【#1】Làm Lễ Cúng Đầy Tháng Cho Bé Như Thế Nào?

Theo phong tục nước ta, trẻ con sinh ra được tròn một tháng thì được bố mẹ làm lễ cúng đầy tháng – lễ cúng đầy tháng trước là để tạ ơn Mụ bà và Đức ông (Ông bà ta xưa quan niệm rằng đứa trẻ được sinh ra là do các vị Đại Tiên này) đã phù trợ cho “mẹ tròn con vuông”, sau là để trình với nội – ngoại, họ hàng, lối xóm về đứa cháu sau một tháng chào đời. Lễ đầy tháng là chức mừng cho đứa trẻ sinh ra hòa nhập với thế giới con người và sống khỏe mạnh, được nâng niu, chúc tụng, để cộng đồng có trách nhiệm giúp đỡ, cưu mang, che chở…

Ông bà ta xưa quan niệm rằng đứa trẻ được sinh ra là do các vị Đại Tiên (Bà Chúa Đầu thai) hay còn gọi là 12 Mụ Bà nặn ra. Mỗi Mụ Bà sẽ có trách nhiệm nặn ra một bộ phận cho đứa trẻ như mắt, mũi, tay, chân, tóc… xấu hay đẹp cũng là do tay các Mụ Bà nặn ra.

Đứa trẻ vừa mới chào đời hãy còn xa lạ với thế giới xung quanh.Trẻ phải luôn được mẹ ôm ấp, để nghe nhịp đập con tim, hơi thở của mẹ như hồi nằm trong bụng mẹ để dần tiếp xúc, quen dần và thích nghi với mọi thứ từ thế giới bên. Cho nên khi trẻ vượt qua 30 ngày đầu và khỏe mạnh thì cha, mẹ phải thực hiện nghi lễ cúng ăn mừng còn gọi là lễ cúng đầy tháng.

1. Mụ bà Trần Tứ Nương, coi việc sanh đẻ (chú sinh)

2. Mụ bà Vạn Tứ Nương, coi việc thai nghén (chuyển sinh)

3. Mụ bà Lâm Cửu Nương, coi việc thụ thai (thủ thai)

4. Mụ bà Lưu Thất Nương, coi việc nặn hình hài nam, nữ cho đứa bé

5. Mụ bà Lâm Nhất Nương, coi việc chăm sóc bào thai (an thai)

6. Mụ bà Lý Đại Nương, coi việc chuyển dạ (chuyển sinh)

7. Mụ bà Hứa Đại Nương, coi việc khai hoa nở nhụy (hộ sản)

8. Mụ bà Cao Tứ Nương, coi việc ở cữ (dưỡng sanh)

9. Mụ bà Tăng Ngũ Nương, coi việc chăm sóc trẻ sơ sinh (bảo tống)

10. Mụ bà Mã Ngũ Nương, coi việc ẵm bồng con trẻ (tống tử)

11. Mụ bà Trúc Ngũ Nương, coi việc giữ trẻ (bảo tử)

12. Mụ bà Nguyễn Tam Nương, coi việc chứng kiến và giám sát việc sinh đẻ

Ngoài ra, còn có 3 Đức ông: Thánh sư, Tổ sư và Tiên sư với chức năng truyền dạy nghề nghiệp cho bé trong tương lai (không phải 13 đức thầy).

Chuẩn bị lễ vật cúng lễ đầy tháng cho bé

Một số gợi ý như sau:

– Cúng Mụ bà

3 đĩa xôi

3 tô chè

12 chén chè

Hàng mã (giấy tiền vàng bạc)

– Cúng Đức ông

3 chén cháo

1 con vịt chéo cánh luộc chín

Hàng mã (giấy tiền vàng bạc)

1 tô cháo

Ngoài ra, có thể sử dụng thêm những vật cúng khác như:

– 12 đôi hài xanh

– 12 nén vàng màu xanh

– 12 bộ váy áo xanh

– 12 miếng trầu cánh phượng

– 12 bộ đồ chơi

– 12 con cua

– 12 con ốc

– 12 con tôm

– Bánh kẹo, hoa quả,… chia thành 12 phần bằng nhau.

Bài cúng trong lễ đầy tháng cho bé

Sau khi bày lễ vật, một trưởng tộc hoặc người biết thực hành nghi lễ, thắp ba nén hương khấn nguyện: “Hôm nay, ngày (mùng)… tháng… (âl), ngày cháu (nội hay cháu ngoại…) họ, tên… tròn 1 tháng tuổi, gia đình chúng tôi bày mâm lễ vật này, cung thỉnh thập nhị mụ bà và tam đức ông trước về chứng minh nhận lễ, sau tiếp tục phù trợ cho cháu (tên…) mạnh tay, mạnh chân, mau lớn, hiền, ngoan, phù trợ cho gia đình an vui, hạnh phúc”.

Sau nghi thức cúng kính là nghi thức khai hoa còn gọi là “bắt miếng”. Đứa bé được đặt ngay trên bàn giữa, chủ lễ rót trà thấp hương xin phép bắt miếng. Xong, bồng đứa trẻ một tay, tay kia cầm một nhánh hoa điệp (có thể hoa khác) vừa quơ qua, quơ lại trên miệng cháu bé vừa dạy những lời tốt đẹp như sau:

Mở miệng ra cho có bông, có hoa,

Mở miệng ra cho kẻ thương, người nhớ,

Mở miệng ra cho có bạc, có tiền,

Mở miệng ra cho xóm giềng quý mến…

Tiếp sau là lời chúc mừng và tặng quà hoặc tiền lì xì của khách mời, của dòng họ bà con cho cháu bé và gia đình nhân ngày cháu tròn một tháng tuổi.

Lễ đầy tháng là hình thức tín ngưỡng dân gian mang đậm dấu ấn của tín ngưỡng thờ mẫu, qua đó cho thấy tín ngưỡng dân gian nói chung luôn hướng con người không chỉ biết có hiện tại, tương lai, mà còn nhận rõ truyền thống văn hóa mang tính bản sắc của gia đình – xã hội. Đồng thời Lễ đầy tháng còn là sự biểu hiện của những ước muốn tốt đẹp của các thế hệ trước đối với các thế hệ kế thừa.

【#2】Ngày Vía Thần Tài Có Thật Sự Là Ngày Mùng 10 Hàng Tháng Không?

Đầu năm, hầu hết các gia đình người Việt Nam ta đều có lễ đón ngày vía Thần tài theo phong tục dân gian để chào đón ngài từ thiên đình về hạ giới.

Lịch trình cụ thể là của chuỗi ngày giỗ, lễ cúng vía Thần Tài là:

– Mùng 2 làm lễ đón Hỷ thần (thần may mắn, hạnh phúc).

– Mùng 3 đón Tài thần (thần tài lộc)

– Mùng 4 là đón tiếp các vị thần khác từ thiên đình về hạ giới.

– Mùng 5 là ngày phá trừ, dỡ bỏ đồ cúng.

Riêng với các cửa hàng kinh doanh thì cúng Thần Tài hàng ngày.

Thần tài quen thuộc nhất trong dân gian là Triệu Công Minh. Ngày sinh của Triệu Công Minh có nhiều thuyết, thông dụng nhất là hai ngày: 15 tháng 3 (theo Nam Sơn cư sỹ đời Tần) và 22 tháng 7 (trùng với thuyết của Hứa Chân Quân ở trên), đồng thời các nhà thiên văn cổ cho rằng đây là ngày “mặt trời sáng nhất”. Do đó, ngày vía thần tài nếu có sẽ là ngày 22 tháng 7 hàng năm.

Những năm gần đây xuất hiện trào lưu người dân đổ xô đi mua vàng trong ” ngày vía Thần Tài” mùng 10 tháng Giêng, mong được may mắn tài lộc trong năm mới.

Một số ý kiến cho rằng, ngày này chỉ là do một số người kinh doanh tuyên truyền nhằm thúc đẩy việc bán hàng đầu năm, chứ không có tài liệu nào ghi chép, cũng như phong tục trong dân gian.

Tuy nhiên thì hiện tại ngày mùng 10 đã được coi như ngày vía Thần Tài ở Việt Nam

* Cúng Thần Tài cũng có thể làm hàng tháng

Ngoài ngày vía chính của Thần Tài là ngày mồng 10 Tết, mọi người vẫn chọn ngày mùng 10 âm lịch hàng tháng để cầu xin may mắn tài lộc trong tháng đó, nên tục cúng Thần Tài đã trở thành thông lệ.

Thông thường, vào ngày mùng 1 và ngày 15 âm lịch, cùng với bàn thờ Tổ tiên và các bàn thờ khác trong nhà, hoặc vào ngày mùng 10 âm lịch hàng tháng, người ta thường cúng Thần Tài để trả lễ khi gặp vận hên tài lộc.

Đồ cúng thường là các món ăn ngon như thịt heo, vịt quay, gà, hoa quả, nước uống hàng ngày… Dân gian truyền miệng Thần Tài rất thích món cua biển và heo quay, chuối chín vàng.

Thường ngày nên đốt nhang mỗi sáng từ 6 – 7 giờ và chiều tối từ 18 – 19 giờ, mỗi lần đốt 5 cây nhang. Thay nước uống khi đốt nhang, thay nước trong lọ hoa và chưng thờ nải chuối chín vàng. Tránh để các con vật chó mèo quậy phá làm ô uế bàn thờ Thần Tài.

Hàng tháng thường lau bàn thờ, tắm cho Thần Tài vào ngày cuối tháng và ngày 14 âm lịch với nước lá bưởi, hay rượu pha nước. Khăn lau và tắm cho Thần Tài không được dùng vào việc khác.

Tổng hợp

(Tuổi Trẻ Thủ Đô)

【#3】Ý Nghĩa Ngày Rằm Tháng 6 Trong Phật Giáo Nam Tông

Ngày Rằm tháng Sáu, có lẽ đối với người Việt Nam thì chỉ là một ngày Rằm bình thường, chẳng có chút gì gọi là quan trọng, nếu không nói là quá xa lạ với người Việt chúng ta.

Tuy nhiên, với Tăng Tín đồ Phật Giáo Nam truyền, ngày Rằm tháng Sáu có rất nhiều ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời lịch sử và hoằng pháp của Đức Phật. Ngày Rằm tháng Sáu còn được gọi là ngày Āsaḷhapūjā.

Pūjā nghĩa là tôn kính, quý kính, còn có nghĩa là sự dâng cúng, cúng dường. Ở đây, Pūjā còn có nghĩa là ngày lễ lớn. Āsaḷha là tên một tháng trong lịch của Ấn Độ. So với âm lịch Việt Nam, Āsaḷha tương ứng với tháng Sáu.

Āsaḷhapūjā là ngày lễ Rằm tháng Sáu, ngày kỷ niệm trọng đại một lúc bốn sự kiện lịch sử:

1/ Bồ tát giáng trần

2/ Bồ tát xuất gia

3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân

4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo

5/ Và sau ngày này, chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

Mơ màng ứng hiện mộng lành

Uy nghiêm bạch tượng hóa thành thánh thai

Theo Buddhavaṃsa (Phật sử), Bồ tát tu hạnh Trí tuệ phải thực hành pháp độ khoảng 20 A tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Tiền kiếp của Phật Thích Ca là Ngài Vessantara thực hành pháp bố thí ba-la-mật bậc thượng (Dānaparamatthapāramī) thành tựu viên mãn. Sau đó hết tuổi thọ, Ngài tái sanh vào cõi Trời Tusita có tên là Santusita. Trong những ngày trai giới, Chư Thiên các nơi vân tập về đây để nghe đức Bồ tát Setaketu thuyết pháp. Thường thường Ngài giảng về bố thí, trì giới, tham thiền, tội ngũ trần, đề cao hạnh xuất gia, ba tướng của vũ trụ… giọng nói của Ngài thanh tao như trời Phạm thiên, y phục chỉnh tề, hào quang sáng chói. Sau thời giảng, Chư Thiên vô cùng hoan hỷ, chấp thọ lời dạy của Ngài và cáo biệt trở về cung điện của mình.

Riêng đức Bồ tát lúc nào cũng trầm tư mặc tưởng về chí nguyện độ đời của mình. Vì thế Ngài lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng giáng phàm để thành đạo. Thông lệ các vị Bồ tát mặc dù tu hạnh nào trước khi thành Phật cũng phải ngụ trên cõi Trời này để chờ thời gian thích hợp giáng phàm. Bồ tát Setasetu sống trên cõi Trời Ðâu suất khoảng thời gian rất lâu thì đến thời gian sắp hết tuổi thọ. Lúc đó, trời Ðế Thích và Chư Thiên đã đồng nhau cung thỉnh Ngài giáng phàm để sau này cứu độ chúng sinh. Ngài quán chiếu năm điều:

Thời kỳ (Kāla): Tuổi thọ chúng sanh thời này không quá 1000 tuổi mà cũng không kém 100 tuổi. Lý do là, nếu sống lâu thì con người đâm ra dãi đãi, bất chấp tội phước; còn như yểu số thì con người chỉ lo mưu cầu danh lợi, thỏa mãn vật chất, không đủ thời gian tu niệm. Do đó, Ngài xuất hiện ở thời kỳ này.

Quốc độ (Desa): Ngài chọn Trung Ấn Độ, ở đấy không quá giàu mà cũng không quá nghèo, sự bất công và sự phủ phàng lúc nào cũng hiện diện trong cuộc sống. Hơn nữa, có nhiều sự bất đồng về giai cấp, nghèo khổ, bệnh hoạn luôn là mối đe dọa con người, nhờ thế loài người dễ hướng thiện.

Dòng dõi (Kula): Ngài chọn hoàng tộc Sakya. Vì trong 30 tục lệ của chư Phật, tất cả các vị Chánh đẳng giác kiếp cuối không được tái sanh trong dòng dõi thấp hèn, vì nếu tái sanh vào đó thì sẽ bất lợi cho việc hoằng pháp độ đời. Còn như giáng phàm trong giòng dõi cao quý thì việc hoằng pháp sẽ thuận lợi trong việc hoằng pháp.

Châu (Padīpa): Loài người đang sống và tồn tại ở bốn châu thiên hạ: Đông thắng thần châu (Pubbavideha), Tây ngưu hóa châu (Āparagoyāna), Bắc cưu lưu châu (Uttarakuru) và Nam thiệm bộ châu (Jambudīpa). Ngài chọn Nam thiệm bộ châu vì ở châu này loài người không văn minh kiêu kỳ mà cũng không quá lạc hậu đần độn. Nhờ vậy khi gặp Phật, họ dễ dàng lãnh hội giáo lý, tu hành mau đắc đạo.

Cha mẹ (Mātara): Đức Phật là thầy của tam giới nên Ngài phải chọn người có đại duyên, đại nguyện với Ngài trong vô lượng kiếp. Vua Suddhodana và chánh hậu Mahāmāyādevī, hai người này đã từng là cha mẹ của Ngài trong nhiều kiếp nên Ngài chọn hai vị này làm quyến thuộc.

Sau khi quan sát năm điều thích hợp trên, Ngài đồng ý giáng sanh xuống trần gian để sau này thành đạo tiếp độ chúng sinh. Hôm đó là ngày Rằm tháng Sáu, năm 624 trước tây lịch.

Xa nhau chẳng phải phụ nhau

Quyết tìm phương dứt khổ đau muôn loài

Một ngày vẻ vang kia, thái tử ra khỏi hoàng cung để nhìn xem thế gian bên ngoài và trực tiếp tiếp xúc với sự thật phũ phàng của đời sống. Trong phạm vi nhỏ hẹp của cung điện, Ngài chỉ thấy phần tươi đẹp, nhưng đám đông nhân loại thì biết bề đen tối, đáng ghê sợ của đời. Chính cặp mắt quan sát của thái tử đã nhận thấy một cụ già chân mỏi gối dùn, một người bệnh hoạn đau khổ, một thây ma hôi thúi và một đạo sĩ nghiêm trang khả kính. Ba cảnh già, bệnh và chết, hùng hồn xác nhận quan điểm của thái tử về đời sống đau khổ của nhân loại. Hình ảnh thong dong từ tốn của nhà tu sĩ thoáng cho Ngài hé thấy con đường giải thoát, con đường an vui hạnh phúc thật sự. bốn quang cảnh bất ngờ ấy càng thúc giục thái tử ghê tởm và sớm thoát ly thế tục.

Nhận định rõ ràng rằng những thú vui vật chất mà phần đông tranh nhau tìm kiếm đều không thể đem lại lợi ích, chỉ có sự xuất gia, sự từ bỏ tất cả mùi danh bã lợi của trần gian này mới thật là chân giá trị, Thái Tử Siddhattha nhất định rời bỏ cung điện đền đài để ra đi tìm chân lý, nơi không còn phải tái sanh, già đau, bệnh, chết như thế.

Giữa lúc ấy thì có tin đưa đến rằng Công Chúa Yasodharā, vợ Ngài, vừa hạ sanh hoàng nam. Đối với thế gian, đó là một tin lành. Nhưng, trái hẳn với mọi dự đoán, Ngài không quá đỗi vui mừng vì thấy đó là thêm trở ngại. Thế thường, khi sanh được người con đầu lòng, cha mẹ cảm nghe trong lòng chớm nở lần đầu tiên một tình thương mặn nồng sâu sắc, một tình thương mới mẻ đậm đà, vô cùng trong sạch. Nỗi vui mừng của người làm cha đầu tiên thật không sao tả được. Nhưng Thái Tử Siddhattha không phải là một người cha thường, Ngài than: “Lại thêm một trở ngại, lại thêm một dây trói buộc”. Do đó, Đức Vua Suddhodana đặt tên cháu nội là Rāhula.

Ngài truyền lệnh cho Channa, người đánh xe yêu chuộng, thắng yên ngựa Kaṇṭhaka và thẳng đến điện của công chúa. Ngài khẽ hé cửa nhìn vợ và con đang yên giấc với một tấm lòng từ ái nhưng bình thản, không chao động, không trìu mến. Tình thương đối với vợ, con thật mặn nồng sâu sắc. Nhưng đối với nhân loại trầm luân đau khổ, lòng trắc ẩn của Ngài lại càng thâm thậm vô ngần. Ra đi, Ngài không lo sợ cho tương lai của công chúa và hoàng tử, vì biết chắc chắn rằng vợ và con sẽ có đầy đủ tiện nghi và đảm bảo để sống an toàn và sung sướng. Ra đi, không phải vì kém tình thương vợ, thương con, mà vì tình thương của Ngài mở rộng cho mọi người, bao trùm tất cả nhân loại và chúng sanh.

Thái Tử Siddhattha ra đi giữa đêm khuya, để lại sau lưng tất cả đền đài cung điện, người cha yêu quý, vợ đẹp, con thơ, và cả một tương lai huy hoàng rực rỡ. Ngài trốn ra khỏi thành và giục ngựa thẳng xông trong đêm tối. Cùng đi với Ngài chỉ có Channa. Không tiền của, không cửa nhà, nay đây mai đó, Ngài bắt đầu lần bước trên đường đi tìm chân lý. Thế là Ngài từ bỏ thế gian.

Đây không phải là sự từ bỏ của một cụ già đã trải qua hầu hết cuộc đời của mình, hay của người bần cùng nghèo đói không còn gì để bỏ lại phía sau, nhưng là sự khước từ của một hoàng tử vinh quang giữa thời niên thiếu, trong cảnh ấm no, sung túc và thịnh vượng. Một sự thoát ly chưa từng có trong lịch sử. Lúc ấy thái tử Siddhattha được 29 tuổi, vào năm 234 trước tây lịch.

3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân.

Sau khi giác ngộ, vị trời Phạm thiên Sahampati cung thỉnh Thế tôn vì lòng từ bi thuyết pháp độ đời. Ngài quan sát thế gian và nhận lời thuyết pháp. Ðầu tiên Ngài nghĩ sẽ thuyết pháp cho ai, người được nghĩ đến là đạo sĩ Ālārakālāma và đạo sĩ Uddakarāmaputta, hai vị này là thầy dạy đạo cho Ngài khi còn là Bồ tát, nhưng Chư Thiên báo là hai vị này đã qua đời. Tiếp đến Ngài nghĩ đến năm người bạn Kiều Trần Như đồng tu khổ hạnh với Ngài và hiện giờ họ đang ở vườn Lộc Uyển Isipatana gần thành Bārāṇasī.

Từ Bồ đề đạo tràng sang vườn Lộc Uyển rất xa, khoảng 18 do tuần, chư Phật trong quá khứ chuyển bánh xe Pháp lần đầu thường đi bằng thần thông. Nhưng đức Phật Thích Ca quan sát thấy du sĩ Upaka có duyên với Ngài, nếu Ngài đi bằng thần thông thì du sĩ sẽ không có cơ hội gặp gỡ Ngài, mặc dù cuộc hạnh ngộ với đức Phật ngắn ngủi nhưng là một túc duyên cho Upaka sau này giác ngộ. Chính vì thế nên Ngài quyết định đi bộ. Ðường xá xa xôi, đường đi hiểm trở, tất cả cũng vì tình thương và sự giác ngộ của chúng sinh. Không màng những khó khăn cực nhọc trên một đoạn đường dài như vậy và cuối cùng Ngài đến vườn Lộc Uyển đúng vào ngày Rằm tháng Sáu, năm 228 trước tây lịch.

Ðây là bài pháp nồng cốt trong triết lý Phật Giáo, là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật thuyết giảng sau khi Ngài giác ngộ, cũng còn gọi là Kinh Chuyển Pháp Luân – Dhammacakkappavattanasutta.

Nội dung bài pháp đầu tiên, gồm có bốn vấn đề:

1. Khổ đế: trình bày tất cả những nỗi đau khổ trên trần gian

2. Tập đế: chỉ rõ nguyên nhân của đau khổ là Ái dục

3. Diệt đế: là trạng thái tịch tịnh, vắng lặng, Níp-bàn

4. Ðạo đế: là con đường Trung đạo có tám ngành.

Tóm lại, Ngài chỉ cho chúng sinh thấy niềm đau nỗi khổ trên cuộc đời và nguyên nhân đưa đến đau khổ. Ðồng thời Ngài giới thiệu sau khi hết khổ sẽ có hạnh phúc, an lạc, tự do và thoải mái và sau đó Ngài chỉ cho thấy những con đường phải đi để thành tựu được niềm hạnh phúc vĩnh cửu.

Kinh ghi lại trước khi Ngài bắt đầu thuyết pháp Tứ diệu đế, Ngài giảng hai điều mà các thầy cần phải tránh xa, đó là khổ hạnh và lợi dưỡng. Khổ hạnh ép xác thái quá và sống lợi dưỡng thái quá cũng không đưa đến giải thoát. Mà tránh xa hai con đường này đó là con đường Trung đạo – Majjhimapaṭipadā. Kết quả sau thời giảng là năm vị Koṇḍañña mở pháp nhãn, giác ngộ đạo quả Tu đà hườn, trở thành 5 vị Thánh Tăng đầu tiên trong Phật giáo

4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo.

Trong 30 tục lệ của chư Phật, dùng thần thông để nhiếp phục ngoại đạo là một trong ba mươi tục lệ đó. Ðã là tục lệ thì vị Phật tổ nào cũng phải thực thi đúng như vậy. Tục lệ có nghĩa là luật lệ, quy định, điều lệ đã định sẵn để dành cho những vị Phật tổ trong quá khứ, hiện tại và tương lai thi hành đúng niêm luật. Cho nên câu chuyện Đức Phật nhiếp phục ngoại đạo bằng thần thông là một chuyện bình thường vì đây chỉ là một việc làm kế thừa truyền thống của chư Phật.

Từ khi thành đạo dưới cội Bồ đề và Ngài thuyết pháp giảng đạo, có rất nhiều người hữu duyên tìm đến với Ngài. Pháp của Ngài giảng hoàn hảo đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, chúng sinh nào có duyên chắc chắn giác ngộ ngay trong kiếp hiện tiền. Do đó nhiều đệ tử của Ngài xuất gia, đắc đạo mặc dù họ đã có nhiều năm tu hành theo sáu vị lãnh đạo của lục đại môn phái nổi tiếng khắp nơi tại xứ Ấn Độ bấy giờ. Các vị lãnh đạo đó nhìn thấy đệ tử của mình mỗi ngày mỗi ít, đa số đã từ giã mình đi theo thọ giới với Sa môn Cồ Ðàm. Không nói được, nhưng càng nhìn đệ tử từ giã ra đi lại càng thêm căm phẫn. Thế nên hình ảnh đức Phật và đệ tử của Ngài là một sự căm thù đối với nhóm lục sư ngoại đạo trên. Mọi sinh hoạt của Ngài đều bị họ theo dõi để tìm khuyết điểm xuyên tạc, nhục mạ, hạ uy tín… nhưng tất cả đều như gió thoảng mây bay.

Có một ông trưởng giả tìm được một khối trầm, cho tạc thành một bình bát và ông ta treo giải thưởng nếu ai lấy được bát ông sẽ trọng thưởng và cả gia đình theo nương nhờ làm học trò. Nhóm lục sư ngoại đạo nghe vậy cho người môi giới đến xin nhưng ông từ chối. Họ nói với ông trưởng giả chẳng lẽ vì một cái bát mà phải dùng thần thông thì không xứng đáng. Họ tìm nhiều mưu mô để đoạt được bát trầm nhưng không được. Ông trưởng giả nghĩ rằng trong nước mình đang ở có nhiều tôn giáo họ tự xưng là A-la-hán cho nên ông treo giải thưởng như vậy người nào lấy được mới quả là A-la-hán. Nhưng bảy ngày trôi qua nhóm lục sư ngoại đạo không người nào thi hành theo tâm nguyện của ông trưởng giả.

Khi đức Phật cấm chế điều luật đó, nhóm lục sư ngoại đạo hay biết được và cho người đi tuyên truyền rằng: đệ tử của Sa môn Gotama còn vì danh lợi nên mới đi lấy bát còn chúng tôi là A-la-hán không vì danh lợi nên không lấy bát theo lời yêu cầu của trưởng giả. Sa môn Cồ Ðàm còn đập bát và cấm chế điều luật, không cho đệ tử sử dụng thần thông. Do đó họ quyết định thi thố thần thông với ông Sa môn Cồ Ðàm.

Vua Ajātasattu hay tin ngoại đạo nói như vậy, vội vã vào yết kiến Thế tôn và bạch rõ vấn đề những vị lãnh đạo tôn giáo đó muốn thách thức so tài thần lực với Thế tôn. Ðức Thế tôn trầm lặng trong giây lát, Ngài nói với nhà vua rằng Như Lai đồng ý so tài thần thông với họ. Vua nói:

– Bạch Thế tôn, còn việc Ngài cấm sử dụng thần thông thì sao?

– Tâu Ðại vương, Như Lai cấm đệ tử chứ Như Lai đâu có cấm Như Lai đâu!

Thế là đức Phật báo rõ địa điểm và thời gian để so tài thần thông với nhóm Lục sư ngoại đạo. Ngày đó là Rằm tháng Sáu tại Sāvatthī.

Khi ngoại đạo hay tin đức Phật đồng ý so tài thần thông với họ, nên họ rất sợ và hoang mang. Vì họ nghĩ rằng, Ngài cấm chế không cho đệ tử sử dụng thần thông thì chắc Ngài cũng không được phép sử dụng, ai ngờ bây giờ ông ta đồng ý đấu thần thông với chúng ta thì chúng ta tính sao đây? Nhưng dù sao thì đã lỡ công bố rồi! Nhóm Lục sư ngoại đạo cùng nhau kéo về Sàvatthì và họ kêu gọi tín đồ hùn tiền để xây tháp đài để so tài thần lực với Sa môn Gotama, nên họ thu được một số tiền rất lớn. Vua Pasenadi hay biết tín đồ của nhóm lục sư ngoại lo lắng cho thầy như vậy Ngài cũng nao nao trong lòng. Hôm sau vua vào lễ Phật và xin Phật cho Ðại vương xây một tháp đài giống như ngoại đạo để Thế tôn so tài với họ. Ðức Phật khước từ và Ngài bảo sẽ hiện thần thông dưới gốc cây xoài.

Ngoại đạo biết được cuộc nói chuyện giữa đức Phật và vua Pasenadi, nên họ cho đệ tử chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī. Ðã đến ngày giờ so tài với ngoại đạo, Phật ngự vào thành nhưng chưa đến thành thì có một người giữ vườn Thượng Uyển thấy xoài chín hái dâng cho Phật. Phật hoan hỷ thọ lãnh và tìm một chỗ thích hợp ngồi thọ xoài, còn hạt xoài Ngài bảo người giữ vườn đào lỗ trồng và chính tay Ngài tưới nước. Chẳng bao lâu hạt xoài mọc lên một cây xoài xanh tươi nhiều hoa lá và có nhiều trái thơm ngon.

Dân chúng đến tham dự cuộc so tài của đức Phật và ngoại đạo, họ thấy xoài có nhiều trái chín nên họ hái cùng nhau ăn. Họ ăn xoài thấy hương vị ngon lạ lùng, càng ngon họ càng nguyền rủa bọn ngoại đạo vô cớ chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī, nên họ thấy bọn ngoại đạo ở đâu họ dùng hạt xoài ném vào bọn ngoại đạo.

Sắp đến giờ so tài, bọn ngoại đạo khủng hoảng tinh thần trước quần chúng. Liền sau đó đức Phật hóa một con đường bằng ngọc báu, rồi Ngài đi thiền hành trên con đường đó.Tiếp theo, Ngài hóa thân, từ một thân thành nhiều thân, lúc đó quần chúng thấy nhiều Phật, Phật ngồi, nằm hoặc hai vị thuyết pháp với nhau… Cuối cùng, Ngài thị hiện song thông (yamakapāṭihāriya), với năng lực này chỉ có đức Chánh đẳng Chánh giác mới có thể thực hiện được.

Thần thông này cùng một lúc hiện ra hai điều kỳ diệu: từ thân vừa phún tia nước, vừa phún tia lửa; từ thân phát hào quang xanh và đỏ… Trước uy lực của một vị Phật như vậy, bọn ngoại đạo kiếp sợ và rút lui chạy tán loạn chỉ còn lại dân chúng đang hướng về đức Phật thành kính lễ bái. Ðồng thời Ngài thuyết một bài pháp đúng vào tâm lý của từng chúng sinh, nên hôm đó Chư thiên và nhân loại đắc đạo chứng quả nhiều vô số kể.

Trong giây lát, đức Phật chiêm nghiệm bằng tuệ giải thoát, Ngài thấy chư Phật trong quá khứ sau khi dùng thần thông thắng ngoại đạo là ngự lên cõi Trời Tāvatiṃsā thuyết pháp độ Phật mẫu bằng tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Hôm ấy đúng vào ngày Rằm tháng Sáu.

5/ Chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

Một ngày sau lễ Rằm tháng Sáu, chư Tăng trong truyền thống Phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ. Trong chương “Vào Mùa Mưa”, Đại Phẩm, Tạng Luật, có ghi:

Đức Thế Tôn ngự tại thành Vương-xá, Trúc Lâm. Lúc bấy giờ, việc an cư mùa mưa chưa được đức Thế Tôn quy định cho các Tỳ-kheo. Các vị Tỳ-kheo đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng và cả trong mùa mưa nữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao các Sa-môn Thích Tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Ngay cả các du sĩ ngoại đạo, dù có giáo lý được thuyết tồi tệ, vẫn sống cố định một chỗ trong mùa mưa, ngay cả những con chim sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng sống cố định trong mùa mưa. Còn các sa-môn Thích Tử thì lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị ấy đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt chúng sanh nhỏ nhoi.

Các Tỳ-kheo nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Vì thế, các vị đã đem sự việc ấy trình lên đức Thế Tôn. Đức Phật nhân sự việc này mà bảo các Tỳ-kheo rằng:

– Này các Tỳ-kheo, ta cho phép an cư trong mùa mưa. Đây là hai thời điểm vào mùa an cư: thời điểm trước và thời điểm sau.

Thời điểm trước là ngày kế của ngày trăng tròn tháng Āsaḷha, thời điểm sau là vào ngày sau trăng tròn tháng sau. Tính theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thời điểm trước là ngày 16 tháng 6, thời điểm sau là ngày 16 tháng 7. Ngài dạy tiếp:

– Này các Tỳ-kheo, trong mùa an cư ba tháng thì không nên ra đi du hành. Vị nào ra đi thì phạm tội tác ác (dukkata).

Tuy nhiên, nếu có chuyện cần kíp và được thỉnh mời, vị Tỳ-kheo được phép rời trú xứ trong thời hạn không quá bảy ngày. Đức Phật dạy:

– Này các Tỳ-kheo, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày; và không nên đi, nếu không được thỉnh mời.

Mùa an cư bắt đầu từ ngày rằm tháng Āsaḷha (rằm tháng Sáu). Tuy nhiên, đức Phật cũng cho phép bất kỳ một Tỳ-kheo nào khởi sự chậm hơn một tháng, vào ngày rằm tháng Bảy – gọi là “hậu An cư”. Việc đình chỉ du hành chấm dứt vào ngày rằm tháng Chín (Āssina). Nếu vị nào khởi sự chậm hơn một tháng, thì chấm dứt vào tháng Mười (Kattikā). Chư Tăng tổ chức lễ sám hối Bố-tát (Uposatha) đặc biệt, gọi là lễ Tự tứ (Pavāraṇā), đánh dấu kết thúc mùa an cư. Sau đó, các Tỳ-kheo công bố hoàn tất các phận sự trong Giới luật, rời nơi an cư và bắt đầu du hành truyền đạo.

Như vậy, chúng ta thấy rằng: nếu như mình bỏ quên ý nghĩa của ngày rằm tháng sáu là mình đã bỏ quên một phần quan trọng trong lịch sử hoằng pháp của đức thế tôn.

Kính chúc chư Tăng, Tu nữ và quý Phật tử một mùa an cư nhiều sức khỏe, thật an lạc và tràn đầy hạnh phúc trong Giáo Pháp của Đức Thế Tôn.

theo: Báo Giác Ngộ Online

【#4】Sự Tích, Ý Nghĩa Và Nguồn Gốc Của Tết Trung Thu, Rằm Tháng 8

Sự tích, ý nghĩa và nguồn gốc của Tết Trung thu, Rằm tháng 8

Trung thu là giữa mùa thu, Tết Trung Thu như tên gọi đến với chúng ta vào đúng giữa mùa thu tức là vào rằm (ngày 15) tháng Tám âm lịch.

Tết Trung Thu tại Việt Nam không biết có tự bao giờ, không có sử liệu nào nói rõ về gốc tích của ngày lễ rằm tháng Tám. Nhiều người cho rằng đây là một nét văn hóa du nhập từ Trung Quốc trong thời gian Việt Nam bị phương Bắc đô hộ. Nhà văn Toan Ánh trong quyển “Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam Quyển Hạ” cho rằng: Theo sách cổ thì Tết Trung Thu bắt đầu từ đời nhà Ðường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh.

Năm ấy vào đêm khuya rằm tháng tám, gió mát, trăng tròn thật đẹp, trong khi ngự chơi ngoài thành, nhà vua gặp một vị tiên giáng thế trong lốt một ông lão đầu bạc phơ như tuyết. Vị tiên hóa phép tạo một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, một đầu chám mặt đất, và nhà vua trèo lên cầu vồng đi đến cung trăng và dạo chơi nơi cung Quảng. Trở về trần thế, vua luyến tiếc cảnh cung trăng đầy thơ mộng, nhà vua đặt ra tết Trung Thu. Trong ngày tết này, lúc đầu chỉ uống rượu trông trăng nên còn gọi là Tết Trông Trăng.

Cúng trăng (Tế nguyệt)

Trong đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh “đoàn viên”, bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà.

Ngắm trăng (Thưởng nguyệt)

Còn thưởng trăng vốn bắt nguồn từ việc cúng trăng. Đến đời Đường, thú ngắm trăng dịp Trung thu trở nên thịnh hành, thể hiện nhiều trong thơ ca thời này. Nhưng đến đời Tống, lễ hội ngắm trăng mới chính thức trở thành Tết Trung thu. Tục lệ ăn bánh hình mặt trăng (bánh nướng, bánh dẻo) trong dịp Tết Trung thu cũng bắt đầu từ thời này.

Tết Trung Thu là tết của trẻ em. Ngay từ đầu tháng, Tết đã được sửa soạn với những cỗ đèn muôn mầu sắc, muôn hình thù, với những bánh dẻo, bánh nướng mà ta gọi gồm là bánh trung thu, với những đồ chơi của trẻ em muôn hình vạn trạng, trong số đó đáng kể nhất của thời xưa là ông Tiến sĩ giấy.

Trẻ em đón tết có đèn xếp, đèn lồng, đèn ông sao, đèn con giống… sặc sỡ thắp sáng kéo nhau đi từng đoàn ca hát vui vẻ, tối tối cùng nhau đi nhởn nhơ ngoài đường, ngoài ngõ. Và khi rằm tới, có những đám múa sư tử với tiếng trống, tiếng thanh la thật náo nhiệt. Trong dịp này, để thưởng trăng có rất nhiều cuộc vui được bày ra. Người lớn có cuộc vui của người lớn, trẻ em có cuộc vui của trẻ em.

Thi cỗ và thi đèn

Trong ngày Tết Trung Thu người ta bày cỗ với bánh trái hình mặt trăng, treo đèn kết hoa, nhảy múa ca hát, múa lân rất tưng bừng. Nhiều nơi có những cuộc thi cỗ, thi làm bánh của các bà các cô. Trẻ em có những cuộc rước đèn và nhiều nơi có mở cuộc thi đèn. Nhiều gia đình bày cỗ riêng cho trẻ em và trong mâm cỗ xưa thường có ông tiến sĩ giấy đặt ở nơi cao đẹp nhất, xung quanh là bánh trái hoa quả. Sau khi chơi cỗ trông trăng, các em cùng nhau phá cỗ, tức là ăn mâm cỗ lúc đã khuya.

Hát Trống quân

Tết Trung Thu ở miền Bắc còn có tục hát trống quân. Ðôi bên nam nữ vừa hát đối đáp với nhau, vừa đánh nhịp vào một sợi dây gai hoặc dây thép căng trên một chiếc thùng rỗng, bật ra những tiếng “thình thùng thình” làm nhịp cho câu hát. Những câu hát vận (hát theo vần, theo ý) hoặc hát đố có khi có sẵn, có khi lúc hát mới ứng khẩu đặt ra. Cuộc đối đáp trong những buổi hát trống quân rất vui và nhiều khi gay go vì những câu đố hiểm hóc. Trai gái dùng điệu hát trống quân để hát trong những đêm trăng rằm, nhất là vào rằm tháng tám. Trai gái hát đối đáp với nhau vừa để vui chơi vừa để kén chọn bạn trăm năm. Người ta dùng những bài thơ làm theo thể thơ lục bát hay lục bát biến thể để hát. Tục hát trống quân, theo truyền thuyết, có từ thời vua Lạc Long Quân đời Hồng Bàng. Tết Trung Thu của người Hoa không có phong tục này.

Múa Sư tử (múa lân)

Vào dịp Tết Trung Thu có tục múa Sư tử còn gọi là múa Lân. Người Hoa hay tổ chức múa lân trong dịp Tết Nguyên Đán. Người Việt lại đặc biệt tổ chức múa Sư Tử hay Múa Lân trong dịp Tết Trung Thu. Con Lân tượng trưng cho điềm lành. Người Trung Hoa không có những phong tục này. Người ta thường múa Lân vào hai đêm 14 và 15. Ðám múa Lân thường gồm có một người đội chiếc đầu lân bằng giấy và múa những điệu bộ của con vật này theo nhịp trống. Ðầu lân có một đuôi dài bằng vải màu do một người cầm phất phất theo nhịp múa của lân. Ngoài ra còn có thanh la, não bạt, đèn màu, cờ ngũ sắc, có người cầm côn đi hộ vệ đầu lân… Ðám múa Lân đi trước, người lớn trẻ con đi theo sau. Trong những ngày này, tại các tư gia thường có treo giải thưởng bằng tiền ở trên cao cho con lân leo lên lấy.

Trẻ em thì thường rủ nhau múa Lân sớm hơn, ngay từ mùng 7 mùng 8 và để mua vui chứ không có mục đích lĩnh giải. Tuy nhiên có người yêu mến vẫn gọi các em thưởng cho tiền. Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung Thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị v.v. Người Trung Hoa không có phong tục này.

【#5】Bài 1: Một Năm Của Người Việt Có Bao Nhiêu Ngày Tết?

Tết Thượng Nguyên diễn ra vào ngày rằm tháng Giêng, ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa chiền, vì rằm Tháng Giêng còn gọi là ngày vía của Phật tổ.

Ta thường có câu: “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng giêng”. Tục ta tin rằng ngày rằm tháng giêng, đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng độ lòng thành của các tín đồ Phật giáo. Trong dịp này, chùa nào cũng đông người đến lễ bái và sau khi đi chùa, mọi người về nhà họp mặt cúng gia tiên và ăn cổ.

Là tiết thứ năm trong “nhị thập tứ khí” và đã được người phương Đông coi là một lễ tiết hàng năm. Tiết Thanh Minh đến sau ngày Lập Xuân 45 ngày. Nhân ngày thanh minh, dân ta có tục đi viếng mộ gia tiên và làm lễ cúng gia tiên sau cuộc tảo mộ.

Lễ tảo mộ: Tảo một chính là sửa sang ngôi một cho được sạch sẽ, rẫy hết cỏ dại, đắp lại nấm mồ cho to. Đây là dịp duy nhất trong năm mà có thể phạm tới hài cốt của người thân đã khuất mà không làm “chấn động” nhiều. Tuy vậy, có một số nơi người ta tảo mộ vào dịp trước và sau ngày Tết.

Nhiều làng ở vào vùng đất thấp, ruộng nương và cả bãi tha ma đều ngập nước, thì người ta đi tảo một vào đầu tháng chín, sau khi nước đã rút. Dù đi tảo mộ vào ngày nào thì việc thăm nom mồ mả tổ tiên cũng là việc nên làm. Nghĩ đến gia tiên tức là nghĩ đến gốc, tưởng đến nguồn.

“Hàn thực” nghĩa là ăn đồ nguội. Tết này vào ngày mồng Ba tháng Ba (âm lịch). Theo phong tục cổ truyền, ngày mồng 3 tháng 3 tức Tết Hàn Thực ta làm bánh chay.

Tết này có xuất xứ từ Trung Quốc, làm giỗ ông Giới Từ Thôi (một hiền sĩ thời Xuân Thu có công phò Tần Văn Công), bị chết cháy ở núi Điền Sơn. Đành rằng dân ta theo tục đó nhưng khi cúng chỉ cúng gia tiên nhà mình.

4. Tết Đoan Ngọ (Tết diệt sâu bọ)

Tết Đoan Ngọ còn gọi là tết Đoan Dương. Sáng sớm cho trẻ ăn hoa quả, rượu nếp, trứng luộc, bôi hồng hoàng vào thóp đầu, vào ngực, vào rốn để giết sâu bọ. Người lớn giết sâu bọ bằng rượu hoặc ăn rượu nếp.

Lý do ngày Tết Đoan Ngọ còn có tên là Tết diệt sâu bọ vì đây la giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh.

5. Tết Trung Nguyên (Rằm tháng Bảy)

Xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung).

Ngoài ra, rằm tháng Bảy theo tín ngưỡng là ngày xá tội vong nhân. Bao nhiêu tội nhân ở dưới âm phủ ngày hôm đó đều được tha tội. Bởi vậy trên dương thế gia đình đều cúng gia tiên, còn ở chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu Lan.

Tết Trung Nguyên đồng thời để cúng những linh hồn bơ vơ không được ai chăm sóc. Người ta hay thả chim lên trởi, thả cá xuống sông để làm điều phúc đức.

Theo tục cúng cháo Xưa, tại các cầu quán, đình chùa, đều có tổ chức “cúng cháo” để cúng các cô hồn không ai cúng giỗ. Thông thường, người cúng đốt vàng mã và bày cúng ở trước cửa nhà.

6. Tết Trung Thu

Trung Thu ở giữa mùa thu, tức vào rằm tháng 8 Âm lịch. Tết Trung Thu là Tết của trẻ em. Trẻ em khắp Việt Nam mong đợi ngày Tết này vì được người lớn tặng quà bánh như lồng đèn, bánh Trung Thu. Tết này người ta thường cùng nhau ngồi uống trà thưởng Nguyệt, nên còn được gọi là Tết Trông trăng hay Tết Đoàn viên.

7. Tết Trùng Cửu (Tết Trùng Dương)

Nhằm ngày mồng Chín tháng Chín (âm lịch) là Tết Trùng Cửu. Tết này bắt nguồn từ sự tích của đạo Lão. Nho sĩ Việt Nam du nhập và theo lễ này, nhưng lại biến ngày Tết này thành cuộc du ngoạn núi non, uống rượu cúc.

8. Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm Mới)

Tết Song thập (mùng 10 tháng 10 hoặc 15 tháng 10 Âm lịch). Tết này được tổ chức rất lớn ở nông thôn vì đầy là dịp nấu cơm gạo mới của vụ mùa vừa xong.

Trước là để cúng tổ tiên, sau để thưởng công cấy cầy. Trong Tết cũng có lễ dâng hương cầu cho quốc thái dân an, phong điều vũ thuận.

9. Tết Trùng Thập

Ngoài ra, mùng mười tháng mười Âm lịch cũng là Tết của các nhà thuốc. Cây thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết hợp được sắc tứ thời (Xuân – Hạ – Thu – Đông) nên trở nên tốt nhất.

Đến ngày này, người ta thường làm bánh dày, nấu chề để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc.

10. Tết Táo Quân

Rơi vào ngày 23 tháng Chạp, mỗi gia đình thường mua 2 mũ ông Táo, 1 mũ bà Táo bằng giấy và 3 con cá chép làm “ngựa” để tiễn Táo quân về trời.

Sau khi cúng trong bếp, mũ được đốt và cá chép được mang ra thả ở ao, hồ, sông…

11. Tết Nguyên Đán

Còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm Lịch, Tết cổ truyền. Đây là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa người Việt Nam. Chữ “Tết” là do chữ “Tiết” mà thành. “Nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai. “Đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”.

Chi tiết về ngày Tết Nguyên Đán chúng tôi sẽ trình bày sâu trong các bài tiếp theo. Nghiệm lại các ngày Tết mà ông bà truyền lại, âu cũng là cố tạo cơ hội để nhà nhà xum họp, quốc thái dân an.

【#6】Tại Sao Chọn Rằm Tháng 8 Là Trung Thu?

Tháng nào trong năm cũng có rằm, nhưng tại sao người ta lại chọn tháng 8 là Trung thu và truyền thống này có từ khi nào?

Trung Thu là giữa Thu, tên của nó đã nói lên điều đó… – (Minhha)

1 năm có 4 mùa: mùa xuân từ tháng 1 đến tháng hết tháng 3, mùa hè từ tháng 4 đến hết tháng 6, mùa thu từ tháng 7 đến hết tháng 9, mua đông từ tháng 10 đến hết thang 12.

Vây trung thu cò nghĩa là giữa mùa thu thi 15 tháng 8 la trung thu vậy thôi – (nguyen doan huan)

Cái truyền thống này có xuất xứ từ Trung Quốc bạn à. Do 1000 năm đô hộ nên đa phần nền văn hóa của nước ta, đều giống của Trung Quốc, ví dụ như: Lễ Vu Lan, Tết Nguyên Đán, Tết Nguyên Tiêu, Tết Trung Thu… Vì nó đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân ta từ bao đời nay, nên khó bỏ lắm, nước ta cũng tự động “biến của người ta thành của mình”, và tự thừa nhận nó là “bản sắc văn hóa dân tộc”, tốt nhất là bạn cũng nên chấp nhận vậy đi – (alo)

theo âm lịch và khí hậu 4 mùa của miền bắc thì mùa thu là tháng 7,8,9. vậy Trung thu là giữa thu thì phai là rằm tháng 8 rồi – (dvt)

TRUNG là giữa, THU là mùa thu. Tháng 8 là chính giữa mùa thu (tháng 7, 8, 9). Và ngày 15 là giữa tháng 8. Có thế thôi. – (PT)

Vậy thì tại sao Tết Thanh Minh lại rơi vào tháng 3 và ngày Cô Hồn lại là Rằm Tháng 7? – (tinytdpqn)

Thực ra truyền thống này bị ảnh hưởng bởi 1000 năm đồng hóa mà có, kể cả những phong tục cúng lễ ngày giằm, mùng một,… Nhưng tại sao lại chọn vào ngày giằm tháng tám (15-8 âm lịch) thực chất là bởi khí hậu và tiết trời đẹp, trăng tròn nhất trong các ngày giằm; mặt khác vì đây là ngày hội của các em thiếu nhi nên nó là hoạt động để động viên khích lệ sự học tập cho một năm học mới. Ngày hội này chính giữa mùa Thu nên có tên là Trung Thu. – (Quang Huy)

1. Mùa thu theo âm lịch là từ tháng 7 đến hết tháng 9 vậy tháng 8 là giữa mùa thu (trung thu) nên rằm của tháng giữa thu gọi là rằm giữa thu (rằm trung thu) ^^

2. Truyền thống này có từ trước khi bạn sinh ra ^^ – (google)

Vì mùa thu rơi vào tháng 7,8,9 âm lịch, Trung thu nghĩa là thời điểm giữa mùa thu cho nên lấy 15/8 là chính xác. Truyền thống này có lẽ ra đời từ khi con người sáng tạo ra lịch mà thôi! – (huyen26truongxuan)

Đã gọi là trung thu thì tất nhiên là giữa mùa thu rồi, chả lẽ đầu và cuối sao? – (khanh hong)

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian. – (lanbui1983)

Thứ nhất ngay trong tên cái tết cũng nói lên khá nhiều, TRUNG THU. Ở đây theo Hán Việt nghĩa là giữa mùa thu. Và Dằm tháng 8 được chọn là ngày đẹp nhất với trăng tròn nhất.

Có rất nhiều truyền thuyết xoay quanh Trung Thu, nhưng xét theo địa lý, người á đông làm mùa nhìn trăng. Và trăng dằm tháng tám thể hiện được sự tốt đẹp của thời tiết. Cũng bằng nhìn trăng tháng 8 người ta biết năm tới phải làm ăn ra làm sao. Nói một cách khác nó có thể coi như một lễ hội cầu mùa nơi mà người lao động thành kính với ông bà tổ tiên thể hiện sự cảm ơn mùa qua, cũng như ban phát lộc cho con cháu thể hiện sự sung túc.

Bánh nướng và bánh dẻo là đặc chưng cho tết trung thu. Trong bánh cổ truyền thông thường có nhiều loại thịt, bò, gà, lợn, trứng, xá xíu, lạc sưởng cũng như có loại hạt tinh túy của trời đất hạt sen, tất cả thể hiện sự khá giả ấm no. Nướng và Dẻo thể hiện cho mặt trời mặt trăng hay là thể hiện thời tiết tốt đẹp. Bánh ngày nay thay vào đó các loại nhân khác là sai vì là du nhập từ vùng khác dùng loại lương thực khác thể hiện sự phồn vinh. Thực tế chứng minh, không nơi nào có nhân truyền thống giống ta. – (Chiến Trần)

Theo tôi, có 4 nguyên nhân sau:

Thứ nhất: 15/8 âm lịch là giữa mùa thu theo cách chia mùa của các nước khu vực quanh ta và nước ta.

Thứ hai: Thời tiết giai đoạn này đẹp và phù hợp nhất; như: Trời cao xanh hơn, mặt trăng sáng nhất và to nhất so với các đêm rằm v v…

Thứ 3: Ở một nền văn minh lúa nước như chúng ta thì thời điểm này cho phép ghi nhận, đánh dấu những biến đổi của thời tiết, ví dụ: Xem trăng để biết năm tới có rét, có nhiều sâu bọ phá hoại mùa màng hay có hạn hán không (Muốn ăn lúa tháng năm, xem trăng rằm tháng 8), xem vụ mùa có năng suất không vì thời điểm này bão gió đã giảm, lúa đã uốn câu v v …

Thứ tư: Lúc này nhà nông cũng là lúc nông nhàn vì vậy ngoài tổ chức ngắm trăng còn có nhiều lễ hội khác kết hợp – (Vũ Trung Thành)

Trung thu là giữa mùa thu, tết trung thu như tên gọi đến với chúng ta đứng giữa mùa thu, mùa mát mẻ đẹp đẽ nhất trong năm với trăng trong gió mát. Cho đến bây giờ, vẫn chưa xác minh rõ ràng được Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam hay tiếp nhận từ văn hóa Trung Hoa. Theo các nhà khảo cổ thì hình ảnh về Trung thu đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Có lẽ Trung thu được bắt đầu từ nền văn minh lúa nước của đồng bằng Nam Trung Hoa và đồng đồng bằng châu thổ sông Hồng của Việt Nam. Có ba truyền thuyết chính được người ta biết đến nhiều nhất để nói về Trung thu đó là Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng và Sự tích về chú Cuội của Việt Nam. Nhưng có lẽ sự tích về vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng là thuyết phục nhất, mặt dù nó cũng có chúc hư cấu và hơi hoang đường.

Theo sách cổ thì tết Trung thu bắt đầu từ đời nhà Đường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Tục truyền rằng: Nguyên năm đó, vào đêm rằm tháng tám trời thật là đẹp, trăng thanh gió mát trước cảnh đẹp của đất trời, nhà vua ngự chơi ngoài thành tới mãi khuya. Lúc đó có một ông già đầu bạc phơ trắng như tuyết, chống gậy đến bên nhà vua. Trông người và theo cử chỉ, nhà vua đoán ngay là một vị thượng tiên giáng thế.

Ông già kính cẩn chào vua rồi hỏi: Bệ hạ có muốn lên thăm cung trăng không?

Nhà vua trả lời có.

Ông tiên liền đưa chiếc gậy lên trời, hoá phép ra một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, còn một đầu ăn xuống đất. Tiên ông đưa nhà vua lên cầu vồng, chẳng bao lâu đã đến cung trăng. Phong cảnh nơi đây thật là đẹp, một vẻ đẹp khác xa nơi trần thế, có những nàng tiên nữ nhan sắc với những xiêm y cực kỳ lộng lẫy, xinh như mộng, đẹp như những bài thơ hay, nhảy múa theo những điệu vô cùng quyến rũ, đủ muôn hồng ngàn tía.

Nhà vua đang say sưa với những cảnh đẹp thì tiên ông lại đưa nhà vua trở lại cung điện. Về tới trần thế, nhà vua còn luyến tiếc cảnh trên cung trăng và những giờ phút đầy thơ mộng nhà vua đã được ở nơi đó. Để kỷ niệm ngày du nguyệt điện, nhà vua đặt tên là tết Trung thu. – (quốc thịnh)

Ngày Tết này có xuất xứ từ Trung Quốc, ban đầu là theo phong tục dân gian, Tết trung thu vào giữa rằm tháng 8, thời điểm này thời tiết mát mẻ, mùa màng đang chờ thu hoạch. Nông dân nghỉ ngơi và vui chơi sau một vụ mùa.

Theo sách cổ thì Tết Trung Thu bắt đầu từ đời nhà Ðường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Năm ấy vào đêm khuya rằm tháng tám, gió mát, trăng tròn thật đẹp, trong khi ngự chơi ngoài thành, nhà vua gặp một vị tiên giáng thế trong lốt một ông lão đầu bạc phơ như tuyết. Vị tiên hóa phép tạo một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, một đầu chám mặt đất, và nhà vua trèo lên cầu vồng đi đến cung trăng và dạo chơi nơi cung Quảng. Trở về trần thế, vua luyến tiếc cảnh cung trăng đầy thơ mộng, nhà vua đặt ra tết Trung Thu. Trong ngày tết này, lúc đầu chỉ uống rượu trông trăng nên còn gọi là Tết Trông Trăng. Trong đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh “đoàn viên”, bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà. – (c1vt2013)

Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam, cụ thể là từ Sự tích về chú Cuội – (thanh phong nguyen)

Nguồn gốc tết TRUNG THU

Tết Trung-Thu đã có từ thời Đường Minh Hoàng bên Trung-Hoa, vào đầu thế kỷ thứ tám (713-755).

Sách xưa chép rằng, nhân một đêm rằm tháng tám, khi cùng các quan ngắm trăng, vua Đường ao-ước được lên thăm cung trăng một lần cho biết. Pháp-sư Diệu Pháp Thiên tâu xin làm phép đưa vua lên cung trăng. Lên tới cung trăng, Minh Hoàng được chúa tiên tiếp rước, bày tiệc đãi đằng và cho hàng trăm tiên nữ xinh tươi mặc áo lụa mỏng nhiều màu sắc rực rỡ, tay cầm tấm lụa trắng tung múa trên sân, vừa múa vừa hát, gọi là khúc Nghê-Thường vũ y. Vua Đường thích quá; nhờ có khiếu thẩm âm nên vừa trầm trồ khen ngợi vừa lẩm nhẩm học thuộc lòng bài hát và điệu múa mong đem về hoàng cung bày cho các cung nữ trình diễn. Cuối năm đó, quan Tiết Độ Sứ cai trị xứ Tây Lương mang về triều tiến dâng một đoàn vũ nữ với điệu múa Bà-la-môn. Vua thấy điệu múa có nhiều chỗ giống Nghê-Thường vũ y, liền chỉnh đốn hai bài hát và hai điệu làm thành Nghê-Thường vũ y khúc. Về sau các quan cũng bắt chước vua mang điệu múa hát về các phiên trấn xa xôi nơi họ cai trị rồi dần dần phổ biến khắp dân gian. Tục ngắm trăng, xem ca múa sau biến thành thú vui chơi đêm rằm Trung Thu . – (vuducduongvp91)

chon Trung thu la giua mua thu – (dungnv)

thang 7-8-9 là mùa thu, chon tháng 8 là giữa mùa thu và ngày rằm là giữa của tháng! đúng theo nghĩa của từ Trung Thu!!! – (phanthanh_thang)

Tết trung thu diễn ra vào ngày 15 của tháng 8 trong Âm Lịch và đã có từ ngàn năm nay, đây là thời gian mặt trăng tròn nhất và sáng nhất, đây cũng là thời gian người Châu Á thu hoạch xong mùa vụ và bắt đầu tổ chức những lễ hội mà tiêu biểu trong đó là lễ hội trăng rằm. Món ăn được người Á Đông lưu tâm nhất trong mùa lễ hội này đó là Bánh Trung Thu. Cho đến bây giờ, vẫn chưa xác minh rõ ràng được Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam hay tiếp nhận từ văn hóa Trung Hoa. Có ba truyền thuyết chính được người ta biết đến nhiều nhất để nói về Trung thu đó là Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng và Sự tích về chú Cuội của Việt Nam – (Cưng Lê)

Một năm chia làm 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, mổi mùa có 3 tháng, Mùa thu ứng với các tháng 7,8,9 . Nên Trung thu phải vào giữa tháng 8 tức 15/08 âm lich.

Anh Vũ Cà Mau – (Anh Vũ Cà Mau)

Haizz, “trung” là “giữa” tức là giữa thu; 1 năm có 4 mùa, tháng 8 là giữa mùa thu, đơn giản thế thôi. – (Nam Trung)

Trung thu tức là “giữa Thu”. Vì vậy, nó không thể là rằm của tháng nào khác. Vả lại, thời điểm này, trăng dễ tròn và sáng nhất ( do mùa Thu, tiết trời trong hơn các mùa khác). Tục lệ này có từ thời Trung Quốc cổ đại để cúng thần Mặt trăng; cầu cho mưa thuận gió hòa – (Lê Minh)

Đơn giản thôi, vì rằm xảy ra giữa mùa thu nên mới gọi là Trung thu. Nếu nó xảy ra giữa mùa đông sẽ gọi là Trung Đông đó bạn. – (Minh)

Trung thu là giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8 là đúng rồi còn những tháng khác có lẽ phãi gọi là trung hạ, trung đông, hay là trung xuân – (lê tuấn minh viên)

Trung thu là giữa mùa thu, giữa mùa thu là Tháng 8, hỏi thế cũng hỏi – (ABC)

“trung thu” là “giữa mùa thu”, răm tháng 8 là giữa mùa thu – (hung)

Trung là giữa, thu là mùa thu, trung thu là giữa mùa chúng tôi âm lịch thì mùa thu bắt từ tháng 7 đến hết tháng 9 nên 15 tháng 8 là giữa mùa thu nên được gọi là trung thu. – (HD)

Vì tháng 8 chả có ngày lễ nào để ăn uống cả. Nên bày ra thôi ^^ – (Discovery World)

Vì từ tháng 7 đến tháng 9 là mùa thu, tháng tám là trung thu và rằm tháng tám là ngày giũa tháng – (blem)

Trung thu là tên theo một tiết khí. Ai nghiên cứu lịch tiết khí sẽ biết các ngày như lập xuân, lập hạ….Ngày trung thu là cách gọi theo tiết khí, còn tên gốc của nó là Tết Đoàn viên, tức là ngày các thành viên trong gia đình sẽ tụ họp đông đủ dù đang ở đâu đi nữa. Sau khi truyền về VN thì ý nghĩa ngày này không còn giống như bên trung quốc nữa, và tên gọi dân gian cũng thành tết trung thu, nghĩa là ngày rằm giữa thu – (Zaer)

tại sao không có tết trung hạ, trung đông hay trung xuân? – (háiin)

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian.

Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ. – (TQMy)

Ngĩa là giữa mùa Thu! Mùa thu là mùa rễ chịu nhất, làm cho con người thoải mái và yêu đời hơn! – (Trương Dũng)

mùa thu gồm 3 tháng đáo là tháng 7, 8 và 9 âm lịch. Trung thu có nghĩa là giữa mùa thu và cụ thể là ngày rằm tháng 8. Do đó tết trung thu đương nhiên phải chọn ngày rằm tháng 8.

Riêng câu hỏi truyền thống này có từ khi nào thì tôi bó tay. – (Nguyễn Văn Út)

Boi vi thang 8 la bat dau vao mua Thu

Va ram la 15,la giua nen goi la Trung

Cho nen goi ram thang 8 la Trung Thu – (suanan)

Trung thu đơn giản là giữa mùa thu. Còn lịch sử của nó bạn tự tìm hiểu lấy. – (thienphan)

Vì 15 tháng 8 là ngày chính giữa của mùa thu. – (Kim chi)

nguơi ta chon ram thang tam la trung thu boi vi ram thang tam la giưa mua thu. – (tran duc do)

Theo minh hieu. Thang 8 la roi vao mua thu la trung tuan cua nam, nen nguoi xua tinh toan va lay thang 8 la dai dien cho le hoi trang ram. – (Tuann)

Mùa thu gồm có tháng 7, 8 và 9 âm lịch. Trung thu là giữa mùa thu thì chọn rằm tháng 8 là đúng rồi. Mình nghĩ vậy.

Thanh Vinh. – (vinhmyname)

Vi sao chon ram thang 8 la trung – (hangasta)

Trung Thu là giữa mùa thu, mà mùa thu là nằm vào tháng 7-8-9 nên chọn trung tuần tháng 8 (15/8 AL) là ngày Trung Thu 🙂 – (Ngọc Tịnh)

Trung Thu lả giữa mùa Thu nhằm ngày 15/8 âm lịch, với các tháng khác sao gọi Trung Thu được . Đối với dương lịch ngày 23/9 là ngay Thu Phân không thể chọn ngày 23 tháng khác được. – (vechai)

Sau cách mạng tháng 8 thành công và quốc khánh 2/9 năm 1945. Ai đều biết câu “Trung thu trăng sáng như gương, Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng” Vậy tết trung thu đầu tiên vào năm 1945 do Bác Hồ chọn. – (Đỗ Thanh Hải)

“Trung” là giữa, “Thu” là mùa thu. Trung thu là giữa mùa thu. Ngày rằm tháng 8 là ngày chính giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8 là trung thu – (tuantutoto)

theo âm lịch 3 tháng 7, 8, 9 là mùa thu. Tháng 8 là tháng giữa thu, ngày 15 là giứa tháng 8 có thể được gọi là ngày giữa mùa thu. Trung thu theo nghĩa Hán là giữa thu. Tiết trung thu thường đẹp nhất trong năm. Còn việc tại sao nhân dân các nước phương đông tổ chức tết Trung thu thì có nhiều điển tích lắm, bạn có thể tìm hiểu thêm. – (Trịnh Tân)

xuân, hạ, thu, đông mỗi mùa 3 tháng. Vậy rằm tháng tám là Trung Thu đúng rồi bạn? Đơn giản thế thôi. – (Han)

vì 15-8 là thời gian giữa của mùa thu cũng như 15 là giữa của tháng. – (Anh Tuấn Vũ)

Vì mùa thu bắt đầu từ tháng 7-9, ràm tháng tám tức là giữa mùa thu, ko phải trung thu vào ngày đó thì ngày nào. Trung thu tức là giữa mùa thu – (Bui Cong)

Rằm: ngày 15 âm lịch; Trung: giữa; Thu: mùa thu. (vì 15/8 là ngày giữa thu mà , mùa thu là tháng 7-8-9) – (letmytrinh)

Một năm ở Việt nam có 4 mùa tính theo lịch mặt trăng. Rằm tháng 8 là giữa mùa thu nên gọi là Trung thu. – (Xuân Chấp)

Bạn long thành thân mến! Như chúng ta đã biết một năm có bốn mùa gồm.xuân,hạ,thu,đông.mỗi mùa co thời gian là 3 tháng.mùa thu bắt đầu từ tháng 7 âm lịch cho đến hêt tháng 9 âm. Vậy nên ngày 15/8 được coi là giữa mùa thu .vì thế mới có tên là tết trung thu.tức là trung tuần của mùa thu – (long)

Mùa thu từ tháng đầu tháng 7 ân lịch đến cuối tháng 9 âm lịch ( 3 tháng) nên 15 tháng 8 là giữa mùa thu( tức Trung thu). – (vittechvn)

Mùa thu gồm 3 tháng là 7;8;9 .Mà Trung Thu thì có nghĩa là giữa mùa Thu, giữa mùa thu là tháng 8, mà giữa tháng 8 là ngày 15 âm lịch hay là rằm tháng 8, nên Trung Thu là ngày 15/8 âm lich hằng năm

Truyền thống này xuất phát từ bên Trung Quốc, nhưng bắt đầu từ khi nào thì … – (phuong)

Ý kiến của chi hang nga 7 tuổi – (thang 8 là rằm trung thu vì tháng 7,8,9 là mùa thu. mà chữ trung có nghĩa là trung bình c)

Thì tên của nó đã nói lên rồi đó bạn: là rằm giữa mùa thu – (thinh tat)

Mùa xuân là từ tháng giêng -tháng 3, mùa hạ là từ 4 -6, mùa Thu là 7 – 9 15/8 là giữa mùa thu thì gọi là Trung Thu – (Đức Toàn)

Mua thu bat dau tu thang 8, nen chon thang 8 – (datnguyen)

Thế mà cũng phải hỏi, giữa mùa thu là tháng mấy.. – (dinhcaoxuan)

Vì dằm tháng 8 trăng to và đẹp nhất khí hậu mát mẻ thuạn lợi cho việc vui chơi của trẻ.mà nhất là dằm tháng 8 trời không hay mưa – (trương long)

một năm 4 mùa, xuân, hạ, thu, đông. Mùa thu tính từ tháng 7 đến tháng 9, trung thu nghĩa là ở giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8. Đấy là tôi đoán thế ko biết đúng không – (tung)

Câu hỏi của bạn thật là kỳ. Trung thu tức là giữa mùa thu. Chả có nhẽ rằm tháng nào cũng là giữa mùa thu? – (Gió lang thang)

do thang 7,8,9 la mua thu, con chu “trung” co nghi la trung binh cong cua 3 thang tren nen ngay trung thu se roi vao ram thang 8. – (hoang thi hang nga)

Trung thu tức là giữa mùa thu, tháng 8 lại là tháng giữa thu (mùa thu gồm các tháng 7,8,9) ngày rằm là ngày 15 giữa tháng, vì vậy theo cả nghĩa đen thì rằm tháng 8 đích thị là giữa mùa thu (Trung thu). còn nguồn gốc ngày trung thu bạn có thể tham khảo ở đây: http://holiday.yeudoi.net/2013/09/tet-trung-thu-bat-nguon-tu-au.html – (Tôn Thất Khoa)

Cái tên của nó đã nói lên bản chất rồi. Trung thu chú có phải trung xuân, trung hạ, trung đông đâu. 15-8 là chính giữa mùa thu 😀 – (Huu Tri)

Đơn giản vì Rằm Tháng 8 là thời gian “giữa mùa Thu”. – (Trang)

tháng nào cũng có rằm nhưng tháng 8 thi mới là mùa thu, các tháng khác có phải mùa thu đâu – (dvdtth)

Trung Thu là giữa mùa Thu, thế thôi… – (Tiểu Long)

Thì nó là Trung thu. Thế mà cũng phải hỏi. – (abc)

sặc,mùa thu là tháng 7,8,9,trung thu la giữa mùa thu,là ngày 15/8 đó,có gì đâu mà thắc mắc – (phantom)

Tại vì bánh Trung Thu thường được bán trong tháng 7 âm lịch và hết date sau rằm tháng 8. – (Cuội)

Một năm có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Ba tháng mùa Xuân là tháng 1-2-3. Ba tháng mùa Hạ là tháng 4-5-6. Ba tháng mùa Thu là 7-8-9. Ba tháng mủa đông là 10-11-12. Như vậy, trung Thu tức là giữa Thu và rơi vào giữa tháng 8. – (MM)

Bạn có thể chưa hiểu Trung thu có nghĩa là gì. Tiết (không phải là tết) Trung thu có nghĩa là ngày giữa mùa thu. Mùa thu kéo dài 3 tháng từ tháng 7 đến hết tháng 9 âm lịch. Tháng giữa thu là tháng 8. và ngày giữa mùa thu chính là ngày giữa tháng 8, ở đây chính là ngày 15 (Rằm). – (Thiệp Wong)

trung là giữa, Thu là mùa thu. Trung Thu là giữa thu tứcc tháng 8! Vậy thôi. – (Nguyet)

trung thu là từ hán việt có nghĩa là giữa thu… có vậy cũng ko luận được ra 😀

đi học đi nha – (Minh Kiểm)

Mùa thu nằm trong 3 tháng 7- 8- 9, rằm tháng 8 nằm chính giữa 2 cái rằm kia nên chọn nó làm Trung thu là hợp lý nhứt còn gì. Gỉa sử chọn rằm tháng 10 thì thành…Trung đông rồi bạn ạ.

Trung thu có lẽ đã bắt đầu từ khi có mùa thu, hi hi… – (kim loan Pham)

don gian thoi ma,co le 1 nam co 4 mua ma mua thu la thang 7,8,9. ma trung la giua,vay suy ra ram thag 8 la ram trung thu – (nhanct)

Thang 8 ngay ram la ngay mat trang gan trai dat nhat, khi do ta thay mat trang to va sang nhat, voi lai vao dip nay thoi tiet sang thu nen canh vat hop nhat de to chuc tet Trung thu – (long tran)

Vì trăng sáng & tròn nhất – (Duong)

Mùa thu là tháng 7,8,9. Do đó giữa mùa thu là giữa tháng 8. Vì vậy giữa tháng 8 người ta gọi là trung thu – (thien su)

“Mùa Xuân từ tháng 1 đến hết tháng 3

Mùa Hạ từ tháng 4 đến hết tháng 6

Mùa Thu từ tháng 7 đến hết tháng 9

Mùa Đông từ tháng 10 đến hết tháng 12.

Vậy thì Trung Thu – giữa mùa thu là giữa tháng 8 bạn ơi! ” Chỉ là ý kiến cá nhân thôi – (duongn.bm)

“Trung Thu ” có nghĩa là giữa mùa thu đó ! rằm tháng 8 chứ tháng mấy nữa ! ^^ – (Nguyễn Thành Tín)

Theo Trung Quốc hết….. – (Nguyên)

Theo âm lịch thì tháng giêng , hai, ba là mùa xuân.Tư, năm ,sáu là mùa hạ. Bảy ,tám chín là mùa thu. Vì vậy rằm tháng tám là giữa mùa thu gọi là Trung thu. – (Nguyễn Thanh Hải)

Trung thu nghĩa là giữa mùa thu. Bản chất ngày rằm tháng 8 là ngày giữa của mùa thu rồi, có gì đâu mà phải chọn bạn? – (khach)

Theo ý kiến chủ quan của tôi nguyên nhân chọn rằm tháng 8 là Trung thu là như thế này: Một năm có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, mà theo lịch của một số nước Châu á trong đó có nước ta ( lịch mặt trăng) thì mùa xuân gồm tháng 1 ( giêng), tháng 2, tháng 3; mùa hạ có tháng 4,5,6; mùa thu là tháng 7,8,9. Như vậy tháng 8 là giữa mùa thu mà ngày 15 ( rằm là giữa tháng 8 nên gọi là Trung thu. – (Mr. Khoai)

Rằm trung thu là rằm giữa Thu, xét theo xuân hạ thu đông mỗi mùa có 3 tháng thì tháng 8 là tháng giữa thu nên lấy rằm tháng 8. – (Le duc anh)

1 măn có 4 mùa, xuân hạ thu đông, mùa thu rơi vào tháng 7-8-9 vậy rằm thắng 8 có phải là giửa mùa thu không, là trung thu đó. – (Lee Duc)

vì dằm tháng tám là giữa mùa thu và đâu hình như là phong tục của người phương bắc nên cũng ảnh hưởng thôi ☺ – (Nguyễn Hoàng Phương)

Trung thu có nghĩa la ‘ giữa mùa thu ‘.răm trung thu có nghĩa là ‘răm giữa mùa thu’.mua Thu có 3 răm la t7,t8, t9. Răm t 8 ở giữa nên gọi là răm trung thu – (Phúc)

một năm có 4 mùa. xuân hạ thu đông.mùa xuân có tết cổ truyền, mùa hạ có tết đoan ngọ, mùa thu có tết trung trung, vậy sao không có tết trung đông hả các bạn.? – (ngô cương)

Trung có nghĩa là giữa,mà giữa năm là tháng 8 vậy nên tháng 8 là đến mùa thu nên chọn tháng 8 – (phạm hảo)

tại + vì 15/8 là trung tâm của mùa thu thì gọi là trung thu – (trung thu)

Theo cái tên là bạn cũng biết rồi. “Trung Thu” là giữa mùa thu. Một năm 12 tháng chia làm 4 mùa. Mùa thu là tháng 7,8 và 9. thì rằm tháng 8 là giữa mùa thu. – (vanlam999)

Đơn giản vì trung thu là vào giữa thu. Là tháng 8 âm lịch. – (hoang anh ybc)

Theo mình nghĩ, mùa thu gồm 3 tháng 7, 8, 9, vậy tháng 8 là giữa mùa thu, vậy tháng 8 là tháng trung thu, và để chọn ngày trung thu thì là ngày giữa tháng trung thu, tức rằm tháng 8. Còn có từ bao giờ thì mình không biết. – (Lê Đức)

Mình cũng có thể có rằm Trung hạ, Trung xuân và Trung đông mà. Rằm nào cũng vầy bạn à, chọn 1 rằm rồi xài nó thì ý nghĩa hơn xài cả 4 chứ :v – (ha_anh_lion)

Bởi vì mùa Thu kéo dài tử tháng Bảy đến tháng Chín, vì thế mà ngày 15 tháng Tám là Trung Thu. Chính xác thì phải là 12 giờ ngày 15 tháng Tám. – (hoangnvhk)

Nếu không chọn rằm tháng Tám, ta có thể chọn rằm tháng hai và gọi là Trung Xuân; rằm tháng 5 gọi là Trung Hạ, rằm tháng 11 gọi là Trung Đông, và rằm tháng tám tất là Trung Thu đó bạn. – (vanhung)

tại vì tháng 8 là giữa mùa thu nên gọi là trung thu – (tulong2108)

cái tên nó đã nói lên tất cả…..

Trung thu….giữa mùa thu….là rằm tháng 8 chứ gì nữa – (candysnow_bell)

Bánh trung thu tượng trưng cho sự đoàn viên, là thứ không thể thiếu để cúng trăng và thổ địa công vào mỗi mùa Trung thu. Phong tục ăn bánh trung thu vào Tết Trung thu bắt đầu từ cuối đời nhà Nguyên bên Trung Quốc đến nay.

Tương truyền vào thời đó, người Trung Nguyên không chịu nổi ách thống trị của người Mông Cổ, những người có chí khí đều muốn khởi nghĩa chống nhà Nguyên. Để tập hợp được các lực lượng đấu tranh, nhưng trong điều kiện không thể truyền tin đi, Lưu Bá Ôn đã nghĩ ra một cách truyền tin rộng rãi và bảo đảm, đó là kêu gọi mọi người mua bánh trung thu ăn vào Tết Trung thu để tránh họa. Sau khi mọi người mua bánh về và cắt ra, nhìn thấy bên trong có giấu một mảnh giấy viết “đêm 15 tháng 8 khởi nghĩa”, nhờ vậy người dân đã nhiệt liệt hưởng ứng, và lật đổ được nhà Nguyên. Cũng từ đó, bánh trung thu đã trở thành một món ăn không thể thiếu vào mỗi Tết Trung thu. – (Thuy)

nen xem chuyen Co Do Long cua Kim Dung se hieu. – (shayya)

Ngày 15 tháng 8 là điểm giữa của mùa thu nên mới gọi là Trung Thu. Đơn giản thế thôi – (Mr.Khanh)

“Trung Thu” nghĩa là chính giữa mùa Thu, giải thích đơn giản vậy chắc bạn hiểu. T1-2-3: mùa Xuân, T4-5-6: mùa Hạ, T7-8-9: mùa Thu, T10-11-12: mùa Đông… – (BH)

Bạn nào đặt câu hỏi này chứng tỏ không hiểu vấn đề rồi. Cái chính là “lễ hội” mang ý nghĩa gì và tại sao có nó, còn cái ngày là Rằm Trung Thu hay ngày nào khác chỉ là cái ngày mà thôi. Nếu không là Rằm Trung Thu thì cũng có thể là Mùng 10 tháng 10 chẳng hạn, hay Mùng 5 tháng 5 chẳng hạn,… Để nghị bạn Google để nghiên cứu sự tích, ý nghĩa của ngày Rằm Trung Thu. – (Hùng)

Trung Thu là giữa của mùa Thu. Mùa Thu là Tháng 7+8+9 Âm Lịch. Vậy rằm Tháng 8 hiển nhiên phải là Trung Thu ! Thế mà cũng hỏi ??? – (Lê Hùng)

Toi dong y voi ban chu hoang giang. Cam on. – (tran duc khiem)

Đơn giản từ “trung thu” có nghĩa là giữa mùa thu. Do đó ngày rằm tháng tám là ngày chính giữa của mùa thu. Đồng thời, trong một năm, trăng vào ngày rằm tháng tám là tròn nhất, to nhất và sáng nhất. – (chuoi)

Vì nằm giữa mùa thu nên gọi là trung thu. – (thong)

nếu nói như mấy bạn, trung là giữa, thu là mùa thu, thì giữa mùa thu phải là 1/8 chứ, mấy pạn chưa ngke chuyện cổ tích chú cuội ah mà pảo nhập khẩu từ trung quốc sang – (hà)

vào rằm toàn mưa với bão thôi – (Ngô Thuỷ)

Đừng quên một điều quan trọng. Tổ tiên của chúng ta vốn ở tận bên Sông Hoàng Hà đó. Động Đình Hồ có nghĩa là Động Tiên, nơi Âu cơ phải long Lạc Long Quân rồi Nam tiến.

Cho nên Trung Thu là của Việt, Đoan ngọ là của Việt, Nguyên đán là của Việt. – (Viet Nam)

Đơn giản thôi các bạn ah.1 năm có 4 mùa xuân hạ thu đông,mùa thu là tháng 7,8,9.trung la giữa,giữa mùa thu là ngày rằm tháng 8 thôi – (Lai)

Đơn giản 15/8 âm lịch là giữa mùa thu thôi, nhiều bạn giải thích cầu kỳ quá! – (Lê Nam)

1 năm có 12 tháng và 4 mùa, như vậy mỗi mùa kéo dài 3 tháng và theo thứ tự Xuân Hạ Thu Đông thì mùa thu là từ bắt đầu tháng 7 đến hết tháng 9. Trung Thu có nghĩa là giữa mùa Thu nên chọ vào ngày 15 tháng 8 là chuẩn nhất rùi bạn!!!!!!! – (ha ha)

TRUNG là giữa, TRUNG THU là giữa thu, tháng 7,8,9 là mùa thu – (trần hoài sơn)

Cái tên thì nói lên tất cả rồi. Trung thu là giữa mùa thu. Mà chọn ngày rằm là lúc trăng đẹp nhất. Âm lịch có mùa thu từ đầu tháng 8-hết tháng 9 âm lịch. Trung thu là bắt đầu thời điểm giữa đầu tháng 8 đến cuối tháng 9. – (Mami siêu phàm)

Theo tôi được biết thì răm trung thu xuất phát từ trung Quôc, những nước xung Quanh ảnh hưởng theo Văn Hoa đó bao gồm Việt Nam, Hàn Quôc, Nhật bản. Như hàn Quôc tổ chức rằm trung thu rất to do rằm trung thu Đánh dấu kết Thuc một vụ thu hoạch và chuẩn bị bước vào mùa Đông lạnh giá, phía Bắc Trung Quôc và nhật bản cũng tương tự – (Hoa)

Nếu nói Tết Trung thu có xuất xứ từ TQ, vậy còn truyện tích chú cuội , cây đa, … thì có tứ lúc nào? – (NC)

Theo tôi biết thì mỗi tháng có 1 ngày trăng tròn gọi là rằm, nhưng rằm tháng 8 trăng sẽ sáng nhất trong năm nên người xưa chọn làm ngày Trung Thu. “trung thu trăng sáng như gương…” – (Kiên)

Thời tiết miền Bắc (kể cả ở Trung Quốc), tháng 8 âm lịch là đẹp nhất trong năm – không nóng, không lạnh, khô ráo, nên người ta ăn rằm Trung Thu. Còn một điểm nữa là ngày xưa Triều đình thường tổ chức thi vào tháng 10 (âm lịch) nên Trung Thu cũng là một cái Tết văn hiến, chuẩn bị đi thi, thi đỗ là đổi đời (cá chép vượt Vũ môn hóa rồng). Rằm Trung Thu thường có đèn cá chép và ông Tiến sĩ giấy để khuyến khích việc học. – (Đức Lan)

Đơn giản thôi mà “Trung thu” nghĩa là : “Trung” là giữa, “Thu” là mùa Thu, tháng tám giữa mùa Thu thì gọi là Trung Thu. – (Một Cõi Đi Về)

có gì khó hiểu đâu, một năm có bốn mùa mỗi mùa 3tháng mùa thu là tháng 7, 8, 9 âm lịch, tháng 8 là giữa mùa thu, rằm tháng 8 là giữa tháng 8 nên lấy làm ngày trung thu! – (truongtonngoc)

Tết Trung thu (ngày 15 tháng 8 Âm lịch) có xuất xứ từ Trung Quốc. Theo nhiều ghi chép lịch sử, nghi thức đón Tết Trung thu đã có từ thời nhà Chu. Tết Trung thu là ngày lễ truyền thống lớn thứ hai sau Tết Nguyên Đán của Việt Nam nói riêng và nhiều nước châu Á nói chung.

Theo Âm lịch, mùa thu bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài đến hết tháng 9, ngày 15 tháng 8 đúng vào giữa mùa thu nên được gọi là “trung thu”. Tết Trung thu còn có rất nhiều tên gọi khác, ít phổ biến hơn như Thu tiết, Bát Nguyệt tiết, Bát Nguyệt Hội, Nguyệt tiết, Truy Nguyệt tiết, Nguyệt Tịch, Đoàn Viên tiết…

Dù phong tục đón Tết Trung thu của các quốc gia đều bắt nguồn từ Trung Quốc nhưng không phải những phong tục, tập quán đón Tết Trung thu ở đâu cũng giống nhau.

So sánh giữa Tết Trung thu của người Hoa và Tết Trung thu của người Việt, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra sự khác bệt giữa một số phong tục, tập quán như:

Người Hoa xem trọng sự sum họp, đoàn viên của gia đình trong dịp Tết Trung thu trong khi phần lớn người Việt xem Tết Trung thu là Tết thiếu nhi.

Người Việt không có thói quen thưởng nguyệt đêm trung thu trong khi người Hoa lại thường quây quần bên gia đình ngắm trăng vào đêm này.

Người Hoa thường tổ chức múa rồng lửa để cầu mong sự may mắn, thịnh vượng còn người Việt lại hay tổ chức múa lân, có ông địa dẫn đầu.

Người Việt không có nghi thức tế nguyệt (cúng mặt trăng) để cầu cho mùa màng tươi tốt, gia đình bình an trong dịp Tết Trung thu như người Hoa.

Mặc cho những khác biệt trong văn hóa, mỗi dịp Tết Trung thu về, người Hoa, người Việt và tất cả các dân tộc sinh sống tại Việt Nam đều hòa mình trong không khí ấm áp, tươi vui của ngày lễ truyền thống ý nghĩa này. – (Vũ Đình)

Trung là giữa, thu là mùa thu. trung thu là Chính giữa mùa thu. 15/8 là chính giữa mùa thu nhất – (leducphanlaw)

vi trung la o giua,thang 9 lai la mua thu – (1)

【#7】Gợi Ý 12 Bài Hát Trung Thu Ý Nghĩa Và Hay Nhất Cho Ngày Tết Đoàn Viên

Một mùa trung thu nữa lại đang cận kề, không chỉ có những em nhỏ mà ngay cả những người trưởng thành cũng háo hức và mong chờ ngày tết đoàn viên. Ngày tết trung thu trọn vẹn không chỉ có bánh trung thu, ánh trăng hay múa lân mà còn có sự góp mặt của những bài hát trung thu đầy ý nghĩa mà BlogAnChoi sẽ gợi ý tới bạn ngay sau đây!

1. Rước đèn tháng tám

Mỗi khi giai điệu của bài hát Rước đèn tháng tám cất lên, không chỉ có những em nhỏ mà ngay cả những người trưởng thành cũng đều cảm thấy háo hức và mong chờ ngày tết trung thu. Sau nhiều năm ra đời, bài hát này của nhạc sĩ Đức Quỳnh vẫn nằm trong tim của nhiều thế hệ thiếu nhi. Với những ca từ sôi động mang đậm hơi thở của ngày tết trung thu thì bạn sẽ được trở lại những kí ức tươi đẹp thời thơ ấu.

Hình ảnh ngày trung thu qua bài Rước đèn tháng tám giản dị, mộc mạc nhưng lại ấm áp và thật trọn vẹn cùng đèn lồng, cùng tiếng trống “tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh” vui nhộn và còn có cả chị Hằng. Bài hát Rước đèn tháng tám đã làm sống lại những ngày tết trung thu xưa đơn sơ và thiếu thốn nhưng lại tràn đầy tiếng cười, sự hân hoan của bao em nhỏ khi được cầm trên tay những chiếc đèn ông sao, đèn cá chép.

Lời bài hát Rước đèn tháng tám

“Tết Trung Thu rước đèn đi chơi

Em rước đèn đi khắp phố phường

Lòng vui sướng với đèn trong tay

Em múa ca trong ánh trăng rằm

Đèn ông sao với đèn cá chép

Đèn thiên nga với đèn bướm bướm

Em rước đèn này đến cung trăng

Đèn xanh lơ với đèn tím tím

Đèn xanh lam với đèn trắng trắng

Trong ánh đèn rực rỡ muôn màu

Tít trên cao dáng tròn xinh xinh

Soi xuống trần ánh sáng dịu dàng

Rằm tháng tám bóng Hằng trong sáng

Em múa ca vui đón chị Hằng

Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh

Tùng dinh dinh cắc tùng dính dính

Em rước đèn này đến cung trăng

Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh

Tùng dinh dinh cắc tùng dính dính

Em rước đèn mừng đón chị Hằng

Tết Trung Thu bánh quà đầy mâm

Em bé nhà ưa đứng quây quần

Đòi hạt sen bánh dẻo đầy nhân

Em muốn ăn bốn, năm ba phần

Ngọt thơm như bánh dẻo bánh nướng

Ngọt cay như mứt gừng mứt bí

Ăn mát lòng lại thấy vui thêm

Hạt dưa nghe cắn nổ lốp đốp

Người vui hoan nói cười hấp tấp

Bao tấm lòng mừng đón trăng rằm”

Nhạc sĩ: Đức Quỳnh

Bạn có thể nghe bài hát Rước đèn tháng tám qua video

2. Thằng Cuội

Trung thu ngày nay hiện đại và đầy đủ hơn xưa nhưng có lẽ ai cũng từng khao khát được quay trở về với những ngày tết trung thu xưa tuy thiếu thốn nhưng lại tràn ngập niềm vui và tiếng cười. Nơi mà không có ánh điện nhưng lại có ánh trăng sáng ngời, có chị Hằng hiền dịu và chú Cuội tinh nghịch. Và bài hát Thằng Cuội sẽ đưa bạn về một trung thu như thế.

Cố nhạc sĩ Lê Thương đã sáng tác bài hát Thằng Cuội trong những năm 1946-1954 và cho tới tận bây giờ Thằng Cuội vẫn là một trong những bài hát trung thu được yêu thích nhất. Ca từ mộc mạc cùng giai điệu sâu lắng đã giúp bài hát nằm sâu trong tim mỗi người. BlogAnChoi tin rằng, Thằng Cuội sẽ mang tới cho bạn chiếc “vé quay về tuổi thơ” với một trung thu yên bình và bình dị nhất.

Lời bài hát Thằng Cuội

“Bóng trăng trắng ngà có cây đa to

Có thằng Cuội già ôm một mối mơ

Lặng im ta nói Cuội nghe

Ở cung trăng mãi làm chi

Bóng trăng trắng ngà có cây đa to

Có thằng Cuội già ôm một mối mơ

Gió không có nhà

Gió bay muôn phương

Biền biệt chẳng ngừng

Trên trời nước ta

Lặng nghe trăng gió bảo nhau

Chị kia quê quán ở đâu

Gió không có nhà

Gió bay muôn phương

Biền biệt chẳng ngừng

Trên trời nước ta

Các con dế mèn suốt trong đêm khuya

Hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ

Đền công cho dế nỉ non,

Trời cho sao chiếu ngàn muôn

Các con dế mèn suốt trong đêm khuya

Hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ

Sáng rơi xuống đời, sáng leo lên cây

Sáng mỏi chân rồi, sáng ngồi xuống đây

Cùng trông ánh sáng cười vui

Chị em ta hãy đùa chơi

Sáng rơi xuống đời, sáng leo lên cây

Sáng mỏi chân rồi, sáng ngồi xuống đây

Các em thích cười muốn lên cung trăng

Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang

Mười lăm tháng Tám trời cho

Một ông trăng sáng thật to

Các em thích cười muốn lên cung trăng

Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang

Các em thích cười muốn lên cung trăng

Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang

Cho mượn cái thang …”

Tác giả: Lê Thương

Bạn có thể nghe bài hát Thằng Cuội qua video

3. Chiếc đèn ông sao

“Tùng rinh rinh, tùng tùng tùng rinh rinh” lời bài hát tựa như đang báo hiệu một mùa trung thu lại sắp đến. Giống như bao bài hát thiếu nhi khác của nhạc sĩ Phạm Tuyên, Chiếc đèn ông sao cũng chứa đựng tình thương yêu vô bờ của ông dành cho lứa tuổi mầm non. Có thể nói, nếu thiếu vắng giai điệu bài Chiếc đèn ông sao thì tết trung thu chưa thể trọn vẹn. Bài hát này đã nuôi dưỡng tâm hồn bao lớp trẻ thiếu nhi ở nước ta.

Tạm xa phố thị ồn ào, xa những chiếc đèn lồng điện với âm nhạc sôi động, bài hát Chiếc đèn ông sao sẽ đưa bạn về trung thu xưa thật đẹp cùng với đèn ông sao tươi màu được làm bằng giấy rất đơn sơ không hề có nhạc nhưng lại có tiếng trống rộn rã ngập tràn sự tươi vui.

Lời bài hát Chiếc đèn ông sao

“Chiếc đèn ông sao sao năm cánh tươi màu. Cán đây rất dài cán cao quá đầu.

Em cầm đèn sao em hát vang vang. Đèn sao tươi màu của đềm rằm liên hoan !

Tùng rinh rinh, tùng tùng tùng rinh rinh ! Đây ánh sao vui chiếu xa sáng ngời. Tùng rinh rinh, rinh rinh tùng rinh rinh. Ánh sao Bác Hồ toả sáng nơi nơi !

Đây đèn ông sao sao năm cánh tươi vàng. Ánh sao sáng ngời chiếu miền non ngàn.

Đây cầm đèn sao sao chiếu vô nam. Đây ánh hoà bình đuổi xua loài xâm lăng !

Tùng rinh rinh, tùng tùng tùng rinh rinh ! Đây ánh sao vui chiếu xa sáng ngời. Tùng rinh rinh, rinh rinh tùng rinh rinh. Ánh sao Bác Hồ toả sáng nơi nơi.”

Tác giả: Phạm Tuyên

Bạn có thể nghe bài hát Chiếc đèn ông sao qua video

4. Đêm trung thu

Chỉ vỏn vẹn có bốn câu hát nhưng Đêm trung thu là một bài hát không thể thiếu trong ngày tết đoàn viên. Ca từ mộc mạc và đơn giản, Đêm trung thu tựa như một bức tranh đẹp về trung thu ở những vùng làng quê. Với những giai điệu sôi động, bài hát này chắc chắn sẽ làm bạn phải nao nức đợi chờ tới ngày trung thu đặc biệt.

Với câu từ ngắn gọn, bài hát Đêm trung thu được bao thế hệ măng non thuộc lòng. Bài hát này đã minh chứng rằng những điều giản dị luôn dễ đi vào lòng người hơn cả. Và bạn còn chần chừ gì mà không thêm ngay bài hát Đêm trung thu này vào list nhạc của mình thôi nào.

Lời bài hát Đêm trung thu

“Thùng thình thùng thình trống rộn ràng ngoài đình.

Có con sư tử đang múa quanh vòng quanh

Trung Thu liên hoan trăng sáng ngập đường làng.

Dưới ánh trăng vàng đoàn em cất tiếng hát vang.”

Tác giả: Trương Phát

Bạn có thể nghe giai điệu bài hát qua video:

5. Vầng trăng cổ tích

Đối với mọi người, ánh trăng chính là biểu tượng của tết trung thu và nếu thiếu vắng ánh trăng thì quả là trung thu chưa thật trọn vẹn rồi. Cảm giác ngồi quây quần bên gia đình cùng nhau thưởng thức từng miếng bánh dẻo, bánh nướng ngọt lịm và cùng nhau ngắm trăng thật tuyệt biết bao. Và khi nhắc đến ánh trăng thì không thể nào không nói tới bài hát Vầng trăng cổ tích.

Vầng trăng cổ tích là một bài hát nhẹ nhàng và không quá sôi động nhưng lời bài hát như đang tái hiện lại bức tranh trung thu hết sức yên bình, ở đó có chị Hằng, chú Cuội và đặc biệt là ánh trăng sáng ngời điều mà trung thu hiện đại thường thiếu vắng vì dường như ánh đèn sáng chói ở nơi thành thị đã vô tình che đi ánh trăng.

Lời bài hát Vầng trăng cổ tích

“Một vầng trăng tỏ, treo trên đỉnh trời

Bay về đâu thế đàn cò trắng ơi

Bà ơi chú cuội có nhớ nhà không ?

Sao như cháu thấy, sao như cháu thấy chú đang xuống trần

Nghìn năm rùi nhỉ, bên gốc cây đa

Cuội ơi em hỏi trăng non hay già

Nghìn năm rùi nhỉ, bên gốc cây đa

Cuội ơi em hỏi trăng non hay già

Một đàn chim nhỏ chơi trăng giữa trời

Biết bao giờ nhỉ cuội được xuống chơi

Bà ơi chú cuội có nhớ nhà không ?

Sao như cháu thấy, sao như cháu thấy chú đang xuống trần

Nghìn năm rùi nhỉ, bên gốc cây đa

Cuội ơi em hỏi trăng non hay già

Nghìn năm rùi nhỉ, bên gốc cây đa

Cuội ơi em hỏi trăng non hay già.”

Tác giả: Phạm Đăng Khương

Bạn có thể nghe bài hát qua video:

6. Tết suối hồng

Nếu bạn chưa có ý tưởng âm nhạc nào cho chương trình trung thu sắp tới thì bài hát Tết suối hồng là một gợi ý lý tưởng mà bạn không nên bỏ qua. Tết suối hồng là một bài hát không còn xa lạ với các em nhỏ vào đêm trăng rằm nhờ vào những câu hát ngắn gọn lại rất dễ nhớ.

Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sáng tác bài Tết suối hồng và đây tựa như là một món quà ý nghĩa của ông dành tặng cho các em nhỏ khắp cả nước trong ngày tết trung thu. Ngay từ những câu đầu tiên của bài hát, bạn sẽ cảm nhận được sự tươi vui, hồn nhiên của các bạn nhỏ. Tin rằng, bài hát này sẽ góp phần mang tới cho bạn một ngày tết trung thu thật ý nghĩa.

Lời bài hát Tết suối hồng

“Trung Thu đốt đèn lên cho sáng

Cho bao con đường rộn vui

Đêm trăng với đèn lồng thay nắng

Em như giấc mộng giữa đời

Cùng nhau hát lên

Đường đêm xôn xao trống lân

Về thăm phố quen

Ngàn sao lung linh suốt đêm

Trung Thu Tết hồng như son thắm

Chúng em vui đùa bên nhau

Đêm nay các bạn không ai vắng

Quanh em sáng một suối màu.”

Tác giả: Trịnh Công Sơn

Bạn có thể nghe và xem bài hát Tết suối hồng qua video:

7. Chú Cuội chơi trăng

Hình ảnh chú Cuội tinh nghịch, đáng yêu đã được nhạc sĩ An Thuyên khắc họa rõ nét qua từng câu hát trong bài Chú Cuội chơi trăng. Đây cũng là một bài hát rất phù hợp để làm tăng không khí cho các trò chơi dân gian trong ngày rằm tháng tám.

Lời bài hát Chú Cuội chơi trăng

“Chú Cuội chơi trăng tình rằng tình rằng

Chú Cuội, Cuội chơi trăng

Ngàn năm ngàn năm vẫn thế

Chơi trăng chơi trăng dông dài

Cuội hỡi hỡi Cuội ơi, Cuội hỡi hỡi Cuội ơi

Vui cảnh đồng quê ban khi vui cảnh đồng quê

Bỗng đâu Cuội muốn lên tiên lên tiên thoát trần

Ai ngờ lên trăng, Cuội ngồi Cuội ngồi gốc đa

Một mình ngậm ngùi xót xa

Đói lòng chẳng có gì ăn

Chúng bạn chẳng có mà chơi

Cuội ơi rau cháo thương nhau

Còn hơn lên tới cung trăng mà ngồi một mình.”

Tác giả: Nhạc sĩ An Thuyên

Bạn có thể nghe và xem bài hát Chú Cuội chơi trăng qua video:

8. Ông trăng xuống chơi

Ông trăng xuống chơi là bài hát được rất nhiều em nhỏ yêu thích trong dịp tết trung thu. Với những ca từ giống như một bài đồng dao nên bài hát không chỉ rất dễ nhớ mà còn dễ đi vào lòng người. Ông trăng xuống chơi quả thực là một bài hát mà bất kì em nhỏ nào cũng nên nghe.

Tựa như một bài đồng dao ngây thơ và đáng yêu nhưng Ông trăng xuống chơi lại chứa đựng những triết lý cho và nhận vốn đơn giản trong cuộc sống nhưng không phải ai cũng nhận ra. Ngày nay, không ít người nghĩ rằng việc cho đi và nhận lại đều cần phải có mục đích. Nhưng chính vì sự ích kỉ nghĩ rằng chỉ cho đi khi ta được nhận lại một điều gì đó đã cản trở sự hạnh phúc, niềm vui trọn vẹn.

Lời bài hát Ông trăng xuống chơi

“Ông trăng xuống chơi cây cau thì cau sẽ cho mo

Ông trăng xuống chơi học trò thì học trò cho bút

Ông trăng xuống chơi ông bụt thì ông bụt cho chùa

Ông trăng xuống chơi nhà Vua thì nhà Vua cho lính

Ông trăng xuống chơi đền thánh thì cụ chánh cho mõ…

Ông trăng xuống chơi nồi chõ thì nồi chõ cho vung

Ông trăng xuống chơi cành sung

Thì cành sung cho nhựa

Ông trăng xuống chơi con ngựa thì con ngựa cho tầu

Ông trăng xuống chơi cần câu thì cần câu cho lưỡi

Ông trăng xuống chơi cây bưởi thì cây bưởi cho hoa

Ông trăng xuống chơi vườn cà thì vườn cà cho trái

Ông trăng xuống chơi gái đẹp thì gái đẹp cho chồng

Ông trăng xuống chơi đàn ông thì đàn ông cho vợ.

Ông trăng trả vợ đàn ông

Trả chồng cô gái

Trả trái cây cà

Trả hoa cây bưởi

Trả lưỡi cần câu

Trả tầu cho ngựa

Trả nhựa cây sung

Trả vung nồi chõ

Trả mõ ông chánh

Trả lính nhà vua

Trả chùa cho bụt

Trả bút học trò

Trả mo cây cau

Trả mo cây cau

Trả mo cây cau

Trả mo cây cau…”

Tác giả: Phạm Duy

Bạn có thể nghe giai điệu bài hát Ông trăng xuống chơi qua video sau:

9. Hội trăng rằm

Khi nói đến những bài hát trung thu được mọi người yêu thích nhất ta không thể không nhắc tới bài Hội Trăng rằm. Tác giả Nguyễn Ngọc Thiện đã thật tài tình khi đã mang hình ảnh tết trung thu xưa tươi vui, nhộn nhịp vào từng cầu hát. Giai điệu của bài Hội trăng rằm rất vui tươi nên chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ tạo nên một chương trình trung thu ý nghĩa và sôi động.

Bài hát Hội Trăng rằm không dài nhưng lại có thể diễn tả đầy đủ và chân thực những điều thú vị thường có trong ngày tết trung thu như ánh trăng, phá cỗ và cả thi hát… Bài hát Hội trăng rằm đã được tái hiện lại qua giọng ca ngọt ngào và đáng yêu của rất nhiều em nhỏ như bé Bào Ngư, bé Bảo An…

Lời bài hát Hội Trăng rằm

“Một bầu trời là một ông trăng

Một ông trăng là hội trăng rắm

Mỗi một người có mấy ông trăng

Một ông trăng ,hay nghìn ông trăng

Trăng trung thu ,trăng phá cỗ

Trăng rước đèn, trăng thi hát

Trăng trong tranh, trăng sáng tỏ

Trăng chầm dầm, trăng mải chờ

Trăng trên cây, trăng đón thầy

Trăng tiễn bạn, trăng mệt thắm.”

Tác giả: Nguyễn Ngọc Thiện

Bạn có thể nghe giai điệu bài hát Hội trăng rằm qua video:

10. Vầng trăng yêu thương

Bài hát Vầng trăng yêu thương sẽ đưa bạn về vùng thôn quê yên bình có ánh trăng sáng ngời, có gió mát và còn có cả hương hoa thơm ngát. Cảm giác được sum vầy cùng những người thân yêu, cùng nhau thưởng thức bánh trung thu, ly trà nóng và nghe bài Vầng trăng yêu thương sẽ vô cùng tuyệt vời.

Lời bài hát Vầng trăng yêu thương

“Chờ trăng lên em chờ trăng lên

Vầng trăng sáng cho em tiếng cười

Nụ cười vui bên tiếng đàn và trong tiếng hát.

Nhìn trăng lên trong niềm yêu thương

Ngàn khúc ca vang lên đón mừng

Nhìn trăng lên cho em vui thắm thiết tình bạn.

Hoa đưa hương thơm ngát ngoài thềm

Mây trôi nhẹ theo cơn gió thoảng

Em yêu sao tiếng hát ngọt lành

Trong gió nhẹ cùng chờ trăng lên.”

Tác giả: Lê Quốc Thắng

Bạn có thể nghe giai điệu bài hát Vầng trăng yêu thương qua video sau:

11. Đếm sao

“Một ông sao sáng hai ông sáng sao, ba ông sao sáng, sáng chiếu muôn ánh vàng…” mỗi khi giai điệu bài hát Đếm sao cất lên đều khiến bao người bồi hồi nhớ lại những ngày tết trung thu hồi còn thơ ấu cùng gia đình và cả những người bạn nhỏ. Trung thu xưa không có đèn hoa sáng chói chỉ có ánh trăng và những ngôi sao nhưng đã thắp sáng bao tâm hồn trẻ thơ. Cứ như thế, bài hát Đếm sao đã trưởng thành cùng bao thế hệ thiếu nhi Việt Nam.

Trung thu trong bài hát Đếm sao không chỉ của các em nhỏ mà còn là Trung thu của Đất nước. Với cả từ mộc mạc và giản dị nhưng khi nghe bài hát Đếm sao bạn sẽ cảm thấy vô cùng háo hức chờ đến ngày tết trung thu đặc biệt.

Lời bài hát Đếm sao

“Một ông sao sáng hai ông sáng sao

Ba ông sao sáng, sáng chiếu muôn ánh vàng

Bốn ông sao sáng

Kìa năm ông sao sáng

Kìa sáu ông sáng sao trên trời cao

Bảy ông sao sáng, tám ông sáng sao, chín ông sao sáng

Sáng chiếu muôn ánh vàng

Mười ông sáng sao

Kìa sông Ngân trong sáng

Mờ chiếu ánh muôn sao trên trời cao

Đêm thì khắp bốn phương trời toàn sao lóng lánh sáng người chiếu xa

Ngày thì sao sáng giữa cờ vàng đỏ em đếm

Kìa một hai ba bốn năm sáu bảy tám chín mười

Trăm nghìn vạn triệu vô số hằng hà trên nước Việt Nam.”

Tác giả: Văn Chung

Bạn có thể nghe bài hát Đếm sao qua video:

12. Em đi rước đèn

Cùng bạn bè đi rước đèn dưới ánh trăng là kỉ niệm đẹp khó quên của các bạn trẻ. Ngày nay, hình ảnh những em nhỏ đi chơi trung thu không còn nhiều nhưng khi nghe giai điệu bài hát Em đi rước đèn thì chắc chắn ai cũng sẽ cảm thấy đang được sống lại với đêm trăng rằm ngày đó. Chính vì vậy mà bài hát Em đi rước đèn được rất nhiều em nhỏ yêu thích mỗi khi mùa trung thu tới.

Lời bài hát Em đi rước đèn

“Em đi rước đèn, rước đèn trung thu trên khắp phố phường.

Lòng bao vui sướng với đèn trong tay, em múa ca xum vầy.

Lồng đèn ngôi sao, lồng đèn bươn bướm.

Tô màu trên môi, chú lân mỉm cười.

Lồng đèn con cá , lồng đèn tàu bay.

Lòng em vui thay trong ánh đèn đắm say.

Em đi rước đèn, rước đèn trung thu trên khắp phố phường.

Lòng bao vui sướng với đèn trong tay, em múa ca xum vầy.

Tùng tùng dinh dinh

Tùng tùng dinh dinh là tùng con nít.

Tô màu trên môi em múa ca nhịp nhàng.

Rộn ràng khắp lối hòa cùng lời ca

Làm cho đêm trăng thêm sắc màu pháo hoa.”

Tác giả: Vũ Đình Ân

Bạn có thể nghe bài hát qua Em đi rước đèn qua video:

BlogAnChoi tin rằng với 12 bài hát trung thu ý nghĩa được gợi ý phía trên bạn sẽ có một mùa trung thu thật tươi vui và trọn vẹn. Điều đặc biệt hơn cả là bạn còn được trở về với những trung thu tươi đẹp ngày thơ bé qua từng giai điệu bài hát.

【#8】Máy Đo Độ Cứng Kim Loại Cầm Tay Giá Rẻ

Máy đo độ cứng là gì?

Công dụng của máy đo độ cứng

Khi mà độ cứng của vật liệu càng cao thì có khả năng chống lại sự lún của bề mặt khi có vật tác động vào là càng lớn.Có thể nói rằng vật liệu có độ lún càng nhỏ thì độ cứng càng cao. Và độ cứng là một trong những đặc trưng cơ bản quan trọng và thiết yếu của vật liệu. Do đó, máy đo độ cứng ra đời phục vụ mục đích đo độ cứng dưới áp lực của trọng lực xác định của vật liệu đó.

Cách đo độ cứng của máy đo độ cứng thông dụng thường là dùng một mẫu thử bằng vật liệu cho trước có hình dáng và kích thước nhất định, sau đó thâm nhập vào bề mặt vật liệu với độ sâu h, và từ độ sâu h có thể tính toán được độ cứng của vật liệu cần thử.

Máy đo độ cứng đo những vật liệu nào?

Hiện nay, với sự phát triển của ngành điện – điện tử, máy đo độ cứng vật liệu có rất nhiều hãng sản xuất khác nhau cũng như có nhiều loại như: máy đo độ cứng tự động, máy đo độ cứng bằng tay,…

  • Máy đo độ cứng có độ bền cao và có thể đo được nhiều loại vật liệu kim loại và phi kim khác nhau như: sắt, kẽm, cao su,…Nó hoàn toàn có thể đo được các vật liệu nhỏ, mỏng, cong,… điều này được ứng dụng ở các vật liệu nhỏ, mỏng, hình dáng không cố định như tại các bo mạch điện tử hay các thiết bị viễn thông.
  • Máy đo độ cứng có thể làm được tất cả những điều đó bởi vì máy có chế độ kiểm tra từng bước, đạt tiêu chuẩn ISO chất lượng cao. Hơn nữa, tất cả thông số của vật liệu sẽ được hiển thị trên màn hình, có thiết lập phù hợp để đo được nhiều vật liệu khác nhau.
  • Do đó, máy đo độ cứng là một thiết bị không thể thiếu trong những công trình, xác định được độ bền bỉ của vật liệu hay máy móc, đảm bảo được thời gian sử dụng vật liệu một cách dài lâu cho người dùng.

Máy đo độ cứng Rockwell

Vào những năm đầu thế kỷ 20, giáo sư người Áo có tên là Ludwig đã đặt nền móng cho khái niệm về vấn đề đo độ cứng. Ngay sau thì hai nhà khoa học Stanley P.Rockwell (1886-1940) và Hugh M.Rockwell (1890-1957) dựa vào lý thuyết của Ladwig để tìm ra phương pháp máy đo độ cứng đầu tiên có tên là Rockwell.

Phương pháp này được miêu tả là sử dụng một trong hai đầu đo độ cứng bằng kim cương có góc 120° hoặc đầu bi có đường kính là 1/16, 1/8, 1/4, 1/2 inches để đâm vào mẫu thử. Nguyên tắc thử là dùng 2 lực sơ cấp và thứ cấp để tác dụng lên mẫu, sau đó từ vết lõm trên mẫu chúng ta tính toán ra được độ cứng của mẫu qua công thức lực tác dụng. Vết lõm càng ít thì độ cứng càng cao và ngược lại. Độ cứng của mẫu có thể được phân loại thành 4 loại như sau:

  • Loại rất cao: vật liệu lớn hơn HRC62 hay HRA 80.
  • Loại cao: vật liệu từ HRC52 đến cao hơn HRC60.
  • Loại trung bình: vật liệu khoảng HB250÷450 và HRC 25÷45.
  • Loại thấp: vật liệu nhỏ hơn HB220, HRC 20, HRB 100.

Máy đo độ cứng Vicker

Phương pháp Vicker là phương pháp được phát minh bởi các kỹ sư công ty Vicker vào năm 1924. Phương pháp này sử dụng cho những mẫu có độ cứng cao, vật liệu mỏng. Phương pháp Vicker là phương pháp được nghĩ ra vào năm 1924 bởi các kỹ sư của công ty Vicker, nó được sử dụng cho những mẫu có độ cứng cao và vật liệu mỏng.

Phương pháp này thì chỉ sử dụng duy nhất 1 mũi đo kim cương có dạng hình chóp 4 cạnh, các góc đối diện mỗi cạnh là 136°. Sau khi sử dụng các lực khác nhau như: 50N, 100N, 200N,… để tác động vào mũi kim cương để đo chiều dài đường chéo ký hiệu là D1, D2 thì từ đó ta có công thức tính ra độ cứng của vật liệu là: HV = k.F/S= 0,102.F/S = {0,102. 2. F.sin(θ/2)}/d2

Trong đó:

  • HV: Độ cứng Vickers
  • k=0,102
  • F: Lực F
  • S: Diện tích bề mặt lõm
  • d= (d1+d2)/2
  • θ: Góc hợp với hai mặt đối diện = 136 độ

Máy đo độ cứng SHORE

Phương pháp đo độ cứng SHORE được nghiên cứu và phát triển vào những năm 1920 bởi Albert F. Shore, thiết bị đo lường được ông phát minh có tên là Durometer. Phương pháp đo độ cứng này sẽ đo độ cứng trong điều kiện đàn hồi của vật liệu và thường được dùng để đo những chất dẻo như polime hay cao su.Độ cứng shore chính là đơn vị đo độ bền vật liệu khi chống lại lực ấn từ các mũi thử, nó có giá trị càng cao thì độ bền càng cao.

Phương pháp này được đo bằng dụng cụ phổ biến nhất là máy đo cứng (Durometer) do chính tác giả phát minh và nó cũng được biết đến như là độ cứng Durometer. Máy đo độ cứng Durometer dùng tải trọng được tạo ra nhờ một lực lò xo. Giá trị độ cứng được xác định bằng sự xuyên qua của đầu đo Durometer vào mẫu thử, nhưng do tính đàn hồi của cao su và nhựa nên trị số độ cứng có thể chuyển qua thời gian (thời gian cũng có thể coi như là giá trị của độ cứng).

Độ cứng Shore sử dụng thang đo Shore A (vật liệu bằng cao su mềm) hoặc Shore D(vật liệu cứng), là phương pháp sử dụng cho cao su, vật liệu đàn hồi và cũng có thể sử dụng cho những chất liệu nhựa mềm hơn như là: polyolefins, fluoropolymers, và vinyls.

Máy đo độ cứng kim loại để bàn

Máy đo độ cứng để bàn là thiết bị được thiết kế cố định trên bàn và có đầy đủ tính năng của thiết bị đo hoàn chỉnh, được sử dụng nhiều trong các phòng thí nghiệm vật liệu của các nhà máy sản xuất kim loại. Thiết bị này có thể sử dụng đo nhiều mẫu khác nhau, chỉ cần mẫu đo vừa với mâm đo. Ưu điểm của nó là cho ra kết quả chính xác cao, và có kết nối phần mềm để xuất ra Excel, còn hạn chế của nó là không thể di chuyển ra kho hoặc hiện trường như các thiết bị cầm tay được.

Máy đo độ cứng cầm tay

Đây là dòng thiết bị cầm tay, có thể dễ dàng di chuyển đến những nơi cần đo đạc độ cứng một cách linh hoạt tiện lợi. Nó chỉ cho ra kết quả tương đối và chỉ đo được một số vật liệu nhất định. Dòng máy này rất được ưa chuộng bởi tính tiện lợi và linh hoạt. Ngoài ra, máy đo độ cứng cầm tay còn có giá thành tương đối rẻ, thích hợp sử dụng cho mục đích học tập hoặc các ứng dụng đòi hỏi sự nhanh chóng, tiện lợi.

Mua máy đo độ cứng kim loại giá rẻ ở đâu?

Máy đo độ cứng là một trong những dụng cụ không thể thiếu ở những công trường hay những kho chứa vật liệu. Những thiết bị đo độ cứng vẫn được bày bán trên thị trường và không khó để tìm thấy, nhưng để mua được những chiếc máy vừa có giá cả phải chăng, lại vừa đảm bảo chất lượng thì sao?

Máy đo độ cứng kim loại DBK

Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu DBK Việt Nam tự hào là địa chỉ uy tín chuyên cung cấp các thiết bị chuyên dụng, dụng cụ cầm tay, dụng cụ khí nén, dụng cụ đo lường,… chất lượng giá tốt. Các sản phẩm tại DBK đều được nhập khẩu chính hãng từ những thương hiệu nổi tiếng về các lĩnh vực trên thế giới. Đến với chúng tôi, bạn hoàn toàn có thể yên tâm về chất lượng của sản phẩm.

Nhưng chất lượng cao thì sẽ đi kèm với mức giá đắt đỏ? Đến với DBK Việt Nam. Quý khách sẽ có thể mua được những chiếc máy đo độ cứng với mức giá phải chăng mà đi đôi với chất lượng. Có được mức giá ấy là nhờ quá trình nhập khẩu trực tiếp và phân phối sản phẩm đến trực tiếp tay người tiêu dùng không qua bất cứ trung gian nào tại DBK.

Tại sao bạn nên mua máy đo độ cứng tại DBK Việt Nam?

【#9】30 Ngày Thiền Thất Bên Trong Vạn Phật Thánh Thành

Tôi đã từng nghe về một Vạn PhậtThánh Thành cách đây vài mươi năm về trước, khi từ thời ngài Tuyên Hóacòn sống trước năm 95 nhưng quả thậttôi chưa đủ duyên để diện kiến ngài vàtu học dưới mái chùa ngài. Trong bản nội quy mà khách Tăng/Ni phải tuân theo khi đến viếng Vạn Phật Thánh Thánh gồm có 10 điều tóm tắt như sau:

1) Phải được phép của giới sư khi đến ở lại VPTT.

2) Phải có giấy giới thiệu của ngôi chùa mình ở.

3) Luôn mặt áo giới khi ra ngoài.

4) Một ngày ăn một bữa.

6) Không đi lang thang ra ngoài khuôn viên của VPTT.

KHÓA TU PHẬT THẤT.

Ngày thứ 1:

Buổi sáng tinh mơ, đúng 3.25am tiếng bảng (bằng tay) đã đứng thức chúng Tăng dậy. Sau đó 3 phút, tiếng bảng bằng máy tiếp tục đánh lên, và cứ thế sau 10 phút lại đánh lên nữa. Tiếng bảng chát chúa vang lên trong đêm khuya, không ai có thể ngủ mê thêm nữa dù lười đến đâu! Nước rửa mặt lạnh như nước đá sẽ làm mọi người tỉnh táo. H.T khai thị: Mặc mặc cảm ứng, mặc mặc trung. Trực chỉ sơn cùng thủy tận xứ, Tiêu dao Pháp-giới nhậm Tây Đông.

Nghĩa là:

Đến khi núi mòn sông cạn hết, Tiêu diêu Pháp-giới khắp Đông Tây. Quang quang tương chiếu; Khổng khổng tương thông.

Nghĩa là:

Ánh sáng này chiếu ánh sáng kia; Lỗ lông này thông lỗ lông kia.

Thêm vào đó, cổ nhân lại có câu:

“Quân tử cầu chư kỷ, Tiểu nhân cầu chư nhân.”

Nghĩa rằng:

Nhược yếu nhân bất tử, Tiên hạ tử công phu.

Nghĩa là:

Mình nếu muốn không chết, Thì phải tu hết mình. “Tử công phu” (tu hết mình),

Nghĩa là:

Lòng người tu Đạo chớ ngờ nghi, Nghi ngờ nổi dậy liền mờ mê. Tử tâm nhiệt như hỏa, Bất thị nhiệt tha nhân, Tiệm tiệm luân đáo ngã.

Nghĩa là:

Ta thấy người ấy chết, Lòng ta nóng như lửa, Chẳng phải nóng cho người, Mà từ từ lửa tới ta. Trường giang, hậu lãng thôi tiền lãng.”

Nghĩa là

“Sông Trường giang, sóng sau đẩy sóng trước.” Ngày thứ 2: H.T Tuyên Hóa khai thị. Tất cả, tất cả, thật, thật, thật. Nam Bắc sơn đầu ngọa thổ nê.

Nghĩa là:

Nằm dưới đất bùn khắp núi đầy non. “Một chút thời gian, một chút mạng sống.” “Thân không bịnh khổ, Tâm chẳng tham luyến, Như nhập Thiền-định, Vui cười vãng sinh.”

Đó mới là nắm chắc được việc sinh tử trong tay mình vậy!

Ngày thứ 3:

Rét chết không phan duyên Đói chết không hóa duyên Nghèo chết không cầu duyên Tức sự minh lý, minh lý tức sự Tự hỏi: Mình có tranh không? Tự hỏi: Mình có tham không? Tự hỏi: Mình có cầu không? Tự hỏi: Mình có ích kỷ không? Tự hỏi: Mình có tự lợi không? Tự hỏi: Mình có vọng ngữ không? Tự hỏi: Mình có ăn ngày một bữa không? Tự hỏi: Mình có luôn đắp y giới không? Lời H.T dạy:

Chúng ta lúc nào cũng ở trong mộng. Rằng:

Nhân tử mộng nhất trường. Mộng lý thân vinh quý, Mộng tỉnh tại cùng hương, Triều triều thị tác mộng, Bất giác mộng hoàng lương, Mộng trung nhược bất giác, Uổng tác mộng nhất trường.

Nghĩa là:

Người sống: một tràng mộng, Người chết: mộng một tràng. Trong mộng thân vinh quý, Tỉnh mộng vẫn nghèo xơ, Ngày ngày cứ nằm mộng, Chẳng biết mộng “kê vàng,” Nằm mộng mà chẳng biết, Uổng thay mộng một tràng.

Ngày thứ 4:

Sau khi ăn xong, mọi người tự đi lấy 1 chiếc khăn (để trong chậu nước nóng) gần đó quay lại chỗ mình và chùi sạch sẽ khu vực bàn ăn trước mặt mình, xong để khăn lại trong chậu và cầm bình bát và dĩa của mình đi rửa ở một khu nhà bếp gần đó, rửa xong quay trở lại chỗ cũ để trên bàn như trước và chờ đến 11.50 đi thành hàng ra Chánh điện hồi hướng. Lời H.T khai thị:

Ngày thứ 5:

H.T Tuyên Hóa khai thị: Bớt Nói Chuyện, Dụng Công Cho Nhiều.

Vạn Phật Thánh Thành có sáu đại tông chỉ để hướng dẫn việc tu, tức là: Nếu bạn hiểu rõ sáu tông chỉ này một cách chân thật thì bạn sẽ không uổng đã tới Vạn Phật Thánh Thành. Có một số người rất háo danh, nhưng Vạn Phật Thánh Thành không cần những kẻ đó. Vì sao? Bởi Vạn Phật Thánh Thành muốn dứt trừ ngũ dục: “Tài, sắc, danh, thực, thùy.”

Ngày thứ 6:

“Hưởng phước thì hết phước, Chịu khổ thì hết khổ.” Lão H.T Tuyên Hóa dạy như sau: Tâm lắng, nước hiện trăng. Ý định, trời không mây. Dừng tâm, dứt niệm, giàu sang thật!

Ngài dạy tiếp:

Sáu thức vừa động, tâm bị che mờ.”

Ngày thứ 7:

H.T Tuyên Hóa khai thị. Kiến sự tỉnh sự xuất thế gian KHÓA THIỀN THẤT.

Ngày thứ 1:

Pháp Thiền Thoại Đầu.

    1. Khi chưa có trời đất, ta là cái gì ?

    2. Muôn pháp về một, một về chổ nào ?

    3. Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn lai của ta ra sao ?

    4. Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu ?

    5. Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì ?

Chương trình khóa Thiền thất gồm các thời gian tu tập như sau: Lời H.T khai thị:

Ngày thứ 2:

Ở trong buổi giảng: “Không trừ vọng tưởng thì Chẳng thể khai ngộ”, ngài dạy:

Ngài dạy:

H.T Khai thị:

Phương pháp “không biết” -trên không biết có trời, dưới không biết có đất, ở giữa không biết có người. Từ sáng đến tối, quý vị làm gì? Không biết! Ăn thức gì? Không biết! Mặc áo gì? Không biết!

Cũng như đang hôn trầm, cái gì cũng không biết. Có câu:

Dưỡng thành đại chuyết phương vi xảo, Học đáo như ngu thủy kiến kỳ.

Nghĩa là: Nếu quý vị làm sao thành như người ngu đần nhất thế giới, thì lúc ấy mới sinh ra sự xảo diệu. Bấy giờ thì:

Nhất liễu, nhất thiết liễu, Nhất ngộ, nhất thiết ngộ.

Nghĩa là:

Ngày thứ 3:

Mới đầu đau, thấu xương đau, đáng sợ đau, Nhẫn chịu đau, tập quen đau, coi thường đau, Nghiệm ra đau, đau, đau, đau, có gì đau! H.T Tuyên Hóa khai thị: (Nếu ai tĩnh tọa chỉ một sát-na,

Ngày thứ 4:

H.T Tuyên Hóa dạy:

Ngày thứ 5:

Ngài dạy:

H.T Tuyên Hóa dạy:

“Nhất thốn quang âm nhất thốn kim, Thốn kim nan mãi thốn quang âm.” (Một phút thời gian, một tấc vàng, Vàng sao mua đặng phút thời gian?)

Lại nói rằng:

“Thất lạc thốn kim dung dị đắc, (Tấc vàng mất đi dễ kiếm lại, Thời gian qua mất khó lòng tìm!)

Người ta nói rằng:

“Vô quy củ bất thành phương viên.” (Không có quy củ thì chẳng thành nề nếp được.)

Ngày thứ 6:

Chỉ trong giây lát ngồi tĩnh tọa,

Nghĩa là:

Không xả được tử, không đổi được sanh Không xả được giả, không thành được chân, Không xả được khổ, không đạt được lạc.

H.T Tuyên Hóa khai thị:

“Đả bất phá danh lợi quan, Khiêu bất xuất luân hồi khuyên,”

nghĩa rằng:

“Đánh không sập cửa danh lợi, Nhảy không thoát vòng luân hồi.”

Ngày thứ 7:

H.T Tuyên Hóa khai thị:

“Phạn ngữ thiền na ba-la-mật Thử vân tịnh lự tế tiến tham Sơn cao thủy thâm vô sở úy Thủy tri triên ngoại biệt hữu thiên.

Thế nào là soi thấu? Là tham! Soi thấu câu “Niệm Phật là ai.” Dù cho núi có cao, biển có sâu tới mức nào mình cũng không sợ hãi. Tới lúc đó mình mới biết bên ngoài bầu trời này còn có những bầu trời kháctrùng trùng vô tận. Do đó mình phải miên mật tham không ngừng, tức là soi vào câu “Niệm Phật là ai.” Soi đi soi lại câu đó cho đến khi “Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ,” nghĩa là cho tới chỗ mình tưởng rằng, “Núi đã hết, sông đã cùng, không còn chỗ đi nữa,” thì khi mình quay trở lại tự nhiên sẽ thấy “Liễu ám hoaminh hữu nhất thôn,”

Nghĩa là:

“Sẽ thấy xuất hiện một thôn trang,

Ngày thứ 8:

Ngày thứ 9:

Thế là suốt trong thời gian ở đây, thời gian nào rảnh, dù có 5 phút hay 15 phút, tôi cũng cầm những cuốn sách khai thị và nghiến ngấu đọc, như trước đây chừa từng được đọc. Tôi bỗng trân quý thời gian vô cùng, như lời H.T dạy: (Một phút thời gian, một tấc vàng, Vàng sao mua đặng phút thời gian?)

H.T Tuyên Hóa khai thị:

“Đại địa xuân hồi bách vật sinh

Ngày thứ 10:

H.T Tuyên Hóa khai thị:

“Thập phương đồng tụ hội Giai kỳ học vô vi Thử thị tuyển Phật trường Tâm không cập đệ quy.

Nghĩa là:

Tới lúc đó thì tự tại vô cùng, tự khắc sẽ biết bổn lai diện mục là như thế nào. Tuy nhiên, tới được cảnh giới đó chẳng phải dễ dàng. Bởi vậy mới cần phải gắng sức nhẫn chịu, chịu đựng mọi thống khổ, mọi sựgian nan. Như quả qua được cửa ải này thì sẽ gặp một sự thống khoái: “Chính là ăn bằng niềm vuithiền duyệt, và sống trong pháp hỷ.”

Ngày thứ 11:

Đời sống và trí tuệ trong tu hành cho tôi thấy rõ được sự thật và bản chất của cuộc đời. Đôi khi vạch trần nó ra để soi rọi và quán chiếu, ta thấy được tất cả sự trần trụi, ô trược và khổ đau của chúng sinh làm sao! Cái khổ đau của việc nhận giả làm thật, lấy dơ làm sạch, lấy phải làm quấy, lấy khổ làm vui, nên ngàiTuyên Hóa cũng nói rằng: “Chúng sinh khi sinh ra đã hồ đồ, sống hồ đồ, cả một cuộc đời hồ đồ và khi chết đi cũng hồ đồ.”

H.T Tuyên Hóa khai thị:

Ngày thứ 12:

H.T Khai thị: Ngày thứ 13: H.T Tuyên Hóa khai thị: Đi đứng nằm ngồi Không lìa bỏ nó Lìa bỏ cái đó Tức thành lầm lỗi. Mọi sự qua suông sẻ Khó xả duy nổi nóng Nếu quả không tức giận Đó là hòn ngọc quý Lại không biết hận người Sự việc đều trôi chẩy Phiền não chẳng hề sanh Lấy đâu tạo oan nghiệt? Thường chỉ rặt trách người Khổ đau chuốc mãi mãi.

Dụng công nơi Thiền đường, ta phải ghi nhớ hai câu sau:

Ma-ha-tát, chẳng lý tới kẻ khác Di-đà Phật, ai nấy tự lo lấy! Không bàn lỗi người khác Lỗi người tức lỗi ta

Ngày thứ 14:

H.T dạy:

Thầy Duy-na thưa:

“Bạch Ngài, Ngài đuổi tôi thì được rồi, song tôi muốn xin Ngài một việc, mong Ngài thuận cho.”

Vị Phương-trượng hỏi: “Thầy sắp ra đi, còn muốn yêu cầu gì nữa?”

Thầy Duy-na lại hỏi Phương-trượng: “Thưa Ngài, tôi nên đi về đâu?”

“Đề khởi được” cái gì? Đề khởi được câu “Niệm Phật là ai?”

Ngày thứ 15:

H.T khai thị:

Lão Tử nói rằng:

“Quân tử hữu tạo mệnh chi học, Mệnh do ngã lập, Phước tự kỷ cầu. Họa, phước vô môn, Duy nhân tự chiêu.”

Nghiã là:

“Quân tử có cái học tạo mệnh, Mệnh do mình lập, Phước do mình cầu. Phước với họa chẳng có cửa, Chỉ do mình tự chiêu cảm lấy.”

Ngày thứ 16:

Tôi được biết là những khóa thiền thất sau này (khi không còn H.T nữa) thì đã được điều chỉnh lại thời gian, bởi vì nếu gắt quá thì sẽ khó có nhiều được có đủ khả năng, thời gian, căn cơ mà tham dự. Khi H.T còn sống, có khóa thiền thất lên đến 100 ngày, và thời gian dụng công lên đến 21 tiếng mỗi ngày. Chúng ta hãy đọc một đoạn sau đây về H.T Tuyên Hóa khai thị: “Yếu học hảo, oan nghiệt trảo, Yếu thành Phật, tiên thọ ma.” Một Trăm Ngày Thiền Thất “Muốn học tốt, oan nghiệt tìm, Muốn thành Phật, trước gặp ma.” “Dục cùng thiên lý mục, Cánh thượng nhất tằng lâu. (Muốn thấy tận cùng ngàn dặm, Phải bước lên thêm một tầng lầu.) trong tập khai thị: H.T Tuyên Hóa khai thị: “Kỳ tấn duệ giả, kỳ thối tốc”

Dịch là:

“Tiến càng nhanh, thì lùi cũng rất mau.” “Nhất nhật vô quá khả cải, Tức nhất nhật vô công khả tạo”.

Ngày thứ 17:

“Một ngày chẳng sửa lỗi lầm, Là một ngày chẳng tạo công đức.”

Nghĩa là:

H.T Tuyên Hóa khai thị: “Thực, sắc tánh dã.” “Bão noãn tư dâm dục, Cơ hàn khởi đạo tâm.” Đói lạnh mới khởi lòng trộm cắp.)

Nghĩa là:

H.T Tuyên Hóa khai thị: “Dưỡng thành đại chuyết phương vi xảo, Học đáo như ngu thủy kiến kỳ.”

Ngày thứ 18:

“Dưỡng tâm như dại là tuyệt xảo, Học tới như ngây mới diệu kỳ.” Ma Ha Tát, bất quản tha, Di Đà Phật, các cố các. A Di Đà Phật, ai lo chuyện nấy!) Vạn duyên phóng hạ, (Buông xả mọi chuyện, Một niệm không khởi.)

Ngày thứ 19:

H.T Tuyên Hóa khai thị: Nhẫn phiến khắc, phong bình lãng tĩnh, Thối nhất bộ, hải khoát thiên không. (Nhẫn một chút, gió êm sóng lặng, Lùi một bước, biển rộng trời cao.)

Dịch là:

Bị mao đái giác hoàn! (Một hạt cơm thí chủ, Nặng như núi Tu Di, Ăn rồi không tu hành, Mang lông, đội sừng trả!) Nhất sám tiện tiêu. (Tội lỗi dẫu lớn đầy trời,

Ngày thứ 20:

Thiện ác lưỡng điều đạo, Tu đích tu, tạo đích tạo. Tu thì tu, tạo vẫn tạo.) KHÓA TU CHẤM DỨT.

Ngày thứ 21:

Bởi vậy:

Họ muốn nói đạo lý với tôi, nhưng lại không dám công khai. Họ bèn đi thỉnh giáo vị đoàn trưởng kiêm cố vấn của họ là Pháp Sư Đạt Ma Nan Đà. Pháp Sư Đạt Ma Nan Đà sau khi nghe chuyện, Pháp Sư bènquở trách họ:

Thấy vị cố vấn của họ phản ứng như thế, họ mới không đến tranh cãi với tôi.

Về nhà, Ngài thưa hỏi thân mẫu, bà dạy :

Ngài lại thưa : Như vậy, có cách gì thoát khỏi sự chết chăng?”

Bấy giờ trong nhà có vị khách xưa kia từng tu Đạo, đỡ lời đáp rằng:

Tuyên Quy diệu nghĩa chấn gia thanh, Hóa thừa Linh nhạc Pháp Đạo long, Độ dĩ tứ lục truyền tâm ấn, Luân triền vô hưu tế khổ luân.

Ngày lại ngày, Ngài cung kính phụng dưỡng song thân như đối với Đức Phật vậỵ Chẳng bao lâu tiếnghiếu thảo đồn khắp bốn phương, và mọi người đều gọi Ngài là Bạch Hiếu Tử (người con chí hiếu họ Bạch).

Vừa nhìn thấy Ngài, Lão Hòa Thượng, lúc ấy đã 109 tuổi, liền nhận ra ngay sự chứng ngộ của Ngài. Khi đó, Lão Hòa Thượng nói :“Như thị, như thị!” và Ngài cũng đáp lại “Như thị, như thị !” Biết Ngài là bậc ‘pháp khí’, Lão Hòa Thượng Hư Vân ấn chứng sở đắc của Ngài, và Ngài chính thức trở thành vị tổ thứ chín củaThiền Tông Quy Ngưỡng. Lão Hòa Thượng Hư Vân đã bày tỏ sự tin tưởng vào Ngài qua bài kệ:

(2) Phiên dịch kinh điển Phật Giáo, và

Vốn nuôi chí nguyện đem Chánh Pháp truyền bá đến khắp nơi trên toàn thế giới, nên năm 1961, Ngài sang Úc Châu hoằng Pháp; và năm sau, 1962, Ngài đến San Francisco, Hoa Kỳ. Tại đây, nơi một nhà kho nhỏ, Ngài kiên trì tu hành trong im lặng, chờ đợi cơ duyên hoằng dương Đạo Pháp chín muồi. Lúc ấy, Ngài tự gọi mình là Mộ Trung Tăng (nhà sư trong phần mộ), và Hoạt Tử Nhân (người đã chết nhưng còn sống).

Năm 1968, biết cơ duyên đã đến, Ngài nói: “Một đóa hoa sẽ nở ra năm cánh.” Mùa hè năm ấy, Ngài chủtrì Pháp hội giảng Kinh Lăng Nghiêm trong 96 ngày. Khi Pháp hội kết thúc, quả nhiên có năm người Mỹ xin xuất gia với Ngài. Từ đó, Ngài chủ trì nhiều Pháp hội khác giảng giải Tâm Kinh, Kinh Địa Tạng, Kinh Pháp Hoa, Kinh Pháp Bảo Đàn, v.v… Năm 1971, Ngài giảng bộ Kinh tối cao của Đại Thừa, Kinh Hoa Nghiêm .

Vâng theo di huấn của Ngài, tứ chúng đệ tử tại các đạo tràng thuộc Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới đềuchuyên tâm trì tụng Kinh Hoa Nghiêm và niệm Phật suốt 49 ngày kể từ hôm Ngài viên tịch. Ngày 12 tháng 6, 1995, Lễ Nhập Quan được cử hành tại Long Beach Thánh Tự; và đến ngày 16 tháng 6, kim quan của Ngài được cung thỉnh về Vạn Phật Thánh Thành. Tại đây, Đại Lễ Truy Ân được tổ chức từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 7. Và sau Thánh Lễ Trà Tỳ, ngày 29 tháng 7, tro cốt của Ngài được rải trên địa phận của Vạn Phật Thánh Thành đúng như lời di giáo của Ngài:

Chánh Pháp “Quý vị thành thật tu hành, không ham hư danh giả lợi, không tham của cúng dường -đó chính làChánh Pháp trụ thế. Nếu mọi người xuất gia đều có thể giữ giới không đụng đến tiền bạc (ngân tiền giới), đều có thể ngồi Thiền, có thể ngày ăn một bữa lúc giữa trưa, có thể luôn luôn mặc giới y và nghiêm trì giới luật, thì đó là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!”

H.T Tuyên Hóa

Ngày 23 tháng 6 năm 1996, đúng một năm sau ngày Hòa ThượngTuyên Hóa nhập Niết Bàn, Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới long trọngtổ chức Lễ Cung Thỉnh Xá Lợi Hòa Thượng Về Các Đạo Tràng Chi Nhánh. Hòa Thượng Tuyên Hóa đã vĩnh viễn ra đi, nhưng trong tâm trí mọi người vẫn âm vang lời di huấn của Ngài: “Hãy quét sạch tất cả các Pháp, ly khai tất cả các tướng !”

“Nếu quý vị có thể không tranh, không tham, không cầu, khôngích kỷ, không tự lợi, và không nói dối, thì đó chính là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!”.

Như vậy, thế nào là thời kỳ Mạt Pháp? Trong quyển 5 của Pháp Hoa Nghĩa Sớ có chép: “Khi “Pháp” trở thành suy vi, đó gọi là thời Mạt Pháp.”

Trong quyển 6, chương Nghĩa Lâm của Đại Thừa Pháp Uyển có nói: “Chỉ có giáo pháp mà không có gì khác thì gọi là Mạt Pháp.”

Tuy nhiên, sự mô tả chân chánh tường tận về thuyết Mạt Pháp được xuất hiện trong phần Nguyệt Tạng của Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập, và trong Kinh Pháp Diệt Tận.

Về sau, thuyết Mạt Pháp xuất hiện dưới triều đại Bắc Tề (550-377 SCN), trong bài văn phát nguyện củaThiền Sư Huệ Tư ở Nam Nhạc (). Thiền Sư Huệ Tư đã tự ghi lại là ngài sanh vào năm thứ 82 của thời Mạt Pháp và đã chép lại toàn bộ Kinh Bát Nhã cùng nhiều bản văn khác. Ngài đã nguyện sẽ truyền Pháp cho đến khi Bồ Tát Di Lặc đến thế gian này.

Nói chung, cho dù thời kỳ Mạt Pháp nhất định có xảy đến chăng nữa, thì trong quyển 49 của Thập Tụng Luật , Đức Phật cũng đã nêu ra năm điều có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.

Năm điều này là:

1. . Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo chỉ dựa vào giáo pháp chân chánh màtiến tu, xa lánh cái nhìn lệch lạc (thiên kiến) của Tiểu Thừa cùng các tà thuyết của ngoại đạo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.

3. Kính Sư Thượng Tòa (tôn kính phụng sự các bậc trưởng thượng). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo tôn kính và phục tòng các vị đại đức ở hàng thượng tọa và chuyên cần cầu học yếu nghĩa Phật Pháp từ họ; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.

“Phật Pháp chưa diệt, Tăng tự diệt, Thành thật chân chánh, bị chế giễu, Gian ngoa xảo trá, được tán dương.

Mặc dầu Đức Phật nhiều lần đề cập đến sự hủy diệt của Phật Pháp, tuy nhiên Đức Phật cũng có ý khắc phục sự hủy diệt của Chánh Pháp. Như trong Kinh Niết Bàn có chép:

Hòa Thượng đã cảm khái rằng:

“Tôi muốn nói lời thật, Không sợ bị đánh, chửi. Giết tôi, tôi chẳng sợ, Giải thoát, có gì ngại?”

Phật Giáo có câu: “Thà cả ngàn năm chẳng vãng sanh, còn hơn một ngày trong ma đạo “. Nếu chúng ta thiếu Trạch Pháp Nhãn của “Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối” (trong Kinh Lăng Nghiêm ) e rằng chúng ta có thể trở thành quyến thuộc của loài ma mà chính mình lại không hay không biết!

Để có thể phân biệt chánh tà, ngài dạy ta nên quán xét về bảy điểm như sau:

Hòa Thượng Hư Vân đã nói:

Trong kinh có nói rằng những biểu hiện suy tàn của thời kỳ Mạt Pháp có thể nhận thấy ở khắp nơi – như việc Tăng sĩ cưới vợ, ni cô lấy chồng, giới y cà-sa được thay bằng y phục thế tục, cư sĩ ngồi trên tòa cao, v.v … Có cư sĩ Âu Dương Cánh Vô đã dùng tri kiến riêng của mình mà viết ra Lăng Nghiêm Bách Ngụy Thuyết để phản đối Kinh Lăng Nghiêm .

Lại có Pháp Sư Viễn Tham tuyên bố rằng Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Viên Giác, Kinh Pháp Hoa và nhiều bộ kinh khác, cũng như Đại Thừa Khởi Tín Luận đều là giả mạo. Ở Việt Nam mình thì có T.T Nhật Từ cũngthường xuyên giảng dạy cho chư Tăng Ni và Phật tử (youtube: Kinh Lăng Nghiêm. TNT) rằng, kinh Lăng Nghiêm, kinh Địa Tạng là ngụy tạo do chư tổ Trung Hoa lập ra chứ không phải do Phật thuyết, hoặc là chỉ có 5 cõi chứ không có 6 cõi luân hồi, không có địa ngục.v.v…Người tu hành hoặc một vị giảng sưchân chính khi thuyết giảng điều gì phải y theo Kinh, Luật và Luận, ba tạng giáo điển của chư Phật và chư tổ sư truyền lại để xác lập. Không thể y cứ vào các luận án tiến sĩ của giáo sư này, giáo sư nọ hoặc các tài liệu nghiên cứu từ đại học này, đại học kia, hoặc cũng không thể y cứ kiến thức, tri thức thế gianđể chứng minh Phật giáo và các cảnh giới trong luân hồi là có hay không có. Người xuất gia không khéotu hành, thuyết giảng khắp nơi mà lại tùy tiện diễn giảng theo tư kiến của mình thì sẽ đắc tội với chư Phật, chư tổ. Đây cũng chính là những hiện tượng của thời kỳ Mạt Pháp vậy.

“Trong Phật Giáo, tất cả kinh điển đều rất quan trọng, nhưng Kinh Lăng Nghiêm còn quan trọng hơn nữa. Với ngài thì nơi nào có Kinh Lăng Nghiêm , thì nơi đó có Chánh Pháp trụ thế. Khi Kinh Lăng Nghiêm bị mất đi, đó là dấu hiệu của thời kỳ Mạt Pháp. Khi giảng Kinh Lăng Nghiêm , ngài có nói rằng: ‘Vào thời kỳ Mạt Pháp, Kinh Lăng Nghiêm sẽ bị diệt trước nhất. Sau đó dần dần các kinh khác cũng bị diệt theo.’

Này Ca Diếp! Những người hộ trì Chánh Pháp được quả báo công đức vô lượng như thế. Do nhân duyên hộ trì Chánh Pháp này, mà nay Ta được tướng hảo trang nghiêm và thành tựu được Pháp thân kim cang bất hoại.”

Kinh Lăng Nghiêm là chân thân của Phật, là xá-lợi của Phật, là tháp miếu thờ Phật. H.T nói rằng, nếu Kinh Lăng Nghiêm là ngụy tạo, thì tôi sẵn sàng chịu đọa địa ngục Vô Gián, vĩnh viễn ở chốn địa ngục, không bao giờ được trở lại thế gian để gặp mọi người nữa! Người nào có thể học thuộc Kinh Lăng Nghiêm , học thuộc Chú Lăng Nghiêm, thì người đó chính là đệ tử chân chánh của Phật!”

Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tôn Giả Ca Diếp rằng:

Nếu không còn ai tu hành, không có người nào đọc, tụng, và học thuộc Kinh Lăng Nghiêm, thì đó là thời kỳ Mạt Pháp. Bởi trong Kinh Lăng Nghiêm , có phần “Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối” giảng về sát sanh(sát), trộm cắp (đạo), dâm dục (dâm), dối trá (vọng); với phần “Ngũ Thập Ấm Ma” giảng về thiên ma,ngoại đạo cặn kẽ đến tận xương tuỷ; và cả hai phần này đều nói rất rõ ràng rằng khi nào không còn người giữ giới, thì khi đó là thời kỳ Mạt Pháp. Giới còn, tức là Phật Pháp còn vậy!

Ăn Ngày Một Bữa Và Luôn Mặc Y Giới

Vì sao lại như thế? Hòa Thượng giải thích rằng:

Cái nhìn của Hòa Thượng về việc kiến tạo chùa chiền như sau:

Và, có câu thành ngữ Trung Hoa nói rằng: “Đồ ăn uống sanh ra nam nữ.” Điều này chứng minh rằngdâm dục là từ sự ẩm thực quá lượng mà ra. Và nếu đó là việc “ăn phi thời,” thì đó là vấn đề phá giới.

“1. Ít dục vọng (thiểu dâm); 2. Ít ngủ (thiểu thùy);

Không ăn phi thời là hạnh nguyện mà người xuất gia phải giữ và là điều kiện tiên quyết của việc cạo đầuxuất gia. Hơn nữa, trong Bát Quan Trai Giới của người tại gia cũng có bao gồm giới “không ăn phi thời”. Do đó đây là vấn đề giới luật có được nghiêm trì hay không. Ngoại trừ khi bị bệnh, không có lý luận nào có thể chấp nhận được.

Thêm nữa, trong Kinh Xứ Xứ có liệt kê năm loại phước đức có được do không ăn sau giờ ngọ:

Từ đó chúng ta có thể thấy rằng không ăn sau giờ ngọ thì có thể được phước. Ngoài ra trong Luận Đại Tỳ-Bà-Sa cũng cho rằng:

Trong Kinh Trường Trảo Phạm Chí Thỉnh Vấn có nói:

“Dược thạch (nghĩa thường: thuốc và đá) là thứ dùng để chữa bệnh. Người xưa dùng đá làm kim châm, ngày nay thì người ta dùng sắt. Tất cả đều nhằm mục đích chữa bệnh.”

Trong Kinh Tỳ-Ni Tam Muội có giải thích như sau:

Về ý nghĩa của chữ “dược thạch,” trong quyển 18 của Huyền Ưng Âm Nghĩa có chép:

Trong quyển một của Phật Đình Sự Uyển, Phần La-Hán Dược Thạch, có nói rằng:

Trong Thiền Lâm Tượng Khí, Phần Ẩm Đạm Môn, có nói như sau về dược thạch:

Từ đó có thể thấy rằng danh từ “dược thạch” (thuốc) chỉ là một tên khác để chỉ “bữa ăn tối” được Phật Giáo Trung Hoa phát minh ra mà thôi!.

“Đúng sai cần gì cãi, Thật giả lâu tự biết, Kẻ trí thấy chân thật, Kẻ ngu hành giả dối, Kẻ tốt học Bồ tát, Kẻ xấu dám mắng Phật,

Nói chung, mặc dầu Đức Phật, Đấng Thế Tôn, đã loại bỏ một số giới điều nhỏ trước khi nhập Niết Bàn, nhưng giới không ăn phi thời thì không bỏ được. Quyển 15 của Kinh Tạp A Hàm nói rằng:

Kinh Đại Bi có chép rằng:

Các kinh sách Hòa Thượng đã giảng trong suốt cuộc đờicủa Ngài được liệt kê tổng quát như sau: Kinh Lục Tổ, Kinh Địa Tạng, Kinh A Di Đà, Kinh Bốn Mươi Hai Chương, Bách Pháp Minh Môn Luận, Kinh Di Giáo, Chứng Đạo Ca của Đại Sư Huyền Giác— tất cả có hơn 30 loại khác nhau. Ngoài ra Hòa Thượng còn giải thích về hai lãnh vực triết học của Trung Hoa: và . Trong tất cả những kinh sách này có ba tác phẩm rất đặc biệt, ít có người giảng giải, đó là: Lăng Nghiêm Chú Cú KệSơ Giải, Thủy Kính Hồi Thiên Lục, và Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải (chân dung của chư Tổ Phật Giáo qua lờigiải thích bằng ngôn ngữ dễ hiểu của thời đại ngày nay).

Loạt bài thuyết giảng Lăng Nghiêm Chú Cú Kệ Sơ Giải kéo dài tám năm, từ 1979 đến 1987. Trong suốtlịch sử Phật Giáo, bài chú này hiếm khi được giải thích. Chỉ có Đại Sư Tục Pháp của triều nhà Thanh và Pháp SưBá Đình ở Từ Vân Tự tại Vũ Lâm là từng giảng giải chú này. Pháp Sư Bá Đìnhnghiên cứu Mật Bộ và trước tác bộ Lăng Nghiêm KinhQuán Đảnh Sớ gồm hai mươi sáu quyển, dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Hoa, và sau đó giải thích chi tiết về mật chú này.

Trong Kinh và Chú của Phật Giáo, có “năm loại không phiên dịch” (ngũ chủng bất phiên) bởi vì ngôn ngữbí mật của chư Phật khó cho hầu hết các vị thánh khác hiểu được, chứ đừng nói đến người thường. Mặc dầu theo thông lệ là không dịch các bài chú trong kinh, tuy nhiên người ta có nhiều ý kiến khác nhau vềvấn đề này. Một số người nghĩ rằng việc dịch ý nghĩa của các bài chú có thể mang lại hai mươi bốn loạilợi ích. Vì vậy, khi Hòa Thượng có được bản Lăng Nghiêm Chú Sớ vào năm Dân Quốc thứ 38 (1949), Ngài đã ghi lại:

“Ảo diệu vô cùng thật khó sánh, Trong Chú Lăng Nghiêm đủ hiệu năng “Là Vua Kiên Cố trong các định Thanh tịnh các nghiệp thân, khẩu, ý Đủ đức được gặp câu linh diệu, Luôn luôn đừng quên việc xiển dương.”

Ngài cũng nói:

“Chúng sanh khi tập điều thiện, dù được nắm tay đối mặt, ba lần răn năm lần dạy, vẫn chưa chịuphụng hành; nhưng khi gặp ác duyên thì niệm niệm liền tăng trưởng, tự biết rành rẽ mà chẳng cần ai vẽ bày. Những kẻ lầm đường lạc lối mà biết quay lại, thật ít lắm thay! Do đó, mọi sự giống như ánh trăng đáy nước và bóng hoa trong gương–chỉ có dáng dấp mà thật không hình hài. Đây chính gọi là sự hy vọng việc không thể hy vọng, sự thành tựu việc không thể thành tựu. Bởi lẽ đó nên viết Gương, Nước Về Trời (Thủy Kính Hồi Thiên) vậy”.

Có thể nói rằng Thủy Kính Hồi Thiên Lục chính là ‘nhất mạch tâm truyền’ từ Xuân Thu Bút Sử, và cũng là sách ghi chép về nhân quả sống động, rõ rệt nhất của đời nay. Trong tác phẩm này, trước tiên, Hòa Thượng giới thiệu sơ lược về cuộc đời của mỗi nhân vật, rồi dùng tám câu thơ bốn chữ (bát cú tứ ngôn) để ca ngợi, và sau đó kết thúc bằng một bài thơ “hựu thuyết kệ viết” (lại nói kệ rằng) theo thể thất ngôn. Bộ sách này xứng đáng để xem đi xem lại, có thể giúp người đời hiểu biết về luật nhân quả, xét chuyện đã qua mà biết chuyện sẽ đến, và đoạn ác tu thiện.

Trong bài tựa sách, Hòa Thượng đã viết :

“Thầy gởi cho con bộ Phật Tổ Đạo Ảnh mà Thầy đã hiệu đính trong nhiều năm gần đây. Hãy đọc, và lưu giữ bộ sách này, và Thầy hy vọng con sẽ được lợi ích cho mình, làm lợi ích cho người và trân quý Đạo.” “Con là đệ tử đã thiết tha quan tâm đến Phật Pháp và sự tiếp nối huệ mạng của chư Phật Tổ. Naythuận theo hạnh nguyện của con, Thầy gởi cho con văn bản Phật Tổ Nguyên Lưu để kế thừaTổ mạch, với kỳ vọng Tổ Đạo nhờ đó mà được trùng hưng, sự truyền thừa này sẽ bất tận.”

Bây giờ chúng tôi xin giới thiệu Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải (Chân Dung Các Vị Tổ Phật Giáo Giải Thích Bằng Bạch Thoại). Đây là công trình do Hòa Thượng giảng giải trong mười ba năm, trải dài từ năm 1972 đến năm 1985, tổng cộng 346 tiêu đề. Những nhân vật quan trọng được giới thiệu trong này như sau: Từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi “niêm hoa vi tiếu”, giơ cánh hoa trên tay và mỉm cười truyền pháp cho Tôn Giả Ca Diếp; rồi Tôn Giả Ca Diếp truyền cho Nhị Tổ là Tôn Giả A Nan, và tiếp tục như vậy cho đến vị tổ thứ hai mươi tám là Thiền Sư Bồ Đề Đạt Ma, mới là người chính thức mang pháp Thiền sang nước Trung Hoa và trở thành Sơ Tổ ở đất nước này (Đông Độ Sơ Tổ).

Thật ra, việc Hòa Thượng giảng thuật bộ sách Phật Tổ Đạo Ảnh là do một đại nhân duyên. Vào năm 1958, Lão Hòa Thượng Hư Vân gởi bộ sách này cho Hòa Thượng [Tuyên Hóa] cùng với bức thư trong đó nói rằng:

Hòa Thượng có lời thệ nguyện rằng: “Chỉ cần tôi còn một hơi thở, thì tôi còn giảng kinh thuyết pháp!”; cho nên, Hòa Thượng trước thuật rất nhiều. Thêm vào đó, Hòa Thượng còn nguyện “; điều này có thể nói là công đức vô lượng vô biên.Trước mắt, Tổng Hội Pháp Giới Phật Giáo đã phiên dịch được hơn một trăm bộ kinh Phật và sách khai thị. Sau khi Hòa Thượng viên tịch, công tác phiên dịch kinh điển không hề bị gián đoạn, chư đệ tử của Ngài vẫn tiếp tục lãnh đạo chúng sanh, dẫn dắt họ từ trong bóng đêm tăm tối đến nơi quang minh sáng sủa, từ bờ bên này sang đến cứu cánh Niết Bàn ở bờ bên kia !

Thủy Kính Hồi Thiên Lục

Suốt cuộc đời, Hòa Thượng dùng Sáu Đại Tông Chỉ: để giáo hóa chúng sanh (thật ra đây chính là Năm Giới). Nhiều Phật tử không xem trọng những tông chỉ này, cho rằng ngay cả đứa trẻ lên ba cũng có thể nói ra được. Như vậy còn cần nói thêm gì nữa ? Tuy nhiên, tôi không biết Hòa Thượng đã nói bao nhiêu lần:

Phải chăng Lão Tử từng nói:

Tranh là tâm hơn thua, Đi ngược lại với Đạo, Tâm sanh ra bốn tướng, Làm sao được Tam muội.? Việc việc buông thì dễ, Tánh nóng khó sửa đổi. Thật sự không nóng giận, Tức có ngọc vô giá. Lại không buộc lỗi người, Mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Phiền não không khởi nữa, Sân hận không kiếm ta. Thường luôn tìm lỗi người, Khổ mình không thể dứt.

Lão Tử còn nói:

Không bàn luận lỗi người, Lỗi người là lỗi mình,

Hết thảy là khảo nghiệm, Coi thử mình ra sao, Đối cảnh lầm không biết, Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng cũng từng nói:

Tu hành, về căn bản thì rất đơn giản: “Đạo có sẵn ngay đó, đừng tìm cầu đâu xa.”Nhưng người ta luôn luôn tìm con đường tắt; họ chạy loanh quanh tìm “mật pháp” để tu hành. Điều này thật sự làm chocon người càng hồ đồ thêm. Chúng ta không nhận thức được rằng “sự bí mật nằm ngay bên cạnh chúng ta” hay sao? Nó nằm ngay trong việc theo đuổi dục vọng vật chất và chấp trước của tâmphân biệt; nó nằm ngay ở sự chế ngự nóng giận và từ chối nói dối. Đó là những “mật pháp” tức khắc; đó là Đạo!

TÓM LẠI.

Ngoài Sáu Đại Tông Chỉ, Hòa Thượng còn có hai bài thơ đáng được chúng ta tín thọ và phụng hành. Đó là:

Trong sách và các thánh nhân đã dạy chúng ta rằng: Sự hướng dẫn của Hòa Thượngcũng là quay trở lại và tìm trong chính mình.

Theo tôi biết, chưa có vị Thầy nào tự đánh mình vì đệ tử không hiếu thuận. Điều này thật vô cùng đau lòng. Hòa Thượng đã áp dụng đạo lý “lỗi người là lỗi mình; đồng thể tức Đại Bi”, có thể nhìn là thấy ngay. Điều này đã được mô tả trong Phẩm 25 của Kinh Hoa Nghiêm:

Một ngày mùa đông tháng 2 tại Đức quốc.

Khai thị 1,2,3,4,5,6.

Vạn Phật Thánh Thành website: http://www.chuavanphat.org

【#10】Kinh Nghiệm Khi Nhận Bàn Giao Nhà Chung Cư Không Sót Một Điểm Nào!

Kinh nghiệm khi nhận bàn giao nhà chung cư không phải ai cũng biết!

Để việc nhận bàn giao nhà chung cư không bị thiết sót, Homedy sẽ chia việc kiểm tra thành 2 phần gồm kiểm tra các điểm thuộc sở hữu chung (như hệ thống thang máy, hệ thống phòng cháy chữa cháy của tòa nhà) và kiểm tra các điểm thuộc sở hữu riêng (như phần nội thất, điện nước và phần thô của căn hộ).

Bất kể là chi tiết nhỏ nhất, khi nhận bàn giao bạn cũng cần phải hết sức lưu ý

Thứ nhất, kiểm tra phần thuộc sở hữu chung

– Kiểm tra thang máy của tòa nhà:

Với việc kiểm tra thang máy của tòa nhà, bạn cần kiểm tra xem quá trình đóng mở của cabin có đóng mở bình thường không, có quá nhanh hay quá chậm so với cảm quan cá nhân không.

Bên cạnh đó, lúc bấm thang lên xuống bạn chú ý xem thang máy di chuyển có đúng tầng và đúng sảnh hay không. Trên thực tế có rất nhiều người chủ quan trước điều này nhưng các chuyên gia cho rằng, vì thang máy mới đi vào hoạt động nên dù rất ít vẫn có những trường hợp nhầm tầng, nhầm sảnh. Để tránh khỏi những tai nạn hoặc bất tiện không đáng có, bạn đừng quên bỏ túi kinh nghiệm khi nhận bàn giao nhà chung cư này!

Kiểm tra chất lượng và số lượng điều hòa trước khi nhận bàn giao – Kiểm tra hộp phòng cháy chữa cháy của tòa nhà:

Với chi tiết này, việc đầu tiên bạn cần làm là thử chuông báo cháy để xem nó có đang hoạt động mình thường hay không. Bên cạnh chuông báo cháy chính là kiểm tra đầu phun nước phòng trường hợp có hỏa hoạn xảy ra và kiểm tra hộp cứu hỏa ở hành lang ở vị trí gần căn hộ mình nhất.

Thứ hai, kiểm tra phần thuộc sở hữu riêng trong kinh nghiệm khi nhận bàn giao nhà chung cư

Khi mua căn hộ chung cư, hầu hết mọi người ai nấy cũng đều háo hức mong chờ đến ngày nhận bàn giao từ phía chủ đầu tư. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm khi nhân bàn giao nhà chung cư, dù háo hức và mong chờ đến mấy bạn cũng đừng quên kiểm tra các phần quan trọng bao gồm nội thất, điện nước và phần thô của căn hộ.

– Hạng mục kiểm tra nội thất của căn hộ chung cư

Đối với phần nội thất căn hộ, bạn cần kiểm tra những hạng mục sau:

+ Các cánh tủ mở có dễ dàng, có bị lệch nhau hay không?

+ Các thiết bị có đầy đủ ổ cắm điện hay chưa?

+ Kiểm tra các ray trượt ngăn kéo xem có bị rỉ, trượt êm hay không để yêu cầu thay thế.

+ Các ổ khoá cửa ra vào có bị rỉ, kẹt, hỏng hay không.

+ Các thiết bị nếu có như bếp điện, bếp từ, thùng rác… có vấn đề gì về kỹ thuật hay hỏng hóc gì không.

+ Theo kinh nghiệm khi nhận bàn giao nhà chung cư, khi kiểm tra toàn bộ phần sàn gỗ của các phòng có bị ép, lún, phồng, ọp ẹp, sứt và có khe hở với len tường không, có bị rộp do thấm nước hay không.

+ Kiểm tra các cửa trượt có bị xước hay chân cửa trượt có bị lỗi hở trên dưới, không cân và bị vênh/lệch không.

+ Phần cửa các phòng, cửa sổ lắp có chuẩn chưa. Bản lề có bị vênh không? Tay nắm, ốc vít có bị hoen rỉ hay không?

+ Kiểm tra các nẹp, rèm cửa ra vào nhà vệ sinh có khít không, có hở không, nếu có yêu cầu xử lý.

– Hạng mục kiểm tra đường điện nước của chung cư:

+ Kiểm tra hệ thống điều hoà xem có chạy bình thường và ổn định không, cục nóng của máy có bị rò rỉ nước không, đường ống có bị nhô ra ngoài không.

+ Kiểm tra hệ thống đèn trần, đèn nhà bếp, đèn ban công, đèn vệ sinh, xem tất cả chúng có hoạt động tốt hay có bị nứt vỡ không.

+ Kiểm tra cẩn thận các ổ cắm điện xem chúng đã có nguồn điện chưa. Ngoài ra, bạn cũng nên kiểm tra số lượng các ổ cắm điện và có thể yêu cầu bố trí lại chúng hợp lý, phù hợp với nhu cầu sử dụng của gia đình.

+ Ở khu vực nhà vệ sinh, bạn nên kiểm tra kỹ hệ thống thoát sàn, xem có đảm bảo nước được thoát đi tốt không, nắp thoát sàn có gặp vấn đề gì không, đồng thời bạn phải đảm bảo khi dội nước thì phải thoát khô sàn không đọng nước.

+ Kiểm tra xem lực nước chảy yếu hay mạnh, nhất là lực nước từ vòi xịt vệ sinh.

+ Nếu căn hộ bạn được trang bị bình nóng lạnh thì phải kiểm tra ngay đường ống, và xem đường điện đã có dây mát chống giật chưa?

+ Kiểm tra các vòi hoa sen có bị rỉ nước không, nếu bị thì phải yêu cầu chủ đầu tư và nhà thầu thay thế ngay.

– Kiểm tra phần thô căn hộ chung cư

+ Tường nhà có bị nứt hay không, nếu nứt phải yêu cầu xử lý ngay tránh ngấm nước làm hỏng sơn tường.

+ Kiểm tra phần sơn tường, trần có bị bẩn, bị cào xước, sơn không phẳng hay không.

+ Kiểm tra các trần phòng có được xử lý phẳng hay không để yêu cầu sơn lại.

+ Trần và tường có màu sơn tương đồng, có lệch màu hay không.

+ Phần ban công nên kiểm tra có bẩn không, phần thoát nước có tốt không? Tránh nước tràn vào làm hỏng sàn gỗ.

+ Kiểm tra phần bàn đá của mặt bếp, đặc biệt là các căn hộ có tháp bếp, xem gạch ốp có bị sứt vỡ không, các viên gạch có thẳng hàng không, nếu có cho xử lý ngay.

Trước khi ký vào biên bản bàn giao, theo kinh nghiệm khi nhận bàn giao nhà chung cư cần lưu ý gì?

Trước khi ký vào biên bản bàn giao, bạn cần phải đo lại diện tích các phòng của căn hộ, từ đó tính được diện tích tổng của cả căn hộ. Đây là bước quan trọng mà hầu hết mọi người khi khi nhận bàn giao nhà chung cư thường bỏ quên hoặc sau khi ký nhận bàn giao chung cư rồi mới nhớ đến.

– Lưu ý đo diện tích nhà chung cư khi nhận bàn giao:

Trước hết, bạn nên đo theo các kích thước yêu cầu trên bản vẽ, sau đó chốt các số liệu với bên bàn giao. Bản vẽ nên được photo làm nhiều bản theo khổ A3 để thuận tiện cho việc đánh dấu các vị trí cần sửa chữa. Sau đó, hãy chuyển cho chủ đầu tư 1 bản đánh dấu toàn bộ những vị trí sai sót.

– Lưu ý khi chốt và ký nhận bàn giao căn hộ chung cư:

Thực tế, đã có nhiều trường hợp lợi dụng sơ hở của chủ nhà, nhà thầu đã tráo đổi các thiết bị bên trong căn hộ. Do đó, để tránh tình trạng này bạn cần thực hiện một số điều như sau:

– Đối với các loại khóa có mật khẩu, nên thay đổi lại mã khác.

– Tắt hết điện, nước, khóa các cửa ra vào, cửa phòng và ban công lại và yêu cầu bàn giao chìa khóa và các loại remote.

– Yêu cầu bàn giao các chỉ số đồng hồ điện, nước.

– Yêu cầu cung cấp cho bạn sơ đồ điện và ống nước để phòng trường hợp khoan trúng khi lắp đặt nội thất.

– Chỉ ký xác nhận biên bản bàn giao căn hộ chung cư nếu kiểm tra không phát hiện lỗi.

Trong trường hợp có sai sót, hãy ghi chú lại các thay đổi cần sửa chữa theo bảng: Thứ tự, các hạng mục theo nhà mẫu, theo hợp đồng, các hạng mục thực tế, yêu cầu và kiến nghị.