Địa Mẫu Chân Kinh (Kỳ 1)

--- Bài mới hơn ---

  • Độ Cứng Hrc – Hrb – Hb – Hv – Leeb Của Kim Loại Phổ Biến
  • Tìm Hiểu Về Máy Đo Độ Cứng Và Quy Trình Hiệu Chuẩn
  • Hv Của Kim Loại / Thép
  • Đơn Vị Đo Độ Cứng
  • Độ Cứng Của Thép
  • GIỚI THIỆU CHUNG

    Kinh Địa Mẫu do Phật Mẫu đã giáng thế xuống nhiều lần với nhiều danh hiệu khác nhau: Phật Mẫu, Mẹ Địa Mẫu, Mẹ Dao Trì, Mẹ Thiên Nhiên, Địa Mẫu Hoàng. Ngài giáng xuống tại Trung Quốc và Việt Nam như: Ba Vì – Hà Tây, Tây Phương – Vĩnh Phúc, Tiên Kiều – Sơn Tây, TamThanh – Lạng Sơn, Đình Ứng – Hà Nội, Chùa Trầm…

     

    Do sự biến đổi của vũ trụ nhiều lần, do sự biến đổi xã hội, do sự phát triển của ngôn ngữ và chữ viết nên kinh giáng ở nhiều nơi, nhiều lần do đó có nhiều bản kinh với ngôn ngữ khác nhau, có tới bốn bản kinh đang còn lưu truyền trong dân gian ngày nay.

    Chúng ta tụng kinh Địa Mẫu là chúng ta qui về gốc của Đại Đạo – vũ trụ Đại Đạo. Đại Đạo đã xuất hiện từ thời khi khai thiên lập địa.

     

    Kinh Địa Mẫu khuyên nhủ chúng sinh sớm lo tu nhân tích đức, làm tròn bổn phận của người con để hầu mongđược cứu rỗi. Lời kinh như lời mẹ hiền thống thiết khuyên nhủ đứa con thơ dại sớm thức tỉnh quay về.

     

    ĐỊA MẪU CHÂN KINH

    Hóa sinh muôn loài

     

    DÂNG HƯƠNG

    Khói hương dâng thấu mấy tầng xanh

    Rốt ráo tâm con bổn nguyện lành

    Trên khói hương này xin Mẫu ngự

    Chứng minh con trẻ tấc lòng thành

     

    Nam mô hương cúng dường Phật Mẫu chứngminh

     

    LỄ PHẬT

    Kính lạy Phật từ bi quảng đại

    Vì chúng sinh muôn loại đảo điên

    Luân hồi khổ não triền miên

    Mới dùng phương pháp giải phiền nơi tâm

     

    LỄ PHÁP

     

    Kính lạy pháp nguồn ân chưa trả

    Nẽo quang minh mô tả rõ ràng

    Vì đời lắm kẻ lầm than

    Nên thuyền bát nhã sẵn sàng đợi đưa

     

    LỄ TĂNG

    Kính lạy tăng là người chí cả

    Thay Thế Tôn hoằng hóa đạo mầu

    Vô minh nên mới lo âu

    Rọi đường cứu khổ dẫn đường chúng sinh

     

    Nam mô con nhất tâm đảnh lễ cầu Hoàng Mẫuchứng minh (1 lạy )

    Con nhất tâm đảnh lễ Phổ Đà Sơn Nam Hải chứng minh ( 1 lạy )

    Nam mô Hội Thượng Phật chứng minh (1 lạy)

    Nam mô tam bảo đạo tràng chứng minh (1 lạy)

    Nam mô con nhất tâm đảnh lễ tổ thầy chứng minh (1 lạy)

     

     

    PHỤC NGUYỆN

    Hoàng Mẫu chân kinh, cầu nguyện tam cõi cộng đồng, Thánh Thần Tiên Phật, nghe nguyện:

    Này xin vui hỷ lạc thanh tịnh trang nghiêm, cầu cho quốc thới dân an thế giớithái bình an lạc sứ. ( 1 lạy )

     

    Cầu cho chúng sinh nhân loại được ấm no, phước lộc thọ đủ đầy, thoát ách tiêu tan, nạn khỏi tật bệnh tiêu trừ. ( 1 lạy )

     

    Cầu nguyện cho phật tử nam nữ trẻ già trên non, dưới thế theo mẹ tu hành tinh tấn tâm lành sáng suốt, hiếu đạo vẹn toàn, tu với Mẹ cho đến ngày thành Phật đạo bất thối tâm.

    ( 1 lạy )

     

    Cầu nguyện cho cửu huyền thất tổ, ông bà cha mẹ, lục thân quyến thuộc, âm siêudương thới, đặng nghe lời của Mẫu, dứt tâm mê muội xa lìa tội ác, hồn linh siêu thoát, sớm về nơi Tây Vức an vui mùi Phật đạo. ( 1 lạy)

     

    Thành tâm khẩn nguyện, nhờ oai linh nhiệm mầu của Mẫu Kim Quang, vân chuyển gia đìnhhưng thạnh quyến thuộc tăng phước hoàn viê, Phước Lộc Thọ miên trường, sở nguyệnsở cầu như ý. ( 1 lạy )

     

    Nam mô Phật Mẫu chứng minh. ( 1 lạy )

    Nam mô Phổ Đà Sơn Nam Hải chứng minh. ( 1 lạy )

    Nam mô Diêu Trì cung, hội Mẫu chứng minh. ( 1 lạy )

     

     

    ĐỊA MẪU CHÂN KINH

     

     

    XƯNG TÁN ĐỊA MẪU

    Địa Mẫu đấng tối cao giác ngộ

    Điển linh quang tế độ chúng sinh

    Hỡi ai chớ có lạc lầm

    Lời vàng châu ngọc chỉ rành nẽo tu

    Cõi trần thế mịt mù tăm tối

    Phải nghe lời Mẹ thuyết chân kinh

    Chớ ham vật chất lụy phiền

    Sớm mau thức tỉnh mẹ ban phước lành

     

    NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SINH BẢO MẠNG CHÂN KINH

     

     

    CÚNG HƯƠNG

    Đốt hương trầm thấu đến diêu cung

    Thành tâm khẩn nguyện Đức Mẫu Từ

    Trên khói hương này xin Mẫu ngự

    Cảm ứng chứng minh tấc lòng thành

     

    NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯƠNG SINH BẢO MẠNG CHÂN KINH

     

    Khai đuốc huệ tâm đăng tỏa sáng

    Trăm ngàn muôn kiếp dễ gặp đâu

    Hạ ngươn kỳ ba Long Hoa Hội

    Mẹ ban điển lành mới rõ thông

    NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯƠNG SINH BẢO MẠNG CHÂN KINH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Loài Hoa Mẫu Đơn
  • Vài Nét Về Chữ Hiếu Trong Đạo Cao Đài Qua Quyển Kinh Thiên Đạo Và Thế Đạo
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài – Cecrs
  • Thượng Đế & Phật Mẫu
  • Kinh Nhật Tụng: Vạn Phật Thánh Thành
  • Cách Đọc Kinh Địa Mẫu, Địa Mẫu Chơn Kinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Mẫu Liễu Hạnh Và Cách Sắm Lễ
  • Đền Ghềnh Và Bí Ẩn Ngôi Mộ Ngọc Hân Công Chúa
  • Lập Điện Thờ Tứ Phủ Tại Gia
  • Cấu Trúc Điện Thờ Tam Tứ Phủ Tại Gia
  • Văn Khấn Mẫu Liễu Hạnh Và Thần Tích 3 Lần Giáng Thế Của Bà
  • Kinh của Mẫu tuy là kinh Cứu thế giảng rõ về nguồn gốc căn nguyên của con người cũng là kinh Giảng trì nên nếu học lâu sẽ giải được nghiệp quả dù nặng thế nào cũng tiêu chướng Nghiệp

    Vậy những ai căn cơ chưa tìm ra lối thoát, còn bế tắc đau khổ trong cuộc sống, chúng ta hãy nghiêm trang tín tâm học kinh Phật Mẫu để hưởng thọ trì phúc báo của Mẫu

    Thời gian trì niệm kinh Địa Mẫu

    Thời gian tốt nhất để trì niệm kinh Địa Mẫu là lúc 12g trưa các ngày mùng 8-18-28 âm lịch hàng tháng, ngày vía lớn nhất là 18/10 âm lịch

    Sắp lễ lập đàn trì kinh Địa Mẫu

    Chuẩn bị

    • 6 chum nước thanh thuỷ
    • 6 cốc nến
    • 6 quả 6 màu càng tốt không thì 6 quả tùy tâm của gia chủ
    • 13 miếng trầu têm cánh phượng hoặc 13 quả cau lá trầu quết vôi.
    • 5 bông hoa
    • 5 nén hương thắp vào các bát hương nếu có điện, còn không có điện thì thắp vào cây hương Mẫu.
    • Một lá sớ
    • 1 bát cơm hoặc xôi oản tùy tâm

    ĐÚNG GIỜ NGỌ chúng ta lập đàn trì và thỉnh Mẫu

    VIDEO Tụng kinh Địa Mẫu PHẦN 1

    VIDEO Tụng kinh Địa Mẫu PHẦN 2

    Đọc kinh Mẫu

    Nam mô A Di Đà Phật Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Nam mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn Nam mô Hoàng Mẫu Diêu Trì Địa Mẫu Nam mô Phật Tổ Như Lai Nam mô Phật Tổ Mẫu A Di Đà Nam mô Thái Thượng Lão Quân Nam mô Phật Tổ Mẫu Quan Thế Âm Nam mô Phật Tổ Mẫu Chuẩn Đề Nam mô Phật Tổ Mẫu Di Lạc Dược Sư Lưu Li Bồ Tát hưởng ứng chứng tri Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật Đức quan Thánh Đế Quân, Châu Xương, Quan Bình, Mẹ Sanh, Mẹ Độ, Thập Nhị Tiên Cô đồng giáng về phổ hộ độ cho chúng con, Cửu Huyền Thất Tổ Độ Hộ cho chúng con. Hôm nay là nguyện đem công đức hồi hướng cho tất cả chúng sanh được thành Phật đạo, Phật Tổ, Phật Thầy, Phật Mẫu, Phật Mẹ, chứng tri đại từ đại bi A Di Đà Phật tiếp dẫn Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật. Hộ pháp chư thiên, tiêu diện đại sĩ và các chư thiên, chư vị, chư thánh, chư thần trong tam giáo hội đồng Thánh, Thần, Tiên, Phật sự hiển hách linh thiên mầu nhiệm của Cha Mẹ độ hộ cho chúng con ngày hôm nay là ngày vía của Mẫu Hoàng là [ngày/tháng] đại từ, đại bi A Di Đà Phật. Chí tâm đảnh lễ, Nam Mô Tận Hư Không Biển Pháp Giới Quá Hiện Vị Lai Thập Phương Chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trú Tam Bảo Chí tâm đảnh lễ , Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Long Hoa Giáo Chủ Di Lạc Tôn Phật, Đại Chí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát Chí tâm đảnh lễ, Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát Ma Ha Tát A Di Đà Phật tiếp dẫn Tây Phương Cực Lạc Đại Từ Đại Bi, A Di Đà Phật độ hộ cho chúng con, độ hộ cho đất nước được Thái Bình, độ cho chúng con được hết bịnh, hết hoạn, hết nạn, hết tai, gia đình làm ăn phát tài, phát lộc, phát lợi, độ cho bá gia, bá tánh được an cư, lac nghiệp, độ cho đất nước được Thái Bình mãi mãi trường tồn để cứu độ cho nhân loại và cứu độ cho chúng sanh, đại từ đại bi A Di Đà Phật tiếp dẫn Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. ĐỊA MẪU CHƠN KINH

    GIẢNG KINH VÀ TỤNG NGHĨA NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH ĐỊA MẪU CHÂN KINH Hóa sanh muôn loài Khói hương xông thấu mấy tầng xanh

    Rốt ráo tâm con bổn nguyện lành

    Trên khói hương này xin Mẫu ngự

    Chứng minh con trẻ tấc lòng thành. Nam mô hương cúng dường Phật Mẫu chứng minh

    LỄ PHẬT

    Kính lạy Phật từ bi quảng đại

    Vì chúng sanh muôn loại đảo điên

    Luân hồi khổ não triền miên

    Mới dùng phương pháp giải phiền nơi tâm.

    LỄ PHÁP

    Kính lạy Pháp nguồn ân chưa trả

    Nẻo quang minh mô tả rõ ràng

    Vì đời lắm kẻ lầm than

    Nên thuyền Bát Nhã sẵn sàng đợi đưa.

    LỄ TĂNG

    Kính lạy Tăng là người chí cả

    Thay Thế Tôn hoằng hóa đạo mầu

    Vô minh nên mới lo âu

    Rọi đường cứu khổ dẫn đường chúng sanh.

    * Con nhất tâm đảnh lễ Phổ Đà Sơn Nam Hải chứng minh (1 lạy)

    * Nam mô Hội Thượng Phật chứng minh (1 lạy)

    * Nam mô Tam Bảo Đạo Tràng chứng minh (1 lạy)

    * Nam mô con nhất tâm đảnh lễ Tổ Thầy chứng minh (1 lạy) Hoàng Mẫu chân kinh, cầu nguyện Tam cõi cộng đồng,

    Thánh Thần Tiên Phật nghe nguyện:

    Này xin vui hỷ lạc thanh tịnh trang nghiêm,

    Cầu cho quốc thái, dân an, thế giới thái bình an lạc xứ. (1 lạy) Cầu cho chúng sanh nhân loại được ấm no,

    Phước Lộc Thọ đủ đầy, thoát ách, tiêu tai, nạn khỏi, tật bịnh tiêu trừ. (1 lạy) Cầu nguyện cho Phật tử nam nữ trẻ già trên non, dưới thế,

    Theo Mẹ tu hành tinh tấn tâm lành sáng suốt, hiếu đạo vẹn toàn với Mẹ,

    tu cho đến ngày thành Phật đạo bất thối tâm. (1 lạy) Cầu nguyện cho Cửu huyền Thất tổ, ông bà cha mẹ,

    lục thân quyến thuộc, âm siêu dương thái, đặng nghe lời của Mẫu,

    dứt tâm mê muội, xa lìa tội ác, hồn linh siêu thoát,

    sớm nơi Tây vực, an vui mùi Phật đạo. (1 lạy) Thành tâm khẩn nguyện, nhờ oai linh nhiệm mầu của Mẫu Kim Quang,

    vận chuyển gia đình hưng thònh quyến thuộc tăng phước hoàn viên,

    Phước Lộc Thọ miên trường, sở nguyện sở cầu như ý. (1 lạy) * Nam mô Phật Mẫu chứng minh (1 lạy)

    * Nam mô Phổ Đà Sơn Nam Hải chứng minh (1 lạy)

    * Nam mô Diêu Trì cung, Hội Mẫu chứng minh (1 lạy) NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHÂN KINH Phật Địa Mẫu ngự trên cõi Thượng tầng Tối cao đặt ra quyển Chơn Kinh đặng khuyên răn đời, dưỡng dục đời và bảo toàn tánh mạng cho tất cả người đời. XƯNG TÁN ĐỊA MẪU

    – Địa Mẫu đấng tối cao giác ngộ

    – Điển linh quang tế độ chúng sanh

    – Hỡi ai chớ có lạc lầm

    – Lời vàng châu ngọc chỉ rành nẻo tu

    – Cõi trần thế mịt mù tăm tối

    – Phải nghe lời Mẹ thuyết chơn kinh

    – Chớ ham vật chất lụy phiền

    – Sớm mau thức tỉnh Mẹ ban phước lành NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH (3 Biến)

    – Đốt hương trầm thấu đến Diệu cung

    – Thành tâm khẩn nguyện Đức Mẫu từ

    – Trên khói hương này Kim Mẫu ngự

    – Cảm ứng chứng minh tất lòng thành NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH

    – Khai đuốc huệ tâm đăng tỏa sáng

    – Trăm ngàn muôn kiếp dễ gặp đâu

    – Hạ ngươn kỳ ba Long Hoa Hội

    – Mẹ ban điển lành mới rõ thông NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH (3 Biến) NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU

    DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU

    DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU

    DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU

    DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU

    DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU

    DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG

    ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG

    CHƠN KINH (3 Biến) VÃNG SANH THẦN CHÚ Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tì, a di rị đa tất đam bà tì, a di rị đa tì ca lan đế, a di rị đa tì ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha. O (đọc 3 lần) NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG DIÊU TRÌ

    KIM MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG TỪ TÔN

    ĐẠI TỪ TÔN CẢM ỨNG CHỨNG MINH

    A DI ĐÀ PHẬT (1 biến)

    TỤNG KINH XONG, TIẾP TỤC BÀI NGUYỆN NÀY:

    NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH (3 biến) Qui y Phật Mẫu cứu trần thế

    Nguyện xin phước đức vun bồi chúng sanh

    Trần gian biết nẻo tu hành

    Nhờ đèn trí huệ biết đường Phật Tiên

    Qui y Pháp là phương giải thoát

    Điển huyền linh bủa khắp trần gian

    Sửa tâm chứng đắc kịp thời

    Linh căn Mẹ điểm hội kỳ Long Hoa

    Qui y Tăng nhơn truyền Mẫu đại

    Phải ăn chay giới luật nghiêm trang

    Hữu hình gia tạm luân hồi

    Vô di thượng cảnh trở về Thiên cung

    THỜI KINH TỤNG ĐẾN ĐÂY ĐÃ HẾT

    • Giải oan nghiệp cho bản thân, gia đình
    • Cầu bình an bản mệnh, gia chung, xin hồng phúc phước danh cho con cháu

    Nếu như ai học hợp duyên Mẫu sẽ linh ứng chỉ bảo tận tình từng đường đi nước bước trong đường đạo cũng như trong cuộc sống

    AI GIEO DUYÊN IN ẤN TỐNG PHỔ IN thì mệnh gia an ổn, giảng nghĩa được cho mọi người thì cháu con hiền sĩ, bổn mệnh bình an đến trọn đời. Đặc biệt, bản thân người ấy sẽ được hưởng Phúc báo lộc thọ phước Vô lượng.

    NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH

    NAM MÔ VÔ CỰC THIÊN TÔN DIÊU TRÌ HOÀNG MẪU VÔ LƯỢNG TỪ TÔN A DI ĐÀ PHẬT.

    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Thăm Đền Mẫu Âu Cơ
  • Đền Mẫu Âu Cơ Phú Thọ
  • Bài Khấn Mẫu Âu Cơ
  • Bài Văn Khấn Tại Đền Cửa Ông Đầy Đủ Chính Xác Nhất
  • Bài Văn Khấn Cô Sáu Lục Cung Chuẩn Công Đồng Tứ Phủ
  • Tải Bài Hát Phật Mẫu Chơn Kinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Gì Với Quả Phật Thủ Sau Khi Thắp Hương?
  • Muốn Thu Tài Hút Lộc Khi Sắm Mâm Ngũ Quả Thắp Hương Nhớ Nhắm Chọn Lấy Quả Phật Thủ, Chuối Có Dấu Hiệu Này
  • Bàn Tay Phật Độc Nhất Vô Nhị: Đại Gia Không Tiếc Tiền Rước Về Thắp Hương
  • Có Nên Thắp Hương Vào Buổi Tối Hay Không ?
  • Lầu Thắp Hương Tại Chùa Bằng Đồng
  • Tạo Hóa Thiên Huyền Vi Thiên Hậu,

    Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì.

    Sanh quang dưỡng dục quần nhi,

    Chơn linh phối nhứt thân vi Thánh hình.

    Thiên cung xuất Vạn linh tùng pháp,

    Hiệp Âm Dương hữu hạp biến sanh.

    Càn Khôn sản xuất hữu hình,

    Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sinh.

    Cộng vật loại huyền linh đồ nghiệp,

    Lập Tam Tài định kiếp hòa căn.

    Chuyển luân định phẩm cao thăng.

    Hư vô bát quái trị thần qui nguyên.

    Diệt tục kiếp trần duyên oan trái,

    Chưởng đào tiên thủ giải trường tồn.

    Nghiệp hồng vận tử hồi môn,

    Chí công định vị vĩnh tồn Thiên Cung.

    Chủ Âm quang thường tùng Thiên mạng,

    Độ chơn thần nhứt vãng nhứt lai.

    Siêu thăng phụng liễn qui khai,

    Tiên cung Phật xứ Cao Đài xướng danh.

    Hội ngươn hữu Chi Linh huấn chúng,

    Đại Long Hoa nhơn chủng hòa Ki (là cơ)

    Tam kỳ khai hiệp Thiên thi,

    Khoa môn Tiên vị ngộ kỳ Phật duyên.

    Trung khổ hải độ thuyền Bát nhã,

    Phước từ bi giải quả trừ căn.

    Huờn hồn chuyển đọa vi thăng,

    Cửu Tiên hồi phục Kim Bàn Chưởng Âm,

    Thập Thiên Can bao hàm vạn tượng,

    Tùng địa chi hóa trưởng Càn khôn.

    Trùng huờn phục vị Thiên môn,

    Ngươn linh hóa chủng quỉ hồn nhứt thăng.

    Vô siêu đọa quả căn hửu pháp,

    Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan.

    Vô địa ngục, vô quỉ quan,

    Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên.

    Chiếu ngũ lịnh Từ Huyên thọ sắc,

    Độ anh nhi nam, bắc, đông, tây.

    Kỳ khai tạo nhứt Linh Đài,

    Diệt hình tà pháp cường khai Đại Đồng.

    Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch,

    Qui thiên lương quyết sách vận trù.

    Xuân Thu, Phất Chủ, Bát vu.

    Hiệp qui Tam Giáo hữu cầu chí chơn

    Phục nguyên nhơn huờn tồn Phật tánh,

    Giáo hóa hồn hữu hạnh hữu duyên.

    Trụ căn quỉ khí cửu tuyền,

    Quản khai thiên thượng tạo quyền chí công

    Lịnh Mẫu Hậu khai Tông định Đạo,

    Ân dưỡng sanh đảm bảo hồn hài

    Càn khôn Tạo Hóa sánh tài.

    Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bài mộ khang.

    “Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Tạo Hóa Huyền Thiên Cảm Bái”

    “Nam mô Đại Từ Bi Năng Hỉ Xả Thiên Hậu, Chí Tôn, Đại Bi, Đại Ái”

    Tải bài hát Phật Mẫu Chơn Kinh miễn phí về điện thoại, thẻ nhớ, usb cực nhanh và dễ dàng, tai bai Phật Mẫu Chơn Kinh, download nhac Phật Mẫu Chơn Kinh, Phật Mẫu Chơn Kinh mp3.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoa Trang Đỏ ( Hoa Mẫu Đơn )
  • Những Loại Hoa Mang Lại May Mắn, Nhất Định Phải Mua Cắm Trong Nhà Ngày Vu Lan
  • Những Loài Hoa Nên Bày Trên Bàn Thờ Để Mang Nhiều Tài Lộc Cho Gia Đình
  • Ngày Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Ùn Ùn Kéo Tới?
  • Mùng 1 Thắp Hương Hoa Gì Để Phúc Lộc Đầy Nhà?
  • Cửu Thiên Huyền Nữ Trị Tâm Tiêu Nghiệt Chân Kinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngày Vía Thần Tài 2022 Là Ngày Nào? Ngày Thần Tài Cúng Gì Nhiều Tài Lộc
  • Cách Làm Bùa Buôn May Bán Đắt Khách Hiệu Nghiệm
  • Những Câu Chúc Buôn May Bán Đắt Hay, Ấn Tượng Nhất
  • Mật Tông: Cúng Dường Mandala Là Biểu Tượng Của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới
  • Cúng Dường Chư Tăng Được Hưởng Phước Hữu Lậu Và Phước Vô Lậu, Phải Không?
  • 淨水讚

    先天真水。淨洗靈臺。楊枝一滴洗塵埃。凡境寂蓬萊。

    滌穢消災。香林法界開。

    皈命蕩魔解穢大天尊 (三稱)

    淨香讚

    香焚寶鼎。氣達先天。威光炬赫接雲煙。降鑑此心虔。

    展誦靈篇。擁護仗雷鞭。

    皈命香林說法大天尊 (三稱)

    太上起經讚

    祥雲初起。法界氤氳。羅天海島異香騰。到處覆慈雲。

    達信通誠。萬聖盡遙臨。達信通誠。萬聖盡遙臨。

    皈命 大聖香雲浮蓋大天尊 (三稱)

    淨口咒

    人言從口出。出納必慬防。懾心勿妄吐。清心誦經章。

    急急如律令。

    淨心咒

    人心本善良。雜念必提防。虔誠無雜念。仙佛降經堂。

    急急如律令。

    淨身咒

    身在紅塵穢氣薰。但須沐浴對高真。身淨更衣無塵染。

    聖佛仙真即降臨。急急如律令。

    恭 請

    九天玄女寶誥 志心皈命禮 (三稱)

    先天神姆。上世仙姑。莊嚴妙相。常現娑婆世界。清淨法身。

    早登梵剎瑯嬛。玄都天界。繫玉腰金。員嶠方壺。蒸沙煮石。

    放無級之神光。普照群生。運玄元之道氣。化成萬物。

    功垂今古。德配乾坤。位列九天。掌造化之樞機。靈通三界。

    司雷霆之號令。慈悲廣大。變化無窮。手持寶劍。

    斬魔王於斗垣之下。足踏金蓮朝皇母於瑤闕之中。

    宏慈宏願。至顯至靈。九天玄女無極護國元君 (三稱)

    恭誦 九天玄女治心消孽真經

    開經偈

    無極三千界。玄元運化功。

    道高居上世。妙相現瑤宮。

    開經讚

    爐香乍熱。透上 九天。氤氳瑞氣繞前。 奉請高真虔。

    普度良緣。消孽治心田。

    皈命 九天玄女無極護國元君 (三稱)

    爾時, 元 君曰,人心惟危,道心惟微,危者何,人心勝,

    而道心因之紛擾,微者何,道心失,而人心因以梏亡,

    故人心欲其自修自省、無任騖馳,道心欲其無怠無荒、

    時加積累。無如學道者多,而知道者少,道其所道,

    非無所謂道,慕道之名、昧道之實、以此為學道、

    其不背道也者幾希。噫,道在目前、人自不求耳。

    揆厥其故,人心用事、而道心無權,何者,克伐怨欲、

    四端叢起迭生,而人心所由熾、道心所由昧也。

    克者,好勝之謂,人特患甘為暴棄,自暴者、不足與有言,

    自棄者,不足與有微,果能有自勝之心,爭勝於天人之界,

    賦畀賴以擴充、求勝於克復之間,物累賴以消去,

    以視委靡不振,巽懦弗前者,豈不遠甚。其奈好字未除,

    則悻悻以爭勝。所爭者,愈失本真,且忿忿以求勝,

    所求者,無關要蘊,此則小丈夫所為,非吾道中人也。

    伐者,誇功之謂。

    古大禹不矜不伐、天平地成、建萬古宏功、猶聞善言而拜受,

    無他,聖德愈高、聖量愈廣,聖不自聖、乃以為聖。

    且也、聖門顏子、無伐善、無施勞,蓋以善者、性分所當為、

    何伐之有,勞者,職分所當盡,何施之有,方且有若無,

    實若虛、欿然時懷不足,所由為復聖,而三月不違、一間未達耳。

    他如軍後曰殿、捍三軍之生命成一將之功勛。

    孟之反入門策馬兩語、夫子特表其微,

    降而大樹將軍猶有斯風,試問伐者所伐何功乎,

    有創非常之功否,古昔聖賢,功不敢伐,何井蛙之見,

    嘖嘖自矜、徒見其不知量也。怨則尤、不足道,

    君子素位而行,上不怨天、下不尤人,方為實際功修。

    何則,怨尤之念一生,則僥倖之心勝,而詭詐中之。

    抑窺伺之心勝,而奸險中之,且訕謗之心勝、而浮薄中之。

    謂天可怨乎,而顯道惟彰,天故不任怨也,謂人可怨乎,

    而公評具在,人故不任怨也,爾徒自怨而喪心,心量日褊,

    爾徒自怨而汩性,性真日漓,恐怨則招咎、怨則造孽。

    爾、將以怨而罹奇窮膺奇禍也。

    詩三百篇溫柔惇厚、怨而不怒、深得和平之旨。

    無論讀書與未讀書、童時蒙塾初入,有不讀過風詩歟。

    欲,故為情之累,

    貪者,戀所欲而貪生,

    嗔者,拂所欲而嗔起,

    痴者,注於欲而若迷,

    愛者,溺於欲而弗返,

    理欲不能兩立,欲勝則理亡。

    學儒者,以克己復禮、為袪私而存理,

    學佛者,以淨根證果、為參禪而入定,

    學道者,以斷障除魔、為明心而見性。

    欲字一關未破,則三教功夫無從下手,

    聲色貨利、日紛紛於徵逐之場,得失窮通,時擾擾於觀望之際。

    如是,則為機變之巧者、無所用恥,且為穿窬之行者、殆不知羞。

    余自設筏濟度以來,無非以聖賢階級仙佛筌蹄,

    深有望於天下人,特患甘自鄙薄,克伐怨欲之心未加修治,

    甚非任道之器、有辜學道之名。道於何學,在去其人心、而存其道心。

    人心者,克伐怨欲所見端也,道心者,仁義理智所同具也,

    尚其返而自審焉可。

    偈 曰

    朝乾夕惕意精虔 勤誦經文句句鮮

    立法度人崇教道 心明體潔絕塵緣

    元君曰,

    無心者謂之過,有心者謂之惡,過出於不自知,惡成於有所恃,

    所以有過,許其自新,懺悔之條自在,為惡降之冥罰,

    禍淫之律難寬。

    要之,上天以好生為心,豈有生之、而反殺之乎。

    書曰,天作孽,尤可違,自作孽、不可逭非天之慾殺人也,

    實人自作孽而已。孽者,惡之積也,

    怙惡若有不悛作孽豈不滋重。人亦何苦自貽伊戚致孽,

    或報於自身、或報於子孫,迨至流禍無窮,殃咎疊至,

    因之,罹刀兵劫,罹水火劫,罹疫癘劫,不特一身難保,

    而且子孫貽累。

    易曰,積不善之家,必有餘殃,殃未盡者,必不能昌,

    言之可為太息,且人皆有天良,各具性理,斷無明知為惡,

    而故蹈之者,無如貨利之心中之,聲色之心中之,

    因而憧憧擾擾汨溺無已。

    貪嗔之念勝之,痴愛之念勝之,因而倒倒癲癲沉迷惘悟。

    如是,則貪酷甚寖,而為刻薄之惡,

    淫蕩甚寖、而為奸邪之惡,猖狂甚寖、而為強橫之惡,

    且也傲狠甚,而暴虐之惡成,殘忍甚,而險毒之惡成,

    澆薄甚,而詐瞞之惡成,奸宄甚,而吞噬之惡成,

    至若不忠不孝,元惡大憝,律在不赦,則不足言矣。

    噫,且三代下,世風日薄,人心不古,雖曰,

    運會使然,要亦人事不能無責焉,大抵皆習與性成,

    近君子之日少,親小人之日多,交遊不慎,比匪成群。

    孔子云,群居終日、言不及義、好行小惠、正有感於斯耳,

    無他,未聞善言,未見善行,所沾染者,無非惡類,

    所睹記者,無非惡事,以致善心日滅,噁心日熾,

    惡有成於不自知者,惡有成於不自檢者,

    今試執人裾而道之曰,爾說某言是惡言,爾行某事是惡事,

    未有不怫然怒,勃然忿者,熟知,爾不自以為惡,其惡實深,

    譬如酖脯之毒、中於肺腑,且如鮑臭之腥、習於口鼻,

    不知不覺叢惡為孽、積孽為禍,陽則干王章,陰則罹冥譴。

    高明之家,鬼瞰其室,豈無廣夏華屋,不再過而為虛者矣,

    豈無鳴鐘列鼎,不再傳而凌替者矣,人生世上,不過數十寒暑,

    何不反而自思與其為惡而罹殃,何若為善而造福,禍福無門,為人所召。

    太上有云,感應之理昭然,爾等雖巧於盤算,豈能如聖佛之算,

    毫釐秒忽、一一不差,爾等雖工於度量,豈能如聖佛之量,抽補扣除,

    在在分明,人即可欺,而天豈可欺,人即可奪,而天豈可奪,

    所願各存天良、各保性理,勿為情誘、勿為物動。

    平旦之氣、無失幾希,屋漏之神、勿貽譴責。

    勿以小惡為無傷,則小懲大誡,放下屠刀、立地證佛,

    天亦何棄於斯人、而拒絕之不已也,尚其知所猛省焉可。

    偈曰

    天堂地府路相通 生降由人立過功

    作惡不如勤積德 施仁樂善感蒼穹

    元君再曰,無心者、謂之過,有心者、謂之惡,過與惡介在幾希,

    所爭只一間耳。人非聖賢,孰能無過,出一言,

    而過即伏之,所以貴守口也,行一事,而過即乘之,

    所以貴守身也,一言有不及檢、口過由於不自覺,

    一事有不及防、身過由於不自知,

    是則觀過知仁、未嘗不略其跡、而諒其心。

    心、果無他,則口即有過,而其心自可白也,心、果不貳,

    則身即有過,而其心自可原也,戒慎不睹、恐懼不聞,

    慎獨工夫,非不於至微至隱處、深加檢攝,

    亦謂守口之嚴、持身之密,一出言、而遠口過,

    一行事、而泯身過,然此可為君子道,而非所概於世人也。

    不必求其無過,而祇求其能寡過,不必求其寡過,而祇求其能悔過,

    不必求其悔過,而祇求其能改過,知改過而悔過,

    因之知悔過而寡過,因之知寡過而無過,因之由勉幾安、即難求易。

    孔聖有云,過而不改是謂過矣,所望於世人者,如何悚切、如何詳明。

    口有過、而易時已知,宜勿蹈夫前轍,身有過、而逾後已覺,

    宜勿狃夫迷途,往不可諫,來猶可追。

    所由守口如瓶、恐其滿而易溢焉,持身如玉、恐其玷而難磨焉,

    先謹省於未有過之前,勿使其潛滋暗長,並痛懲於己有過,

    勿使其迭起叢生,是則改過為大關鍵,因改知悔,因悔求寡,

    如此則無過,不敢言而無大過。

    其庶乎,不然,昏昧者,無論已,其有剛愎自是者,

    明見為過、而堅意獨行,亦有掩飾為工者,顯知為過、

    而操心莫測。於是有護其過、諱其過者,未有不流為文過之。

    小人恐積慣自然,彼將不知為過,要之不知為過,

    過所由而日深也,不見為過,過所由而愈積也,

    過既深、過既積、將不謂之過、直謂之惡。

    無他,無心有心,辨知不可不早也。

    籲,既謂之惡,即因以生孽,且因以獲咎,

    近報則在己身,遠報則在兒孫,其始祇由鮮毫之過而起,

    豈不可惜也夫,豈不可慨也夫。

    偈曰

    聖佛慈悲度善良 至誠合掌獻心香

    真經引路文雖短 凜守箴規萬世昌

    書云,德無常師,主善為師,所貴乎善者,出一言必曰善言,

    然猶其發諸口也,行一事必曰善事,然猶其措諸身也,

    出善言,安知其誠偽,論篤色莊、由是判焉,行善事,

    安知其虛實,正誼謀利,由是分焉,以此知,

    言雖善不足為據也、事雖善不足為憑也、要在心善而已,

    時存善心、凡有言自無不善,即未有言、而善機無不默含,

    時存善心、凡有事自無不善,即未有事、而善念無不堅矢,

    所由說好話、行好事,在存好心而已。近世以來,

    運會遞降,習尚愈趨愈下,方未知伊於胡底,要之,

    與挽天心、在修人心,天定固能勝人,人定亦可勝天,

    天人一理,人心日存惡念,則戾氣應之,

    凡如雨暘失時,釀為沴厲,以為天降戾氣,實則人心召之也,

    人心日存善念,則和氣隨之,凡如和甘應候、兆微豐棯以為天降和氣,

    實則人心感之也。正心由於誠意,誠意本於慎獨,是以戒慎其所不睹,

    恐懼其所不聞。原以靜養此心、默斂此心、堅持此心。

    靜養者何養其心於平旦,期此心之保其善。

    默斂者何,歛其心於清夜,其此心之擴其善。

    堅持者何,持其心於暗室,期此心之儲其善。歷觀

    儒家理學功夫,從實處修踐,

    道家玄妙功夫,從靜處修持,

    釋家空寂功夫,從虛處修證,

    究之,皆在心上用功,無非欲此心之無不善。

    儒曰,正心心善則心正焉,

    道曰,淨心心善則心淨焉,

    釋曰,守心心善則心守焉,

    三教本自同歸,撤上撤下,理無二致。

    所為世人勗者,不必言希賢希聖,不必言為仙為佛,

    祇此迓天而修人事,總由時積善心,而言自無不善,

    言者心之聲,亦行自無不善,言者心之表,

    如是優焉、遊焉,日想昇平之福,豈不樂也夫。

    應驗曰

    誠誦治心消孽經 一家安泰獲康寧

    誠誦治心消孽經 魑魅魍魎永滅形

    誠誦治心消孽經 父母壽算得延齡

    誠誦治心消孽經 過往先人可超生

    誠誦治心消孽經 水火刀兵永不侵

    誠誦治心消孽經 坐禪深夜道心清

    誠誦治心消孽經 三災八難永離身

    誠誦治心消孽經 國泰民安慶太平

    誠誦治心消孽經 善功圓滿作神明

    完經讚

    治心消孽,福壽延綿,經功完滿樂無邊,瑞氣映金蓮,恭送九天、濟世泛慈船。

    皈 命

    九天玄女無極護國元君 (三稱)

    Tiên thiên chân thuỷ . Tịnh tẩy linh đài . Dương chi nhất tích /trích tẩy trần ai . Phàm cảnh tịch bồng lai .

    Địch uế tiêu tai . Hương lâm pháp giới khai .

    Qui mệnh Đãng Ma Giải Uế Đại Thiên Tôn (tam xưng)

    Hương phần bảo đỉnh . Khí đạt tiên thiên . Uy quang cự hách tiếp vân yên . Giáng giám thử tâm kiền .

    Triển tụng linh thiên . Ủng hộ trượng lôi tiên .

    Qui mệnh Hương Lâm Thuyết Pháp Đại Thiên Tôn (tam xưng)

    Tường vân sơ khởi . Pháp giới nhân huân . La thiên hải đảo dị hương đằng . Đáo xứ phúc từ vân .

    Đạt tín thông thành . Vạn thánh tận dao lâm . Đạt tín thông thành . Vạn thánh tận dao lâm .

    Qui mệnh Đại Thánh Hương Vân Phù Cái Đại Thiên Tôn (tam xưng)

    Nhân ngôn tùng khẩu xuất . Xuất nạp tất cẩn phòng . Nhiếp tâm vật vọng thổ . Thanh tâm tụng kinh chương .

    Cấp Cấp Như Luật Lệnh .

    Nhân tâm bản thiện lương . Tạp niệm tất đề phòng . Kiền thành vô tạp niệm . Tiên Phật giáng kinh đường .

    Cấp cấp như luật lệnh .

    Thân tại hồng trần uế khí huân . Đản tu mộc dục đối cao chân . Thân tịnh cánh y vô trần nhiễm .

    Thánh Phật tiên chân tức giáng lâm . Cấp cấp như luật lệnh .

    Cửu Thiên Huyền Nữ bảo cáo chí tâm qui mệnh lễ ( tam xưng )

    Tiên thiên thần mẫu . Thượng thế tiên cô . Trang nghiêm diệu tướng . Thường hiện sa bà thế giới . Thanh tịnh pháp thân .

    Tảo đăng phạm sát lang huyên . Huyền đô thiên giới . Hệ ngọc yêu kim . Viên kiểu phương hồ . Chưng sa chử thạch .

    Phóng vô cấp chi thần quang . Phổ chiếu quần sinh . Vận huyền nguyên chi đạo khí . Hoá thành vạn vật .

    Công thuỳ kim cổ . Đức phối càn khôn . Vị liệt cửu thiên . Chưởng tạo hoá chi xu cơ . Linh thông tam giới .

    Tư lôi đình chi hiệu lệnh . Từ bi quảng đại . Biến hoá vô cùng . Thủ trì bảo kiếm .

    Trảm ma vương ư đẩu viên chi hạ . Túc đạp kim liên triều hoàng mẫu ư dao khuyết chi trung .

    Hoành từ hoành nguyện . Chí hiển chí linh . Cửu Thiên Huyền Nữ Vô Cực Hộ Quốc Nguyên Quân (tam xưng)

    Cung Tụng Cửu Thiên Huyền Nữ Trị Tâm Tiêu Nghiệt Chân Kinh

    Vô cực tam thiên giới . Huyền nguyên vận hoá công .

    Đạo cao cư thượng thế . Diệu tướng hiện dao cung .

    Lô hương sạ nhiệt . Thấu thượng cửu thiên . Nhân huân thuỵ khí nhiễu tiền . Phụng thỉnh cao chân kiền .

    Phổ độ lương duyên . Tiêu nghiệt trị tâm điền .

    Qui mệnh Cửu Thiên Huyền Nữ Vô Cực Hộ Quốc Nguyên Quân ( tam xưng)

    Nhĩ thời , Nguyên Quân viết , nhân tâm duy nguy , đạo tâm duy vi , nguy giả hà , nhân tâm thắng , nhi đạo tâm nhân chi phân nhiễu , vi giả hà , đạo tâm thất , nhi nhân tâm nhân dĩ cốc vong , cố nhân tâm dục kỳ tự tu tự tỉnh 、vô nhiệm vụ trì , đạo tâm dục kỳ vô đãi vô hoang 、thời gia tích luỹ . Vô như học đạo giả đa , nhi tri đạo giả thiểu , đạo kỳ sở đạo , phi vô sở vị đạo , mộ đạo chi danh 、muội đạo chi thực 、dĩ thử vi học đạo 、kỳ bất bối đạo dã giả cơ hi . Y , đạo tại mục tiền 、nhân tự bất cầu nhĩ .

    Quỹ quyết kỳ cố , nhân tâm dụng sự 、nhi đạo tâm vô quyền , hà giả , khắc phạt oán dục 、tứ đoan tùng khởi điệt sinh , nhi nhân tâm sở do xí 、đạo tâm sở do muội dã .

    Khắc giả , hiếu thắng chi vị , nhân đặc hoạn cam vi bạo khí , tự bạo giả 、bất túc dữ hữu ngôn , tự khí giả , bất túc dữ hữu vi , quả năng hữu tự thắng chi tâm , tranh thắng ư thiên nhân chi giới ,

    Phú ty lại dĩ khuếch sung 、cầu thắng ư khắc phục chi gian , vật lũy lại dĩ tiêu khứ , dĩ thị uỷ mỵ bất chấn , tốn noạ phất tiền giả , khởi bất viễn thậm . Kỳ nại hiếu tự vị trừ , tắc hãnh hãnh dĩ tranh thắng . Sở tranh giả , dũ thất bản chân , thả phẫn phẫn dĩ cầu thắng , sở cầu giả , vô quan yếu uẩn , thử tắc tiểu trượng phu sở vi , phi ngô đạo trung nhân dã . Phạt giả , khoa công chi vị .

    Cổ đại vũ bất căng bất phạt 、thiên bình địa thành 、kiến vạn cổ hoành công 、do văn thiện ngôn nhi bái thụ , vô tha , thánh đức dũ cao 、thánh lượng dũ quảng , thánh bất tự thánh 、nãi dĩ vi thánh .

    Thả dã 、thánh môn nhan tử 、vô phạt thiện 、vô thi lao , cái dĩ thiện giả 、tính phân sở đương vi 、hà phạt chi hữu , lao giả , chức phận sở đương tận , hà thi chi hữu , phương thả hữu nhược vô , thực nhược hư 、khảm nhiên thời hoài bất túc , sở do vi phục thánh , nhi tam nguyệt bất vi 、nhất gian vị đạt nhĩ .

    Tha như quân hậu viết điện 、hãn tam quân chi sinh mệnh thành nhất tướng chi công huân .

    Mạnh chi phản nhập môn sách mã lưỡng ngữ 、phu tử đặc biểu kỳ vi ,

    Giáng nhi đại thụ tướng quân do hữu tư phong , thí vấn phạt giả sở phạt hà công hồ , hữu sáng phi thường chi công phủ , cổ tích thánh hiền , công bất cảm phạt , hà tỉnh oa chi kiến , sách sách tự căng 、đồ kiến kỳ bất tri lượng dã . Oán tắc vưu 、bất túc đạo , quân tử tố vị nhi hành , thượng bất oán thiên 、hạ bất vưu nhân , phương vi thực tế công tu .

    Hà tắc , oán vưu chi niệm nhất sinh , tắc nhiêu hạnh chi tâm thắng , nhi quỷ trá trung chi .

    Ức khuy tứ chi tâm thắng , nhi gian hiểm trung chi , thả san báng chi tâm thắng 、nhi phù bạc trung chi .

    Vị thiên khả oán hồ , nhi hiển đạo duy chương , thiên cố bất nhiệm oán dã , vị nhân khả oán hồ , nhi công bình cụ tại , nhân cố bất nhiệm oán dã , nhĩ đồ tự oán nhi táng tâm , tâm lượng nhật biên , nhĩ đồ tự oán nhi cốt tính , tính chân nhật ly , khủng oán tắc chiêu cữu 、oán tắc tạo nghiệt .

    Nhĩ 、tương dĩ oán nhi ly kỳ cùng ưng kỳ hoạ dã .

    Thi tam bách thiên ôn nhu đôn hậu 、oán nhi bất nộ 、thâm đắc hoà bình chi chỉ .

    Vô luận độc thư dữ vị độc thư 、đồng thời mông thục sơ nhập , hữu bất độc quá phong thi dư .

    Dục , cố vi tình chi lũy , tham giả , luyến sở dục nhi tham sinh , sân giả , phất sở dục nhi sân khởi , si giả , chú ư dục nhi nhược mê , ái giả , nịch ư dục nhi phất phản , lý dục bất năng lưỡng lập , dục thắng tắc lý vong .

    Học nho giả , dĩ khắc kỷ phục lễ 、vi khư tư nhi tồn lý , học phật giả , dĩ tịnh căn chứng quả 、vi tham thiền nhi nhập định , học đạo giả , dĩ đoạn chướng trừ ma 、vi minh tâm nhi kiến tính .

    Dục tự nhất quan vị phá , tắc tam giáo công phu vô tùng hạ thủ ,

    Thanh sắc hoá lợi 、nhật phân phân ư trưng trục chi trường , đắc thất cùng thông , thời nhiễu nhiễu ư quán vọng chi tế .

    Như thị , tắc vi cơ biến chi xảo giả 、vô sở dụng sỉ , thả vi xuyên du chi hành giả 、đãi bất tri tu .

    Dư tự thiết phiệt tế độ dĩ lai , vô phi dĩ thánh hiền giai cấp tiên phật thuyên đề , thâm hữu vọng ư thiên hạ nhân , đặc hoạn cam tự bỉ bạc , khắc phạt oán dục chi tâm vị gia tu trị , thậm phi nhiệm đạo chi khí 、hữu cô học đạo chi danh . Đạo ư hà học , tại khứ kỳ nhân tâm 、nhi tồn kỳ đạo tâm .

    Nhân tâm giả , khắc phạt oán dục sở kiến đoan dã , đạo tâm giả , nhân nghĩa lý trí sở đồng cụ dã , thượng kỳ phản nhi tự thẩm yên khả .

    Kệ Viết

    Triêu càn tịch dịch ý tinh kiền Cần tụng kinh văn cú cú tiển

    Lập pháp độ nhân sùng giáo đạo Tâm minh thể khiết tuyệt trần duyên

    Vô tâm giả vị chi quá , hữu tâm giả vị chi ác , quá xuất ư bất tự tri , ác thành ư hữu sở thị , sở dĩ hữu quá , hứa kỳ tự tân , sám hối chi điều tự tại , vi ác giáng chi minh phạt , hoạ dâm chi luật nan khoan .

    Yếu chi , thượng thiên dĩ hiếu sinh vi tâm , khởi hữu sinh chi 、nhi phản sát chi hồ .

    Thư viết , thiên tác nghiệt , vưu khả vi , tự tác nghiệt 、bất khả hoán phi thiên chi dục sát nhân dã , thực nhân tự tác nghiệt nhi dĩ . Nghiệt giả , ác chi tích dã , hỗ ác nhược hữu bất thoan tác nghiệt khởi bất tư trọng . Nhân diệc hà khổ tự di y thích trí nghiệt , hoặc báo ư tự thân 、hoặc báo ư tử tôn , đãi chí lưu hoạ vô cùng , ương cữu điệp chí , nhân chi ,ly đao binh kiếp , ly thuỷ hoả kiếp , ly dịch lệ kiếp , bất đặc nhất thân nạn bảo , nhi thả tử tôn di lũy .

    Dịch viết , tích bất thiện chi gia , tất hữu dư ương , ương vị tận giả , tất bất năng xương , ngôn chi khả vi thái tức , thả nhân giai hữu thiên lương , các cụ tính lý , đoạn vô minh tri vi ác , nhi cố đạo chi giả , vô như hoá lợi chi tâm trung chi , thanh sắc chi tâm trung chi , nhân nhi đổng đổng nhiễu nhiễu mịch nịch vô dĩ .

    Tham sân chi niệm thắng chi , si ái chi niệm thắng chi , nhân nhi đảo đảo điên điên trầm mê võng ngộ .

    Như thị , tắc tham khốc thậm tẩm , nhi vi khắc bạc chi ác , dâm đãng thậm tẩm 、nhi vi gian tà chi ác , xương cuồng thậm tẩm 、nhi vi cưỡng hoành chi ác , thả dã ngao ngoan thậm , nhi bạo ngược chi ác thành , tàn nhẫn thậm , nhi hiểm độc chi ác thành , kiêu bạc thậm , nhi trá man chi ác thành , gian quỹ thậm , nhi thôn phệ chi ác thành , chí nhược bất trung bất hiếu , nguyên ác đại đỗi , luật tại bất xá , tắc bất túc ngôn hĩ .

    Y , thả tam đại hạ , thế phong nhật bạc , nhân tâm bất cổ , tuy viết , vận hội sử nhiên , yếu diệc nhân sự bất năng vô trách yên , đại để giai tập dữ tính thành , cận quân tử chi nhật thiểu , thân tiểu nhân chi nhật đa , giao du bất thận , tỷ phỉ thành quần .

    Khổng Tử vân , quần cư chung nhật 、ngôn bất cập nghĩa 、hiếu hành tiểu huệ 、chính hữu cảm ư tư nhĩ , vô tha , vị văn thiện ngôn , vị kiến thiện hành , sở triêm nhiễm giả , vô phi ác loại , sở đổ ký giả , vô phi ác sự , dĩ trí thiện tâm nhật diệt , ác tâm nhật xí , ác hữu thành ư bất tự tri giả , ác hữu thành ư bất tự kiểm giả , kim thí chấp nhân cư nhi đạo chi viết , nhĩ thuyết mỗ ngôn thị ác ngôn , nhĩ hành mỗ sự thị ác sự , vị hữu bất phất nhiên nộ , bột nhiên phẫn giả , thục tri , nhĩ bất tự dĩ vi ác , kỳ ác thực thâm , thí như bô chi độc 、trung ư phế phủ , thả như bào xú chi tinh 、tập ư khẩu tỵ , bất tri bất giác tùng ác vi nghiệt 、tích nghiệt vi hoạ , dương tắc can vương chương , âm tắc ly minh khiển .

    Cao minh chi gia , quỷ khám kỳ thất , khởi vô quảng hạ hoa ốc , bất tái quá nhi vi hư giả hĩ , khởi vô minh chung liệt đỉnh , bất tái truyền nhi lăng thế giả hĩ , nhân sinh thế thượng , bất quá số thập hàn thử , hà bất phản nhi tự tư dữ kỳ vi ác nhi ly ương , hà nhược vi thiện nhi tạo phước , hoạ phước vô môn , vi nhân sở triệu .

    Thái thượng hữu vân , cảm ứng chi lý chiêu nhiên , nhĩ đẳng tuy xảo ư bàn toán , khởi năng như thánh phật chi toán , hào li sao hốt 、nhất nhất bất sai , nhĩ đẳng tuy công ư độ lượng , khởi năng như thánh phật chi lượng , trừu bổ khấu trừ , tại tại phân minh , nhân tức khả khi , nhi thiên khởi khả khi , nhân tức khả đoạn , nhi thiên khởi khả đoạn , sở nguyện các tồn thiên lương 、các bảo tính lý , vật vi tình dụ 、vật vi vật động .

    Bình đán chi khí 、vô thất cơ hi , ốc lậu chi thần 、vật di khiển trách .

    Vật dĩ tiểu ác vi vô thương , tắc tiểu trừng đại giới , phóng hạ đồ đao 、lập địa chứng Phật , thiên diệc hà khí ư tư nhân 、nhi cự tuyệt chi bất dĩ dã , thượng kỳ tri sở mãnh tỉnh yên khả .

    Thiên đường địa phủ lộ tương thông , sinh giáng do nhân lập quá công,

    Tác ác bất như cần tích đức, thi nhân lạc thiện cảm thương khung .

    Nguyên Quân tái viết , vô tâm giả 、vị chi quá , hữu tâm giả 、vị chi ác , quá dữ ác giới tại cơ hi , sở tranh chỉ nhất gian nhĩ . Nhân phi thánh hiền , thục năng vô quá , xuất nhất ngôn , nhi quá tức phục chi , sở dĩ quí thủ khẩu dã , hành nhất sự , nhi quá tức thặng chi , sở dĩ quí thủ thân dã , nhất ngôn hữu bất cập kiểm 、khẩu quá do ư bất tự giác , nhất sự hữu bất cập phòng 、thân quá do ư bất tự tri , thị tắc quán quá tri nhân 、vị thường bất lược kỳ tích 、nhi lượng kỳ tâm .

    Tâm 、quả vô tha , tắc khẩu tức hữu quá , nhi kỳ tâm tự khả bạch dã , tâm 、quả bất nhị , tắc thân tức hữu quá , nhi kỳ tâm tự khả nguyên dã , giới thận bất đổ , khủng cụ bất văn , thận độc công phu , phi bất ư chí vi chí ẩn xứ 、thâm gia kiểm nhiếp , diệc vị thủ khẩu chi nghiêm 、trì thân chi mật , nhất xuất ngôn 、nhi viễn khẩu quá , nhất hành sự 、nhi dẫn thân quá , nhiên thử khả vi quân tử đạo , nhi phi sở khái ư thế nhân dã .

    Bất tất cầu kỳ vô quá , nhi kỳ cầu kỳ năng quả quá , bất tất cầu kỳ quả quá , nhi kỳ cầu kỳ năng hối quá , bất tất cầu kỳ hối quá , nhi kỳ cầu kỳ năng cải quá , tri cải quá nhi hối quá , nhân chi tri hối quá nhi quả quá , nhân chi tri quả quá nhi vô quá , nhân chi do miễn cơ an 、tức nan cầu dị .

    Khổng Thánh hữu vân , quá nhi bất cải thị vị quá hĩ , sở vọng ư thế nhân giả , như hà tủng thiết 、như hà tường minh .

    Khẩu hữu quá 、nhi dị thời dĩ tri , nghi vật đạo phu tiền triệt , thân hữu quá 、nhi du hậu dĩ giác , nghi vật nữu phu mê đồ , vãng bất khả gián , lai do khả truy .

    Sở do thủ khẩu như bình 、khủng kỳ mãn nhi dị dật yên , trì thân như ngọc 、khủng kỳ điếm nhi nạn ma yên ,

    Tiên cẩn tỉnh ư vị hữu quá chi tiền , vật sử kỳ tiềm tư ám trưởng , tịnh thống trừng ư kỷ hữu quá , vật sử kỳ điệt khởi tùng sinh , thị tắc cải quá vi đại quan kiện , nhân cải tri hối , nhân hối cầu quả , như thử tắc vô quá , bất cảm ngôn nhi vô đại quá .

    Kỳ thứ hồ , bất nhiên , hôn muội giả , vô luận dĩ , kỳ hữu cương phục tự thị giả , minh kiến vi quá 、nhi kiên ý độc hành , diệc hữu yểm sức vi công giả , hiển tri vi quá 、nhi thao tâm mạc trắc . ư thị hữu hộ kỳ quá 、huý kỳ quá giả , vị hữu bất lưu vi văn quá chi .

    Tiểu nhân khủng tích quán tự nhiên , bỉ tướng bất tri vi quá , yếu chi bất tri vi quá , quá sở do nhi nhật thâm dã , bất kiến vi quá , quá sở do nhi dũ tích dã , quá kí thâm 、quá kí tích 、tướng bất vị chi quá 、trực vị chi ác .

    Vô tha , vô tâm hữu tâm , biện tri bất khả bất tảo dã .

    Dụ , kí vị chi ác , tức nhân dĩ sinh nghiệt , thả nhân dĩ hoạch cữu , cận báo tắc tại kỷ thân , viễn báo tắc tại nhi tôn , kỳ thuỷ kỳ do tiển hào chi quá nhi khởi , khởi bất khả tích dã phù , khởi bất khả khái dã phù .

    Thánh phật từ bi độ thiện lương Chí thành hợp chưởng hiến tâm hương

    Chân kinh dẫn lộ văn tuy đoản Lẫm thủ châm qui vạn thế xương

    Thư vân , đức vô thường sư , chủ thiện vi sư , sở quí hồ thiện giả , xuất nhất ngôn tất viết thiện ngôn , nhiên do kỳ phát chư khẩu dã , hành nhất sự tất viết thiện sự , nhiên do kỳ thố chư thân dã , xuất thiện ngôn , an tri kỳ thành nguỵ , luận đốc sắc trang 、do thị phán yên , hành thiện sự , an tri kỳ hư thực , chính nghị mưu lợi , do thị phận yên , dĩ thử tri , ngôn tuy thiện bất túc vi cứ dã 、sự tuy thiện bất túc vi bằng dã 、yếu tại tâm thiện nhi dĩ ,

    thời tồn thiện tâm 、phàm hữu ngôn tự vô bất thiện , tức vị hữu ngôn 、nhi thiện cơ vô bất mặc hàm , thời tồn thiện tâm 、phàm hữu sự tự vô bất thiện , tức vị hữu sự 、nhi thiện niệm vô bất kiên thỉ , sở do thuyết hiếu thoại 、hành hiếu sự , tại tồn hiếu tâm nhi dĩ . Cận thế dĩ lai , vận hội đệ giáng , tập thượng dũ xu dũ hạ , phương vị tri y ư hồ để , yếu chi , dữ vãn thiên tâm 、tại tu nhân tâm , thiên định cố năng thắng nhân , nhân định diệc khả thắng thiên , thiên nhân nhất lý , nhân tâm nhật tồn ác niệm , tắc lệ khí ứng chi , phàm như vũ dương thất thời , tương vi lệ lệ , dĩ vi thiên giáng lệ khí , thực tắc nhân tâm triệu chi dã , nhân tâm nhật tồn thiện niệm , tắc hoà khí tuỳ chi , phàm như hoà cam ưng hậu 、triệu vi phong nẫm dĩ vi thiên giáng hoà khí , thực tắc nhân tâm cảm chi dã . Chính tâm do ư thành ý , thành ý bản ư thận độc , thị dĩ giới thận kỳ sở bất đổ , khủng cụ kỳ sở bất văn . Nguyên dĩ tĩnh dưỡng thử tâm 、mặc liễm thử tâm 、kiên trì thử tâm .

    Tĩnh dưỡng giả hà dưỡng kỳ tâm ư bình đán , kỳ thử tâm chi bảo kỳ thiện .

    Mặc liễm giả hà , kiệm kỳ tâm ư thanh dạ , kỳ thử tâm chi khuếch kỳ thiện .

    Kiên trì giả hà , trì kỳ tâm ư ám thất , kỳ thử tâm chi trừu kỳ thiện . lịch quán Nho Gia lý học công phu , tùng thực xứ tu tiễn , Đạo Gia huyền diệu công phu , tùng tĩnh xứ tu trì , Thích Gia không tịch công phu , tùng hư xứ tu chứng , cứu chi , giai tại tâm thượng dụng công , vô phi dục thử tâm chi vô bất thiện .

    Nho viết , chính tâm tâm thiện tắc tâm chính yên ,

    Đạo viết , tịnh tâm tâm thiện tắc tâm tịnh yên ,

    Thích viết , thủ tâm tâm thiện tắc tâm thủ yên ,

    Tam giáo bản tự đồng qui , triệt thượng triệt hạ , lý vô nhị trí .

    Sở vi thế nhân trợ giả , bất tất ngôn hi hiền hi thánh , bất tất ngôn vi Tiên vi Phật , kỳ thử nhạ thiên nhi tu nhân sự , tổng do thời tích thiện tâm , nhi ngôn tự vô bất thiện , ngôn giả tâm chi thanh , diệc hành tự vô bất thiện , ngôn giả tâm chi biểu , như thị ưu yên 、du yên , nhật tưởng thăng bình chi phước , khởi bất lạc dã phù .

    Thành tụng Trị Tâm Tiêu Nghiệt Kinh nhất gia an thái hoạch khang ninh

    Thành tụng Trị Tâm Tiêu Nghiệt Kinh ly mỵ võng lượng vĩnh diệt hình

    Thành tụng Trị Tâm Tiêu Nghiệt Kinh phụ mẫu thọ toán đắc diên linh

    Thành tụng Trị Tâm Tiêu Nghiệt Kinh quá vãng tiên nhân khả siêu sinh

    Thành tụng Trị Tâm Tiêu Nghiệt Kinh thuỷ hoả đao binh vĩnh bất xâm

    Thành tụng Trị Tâm Tiêu Nghiệt Kinh toạ thiền thâm dạ đạo tâm thanh

    Thành tụng Trị Tâm Tiêu Nghiệt Kinh tam tai bát nạn vĩnh ly thân

    Thành tụng Trị Tâm Tiêu Nghiệt Kinh quốc thái dân an khánh thái bình

    Thành tụng Trị Tâm Tiêu Nghiệt Kinh thiện công viên mãn tác thần minh

    Trị Tâm Tiêu Nghiệt , phước thọ diên miên , kinh công hoàn mãn lạc vô biên , thuỵ khí ánh kim liên , cung tống cửu thiên 、tế thế phiếm từ thuyền .

    Cửu Thiên Huyền Nữ Vô Cực Hộ Quốc Nguyên Quân ( tam xưng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xôi Chè Cúng Đất Đai Cần Bao Nhiêu Phần Là Đầy Đủ Lễ?
  • Tu Cứu Cửu Huyền Thất Tổ
  • Bỏ Túi Ngay Ý Nghĩa Và Cách Bài Trí Bàn Thờ Cửu Huyền Thất Tổ Cực Hay
  • Tuyển Tập Các Bài Tác Bạch
  • Những Bài Văn Tác Bạch Cho Chư Phật Tử
  • Mẫu 5: Lngd Khi Đọc Kinh Giỗ

    --- Bài mới hơn ---

  • Dân Gian Quan Niệm Rằng Khi Chôn Cất Sau 3 Ngày Thì Hồn Phách Người Chết Hội Lại Tỉnh Táo Rồi, Nhưng Nếu Không Mở Cửa Mả Thì Họ Không Tỉnh Hẳn Được, Không Thể Trở Lên Mặt Đất, Cũng Không Biết Đường Về
  • Giỏ Trái Cây Làm Quà Tặng Gtc003
  • Chương Trình Lễ Giỗ Bà Thứ Phi Hoàng Phi Yến Lần Thứ 235 Năm 2022
  • Côn Đảo Chuẩn Bị Tổ Chức Lễ Giỗ Lần Thứ 235 Bà Phi Yến
  • Lễ Giỗ Bà Phi Yến Tại Côn Đảo
  • Cộng đoàn thân mến, Chúa Giêsu Kitô đã chết để tiêu diệt sự chết nơi chúng ta, và đã sống lại để ban cho chúng ta sự sống mới. Ước chi lời cầu nguyện của chúng ta trong giờ phút này giúp chúng ta chia sẻ cùng một niềm hy vọng.

    1. Lạy Chúa, ÔBACE (…) là người thân thích đã lìa bỏ chúng con. Xin cho ÔBACE (…) được mau về với Chúa. Chúng con cầu xin Chúa. Đáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

    2. Xin Chúa thương tha mọi lỗi lầm mà ÔBACE (…) đã xúc phạm đến Chúa, vì những yếu đuối của loài người. Chúng con cầu xin Chúa. Đáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

    3. Xin cho những việc tốt lành mà ÔBACE (…) đã làm, đem lại nhiều kết quả và còn được người khác tiếp tục cho sáng Danh Chúa. Chúng con cầu xin Chúa. Đáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

    4. Xin cho hình ảnh ÔBACE (…) được in sâu trong tâm hồn chúng con, và cho chúng con khi tưởng nhớ ÔBACE (…) chúng con càng được thêm gần gũi Chúa. Chúng con cầu xin Chúa. Đáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

    5. Xin Chúa an ủi và nâng đỡ các anh chị em, con cháu (chắt…) của ÔBACE (…), bằng những ơn lành cần thiết. Chúng con cầu xin Chúa. Đáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

    Chúng ta dâng lời cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã muốn con Chúa là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con chịu chết và sống lại để cứu chuộc chúng con. Xin hãy lấy lòng thương xót mà cho linh hồn ÔBACE (…) được nghỉ yên muôn đời. Xin Chúa cũng an ủi mọi người trong gia đình ÔBACE (…), đang hợp ý cầu nguyện trong ngày giỗ hôm nay. Xin cho họ được vững lòng trông cậy Chúa và đợi ngày gặp lại người thân yêu trên Nước Trời. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thợ Mộc Và Lịch Sử Của Nghề Mộc
  • 6 Cách Dỗ Trẻ Sơ Sinh Ngủ Cực Đơn Giản Và Hiệu Quả Cho Mẹ
  • Thư Gửi Mẹ Nhân Ngày Giỗ Người.
  • Kỷ Niệm Những Ngày Giỗ
  • Giỗ Tổ Ngành Tóc Việt Nam 2022 – Trở Về Cội Nguồn “Nghề Thợ Cạo” Làng Kim Liên
  • Tụng Kinh, Lạy Phật, Sám Hối

    --- Bài mới hơn ---

  • Pháp Lạy Hồng Danh Sám Hối
  • Cách Thỉnh Phật Bà Quan Âm Về Nhà Đúng Chuẩn Chuyên Gia
  • Thỉnh Tượng Phật Quan Âm Đẹp, Chất Lượng Và Uy Tín Ở Đâu Tại Tp Hcm.
  • Những Lưu Ý Khi Thỉnh Tượng Phật Quan Âm
  • Ngày Vía Đức Quan Thế Âm Bồ Tát Tụng Kinh Gì
  • Trong quá trình tiến tu, Thái tử Sĩ Ðạt Ta ngồi thiền định dưới cội bồ đề trong 21 ngày là đạt quả vị Vô thượng Ðẳng giác. Còn chúng ta đầy phiền não, nên ngồi yên thì trần lao hiện ra. Chẳng những không thành Phật, mà tu một lúc chúng ta trở thành hung ác, phiền muộn. Ðó là vì chúng ta chất chứa toàn nghiệp trần lao, nên khi tu, tâm phiền não này có sẵn và tự động bộc phát. Trái lại tâm đức Phật có toàn hột giống thanh tịnh, nó tự nảy mầm, kết thành quả Bồ đề khi Ngài tư duy, thâm nhập thiền định. Có thể ví tâm nhơ bẩn của chúng sinh như đất có sẵn hột cỏ, gặp phân, nước, cỏ lên nhanh. Chúng ta tự xác định mình là chúng sanh với đầy đủ chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não, nên không thể nào làm như Phật. Từ thân phận chúng sanh phàm phu ấy khởi tu, chúng ta cần nỗ lực chuyển nghiệp trước. Ðức Phật dạy rằng quá trình tu tập để chuyển nghiệp không đơn giản, phải trải qua 3 a-tăng-kỳ kiếp mới chuyển được tất cả nghiệp ác của chúng ta.

    Mỗi a-tăng-kỳ kiếp là thời gian vô định, tùy thộc vào năng lực tu hành của từng người khác nhau. A-tăng-kỳ thứ nhất, chúng ta làm sao cho sạch nghiệp, đắc được quả vị A La Hán, mới coi như hoàn tất giai đoạn một. Bước qua a-tăng-kỳ thứ hai, chúng ta tu quán nhân duyên và phát sanh được trí huệ vô lậu, thấy được quá khứ cùng mối tương quan của ta và người. Và ở a-tăng-kỳ thứ ba, chúng ta phải tu Bồ Tát đạo cho viên mãn. Như vậy, một đời người không thể nào thực hiện trọn vẹn 3 việc: thanh tịnh hóa thân tâm, phát sanh trí tuệ và thực hiện đầy đủ công đức. Thành tựu 3 việc này rồi, mới ngồi Bồ Ðề đạo tràng 21 ngày, phá ma quân, thành Vô thượng Ðẳng giác.

    Ý thức tinh thần Phật dạy như thế, chúng ta tự biết không thể tu chân thật môn để tiếp cận được chân lý. Từ đó, chúng ta phải trở lại tu phương tiện của đức Phật, tức tạo điều kiện để chúng ta thâm nhập Phật đạo. Phương tiện mà chúng ta thường tu là đọc tụng kinh điển, kết hợp với tu thiền quán. Vì có đọc kinh điển chúng ta mới tâm đắc và suy nghĩ về lời Phật dạy. Chúng ta đọc tụng và quán sát 12 bộ kinh là 12 vấn đề lớn của đức Phật dạy, đó là bước đầu quán sát giáo pháp Pháp thân. Vì chúng ta không thể thấy trực tiếp Pháp thân Phật, nên coi lời dạy của Phật là Pháp thân Ngài.

    Trong thời gian này, chúng ta siêng năng đọc tụng kinh điển và ngồi yên quán sát lời dạy đó để ứng dụng trong cuộc sống. Lúc ấy chúng ta chỉ mới tu trong tâm. Phương tiện này giúp tâm ta thanh tịnh dễ dàng. Thật vậy trên bước đường tu, chúng ta tự làm cho tâm thanh tịnh không đơn giản. Ðiển hình như Kiều Trần Như hay Xá lợi Phất tu trải qua 60 kiếp cũng không đắc được A La Hán. Nhưng có đức Phật đắc đạo rồi, giống như có người phát minh ra chân lý, chúng ta chỉ cần nghiên cứu chân lý thì dễ hơn, còn tự tìm ra không nỗi. Chúng ta dễ đắc đạo nhờ nương theo giáo pháp Phật có sẵn, suy nghĩ, chứng nghiệm trong cuộc sống. Tu theo pháp Phật, quán sát pháp, phiền não chúng ta tự lắng yên.

    Tôi tâm đắc pháp tu này, vì khi đọc tụng lời Phật, tôi tự cảm thấy an lành, tức lấy hình ảnh đẹp để xóa hình ảnh xấu trong lòng. Tu đúng pháp như vậy, mỗi niệm tâm, ta cảm thấy thăng hoa cuộc sống tâm linh, dần dần đẹp, khỏe, giàu, được kính trọng thêm; vì đã lấy Phật đức trang nghiêm thân tâm. Cách tu này có kết quả nhanh nhất. Thật vậy, ta là phàm phu, nhưng khoác áo Phật vào thân, đưa pháp Phật vào lời nói, lấy tâm Phật gắn vào tâm chúng ta, thì chúng ta trở thành biểu tượng của Phật.

    Như vậy, chỉ mới quán pháp Phật, có giáo pháp Pháp thân thôi, mà chúng ta biến thành thường trú pháp thân Phật, vì lời nói, suy nghĩ, việc làm của chúng ta giống Phật, khiến người liên tưởng đến Phật. Không làm được như vậy, mà chúng ta tu mang hình thức tu, là phạm tội phá pháp. Suy nghĩ lời Phật dạy là Thiền và đọc tụng kinh điển là Giáo; kết hợp hai pháp phương tiện này lại để tu mới có kết quả tốt. Vì đọc kinh suông, không suy nghĩ, không hiểu nghĩa, cũng chẵng có tác dụng gì. Và không thiền thì làm sao phát sanh trí tuệ.

    Trong quá trình tu đọc tụng kinh điển và thiền quán, mỗi ngày phiền não chúng ta lắng yên và tâm trí trở nên sáng suốt. Còn để nguyên phiền não mà đọc tụng kinh thì chúng ta quên lời Phật dạy, không áp dụng được trong cuộc sống lẫn lộn Phật và ma, tất nhiên đầu óc cũng u mê. Ngoài việc sử dụng pháp tụng kinh kèm với thiền quán, chúng ta còn có pháp phương tiện thứ hai là lạy Phật và thiền quán.

    Người đọc tụng kinh điển, nhưng không đạt được kết quả tốt vì không kết hợp pháp đọc tụng kinh với thiền quán, tức miệng đọc mà tâm nghĩ sai trái, nên phước không sanh. Trong lúc đọc tụng kinh và nghĩ đến Phật thì phải hiện tướng bên ngoài tốt, dễ thương; vì Phật dạy tướng tùy tâm hiện. Căn cứ vào lời dạy ấy, nên chưa hiện hảo tướng là biết tâm chúng ta chưa tốt. Ngài Thiên Thai dạy chúng ta phải lạy Phật, sám hối cho đến thấy hảo tướng Phật và hảo tướng ta hiện ra. Thấy hảo tướng Phật, là Phật đã vào tâm ta và sẽ thể hiện ra hình tướng của ta, nên lúc ấy tâm ta mới là thiền, thân mới làm giống Phật. Tu ở giai đoạn hai, chúng ta vừa lạy Phật vừa quán tưởng với tất cả tâm thành. Lạy mà không quán tưởng thì lạy một cách máy móc, lạy hư không hay lạy khối xi măng, làm sao có phước được. Tệ hơn nữa, thân lạy Phật mà tâm khởi niệm ác, chắc chắn đọa.

    Trên tinh thần quán tưởng mới là quan trọng, chúng ta phải thiền quán trước thì mới thấy thân ta ở trước Phật và có Phật để chúng ta lạy. Quán được một Phật hay nhiều Phật, hay nói khác nương được lực Phổ Hiền để “nhứt thân phục hiện sát trần thân”, tức đảnh lễ không sót một vị Phật nào, thể hiện tâm thành đạt đến đỉnh cao nhất. Lạy Phật suông không có thiền quán chẳng khác gì chúng ta làm một động tác thể thao, không đạt được lợi lạc nào cho đời sống tâm linh. Lạy kèm theo thiền quán thì lạy xong nét mặt chúng ta sáng ra, vui tươi, không mệt. Mỗi lần tu, chúng ta kiểm chứng việc lạy Phật đúng hay sai bằng cách căn cứ vào kết quả sau khi lạy. Lạy nhẹ nhàng, không tháo mồ hôi, không thấy mệt, tâm hồn thanh thản, an lạc là biết chúng đã nhập tâm, cảm được mười phương Phật, nên hành lễ đạt đến siêu tự nhiên, không biết nóng lạnh, vượt được sự chi phối của ngoại duyên, thâm nhập đạo. Còn lạy Phật đổ mồ hôi đầm đìa, thở không ra hơi, tim đập dồn dập, đến mức sợ không dám lạy nữa là chúng ta đã tu sai pháp.

    Người tu đúng phải có kết quả tốt. Chúng ta nỗ lực huân tu Phật pháp, càng đem giáo pháp nhiều vào tâm càng tốt. Riêng tôi, nhờ siêng năng đọc tụng kinh điển, suy gẫm những việc làm cao quý của Phật và Bồ Tát càng thấy thích tu. Và sử dụng phương tiện lạy Phật song hành với thiền quán, nên thấy Phật, mới lạy được Phật, công đức mới sanh, được những điều bất tư nghì như sức khỏe lại tăng theo tuổi đời, tâm hồn an vui theo nghịch cảnh. Tu a-tăng-kỳ kiếp thứ nhất cho đến sạch nghiệp, tức đạt đến vị trí của Bồ Tát đệ bát địa, chuyển A lại da thức thành Bạch tịnh thức thì tâm không còn móng khởi điều gì nữa.

    Ðến phương tiện thứ ba, chúng ta sám hối, nhưng cũng phải kèm thea gia công thiền quán. Chúng ta thường chọn ngày 15 và 30 làm lễ sám hối, Phật gọi là ngày trưởng tịnh. Ngày 15 trăng tỏ và 30 không có trăng là thời gian mà mặt trăng ảnh hưởng đến cơ thể chúng ta, tạo thành nhiều chuyển đổI, kể cả tâm lý cũng đổi theo. Ngày ấy chúng ta không tu thì nghiệp ác dễ sanh trưởng. Vì vậy, đức Phật chọn ngày này để tu, không cho làm, sợ sanh phiền não, không phải chọn đó là ngày tốt.

    Chúng ta ngồi yên để kiểm điểm lại là vừa sám hối vừa tu tập thiền quán mới thực là sám hối. Có người nghĩ lạy Phật sẽ hết tội, nhưng Phật không bắt tội cũng không tha tội cho ta được. Ngài không đẩy ta vào địa ngục, cũng không đưa ta lên thiên đàng. Chúng ta không cầu xin Phật. Nhưng tại sao chúng ta lạy Phật? Lạy Phật và sám hối chính là mượn hình ảnh thánh thiện trọn lành của Phật để thay thế hình ảnh xấu ác, tội lỗi. Vì thế, tu sám hối, chúng ta phải quán được 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Ngài, 3.000 oai nghi, 80.000 tế hạnh, đem đức tướng ấy của Phật so với thân ô uế, tội lỗi, dễ ghét của chúng ta, để thấy rõ chúng ta phạm những sai lầm gì mà ra nông nỗi này và đức Phật tạo phước đức gì mà Ngài cao sang như vậy. Muốn biết tội đời trước, chúng ta nhìn thành quả đời này của mình. Ðời trước sát sanh hại mạng, gian tham nên đời này bệnh hoạn, yếu đuối, nghèo khó.

    Chúng ta sám tiền khiên, hối hậu quá, nghĩa là nhận ra sai lầm quá khứ và ăn năn, không tái phạm. Chúng ta theo Phật, hiện tại cứ lo làm việc tốt thì hạt giống tốt tự lên, lâu ngày điều tốt này thay cho sai lầm xấu của quá khứ. Còn chúng ta cứ sống với xấu ác quá khứ thì một thời gian sau, xấu ấy sẽ bộc phát thành hiện tại. Nếu ác nghiệp cũ không khởi hiện hành thì nó cũng bị hư hoại luôn. Kiểm chứng kết quả tu thấy chúng ta không còn giận, không còn buồn là biết chúng ta đã tiêu hủy được hạt giống xấu. Muốn hạt giống ác mất, phải trồng hạt giống tốt, là trồng căn lành bằng cách lạy Phật, sám hối. Nghĩ về Phật, về Thánh hiền, tán thán công đức các Ngài thì những điều cao quý ấy trang nghiêm tâm ta, tội lần tiêu, lòng chúng ta tự thanh thản.

    Tóm lại, tụng kinh, lạy Phật, sám hối song hành với thiền quán, chúng ta quan sát xem Phật, Bồ Tát, Thánh hiền làm gì, chúng ta tập làm theo, để điều chỉnh thân tâm chúng ta lần cho giống các Ngài. Chuyển hóa được tâm thành thánh thiện, chắc chắn hoàn cảnh cũng tự chuyển đổi tốt đẹp theo ; vì Phật dạy y báo tùy thuộc chánh báo. Nương theo những chiếc phao phương tiện mà đức Phật để lại, chúng ta hành xử lợi lạc cho mình và người để Phật pháp còn mãi trên thế gian lợi lạc chúng hữu tình.

    (Hòa Thượng Thích Trí Quảng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Lạy Sám Hối Chuyển Nghiệp
  • Quy Cách Thờ Phượng Ở Các Chùa Như Thế Nào? Có Nên Lạy Phật Ở Vãng Sanh Viện?
  • Đến Chùa Lạy Phật Thế Nào Cho Đúng
  • Quy Cách Thờ Phượng Ở Các Chùa Như Thế Nào? Có Nên Lạy Phật Ở Vãng Sinh Viện?
  • Lạy Phật Và Lễ Phật Khác Nhau Như Thế Nào? Có Bao Nhiêu Cách Lễ Phật?
  • Tụng Kinh, Trì Chú, Niệm Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Phật Tử Cần Biết Khi Tụng Kinh
  • Bài Thứ 8: Tụng Kinh, Trì Chú, Niệm Phật
  • 2/7. Về Cách Đặt Nhan Đề Bốn Bài Kinh Cúng Tứ Thời Có Nguồn Gốc Chữ Hán
  • Giai Nghia Kinh Thien Dao & The Dao: Kinh Cung Tu Thoi Kinh Niem Huong
  • Giai Thich Kinh Cung Tuan Cuu
  • Người Phật tử, nếu chỉ thờ, lạy và cúng Phật, thì cũng chưa có thể được gọi là thuần thành. Người Phật tử thuần thành còn phải tụng kinh, trì chú và niệm Phật. Vả lại nếu bỏ qua ba phần sau này, thì ba phần trước là thờ, lạy và cúng khó có thể viên dung cả Sự và Lý được. Vì phần Lý là phần cao siêu khó thực hành, mà nếu chúng ta không tụng kinh, niệm Phật để cho tâm hồn được sáng suốt, tỏ ngộ các lý lẽ sâu xa huyền diệu trong kinh điển, thì chúng ta không làm thế nào để đạt được 4 phép lạy thuộc về Lý là: Phát trí thanh tịnh lễ, biến nhập pháp giới lễ, chánh quán lễ, thật tướng bình đẳng lễ và 5 món diệu hương để cúng Phật là: Giới hương, Ðịnh hương, Huệ hương, Giải thoát hương, Giải thoát tri kiến hương. Và nếu không thực hành được 4 phép lạy về Lý và cúng dường được 5 món diệu hương, thì sự lạy và cúng chỉ là phần “Sự” là phần hình thức, và vì thế, kẻ tín đồ khó có thể tiến được trên đường đạo. Bởi vậy, cùng một lần với thờ, lạy và cúng Phật, chúng ta phải tụng kinh, trì chú và niệm Phật. Ðó là những điểm căn bản tối thiểu mà một Phật tử thuần thành không thể bỏ qua được.

    B. CHÁNH ÐỀ I. ÐỊNH NGHĨA

    1. Tụng kinh: Tụng là đọc thành tiếng một cách có âm điệu và thành kính. Tụng kinh là đọc một cách thành kính những lời đức Phật đã dạy trong kinh điển, hợp với chân lý và căn cơ của chúng sinh.

    2. Trì chú: Trì là nắm giữ một cách chắc chắn. Chú là lời bí mật của chư Phật mà chỉ có chư Phật mới hiểu được, chứ các hàng Bồ tát cũng không hiểu thấu. Các bài chú đều có oai thần và công đức không thể nghĩ bàn, dứt trừ được nghiệp chướng, tiêu tai giải nạn và tăng trưởng phước huệ, nên cũng gọi là thần chú.

    3. Niệm Phật: Niệm là tưởng nhớ. Niệm Phật là tưởng nhớ danh hiệu Phật, hình dung Phật và đức hạnh của Phật, để luôn luôn cố gắng noi theo bước chân Ngài.

    II. LÝ DO PHẢI TỤNG KINH – TRÌ CHÚ – NIỆM PHẬT 1. Vì sao phải tụng kinh?

    Chúng ta sống trong cõi dục, cho nên lòng dục vọng của chúng ta không bao giờ ngừng nghỉ, cho đến trong giấc ngủ, cũng còn chiêm bao cãi lẫy, cười khóc, vui buồn như lúc thức. Trong cảnh mê mờ đầy dục vọng ấy, may thay, đức Phật vì đã thương xót chúng sinh mà truyền dạy những lời vàng ngọc, có thể phá tan màng mây u ám của vô minh và tội lỗi. Nhưng những lời lẽ cao siêu ấy, chúng ta nghe qua một lần , hai lần cũng không thể hiểu thấu và nhớ hết được. Cho nên chúng ta cần phải đọc đi đọc lại mãi, để cho lý nghĩa thâm huyền được tỏa ra, và ghi khắc trong thâm tâm chúng ta, không bao giờ quên được. Ðó là lý do khiến chúng ta phải tụng kinh.

    2. Vì sao phải trì chú?

    Chú có công năng phi thường, nếu người thành tâm trì chú, thì được nhiều hiệu lực không thể tưởng tượng. Chẳng hạn thần chú “Bạt nhứt thế nghiệp chướng căn bổn đắc sinh Tịnh độ đà-la-ni” có hiệu lực tiêu trừ được hết gốc rễ nghiệp chướng, làm cho người được vãng sinh về Tịnh độ. Thần chú “Tiêu tai kiết tường” có hiệu lực làm cho tiêu trừ các hoạn nạn, tai chướng, được gặp những điều lành. Thần chú “Lăng Nghiêm” thì phá trừ được những ma chướng và nghiệp báo nặng nề v.v… Thần chú “Chuẩn Ðề” trừ tà, diệt quỷ. Thần chú “Thất Phật diệt tội” có công năng tiêu trừ tội chướng của chúng ta từ nhiều đời nhiều kiếp v.v… Vì thế nên chúng ta phải trì chú.

    3. Vì sao phải niệm Phật?

    Tâm chúng ta bị vô minh làm mờ đục, chẳng khác gì nước bị bùn nhơ làm ngầu đục. Muốn cho nước đục kia hóa ra trong, không có phương pháp nào hay hơn là gia một chút phèn vào, thì các chất dơ bẩn ngầu đục kia dần dần lắng xuống, bấy giờ nước đục trở nên trong sạch.

    Phương pháp niệm Phật cũng vậy, có công năng trừ phá các vọng niệm đen tối ở nơi tâm của chúng ta, làm cho tâm mê muội, mờ ám trở nên sáng suốt, chẳng khác gì chất phèn làm cho nước trở nên trong vậy.

    Vì sao niệm Phật lại làm cho tâm mê muội trở nên trong sáng?

    Vì lý do rất dễ hiểu sau đây:

    Tâm chúng ta rất điên đảo, không bao giờ dừng nghỉ. Kinh thường nói: “Tâm viên, ý mã”, nghĩa là “tâm” lăng xăng như con vượn nhảy từ cành nầy qua cành khác, và “ý” như con ngựa chạy lung tung luôn ngày suốt buổi. Làm sao cho tâm ý chúng ta đừng nghĩ xằng bậy? Chỉ có một cách là bắt nó nghĩ những điều tốt lành, hay đẹp. Niệm Phật chính là nhớ nghĩ đến những vị hoàn toàn tốt đẹp, những hành động trong sáng, những đức tánh thuần lương. Càng niệm Phật nhiều chừng nào, thì ít niệm ma chừng ấy. Ma ở đây là tất cả những gì xấu xa đen tối, làm hại mình hại người. Vì thế chúng ta nên luôn luôn niệm Phật.

    III. PHẢI THƯỜNG TỤNG NHỮNG BỘ KINH NÀO, TRÌ CHÚ GÌ VÀ NIỆM DANH HIỆU PHẬT NÀO? 1. Các kinh thường tụng.

    Phàm là kinh Phật thì bộ nào tụng cũng được cả, vì kinh nào cũng có công năng thù thắng là phá trừ mê mờ, khai mở tâm trí sáng suốt cho chúng sinh, nếu chúng ta chí thành đọc tụng.

    Nhưng vì căn cơ của chúng ta không đến, nên chúng ta phải lựa những bộ kinh nào thích hợp với căn cơ và sở nguyện của chúng ta mà đọc tụng.

    Thông thường, các Phật tử Việt Nam, từ xuất gia cho đến tại gia đều trì tụng những kinh như: Di Ðà, Hồng Danh, Vu Lan, Phổ Môn, Dược Sư, Ðịa Tạng, Kim Cang, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa v.v…

    Nhiều người có quan niệm, chọn bộ kinh cho thích hợp với mỗi hoàn cảnh, mỗi trường hợp để tụng, như lúc:

    a) Cầu siêu thì tụng kinh Di Ðà, Ðịa Tạng, Vu Lan v.v…;

    b) Cầu an thì tụng kinh Phổ Môn, Dược Sư v.v…;

    c) Cầu tiêu tai và giải bịnh thì tụng kinh Kim Cang, Lăng Nghiêm v.v…;

    d) Cầu sám hối thì tụng Hồng Danh.

    Cái quan niệm lựa chọn như thế cũng có phần hay là làm cho tâm chuyên nhất sẽ được hiệu nghiệm hơn. Nhưng chúng ta không nên quên rằng về mặt giáo lý cũng như về mặt công đức, bất luận một bộ kinh nào, nếu chí tâm trì tụng, thì kết quả cũng đều mỹ mãn như nhau cả.

    2. Các chú thường trì.

    Ở chùa, chư Tăng hằng ngày, trong thời khóa tụng khuya, trì chú Lăng Nghiêm, Ðại Bi, Thập chú hay Ngũ bộ chú v.v… Còn ở nhà, phần nhiều cư sĩ trì chú Ðại Bi và Thập chú, bởi hai lẽ: một là thời giờ ít ỏi, vì còn phải lo sinh sống cho gia đình; hai là chú Lăng Nghiêm đã dài, lại thêm chữ âm vận, trắc trở khó đọc, khó thuộc. Nhưng nếu cư sĩ nào có thể học hết các thần chú, trì tụng được như chư Tăng thì càng tốt.

    3. Các hiệu Phật thường niệm.

    Ðức Phật nào cũng đủ cả 10 hiệu, đồng một tâm toàn giác, từ bi vô lượng, phước trí vô biên, thương chúng sinh vô cùng vô tận, nên chỉ niệm danh hiệu một đức Phật nào cũng đều được cảm ứng đến tất cả chư Phật, công đức cũng đều vô lượng vô biên.

    Nhưng đứng về phương diện trình độ và hoàn cảnh mà luận, thì hiện nay, chúng ta là người ở thế giới Ta-bà, nhằm quốc độ của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni giáo hóa, lẽ cố nhiên chúng ta phải niệm danh hiệu của Ngài. Dụ như dân chúng ở trong nước nào, phải nhớ nghĩ đến ơn nhà cầm quyền chính trị sáng suốt ở trong nước đó.

    Nếu tín đồ nào tu theo pháp môn Tịnh độ, thì thường ngày phải niệm danh hiệu đức Phật A-Di-Ðà. Pháp môn này được thành lập do lời dạy sau đây của đức Phật Thích-Ca: “Ở cõi thế giới Ta-bà này, đến thời kỳ mạt pháp, cách Phật lâu xa, chỉ có pháp “Trì danh niệm Phật”, cầu vãng sinh về Tây phương cực lạc là quốc độ của đức Phật A Di Ðà, thì dễ tu dễ chứng hơn hết”.

    Ngoài ra, cũng có người niệm danh hiệu đức Phật Di Lặc, để cầu sinh về cõi trời Ðâu-Suất; hoặc niệm danh hiệu đức Phật Dược Sư, để cầu cho khỏi tật bịnh.

    Tóm lại, tín đồ phải niệm đủ Tam thế Phật:

    a) Niệm đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, là niệm đức Phật hiện tại, mà cũng là đức Phật giáo chủ của chúng ta.

    b) Niệm đức Phật A Di Ðà, là niệm đức Phật đã thành từ quá khứ xa xưa, mà cũng là đức Phật tiếp dẫn chúng ta về Cực lạc.

    c) Niệm đức Phật Di Lặc, là niệm đức Phật vị lai.

    IV. LỢI ÍCH CỦA SỰ TỤNG KINH – TRÌ CHÚ – NIỆM PHẬT 1. Lợi ích của sự tụng kinh.

    Những lời giáo hóa trong ba tạng kinh điển của Phật, đều toàn là những lời hiền lành, sáng suốt do lòng từ bi và trí tuệ siêu phàm của Phật nói ra. Kinh Phật, vì thế, có phần siêu việt hơn tất cả những lời lẽ của thế gian. Nếu chúng ta chí tâm trì tụng, chắc chắn sẽ được nhiều lợi ích cho mình, cho gia đình và những người chung quanh:

    a) Cho mình: Lúc tụng niệm, hành giả đem hết tâm trí chí thành đặt vào văn kinh để khỏi sơ suất, nên sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều thâu nhiếp lại một chỗ. Chăm lo tụng kinh, nên ba nghiệp của thân, khẩu, ý không còn móng khởi lên mười điều ác nữa, mà chỉ ghi nhớ những lời hay, lẽ phải.

    b) Cho gia đình: Trước khi sắp sửa tụng kinh, những người trong nhà đều dứt các câu chuyện ngoài đời và khách hàng xóm đến ngồi lê đôi mách cũng tự giải tán. Trong gia đình nhờ thế được thanh tịnh, trang nghiêm, hòa thuận.

    c) Cho người chung quanh: Trong những lúc đêm thanh canh vắng, lời tụng kinh trầm bổng theo với tiếng mõ nhịp đều, tiếng chuông ngân nga, có thể đánh thức người đời ra khỏi giấc mê, đưa lọt vào tai kẻ lạc lối những ý nghĩa thâm huyền, những lời khuyên dạy bổ ích, chứa đựng trong kinh điển mà hành giả đang tụng.

    Như vậy rõ ràng tụng kinh chẳng những có lợi ích cho mình, cho gia đình, mà còn cho những người chung quanh nữa. Ðó là mới nói những điều ích lợi thông thường có thể thấy được, ngoài ra tụng kinh còn có những điều lợi ích, linh nghiệm lạ thường, không thể giải thích được, ai tụng sẽ tự chứng nghiệm mà thôi.

    2. Lợi ích của sự trì chú.

    Các thần chú tuy không thể giải nghĩa ra được, nhưng người chí tâm thọ trì, sẽ được công hiệu thật là kỳ diệu, khó có thể nghĩ bàn, như người uống nước ấm, lạnh thì tự biết lấy.

    Có thể nói: Một câu thần chú, thâu gồm hết một bộ kinh, vì vậy, hiệu lực của các thần chú rất phi thường. Khi gặp tai nạn, nếu thực tâm trì chú, thì mau được giải nguy. Như thuở xưa, Ngài A-Nan mắc nạn, Ðức Phật liền nói thần chú Lăng Nghiêm, sai ngài Văn-Thù Sư-Lợi đến cứu, thì Ngài A-Nan liền được thoát nguy.

    Ngày nay có nhiều trường hợp mà người thành tâm niệm chú thấy được hiệu nghiệm rõ ràng. Theo lời bác sĩ Thiện Thành nói lại, thì vào năm 1946, giữa lúc loạn ly, bác sĩ ở trong một vùng rừng sâu, núi hiểm tại Trung Việt. Một lần bác sĩ bị một chứng bịnh nan y, mặc dù lương dược Ðông, Tây sẵn có trong tay, cũng không làm sao trị được. Bác sĩ tưởng sẽ bỏ mình trong xóm người sơn cước, không ngờ lúc còn ở dưới mái nhà cha mẹ, thường đêm nghe thân phụ trì chú “Công Ðức Bảo Sơn”, bác sĩ liền đem thần chú ấy ra áp dụng. Trong lúc ấy, các người nuôi bịnh cũng xúm lại hộ niệm cho bác sĩ suốt đêm. Sáng hôm sau, quả thật bác sĩ lành mạnh trở lại một cách dễ dàng, làm cho tất cả các bạn đồng nghiệp đều ngạc nhiên.

    3. Lợi ích của sự niệm Phật.

    Niệm Phật công đức lại còn to lớn hơn nữa, vì một câu niệm Phật có thể gồm thâu cả 3 tạng kinh điển, hết thảy thần chú, cùng là các pháp viên đốn, như tham thiền, quán tưởng v.v…

    Ðức Phật Thích-Ca Mâu-Ni có dạy rằng: “Sau khi Phật nhập diệt, về thời kỳ mạt pháp, đến kiếp hoại, các kinh sẽ bị tiêu diệt hết, chỉ còn kinh Di Ðà lưu truyền lại độ trăm năm rồi cũng diệt luôn. Lúc bấy giờ chỉ còn một câu niệm Phật gồm 6 chữ “Nam mô A Di Ðà Phật”, mà đủ năng lực đưa chúng sinh về cõi Cực lạc”.

    Lời Phật nói không sai, bằng chứng là có nhiều nhân vật chuyên trì một câu niệm Phật, mà biết được ngày giờ và thấy được điềm lành trước khi vãng sinh. Như ngài Tổ Huệ Viễn, trong mười năm niệm Phật, ba lần thấy đức A-Di Ðà rờ đầu; trong hội Liên xã, có 123 người chuyên tu phép “Trì danh niệm Phật”, đều lần lượt được Phật rước về cõi Tịnh độ. Gần đây ở Nam phần Việt Nam, vào năm 1940, có 3 vị sĩ quan Pháp là đại úy Touffan, trung úy Retourna, thiếu úy Brillant đồng lái một chiếc thủy phi cơ bay từ đảo Côn Lôn về Sài Gòn. Giữa đường, chiếc phi cơ hư, rơi xuống biển. Thiếu úy Brillant (người Pháp lai Việt) niệm Phật cầu cứu. Chiếc thủy phi cơ lững đững trên mặt biển suốt ba giờ đồng hồ, mới gặp một chiếc tàu đánh cá của người Nhật đến cứu. Khi ba vị sĩ quan vừa bước sang tàu, thì chiếc thủy phi cơ chìm ngay xuống biển. Ai nấy đều lấy làm lạ, hỏi nhau: Tại sao khi nãy có 3 người ngồi nặng, phi cơ lại nổi, mà bây giờ không có người nó lại chìm ngấm? Chỉ có thiếu úy Brillant mới giải thích được sự lạ lùng ấy. Ông kể lại cho mọi người nghe sự linh ứng của pháp niệm Phật mà ông thường áp dụng, và lần nầy là lần thứ hai ông được thoát nạn nhờ phép niệm Phật ấy. Ðại úy Touffan và trung úy Retourna hết lòng tin tưởng, nên khi về đến Sài Gòn, hai vị sĩ quan ấy chung nhau một số tiền, cất một cái am đẹp đẽ ở Cát Lái, làng Thạnh Mỹ Lợi, tỉnh Gia Ðịnh để thờ Phật gọi là tỏ lòng tri ân. Ðây chỉ là một câu chuyện trong muôn ngàn câu chuyện về sự lợi ích của phép niệm Phật.

    C. KẾT LUẬN Khuyên Phật tử tụng kinh, niệm Phật và trì chú cả Sự lẫn Lý cho được viên dung.

    Tụng kinh, trì chú, niệm Phật là 3 phương pháp tu hành gồm đủ cả Sự và Lý. Dù tại gia hay xuất gia, dù Tiểu thừa hay Ðại thừa, tiêu cực hay tích cực, không ai có thể rời ba phương pháp nầy được. Bởi thế, Phật tử cần phải học tụng kinh, niệm Phật và trì chú cho Sự, Lý đi đôi, lời nói và việc làm phù hợp, mới có được kết quả tốt đẹp.

    Ba pháp môn tụng kinh, trì chú và niệm Phật, tuy không đồng mà kết quả đều thù thắng. Phật tử có thể tùy theo trình độ, hoàn cảnh của mình mà tu một, hai hay cả ba pháp ấy. Thí dụ như người biết chữ và mạnh khoẻ, công ăn việc làm hằng ngày không bận rộn lắm, thì nên tụng kinh, trì chú, niệm Phật đủ cả ba pháp môn. Còn người tuổi già, sức yếu, mắt lờ, răng rụng, miệng lưỡi phều phào, thân thể mỏi mệt, nếu tụng kinh, trì chú không nổi, thì phải chuyên tâm niệm Phật, đi đứng nằm ngồi, lúc nào cũng phải niệm Phật.

    Nhưng các Phật tử nên nhớ, khi miệng tụng kinh, trì chú, niệm Phật, tay gõ mõ, đánh chuông, lần chuỗi, thì tâm trí phải gội rửa hết bao ý nghĩ bất chính, những ham muốn đê hèn, và đặt vào đấy hình ảnh của đấng từ bi. Rồi phải noi gương Ngài, mở lòng thương rộng lớn, nghĩ đến nỗi thống khổ của muôn loài và phát nguyện đem sức mình ra, ban vui cứu khổ cho tất cả. Ðến khi thôi tụng niệm, trở lại tiếp xúc việc đời, thì phải làm thế nào cho những hành động của mình cũng được từ bi như tư tưởng và lời nói của mình vậy.

    Người tụng kinh trì chú và niệm Phật, làm đúng như thế, thì chắc chắn sẽ được chứng quả thánh không sai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Cúng Thất Cho Người Chết Gồm Những Gì?
  • Giải Đáp Mọi Thắc Mắc Về Phật Di Lặc Trong Thờ Cúng & Phong Thủy
  • Bàn Về Chuyện Tái Sinh, Đầu Thai Và Cúng Cơm
  • Ý Nghĩa Và Công Đức Đốt Đèn Cúng Phật
  • Nghi Thức Tụng Niệm Lễ Giao Thừa
  • Kinh Nhật Tụng: Vạn Phật Thánh Thành

    --- Bài mới hơn ---

  • Thượng Đế & Phật Mẫu
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài – Cecrs
  • Vài Nét Về Chữ Hiếu Trong Đạo Cao Đài Qua Quyển Kinh Thiên Đạo Và Thế Đạo
  • Ý Nghĩa Loài Hoa Mẫu Đơn
  • Địa Mẫu Chân Kinh (Kỳ 1)
  • Publisher Description

    Quyển cẩm nang này gồm có nghi thức tụng kinh  sáng và  tối  hàng ngày cũng như các nghi lễ đặc biệt trong các tu viện  Phật giáo Đại thừa. Phần văn bản tiếng Trung Hoa của các nghi lễ được đi kèm với tiếng Việt và tiếng Anh cũng như phiên âm theo pinyin để phát âm.

     

    Buổi tụng kinh sáng, theo truyền thống từ 4 đến 5 giờ sáng mỗi sáng sớm, bao gồm thần chú Lăng Nghiêm (từ Kinh Lăng Nghiêm),  Chú Đại Bi cùng các thần chú khác ngắn hơn, Tâm Kinh, và Mười Đại Nguyện của Đức Bồ Tát Phổ Hiền từ Kinh Hoa Nghiêm.

     

    Lễ buổi tối theo truyền thống từ 6 đến 7 giờ tối và luân phiên giữa Kinh A Di Đà và Lễ Sám Hối Tám Mươi Tám Vị Phật.

     

    Ngoài ra, quyển cẩm nang này còn có các nghi lễ phóng sanh, tắm Phật, Lễ  Đại Bi Sám cùng các nghi lễ khác. Cẩm nang này cũng có Kinh Vu Lan, là kinh về thực hành hiếu hạnh.

    This handbook contains the liturgy for daily morning and evening recitation as well as for special ceremonies in Mahayana Buddhist monasteries. The text for these ceremonies is in Vietnamese and is accompanied by Pinyin Romanization and English translation. Morning ceremony, which traditionally last from 4 to 5 am every morning, consists of the Surangama Mantra (from the Surangama Sutra), the Great Compassion Mantra and other shorter mantras, the Heart Sutra, and the Ten Great Vows of Samantabhadra (Universal Worthy) Bodhisattva taken from the Avatamsaka (Flower Adornment) Sutra. Evening ceremony traditionally lasts between 6 to 7 pm and alternates between the Amitabha Sutra and the Eighty-Eight Buddha Repentance Ceremony. In addition, the handbook contains ceremonies for liberating life, bathing the Buddha, the Great Compassion Repentance Ceremony, among others. It also includes the Ullambana Sutra, the sutra on the practice of filial piety.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Ý Các Món Ngon Thắp Hương Rằm Tháng Giêng Vừa Thơm Ngon Vừa Đơn Giản
  • Các Món Ngon Ngày Tết Dễ Làm 3 Miền Bắc, Trung, Nam
  • Các Món Ngon Ngày Tết Dễ Làm Của 3 Miền Bắc Trung Nam
  • Các Món Ăn Ngày Tết Tiêu Biểu Của Ba Miền Việt Nam – Embassy Of Vietnam In Seoul, Korea – 베트남 대사관
  • Danh Sách Những Vật Dụng Cần Phải Có Khi Về Nhà Mới
  • Tụng Kinh, Lạy Phật, Sám Hối – Chùa Phổ Hiền

    --- Bài mới hơn ---

  • Thỉnh Phật Bà Quan Âm Về Nhà Có Phải Gửi Tượng Vào Chùa Trước Không?
  • Ý Nghĩa Ngày Vía Đức Quán Thế Âm 19/2 Âl
  • 15 Điều Mà Chị Em Cần Biết Để “hồi Xuân”
  • Đậu Nành Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tinh Chất Mầm Đậu Nành – “Thần Dược” Cho Sức Khỏe Và Sắc Đẹp Phụ Nữ
  • Tụng kinh, lạy Phật, Sám hối và Thiền quán

     

     

    Trong quá trình tiến tu, Thái tử Sĩ Ðạt Ta ngồi thiền định dưới cội bồ đề trong 21 ngày là đạt quả vị Vô thượng Ðẳng giác. Còn chúng ta đầy phiền não, nên ngồi yên thì trần lao hiện ra. Chẳng những không thành Phật, mà tu một lúc chúng ta trở thành hung ác, phiền muộn. Ðó là vì chúng ta chất chứa toàn nghiệp trần lao, nên khi tu, tâm phiền não này có sẵn và tự động bộc phát. Trái lại tâm đức Phật có toàn hột giống thanh tịnh, nó tự nảy mầm, kết thành quả Bồ đề khi Ngài tư duy, thâm nhập thiền định. Có thể ví tâm nhơ bẩn của chúng sinh như đất có sẵn hột cỏ, gặp phân, nước, cỏ lên nhanh. Chúng ta tự xác định mình là chúng sanh với đầy đủ chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não, nên không thể nào làm như Phật. Từ thân phận chúng sanh phàm phu ấy khởi tu, chúng ta cần nỗ lực chuyển nghiệp trước. Ðức Phật dạy rằng quá trình tu tập để chuyển nghiệp không đơn giản, phải trải qua 3 a-tăng-kỳ kiếp mới chuyển được tất cả nghiệp ác của chúng ta.

    Mỗi a-tăng-kỳ kiếp là thời gian vô định, tùy thộc vào năng lực tu hành của từng người khác nhau. A-tăng-kỳ thứ nhất, chúng ta làm sao cho sạch nghiệp, đắc được quả vị A La Hán, mới coi như hoàn tất giai đoạn một. Bước qua a-tăng-kỳ thứ hai, chúng ta tu quán nhân duyên và phát sanh được trí huệ vô lậu, thấy được quá khứ cùng mối tương quan của ta và người. Và ở a-tăng-kỳ thứ ba, chúng ta phải tu Bồ Tát đạo cho viên mãn. Như vậy, một đời người không thể nào thực hiện trọn vẹn 3 việc: thanh tịnh hóa thân tâm, phát sanh trí tuệ và thực hiện đầy đủ công đức. Thành tựu 3 việc này rồi, mới ngồi Bồ Ðề đạo tràng 21 ngày, phá ma quân, thành Vô thượng Ðẳng giác.

     

    Ý thức tinh thần Phật dạy như thế, chúng ta tự biết không thể tu chân thật môn để tiếp cận được chân lý. Từ đó, chúng ta phải trở lại tu phương tiện của đức Phật, tức tạo điều kiện để chúng ta thâm nhập Phật đạo. Phương tiện mà chúng ta thường tu là đọc tụng kinh điển, kết hợp với tu thiền quán. Vì có đọc kinh điển chúng ta mới tâm đắc và suy nghĩ về lời Phật dạy. Chúng ta đọc tụng và quán sát 12 bộ kinh là 12 vấn đề lớn của đức Phật dạy, đó là bước đầu quán sát giáo pháp Pháp thân. Vì chúng ta không thể thấy trực tiếp Pháp thân Phật, nên coi lời dạy của Phật là Pháp thân Ngài.

    Trong thời gian này, chúng ta siêng năng đọc tụng kinh điển và ngồi yên quán sát lời dạy đó để ứng dụng trong cuộc sống. Lúc ấy chúng ta chỉ mới tu trong tâm. Phương tiện này giúp tâm ta thanh tịnh dễ dàng. Thật vậy trên bước đường tu, chúng ta tự làm cho tâm thanh tịnh không đơn giản. Ðiển hình như Kiều Trần Như hay Xá lợi Phất tu trải qua 60 kiếp cũng không đắc được A La Hán. Nhưng có đức Phật đắc đạo rồi, giống như có người phát minh ra chân lý, chúng ta chỉ cần nghiên cứu chân lý thì dễ hơn, còn tự tìm ra không nỗi. Chúng ta dễ đắc đạo nhờ nương theo giáo pháp Phật có sẵn, suy nghĩ, chứng nghiệm trong cuộc sống. Tu theo pháp Phật, quán sát pháp, phiền não chúng ta tự lắng yên.

     

    Tôi tâm đắc pháp tu này, vì khi đọc tụng lời Phật, tôi tự cảm thấy an lành, tức lấy hình ảnh đẹp để xóa hình ảnh xấu trong lòng. Tu đúng pháp như vậy, mỗi niệm tâm, ta cảm thấy thăng hoa cuộc sống tâm linh, dần dần đẹp, khỏe, giàu, được kính trọng thêm; vì đã lấy Phật đức trang nghiêm thân tâm. Cách tu này có kết quả nhanh nhất. Thật vậy, ta là phàm phu, nhưng khoác áo Phật vào thân, đưa pháp Phật vào lời nói, lấy tâm Phật gắn vào tâm chúng ta, thì chúng ta trở thành biểu tượng của Phật.

    Như vậy, chỉ mới quán pháp Phật, có giáo pháp Pháp thân thôi, mà chúng ta biến thành thường trú pháp thân Phật, vì lời nói, suy nghĩ, việc làm của chúng ta giống Phật, khiến người liên tưởng đến Phật. Không làm được như vậy, mà chúng ta tu mang hình thức tu, là phạm tội phá pháp. Suy nghĩ lời Phật dạy là Thiền và đọc tụng kinh điển là Giáo; kết hợp hai pháp phương tiện này lại để tu mới có kết quả tốt. Vì đọc kinh suông, không suy nghĩ, không hiểu nghĩa, cũng chẵng có tác dụng gì. Và không thiền thì làm sao phát sanh trí tuệ.

     

    Trong quá trình tu đọc tụng kinh điển và thiền quán, mỗi ngày phiền não chúng ta lắng yên và tâm trí trở nên sáng suốt. Còn để nguyên phiền não mà đọc tụng kinh thì chúng ta quên lời Phật dạy, không áp dụng được trong cuộc sống lẫn lộn Phật và ma, tất nhiên đầu óc cũng u mê. Ngoài việc sử dụng pháp tụng kinh kèm với thiền quán, chúng ta còn có pháp phương tiện thứ hai là lạy Phật và thiền quán.

    Người đọc tụng kinh điển, nhưng không đạt được kết quả tốt vì không kết hợp pháp đọc tụng kinh với thiền quán, tức miệng đọc mà tâm nghĩ sai trái, nên phước không sanh. Trong lúc đọc tụng kinh và nghĩ đến Phật thì phải hiện tướng bên ngoài tốt, dễ thương; vì Phật dạy tướng tùy tâm hiện. Căn cứ vào lời dạy ấy, nên chưa hiện hảo tướng là biết tâm chúng ta chưa tốt. Ngài Thiên Thai dạy chúng ta phải lạy Phật, sám hối cho đến thấy hảo tướng Phật và hảo tướng ta hiện ra. Thấy hảo tướng Phật, là Phật đã vào tâm ta và sẽ thể hiện ra hình tướng của ta, nên lúc ấy tâm ta mới là thiền, thân mới làm giống Phật. Tu ở giai đoạn hai, chúng ta vừa lạy Phật vừa quán tưởng với tất cả tâm thành. Lạy mà không quán tưởng thì lạy một cách máy móc, lạy hư không hay lạy khối xi măng, làm sao có phước được. Tệ hơn nữa, thân lạy Phật mà tâm khởi niệm ác, chắc chắn đọa.

     

     

     

    Trên tinh thần quán tưởng mới là quan trọng, chúng ta phải thiền quán trước thì mới thấy thân ta ở trước Phật và có Phật để chúng ta lạy. Quán được một Phật hay nhiều Phật, hay nói khác nương được lực Phổ Hiền để “nhứt thân phục hiện sát trần thân”, tức đảnh lễ không sót một vị Phật nào, thể hiện tâm thành đạt đến đỉnh cao nhất. Lạy Phật suông không có thiền quán chẳng khác gì chúng ta làm một động tác thể thao, không đạt được lợi lạc nào cho đời sống tâm linh. Lạy kèm theo thiền quán thì lạy xong nét mặt chúng ta sáng ra, vui tươi, không mệt. Mỗi lần tu, chúng ta kiểm chứng việc lạy Phật đúng hay sai bằng cách căn cứ vào kết quả sau khi lạy. Lạy nhẹ nhàng, không tháo mồ hôi, không thấy mệt, tâm hồn thanh thản, an lạc là biết chúng đã nhập tâm, cảm được mười phương Phật, nên hành lễ đạt đến siêu tự nhiên, không biết nóng lạnh, vượt được sự chi phối của ngoại duyên, thâm nhập đạo. Còn lạy Phật đổ mồ hôi đầm đìa, thở không ra hơi, tim đập dồn dập, đến mức sợ không dám lạy nữa là chúng ta đã tu sai pháp.

     

    Người tu đúng phải có kết quả tốt. Chúng ta nỗ lực huân tu Phật pháp, càng đem giáo pháp nhiều vào tâm càng tốt. Riêng tôi, nhờ siêng năng đọc tụng kinh điển, suy gẫm những việc làm cao quý của Phật và Bồ Tát càng thấy thích tu. Và sử dụng phương tiện lạy Phật song hành với thiền quán, nên thấy Phật, mới lạy được Phật, công đức mới sanh, được những điều bất tư nghì như sức khỏe lại tăng theo tuổi đời, tâm hồn an vui theo nghịch cảnh. Tu a-tăng-kỳ kiếp thứ nhất cho đến sạch nghiệp, tức đạt đến vị trí của Bồ Tát đệ bát địa, chuyển A lại da thức thành Bạch tịnh thức thì tâm không còn móng khởi điều gì nữa.

    Ðến phương tiện thứ ba, chúng ta sám hối, nhưng cũng phải kèm thea gia công thiền quán. Chúng ta thường chọn ngày 15 và 30 làm lễ sám hối, Phật gọi là ngày trưởng tịnh. Ngày 15 trăng tỏ và 30 không có trăng là thời gian mà mặt trăng ảnh hưởng đến cơ thể chúng ta, tạo thành nhiều chuyển đổI, kể cả tâm lý cũng đổi theo. Ngày ấy chúng ta không tu thì nghiệp ác dễ sanh trưởng. Vì vậy, đức Phật chọn ngày này để tu, không cho làm, sợ sanh phiền não, không phải chọn đó là ngày tốt.

     

     

     

    Chúng ta ngồi yên để kiểm điểm lại là vừa sám hối vừa tu tập thiền quán mới thực là sám hối. Có người nghĩ lạy Phật sẽ hết tội, nhưng Phật không bắt tội cũng không tha tội cho ta được. Ngài không đẩy ta vào địa ngục, cũng không đưa ta lên thiên đàng. Chúng ta không cầu xin Phật. Nhưng tại sao chúng ta lạy Phật? Lạy Phật và sám hối chính là mượn hình ảnh thánh thiện trọn lành của Phật để thay thế hình ảnh xấu ác, tội lỗi. Vì thế, tu sám hối, chúng ta phải quán được 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Ngài, 3.000 oai nghi, 80.000 tế hạnh, đem đức tướng ấy của Phật so với thân ô uế, tội lỗi, dễ ghét của chúng ta, để thấy rõ chúng ta phạm những sai lầm gì mà ra nông nỗi này và đức Phật tạo phước đức gì mà Ngài cao sang như vậy. Muốn biết tội đời trước, chúng ta nhìn thành quả đời này của mình. Ðời trước sát sanh hại mạng, gian tham nên đời này bệnh hoạn, yếu đuối, nghèo khó.

    Chúng ta sám tiền khiên, hối hậu quá, nghĩa là nhận ra sai lầm quá khứ và ăn năn, không tái phạm. Chúng ta theo Phật, hiện tại cứ lo làm việc tốt thì hạt giống tốt tự lên, lâu ngày điều tốt này thay cho sai lầm xấu của quá khứ. Còn chúng ta cứ sống với xấu ác quá khứ thì một thời gian sau, xấu ấy sẽ bộc phát thành hiện tại. Nếu ác nghiệp cũ không khởi hiện hành thì nó cũng bị hư hoại luôn. Kiểm chứng kết quả tu thấy chúng ta không còn giận, không còn buồn là biết chúng ta đã tiêu hủy được hạt giống xấu. Muốn hạt giống ác mất, phải trồng hạt giống tốt, là trồng căn lành bằng cách lạy Phật, sám hối. Nghĩ về Phật, về Thánh hiền, tán thán công đức các Ngài thì những điều cao quý ấy trang nghiêm tâm ta, tội lần tiêu, lòng chúng ta tự thanh thản.

    Tóm lại, tụng kinh, lạy Phật, sám hối song hành với thiền quán, chúng ta quan sát xem Phật, Bồ Tát, Thánh hiền làm gì, chúng ta tập làm theo, để điều chỉnh thân tâm chúng ta lần cho giống các Ngài. Chuyển hóa được tâm thành thánh thiện, chắc chắn hoàn cảnh cũng tự chuyển đổi tốt đẹp theo ; vì Phật dạy y báo tùy thuộc chánh báo. Nương theo những chiếc phao phương tiện mà đức Phật để lại, chúng ta hành xử lợi lạc cho mình và người để Phật pháp còn mãi trên thế gian lợi lạc chúng hữu tình.

    (Hòa Thượng Thích Trí Quảng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • How To Get To Miễu Bà Chúa Xứ In Thủ Đức By Bus?
  • Làm Sao Để Đến Miễu Bà Chúa Xứ Ở Thủ Đức Bằng Xe Buýt
  • Miếu Bà Ở Phước Tân
  • Địa Danh “Ba Thắc Cổ Miếu”
  • Viếng Miếu Bà Thiên Hậu Ở Vĩnh Châu – Sóc Trăng
  • Kinh Nghiệm Hay Về 4 Mẫu Tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Biến.

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Thờ Cúng Phật Bà Quan Âm Bằng Đá
  • Bàn Thờ Phật Quan Âm: Ý Nghĩa, Hướng Đặt, Cách Bài Trí
  • Bàn Thờ Phật Quan Âm Treo Tường Tphcm
  • Bàn Thờ Phật Cho Chung Cư Và Biệt Thự Hiện Đại Và Đơn Giản
  • Mẫu Mới Hiện Đại Cho Chung Cư Biệt Thự √
  • Chia sẻ hữu ích về 4 mẫu tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát phổ biến và kinh nghiệm thỉnh tượng phù hợp cho mọi người. Chia sẻ từ điêu khắc gia.

    Có thể nói, Phật Bà Quan Thế Âm Bồ tát chính là một trong 06 vị Bồ tát quan trọng nhất của Phật giáo Đại Thừa. 05 vị còn lại là: Địa Tạng Vương Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát và Di Lặc Bồ tát.

    Chúng sinh khi đang đau khổ thường hướng về Phật Bà Quan Âm để mong được chở che, dẫn dắt.

    Tượng Phật Quan Âm Bồ Tát chính là một trong những mẫu tượng Phật phổ biến được thờ nhiều nhất tại các chùa và tại nhà riêng của các Phật tử vì việc sỡ hữu một tôn tượng Phật Quan Âm là mong ước của mọi Phật tử với mong muốn gia đạo được bình an, êm ấm.

    Khi muốn tìm hiểu và lựa chọn tượng Phật Bà Quan Âm Bồ tát, đa phần quý sư thầy, cô và các cô chú Phật tử cũng có nhiều băn khoăn khi lạc vào thị trường tượng Phật đa dạng mẫu mã, chất liệu và kích thước hiện nay.

    Ở bài viết này, Trần Gia mong muốn chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm đã trải qua, hi vọng sẽ phần nào giúp được quý sư thầy, cô và các cô chú, anh chị Phật tử giải đáp những thắc mắc còn tồn đọng, hiểu được những kiến thức căn bản và thỉnh cho mình được những tôn tượng Phật Mẹ Quan Âm phù hợp nhất.

     

    XEM THÊM TƯỢNG QUAN ÂM ĐẸP NHẤT DO ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA TÔN TẠO

    I/  Đầu tiên, cùng tìm hiểu sơ lược về các mẫu tượng Phật bà Quan Thế Âm Bồ tát thường gặp:

    1/ Mẫu tượng Phật Bà Quan Âm đứng ( hoặc ngồi ) đài sen:

    • Sen là loài hoa sống trong bùn đất nhơ nhớp, thế nhưng vẫn luôn vươn cao ngẫng đầu và tỏa hương thơm ngào ngạt với nét đẹp tinh khiết và hoa sen được xem là biểu trưng của Phật.
    • Hình ảnh tượng Quan Âm Bồ Tát đứng ( hoặc ngồi ) đài sen với ý nghĩa cứu khổ, cứu nạn, phổ độ chúng sinh ở cõi đời tràn lan đau khổ, tai ương về với cuộc sống thanh bình.

    2/ Tượng Quan Âm Tự Tại:

    • Quán Tự Tại là một trong những danh xưng của Quan Thế Âm Bồ Tát với ý nghĩa “chỉ cần biết quán chiếu chính mình, nhận chân được rõ ràng chính mình, thì lúc đó bản thân đã có thành tựu được Tự Tại rồi”.
    • Tượng Quan Âm Tự Tại thường được diễn tả bằng hình ảnh Phật Bà Quan Âm ngồi gác chân phải trên đá, sen và nước và rất… Tự Tại.

    Tượng Mẹ Quan Âm ngồi trên sóng nước sơn bằng nhựa composite sơn giả đồng.

    3/ Mẫu tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ( tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn ):

    Tượng Phật Quan Âm nghin mắt nghìn tay bằng đồng

    • Phật Bà Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn còn có tên gọi là Thiên Thủ Thiên Nhãn Thập Nhất Diện Quán Thế Âm được biểu hiện do do Đại Nguyện từ bi cứu nạn cho tất cả chúng sinh trong thế giới của Quan Thế Âm Bồ tát với hình ảnh ngài có: 11 cái đầu, 1000 cánh tay, với một con mắt trên mỗi bàn tay. Trong đó:

    + Thiên Nhãn biểu thị cho 1000 vị Phật ở quá khứ.

    + Thiên Thủ biểu thị cho 1000 vị Phật ở hiện tại.

    • Theo Thập Nhất Diện Thần Chú Tâm Kinh Nghĩa Sơ ý nghĩa của 11 mặt Phật:

    + 03 mặt phía trước có tướng hiền lành ( Đại Từ ) biểu thị cho việc nhìn thấy chúng sinh hiền thiện mà sinh tâm Từ.

    + 03 mặt bên trái có tướng giận dữ ( Đại Bi ) biểu thị cho việc nhìn thấy chúng sinh ác độc mà sinh tâm Bi.

    + 02 mặt bên phải có tướng ló răng nanh biểu thị việc nhìn thấy kẻ có Tịnh Nghiệp liền phát lời khen hiếm có, siêng năng tịnh tiến  trong Phật đạo

    + 01 mặt phía sau có tướng Bạo Đại Tiếu biểu thị việc nhìn thấy chúng sinh Thiện Ác Tạp Tuế mà sinh nụ cười quái dị, sửa ác hướng theo đạo.

    + 01 mặt trên cùng có tướng Như Lai biểu thị sự Mãn Túc Nguyện.

    4/ Tượng Phật Quan Âm Trụ Long Quá Hải ( tượng Quan Âm cưỡi rồng):

    Mang ý nghĩa Phật Bà Quan Âm cầm bình Cam Lộ đứng trên Rồng lướt trên biển khổ , cứu độ chúng sinh , giúp tiêu trừ Tam Độc Tham Sân Si .

    Hình tượng Phật Quan Âm cưỡi rồng ( tượng Phật Mẹ Nam Hải )

    (hình ảnh sưu tầm internet)

    II / Khi thỉnh tượng Phật bà Quan Thế Âm Bồ tát, đầu tiên cần xác định tượng Phật được thỉnh để thờ ở chùa hay nhà riêng?

    1/ Thỉnh tượng Phật Bà Quan Âm thờ ở chùa sẽ chia ra 02 vị trí chính:

    a/ Tượng Phật Quan Âm đặt trong chánh điện:

    • Thông thường, tượng Phật Bà Quan Âm đặt bên trái, tượng Phật Bổn Sư chính giữa, tượng Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát sẽ được đặt bên phải với kích thước tổng thể của tượng ( bao gồm tượng Phật , đài sen , hào quang ) sẽ dao động từ 1 mét đến 2,5 mét ( tượng Địa Tạng Vương và tượng Phật Bà Quan Âm sẽ có sự đồng điệu về kích thước ).
    • Các chất liệu thông dụng để làm tượng là:  đồng, nhựa composite, gỗ…
    • Tượng có thể có hoặc không có hào quang ( lá bồ đề ) phía sau.

    b/ Tượng Phật Bà Quan Âm đặt ngoài trời:

    • Tượng thường có dáng đứng trên đài sen, có thể có kích thước từ vài mét đến vài chục mét tùy theo vị trí, diện tích và ngân sách thỉnh tượng của chùa.
    • Chất liệu thông dụng để tạc tượng: xi măng, nhựa composite, đá… ( lưu ý với chất liệu đá sẽ bị hạn chế, rất khó để tìm được những phôi đá đáp ứng được kích thước quá lớn ).
    • Cách đặt tượng Phật Bà Quan Âm ngoài trời: nên chọn vị trí trang nghiêm nhất và là nơi mọi người dễ chiêm bái.

    2/ Thỉnh tượng Phật Bà Quan Âm Bồ tát thờ tại gia:

    Tượng Quan Âm Bồ Tát nhỏ được thỉnh thường có kích thước dao động từ 30cm đến 100cm tùy vào diện tích phòng thờ của gia chủ hoặc dao động từ 100cm đến 200 cm nếu đặt trên sân thượng, ngoài trời… Các chất liệu thông dụng để tạc tượng Phật như: đồng, gỗ, nhựa composite, bột đá, gốm sứ… với ngân sách từ vài trăm ngàn đến vài chục triệu tùy theo chất liệu và kích thước của tượng Phật. Thường các Phật tử thờ tượng Phật Bà Quan Âm ngoài trời hoặc trên sân thượng.

    3/ Thỉnh tượng Phật đặt trong xe hơi ( xe ô tô ):

    Đa phần các Phật tử đều thỉnh cho mình một tượng Phật Quan Âm nhỏ có kích thước khoảng dưới 20 cm bằng các chất liệu như : gỗ, bột đá, gốm sứ, nhưa composite… Tượng được đặt trên taplo xe hơi hoặc treo phía trên với mục đích có Đức Phật chở che, mang lại cảm giác yên tâm, an toàn, vững tay lái trên mọi nẻo đường.

    III / Xác định ngân sách thỉnh tượng để lựa chọn những chất liệu, kích thước tượng Phật phù hợp nhất trong khoảng ngân sách của mình:

    • Cùng một kích thước nhưng chỉ cần thay đổi về chất liệu, chi phí thỉnh tượng đã có thể tăng lên gấp nhiều lần.
    • Vd: cùng 1 tượng Phật kích thước 150 cm từ nhựa composite chuyển sang đồng chi phi có thể tăng lên gấp hàng chục lần.
    • Cần chú ý vấn đề vận chuyển: cơ sở sản xuất, cửa hàng cung cấp tượng Phật vận chuyển về nơi an vị tượng có được miễn phí vận chuyển? Hỗ trợ 1 phần chi phí vận chuyển hay tính phí vận chuyển? Để xác định các chi phí phát sinh có thể làm chậm trễ thời điểm đã định để an vị tượng Phật.

    IV / Xác định thời gian sản xuất tượng Phật có đáp ứng được ngày an vị tượng đã định sẵn hay không?

    • Đối với các mẫu tượng Phật Bà Quan Âm Bồ tát có kích thước phổ biến, một số cơ sở cung cấp tượng Phật đã có tượng sẵn, chúng ta chỉ việc thỉnh tượng Phật về ngay.
    • Một số cơ sở sản xuất chỉ làm theo đơn đặt hàng để đảm bảo tượng luôn mới và hoàn hảo nhất. Thời gian sản xuất có thể dao động tùy vào số lượng đơn hàng tại thời điểm đó của cơ sở điêu khắc tượng Phật.
    • Đối với tượng Phật có kích thước lớn hoặc tượng có kích thước đặc biệt, việc sản xuất tượng Phật sẽ trải qua nhiều công đoạn: tạo mẫu, đổ khuôn, làm nguội, sơn vẽ… nên thời gian sẽ kéo dài hơn nhiều, thông thường sẽ mất vài tháng, có khi vài năm để hoàn thành.

    V / Dựa vào chất liệu, ngân sách, thời gian đã định ở trên để lựa chọn cơ sở sản xuất, cửa hàng cung cấp tượng Phật phù hợp nhất:

    • Thông thường, mỗi nơi sản xuất tượng Phật chỉ sản xuất chuyên về một chất liệu sở trường.
    • Cũng có một số cơ sở lớn với nguồn nhân sự lành nghề có thể đảm nhận luôn những chất liệu khác nhau khi khách hàng yêu cầu.
    • Quy trình sản xuất ở các cơ sở hầu hết đều giống nhau, sự khác biệt quan trọng nhất đến từ những điêu khắc gia, nghệ nhân ở khâu tạo mẫu tượng Phật để tạo ra được những tác phẩm có hồn, thần thái và nét riêng của cơ sở mình.
    • Mỗi người thợ tạo mẫu đều có cái nhìn, cái tâm và tài năng khác nhau nên hầu như tạo ra những tác phẩm rất riêng biệt. Dù cách nhận xét về tác phẩm của mỗi người không giống nhau, có thể tích cực hoặc tiêu cực, nhưng chúng ta cũng không nên phủ nhận tâm huyết của người thợ đặt trong mỗi tác phẩm.

    VI / Xác định phương thức thanh toán tại cơ sở điêu khắc, cửa hàng mua bán tượng Phật:

    • Đối với những tôn tượng có sẵn, chúng ta chỉ việc thanh toán và thỉnh tượng về hoặc đặt cọc và thanh toán phần còn lại khi tượng được vận chuyển đến nơi an vị.
    • Đối với những tôn tượng phải làm theo đơn đặt hàng, chúng ta sẽ tạm ứng một phần để cơ sở tiến hành sản xuất và thanh toán phần còn lại khi đã nhận được tượng đúng với yêu cầu.
    • Đối với những tôn tượng có kích thước lớn và giá trị cao, phần thanh toán có thể chia nhỏ ra nhiều phần hơn nữa theo từng công đoạn. Giá trị thanh toán bao nhiêu sẽ tùy thuộc vào việc trao đổi giữa cơ sở sản xuất và bên thỉnh tượng Phật để phù hợp nhất.

    VII / Cùng chiêm ngưỡng nét chân dung tượng Phật Bà Quan Âm Bồ tát đẹp nhất do cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia tôn tạo:

    Mẫu tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ tát đứng đài sen bằng nhựa composite sơn vẽ, dát vàng chi tiết.

    Mẫu tượng Quan Âm Bồ Tát đẹp đứng trên mây nước sơn vẽ rất tinh xảo.

    Mẫu tượng Quan Âm lộ thiên sơn trắng đơn giản.

    Tượng Quan Âm Bồ tát đứng đài sen kích thước nhỏ sơn vẽ, dát vàng.

    Tượng Phật Bà đứng đài sen nhựa composite sơn màu xanh biển.

    Mẫu tượng Quan Âm lộ thiên cao 370 cm sơn màu trắng.

    Cùng chiêm ngưỡng cận cảnh chân dung tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ tát.

    Tượng Phật Bà Quan Âm bằng composite sơn vẽ rất tinh xảo.

    Tượng Quan Âm tự tại đẹp

    Cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia tự hào là đơn vị chuyên nghiệp hàng đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực tôn tạo , sản xuất những tượng Phật đẹp với chất lượng cao, là nơi bán tượng Phật Quan Âm cao cấp, đa dạng kích thước, mẫu mã. Chúng tôi hân hạnh được phục vụ rất nhiều khách hàng trong nước và quốc tế.

    Xin mời quý Phật tử cùng chiêm ngưỡng video tổng hợp những hình ảnh tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát đẹp nhất của Trần Gia.

    Cửa hàng bán tượng Phật Quan Âm của điêu khắc Trần Gia đã nhận được rất nhiều nhận xét tích cực và sự tán dương vì tôn tượng thể hiện được thần thái, dung mạo của Đức Phật.

     

    XEM THÊM TƯỢNG QUAN ÂM ĐẸP NHẤT DO ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA TÔN TẠO

     

    Nhận xét tích cực từ quý khách hàng của cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia:

     

    CƠ SỞ ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA.

    Chuyên Tư Vấn – Thiết Kế – Thi Công Các Công Trình Nghệ Thuật 

    Đa Dạng Kích Thước – Đa Dạng Chất Liệu .

    Trụ sở chính :  27 Đường số 1, khu phố 5, P. Hiệp Bình Phước, Q. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh

    Lâm Đồng      : 57 Nguyễn Chí Thanh, Nghĩa Lập, Đơn Dương, Lâm Đồng

    Website          : dieukhactrangia.com

    Hotline            : 0931.47.07.26

    ​Email               : [email protected]

    Hãy liên hệ cửa hàng bán tượng Phật Quan Âm của Trần Gia để được tư vấn và giải đáp thắc mắc mua tượng Phật Bà Quan Âm ở đâu ?  tượng Mẹ Quan Âm giá bao nhiêu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Đặt Tượng Quan Âm Ngoài Trời
  • Thờ Tượng Phật Tại Gia: Điều Cấm Kỵ?cách Sắp Xếp Vị Trí 2022
  • Cách Bố Trí Bàn Thờ Phật Hợp Phong Thủy
  • 100 Mẫu Bàn Thờ Phật Đẹp Nhất
  • Cách Thức Thờ Phật & Thờ Gia Tiên
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×