8. Văn Sớ Cúng Phật Lễ Cải Táng (3 Bản)

--- Bài mới hơn ---

  • Phong Thủy Việt: Luận Cải Táng
  • Lễ Cúng 49 Ngày Gồm Những Gì
  • Thủ Tục Ủy Quyền Thờ Cúng Liệt Sĩ Như Thế Nào?
  • Bài Đọc Cúng Mụ Cúng Đầy Tháng Cho Bé
  • Các Ngày Cúng Trong Năm Của Việt Nam Nhất Định Bạn Phải Biết
  • TẬP III

    VĂN SỚ VÀ THIẾP, ĐIỆP, CÚNG TIÊN LINH, LỄ CẦU AN

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Chúng con cung kính nghe rằng:

    Đạo mầu ba Tạng

    Lời thề sông biển xin vâng,

    Ý nguyện nguồn cơn bày tỏ.

    Nay có trai gia Phật tử (tên họ – pháp danh) cùng cả gia quyến ở xã … huyện … tỉnh …

    cúng dường hương phẩm hoa đăng.

    Chúng con thường nhớ lời người xưa nói rằng:

    Ba tấc đất chưa về,

    Khó giữ thân một kiếp,

    Đã về ba tấc đất,

    Khó giữ mã trăm năm.

    Thương thay vong linh (tên họ, pháp danh) một vị (các vị) hương linh.

    Xa rời dương thế,

    Những tưởng mồ mả cất xây

    Nào ngờ nắng mưa tàn phá

    sao trời nỡ vô tình.

    Nghìn thu giấc ngủ hương linh,

    Và một nấm tro tàn vong giả.

    một phen tàn tạ, đôi lúc dở dang!

    Cúng dường chư Phật đã hay

    Mạo muội một lòng bày tỏ.

    Sớ văn lời ngỏ, bái bạch xin nghe.

    Nam mô Tận hư không biến pháp giới, quá, hiện, vị lai Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụTam Bảo, tác đại chứng minh.

    Một nấm đất vàng xin gởi mạng,

    Chín tầng sen báu nguyện ghi danh,

    Người đi nhẹ gánh nhơn lành,

    Kẻ ở nặng vai quả phước.

    Ba đường nhẹ bước, tám khổ vượt qua,

    Hạnh phúc trẻ già, an vui còn mất.

    Nguyện tất cả phát tâm học Phật,

    Nay ngày … tháng … năm … PL. 254 …

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Chúng con cung kính nghe rằng:

    Đạo mầu ba Tạng

    Lời thề sông biển xin vâng,

    Ý nguyện nguồn cơn bày tỏ.

    Nay có trai gia Phật tử (tên họ – pháp danh) cùng cả gia quyến ở xã … huyện … tỉnh …

    cúng dường hương phẩm hoa đăng.

    Chúng con trai gia hiếu quyến thường nhớ lời người xưa than rằng:

    Ba tấc đất chưa về,

    Khó giữ thân trăm tuổi,

    Đã về ba tấc đất,

    Khôn giữ mã trăm năm.

    Nay nhân ngày cải táng mộ phần, tái an di cốt của ông bà … các vị vong linh.

    Than ôi vong linh!

    Từ xa dương thế, chưa biết về đâu,

    Nắng mưa dãi dầu, bóng vang man mác.

    Ba đường lưu lạc, sáu cõi phiêu du?

    Chúng con chỉ biết:

    giấc ngủ chưa yên,

    Kẻ ở chưa hết não phiền,

    Huyễn thể khôn an,

    Ngày nào chưa chứng Niết Bàn,

    Mả mồ khó giữ,

    Hương lửa dễ tàn,

    Đầu cúi trước đài, chân quỳ xuống chiếu.

    Kính dâng sớ biểu, bái bạch xin nghe.

    Nam mô Tận hư không biến pháp giới, quá, hiện, vị lai Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụTam Bảo, tác đại chứng minh.

    Một nấm đất vàng xin gởi mạng,

    Chín tầng sen báu nguyện ghi danh,

    Người đi nhẹ gánh nhơn lành,

    Kẻ ở nặng vai quả phước.

    Nay ngày … tháng … năm … PL. 25 …

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Chúng con cung kính nghe rằng:

    Đạo mầu ba Tạng

    hiến cúng hoa đăng.

    Ngửa mong chư Phật Bồ Tát,

    Từ xa dương thế, vào cõi âm cung,

    Lửa hương đôi khi tàn tạ.

    Mưa nắng lắm lúc phũ phàng!

    Do đó, vừa rồi chúng con đã xin phép ông bà cha mẹ đã qua đời để làm lễ:

    Tìm lại mấy di cốt đã tàn,

    Đem về xây lại mả mồ mới mẻ.

    Ngõ đáp nghĩa sanh thành.

    Bổn phận làm con, như thế đã đành,

    Báo hiếu vì đạo, coi như chưa trọn.

    Cúi đầu dâng sớ văn này,

    Xin được hoan hỷ xin nghe.

    Nam mô Tận hư không biến pháp giới, quá, hiện, vị lai Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụTam Bảo, tác đại chứng minh.

    Tiêu tội khiên, nhiều đời nhiều kiếp,

    Hưởng phước lộc, cả họ cả nhà.

    Còn mất an vui, trẻ già hạnh phúc.

    Nay ngày … tháng … năm … PL. 25 …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Chết Trùng Tang Trong Cùng Dòng Họ
  • Vén Màn Bí Ẩn Trùng Tang Và Cách Hóa Giải.
  • Tìm Hiểu Về Trùng Tang,cách Tính Trùng Tang, Các Hóa Giải
  • Cách Hóa Giải Trùng Tang
  • Mùng 10 Tháng Giêng Cúng Vía Thần Tài?
  • Ý Nghĩa Và Công Đức Đốt Đèn Cúng Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Về Chuyện Tái Sinh, Đầu Thai Và Cúng Cơm
  • Giải Đáp Mọi Thắc Mắc Về Phật Di Lặc Trong Thờ Cúng & Phong Thủy
  • Cách Cúng Thất Cho Người Chết Gồm Những Gì?
  • Tụng Kinh, Trì Chú, Niệm Phật
  • Những Điều Phật Tử Cần Biết Khi Tụng Kinh
  • Nói về đốt đèn cúng Phật, xưa giờ có một điển tích rất nổi tiếng đó là “Cô gái nghèo đốt đèn cúng Phật”.

    Vào thời Đức Phật còn tại thế, tập tục đốt đèn cúng Phật đã được thịnh hành, kỳ nguyện đốt đèn mong cầu thăng trưởng phúc báu và trí huệ.

    Đương thời có một cô gái nghèo, nghe Đức Phật thuyết pháp xong, biết được công đức của việc cúng dường, Cô phát tâm mua đèn cúng dường, nhưng cô không có tiền. Lúc đó cô gái nghèo liền cắt tóc của mình đem bán, số tiền cô bán tóc có được đem đi mua một cây đèn, đến trước Phật thắp cúng dường. Cô chân thành chắp tay, lễ lạy. Cô cảm thấy sung sướng vì đã hoàn thành được tâm nguyện của mình.

    Sau đó, A Nan tôn giả đi kiểm tra các cây đèn, và phát hiện có một cây đèn cháy sáng và lâu nhứt, A Nan cảm thấy khác lạ và đi hỏi đức Phật.

    Phật đà nói: “Vị chủ nhân của cây đèn này là người phát bồ đề tâm rộng lớn, hơn hẳn những vị cúng dường khác, thế nên cây đèn này cháy lâu và sáng nhứt. Sau đó vị cùng nữ này được Thế Tôn thọ ký là sẽ luân hồi trong 15 đời, mà đời nào sinh ra cũng trong nhà quý tộc, không những có tiếng mà còn được tu học Phật Pháp và sau sẽ thành Phật.

    Trong Phật giáo đốt đèn không phải là “bỏ tiền ra để tiêu tai, hay cải đổi vận mệnh hay cầu phúc”, mà bên trong có hàm ý rất sâu sắc. Đốt đèn tượng trưng cho sự thắp sáng trí huệ quang minh, đèn chính là đại biểu cho trí huệ quang minh của Phật pháp, giống như khi ánh quang minh chiếu ra có thể phá trừ những phiền não u ám của chúng sinh. Cho nên, khi đốt đèn cúng Phật một mặt có thể nhận được sự gia trì của chư Phật, Bồ Tát phóng quang gia trì, tiêu trừ nghiệp chướng, mặt khác mượn vào việc đốt đèn mà nhắc nhở mình phải thường nghe kinh và Phật pháp, và vận dụng đạo lý của Phật Pháp để tu hành, để làm tăng trưởng phúc báu và trí huệ, hơn nữa còn tích luỷ tư lương thành Phật.

    Đốt đèn tuy rằng cũng có công năng tiêu trừ tai nạn và kỳ phúc, hơn nữa Phật Pháp còn nói về nhân quả nghiệp báo, nếu như nhân duyên chưa đến, thì chúng ta phải thừa nhận quả báo và chấp nhập tiếp thọ. Chúng ta phải nên mượn và nhân duyên đốt đèn này mà tiếp cận với Phật giáo nhiều một chút để tìm hiểu về Phật Pháp, các việc ác không làm, các điều thiện nên làm, sửa đổi những thói hư tật xấu, thì những thiện duyên tự nhiên tích tập, và những tai nạn sẽ từ từ giảm trừ, đó mới chính là tiêu tai giải nạn, là phương pháp chuyển vận kỳ phúc, đó mới là ý nghĩa đốt đèn chân chính của Phật giáo.

    Trong “Kinh Hiền Ngu” quyển 3 có nói “Cùng nữ chí thành tha thiết cúng một ngọn đèn, vĩnh viễn không bị tắt, các ngọn đèn của các vương hầu dâng cúng thì bị tắt. Điều đó chứng minh rằng tâm tha thiết, tâm chân thành dù phẩm vật nhỏ mà thắng xa phẩm vật lớn.

    Thông qua sự tuỳ hỷ bố thí đốt đèn, cũng nhưng có thể tiến đến cúng dường Tăng đoàn, bảo trì chùa chiền, làm cho Phật Pháp hoằng dương, lợi ích cho nhiều chúng sinh, chúng ta vô hình hay hữu hình thực hành tài thí và pháp thí.

    Trong kinh “Phật Vị Thủ Già Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt Kinh”

    Cúng đèn được 10 công đức như sau:

    1. Chiếu thế như đăng: người cúng đèn đời đời giống như đèn sáng, sinh làm người thì là vua của người.

    2. Nhục nhãn bất hoại: Người cúng đèn mắt luôn luôn sáng, không hư hoại, không mù.

    3. Đắc ư thiên nhãn: người cúng đèn đắc được thiên nhãn.

    4. Thiện ác tri năng: Người cúng đèn phân biệt được pháp thiện và pháp ác.

    5. Diệt trừ đại ám: Người cúng đèn có được trí huệ rộng sâu, phá tan đi những ngu si hắc ám.

    6. Đắc trí năng minh:Người cúng đèn có trí huệ siêu vượt quần chúng, không bị mê hoặc ở bên ngoài, và có năng lực biện biệt thủ và xả.

    7. Bất tại ám xứ: Người đốt đèn đời đời không bị chuyển trong tà kiến hoặc ở trong chổ hắc ám, thường được ở nơi quang minh thù thắng.

    8. Cụ đại phúc báo: Người đốt đèn được sinh ra trong gia đình đại phúc báo, phúc báo ở đây không nghĩa là giàu có, mà là người cả một đời không biết tạo ác nghiệp, và đầy đủ cơ duyên tu trì thiện pháp.

    9. Mệnh chung sinh thiên: Người đốt đèn khi chết sẽ không đoạ và ác đạo mà sinh thiên.

    10. Tốc chứng Niết Bàn: Người đốt đèn thời gian rất mau sẽ đắc thánh quả.

    Tỳ Kheo Thích Viên Ngộ

    Bài Khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Thức Tụng Niệm Lễ Giao Thừa
  • Cúng Cô Hồn: Có Nên Giật Cô Hồn Không?
  • Nghi Thức Cúng Thí Cô Hồn
  • Rằm Tháng Bảy Hay Còn Gọi Là “cúng Cô Hồn” Có Trong Điển Tích Vu Lan Bồn, Kinh Phật.
  • Bài Cúng Rằm Tháng 7 Chuẩn Nhất Theo Kinh Phật
  • Lược Ý Đốt Đèn Cúng Phật Trong Nghi Thức Nhiên Đăng Phật Giáo Bắc Truyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Tục Thờ Cúng Tổ Tiên Của Người Việt
  • Tại Sao Phải Thờ Cúng Ông Bà Tổ Tiên Và Những Người Đã Khuất
  • Tục Thờ Cúng Ông Bà Tổ Tiên Của Người Thái
  • Tại Sao Phải Thờ Cúng Ông Bà, Tổ Tiên Và Người Đã Mất?
  • Vì Sao Phải Thờ Cúng Ông Bà Tổ Tiên, Người Đã Khuất?
  • Lược Ý Đốt Đèn Cúng Phật Trong Nghi Thức Nhiên Đăng Phật Giáo Bắc Truyền

    Đạo Phật với tinh thần nhập thế và tuỳ duyên hoá độ, theo căn cơ cũng như nhu cầu của chúng sanh mà mở bày ra các phương tiện hoằng pháp độ sanh. Pháp hội nghi thức, cúng kiến đàn nghi trong Phật Giáo Bắc Truyền là một trong những hoạt động tín ngưỡng quan trọng không thể thiếu trong sự nghiệp hoằng hoá đạo mầu và sinh hoạt thiền lâm của Phật Giáo ở Đông Độ,

    trong không ít những nghi thức của pháp hội Phật Giáo Bắc Truyền có khởi nguồn từ những câu chuyện khi Phật còn tại thế. Nghi thức đốt đèn cúng Phật là một trong những nghi thức có nguồn gốc như vậy.

    Truyền thống đốt đèn cúng Phật có trong Phật Giáo được bắt nguồn từ câu chuyện “Bần nữ cúng đèn”, chuyện kể rằng: “Một thời Đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ tại núi Kỳ Xà Quật, lúc bấy giờ vua A Xà Thế thỉnh Đức Phật dự lễ trai Tăng trong hoàng cung. Sau khi thọ trai, Đức Phật trở về Tinh Xá Kỳ Hoàn, Vua bèn hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì?”. Kỳ Bà nói: “Ngài nên đem rất nhiều đèn để cúng dường Phật”. Vua liền sai chở mọt trăm thùng dầu về Tinh xá Kỳ Hoàn.

    Có một bà già nhà rất nghèo, có tâm chí thành muốn cúng dường Đức Phật mà không có tiền. Bà thấy vua A Xà Thế làm công đức như vậy, rất lấy làm cảm kích. Bà đi xin được hai tiền, liền đến nhà hàng mua dầu. Chủ hàng hỏi: “Bà rất nghèo túng, xin được hai tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu?”. Bà già đáp rằng: “Tôi nghe ra đời gặp Đức Phật rất khó, vạn kiếp mới được một lần. Tôi nay may mắn được sinh đời Phật, mà chưa có dịp cúng dường. Ngày nay tôi thấy vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ, cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau”.

    Lúc bấy giờ người chủ quán cảm phục chí nguyện của bà già, liền đong cho thêm ba tiền thành được năm tiền dầu. Bà đến trước Đức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không quá nửa đêm, bà phát nguyện rằng: Con không có gì cúng dâng Phật, ngoại trừ cây đèn nhỏ này. Nhưng do sự cúng dường này, mong cho con đời sau có trí tuệ. Mong cho con giải thoát tất cả hữu tình ra khỏi bóng tối ngu si. Mong cho con tịnh hóa tất cả những cấu uế chướng ngại của họ, và đưa họ đến giải thoát.

    Đêm ấy tất cả các ngọn đèn của vua cúng dường, có ngọn tắt, có ngọn đỏ, tuy có người săn sóc nhưng không được chu toàn. Riêng ngọn đèn của bà lão thì chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác, suốt đêm không tắt, dầu lại không hao.

    Đến lúc bình minh, ngọn đèn của bà lão vẫn tiếp tục cháy, khi tôn giả Mục Kiền Liên đi thâu lại những cây đèn. Khi trông thấy ngọn đèn còn cháy sáng, đầy dầu và bấc mới, Ngài nghĩ: “Không lý gì để cho cây đèn này vẫn cháy vào ban ngày,” và Ngài cố thổi tắt, nhưng cây đèn vẫn cháy. Ngài lấy tay bóp, lấy y chụp lên cho nó tắt, mà nó vẫn tiếp tục cháy sáng.

    Đức Phật vẫn nhìn ngài từ lúc đầu, và bảo: Mục Kiền Liên, có phải ông muốn dập tắt ngọn đèn ấy không? Ông không làm được đâu. Ông không di chuyển được nó, chứ đừng nói là dập cho nó tắt. Nếu ông đem được bốn biển mà tưới lên cây đèn này, nó vẫn không tắt được, tại sao? Vì cây đèn này đã được đốt lên để dâng cúng với tất cả niềm sùng kính, và với tâm trí thanh tịnh. Chính động cơ ấy đã làm cho nó có công đức vô cùng.

    Khi Đức Phật nói lời này, thì bà lão ăn xin đi đến Ngài, và Ngài nói lời thọ ký cho bà trong tương lai sẽ thành Phật. Vua A Xà Thế nghe nói, liền hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta làm công đức rộng lớn như vậy mà Đức Phật không thọ ký cho ta thành Phật, còn bà già kia chỉ thắp một ngọn đèn mà được thọ ký là cớ làm sao?”. Kỳ Bà đáp rằng: “Ngài cúng đèn tuy nhiều mà tâm không chuyên nhất, không bằng được tâm thuận thành, tôn kính tuyệt đối của bà lão kia đối với Đức Phật”.

    Từ câu chuyện này trong nghi thức tín ngưỡng, tín chúng Phật Giáo bắt đầu có nghi thức thắp đèn cúng Phật, trước là để tỏ lòng cúng kính đối với Phật và Thánh chúng, sau là cầu nguyện trí tuệ của mình ngày thêm sáng suốt, thứ nữa là để cầu mong bao nhiêu công đức của việc dâng đèn cúng Phật này, hồi hướng đến cho bản thân và gia đình mình cũng như pháp giới chúng sinh đều được chư Phật Bồ Tát gia hộ vạn sự kiết tường như ý.

    Đại Thừa Thánh Giáo hưng khởi, Phật Giáo Bắc Truyền đến Đông Độ thì nghi thức đốt đèn cúng Phật ngày một phát triển, từ thành thị cho đến thôn quê, từ hoàng cung cho đến lê thứ đâu đâu cũng tổ chức nghi thức đốt đèn cúng phật trong các Pháp hội Dược Sư cầu quốc thái dân an cho đến pháp hội Vu Lan cầu nguyện cho pháp giới tứ sanh vãng sanh Tịnh Độ.

    Dâng đèn cúng Phật từ những ý nghĩa ban đầu đến khi Bắc truyền được Đại Thừa Kinh Giáo bắt đầu tuyên dương cũng như diễn giải thâm ý và tán thán công đức của nghi thức thắp đèn cúng Phật, làm cho nghi thức này trở thành một trong những nghi tiết quan trọng vào bậc nhất, không thể thiếu trong các pháp hội quan trọng của Phật Giáo Bắc Truyền.

    Trong quan niệm truyền thống của Phật Giáo Bắc Truyền, Đăng là tượng trưng cho trí tuệ, với ý nghĩa là chân lý của Đức Phật như ngọn minh đăng chiếu sáng và dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi u minh phiền não đi đến an lạc Niết Bàn, giải thoát, vì vậy nên Đức Phật thường dạy: “này các con hãy tự mình thắp đuốt lên mà đi” cho nên nghi thức đốt đèn cúng Phật là hàm ý nương vào trí tuệ của Phật để rọi chiếu vô minh ám chướng của chính mình, diệt trừ phiền não chiếu phá ngã chấp giải thoát an lạc.

    Theo tinh thần của Đại Thừa Phương Quảng cho rằng đốt đèn cúng Phật diệu ý cũng không khác gì như ánh sáng trí tuệ của chư vị Bồ Tát Ma Ha Ha Tát chiếu rọi phá vỡ vô minh tăm tối của chúng sanh. Kinh Hoa Nghiêm quyển 78 có đoạn chép: “này người thiện nam! ví như dùng một ngọn đèn, soi vào ngôi nhà tối cả trăm ngàn năm, thì bóng tối ấy lập tức đều bị xua tan hết. Ngọn đèn tâm bồ đề của các bậc Đại Bồ Tát ma ha tát cũng như vậy; soi vào tâm u tối trãi qua bá thiên vạn ức kiếp không thể tính hết của chúng sanh, tạo các nghiệp phiền não, vô số ám chướng, đều có thể diệt trừ sạch hết…”.

    Thắp đèn cúng Phật được công đức rất to lớn. Trong rất nhiều kinh điển Đại Thừa đều dạy rằng việc thắp đèn cúng Phật, ở bảo tháp, trong chùa, trước tượng Phật hoặc thắp cúng dường trước các bộ kinh điển của Phật, tất cả đều được vô lượng công đức. Như trong Kinh Phật Vi Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt Công Đức có thuyết về công đức của việc thắp đèn cúng Phật: Nếu có người phát tâm phụng hiến thắp đèn cúng dường Phật thì được 10 điều công đức:

    1. Được công đức cả cuộc đời quang minh xán lạn như ánh đèn.

    2. Được sanh về nơi chổ tuỳ theo ý muốn của mình, không bao giờ bị đau các chứng bịnh về mắt.

    3. Nếu như phát tâm tu hành thì sẽ chứng được phép thiên nhãn thông.

    4. Được trí tuệ có thể đối với các pháp thiện hay ác đều có thể phân biệt được.

    5. Diệt trừ được hết thảy tối tăm mê muội.

    6. Đắc chứng được pháp trí tuệ quang minh

    7. Khi luân chuyển trên thế gian không ba giờ xa lìa vào ác đạo tối tăm.

    8. Được đầy đủ phước báo to lớn.

    9. Khi lâm chung được sanh lên cõi trời.

    10. Nếu phát tâm tu hành thì sẽ sớm chứng được quả vị Niết bàn.”

    Trong Kinh Phật Thuyết Thí Đăng Công Đức có chép về những điều vui hỷ lạc trong đời hiện thế mà tất cả ai ai nếu như phát tâm đốt đèn cúng Phật thì đều được thọ hưỡng những niềm vui như vậy, trong Kinh có đoạn chép: “Nếu có chúng sanh nào, nơi chùa hay tháp của Phật đốt đèn cúng dường, thì đắc được bốn pháp hỷ lạc, gồm có những pháp lạc?

    1. Đắc được hỷ lạc thân thể trang nghiêm đẹp đẽ.

    2. Được hỷ lạc tiền tài của báu sung mãn.

    3. Được hỷ lạc luôn luôn gặp được vận may.

    4. Được hỷ lạc thông minh trí huệ…”.

    Theo quan niệm của Phật Giáo Đại Thừa, nghi thức đốt đèn cúng Phật còn là một trong sáu thứ cúng dường trong nghi thức Lục Cúng Hoa Đăng của Phật Giáo Bắc Truyền, nghi thức này còn được Phật Giáo Việt Nam diễn tấu thành vũ khúc Lục cúng hoa đăng rất là nổi tiếng và trỡ thành một trong những vũ điệu quan trọng trong nghệ thuật ca múa truyền thống Phật Giáo và dân tộc Việt Nam.

    Đốt đèn cúng Phật là một trong “Lục chủng cúng dường” sáu món cúng dường của Phật Giáo gồm có:

    1. Hiến Hương là đốt nhang xông hương cúng dường Phật.

    2. Hiến Hoa là dâng hoa cúng dường Phật.

    3. Hiến Đăng là đốt đèn cúng dường Phật.

    4. Hiến Đồ là dâng nước hoặc thức ăn cúng dường Phật.

    5. Hiến Quả là dâng trái cây cúng dường Phật.

    6. Hiến Nhạc là niệm tụng, tán bạch, tấu nhạc cúng dường Phật trong các nghi lễ Pháp hội đàn tràng.

    Sáu món cúng dường này theo quan niệm của Phật Giáo Bắc Truyền là sáu món tượng trưng cho hạnh tu Lục Độ Ba La Mật của chư vị Bồ Tát gồm: 1. Bố Thí; 2.Trì Giới; 3. Tinh Tấn; 4. Nhẫn Nhục; 5. Thiền Định; 6. Trí Tuệ. “Đồ” tượng trưng cho Bố Thí, “Hương” tượng trưng cho Trì Giới, “Nhạc” tượng trưng cho Tinh Tấn, “Hoa” tượng trưng cho nhẫn nhục, “Đăng” tượng trưng cho Trí Tuệ, “Quả” tượng trung cho Thiền Định. Người Phật tử khi thực hành các sự cúng dường này thì cũng chẳng khác nào chư vị Bồ Tát đang tu hành pháp Lục Độ.

    Công năng diệu dụng cũng như nghi thức phương pháp của việc đốt đèn cúng Phật được Đức Phật dạy rất rõ ràng Trong Kinh Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức, trong Kinh có đoạn chép: “Bấy giờ, Ngài A Nan hỏi Ngài Cứu Thoát Bồ Tát rằng: Cung kính Ðức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai như thế nào? và đèn phan tục mạng thế nào? Cứu Thoát Bồ Tát đáp rằng: Ðại Ðức, nếu người nào có bệnh, muốn cứu thoát khỏi bệnh khổ của họ, nên vì họ trong bảy ngày đêm, thọ trì Bát Quan Trai Giới, đồ ăn thức uống, các vật thường dùng, tuỳ sức lực mà làm, để cúng dường các vị Sư Tăng, ngày đêm sáu thời, hành đạo lễ bái cúng dường Ðức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.

    Đọc tụng Kinh nầy, bốn mươi chín lần, tạo bảy hình tượng Ðức Phật Dược Sư, bày thành bảy bàn, trước mỗi tượng, thắp bảy ngọn đèn, mỗi ngọn đèn lớn như vòng bánh xe, thắp sáng luôn bốn mươi chín ngày không tắt. Tạo tràng phan năm màu, dài bốn mươi chín gang tay, và phóng sinh các loài súc sinh trong bốn mươi chín ngày, thì sẽ qua khỏi các nạn nguy ách, không bị các hoạnh hoạ và ác quỷ bắt giữ…”.

    Cách mà người xưa ở Đông Độ đốt đèn thường là dùng một cái chén trãn nhỏ đựng dầu, sau đó để tim đèn vào đốt thành đèn, loại đèn này rất phổ biến, sau có các chất liệu như vàng, bạc, đồng đỏ, sứ, gốm đều được dùng để chế tác trãn đựng dầu đèn, càng về sau sự phát triển của hình dáng thể loại của đèn dầu rất là phong phú, như hình chén, hình dĩa, hình bình, chậu và có loại như hình cái muỗng, hình dĩa được đặt trên giá có hình trụ.v.v…

    Dầu dùng để đốt đèn được chế tác từ mỡ của động vật hoặc là dầu được lấy từ trong các hạt cũng như trong các thân cây và trong các chất khoáng sản..v.v… sau đó ở Đông độ làm ra loại đèn cầy cây được chế từ sáp ong chủng loại ngày một phong phú, đáp ứng nhu cầu thắp đèn cúng Phật ngày càng phát trong các nghi thức Phật Giáo Bắc Truyền.

    Theo quan niệm của Phật Giáo Bắc truyền, nghi thức thắp đèn cúng Phật trong tự viện có rất nhiều ý nghĩa, thắp đèn làm trang nghiêm cho đạo tràng, thắp đèn khiến cho tín chúng phát khởi tâm cung kính, thắp đèn tượng trưng cho ánh sáng trí tuệ của Phật chiếu diệu hết thảy chúng sanh, thắp đèn để diệt trừ hết thảy các ám chướng của phiền não, xua đi hết thảy các vận hạn không may, dẫn dắt những điều cát tường đến cho tín chủ, vì vậy trong truyền thống nghi thức của Phật Giáo Bắc Truyền, đến mùa xuân lại đốt đèn quang minh trong pháp hội Dược Sư cầu quốc thái dân an, đến tháng bảy Vu Lan thắng hội lại thả hoa đăng cầu nguyện âm linh siêu thoát.

    Đốt đèn cúng Phật trong nghi thức Phật Giáo Bắc Truyền còn một ý nghĩa giáo dục rất là sâu xa, như câu chuyện Bần Nữ cúng đèn ở trên đã nói. Nếu như ta đốt đèn cúng Phật bằng tâm thế tục, phô trương sự giàu có, mặc dù phát tâm cúng rất nhiều dầu, dùng các vật dụng sang trọng, mắc tiền để làm đèn để dâng cúng, nhưng có tránh được đâu nhân quả dầu cạn lữa tắt.

    Cũng ví như của cải sang giàu, phước báu, đều nằm trong sự chi phối của luật nhân quả vô thường có đó rồi mất đó, khi hưởng hết rồi thì chẳng còn chi, hoặc khi nhắm mắt xuôi tay có đem theo được thứ gì.

    Người nào khi phát tâm dâng đèn cúng Phật thì đừng sanh tâm đòi hỏi và mong cầu những điều lợi ích đến với mình, mà chỉ nên nhất tâm dâng cúng chư Phật, vì tất cả các công đức trong đốt đèn cúng Phật mà Đức Phật dạy trong Kinh Phật Thuyết Thí Đăng Công Đức và kinh Phật Vi Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt Công Đức đã sẵn có, ta không mong cầu thì những công đức nêu trên cũng đã tròn đủ trong ta, chúng ta không cần phải khởi vọng niệm phiền não để kiếm tầm cúng dường với “Tâm không tức Phật” nếu phát tâm cúng dường như vậy, thì mới là chân cúng dường và như vậy thì ngọn đèn trí tuệ của chư Phật mới sáng mãi trong ta.

    Đốt đèn cúng Phật trong nghi thức Nhiên Đăng cúng Phật có trong pháp hội Dược Sư hay trong nghi thức phóng liên đăng trong đại lễ Vu Lan Phật Giáo Bắc Truyền đều có chung một hàm ý là mong muốn trí tuệ của hết thảy chúng sanh nương treo ngọn đèn cúng Phật này để toả rạng, cầu nguyện Phật tâm và Phật tánh sáng suốt sẵn có trong mỗi con, thể hiện đức tánh từ bi bình đẳng không phân biệt. không bị các âm phiền não như phân biệt giai cấp, sang hèn, hơn thua, so đo của phàm phu làm lu mờ trí tuệ. Ý nghĩa cúng đèn với bản tâm thanh tịnh, tiếp nối ánh sáng trí tuệ của Phật Pháp để hiển bày được thể tánh chân như của Phật. Đốt đèn cúng Phật với phát tâm như vậy, đó được gọi là cúng dường ba la mật, cho nên tương ưng với Tâm và Pháp của Chư Phật và Chư Bồ tát.

    copy: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tỉa Chân Nhang Trước Hay Sau Khi Cúng Ông Táo Ngày Tết 2021【Chính Xác】
  • Khi Niệm Hương Cúng Phật, Nên Niệm Danh Hiệu Phật Nào Trước?
  • Người Hà Nội Mua Chuối, Phật Thủ Cúng Rằm Tháng Giêng
  • Chuyên Cung Cấp Cây Giống Phật Thủ, Giống Cây Phật Thủ ⋆ Rao Vặt Mua Bán Địa Ốc Bds Thời Trang
  • Sớ Cúng Phật Lễ Vu Lan
  • Khi Niệm Hương Cúng Phật, Nên Niệm Danh Hiệu Phật Nào Trước?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tỉa Chân Nhang Trước Hay Sau Khi Cúng Ông Táo Ngày Tết 2021【Chính Xác】
  • Lược Ý Đốt Đèn Cúng Phật Trong Nghi Thức Nhiên Đăng Phật Giáo Bắc Truyền
  • Phong Tục Thờ Cúng Tổ Tiên Của Người Việt
  • Tại Sao Phải Thờ Cúng Ông Bà Tổ Tiên Và Những Người Đã Khuất
  • Tục Thờ Cúng Ông Bà Tổ Tiên Của Người Thái
  • Hỏi: Kính bạch Thầy, con có một thắc mắc, xin thầy dạy cho con biết. Mỗi sáng, con thường thay nước và niệm hương cúng Phật. Con thường niệm trước là Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát… và con tụng kinh. Vậy thưa thầy, con niệm hồng danh của Đức Bổn Sư trước như vậy có đúng không?

    Đáp: Việc dâng hương cúng Phật hay cúng nước hoặc cúng hoa quả v.v… đó là điều rất tốt. Vì đó là phần lễ nghi, mục đích là để biểu hiện tấm lòng chí thành của mình đối với Tam bảo. Nó thuộc về phần sự tướng bên ngoài. Tuy nhiên, là Phật tử khi dâng cúng, thiết nghĩ, chúng ta cũng cần nên biết thêm về ý nghĩa của việc làm đó.

    Trong nhà Phật, bất cứ việc làm nào cũng mang hai ý nghĩa rõ rệt: Sự và Lý phải viên dung. Nói cách khác Sự đâu là Lý đó. Hiểu như vậy, thì việc làm của chúng ta mới có lợi ích thiết thiệt và không bị lệch lạc rơi vào mê tín. Bằng không, thì người Phật tử dễ bị mắc phải cái lỗi mê tín, biên kiến. Nghĩa là tin mê lầm và chấp chặt một bên. Khi Phật tử dâng nước trong cúng Phật, thì Phật tử phải hiểu đó là biểu hiện cho ý nghĩa nước tâm thanh tịnh. Phật tử phải giữ tâm của Phật tử cho được thanh tịnh giống như ly nước trong mà Phật tử dâng cúng Phật vậy. Vì Phật có nghĩa là giác mà giác là tỉnh thức, chánh niệm. Vậy, khi cúng Phật, Phật tử phải thành tâm gìn giữ chánh niệm. Có chánh niệm là có an lạc. Còn nếu Phật tử dâng cúng Phật mà với cái tâm thất niệm, nghĩ nhớ lung tung, hay tính toán việc nầy việc kia, thì Phật tử sẽ không được lợi lạc lắm. Và như thế, việc cúng Phật rốt lại chỉ có hình thức bề ngoài cho có lệ mà thôi. Nghĩa là xưa bày nay làm theo. Chớ không hiểu rõ ý nghĩa căn bản của việc làm. Đó cũng là một sự thiếu sót lớn lao của Phật tử. Từ việc cúng Phật suy ra đến các việc làm khác cũng thế.

    Phật dạy người Phật tử bất cứ việc làm nào mà tương ưng với tánh giác, thì việc làm đó mới có ý nghĩa lợi ích thiết thực. Nếu nói về phần sự tướng thì việc cúng Phật đương nhiên là Phật tử có phước. Phước có ra là do khi cúng Phật hay Bồ tát, Phật tử đã thành tâm cung kính. Chính cái chỗ thành tâm cung kính đó, nên Phật tử mới có được phước báo. Tuy nhiên, nếu chỉ có thế, thì cũng chưa đủ ý nghĩa của việc dâng cúng.

    Phật tử cần phải hiểu thêm về nghĩa lý của việc làm đó. Vì việc dâng cúng bằng những thứ vật chất, đều mang ý nghĩa tượng trưng thôi. Như Phật tử dâng cúng hoa quả, thì Phật tử nên hiểu rằng, nếu Phật tử gây nhân tốt đẹp như hoa tươi, thì sẽ kết quả như những trái cây tươi tốt mà Phật tử đang dâng cúng Phật vậy. Bởi trái là kết quả của bông, nhờ có đơm bông kết nụ mới thành trái. Bông là nhân mà trái là quả. Nhân tốt thì quả tốt. Phật tử cúng dường là nhân mà được phước báo là quả.

    Đó là nhắc nhở cho chúng ta nhớ phải tạo nhân lành thì sẽ được quả lành. Nếu Phật tử chỉ hiểu đơn thuần dâng cúng hoa quả hay những thứ khác để được phước không thôi, thiết nghĩ, như thế thì cũng chưa đúng ý nghĩa của việc dâng hoa quả cúng Phật. Phật là giác, còn cúng có nghĩa là nuôi lớn. Nuôi lớn cái gì? Nghĩa là nuôi lớn căn lành. Người Phật tử phải hằng nuôi lớn và phát triển căn lành, trí giác của mình. Như thế, thì mới đúng với ý nghĩa của việc cúng Phật qua hai phương diện: ” Sự và Lý tròn đầy ” vậy.

    Còn khi cúng, Phật tử muốn niệm vị Phật hay Bồ tát nào tùy ý cũng đều được cả. Tuy nhiên, thông thường thì chúng ta nên niệm đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước. Vì Ngài là vị giáo chủ của cõi Ta bà nầy. Nhờ Ngài mà chúng ta mới biết chư Phật và các vị Bồ tát khác. Đồng thời, nhờ học hỏi giáo lý của Ngài mà chúng ta mới biết được đường lối tu hành thoát khổ. Do đó, chúng ta nên ghi nhớ công ơn lớn lao vô biên của Ngài. Vì thế, khi làm việc gì ta phải niệm danh hiệu của Ngài trước. Mục đích là để Ngài chứng minh gia hộ cho việc làm của chúng ta. Đó là nói theo việc lễ nghi cách thức hành trì là như vậy. Còn nếu như Phật tử cảm thấy mình có duyên với vị Phật hay vị Bồ tát nào, thì cứ niệm danh hiệu của những vị đó không sao cả. Không có vị Phật hay Bồ tát nào quở trách Phật tử đâu. Nếu là người chuyên tu pháp môn Tịnh độ, thì họ thường niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà. Có người thường tin tưởng vào hạnh nguyện cứu khổ của đức Bồ tát Quán Thế Âm, thì cứ niệm danh hiệu của Ngài.

    Nói tóm lại, tùy theo sở thích nhân duyên của mỗi người, mà niệm danh hiệu của mỗi vị Phật hay Bồ tát có khác nhau. Niệm vị nào trước, vị nào sau cũng được không có gì sai trái. Tuy nhiên, như trên đã nói, hiện chúng ta đang sống ở cõi nầy, nên trước tiên là ta niệm danh hiệu đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, rồi sau đó sẽ niệm những vị Phật, Bồ tát khác thì có lẽ đúng cách hơn.

    Kính chúc Phật tử cố gắng tu hành và chóng đạt thành sở nguyện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Hà Nội Mua Chuối, Phật Thủ Cúng Rằm Tháng Giêng
  • Chuyên Cung Cấp Cây Giống Phật Thủ, Giống Cây Phật Thủ ⋆ Rao Vặt Mua Bán Địa Ốc Bds Thời Trang
  • Sớ Cúng Phật Lễ Vu Lan
  • Tạp Tiếu Chư Khoa (雜醮諸科)
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Ở Chung Cư Cần Lưu Ý Gì?
  • Sớ Cúng Phật Lễ Vu Lan

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Cung Cấp Cây Giống Phật Thủ, Giống Cây Phật Thủ ⋆ Rao Vặt Mua Bán Địa Ốc Bds Thời Trang
  • Người Hà Nội Mua Chuối, Phật Thủ Cúng Rằm Tháng Giêng
  • Khi Niệm Hương Cúng Phật, Nên Niệm Danh Hiệu Phật Nào Trước?
  • Tỉa Chân Nhang Trước Hay Sau Khi Cúng Ông Táo Ngày Tết 2021【Chính Xác】
  • Lược Ý Đốt Đèn Cúng Phật Trong Nghi Thức Nhiên Đăng Phật Giáo Bắc Truyền
  • Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Chúng con cung kính nghe rằng:

    Bốn mươi tám đại nguyện,

    tiếp chúng đầu tiên.

    Ngàn vạn ức hóa thân,

    độ sanh trước hết.

    Nhớ lời từ thệ,

    Nguyện tỏ hiếu tâm.

    Sớ rằng:

    Nay có đệ tử Thích … và Bổn tự bổn đạo, cùng Phật tử mười phương, về chùa … ở xã … huyện … tỉnh …

    Tất cả đồng tâm:

    Khai đàn phụng Phật,

    Hiến cúng hoa đăng;

    Phúng tụng kinh văn,

    Độ vong siêu thoát.

    Ngửa mong chư Phật Bồ Tát,

    Từ bi tiếp độ vong linh.

    Chúng con thiết nghĩ rằng:

    Bổn tự lịch đại hữu công các tiên linh;

    Thập phương Phật tử trí tự chư vong giả.

    Và hơn thế nữa các gia tộc.

    Thất Tổ Cửu Huyền,

    chép ghi gia phả,

    Nội thân ngoại thích,

    thờ phụng từ đường.

    Nhưng mấy ai biết:

    Bao lần gió lạnh lửa hương,

    Mấy lúc mưa mờ mồ mả.

    Do đó,

    Cháu con đau lòng xót dạ,

    Dòng họ thương nhớ nguyện cầu.

    Nhưng biết:

    Tin tưởng vào đâu,

    Và cậy nhờ ai được!

    Tuy nhiên, chúng con còn nhớ …

    Lời Phật dạy Mục Liên thuở trước,

    Nên, lễ Vu Lan báo hiếu hôm nay.

    Giờ thì:

    Pháp tịch vừa bày,

    Lễ nghi đã diễn,

    Mong nhờ chư Tăng chú nguyện,

    Kính dâng lục vị cúng dường.

    Và, cung duy văn sớ một chương,

    Mạo muội tỏ bày tấc dạ.

    Mong rằng từ bi bất xả,

    Nguyện được hoan hỷ xin nghe.

    Nam mô Tận Hư Không Biến Pháp Giới, Quá Hiện Vị Lai Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng Thường Trụ Tam Bảo, tác đại chứng minh.

    Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, tác đại chứng minh.

    Nam mô Tây Phương Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, tác đại chứng minh.

    Nam mô U Minh Giáo Chủ, Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, tác đại chứng minh.

    Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát, tác đại chứng minh.

    Nam mô Vu Lan Hội Thượng Chư Phật Thánh Hiền, tác đại chứng minh.

    Phục nguyện:

    Thuyền từ vượt biển,

    Đuốc tuệ soi đường.

    Dắt dìu chư vong giả đến lạc phương,

    Cứu vớt các hương linh qua khổ ải.

    Lại nguyện:

    Cha mẹ ông bà hiện tại,

    Phước thọ tăng long;

    Nội ngoại cháu con các dòng,

    An vui hạnh phúc.

    Cẩn sớ.

    Nay ngày … tháng … năm … PL. 254 …

    Tỳ kheo Thích … Hòa nam thượng sớ.

    Họ … Tên …

    Họ … Tên …

    v.v…

    HT Thích Huyền Quang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tạp Tiếu Chư Khoa (雜醮諸科)
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Ở Chung Cư Cần Lưu Ý Gì?
  • Ba Nghi Lễ Người Việt Thường Thực Hiện Trước Ngày 30 Tết
  • Cúng Cơm Trong Lễ Tang Như Thế Nào Cho Đúng?
  • Niệm Hương Cúng Phật, Nên Niệm Như Thế Nào Cho Không “đắc Tội Bề Trên”?
  • Niệm Hương Cúng Phật, Nên Niệm Như Thế Nào Cho Không “đắc Tội Bề Trên”?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Cơm Trong Lễ Tang Như Thế Nào Cho Đúng?
  • Ba Nghi Lễ Người Việt Thường Thực Hiện Trước Ngày 30 Tết
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Ở Chung Cư Cần Lưu Ý Gì?
  • Tạp Tiếu Chư Khoa (雜醮諸科)
  • Sớ Cúng Phật Lễ Vu Lan
  • Việc dâng hương cúng Phật hay cúng nước hoặc cúng hoa quả v.v… đó là điều rất tốt. Vì đó là phần lễ nghi, mục đích là để biểu hiện tấm lòng chí thành của mình đối với Tam bảo. Nó thuộc về phần sự tướng bên ngoài. Tuy nhiên, là Phật tử khi dâng cúng, thiết nghĩ, chúng ta cũng cần nên biết thêm về ý nghĩa của việc làm đó.

    Trong nhà Phật, bất cứ việc làm nào cũng mang hai ý nghĩa rõ rệt: Sự và Lý phải viên dung. Nói cách khác Sự đâu là Lý đó. Hiểu như vậy, thì việc làm của chúng ta mới có lợi ích thiết thiệt và không bị lệch lạc rơi vào mê tín. Bằng không, thì phật tử dễ bị mắc phải cái lỗi mê tín, biên kiến. Nghĩa là tin mê lầm và chấp chặt một bên. Khi phật tử dâng nước trong cúng Phật, thì phật tử phải hiểu đó là biểu hiện cho ý nghĩa nước tâm thanh tịnh.

    Phật tử phải giữ tâm cho được thanh tịnh giống như ly nước trong. Vì Phật có nghĩa là giác mà giác là tỉnh thức, chánh niệm. Vậy, khi cúng Phật, phật tử phải thành tâm gìn giữ chánh niệm. Có chánh niệm là có an lạc. Còn nếu phật tử dâng cúng Phật mà với cái tâm thất niệm, nghĩ nhớ lung tung, hay tính toán việc nầy việc kia, thì phật tử sẽ không được lợi lạc lắm. Và như thế, việc cúng Phật rốt lại chỉ có hình thức bề ngoài cho có lệ mà thôi. Nghĩa là xưa bày nay làm theo. Chớ không hiểu rõ ý nghĩa căn bản của việc làm. Đó cũng là một sự thiếu sót lớn lao của phật tử. Từ việc cúng Phật suy ra đến các việc làm khác cũng thế.

    Phật dạy phật tử bất cứ việc làm nào mà tương ưng với tánh giác, thì việc làm đó mới có ý nghĩa lợi ích thiết thực. Nếu nói về phần sự tướng thì việc cúng Phật đương nhiên là phật tử có phước. Phước có ra là do khi cúng Phật hay Bồ tát, phật tử đã thành tâm cung kính. Chính cái chỗ thành tâm cung kính đó, nên phật tử mới có được phước báo. Tuy nhiên, nếu chỉ có thế, thì cũng chưa đủ ý nghĩa của việc dâng cúng.

    Phật tử cần phải hiểu thêm về nghĩa lý của việc làm đó. Vì việc dâng cúng bằng những thứ vật chất, đều mang ý nghĩa tượng trưng thôi. Nếu phật tử chỉ hiểu đơn thuần dâng cúng hoa quả hay những thứ khác để được phước không thôi, thiết nghĩ, như thế thì cũng chưa đúng ý nghĩa của việc dâng hoa quả cúng Phật. Phật là giác, còn cúng có nghĩa là nuôi lớn. Nuôi lớn cái gì? Nghĩa là nuôi lớn căn lành. Phật tử phải hằng nuôi lớn và phát triển căn lành, trí giác của mình. Như thế, thì mới đúng với ý nghĩa của việc cúng Phật qua hai phương diện: “Sự và Lý tròn đầy” vậy.

    Còn khi cúng, phật tử muốn niệm vị Phật hay Bồ tát nào tùy ý cũng đều được cả. Tuy nhiên, thông thường thì chúng ta nên niệm đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước. Vì Ngài là vị giáo chủ của cõi Ta bà nầy. Nhờ Ngài mà chúng ta mới biết chư Phật và các vị Bồ tát khác. Đồng thời, nhờ học hỏi giáo lý của Ngài mà chúng ta mới biết được đường lối tu hành thoát khổ. Do đó, chúng ta nên ghi nhớ công ơn lớn lao vô biên của Ngài. Vì thế, khi làm việc gì ta phải niệm danh hiệu của Ngài trước. Mục đích là để Ngài chứng minh gia hộ cho việc làm của chúng ta. Đó là nói theo việc lễ nghi cách thức hành trì là như vậy. Còn nếu như phật tử cảm thấy mình có duyên với vị Phật hay vị Bồ tát nào, thì cứ niệm danh hiệu của những vị đó không sao cả. Không có vị Phật hay Bồ tát nào quở trách phật tử đâu. Nếu là người chuyên tu pháp môn Tịnh độ, thì họ thường niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà. Có người thường tin tưởng vào hạnh nguyện cứu khổ của đức Bồ tát Quán Thế Âm, thì cứ niệm danh hiệu của Ngài.

    Nói tóm lại, tùy theo sở thích nhân duyên của mỗi người, mà niệm danh hiệu của mỗi vị Phật hay Bồ tát có khác nhau. Niệm vị nào trước, vị nào sau cũng được không có gì sai trái. Tuy nhiên, như trên đã nói, hiện chúng ta đang sống ở cõi này, nên trước tiên là ta niệm danh hiệu đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, rồi sau đó sẽ niệm những vị Phật, Bồ tát khác thì có lẽ đúng cách hơn.

    Nói về tâm người cúng dường

    Cúng dường được công đức hay không còn tùy nơi tâm người cúng dường. Vậy phải cúng dường bằng cái tâm như thế nào mới được nhiều công đức? Nếu cúng Tam Bảo với cái tâm cầu mong Tam Bảo hộ trì cho mình được giàu sang, cho mình hết bệnh tật, cho mình được điều này điều kia…cúng dường với cái tâm mong cầu hồi báo như vậy sẽ làm hao tổn công đức. Người cúng dường ít gì cũng phải nhớ về cảnh sống trong sinh tử luân hồi khi cúng dường, biết mọi sự trong cõi sinh tử luân hồi đều mang tính chất của khổ đau: khổ vì sinh, vì lão, vì bệnh, vì tử. Chúng ta là người ngụp lặn trong sinh tử luân hồi mà lại không hiểu về khổ đau của sinh tử luân hồi, không biết gì về khổ nạn của chính mình. Chư Phật, chư Bồ Tát nhìn vào cảnh sinh tử luân hồi, thấy chúng sanh khổ đau mà sinh lòng thương xót, đến nỗi nổ tung thành từng mảnh. Các vị thấy rõ, hiểu rõ nỗi khổ mà chúng sanh phải gánh chịu trong cõi sinh tử luân hồi. Còn chúng ta là kẻ chịu khổ sinh tử, vậy mà đối với khổ đau của chính mình lại không hay không biết. Loại khổ đau nào dễ thấy lắm thì còn hiểu được chút ít, còn đối với các loại khổ đau vi tế chúng ta lầm tưởng đó là an lạc hạnh phúc nên cứ mãi bám dính vào, không muốn buông ra.

    Phải hiểu khổ sinh tử luân hồi thì mới phát tâm cầu thoát sinh tử luân hồi. Khi cúng dường, chí ít phải cúng dường bằng cái tâm cầu thoát sinh tử luân hồi, được vậy công đức mới đủ mạnh.

    Có người đến nghe pháp, vừa nghe đã hiểu, vừa hiểu đã có thể hành trì, vừa hành trì đã đạt kết quả. Thuận tiện như vậy đều vào công đức. Muốn tu phải có công đức. Muốn nghe pháp, hiểu pháp, cũng phải có công đức. Vậy chúng ta phải quan tâm đúng mức đến việc tích lũy công đức. Cần biết cách cúng dường như thế nào để tạo nhiều công đức. Công đức phải dồi dào đường tu mới thoát chướng ngại, đạt kết quả.

    Kính chúc phật tử cố gắng tu hành và chóng đạt thành sở nguyện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thờ Phật, Lạy Phật, Cúng Phật Thế Nào Cho Đúng Nghĩa
  • Ngày Nào Cũng Thắp Hương Cúng Phật Hay Chỉ Mùng Một, Ngày Rằm?
  • Chuẩn Bị Chè, Xôi Cúng Đầy Tháng Cho Bé Như Thế Nào?
  • 4. Nghi Cúng Lễ Phật Đản
  • Nghi Thức Cúng Dường Lễ Phật Đản
  • Thờ Phật, Lạy Phật, Cúng Phật Thế Nào Cho Đúng Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Niệm Hương Cúng Phật, Nên Niệm Như Thế Nào Cho Không “đắc Tội Bề Trên”?
  • Cúng Cơm Trong Lễ Tang Như Thế Nào Cho Đúng?
  • Ba Nghi Lễ Người Việt Thường Thực Hiện Trước Ngày 30 Tết
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Ở Chung Cư Cần Lưu Ý Gì?
  • Tạp Tiếu Chư Khoa (雜醮諸科)
  • Cùng lichvansu tìm hiểu về Kinh Phật, Chú Đại Bi cũng như thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật thế nào cho đúng nghĩa.

    Thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật thế nào cho đúng

    Trong các vị Giáo chủ, thì Ðức Phật là Vị được nhiều tín đồ sùng mộ nhất. Sự sùng mộ ở đây biểu hiện trong sự thờ,

    1. Phật là bậc đáng tôn thờ

    Phật là những bậc đã dày công tu luyện phước đức và trí tuệ, cho nên đã được hoàn toàn sáng suốt và có đầy đủ đức hạnh cao quý. Các Ngài đã dùng đức và trí ấy để dẫn dắt chúng sanh ra ngoài biển khổ luân hồi, và đua đến địa vị sáng suốt an vui. Trong công việc độ sanh ấy, các Ngài lại không bao giờ thối chuyển ngã lòng mặc dù gặp trở lực khó khăn. Các Ngài đã nguyện độ cho toàn thể chúng sanh, cho đến khi nào không còn một chúng sanh nào để độ nữa mới thôi. thật là đúng với câu: “Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn”. Một bậc có đủ ba đức tính quý báu là Bi, Trí, Dũng, ba đức tính căn bản mà một con người muốn được toàn thiện, toàn mỹ, toàn chân, không thể thiếu được. Một bậc siêu phàm xuất chúng, có những lời dạy quý báu, những cử chỉ cao thượng, những hành động sáng suốt, một đời sống gương mẫu như Phật, mà chúng ta không tôn thờ, thì còn tôn thờ ai nữa?

    2. Nhưng chúng ta phải thờ Phật như thế nào mới đúng ý nghĩa

    Như trên đã nói, chúng ta thờ Phật là để tỏ lòng tri ân của chúng ta đối với một Vị đã có ân đức lớn với nhân loại. Chúng ta thờ Phật là để có luôn luôn ở trước mặt một gương mẫu sáng suốt trọn lành để khuôn rập tư tưởng, lời nói và hành động của chúng ta được chân, thiện, mỹ như Phật vậy. Người ta thường nói: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Chúng ta thờ Phật là muốn luôn luôn được có bên mình ngọn đèn trí tuệ của Ngài, cái hương từ bi của Ngài, để được sáng lây, thơm lây, chứ không phải chúng ta có mục đích cầu cạnh Ngài để Ngài ban phước, trừ họa, để Ngài che chở cho chúng ta mua may bán đắt một cách bất lương, hay để chúng ta dựa vào thế lực của Ngài, tha hồ làm những điều bất chính. Nếu chúng ta thờ Ngài với mục đích sai lạc như vừa nói ở trên, thì không những chúng ta đã phỉ bán Ðức Phật, mà chúng ta còn tự tạo tư tưởng không tốt cho chúng ta nữa.

    3. Phải thờ Ðức Phật nào?

    Ðức Phật nào cũng có nghĩa vô lượng quang, vô lượng thọ bao la cùng khắp và công đức tu hành phước trí vô lượng vô biên cả; nên hễ thờ một Ðức Phật là thờ tất cả các Ðức Phật. Nhưng chúng ta cũng nên tuỳ theo thời kỳ giáo hóa của mỗi Ðức Phật và pháp môn tu hành mà thờ cho xứng lý, hợp cơ. Thí dụ như hiện nay, chúng ta ở vào thời kỳ giáo hóa của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì lẽ cố nhiên, chúng ta phải thờ Ngài trước hết. Nếu tín đồ nào tu về “Tịnh Ðộ Tông”, chuyên về pháp môn “Trì danh niệm Phật” để cầu vãng sanh, thì tín đồ ấy phải thờ Ðức Phật A-Di-Ðà. Hoặc giả, nếu Phật tử muốn thờ tất cả Phật trong ba đời, thì nên thờ Ðức Phật Thích Ca, Ðức A-Di-Ðà, và Ðức Di-Lặc, gọi là thờ “Tam Thế Phật”.

    4. Cách thức thờ Phật

    Như vậy trong nhà tín đồ, nếu muốn thờ tượng Phật, thì nhiều nhất là ba Vị. Và nên nhớ rằng, trong khi thờ Tam Thế Phật, phải sắp đặc chung một bàn. Nếu tượng lồng kiếng thì nên treo ngay thẳng, không được cái cao, cái thấp, cũng không được cái to, cái bé; còn như tượng gỗ, tượng đồng tượng sành, thì để ngang hàng đồng bực, không nên để tùng trên, cấp dưới. Bàn thờ Phật phải đặt chính giữa nhà, bàn thờ ông bà ở phía dưới hoặc sau đúng câu: “Tiền Phật hậu Linh, hay Thượng Phật hạ Linh”. Nếu nhà lầu thì thờ Phật ở tầng trên. Tại bàn thờ Phật không nên để tạp vật nào khác, ngoài bình bông, lư hương,, chân đèn và dĩa quả. Những vật này mỗi ngày đều chăm sóc lau quét sạch sẽ luôn. Lần đầu tiên thỉnh Tượng Phật, tín đồ phải làm lễ thượng tượng, cũng gọi là lễ an vị Phật. Lễ này không bắt buộc phải tổ chức linh đình, chỉ nên làm một cách đơn giản, nhưng không kém vẻ trang nghiêm và tinh khiết. Muốn được hai đặc điểm ấy, chủ nhà phải dọn mình sạch sẽ: ăn chay, giữ giới và mời thêm thiện hữu trí thức đến hộ niệm một thời kinh. Và bắt đầu từ ngày làm lễ an vị Phật trở đi, tất cả mọi người trong nhà, mỗi ngày ra vô trông thấy tượng Phật, nên nghĩ nhớ đến đức hạnh cao cả của Ngài mà chỉnh đốn lại thân tâm mình. Mỗi ngày đều lo cải thiện lại sự cư xử với nhau, đối nội cũng như đối ngoại, phải luôn luôn thấm nhuần tinh thần từ bi, bác ái và bình đẳng. Như thế mới xứng đánh với danh nghĩa của một gia đình có thờ Phật. Thờ phụng lâu năm, tượng Phật bị hư rách, không thể sơn phết hay sửa chữa lại được, thì nên thay đổi tượng mới. Khi có tượng mới rồi thì tượng cũ phải dâng vào chùa chờ dịp nhập tháp, chớ không nên bạ đâu bỏ đó, mà mang tội.

    1. Ý nghĩa lạy Phật

    Ngày xưa, khi Ðức Phật còn tại thế, các đệ tử từ vua quan , đến dân chúng, mỗi lần được may mắn gặp Ðức Phật Thích Ca, đều cuối xuống ôm chân Phật và đặt trán mình lên chân Ngài để tỏ lòng ngưỡng mộ, tôn thờ một bậc tối thượng: Bi, trí siêu phàm. Cử chỉ ấy là một cử chỉ vô cùng khiêm tốn, nhu thuận và hoàn toàn tin cậy đối với Ðức Phật. Sau khi Phật nhập diệt, toàn thể tín đồ vẫn xem Ngài như còn tại thế, và cái cử chỉ cuối xuống ôm chân Phật vẫn còn tiếp nối tồn tại cho đến ngày nay và muôn ngàn năm sau. Cái cử chỉ ấy chỉ có cái công dụng làm cho tín đồ bao giờ cũng hình dung như Ðức Phật còn ngồi trước mặt mình để chứng giám cho tấm lòng thành kính thiết tha của mình.

    2. Phải lạy Phật như thế nào mới đúng ý nghĩa

    Ðể cho đúng với ý nghĩa trên, khi lạy Phật phải quỳ xuống, ngửa hai bàn tay ra như đang nâng hai chân Phật và cuối lưng xuống đặt trán mình trên hai lòng bàn tay. Trước khi lạy Phật, phải dọn mình cho sạch sẽ: rửa mặt, súc miệng, lau tay chân, thay y phục và mặc áo tràng. Xong xuôi, mới đốt hương ra trước bàn Phật, đứng ngay thẳng, tay chắp để trước ngực, mắt nhìn tượng Phật, tâm tưởng đến các tướng tốt và những đức hạnh cao cả của Ngài, và tỏ bày nguyện vọng chân chánh của mình, xá rồi cắm hương vào lư, đánh tiêng chuông và lạy Phật ba lạy. Lễ Phật như thế mới đúng pháp; trong kinh gọi là “thân tâm cung kính lễ” , nghĩa là thân tâm hăng hái tề chỉnh, nghiêm trang, tâm thì hớn hở vui mừng và hết lòng thành kính như gặp được Phật còn tại thế. Trái lại, chúng ta lễ Phật với lòng ngã mạng (ngã mạng lễ), hay với tâm cầu danh (cầu danh lễ), thì đã không có kết qủa gì, mà còn mang thêm tội.

    3. Bốn phép lạy (thuộc về lý).

    Về phương diện lý thì có bốn phép lễ

    – Phát trí thanh tịnh lễ

    Trong phép này, người hành lễ phải thấu suốt rằng cảnh giới của Chư Phật đều tùy tâm hiện bày, nên lạy một Ðức Phật, tức là lạy tất cả Chư Phật, lạy một lạy, tức là lạy tất cả Pháp giới, vì Pháp thân của Phật dung thông.

    – Biến nhập pháp giới lễ

    Trong pháp này, người hành lễ phải tự quán thân, tâm cùng tất cả các pháp, từ hồi nào đến giờ đều không rời pháp giới.

    – Chánh quán lễ

    Trong pháp này, người hành lễ lạy Ðức Phật ngay nơi tự tâm của mình, chứ không duyên với Ðức Phật nào khác, vì tất cả chúng sanh từ xưa đến nay, đều sẵn có Phật tánh viên mãn, bình đẳng và chân giác.

    – Thật tướng bình đẳng lễ

    Trong pháp lễ này, người hành lễ không thấy có tự, có tha; người và mình là một, phàm và Thánh nhất như, thế và dụng không hai. Do đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát có nói: “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch”, nghĩa là người

    lạy, và đấng mình lạy, thể tánh đều vẳng lặng. Như thế mới thấu đáo và hợp lý Bát Nhã.

    Bốn phép lễ này, lý cao khó nghĩ bàn, nếu chẳng phải bực thượng căn, thượng trí, thì không thấu nổi và khó làm theo được.

    III. Cúng Phật

    Là nói tắt, nói cho đủ nghĩa là cúng dường Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Cúng dường có nghĩa là cung cấp và nuôi dưỡng.

    1. Ý nghĩa về cúng Phật

    Có người sẽ hỏi: Tại sao Ðức Phật đã là bất sanh, bất diệt mà lại còn phải cúng dường? Thật ra, Ðức Phật đã thoát ra ngoài vòng sanh tử, thì đâu còn hạn cuộc trong sự ăn uống. Nhưng đây chỉ là một hình thức để ngụ ý rằng, mặc dầu Phật đã nhập diệt lâu rồi, nhưng đối với chúng ta, bao giờ cũng xem như Ngài còn tại thế. Xưa, các đệ tử, các đàn na thí chủ đã cúng dường Ngài như thế nào, nay chúng ta vẫn tiếp tục cái cử chỉ ấy. Sự cúng dường này làm cho chúng ta gần với Phật, có cảm tưởng như bao giờ cũng ở bên cạnh Phật. Cũng nhơn sự thờ phụng, lễ bái cúng dường này mà chúng ta được kết duyên lành với Phật, hình dung rõ rệt cuộc đời của Ngài để quyết noi theo bước chân của Ngài.

    2. Phải cúng Phật với những gì?

    Vẫn biết rằng chúng ta nên cúng dường Phật để hình dung như Ngài còn tại thế, nhưng nếu chúng ta, mỗi khi cúng Phật, lại bày biện đủ thức ăn uống, nào yến tiệc cỗ bàn linh đình thì thật là phí của, phí công mà lại còn làm sai lạc ý nghĩa sâu xa của sự cúng Phật. Vậy muốn cúng Phật đúng ý nghĩa thì chỉ nên dùng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi, trái tốt, nước trong và đôi khi thêm cơm trắng là đủ.

    3. Năm món diệu hương để cúng Phật. Ðoạn trên là nói về Sự, về hình tướng bên ngoài để cúng Phật. Còn về phương diện Lý, thì phải dùng năm món diệu hương để cúng Phật như sau:

    Pháp thân của Phật rất thanh tịnh, nếu về mặt Sự, chúng ta đã dùng hương trầm đốt cúng, thì về mặt Lý, chúng ta cũng phải trì giới cho trang nghiêm thanh tịnh, để cúng dường được đủ cả về Sự và Lý.

    Thân tâm chúng ta bị mê nhiễm và thường loạn động trong mọi hoàn cảnh. Nếu để buông trôi mãi trong tình trạng ấy, thì chúng ta chẳng tu hành gì được. Vậy hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây, hằng sát na chúng ta phải cố gắng tập định tĩnh tâm hồn, đừng để cho những ý nghĩ, hành động xấu xa xâm chiếm tâm hồn và làm cho chúng ta phải loạn động. Làm cho tâm tư lắng xuống, như thế là dùng Ðịnh hương cúng Phật.

    Huệ hương cúng Phật là lúc nào cũng phải lưu tâm vào ba món sáng tỏ: Văn huệ, Tư huệ, và Tu huệ. Văn huệ là lắng nghe lời giáo hóa quý báu của Chư Phật và Thánh Hiền Tăng, Tư huệ là đem những lời quý báu nói trên ra suy xét, nghiền ngẫm, biết thế nào là phải, thế nào là quấy, cái nào là chân thật, cái nào là luống dối để khỏi lầm lạc vào đường tà; Tu huệ là quyết tâm thực hành những điều mình cho là phải, trừ bỏ những điều mình cho là trái, thực hiên đúng đắn giáo lý sáng suốt của Ðức Phật.

    – Giải thoát hương

    Giải thoát hương cúng Phật là quyết tâm phá trừ ngã chấp, nguồn gốc của bao sự đau khổ luân hồi. Chúng ta phải luôn luôn quán vô ngã, không nhận chiếc thân tứ đại này là mình, cũng không nhìn cái nghiệp thức phân biệt là mình, để được thoát ly ra ngoài vòng sanh tử luân hồi.

    – Giải thoát tri kiến hương

    Chúng ta đã biết quán vô ngã, để phá trừ ngã chấp thì được giải thoát, song vẫn còn “Pháp chấp” ràng buộc, nên chưa đến được cảnh giới tự tại, vô ngại như Phật. Còn Pháp chấp nghĩa là còn thấy các pháp như : đất, nước, gió, lửa là có thật; còn thấy vui buồn sướng khổ là có thật. Khi nào chúng ta thể nhận được rằng tứ đại sở dĩ in tuồng có thật là vì chúng ta còn ở trong nghiệp người, chớ đối với các loài khác, như cá chẳng hạn, thì nước đâu phải là nước như chúng ta quan niệm, mà chính là lâu đài, nhà cửa; đối với loài mọt, thì gỗ đâu phải như chúng ta quan niệm, mà là những thức ăn và nhà ở. Cho đến vui, buồn, sướng, khổ đều là đối đãi với nhau mà sanh ra. Vậy thì Pháp cũng như Ngã, đều là giả dối, không có thật, mà chỉ là những danh từ suông mà thôi. Luôn luôn, quán như thế, để được giải thoát ra khỏi sự chấp Pháp, như thế gọi là “Giải thoát tri kiến hương” cúng Phật.

    4. Cúng dường Pháp bảo

    5. Cúng dường Tăng bảo

    Nếu chúng ta đã thành tâm thờ cúng Phật, thì tất nhiên chúng ta phải kính trọng Tăng. Chư Tăng đã thay Phật mà truyền giáo lý của Ngài lại cho chúng ta, lẽ nào chúng ta lại làm ngơ không biết đến? Chúng ta không nên phân biệt Tăng ở xứ nào, chùa nào hay phái nào. Vị Tăng nào có đủ giới đức chúng ta cũng sẵn sàng cung phụng cả, như thế gọi là cúng dường Tăng bảo.

    1. Lợi ích của sự thờ lạy và cúng Phật

    Như các đoạn trên đã nói, chúng ta thờ lạy và cúng Phật là do lòng tri ân sâu xa của chúng ta đối với bậc đã hy sinh tất cả hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng sanh; Lý do thứ hai của sự thờ lạy và cúng, ấy là để cho chúng ta luôn luôn có trước mắt, trên đầu chúng ta, một cái gương mẫu hoàn toàn chân, thiện, mỹ để noi theo. Sự thờ lạy và cúng Phật, nếu thực hành một cách thành tâm, thiện chí và đúng ý nghĩa, thì sẽ đem lại cho người rất nhiều lợi ích trong hiện tại và vị lai:

    – Trong hiện tại

    mỗi chúng ta và gia đình chúng ta, bao giờ cũng như sống trong bầu không khí sáng lạng, trong ảnh hưởng tốt lành, đạo vị của Chư Phật. Chúng ta luôn luôn sống trong nghiêm chỉnh, trong lễ nghi, trên thuận dưới hòa, vì mỗi ý nghĩ, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói của chúng ta đều được đôi mắt sáng suốt của Ðức Phật soi xuống. Chúng ta không dám sống bừa bãi, làm xằng, nghĩ quấy khi Ðức Phật đang ngự trị trong gia đình và trong lòng mỗi chúng ta. Chỉ những tâm hồn trống rỗng, không tin tưởng, không tôn thờ một vị thiêng liêng cao cả nào, mới dễ sa ngã, trụy lạc. Cho nên trong gia đình, nếu muốn có hạnh phúc trong hiện tại, muốn sống một đời sống có ý nghĩa, muốn con em đừng bê tha, trụy lạc, thì người gia chủ nên thiết bàn Phật, để ngày ngày lễ bái và cúng dường Ngài và tập cho con em sống một đời sống hiền lương và có đạo vị.

    – Khi lâm chung

    Nghiệp lành mà chúng ta đã huân tập trong hằng ngày sẽ cảm ứng đến lòng từ bi vô hạn của Chư Phật và Bồ Tát. Do “Luật đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, Chư Phật và Bồ Tát sẽ phóng quang đến tiếp dẫn giác linh chúng ta về cõi Tịnh độ an vui, tự tại.

    2. Khuyên phát tâm chánh tín trong sự thờ, lạy và cúng Phật, Pháp, Tăng

    Muốn có được kết quả tốt đẹp như trên, chúng ta phải phát tâm chánh tín. Nếu thờ, lạy và cúng dường Tam Bảo một cách sai lạc thì không những không ích lợi gì cho ta mà lại còn mang thêm tội, và trôi lăn mãi trong cảnh sanh tử luân hồi. Chúng ta phải tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng:

    – Ðức Phật là bậc hoàn toàn giác ngộ, siêu sanh, thoát tử, có năng lực độ thoát chúng sanh khỏi nẻo luân hồi, và xứng đáng làm thầy chúng sanh trong ba cõi. Vì thế nên chúng ta thờ Ngài.

    – Phật pháp là phương thuốc thần diệu, trừ được tất cả nguyên nhân đau khổ của chúng sanh; vì thế cho nên chúng ta thờ Phật pháp.

    – Chư Tăng, nếu có đủ giới hạnh thanh tịnh, là những Thầy sáng, bạn lành của chúng ta. Vì thế, chúng ta kính thờ, thân cận các Ngài để học hỏi đường lối tu hành.

    – Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh sáng suốt, nếu chí tâm tu tập theo Phật pháp, thì chắc chắn sẽ thành Phật.

    – Lý nhân quả không hề sai chạy, nếu tạo nhân lành thì hưởng quả tốt. Trong các nhân lành, không có nhân lành nào thù thắng hơn là nhân “Thờ Phật, lạy Phật, và cúng dường Tam Bảo”, đủ cả sự và lý. Vẫn biết thờ, lạy và cúng phật đủ cả hai phương diện sự và lý là khó, nhưng chung quanh chúng ta, ở trong thế giới này sẵn có vô lượng vô biên kim cương Bồ Tát và Hộ pháp thần vương, đồng phát tâm giúp đỡ, hộ niệm cho tất cả những người phát tâm chánh tín thờ cúng Phật, thì lo gì công của chúng ta không tròn, quả của chúng ta không mãn?

    Ấn Quang Đại Sư và sự linh ứng của thần Chú Đại Bi Thọ trì Ngũ Giới – Chính là nền tảng của đạo đức Tại vì sao Thần Chú Đại Bi không được phiên dịch Phật giáo – Lợi ích của việc Quy y Tam Bảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngày Nào Cũng Thắp Hương Cúng Phật Hay Chỉ Mùng Một, Ngày Rằm?
  • Chuẩn Bị Chè, Xôi Cúng Đầy Tháng Cho Bé Như Thế Nào?
  • 4. Nghi Cúng Lễ Phật Đản
  • Nghi Thức Cúng Dường Lễ Phật Đản
  • Sớ Cúng Giao Thừa Tại Tư Gia Dành Cho Bạn
  • Ngày Nào Cũng Thắp Hương Cúng Phật Hay Chỉ Mùng Một, Ngày Rằm?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thờ Phật, Lạy Phật, Cúng Phật Thế Nào Cho Đúng Nghĩa
  • Niệm Hương Cúng Phật, Nên Niệm Như Thế Nào Cho Không “đắc Tội Bề Trên”?
  • Cúng Cơm Trong Lễ Tang Như Thế Nào Cho Đúng?
  • Ba Nghi Lễ Người Việt Thường Thực Hiện Trước Ngày 30 Tết
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Ở Chung Cư Cần Lưu Ý Gì?
  • HỎI: Người Phật tử có nên ngày nào cũng thắp hương cúng Phật hay chỉ thắp vào ngày rằm, mùng một mà thôi? Ý nghĩa của việc thắp hương cúng Phật?

    ĐÁP

    Thắp hương cúng Phật là một trong nhiều cách cúng dường lên Thế Tôn. Ngoài việc thắp hương, người Phật tử có thể dâng hoa, trái, đèn, nước… tùy tâm cúng Phật. Với tâm thành kính, một lòng hướng về Tam bảo, người Phật tử hàng ngày đều dâng hương cùng các lễ phẩm cúng Phật và lễ Phật thì rất tốt, phước báo vô lượng.

    Tuy nhiên, vì gia duyên ràng buộc nên không phải ai cũng có thời gian để dâng lễ phẩm cúng Phật, lạy Phật mỗi ngày. Và lý do môi trường, an toàn phòng cháy chữa cháy, lý do sức khỏe, trong trường hợp này vào những ngày Rằm, mùng Một (hay 14 và 30 âm lịch) chúng ta có thể mua hoa trái hương đèn cúng dường, lễ bái Phật. Sau đó nên đi chùa để tham dự các khóa lễ sám hối, cầu an và cúng dường Tam bảo để vun bồi phước đức cho tự thân cùng gia đình.

    Tuy nhiên, theo Thượng tọa Thích Nhật Từ:

    Các tổ Trung Hoa rất tinh tế trong việc cấu tạo phần dẫn nhập và phần kết thúc trong các nghi thức tụng niệm. Lời nguyện hương nhằm biểu tỏ tôn kính và dâng cúng lên đức Phật hương đạo đức và hương thiền định, tức là sự an tịnh trước mọi biến cố của cuộc đời. Sống với đạo đức và thiền định được xem là đã cúng dường đức Phật.

    Cách cúng dường đức Phật thiết thực nhất là phục vụ chúng sanh vô vụ lợi. Người Hoa khi đến chùa thường đem cả bó nhang và đốt sạch, để cầu phước, thực chất chỉ làm khói nghi ngút cả chùa. Khi đốt nhang cầu phước như vậy, chúng ta sẽ làm cho môi trường bị ô nhiễm, chùa mau bị hư cũ và các tượng Phật dễ đen hơn.

    Bỏ ra chỉ ba trăm ngàn đồng Việt Nam để mua một trăm thẻ nhang và đốt sạch cả trăm thẻ như vậy, chúng ta tưởng rằng mình đã có được một trăm công đức.

    Suy nghĩ như vậy là sai, việc đốt nhang nhiều làm cho Phật bị đen, chùa bị cũ, khói lây lan, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của quý thầy, cô cũng như quý Phật tử.

    Ngoài việc phung phí ba trăm ngàn, chúng ta còn mang lại rất nhiều sự nguy hại, không khéo bị đau phổi, nghẹt tim và bao nỗi khổ niềm đau cho người khác. Nhiều người ý thức được điều này, có chùa yêu cầu chỉ đốt một cây, ấy thế mà họ vẫn đốt tràng giang đại hải.

    Vậy cúng nhang điện tử có được không?

    Thay vì đốt các loại nhang thông thường, nên thắp hương ít, và có chọn lọc, hoặc dùng hương nhang điện tử. Có người mua ba cây nhang điện tử về đốt trên bàn thờ thì lập tức bị người khác chỉ trích: bà này sao keo quá trời, chỉ có ba cây hương cũng không dám mua để đốt mà lại đốt ba cây hương bằng điện.

    Mục đích đốt hương đâu phải để Phật ngửi, nếu còn hiện tiền chắc Ngài bị ung thư lỗ mũi mất. Cho nên chúng ta phải dùng hương đạo đức, tức là nghệ thuật sống an vui, hương từ bi để xoá bỏ hận thù, hương tuệ giác để không lầm đường lạc lối.

    Hàng ngày làm việc phước thiện, tu tập các pháp lành là chúng ta đã cúng dường Phật, mặc dù chúng ta không thấy mình cúng dường trực tiếp đến Ngài.

    Để báo đáp ơn Phật, chúng ta phải cúng dường Ngài bằng hương đạo, chỉ có hương này mới có thể giúp chúng ta giáo hoá được người thân và tha nhân, bởi vì cuộc sống thiết thực mới chuyển hóa được họ.

    Lam Tuệ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuẩn Bị Chè, Xôi Cúng Đầy Tháng Cho Bé Như Thế Nào?
  • 4. Nghi Cúng Lễ Phật Đản
  • Nghi Thức Cúng Dường Lễ Phật Đản
  • Sớ Cúng Giao Thừa Tại Tư Gia Dành Cho Bạn
  • Truyền Thuyết Tứ Diện Phật Trong Tín Ngưỡng Thái Lan
  • Cách Thờ Cúng Phật Di Lặc Đúng Cách, Không Phải Ai Cũng Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Truyền Thuyết Tứ Diện Phật Trong Tín Ngưỡng Thái Lan
  • Sớ Cúng Giao Thừa Tại Tư Gia Dành Cho Bạn
  • Nghi Thức Cúng Dường Lễ Phật Đản
  • 4. Nghi Cúng Lễ Phật Đản
  • Chuẩn Bị Chè, Xôi Cúng Đầy Tháng Cho Bé Như Thế Nào?
  • Thờ tượng phật di lặc sao cho đúng cách, khi thỉnh Phật di lặc về cần làm những gì và vị trí nào đặt phật để phất lên nhanh chóng là điều mà nhiều người chưa biết.Hôm nay xưởng tượng gỗ sẽ giúp quý anh chị hiểu đúng và thỉnh phật về sao cho đúng.

    Phật di lặc hay còn được gọi với rất nhiều tên như Phật cười, Ông Phệnh, Thần Tài… Những tên gọi này đều gắn liền và tượng trưng cho may mắn, thịnh vượng, đuề huề, hạnh phúc. Mọi người thường trưng phật di lặc trong nhà để nhận được nhiều may mắn và sự an lành cho ngày mới. Để tượng phật phát huy hết tác dụng cần nắm được các vị trí bày cho đúng và các điều cấm kỵ khi thờ phật di lặc trong nhà.

    Theo quan điểm phật giáo

    Theo pháp sư Tịnh Không thì việc này không có trong quy định của phật giáo và cũng không cần mời thầy cúng hay bất kỳ ai bởi ” Chính tượng Phật, Bồ Tát vì chúng ta mà khai quang”

    Cũng theo quan điểm của Phật giáo thì Phật Bồ Tát, Đức Phật có mặt ở khắp mọi nơi,không nơi nào là không có mặt của người.Nên việc thỉnh Phật Di Lặc chủ yếu dựa trên cái tâm, cùng lòng thành khi thờ cúng phật. Gia chủ chỉ cần chọn một vị trí nào đó tôn quý nhất , linh thiêng để đặt thờ tượng Phật.

    Theo tín ngưỡng nhân gian

    Gia chủ muốn an tâm hơn thì có thể làm lễ khai quang theo các bước sau:

    -Thỉnh Phật Di Lặc về nhà trước tiên gia chủ phải nhờ người như: nhà sư,thầy tu tại gia có kinh nghiệm trong chuyện thờ cúng, chọn ngày giờ tốt để làm lễ khai quang điểm nhãn, điểm chú cho tượng phật.

    -Trong thời gian để tượng Phật Di Lặc ở chùa, gia chủ cần chuẩn bị bàn thờ ,một vị trí đắc địa để đặt tượng Di Lặc

    -Sau khi các nhà sư thầy làm lễ khai quang tượng Phật xong,gia chủ tiến hành chọn ngày tốt để làm lễ an vị cho ngài

    -Sau khi đã thỉnh ngài thì gia chủ cần chọn hướng Đông để ngài quay mặt ra. vì đây chính là hướng mặt trời mọc.Đức Phật chọn hướng này để thiền định giác ngộ

    Các vị trí đẹp nhất để đặt tượng di lặc:

    -Theo phong thủy’ vị trí đẹp nhất đặt Phật là đối diện cửa chính và đặt cách mặt đất khoảng 1m.

    -Nếu không thể đặt được vị trí đẹp nhất nhất như trên thì có thế đặt tượng lên 1 chiếc bàn sát tường quay mặt chính diện ra của chính

    -Ngoài ra gia chủ có thể lựa chọn các cung theo ” Sinh khí, Diên Niên, Thiên Y” để tăng tài lộc may mắn sức khỏe.

    Những vị trí kiêng kị cần tránh đặt tượng phật di lặc:

    -Không nên đặt tượng phật di lặc ngược hướng với ngôi nhà

    -Không nên để tượng dưới đất

    -Vệ sinh thường xuyên phật di lặc, không nên để bụi bẩn,

    -Tránh để tượng Phật Di Lặc ở những nơi u ám, tối tăm, mất sự linh thiêng

    – Không đặt tượng vào các cung Tuyệt Mệnh, Họa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ

    – Phật Di Lặc là người nhà Phật bởi vậy mà khi cúng Phật Di Lặc gia chủ không nên cúng đồ ăn mặn mà phải cúng đồ chay, đồ cúng lễ không cần quá cầu kỳ nhưng phải đảm bảo yếu tố sạch sẽ, chỉnh chu.

    – Hoa sử dụng để cúng lễ nên là hoa cúc, hoa hồng những loại hoa mang màu vàng, đỏ, đây là 2 màu cơ bản đặc trưng cho nhà Phật.

    – Nếu gia chủ sử dụng tượng làm vật phẩm trang trí phong thủy trong nhà thì cần lau chùi, vệ sinh thường xuyên tránh để bụi bẩm

    – Thờ Phật Di Lặc không đặt tượng trong các không gian riêng tư như phòng ngủ vì như vậy thể hiện sự thiếu tôn trọng

    – Không được cất tượng trong két sắt, tủ, hộp kín có thể khiến gia đình gặp chuyện không may, đau ốm thường xuyên

    – Không đặt tượng gần hoặc hướng đến những nơi u ám, tối tăm như nhà vệ sinh, phòng ăn vì những nơi này không sạch sẽ, thiếu sự trang nghiêm

    – Gia chủ không nên đặt quá nhiều tượng Phật trong nhà, tối đa chỉ nên đặt 3 vị hay còn được gọi là Tam Thế Phật, nếu đặt thì phải đặt đồng bậc đồng cấp.

    Phật Di Lặc hợp với tuổi nào?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điển Tích Về Phật Dược Sư ” Shop Hoa Vô Ưu
  • Nghi Quỹ Cúng Dường Dược Sư Thất Phật Kinh Như Ý Vương
  • Pháp Lễ Cúng Dường Phật Dược Sư
  • Tượng Phật Dược Sư Lưu Ly
  • Bán Tượng Phật Dược Sư Uy Tín, Chất Lượng Nhất Trên Thị Trường Hiện Nay
  • Dâng Hương Cúng Phật Trong Nghi Lễ Phật Giáo Bắc Truyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Phật Giáo Không Có Nghi Lễ Cúng Sao Giải Hạn
  • Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Phật Giáo: Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo
  • Nghi Cúng Đại Lễ Đức Phật Thành Đạo Ngày Mồng 08.12.âl
  • Những Kiêng Kỵ Và Cách Thờ Cúng Tượng Phật A Di Đà
  • Dâng hương cúng Phật, thắp hương cúng Phật, xông hương cúng Phật, là nét văn hoá đặc trưng của Tăng Tín đồ Phật Giáo Bắc Truyền.

    Người Đông phương khi nhắc đến đi chùa lễ Phật hay đến đình chùa miếu mạo lễ các bậc Tiên Thánh thiện Thần, điều trước tiên mọi người nghĩ đến là phải thắp hương cúng dường, khi có duyên sự cần cầu nguyện Chư Phật Bồ Tát hay khấn vái các vị Thánh Thần để hộ trì, thì cũng dùng hương để gởi lời nguyện cầu của mình đến chư Phật Bồ Tát các bậc linh thiên. Thắp hương cúng dường có mặt hầu hết trong các nghi thức, lễ tiết quan trọng cũng như trong sinh hoạt thường ngày của Tăng Tín đồ Phật Giáo Bắc Truyền.

    Truyền thống thắp hương cúng Phật trong Phật Giáo có từ thuở Đức Phật còn tại thế, trong Kinh Trường A Hàm quyển thứ hai Kinh Du Hành chép: “Đệ tử của Phật vì Đức Thế Tôn cất Tịnh Xá to lớn, chỉnh lý sửa sang quét dọn lại sân vườn, đốt hương cúng dường.” Trong Kinh Phật Thuyết Giới Đức Hương cũng có chép: “Ngài A Nan lấy hương làm đề tài để thỉnh Phật thuyết pháp, Đức Phật tuỳ duyên khai thị, người tu trì thập thiện, đức hạnh được vang xa, cũng như hương báu có mùi vi diệu được mọi người tán thán.”

    Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm 19 Pháp Sư Công Đức chép:”…Như có người trì Kinh Pháp Hoa, có thể thành tựu 800 công đức của mũi căn, được mũi căn thanh tịnh, có thể ngửi được các loại hương thơm của các loại hoa trong tam thiên đại thiên thế giới.”

    Tục xông hương, đốt hương hoặc thoa hương lên người có nguồn gốc từ Ấn Độ, do khí hậu khô nóng, thường ra mồ hôi cho nên thoa hương lên người để trừ khử mùi hôi, thứ nữa thời tiết nóng nực khô hanh thường làm cho không khí oi bức khó chịu, xông hương lên làm tan đi cảm giác khó ở tạo nên không khí thơm nhẹ dễ chịu cho nên người Ấn Độ thường xông hương trong nhà.

    Từ những đặc điểm trên hương liệu trở thành vật liệu hữu ích và quý giá cho nên chỉ có tầng lớp Tu sĩ Bà La môn. Hoàng Gia, quý tộc mới có đủ điều kiện để sử dùng và dần dần trở thành cúng phẩm quý giá của những người thuộc các giai cấp dâng lên hiến cúng thần thánh trong các nghi tiết tôn giáo.

    Đức Thích Tôn thành đạo Bồ đề bậc tôn quý nhất trên cỏi trần, thầy của trời người, cho nên chẳng những loài người dâng hết thảy các loại hương báu để cúng dường Ngài, mà chư Thiên cũng đem chủng chủng các loại thiên hương đến cúng dường Phật. Vì vậy xông hương, thắp hương, ướp hương cúng dường Phật là một nghi tức để đệ tử tỏ lòng cung kính cúng dường đối với Đức Phật, là nghi tiết không thể thiếu đối với Tăng Tín đồ Phật Giáo: “Nguyện thử diệu hương vân, biến mãn thập phương giới, cúng dường nhất thiết Phật ,Tôn Pháp chư Bồ Tát, vô biên Thanh Văn chúng, cập nhất thiết Thánh Hiền.”

    Đại Thừa Phật Giáo hưng khởi cúng dường hương cho Phật đã trở thành một nghi tiết quan trọng không thể thiếu trong Phật Giáo Đại Thừa cho nên các vị Đại Thừa hưng giáo Tổ sư đều có những tác phẩm nói về hương, như Ngài Long Thọ Đại Luận Sư có bộ “Hương Hàm Bảo Man” và “Hoà Hợp Hương Pháp” Ngài Đông Phương Chi Quang, Đại Đường Huyền Trang Tam Tạng Đại Pháp Sư trong bộ Đại Đường Tây Vực Ký có chép về những loại hương được nhắc đến trong Kinh Pháp Hoa như: “Tu Mạn Nhiễm Hoa, Xà Đề Hoa Hương, Ba La Hoa Hương, Thanh Xích Bạch Liên Hoa Hương, Hoa Thụ Hương, Quả Thụ Hương, Chiên Đàn Hương, Trầm Thuỷ Hương, Đa Ma La Mạt Hương, Đa Già La Hương, Câu Đà La Thụ Hương, Mạn Đà La Thụ Hương, Thù Sa Hoa Hương, Man Thù Sa Hoa Hương.v.v…”

    Từ Buổi đầu lịch sử khi Phật Giáo truyền đến phương Đông, Tín ngưỡng thờ cúng của Phật Giáo là phương pháp hữu hiệu để truyền đạt chân đế của Phật Đà và đồng thời là con đường nhanh nhất đưa Đạo Phật hoà nhập vào trong xã hội, phong tục tập quán của người bản xứ, trong Hán Đường Phật Giáo Tư Tưởng Luận Tập chép: “Thời Nhà Hán hoàng gia và quý tộc vì tìm cầu thuật trường sanh, nên trong cung lập đền thờ Phật để cầu sự gia hộ của Phật để được trường sanh bất tử…

    Đương thời Tôn Giáo tại Trung Quốc có ưu thế là lo việc thờ tự cúng kiến cho thế lực thống tri cho nên Phật Giáo khi mới truyền vào cũng biến thành một trong những tôn giáo phục vụ cho việc cúng kính và cầu nguyện” .Trong Hán Nguỵ Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều Phật Giáo Sử cũng cho rằng: “Phật Giáo Thời Nhà Hán được coi nư một tôn giáo chuyên về thờ cúng với học thuyết đặc thù quỷ thần và báo ứng.”, Trong Hậu Hán Thư có đoạn Nhượng Giai Thượng Thư nói: “Lại nghe trong cung có lập đền thờ Hoàng Lão Phù Đồ, đây là đạo thanh tịnh hư vô, quý trọng vô vi…”.

    Lễ nghi cúng kính cầu nguyện thì không thể thiếu thắp hương để khấn vái cho nên từ rất sớm trong những bộ sách xưa có nói về tục thắp hương hành lễ của Phật Giáo. Trong Nguỵ Thư Thích Lão Chí có đoạn chép: “…Côn Tà Vương giết Hưu Đồ Vương…chiếm được tượng người vàng (Đức Phật thời ấy được gọi là kim tiên) Vua Nhà Hán cho là vị Đại Thần đem thờ trong cung Cam Tuyền…đốt hương lễ bái…” trong sách Ngô Chí có đoạn chép về thời kỳ đầu Phật Giáo du nhập vào Việt Nam cũng chuyên về tín ngưỡng thờ cúng, thắp hương lễ bái: “…ở Giao Châu…khi ra đường người ta thương nghe tiếng kiển, lẫn tiếng trống kèn những người rợ Hồ ( chỉ các vị Tăng và Phật tử người Ấn) đi theo thắp hương hai bên có từng đoàn xe có mười người..”.

    Văn hoá thắp hương cúng Phật đến với Phật Giáo Bắc Truyền sớm nhất trong tất cả các truyền thống văn hoá Phật Giáo khác, khi đến với Phương Đông loại hình văn hoá này như được chắp thêm cánh vì nó hấp thụ hết thảy những kiến thức văn hoá khoa học về hương liệu của người phương Đông, và nó thăng hoa vì sự tinh tế trong triết lý sống cũng như hoà mình vào thiên nhiên của người Đông Độ, nó huyền ảo hơn trong nghệ thuật huyền học tiên khí của nền kiến thức Lão Nho.

    Văn hoá dâng hương cúng Phật trong Phật Giáo Bắc Truyền được chia ra hai loại chính đó là Huân Hương và Phần Hương.

    1. Huân Hương: dùng các loại hương phẩm nguyên gốc có mùi vị đặc trưng như hương cây cỏ, hương của trái cây, hương của tinh dầu, những loại này không cần thông qua một điều kiện nào như xông hay đốt để có mùi hương mà chính từ bản thân của loại hương đó tự nhiên toả hương, làm cho Phật Điện cũng như tượng Phật và nơi thờ Phật thoang thoảng mùi hương đó là loại thứ nhất gọi là Huân Hương cúng Phật.

    2. Phần Hương: Còn goi là thắp hương, đốt hương, loại hương này được chế từ các loại cây cỏ có hương vị tổng hợp tạo thành, những thành phần trong hương dùng để đốt thường có Hương của cỏ, Hương của cây, Hương của hoa, Phấn hương, các loại bột trộn vào để trợ hoả khi đốt như Não hương, Cam thảo, Đinh hương và Nhục Quế.

    Khi tạo các loại hương cao cấp người ta thường dùng Trầm hương hay Chiên Đàn hương, những loại bột hương này sau khi được phối trộn xong, người ta tạo thành các loại hương mà tuỳ theo khi sử dụng mà có hình dáng khác nhau. Thường thì nững thể loại hương được dùng trong các nghi lễ của Phật Giáo Bắc Truyền có ba loại: Nhang cây, nhang vòng và nhang có hình trụ và các loại Hương này khi dâng lên cúng dường Phật đều phải đốt thì mới có mùi hương, tất cả những thể loại hương này đều không còn thuần nguyên chất mà dều là hợp hương.

    Thắp hương cúng Phật thường thì ta thắp một cây hoặc ba cây. Một cây hương tượng trưng cho ý nghĩa “Nhất thiết biến lễ sát trần Phật” là dùng một nén hương này dâng lên đãnh lễ cúng dường hết thảy mười phương chư Phật chư Đại Bồ Tát chư Hiền Thánh Tăng trong mười Phương.

    Ba cây hương tượng trưng cho Giới Hương, Định Hương và Huệ Hương, nguyện đem hết thảy lòng thành kính tâm nguyện tu Giới, tu Định, tu Huệ của mình dâng lên cúng dường hết thảy Tam Bảo trong Mười Phương và nguyện cầu sự gia hộ của Tam Bảo làm cho chí tu học của mình luôn vững bền và một ngày không xa sẽ đến được Đạo Tràng của chư Phật.

    Thắp hương cúng dường Phật luôn làm cho tâm ta định về một chổ, và rất dễ dàng để cho tâm của mình và chư Phật tương ưng, sự tương ưng này làm cho tam nghiệp của chúng ta hoàn toàn thanh tịnh mà đã thanh tịnh rồi thì trong giây phút đó chúng ta đến được đạo tràng của chư Phật chứng được Đạo Bồ Đề, trong Du Già Diệm Khẩu Yếu Tập có đoạn chép: “Thân thường thanh tịnh chứng Vô Thượng Đạo, Khẩu thường thanh tịnh chứng vô thượng đạo, Ý thường thanh tịnh chứng Vô Thượng Đạo.”.

    Trong hầu hết các nghi thức trong lễ nghi của Phật Giáo Bắc Truyền như: tụng Kinh, ngồi Thiền, lễ tắm Phật, Đàn tràng Thuỷ lục, lễ khai quang, truyền giới, phóng sanh, cầu an, cầu siêu, chẩn tế…. hầu như không thể thiếu nghi thức nguyện hương, thắp hương cúng Phật và trong mỗi nghi thức dâng hương cúng Phật đều có tên gọi riêng biệt để phân loại Pháp Hội ý nghĩa. Khi tín đồ vô chùa thắp hương lễ Phật thì được gọi là “Khách Hương” đem hương vào chùa cúng dường để thắp hương cúng Phật được gọi là “Kính Hương” hoặc là ” Tấn Hương”.

    Phật tử đem tiền cúng chùa dể mua hương cúng Phật gọi là “Hương Tư” Chùa nhiều Phật tử gọi là “Hương Hoả Đảnh Thạnh” Bài chư tăng đọc khi cúng hương gọi là “Hương Tán” bàn Phật gọi là “Hương Án” chư Tăng tại Phật tiền cúng hương gọi là “Nguyện Hương” hay là “Niệm Hương” những trai chủ phát tâm làm Pháp Hội khi dâng hương cúng Phật gọi là “Thượng Hương” đại diện cho người khác dâng hương gọi là “Đại Hương”.

    Trai chủ thiết trai cúng dường chư tăng trước nên dâng hương nhiễu quanh đại chúng cúng dường hoặc thắp hương nhiễu tháp gọi là “Hành Hương” lễ Phật đạt tới Đại Thừa cảnh giới gọi là “Tâm Hương” cùng nhau Phát tâm tín phụng Phật Pháp, cùng nhau tu hành, tâm đầu ý hợp gọi là “Hương Hoả Nhân Duyên” người lo việc hương hoả trong chùa gọi là “Hương Đăng”.

    Chưởng quảng về bộ phận hương đền gọi là “Hương Ty” Ngồi Thiền có đốt hương để làm thời gian biểu gọi là “Toạ Hương” Ngồi Thiền xong đứng lên đi nhiễu Phật gọi là “Bào Hương” Thiền bản dùng để cảnh sách chư tăng khi toạ thiền gọi là “Cảnh Sách Hương Bảng” dùng trong Giới Đàn gọi là “Thanh Quy Hương Bảng” Phật Điện cũng còn gọi là ” Hương Điện” nhà bết trong chùa gọi là “Hương Thụ” còn người tu hành khi phạm thanh quy bị phạt thì gọi là “Quỳ Hương”.

    Dùng Hương cúng dường Phật là pháp môn cúng dường tối thắng nhất, đồng thời thể hiện hết tấm lòng cung kính đối với Phật và tượng trưng cho phiền não đã được gội rữa, trong thân và tâm cảm thấy được an lạc, được như vậy mới đúng như ý nghĩa cúng dường Phật.trong các Kinh Đại Thừa hầu như luôn có những phần nói về cúng dường hương cho Phật.

    Trong Kinh Đà La Ni Tập quyển 3 có chép về 21 loại cúng dường cho Phật trong đó có nói đến hương: “Hương Thuỷ, hương để đốt và các loại hương thơm, dùng những thứ hương đó dâng lên cúng Phật..” trong Kinh Tô Tất Địa có chép 5 loại cúng dường: “Bột hương, hương để đốt, hoa, đèn, ẩm thực”, trong “Hành Pháp Can Diệp Sao” chép: “sáu Pháp cúng dường tượng trưng cho sáu Ba La Mật…Hương thuỷ tượng trưng cho Giới Ba La Mật..”.

    Thắp Hương cúng dường Phật làm cho chúng ta khởi tâm cung kính chí thành đến với Tam Bảo, thâm tín Tam Bảo, có công năng làm cho ta có thể hoà nhập vào tâm từ bi và trí tuệ của Phật và Bồ Tát, lại khiến cho ta luôn phát tâm dõng mãnh tinh tấn trên con đường học theo ngôn hạnh của Phật và Bồ Tát. Đốt hương cúng Phật là tu Phước nếu như ta khi niệm hương với tâm chí thành không loạn “Tâm Hương Nhất Biện” thì tự nhiên sẽ cảm ứng được với Chư Phật, như vậy mới đạt đến cảnh giới của “Giải Thoát Tri Kiến Hương”.

    Thích Tâm Mãn – phatgiao.org.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Lễ Cúng Phật Thành Đạo
  • Các Nghi Thức Thỉnh Phật, Thờ Phật Và Cúng Phật
  • Cúng Thí Cô Hồn: Giá Trị Văn Hóa Và Giá Trị Thực
  • Nghi Thức Cô Hồn Tháng 7 Tại Gia
  • Cách Thờ Cúng Tượng Quan Âm Bằng Đá Tại Nhà
  • Web hay