【#1】Giải Mã Ý Nghĩa Mâm Cúng Tam Sên, Nằm Lòng Ngay Những Món Thực Phẩm Lễ Lạt Chuyên Dùng Trong Ngày Vía Thần Tài

Thần Tài là vị thần mang tài lộc, may mắn cho gia đình bởi vậy mỗi khi làm việc gì, gia chủ thường cầu khấn Thần Tài. Cúng Thần Tài phổ biến trong các gia đình làm ăn kinh doanh. Họ cầu khấn Thần Tài quanh năm nhưng ngày mùng 10 tháng Giêng là lễ cúng quan trọng nhất.

Ngày thường, chúng ta có thể chỉ cúng hoa quả, đồ chay nhưng riêng ngày vía Thần Tài (mùng 10 tháng giêng âm lịch) mọi người thường cúng mặn với cỗ tam sên gồm 1 miếng thịt, 1 con tôm, 1 quả trứng luộc.

Những năm gần đây, người ta có tục mua vàng đặt lên bàn thờ cúng để xin lộc Thần Tài. Cúng xong, họ sẽ mang trên người để được may mắn quanh năm.

Tam sên có nghĩa là 3 loài vật tượng trưng cho Thổ – miếng thịt heo (sống trên cạn); Thủy – con tôm hoặc cua (sống dưới nước); Thiên – trứng gà hoặc trứng vịt (đại diện loài có lông vũ bay trên trời, và lí do người ta dùng trứng là để biểu trưng hơn cho tính phồn thực).

Tuy nhiên, tùy theo mỗi vùng miền mà mâm cỗ Tam Sên khác nhau, ví dụ ở Huế thì là người dân cúng Môi (mép) Bò, Dồi Trường, Lưỡi Heo; còn ở miền Nam thì họ thường cúng thêm Cá Lóc,… Trong đó, đồ cúng mặn phổ biến nhất người dân thường cúng Thần Tài là “cá lóc nướng”. Cá lóc này phải để nguyên con, không cạo vảy, không cắt vi và đuôi, đem đi nướng trui.

Việc để nguyên trạng cá lóc như trên là để tưởng nhớ rằng ông cha rất thiếu thốn khó khăn trong buổi đầu khai hoang, không quan tâm cả váy cả con, miễn sao nuôi dưỡng được bản thân và đảm bảo công việc là được.

Mâm cỗ tam sên đúng chuẩn bao gồm: thịt lợn: 300g, 3 quả trứng, 1 lạng tôm, hoa cúc, rượu, vàng giấy. Một bình bông cúc hoặc vạn thọ, mâm ngũ quả, 5 cây nhang, 5 chung rượu đế, 2 đèn cầy, 2 điếu thuốc, gạo, muối hột, vàng bạc đại 2 miếng .Trong đó, tất cả các món thực phẩm đều luộc hoặc thịt quay còn tôm và trứng thì đem luộc.

Trước bài vị là bát hương kê trên một khay vàng giấy, hai bên bát hương là hai cây đèn nhỏ, một khay nước gồm 3 cốc nước và 2 chén rượu. Đặc biệt, hoa cúc hoặc vạn thọ và mâm ngũ quả cúng không phải đồ nhựa.

Theo chuyên gia phong thủy Mai Văn Sinh, sau khi cúng lễ ngày vía Thần Tài, gạo và muối cất đi để dùng không được rắc ra ngoài. Rượu, nước đứng ở ngoài cửa tưới vào nhà mang ý nghĩa đem tài lộc vào nhà. Bên cạnh đó, hoa quả và bánh kẹo chỉ chia nhau với người thân trong gia đình, không chia sẻ với người ngoài.

【#2】Bộ Tam Sên Gồm Những Gì Trong Lễ Cúng Thần Tài?

Từ xa xưa, các tục lệ thờ cúng, cúng bái đã trở thành truyền thống ở các gia đình Việt. Việc này đã, đang và sẽ được xem là nét đẹp văn hóa tâm linh vô cùng quý báu mà mỗi gia đình cần thiết phải gìn giữ trong tương lai.

Ngoài những ngày như mùng 1, ngày rằm, ngày lễ tết hay ngày giỗ các ông bà tổ tiên thì các lễ cúng mà chúng ta thường tổ chức hằng năm nhất đó chính là các lễ cúng các vị Thần nơi chúng ta cư ngụ. Có thể kể đến một số lễ thờ cúng như thờ cúng các vị Thổ thần, thần Tài, lễ cúng khai trương, động Thổ, ….

Cùng với đó là những nghi thức quan trọng như chuẩn bị văn khấn, hành lễ, tế lễ,… Và cũng không thể thiếu khâu chuẩn bị mâm cúng. Mâm cúng là việc chúng ta thể hiện lòng thành kính từ sâu thẳm trong tâm đến các vị Thần tiên mà mình định cầu khấn. Nếu có ước mong các vị phù hộ độ trì cho gia đạo an yên, phát tài thì trong mâm cúng không thể thiếu là Bộ tam sên.

Bộ tam sên là gì?

Trong mâm cúng ở các lễ thờ cúng các vị Thánh, Thần hằng năm tại nơi cư ngụ luôn có 1 bộ tam sên. Đây là một tên gọi dân gian của các ông bà ngày xưa, nó đại diện 3 loài sinh vật sống ở các điều kiện khác nhau: trên trời, trên mặt đất và sống dưới nước.

Bộ Tam sên vì thế mà cũng thể hiện đầy đủ 3 yếu tố là: Thiên, Thủy và Thổ. Đây là các yếu tố tạo nên sự sống muôn loài trên trái đất. Không những thế, 3 thứ này là phải 3 sinh vật ở hình thái: Thai Sinh, Noãn Sinh và cuối cùng là Thấp Sinh mới được coi là bộ Tam sên đúng nghĩa.

Bộ tam sên gồm những gì?

Theo phong thủy, bộ tam sên gồm có như sau:

Thai sinh: Là 1 miếng thịt lợn luộc chín – (Tượng trưng hành Thổ)

Noãn sinh: Là 1 quả trứng vịt – (Tượng trưng hành Thiên)

Thấp sinh: Là 3 con tôm hoặc 1 con cua – (Tượng trưng hành Thủy)

Nếu thiếu một trong những thứ trên thì không được coi là bộ Tam sên. Bộ Tam sên mang đậm ý nghĩa là sự tượng trưng đầy đủ các yếu tố của đất trời.

Ý nghĩa của bộ tam sên

Bộ tam sên được đặt ngay ngắn và trang trọng trên mâm cúng để thể hiện sự thành tâm, hết lòng của gia chủ đối với các vị Thần tiên.

Hơn nữa bộ tam sên đầy đủ là cầu mong các vị Thần phù hộ cho gia đạo bình yên, con cháu được mạnh khỏe, hòa hợp, công việc làm ăn phát đạt, thuận buồm xuôi gió và gặp nhiều may mắn.

Bộ tam sên dùng cho những nghi thức cúng nào?

  • Dĩa tam sên Cúng ông địa, vía thần tài.
  • Cúng thôi nôi, đầy tháng, cúng mụ
  • Cúng tam tai
  • Bộ Tam sên cúng khai trương, lên nhà mới
  • Cúng đất đai, động thổ, nhập trạch

Bộ tam sên đi kèm với những lễ vật gì khi cúng

  • Một bình hoa cúc vạn thọ hoặc một bình hoa layon
  • Một mâm ngũ quả đầy đủ
  • Tối thiểu 5 cây nhang
  • Một đĩa đồng tiền xin kêu
  • Chuẩn bị các loại ly nước sau: 3 ly rượu nhỏ + 3 ly nước nhỏ + 1 ly trà lớn + 1 ly nước sạch lớn
  • Hai cây đèn cầy loại nhỏ bình thường
  • Khoảng 3 điếu thuốc thơm
  • Một bát gạo và một đĩa muối
  • Một đĩa giấy cúng đã được sắp sẵn
  • Một vài đĩa xôi chè
  • Một con gà luộc sẵn
  • Tất nhiên không thể thiếu một bộ Tam Sên gồm : 1 miếng thịt lợn (loại ba rọi thì tốt). 01 quả trứng vịt, 3 hoặc 5 con tôm (cua) đã luộc.

Lưu ý sau khi cúng

  • Vàng, bạc, quần áo đốt ở ngoài.
  • Rượu hay nước cúng thì đứng ngoài cửa tưới vào nhà, có ý nghĩa là đem lộc vào nhà.
  • Bộ tam sên, hoa quả, bánh trái, xôi chè thì đem chia cho các thành viên trong nhà dùng, không nên cho người ngoài dễ mất lộc.

【#3】Ngày Vía Thần Tài: Bộ Lễ Cúng Tam Sên Là Gì? Và Cách Cúng, Thỉnh Thần Tài Hút Lộc Vào Nhà

Để tưởng nhớ Thần Tài mọi người chọn ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch là ngày thần Tài bay về trời làm ngày cúng vía Thần Tài.

Thần Tài là vị thần mang tài lộc cho gia đình, mỗi khi làm việc gì, gia chủ thường cầu khấn Thần Tài. Cúng Thần Tài rất phổ biến trong giới kinh doanh. Họ cúng Thần Tài quanh năm. Tuy nhiên ngày mùng 10 Âm lịch hằng tháng được dân gian xem là ngày vía Thần Tài.

Trong lễ vật cúng lên Thần Tài, chúng ta thường thấy có bộ “tam sên” bao gồm 1 miếng thịt ba rọi, 1 con tôm (hoặc cua) và 1 cái trứng vịt nhưng không phải ai cũng rõ ý nghĩa của bộ lễ cúng này.

Theo Herodota.com Thị Yến Tuyết (khoa Việt Nam học – ĐH KHXH-NV Tp.HCM): “Tam sên” là một thức cúng không thể thiếu trong lễ cúng việc lề của người Việt ở Nam Bộ (tín ngưỡng này không có ở miền Bắc và miền Trung). Bộ ‘tam sên’ được cho rằng có ý nghĩa như sau:

Tam sên: là 3 loài vật tượng trưng cho Thổ – miếng thịt heo (sống trên cạn), Thủy – con tôm hoặc cua (sống dưới nước), Thiên – trứng gà hoặc trứng vịt (đại diện loài có lông vũ bay trên trời, và lí do người ta dùng trứng là để biểu trưng hơn cho tính phồn thực).

Bên cạnh bộ “tam sên”, người dân còn thường cúng Thần Tài bằng “cá lóc nướng”. Cá lóc này phải để nguyên con, không cạo vảy, không cắt vi, cắt đuôi, đem đi nướng trui. Việc để nguyên trạng cá lóc như trên là để tưởng nhớ rằng ông cha rất thiếu thốn khó khăn trong buổi đầu khai hoang, không nề hà chuyện cá vảy cả con, miễn sao nuôi dưỡng được bản thân và đảm bảo công việc thì vui lòng.

Một số lưu ý khi chuẩn bị đồ lễ đúng để cúng Thần Tài rước lộc vào nhà

– Hương: Có nơi cho rằng thắp vào sáng, có nơi cho rằng cần thắp vào chiều tối, thực ra là không cần thiết và không có quy định cụ thể. Có thể chọn giờ tốt cho cúng lễ trong ngày hoặc chọn ngày giờ tốt có sao tốt đến để kích hoạt trường khí dễ hơn.

– Nước: Chén để nước cần rửa sạch trước khi lấy nước mới. Chỉ cần một chén nước là đủ, chứ không phải ba hay năm chén. Nước không để quá đầy, cần cách miệng chén khoảng 1 cm. Cẩn thận không để nước tràn ra hoặc đổ lên bàn.

– Hoa: Bình hoa có thể bằng thủy tinh, gốm sứ… đều được. Chỉ nên chọn hoa tươi, hoa có nụ và có hương thơm càng tốt. Không nên dùng hoa giả.

– Quả: Quả nên chọn loại tươi, ngon, nhìn nguyên vẹn, thường dùng táo, lê, chuối, cam, quýt… Cũng như hoa, không dùng quả nhựa, quả nhân tạo không ăn được.

– Đèn, nến: Đèn cúng là đèn thật như đèn dầu, nến. Không dùng đèn nhấp nháy, đèn điện… vì đều tạo ra trường khí xấu, ảnh hưởng đến việc thờ cúng.

– Một bộ tam sên gồm: 1 miếng thịt ba rọi, 1 hột vịt , 1 con tôm (hay cua), tất cả đều luộc.

Thay nước uống khi đốt nhang, thay nước trong lọ hoa, và chưng thờ nải chuối chín vàng.Tránh để các con vật chó mèo quậy phá làm ô uế bàn thờ Thần Tài. Hàng tháng thường lau bàn thờ, tắm cho Thần Tài vào ngày cuối tháng và ngày 14 âm lịch với nước lá bưởi, hay rượu pha nước. Khăn lau và tắm cho Thần Tài không được dùng vào việc khác.

Khi thỉnh tượng Thần Tài ngoài cửa hàng về cần gói bọc trong giấy đỏ, hoặc trong hộp sạch sẽ, mang vào chùa nhờ các Sư trong chùa “Chú nguyện nhập Thần”, và nhờ các Sư chọn cho ngày tốt đem về nhà để an vị Thần Tài (kể cả ông Địa cũng vậy). Về nhà dùng nước lá bưởi rửa và đặt lên bàn thờ, mua các đồ cúng về cúng khấn là được, lần sau cúng vái bình thường.

Khi thỉnh Thần Tài cũng có Thần Tài hợp với gia chủ, cũng có Thần Tài không hợp với gia chủ, chọn tượng Thần Tài mặt tươi cười, mặt sáng sủa, tượng không bị nứt, vỡ, nhìn tượng toát lên vẻ phú quý. Thần Tài không thể cho hay biếu người khác, phải tự gia chủ thỉnh về.

– Gạo, muối thì cất lại dùng cho có lộc , không được rải ra ngoài.

– Vàng, bạc đại đốt ở ngoài.

– Rượu hay nước cúng thì đứng ngoài cửa tưới vào nhà, có ý nghĩa là đem lộc vào .

Bộ tam sên hay bánh trái chia nhau trong nhà dùng không cho người ngoài.

【#4】Bộ Lễ Cúng ‘tam Sên’ Là Gì Và Cách Cúng, Thỉnh Thần Tài Hút Lộc Vào Nhà

Trong lễ phẩm cúng lên Thần Tài, tôi và quý vị thường thấy có bộ “tam sên” nhưng không phải ai cũng hiểu “tam sên” là gì và ý nghĩa của bộ lễ cúng này?

Để hoài tưởng Thần Tài mọi người chọn ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch là ngày thần Tài bay về trời khiến ngày cúng vía Thần Tài.

Thần Tài là vị thần mang tài lộc cho gia đình, mỗi khi khiến việc gì, gia chủ thường cầu khấn Thần Tài. Cúng Thần Tài rất đa dạng trong giới buôn bán. Họ cúng Thần Tài loanh quanh năm. Tuy nhiên ngày mùng 10 Âm lịch hằng tháng được dân gian xem là ngày vía Thần Tài.

Trong lễ phẩm cúng lên Thần Tài, tôi và quý vị thường thấy có bộ “tam sên” bao gồm 1 miếng giết ba rọi, 1 con tôm (hoặc cua) và 1 cái trứng vịt nhưng không phải ai cũng rõ ý nghĩa của bộ lễ cúng này.

Theo Herodota.com Thị Yến Tuyết (khoa Việt Nam học – ĐH KHXH-NV Tp.HCM): “Tam sên” là 1 thức cúng chẳng thể thiếu trong lễ cúng việc lề của người Việt ở Nam Bộ (tín ngưỡng này không có ở miền Bắc và miền Trung). Bộ ‘tam sên’ được cho rằng có ý nghĩa như sau:

Tam sên: là 3 loài vật biểu trưng cho Thổ – miếng giết heo (sống trên cạn), Thủy – con tôm hoặc cua (sống dưới nước), Thiên – trứng gà hoặc trứng vịt (đại diện loài có lông vũ bay trên trời, và lí do người ta sử dụng trứng là để biểu trưng hơn cho tính phồn thực).

Bên cạnh bộ “tam sên”, người dân còn thường cúng Thần Tài bằng “cá lóc nướng”. Cá lóc này phải để nguyên con, không cạo vảy, không cắt vi, cắt đuôi, đem đi nướng trui. Việc để nguyên trạng cá lóc như trên là để hoài tưởng rằng cha ông rất thiếu thốn cạnh tranh trong buổi đầu khai phá, không nài chuyện cá vảy cả con, miễn sao nuôi dưỡng được bản thân và bảo đảm công việc thì vui lòng.

Một số lưu ý khi chuẩn bị đồ lễ đúng để cúng Thần Tài rước lộc vào nhà

– Hương: Có nơi cho rằng thắp vào sáng, có nơi cho rằng cần thắp vào chiều tối, thực ra là không quan trọng và không có quy định cụ thể. Có thể chọn giờ tốt cho cúng lễ trong ngày hoặc chọn thời giờ tốt có sao tốt đến để kích hoạt trường khí dễ hơn.

– Nước: Chén để nước cần rửa sạch trước khi lấy nước mới. Chỉ cần 1 chén nước là đủ, chứ không phải ba hay năm chén. Nước không để quá đầy, cần cách mồm chén khoảng 1 cm. Cẩn thận không để nước tràn ra hoặc đổ lên bàn.

– Hoa: Bình hoa có thể bằng thủy tinh, gốm sứ… đều được. Chỉ nên chọn hoa tươi, hoa có nụ và có hương thơm càng tốt. Không nên sử dụng hoa fake.

– Quả: Quả nên chọn loại tươi, ngon, nhìn nguyên vẹn, thường sử dụng táo, lê, chuối, cam, quýt… Cũng như hoa, không sử dụng quả nhựa, quả nhân tạo không ăn được.

– Đèn, nến: Đèn cúng là đèn thật như đèn dầu, nến. Không sử dụng đèn lấp láy, đèn khí… vì đều tạo ra trường khí xấu, tác động đến việc thờ cúng.

– Một bộ tam sên gồm: 1 miếng giết ba rọi, 1 hột vịt , 1 con tôm (hay cua), đa số đều luộc.

Thay nước uống khi đốt nhang, thay nước trong lọ hoa, và chưng thờ nải chuối chín vàng.Tránh để các con vật chó mèo quậy phá khiến ô trọc bàn độc Thần Tài. Hàng tháng thường lau bàn độc, tắm cho Thần Tài vào ngày cuối tháng và ngày 14 âm lịch với nước lá bưởi, hay rượu pha nước. Khăn lau và tắm cho Thần Tài không được sử dụng vào việc khác.

Khi thỉnh tượng Thần Tài ngoài shop về cần gói bọc trong giấy đỏ, hoặc trong hộp sạch sẽ, mang vào chùa nhờ các Sư trong chùa “Chú nguyện nhập Thần”, và nhờ các Sư chọn cho ngày tốt đem về nhà để an vị Thần Tài (kể cả ông Địa cũng vậy). Về nhà sử dụng nước lá bưởi rửa và đặt lên bàn độc, mua các đồ cúng về cúng khấn là được, lần sau cúng vái thông thường.

Khi thỉnh Thần Tài cũng có Thần Tài hợp với gia chủ, cũng có Thần Tài không hợp với gia chủ, chọn tượng Thần Tài mặt tươi cười, mặt sáng sủa, tượng không bị nứt, đổ vỡ, nhìn tượng toát lên vẻ phú quý. Thần Tài chẳng thể cho hay biếu người khác, phải tự gia chủ thỉnh về.

– Gạo, muối thì cất lại sử dụng cho có lộc , không được rải ra ngoài.

– Vàng, bạc đại đốt ở ngoài.

– Rượu hay nước cúng thì đứng ngoài cửa tưới vào nhà, có ý nghĩa là đem lộc vào .

Bộ tam sên hay bánh trái chia nhau trong nhà sử dụng không cho người ngoài.

Theo Phunutoday

【#5】Tại Sao Chọn Rằm Tháng 8 Là Trung Thu?

Tháng nào trong năm cũng có rằm, nhưng tại sao người ta lại chọn tháng 8 là Trung thu và truyền thống này có từ khi nào?

Trung Thu là giữa Thu, tên của nó đã nói lên điều đó… – (Minhha)

1 năm có 4 mùa: mùa xuân từ tháng 1 đến tháng hết tháng 3, mùa hè từ tháng 4 đến hết tháng 6, mùa thu từ tháng 7 đến hết tháng 9, mua đông từ tháng 10 đến hết thang 12.

Vây trung thu cò nghĩa là giữa mùa thu thi 15 tháng 8 la trung thu vậy thôi – (nguyen doan huan)

Cái truyền thống này có xuất xứ từ Trung Quốc bạn à. Do 1000 năm đô hộ nên đa phần nền văn hóa của nước ta, đều giống của Trung Quốc, ví dụ như: Lễ Vu Lan, Tết Nguyên Đán, Tết Nguyên Tiêu, Tết Trung Thu… Vì nó đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân ta từ bao đời nay, nên khó bỏ lắm, nước ta cũng tự động “biến của người ta thành của mình”, và tự thừa nhận nó là “bản sắc văn hóa dân tộc”, tốt nhất là bạn cũng nên chấp nhận vậy đi – (alo)

theo âm lịch và khí hậu 4 mùa của miền bắc thì mùa thu là tháng 7,8,9. vậy Trung thu là giữa thu thì phai là rằm tháng 8 rồi – (dvt)

TRUNG là giữa, THU là mùa thu. Tháng 8 là chính giữa mùa thu (tháng 7, 8, 9). Và ngày 15 là giữa tháng 8. Có thế thôi. – (PT)

Vậy thì tại sao Tết Thanh Minh lại rơi vào tháng 3 và ngày Cô Hồn lại là Rằm Tháng 7? – (tinytdpqn)

Thực ra truyền thống này bị ảnh hưởng bởi 1000 năm đồng hóa mà có, kể cả những phong tục cúng lễ ngày giằm, mùng một,… Nhưng tại sao lại chọn vào ngày giằm tháng tám (15-8 âm lịch) thực chất là bởi khí hậu và tiết trời đẹp, trăng tròn nhất trong các ngày giằm; mặt khác vì đây là ngày hội của các em thiếu nhi nên nó là hoạt động để động viên khích lệ sự học tập cho một năm học mới. Ngày hội này chính giữa mùa Thu nên có tên là Trung Thu. – (Quang Huy)

1. Mùa thu theo âm lịch là từ tháng 7 đến hết tháng 9 vậy tháng 8 là giữa mùa thu (trung thu) nên rằm của tháng giữa thu gọi là rằm giữa thu (rằm trung thu) ^^

2. Truyền thống này có từ trước khi bạn sinh ra ^^ – (google)

Vì mùa thu rơi vào tháng 7,8,9 âm lịch, Trung thu nghĩa là thời điểm giữa mùa thu cho nên lấy 15/8 là chính xác. Truyền thống này có lẽ ra đời từ khi con người sáng tạo ra lịch mà thôi! – (huyen26truongxuan)

Đã gọi là trung thu thì tất nhiên là giữa mùa thu rồi, chả lẽ đầu và cuối sao? – (khanh hong)

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian. – (lanbui1983)

Thứ nhất ngay trong tên cái tết cũng nói lên khá nhiều, TRUNG THU. Ở đây theo Hán Việt nghĩa là giữa mùa thu. Và Dằm tháng 8 được chọn là ngày đẹp nhất với trăng tròn nhất.

Có rất nhiều truyền thuyết xoay quanh Trung Thu, nhưng xét theo địa lý, người á đông làm mùa nhìn trăng. Và trăng dằm tháng tám thể hiện được sự tốt đẹp của thời tiết. Cũng bằng nhìn trăng tháng 8 người ta biết năm tới phải làm ăn ra làm sao. Nói một cách khác nó có thể coi như một lễ hội cầu mùa nơi mà người lao động thành kính với ông bà tổ tiên thể hiện sự cảm ơn mùa qua, cũng như ban phát lộc cho con cháu thể hiện sự sung túc.

Bánh nướng và bánh dẻo là đặc chưng cho tết trung thu. Trong bánh cổ truyền thông thường có nhiều loại thịt, bò, gà, lợn, trứng, xá xíu, lạc sưởng cũng như có loại hạt tinh túy của trời đất hạt sen, tất cả thể hiện sự khá giả ấm no. Nướng và Dẻo thể hiện cho mặt trời mặt trăng hay là thể hiện thời tiết tốt đẹp. Bánh ngày nay thay vào đó các loại nhân khác là sai vì là du nhập từ vùng khác dùng loại lương thực khác thể hiện sự phồn vinh. Thực tế chứng minh, không nơi nào có nhân truyền thống giống ta. – (Chiến Trần)

Theo tôi, có 4 nguyên nhân sau:

Thứ nhất: 15/8 âm lịch là giữa mùa thu theo cách chia mùa của các nước khu vực quanh ta và nước ta.

Thứ hai: Thời tiết giai đoạn này đẹp và phù hợp nhất; như: Trời cao xanh hơn, mặt trăng sáng nhất và to nhất so với các đêm rằm v v…

Thứ 3: Ở một nền văn minh lúa nước như chúng ta thì thời điểm này cho phép ghi nhận, đánh dấu những biến đổi của thời tiết, ví dụ: Xem trăng để biết năm tới có rét, có nhiều sâu bọ phá hoại mùa màng hay có hạn hán không (Muốn ăn lúa tháng năm, xem trăng rằm tháng 8), xem vụ mùa có năng suất không vì thời điểm này bão gió đã giảm, lúa đã uốn câu v v …

Thứ tư: Lúc này nhà nông cũng là lúc nông nhàn vì vậy ngoài tổ chức ngắm trăng còn có nhiều lễ hội khác kết hợp – (Vũ Trung Thành)

Trung thu là giữa mùa thu, tết trung thu như tên gọi đến với chúng ta đứng giữa mùa thu, mùa mát mẻ đẹp đẽ nhất trong năm với trăng trong gió mát. Cho đến bây giờ, vẫn chưa xác minh rõ ràng được Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam hay tiếp nhận từ văn hóa Trung Hoa. Theo các nhà khảo cổ thì hình ảnh về Trung thu đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Có lẽ Trung thu được bắt đầu từ nền văn minh lúa nước của đồng bằng Nam Trung Hoa và đồng đồng bằng châu thổ sông Hồng của Việt Nam. Có ba truyền thuyết chính được người ta biết đến nhiều nhất để nói về Trung thu đó là Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng và Sự tích về chú Cuội của Việt Nam. Nhưng có lẽ sự tích về vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng là thuyết phục nhất, mặt dù nó cũng có chúc hư cấu và hơi hoang đường.

Theo sách cổ thì tết Trung thu bắt đầu từ đời nhà Đường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Tục truyền rằng: Nguyên năm đó, vào đêm rằm tháng tám trời thật là đẹp, trăng thanh gió mát trước cảnh đẹp của đất trời, nhà vua ngự chơi ngoài thành tới mãi khuya. Lúc đó có một ông già đầu bạc phơ trắng như tuyết, chống gậy đến bên nhà vua. Trông người và theo cử chỉ, nhà vua đoán ngay là một vị thượng tiên giáng thế.

Ông già kính cẩn chào vua rồi hỏi: Bệ hạ có muốn lên thăm cung trăng không?

Nhà vua trả lời có.

Ông tiên liền đưa chiếc gậy lên trời, hoá phép ra một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, còn một đầu ăn xuống đất. Tiên ông đưa nhà vua lên cầu vồng, chẳng bao lâu đã đến cung trăng. Phong cảnh nơi đây thật là đẹp, một vẻ đẹp khác xa nơi trần thế, có những nàng tiên nữ nhan sắc với những xiêm y cực kỳ lộng lẫy, xinh như mộng, đẹp như những bài thơ hay, nhảy múa theo những điệu vô cùng quyến rũ, đủ muôn hồng ngàn tía.

Nhà vua đang say sưa với những cảnh đẹp thì tiên ông lại đưa nhà vua trở lại cung điện. Về tới trần thế, nhà vua còn luyến tiếc cảnh trên cung trăng và những giờ phút đầy thơ mộng nhà vua đã được ở nơi đó. Để kỷ niệm ngày du nguyệt điện, nhà vua đặt tên là tết Trung thu. – (quốc thịnh)

Ngày Tết này có xuất xứ từ Trung Quốc, ban đầu là theo phong tục dân gian, Tết trung thu vào giữa rằm tháng 8, thời điểm này thời tiết mát mẻ, mùa màng đang chờ thu hoạch. Nông dân nghỉ ngơi và vui chơi sau một vụ mùa.

Theo sách cổ thì Tết Trung Thu bắt đầu từ đời nhà Ðường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Năm ấy vào đêm khuya rằm tháng tám, gió mát, trăng tròn thật đẹp, trong khi ngự chơi ngoài thành, nhà vua gặp một vị tiên giáng thế trong lốt một ông lão đầu bạc phơ như tuyết. Vị tiên hóa phép tạo một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, một đầu chám mặt đất, và nhà vua trèo lên cầu vồng đi đến cung trăng và dạo chơi nơi cung Quảng. Trở về trần thế, vua luyến tiếc cảnh cung trăng đầy thơ mộng, nhà vua đặt ra tết Trung Thu. Trong ngày tết này, lúc đầu chỉ uống rượu trông trăng nên còn gọi là Tết Trông Trăng. Trong đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh “đoàn viên”, bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà. – (c1vt2013)

Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam, cụ thể là từ Sự tích về chú Cuội – (thanh phong nguyen)

Nguồn gốc tết TRUNG THU

Tết Trung-Thu đã có từ thời Đường Minh Hoàng bên Trung-Hoa, vào đầu thế kỷ thứ tám (713-755).

Sách xưa chép rằng, nhân một đêm rằm tháng tám, khi cùng các quan ngắm trăng, vua Đường ao-ước được lên thăm cung trăng một lần cho biết. Pháp-sư Diệu Pháp Thiên tâu xin làm phép đưa vua lên cung trăng. Lên tới cung trăng, Minh Hoàng được chúa tiên tiếp rước, bày tiệc đãi đằng và cho hàng trăm tiên nữ xinh tươi mặc áo lụa mỏng nhiều màu sắc rực rỡ, tay cầm tấm lụa trắng tung múa trên sân, vừa múa vừa hát, gọi là khúc Nghê-Thường vũ y. Vua Đường thích quá; nhờ có khiếu thẩm âm nên vừa trầm trồ khen ngợi vừa lẩm nhẩm học thuộc lòng bài hát và điệu múa mong đem về hoàng cung bày cho các cung nữ trình diễn. Cuối năm đó, quan Tiết Độ Sứ cai trị xứ Tây Lương mang về triều tiến dâng một đoàn vũ nữ với điệu múa Bà-la-môn. Vua thấy điệu múa có nhiều chỗ giống Nghê-Thường vũ y, liền chỉnh đốn hai bài hát và hai điệu làm thành Nghê-Thường vũ y khúc. Về sau các quan cũng bắt chước vua mang điệu múa hát về các phiên trấn xa xôi nơi họ cai trị rồi dần dần phổ biến khắp dân gian. Tục ngắm trăng, xem ca múa sau biến thành thú vui chơi đêm rằm Trung Thu . – (vuducduongvp91)

chon Trung thu la giua mua thu – (dungnv)

thang 7-8-9 là mùa thu, chon tháng 8 là giữa mùa thu và ngày rằm là giữa của tháng! đúng theo nghĩa của từ Trung Thu!!! – (phanthanh_thang)

Tết trung thu diễn ra vào ngày 15 của tháng 8 trong Âm Lịch và đã có từ ngàn năm nay, đây là thời gian mặt trăng tròn nhất và sáng nhất, đây cũng là thời gian người Châu Á thu hoạch xong mùa vụ và bắt đầu tổ chức những lễ hội mà tiêu biểu trong đó là lễ hội trăng rằm. Món ăn được người Á Đông lưu tâm nhất trong mùa lễ hội này đó là Bánh Trung Thu. Cho đến bây giờ, vẫn chưa xác minh rõ ràng được Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam hay tiếp nhận từ văn hóa Trung Hoa. Có ba truyền thuyết chính được người ta biết đến nhiều nhất để nói về Trung thu đó là Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng và Sự tích về chú Cuội của Việt Nam – (Cưng Lê)

Một năm chia làm 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, mổi mùa có 3 tháng, Mùa thu ứng với các tháng 7,8,9 . Nên Trung thu phải vào giữa tháng 8 tức 15/08 âm lich.

Anh Vũ Cà Mau – (Anh Vũ Cà Mau)

Haizz, “trung” là “giữa” tức là giữa thu; 1 năm có 4 mùa, tháng 8 là giữa mùa thu, đơn giản thế thôi. – (Nam Trung)

Trung thu tức là “giữa Thu”. Vì vậy, nó không thể là rằm của tháng nào khác. Vả lại, thời điểm này, trăng dễ tròn và sáng nhất ( do mùa Thu, tiết trời trong hơn các mùa khác). Tục lệ này có từ thời Trung Quốc cổ đại để cúng thần Mặt trăng; cầu cho mưa thuận gió hòa – (Lê Minh)

Đơn giản thôi, vì rằm xảy ra giữa mùa thu nên mới gọi là Trung thu. Nếu nó xảy ra giữa mùa đông sẽ gọi là Trung Đông đó bạn. – (Minh)

Trung thu là giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8 là đúng rồi còn những tháng khác có lẽ phãi gọi là trung hạ, trung đông, hay là trung xuân – (lê tuấn minh viên)

Trung thu là giữa mùa thu, giữa mùa thu là Tháng 8, hỏi thế cũng hỏi – (ABC)

“trung thu” là “giữa mùa thu”, răm tháng 8 là giữa mùa thu – (hung)

Trung là giữa, thu là mùa thu, trung thu là giữa mùa chúng tôi âm lịch thì mùa thu bắt từ tháng 7 đến hết tháng 9 nên 15 tháng 8 là giữa mùa thu nên được gọi là trung thu. – (HD)

Vì tháng 8 chả có ngày lễ nào để ăn uống cả. Nên bày ra thôi ^^ – (Discovery World)

Vì từ tháng 7 đến tháng 9 là mùa thu, tháng tám là trung thu và rằm tháng tám là ngày giũa tháng – (blem)

Trung thu là tên theo một tiết khí. Ai nghiên cứu lịch tiết khí sẽ biết các ngày như lập xuân, lập hạ….Ngày trung thu là cách gọi theo tiết khí, còn tên gốc của nó là Tết Đoàn viên, tức là ngày các thành viên trong gia đình sẽ tụ họp đông đủ dù đang ở đâu đi nữa. Sau khi truyền về VN thì ý nghĩa ngày này không còn giống như bên trung quốc nữa, và tên gọi dân gian cũng thành tết trung thu, nghĩa là ngày rằm giữa thu – (Zaer)

tại sao không có tết trung hạ, trung đông hay trung xuân? – (háiin)

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian.

Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ. – (TQMy)

Ngĩa là giữa mùa Thu! Mùa thu là mùa rễ chịu nhất, làm cho con người thoải mái và yêu đời hơn! – (Trương Dũng)

mùa thu gồm 3 tháng đáo là tháng 7, 8 và 9 âm lịch. Trung thu có nghĩa là giữa mùa thu và cụ thể là ngày rằm tháng 8. Do đó tết trung thu đương nhiên phải chọn ngày rằm tháng 8.

Riêng câu hỏi truyền thống này có từ khi nào thì tôi bó tay. – (Nguyễn Văn Út)

Boi vi thang 8 la bat dau vao mua Thu

Va ram la 15,la giua nen goi la Trung

Cho nen goi ram thang 8 la Trung Thu – (suanan)

Trung thu đơn giản là giữa mùa thu. Còn lịch sử của nó bạn tự tìm hiểu lấy. – (thienphan)

Vì 15 tháng 8 là ngày chính giữa của mùa thu. – (Kim chi)

nguơi ta chon ram thang tam la trung thu boi vi ram thang tam la giưa mua thu. – (tran duc do)

Theo minh hieu. Thang 8 la roi vao mua thu la trung tuan cua nam, nen nguoi xua tinh toan va lay thang 8 la dai dien cho le hoi trang ram. – (Tuann)

Mùa thu gồm có tháng 7, 8 và 9 âm lịch. Trung thu là giữa mùa thu thì chọn rằm tháng 8 là đúng rồi. Mình nghĩ vậy.

Thanh Vinh. – (vinhmyname)

Vi sao chon ram thang 8 la trung – (hangasta)

Trung Thu là giữa mùa thu, mà mùa thu là nằm vào tháng 7-8-9 nên chọn trung tuần tháng 8 (15/8 AL) là ngày Trung Thu 🙂 – (Ngọc Tịnh)

Trung Thu lả giữa mùa Thu nhằm ngày 15/8 âm lịch, với các tháng khác sao gọi Trung Thu được . Đối với dương lịch ngày 23/9 là ngay Thu Phân không thể chọn ngày 23 tháng khác được. – (vechai)

Sau cách mạng tháng 8 thành công và quốc khánh 2/9 năm 1945. Ai đều biết câu “Trung thu trăng sáng như gương, Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng” Vậy tết trung thu đầu tiên vào năm 1945 do Bác Hồ chọn. – (Đỗ Thanh Hải)

“Trung” là giữa, “Thu” là mùa thu. Trung thu là giữa mùa thu. Ngày rằm tháng 8 là ngày chính giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8 là trung thu – (tuantutoto)

theo âm lịch 3 tháng 7, 8, 9 là mùa thu. Tháng 8 là tháng giữa thu, ngày 15 là giứa tháng 8 có thể được gọi là ngày giữa mùa thu. Trung thu theo nghĩa Hán là giữa thu. Tiết trung thu thường đẹp nhất trong năm. Còn việc tại sao nhân dân các nước phương đông tổ chức tết Trung thu thì có nhiều điển tích lắm, bạn có thể tìm hiểu thêm. – (Trịnh Tân)

xuân, hạ, thu, đông mỗi mùa 3 tháng. Vậy rằm tháng tám là Trung Thu đúng rồi bạn? Đơn giản thế thôi. – (Han)

vì 15-8 là thời gian giữa của mùa thu cũng như 15 là giữa của tháng. – (Anh Tuấn Vũ)

Vì mùa thu bắt đầu từ tháng 7-9, ràm tháng tám tức là giữa mùa thu, ko phải trung thu vào ngày đó thì ngày nào. Trung thu tức là giữa mùa thu – (Bui Cong)

Rằm: ngày 15 âm lịch; Trung: giữa; Thu: mùa thu. (vì 15/8 là ngày giữa thu mà , mùa thu là tháng 7-8-9) – (letmytrinh)

Một năm ở Việt nam có 4 mùa tính theo lịch mặt trăng. Rằm tháng 8 là giữa mùa thu nên gọi là Trung thu. – (Xuân Chấp)

Bạn long thành thân mến! Như chúng ta đã biết một năm có bốn mùa gồm.xuân,hạ,thu,đông.mỗi mùa co thời gian là 3 tháng.mùa thu bắt đầu từ tháng 7 âm lịch cho đến hêt tháng 9 âm. Vậy nên ngày 15/8 được coi là giữa mùa thu .vì thế mới có tên là tết trung thu.tức là trung tuần của mùa thu – (long)

Mùa thu từ tháng đầu tháng 7 ân lịch đến cuối tháng 9 âm lịch ( 3 tháng) nên 15 tháng 8 là giữa mùa thu( tức Trung thu). – (vittechvn)

Mùa thu gồm 3 tháng là 7;8;9 .Mà Trung Thu thì có nghĩa là giữa mùa Thu, giữa mùa thu là tháng 8, mà giữa tháng 8 là ngày 15 âm lịch hay là rằm tháng 8, nên Trung Thu là ngày 15/8 âm lich hằng năm

Truyền thống này xuất phát từ bên Trung Quốc, nhưng bắt đầu từ khi nào thì … – (phuong)

Ý kiến của chi hang nga 7 tuổi – (thang 8 là rằm trung thu vì tháng 7,8,9 là mùa thu. mà chữ trung có nghĩa là trung bình c)

Thì tên của nó đã nói lên rồi đó bạn: là rằm giữa mùa thu – (thinh tat)

Mùa xuân là từ tháng giêng -tháng 3, mùa hạ là từ 4 -6, mùa Thu là 7 – 9 15/8 là giữa mùa thu thì gọi là Trung Thu – (Đức Toàn)

Mua thu bat dau tu thang 8, nen chon thang 8 – (datnguyen)

Thế mà cũng phải hỏi, giữa mùa thu là tháng mấy.. – (dinhcaoxuan)

Vì dằm tháng 8 trăng to và đẹp nhất khí hậu mát mẻ thuạn lợi cho việc vui chơi của trẻ.mà nhất là dằm tháng 8 trời không hay mưa – (trương long)

một năm 4 mùa, xuân, hạ, thu, đông. Mùa thu tính từ tháng 7 đến tháng 9, trung thu nghĩa là ở giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8. Đấy là tôi đoán thế ko biết đúng không – (tung)

Câu hỏi của bạn thật là kỳ. Trung thu tức là giữa mùa thu. Chả có nhẽ rằm tháng nào cũng là giữa mùa thu? – (Gió lang thang)

do thang 7,8,9 la mua thu, con chu “trung” co nghi la trung binh cong cua 3 thang tren nen ngay trung thu se roi vao ram thang 8. – (hoang thi hang nga)

Trung thu tức là giữa mùa thu, tháng 8 lại là tháng giữa thu (mùa thu gồm các tháng 7,8,9) ngày rằm là ngày 15 giữa tháng, vì vậy theo cả nghĩa đen thì rằm tháng 8 đích thị là giữa mùa thu (Trung thu). còn nguồn gốc ngày trung thu bạn có thể tham khảo ở đây: http://holiday.yeudoi.net/2013/09/tet-trung-thu-bat-nguon-tu-au.html – (Tôn Thất Khoa)

Cái tên của nó đã nói lên bản chất rồi. Trung thu chú có phải trung xuân, trung hạ, trung đông đâu. 15-8 là chính giữa mùa thu 😀 – (Huu Tri)

Đơn giản vì Rằm Tháng 8 là thời gian “giữa mùa Thu”. – (Trang)

tháng nào cũng có rằm nhưng tháng 8 thi mới là mùa thu, các tháng khác có phải mùa thu đâu – (dvdtth)

Trung Thu là giữa mùa Thu, thế thôi… – (Tiểu Long)

Thì nó là Trung thu. Thế mà cũng phải hỏi. – (abc)

sặc,mùa thu là tháng 7,8,9,trung thu la giữa mùa thu,là ngày 15/8 đó,có gì đâu mà thắc mắc – (phantom)

Tại vì bánh Trung Thu thường được bán trong tháng 7 âm lịch và hết date sau rằm tháng 8. – (Cuội)

Một năm có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Ba tháng mùa Xuân là tháng 1-2-3. Ba tháng mùa Hạ là tháng 4-5-6. Ba tháng mùa Thu là 7-8-9. Ba tháng mủa đông là 10-11-12. Như vậy, trung Thu tức là giữa Thu và rơi vào giữa tháng 8. – (MM)

Bạn có thể chưa hiểu Trung thu có nghĩa là gì. Tiết (không phải là tết) Trung thu có nghĩa là ngày giữa mùa thu. Mùa thu kéo dài 3 tháng từ tháng 7 đến hết tháng 9 âm lịch. Tháng giữa thu là tháng 8. và ngày giữa mùa thu chính là ngày giữa tháng 8, ở đây chính là ngày 15 (Rằm). – (Thiệp Wong)

trung là giữa, Thu là mùa thu. Trung Thu là giữa thu tứcc tháng 8! Vậy thôi. – (Nguyet)

trung thu là từ hán việt có nghĩa là giữa thu… có vậy cũng ko luận được ra 😀

đi học đi nha – (Minh Kiểm)

Mùa thu nằm trong 3 tháng 7- 8- 9, rằm tháng 8 nằm chính giữa 2 cái rằm kia nên chọn nó làm Trung thu là hợp lý nhứt còn gì. Gỉa sử chọn rằm tháng 10 thì thành…Trung đông rồi bạn ạ.

Trung thu có lẽ đã bắt đầu từ khi có mùa thu, hi hi… – (kim loan Pham)

don gian thoi ma,co le 1 nam co 4 mua ma mua thu la thang 7,8,9. ma trung la giua,vay suy ra ram thag 8 la ram trung thu – (nhanct)

Thang 8 ngay ram la ngay mat trang gan trai dat nhat, khi do ta thay mat trang to va sang nhat, voi lai vao dip nay thoi tiet sang thu nen canh vat hop nhat de to chuc tet Trung thu – (long tran)

Vì trăng sáng & tròn nhất – (Duong)

Mùa thu là tháng 7,8,9. Do đó giữa mùa thu là giữa tháng 8. Vì vậy giữa tháng 8 người ta gọi là trung thu – (thien su)

“Mùa Xuân từ tháng 1 đến hết tháng 3

Mùa Hạ từ tháng 4 đến hết tháng 6

Mùa Thu từ tháng 7 đến hết tháng 9

Mùa Đông từ tháng 10 đến hết tháng 12.

Vậy thì Trung Thu – giữa mùa thu là giữa tháng 8 bạn ơi! ” Chỉ là ý kiến cá nhân thôi – (duongn.bm)

“Trung Thu ” có nghĩa là giữa mùa thu đó ! rằm tháng 8 chứ tháng mấy nữa ! ^^ – (Nguyễn Thành Tín)

Theo Trung Quốc hết….. – (Nguyên)

Theo âm lịch thì tháng giêng , hai, ba là mùa xuân.Tư, năm ,sáu là mùa hạ. Bảy ,tám chín là mùa thu. Vì vậy rằm tháng tám là giữa mùa thu gọi là Trung thu. – (Nguyễn Thanh Hải)

Trung thu nghĩa là giữa mùa thu. Bản chất ngày rằm tháng 8 là ngày giữa của mùa thu rồi, có gì đâu mà phải chọn bạn? – (khach)

Theo ý kiến chủ quan của tôi nguyên nhân chọn rằm tháng 8 là Trung thu là như thế này: Một năm có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, mà theo lịch của một số nước Châu á trong đó có nước ta ( lịch mặt trăng) thì mùa xuân gồm tháng 1 ( giêng), tháng 2, tháng 3; mùa hạ có tháng 4,5,6; mùa thu là tháng 7,8,9. Như vậy tháng 8 là giữa mùa thu mà ngày 15 ( rằm là giữa tháng 8 nên gọi là Trung thu. – (Mr. Khoai)

Rằm trung thu là rằm giữa Thu, xét theo xuân hạ thu đông mỗi mùa có 3 tháng thì tháng 8 là tháng giữa thu nên lấy rằm tháng 8. – (Le duc anh)

1 măn có 4 mùa, xuân hạ thu đông, mùa thu rơi vào tháng 7-8-9 vậy rằm thắng 8 có phải là giửa mùa thu không, là trung thu đó. – (Lee Duc)

vì dằm tháng tám là giữa mùa thu và đâu hình như là phong tục của người phương bắc nên cũng ảnh hưởng thôi ☺ – (Nguyễn Hoàng Phương)

Trung thu có nghĩa la ‘ giữa mùa thu ‘.răm trung thu có nghĩa là ‘răm giữa mùa thu’.mua Thu có 3 răm la t7,t8, t9. Răm t 8 ở giữa nên gọi là răm trung thu – (Phúc)

một năm có 4 mùa. xuân hạ thu đông.mùa xuân có tết cổ truyền, mùa hạ có tết đoan ngọ, mùa thu có tết trung trung, vậy sao không có tết trung đông hả các bạn.? – (ngô cương)

Trung có nghĩa là giữa,mà giữa năm là tháng 8 vậy nên tháng 8 là đến mùa thu nên chọn tháng 8 – (phạm hảo)

tại + vì 15/8 là trung tâm của mùa thu thì gọi là trung thu – (trung thu)

Theo cái tên là bạn cũng biết rồi. “Trung Thu” là giữa mùa thu. Một năm 12 tháng chia làm 4 mùa. Mùa thu là tháng 7,8 và 9. thì rằm tháng 8 là giữa mùa thu. – (vanlam999)

Đơn giản vì trung thu là vào giữa thu. Là tháng 8 âm lịch. – (hoang anh ybc)

Theo mình nghĩ, mùa thu gồm 3 tháng 7, 8, 9, vậy tháng 8 là giữa mùa thu, vậy tháng 8 là tháng trung thu, và để chọn ngày trung thu thì là ngày giữa tháng trung thu, tức rằm tháng 8. Còn có từ bao giờ thì mình không biết. – (Lê Đức)

Mình cũng có thể có rằm Trung hạ, Trung xuân và Trung đông mà. Rằm nào cũng vầy bạn à, chọn 1 rằm rồi xài nó thì ý nghĩa hơn xài cả 4 chứ :v – (ha_anh_lion)

Bởi vì mùa Thu kéo dài tử tháng Bảy đến tháng Chín, vì thế mà ngày 15 tháng Tám là Trung Thu. Chính xác thì phải là 12 giờ ngày 15 tháng Tám. – (hoangnvhk)

Nếu không chọn rằm tháng Tám, ta có thể chọn rằm tháng hai và gọi là Trung Xuân; rằm tháng 5 gọi là Trung Hạ, rằm tháng 11 gọi là Trung Đông, và rằm tháng tám tất là Trung Thu đó bạn. – (vanhung)

tại vì tháng 8 là giữa mùa thu nên gọi là trung thu – (tulong2108)

cái tên nó đã nói lên tất cả…..

Trung thu….giữa mùa thu….là rằm tháng 8 chứ gì nữa – (candysnow_bell)

Bánh trung thu tượng trưng cho sự đoàn viên, là thứ không thể thiếu để cúng trăng và thổ địa công vào mỗi mùa Trung thu. Phong tục ăn bánh trung thu vào Tết Trung thu bắt đầu từ cuối đời nhà Nguyên bên Trung Quốc đến nay.

Tương truyền vào thời đó, người Trung Nguyên không chịu nổi ách thống trị của người Mông Cổ, những người có chí khí đều muốn khởi nghĩa chống nhà Nguyên. Để tập hợp được các lực lượng đấu tranh, nhưng trong điều kiện không thể truyền tin đi, Lưu Bá Ôn đã nghĩ ra một cách truyền tin rộng rãi và bảo đảm, đó là kêu gọi mọi người mua bánh trung thu ăn vào Tết Trung thu để tránh họa. Sau khi mọi người mua bánh về và cắt ra, nhìn thấy bên trong có giấu một mảnh giấy viết “đêm 15 tháng 8 khởi nghĩa”, nhờ vậy người dân đã nhiệt liệt hưởng ứng, và lật đổ được nhà Nguyên. Cũng từ đó, bánh trung thu đã trở thành một món ăn không thể thiếu vào mỗi Tết Trung thu. – (Thuy)

nen xem chuyen Co Do Long cua Kim Dung se hieu. – (shayya)

Ngày 15 tháng 8 là điểm giữa của mùa thu nên mới gọi là Trung Thu. Đơn giản thế thôi – (Mr.Khanh)

“Trung Thu” nghĩa là chính giữa mùa Thu, giải thích đơn giản vậy chắc bạn hiểu. T1-2-3: mùa Xuân, T4-5-6: mùa Hạ, T7-8-9: mùa Thu, T10-11-12: mùa Đông… – (BH)

Bạn nào đặt câu hỏi này chứng tỏ không hiểu vấn đề rồi. Cái chính là “lễ hội” mang ý nghĩa gì và tại sao có nó, còn cái ngày là Rằm Trung Thu hay ngày nào khác chỉ là cái ngày mà thôi. Nếu không là Rằm Trung Thu thì cũng có thể là Mùng 10 tháng 10 chẳng hạn, hay Mùng 5 tháng 5 chẳng hạn,… Để nghị bạn Google để nghiên cứu sự tích, ý nghĩa của ngày Rằm Trung Thu. – (Hùng)

Trung Thu là giữa của mùa Thu. Mùa Thu là Tháng 7+8+9 Âm Lịch. Vậy rằm Tháng 8 hiển nhiên phải là Trung Thu ! Thế mà cũng hỏi ??? – (Lê Hùng)

Toi dong y voi ban chu hoang giang. Cam on. – (tran duc khiem)

Đơn giản từ “trung thu” có nghĩa là giữa mùa thu. Do đó ngày rằm tháng tám là ngày chính giữa của mùa thu. Đồng thời, trong một năm, trăng vào ngày rằm tháng tám là tròn nhất, to nhất và sáng nhất. – (chuoi)

Vì nằm giữa mùa thu nên gọi là trung thu. – (thong)

nếu nói như mấy bạn, trung là giữa, thu là mùa thu, thì giữa mùa thu phải là 1/8 chứ, mấy pạn chưa ngke chuyện cổ tích chú cuội ah mà pảo nhập khẩu từ trung quốc sang – (hà)

vào rằm toàn mưa với bão thôi – (Ngô Thuỷ)

Đừng quên một điều quan trọng. Tổ tiên của chúng ta vốn ở tận bên Sông Hoàng Hà đó. Động Đình Hồ có nghĩa là Động Tiên, nơi Âu cơ phải long Lạc Long Quân rồi Nam tiến.

Cho nên Trung Thu là của Việt, Đoan ngọ là của Việt, Nguyên đán là của Việt. – (Viet Nam)

Đơn giản thôi các bạn ah.1 năm có 4 mùa xuân hạ thu đông,mùa thu là tháng 7,8,9.trung la giữa,giữa mùa thu là ngày rằm tháng 8 thôi – (Lai)

Đơn giản 15/8 âm lịch là giữa mùa thu thôi, nhiều bạn giải thích cầu kỳ quá! – (Lê Nam)

1 năm có 12 tháng và 4 mùa, như vậy mỗi mùa kéo dài 3 tháng và theo thứ tự Xuân Hạ Thu Đông thì mùa thu là từ bắt đầu tháng 7 đến hết tháng 9. Trung Thu có nghĩa là giữa mùa Thu nên chọ vào ngày 15 tháng 8 là chuẩn nhất rùi bạn!!!!!!! – (ha ha)

TRUNG là giữa, TRUNG THU là giữa thu, tháng 7,8,9 là mùa thu – (trần hoài sơn)

Cái tên thì nói lên tất cả rồi. Trung thu là giữa mùa thu. Mà chọn ngày rằm là lúc trăng đẹp nhất. Âm lịch có mùa thu từ đầu tháng 8-hết tháng 9 âm lịch. Trung thu là bắt đầu thời điểm giữa đầu tháng 8 đến cuối tháng 9. – (Mami siêu phàm)

Theo tôi được biết thì răm trung thu xuất phát từ trung Quôc, những nước xung Quanh ảnh hưởng theo Văn Hoa đó bao gồm Việt Nam, Hàn Quôc, Nhật bản. Như hàn Quôc tổ chức rằm trung thu rất to do rằm trung thu Đánh dấu kết Thuc một vụ thu hoạch và chuẩn bị bước vào mùa Đông lạnh giá, phía Bắc Trung Quôc và nhật bản cũng tương tự – (Hoa)

Nếu nói Tết Trung thu có xuất xứ từ TQ, vậy còn truyện tích chú cuội , cây đa, … thì có tứ lúc nào? – (NC)

Theo tôi biết thì mỗi tháng có 1 ngày trăng tròn gọi là rằm, nhưng rằm tháng 8 trăng sẽ sáng nhất trong năm nên người xưa chọn làm ngày Trung Thu. “trung thu trăng sáng như gương…” – (Kiên)

Thời tiết miền Bắc (kể cả ở Trung Quốc), tháng 8 âm lịch là đẹp nhất trong năm – không nóng, không lạnh, khô ráo, nên người ta ăn rằm Trung Thu. Còn một điểm nữa là ngày xưa Triều đình thường tổ chức thi vào tháng 10 (âm lịch) nên Trung Thu cũng là một cái Tết văn hiến, chuẩn bị đi thi, thi đỗ là đổi đời (cá chép vượt Vũ môn hóa rồng). Rằm Trung Thu thường có đèn cá chép và ông Tiến sĩ giấy để khuyến khích việc học. – (Đức Lan)

Đơn giản thôi mà “Trung thu” nghĩa là : “Trung” là giữa, “Thu” là mùa Thu, tháng tám giữa mùa Thu thì gọi là Trung Thu. – (Một Cõi Đi Về)

có gì khó hiểu đâu, một năm có bốn mùa mỗi mùa 3tháng mùa thu là tháng 7, 8, 9 âm lịch, tháng 8 là giữa mùa thu, rằm tháng 8 là giữa tháng 8 nên lấy làm ngày trung thu! – (truongtonngoc)

Tết Trung thu (ngày 15 tháng 8 Âm lịch) có xuất xứ từ Trung Quốc. Theo nhiều ghi chép lịch sử, nghi thức đón Tết Trung thu đã có từ thời nhà Chu. Tết Trung thu là ngày lễ truyền thống lớn thứ hai sau Tết Nguyên Đán của Việt Nam nói riêng và nhiều nước châu Á nói chung.

Theo Âm lịch, mùa thu bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài đến hết tháng 9, ngày 15 tháng 8 đúng vào giữa mùa thu nên được gọi là “trung thu”. Tết Trung thu còn có rất nhiều tên gọi khác, ít phổ biến hơn như Thu tiết, Bát Nguyệt tiết, Bát Nguyệt Hội, Nguyệt tiết, Truy Nguyệt tiết, Nguyệt Tịch, Đoàn Viên tiết…

Dù phong tục đón Tết Trung thu của các quốc gia đều bắt nguồn từ Trung Quốc nhưng không phải những phong tục, tập quán đón Tết Trung thu ở đâu cũng giống nhau.

So sánh giữa Tết Trung thu của người Hoa và Tết Trung thu của người Việt, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra sự khác bệt giữa một số phong tục, tập quán như:

Người Hoa xem trọng sự sum họp, đoàn viên của gia đình trong dịp Tết Trung thu trong khi phần lớn người Việt xem Tết Trung thu là Tết thiếu nhi.

Người Việt không có thói quen thưởng nguyệt đêm trung thu trong khi người Hoa lại thường quây quần bên gia đình ngắm trăng vào đêm này.

Người Hoa thường tổ chức múa rồng lửa để cầu mong sự may mắn, thịnh vượng còn người Việt lại hay tổ chức múa lân, có ông địa dẫn đầu.

Người Việt không có nghi thức tế nguyệt (cúng mặt trăng) để cầu cho mùa màng tươi tốt, gia đình bình an trong dịp Tết Trung thu như người Hoa.

Mặc cho những khác biệt trong văn hóa, mỗi dịp Tết Trung thu về, người Hoa, người Việt và tất cả các dân tộc sinh sống tại Việt Nam đều hòa mình trong không khí ấm áp, tươi vui của ngày lễ truyền thống ý nghĩa này. – (Vũ Đình)

Trung là giữa, thu là mùa thu. trung thu là Chính giữa mùa thu. 15/8 là chính giữa mùa thu nhất – (leducphanlaw)

vi trung la o giua,thang 9 lai la mua thu – (1)

【#6】Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Mộ phần Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

Từ trung tâm Hà Nội, du khách lái xe hướng qua ra đường CT 01/ CT Pháp Vân – Cầu Giẽ. Đến đoạn giao giữa CT Hà Nội – Ninh Bình và CT Pháp Vân – Cầu Giẽ, lái xe qua vòng xuyến sang QL 21B vào Đại lộ Thiên Trường. Tại vòng xuyến Big C Nam Định, dẽ phải vào QL10/QL38B qua cầu Lộc An tới Đại Lộ Lê Đức Thọ qua cầu Nam Định dẽ phải vào ĐT490/ ĐT 490C, dẽ trái vào ĐT487 đến ngã rẽ phải thứ 5 dẽ vào và đi thẳng đến ngã dẽ thứ 4 bên trái dẽ vào đi thẳng theo đường làng Phú Hào là tới đền Phủ Giày.

Đền Phủ Giày thờ ai?

Đền là một quần thể gồm nhiều ngôi đền nhỏ ghép lại. Đặc biệt phải nói đến kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là Tiên Hương, Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là đền chính của Mẫu Liễu Hạnh và thờ bên chồng của Mẫu, còn phủ Vân Cát và Phủ Tổ là nơi thờ Mẫu và bên ngoại (bên bố mẹ đẻ) của Mẫu.

Lịch sử đền Phủ Giày

Đền Phủ Dầy có truyền thuyết kể lại rằng xưa kia vì nhớ thương chồng con trước khi về trời mà bà chúa Liễu Hạnh đã để lại chiếc giày ở trần gian. Cũng có truyền thuyết kể lại rằng vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy. Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.

Phủ Dầy bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của Trọng Nội, Xuất bản năm 1959 thì: đời Vua Anh Tông (1557) làng kẻ Giầy đổi thành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu. Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái. Sang đời Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam định.

Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất. Phủ Dầy chính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho một quần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản Nam định. Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương.

Kiến trúc đền Phủ Giày

Đền Phủ Giày gồm 3 quần thể chính:

Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định; nằm cạnh đường giao thông liên xã. Đây là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671), trải qua bao thăng trầm lịch sử, phủ vẫn giữ được nét cổ kính thời xưa.

Năm 1996 Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

Cảnh quan của phủ rất rộng rãi và thoáng đãng. Mới bước vào, du khách sẽ thấy một giếng nước tròn bên trong là ụ đất để cắm cờ khi diễn ra lễ hội. Cán cờ bằng gậy gỗ, trên đầu buộc túm lá hoặc quạ đen làm thiên sứ của trời. Lá cờ thần được treo trên đỉnh. Tiếp đến là sân lớn diễn ra các trò chơi hay là nơi những sập bán hàng được bày bán trong mùa lễ hội. au sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống. Tiếp nối 3 phương đình là hồ bán nguyệt, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô.

Kiến trúc các dãy nhà tại Phủ được nối liền nhau tạo thành thể thống nhất. Mỗi nhà sẽ có phòng riêng gọi là cung, có tất cả 4 cung: Cung đệ tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng. Đối xứng với cung Đệ Tứ bên trái là Ban Quan lớn Thủ phủ và bên phải là Ban Chầu Thủ phủ; cung đệ tam thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng và Hội Đồng các quan hay Ngũ vị vương quan; Cung đệ nhị thờ Tứ Vị Chầu bà và ba bộ long ngai; Cung Đệ nhất là cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung này ở trong cùng. Tuy nhiên, đa phần nơi thờ Mẫu Tứ phủ có nội cung (cung cấm).

Cung cấm có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh cùng với hai Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân đều được phong thần và sắc phong. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể vào đó được mà phải có sự cho phép của ban quản lý khu di tích mới được đặt chân vào đó.

Bên cạnh các dãy nhà thờ có 1 dãy nhà nữai là Ban Trần Triều. Trong dãy nhà này có đặt ban thờ Ban Trần Triều và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau nơi thờ chính là Động Sơn Trang, nơi này thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn Hai Chầu và mười hai cô Sơn Trang.

Phủ nằm phía bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo nên một quần thể thờ Phật – Mẫu – Thần.

Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: ” .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành “.

Từ cổng bước vào, du khách sẽ gặp Ngũ Vân Lâu, gác chuông với 5 cổng lớn xây dựng từ năm Tự Đức. Phía trong là hồ bán nguyệt xây bằng đá. Giữa hồ bán nguyệt có phương du nằm ở giữa và có hai cầu đá dẫn ra ngoài. Phương du gồm có ba gian làm bằng gỗ lim, mái có góc uốn cong, xung quanh lan can được ghép bằng những tường hoa bằng đá với những mảng phù điêu trạm khắc một số loài hoa và những con voi. Phương du có bốn mặt thoáng, là nơi khách đứng xem kéo chữ vào ngày hội.

Bên trong phủ có 4 cung thờ: kết câu hai cung đệ nhất và đệ nhị đều có 3 gian, và cả 2 đều được xây từ năm Tự Đức (1879). Cả hai cung đều bị giặc Pháp phá hủy mãi về sau mới được tôn tạo lại.

Cung đệ nhất là chính cung khép kín thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.

Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).

Trong Phủ còn dấu tích nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, nét độc đáo còn nằm ở văn bia cùng ngũ vân lâu ngay tại mặt chính của đền, các công trình bố trí chặt chẽ tạo thành thể thống nhất, giữ lại nét giá trị từ ngàn đời.

Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Lăng mộ Thánh Liễu Hạnh nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn cá chép. Ngôi mộ trước kia là bãi đất với lùm cây xanh lá, sau đó được xây thành khu nhỏ gồm gạch lát đá. Sau đó, vua Bảo Đại cầu tự được con và được thánh Mẫu báo mộng cho, năm 1938, vua Bảo Đại biết ơn mẫu và cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen hồng quy mô như hiện nay.

Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương. Từ ngoài vào bước theo bậc tam cấp lên đến mộ phải qua 5 lớp tường toàn bằng đá được chạm khắc, mỗi lớp tường vuông đều có cửa, cửa được bổ trụ bằng đá vuông với ba mặt đều khắc câu đối và phía trên đặt các nụ sen bằng đá hồng nhạt tới 60 nụ sen đá.

Xung quanh lăng mộ là hàng cây 4 mùa xanh mát, 4 cột trụ chính đặt 4 góc khiến lăng mộ càng thêm long trọng và trang nghiêm. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở chỗ cao nhất của cả khu lăng. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên.

Bên cạnh khu lăng mộ còn có một gian nhà thờ tự với kết cấu sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần. Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.

Hàng năm vào mùa lễ hội, đền đón hàng ngàn khách du lịch về trẩy hội. Hòa chung không khí tấp nập của mùa lễ hội, dân làng và du khách càng thấy hứng khởi đón chào một năm mới đầy thắng lợi./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./

Các dạng thức thờ Mẫu Thờ Mẫu ở Bắc bộ

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,…

Thờ Mẫu ở Trung Bộ Thờ Mẫu ở Nam bộ

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…

Liễu Hạnh công chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Mẫu Liễu Hạnh)

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

Đền thờ Thánh Mẫu, đường Ngô Quyền, thành phố Thông tin chung Đà Lạt

Tên thật Phạm Tiên Nga

Liễu Hạnh Công chúa ( chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Truyền thuyết

Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

Lần giáng sinh đầu tiên

Căn cứ vào ” Quảng Cung linh từ phả ký”, ” Quảng Cung linh từ bi ký” và ” Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnh như sau:

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn ( 1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Lần giáng sinh thứ hai

Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 ( 1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Hành thiện giúp đời

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh ( Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ tân phả của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Cảnh Hồ Tây.

Ông bèn lên tiếng ghẹo: 三木森庭,坐著好兮女子 – Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Người con gái nghe vậy, đối ngay: 重山出路走來使者吏人 – Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc bèn nói tiếp: 山人憑一几,莫非仙女臨凡 – Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.

c âu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên . Chữ bàng có bộ kỷ . Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm .

Cuộc tái hợp với Đào Lang- Người chồng kiếp trước

Hiện nay những câu đối, những dấu tích về 2 lần gặp gỡ tại Lạng Sơn và Phủ Tây Hồ còn lưu lại ở Đền Mẫu Đồng Đăng (nơi Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh lần đầu) và Phủ Tây Hồ (lần gặp thứ hai)

Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

Lễ hội

Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại.

Cung thờ Sơn Trang trong Phủ Tây Hồ

Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch – ngày giỗ của bà.

Địa điểm là:

Đền Sòng Sơn ở đường Hàng Bột, Hà Nội

Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ. Riêng lễ hội Phủ Dầy, còn gắn liền với Hội chợ Viềng, họp vào ngày 7 tháng giêng./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ (miền trời): mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
  • Nhạc phủ (miền rừng núi): mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

Tam phủ và Tứ phủ Hát Chầu Văn

Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thiên Y A Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên . Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.

Đó là hình thức hầu đồng với 36 giá chầu:

Thỉnh Mẫu Và Quan Đệ Nhất

【#7】18+ Công Thức Nấu Món Xào Ngon Đơn Giản & Dễ Làm Tại Nhà

Từng miếng mực trắng tinh, giòn sần sật thêm những miếng dứa chín vàng ươm mang vị chua ngọt, dậy mùi thơm của tỏi, tiêu, cần tây ăn rất đã miệng.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

  • Mực đổ vào chậu nước rửa sạch, lấy kéo hoặc dao cắt bỏ hết túi mực vứt đi, phần xương cứng dọc theo thân mực cũng rút bỏ. Nên rửa mực với một chút rượu trắng có pha một vài lát gừng để khử mùi tanh.
  • Rửa sạch trái dứa rồi bổ làm 4 phần bằng nhau, rồi tách dứa thành từng miếng nhỏ vừa nấu. Cần tây cắt bỏ phần rễ và phần gốc già, rửa sạch cắt khúc ngắn.
  • Tỏi tây rửa sạch chia làm hai phần: Phần đầu trắng xắt mỏng, phần còn lại xắt khúc như cần tây. Gừng củ rửa sạch, gọt vỏ, băm nhuyễn.
  • Đặt một cái chảolên bếp cho một chút dầu ăn vào bật lửa, đợi khi dầu ăn sôi thì trút hết phần đầu trắng của tỏi tây vào cùng với số gừng băm nhuyễn vào phi thật thơm.
  • Sau đó, đổ mực vào đảo đều nhớ phải xào mực với ngon lửa lớn. Nêm thêm gia vị gổm: nước mắm, bột ngọt, hạt nêm cho vừa ăn, để ý mực vừa chín tới là bắc xuống bếp ngay tranh để chín quá mực sẽ bị dai.
  • Đổ mực vào một cái tô rồi lại bắc chảo lên cho tiếp một chút dầu ăn nữa vào rồi đổ dứa, tỏi tây, cần tây vào xào khoảng 5 phút. Cũng nêm thêm gia vị vào rồi dùng đũa đảo đều cho tới khi chín.

Lòng gà xào mướp một món xào ngon lạ với hương thơm tuy đơn giản mà không kém phần thơm ngon với vị ngọt lịm của mướp hương quyện với vị bùi béo của gan và cái giòn giòn của mề gà.

Ếch xào xả ớt có lớp thịt ngoài cháy cạnh, giòn thơm, thịt bên trong mềm ngọt tự nhiên, hấp dẫn nhất là mùi sả thơm phức xen lẫn vị cay nhẹ của ớt sừng, đã ăn là nghiền.

Mực tươi là hải sản giàu dinh dưỡng, mực tươi nên xào với các loại rau, củ, quả đảm bảo giảm bớt mùi tanh của mực nhưng vẫn bảo tồn vị thơm ngon, giòn dai của mực tươi.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

  • Mực tươi rút bỏ túi mực, mắt mực, mai mực và rửa sach. Tiếp đó thái mực hình vảy rồng hoặc hình bông hoa thành những miếng vừa ăn. Để khủ mùi tanh mực trần sơ với nước nóng băm vào ít gừng.
  • Gừng tươi thát lát, băm nhỏ. Thơm gọt vỏ, cắt bỏ các mắt, thái miếng có độ dày vừa ăn. Dưa leo gọt vỏ, thái chéo. Cà chua bổ múi cau.
  • Bắc chảo lên bếp, cho vào 1 muỗng dầu ăn và phi thơm phần tỏi băm. Tỏi thơm thì cho mực vào xào qua cho mực săn lại.
  • Sau đó cho cà chua, khóm và phần gừng băm còn lại vào. Tiếp tục xào với lửa vừa, nêm thêm các loại gia vị như bột canh, hạt nêm, mì chính. Khi thấy các loại nguyên liệu chín tới thì tắt bếp, rắc thêm hạt tiêu và trút mực xào dưa leo ra đĩa, thưởng thức khi còn nóng.

Món tép khô rang giòn là 1 món ăn dễ làm và cũng rất đưa cơm. Nhất là những hôm trời se lạnh, có chút tép khô rang giòn nóng hổi; măm cùng bát cơm trắng nóng thì chẳng còn gì tuyệt hơn.

Các món xào ngon từ thịt Heo

Sườn xào chua ngọt là món ăn chính trong bữa cơm gia đình Việt, đây là món xào ngon mỗi ngày ăn không bị ngán, mà rất giàu chất dinh dưỡng.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

  • Sườn non rửa sạch với nước. Sau đó, chần với nước sôi để bớt mùi hôi. Chẻ sườn thành từng dẻ rồi chặt thành từng miếng vừa ăn.
  • Pha nước sốt sườn xào chua ngọt: 5 thìa đường, 4 thìa nước mắm, 5 thìa dấm, 3 thìa nước sôi để nguội và 4 thìa tương ớt.
  • Đun sôi chảo trên bếp, cho sườn vào xào. Có thể cho thêm một chút nước và 1 thìa bột canh để sườn không bị cháy cũng như ngấm gia vị.
  • Đảo đều trong 3p sau đó đổ nước xâm xấp. Sau đó, bạn đậy vung, hạ nhỏ lửa và om trong khoảng 15p nữa cho sườn chín mềm cũng như ngấm gia vị.
  • Khi sường đã mềm, bạn cho nước sốt vào và đảo tiếp lần nữa. Để lửa ở mức thấp nhất, om thêm 3 phút nữa. Cho tiếp tỏi băm nhuyễn vào đảo đều. Nêm nếm gia vị một lần nữa cho vừa ăn rồi tắt bếp. Bạn múc ra đĩa và trang trí cho đẹp mắt.

Măng chua xào thịt lợn là món ăn đơn giản; giúp các bà nội trợ tiết kiệm tối đa thời gian mà vẫn có bữa cơm ngon miệng cho gia đình.

Đậu que sau khi xào vẫn giữ được màu xanh và độ giòn; kết hợp với thịt heo mềm, ngọt thịt tạo nên một đĩa đậu que xào thịt heo vô cùng ngon miệng.

Thịt heo xào bông cải một trong các món xào ngon. Bông cải giòn sần sật với màu xanh mát mắt, thịt heo chín mềm đậm đà, ăn cùng với cơm trắng vừa ngon miệng lại không tạo cảm giác ngấy, hứa hẹn là một món ăn ngon mà bạn nên thử.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

  • Thịt thăn heo rửa sạch xắt lát mỏng vừa ăn, ướp với 2 muỗng cà phê nước mắm, tỏi băm, ¼ muỗng cà phê tiêu say.
  • Bông cải xanh tách nhánh nhỏ, rửa sạch, ngâm nước muối loãng khoảng 10 phút. Cà chua rửa sạch, xắt miếng nhỏ. Tỏi bóc vỏ, đập dập.
  • Bắc chảo lên bếp, cho dầu vào phi thơm tỏi. Cho thịt heo đã ướp vào xào nahnh tay, lửa lớn. Khi thịt chín, cho bông cải và cà chua vào tiếp tục xào chín. Sau đó cho hành lá vào trộn đều.
  • Múc bông cải ra đĩa, rắc thêm ít tiêu lên trên mặt. Dọn kèm chén xì dầu với vài lát ớt để chấm.

Món chân giò xào lăn có lớp da vàng giòn, thịt mềm hòa với cốt dừa beo béo, mùi sả thơm lừng. Món này ăn với cơm, bún, bánh mì hay làm món nhắm đều rất tuyệt.

Một món ngon từ thịt bò xào ngồng tỏi giòn giòn, hơi hăng cay kết hợp với bắp bò giòn, ngọt là sự kết hợp hài hòa, món ăn tuy không mới nhưng cũng là một gợi ý thú vị để bạn có thể đổi món cho gia đình trong bữa cơm.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu Thịt bò rửa sạch, thái mỏng. Ngồng tỏi tước sơ vỏ, cắt khúc rửa sạch. Sau đó trần qua nước sôi.

  • Phi thơm hành, tỏi với dầu ăn. Cho thịt bò vào xào sơ, nêm gia vị vừa miệng rồi cho thịt bò ra đĩa. Sau đó, cho ngồng tỏi vào chảo xào
  • Cuối cùng cho thịt bò vào xào cùng ngồng tỏi. Nêm mì chính rồi cho thịt bò xào ngồng tỏi ra đĩa.

Thịt bò xào khoai tây là một món ngon, dễ chế biến và không còn xa lạ với mâm cơm của nhiều gia đình. Thịt bò xào khoai tây là món ăn bổ dưỡng, cung cấp cho cơ thể nhiều protein và vitamin.

Thịt bò xào củ sắn món xào ngon với vị ngọt thanh tao và độ giòn giòn đặc biệt sẽ mang tới cho bữa ăn gia đình bạn một cảm giác lạ miệng mà vô cùng hấp dẫn.

Những ngày trời lạnh mà được ăn bát cơm nóng hổi với đậu phụ non mềm béo sốt với thịt bò đậm đà thì thật là ngon miệng.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

  • Thịt thăn bò rửa sạch, thái lát mỏng, ướp vào bát thịt bò một thìa nhỏ dầu hào, một ít hạt tiêu, một ít dầu ăn, trộn đều, ướp khoảng 30 phút.
  • Hành tây, súp lơ xanh, cà rốt cạo vỏ, rửa sạch. Súp lơ xanh tước bỏ bớt phần xơ cứng, cắt khúc ngắn. Cà rốt thái khoanh tròn, hành tây bổ múi cau. Đậu phụ non rửa sạch, thái hạt lựu lớn.
  • Đun nóng ba thìa nhỏ dầu ăn, phi tỏi thơm, cho thịt bò vào xào nhanh tay lửa lớn, thịt bò chín tái đổ ra bớt, để qua một bên.
  • Dùng lại chảo đó, cho cà rốt, súp lơ xanh vào xào, rưới vào một thìa xanh xì dầu, một ít dầu hào, một ít đường và một ít nước lọc, nấu sôi.
  • Nấu từ 6 -9 phút, ăn thử phần cà rốt chín thì cho tiếp đậu phụ non, hành tây vào đun cùng, cầm tay cầm của chảo lắc đều, đậy kín nắp, đun sôi thêm khoảng 10 – 13 phút.
  • Nêm nếm lại gia vị cho vừa ăn, cuối cùng cho bát thịt bò đã xào vào nấu cùng, nấu tiếp khoảng 3 phút thì tắt bếp, thêm hành lá thái nhỏ vào, múc ra đĩa, rắc lên bề mặt một ít hạt tiêu dùng làm món mặn ăn với cơm.

Rau muống xào tỏi ngon là rau phải có độ giòn, rau xanh và hương vị vừa phải, thơm. Đây là một trong các món xào ngon; món ăn dân giã thường xuyết xuất hiện trên mâm cơm của người Việt.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

  • Rau muống nhặt sạch, bỏ những lá úa vàng, sâu già. Sau đó, đem ngâm với nước muối loãng trong chừng 10 – 15 phút, rửa sạch nhiều lần với nước rồi vớt ra rổ để ráo.
  • Tỏi bóc sạch lớp vỏ khô bên ngoài, đập dập và băm nhuyễn.
  • Đun sôi một nồi nước lớn, cho chút muối vào để luộc rau muống được tươi xanh. Sau đó, cho rau muống vào luộc khoảng tầm 1 phút.
  • Chuẩn bị một âu nước đá. Sau đó, vớt rau muống ra khỏi nước luộc rau và cho ngay sang âu nước đá. Bước này sẽ giúp món rau muống xào tỏi ăn rất giòn ngon.
  • Bắc một chảo lớn lên bếp, cho một muỗng canh dầu ăn vào đun sôi. Sau đó, cho tỏi băm nhuyễn vào phi thơm rồi cho rau vào xào vừa chín. Nêm nếm gia vị muối, nước mắm, hạt nêm, bột ngọt cho món rao muống xào tỏi được ưng ý rồi tắt bếp.

Bông cải xào tương ớt một món ăn chay ngon đơn giản và tiện lợi. Chứa calo và chất sơ ít nên là món ăn tuyệt vời cho chị em muốn ăn kiêng và cỉa thiện vóc dáng.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu: Cắt bông cải làm đôi, bỏ cuống, cắt thành những miếng nhỏ và rửa sạch Hành lá nhặt, rửa sạch và cắt nhỏ. Tỏi bóc vỏ và băm nhuyễn. Chanh cắt đôi.

  • Cho dầu ăn vào chảo. Phi thơm tỏi, cho bông cải vào. Xào đều bông cải trên bếp khoảng vài phút đến khi bông cải trở vàng thì cho nước tương vào.
  • Vắt chanh vào xào đều. Sau đó cho hành lá vào. Xào đều bông cải, đến đây bông cải đã gần như chín rồi. Bạn lấy tương ớt cho vào chảo bông cải xào đều lần nữa là xong.

Đậu hũ xào bông cải ăn cùng với nước nóng rất ngon. Đây là món ăn thanh đạm, nhưng chứa nhiều dưỡng chất tốt cho sức khỏe.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

  • Bông cải cắt nhỏ và rửa sạch. Cho bông cải vào nồi nước sôi trần sơ. Cắt đậu hũ thành khối vuông vừa ăn và đặt sang một bên.
  • Tỏi bóc vỏ và băm nhuyễn. Trộn nước xốt: lấy một cái tô cỡ vừa, cho nước tương đậu nành, xì dầu, dầu mè, đường vào trộn đều.
  • Đun nóng 2 muỗng canh dầu trong chảo sâu lòng trên lửa vừa và cho thêm tỏi vào phi thơm. Sau đó, thêm bông cải xanh và đảo nhanh tay trên lửa lớn đến khi bông cải chuyển màu xanh sáng.
  • Thêm đậu hũ non vào xào đều, chế nước gia vị vào đảo nhanh tay cho đều gia vị. Hòa tan bột bắp với 20ml nước lọc. Tiếp tục cho từ từ nước bột bắp vào, nấu thêm 2 phút và tắt bếp.

Củ sen xào cay là một món ăn kết hợp hài hòa giữa âm và dương, giữa nhiệt và thanh, giữa vị ngọt thơm của củ sen và vị cay của ớt.

Bún xào chay tuy không có thịt nhưng khi ăn, bạn vẫn cảm thấy vị đậm đà của các loại rau xào, kết hợp với vị ngọt của nấm, của nước sốt sẽ hoàn toàn làm bạn hài lòng.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

  • Cải thìa chẻ đôi hoặc chẻ 3 rồi đem ngâm với nước muối pha loãng. Tiếp theo, đem rửa lại với nước sạch rồi vớt ra để ráo. Bún gạo đem trụng với nước sôi cho mềm rồi vớt ra để ráo nước. Sau đó, cho dầu ăn vào bún và trộn đều lên.
  • Tàu hũ đem chiên vàng giòn các mặt rồi cắt thành từng miếng vừa ăn. Tàu hũ ky đem ngâm với nước cho mềm rồi cắt miếng vừa ăn. Cà rốt gọt sạch vỏ, rửa sạch rồi thái sợi.
  • Nấm đùi gà đem ngâm với nước, rửa sạch rồi xé thành từng sợi. Tỏi bóc vỏ, ởt rửa sạch băm nhỏ.
  • Cho chảo lên bếp, cho dầu ăn vào đun nóng rồi cho ½ tỏi băm vào phi thơm. Tiếp đến, bạn cho cà rốt và nấm đùi gà vào xào săn lại.
  • Tiếp theo, bạn cho cải thìa vào cùng cho đến khi các nguyên liệu vừa chín tới. Lúc này bạn cho tàu hũ ky vào. Nêm nếm với 1 muỗng nước tương, ít bột ngọt, ít đường, ½ muỗng hạt nêm rồi trộn đều lên cho vừa ăn.
  • Khi nguyên liệu đã thấm gia vị, tắt bếp và cho bún gạo vào trộn đều lên. Có thể cho thêm 1 muỗng dầu mè vào để món ăn ngon hơn.
  • Làm nước tương ăn bún: cho 6 muỗng canh nước tương, 4 muỗng canh nước dừa, 2 muỗng đường, ít bột ngọt. Sau đó bắc lên bếp nấu sôi rồi tắt bếp. Khi nước chấm nguội hẳn thì bạn cho tỏi và ớt băm vào trộn đều lên.

Với những nguyên liệu quen thuộc cùng cách làm đơn giản, món bún xào thịt heo sau đây sẽ giúp bạn có một bữa sáng ngon miệng và đầy dinh dưỡng. Thêm vào đó là vị hài hòa của nước tương ăn kèm món bún này sẽ khiến bạn phải xuýt xoa cho xem.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

  • Mì chần qua nước sôi để sợi mì rời và mềm hơn, sau đó chần qua nước lạnh để sợi mì không bị dính. Để mì ráo nước.
  • Tôm bóc vỏ, bỏ đầu, rửa sạch rồi để cho ráo nước. Ướp ½ phần tôm với ½ muỗng hạt nêm, ½ muỗng bột ngọt, ½ muỗng đường, thêm một chút hạt tiêu, dầu ăn và hành tỏi băm nhuyễn.
  • Mực làm sạch, rút túi mực rồi để cho ráo nước, thái mực thành những miếng vừa ăn. Chả cá viên cắt làm đôi.
  • Rau cải xanh rửa thật sạch để ráo nước, cắt thành khúc ngắn vừa. Giá rửa sạch, bỏ rễ rồi để cho ráo nước. Đậu cô ve rửa sạch, để ráo nước rồi cắt khúc, để nguyên nhưng khứa nhẹ thân đậu.
  • Cà rốt gọt vỏ, rửa sạch rồi sợi hoặc tỉa hoa cho đẹp mắt. Hành tây bóc vỏ, rửa sạch, cắt hình cau nhỏ, hành lá cắt nhỏ. Hành tỏi khô bóc vỏ, rửa sạch rồi băm nhuyễn.
  • Cho dầu ăn vào đun nóng trên chảo chống dính, cho hành tỏi đã băm nhuyễn vào phi thơm. Cho tiếp tôm và mực vào xào cho tái rồi đổ ra đĩa để riêng.
  • Phi thơm hành tỏi rồi băm nhuyễn, cho thêm bột ớt nếu bạn muốn ăn cay. Cho cá viên vào xào qua trong khoảng 3 phút, cho phần cà rốt, đậu cô ve vào xào chín tới rồi đổ riêng ra một tô khác.
  • Phi thơm gừng tươi, cho cải xanh, giá sống và mì vào xào trên bếp trong khoảng 1 – 2 phút, đổ hỗn hợp tôm mực và cà rốt, đậu cô ve… đã xào vào. Đảo đều hỗn hợp rồi nêm nếm thêm gia vị vừa ăn. Trước khi tắt bếp thì cho thêm hành lá, hành tây và chút tiêu vào để món ăn có thêm hương vị thơm ngon.
  • Cho mì ra đĩa, thêm rau và hải sản trang trí cho đẹp mắt rồi thưởng thức khi còn nóng. Món ăn có thể ăn kèm với tương ớt hoặc một số loại rau sống để không bị ngấy.

【#8】Cách Thờ Ông Địa Thần Tài Và 5 Điều Cần Biết

1. Ông Địa là ai?

Ông Địa hay được gọi là Thổ Địa, Thổ Công hay Thổ Thần. Là một vị thần trong tín ngưỡng Châu Á, cai quản một vùng đất nào đó. người ta cho rằng, Thổ công rất thích đùa nghịch với trẻ con và rất thích ăn tỏi.

Người Việt có câu: ” Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá“, nghĩa là theo niềm tin thì ở phạm vi nào thì ở đó có vị thần cai quản ở đó. Thổ Công còn được gọi Ông Địa và người ta lập bàn thờ đặt ở mặt đất (đất phải về với đất).

Người Việt coi Ông Địa như một vị thần hể hả, bình dân, mập mạp, bụng phệ. Ông Địa ăn mặc xuề xòa, có khi ở trần, tay cầm quạt lá, tướng tốt vì lúc nào cũng vui cười.

Vì vậy Người Việt rất coi trọng và thờ cúng Ông Địa với mong muốn mang lại bình an, no đủ cho mỗi gia đình.

2. Hướng dẫn cách đặt bàn thờ Ông Địa

Như đã đề cập ở trên bàn thờ Ông Địa được đặt ở dưới đất, nơi bao quát được khách ra vào và tránh những nơi quá sáng, tránh có góc nhọn chĩa vào bàn thờ Ông Địa.

Hướng đặt tốt nhất của bàn thờ ông địa có thể theo hướng hợp với chủ nhà hoặc cũng có thể đặt theo hướng hứng được dòng khi bên ngoài khi vào nhà. Bạn có thể dùng phương pháp Điểm Thần Sát để tính rồi chọn các cung Thiên Lộc, Quý Nhân xác định vị trí đặt bàn thờ ông Địa sao cho phù hợp.

Lưu ý bàn thờ phải đặt ở chỗ tọa vững chắc, sau lưng bàn thờ cần dựa vào tường hay tủ kệ có vị trí cố định, hầu như không dịch chuyển.

Bộ đồ thờ Ông Địa & Thần Tài bằng sứ men rạn cổ đắp nổi – Tụ lộc, may mắn

3. Cách cúng Ông Địa như thế nào?

Vị thần này dễ tính nên khấn vái không cầu kỳ, chỉ nải chuối cũng đủ. Tuy nhiên không phải vì thế mà chúng ta xem thường Cách thờ cúng Ông Địa.

Ở Việt Nam mỗi vùng miền có một qua niệm thờ cúng Ông Địa khác nhau

Ở miền Nam trên bàn thờ Ông Địa thường có thêm một đĩa tỏi hay một bó tỏi tươi. Họ tin rằng Ông Địa thích ăn tỏi và khi cúng tỏi Ông Địa sẽ mang lại tài lộc, may mắn. Thường khi cúng Ông Địa thì ăn trước một miếng trước bàn thờ thổ công (vì theo một vài sự tích thì thổ công bị đầu độc nên chết, nên ông rất sợ bị chết vì vậy khi ai cúng ông thì phải ăn một miếng thì ông mới dám ăn).

Đối với miền Bắc ít cầu kỳ hơn, họ cúng Ông Địa như bình thường. Thờ cúng Ông Địa thành tâm mỗi ngày với hoa quả, bánh kẹo. Đặc biệt là vào các ngày rằm hay đầu tháng (tính theo âm lịch) sẽ mang lại phú quý, may mắn trong kinh doanh, công việc cho gia chủ.

4. Lễ cúng Ông Địa và những điều cần biết

Lễ cúng mặn từ tháng 1 tới tháng 6 (Âm lịch) chuẩn bị một lọ hoa thọ, 5 thức quả (chắc chắn có trái dừa), 5 cây nhang, 5 chum rượu đế, 2 đèn cày, 2 điếu thuốc, 2 miếng vàng bạc. Một bộ tam sen có: 1 miếng thịt rọi, 1 quả trứng vịt (hột vịt), 1 con tôm. Tất cả các thứ đều được luộc chín.

Lễ cúng chay từ tháng 7 đến cuối năm 12 (Âm lịch) chuẩn bị một lo hoa thọ, 5 thức quả/trái cây ( chắc chắn có trái dừa), 5 cây nhang, 5 chum nước, đèn cày, điếu thuốc, vàng bạc đại mỗi thứ hai cái, gạo, muối hột,…

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngày Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

– Con kính lạy Thần tài vị tiền.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Tín chủ con là…… Ngụ tại………

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Tôi chủ thành sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị.

Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)!

【#9】Cúng Rằm Tháng Giêng Như Thế Nào? Rằm Tháng Giêng Có Ý Nghĩa Gì?

Dân gian tương truyền thường có câu: “Lễ chùa quanh năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng”. Điều này nói lên rằng, Rằm tháng Giêng là 1 trong những ngày lễ quan trọng đối với người dân Việt Nam. Nhưng sâu xa của ý nghĩa rằm tháng giêng thì chắc rằng không phải ai cũng biết được.

Tết Nguyên Tiêu có nghĩa là đêm Rằm đầu tiên của năm mới. “Nguyên” là thứ nhất, “tiêu” là đêm. Tết Nguyên Tiêu còn gọi là Tết Thượng Nguyên.

Vào ngày này, nhiều nhà chùa diễn ra các lễ hội từ khắp nơi trên mọi miền đất nước, từ đồng bằng Bắc Bộ cho tới miền Tây Nam Bộ. Vì thế mà tháng giêng chẳng những được coi là tháng ăn chơi, mà tháng giêng là tháng mà ai ai cũng nghĩ đến việc đi chùa đầu năm để thành tâm khấn nguyện cầu an lành và may mắn cho cả năm, là tháng để mọi người chăm sóc đời sống tâm linh mình mong khởi sự cho một năm làm việc mới.

Đối với Phật giáo Đại Thừa, các chùa trong những ngày Rằm đều tổ chức những nghi thức cầu an cho đại chúng, có chùa còn làm lễ Quy y, tạo điều kiện để những người có duyên với Phật giáo được chính thức công nhận và học tập theo những điều Phật dạy. Có một số nơi biến ngày rằm tháng Giêng thành lễ mê tín, là ngày để cúng sao giải hạn đầu năm, để cầu duyên, cầu tài cầu lộc. Hoạt động này thuộc về tín ngưỡng văn hóa mang tính mê tín dị đoan, chẳng phải xuất phát từ đạo Phật.

Bài khấn Rằm tháng Giêng tại Tam Bảo (Chùa hoặc ban thờ Phật)

Dốc lòng kính lễ Phật Pháp Tăng thường ở khắp mười phương. (3 lần, mỗi lần lạy 1 lạy)

(Cầm 3 nén hương quỳ đọc tiếp)

Nguyện mây hương lành này,

Biến khắp mười phương giới,

Trong có vô biên Phật,

Vô lượng hương trang nghiêm,

Viên mãn đạo Bồ Tát,

Thành tựu hương Như Lai. (1 lạy, và cắm hương vào bát hương)

Dâng hương cúng dàng rồi, dốc lòng kính lễ Phật Pháp Tăng thường ở khắp mười phương. ( 1 lạy)

(Thành kính chấp tay thành búp sen đọc bài ca tụng công đức của Đức Phật)

Phật thân rực rỡ tựa kim san

Thanh tịnh không gì thể sánh ngang

Vô Thượng Chí Tôn công đức mãn

Cúi đầu con lạy Phật Sơn Vương.

Phật đức bao la như đại dương

Bảo châu tàng chứa đủ bên trong

Trí tuệ vô biên vô lượng đức

Đại định uy linh giác vẹn toàn.

Phật tại Chân Như pháp giới tàng

Không sắc không hình chẳng bụi mang

Chúng sinh bái vọng muôn hình Phật

Bỗng thấy tai nàn tận hóa tan.

Án phạ nhật ra hồng. (3 lần)

Chí tâm đỉnh lễ Nam mô Tận hư không biến pháp giới quá hiện vị lai thập phương chư Phật, tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 lạy)

Chí tâm đỉnh lễ Nam mô Sa Bà Giáo Chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát (1 lạy)

Chí tâm đỉnh lễ Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy)

Con nay đều vì bốn ân, ba cõi pháp giới chúng sinh, nguyện xin ba chướng tiêu trừ, dốc lòng sám hối. ( 1 lạy)

( Quỳ đọc) Chí tâm sám hối:

Xưa kia gây nên bao ác nghiệp

Đều vì ba độc: tham, sân, si

Bởi thân, miệng, ý phát sinh ra

Hết thảy con nay xin sám hối.

Như vậy tất thảy bao nghiệp chướng

Ắt hẳn tiêu diệt không tàn dư

Niệm niệm âm vang tận pháp giới

Độ khắp chúng sinh nhập Bất Thoái. (1 lạy)

Sám hối phát nguyện rồi, chúng con kính lễ Đức Phật Thích Ca, Phật A Di Đà và chư Phật ở khắp mười phương. (1 lạy)

Bài khấn Rằm tháng Giếng cúng ông bà tổ tiên (tại nhà)

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

Con kính lạy Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.

Tín chủ (chúng) con là: ………………………………………..

Ngụ tại: ………………………………………………………………

Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm Đinh Dậu, gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngày Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ ………………. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời Ông bà Tiền chủ, Hậu chủ tại về hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành phù hộ độ trì cho gia chung chúng con được vạn sự tôn lành. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng an bình.

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

【#10】Tổng Hợp Kiến Thức Về Oản Tài Lộc

Phong tục thờ cúng là nét văn hóa tín ngưỡng thiêng liêng đã có từ lâu đời gắn liền với đời sống người Việt. Do đó, cứ đến ngày rằm, mùng một, người Việt lại sắm đồ lễ bày biện, trang hoàng lên bàn thờ Gia Tiên, Thần Tài, bàn thờ tại đền, chùa, … Trong đó, không thể thiếu hay còn gọi là .

Ban đầu Oản được gọi với cái tên đơn giản là Oản Đường hay Bánh Oản, có nơi gọi là Bánh Thảo, Bánh In. Bởi oản có vị ngọt từ đường và được đóng thành bánh. Các bánh thường được tạo bằng khuôn với hoa văn chữ Thọ, chữ Phúc, chữ Lộc, … và thường được gói bằng giấy kiếng màu đỏ, xanh, tím, … vô cùng nổi bật và bắt mắt. Nó được sử dụng nhiều để dâng lễ cúng Phật, cúng gia tiên trong các dịp lễ nhằm cúng xin tài lộc, bình an cho gia quyến. Dần dần, oản đường trở thành lễ vật cúng xin tài lộc không thể thiếu trên mỗi bàn thờ. Và cũng từ đó, theo thói quen người dần dần gọi là Oản thắp hươngO ản ĐườngO ản Tài Lộc.

Oản Tài Lộc đã xuất hiện trong đời sống người Việt từ ngàn xưa. Chưa có tài liệu nào cụ thể ghi nhận thời điểm và nguồn gốc ra đời của loại bánh oản này. Người ta cho rằng oản được tạo ra và song hành cùng sự phát triển của Phật Giáo. Phẩm oản được tạo ước lệ từ hình dáng chính yếu của các tòa tháp Phật Giáo. Nó truyền tải nhiều tầng ý nghĩa. Theo Phật Giáo, tháp có sự liên kết sinh – tử và tái sinh. Nó không có bắt đầu cùng không có kết thúc giống như vòng tuần hoàn của đất trời, tạo hóa. Do đó, phẩm oản được bày biện trên bàn thờ Phật với sự thành tâm, tôn kính thờ phụng thiêng liêng.

Tuy nhiên, không phải bất cứ vùng miền nào tại Việt Nam cũng gọi loại bánh này như vậy. Do sự sai khác về lối sống, vị trí, cách thức làm bánh và hương vị bánh mà người ta có thể gọi OảnBánh Khảo hay Bánh In, Bánh Cộ. Trong đó, cách gọi bánh oản, bánh khảo là của miền bắc. Cụ thể là vùng đồng bằng sông Hồng. Bánh oản cho loại bánh không nhân và bánh khảo cho loại bánh có nhân sen đường hoặc đậu xanh. Còn cách gọi bánh in, bánh cộ là cách gọi bánh đậm chất Huế. Do xuất phát từ đặc điểm làm bánh là phải đóng khuôn có in hình nổi.

Nguyên liệu làm oản và cách làm bánh oản ngon, đẹp, bắt mắt

Để làm được một chiếc Bánh Oản ngon và đẹp mắt bạn cần chuẩn bị các nguyên liệu như: 500gr bột nếp, 30gr bột năng, ½ thìa nước cốt chanh, 2 thìa nước hoa bưởi, một ít lá dứa, 500gr đường, 200ml nước lọc, khuôn và dụng cụ làm bánh.

1. Bắt đầu làm bánh, bạn trộn bột nếp và bột năng lại với nhau. Đem hỗn hợp này rang trên chảo cùng với lá dứa đến khi nào thấy lá chuyển xanh rêu là được.

2. Tiếp theo, bạn đun sôi nước rồi cho đường vào. Keo đường cho đến khi sợi đường kéo chỉ thì mang ra để nguội. Sau đó, cho nước chanh cùng nước hoa bưởi vào trộn đều.

3. Cho hỗn hợp bột vừa rang vào âu nước đường rồi trộn đều.

4. Sau đó, cho hỗn hợp này vào khuôn. Chú ý, bạn phải rắc một lớp bột áo vào khuôn trước. Điều này giúp cho hỗn hợp bột và đường không bị dính vào khuôn.

5. Chờ 15 phút thì gỡ bánh ra khỏi khuôn.

Vậy là bạn đã hoàn thành công việc làm bánh oản thơm ngon tuyệt đẹp.

Sau khi hoàn thiện công đoạn làm bánh, bạn có thể trang trí bánh oản cho thêm phần bắt mắt và trang trọng. Thông thường, người ta thường đặt một miếng giấy nhỏ lên chóp oản và bọc oản này với giấy bóng kiếng. Nếu cầu kỳ hơn bạn có thể bọc nhiều hơn một lớp giấy bóng kiếng và tạo hình hoa hay hình bông sen. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể gán hoa vải hay hoa giấy cùng lá ngọc, cành vàng hay lông vũ lên quanh oản cho thêm phần lộng lẫy, sang trọng. Giống như những mẫu Oản Nghệ Thuật tuyệt đẹp được những nghệ nhân tài ba từ Oản Cô Tâm thực hiện sau đây.

Ngày nay, do yêu cầu về thẩm mỹ cao, người ta không còn cúng lễ Oản Đường đơn giản bọc giấy kiếng ngũ sắc nữa mà thay vào đó là Oản Tài Lộc nghệ thuật. Oản Tài Lộc nghệ thuật là loại oản được đầu tư thiết kế trang trí cầu kỳ, lộng lẫy với nhiều màu sắc và chi tiết. Loại oản này thường được dâng bái tại bàn thờ thần linh tứ phủ, bàn thờ thần tài, bàn thờ phật và bàn thờ gia tiên. Mỗi loại oản với những màu sắc và cách trang trí khác nhau sẽ thích hợp, có ý nghĩa với mỗi vị thần linh khác nhau.

Tứ Phủ hay Tứ Phủ Công Đồng là một tín ngưỡng nằm trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam. Tứ phủ bao gồm: Thiên phủ (miền trời), Nhạc phủ (miền rừng núi), Thủy phủ (miền sông nước), Địa phủ (miền đất). Trong tứ phủ còn bao gồm hệ thống các thần linh, các vị thánh với một trật tự chặt chẽ. Về cơ bản, các vị thánh là:

Khi dâng lễ Oản Tứ Phủ cần chú ý màu sắc lễ vật. Bởi mỗi vị thánh sẽ chứng mỗi màu sắc lễ vật khác nhau. Ví dụ như với Chúa Đệ Nhất Tây Thiên phải sắm oản màu đỏ, Chúa đệ nhị Nguyệt Hồ phải sắm oản màu xanh, chúa Đệ Tam Lâm Thao phải sắm oản màu trắng, … Bạn có thể tham khảo màu sắc oản thắp hương đúng ứng với mỗi vị thánh Tứ Phủ tại mục Oản tứ phủ tại website oản cô tâm tại mục

Theo tục dân gian thì thờ Thần Tài sẽ giúp gia khuyến gặp may mắn trong chuyện tiền bạc, làm ăn. Do đó, tại các cơ sở kinh doanh thường có bàn thờ cúng Thần Tài đặt cạnh cửa tiệm. Thông thường, người dân sắm lễ cúng thần tài với mâm ngũ quả, rượu, giấy tiền, hoa quả, bánh kẹo và đặc biệt là mâm Oản Tài Lộc được trang trí tỉ mỉ lộng lẫy, ngoài ra quý khách khi dâng Oản Thần Tài chú ý oản sẽ có màu đỏ hoặc vàng.

Xem toàn bộ mẫu Oản Thần Tài: https://oancotam.com/oan/oan-le-than-tai/

Quan niệm rằng, Oản Tài Lộc dâng lễ càng to, càng cầu kỳ lộng lẫy thì sẽ giúp chứng lộc cho gia chủ càng nhiều. Do đó, khi mua các mâm oản cúng tiến Thần Tài người ta thường mua các oản có màu rực rỡ như đỏ hoặc vàng với các chi tiết trang trí trên oản lộng lẫy, tỉ mỉ, nghệ thuật, đẹp mắt nhất.

Thông thường, vào những ngày bình thường, gia chủ chỉ cần thắp một nén hương và vái lạy thần tài, cầu xin ngài phù hộ cho một ngày may mắn, buôn may, bán đắt là được. Tuy nhiên, khi đến ngày rằm, mùng 1 hàng tháng hay ngày Tết, đặc biệt là ngày mùng 10 tháng giêng hàng năm cần phải sắm lễ đầy đủ và thành tâm. Trong những lễ vật này, tuyệt đối không thể thiếu oản. Vì oản tượng trưng cho tài lộc, phú quý. Cho nên, thiếu oản trong mâm lễ giống như việc thiếu đi cây hút tài, hút lộc cho gia khuyến vậy.

Vì oản tượng trưng cho tài lộc, phú quý nên rất nhiều người thường để oản này tại bàn thờ Thần Tài trong thời gian dài. Tuy nhiên, không nên để oản này trên bàn thờ Thần Tài quá 3 tháng kể từ thời điểm sắm lễ, bởi sau 3 tháng gia chủ nên xin lộc và hạ lễ rồi tiếp tục dâng oản mới, lễ mới . Do đó, nếu bạn sắm oản Tài lộc dâng Thần Tài vào mùng 1 tháng trước thì mùng 1 vào 2 tháng sau bạn nên mua một mâm oản mới thay thế sẽ tốt nhất.

Việc thờ cúng gia tiên là truyền thống lâu đời, là nét đẹp văn hóa của người Việt. Nó thể hiện sự hiếu nghĩa, biết ơn của người đời sau đối với người đời trước.

Tại bàn thờ gia tiên, người ta quan niệm rằng, bàn thờ trông càng đẹp, càng sung túc thì lộc càng nhiều. Bởi điều này thể hiện, con cháu rất quan tâm tới việc thờ cúng tổ tiên. Để bàn thờ luôn sung túc ngoài việc trưng bày các vật lễ như bát hương, cây nến, lọ hoa thì người ta còn để thờ một mâm Oản Tài Lộc màu vàng hoặc màu đỏ. Đây là hai màu nổi bật mà cực kỳ sang trọng. Đặc biệt khi đặt trên bàn thờ tổ tiên. Lưu ý oản thắp hương Gia Tiên phải là màu đỏ hoặc vàng.

Dâng lễ Oản Gia Tiên, gia chủ có thể dâng vào ngày Tết hoặc ngày giỗ tổ, hoặc mùng 1 đầu tháng, ngày rằm. Hơn thế trên bàn thờ rất chú ý cách sắp xếp cân xứng thống nhất, nên gia chủ nên sắm 2 mâm Oản Gia Tiên để đặt hai bên bàn thờ. Điều sẽ tạo được sự cân xứng, thống nhất cho bàn thờ.

Cũng giống như Oản Thần Tài, Oản Gia Tiên khi thờ cúng cũng không nên để quá 3 tháng. Để một lễ vật hỏng, mốc trên bàn thờ là phải tội. Do đó, cứ sau 3 tháng bạn nên mua mới và thay thế các mâm oản mình đã mua trước đây.

Khi dâng lễ cửa Phật, bạn nên dâng một mâm Oản Nghệ Thuật được trang trí tỉ mỉ với hoa văn họa tiết tao nhã. Bởi oản là lễ vật gắn liền với Phật Pháp. Như đã nói trong phần nguồn gốc của oản tài lộc, oản mang rất nhiều ý nghĩa tượng trưng cho triết lý đất trời của nhà Phật. Do đó nó chính là lễ vật thích hợp nhất để thể hiện lòng thành tâm, tôn kính của mỗi con hương khi đến vái cửa Phật.

Muốn dâng lễ oản tài lộc đẹp, chất lượng, bạn nên mua oản ở những cơ sở chuyên bán oản tài lộc uy tín. Trên sản phẩm có ghi đầy đủ rõ ràng các thông tin như nguyên liệu, cách dùng, cách bảo quản, thông tin, địa chỉ doanh nghiệp để tránh mua phải hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Tốt nhất bạn nên mua oản tại Oản Cô Tâm. Vì Oản Cô Tâm được đầu tư chất lượng từ khâu nguyên liệu đến khâu trang trí. Oản Cô Tâm được làm từ nếp cái hoa vàng thơm ngon cho ra những mẻ bánh trắng mịn, dẻo, thơm hiện hoa văn rõ ràng bắt mắt. Bên cạnh đó, mọi thông tin sản phẩm và doanh nghiệp đều được cập nhật rõ ràng trên website của Oản Cô Tâm. Ngoài ra bạn có thể dễ dàng lựa chọn và đặt hàng online ngay trên máy tính hoặc điện thoại thông qua website, facebook Oản Cô Tâm. Chúng tôi cũng có đội ngũ tư vấn MIỄN PHÍ giúp bạn chọn lựa được sản phẩm ưng ý và phù hợp nhất.

Oản Cô Tâm là một trong những đơn vị uy tín chuyên cung cấp Oản Tài Lộc dâng lễ gia tiên, lễ tứ phủ, lễ chùa, lễ phật, lễ thần tài. Mọi sản phẩm oản được tạo ra đều có sự nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng chuyên sâu. Do đó, bánh oản do Oản Cô Tâm cung cấp không chỉ đẹp, chất lượng mà còn ẩn chứa nhiều ý nghĩa tâm linh thiêng liêng. Từ đó giúp các đồng anh, lính chị đẹp bóng sang đồng khi mang những mẫu oản tài lộc cô Tâm đi bái yết cửa cha, cửa mẹ, cửa các ngài.

Hiện nay Oản Cô Tâm đang cung cấp 4 loại phẩm oản phục vụ riêng cho việc dâng lễ Gia Tiên, dâng lễ Tứ Phủ, dâng lễ cửa Phật và dâng lễ Thần Tài. Mỗi loại oản mang những đặc điểm khác biệt riêng có, và những ý nghĩa tâm linh riêng. Khách hàng muốn tham khảo chi tiết các sản phẩm này vui lòng truy cập website , tại mục chúng tôi có rất nhiều mẫu oản được trang trí họa tiết tỉ mỉ khác nhau, đa dạng lựa chọn cho khách hàng.