Top 12 # Xem Nhiều Nhất Lễ Vật Cúng Đám Giỗ / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Herodota.com

Cách Cúng Đám Giỗ: Lễ Vật, Văn Khấn, Thời Gian / 2023

Đám giỗ là một trong những nghi thức ngàn xưa mà ông bà ta để lại. Được con cháu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây được xem là nét văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam. Đám giỗ là phong tục giúp con cháu ghi nhớ ngày mất của ông bà tổ tiên. Nhằm thể hiện lòng thành kính mà con cháu gửi đến công lao sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ. Thường vào ngày đám giỗ, con cháu sẽ chuẩn bị lễ vật và m âm cơm cúng rất chu đáo nhằm dâng lên gia tiên. Mong tổ tiên phù hộ con cháu luôn gặp may mắn, tài lộc và bình an.

Cúng đám giỗ là gì?

Đám giỗ là ngày con cháu tưởng nhớ người đã chết theo phong tục truyền thống. Ngày cúng giỗ thường là ngày ra đi của người chết. Nhằm thể hiện sự thương xót, nhớ thương về người quá cố. Ngày đám giỗ còn được gọi là ngày đoàn kết. Bởi vào ngày này thường tất cả các thành viên trong gia đình sẽ sum họp bên nhau. Dù có bận rộn đến mấy thì con cháu luôn sắp xếp thời gian để vào tham dự ngày tưởng nhớ bậc sinh thành ra đi.

Theo phong tục truyền thống thì đám giỗ sẽ chia thành rất nhiều ngày cúng bái để tưởng nhớ người mất. Nhưng sẽ có 4 ngày cúng giỗ quan trọng mà bạn và gia đình không nên bỏ qua.

Cúng giỗ 49 ngày

Cúng giỗ 100 ngày

Cúng giỗ đầu( Tiểu đường)

Cúng giỗ thường( Cát Kỵ)

Ý nghĩa ngày đám giỗ trong phong tục người Việt

Trong phong tục truyền thống của dân tộc, đám giỗ là ngày con cháu tưởng nhớ đến ngày mất của ông bà, cha mẹ. Vào ngày này, con cháu sẽ sum vầy bên nhau để chuẩn bị mâm lễ vật dâng lên các bậc sinh thành. Mong ông bà, gia tiên phù hộ con cháu được bình an, gặp nhiều may mắn và tài lộc đông đầy.

Tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình mà mâm lễ vật cúng đám giỗ hoàn toàn khác nhau. Có gia đình chuẩn bị rất tươm tất lại có gia đình chuẩn bị rất đơn giản. Chủ yếu là lòng thành mà con cháu dâng lên gia tiên. Mong gia tiên yên nghỉ và phù hộ con cháu mọi việc đều thuận lợi và hanh thông.

Cách cúng đám giỗ chuẩn nhất

1. Cúng đám giỗ vào ngày nào là đúng

Đám giỗ là phong tục mà con cháu tưởng nhớ đến người đã mất. Ngày đám giỗ cũng chính là ngày ra đi của người đã mất. Sau khi người mất ra đi, sẽ có rất nhiều phong tục cúng bái nhưng bạn và gia đình không quên những ngày cúng giỗ sau đây:

Cúng giỗ 49 ngày

Đây là ngày cúng giỗ sau đi người mất ra đi đúng 49 ngày. Cách cúng này giúp linh hồn của người mất sớm được siêu thoát. Trong ngày cúng giỗ 49 ngày này, con cháu sẽ chuẩn bị hoa quả, mâm lễ vật chay hoặc mặn dâng lên tổ tiên. Nhằm mong muốn người đã mất ra đi thanh thản và thoát tục. Bên cạnh đó, vào ngày cúng 49 ngày bạn và gia đình nên tụng đọc kinh Phật hoặc đọc bài văn khấn cúng ông bà tổ tiên nhằm cầu bình an, may mắn.

Cúng giỗ 100 ngày

Sau khi cúng giỗ 49 ngày thì bạn và gia đình nên chuẩn bị mâm lễ vật cúng giỗ 100 ngày. Ngày cúng giỗ này thường cúng vào ngày 100 kể từ người mất ra đi. Ngày này thường con cháu sum vầy rất đông đủ, nhằm tưởng nhớ những kỉ niệm về người quá cố.

Cúng giỗ đầu( Tiểu đường)

Ngày đám giỗ đầu tiên còn gọi là ngày giỗ giáp năm. Tức là ngày cúng giỗ sau 1 năm của người mất ra đi. Thường ngày giỗ giáp năm này được con cháu chuẩn bị mâm lễ vật rất chu đáo và tươm tất.

Cúng giỗ thường( Cát Kỵ)

Sau khi chấm dứt tang kỳ, sau mỗi năm con cháu sẽ tưởng nhớ ngày người mất ra đi gọi là ngày giỗ thường. Thường lễ cúng giỗ thường này sẽ cách ngày người mất ra đi đúng 3 năm. Tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình mà mâm lễ vật cúng giỗ khác nhau. Chủ yếu là lòng thành mà con cháu dâng lên gia tiên, ông bà cha mẹ đã mất. Mong tổ tiên phù hộ con cháu được bình an, may mắn.

2. Chuẩn bị lễ vật cúng đám giỗ

Tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình mà mâm lễ vật cúng đám giỗ có sự khác biệt. Có gia đình chuẩn bị mâm cơm chay lại có gia đình chuẩn bị mâm cơm mặn.

Thường trong các lễ cúng đám giỗ mâm lễ vật đa phần giống nhau.

Các món ăn được làm từ món mặn hoặc món chay

Hoa tươi

Trái cây

Hương thắp

Rượu trà

Bánh ngọt

Vàng mã hóa sớ

3. Vân khấn cúng đám giỗ

Cúng giỗ 49 ngày Nam mô a di Đà Phật! (3 lần) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương. Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch. Tại (địa chỉ): …………….. Con/cháu/ phu/ thê là………cùng các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy. Nay nhân ngày lễ Chung Thấtt heo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm có:………………………….. Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành. Trước linh vị của …tên người đã khuất… Xin kính cẩn trình thưa rằng: Cha/ mẹ/vợ/ chồng/con/cháu… đi đâu, vội vàng chi mấy; Trời cao có thấy, thảm thiết muôn phần thương thay! Đời người giấc mộng, hình ảnh phù vân; Ngày tựa chim hay, tiết vừa bốn chín (hoặc trăm ngày); Thoi đưa thấm thoát nay đã bảy tuần (hoặc trăm ngày). Cây lặng gió lay, khóc làm sao được; Lưng cơm đĩa muối, gọi chút đền ân. Xin cha (mẹ) về thượng hưởng. Cúng giỗ 100 ngày Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương. Hôm nay là ngày….tháng….năm….., âm lịch tức ngày…..tháng….năm…………….dương lịch. Tại (địa chỉ):……………………… Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy. Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm:………………………….. Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành. Trước linh vị của Hiển:………………… chân linh Xin kính cẩn trình thưa rằng: Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế. (Nếu là cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế. (nếu là mẹ) Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao; Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể. Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng; Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ. Sống thời lai lai láng láng, hớn hở chừng nào! Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ! Ngày qua tháng lại, tính đến nay Tốt Khốc tới tuần; Lễ bạc tâm thành gọi là có nén nhang kính tế. Hiển…………………………… Hiển…………………………… Hiển…………………………… Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng. Kính cáo; Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòa ngia được mọi sự yên lành tốt đẹp. Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Cúng giỗ đầu( Tiểu đường) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương. – Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân. – Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này. – Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ Tín chủ (chúng) con là:…………………………………………………. Tuổi……………………………………………. Ngụ tại:…………………………………………………………………………………………………………………………. Hôm nay là ngày……………tháng……….năm…………….(Âm lịch). Chính ngày Giỗ Đầu của:…………………………………………………………………………………………………… Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành. Thành khẩn kính mời:……………………………………………………………………………………………………….. Mất ngày tháng năm (Âm lịch):……………………………………………………………………………………………. Mộ phần táng tại:……………………………………………………………………………………………………………… Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng. Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng. Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo! Cúng giỗ thường( Cát Kỵ) Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân. Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này. Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ: ………………… Tín chủ (chúng) con là: …………………… Ngụ tại: …………………… Hôm nay là ngày ……… tháng ………. Năm………… Là chính ngày Cát Kỵ của ……………………………… Thiết nghĩ ………. (dài) vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời ……………… Mất ngày …………….. tháng …………. năm …………… Mộ phần táng tại: …………………… Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng. Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng. Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng. Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!

Giỗ Tổ Hùng Vương Cúng Lễ Vật Gì / 2023

Sắp đến ngày giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 rồi hãy cùng Mangdoisong.com khám phá Giỗ tổ Hùng Vương cúng lễ vật gì – lịch sử dựng nước Vua Hùng nhé!

Vua Hùng

Hùng Vương , hay vua Hùng, là tên hiệu các vị thủ lĩnh tối cao của nhà nước Văn Lang của người Lạc Việt. Theo truyền thuyết, các vua này là hậu duệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ.

Đứng đầu nước Văn Lang là các thủ lĩnh tối cao, được biết đến với tôn hiệu Hùng Vương. Hùng Vương đồng thời là người chỉ huy quân sự, chủ trì các nghi lễ tôn giáo. Dưới Hùng Vương có các Lạc tướng, Lạc hầu giúp việc. Cả nước chia thành 15 bộ (đơn vị hành chính lớn) có Lạc tướng còn trực tiếp cai quản công việc của các bộ. Dưới nữa là các Bố chính, đứng đầu các làng bản.

Kinh đô của nhà nước Văn Lang được đặt tên là Văn Lang tuy nhiên các sử gia nước ta bị ảnh hưởng của các sử gia Trung Quốc nên mới chép kinh đô nước Văn Lang là Phong Châu, nay thuộc tỉnh Phú Thọ.

Công cụ là đồng thau trở nên phổ biến và bắt đầu có công cụ bằng sắt. Có nên kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, dùng sức cày kéo của trâu bò là phổ biến nhất.

Ngoài ra còn săn bắt, chăn nuôi, đánh cá và làm nghề thủ công như đúc đồng, làm đồ gốm. Sự phân công lao động giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp đã xuất hiện.

Giỗ tổ Hùng Vương cúng lễ vật phẩm gì?

Bộ Văn hóa hướng dẫn nghi thức tưởng niệm các Vua Hùng Trong Công văn số 796/HD-BVHTTDL ngày 18/3/2009) ghi rõ Lễ phẩm gồm

Bánh dày 18 chiếc (dâng lên 18 đời Vua Hùng) – Bánh chưng 18 chiếc (dâng lên 18 đời Vua Hùng) – Hương hoa, nước, trầu, cau, rượu và ngũ quả.

Bánh dày hình tròn, tượng trưng cho Trời, thường không có nhân. Bánh chưng hình vuông, tượng trưng cho Đất, bên trong có nhân mặn.

Bên cạnh hướng dẫn đó thì lễ vật dâng cúng trong các buổi tế lễ Hùng Vương hầu hết ở các địa phương gần như giống nhau đều bao gồm: xôi, oản, hoa quả, rượu, hương, gạo muối, bánh chưng bánh dày, gà luộc (bắt buộc phải là gà trống thiến), thịt lợn (bắt buộc là lợn đen). Riêng làng Vy, Trẹo (thị trấn Hùng Sơn), Hùng Lô (Việt Trì) khi cúng lợn, thường đặt cả con đã mổ sạch, kèm theo số tiết lợn cắt được. Một số làng cúng cá chép như ở Đào Xá, Bến Đá (Cẩm Khê); một số làng ở Đoan Hùng, Yên Lập quy định đồ dâng lễ phải có thịt trâu đen.

Tại Đền Thượng còn lưu giữ tấm bia đá thời phong kiến ghi về “Điển lệ miếu thờ Hùng Vương” có quy định : Lễ phẩm dùng cho ngày Giỗ Tổ của dân tộc gồm: bò, dê, lợn, xôi.

Theo truyền thuyết, Hùng Vương là con của cha Lạc Long Quân – giống Rồng và mẹ Âu Cơ – giống Tiên, đã có công dựng lên nhà nước Văn Lang cổ đại, thuộc vùng đất Phú Thọ ngày nay. Đối với cộng đồng các làng xung quanh đền Hùng, Hùng Vương còn là thần tổ gắn với nghề nông, dạy dân cày ruộng, cấy lúa, ban linh khí cho đất đai, nhà cửa, cây trồng, vật nuôi sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu.

Từ hàng nghìn năm qua, nhân dân trên khắp mọi miền của đất nước đã lưu truyền Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương để thể hiện sự biết ơn với vị thủy tổ, mong Ngài phù hộ cho quốc thái dân an, vật thịnh, mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu. Vào dịp Giỗ Tổ, nhân dân chuẩn bị lễ vật như bánh chưng, bánh giầy, bánh mật, tam sinh (thịt lợn, bò, dê) và hoa thơm, trái ngọt để dâng cúng.

Tương truyền rằng, trong ngày vua Hùng tổ chức lễ hội kén người kế vị ngai vàng. Hai mươi vị hoàng tử đua nhau dâng sơn hào hải vị, ngọc ngà châu báu lên vua cha, chỉ riêng chàng Lang Liêu – hoàng tử út được thần báo mộng đã dâng vua đôi cặp bánh khiêm nhường, giản dị. Nhưng thật không ngờ, hai thức bánh thô sơ bình thường ấy lại được vua cha trầm trồ khen ngợi, làm đẹp lòng hơn cả. Bánh nếp gạo nấu vừa chín tới, mùi vị gạo cơm bốc lên, lại được điểm thêm nhân đậu vàng với thịt heo chín mềm… làm vua cha ngây ngất. Lang Liêu thật thà kể lại chuyện được thần chỉ dẫn cho cách làm bánh. Nghe thế, vua cha biết rằng trời đã muốn giúp mình chọn được thái tử tài ba, đức hạnh, thay mình trị vì toàn dân sau này. Hùng Vương tuyên bố truyền ngôi cho Lang Liêu.

Ngoài gạo nếp, nguyên liệu để làm bánh chưng còn có đỗ xanh, lá dong và thịt lợn. Đỗ xanh thường được chọn công phu, tốt nhất là loại đỗ trồng ở vùng đồi trung du Việt Nam. Thịt lợn phải là loại lợn ỉn, nuôi chạy bộ, chỉ ăn cám rau tự nhiên.Không phải phần thịt lợn nào cũng được chọn làm bánh mà chỉ có thịt ba chỉ, kết hợp cả mỡ và nạc nên nhân bánh sẽ có vị béo đậm đà, không khô bã như các loại thịt mông, nạc thăn. Gạo nếp sau khi đã được xóc muối cho ngấm vị mặn mặn, chát chát của biển, được đổ vào khuôn lót lá dong riềng, từng nắm đỗ tròn tròn đã đồ chín bẻ ra làm đôi, rồi đặt từng miếng thịt đã ướp hạt tiêu, hành củ vào giữa, sau đó gói lá lại.

Các nhà Nho ngày xưa dùng phép “chiết tự” để phân tách chữ, cho thấy chữ Nghĩa 義 do hai phần ghép lại: Phần trên là chữ Dương 羊 là con Dê, phần dưới là chữ ngã 我 là Ta. Dê là một trong 5 con vật người xưa thường đem ra tế Trời đất, Thần linh và Tổ tiên, như Đàn Nam giao ở Cung đình Huế còn ghi tạc. Năm con vật đem tế đó gọi là Ngũ sanh gồm Trâu, Dê, Heo, Gà, Bò.

Sở dĩ như thế là vì năm ngoái con cháu cầu xin Tổ tiên phù hộ nên năm nay mùa màng bội thu, gia súc đầy đàn,con cháu đem thịt của gia súc cúng tế để tỏ lòng tạ ơn của con cháu. Chữ Dương 羊 ghép với chữ Ngã 我 thành ra chữ NGHĨA 義. Như vậy, lễ phẩm cúng tế Tổ tiên theo nghi thức tín ngưỡng cổ truyền phải có món mặn mới là con cháu ăn ở có Nghĩa. Đó là quan niệm của nhà Nho, mà Tộc nào ngày xưa cũng có nhiều nhà Nho.

Những năm gần đây, việc ăn chay, cúng chay của tôn giáo đã thâm nhập vào tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên ở một số nhà thờ tộc ở nhiều nơi, không cúng Lễ phẩm mặn trong Tiền đường. Nhiều người không rõ lí luận về sự khác nhau giữa tín ngưỡng với tôn giáo nên đồng tình ; cũng có người vị nể, sợ bất hòa nên phải chịu đựng, nhưng trong lòng cảm thấy áy náy, chưa tròn hiếu nghĩa với Tổ tiên.

Một số người nghĩ nôm na : Ngày xưa, cuộc sống khó khăn đói khổ, con cháu chưa kịp mời cha mẹ, ông bà ăn vài món thơm ngon thì họ đã khuất núi rồi. Bây giờ có của ăn của để, cúng tế phải có món mặn kèm theo các món chay để các hương linh tùy nghi phối hưởng, đúng như trong văn cúng của các Tộc là dâng “Hương đăng, quả phẩm, phù lang tửu, sanh tư bàn soạn thứ phẩm chi nghi.” Cho nên, ngày Rằm tháng Mười nhiều người cúng mặn cho Tổ tiên ông bà để bớt ái tuất khi nghĩ về người đã khuất…

Qua các tư liệu trên, tôi thấy rằng cúng tế Tiên linh Tổ tiên tại Nhà thờ Tộc thì nên cúng mặn mới đúng hình thức tín ngưỡng truyền thống của dân tộc. Còn khi dọn cỗ bàn liên hoan thì nên có một vài mâm chay dành riêng cho những người ăn chay.

Lịch sử dựng nước Vua Hùng

Đã từ lâu ông cha ta đã lập các đền thờ trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc xã Hy Cương, thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ để thờ tự các Vua Hùng là các bậc tiền nhân có công dựng nước. Ngày nay chúng ta tiếp tục tu bổ, tôn tạo các ngôi đền trên núi Nghĩa Lĩnh và xây dựng thêm đền thờ cha ” Rồng ” mẹ ” Tiên” để con cháu Lạc Hồng ở khắp mọi miền đất nước về tri ân công đức Tổ tiên.

Thời đại Hùng Vương là thời đại mở đầu dựng nước, xây dựng lên nền móng của đất nước Việt Nam ngày nay. Trong truyền thuyết còn lưu truyền những câu chuyện sinh động về việc Vua Hùng dạy dân làm ruộng, trồng lúa nước, Vua tôi cùng nhau săn bắn xẻ thịt thú rừng, thui trên dàn lửa, ăn uống vui vẻ không phân biệt sang hèn, chuyện Vua Hùng thứ 6 cầu người hiền tài giúp nước – kể về Thánh Gióng đánh giặc Ân và Lang Liêu dâng bánh chưng bánh dày. Những chuyện kể dân gian còn lưu truyền đến ngày nay cho chúng ta thấy, một thời kỳ văn minh trong buổi đầu dựng nước của dân tộc. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đến thời đại Hồ Chí Minh chúng ta đã từng bước phát hiện ra những di chỉ khảo cổ học để chứng minh thời đại Hùng Vương là có thật trong lịch sử – là bước tiếp nối quá trình phát triển của lịch sử hình thành con người trên đất nước Việt Nam. Chúng ta không những tự hào vì co một thời đại mở đầu dựng nước, mà còn tự hào hơn vì Việt Nam là một trong những quê hương phát tích của loài người. Những chứng tích tìm thấy về thời đại đồ đá ở Thanh Hoá, Hoà Bình, Lạng Sơn đến Sơn Vi, Lâm Thao, cho chúng ta thấy cả quá trình phát triển của con người nguyên thuỷ trên đất nước Việt Nam từ thời đồ đá cũ sang đồ đá mới và tiếp theo con người tiến bộ hơn đã phát hiện ra đồ đồng và đồ sắt qua những di chỉ khảo cổ ở Phùng Nguyên, Gò Mun (Lâm Thao), xóm Rền Gia Thanh – (Phù Ninh) và đặc biệt là ở làng Cả, Thanh Đình (Việt Trì)…

Thời đại Hùng Vương là bước tiếp nối của thời kỳ thị tộc bộ lạc sang thời kỳ có sự phân hóa giai cấp và xuất hiện nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Cho đến nay chúng ta chưa thể xác định chính xác thời đại Hùng Vương tồn tại bao nhiêu năm. Theo ngọc phả Hùng Vương còn lưu truyền đến ngày nay thì 18 đời Hùng Vương kéo dài trên 2000 năm. Còn một số nhà sử học dự đoán thời đại Hùng Vương tồn tại từ thế kỷ thứ 7 trước công nguyên đến năm 258 trước công nguyên.

Chúng ta có thể biết được vương triều cuối cùng của Hùng Vương là lúc nhường ngôi cho Thục Phán – để lập nhà nước Âu Lạc. Sau đó một thời gian ngắn đất nước ta rơi vào ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc, tới 10 thế kỷ. Còn thời gian chuyển tiếp từ thời kỳ thị tộc – bộ lạc hình thành nên Nhà nước chưa có thể tính toán chính xác được. Đây là thời kỳ chuyển tiếp của phương thức sản xuất kiểu phương Đông như Các Mác gọi là “Phương thức sản xuất Châu Á”, khác biệt với sự hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ của phương Tây.

Cho đến nay, qua những nguồn sử liệu của các sử gia phong kiến và dựa trên cơ sở những thành tựu của ngành Sử học cho chúng ta thấy được những điều kiện kinh tế, xã hội của thời kỳ mở đầu dựng nước của dân tộc. Do nhu cầu trị thủy, nhu cầu chống ngoại xâm và việc trao đổi kinh tế văn hóa ngày càng được đẩy mạnh giữa những bộ lạc gần gũi nhau về dòng máu có xu hướng tập hợp lại, thống nhất với nhau. Thủ lĩnh bộ Lạc Việt dựng lên nước Văn Lang. Ông xưng Vua, sử gọi là Hùng Vương và truyền được 18 đời. Hùng Vương là những thủ lĩnh của thời kỳ Việt Nam bắt đầu dựng nước.

Lãnh thổ sinh trưởng đầu tiên của tổ tiên ta là miền Bắc Việt Nam. Đất không rộng lắm, người chưa đông lắm, nhưng đã có đủ điều kiện để dựng nước, có đủ điều kiện sinh tồn và phát triển.

Thời đại Hùng Vương là thời kỳ mở đầu dựng nước, mặc dù trình độ kinh tế, văn hóa và tổ chức xã hội còn ở mức sơ khai, nhưng trong quá trình phát triển của lịch sử đã tạo dựng nên những truyền thống quý báu của dân tộc ta: Cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất; đoàn kết để chiến thắng thiên tai địch họa và dũng cảm kiên cường trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm… Những truyền thống quí báu đó là nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt lên mọi khó khăn thử thách trong thời đại ngày nay, để chiến thắng kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước ngày càng hùng mạnh, có vị thế trên trường quốc tế.

Nhìn nhận về thời đại Hùng Vương trong lịch sử dân tộc, sách lịch sử Việt Nam của nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1971 có viết: “Thời kỳ Văn Lang, thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn trọng yếu của lịch sử Việt Nam. Chính trong thời kỳ này đã xây dựng nền tảng dân tộc Việt Nam, nền tảng văn hóa Việt Nam và truyền thống tinh thần Việt Nam”.

Để tôn vinh thời đại mở đầu dựng nước của dân tộc Việt Nam, cha ông ta từ lâu đã xây dựng lên các đền đài thờ tự các Vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh. Ngày nay Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm đầu tư tu bổ tôn tạo các ngôi đền thơ Vua Hùng và xây dựng thêm các ngôi đền mới để thờ tự các bậc tiền nhân có công dựng nước. Đồng bào cả nước đã và đang công đức tiền bạc, công sức và trí tuệ để tham gia tu bổ tôn tạo Di tích lịch sử Đền Hùng ngày càng khang trang to đẹp – nhằm tri ân công đức Tổ tiên và xây dựng Đền Hùng xứng tầm với một thời đại mở đầu dựng nước.

Được sinh ra trên đất nước Việt Nam – là con Hồng cháu Lạc, chúng ta tự hào có một ông Tổ chung là các Vua Hùng. Hàng năm cứ đến ngày mồng 10-3 Âm lịch con cháu lại nô nức trẩy hội Đền Hùng. Chính vì thế trong dân gian truyền tụng mãi câu ca:

Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.

Hội Đền Hùng năm nay có rất nhiều nét đổi mới, mời gọi con cháu Lạc Hồng cùng về dự, thắp nén hương thơm trên bàn thờ Tổ và đóng góp công đức để tri ân công đức Tổ tiên.

Như vậy là chúng ta đã được tham khảo Giỗ tổ Hùng Vương cúng lễ vật gì – lịch sử dựng nước Vua Hùng rồi. Hy vọng rằng bài viết này mang lại nhiều điều thú vị và bổ ích khi ngày Giỗ Tổ đang đến gần. Hãy đọc và chia sẻ Giỗ tổ Hùng Vương cúng lễ vật gì – lịch sử dựng nước Vua Hùng để mọi người cùng tham khảo và thực hiện cho đúng nhé! Chúc các bạn có một kỳ nghĩ lễ thật vui vẻ và hạnh phúc bên những người thân yêu. Nếu có ý định đi du lịch đến hùng bạn nên tham khảo những điều cần biết khi du lịch tại Đền Hùng, cách gói bánh chưng cúng tổ, Lịch bắn pháo hoa Đền Hùng nhé!

Hướng Dẫn Sắm Lễ, Cách Cúng Đám Giỗ Đúng Cách / 2023

Đám giỗ là cách mà con cháu thể hiện sự hiếu kính, tôn trọng đối với ông bà cha mẹ đã khuất, vì thế việc chuẩn bị lễ cúng giỗ gồm những gì, bài văn khấn thế nào, cách ghi sớ, cách ghi giấy cúng giỗ sao cho đúng là việc cần thiết.

Cúng 49 ngày

Từ ngày mất cho đến 49 ngày, việc cúng lễ cần phải sửa soạn thường xuyên và đầy đủ hàng ngày. Bao gồm mâm cơm với các món mặn và hoa quả, hương nến trên ban thờ. Cho đến ngày thứ 49,gia chủ có thể chưa biết lễ vật cúng giỗ cần những gì? Cúng giỗ chay gồm những gì? Chỉ cần chuẩn bị những thứ sau:

+ Mâm lễ cúng trong nhà và cúng giỗ ngoài mộ: gồm các món cúng giỗ dễ làm như gà luộc cánh tiên, xôi, các món ăn mặn tùy theo cách làm mâm cơm cúng giỗ với các món cúng giỗ miền Bắc, Trung, Nam mà các món này sẽ khác nhau. Hoa quả, bánh kẹo cũng được bày biện gọn gàng.

+ Tiền vàng mã,hình nhân, cách viết sớ cúng giỗ.

+ Bài văn khấn nôm cho 49 ngày, bài cúng giỗ tại nhà.

Thông thường, cúng trong nhà trước, sau đó mới ra mộ cúng, đọc văn khấn cáo giỗ ngoài mộ và hóa vàng ngay cạnh mộ. Theo tín ngưỡng thì như vậy người đã khuất mới nhận được các lễ vật mà người ở trên gửi xuống.

Nếu đơn giản, gia chủ đứng trước ban thờ, đọc văn khấn cho người đã khuất, đợi hết 3 tuần hương là có thể hạ lễ mời khách ăn cỗ. Nhưng cũng có gia đình mời các vị sư thầy trong chùa đến để tụng kinh siêu thoát cho người mất.

Cách cúng giỗ 100 ngày

Như đã nói ở trên, cúng 100 ngày là ngày giỗ đơn giản hơn so với 49 ngày và các ngày giỗ khác. Lễ vật cúng cũng tương tự như 49 ngày nhưng thường không mời khách ăn uống mà chỉ hạ lễ cho con cháu nhận lộc.

Cách cúng cũng đơn giản hơn, gia chủ ăn mặc chỉnh tề trang nghiêm, các con cháu đứng đằng sau chắp tay lễ 3 vái để gia chủ đọc văn khấn. Sau khi khấn thì lễ tạ 4 lễ là xong.

Cách cúng giỗ đầu

Ngày giỗ đầu dù ở gia đình nào, địa phương nào cũng rất được chú trọng, không kém gì lễ 49 ngày. Các lễ vật gia chủ cần chuẩn bị là mâm cơm cúng gồm xôi, gà, 2 mặn, 2 canh, hoa quả, hương nến, tiền vàng, quần áo giấy, ngựa giấy, hình nhân,v..v..

Ngoài ra vì là ngày giỗ đầu nên cũng phải làm vài mâm cơm ít nhiều phụ thuộc vào gia cảnh của chủ nhà để mời khách. Khách có lòng sẽ tự đến đặt lễ thắp hương cho người đã mất.

Trước ngày giỗ 1 ngày bày 1 mâm lễ mời người mất và gia tiên về dự lễ, ngày hôm sau mới chính thức tổ chức đám giỗ.

Cúng giỗ hết

Giỗ hết cũng sắm sang đồ cúng tương tự như giỗ đầu, chỉ có một điều khác là trong ngày giỗ sẽ hóa hết những đồ tang như quần áo, khăn tang, phướn, cờ, gậy chống, rèm xô. Như một cách thể hiện rằng tang kỳ đã kết thúc.

Cúng giỗ thường

Ngày giỗ thường được tổ chức hàng năm, còn gọi là cũng giỗ 3 năm sau khi mất, quy mô vì thế cũng nhỏ gọn đơn giản hơn. Chủ yếu là lòng thành của con cháu là chính. Thông thường sẽ chia ra 2 ngày, 1 ngày trước giày giỗ gọi là lễ tiên thường, và ngày hôm sau là lễ chính kỵ.

Ngày tiên thường, gia chủ cùng với mâm lễ vật đã sắm sửa đầy đủ, đứng nghiêm trang chắp tay lễ 3 lần rồi đọc văn khấn mời gia tiên trước, sau mới đến người đã mất về dự lễ chính kỵ vào hôm sau. Đọc xong lễ 3 lễ kết thúc.

Ngày hôm sau lễ chính kỵ thì khấn mời người đã mất trước, rồi đến mời tổ tiên về dự giỗ. Sau 3 tuần hương thì hạ lễ cho con cháu thụ lộc. Cúng giỗ buổi sáng hay chiều tùy thuộc thời gian của chủ nhà.

Cùng là một ngày giỗ nhưng mỗi miền lại có cách làm cơm cúng và đãi khách khác nhau. Cúng giỗ nên cúng chay hay mặn đều được, phụ thuộc vào lệ mỗi nhà.

Như ở miền bắc, cơm cúng không thể thiếu con gà luộc và đĩa xôi, có thể là xôi trắng, xôi gấc hay xôi vò đều được. Tiếp đến là khoanh giò lụa hoặc giò bò, miếng bánh chưng xanh, một đĩa nem rán và một món xào thập cẩm. Tùy hoàn cảnh kinh tế từng nhà có thể làm thêm nhiều món hơn như các món nộm, món rau. Cách xới cơm cúng ngày giỗ phải xới đầy ắp chén cơm để thể hiện âm dương hòa hợp. Khi cúng giỗ xới 1 chén cơm là đủ.

Mâm cơm miền Trung có đôi chút khác so với miền Bắc. Người miền Trung thay bánh chưng bằng bánh tét, không dùng các loại nộm mà thay bằng đồ muối chua như hành kiệu.

Còn cơm cúng miền Nam thường giản dị hơn vì người ta quan niệm người đã khuất thì cũng đã khuất rồi, người ở lại quan trọng là lòng thành. Vì vậy dù mâm cơm có giản dị, nhưng khi đã đến ngày giỗ của ông bà cha mẹ, các con cháu dù ở xa cũng phải tề tựu cho đông đủ.

Những kiêng kị trong ngày giỗ cần tránh

– Không nếm thức ăn. Khi chuẩn bị mâm cỗ cho đám giỗ, không nêm nếm trước thức ăn rồi mới bày lên, như vậy là tỏ ý bất kính với người mất.

– Không đặt lên mâm cúng các món sống như gỏi cá, món tanh như lươn, cũng không nên cúng các loại thịt như thịt chó, mèo, vịt… Không cúng mắm tôm hoặc các món mà người mất khi còn sống không ăn được.

– Bày chén bát riêng. Khi cúng giỗ, cần chuẩn bị bát đũa mới, không dùng những đồ mà người sống đang dùng.

– Không cúng hoa quả giả. Chuẩn bị hoa tươi quả ngọt để thắp hương cho người đã khuất là bày tỏ lòng thành kính với họ, vì thế đại kị dùng hoa giả, quả giả thắp hương trong ngày giỗ.

– Đám giỗ cho người chết trẻ (chết yểu) theo tập quán thường không được tổ chức. Sau khi hết tang, chuyển di ảnh lên ban thờ coi kết thúc việc cúng giỗ. Tuy nhiên ngày nay các gia đình vẫn làm giỗ cho con cháu không may chết trẻ để bày tỏ lòng thương xót.

– Không làm cúng giỗ online nếu ở xa, càng không nên dùng văn khấn giỗ bằng tiếng Anh nếu bạn là Việt kiều, đó là sự bất kính rất lớn với người đã khuất.

Làm đám giỗ, cúng gia tiên là phong tục thuần Việt hàng ngàn năm. Ngày nay, tuy đã có nhiều điều đơn giản hơn trong các nghi thức cúng giỗ, nhưng cơ bản vẫn giữ được những bản sắc riêng cần có. Việc thờ cúng cần được duy trì và tiếp nối qua nhiều thế hệ hơn nhằm lưu giữ nét văn hóa tâm linh của dân tộc.

Trang Lê

Tìm Hiểu Bài Cúng Đám Giỗ Họ Giỗ Thường / 2023

Bài cúng đám giỗ như thế nào

Ý nghĩa của ngày giỗ này chính là lần giỗ đầu tiên sau 1 năm của người đã mất. Vào ngày này người ta thường làm rất trang nghiêm, bi ai và buồn một phần vì thời gian cũng chưa được lâu sau khi người mất ra đi.

Vào ngày này thì để bài cúng đám giỗ được diễn ra thuận lợi thì nhà cúng cần sắm lễ bao gồm : lễ mặn, hoa quả, vàng hương, oản, đồ hàng mã như tiền, vàng, mã, giấy và quần áo hoặc là hình nhân nữa. Hình nhân này mang ý nghĩa là khi đốt đi sang thế giới bên kia sẽ hầu hạ cho người đã khuất. Sau khi làm xong lễ cúng bái thì tất cả đồ hàng mã được mang ra ngoài mộ người mất để đốt hoặc có thể đốt ở nhà.

Vào dịp này thầy được mời cúng sẽ có những bài cúng giỗ phù hợp nhất.

Văn cúng giỗ họ như thế nào

Văn cúng giỗ họ là cúng gia tiên thể hiện đạo hiếu, tấm lòng thành của con cháu và những người còn sống đối với gia tiên. Vào ngày này anh em cô bác và con cháu trong nhà thường tụ họp lại một nhà để cùng làm giỗ và dâng lên ban thờ gia tiên – dòng họ để cúng. Mong được phù hộ cho con cháu trong gia đình bình an, công việc công danh dẫn đường chỉ lối trong cuộc sống. Đây cũng là dịp để tất cả mọi người gác lại chuyện hàng ngày để sum vầy cùng với nhau, thể hiện tình anh em, đoàn kết trong gia đình.

Bài cúng giỗ thường như thế nào

Để có thể cúng giỗ ngày thường bạn có thể làm theo bài cúng giỗ thường như sau:

Nam mô A di đà phật : 3 lần Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương. Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn Thần. Con kính lạy ngài Đông Trù tư mệnh Táo phủ Thần quân Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này. Hôm nay là ngày/tháng/năm. Ngày trước giỗ Tiên thường. Tín chủ con là: Xưng đầy đủ họ tên Ngụ tại: Xưng địa chỉ: Nhân ngày giỗ của: Xưng vị của người mất Chúng con cùng toàn thể gia quyến theo lễ nghĩa, thành tâm sắm lễ bao gồm: kể lễ sắm. Đốt nén tâm hương, trước án tọa Tôn thần cùng chư vị uy linh kính cẩn tâu trình. Chúng con kính mời các vị Bản gia Thổ công, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh chứng giám cho lòng thành và thụ hưởng lễ vật của gia đình con dâng lên. Kính thỉnh các Tiên linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn được thờ phụng cùng về tâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A di Đà phật: 3 lần.

Hi vọng thông qua bài viết tìm hiểu về bài cúng đám giỗ họ, giỗ thường các bạn đã hiểu hơn về nét đẹp văn hóa cũng như phong tục của ông cha ta từ ngày đời xưa. Hãy lưu lại để khi cần dùng