Top 4 # Xem Nhiều Nhất Lễ Tắm Bà Chúa Xứ Núi Sam Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Herodota.com

Lễ Hội Bà Chúa Xứ Núi Sam

1. Miếu Bà Chúa Xứ – Điểm du lịch tâm linh của vùng đất An Giang

Hầu hết những câu chuyện về Bà Chúa Xứ đều là những câu chuyện truyền thuyết ly kỳ, đầy tâm linh và huyền bí. Kể về tượng Bà Chúa Xứ cũng vậy. Người ta kể rằng ngày xưa không ai biết ở đâu ra một pho tượng đá lớn ngự trên lưng chừng núi Sam. Nhiều người cho rằng tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên núi Sam. Sau đó người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền như người sống thật. Và từ đó người ta gọi đây là tượng Bà Chúa Xứ.

Miếu Bà Chúa Xứ – Điểm du lịch tâm linh nổi tiếng ở An Giang

Nhắc đến vùng đất Châu Đốc – An Giang hẳn những du khách chuộng loại hình du lịch tâm linh sẽ nghĩ ngay đến miếu Bà Chúa Xứ. Miếu Bà Chúa Xứ với những câu chuyện huyền thoại tâm linh được thêu dệt, truyền miệng từ đời này sang đời khác đã trở thành điểm đến không thể thiếu của những du khách mỗi khi đến An Giang. Khu vực có miếu bà là Núi Sam – Châu Đốc trở thành Trung tâm văn hóa tín ngưỡng của vùng đất An Giang nói riêng, vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Miếu Bà Chúa Xứ tọa lạc dưới chân núi Sam thuộc phường núi Sam, TP Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là địa điểm du lịch tâm linh thu hút hàng triệu lượt khách đến hành hương và chiêm bái mỗi năm. Khi tìm hiểu về “nguồn gốc” của miếu Bà, những câu hỏi như “Bà Chúa Xứ là ai?”, “Từ khi nào có miếu Bà Chúa Xứ?”… thì cho đến nay, mọi thứ còn nằm dưới “bức rèm” của những câu chuyện tâm linh, huyền bí. Chưa có một tài liệu cụ thể rõ ràng nào trả lời cho những câu hỏi này.

Gọi là miếu nhưng đây là một quần thể công trình kiến trúc vô cùng đồ sộ và hoành tráng. Đây là một công trình đồ sộ và hoành tráng, được xây dựng theo khối tháp hình hoa sen nở với mái tam cấp ba tầng lầu, ngói màu xanh, góc mái cao vút như mũi thuyền đang lướt sóng. Trong khu vực chánh điện, Tượng Bà được đặt chính giữa mặc áo bào thêu rồng phụng, kim tuyến lấp lánh và đầu đội mão màu sắc sặc sỡ. Gương mặt bà như đang trầm tư, nghĩ ngợi điều gì.

Miếu Bà Chúa Xứ thu hút đông đảo khách hành hương vào ban ngày lẫn ban đêm

Nói về miếu Bà Chúa Xứ thì có rất nhiều câu chuyện tâm linh. Và một trong những câu chuyện kể đó là vào những năm từ 1820 – 1825, quân Xiêm thường xuyên quấy nhiễu nước ta. Trong một lần đuổi người dân lên đỉnh núi Sam thì chúng gặp phải tượng bà. Chúng ra sức khiêng tượng Bà xuống núi nhưng đến một đoạn thì lạ thay tượng Bà nặng trĩu, không nhấc lên được.

Một tên trong số đó tức giận làm gãy cánh tay trái của Bà, ngay lập tức bị Bà trừng phạt. Từ đó, Bà thường hiện về tự xưng là Bà Chúa Xứ, thường xuyên hiển linh và phù hộ cho cuộc sống của người dân được “mưa thuận gió hòa”, mùa màng bội thu, thoát khỏi giặc giã, cướp bóc hay dịch bệnh.

Sau khi thấy Tượng Bà có nhiều linh ứng, người dân trong vùng bảo nhau khiêng tượng bà về thờ cúng nhưng một lần nữa người dân lại khiêng không được. Họ không thể dịch chuyển được tượng bà dù một bước. Lúc đó, một cô gái “lên đồng” bảo rằng bà chỉ di chuyển được khi có 9 người nữ đồng trinh khiêng.

Người dân làm theo và quả nhiên là khiêng tương bà xuống núi một cách dễ dàng. Tuy nhiên khi đến chân núi thì tượng bỗng nhiên nặng trịch và họ không thể đi được nữa. Và người ta nghĩ là bà chọn nơi này là nơi an vị. Vậy là người dân lập miếu thờ cúng tượng bà ngay chỗ đó.

Tượng Bà Chúa Xứ An Giang

2. Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam – Nét tín ngưỡng tâm linh độc đáo ở vùng Châu Đốc

Sự linh ứng của Bà Chúa Xứ vang xa, một đồn mười, mười đồn trăm…, người trong tỉnh đồn người ngoài tỉnh, người trong nước đồn người ngoài nước và như thế là hằng năm người dân, du khách từ khắp các tỉnh thành, từ nhiều vùng miền trong và ngoài nước tìm đến viếng Bà Chúa Xứ, tham quan miếu bà. Miếu Bà Chúa Xứ trở thành điểm hành hương – tâm linh có ý nghĩa vô cùng quan trọng của vùng đất An Giang. Mỗi ngày, miếu bà tiếp đón không biết bao nhiêu lượt khách tham quan, cúng viếng, nhất là vào lễ hội vía Bà Chúa Xứ.

Lễ hội vía Bà Chúa Xứ diễn ra từ 23/04 đến 27/04 âm lịch hằng năm, tại phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, An Giang. Hội Bà Chúa Xứ diễn ra trong không khí của những nghi thức truyền thống. Phần lễ Vía Bà bao gồm 5 lễ: Lễ tắm Bà, Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà, Lễ Túc Yết, Lễ xây chầu, Lễ Chánh tế trong đó, đặc sắc nhất là lễ tắm Bà được thực hiện vào lúc 24h đêm 23 rạng ngày 24.

Đầu tiên, các vị cao tuổi trong vùng mặc lễ phục áo dài khăn đóng lên đèn, niệm hương, dâng rượu, dâng trà. Sau đó, khoảng 4 – 5 người phụ nữ đứng tuổi, có uy tín trong làng tiến hành việc tắm bà. Nghi thức tắm bà được thực hiện sau bức màn che nhưng có đến hàng ngàn người chen chúc nhau đến chứng kiến ngoài hàng rào chánh điện.

Sau khi kết thúc nghi thức, bộ y phục cũ của Bà được cắt nhỏ ra phân phát cho những người dân đi lễ hội và người nhận được xem đó như là phần lộc mà bà trao cho để mình được khỏe mạnh, làm ăn thuận buồm xuôi gió.

Tiếp theo đó, các vị đại diện miếu sẽ thay xiêm y và làm lễ rước bốn bài vị ở lăng Thoại Ngọc Hầu bao gồm: bài vị của Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, bà nhị phẩm Trương Thị Miệt và bài vị Hội đồng về miếu Bà Chúa Xứ. Lễ này được thực hiện vào 15h ngày 24 như một cách để tưởng nhớ tới người tiền bối đã có công khai khá vùng đất hoang vu này.

Hình ảnh những người chuẩn bị lễ trong lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam

3. Du lịch An Giang viếng miếu Bà Chúa Xứ và tham gia lễ hội Bà Chúa Xứ

Vì những câu chuyện linh thiêng được đồn thổi mà lễ hội vía Bà Chúa Xứ trở thành tâm điểm của công chúng gần xa, những người muốn tìm đến đây để cầu an, cầu phước lành trong cuộc sống, công việc… Nếu ngày thường miếu Bà Chúa Xứ tiếp đón rất nhiều lượt khách tham quan thì vào thời gian diễn ra lễ hội vía Bà, con số này còn tăng lên gấp bội.

Nhiều khách từ các tỉnh thành xa xôi ở Miền Trung, Miền Bắc cũng lặn lội vào tham quan và vía miếu Bà Chúa Xứ. Năm 2001, lễ hội vía Bà chúa Xứ Núi Sam được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia. Điều này càng làm cho lễ hội vía Bà thu hút càng nhiều khách hàng hương, tham quan, chiêm bái.

Khi tham gia lễ hội, du khách sẽ có cơ hội được nghe kể về những truyền thuyết đầy bí ẩn về miếu Bà Chúa Xứ. Những câu chuyện này có người tin là thật, có người còn mơ hồ, có người còn “nửa ngờ nửa tin”. Dù thế nào đi nữa thì đây cũng là điểm du lịch tâm linh vô cùng đặc sắc và độc đáo mà du khách nên thử đến dù chỉ một lần.

Viet Fun Travel

Bài Văn Khấn Bà Chúa Xứ Núi Sam Và Cách Sắm Lễ Khấn Bà Chúa Xứ Núi Sam

Bài văn khấn bà chúa xứ núi sam mà chúng tôi muốn chia sẻ tới các bạn trong bài viết sau đây giúp các bạn đọc chuẩn bị đi chùa xứ núi sam, chuẩn bị đầy đủ lễ vật và bài khấn trước khi đi trẩy hội ở ngôi chùa linh thiêng này.

Miếu bà chúa xứ núi Sam không chỉ được xem là nơi linh thiêng mà còn là di tích có kiến trúc độc đáo. Vì thế mà nơi đây luôn thu hút các khách du lịch tìm đến để hành hương, trẩy hội, dâng hương, lễ vật để cầu xin lộc từ bà chúa xứ núi Sam.

Cách sắm lễ vật cúng khấn bà chúa xứ núi sam

Lễ vật dâng bà chúa xứ núi Sam gồm có: Mâm trái cây ngũ quả, hoa, hương, đèn cầy, hũ gạo, hũ muối, trà, rượu, bánh kẹo, trầu cau, xôi chè, bánh bao, heo quay nguyên con

Trong số các đồ cúng này thì heo quay nguyên con là lễ vật trang trọng, đặc biệt được số đông người hành lễ dùng để dâng cúng. Theo như phong tục thì heo quay dùng để cúng sẽ phải có một con dao cắm ở ngay sống lưng.

Sắm lễ bạn trước khi đi bạn nên chuẩn bị những đồ dễ mang đi như bánh kẹo, hoa quả, hương,… Còn những thứ khác có thể mua tại nơi gần miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam.

Bài văn khấn Bà Chúa Xứ Núi Sam

Khi vào thắp hương cúng dâng lễ vật lên Bà Chúa Xứ thì để lời khẩn cầu được Bà chấp nhận, ban linh, bạn nên khấn theo bài văn khấn bà chua Xứ núi Sam này:

“Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Xứ.Cúi xin được phù hộ độ trì. Hương tử con là: Ngụ tại:….Ngày hôm nay là Ngày….. Tháng….. Năm.Con sắm sửa kim ngân, hương hoa, lễ vật chí thiết một lòng thành tâm dâng lễ, sám hối cầu xin phù hộ cho hương tử con được: gia quyến bình an, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, bách sự cầu được như ý. ……. (Muốn gì cầu xin) Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Xứ, cúi xin được phù hộ độ trì.”

Xin lộc và cách sử dụng lộc Bà chúa Xứ núi Sam

“Ai đi cũng nên xin một BAO LÌ XÌ LỘC BÀ về cho may mắn nha…nói thẳng trong bao có khi là tiền, có khi là tấm áo Bà Mặc cắt ra làm lộc

Khi rước lộc về nhà, thỉnh lộc bà lên một cái dĩa, sau đó để 4 ly nước suối kế bên, cầm từng ly lên khấn cung nghinh bà về cư gia, cứ mỗi ly nước ta khấn xong ta chế 4 góc nhà.

Sau đó trân trọng đặt lên bàn thờ ở Mẹ Quan Âm chứ không nên để chỗ thờ Ông Địa như các nhà thường làm. Sẽ khinh thường bà, mà ông địa ông thần tài năm đó cũng không về được khánh.

Khi đặt lên thì trong 9 ngày phải thay nước và 3 ngày thay trầu cau 1 lần.

Sau đó ta có thể bỏ bóp hay để bàn thờ nhưng ta nhớ thường xuyên khấn Bà xin độ cho chúng con. Nếu để bàn thờ thì nên đặt thêm quanh bao lộc đó 5 thứ ngũ cốc.

Cuối năm ngày 23 âm lịch hóa bao lộc này

Truyền thuyết Bà Chúa Xứ ở Núi Sam – An Giang

Đôi nét về Đá mỹ nghệ Ninh Vân

Cơ sở đá mỹ nghệ ninh vân chúng tôi chuyên thiết kế, thi công, lắp đặt, bán sẵn, các sản phẩm đá mỹ nghệ như: Lăng thờ chung bằng đá, Khu lăng mộ gia đinh dòng họ gia tộc bằng đá, lăng mộ đá đẹp, mộ đá một mái, mộ ba mái đá, mộ đá không mái, mộ đá đơn, mộ đá đôi, cổng tam quan đá đình chùa, cổng nhà thờ họ, mẫu mộ tháp đá, bàn thờ thiên bằng đá,cây hương thờ thiên ngoài trời, cột đá, đá kê chân cột, đài phun nước, linh vật,rồng đá, chiếu rồng, voi đá, ngựa đá, cuốn thư tắc môn bình phong đá , …

Để được tư vấn tốt nhất về sản phẩm quý khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ.

Địa chỉ: Làng nghề đá Ninh Vân – Hoa Lư – Ninh Bình

Điện thoại tư vấn hỗ trợ khách hàng: 0904.576.345

Website: https://langdaninhvan.vn

Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam (Châu Đốc

​Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được tổ chức vào cuối tháng 4 âm lịch hằng năm thu hút hàng triệu lượt người đến tham quan, chiêm bái, tạo nên một mùa lễ hội nhộn nhịp, sôi động tại miếu Bà Chúa Xứ, thị trấn Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Giai thoại về Bà Chúa Xứ

Vào những năm 1820, quân Xiêm thường xuyên quấy nhiễu biên giới nước ta. Khi đến núi Sam, trông thấy tượng Bà, chúng hì hục dùng đủ mọi cách để khiêng tượng Bà xuống núi, nhưng khi vừa đi được một đoạn ngắn thì kì lạ thay, tượng Bà bỗng nặng trĩu đến cả chục binh sĩ trai tráng cũng không thể bê nổi. Khi đó, một tên trong đám giặc nổi giận, đạp vào cốt tượng làm gãy một phần cánh tay bên trái và ngay lập tức bị trừng phạt đau đớn.

Một thời gian sau, nhiều người trong làng luôn mơ thấy tượng Bà hiện về tự xưng là Bà Chúa Xứ, báo mộng dân làng khiêng bà xuống núi lập miếu thờ, bà sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, bảo vệ dân làng khỏi nạn giặc cỏ. Vậy là cả làng lên khiêng tượng Bà Chúa Xứ xuống núi để xây miếu thờ cúng, nhưng không hiểu sao tất cả thanh niên lực lưỡng trong làng cũng không thể bê tượng Bà lên. Khi ấy, một cô gái tự xưng là Chúa Xứ Thánh Mẫu và báo rằng Bà chỉ cần 9 cô gái đồng trinh khiêng bà. Quả nhiên, 9 cô gái di chuyển Bà một cách dễ dàng và khi xuống đến chân núi, tượng Bà trở nên nặng không thể di chuyển được, dân làng hiểu rằng Bà đã chọn vị trí này để làm miếu cho mình.

Tượng Bà cao khoảng 1m65, theo nhà khảo cổ học người Pháp Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, tượng Bà thuộc loại tượng thần Visnu, tạc dáng người ngồi nghĩ ngợi quý phái vương giả. Chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, có thể được tạc vào cuối thế kỷ VI. Theo một số nghiên cứu khác, tượng Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miếu, điểm tô lại trở thành Bà Chúa Xứ quyền thế. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, tượng Bà Chúa Xứ vẫn là còn là điều bí ẩn.

Ban đầu, miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng khá sơ sài, nằm trên vùng đất trũng và lợp bằng lá tre, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra con đường làng và cánh đồng bát ngát. Trải qua nhiều lần trùng tu, đến năm 1992, di tích quốc gia miếu Bà Chúa Xứ hoàn thành khá quy mô với khu Đông Lang, Tây Lang, chánh điện, nhà khách… Ngay lối chánh điện có đôi câu đối thể hiện quyền uy linh thiên của Bà Chúa Xứ:

Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thịXiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng.Dịch nghĩa là:Cầu tất được, ban nhất định linh, báo mộng cho biếtNgười Xiêm phải sợ, người Thanh phải nể, không thể tưởng tượng nổi.

Độc đáo Lễ hội Bà Chúa Xứ

Sau khi xây dựng, miếu được một người trông nom cai quản gọi là Từ. Ban đầu, các hoạt động cúng bái còn khá lẻ tẻ và đơn sơ, tuy nhiên sau năm 1870, khi miếu được trùng tu khang trang đã thu hút người dân thập phương nên Lễ hội Bà Chúa Xứ từ đó cũng trở nên phổ biến. Lễ hội được bắt đầu từ đêm 23/4 đến ngày 27/4 âm lịch, ngày chính vía là 25/4 âm lịch, là ngày tượng Bà an vị sau khi khiêng xuống núi. Các nghi thức cúng bái sẽ được các hương chức trong làng thực hiện theo nghi thức cổ truyền. Trước khi cử hành các nghi thức, vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm, Ban quản trị miếu bầu ra chủ lễ với các tiêu chí như ngoài 60 tuổi và vẫn khỏe mạnh, còn đủ vợ đủ chồng, con cái đông đủ cả trai cả gái và đạo đức tốt.

Vào đêm 23/4, rạng sáng 24/4, Lễ tắm Bà được tiến hành theo nghi thức trang trọng. Tượng Bà sẽ được lau bằng nước thơm, thay y phục mới, còn y phục cũ sẽ được cắt nhỏ và ban cho khách trẩy hội như một hình thức cầu an, cầu may.

Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà được tiến hành lúc 15h ngày 24/4 âm lịch. Tương truyền, Thoại Ngọc Hầu là một danh tướng lẫy lừng thời Nguyễn, từng là trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, người có công lớn trong công cuộc khẩn hoang lập ấp, đào kênh đắp đường, xây dựng và bảo vệ vùng đất mới. Một trong những đóng góp to lớn nhất của Thoại Ngọc Hầu chính là lộ núi Sam – Châu Đốc dài 5km, xây dựng từ năm 1826 đến 1827, huy động gần 4500 nhân công. Sau khi hoàn thành, ông cho khắc bia “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương” dựng tại núi Sam năm 1828 để kỷ niệm. Ngày nay, tấm bia không còn nhưng còn văn bia trong sử sách. Các bô lão trong làng và Ban quản trị miếu mặc lễ phục chỉnh tề sang lăng Thoại Ngọc Hầu làm Lễ thỉnh sắc rước bài vị của Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại để tỏ lòng biết ơn người có công khai phá vùng đất hoang vu này.

Lễ Túc Yết được tổ chức vào đêm 25, rạng sáng 26/4 âm lịch. Lễ được tiến hành theo trình tự: dâng hương, chúc tửu, hiến trà, đọc văn tế. Cuối cùng, văn tế được hóa cùng một ít giấy vàng mã. Tiếp ngay sau Lễ Túc Yết là đến Lễ Xây Chầu – Hát Bội do một người sành nghi lễ và có uy tín trong Ban tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.

Lễ Chánh tế được diễn ra vào 4 giờ sáng ngày 26/4 và cuối cùng, chiều ngày 27/4 sẽ đưa sắc Thoại Ngọc Hầu về lăng.

Phần hội diễn ra rất sôi nổi đan xen với phần lễ, các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian được biểu diễn như múa lân, múa mâm thao, múa đĩa chén… thu hút sự chú ý và tham gia của du khách thập phương. Lễ khai hội thường tổ chức vào trước đêm Lễ tắm Bà, tức là phần trước lễ truyền thống. Chương trình khai hội khá đặc sắc, phong phú với các tiết mục được sân khấu hóa như biểu diễn lân sư rồng, diễu hành xe hoa hay ca múa nhạc dân tộc Khmer. Sau đó, Lễ phục hiện sẽ được tiến hành với ý nghĩa tái hiện bối cảnh rước tượng Bà từ đỉnh núi Sam theo truyền thuyết.

Hàng năm, miếu Bà Chúa Xứ thu hút hàng nghìn khách thập phương đến hành hương chiêm bái, đóng góp cho việc tôn tạo miếu. Ngoài việc trùng tu miếu, Ban quản lý sử dụng một phần số tiền đóng góp để làm phúc lợi xã hội.

Nhờ có Lễ Bà Chúa Xứ, hàng năm, những người tham gia lễ hội đã giúp tạo nguồn thu nhập cho người dân địa phương, đời sống dần trở nên ổn định hơn.

Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ vẫn luôn là nét văn hóa cộng đồng đặc sắc của các dân tộc, nét hành hương tâm linh đặc trưng của Nam bộ. Ý nghĩa của Lễ hội không chỉ dừng lại ở văn hóa tâm linh mà còn thể hiện niềm tự hào dân tộc với những trang sử vẻ vang chói lọi cũng như các đóng góp cho xã hội. Du khách đến với Lễ hội không chỉ là tham gia một nét văn hóa vùng miền, mà còn tận mắt chứng kiến các chứng tích lịch sử mà ông cha ta đã dày công xây dựng và giữ gìn.

Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được công nhận là Lễ Hội cấp Quốc gia từ năm 2001. Ngày 8/6/2015, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh An Giang, TP Châu Đốc (An Giang) tổ chức Lễ đón Bằng Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam theo Quyết định số 4205/QĐ-BVHTTDL.

Miếu “Bà Chúa Xứ” Ở Núi Sam

Phát hiện này vào những năm 40 thế kỷ trước, cho thấy nền văn minh đô thị đã có trước công nguyên tại tỉnh An Giang, cũng như hiện nay tỉnh còn được mọi người biết qua dãy Thất Sơn huyền bí cùng miếu Bà Chúa Xứ.

QUẦN THỂ THẤT SƠN HUYỀN BÍ

Nói đến Thất Sơn mọi người đều sẽ có ấn tượng, bởi nơi đây đầy những sự huyền hoặc và kỳ bí, vì gần hai trăm năm nay vùng Thất Sơn đã có nhiều chuyện truyền kỳ lẫn những lời đồn đại, và điều này khiến mọi người mang tính hiếu kỳ luôn luôn tìm đến với dãy Thất Sơn để tìm hiểu.(xem so dien thoai theo phong thuy)

Thực tế quần thể Thất Sơn không chỉ có bảy ngọn núi mà có đến mười hai ngọn. Chúng kết hợp thành một dãy núi nằm về phía tây bắc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang bây giờ, vì thế mà mọi người còn gọi vùng Thất Sơn là “Năm Non Bảy Núi” để cho thấy dãy núi vẫn có đủ 12 ngọn khác nhau.

Theo địa dư triều đình nhà Nguyễn viết, vùng Thất Sơn có đến 12 ngọn núi, chính Tổng Đốc thành An Giang thời đó đã đặt cho cho các tên núi là : Tà Chiến, Trà Nghịch, Tượng, Thốt, Cà Âm, Năm Sư, Khẻ Lập, Ba Xoáy, Ngất Sung, Nam Vi, Đoài Tôn và Chơn Sum.

Sau này theo thói quen, người dân chỉ gọi có bảy núi chính gồm : Trà Sư, Két, Đài, Tượng, Bà Đội Om, Ông Tô và Cấm Sơn, vì núi Cấm bao gồm những ngọn Ba Xoáy, Ngất Sung, Chơn Sum, Nam Vi và Đoài Tôn, bởi chúng liên kết với nhau. Sở dĩ những ngọn núi này có những tên kể trên, do mọi người căn cứ theo hình dạng của mỏi ngọn mà đặt tên cho dễ kêu, dễ nhớ.

Về tên Bảy Núi (Thất Sơn) như đã giải thích, còn Năm Non là gì ? Theo các vị kỳ lão trong vùng kể lại, cách đây gần hai trăm năm :

– NÚI CẤM (Cấm Sơn) : một trong bảy núi có tiếng là linh thiêng nhất, nơi tập trung các vị chân tu và đạo sĩ. Bởi lẽ Cấm Sơn thời gian trước thế kỷ 19 còn rất hiểm trở, rừng già mịt mù u tịch, thú dữ xê dịch từng đàn và quanh núi có năm vồ (gò) cao đặc biệt, mỏi vồ mang một tên riêng như :

– VỒ BỒ HÔNG : nằm ở hướng tây. Theo lời truyền khẩu từ nhiều đời, trước khi mới phát hiện ra vồ này thì loài Bồ Hông (bò rừng cao lớn hơn bò nhà) sinh sống ở đây rất đông, nên mọi người mới đặt tên là vồ Bồ Hông.

– VỒ ĐẦU : nằm về hướng tây bắc, đi theo ngã chợ Thum Chưn lên, có lẽ lúc mới lên núi thấy ngay vồ này trước mắt, nên được đặt là Vồ Đầu là vậy.

– VỒ BÀ : người Việt gốc Khmer thường gọi vồ là Phụm Barech, trước đây thờ bà Chúa Xứ, nằm về hướng nam.(so dien thoai phong thuy)

– VỒ ÔNG BƯỚM : nằm phía bắc Cấm Sơn. Ngày xưa người ta thấy mỏi buổi sáng tinh sương, từ trong hang đá có một bầy bướm khồng lồ bay ra như một đám mây bay vào vùng rừng rậm.

Không biết đàn bướm ấy bay đến đâu nhưng chiều tối thì chúng lại bay trở về hang đá ấy. Dân đi rừng tìm củi thấy vậy nên tò mò tụ đến xem làm xôn xao cả vồ, khiến đàn bướm bay đi mãi không về hang động này nữa. Vì lẽ đó mà người ta đặt tên là Vồ Ông Bướm hay còn gọi là Điện Bướm.

– VỒ THIÊN TUẾ : vồ cuối cùng nằm ở phía đông, người Khmer gọi vồ là Phụm Pra Péal, nơi đây có rất nhiều cây thiên tuế, có cây sống trên vài trăm năm rất to lớn xum xuê.

Còn thời nhà Nguyễn tên năm vồ này là Ngất Sung, Ba Xoáy, Nam Vị, Đoài Tôn, Chơn Sum.

Núi Cấm chỉ cao trên 780 mét, còn chiều dài đến gần 7,5 km và rộng 6,5 km, nằm giữa 4 thôn Vĩnh Trung, Thuyết Nạp (tổng thành Ý, huyện Tịnh Biên), Nam Qui (tổng thành Lễ) và Châu Lang (Long Thành Ngãi, huyện Tri Tôn) núi nằm giữa 2 núi Bà Đội Om và núi Đài.

Theo giả thuyết, tên núi Cấm (Cấm Sơn) được mọi người hiểu như sau :

– Nhiều người cho rằng, núi này vào thế kỷ 19 có tên Thiên Cẩm Sơn (tức Gấm Nhà Trời), còn dân làng mộc mạc đọc trại theo giọng địa phương là Thiên Cấm Sơn (tức Trời Cấm Vào Núi). Sau đọc gọn chỉ còn Cấm Sơn.

– Còn những người sống vào thời kỳ Nguyễn Ánh – Tây Sơn cho biết : khi chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu tránh quân Tây Sơn vào núi ẩn mình, Chúa Nguyễn đã cấm dân lên núi nên dân chúng gọi là núi Cấm.

Giả thuyết nào cũng có cái lý đúng, nhưng chắc chắn tên núi Cấm có từ cuối thế kỷ 19 cho đến nay.(xem tu vi so dien thoai)

CHÙA TÂY AN

Khi nói đến Thất Sơn là nói đến dãy núi nằm sát biên giới nước Campuchia, và không ai không biết đến núi Sam (trước đây tên Vồ Bà), núi cao chừng 250m, nơi có chùa Tây An, lăng Thoại Ngọc Hầu và miếu Bà Chúa Xứ nằm trên một trục đường chính, và có những liên hệ gắn liền nhau. Hằng năm vào ngày 24 tháng 4 ÂL là ngày vía Bà Chúa Xứ.

Ở núi Sam còn có tháp Phái và chùa Phước Điền, tạo nên một quần thể di tích văn hóa, tín ngưỡng thờ Phật và Thần của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Chùa Tây An trên đường đi đến miếu Bà Chúa Xứ, có nhiều điển tích, và có nhiều cách giải thích ai đã xây dựng chùa. Những điển tích đó như sau :

– Thoại Ngọc Hầu vâng lệnh vua Minh Mạng và Quan Tổng trấn Gia Định thành tức Tả quân Lê Văn Duyệt, qua Cao Miên “bảo hộ đất trấn Tây”. Ở quê nhà, vợ ông là bà Châu Thị Tế đêm ngày lo sợ chồng chết trận, lại là người mộ đạo sùng bái thần linh, bà van vái Trời Phật Thánh Thần gia hộ cho ông sớm được bình an trở về. Nếu lời cầu xin được như ý, bà sẽ lập chùa thờ Phật để tạ ơn.

Khi Thoại Ngọc Hầu từ trấn Tây (Cao Miên) bình an trở về, bà kể lại lời cầu khấn, ông liền cho xây chùa lấy tên Tây An Tự (ngôi chùa từ trấn Tây bình an trở về). Sau đó cho lính sang Cao Miên chở cốt Phật về thờ, theo truyền thuyết thì cốt tượng Phật này do vua Cao Miên tặng Thoại Ngọc Hầu vì ông có công dẹp yên giặc Xiêm La.(sim phong thủy)

Nhưng ông lo ngại việc tự ý xây chùa và đem cốt Phật từ đất Miên về thờ sẽ thấu đến triều đình. Sợ vua không phong sắc mà còn bị quở phạt, nên đặt thành tên miếu Bà Chúa Xứ để tránh phiền phức.

Thực tế tại vùng kinh Vĩnh Tế lúc ấy có cả chùa Tây An và cả miếu Bà Chúa Xứ, như vậy Thoại Ngọc Hầu xây dựng chùa Tây An hay xây dựng miếu Bà đang còn được mọi người tìm hiểu ?!

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, vùng này trong thời gian Thoại Ngọc Hầu trấn đóng đã có chùa Thụy Sơn ở địa hạt Thụy Sơn, và chùa Tây An ở địa hạt Vĩnh Tế, không ghi có miếu Bà Chúa Xứ, mặc dù từ chùa Tây An đến miếu Bà không xa chỉ trên một đoạn đường ngắn. Phải chăng vào đời vua Tự Đức (1848 – 1883), miếu Bà chưa hình thành hoặc miếu còn quá nhỏ nên không được ghi vào sách ?

Nên trong thời gian Thoại Ngọc Hầu trấn nhậm vùng Châu Đốc vào thời vua Minh Mạng (1820 – 1840), tương truyền cho rằng ông đã dựng lên chùa Tây An là đúng.

Nhưng có một tích khác lại quả quyết, Thoại Ngọc Hầu không xây dựng chùa Tây An mà ông dựng đền thờ Lễ Công ở hạt Châu Phú để thờ Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh. Còn chùa Tây An do Tổng đốc Doãn Uẩn xây dựng năm 1847, tức 18 năm sau khi Thoại Ngọc Hầu qua đời.

Cũng có thể nói, chùa Tây An do chính Thoại Ngọc Hầu xây dựng vào những năm 1820 – 1825, lúc đó nơi đây đã có miếu Bà bên đường, nên ông mượn tên miếu Bà để tránh tội. Sau này vào năm 1847, Tổng đốc Doãn Uẩn mới trùng tu lại chùa Tây An lớn như ngày nay.(sim hop tuoi)

LĂNG THOẠI NGỌC HẦU

Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại (1762-1829), quê huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, người có công đóng góp nhiều vào triều đình nhà Nguyễn đời Gia Long. Năm 1818, ông có công tổ chức đào kinh Đông Xuyên, còn gọi là kinh Thoại Hà.

Năm 1819 lại tổ chức dân chúng đào kinh Vĩnh Tế, nhưng ông chỉ đào được 3 năm thì ngừng, do dân phu đau ốm và chết quá nhiều, sau đó Tả quân Lê Văn Duyệt giao lại cho Trương Tấn Bửu đến đào tiếp.

Sau khi Thoại Ngọc Hầu qua đời, ông được truy tặng hàm Đô Đốc tước Ngọc Hầu, nên sách sử ghi là Đô thống Thoại Ngọc Hầu, có lăng tẩm đặt trên núi Sam, và gần như đối diện với miếu Bà Chúa Xứ.

Vào dịp lễ vía Bà hằng năm, chiều 24 tháng 4 ÂL, từ bên miếu Bà Chúa Xứ, Ban Quản Trị miếu Bà mặc lễ phục chỉnh tề sang Lăng thỉnh sắc ông qua Miếu dự lễ hội.

Đoàn thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu rất trang nghiêm, có lân dẫn đường rồi đến các vị chức sắc trong miếu Bà, các kỳ lão địa phương.(y nghia so dien thoai)

Đi sau các học trò lễ sắp thành hai hàng dọc, tay cầm cờ, cầm phướn đi hầu trước và sau Long đình, có lọng phủ do bốn người khiêng. Khi vào trong lăng, mọi người dâng hoa niệm hương tế lễ rồi thỉnh bốn bài vị lên Long đình rước về miếu Bà. Bốn bài vị gồm :

– Bài vị Đô thống Thoại Ngọc Hầu

– Bên trái bài vị bà chánh phẩm Châu Thị Tế

– Bên phải bài vị bà nhị phẩm Trương Thị Miệt

– Cuối cùng là bài vị các Công đồng

Khi thỉnh sắc về đến miếu Bà, các bài vị trên được an vị tại ngay chánh điện. Và ở đấy suốt thời gian tổ chức lễ vía Bà Chúa Xứ diễn ra.

Đến chiều ngày 27 tháng 4 ÂL như lúc thỉnh, các hương chức, các kỳ lão, học trò lễ vẫn cờ, phướn, Long đình tề tựu đưa sắc và các bài vị trở về Lăng Đô thống.(phong thuy sim)

Nguồn: Phongthuysim.vn