Thệ tỵ, Thệ muội;

Nếu cô, dì, thím, mợ, chú, bác, cậu đã mất thì phải khấn Bá thúc, cô dì, tỷ muội;

Có thể khấn chung Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ đối với nội ngoại gia tiên.

Những hoạt động chính trong buổi lễ cúng giỗ

Sau khi làm lễ và đọc bài cúng giỗ xong, gia đình thường dọn thức ăn vừa cúng xong để mọi người cùng ăn, coi như là hưởng lộc của tiền nhân. Bạn bè thân thuộc cũng có thể được mời đến để dùng bữa, có nghĩa là đi ăn đám giỗ.

Một biến thể khác của cúng giỗ chính là tục thờ ” hậu ” do nhà chùa hay đình làng đảm nhiệm. Trong trường hợp này thì người quá cố đã cúng tiền hay ruộng vào chùa hay đình làng để được hưởng lễ vật trong những ngày kỵ nhật.

Trước khi hạ xuống, chủ nhà vái 3 vái ngắn (còn được gọi là lễ tạ). Phải làm như vậy để tạ ơn gia tiên đã về thừa hưởng những lễ vật mà con cháu đã dâng lên cho người đã khuất.

Dịp này là để con cháu trong dòng họ tề tựu lại về cùng ăn đám giỗ, thăm hỏi tình hình lẫn nhau trong nội bộ dòng họ. Ngày Cát Kỵ thường mời khách là những người chỉ nằm trong gia đình, dòng tộc đến ăn giỗ (không rộng như Tiểu Tường và Đại Tường).

Gia chủ phải ăn mặc khăn áo chỉnh tề, bước vào để đọc bài cúng giỗ khấn tổ tiên. Khách đến dự đám giỗ thì đặt đồ lễ lên bàn thờ, cùng với gia chủ vái 4 lạy 3 vái. Sau khi gia chủ, khách mới và bạn bè thân hữu khấn lễ xong, đợi hết ba tuần hương nữa thì gia chủ đứng trước bàn thờ để lễ tạ bằng ba vái ngắn rồi đem đi đốt vàng mã.

Cuối cùng, gia chủ bày bàn để mời khách cùng ăn giỗ, để ôn lại những kỷ niệm xưa về người đã mất, đồng thời hỏi thăm sức khỏe và công việc lẫn nhau. Sau khi ăn đám giỗ xong, gia chủ hạ tất cả các lễ vật được bày trên bàn thờ, chia đều mỗi túi một hay nhiều thứ cho từng gia đình dự đám giỗ gọi là lộc của tổ tiên, lễ vật được tặng bao gồm hoa quả, bánh kẹo,….

Những ngày quan trọng trong ngày lễ cúng giỗ:

Trong việc thờ cúng tổ tiên, có ba ngày giỗ quan trọng là: Giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường.

Theo phong tục tập quán, dân ta thường lấy ngày giỗ (ngày qua đời của người đã mất) làm trọng tâm, nên vào ngày đó, ngoài việc đi thăm mộ, tùy gia cảnh và vị trí của người đã khuất mà thực hiện cúng giỗ.

Đây cũng là dịp để gặp mặt những người thân trong gia đình dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn công việc người còn sống để giữ gìn gia phong.

Vào dịp đó, người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là đi ăn đám giỗ, là trước cúng sau ăn, và cũng là để cho cuộc gặp mặt thêm phần đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp gia đình, cùng nhau kể chuyện tâm tình và chuyện làm ăn. Điều quan trọng nhất với ngày cúng giỗ chính là mang ý nghĩa ” Uống nước nhớ nguồn “, việc đó còn có thể được xếp vào loại thuần phong mỹ tục.

Bài cúng giỗ thông thường

Sau đây là bài cùng giỗ thông thường dành cho mọi gia đình Việt.

Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần QuânCon kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ nàyCon kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ: Xưng họ của bạn.Tín chủ con là: Xưng đầy đủ họ tên và tuổi.Ngụ tại: Đọc nơi bạn đang sốngHôm nay là ngày/tháng/năm (âm lịch)Chính là ngày giỗ của người được cúng giỗNăm qua tháng lại vừa ngày húy lâm, Ơn võng cực xem bằng trời biển. Nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ chúng con và toàn gia con cháu. Nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng đốt nén nhang hương dãi tỏ tấc thành.Thành khẩn kính mời: Họ tên người được cũng giỗMất ngày/tháng/năm (âm lịch)Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng thịnh vượng.Xin mời các vị Tổ tiên, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Cô Di và toàn thể các hương kinh gia tiên đồng lai hâm hưởng.Xin mời vong linh các vị Tiền Chủ, Hậu chủ trong đất này với tâm hưởng.Chúng con với lễ bạc lòng thành xin cúi đầu được phụ trì,Phục duy cẩn cáo.Nam mô A di đà phật! (3 lần)

Bài cúng theo văn khấn ba ngày sau khi mất

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.Con kính lạy ngài Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân.Con kính lạy chư vị gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ.Hôm nay là ngày …………….. tháng …………… năm …………………Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là …………………………………. vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.Nay nhân ngày lễ Tế Ngu theo nghi lễ cổ truyền, Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.Trước linh vị của: Hiển …………………………………… chân linh.Xin kính cẩn trình thưa rằng.Than ôi! Trên tòa Nam cực, lác đác sao thưa; (nếu khóc cha hoặc đổi là Bắc cực nếu khóc mẹ).Trước chốn Giao trì, tờ mờ mây khóa.Cơ tạo hóa làm chi ngang ngửa thế, bóng khích câu, khen khéo trêu người.Chữ cương thường nghĩ lại ngậm ngùi thay, tình hiếu dễ chưa yên thỏa dạ.Ơn nuôi nấng áo dày cơm nặng, biển trời khôn xiết biết công lao;Nghĩ sớm hôm ấp lạnh quạt nồng, tơ tóc những hiềm chưa báo quả;Ngờ đâu! Nhà Thung (nếu là cha hoặc Nhà Huyên nếu là mẹ) khuất núi, trời mây cách trở muôn trùng;Chồi Tử mờ sương, âm dương xa vời đôi ngả.Trông xe hạc lờ mờ ẩn bóng, cám cảnh cuộc phù sinh chưa mấy, gót tiên du đã lánh cõi trần ai.Rồi khúc tằm áy náy trong lòng, thương thay hồn bất tử về đâu, cửa Phật độ biết nhờ ai hiện hóa.Suối vàng thăm thẳm, sáng phụ thân (hoặc mẫu thân) một mình lìa khơi,Giọt ngọc đầm đìa, đàn con cháu, hai hàng lã chã.Lễ Sơ Ngu (hoặc Tái Ngu, Tam Ngu) theo tục cổ, trình bày:Nhà đơn bạc, biết lấy gì để dóng dả.Đành đã biết: đất nghĩa trời kinh, nào chỉ ba tuần nghi tiết, đủ lễ báo đền.Cũng gọi là: lưng cơm chén nước, họa may chín suối anh linh, được về yên thỏa.Ôi! Thương ôi!Chúng con lễ bạc tâm thành, thành tâm kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Bài văn khấn cúng lễ 49 ngày và 100 ngày sau khi mất

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Hôm nay là ngày ……….. tháng ………….. năm ……………….. âm lịch tức ngày ………… tháng ………… năm ………… dương lịch.Tại (địa chỉ): ………………………………………Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là: ……………………………….. vâng theo lệch của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái, dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, con kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm: ……………………………………………..Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.Trước linh vị của Hiển: ……………………………… chân linh.Xin kính cẩn trình thưa rằng:Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha) Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế (Nếu là mẹ)Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.Sống thời lai lai láng láng, hởn hở chừng nào!Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần.Lễ bạc tâm thành gọi là có nén hương kính tế.Xin mời: Hiển ………………………………………Hiển …………………………………………………Hiển …………………………………………………Cùng các vị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô, và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.Kính cáo: Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Cúng giỗ là nghi thức rất đáng trân trọng và cần được giữ gìn trong văn hóa của người Việt. Hi vọng qua bài viết cúng giỗ này, sẽ giúp bạn đã biết được bài cúng giỗ người đã khuất như thế nào và chuẩn bị cho một buổi lễ cúng giỗ đúng chuẩn.

Bài Văn Khấn Cúng Giỗ Người Đã Khuất Như Thế Nào? / 2023

Giỗ là nghi thức theo phong tục tập quán của người Việt Nam nhằm tưởng nhớ những người đã khuất. Ngày giỗ được tổ chức đúng ngày mất theo ngày âm lịch của người được thờ cúng. Ý nghĩa của ngày giỗ là để con cháu nhớ về những người đã đi trước; gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, đôi khi lại trong cùng nghề.

Hãy cùng tìm kiểu về ngày giỗ và bài văn khấp cúng giỗ nào đúng chuẩn nhé!

Ý nghĩa của ngày cúng giỗ trong gia đình Việt

Cúng giỗ là lễ kỷ niệm ngày mà người mất qua đời, mang lại ý nghĩa quan trọng của người Việt, ngày làm cúng giỗ được tính theo âm lịch. Ngày cúng giỗ là ngày để thể hiện lòng thủy chung, thương xót của người còn sống đối với người đã khuất, thể hiện đạo lý với tổ tiên.

Nhà giàu thì làm đám giỗ linh đình, mời hết người thân trong dòng họ, bạn bè gần xa, anh bằng hữu về dự đám giỗ. Còn nhà nghèo thì chỉ cần lưng cơm, đĩa muối, quả trứng, ba nén hương, một đôi nến và vài món ăn giản dị để cúng cũng là đã có lòng thành kính với người đã khuất.

Lòng thủy chung, thương xót với người đã khuất chỉ phụ thuộc vào việc con cháu phải nhớ ngày của người mất để làm đám giỗ, không quan trọng hóa việc làm giỗ lớn hay nhỏ.

Thân bằng, cố hữu của người đã khuất nếu vẫn còn lưu luyến thì đến dự đám giỗ theo ngày đã được định sẵn từ trước, không cần phải chờ có thiệp mời đến dự như tiệc cưới, lễ mừng, không nên có tư tưởng “hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo”, câu này có nghĩa là “Mời thì đến, không mời thì thôi”.

Cách khấn trong ngày lễ cúng giỗ:

Sau đây là cách khấn khi đọc bài cúng giỗ theo vai vế trong gia đình mà bạn nên biết:

Nếu bố đã mất thì phải khấn Hiển khảo;

Nếu mẹ đã mất thì phải khấn Hiển tỷ;

Nếu ông đã mất thì phải khấn Tổ khảo;

Nếu bà đã mất thì phải khấn Tổ tỷ;

Nếu cụ ông đã mất thì phải khấn Tằng Tổ khảo;

Nếu cụ bà đã mất thì phải khấn Tằng Tổ tỷ;

Nếu anh hoặc em trai đã mất thì phải khấn Thệ huynh, Thệ đệ;

Nếu chị hoặc em gái đã mất thì phải khấn Thệ tỵ, Thệ muội;

Nếu cô, dì, thím, mợ, chú, bác, cậu đã mất thì phải khấn Bá thúc, cô dì, tỷ muội;

Có thể khấn chung Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ đối với nội ngoại gia tiên.

Những hoạt động chính trong buổi lễ cúng giỗ

Sau khi làm lễ và đọc bài cúng giỗ xong, gia đình thường dọn thức ăn vừa cúng xong để mọi người cùng ăn, coi như là hưởng lộc của tiền nhân. Bạn bè thân thuộc cũng có thể được mời đến để dùng bữa, có nghĩa là đi ăn đám giỗ.

Một biến thể khác của cúng giỗ chính là tục thờ “hậu” do nhà chùa hay đình làng đảm nhiệm. Trong trường hợp này thì người quá cố đã cúng tiền hay ruộng vào chùa hay đình làng để được hưởng lễ vật trong những ngày kỵ nhật.

Trước khi hạ xuống, chủ nhà vái 3 vái ngắn (còn được gọi là lễ tạ). Phải làm như vậy để tạ ơn gia tiên đã về thừa hưởng những lễ vật mà con cháu đã dâng lên cho người đã khuất.

Dịp này là để con cháu trong dòng họ tề tựu lại về cùng ăn đám giỗ, thăm hỏi tình hình lẫn nhau trong nội bộ dòng họ. Ngày Cát Kỵ thường mời khách là những người chỉ nằm trong gia đình, dòng tộc đến ăn giỗ (không rộng như Tiểu Tường và Đại Tường).

Gia chủ phải ăn mặc khăn áo chỉnh tề, bước vào để đọc bài cúng giỗ khấn tổ tiên. Khách đến dự đám giỗ thì đặt đồ lễ lên bàn thờ, cùng với gia chủ vái 4 lạy 3 vái. Sau khi gia chủ, khách mới và bạn bè thân hữu khấn lễ xong, đợi hết ba tuần hương nữa thì gia chủ đứng trước bàn thờ để lễ tạ bằng ba vái ngắn rồi đem đi đốt vàng mã.

Cuối cùng, gia chủ bày bàn để mời khách cùng ăn giỗ, để ôn lại những kỷ niệm xưa về người đã mất, đồng thời hỏi thăm sức khỏe và công việc lẫn nhau. Sau khi ăn đám giỗ xong, gia chủ hạ tất cả các lễ vật được bày trên bàn thờ, chia đều mỗi túi một hay nhiều thứ cho từng gia đình dự đám giỗ gọi là lộc của tổ tiên, lễ vật được tặng bao gồm hoa quả, bánh kẹo,….

Những ngày quan trọng trong ngày lễ cúng giỗ:

Trong việc thờ cúng tổ tiên, có ba ngày giỗ quan trọng là: Giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường.

Theo phong tục tập quán, dân ta thường lấy ngày giỗ (ngày qua đời của người đã mất) làm trọng tâm, nên vào ngày đó, ngoài việc đi thăm mộ, tùy gia cảnh và vị trí của người đã khuất mà thực hiện cúng giỗ.

Đây cũng là dịp để gặp mặt những người thân trong gia đình dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn công việc người còn sống để giữ gìn gia phong.

Vào dịp đó, người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là đi ăn đám giỗ, là trước cúng sau ăn, và cũng là để cho cuộc gặp mặt thêm phần đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp gia đình, cùng nhau kể chuyện tâm tình và chuyện làm ăn. Điều quan trọng nhất với ngày cúng giỗ chính là mang ý nghĩa “Uống nước nhớ nguồn”, việc đó còn có thể được xếp vào loại thuần phong mỹ tục.

Bài cúng giỗ thông thường

Sau đây là bài cùng giỗ thông thường dành cho mọi gia đình Việt.

Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này

Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ: Xưng họ của bạn.

Tín chủ con là: Xưng đầy đủ họ tên và tuổi.

Ngụ tại: Đọc nơi bạn đang sống

Hôm nay là ngày/tháng/năm (âm lịch)

Chính là ngày giỗ của người được cúng giỗ

Năm qua tháng lại vừa ngày húy lâm, Ơn võng cực xem bằng trời biển. Nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ chúng con và toàn gia con cháu. Nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng đốt nén nhang hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời: Họ tên người được cũng giỗ

Mất ngày/tháng/năm (âm lịch)

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng thịnh vượng.

Xin mời các vị Tổ tiên, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Cô Di và toàn thể các hương kinh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Xin mời vong linh các vị Tiền Chủ, Hậu chủ trong đất này với tâm hưởng.

Chúng con với lễ bạc lòng thành xin cúi đầu được phụ trì,

Phục duy cẩn cáo.

Nam mô A di đà phật! (3 lần)

Bài cúng theo văn khấn ba ngày sau khi mất

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

Con kính lạy ngài Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân.

Con kính lạy chư vị gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ.

Hôm nay là ngày …………….. tháng …………… năm …………………

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là …………………………………. vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ Tế Ngu theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển …………………………………… chân linh.

Xin kính cẩn trình thưa rằng.

Than ôi! Trên tòa Nam cực, lác đác sao thưa; (nếu khóc cha hoặc đổi là Bắc cực nếu khóc mẹ).

Trước chốn Giao trì, tờ mờ mây khóa.

Cơ tạo hóa làm chi ngang ngửa thế, bóng khích câu, khen khéo trêu người.

Chữ cương thường nghĩ lại ngậm ngùi thay, tình hiếu dễ chưa yên thỏa dạ.

Ơn nuôi nấng áo dày cơm nặng, biển trời khôn xiết biết công lao;

Nghĩ sớm hôm ấp lạnh quạt nồng, tơ tóc những hiềm chưa báo quả;

Ngờ đâu! Nhà Thung (nếu là cha hoặc Nhà Huyên nếu là mẹ) khuất núi, trời mây cách trở muôn trùng;

Chồi Tử mờ sương, âm dương xa vời đôi ngả.

Trông xe hạc lờ mờ ẩn bóng, cám cảnh cuộc phù sinh chưa mấy, gót tiên du đã lánh cõi trần ai.

Rồi khúc tằm áy náy trong lòng, thương thay hồn bất tử về đâu, cửa Phật độ biết nhờ ai hiện hóa.

Suối vàng thăm thẳm, sáng phụ thân (hoặc mẫu thân) một mình lìa khơi,

Giọt ngọc đầm đìa, đàn con cháu, hai hàng lã chã.

Lễ Sơ Ngu (hoặc Tái Ngu, Tam Ngu) theo tục cổ, trình bày:

Nhà đơn bạc, biết lấy gì để dóng dả.

Đành đã biết: đất nghĩa trời kinh, nào chỉ ba tuần nghi tiết, đủ lễ báo đền.

Cũng gọi là: lưng cơm chén nước, họa may chín suối anh linh, được về yên thỏa.

Ôi! Thương ôi!

Chúng con lễ bạc tâm thành, thành tâm kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Kính cáo!

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Bài văn khấn cúng lễ 49 ngày và 100 ngày sau khi mất

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con lạy chín Phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Hôm nay là ngày ……….. tháng ………….. năm ……………….. âm lịch tức ngày ………… tháng ………… năm ………… dương lịch.

Tại (địa chỉ): ………………………………………

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là: ……………………………….. vâng theo lệch của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái, dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, con kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm: ……………………………………………..

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của Hiển: ……………………………… chân linh.

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha) Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế (Nếu là mẹ)

Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;

Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.

Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;

Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.

Sống thời lai lai láng láng, hởn hở chừng nào!

Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!

Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần.

Lễ bạc tâm thành gọi là có nén hương kính tế.

Xin mời: Hiển ………………………………………

Hiển …………………………………………………

Hiển …………………………………………………

Cùng các vị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô, và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Cúng giỗ là nghi thức rất đáng trân trọng và cần được giữ gìn trong văn hóa của người Việt. Hi vọng qua bài viết cúng giỗ này, sẽ giúp bạn đã biết được bài cúng giỗ người đã khuất như thế nào và chuẩn bị cho một buổi lễ cúng giỗ đúng chuẩn.

Cúng 49 Ngày Cho Người Đã Khuất Và Những Điều Cần Biết / 2023

Đã từ rất lâu, người Việt Nam luôn thực hiện tục lệ cúng tế người đã khuất sau khi họ qua đời được 49 ngày. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu rõ về tục lệ này, tại sao phải thực hiện giỗ 49 ngày, ý nghĩa của việc cúng thất và những gì cần chuẩn bị. Tháp Long Thọ sẽ chia sẻ đến bạn đọc những thông tin thú vị tại bài viết sau đây.

Tương truyền theo thuyết của Phật giáo, người đã chết sau khi trút hơi thở cuối cùng, hồn sẽ lìa khỏi xác. Lúc này, âm hồn của họ phải đi qua một điện lớn ở âm ty, trải qua 7 lần phán xét, mỗi lần kéo dài 7 ngày thành 49 ngày. Sau 7 tuần tùy theo nghiệp báo lúc còn sống mà tái sinh vào cảnh giới tương ứng.

Nếu đương thời làm việc thiện, sống tu tâm dưỡng đức, ắt sẽ được họa sanh vào cảnh lành. Ngược lại đương thời còn sống chỉ làm điều ác thì họa sanh vào cảnh khổ. Đạo lý của Phật giáo luôn cho rằng nhân quả luân hồi, những gì mỗi người nhận được ở kiếp này là dựa vào phước phần của kiếp trước. Ngoại trừ những bậc đại giác như Đức Phật, Bồ Tát,…đã sớm giác ngộ, thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi thì thế giới còn có những cảnh giới khác tính từ dưới lên trên sẽ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, nhân và thiên.

Như vậy trong vòng 49 ngày, âm hồn sẽ phải trải qua thời gian “phán xét” để quyết định việc tái sinh vào cảnh giới nào. Lễ cúng 49 ngày “ra đời” như một cột mốc quan trọng của người chết.

Tục lệ này còn có tên gọi khác là chung thất, là tín ngưỡng để tang của người Việt và là nghi lễ quan trọng không chỉ đối với người còn sống mà còn đối với người đã mất.

Đối với những âm hồn sau 49 ngày đã được phán quyết vãng sanh vào cảnh giới nào thì nghi lễ này như một buổi lễ thể hiện sự tưởng nhớ, tôn kính của người còn sống dành cho họ.

Tuy nhiên đối với những âm hồn vẫn chưa được quyết định họa sanh vào cõi giới nào, việc cúng chung thất nhằm để tạo phước đức, hướng âm hồn người chết nghĩ đến điều thiện, điều tốt lành. Ngoài ra, gia đình thân quyến người đã mất còn mong muốn dựa vào sức chú niệm của chư tăng ni mà giúp âm hồn người chết sớm được vãng sanh vào cảnh lành.

Do vậy, giỗ 49 ngày vô cùng quan trọng. Thân quyến của người quá vãng phải tổ chức ngày cúng tế nghiêm trang, thành tâm và tránh phạm phải những điều cấm kị.

Người đã chết sau khi hỏa táng hoặc chôn cất sẽ trải qua giai đoạn trung gian, thọ thân trung ấm trong vòng 49 ngày. Âm hồn của họ trong thời gian này vẫn có thể hưởng được những vật phẩm mà thân nhân cúng nhưng chỉ hưởng được mùi vị của thức ăn. Cho nên trong thời gian cúng 49 ngày, gia đình thân quyến cần chuẩn bị kĩ càng, chỉn chu để người đã mất được ăn no, đủ đầy trước khi vãng sanh vào cảnh giới tương ứng với nghiệp báo của họ.

Mâm cơm cúng

Hoa, bánh kẹo, trái cây.

Nhang đèn.

Tiền, vàng từ 15 sấp trở lên

Quần, áo từ 2 đến 3 bộ cho người đã khuất.

Bài văn cúng tế.

Ngoài những lễ vật cần chuẩn bị đã nêu trên, trong thời gian diễn ra buổi lễ gia đình thân quyến cần phải đọc bài văn cúng tế để cầu siêu cho người quá vãng. Hoặc trong những ngày cúng tuần thất quan trọng, thân nhân có thể đến chùa thỉnh Chư Tăng về để cúng cầu siêu.

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

Hôm nay là ngày ………… tháng …………… năm …… âm lịch.

Tức ngày …….. tháng …….. năm ………. dương lịch.

Tại:…………………

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm:…………….

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của Hiển:………………………………………. chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế. (nếu là mẹ)

Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;

Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.

Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;

Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.

Sống thời lai lai láng láng, hớn hở chừng nào!

Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!

Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần;

Lễ bạc tâm thành gọi là có nén nhang kính tế.

Xin mời:

Hiển……………………

Hiển…………………….

Hiển…………………….

Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.

Kính cáo liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

Có rất nhiều câu hỏi thắc mắc xoay quanh vấn đề cúng chung thất, Tháp Long Thọ xin giải đáp một số thắc mắc sau đây.