Văn Khấn Yên Vị Bát Hương

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thổ Công
  • Văn Khấn Xin Chuyển Ban Thờ Thần Tài
  • Bài Văn Khấn Xin Hóa Tỉa Chân Nhang Bát Hương Đầy Đủ, Chính Xác Nhất
  • Bài Cúng Cô Hồn, Văn Khấn Cô Hồn
  • Cách Cúng Đám Giỗ: Lễ Vật, Văn Khấn, Thời Gian
  • Lễ khấn yên vị bát hương theo phong tục cổ truyền của người Việt là vô cùng quan trọng. Đây là lễ cúng mà bất cứ người Việt nào cũng phải thực hiện ít nhất 1 lần trong đời. Dưới đây là văn khấn yên vị bát hương cho gia chủ thành tâm nguyện cầu xin sức khỏe bình an, tài lộc, vạn sự may mắn, làm ăn phát tài.

    Nghi thức sắm lễ yên vị bát hương

    Cốt bát hương gồm: 1 lá giấy ghi hiệu thổ công + vàng (tùy điều kiện gia đình như: nhẫn giả, tiền đài, tiền vàng, …)

    Nước vỏ bưởi, nước rượu gừng, hoặc ngũ vị hương.

    Tro hoặc cát trắng

    Hoa quả, nhanh thơm tùy tâm.

    Nghi thức tiến hành.

    Sái tịnh và thiết lô hương

    Sau khi lau qua bằng khăn giấy sạch bát hương mới được mua về, lấy khăn thấm rượu gừng lau cẩn thận bên trong và ngoài bát hương làm pháp chú Án Lam Xoa Ha (7 lần) vừa lau vừa đọc.

    Sau khi sái tịnh, đặt cốt bát hương vào và cho tro hoặc cát trắng phủ đầy bát hương

    Bài văn khấn yên vị bát hương chuẩn nhất

    Bài văn khấn Bái bạch thỉnh Thánh ứng lô hương

    “Con kính lạy Việt Nam Hoàng thiên hậu thổ

    Con kính lạy,Thổ Công, thổ địa tôn thần, sơn thần chúa đất, bản gia Đông trù tư mệnh táo phủ thần quân – Thổ địa long mạch tôn thần- Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần. thần tài tiền vị.

    Hôm nay ngày…tháng… Năm …… Gia chủ con là …………………sinh năm ………… hành canh … tuổi, thê ………….. sinh năm ………….. hành canh … tuổi, nam tử ….. sinh năm …. hành canh … tuổi, nữ tử…….ngụ tại ngôi gia số ………………………

    Hôm nay ngày lành tháng tốt đệ tử xin lập bát hương phụng thờ chư vị tôn thần hoàng thiên hậu thổ, thổ công chúa đất, thần tài, ngũ phương chi thần vị tiền,bản đông trù tư mệnh táo phủ thần quân, bản gia thổ địa long mạch tôn thần, bản gia ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần

    Tâm hương tấu thỉnh chư vị giáng lô nhang chứng tâm cho gia trung đệ tử, nhất một lòng, trung một dạ hương khói phụng thờ chư vị tôn thần, nguyện chư vị giáng phúc trừ tai độ âm độ dương, cho gia trung đệ tử ”

    Thỉnh Thánh ứng lô hương:

    Kính thỉnh bản gia táo phủ thần quân lai giám lô nhang (3 lần)

    Văn khấn An vị lô nhang, cầu an

    CHÚ ĐẠI BI (3 lần)

    Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần)

    Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.

    Nam-mô hắc ra đát na, đá ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô Yết-đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da. Ma-ha-tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam-mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da bà lô Yết-đế, thất Phật ra lăng đà bà.

    Nam-mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, câu lô câu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà la, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Ma mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta-bà ha, tất đà dạ ta-bà ha. Ma ha tất đà dạ ta-bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta-bà ha.

    Na ra cẩn trì ta-bà ha. Ma ra na ra ta-bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta-bà ha. Ta-bà ma ha, a tất đà dạ ta-bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta-bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta-bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ ta-bà ha. Ma bà rị thắng yết ra dạ, ta-bà ha. Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam-mô a rị da bà lô Yết-đế thước bàn ra dạ, ta-bà ha.

    Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ ta-bà ha. (3 lần)

    Lễ hoàn

    Sau 1 tuần hương, quan sát nếu thấy thông hương (3 nén đều cháy hết) thì là được, nếu không là chưa được. Nếu thông hương được rồi thì tạ lễ và nên thắp hương mỗi ngày liền đến 3 ngày hoặc 7 ngày hoặc 21 ngày hoặc 49 ngày hoặc 100 ngày v.v. (Tùy theo điều kiện). Có thể thắp hương vòng thông 24/24h hoặc mỗi ngày thắp 1 lần hương tùy điều kiện. Nếu hương cháy không hết thì sám hối chư vị tôn Thánh, thắp hương 1 lần nữa, đọc chú đại bi 3 lần và quan sát xem lần này đã thông hương chưa.

    Chỉ nên thử lại đến lần thứ 3, nếu qua 3 lần không được thì nên để dịp khác làm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cầu Duyên Ban Mẫu
  • Lễ Vật Cúng Xe Ô Tô Mới Mua Kèm Hướng Dẫn Cách Cúng Xe Ô Tô Mới Mua
  • Những Bài Văn Khấn Sáng Mùng 1 Tết Phổ Biến Nhất
  • Văn Khấn Thánh Sư
  • Nội Dung Văn Khấn Cúng Khai Trương Shop Quần Áo Được Sử Dụng Nhiều Nhất Hiện Nay
  • Văn Khấn Yên Vị Thần Tài

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Giao Thừa Trong Nhà
  • Văn Khấn Giao Thừa Trong Nhà 30 Tết Năm Canh Tý 2022
  • Văn Khấn Bao Sái Bát Hương Trong Những Dịp Cuối Năm
  • Văn Khấn Sửa Nhà Đầy Đủ
  • Văn Khấn Liệt Sỹ Tại Nhà Hoặc Nghĩa Trang Nhân Ngày 27/7
  • Văn Khấn Bán Nhà, Bài Khấn Phủ Dầy, Văn Khấn Đổ Mái, Văn Khấn Đức ông, Văn Khấn Em Bé Đỏ, Văn Khấn Giỗ, Văn Khấn Giỗ Bố, Bài Khấn Phá Dỡ Nhà, Văn Khấn Giỗ Cụ, Bài Khấn ông Táo, Văn Khấn Giỗ Đầu, Văn Khấn Hà Bá, Văn Khấn Hạ Bàn Thờ, Văn Khấn Hạ Lễ, Văn Khấn Hán Nôm, Văn Khấn Đền Phủ, Bài Khấn Phủ Tây Hồ, Văn Khấn Đền Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Ban Tam Bảo, Văn Khấn Cô 6, Văn Khấn Cô 9, Văn Khấn Cô Bơ, Bài Khấn Rằm Tại Nhà, Bài Khấn Rằm, Bài Khấn Ra Mộ, Văn Khấn Di Dời Mộ, Văn Khấn Dỗ, Văn Khấn Dỡ Nhà, Văn Khấn Dời Mộ, Văn Khấn Dọn Về Nhà Mới, Văn Khấn Đền, Văn Khấn Đền Mẫu, Bài Khấn ông Địa Thần Tài, Văn Khấn Khi Đi Đền, Văn Khấn Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Mẫu Mẹ âu Cơ, Văn Khấn Mở Cửa Mả, Bài Khấn Mở Cửa Mã, Bài Khấn Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Mẫu, Bài Khấn Lễ Tạ, Văn Khấn Nôm, Bài Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Văn Khấn ở Đền, Bài Khấn Lễ Đổ Mái Nhà, Bài Khấn Lễ Đền, Bài Khấn Lễ ăn Hỏi, Văn Khấn ô Địa, Văn Khấn Mẫu, Văn Khấn M 1, Văn Khấn Lễ Tạ Đất, Bài Khấn ở Yên Tử, Bài Khấn ở Phủ Tây Hồ, Bài Khấn ở Nhà, Văn Khấn Khi Đi Phủ Tây Hồ, Văn Khấn Khi Lễ Đền, Văn Khấn Lầu Cô Lầu Cậu, Bài Khấn ở Đền Mẫu, Bài Khấn ở Đền, Văn Khấn Lễ Mẫu, Văn Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Bài Khấn ở Ban Tam Bảo, Văn Khấn 2 ông Thần Tài, Bài Khấn Nôm, Văn Khấn Lễ Tạ, Bài Khấn Lễ, Đơn Xin Hỗ Trợ Khó Khăn, Văn Khấn 16, Văn Khấn 2, Văn Khấn 2 Tết, Văn Khấn 2/16, Văn Khấn 23, Con Quý Vị Gặp Khó Khăn Khi Đọc?, Văn Khấn 27/7, Các Bài Khấn âm Hán, Ca Sĩ Văn Khấn, Văn Khấn 3 Tết, Bài Văn Khấn Tẩy Uế, Văn Khấn 3.3, Văn Khấn 3/3, Văn Khấn 3/3 Tại Mộ, Văn Khấn 15/8, Văn Khấn 15 Rằm, Văn Khấn 15, Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Đơn Kêu Cứu Khẩn Cấp, Mẫu Đơn Tố Cáo Khẩn Cấp, Mẫu Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Từ Văn Bản Lao Xao Của Duy Khán, Văn Khấn, Văn Khấn 01 Tết, Văn Khấn 03/03, Văn Khấn 1, Văn Khấn 1 Tết, Văn Khấn 1/7 âm, Văn Khấn 1/8, Văn Khấn An Vị Thần Tài Thổ Địa, Văn Khấn 12 Bà Mụ, Văn Khấn 30 Tết, Bài Khấn Yên Tử,

    Văn Khấn Bán Nhà, Bài Khấn Phủ Dầy, Văn Khấn Đổ Mái, Văn Khấn Đức ông, Văn Khấn Em Bé Đỏ, Văn Khấn Giỗ, Văn Khấn Giỗ Bố, Bài Khấn Phá Dỡ Nhà, Văn Khấn Giỗ Cụ, Bài Khấn ông Táo, Văn Khấn Giỗ Đầu, Văn Khấn Hà Bá, Văn Khấn Hạ Bàn Thờ, Văn Khấn Hạ Lễ, Văn Khấn Hán Nôm, Văn Khấn Đền Phủ, Bài Khấn Phủ Tây Hồ, Văn Khấn Đền Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Ban Tam Bảo, Văn Khấn Cô 6, Văn Khấn Cô 9, Văn Khấn Cô Bơ, Bài Khấn Rằm Tại Nhà, Bài Khấn Rằm, Bài Khấn Ra Mộ, Văn Khấn Di Dời Mộ, Văn Khấn Dỗ, Văn Khấn Dỡ Nhà, Văn Khấn Dời Mộ, Văn Khấn Dọn Về Nhà Mới, Văn Khấn Đền, Văn Khấn Đền Mẫu, Bài Khấn ông Địa Thần Tài, Văn Khấn Khi Đi Đền, Văn Khấn Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Mẫu Mẹ âu Cơ, Văn Khấn Mở Cửa Mả, Bài Khấn Mở Cửa Mã, Bài Khấn Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Mẫu, Bài Khấn Lễ Tạ, Văn Khấn Nôm, Bài Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Văn Khấn ở Đền, Bài Khấn Lễ Đổ Mái Nhà, Bài Khấn Lễ Đền, Bài Khấn Lễ ăn Hỏi, Văn Khấn ô Địa, Văn Khấn Mẫu, Văn Khấn M 1,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn An Vị Lô Hương
  • Văn Khấn An Vị Bát Hương Tổ Tiên
  • Bài Văn Khấn An Vị Bát Hương Sau Khi Mới Chuyển Nhà
  • Tảo Mộ Cuối Năm: Nén Tâm Nhang Mời Tổ Tiên ‘về’ Ăn Tết
  • Bài Văn Khấn Về Nhà Mới Được Sử Dụng Phổ Biến Nhất Trong Dân Gian
  • Văn Khấn Yên Vị Bát Nhang

    --- Bài mới hơn ---

  • Nên Đặt Mâm Cơm Cúng Ông Công Ông Táo Ở Đâu?
  • Lễ Cúng Căn Cho Bé 6 Tuổi Với Mâm Cúng Và Văn Khấn Chuẩn
  • Chi Tiết Danh Sách Lễ Vật Cúng Nhập Trạch Gồm Những Gì
  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Giải Hạn Sao Vân Hớn Năm 2022
  • Cách Thờ Cúng Ông Địa Thần Tài Và Những Điều Cần Biết
  • Văn Khấn Yên Vị Bát Nhang, Thủ Tục Xin Rút Chân Nhang, Sổ Tay Về Cửa Hàng Nhang Đèn Tử Đằng, So Tay Gia Cong Co Tran Van Dich Luu Van Nhang Nguyen Thanh Mai, Danh Ba Dien Thoai Ngan Nhang Techcombank, Văn Khấn Đền Mẫu, Văn Khấn Đền Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Đền, Văn Khấn Dọn Về Nhà Mới, Văn Khấn Đền Phủ, Bài Khấn Phá Dỡ Nhà, Bài Khấn ông Táo, Văn Khấn Đổ Mái, Văn Khấn Bà Cô Tổ, Văn Khấn Đức ông, Văn Khấn Em Bé Đỏ, Văn Khấn Giỗ, Văn Khấn Giỗ Bố, Bài Khấn ông Địa Thần Tài, Văn Khấn Giỗ Cụ, Văn Khấn Dời Mộ, Bài Khấn Phủ Dầy, Văn Khấn Ban Mẫu, Văn Khấn Bán Nhà, Văn Khấn Ban Tam Bảo, Bài Khấn Rằm Tại Nhà, Bài Khấn Rằm, Văn Khấn Cô 6, Bài Khấn Ra Mộ, Văn Khấn Cô 9, Văn Khấn Cô Bơ, Văn Khấn Di Dời Mộ, Văn Khấn Dỗ, Văn Khấn Dỗ Bố, Bài Khấn Phủ Tây Hồ, Văn Khấn Dỡ Nhà, Văn Khấn Giỗ Đầu, Văn Khấn Hà Bá, Văn Khấn Lễ Tạ, Văn Khấn Lễ Tạ Đất, Văn Khấn M 1, Văn Khấn Mẫu, Văn Khấn Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Mẫu Mẹ âu Cơ, Bài Khấn Mở Cửa Mã, Bài Khấn Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Mẫu, Bài Khấn Lễ Tạ, Bài Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Lễ Đổ Mái Nhà, Bài Khấn Lễ Đền, Bài Khấn Lễ ăn Hỏi, Văn Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Lễ Mẫu, Bài Khấn ở Yên Tử, Bài Khấn ở Phủ Tây Hồ, Bài Khấn ở Nhà, Văn Khấn Hạ Bàn Thờ, Văn Khấn Hạ Lễ, Bài Khấn ở Đền Mẫu, Bài Khấn ở Đền, Văn Khấn Hán Nôm, Bài Khấn ở Ban Tam Bảo, Văn Khấn Khi Đi Đền, Bài Khấn Nôm, Văn Khấn Khi Đi Phủ Tây Hồ, Văn Khấn Khi Lễ Đền, Văn Khấn Lầu Cô Lầu Cậu, Bài Khấn Lễ, Đơn Xin Hỗ Trợ Khó Khăn, Văn Khấn 2, Văn Khấn 2 ông Thần Tài, Văn Khấn 2 Tết, Con Quý Vị Gặp Khó Khăn Khi Đọc?, Văn Khấn 2/16, Các Bài Khấn âm Hán, Ca Sĩ Văn Khấn, Bài Văn Khấn Tẩy Uế, Văn Khấn 23, Văn Khấn 27/7, Văn Khấn 3 Tết, Bài Khấn Yên Tử, Văn Khấn 3.3, Bài Khấn Xin Sửa Mộ, Văn Khấn 16, Văn Khấn 15 Rằm, Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Đơn Kêu Cứu Khẩn Cấp, Mẫu Đơn Tố Cáo Khẩn Cấp, Mẫu Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Từ Văn Bản Lao Xao Của Duy Khán, Văn Khấn, Văn Khấn 01 Tết, Văn Khấn 03/03, Văn Khấn 1, Văn Khấn 1 Tết, Văn Khấn 1/7 âm, Văn Khấn 1/8, Văn Khấn 12 Bà Mụ, Văn Khấn 15,

    Văn Khấn Yên Vị Bát Nhang, Thủ Tục Xin Rút Chân Nhang, Sổ Tay Về Cửa Hàng Nhang Đèn Tử Đằng, So Tay Gia Cong Co Tran Van Dich Luu Van Nhang Nguyen Thanh Mai, Danh Ba Dien Thoai Ngan Nhang Techcombank, Văn Khấn Đền Mẫu, Văn Khấn Đền Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Đền, Văn Khấn Dọn Về Nhà Mới, Văn Khấn Đền Phủ, Bài Khấn Phá Dỡ Nhà, Bài Khấn ông Táo, Văn Khấn Đổ Mái, Văn Khấn Bà Cô Tổ, Văn Khấn Đức ông, Văn Khấn Em Bé Đỏ, Văn Khấn Giỗ, Văn Khấn Giỗ Bố, Bài Khấn ông Địa Thần Tài, Văn Khấn Giỗ Cụ, Văn Khấn Dời Mộ, Bài Khấn Phủ Dầy, Văn Khấn Ban Mẫu, Văn Khấn Bán Nhà, Văn Khấn Ban Tam Bảo, Bài Khấn Rằm Tại Nhà, Bài Khấn Rằm, Văn Khấn Cô 6, Bài Khấn Ra Mộ, Văn Khấn Cô 9, Văn Khấn Cô Bơ, Văn Khấn Di Dời Mộ, Văn Khấn Dỗ, Văn Khấn Dỗ Bố, Bài Khấn Phủ Tây Hồ, Văn Khấn Dỡ Nhà, Văn Khấn Giỗ Đầu, Văn Khấn Hà Bá, Văn Khấn Lễ Tạ, Văn Khấn Lễ Tạ Đất, Văn Khấn M 1, Văn Khấn Mẫu, Văn Khấn Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Mẫu Mẹ âu Cơ, Bài Khấn Mở Cửa Mã, Bài Khấn Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Mẫu, Bài Khấn Lễ Tạ, Bài Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Lễ Đổ Mái Nhà,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuẩn Bị Mâm Lễ Cúng Ông Táo Gồm Những Gì?
  • Cách Sắp Xếp Bàn Thờ Cúng Ông Công Ông Táo Để Rước Tài Lộc Cho Năm Mới
  • Nghi Thức Sám Hối Oan Gia Trái Chủ
  • Mâm Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai Đầy Đủ Từ A
  • Văn Khấn Gia Tiên Đêm Giao Thừa Năm 2022 Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thần Tài

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Tạ Đất Cuối Năm: Chi Tiết Thời Gian Cúng, Sắm Lễ, Văn Khấn
  • [Taimienphi.vn] Bài Văn Cúng Tất Niên Ngoài Trời, Trong Nhà 2022
  • Văn Khấn Cúng Tạ Đất Đầu Năm 2022
  • Bài Văn Khấn Rước Ông Táo Về Nhà Đêm 30 Tết
  • Bài Cúng Giỗ Người Đã Khuất Như Thế Nào?
  • Văn Khấn Yên Vị Bát Hương, Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thần Tài, Văn Khấn An Vị Bát Hương, Bài Khấn Hạ Bát Hương, Bài Khấn Hồi Hướng, Bài Khấn Yên Vị Bát Hương, Văn Khấn An Vị Lô Hương, Bài Khấn An Vị Bát Hương Thần Tài, Văn Khấn Bốc Bát Hương Mới, Bài Khấn An Vị Bát Hương, Văn Khấn Di Chuyển Bát Hương, Bài Khấn An Vị Bát Hương Gia Tiên, Bài Khấn Dâng Hương, Bài Khấn Khi Đi Chùa Hương, Hướng Dẫn Viết Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thổ Công, Bài Khấn 100 Ngày Bát Hương, Bài Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương, Văn Khấn An Vị Bát Hương Gia Tiên, Văn Khấn Xin Chuyển Bát Hương, Bài Khấn Đi Chùa Hương, Bài Khấn Đền Trình Chùa Hương, Văn Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương Thổ Công, Hướng Dẫn Sử Dụng Thuốc Tránh Thai Khẩn Cấp, Nghị Quyết Hướng Dẫn áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Bài Khấn Đền, Bài Khấn Tạ Đất, Văn Khấn Yên Vị Thần Tài, Bài Khấn Đền Mẫu âu Cơ, Văn Khấn 30 Tết, Bài Khấn Đền Mẫu, Văn Khấn 4 Phủ, Bài Khấn Sao Mộc Đức, Văn Khấn 49, Văn Khấn Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Lễ Đền, Bài Khấn Lễ ăn Hỏi, Văn Khấn Lễ Mẫu, Bài Khấn Lễ, Văn Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Lễ Tạ Đất, Văn Khấn M 1, Văn Khấn Mẫu Mẹ âu Cơ, Bài Khấn Khi Đi Đền, Văn Khấn 5.5, Văn Khấn Mẫu, Bài Khấn Lễ Đổ Mái Nhà, Bài Khấn Hôm Rằm, Bài Khấn Hạ Bàn Thờ, Bài Khấn Giỗ, Bài Khấn Sửa Bếp, Văn Khấn Xin Sửa Nhà, Bài Khấn Sửa Mộ, Bài Khấn Sửa Nhà, Đơn Xin Hỗ Trợ Khó Khăn, Bài Khấn Đổ Mái, Bài Khấn Đi Yên Tử, Văn Khấn Xin Tài Lộc, Văn Khấn Yên Tử, Bài Khấn Giỗ Cha, Bài Khấn Giỗ Cụ, Văn Khấn Lễ Tạ, Bài Khấn Hồ Ly, Bài Khấn Hay, Văn Khấn 3/3 Tại Mộ, Đơn Kêu Cứu Khẩn Cấp, Bài Khấn Hạ Lễ, Văn Khấn Xin Hạ Lễ, Bài Khấn Gọi Hồn, Bài Khấn Giỗ ông Nội, Bài Khấn Giỗ Đầu, Bài Khấn Tạ Đất Đầu Năm, Bài Khấn Phủ Tây Hồ, Bài Khấn ở Yên Tử, Bài Khấn ở Phủ Tây Hồ, Bài Khấn ở Nhà, Bài Khấn Rằm Tại Nhà, Văn Khấn Di Dời Mộ, Con Quý Vị Gặp Khó Khăn Khi Đọc?, Bài Khấn ở Đền Mẫu, Bài Khấn ở Đền, Văn Khấn Dỗ, Văn Khấn Bán Nhà, Mẫu Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Bài Khấn ở Ban Tam Bảo, Bài Khấn Rằm, Văn Khấn An Vị, Bài Khấn ông Địa Thần Tài, Văn Khấn Ban Tam Bảo, Bài Khấn Phủ Dầy, Văn Khấn Ban Mẫu, Văn Khấn Bà Cô Tổ, Văn Khấn An Vị Thần Tài Thổ Địa, Bài Khấn Phá Dỡ Nhà, Văn Khấn Cô 6, Bài Khấn ông Táo, Văn Khấn Cô 9, Văn Khấn Cô Bơ, Văn Khấn An Vị Bàn Thờ, Bài Khấn Ra Mộ,

    Văn Khấn Yên Vị Bát Hương, Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thần Tài, Văn Khấn An Vị Bát Hương, Bài Khấn Hạ Bát Hương, Bài Khấn Hồi Hướng, Bài Khấn Yên Vị Bát Hương, Văn Khấn An Vị Lô Hương, Bài Khấn An Vị Bát Hương Thần Tài, Văn Khấn Bốc Bát Hương Mới, Bài Khấn An Vị Bát Hương, Văn Khấn Di Chuyển Bát Hương, Bài Khấn An Vị Bát Hương Gia Tiên, Bài Khấn Dâng Hương, Bài Khấn Khi Đi Chùa Hương, Hướng Dẫn Viết Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thổ Công, Bài Khấn 100 Ngày Bát Hương, Bài Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương, Văn Khấn An Vị Bát Hương Gia Tiên, Văn Khấn Xin Chuyển Bát Hương, Bài Khấn Đi Chùa Hương, Bài Khấn Đền Trình Chùa Hương, Văn Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương Thổ Công, Hướng Dẫn Sử Dụng Thuốc Tránh Thai Khẩn Cấp, Nghị Quyết Hướng Dẫn áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Bài Khấn Đền, Bài Khấn Tạ Đất, Văn Khấn Yên Vị Thần Tài, Bài Khấn Đền Mẫu âu Cơ, Văn Khấn 30 Tết, Bài Khấn Đền Mẫu, Văn Khấn 4 Phủ, Bài Khấn Sao Mộc Đức, Văn Khấn 49, Văn Khấn Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Lễ Đền, Bài Khấn Lễ ăn Hỏi, Văn Khấn Lễ Mẫu, Bài Khấn Lễ, Văn Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Lễ Tạ Đất, Văn Khấn M 1, Văn Khấn Mẫu Mẹ âu Cơ, Bài Khấn Khi Đi Đền, Văn Khấn 5.5, Văn Khấn Mẫu, Bài Khấn Lễ Đổ Mái Nhà, Bài Khấn Hôm Rằm, Bài Khấn Hạ Bàn Thờ, Bài Khấn Giỗ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Nguyện Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát Tại Nhà【Phúc An】
  • Cách Cúng Khai Trương Quán Ăn Nhậu Đúng Chuẩn Mang Lại May Mắn Cho Gia Chủ
  • Văn Khấn Cúng Cô Hồn Rằm Tháng 7 Năm 2022
  • Gợi Ý Bài Khấn Cúng Thần Linh Và Gia Tiên Sáng Mùng 1 Tết
  • Bài Văn Khấn Cúng Ông Công Ông Táo 2022
  • Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thổ Công

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Xin Chuyển Ban Thờ Thần Tài
  • Bài Văn Khấn Xin Hóa Tỉa Chân Nhang Bát Hương Đầy Đủ, Chính Xác Nhất
  • Bài Cúng Cô Hồn, Văn Khấn Cô Hồn
  • Cách Cúng Đám Giỗ: Lễ Vật, Văn Khấn, Thời Gian
  • Văn Cúng Chiêu Hồn Liệt Sỹ
  • Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thổ Công, Văn Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương Thổ Công, Bài Khấn Khởi Công Công Trình, Văn Khấn An Vị Bát Hương, Bài Khấn Hạ Bát Hương, Bài Khấn Yên Vị Bát Hương, Bài Khấn An Vị Bát Hương Thần Tài, Văn Khấn Bốc Bát Hương Mới, Bài Khấn An Vị Bát Hương, Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thần Tài, Văn Khấn Yên Vị Bát Hương, Bài Khấn Hồi Hướng, Văn Khấn An Vị Lô Hương, Bài Khấn Dâng Hương, Văn Khấn Di Chuyển Bát Hương, Văn Khấn Xin Chuyển Bát Hương, Bài Khấn Đi Chùa Hương, Hướng Dẫn Viết Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Bài Khấn Khi Đi Chùa Hương, Văn Khấn An Vị Bát Hương Gia Tiên, Bài Khấn 100 Ngày Bát Hương, Bài Khấn An Vị Bát Hương Gia Tiên, Bài Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương, Bài Khấn Đền Trình Chùa Hương, Bài Khấn Ong Cong Ong Tao, Văn Khấn Thổ Công, Bài Khấn ông Công, Mẫu Công Văn Khẩn, Công Văn Khẩn, Văn Khấn ông Công, Văn Khấn 23 ông Công ông Táo, Văn Khấn ông Thổ Công, Văn Khấn Ong Cong Ong Tao, Văn Khấn Khởi Công Xây Nhà, Bài Khấn Rằm Tháng 7 Tại Công Ty, Công Văn Khẩn Số 7164/ Byt-kcb, Văn Khấn ông Công Ngày Rằm, Văn Khấn Thổ Công Ngày Rằm, Bài Khấn Khởi Công, Văn Khấn Công Đồng, Văn Khấn Ngày Rằm Thổ Công, Bài Khấn Xin Công Danh, Công Điện Khẩn, Bài Khấn Ban Công Đồng, Văn Khấn Ban Công Đồng, Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn Công Đoàn, Mẫu Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn Của Công Đoàn, Văn Khấn Quan Công, Công Điện Khẩn Số 88/cĐ-tw, Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn Cua Cong Doan, Công Điện Khẩn Bão Số 8, Hướng Dẫn Sử Dụng Thuốc Tránh Thai Khẩn Cấp, Công Điện Khẩn Số 6529/cĐ-bnn-ty, Công Điện Khẩn Của Bộ Giáo Dục, Công Điện Khẩn Số 1475/cĐ-bnn-ty, Công Văn Rà Soát Các Xã Đặc Biệt Khó Khăn, Danh Sách Các Công Ty Sản Xuất Khăn ướt, Công Điện Khẩn Về Phòng Chống Lụt Bão, Công Điện Khẩn Của Bộ Nông Nghiệp, Danh Sách Công Ty Sản Xuất Khăn ướt, Công Điện Khẩn Của Thủ Tướng Chính Phủ, Công Điện Khẩn Phòng Chống Lụt Bão, Nghị Quyết Hướng Dẫn áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Công Điện Khẩn Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Công Điện Khẩn Về Bão Trên Biển Đông, Công Điện Khẩn Về Ngăn Chặn Virus Cúm A, Danh Sách Các Công Ty Sản Xuất Khăn Giấy ướt, Công Tác Tạo Nguồn Phát Triển Đảng Viên Trong Vùng Đồng Bào Dân Tộc Vùng Có Đạo Thuận Lợi Khó Khăn V, Số : 3790/lĐtbxh-lĐ. Về Hướng … Sở Lao Động – Thương Binh Và Xã Hội Đã Có Công Văn Hướng Dẫn Số 12, Nghị Định 71/2017/nĐ-cp Hướng Dẫn Về Quản Trị Công Ty Đối Với Công Ty Đại Chúng, Tài Liệu Hướng Dẫn Cải Thiện Công Bố Thông Tin Quản Trị Công Ty, Hướng Dẫn Thực Hiện Điều Lệ Mttq Việt Nam Về Công Tác Nhân Sự Trưởng Ban Công Tác Mặt Trận Làng, Hướng Dẫn 06 Công Tác Quản Lý Tài Chính Công Đoàn Cơ Sở, Hướng Dẫn Thực Hiện Chế Độ Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc Đối Với Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hướng Dẫn Về Tội Gây Rối Trật Tự Công Cộng, Hướng Dẫn Gán Chữ Ký Số Công Cộng Vào Tài Khoản, Cộng Hưởng Từ, Công Văn Hướng Dẫn, Văn Bản Hướng Dẫn Chi Công Tác Phí, Văn Bản Hướng Dẫn Phụ Cấp Công Vụ, Mẫu Công Văn Hướng Dẫn, Văn Bản Hướng Dẫn Công Tác Văn Thư Lưu Trữ, Hướng Dẫn Về Công Tác Cán Bộ, Thông Tư Hướng Dẫn Phụ Cấp Công Vụ, Hướng Dẫn Thủ Tục Thành Lập Công Ty, Thông Tư Hướng Dẫn Mua Sắm Tài Sản Công, Thông Tư Hướng Dẫn Công Tác Phí, Hướng Dẫn Số 15 Về Công Tác Quy Hoạch, Hướng Dẫn Thủ Tục Công Chứng, Hướng Dẫn Viết Hồ Sơ Công An, Cộng Hưởng Từ Cột Sống Cổ, Hướng Dẫn Trình Bày Công Văn, Văn Bản Hướng Dẫn Số 417 Của Công An Tphcm, Văn Bản Hướng Dẫn Người Có Công, Văn Bản Hướng Dẫn Đại Hội Công Đoàn Cơ Sở, Văn Bản Hướng Dẫn Công Tác Y Tế Trường Học, Văn Bản Hướng Dẫn Quản Lý Tài Sản Công, Văn Bản Hướng Dẫn Công Tác Thanh Tra, Văn Bản Hướng Dẫn Công Tác Quy Hoạch Cán Bộ, Xquang Và Cộng Hưởng Từ,

    Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thổ Công, Văn Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương Thổ Công, Bài Khấn Khởi Công Công Trình, Văn Khấn An Vị Bát Hương, Bài Khấn Hạ Bát Hương, Bài Khấn Yên Vị Bát Hương, Bài Khấn An Vị Bát Hương Thần Tài, Văn Khấn Bốc Bát Hương Mới, Bài Khấn An Vị Bát Hương, Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thần Tài, Văn Khấn Yên Vị Bát Hương, Bài Khấn Hồi Hướng, Văn Khấn An Vị Lô Hương, Bài Khấn Dâng Hương, Văn Khấn Di Chuyển Bát Hương, Văn Khấn Xin Chuyển Bát Hương, Bài Khấn Đi Chùa Hương, Hướng Dẫn Viết Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Bài Khấn Khi Đi Chùa Hương, Văn Khấn An Vị Bát Hương Gia Tiên, Bài Khấn 100 Ngày Bát Hương, Bài Khấn An Vị Bát Hương Gia Tiên, Bài Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương, Bài Khấn Đền Trình Chùa Hương, Bài Khấn Ong Cong Ong Tao, Văn Khấn Thổ Công, Bài Khấn ông Công, Mẫu Công Văn Khẩn, Công Văn Khẩn, Văn Khấn ông Công, Văn Khấn 23 ông Công ông Táo, Văn Khấn ông Thổ Công, Văn Khấn Ong Cong Ong Tao, Văn Khấn Khởi Công Xây Nhà, Bài Khấn Rằm Tháng 7 Tại Công Ty, Công Văn Khẩn Số 7164/ Byt-kcb, Văn Khấn ông Công Ngày Rằm, Văn Khấn Thổ Công Ngày Rằm, Bài Khấn Khởi Công, Văn Khấn Công Đồng, Văn Khấn Ngày Rằm Thổ Công, Bài Khấn Xin Công Danh, Công Điện Khẩn, Bài Khấn Ban Công Đồng, Văn Khấn Ban Công Đồng, Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn Công Đoàn, Mẫu Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn Của Công Đoàn, Văn Khấn Quan Công, Công Điện Khẩn Số 88/cĐ-tw, Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn Cua Cong Doan,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Yên Vị Bát Hương
  • Bài Văn Khấn Cầu Duyên Ban Mẫu
  • Lễ Vật Cúng Xe Ô Tô Mới Mua Kèm Hướng Dẫn Cách Cúng Xe Ô Tô Mới Mua
  • Những Bài Văn Khấn Sáng Mùng 1 Tết Phổ Biến Nhất
  • Văn Khấn Thánh Sư
  • Lễ Yên Vị Bát Hương Nhà Thờ Tổ Họ Lại Việt Nam Tại Thanh Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Mâm Lễ Cúng Nhập Trạch? Chuẩn Bị Lễ Cúng Đúng Phong Tục!
  • Mâm Cúng Chúng Sinh Rằm Tháng 7 Gồm Những Gì?
  • Mâm Lễ Vật Cúng Khai Trương Gồm Những Gì Kèm Cách Trình Bày
  • Mâm Lễ Cúng Ông Công Ông Táo Gồm Những Gì
  • Mâm Lễ Cúng Rằm Tháng Giêng Đầy Đủ, Chuẩn Nhất Để Rước Tài Lộc
  • Nếu bạn có dịp ghé về Thanh Hóa đừng bỏ lỡ nhà thờ tổ Họ Lại Việt Nam tại Hà Dương ,Hà Trung Thanh Hóa. Ngôi nhà thờ tổ này đã ghi dấu bao đời họ Lại uy nghiêm trong lịch sử .Đợt vừa rồi chúng tôi có được về thăm nhà thờ Tổ dự lễ yên vị bát Hương nhà từ đường họ Lại Việt Nam. Buổi lễ diễn ra uy nghi và trang trọng khiến lòng ai cũng bồi hồi cảm xúc

    1.Từ đường họ Lại Việt Nam- một chôn quay về !

    Đất Quang Lãng (xã Hà Dương, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá), nơi mà phần lớn con cháu họ Lại khắp nơi trong cả nước đều coi là đất tổ thiêng liêng, có mộ thiên táng của Triệu tổ họ Lại Dòng Quang Lãng là quan huyện thừa Lại Thế Tương, nhân dân địa phương thường gọi là “Mả Thiên Vương”, và có từ đường thờ Người, cạnh chùa Thiên Vương thường gọi là “Nhà thờ họ Lại”, hay “Đền thờ Lại Thế Khanh”. Ngôi từ đường này nguyên thủy là Đền thờ Thái tể Khiêm quốc công Lại Thế Khanh. do cháu nội là Phương quận công Lại Thế Hiền chủ trì xây dựng năm 1632, sau mở rộng thêm chuyển thành Nhà thờ họ Lại toàn quốc.

    2.Lễ yên vị bát hương nhà thờ tổ họ Lại Việt Nam

    Nguồn gốc nhà thờ họ Lại

    Họ Lại được nói tới ở đây là dựa theo bản Phả Họ Lại viết năm 1990, với sự tham dự của 23 chi họ, trong đó có 2 chi lớn, một ở huyện Kim Bảng, Hà Nam, một ở huyện Hà Trung, Thanh Hóa. Ban tu soạn Phả Họ Lại này cho rằng đã tìm ra và liên kết được hơn 200 chi họ Lại trên toàn quốc, trong đó có 2 chi ở Quỹ Nhất, xã Nghĩa Hòa, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định, là quê của ông ngoại.

    Thủy tổ của họ Lại dựa theo các bản gia phả cũ các chi họ Lại trên toàn quốc truy được đến cụ Lại Thế Tiên, vào đầu thế kỷ thứ 15, tức giai đoạn nước mình thuộc nhà Minh và thời Lê sơ.

    Bản gia phả xưa nhất trong các chi họ Lại còn giữ được đến nay là bản gia phả bằng chữ Hán của chi họ Lại ở Hà Trung, Thanh Hóa viết năm 1740, đời vua Lê Hiển Tông. Như thế bản chữ Hán này viết về tổ tiên họ trước đó 3 thế kỷ rưỡi (từ khoảng 1400 đến 1740) một thời gian khá xa. Với tài lực của một dòng họ, dù là vọng tộc, thì việc truy tìm sợi dây huyết thống hơn 3 thế kỷ trước đó có thể mang tính duy y chí hơn là duy lý.

    Triệu tổ họ Lại, con cụ Lại Thế Tiên, là Lại Thế Tương, sống vào đời nhà Lê, mộ đến nay vẫn còn ở Thanh Hóa.

    Quê họ Lại gốc ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, cùng quê với vua chúa Nguyễn, ngày trước gọi là huyện Tống Sơn

    Nhà thờ họ Lịa được xây dựng khang trang với nhà thờ họ 3 gian hai mái đẹp trang trọng. Được xây một cách truyền thống và kiên cố. Hai bên là hai cột đồng trụ chắc chắn. Giữa nhà thờ họ là chiếc lư đồng lớn , bên cạnh chưng hoa và cờ phục vụ cho lễ yên vị bát hương

    Bên trong nhà thờ họ trang nghiêm, được sơn son thiếp vàng sang trọng, khắc phù điêu võng lọng đẹp mắt

    Bàn thờ yên vị bát hương được bày biện mâm cúng đầy đủ chi tiết, Hai bên là hai bình hoa tươi lớn mang lại sắc khí tươi mới cho gia tộc họ Lại.

    Vì chuẩn bị cho lế yên vị bát hương nên xung quanh nhà thờ họ được trang hoàng đẹp mắt. Chim hạc còn gọi là đại điểu hay nhất phẩm điểu là con chim của vũ trụ, của tầng cao, báo hiệu sự chuyển mùa, đại diện cho thế lực siêu nhiên từ trời cao mang tới.Trong hình tượng trang trí, hạc có kích thước lớn, cao với ước mong phát triển của con người; mỏ dài, nhọn như mũi tên của sự vận động; đôi khi nó ngậm ngọc minh châu biểu trưng cho sang quý, hoặc khi ngậm hoa sen thì biểu trưng cho giác ngộ.

    Trên đầu hạc thường đội đèn nến thể hiện sự tôn thờ ánh sáng chân lý, ánh sáng giác ngộ, xua đi bóng đen đêm tối.

    Thân hạc hình khum, tượng trưng cho bầu trời, chân cao như chột chống trời.

    Hai bên là hai chim hạc cao 1.7m tượng trưng cho sự giác ngộ

    HÌnh ảnh nhà thờ họ đẹp uy nghi là chốn đi về cho những người con họ Lại trên toàn đất nước Việt nam

    Video được quay lại cảnh các sư đang làm lễ yên vị bát hương tại nhà thờ họ Lại Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Xe Mới Là Gì? Cách Và
  • Lễ Vật Dâng Cúng Thần Tài
  • Văn Khấn Cúng Xe Ô Tô: Lễ Vật, Văn Khấn Như Thế Nào Mới Đúng?
  • Bài Cúng Xe Hàng Tháng Và Cách Sắm Lễ Vật Cúng Xe Hàng Tháng
  • Cúng Triệt Hạ ( Phá Dỡ Nhà )
  • Chùa Hoa Yên (Chùa Yên Tử Hay Chùa Vân Yên)

    --- Bài mới hơn ---

  • Đạo Mẫu Việt Nam: Chùa Hương Tích Hà Tĩnh
  • Đầu Xuân, Bàn Về Lời Khấn Nam Mô A Di Đà Phật
  • Lễ Hội Phật Tích Xuân Canh Tý 2022 Đã Sẵn Sàng
  • Cách Khai Quang Tượng Phật Di Lặc Đơn Giản, Chính Xác
  • Cách Thức Đi Lễ Phủ Tây Hồ Đề Cầu Xin May Mắn Và Tài Lộc
  • Chùa Hoa Yên có tên cũ là chùa Vân Yên, dân gian thường gọi là chùa Cả, chùa Chính hay chùa Yên Tử. Chùa Hoa Yên là ngôi chùa lớn, to và đẹp nhất trong khu di tích danh thắng Yên Tử. Đây là nơi chứng kiến đức vua Trần Nhân Tông sau khi dứt bỏ hồng trần đã hướng tâm về nơi Phật pháp và lập ra Thiền phái riêng mà ngày nay mọi người vẫn gọi là Thiền phái Trúc Lâm.

    Chùa Hoa Yên tọa lạc trên núi Yên Tử ở độ cao 516m do Thiền sư Hiện Quang khai sơn. Ngài là đệ tử nối pháp của Thiền sư Thường Chiếu. Kế tiếp Thiền sư Hiện Quang là Quốc sư Trúc Lâm, Quốc sư Đại Đăng, Thiền sư Tiêu Diêu, Thiền sư Huệ Tuệ, Đại Đầu Đà Trúc Lâm tức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông.

    của 22

    Lịch sử chùa Yên Tử (chùa Hoa Yên)

    Tuy rằng Đại Đầu Đà Trúc Lâm thuộc thế hệ thứ 6 ờ Yên Tử, nhưng do Ngài đã thống nhất các Thiền phái đã có thành một Thiền phái Trúc Lâm nên người đời gọi Ngài là Trúc Lâm đệ nhất Tổ.

    Thuở ban đầu, chùa Hoa Yên chỉ là một Am thất nhỏ có tên là Vân Yên (tức mây khói) với hàm ý: chùa tận trên núi cao quanh năm mây phủ, mây lững lờ trôi, trắng nhẹ như mây khói trên núi. Trước khi thượng hoàng Trần Nhân Tông lên Yên Tử tu hành, chùa được các nhà sư thời Lý xây dựng, mái chùa lợp bằng lá cây rừng. Sau khi lên tu hành, vua Trần Nhân Tông đã thường xuyên mở các lớp truyền yếu kỷ thiền tông cho các đệ tử Pháp Loa, Huyền Quang, Bảo Sái, Pháp Không và các đệ tử khác ở đây.

    Đến năm 1317, Pháp Loa được truyền y bát và trở thành Đệ nhị Tam Tổ, chùa Hoa Yên mới được xây dựng nguy nga, tạo thành một quần thể kiến trúc rộng lớn. Các công trình hạng mục của chùa trước ngoài tiền đường, thượng điện để thờ Phật, chùa còn có lầu trống, lầu chuông, nhà nghỉ khách, nhà giảng đạo, nhà dưỡng tăng…

    Loading…

    Khi vua Lê Thánh Tông (1442-1497) về đây vãng cảnh chùa, thấy cảnh sắc tốt tươi, muôn hoa đua nở, nhà Vua đã đổi tên chùa Vân Yên thành chùa Hoa Yên.

    Đến thời Nguyễn, chùa bị hoả hoạn chỉ còn lại phế tích, di vật là những tảng đá kê chân cột có kích thước lớn cho thấy kiến trúc chùa xưa rất rộng rãi.

    Cuối năm 2002, Hoa Yên đã được xây dựng lại trên nền chùa thời Trần, có Tiền Đường, Hậu Cung, có Tả vu Lầu Chuông, Hữu vu Lầu Trống, phía sau Hậu Cung là nhà thờ Tổ, tạo nên không gian kiến trúc kiểu “Nội công, ngoại quốc”. Nhà dưỡng Tăng, Ni ở hai bên chùa. Toàn bộ hoành phi, cửa võng, tượng pháp trong chùa đều do Thượng tọa chùa Phúc Lâm Thích Quảng Tùng thâu lượm công đức của thập phương tiến cúng. Trước tòa Tam bảo là Lầu hương bằng đồng do các ông Lê Văn Kiểm, Hoàng Quang Thuận, Sở du lịch tỉnh Quảng Ninh và Công ty than Nam Mẫu tỉnh Quảng Ninh tiến cúng.

    Chùa Hoa Yên là nơi tu hành, thành đạo, truyền thừa của các thế hệ Tổ Thiền Trúc Lâm Yên Tử:

    – Thời Lý có Thiền sư Hiện Quang khai sơn chùa Vân Yên từ trước năm 1220.

    – Thời Trần có Quốc sư Đạo Viên, Quốc sư Đại Đăng, Thiền sư Tiêu Diêu, Thiền sư Huệ Tuệ. Tại chùa Hoa Yên, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông cùng Pháp Loa, Huyền Quang kế thừa và phát triển dòng Thiền Yên Tử lập nên Thiền Phái Trúc Lâm với tinh thần nhập thế và hộ quốc an dân.

    – Thời Lê có Thiền sư Chân Trú, Tuệ Chân, đặc biệt là Thiền sư Chân Nguyên – người có công chấn hưng Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử…

    Cảnh quan & Kiến trúc chùa Hoa Yên

    Hình dáng kiến trúc chùa mang đậm nét văn hoá kiến trúc chùa thời Lý, Trần. Chùa có kết cấu hình chữ “Công”, được làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài kép, riềm bò nóc trang trí hình hoa thị, có hai con Rồng miệng há to ngậm hai đầu bờ nóc bờm giống sóng nước vân mây uốn cong lên mềm mại, dưới đầu Rồng là đôi Uyên ương. Vì ruồi trang trí hình hổ phù cách điệu. Hệ thống cánh cửa bức bàn để mộc trơn không trang trí.

    Nền chùa cao hơn sân và được kết cấu bậc tam cấp bằng đá, hai bên lan can đặt hai con Rồng đá mang phong cách kiến trúc thời Trần, tạo nên sự tôn nghiêm của ngôi chùa. Không gian kiến trúc hài hoà với cảnh sắc thiên nhiên tươi tốt. Phía trước chùa là ba cây Đại cổ kính trên 700 năm tuổi, thân cây gồ ghề, rêu phong, cành lá xum xuê, trông tựa như hàng nghìn bàn tay dâng những bông hoa trắng ngà thơm ngát, cúng Chư Phật mười phương và Phật Tổ Trúc Lâm.

    Ở bên phải, bên trái sân chùa là hai cây Sung cổ có những chùm quả xanh, đỏ đan xen chi chít thân cành. Theo dân gian truyền lại, quả Sung, quả Vả trong rừng là món ăn chay của các Thiền sư tu hành ở Yên Tử.

    Tượng thờ trong chùa được bài trí theo chùa Việt và Phật giáo Đại thừa. Tiền Đường: bên trái là Đức Chúa Ông, Hộ pháp Khuyến Thiện, bên phải là Thánh Tăng, Hộ pháp Trừng Ác, Quan Âm Nam Hải. Chính Điện có tam cấp thờ: cấp trên cùng là bộ tượng Tam Thế Phật gồm: Phật quá khứ; Phật hiện tại; Phật vị lai. cấp thứ hai là bộ tượng Đức Phật Thích Ca thành đạo còn được gọi là Phật Thế Tôn hoặc Phật Niêm Hoa vì tay phải cầm bông hoa Sen giơ lên thay việc thuyết pháp bằng lời, hai bên là hai đệ tử Ma Ha Ca Diếp dáng già nua và A Nan Đà dáng trẻ. Cấp thứ ba là Toà Cửu Long. Góc bên trái hậu cung là tượng Địa Tạng Bồ Tát, góc bên phải là tượng Quan Âm Chuẩn Đề.

    Nhà thờ Tổ gồm 7 gian, bài trí tượng thờ 5 gian, 2 gian để đồ thờ và tế khí. Chính giữa thờ Tam Tổ Trúc Lâm và Tượng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn và tượng Bảo Sái đệ tử của Ngài. Tiếp theo, bên trái thờ Tam Vương: Ngọc Hoàng ở giữa, Nam Tào, Bắc Đẩu ở hai bên, Ban thờ Đức Thánh Trần và hai Thị giả. Bên phải, ban thờ Tam Toà Thánh Mẫu gồm: Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải và các Thị giả, tiếp bên phải là ban thờ Chúa Thượng Ngàn và hai Thị giả.

    Hiện nay, chùa Hoa Yên có 39 pho tượng trong đó có một pho tượng Quan Âm Nam Hải có niên đại vào cuối thế kỷ XIX, còn lại đều là những pho tượng mới được đưa vào thờ năm 2002 khi khánh thành chùa. Có một số hiện vật tiêu biểu có niên đại thời Trần, Lê như Bia đá Hậu Phật dựng vào thời Lê niên hiệu Bảo Thái năm thứ (1723) và hai con Sấu đá thời Trần đặt trước Bia hậu Phật tại sân trước bên trái chùa Hoa Yên. Bia do các quan viên đứng đầu coi giữ các xã Nam Mẫu, Trung Lương, Nội Hoàng dựng lên để khắc ghi công đức của bà Vũ Thị Phương đã xuất tiền của cứu trợ dân nghèo vùng Nam Mẫu, Trung Lương, Nội Hoàng. Nhân dân tôn bà làm Hậu Phật ở ngôi Nhân thần để đời đời không quên đèn nhang thờ cúng. Thân Bia hình chữ nhật, phía trên hình bán nguyệt, mặt trước của Bia chạm khắc ba vị Thiền sư toạ trên đài sen, đó chính là Đệ Nhất Tổ Trần Nhân Tông ở trên, Đệ Nhị Tổ Pháp Loa và Đệ Tam Tổ Huyền Quang ở hai bên dưới. Mặt sau của Bia, ở trên khắc trang trí đôi Rồng chầu Nguyệt. Phần diềm Bia trang trí hoa văn lá dây mềm mại. Phía trước sân chùa có Bia đá hình trụ vuông có tên là: “Hoa Yên Tự Bi” có niên đại vào thời Lê.

    Phía sau chùa Hoa Yên là chùa Phổ Đà Quan Âm Bồ Tát, nay chỉ là phế tích (chưa khảo cổ để lập hồ sơ di tích). Cạnh chùa có 6 ngọn tháp còn khá nguyên vẹn. Ở phía trên chùa không xa, dưới tán của 4 cây tùng cổ là tháp độ nhân Mỹ Lệ. Tháp được xây bằng gạch tráng men xanh, kiến trúc nguyên gốc đời Trần.

    Xét về mặt tâm linh, chùa Hoa Yên là nơi giao hội của trục linh (trục tung) và trục tú (trục hoành), hai bên tả hữu vươn ra như hai tay ngai (tả long thanh, hữu bạch hổ) theo luật phong thủy, đây là vị trí đất quý hiếm.

    Chùa Hoa Yên cộng với toàn bộ hệ thống chùa Yên Tử nằm hài hòa giữa thiên nhiên hùng vĩ là một dẫn chứng rõ nét về sự dung hợp hai quan niệm đạo và đời của dân tộc ta. Với những giá trị đặc biệt của mình, chùa Hoa Yên là một bộ phận không thể thiếu của quần thể kiến trúc văn hóa tâm linh Yên Tử mà mỗi du khách đều muốn viếng thăm khi hành hương về đất Phật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Động Hương Tích – Quần Thể Di Tích Chùa Hương
  • Bài Khấn Đức Thánh Bà Ở Bia Bà La Khê Hà Đông Hà Nội.
  • Bài Văn Khấn Đức Thành Bà Tại Đền Bia Bà La Khê Hà Đông Và Ý Nghĩa Bài
  • Văn Khấn Cúng Thôi Nôi Cho Bé Trai, Bé Gái
  • Bài Văn Khấn Mồng Một Và Ngày Rằm Ngắn Gọn Và Dễ Nhớ
  • Đình Thái Bình Tổ Chức Lễ Cúng Kỳ Yên

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Kiêng Kỵ Khi Lấp Giếng Bạn Cần Phải Biết
  • Chuẩn Bị Lễ Vật Cúng Táo Quân Như Nào? Cách Lau Dọn Bàn Thờ 23 Tháng Chạp
  • Tải Phần Mềm Nghi Lễ Cúng Mãn Tang, Huong Dan Nghi Le Cung Man Tang Full
  • Mở Cửa Mã Là Gì? Ý Nghĩa Phong Tục Bạn Nên Biết
  • 3 Nghi Lễ Cúng Đầy Tháng Cho Bé Gái, Bé Trai Đơn Giản, Mâm Cỗ Cúng 12 Bà Mụ Cần Những Gì?
  • Trong hai ngày 13-14.12 (nhằm ngày 15 và 16 tháng 11 Âm lịch), Đình Thái Bình tọa lạc tại khu phố 4, phường 1, thành phố Tây Ninh đã tổ chức Lễ cúng Kỳ Yên.

    Lễ Kỳ yên Đình Thái Bình được tổ chức hằng năm gồm các nghi lễ truyền thống như: lễ rước Sắc Thần, các nghi thức cúng cơm chay, cúng cầu Quốc thái dân an, cúng tế Linh Thần, cúng Thần Nông, lễ hồi sắc… nhằm cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cầu cho công việc lao động sản xuất của nhân dân được thuận lợi, đời sống người dân ấm no, hạnh phúc. Đồng thời cũng là để giữ gìn nét đẹp truyền thống tín ngưỡng dân gian của dân tộc.

    Đình Thái Bình đã được xây dựng trên 100 năm, thờ Thần hoàng Bổn Cảnh Võ Văn Oai – là vị quan đại thần triều đình Huế, người có công chống giặc ngoại xâm và tuẫn tiết tại vùng đất này. Ngày 18.3.1917, vua Khải Định năm thứ II đã sắc phong đình thành Thái Bình.

    Ngôi đình được sửa chữa lớn vào năm 1950. Khuôn viên đình rộng 1.700m 2, tiền đình quay về hướng Đông Nam, mặt tiền đắp nổi biểu tượng cuốn thư: sách và gươm, 2 bên có lầu chuông, gác trống, đỉnh nóc đình có lưỡng long chầu nguyệt. Nội thất trang trí hoành phi: “Thái cảnh thanh bình” và “Thần thánh cảm linh”, cùng với các cặp song nghê, song phượng, tùng, cúc, trúc, mai và các đồ thờ tự.

    Năm 1994 Đình Thái Bình được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia và được trùng tu tôn tạo vào năm 2013.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Cúng Kỳ Yên Đình Thái Bình
  • Lưu Ý Khi Làm Lễ Cúng Động Thổ Xây Mộ
  • Lễ Vật Cúng Động Thổ Gồm Những Gì?
  • Khi Chuyển Văn Phòng Thì Lễ Cúng Nhập Trạch Cần Những Gì?
  • Cách Cúng Lễ Khai Trương Chuẩn Phong Thủy Năm 2022
  • Lễ Cúng Kỳ Yên Đình Thái Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Đình Thái Bình Tổ Chức Lễ Cúng Kỳ Yên
  • Những Điều Kiêng Kỵ Khi Lấp Giếng Bạn Cần Phải Biết
  • Chuẩn Bị Lễ Vật Cúng Táo Quân Như Nào? Cách Lau Dọn Bàn Thờ 23 Tháng Chạp
  • Tải Phần Mềm Nghi Lễ Cúng Mãn Tang, Huong Dan Nghi Le Cung Man Tang Full
  • Mở Cửa Mã Là Gì? Ý Nghĩa Phong Tục Bạn Nên Biết
  • Trong hai ngày 1-2.1.2018 (nhằm 15-16.11 Đinh Dậu), Đình Thái Bình tổ chức Lễ cúng Kỳ Yên. Đây cũng là dịp kỷ niệm 100 năm sắc phong Thành Hoàng Bổn Cảnh (1917-2017).

    Lễ cúng Kỳ Yên Đình Thái Bình được tổ chức hằng năm gồm các nghi lễ truyền thống như rước Sắc Thần, các nghi thức cúng cơm chay, cúng cầu Quốc thái dân an, cúng tế Linh Thần, cúng Thần Nông, Lễ Hồi sắc… nhằm cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cầu cho công việc lao động sản xuất của nhân dân được thuận lợi, đời sống ấm no, hạnh phúc.

    Đình Thái Bình (khu phố 4, phường 1, thành phố Tây Ninh) được xây dựng trên 100 năm, thờ Thần Hoàng Bổn Cảnh Võ Văn Oai – là vị quan đại thần triều đình Huế. Ngày 18.3.1917, vua Khải Định năm thứ II đã sắc phong đình thành Thái Bình. Năm 1994 Đình Thái Bình được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia và được trùng tu tôn tạo vào năm 2013.

    Ông Trần Ngọc Hai – Hội phó Hội Quý tế Đình Thái Bình cho biết, bên cạnh Lễ cúng Kỳ Yên là ngày lễ lớn, hằng năm Đình còn tổ chức hai lễ cúng nhỏ khác, gồm Lễ Dựng Nêu và Lễ cúng Khai Sơn. Trung bình mỗi năm có khoảng 600 người dân đến cúng viếng tại Đình Thái Bình để cầu bình an.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lưu Ý Khi Làm Lễ Cúng Động Thổ Xây Mộ
  • Lễ Vật Cúng Động Thổ Gồm Những Gì?
  • Khi Chuyển Văn Phòng Thì Lễ Cúng Nhập Trạch Cần Những Gì?
  • Cách Cúng Lễ Khai Trương Chuẩn Phong Thủy Năm 2022
  • Hướng Dẫn Lễ Cúng Khai Trương Nhà Hàng
  • Lễ Kỳ Yên Nghi Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Chuẩn Bị Mâm Cỗ Cúng “cô Hồn” Chuẩn Nhất
  • Cúng “Cô Hồn” Miền Tây: Thích Gà Kiêng Vịt
  • Cách Cúng Tam Tai Giải Hạn – Việt Lạc Số
  • Cúng Tam Tai Năm 2022 : Cách Cúng Giải Hạn Tuổi Tị, Dậu, Sửu Hiệu Quả
  • Tam Tai Năm 2022 Và Cách Cúng Giải Hạn?
  •  

    Lễ hội Kỳ Yên

    Nghi Thức

    Hàng năm, mỗi đình làng ở Bình Dương có

    nhiều ngày lễ:

    – Các lễ tiết tứ thời có ngày đưa

    thần (25/12), rước thần (30/12), nguyên Đán (1/giêng), Đoan Ngọ (5/5),

    khai sơn (7/1).

    – Xưa kia, ngày 25 tháng chạp, lúc

    hội có còn làm việc tại đình, có lợi rửa con dấu bỏ vào hộp niêm kín,

    rồi dựng nêu báo tin thời gian nghĩ tết. Do đó ngày đưa thần còn gọi là

    ngày dựng nêu hoặc ngày niêm ấn. Đồng thời đến chiều ngày mồng 7, hương

    chức hội tề làm lễ khai ấn.

    – Các ngày lễ của các tôn giáo xâm

    nhập vào chốn đình trung có ba ngày Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ

    Nguyên.

    – Các ngày lễ mang tính dân gian

    như lễ cúng miếu, cầu an tống phong.

    Nhưng quan trọng nhất là lễ Hạ Điền và Thượng Điền.

    Lệ Hạ Điền thường tổ chức đầu mùa mưa – biến dạng của lễ Xuân Tế và

    thường ba năm có lệ lấy ngày Hạ Điền là ngày Kỳ yên. Còn lễ Thượng Điền

    tổ chức vào cuối mùa mưa, gọi là Thượng Điền chạp miễu. Nhưng ở Bình

    Dương thường không tổ chức lễ Thượng Điền vào những ngày cuối năm mà lại

    ảnh hưởng điển lễ “thu tế”, tổ chức lễ Cầu Bông (còn gọi là lễ Cầu Hoa,

    Kỳ Huê) tổ chức vào khoảng giữa tháng 8. Đại khái các đình trong tỉnh

    Bình Dương mỗi năm đều có một lễ lớn và một lễ phụ Kỳ yên có nghĩa là

    cầu an, có nơi gọi là vía thần Thành Hoàng, vía Ông. Đây là lễ hội quan

    trọng nhất trong năm. Lễ này kéo dài một ngày rưỡi đến ba ngày. Theo

    Trịnh Hoài Đức tác giả sách Gia Định Thành Thông Chí thì ngày giờ cúng

    tế tuỳ theo tục lệ của từng làng. Có chỗ chọn tháng giêng, tháng hai,

    giữ nghĩa “Xuân kỳ”, có nghĩa vào mùa xuân làm lễ cầu thần cho được sắp

    tới. Hoặc có chỗ tháng 8, tháng 9, giữ nghĩa “thu báo”, có nghĩa vào mùa

    thu làm lễ báo đáp sau khi gặt xong. Hoặc dùng trong ba tháng mùa Đông,

    giữ nghĩa trọn năm đã thành công nên tế “chưng”, tế “lạp” tạ ơn thần (ta

    gọi là chạp miễu). Như thế lễ Kỳ yên hay lễ Cầu Bông đều nhằm mục đích

    cầu “Phong điều vũ thuận”, mùa màng bội thu, “Quốc thái dân an”, làng

    xóm yên vui, dân giàu nước mạnh.

    Kỳ yên thường tổ chức vào các ngày 12 – 13 hoặc rằm –

    16 là những ngày có trăng để dân làng có thể đến tham dự suốt đêm, ra về

    thuận tiện. Trong những ngày này triều cường cao, ghe xuồng tới lui cũng

    tiện. Kỳ yên thường tổ chức vào những tháng giao mùa như tháng 2, tháng

    4, tháng 11… là thời điểm dân làng rãnh rỗi. Hiện nay chúng ta thấy

    nhiều đình ở gần nhau thì có ngày lễ hội trùng gống nhau. Tương truyền

    đó là ngày đưa sắc thần về làng nên dân làng tổ chức hội hè ăn mừng.

    Nhưng đó chỉ là một cách giải thích.

    Chương trình lễ Kỳ yên

    tại các ngôi đình ở Bình Dương diễn tiến như sau:

    • Lễ Khai môn

    • Lễ thỉnh sắc thần

    • Lễ Tiền Hiền, Chiến sĩ, Cúng miếu.

    • Tế Túc Yết

    • Tế Đàn Cả

    • Lễ Đưa Sắc

    Lễ Kỳ yên (tại đình làng) hay các lễ cúng tế ( tại

    các miếu thờ phúc thần) đều mục đích tạo việc cho dân địa phương đến lễ

    bái cầu làng xóm bình yên, quốc gia thịnh vượng. Lễ Cầu Bông còn mang

    nét đặc trưng của nông nghiệp, lễ này có nghi tiết tế Thần Nông, Vũ Sư,

    Phong Bá, Lôi Công, Điển Di… cùng các vị thần sông núi để cầu mưa thuận

    gió hoà, mùa màng bội thu. Ngày Kỳ yên cũng là ngày tế Tiền Hiền – Hậu

    Hiền, Tiền Bối – Hậu Bối … Đây là một nghi lễ bắt nguồn từ nếp nghĩ quý

    trọng công lao của các bậc tiên tổ có công, biểu thị tư tưởng truyền

    thống uống nước nhớ nguồn, một hình thức tri ân các bậc tiền nhân có

    công khai sáng bồi đắp cho địa phương.

    Gần đây các đình trong tỉnh Bình Dương thịnh hành tục

    thờ phượng cúng tế các liệt sĩ, là con dân trong làng hy sinh vì sự

    nghiệp cứu nước và giữ nước. Hoặc các đình định ra nghi thức niệm hương

    tưởng nhớ đên Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Vị lãnh tụ tài ba của dân tộc. Các

    tục lệ này bao hàm ý nghĩa cũng tương tự như tục lệ thờ cúng các danh

    nhân hữu công ở địa phương, cần duy trì và phát huy.

    Theo tên gọi, “Kỳ yên” tức là “Cầu an”. Do đó ngoài

    nghi thức tế tự chính thống còn mang nhiều dạng tính ngưỡng dân gian.

    Như trong ngày Kỳ yên có lễ cúng miễu, có thể mời bà bống diễn xướng múa

    hát. Một số nơi ngày Kỳ yên có thể mời thầy Pháp đến làm lễ tống ôn, tá

    thổ. Một số nơi, nhiều nhà sư đến tụng kinh cầu an cho bà con trong làng

    trong xóm. Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng như thế vì xưa kia có nơi

    quan niệm chính thống đã lấn át các loại tín ngưỡng dân gian. Hơn nữa,

    càng về sau các loại nghi lễ không còn hợp thời, (như lễ Tống On, Tá Thổ)

    cũng bị trào lưu khoa học tấn công nên đã bị trừ. Thế nhưng từ khi kinh

    tế thị trường mở cửa thì các dạng tính ngưỡng dân gian này có khuynh

    hướng khôi phục.

    Lễ hội là dịp trưng bày tài nghệ, sự khéo léo của dân

    chúng. Đây là dịp chị em phụ nữ thi tài làm bánh, thổi sôi (thông qua lễ

    vật dâng cúng). Đây là dịp các nghệ nhân giới thiệu tài chưng kết bằng

    hoa quả, cây lá, giới thiệu bộ đỉnh đồng, cái lọ cắm hoa… có một số nơi

    ngày Kỳ yên còn là dịp giới thiệu các loại trái cây đầu mùa… xa hơn có

    nơi còn tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, triển lãm gia

    súc, gia cầm… sau lễ hội ban tổ chức thường trích một phần quà phát

    thưởng (có thể là một khúc vải, một ít tiền) giá trị vật chất tuy không

    nhiều nhưng về tinh thần thì không có gì sánh được.

    Nói đến lễ hội là nói đến tiệc tùng, hát xướng. Thế

    nhưng ở địa phương Bình Dương không có cảnh “chiếu trên, chiếu dưới”

    cũng không có cảnh “miếng thịt làng bằng một sàng xó bếp”. Lý do là theo

    tục lệ ở Nam bộ khi chức vụ cao được phần nhiều thì phải đóng góp nhiều.

    Hơn nữa, ngay từ khi những ngày đầu bị đô hộ, đình làng hội hè đã không

    còn do chính quyền địa phương trực tiếp quản lý. Do đó những người tham

    gia lễ hội có tính tự nguyện và bình đẳng, nhưng mang tính chiêu đãi thù

    tạc vui vẽ. Ở thị xã, thị trấn… cảnh ăn uống nhậu nhặt say sưa trong

    ngày lễ hội đã bắt đầu lùi vào quá khứ.

    Còn hát bội trong ngày Kỳ yên là chương trình văn

    nghệ mang tính nghi lễ gồm ba tiết mục: Khai chầu đại bội, hát tuồng và

    tôn vương, hồi chầu. Tiết mục cuối cùng mang tính chúc tụng. Tiết mục

    đầu tiên mang tính nghi lễ như tẩy uế, thử trống và đánh ba hồi trống

    khai tràng. Chương trình đại hội là chương trình văn nghệ gồm các điệu

    múa cung đình giải thích thuyết tạo lập vũ trụ theo Dịch lý từ Thái cực

    sinh Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Ngũ Hành. Tiếp theo chương trình đại hội là

    ba màn hát: hai màn đầu có thể là cảnh loạn lạc, người trung bị gian

    thần hãm hại, vua bị tiếm quyền. Nhưng màn cuối cùng bắc buộc chính

    nghĩa phải thắng gian tà. Như vậy chức năng hát bội cung đình không hoàn

    toàn là trò biểu diễn giúp vui mà còn mang tính nghi lễ. Như thế người

    cầm chầu là người thay mặt thần, thay mặt khán giả khen chê bằng tiếng

    trống.

    Nghe trống chiến chết điếng cái đầu, nghe trống chầu

    cái đầu láng mướt” là tâm trạng của dân làng trong ngày Kỳ yên. Xưa kia

    theo nguyên tắc “tam niên đáo lệ Kỳ yên”, tức là ba năm phải tổ chức Kỳ

    yên to, có tế lễ, có hát xướng. Thế nhưng sau giai đoạn chiến tranh kéo

    dài một phần truyền thống được khôi phục, nhưng nhìn chung chỉ mới có

    một số đình đủ điều kiện tổ chức theo lễ.

     

    Lễ Kỳ Yên

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    Lễ Kỳ yên có nghĩa là lễ cầu an, là lễ tế thần

    Thành Hoàng lớn nhất trong năm của một ngôi

    đình thần ở

    Nam Bộ,

    Việt Nam.

     

    Tùy theo điều kiện kinh tế, nhưng thường thì cứ ba

    năm (tam niên đáo lệ kỳ yên) Ban quý tế đình làm lễ tế long trọng và qui

    mô hơn: Đại lễ Kỳ yên, tức ngoài các lễ tế thường kỳ còn có thêm 4 lễ

    nữa, đó là: Lễ rước Tổ hát bội, lễ Xây chầu, Hát chầu và Hồi chầu.

    Sơ lược các lễ tế

     

    Giới thiệu lễ Kỳ yên ở Nam Bộ xưa, sách

    Gia Định thành thông chí (mục Phong tục chí) của

    Trịnh Hoài Đức có đoạn:

     

     

    Cúng Kỳ yên: mỗi làng (ở Nam Bộ) có dựng một ngôi

    đình, ngày cúng tế phải chọn cho được ngày tốt, đến buổi chiều ngày ấy

    lớn nhỏ đều nhóm tại đình, họ ở lại suốt đêm ấy, gọi là túc yết. Sáng

    ngày mai học trò lễ mặc áo, mão, gióng trống khua chiêng làm lễ chánh

    tế, ngày sau nữa làm lễ dịch tế, gọi là đại đoàn, lễ xong lui về….

     

    Có nơi, như ở Đình Châu Phú dâng cúng một con heo

    trắng (heo đã mổ xong, cạo sạch, chưa nấu chín), một chén đựng huyết có

    một ít lông heo (gọi chung là “mao huyết”), một mâm

    xôi, một trái cây, một mâm trầu cau, một đĩa

    muối,

    gạo. Các lễ vật được bày trên bàn, riêng con heo trắng được đặt sấp,

    thân phủ lên một giá gỗ cao. Ngoài ra còn có những lễ vật khác do nhân

    dân mang đến dâng cúng.

     

    Ngay sau lễ Tỉnh sanh là lễ Đàn cả.

    Bởi vậy, theo Sơn Nam, Muốn ổn định thời tiết, trật tự xã hội, theo quan

    niệm xưa, phải tuân theo sự vận hành của Trời Đất mà kim chỉ nam là

    Kinh Dịch với thuyết âm dương,

    Bát quái,

    Ngũ hành. Việc Xây chầu chính là để nhắc nhở nguyên tắc ấy.

     

    Trích diễn biến lễ xây chầu ở Đình Châu Phú:

     

    Sau khi lễ túc yết xong, là đến lễ xây chầu và hát

    bội được tổ chức tại gian võ ca phía trước chính điện. Những người tham

    dự cũng ăn mặc chỉnh tề xếp thành hai hàng nhưng từ cửa chính điện trở

    ra. Trên gian võ ca, tất cả diễn viên đoàn hát bội đã hóa trang, trống

    mõ sẵn sàng. Ông Chánh bái chủ trì lễ nhúng một cành dương vào tô nước

    cầm trên tay vẩy ra xung quanh và đọc lời cầu nguyện:

    Nhất sái thiên thanh. (Trời thêm thanh bình)

    Nhị sái địa linh (Đất thêm tươi tốt)

    Tam sái nhơn trường (Người được sống lâu)

    Tứ sái quỷ diệt hình (quỷ dữ bị tiêu diệt).

     

    Đọc xong, ông chánh bái đánh ba hồi trống và nói:

    “Ca công – tiếp hát”, lập tức trống mõ của đoàn hát bội rộ lên và chương

    trình hát bội được bắt đầu.

     

    Lễ Kỳ yên thu hút đông đảo nhân dân quanh vùng qui

    tụ về với lễ vật trên tay, người nào cũng trang phục chỉnh tề, quỳ lạy

    trước bàn thờ và cầu nguyện thần linh sao cho mưa thuận gió hoà, quốc

    thái dân an, mùa màng thuận lợi, sản xuất phát triển, nhân dân ấm no.

    Như thế, lễ Kỳ yên mang hai ý nghĩa: vừa tưởng nhớ một vị có công khai

    phá miền Nam Bộ, vừa cầu mong một cuộc sống no đủ. Cho nên, đây là một

    sinh hoạt văn hoá dân gian đáng được bảo tồn, duy trì và tạo điều kiện

    phát triển.

     

    Thêm Một Bài Viết Lễ

    Kỳ Yên rất súc tích

    DIỄN TIẾN CỦA LỄ

    KỲ YÊN

    Tác giả: Sơn Nam

     

    Ở đồng bằng sông Hồng, hồi đầu thế kỷ,sinh hoạt ở

    đình làng đa dạng. Đọc Phan Kế Bính, ta thấy nào Kỳ Yên, Kỳ Phúc (cầu

    an, cầu phước), Nhập Tịch. Ở Nam Bộ, nói chung không nghe đến Cầu Phước,

    tùy truyền thống để lại, do nguyên quán của dân địa phương hoặc của ban

    Tế tự mà bày ra cúng lớn, cúng nhỏ, thêm vấn đề « tiếp thị », nơi tập

    trung nhiều bạn hàng, tiểu thương…

    Đình Bình Tân, trước chợ Bình Tây (Chợ Lớn) có thể tạm làm điển hình.

    Ngoài ra, còn đình Minh Hương Gia Thạnh (quận 5, đườnh Trần Hưng Đạo)

    thời trước đã tập trung nhiều thân hào am hiểu sinh hoạt cổ truyền, nay

    đang trên đà phục hồi.

    Ban Quí Tế, hiểu là cúng tế dịp Tam Ngyên, Tứ Quí (ba ngày rằm và bốn

    mùa) lo chắm sóc phần trùng tu, tổ chức tế lễ. Xưa, ở đình, gọi Hương

    hội, Hương chức đình, với từng chức vụ trong hội, Ban tuy khác nhưng gần

    giống nhau, ở các đình. Xưa kia, đứng đầu là ông Hương Nhất, thành viên

    gồm Hương Nhì, Hưong Ba, Hương Tư, ĐạI Tổng Lý chấp sự, Chánh Hồi, Phó

    Hồi, Đông Hiến, Tây Hiến, Tổng Lý, Hiệp Lý, Hương trưởng.

    Công việc của ban Tế lễ khá bề bộn, nhất là ở đình qui tụ đông đảo khách

    và bá tánh. Đây là những ngày lễ của đình Bình Tiên, thời trước (theo âm

    lịch) :

    – Tháng Giêng : Tết Nguyên Đán, mùng 1, mùng hai, mùng ba.

    Ngày 13, vía Quan Thánh Đế Quân (Quan Công).

    Ngày rằm, 16, 17,lễ Kỳ Yên (cúng Thần).

    – Tháng Hai : mùng 2, vía Phưóc Đức Chánh Thần, một dạng, ông Bổn, Thần

    Tài.

    – Tháng Ba : Thanh Minh.

    Ngày 19, vía Hậu Thổ.

    – Tháng Năm: Mùng 5 và 6, vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu. Bà nầy , theo

    truyền thuyết, được phong cho thần núi Bà Đen (Tây Ninh).

    Mùng 10 và 11, tế Bổn Cảnh Thành Hoàng (thần sở tạI).

    Ngày 13, vía Quan Thánh Đế Quân.

    – Tháng Sáu: ngày 24, vía Quan Thánh Đế Quân.

    – Tháng Bảy: ngày 17 và 18, Vía Ngũ Hành Nưong Nương.

    – Tháng Chín: mùng 9, vía Quan Thánh Đế Quân.

    – Tháng MườI: Mùng 10, cúng Thần, cử hương chức đình nhiệm kỳ mới.

    – Tháng Chạp: 25, đưa Chư vị.

    Ngày 30, rước Chư vị.

     

    Đại khái, tùy địa phương. Nhiều nơi, ở nông thôn,

    bày lễ Hạ Điền, Thượng

    Điền, hoặc Cầu Bông (cầu lúa trúng mùa, bông trái xum xuê). Nhiều đình

    nặng về cúng Quan Thánh,dấu ấn, có lẽ thời trước của “Hội kín” chống

    Pháp, suy tôn Quan Công là vị Thần linh ứng nhất. Có nơi bài thêm lễ vào

    mùng 7 tháng Giêng, dịp tiệm quán khai trương đầu năm. Hoặc mùng 9, mùng

    10 tháng Giêng (mùng 9 vía Trời, mùng 10 vía Đất). Rằm tháng Giêng là

    rằm đầu năm, Thượng Nguyên, cúng lớn.

    Đình Minh Hương Gia Thạnh (Chợ lớn), thời trước 1945 vì sung túc, gồm

    nhiều thân hào nhân sĩ nên dịp cử Ban Tế lễ cuối năm khá long trọng. Bàn

    cãi sôi nổi, biểu quyết, không ai đủ phiếu thì bầu lại trong vòng nhì,

    vòng ba. Mở đầu, buổi trưa ăn bánh Hỏi (ngụ ý hỏi han, xem chừng ai ứng

    cử). Nếu bầu chưa xong, bàn cãi tốn thì giờ, bày ra ăn bánh Xèo (xèo,

    nghĩa đen là xẹp, héo, xì hơi như trường hợp quả bóng mất hơi). Bầu

    xong, bày lệ ăn Suông (kiểu báng canh, con bánh co nhồI thịt, tôm).

    Suông, hiểu là suôn sẽ.

    Phần việc nặng nề không kém là tiếp đón các hội của đình bạn, lắm khi từ

    xa đến. Đón nhận lễ phẩm, mời ban đạ diện hội đình bạn vào chánh điện để

    tế. Nói chuyện vui, mới ăn cỗ, rồi sau đó, khi đình bạn gặp dịp cúng tế,

    phải cử đại diện đến mà đáp lễ, thường là bằng hoặc là trội hơn món lễ

    của bạn, trường hợp đình chủ nhà khá giàu (nhang đèn, tiền mặt).

    Trong số bá tánh, thường cử vài phụ nữ đứng tuổi phụ giúp về giao tế,

    hoặc làm trưởng ban lo thết đãi. Theo cỗ lệ, trừ trường hợp đình thờ nữ

    thần, trong ban Tế lễ chọn toàn là đàn ông. Nhưng từ nhiều năm, việc

    phân biệt ấy lần hồi trở nên linh động, họa chăng tỏ thái độ dè dặt, đề

    nghị những phụ nữ có uy tính, đứng tuổi vào ban Tế lễ, nhưng không cho

    trách nhiệm niệm hương hoặc làm Chánh tế, Bồi Tế. Đình Thần Hoàng, theo

    thông lệ, thờ thần đàn ông, khí Dương đem sức mạnh cho muôn loài, muôn

    vật.

    Tuy theo đạo Khổng, ăn mặn, uống rượu nhưng dịp Kỳ Yên, để làm vui lòng

    bá tánhvá cũng để đoàn kết dân trong xóm, vã lại, những vị trong ban Tế

    lễ thường « kính Phật, trọng Tăng « nên cũng rước một nhà sư đến tụng

    kinh cầu an. Trước ngày lễ, bày bàn thờ Phật, thường vào buổi tối, trên

    bàn thờ chưng bày hoa, trái cây, nước trà thỉnh nhà sư tụng kinh. Vị

    Chánh tế hoặc Bồi tế phải quỳ xuống nghe kinh, ít nhất cũng vài đoạn.

    Lắm nơi, đủ phương tiện, thường là buổi chiều, bày cúng Thần Nông, với

    xôi, thịt, bánh qui trước miễu. Cúng luôn ông Hổ, nếu có thờ, thường là

    cái bệ gạch, không nóc. Đáng lưu ý : Thần thánh, chư vị ngày xưa không

    quen những thức ăn quá mới, bởi vậy, cúng với rượu đế. Trước khi tế, lấy

    vãi đỏ phủ cái mõ, cái chiêng, cái trống ; bên cạnh ba nhạc khí nầy, cắm

    ngọn nến, đốt cháy, phải chăng gợi sự quan trọng lửa thời xưa, âm thanh

    và ánh sáng rất cần thiết. Kiểm soát các người trực tiếp lãnh trách

    nhiệm xem khăn áo chỉnh tề chưa.

    Ngoài việc trang trí thường lệ, ở làng, thậm chí ở thành phố, cần trình

    con heo « hy sinh » trên cái tợ nhỏ, tợ có dáng đặc biệt, như hai mái

    nhà chính giữa cao, hai bên hơi thấp, nhờ vậy tư thế con heo (đã thọc

    huyết trong lễ Tỉnh sanh) trông trang nghiêm hơn. Lắm khi,nếu giữ tục

    xưa thì khoét bên vai con heo một cục thịt nhỏ,tượng trưng thịt sông,

    đặt trên cái dĩa, cúng trên bàn thờ chính.

    Đề phòng hôi hám, lắm khi đem con heo trụng sơ trong nước sôi có không

    luộc. Nhiều nơi còn giữ lề đặt miếng sườn heo sống (gói trong bao giấy

    hoặc ny lông) kế bên những món đã nấu chín, ở bàn thờ phụ.

    Việc Tế lễ gồm nhiều tiết mục, tùy miếu hay đình làng, miếu thờ danh

    nhân không có mõ vì mõ thuộc về Thành Hoàng, chăm sóc trực tiếp việc

    làng thời xưa. « Mõ« , chữ Hán gọi là Thác, theo Đào Duy Anh, là miếng

    gỗ để đánh canh ban đêm. Đọc Phan Kế Bính, thấy chiêng và trống mà thôi,

    không thấy ghi cái mõ. Đình ở Nam Bộ, đánh mõ gọi là Kích thác. Phải

    chăng đây là bảo lưu một lệ hồi xưa, nghe tiếng mõ thì dân làng hiểu là

    họp dân hoặc báo động trôm cướp, chức năng ấy khi Pháp đến, giao cho

    hương chức hội tề, về hành chánh ; đình làng còn giữ vai trò tinh thần

    tượng trưng mà thôi.

    Diễn biến của buổi cúng đình ở Nam Bộ được đơn giản hóa lần hồi, đại

    khái là vẫn ba tuần rượu, sau đó « Thụ tộ « hoặc « Ấm tộ « , hưởng tượng

    trưng lộc của thần, dùng chén rượu đã cúng mà uống, thay cho dân làng.

    Buổi lễ lớn, quan trọng nhất là « Đàn Cả « , trước đó có lệ Túc Yết, tức

    là ban Tế lễ gom lại, trình diện, diẽn tập, có thể so sánh với dịp cúng

    giỗ ông bà, trước ngày giỗ chánh thức là buổi cúng Tiên thưòng. Đình nào

    khiêm tốn thì bỏ lễ Túc Yết cho bớt kinh phí.

    Vẫn chưa dứt khoát về tên gọi : Đàn hay Đoàn. Trên tấm thiệp mời ở ngôi

    đền sát chọ Biên Hòa, thấy ghi Đại Đàn. Đàn là nơi cử hành lễ (lâp đàn,

    đàn Nam Giao) có lẽ đúng hơn.

    « Việt Nam Phong Tục” của Phan Kế Bính tóm tát những chi tiết và lời

    xướng của lễ tế vùng đồng bằng sông Hồng. Trong quyển « Non Nước Khánh

    Hòa «, Nguyễn Đình Tư đã ghi nghi thức ở Nam Trung Bộ. Gần đây, cụ Đỗ

    Văn Rỡ đã ghi lại nghi thức (đã cải biến) ở Lăng Ông Bà Chiểu. Đây là

    ngôi miếu có cơ ngơi rộng, với kinh phí tế lễ tưong đối đầy đủ, giữ vài

    nét chính để gây không khí tôn nghiêm, trong hoàn cảnh Sài Gòn – Chợ Lớn

    đô thị hóa. Xin ghi lại để tham khảo. Về cơ bản, trong cả nưóc, nghi

    thức nhau nhưng « đại đồn tiểu dị « .

    Những lời xướng sau đây do lễ sanh (học trò lễ) « xướng » lên, theo

    giọng riêng của hát bội (ta còn gọi đờn ca hát xướng).

    -         

    Bài ban ban tề, đứng vào vị trí của mình.

    – Tịnh túc thị lập, giữ im lặng.

    – Chánh tế tựu vị, Chánh Tế bước đến trưóc bàn nghi.

    – Bồi tế tựu vị, Bồi Tế (trợ lý) bước đến bàn nghi.

    – Củ sát tế phẩm, đích thân xem xét nhũng lễ phẩm trên từng bàn, cho

    biết đủ thiếu, sơ sót chi tiết nào chăng.

    – Ế mao huyết, đến hai cái tô đựn huyết tươi và lòng heo, nâng lên, đưa

    ra ngoài mà chôn. Nếu không làm tịt heo, trường hợp « tế chay « , không

    xướng mục này. Nhưng theo ý tôi, khó chấp nhận việc giải thích như thế.

    Món « hy sinh « không có, thì lấy gì thay thế cho « tam sinh « . Tế

    thần, dùng rượu, không gì thay thế được. Phải chăng rượu là món mặn ? Có

    thể giải thích vì lý do vệ sinh nên không chưng bài con heo đã cạo lông

    trước mặt quan khách, có thể gây ấn tượng « hôi hám ».

    – Thiểu thối , hoặc lễ nhượng, hai vị chánh và bồi tế xá, lui ra ngoài.

    – Chấp sự viên tựu vị, mấy vị chấp sự xếp hàng đi đế chánh điện. Chấp sự

    là người thi hành những công tác qui định, thí dụ như đánh trống, đánh

    chiêng. PhảI là người trong ban Tế lễ, khăn đen áo dài.

    – Nghệ quán tẩ sở, lễ sinh cầm ngọn đèn đi trước, hướng dẫn các vị trong

    ban đén cái giá, sẵn thau nước và cái khăn. Giữ mặt mày, tay chân sạch

    sẽ trở thành nguyên tắc.

    – Quán tẩy, thò tay vào thau nước, rửa mặt tượng trưng.

    – Thuế cân, lấy khăn mà lau mặt tuợng trưng.

    – Chỉnh y quan, sửa lại khăn áo cho chỉnh tề, tượng trưng.

    – Phục vị, trở lại vị trí cũ,trong chánh điện.

    – Chấp sự viên chấp kích, lễ sinh đưa cái mâm trong đó đặt sẵn cái dùi

    trống, dùi đánh chiêng, mõ. Chấp sự viên lãnh cái dùi, xá kính cẫn.

    – Chấp sự viên giả các tư kỳ sự, chấp sự viên đến vị trí, gần cái

    chiêng, cái trống hoặc cái mõ.

    – Khởi cổ lịnh, đánh ba hồi trống lịnh, hiểu đây là cái trống nhỏ, cầm

    tay, có cán. Thời xưa, vua hoặc quan đại thần đi ngoài đưòng,có tên quân

    hầu cầm loại trống nầy, chạy phía trước , mở đường. Tiếng trống nầy giúp

    ta tưởng tuợngvị thần đang ở trên đưòng vào đình miếu, đã tới ngoài cổng

    rồi.

    – Khai Thái bình thanh (thinh), đánh mõ ba hồi. Tôi hiển « Thái bình

    thinh « là những hồi mõ thongthả, bình thuờng, báo hiệu những ngày thái

    bình trong địa phhưong, khác với nhịp điệu của tiếng mõ báo động thời

    chiến.

    – Khởi minh chính, đánh ba hồi chiêng.

    – Khởi đại cổ, đánh ba hồi trống.

    – Chinh cổ tề thinh, chiêng và trống đánh ba tiếng, hết chiêng rồi

    trống.

    – Nhạc sanh tựu vị, đem hai cái trống lễ, loại trống đẹp, đặt trên cái

    giá ba chân, có thắp nến trên cái giá, trước cái trống. Hai trống nầy

    đặt bên tả, bên hữu ban nghi.

    – Nhạc sanh tác nhạc, đánh trống lễ, hai trống ăn rặp với nhau, trong

    khi những nhạc công ở bên vách thổi kèn, đánh đàn dây, bản Nghinh Thiên

    Tiếp Giá, dành tiếp rước nhà vua, tưởng tượng như vị thần đang ngự trên

    bàn thờ, thay mặt cho nhà vua để nhận lời thỉnh cầu của dân làng. Bản

    nầy khá dài, dứt một hồi, có tiếng trống cơm vỗ đơn chiếc, nghe độc đáo,

    rồi kèn, đàn, chập chõa lại hòa tấu.

    – Niệm hương viên tựu vị, người niệm thya mặt cho ban Tế lễđến trước bàn

    thờ, đ&ung ra, phải làm lễ quán tẩy, rữa mặt, chùi mặt tượng trưng,

    chỉnh đốn lại khăn áocho ngay ngắn,

    – Phục vị, người niệm hương quì xuống.

    – Phần hương, lễ sinh đốt ba cây nhang cung kính đưa lên trán, xưóng lên

    : tạ Thiên, tạ Địa, cầu chúc những vị lãnh đạo dân tộc mạnh khỏe, tạ

    Thánh Thần, nguyện gìn giữ nhang khói trong đình miếu, lễ tế mãi phát

    huy trang trọng.Thời xưa, ngươì lãnh đạo dân tộc là nhà vua.

    – Thượng hương, trao ba cây nhang cho lễ sinh cắm lên bàn thờ.

    – Phủ phục hương bình thân, bỏ tư thế quì, đứng thẳng người.

    – Cúc cung bái, xá rồi , quì lại.

    – Hưng, rồi bái ba lần.

    – Hưng bình thân, đứng thẳng người.

    – Lễ nhượng, lui ra ngoài, rới chiếc chiếu giữa điện.

    – Chánh tề tựu vị, viên chánh tề vào chiếu, đứng thẳng người xá.

    – Bồi tế tựu vị, viên bồi tế bước vào chiếu.

    – Đông hiến tựu vị, viên chấp sự phụ trách bàn thờ phía Đông bưóc vào

    chiếu, trình diện.

    – Tây hiến tựu vị, viên chấp sự phụ trách bán phía Tây đến trình diện ,

    cả hai trở lại chỗ củ.

    – Đông tây các tư kỳ phận, hai viên chấp sự đến bán thờ phía Đông và

    phía Tây.

    – Nghệ hương án tiền, học trò lễ bưng đài đựng lư hương nhỏ đến chiếu

    giữa.

    – Giai quỳ, chánh tế, Bối tế và hai vị Đông, Tây hiến quì xuống.

    – Phần hương, hai tay nâng nén hương lên, bỏ vào cái lư nhỏ. Hiểu đây là

    dót trầm hương, trong lư nhỏ sẵn than đỏ rực, không trầm hương thứ thiệt

    thì dùng trâm hương vụn, gói lại với giấy, từng thỏi nhỏ. Hương cháy

    lên, rồi nâng ngang trán.

    – Thượng hương, Lễ sinh nhận cái lò hương, lui trở lại vị trí phía sau,

    rồi tiến vào chánh điện.

    – Phủ phục hưng bình thân, chánh, bồi tếĐông hiến, Tây hiến đứng dậy,

    rồi hưng bái, lại bốn lần.

    – Hành sơ hiến lễ, dâng tuần rượu thứ nhất. học trò lễ đem đến một khay

    rượu, với cái nhạo và chén trong khi xướng Nghệ tửu tôn sở.

    – Chước tửu, châm rượu vào chén, nửa chén.

    – Tấn tước, nâng chén rượu lên ngang trán.

    – Hiến tước, học trò lễ lui về phía sau rồi theo nhịp trống, tiến lên

    bàn thờ.

    « Tước » là kiểu chén đựng rưọu bằng đồng, thời cổ, thời đại đồ đồng,

    tước có ba chân ngắn và hai cánh ngạnh ; vị thần (hoặc quan to) cầm tước

    với ba cái chân, đứ lên miệng, ngữa mặt mà uống,nhờ hai cái ngạnh chỏi

    vào má mà rượu không đổ…

    Kế đến phần đọc văn chúc, hiểu là văn tế, ca ngợi công đức, cầu xin ơn

    của vị thần. Trước đây, có ngưởi chuyên đọc chúc văn, với lời lẽ ê a,

    rất khó nghe, như là kiểu đọc kinh. Nay thì caỉ cách, đọc dễ nghe hơn.

    -         

    Nghi lễ cứ diễn tiến, đến tuần rượu thứ nhì, gọi « Á hiến « , rót rượu

    nâng chén ngang trán, rồi « Hiến tưóc « . Đến tuần rượu thứ ba, gọi «

    Chung hiến lễ « . Có thể bài ra việc dâng bánh, dâng trái cây, dâng trà.

    -         

    Để chấm dứt, còn một lễ quan trọng là « Ẩm phước « , uống phần rượu trên

    bàn thờ, cúng nãy giờ, đem xuống cho Chánh tế, Bồi tế uống tượng trưng,

    rồi « Thụ tộ « ăn phần thịt đã cúng, tượng trưng, thường là ăn trái cây

    (nho, nhãn), ăn và uống thay mặt cho dân làng, như là lộc của thần

    thánh. Xong rồi, đốt văn tế, tuyên bố « Lễ Thành », tức là bế mạc. Học

    trò lễ xếp hàng, lạy thần, bá tánh lạy sau.

    Nói chung, khi đa số dân làng sống với nông nghiệp, sau vụ mùa hoặc chờ

    vụ mùa, chờ trời mưa, ai nấy rảnh rỗi, cúng ba tuần rượu (sơ hiến, á

    hiến , chung hiến) kéo dài hơn tiếng đồng hồ, với những động tác trang

    nghiêm,chậm rãi đưa rượu đến Chánh tế, rót rồi, lui ra phía đằng xa, để

    chậm rãi tiến lên bàn thờ, cứ lặp đi lặp lại dễ nhàm chán đối với người

    tham dự đang bận rộn sinh kế, thời nay. Nhưng không thể nào rút ngắng

    được, phải đúng ba tuần rượu ! Và mỗi tiết mục dâng rượu, trà, phải lạy

    bốn lạy, không bớt được, quá nhiều lần quì lại.

    Nếu rảnh rang, khi lớn tuổi, người tham dự có tể thư giãn tinh thần,

    trong bầu không khí đầy ánh sáng lung linh của nến, giọng thoi thúc liên

    tục của nhạc lễ, thêm màu sắc và bước đi cách điệu của học trò lễ.

    -         

    Ở đồng bằng sông Hồng, lễ sinh mặc khăn đen áo dài, đi chậm rãi, nhưng ở

    phía Nam, lễ sinh tiến tới, thối lui như vũ điệu, lắm khi lễ sinh cắm cờ

    sau lưng (điệu võ, khác với văn). Học trò lễ lần hồi cải cách dáng đi,

    đại khái mỗi hàng gồm hai người, người đi trước nâng ngọn đèn sáp, người

    thứ nhì nâng khay rượu, chân đá, nhún nhảy theo những bài bản xuất hiện

    từ sau năm 1930, thí dụ như chân đặt theo chữ Đinh (chữ Hán), rồi mở ra

    chữ Bát, kết thúc, đá chân lên, như chữ Tam. Lễ sinh mặc áo, đội mão như

    người thi đậu tú tài ngày xưa, chân mang giày ủng như võ tướng, trong

    khi nhạc trỗi, nhịp trống hướng dẫn bước đi cho rập ràng. Phải chăng

    điệu đi đứng của học trò lễ ở đình làng mô phỏng phần nào dáng đi của vũ

    sinh, trước kia, múa dành cho ông hoàng, bà chúa thưởng thức riêng ở

    cung điện, rồi du nhập vào phía đồng bằng sông Cửu Long và Đồng Nai, trở

    thành món ăn « bình dân« cho dân gian, khi khẩn hoang. Những người cố

    cựu, bảo lưu truyền thống xưa, bảo đó là sáng kiến của Tả Quân Lê Văn

    Duyệt, khi ngài làm Tổng Trấn cai quản toàn Nam Bộ. Như ta biết, Lê Văn

    Duyệt và vua Minh Mạng không thích nhau, vì mối thù riêng : Là công

    thần, họ Lê đứng về phía hoàng tử Cảnh (đã chết), chọn con hoàng tử Cảnh

    lên ngôi, khi Gia Long mất, không đồng ý chọn Minh Mạng. Minh Mạng trù

    dập bằng cách đưa họ Lê vào Nam, không cho ở Huế, e gây bất trắc về quân

    sự và chánh trị. Vào Nam, họ Lê mở mang đất đai, tổ chức cho dân khẩn

    hoang. Lại ban hành chính sách ngoại thương rộng rãi, như lấn quyến

    thách thức Minh Mạng. Ở Huế, có múa hát riêng cho vua chúa và hoàng tộc

    thưởng thức như là đặc quyền, đặc lợi ; vào Nam Bộ, Lê Văn Duyệt với

    quyền hạn lớn như vị Phó vương cũng trự xem mình đặc quyền đạc lợi không

    kém, và bình dân hóanhững thứ giải trí của giới quý tộc.

    Tham khảo « Nhưng đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam » do Đỗ Băng

    Toàn và Đỗ Trọng Huề biên soạn, thấy có múa Lục Cúng, ghi lại kiểu đi

    theo hình các chữ Hán.

    – Dâng bình hương, chân đi theo kiểu chữ Nhật.

    – Dâng bình hoa, đi theo kiểu cái hoa nồi, một cánh (không rõ chi tiết

    hoa một cánh nầy – S.N)

    – Dâng đèn, chân đi theo hình chữ Á.

    – Dâng trà, theo hình chữ Thủy.

    – Dâng quả, theo hình chữ Vạn.

    – Dâng thực (thực phẩm) theo kiểu chữ Điền.

    Về các bản nhạc dùng trong dịp tế lễ ở đình, có sự cải cách cho hợp

    với tình

    huống, trang nghiêm ra trang nghiêm, vui tươi ra vui tươi, dùng nhạc tài

    tử, nhạc hát bội và làn điệu hát dân gian.

    Dịp cúng tổ ngành nghề (thợ Bạc, hát Bội), thậm chí cúng cá Ông (cá

    Voi),

    vẫn tuân thủ nguyên tắc ba tuần rượu, không ai dám làm khác hơn, họa

    chăng thêm thắc chi tiết nhưng gọi với từ ngữ khác. Lễ Tất hoặc lễ

    Thành, lắm khi nói trại hoặc nói sai. Lại bài ra cúng những hội viên

    trong ban Tế quá cố, học trò lễ đi thật chậm, nhạc cử điệu Ai.

    Ở Nam Bộ, lễ hội lớn vẫn là Kỳ Yên, những lễ khác diễn ra ở đình thường

    nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của đồng bào địc phương, như mùng Bảy

    tháng Giêng, hoặc đêm Giao Thừa. Ở đồng bằng sông Hồng, theo Phan Kế

    Bính ghi lại có :

    – Tế Kỳ Phúc, với nghi thức và nội dung giống hệt như Kỳ Yên ở Nam Bộ,

    làm lễ cáo yết(Túc Yết ở Nam Bộ), rồi Tỉnh sanh để giết con « hy sinh ».

    Tế chủ, Bồi Tế tựu vị đọc chúc văn, Thụ Tộ, nhạc sinh tựu vị, sơ hiến,

    tiến tưóc, đọc chúc, Lễ Tất, cũng như quán tẩy, thuế cân, vân vân. Đáng

    lưu ý vì mang tính thống nhất đến tận mũi Cà Mau.

    – Trà Nhập tịch, các bô lão lau thần vị,rước thần vị về đình, cử hành

    đại tế rồi xướng ca, có ả đào, kép hát chúc mừng, reo vang tỏ ý khoái

    trá, với đám đông phụ họa, reo ba lần, hát chèo mãi đến hôm xuất tịch,

    gọi « rã đám » (giải tán). Nội dung lễ « Nhập Tịch » được nêu rõ : « Lễ

    nầy cũng đồng nghĩa với cách ăn Tết đầu năm, nghĩa là dân mình khó nhọc,

    vất vã quanh năm thì phải có một dịp ăn uống vui chơi. Vậy nhân cái tục

    sùng thượng quỉ thần, bày ra trò nầy trò nọ, nhưng rút lại chỉ để cầu

    vui mà thôi… Xét ở luật lệ bản quốc (có lẽ luật Gia Long – S.N.), trong

    làng hát xướng thờ thần chỉ được phép làm một ngày một đêm, nếu là quá

    thì lấy luật vi chế mà luận tội. « Đã có luật cấm như thế, sao mà không

    thấy mấy nơi tuân hành đưọc ».

    – Đại hội. Nếu Nhập tịch mỗi năm mở một lần thì Đại Hội cứ năm muời

    năm,hoặc năm bảy mươi nămmới mở một lần. Nếu đúng như lời Phan Kế Bính,

    có lẽ những người 50 tuổi lắm khi suốt đời không được thấy lễ Đại Hội !

    Lễ nầy chỉ cử hành khi dân trong làng liên tục trúng mùa, hoặc được

    phong sắc thần (như vậy là có nhiều đình không có sắc thần) hoặc là tu

    sửa đình miếu (đại tu). Cũng là một kiểu nhập tịch nhưng qui mô lớn hơn,

    vui chơi suốt tháng mới dứt, «Tháng Giêng là tháng ăn chơi«.

     

    Đình miếu sửa sang cho đẹp, mỗi người giàu hay

    nghèo sắm bộ quần áo

    mới, đường cái trong làng treo đèn.

    Trướ nửa tháng, người đồng văn mỗi đêm dạy cho đàn em kỷ thuật đánh

    trống, điệu trống rước, đổ hồi, trống tế ; tập tành khiêng kiệu , đánh

    thanh la. Đến lễ rước nước, tìm giếng nước tốt, hoặc ra giữa sông, múc

    thức nước tinh khiết nhất để lau chùi tấm thần vị, dùng nấu nước pha trà

    khi cúng.

    Lễ Gia quan cử hành, nhằm bắt buộc nhưng người khiêng kiệu và lãnh trách

    nhiệm khiêng trống, chiêng (gọi đô tùy) phải giữ thân thể sạch sẻ, ăn

    chay từ mấy ngày trước, họ vào phòng mặc quần áo riêng, với màu sắc rực

    rỡ, đặc biệt là mang một thứ khẩu trang, đề phòng mùi ô uế tứ miệng có

    thể làm ô uế cái thần vị.

    Lễ Phụng nghinh hồi đình cử hành vào hừng sáng, nưng chuẩn bị trước khá

    lâu, tiếng trống thúc giục liên hồi để ai nấy đủ thời giờ sẳn sàngkhiêng

    kiêẹu từ miếu ra cổng.

    Kiệu dừng ở cổng tam quan để chờ các xã kết nghĩa đến, sắp hàng rồi cùng

    đi, đường kha xa từ miếu đến đình, cần thay đổi ngươì khiêng kiệu. Bọn

    đô túy mang nhiều thứ cờ đủ máu sắc tiêu biểu cho tứ ling (long, lân,

    qui, phụng) , cho bốn phưong Đông, Tây, Nam, Bắc, thêm trống chiêngtượng

    con ngựa bằng gỗ, lắm khi có voi trận (đan bằng mây)với lọng tán, gươm

    giáo. Các nữ nhạc côngvỗ tróng cơm. ỗi kiệu có tám người khiêng và tám

    người trù bị để tiếp sức. Đây là trường hợp một làng có một đình nhưng

    có bảy, tám đền miếu thờ thần thánh khác nhau. Ta thấy đô tùy mà trong

    Nam gọi trại ra « đạo tỳ « là người khiêng vác, không riêng gì cho đám

    tang, nhưng cũng cho lễ hội. Khiêng kiệu đòi hỏi kỹ thuật riêng, khi lên

    dốc, qua đồi cần được giữ thăng bắng.

    Mục hát xướng đưọc trình diễn linh động, kèm theo ăn uống, mâm cỗ đưa

    đến, do những người nhá giả, nào cỗ chay, cỗ mặn.

    Bách hí là nhưng trò giải trí như hát Bội với người cầm chầu đánh trống

    khen chê cách diễn xuất. Phải chăng hát Bội nầy là dạng mà trong Nam gọi

    « tuồng đồ « , lờì lẽ bình dân, pha trò để gây cười cho khán giả. Loại

    hát tuồng nhằm diễn lại những sự tích trong truyện Tàu như Tam Quốc…

    Trò quỷ thuật (nay gọi ảo tuật) đã có từ xưa, như thả câu vào chậu nước

    không có gì, nhưng khi giật lên thì được con cá tươi, hoặc căng dây

    ngoài trời, có đi trên dây hát múa, ném và chụp những quả cầu nhỏ mà

    không để rớt. Dưới ao to, mọI người xúm nhau xem mua rối nước.

    Tiết mục bắt bài (trong Nam gọi bắt bài Phiên) với nhiều cô gái cầm đèn,

    đội mão cài trâm, phấn son xinh đẹp, tới lui nhịp nhàng, múa hát theo

    bản »bắt bài« .

    Múa bông, theo Phan Kế Bính, « trò ấy ở Nam Kỳ thường có« . Ta hiểu đây

    là nhưng « bà bóng múa rối « , họ bái tró xiếc, trên đầu chiếc đũa, đặt

    cái dĩa, cử động nhẹ khiếng cái dĩa quay tròn, không rớt, hoặc cắn vào

    mồm một cái chân bàn nhỏ, ba chân kia nằm nghiêng, hàm răng cắn quá chặt

    khiếng cái bàn khôngrơi, hoặc cắn khúc cây ngắn, ở đầu khúc cây đạt cái

    ve chai dựng đứng. Ở trong Nam, những bà bóng nổi danh thường là « ái

    nam ái nữ « , lúc trình diễn, họ múa tay để giữ thăng bằng cho cái dĩa

    hoặc cái ve chai vừa nói ; thiếu âm nhạc đàn, sáo, hoặc thiếu tiếng vỗ

    tay để đánh nhịp của đồng bọn thì không trình diễn có kết quả được. Tổ

    tôm điếm, bái phu điếm là trò cờ bạc may rủi, trong rạp, ở mỗi gốc cất

    một cái chòi khá cao (gọi điếm, như điếm canh). Một hiểu Bài chòi ? Lại

    còn đánh cờ người, bên nam, bên nũ, ai muốn đánh thì đăng ký trước, đánh

    trên bàn cờ nhỏ, nhưng phất cờ, để những quân cờ (nam hay nữ) di chuyển.

    Trò đô vật, với kiện tướng đống khố. Lại đốt pháo bông (đốt cây bông),

    pháo bắng ra nhiều màu sắc, hình ảnh, hoặc chữ Hán ca ngợi sự thái bình,

    thạnh trị.

    Bơi chải, gọi nôm na là đua thuyền, mỗi thuyền ngắn, nhỏ gồm chín mười

    người bơi, thi nhau đến mức trưóc. Lại còn trò chọi trâu (ở vùng Hải

    Dương), chọi chim họa mi, thi thả diều, leo côt thoa mỡ (phải chăng tục

    leo cột để giật phần thưỏng treo ở chót ngọn cờ do Tây phương du nhập

    ?). « Nấu cơm thi « đòi hỏi khả năng ứng phó trước khó khăn bất ngờ, như

    thiếu củi, chỉ có cây mía, phải ăn mía cho nhanh, lấy xác mía ẩm ướt ấy

    mà chụm bếp. Rồi đến buổi rã đám, tức là giải tán, bế mạc, sau non một

    tháng vui chơi.

    Thật tốn kém thời giờ, tốn sức khỏe, tiền bạc, lãng phí quá đáng, thí dụ

    như chọi gà ăn tiền. Phan Kế Bính cực lực lên án kiểu hội hè nói trên. «

    Tiên chi lực ư dân nhi hậu thần giáng chi phúc « . Con người nên gắng

    sức làm việc, rồi sau đó, họa may thần ban phước cho.

    Đọc Phan Kế Bính, ta còn thấy lễ Kỳ An (Kỳ Yên) ở đồng bằng sông Hồng

    lắm khi mang nội dung tôn giáo, đúng ra là đạo Lão suy thoái , với ít

    nhiều phù phép, nhằm đuổi ma đuổi quỉ. Khác với nội dung Kỳ Yên ở Nam Bộ.

    Hồi đầu thế kỷ nầy,

    Theo Phan Kế Bính, buổi lễ dùng toàn đồ hàng mã, mời nhà sư (hiểu là

    thầy cúng) và các pháp sư đến, lập hai đàn, dành cho môn phái nhà Phật

    và các pháp sư. Pháp sư múa gươm, mặt mày hoá trang cho ra vẻ hung hăng.

    Phía đạo Phật, nhờ thầy cúng đến bái lễ « Lục cúng », cúng sáu món như

    hương, đăng, hoa, trà, quả thực. Phap sư giăng dây, treo quần áo giấy,

    rồi cắt đứt sợi dây, tượng trưng cho việc cắt đứt sợi dây oan nghiệt

    hòng giải cứu chúng sanh. Lại lập đàn Mông Sơn, bên dưới bày cơm, cháo,

    mìa, khoai, kẹo, bánh, rồi thì dân trong xóm, trẻ con, người ăn mày tha

    hồ giành giật, chia phần. Lại bài lễ tống ôn do pháp sư bắt ấn, tay cầm

    nhang, tiễn đua ơn dịch ra khỏi làng.

    Ở Nam Bộ, lễ nầy hồi xưa cử hành đơn giản, lắm nơi kết bè chuối, để trên

    bè con gà luộc, cái đầu heo, trên bè cắm cờ ; cúng xong thả bè cho trôi,

    chẳng ai muốn vớt. Theo lệ, chỉ có trẻ con chăn trâu, gốc là con, cháu

    vua Thần Nông mới được quyền vớt mà ăn. Các nhà dân tộc học phương Tây

    đã phân tích : Món dân cúng có hai yêu cầu khác nhau :

    – Ở đình làng, với con heo, con bò làm vật « hy sinh », món cúng tưọng

    trưng cho phần thưởng quí giá ; Thần thánh đã hưỏng rồi, ta xin được

    cùng hưởng với Thần thánh để được phước, do ân trên ban cho.Những món

    cúng trở thành sạch sẽ, thiêng liêng, vô giá, « một miếng thịt làng bằng

    môt sàng thịt chợ « .

    – Dịp tống ôn, tống quái là lo lót cho những hung thần ác độc, xấu xa,

    món cúng đã bị ô uế sau khi thần ôn dịch hưởng, nó trở thành ô uế, xui

    xẻo, không đem phước đúc, trái lại còn gây tai họa, phải vất bỏ.

    Với sự phát triển vế phòng bịnh, tiêm chủng, những bịnh không cứu chửa

    được như dịch tả, đậu mùa lần hồi khó hoành hành, nếu không là trừ tuyệt

    Vói nước sạch, vệ sinh cá nhân. Lần hồi, việc tống ôn không còn chỗ đứng

    trong tâm tư của những người bình thường, thậm chí những người bảo thủ,

    hoài cổ

    Sơn Nam

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Lễ Kỳ Yên Đình Tân Phước Tây
  • Rằm Tháng 7 Là Ngày Gì
  • Hướng Dẫn : Sắm Lễ Cúng Chuyển Văn Phòng Mới Sao Cho Đúng
  • Hướng Dẫn Cúng Giải Hạn Sao Thái Bạch
  • Tìm Hiểu Mẫu Động Ngũ Hổ Đẹp .
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×