Top 14 # Xem Nhiều Nhất Dẫn Chương Trình Lễ Cúng Dường Trai Tăng / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Herodota.com

Mc Chương Trình Lễ Cúng Dường Trai Tăng Tam Thất Trai Tuần / 2023

Bài MC chương trình lễ cúng dường trai tăng Tam Thất trai tuần, dành cho quý vị tham khảo dẫn chương trình trong các lễ cúng dường.

Bài Dẫn chương trình lễ cúng dường trai tăng Tam Thất trai tuần

Dẫn lời vào tuyên bố lý do:

Cha đã đi rồi cha đã đi

Bao nhiêu phiền lụy với sầu bi

Gác lại bên lề cho thế sự

Mong Cha thanh thãn vãng tây quy.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát.

Ngưỡng bái bạch Hoà Thượng chứng minh.

Ngưỡng bạch chư tôn Hoà Thượng, Thượng Toạ Đại Đức Tăng chứng minh.

Hôm nay là ngày 17- 02 – năm kỷ sửu, cũng là lễ tam thất trai tuần của cố Phật tử Lê Văn Tiểu pháp danh Như Thỉnh ngày 19-05-năm  Đinh Hợi, hưởng thọ 75 tuổi, tạ thế ngày 26 tháng giêng năm Tân sửu.

Giới thiệu thành phần chứng minh:

Về chứng minh cho buổi cúng dường trai tăng, tam thất trai tuần sáng hôm nay hiếu quyên chúng con hạnh phúc được cung đón và cung kính đãnh lễ giới thiệu: Hòa thượng đạo hiệu thương Châu hạ Quang viện chủ tổ đình Sắc Tứ Khải Đoan tỉnh thành phố Ban Mê Thuộc tỉnh Đắk Lắc, chúng con xin được đảnh lễ giới thiệu.

Hòa thượng đạo hiệu thượng Giác hạ Hạnh trụ trì Tịnh xá Ngọc Thiền, thành phố Gia Nghĩa tỉnh Đăk Nông; Thượng tọa thượng Quảng hạ Hiền trụ trì chùa Pháp Hoa thành phố Gia Nghĩa tỉnh Đăk Nông, cùng quý chư tôn thượng tọa đại đức tăng quang lâm chứng minh tham dự.

Lời bạt cho người tác bạch:

Chúng con hằng nghe , Cổ đức có dạy:

Có ông bà thì mới có ta

Ông bà là gốc mẹ cha là cành

Thân ta như thể lá xanh

Nhờ gốc vun bón, Nhờ cành chở che.

Thật vậy! Nói đến, ân đức sanh thành cửu huyền thất tổ, cha mẹ thì không có ngôn từ mỹ ý của thế gian này diễn tả cho hết. Cũng vì nghĩa cử ấy, hôm nay toàn thể gia đình lễ chủ, được sự hướng dẫn của đại đức trụ trì chùa Phước Điền thành phố Gia Nghĩa, thành kính cung thỉnh chư tôn Hòa thượng chư thượng tọa Đại đức Tăng, câu hội về tư gia để thành tâm chứng minh pháp sự, nhân lễ cúng dường, cầu siêu, báo nghĩa báo ân.

Giờ phút này, trai đường của chúng con đã trang nghiêm thanh tịnh, chúng con đang quỳ trước màu huỳnh y giải thoát của quý ngài, Thành kính xin phép quý ngài cho vị đại điện gia quyến Phật tử có đôi lời dâng lên tác bạch, ngưỡng mong trên chư tôn Hòa thượng chứng minh từ bi hoan hỷ.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Sau khi gia chủ tác bạch cúng dường xong dẫn tiếp, thỉnh Hòa thượng Ban đạo từ:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Về với Phật nghĩa nhân đều trọn vẹn

Về với Pháp sống đời không hổ thẹn

Về với Tăng đốt ngọn đèn trí giác.

Xuyên qua lời tác bạch đại diện gia đình lễ chủ đã nói lên tấm long chí thành chí kính, chí hiếu của những người con đối với người cha kính yêu. Giờ phút này toàn thể đạo tràng chúng con thành kính cung thỉnh Hòa thượng đương vi chứng minh, ban lời đạo từ để đạo tràng chúng con thấm nhuần mưa pháp.

A Di Đà Phật, Thành kính cung thỉnh hòa thượng.

Ban đạo từ xong MC dẫn tiếp tục:

Vừa rồi hiếu quyến chúng được nghe pháp âm của Hòa thượng chứng minh, đã ban bố cho chúng con, chúng con không biết lấy gì đền đáp cho cân, thâm ân của chư tôn hòa thượng chư thượng tọa đại đức tăng, đã vì thương tưởng gia đình chúng con mà đã quang lâm về tại tư gia chứng minh.

Chúng con xin đãnh lễ cúng dường tam bái.

Quần Phong soạn

Tổng Kết Chương Trình Cúng Dường Trai Tăng Tại Trung Tâm Nhân Đạo Hộ Pháp (Bà Rịa / 2023

THÔNG TIN CHUNG

Tổng tịnh tài đóng góp:          305.415.000 đồng

Tổng chi phí của chương trình:         303.972.000 đồng

Phần tịnh tài: (chuyển vào Quỹ lưu động)               6.443.000 đồng      

Số lượt đóng góp:  140

Không mệt mỏi trên con đường hoằng khai chánh Pháp, với nguyện vọng đào tạo, nâng đỡ những thế hệ Tăng tài cho Phật giáo Việt Nam, TT. Thích Nhật Từ đã tạo nhiều thuận duyên giúp đỡ quý Tăng, Ni trong đời sống tu học cũng như gieo duyên lành cho các Phật tử tham gia vào các Phật sự, cúng dường Tam bảo. Một trong hoạt động nổi bật chính là hỗ trợ quỹ sinh hoạt Tăng, Ni. Nhân Ngày Tiếp Nối lần thứ 51 của Thượng tọa trụ trì, vào sáng ngày 20/3/2019 (15/02 Kỷ Hợi), đoàn Phật tử Quỹ Đạo Phật Ngày Nay – chùa Giác Ngộ đã đến thăm và gieo duyên lành tại hai ngôi Tam bảo: chùa Niết-bàn và Trung tâm Nhân đạo Hộ Pháp (Bà Rịa – Vũng Tàu). Tại chùa Niết-bàn và Trung tâm Nhân đạo Hộ Pháp, đoàn đã cúng dường chùa, cúng dường Tăng, Ni, cúng dường Trai Tăng cho 150 vị Tăng, Ni giáo phẩm; tại chùa Giác Ngộ, đoàn đã cúng dường chư Tăng với tổng tịnh tài lên đến gần 304 triệu đồng. Cụ thể:

Đức Phật giúp chúng ta nhận thức rằng mọi vật thể, hiện tượng trên thế gian này đều chuyển biến, vô thường, chẳng có gì phải bi lụy, quyến luyến, thương tâm. Đồng thời mong muốn hàng đệ tử phải nỗ lực tinh tấn để tự giải thoát, dùng ánh sáng trí tuệ để tiêu diệt bóng tối si mê. Mười lăm chìa khóa vàng được Thượng tọa đúc kết như sau: Đạo đức thanh cao; làm chủ giác quan; không màng hưởng thụ; vượt qua thói quen; lấy hổ thẹn làm trang sức; chuyển hóa tâm giận dữ; từ bỏ tâm kiêu mạn, cao ngạo; ít muốn, biết đủ; xả ly; tinh tấn không dừng; thắp sáng chánh niệm; thể nghiệm chánh định; nuôi lớn trí tuệ; tự mình cất bước; bốn chân lý Thánh.

Kết thúc chuyến Phật sự, Quỹ Đạo Phật Ngày Nay chân thành cảm niệm công đức của 140 Phật tử hữu duyên đã phát tâm đóng góp, yểm trợ và cùng đồng hành cùng chương trình ý nghĩa này. Kính chúc quý vị đạo lực tinh chuyên, thân tâm thường lạc, kiết tường như ý.

Nam-mô Công Đức Lâm Bồ-tát Ma-ha-tát!

Công Đức Cúng Dường Trai Tăng / 2023

HSĐV – Trong một phước sự gọi là bố thí, nếu người cho bằng tâm trong sạch với lễ phẩm trang trọng và người nhận một cách xứng đáng thì gọi đó là ứng cúng thì sẽ thành tựu một cuộc bố thí thù thắng.

Thế nào là người cho bằng tâm trong sạch? Có nghĩa là cho với lòng cung kính, cho nhưng không có hậu ý đòi hỏi điều gì và cho với tâm không có phiền não, tâm thí đó rất thù thắng.

Đối tượng nhận thí là người biết nhận, có nghĩa là nhận một cách không tham lam, nhận không có sự đòi hỏi và thật sự rất khó tìm

được một đối tượng như vậy trong cuộc đời này. Chúng ta cho một người và thường tạo cho họ lòng tham. Ví dụ gặp người bạn bị túng thiếu, ta giúp cho người bạn đó thứ gì đó, tiền chẳng hạn. Người đó có thể nghĩ rằng, “À người này mình có thể lợi dụng được đây, mai mốt mình sẽ xin nữa” và tìm cách để xin giúp đỡ thêm. Đây là chuyện thường xảy ra trong đời.

Hiếm khi trong đời này có đối tượng phù hợp với quy định của Đức Phật về đời sống của một vị Sa môn: Thí chủ cúng dường cho mình, vị Sa môn đón nhận bằng tâm trang trọng và hoan hỷ chú nguyện cho vị đó, không nuôi hậu ý tìm cách để bòn rút thêm, kêu gọi thêm. Đây là trường hợp cho một người mà người đó biết cách nhận. Biết cách nhận là nhận một cách phải chăng, nhận một cách có hiểu biết, nhận một cách không có hậu ý, không có mưu đồ , không có sự toan tính: Đây là sự bố thí thù thắng.

Nếu vị Sa môn sống đời sống chân chánh giống như Đức Phật đề ra thì người Phật tử có bốn mục đích quan trọng để làm phước:

– Tăng là đối tượng nhận cúng dường

– Nhận cúng dường một cách hợp đạo

– Nhận dưới với tính cách đại chúng chứ không phải cá nhân

– Nhận với mục đích cao cả để tu tập.

Bốn mục đích này làm cho đối tượng nhận cúng dường trở nên thù thắng.

Nói đến sự biết nhận có nghĩa là khi nhận thực phẩm hay nhận sự cúng dường từ tín thí, vị Sa môn không làm phiền lòng đến họ. Có nhiều người nhận và họ gây phiền não lắm. Quý vị để ý trong cuộc sống, mình cho con cháu hay bạn bè thứ gì đó, họ một họ đòi tới mười. Khi được gửi tiền, nếu mình gửi ít họ đòi hỏi thêm chẳng hạn. Cái đó rất là phiền. Người nhận như vậy gọi là người không biết nhận, và lắm khi họ còn nhận bằng tâm không trong sạch, có nghĩa là họ nhận để hưởng thụ, chứ không phải nhận để sử dụng cho mục đích cao cả.

Nhận với tính cách cá nhân không thù thắng bằng nhận với tính cách đại chúng. Giả sử quý vị thấy một nhà sư đi bát, quý vị cúng một nắm xôi, quý vị đặt vật thực vào trong bát. Khi cúng dường cho một nhà sư, quý vị nghĩ rằng cúng dường cho chư Tăng để chư Tăng sống và tu tập để hộ trì Phật Pháp lâu dài. Điều đó hoàn toàn không mang tính cá nhân. Bởi vì sao? Nhà sư đó mang hình ảnh của Tăng già và đi ngang nhà mình, mình cúng dường mà không biết nhà sư đó lạ hay quen . Thường khi cúng dường mình hay lựa chọn cá nhân vì vậy sự cúng dường như vậy nó vượt ngoài cá nhân tuyển thí. Nếu một nhà sư hiểu Pháp và Luật khi thọ thực vị ấy phải quán tưởng: Thực phẩm này của tín thí cúng cho mình để mình tu tập và sự quán tưởng như vậy mang lại phước lạc lớn cho người thọ thí và cho cả người thí chủ. Bốn khía cạnh này chỉ tìm thấy được trong sự cúng dường Tăng thí chúng gọi là dakkhinadana.

Chúng ta tạo phước hay tạo nghiệp do tác ý. Trong việc Tăng thí, ngoài tác ý còn có đối tượng, vật cúng dường và hành động: Tâm mình trước, trong khi và sau khi làm phước như thế nào, đối tượng mà mình hướng đến như thế nào, lễ phẩm, và cung cách mình cúng dường thế nào. Mỗi cái đều là một yếu tố hết. Vì vậy, Tăng thí thù thắng nhất ở trong những điều mà chúng ta gọi là phước vật.

Với một người Phật tử hiểu đạo sẽ thấy được sự vi diệu khi mình cho một chén cơm cho một người mà người nhận nó với tấm lòng cảm kích thay vì nghĩ rằng “Cuộc đời phải có bổn phận với mình, hay người khác phải cho mình.” Sống trong chùa, chúng tôi nghiệm ra một điều: Người cho xem ra rất dễ tìm, rất dễ tìm những người thí chủ, những người cho, nhưng người biết nhận thì khó tìm lắm. Người biết nhận tạo cho người cho sự an lạc vì họ nhận không để lại phiền phức về sau cho người cho, và họ biết sử dụng vật cúng dường vào việc chánh đáng. Điều đó mới khó. Riêng về điểm này Đức Phật đã hướng dẫn một cách đầy đủ và Ngài muốn rằng chư Tăng và Phật tử, tức là những đệ tử xuất gia và tại gia của Ngài, hiểu rõ giá trị đó.

Khi chúng ta hiểu rõ việc gì mình làm sẽ tìm thấy sự hoan hỷ trong điều đó.

Đạo Hạnh Theo Liễu Quán Huế

Cúng Dường Trai Tăng Và Lễ Lạy Trong Mùa An Cư / 2023

CÚNG DƯỜNG TRAI TĂNG & LỄ LẠY TRONG MÙA AN CƯ

Tỳ kheo Thích Nguyên Trực

Theo Giới luật, mỗi năm đến mùa An cư Kiết hạ, chư Tăng Ni đều phải tập trung một nơi thích hợp để nhập hạ Kiết giới – Bố tát, nhằm nỗ lực tu tập thiền định, thúc liễm thân tâm, trau dồi giới định tuệ, cùng nhau hoà hợp thanh tịnh, sách tấn tu tập. Nơi này được gọi là trường hạ

An cư Kiết hạ: Thu thân một chỗ an tịnh nội tâm là AN, tập trung một chỗ trong suốt một thời gian nhất định nào đó là CƯ, lập tâm một chỗ là KIẾT, ở một chỗ vào mùa hè là HẠ

An cư Kiết hạ vẫn được một vài giáo hội Phật giáo VN hải ngoại tổ chức hằng năm, nhưng thời điểm KIẾT HẠ hoặc KIẾT ĐÔNG và thời hạn an cư được chư Tôn đức trong các giáo hội Phật giáo VN hải ngoại “tuỳ duyên ứng biến”. Thay vì ba tháng An cư như Phật qui định nay chỉ vỏn vẹn mười ngày, như tại các trường hạ Giáo hội Phật giáo Úc châu tổ chức hàng năm

Trong những ngày an cư kiết hạ, chư Tăng Ni thúc liễm thân tâm hơn nữa, chuyên chú tâm học Kinh Luật Luận và hành thiền định, truyền trao kinh nghiệm người đi trước cho người đi sau. Ngoài ra, nhờ sự tụ họp sống chung một nơi, chư Tăng dễ bề kiểm thảo, nhắc nhở, khuyên dạy sách tấn lẫn nhau, làm cho nết hạnh và nhân cách được dồi mài thêm cho tinh nghiêm, để cho xứng đáng là Thích tử, là trưởng tử Như lai, là phước điền của chư Thiên và nhơn loại. Mỗi mùa an cư sau lễ Tự tứ là tăng thêm một tuổi đạo cùa cuộc đời một người tu sĩ còn gọi là Hạ lạp. Đây cũng là thời gian thuận tiện cho giới cư sĩ tại gia có dịp thân cận chư Tăng học tập giáo pháp, đồng thời là cơ hội tạo phước báo nhân thiên qua việc hộ trì cúng dường vật thực chúng Tăng trong suốt mùa An cư.

Như đức Phật đã dạy, bổn phận của chư Tăng Ni là giữ gìn trọn vẹn giới luật đã thọ, đồng thời học và thực hành Phật pháp, rồi đem sự hiểu biết đó hướng dẫn lại cho Phật tử tu học.Về phần giới cư sĩ Phật tử thì cung cấp những sự cần thiết cho đời sống của người tu sĩ, như nơi cư trú, y phục, thực phẩm, thuốc men…. Sự phân nhiệm này có mục đích dành cho giới tu sĩ có nhiều thời gian để chuyên tâm tu hành, nguyên cứu kinh điển… và hành thiền, để mau tiến bộ trên đường tu tập, để rồi qua sự tiến bộ đó, sự truyền dạy giáo pháp lại cho giới cư sĩ cũng đạt được nhiều hiệu quả. Mối quan hệ này đã lưu truyền trong khắp các truyền thống Phật giáo, dù khác hình thức, tông phái.

Tại Châu Á, chư Tăng Ni thường được giới cư sĩ Phật tử kính trọng và săn sóc chu đáo, vì Phật tử tại những nơi này vốn có truyền thống tôn quý Kính Phật trọng Tăng. Dù là vậy, tu sĩ nên tự coi mình như những người phục vụ, để không trở thành kiêu ngạo khi được Phật tử cung kính cúng dường. Nếu tu sĩ lại nổi lên tâm kiêu ngạo khi hưởng sự cung kính, thì đường tu của chính họ lại bị thoái hóa.

Tại xứ Tây và âu mỹ thì mối quan hệ giữa giới tu hành và giới cư sĩ vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng dân chủ, và ít phân chia giai cấp, vốn sẵn có trong bản chất của các xã hội xứ Tây, Âu mỹ. Như thế cũng có điều lợi, mà cũng có điều bất lợi. Thí dụ, người tu sĩ phương Tây không luôn luôn được tu viện, hoặc nơi họ cư ngụ, cung cấp đầy đủ về mặt tài chính, cho các chi phí trong đời sống hàng ngày, người dân xứ Tây, Âu mỹ cũng không có thói quen cúng dường. Kết quả là có những Tăng Ni (trong đó có những Tăng Ni người Việt Nam) phải kiếm thêm việc làm bên ngoài, để có đủ phí chi tiêu cho những nhu cầu cần thiết của bản thân. Có người kiếm đủ sống qua ngày, nhưng khi ốm đau, hoặc muốn đi hành đạo, hoặc tham dự những khóa tu thì họ sẽ gặp khó khăn về chuyện tiền bạc…

Như thế, truyền thống cúng dường vốn là một tập tục rất quan trọng và tốt đẹp của nhà Phật. Cúng dường cũng chính là bố thí, chỉ khác nhau ở danh xưng. Cúng dường chư Tăng Ni sẽ tạo thói quen tốt cho hạnh tu bố thí, xả bỏ, trong tinh thần tứ chúng đệ tử Phật hỗ trợ lẫn nhau, chư Tăng Ni bố thí các lời dạy gọi là Pháp thí và Phật tử bố thí phẩm vật, tài vật để chư tăng ni thọ dụng gọi là Tài thí. Sự bố thí này được dùng bằng từ ngữ cung kính gọi là cúng dường. Truyền thống đó vẫn được tứ chúng Phật tử gìn giữ và thực hành suốt chiều dài của lịch sử Phật giáo từ trên hai ngàn rưỡi năm nay.

Cúng dường và bố thí vốn cùng một nghĩa “cho”. Cái gì của mình mà có thể đem ra “cho” người khác, thì gọi là “cho”. Riêng danh từ “bố thí” được dùng để chỉ trường hợp “cho” những người mình cần cho. Và trường hợp khi một người Phật tử đem những gì của mình ra “cho” Tam Bảo, vốn là nơi nương tựa của mình, thì gọi là “cúng dường”.

Việc Cúng dường trai tăng, đây là người Phật tử noi theo tấm gương chí hiếu của tôn giả Đại Hiếu Mục Kiền Liên khi xưa. Vì chính Tôn giả là người đứng ra tổ chức thiết lễ trai tăng cúng dường đầu tiên vâng theo lời Phật dạy, để cầu siêu cho thân mẫu của Ngài. Từ đó, mới có lễ cúng dường trai tăng. Buổi lễ trai tăng được các chùa theo hệ phái Phật giáo Bắc Tông thực hiện vào ngày rằm tháng bảy âm lịch hằng năm, sau khi chư tăng ni làm lễ “Tự tứ” mãn hạ. Đồng thời cũng là dịp nam nữ Phật tử thành tâm dâng lên phẩm vật để cúng dường Tam bảo và hiện tiền tăng.

Noi theo truyền thống đó, nên người Phật tử mỗi khi trong thân quyến có người thân qua đời (thông thường là đến 49 ngày cúng chung thất), thì họ thường thiết lễ cúng dường trai tăng ở trong chùa, hoặc có đôi khi tổ chức tại tư gia. Điều nầy, còn tùy thuộc vào khả năng và hoàn cảnh của mỗi người. Nhưng phần lớn là người Phật tử thường tổ chức lễ trai tăng ởchùa. Vì tổ chức ở nhà có nhiều điều bất tiện hơn.

Cúng trai tăng bây giờ khác hơn so với thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế. Ai cũng biết, các Phật tử thời Phật cúng trai tăng chủ yếu là dâng cúng thực phẩm (bao gồm tứ sự và một số vật dụng thiết yếu cho người xuất gia) mà không hề cúng tiền mặt. Ngày nay, một lễ cúng trai tăng thông thường ngoài thực phẩm ra thì tiền mặt là một trong những lễ phẩm căn bản. Tuy nhiên, sự khác biệt này cũng có lý do. Trải qua hơn 25 thế kỷ, xã hội có vô vàn thay đổi, sinh hoạt của chư Tăng cũng nhiều thay đổi nên cách thức cúng trai tăng có khác xưa cũng là điều tất nhiên. Dù cách thức có khác nhau nhưng tựu trung vẫn không ngoài việc hộ trì cho chư Tăng Ni có đủ phương tiện tu hành, xây dựng Tam bảo và làm Phật sự lợi đạo, ích đời.

Mục đích cúng dường là để quý Tăng Ni không cần lo về 4 sự việc ăn, mặc, ở, bệnh, chú tâm lo tu hành rồi hướng dẫn đạo pháp cho Phật tử, làm cho Phật Pháp trường tồn trên thế gian này. Cúng dường Trai Tăng dựa trên nền tảng tự phát tâm, tự nguyện của gia chủ Phật tử. Quý Phật tử cúng dường không vì danh lợi, cúng dường với tâm không ngã mạn, hay ỷ mình cúng dường nhiều xem thường quý Tăng Ni … Do đó, “lễ bạc mà lòng thành” là một trong những nguyên tắc quan trọng, không thể thiếu trong khi thực thi Phật sự cúng dường này.

Lễ cúng dường Trai tăng có đầy đủ cả vật chất lẫn tinh thần, người cúng, vật cúng, người thọ nhận đều thanh tịnh đúng pháp. Hơn nữa, cuộc lễ không phải dâng cúng riêng một cá nhân nào mà là chung cho chư TỳKhưu Tăng đã Kiết hạ an cư, Vì vậy việc cúng dường chư Tăng Ni trong ngày Tự tứ cần sự đồng nhất, không có ý niệm riêng biệt, người thọ cũng không có niệm riêng biệt và sự quân phân cũng giống nhau, thực hành đúng theo tinh thần giới luật của Đức Phật thì phát sanh phước báo cao quý cho người thí chủ mà chư Tăng thọ thí cũng được công đức. Vì thế, nếu cúng dường nhiều mà tâm không thanh tịnh vì danh lợi, hay không thành tâm thì cho quả rất nhỏ.

Để tỏ rõ lòng tôn kính Tăng Ni, bậc Thầy dẫn dắt ra khỏi bến mê, bước lên bờ giác. Cho nên đôi khi chúng ta trông thấy trong những buổi lễ dâng y, hoặc trai tăng, Tăng Ni hoặc Phật tử dâng lễ vật đồng thời còn quỳ lạy những Tăng Ni thọ nhận, tất cả cũng là vì tỏ lòng cung kính cúng dường mà thôi.

Xung quanh vấn đề “xụp lạy giữa người và người” này, đã nảy sinh ra một số suy nghĩ lấn cấn, có lẽ chúng ta cũng nên bàn tới.

Nhìn những cụ già mái tóc bạc phơ, nam nữ, trẻ em… quỳ ngoài sân xì xụp lạy để tác bạch lên chư Tăng Ni ngồi bên dãy bàn ăn trong buổi lễ cúng dường Trai Tăng, người ngoài cuộc, người không hiểu đạo cảm thấy trong lòng sao mà bất nhẫn quá.

Xin thưa: Cúng dường và lạy ở đây không phải lạy một cá nhân Tăng Ni nào mà là lạy ba ngôi Tam bảo: Phật Pháp Tăng, lạy hiện tiền tăng đại diện cho Thập Phương Tăng, Thập Phương Chúng Tăng hay Thập Phương Đại Đức Chúng Tăng, ba từ ngữ này chỉ là một.

Bởi vì Tăng hay Tăng già, là dịch âm từ Phạn ngữ Sangha. Dịch ra là Chúng. Muốn được gọi là Chúng thì phải từ Bốn vị trở lên, có cuộc sống hòa hợp với nhau theo nguyên tắc của phép lục hòa, như vậy mới được gọi là Chúng hay Tăng. Tăng Chúng hay Chúng Tăng là được ghép từ Hoa – Phạn. Cho nên danh từ Thập Phương Tăng là chư Tăng ở khắp mọi nơi. Khi tất cả những vị này đều tập hợp lại một chỗ, trong một thời gian nào đó (như những lúc Chư tăng câu hội an cư ở một đạo tràng),thời gian dài ngắn, lâu mau hay vĩnh viễn, v.v… với số lượng từ bốn vị hay nhiều đến bao nhiêu, được gọi là Thập Phương Tăng, nghĩa là có khả năng đại diện Thập Phương Chúng Tăng.

Lạy Phật là phương pháp điều tâm để thanh tịnh ba nghiệp: thân, khẩu và ý (tư tưởng, ngôn ngữ và hành động). Về phương diện lý thì có bốn phép lễ lạy:

a) Phát trí thanh tịnh lễ: Trong phép này, người hành lễ phải thấu suốt rằng cảnh giới của Chư Phật đều tùy tâm hiện bày, nên lạy một Đức Phật, tức là lạy tất cả Chư Phật, lạy một lạy, tức là lạy tất cả Pháp giới, vì Pháp thân của Phật dung thông.

b) Biến nhập pháp giới lễ: Trong pháp này, người hành lễ phải tự quán thân, tâm cùng tất cả các pháp, từ hồi nào đến giờ đều không rời pháp giới.

c) Chánh quán lễ: Trong pháp này, người hành lễ lạy Đức Phật ngay nơi tự tâm của mình, chứ không duyên với Đức Phật nào khác, vì tất cả chúng sanh từ xưa đến nay, đều sẵn có Phật tánh viên mãn, bình đẳng và chân giác.

d) Thật tướng bình đẳng lễ: Trong pháp lễ này, người hành lễ không thấy có tự, có tha; người và mình là một, phàm và Thánh nhứt như, thể và dụng không hai. Do đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồtát có nói: “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch”, nghĩa là người lạy, và đấng mình lạy, thể tánh đều vẳng lặng. Như thế mới thấu đáo và hợp lý Bát Nhã.

Cúng dường và lễ lạy ba ngôi Tam bảo, hiện tiền Tăng là do lòng tri ân sâu xa của chúng ta đối với ân Tam bảo; Chư Tăng, nếu có đủ giới hạnh thanh tịnh, là những Thầy sáng, bạn lành của chúng ta. Vì thế, chúng ta kính thờ, thân cận các Ngài để học hỏi đường lối tu hành, nếu lạy một cách thành tâm, thiện chí và đúng ý nghĩa, thì sẽ đem lại cho người lạy rất nhiều lợi ích trong hiện tại và vị lai:

1. Tiêu trừ nghiệp chướng: Trong sự sám hối, thành tâm đảnh lễ mười phương chư Phật bằng cả thân tâm của mình. Quán chiếu sâu xa nguồn gốc tội lỗi, cùng bản tánh của tội lỗi. Quán tưởng hào quang chư Phật mười phương hiển hiện trước mắt, cũng như Phật tánh trong tự tâm tỏa rạng. Nhờ Phật lực hộ trì cùng nỗ lực tự tâm để thanh tịnh ba nghiệp. Với sự sám hối đó các ác nghiệp và chướng duyên đều được chuyển hóa.

2. Thiện căn tăng trưởng: trong khi lễ lạy, hồi hướng cho kẻ thân người thù đều được lợi lạc, đều được thành tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát. Như thế Bồ Đề Tâm (thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh) được nuôi dưỡng, lòng từ bi được phát triển. Sự lễ bái hàng ngày đem lại cho chúng ta nguồn an lạc vô biên. Sự an lạc này giúp cho phiền não tiêu tan, sự trầm tĩnh trở lại trong tâm hồn và lòng thương cũng phát sinh đối với người ghét.

3. Đức khiêm cung phát sinh: Trong khi hạ mình xuống sát đất để lạy Phật là để chuyển hóa tâm kiêu mạn của mình, mỗi ngày Lạy Phật để hồi hướng công đức về thiên, về địa, về đất nước, về sư trưởng, về ông bà cha mẹ… để cảm nhận trùng trùng ân nghĩa. Để thấy sự thành tựu của mình hôm nay là công ơn tác thành của nhiều người. Để từ đó tâm khiêm nhường phát sinh. Trong Kinh Đức Phật thường dạy, tâm khiêm nhường là cửa ngõ của trí tuệ và là con đường đưa đến giải thoát.

Như vậy, người được lạy dù ít hay nhiều, có thể là một hay mấy vị đi nữa, thì một hay nhiều vị đều đại diện cho Thập Phương Tăng mà thọ lễ hay thọ cúng. Mặc dầu những vị thọ lễ hay thọ cúng, nhìn vào tuy thấy ít, nhưng ý nghĩa rất sâu rộng là vị được thọ lễ hay thọ cúng cả Thập phương Tăng,Phước đức là cúng cả Thập phương Tăng vậy.

Có câu: “Kẻ “cho” “được hưởng” nhiều hơn người nhận”. Đúng là như vậy. Người nhận chỉ được chút vật chất. Người cho được toàn bộ niềm vui về tinh thần, được hưởng dư âm của niềm an lạc về hành động cao quý của mình.

Thế nên, có vị thiền sư đã nói, “người đem cho” phải cảm ơn “người nhận”. Đúng vậy, vì “người nhận” đã trải phước điền, là ruộng phước, để “người đem cho” trồng cây phước.

Là Phật tử tại gia, việc lễ lạy cúng dường hộ trì Chư Tăng, Chư Ni nhân mùa An cư Kiết hạ là để tu tập cũng là bổn phận của Phật tử chúng ta, nhằm tu tạo phước điền, hộ trì Chánh Pháp, duy trì mạng mạch Phật giáo trường tồn.

Tỳ kheo Thích Nguyên Trực

(An cư Phật lịch 2561 – Dương lịch 2017)