【#1】Tại Sao Chọn Rằm Tháng 8 Là Trung Thu?

Tháng nào trong năm cũng có rằm, nhưng tại sao người ta lại chọn tháng 8 là Trung thu và truyền thống này có từ khi nào?

Trung Thu là giữa Thu, tên của nó đã nói lên điều đó… – (Minhha)

1 năm có 4 mùa: mùa xuân từ tháng 1 đến tháng hết tháng 3, mùa hè từ tháng 4 đến hết tháng 6, mùa thu từ tháng 7 đến hết tháng 9, mua đông từ tháng 10 đến hết thang 12.

Vây trung thu cò nghĩa là giữa mùa thu thi 15 tháng 8 la trung thu vậy thôi – (nguyen doan huan)

Cái truyền thống này có xuất xứ từ Trung Quốc bạn à. Do 1000 năm đô hộ nên đa phần nền văn hóa của nước ta, đều giống của Trung Quốc, ví dụ như: Lễ Vu Lan, Tết Nguyên Đán, Tết Nguyên Tiêu, Tết Trung Thu… Vì nó đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân ta từ bao đời nay, nên khó bỏ lắm, nước ta cũng tự động “biến của người ta thành của mình”, và tự thừa nhận nó là “bản sắc văn hóa dân tộc”, tốt nhất là bạn cũng nên chấp nhận vậy đi – (alo)

theo âm lịch và khí hậu 4 mùa của miền bắc thì mùa thu là tháng 7,8,9. vậy Trung thu là giữa thu thì phai là rằm tháng 8 rồi – (dvt)

TRUNG là giữa, THU là mùa thu. Tháng 8 là chính giữa mùa thu (tháng 7, 8, 9). Và ngày 15 là giữa tháng 8. Có thế thôi. – (PT)

Vậy thì tại sao Tết Thanh Minh lại rơi vào tháng 3 và ngày Cô Hồn lại là Rằm Tháng 7? – (tinytdpqn)

Thực ra truyền thống này bị ảnh hưởng bởi 1000 năm đồng hóa mà có, kể cả những phong tục cúng lễ ngày giằm, mùng một,… Nhưng tại sao lại chọn vào ngày giằm tháng tám (15-8 âm lịch) thực chất là bởi khí hậu và tiết trời đẹp, trăng tròn nhất trong các ngày giằm; mặt khác vì đây là ngày hội của các em thiếu nhi nên nó là hoạt động để động viên khích lệ sự học tập cho một năm học mới. Ngày hội này chính giữa mùa Thu nên có tên là Trung Thu. – (Quang Huy)

1. Mùa thu theo âm lịch là từ tháng 7 đến hết tháng 9 vậy tháng 8 là giữa mùa thu (trung thu) nên rằm của tháng giữa thu gọi là rằm giữa thu (rằm trung thu) ^^

2. Truyền thống này có từ trước khi bạn sinh ra ^^ – (google)

Vì mùa thu rơi vào tháng 7,8,9 âm lịch, Trung thu nghĩa là thời điểm giữa mùa thu cho nên lấy 15/8 là chính xác. Truyền thống này có lẽ ra đời từ khi con người sáng tạo ra lịch mà thôi! – (huyen26truongxuan)

Đã gọi là trung thu thì tất nhiên là giữa mùa thu rồi, chả lẽ đầu và cuối sao? – (khanh hong)

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian. – (lanbui1983)

Thứ nhất ngay trong tên cái tết cũng nói lên khá nhiều, TRUNG THU. Ở đây theo Hán Việt nghĩa là giữa mùa thu. Và Dằm tháng 8 được chọn là ngày đẹp nhất với trăng tròn nhất.

Có rất nhiều truyền thuyết xoay quanh Trung Thu, nhưng xét theo địa lý, người á đông làm mùa nhìn trăng. Và trăng dằm tháng tám thể hiện được sự tốt đẹp của thời tiết. Cũng bằng nhìn trăng tháng 8 người ta biết năm tới phải làm ăn ra làm sao. Nói một cách khác nó có thể coi như một lễ hội cầu mùa nơi mà người lao động thành kính với ông bà tổ tiên thể hiện sự cảm ơn mùa qua, cũng như ban phát lộc cho con cháu thể hiện sự sung túc.

Bánh nướng và bánh dẻo là đặc chưng cho tết trung thu. Trong bánh cổ truyền thông thường có nhiều loại thịt, bò, gà, lợn, trứng, xá xíu, lạc sưởng cũng như có loại hạt tinh túy của trời đất hạt sen, tất cả thể hiện sự khá giả ấm no. Nướng và Dẻo thể hiện cho mặt trời mặt trăng hay là thể hiện thời tiết tốt đẹp. Bánh ngày nay thay vào đó các loại nhân khác là sai vì là du nhập từ vùng khác dùng loại lương thực khác thể hiện sự phồn vinh. Thực tế chứng minh, không nơi nào có nhân truyền thống giống ta. – (Chiến Trần)

Theo tôi, có 4 nguyên nhân sau:

Thứ nhất: 15/8 âm lịch là giữa mùa thu theo cách chia mùa của các nước khu vực quanh ta và nước ta.

Thứ hai: Thời tiết giai đoạn này đẹp và phù hợp nhất; như: Trời cao xanh hơn, mặt trăng sáng nhất và to nhất so với các đêm rằm v v…

Thứ 3: Ở một nền văn minh lúa nước như chúng ta thì thời điểm này cho phép ghi nhận, đánh dấu những biến đổi của thời tiết, ví dụ: Xem trăng để biết năm tới có rét, có nhiều sâu bọ phá hoại mùa màng hay có hạn hán không (Muốn ăn lúa tháng năm, xem trăng rằm tháng 8), xem vụ mùa có năng suất không vì thời điểm này bão gió đã giảm, lúa đã uốn câu v v …

Thứ tư: Lúc này nhà nông cũng là lúc nông nhàn vì vậy ngoài tổ chức ngắm trăng còn có nhiều lễ hội khác kết hợp – (Vũ Trung Thành)

Trung thu là giữa mùa thu, tết trung thu như tên gọi đến với chúng ta đứng giữa mùa thu, mùa mát mẻ đẹp đẽ nhất trong năm với trăng trong gió mát. Cho đến bây giờ, vẫn chưa xác minh rõ ràng được Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam hay tiếp nhận từ văn hóa Trung Hoa. Theo các nhà khảo cổ thì hình ảnh về Trung thu đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Có lẽ Trung thu được bắt đầu từ nền văn minh lúa nước của đồng bằng Nam Trung Hoa và đồng đồng bằng châu thổ sông Hồng của Việt Nam. Có ba truyền thuyết chính được người ta biết đến nhiều nhất để nói về Trung thu đó là Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng và Sự tích về chú Cuội của Việt Nam. Nhưng có lẽ sự tích về vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng là thuyết phục nhất, mặt dù nó cũng có chúc hư cấu và hơi hoang đường.

Theo sách cổ thì tết Trung thu bắt đầu từ đời nhà Đường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Tục truyền rằng: Nguyên năm đó, vào đêm rằm tháng tám trời thật là đẹp, trăng thanh gió mát trước cảnh đẹp của đất trời, nhà vua ngự chơi ngoài thành tới mãi khuya. Lúc đó có một ông già đầu bạc phơ trắng như tuyết, chống gậy đến bên nhà vua. Trông người và theo cử chỉ, nhà vua đoán ngay là một vị thượng tiên giáng thế.

Ông già kính cẩn chào vua rồi hỏi: Bệ hạ có muốn lên thăm cung trăng không?

Nhà vua trả lời có.

Ông tiên liền đưa chiếc gậy lên trời, hoá phép ra một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, còn một đầu ăn xuống đất. Tiên ông đưa nhà vua lên cầu vồng, chẳng bao lâu đã đến cung trăng. Phong cảnh nơi đây thật là đẹp, một vẻ đẹp khác xa nơi trần thế, có những nàng tiên nữ nhan sắc với những xiêm y cực kỳ lộng lẫy, xinh như mộng, đẹp như những bài thơ hay, nhảy múa theo những điệu vô cùng quyến rũ, đủ muôn hồng ngàn tía.

Nhà vua đang say sưa với những cảnh đẹp thì tiên ông lại đưa nhà vua trở lại cung điện. Về tới trần thế, nhà vua còn luyến tiếc cảnh trên cung trăng và những giờ phút đầy thơ mộng nhà vua đã được ở nơi đó. Để kỷ niệm ngày du nguyệt điện, nhà vua đặt tên là tết Trung thu. – (quốc thịnh)

Ngày Tết này có xuất xứ từ Trung Quốc, ban đầu là theo phong tục dân gian, Tết trung thu vào giữa rằm tháng 8, thời điểm này thời tiết mát mẻ, mùa màng đang chờ thu hoạch. Nông dân nghỉ ngơi và vui chơi sau một vụ mùa.

Theo sách cổ thì Tết Trung Thu bắt đầu từ đời nhà Ðường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Năm ấy vào đêm khuya rằm tháng tám, gió mát, trăng tròn thật đẹp, trong khi ngự chơi ngoài thành, nhà vua gặp một vị tiên giáng thế trong lốt một ông lão đầu bạc phơ như tuyết. Vị tiên hóa phép tạo một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, một đầu chám mặt đất, và nhà vua trèo lên cầu vồng đi đến cung trăng và dạo chơi nơi cung Quảng. Trở về trần thế, vua luyến tiếc cảnh cung trăng đầy thơ mộng, nhà vua đặt ra tết Trung Thu. Trong ngày tết này, lúc đầu chỉ uống rượu trông trăng nên còn gọi là Tết Trông Trăng. Trong đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh “đoàn viên”, bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà. – (c1vt2013)

Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam, cụ thể là từ Sự tích về chú Cuội – (thanh phong nguyen)

Nguồn gốc tết TRUNG THU

Tết Trung-Thu đã có từ thời Đường Minh Hoàng bên Trung-Hoa, vào đầu thế kỷ thứ tám (713-755).

Sách xưa chép rằng, nhân một đêm rằm tháng tám, khi cùng các quan ngắm trăng, vua Đường ao-ước được lên thăm cung trăng một lần cho biết. Pháp-sư Diệu Pháp Thiên tâu xin làm phép đưa vua lên cung trăng. Lên tới cung trăng, Minh Hoàng được chúa tiên tiếp rước, bày tiệc đãi đằng và cho hàng trăm tiên nữ xinh tươi mặc áo lụa mỏng nhiều màu sắc rực rỡ, tay cầm tấm lụa trắng tung múa trên sân, vừa múa vừa hát, gọi là khúc Nghê-Thường vũ y. Vua Đường thích quá; nhờ có khiếu thẩm âm nên vừa trầm trồ khen ngợi vừa lẩm nhẩm học thuộc lòng bài hát và điệu múa mong đem về hoàng cung bày cho các cung nữ trình diễn. Cuối năm đó, quan Tiết Độ Sứ cai trị xứ Tây Lương mang về triều tiến dâng một đoàn vũ nữ với điệu múa Bà-la-môn. Vua thấy điệu múa có nhiều chỗ giống Nghê-Thường vũ y, liền chỉnh đốn hai bài hát và hai điệu làm thành Nghê-Thường vũ y khúc. Về sau các quan cũng bắt chước vua mang điệu múa hát về các phiên trấn xa xôi nơi họ cai trị rồi dần dần phổ biến khắp dân gian. Tục ngắm trăng, xem ca múa sau biến thành thú vui chơi đêm rằm Trung Thu . – (vuducduongvp91)

chon Trung thu la giua mua thu – (dungnv)

thang 7-8-9 là mùa thu, chon tháng 8 là giữa mùa thu và ngày rằm là giữa của tháng! đúng theo nghĩa của từ Trung Thu!!! – (phanthanh_thang)

Tết trung thu diễn ra vào ngày 15 của tháng 8 trong Âm Lịch và đã có từ ngàn năm nay, đây là thời gian mặt trăng tròn nhất và sáng nhất, đây cũng là thời gian người Châu Á thu hoạch xong mùa vụ và bắt đầu tổ chức những lễ hội mà tiêu biểu trong đó là lễ hội trăng rằm. Món ăn được người Á Đông lưu tâm nhất trong mùa lễ hội này đó là Bánh Trung Thu. Cho đến bây giờ, vẫn chưa xác minh rõ ràng được Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam hay tiếp nhận từ văn hóa Trung Hoa. Có ba truyền thuyết chính được người ta biết đến nhiều nhất để nói về Trung thu đó là Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng và Sự tích về chú Cuội của Việt Nam – (Cưng Lê)

Một năm chia làm 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, mổi mùa có 3 tháng, Mùa thu ứng với các tháng 7,8,9 . Nên Trung thu phải vào giữa tháng 8 tức 15/08 âm lich.

Anh Vũ Cà Mau – (Anh Vũ Cà Mau)

Haizz, “trung” là “giữa” tức là giữa thu; 1 năm có 4 mùa, tháng 8 là giữa mùa thu, đơn giản thế thôi. – (Nam Trung)

Trung thu tức là “giữa Thu”. Vì vậy, nó không thể là rằm của tháng nào khác. Vả lại, thời điểm này, trăng dễ tròn và sáng nhất ( do mùa Thu, tiết trời trong hơn các mùa khác). Tục lệ này có từ thời Trung Quốc cổ đại để cúng thần Mặt trăng; cầu cho mưa thuận gió hòa – (Lê Minh)

Đơn giản thôi, vì rằm xảy ra giữa mùa thu nên mới gọi là Trung thu. Nếu nó xảy ra giữa mùa đông sẽ gọi là Trung Đông đó bạn. – (Minh)

Trung thu là giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8 là đúng rồi còn những tháng khác có lẽ phãi gọi là trung hạ, trung đông, hay là trung xuân – (lê tuấn minh viên)

Trung thu là giữa mùa thu, giữa mùa thu là Tháng 8, hỏi thế cũng hỏi – (ABC)

“trung thu” là “giữa mùa thu”, răm tháng 8 là giữa mùa thu – (hung)

Trung là giữa, thu là mùa thu, trung thu là giữa mùa chúng tôi âm lịch thì mùa thu bắt từ tháng 7 đến hết tháng 9 nên 15 tháng 8 là giữa mùa thu nên được gọi là trung thu. – (HD)

Vì tháng 8 chả có ngày lễ nào để ăn uống cả. Nên bày ra thôi ^^ – (Discovery World)

Vì từ tháng 7 đến tháng 9 là mùa thu, tháng tám là trung thu và rằm tháng tám là ngày giũa tháng – (blem)

Trung thu là tên theo một tiết khí. Ai nghiên cứu lịch tiết khí sẽ biết các ngày như lập xuân, lập hạ….Ngày trung thu là cách gọi theo tiết khí, còn tên gốc của nó là Tết Đoàn viên, tức là ngày các thành viên trong gia đình sẽ tụ họp đông đủ dù đang ở đâu đi nữa. Sau khi truyền về VN thì ý nghĩa ngày này không còn giống như bên trung quốc nữa, và tên gọi dân gian cũng thành tết trung thu, nghĩa là ngày rằm giữa thu – (Zaer)

tại sao không có tết trung hạ, trung đông hay trung xuân? – (háiin)

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian.

Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ. – (TQMy)

Ngĩa là giữa mùa Thu! Mùa thu là mùa rễ chịu nhất, làm cho con người thoải mái và yêu đời hơn! – (Trương Dũng)

mùa thu gồm 3 tháng đáo là tháng 7, 8 và 9 âm lịch. Trung thu có nghĩa là giữa mùa thu và cụ thể là ngày rằm tháng 8. Do đó tết trung thu đương nhiên phải chọn ngày rằm tháng 8.

Riêng câu hỏi truyền thống này có từ khi nào thì tôi bó tay. – (Nguyễn Văn Út)

Boi vi thang 8 la bat dau vao mua Thu

Va ram la 15,la giua nen goi la Trung

Cho nen goi ram thang 8 la Trung Thu – (suanan)

Trung thu đơn giản là giữa mùa thu. Còn lịch sử của nó bạn tự tìm hiểu lấy. – (thienphan)

Vì 15 tháng 8 là ngày chính giữa của mùa thu. – (Kim chi)

nguơi ta chon ram thang tam la trung thu boi vi ram thang tam la giưa mua thu. – (tran duc do)

Theo minh hieu. Thang 8 la roi vao mua thu la trung tuan cua nam, nen nguoi xua tinh toan va lay thang 8 la dai dien cho le hoi trang ram. – (Tuann)

Mùa thu gồm có tháng 7, 8 và 9 âm lịch. Trung thu là giữa mùa thu thì chọn rằm tháng 8 là đúng rồi. Mình nghĩ vậy.

Thanh Vinh. – (vinhmyname)

Vi sao chon ram thang 8 la trung – (hangasta)

Trung Thu là giữa mùa thu, mà mùa thu là nằm vào tháng 7-8-9 nên chọn trung tuần tháng 8 (15/8 AL) là ngày Trung Thu 🙂 – (Ngọc Tịnh)

Trung Thu lả giữa mùa Thu nhằm ngày 15/8 âm lịch, với các tháng khác sao gọi Trung Thu được . Đối với dương lịch ngày 23/9 là ngay Thu Phân không thể chọn ngày 23 tháng khác được. – (vechai)

Sau cách mạng tháng 8 thành công và quốc khánh 2/9 năm 1945. Ai đều biết câu “Trung thu trăng sáng như gương, Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng” Vậy tết trung thu đầu tiên vào năm 1945 do Bác Hồ chọn. – (Đỗ Thanh Hải)

“Trung” là giữa, “Thu” là mùa thu. Trung thu là giữa mùa thu. Ngày rằm tháng 8 là ngày chính giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8 là trung thu – (tuantutoto)

theo âm lịch 3 tháng 7, 8, 9 là mùa thu. Tháng 8 là tháng giữa thu, ngày 15 là giứa tháng 8 có thể được gọi là ngày giữa mùa thu. Trung thu theo nghĩa Hán là giữa thu. Tiết trung thu thường đẹp nhất trong năm. Còn việc tại sao nhân dân các nước phương đông tổ chức tết Trung thu thì có nhiều điển tích lắm, bạn có thể tìm hiểu thêm. – (Trịnh Tân)

xuân, hạ, thu, đông mỗi mùa 3 tháng. Vậy rằm tháng tám là Trung Thu đúng rồi bạn? Đơn giản thế thôi. – (Han)

vì 15-8 là thời gian giữa của mùa thu cũng như 15 là giữa của tháng. – (Anh Tuấn Vũ)

Vì mùa thu bắt đầu từ tháng 7-9, ràm tháng tám tức là giữa mùa thu, ko phải trung thu vào ngày đó thì ngày nào. Trung thu tức là giữa mùa thu – (Bui Cong)

Rằm: ngày 15 âm lịch; Trung: giữa; Thu: mùa thu. (vì 15/8 là ngày giữa thu mà , mùa thu là tháng 7-8-9) – (letmytrinh)

Một năm ở Việt nam có 4 mùa tính theo lịch mặt trăng. Rằm tháng 8 là giữa mùa thu nên gọi là Trung thu. – (Xuân Chấp)

Bạn long thành thân mến! Như chúng ta đã biết một năm có bốn mùa gồm.xuân,hạ,thu,đông.mỗi mùa co thời gian là 3 tháng.mùa thu bắt đầu từ tháng 7 âm lịch cho đến hêt tháng 9 âm. Vậy nên ngày 15/8 được coi là giữa mùa thu .vì thế mới có tên là tết trung thu.tức là trung tuần của mùa thu – (long)

Mùa thu từ tháng đầu tháng 7 ân lịch đến cuối tháng 9 âm lịch ( 3 tháng) nên 15 tháng 8 là giữa mùa thu( tức Trung thu). – (vittechvn)

Mùa thu gồm 3 tháng là 7;8;9 .Mà Trung Thu thì có nghĩa là giữa mùa Thu, giữa mùa thu là tháng 8, mà giữa tháng 8 là ngày 15 âm lịch hay là rằm tháng 8, nên Trung Thu là ngày 15/8 âm lich hằng năm

Truyền thống này xuất phát từ bên Trung Quốc, nhưng bắt đầu từ khi nào thì … – (phuong)

Ý kiến của chi hang nga 7 tuổi – (thang 8 là rằm trung thu vì tháng 7,8,9 là mùa thu. mà chữ trung có nghĩa là trung bình c)

Thì tên của nó đã nói lên rồi đó bạn: là rằm giữa mùa thu – (thinh tat)

Mùa xuân là từ tháng giêng -tháng 3, mùa hạ là từ 4 -6, mùa Thu là 7 – 9 15/8 là giữa mùa thu thì gọi là Trung Thu – (Đức Toàn)

Mua thu bat dau tu thang 8, nen chon thang 8 – (datnguyen)

Thế mà cũng phải hỏi, giữa mùa thu là tháng mấy.. – (dinhcaoxuan)

Vì dằm tháng 8 trăng to và đẹp nhất khí hậu mát mẻ thuạn lợi cho việc vui chơi của trẻ.mà nhất là dằm tháng 8 trời không hay mưa – (trương long)

một năm 4 mùa, xuân, hạ, thu, đông. Mùa thu tính từ tháng 7 đến tháng 9, trung thu nghĩa là ở giữa mùa thu nên chọn rằm tháng 8. Đấy là tôi đoán thế ko biết đúng không – (tung)

Câu hỏi của bạn thật là kỳ. Trung thu tức là giữa mùa thu. Chả có nhẽ rằm tháng nào cũng là giữa mùa thu? – (Gió lang thang)

do thang 7,8,9 la mua thu, con chu “trung” co nghi la trung binh cong cua 3 thang tren nen ngay trung thu se roi vao ram thang 8. – (hoang thi hang nga)

Trung thu tức là giữa mùa thu, tháng 8 lại là tháng giữa thu (mùa thu gồm các tháng 7,8,9) ngày rằm là ngày 15 giữa tháng, vì vậy theo cả nghĩa đen thì rằm tháng 8 đích thị là giữa mùa thu (Trung thu). còn nguồn gốc ngày trung thu bạn có thể tham khảo ở đây: http://holiday.yeudoi.net/2013/09/tet-trung-thu-bat-nguon-tu-au.html – (Tôn Thất Khoa)

Cái tên của nó đã nói lên bản chất rồi. Trung thu chú có phải trung xuân, trung hạ, trung đông đâu. 15-8 là chính giữa mùa thu 😀 – (Huu Tri)

Đơn giản vì Rằm Tháng 8 là thời gian “giữa mùa Thu”. – (Trang)

tháng nào cũng có rằm nhưng tháng 8 thi mới là mùa thu, các tháng khác có phải mùa thu đâu – (dvdtth)

Trung Thu là giữa mùa Thu, thế thôi… – (Tiểu Long)

Thì nó là Trung thu. Thế mà cũng phải hỏi. – (abc)

sặc,mùa thu là tháng 7,8,9,trung thu la giữa mùa thu,là ngày 15/8 đó,có gì đâu mà thắc mắc – (phantom)

Tại vì bánh Trung Thu thường được bán trong tháng 7 âm lịch và hết date sau rằm tháng 8. – (Cuội)

Một năm có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Ba tháng mùa Xuân là tháng 1-2-3. Ba tháng mùa Hạ là tháng 4-5-6. Ba tháng mùa Thu là 7-8-9. Ba tháng mủa đông là 10-11-12. Như vậy, trung Thu tức là giữa Thu và rơi vào giữa tháng 8. – (MM)

Bạn có thể chưa hiểu Trung thu có nghĩa là gì. Tiết (không phải là tết) Trung thu có nghĩa là ngày giữa mùa thu. Mùa thu kéo dài 3 tháng từ tháng 7 đến hết tháng 9 âm lịch. Tháng giữa thu là tháng 8. và ngày giữa mùa thu chính là ngày giữa tháng 8, ở đây chính là ngày 15 (Rằm). – (Thiệp Wong)

trung là giữa, Thu là mùa thu. Trung Thu là giữa thu tứcc tháng 8! Vậy thôi. – (Nguyet)

trung thu là từ hán việt có nghĩa là giữa thu… có vậy cũng ko luận được ra 😀

đi học đi nha – (Minh Kiểm)

Mùa thu nằm trong 3 tháng 7- 8- 9, rằm tháng 8 nằm chính giữa 2 cái rằm kia nên chọn nó làm Trung thu là hợp lý nhứt còn gì. Gỉa sử chọn rằm tháng 10 thì thành…Trung đông rồi bạn ạ.

Trung thu có lẽ đã bắt đầu từ khi có mùa thu, hi hi… – (kim loan Pham)

don gian thoi ma,co le 1 nam co 4 mua ma mua thu la thang 7,8,9. ma trung la giua,vay suy ra ram thag 8 la ram trung thu – (nhanct)

Thang 8 ngay ram la ngay mat trang gan trai dat nhat, khi do ta thay mat trang to va sang nhat, voi lai vao dip nay thoi tiet sang thu nen canh vat hop nhat de to chuc tet Trung thu – (long tran)

Vì trăng sáng & tròn nhất – (Duong)

Mùa thu là tháng 7,8,9. Do đó giữa mùa thu là giữa tháng 8. Vì vậy giữa tháng 8 người ta gọi là trung thu – (thien su)

“Mùa Xuân từ tháng 1 đến hết tháng 3

Mùa Hạ từ tháng 4 đến hết tháng 6

Mùa Thu từ tháng 7 đến hết tháng 9

Mùa Đông từ tháng 10 đến hết tháng 12.

Vậy thì Trung Thu – giữa mùa thu là giữa tháng 8 bạn ơi! ” Chỉ là ý kiến cá nhân thôi – (duongn.bm)

“Trung Thu ” có nghĩa là giữa mùa thu đó ! rằm tháng 8 chứ tháng mấy nữa ! ^^ – (Nguyễn Thành Tín)

Theo Trung Quốc hết….. – (Nguyên)

Theo âm lịch thì tháng giêng , hai, ba là mùa xuân.Tư, năm ,sáu là mùa hạ. Bảy ,tám chín là mùa thu. Vì vậy rằm tháng tám là giữa mùa thu gọi là Trung thu. – (Nguyễn Thanh Hải)

Trung thu nghĩa là giữa mùa thu. Bản chất ngày rằm tháng 8 là ngày giữa của mùa thu rồi, có gì đâu mà phải chọn bạn? – (khach)

Theo ý kiến chủ quan của tôi nguyên nhân chọn rằm tháng 8 là Trung thu là như thế này: Một năm có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, mà theo lịch của một số nước Châu á trong đó có nước ta ( lịch mặt trăng) thì mùa xuân gồm tháng 1 ( giêng), tháng 2, tháng 3; mùa hạ có tháng 4,5,6; mùa thu là tháng 7,8,9. Như vậy tháng 8 là giữa mùa thu mà ngày 15 ( rằm là giữa tháng 8 nên gọi là Trung thu. – (Mr. Khoai)

Rằm trung thu là rằm giữa Thu, xét theo xuân hạ thu đông mỗi mùa có 3 tháng thì tháng 8 là tháng giữa thu nên lấy rằm tháng 8. – (Le duc anh)

1 măn có 4 mùa, xuân hạ thu đông, mùa thu rơi vào tháng 7-8-9 vậy rằm thắng 8 có phải là giửa mùa thu không, là trung thu đó. – (Lee Duc)

vì dằm tháng tám là giữa mùa thu và đâu hình như là phong tục của người phương bắc nên cũng ảnh hưởng thôi ☺ – (Nguyễn Hoàng Phương)

Trung thu có nghĩa la ‘ giữa mùa thu ‘.răm trung thu có nghĩa là ‘răm giữa mùa thu’.mua Thu có 3 răm la t7,t8, t9. Răm t 8 ở giữa nên gọi là răm trung thu – (Phúc)

một năm có 4 mùa. xuân hạ thu đông.mùa xuân có tết cổ truyền, mùa hạ có tết đoan ngọ, mùa thu có tết trung trung, vậy sao không có tết trung đông hả các bạn.? – (ngô cương)

Trung có nghĩa là giữa,mà giữa năm là tháng 8 vậy nên tháng 8 là đến mùa thu nên chọn tháng 8 – (phạm hảo)

tại + vì 15/8 là trung tâm của mùa thu thì gọi là trung thu – (trung thu)

Theo cái tên là bạn cũng biết rồi. “Trung Thu” là giữa mùa thu. Một năm 12 tháng chia làm 4 mùa. Mùa thu là tháng 7,8 và 9. thì rằm tháng 8 là giữa mùa thu. – (vanlam999)

Đơn giản vì trung thu là vào giữa thu. Là tháng 8 âm lịch. – (hoang anh ybc)

Theo mình nghĩ, mùa thu gồm 3 tháng 7, 8, 9, vậy tháng 8 là giữa mùa thu, vậy tháng 8 là tháng trung thu, và để chọn ngày trung thu thì là ngày giữa tháng trung thu, tức rằm tháng 8. Còn có từ bao giờ thì mình không biết. – (Lê Đức)

Mình cũng có thể có rằm Trung hạ, Trung xuân và Trung đông mà. Rằm nào cũng vầy bạn à, chọn 1 rằm rồi xài nó thì ý nghĩa hơn xài cả 4 chứ :v – (ha_anh_lion)

Bởi vì mùa Thu kéo dài tử tháng Bảy đến tháng Chín, vì thế mà ngày 15 tháng Tám là Trung Thu. Chính xác thì phải là 12 giờ ngày 15 tháng Tám. – (hoangnvhk)

Nếu không chọn rằm tháng Tám, ta có thể chọn rằm tháng hai và gọi là Trung Xuân; rằm tháng 5 gọi là Trung Hạ, rằm tháng 11 gọi là Trung Đông, và rằm tháng tám tất là Trung Thu đó bạn. – (vanhung)

tại vì tháng 8 là giữa mùa thu nên gọi là trung thu – (tulong2108)

cái tên nó đã nói lên tất cả…..

Trung thu….giữa mùa thu….là rằm tháng 8 chứ gì nữa – (candysnow_bell)

Bánh trung thu tượng trưng cho sự đoàn viên, là thứ không thể thiếu để cúng trăng và thổ địa công vào mỗi mùa Trung thu. Phong tục ăn bánh trung thu vào Tết Trung thu bắt đầu từ cuối đời nhà Nguyên bên Trung Quốc đến nay.

Tương truyền vào thời đó, người Trung Nguyên không chịu nổi ách thống trị của người Mông Cổ, những người có chí khí đều muốn khởi nghĩa chống nhà Nguyên. Để tập hợp được các lực lượng đấu tranh, nhưng trong điều kiện không thể truyền tin đi, Lưu Bá Ôn đã nghĩ ra một cách truyền tin rộng rãi và bảo đảm, đó là kêu gọi mọi người mua bánh trung thu ăn vào Tết Trung thu để tránh họa. Sau khi mọi người mua bánh về và cắt ra, nhìn thấy bên trong có giấu một mảnh giấy viết “đêm 15 tháng 8 khởi nghĩa”, nhờ vậy người dân đã nhiệt liệt hưởng ứng, và lật đổ được nhà Nguyên. Cũng từ đó, bánh trung thu đã trở thành một món ăn không thể thiếu vào mỗi Tết Trung thu. – (Thuy)

nen xem chuyen Co Do Long cua Kim Dung se hieu. – (shayya)

Ngày 15 tháng 8 là điểm giữa của mùa thu nên mới gọi là Trung Thu. Đơn giản thế thôi – (Mr.Khanh)

“Trung Thu” nghĩa là chính giữa mùa Thu, giải thích đơn giản vậy chắc bạn hiểu. T1-2-3: mùa Xuân, T4-5-6: mùa Hạ, T7-8-9: mùa Thu, T10-11-12: mùa Đông… – (BH)

Bạn nào đặt câu hỏi này chứng tỏ không hiểu vấn đề rồi. Cái chính là “lễ hội” mang ý nghĩa gì và tại sao có nó, còn cái ngày là Rằm Trung Thu hay ngày nào khác chỉ là cái ngày mà thôi. Nếu không là Rằm Trung Thu thì cũng có thể là Mùng 10 tháng 10 chẳng hạn, hay Mùng 5 tháng 5 chẳng hạn,… Để nghị bạn Google để nghiên cứu sự tích, ý nghĩa của ngày Rằm Trung Thu. – (Hùng)

Trung Thu là giữa của mùa Thu. Mùa Thu là Tháng 7+8+9 Âm Lịch. Vậy rằm Tháng 8 hiển nhiên phải là Trung Thu ! Thế mà cũng hỏi ??? – (Lê Hùng)

Toi dong y voi ban chu hoang giang. Cam on. – (tran duc khiem)

Đơn giản từ “trung thu” có nghĩa là giữa mùa thu. Do đó ngày rằm tháng tám là ngày chính giữa của mùa thu. Đồng thời, trong một năm, trăng vào ngày rằm tháng tám là tròn nhất, to nhất và sáng nhất. – (chuoi)

Vì nằm giữa mùa thu nên gọi là trung thu. – (thong)

nếu nói như mấy bạn, trung là giữa, thu là mùa thu, thì giữa mùa thu phải là 1/8 chứ, mấy pạn chưa ngke chuyện cổ tích chú cuội ah mà pảo nhập khẩu từ trung quốc sang – (hà)

vào rằm toàn mưa với bão thôi – (Ngô Thuỷ)

Đừng quên một điều quan trọng. Tổ tiên của chúng ta vốn ở tận bên Sông Hoàng Hà đó. Động Đình Hồ có nghĩa là Động Tiên, nơi Âu cơ phải long Lạc Long Quân rồi Nam tiến.

Cho nên Trung Thu là của Việt, Đoan ngọ là của Việt, Nguyên đán là của Việt. – (Viet Nam)

Đơn giản thôi các bạn ah.1 năm có 4 mùa xuân hạ thu đông,mùa thu là tháng 7,8,9.trung la giữa,giữa mùa thu là ngày rằm tháng 8 thôi – (Lai)

Đơn giản 15/8 âm lịch là giữa mùa thu thôi, nhiều bạn giải thích cầu kỳ quá! – (Lê Nam)

1 năm có 12 tháng và 4 mùa, như vậy mỗi mùa kéo dài 3 tháng và theo thứ tự Xuân Hạ Thu Đông thì mùa thu là từ bắt đầu tháng 7 đến hết tháng 9. Trung Thu có nghĩa là giữa mùa Thu nên chọ vào ngày 15 tháng 8 là chuẩn nhất rùi bạn!!!!!!! – (ha ha)

TRUNG là giữa, TRUNG THU là giữa thu, tháng 7,8,9 là mùa thu – (trần hoài sơn)

Cái tên thì nói lên tất cả rồi. Trung thu là giữa mùa thu. Mà chọn ngày rằm là lúc trăng đẹp nhất. Âm lịch có mùa thu từ đầu tháng 8-hết tháng 9 âm lịch. Trung thu là bắt đầu thời điểm giữa đầu tháng 8 đến cuối tháng 9. – (Mami siêu phàm)

Theo tôi được biết thì răm trung thu xuất phát từ trung Quôc, những nước xung Quanh ảnh hưởng theo Văn Hoa đó bao gồm Việt Nam, Hàn Quôc, Nhật bản. Như hàn Quôc tổ chức rằm trung thu rất to do rằm trung thu Đánh dấu kết Thuc một vụ thu hoạch và chuẩn bị bước vào mùa Đông lạnh giá, phía Bắc Trung Quôc và nhật bản cũng tương tự – (Hoa)

Nếu nói Tết Trung thu có xuất xứ từ TQ, vậy còn truyện tích chú cuội , cây đa, … thì có tứ lúc nào? – (NC)

Theo tôi biết thì mỗi tháng có 1 ngày trăng tròn gọi là rằm, nhưng rằm tháng 8 trăng sẽ sáng nhất trong năm nên người xưa chọn làm ngày Trung Thu. “trung thu trăng sáng như gương…” – (Kiên)

Thời tiết miền Bắc (kể cả ở Trung Quốc), tháng 8 âm lịch là đẹp nhất trong năm – không nóng, không lạnh, khô ráo, nên người ta ăn rằm Trung Thu. Còn một điểm nữa là ngày xưa Triều đình thường tổ chức thi vào tháng 10 (âm lịch) nên Trung Thu cũng là một cái Tết văn hiến, chuẩn bị đi thi, thi đỗ là đổi đời (cá chép vượt Vũ môn hóa rồng). Rằm Trung Thu thường có đèn cá chép và ông Tiến sĩ giấy để khuyến khích việc học. – (Đức Lan)

Đơn giản thôi mà “Trung thu” nghĩa là : “Trung” là giữa, “Thu” là mùa Thu, tháng tám giữa mùa Thu thì gọi là Trung Thu. – (Một Cõi Đi Về)

có gì khó hiểu đâu, một năm có bốn mùa mỗi mùa 3tháng mùa thu là tháng 7, 8, 9 âm lịch, tháng 8 là giữa mùa thu, rằm tháng 8 là giữa tháng 8 nên lấy làm ngày trung thu! – (truongtonngoc)

Tết Trung thu (ngày 15 tháng 8 Âm lịch) có xuất xứ từ Trung Quốc. Theo nhiều ghi chép lịch sử, nghi thức đón Tết Trung thu đã có từ thời nhà Chu. Tết Trung thu là ngày lễ truyền thống lớn thứ hai sau Tết Nguyên Đán của Việt Nam nói riêng và nhiều nước châu Á nói chung.

Theo Âm lịch, mùa thu bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài đến hết tháng 9, ngày 15 tháng 8 đúng vào giữa mùa thu nên được gọi là “trung thu”. Tết Trung thu còn có rất nhiều tên gọi khác, ít phổ biến hơn như Thu tiết, Bát Nguyệt tiết, Bát Nguyệt Hội, Nguyệt tiết, Truy Nguyệt tiết, Nguyệt Tịch, Đoàn Viên tiết…

Dù phong tục đón Tết Trung thu của các quốc gia đều bắt nguồn từ Trung Quốc nhưng không phải những phong tục, tập quán đón Tết Trung thu ở đâu cũng giống nhau.

So sánh giữa Tết Trung thu của người Hoa và Tết Trung thu của người Việt, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra sự khác bệt giữa một số phong tục, tập quán như:

Người Hoa xem trọng sự sum họp, đoàn viên của gia đình trong dịp Tết Trung thu trong khi phần lớn người Việt xem Tết Trung thu là Tết thiếu nhi.

Người Việt không có thói quen thưởng nguyệt đêm trung thu trong khi người Hoa lại thường quây quần bên gia đình ngắm trăng vào đêm này.

Người Hoa thường tổ chức múa rồng lửa để cầu mong sự may mắn, thịnh vượng còn người Việt lại hay tổ chức múa lân, có ông địa dẫn đầu.

Người Việt không có nghi thức tế nguyệt (cúng mặt trăng) để cầu cho mùa màng tươi tốt, gia đình bình an trong dịp Tết Trung thu như người Hoa.

Mặc cho những khác biệt trong văn hóa, mỗi dịp Tết Trung thu về, người Hoa, người Việt và tất cả các dân tộc sinh sống tại Việt Nam đều hòa mình trong không khí ấm áp, tươi vui của ngày lễ truyền thống ý nghĩa này. – (Vũ Đình)

Trung là giữa, thu là mùa thu. trung thu là Chính giữa mùa thu. 15/8 là chính giữa mùa thu nhất – (leducphanlaw)

vi trung la o giua,thang 9 lai la mua thu – (1)

【#2】Lich Su Dao Cao Dai, 1926

T rong hai tập tài liệu trước viết xong từ mùa-thu năm Kỷ-Dậu (1969) với danh hiệu:

GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ KHAI ĐẠO TAI KIM BIÊN VÀ GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ CAO ĐÀI TỪ NĂM (1932 TỚI 1940).

Cách thức đánh máy và trình bày rất đơn sơ, văn tứ và ý thức không trọn chu đáo, Tác giả đã xem xét lại nhiều lần, nhận thấy có lắm chỗ sai lầm cần phải chỉnh-đốn nên cố tâm viết lại từng đoạn sắp xếp và trình bày phần kỹ thuật cho đẹp hơn, để thay thế cho hai tập trước để tặng cho bạn Đạo Sở, nay rút gọn lại thành một quyển sách dày, lắm công phu, cống hiến lần thứ nhì để vào văn khố và THƯ VIỆN của BAN ĐẠO SỬ TÒA-THÁNH TÂY-NINH.

Đây là thiện chí của tác giả ước mong sau cho trong BAN ĐẠO SỬ có đầy đủ nhân tài để nghiên cứu tỉ mỉ lại. Chỉnh Văn nếu cần rồi đệ trình lên Hội-Thánh Kiểm duyệt và cho phép ấn tống nếu được xác nhận rằng các đoạn văn đã viết toàn là đúng với sự thật mà Tác Giả đã cố công cứu xét từ văn kiện một trong mấy mươi năm qua.

Tòa Thánh Tây Ninh

Ngày rằm tháng 8 năm Quí Sửu

Tác giả kính cẩn

PHỐI SƯ THƯỢNG VINH THANH

TỰ : HIỂN TRUNG

NƯỚC CAO MIÊN là một nước lân bang láng giềng, nằm về phía tây Miền Nam nước Việt.

DÂN TỘC CAO MIÊN, Đại đa số theo tín ngưỡng Cổ Truyền là Phật Giáo, Bởi Vương Quốc của họ rất tôn sùng, chiêm ngưỡng đời đời, có thể nói đó là Quốc Đạo của MIÊN QUỐC, mà trên hết có Vua Sãi, dầu cho Quốc Vương đến Chùa, hay ngự tại triều mà gặp Vua Sãi thì cũng phải quì mọp lễ bái, bởi cả nước tôn sùng Vua Sãi như vị Phật Sống.

Vào Mùa Đông năm Bính Dần (1926) Đạo Cao Đài lại phổ thông hoằn hóa đến Cao Miên, chỉ trong một thời gian ngắn mà đã thu hoạch được nhiều kết quả khả quan trong dân tộc Miên.

Thổ dân Miên ngưỡng mộ Đạo Cao Đài nhờ sự tuyên truyền hữu hiệu của nhiều nhóm tín hữu qua lại biên giới MIÊN-VIỆT, họ nhận thức rằng nền Tôn Giáo nầy có một chơn lý cao siêu bao gồm cả Giáo Lý của NGŨ CHI TAM GIÁO, với bí truyền chấn hưng “PHẬT GIÁO”, Họ ý thức rằng: “TÂN TÔN GIÁO CAO ĐÀI”, do NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ sáng tạo gom các Đạo Giáo lại làm một, trong ấy có Phật Giáo đứng đầu nên họ tự nguyện hoán cựu canh tân các tư tưởng cổ truyền của Dân Tộc họ.

Vả lại nhờ huyền diệu phi thường của ĐỨC THƯỢNG ĐẾ, ban cho họ khiến họ đầy đủ đức tin, nên bao nhiêu sự phong phú về tinh thần cũng như lễ nghi thờ phượng lại phù hợp với bản tánh tôn nghiêm cổ truyền của Dân Tộc họ, lại nửa các vị Sư Sãi người miên họ Tôn sùng như Phật, nghe tin đồn tại TÂY-NINH mới nẩy sanh ra một TÂN ĐẠO GIÁO linh nghiệm, cũng vì tánh hiếu kỳ nên họ rủ nhau đến Tổ Đình TÒA-THÁNH TÂY-NINH, từng đoàn mỗi ngày một đông, dầu cho Sư Sãi hay thường dân, họ cũng chung cùng nhau đi đến tận nơi lễ bái và làm công quả, phá rừng lập công với Trời Phật, Hơn nữa họ được các Chức Sắc và chư tín hữu Nam, Nữ trong Đạo tiếp đón họ và đãi đằng cơm nước kể nhau như anh em ruột thịt, làm cho họ cảm mến, gây được ảnh hưởng Đạo Đức dồi dào, khiến họ cảm thông mau chóng, rồi tự nhiên họ trở thành Môn Đệ đầu tiên của ĐẠO CAO ĐÀI, trở về xứ họ ở tận Biên giới Miên-Việt, phô trương lý thuyết mà họ đã học hỏi nơi các Chức Sắc ở Tòa-Thánh.

Phần các Chức Sắc Tòa-Thánh thì có cảm tưởng đó là Ân Huệ của ĐỨC CHÍ TÔN ban cho mới khiến cho người Miên tự nguyện đi tìm Đạo, là một thời cơ thuận tiện để thỏa nguyện khao khác tinh thần về cuộc duy tân cải cách mà từ lâu người Việt có ý tìm tàng, mong mỏi gặp được dịp may hầu dung hòa Tâm Lý giữa người Việt và người Miên mà trót một thế kỷ qua, hai Dân Tộc nầy chung chịu số phận với sự kềm hãm dưới ách bạo tàn thống trị của ngoại bang, không có lúc nào có quyền tự chủ.

Trước Tòa-Thánh Tây-Ninh có một bửu tượng ĐỨC PHẬT TỔ kỵ lân Mã. Mặt hướng về Nước Miên, đưa tay che trán dường như tiếp đón mong chờ cả Dân Tộc CAO-MIÊN, qui về Tòa-Thánh hầu thọ hưởng ân thiên, và còn mong giải thoát nhân loại khỏi cảnh trần. Đó là Bửu Tượng của Thái Tử SĨ-ĐẠT-TA vừa rời khỏi Hoàng Cung của Vua Cha là: TỊNH PHẠN VƯƠNG HOÀNH ĐẾ nước TÂN THIÊN TRƯỚC (ẤN ĐỘ), Quyết tâm từ bỏ Điện Ngọc Ngai Vàng đi tầm chơn lý cao siêu, độ đời thoát khổ “Tứ Diệu Đề là sanh, lão, bịnh, tử” mà mọi người đều biết của Đức Phật.

Có một số người Miên rất đông, Tín ngưỡng Pho tượng Đức Phật Kỵ Mã đó, lại cho là Vị Thái-Tử của Nước Mình đã chuyển hóa, nên Kỵ Mã hướng về Kinh Đô Miên-Quốc, để mong mỏi Dân Tộc Nước Tần hối đầu hướng thiện, hầu hoàn thành một kỷ nguyên mới mẻ, hưng thạnh và Cao Thượng, tức là “Đời Thượng Nguơn Thánh Đức” đó vậy.

Việc phổ thông chơn lý tân truyền của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ chưa có một ai ở thế gian nầy thấu đáo sự kỳ diệu của nó, sự kỳ diệu đó khiến cho dân Miên tự tâm mộ Đạo, khiến cho khi về đến Tổ Đình đức tin càng mạnh. Rồi tự nhiên họ xin Nhập Môn, tình nguyện thọ lãnh Giáo Lý Cao Đài đem vô phổ thông khắp xứ, tiếng đồn gần xa, mọi người đều hướng về Toa-Thánh Tây-Ninh, rũ nhau đi đến có đoàn có lũ làm cho Chánh quyền Hoàng Gia rung động mà ban hành những biện pháp khắc khe cấm ngăn những người di chuyển của Thổ Dân về Tòa-Thánh.

Trong Tỉnh Tây-Ninh có Núi Bà-Đen tục gọi là “ĐIỆN-BÀ” cách vùng Tòa-Thánh lố 10 cây số ngàn về phía Bắc.

Trước khi có Đạo CAO ĐÀI, Nhơn Dân người Việt hay người Miên hằng đến viếng, trên núi có một ngôi chùa gọi là Chùa Bà, Thờ Bà “LINH SƠN THÁNH MẪU” rất linh thiêng, mỗi khi trong gia đình có sự bất an, nhất là về bịnh hoạn, đến đó cầu nguyện. Tại nơi Điện Thờ có một thứ nước Thiên, những người thành tâm, hiến lễ bái khấn nguyện và thỉnh nước Thiên, đựng trong một cái ve đem về cho người bịnh uống, Sự Thiêng Liêng là có huyền diệu rõ ràng, chữa trị đủ cách không lành bịnh mà khi uống nước Thiên lại hết bịnh, cũng như trong gia đạo có việc khảo đảo sau khi lên Điện cầu nguyện trở về nhà mọi việc đều được ổn thỏa.

Sau khi có ĐẠO CAO ĐÀI, Thánh Địa được mở mang, vào mùa Thu Năm Canh-Dần (1950), ĐỨC LINH SƠN THÁNH MẨU Giáng Cơ tại TRÍ GIÁC CUNG, tức là ĐỀN THỜ PHẬT MẨU ở QUI THIỆN, cầu xin Đức HỘ PHÁP, Tiến dẫn Chơn Linh Bà “LÝ THỊ THIÊN HƯƠNG” được chuyển về Tổ Đình hầu có thể siêu độ chúng sanh, trong cơ chuyển thế kỳ “Hạ Nguơn” Hoằn Khai Đại Đạo. Từ đây những người có lòng tin tưởng nơi Bà, nhận thấy không cần thiết phải đi đến non cao khẩn bái, nên họ xin thỉnh nước thiêng tại “BÁT QUÁI HỒ”, TÒA-THÁNH TÂY-NINH, đem về trị bịnh cũng linh nghiệm và có hiệu quả như lúc trước. Nhân dịp nầy họ còn được mãn nguyện về sự tiếp rước chu đáo, có nơi ăn chỗ ở, lại được lãnh Kinh Sách đem về, tụng niệm trước Thiên Bàn nơi bổn gia của họ.

Nhơn Sanh phần đông thật thà chất phát và thật tâm tín ngưởng, nên họ hằng tới lui Tổ Đình, dầu giàu hay dầu nghèo, mỗi khi đến họ đều đem lễ vật nhang đèn cúng kiến Trời Phật.

Bởi sự đi lại không ngừng của những người dân Miên Tâm Đạo, họ xem xứ Miên nối liền với Tòa-thánh như hình với bóng.

Vào đầu mùa xuân Năm Đinh Mão (1927) họ càng tới lui tấp nập, mỗi ngày con số vãng lai tăng lên gấp bội, thường là do sự hướng dẫn, của những vị Hương Chức trong làng, và các vị Sư Sãi của họ, hết đoàn nầy đi, đến đoàn khác đến, che lều dựng trại chung quanh Đền-Thánh, chiêm ngưỡng đêm ngày. Họ còn tham gia công quả vào việc khai hoang phá rừng, mở mang đường xá, trong Châu Vi Thánh Địa.

Những ngày Đại Lễ (Sóc Vọng và Ngày Vía) họ đều dâng hương hằng ngàn, hằng vạn người, bằng cớ là lúc ấy có bản Phúc Trình của Sở Tuần Cảnh đề ngày 2-6-1927, báo cáo với nhà đương quyền rằng, có hằng vạn người Cao Miên đến Lễ bái trước Chánh Điện TÒA-THÁNH CAO-ĐÀI, tại làng Long-Thành Tỉnh TÂY-NINH, Bái lễ trước Pho tượng Phật Tổ kỵ mã tại sân ĐẠI ĐỒNG XÃ. Cũng trong dịp nầy, có một vị sư sãi người Miên đắc lịnh bí mật theo dõi và quan sát. Tổng số người đi dự lễ có thể đến ba chục ngàn người và còn báo cáo thêm rằng “Tinh Thần Tín Ngưởng Mộ Đạo rất Cao”. Họ đi chiêm bái mà lại có mang theo cơm gạo, thức ăn, tiền bạc để tự túc lâu ngày. Họ chỉ trở về quê hương khi nào gần cạn số lương thực và tiền bạc của họ mang theo .

Trước làn sóng người di chuyển xôn xao như thế, Chánh Quyền Tỉnh Tây Ninh đâm ra lo ngại sợ có cuộc biểu tình, hoặc sách động quần chúng, đem lính tráng đến giữ an ninh làm cho tình thế trở nên nghiêm trọng.

Tổng Trưởng Bộ Tôn của Chánh Phủ CAO MIÊN, rất bất bình với thái độ của các Sư Sãi Miên và tự hỏi tại sao các vị nầy hướng dẫn một số Thổ Dân về TÒA-THÁNH TÂY-NINH, đem trọn tinh thần, tín ngưỡng về Tân Tôn Giáo Cao Đài, mà quên tục lệ Cổ Truyền. Nên Chánh Quyền Miên tìm phương chận đứng sự di chuyển của người bổn xứ họ, cấm chỉ vượt biên giới sang Tây-Ninh. Ông Tổng Trưởng Bộ Tôn Giáo ra một Thông Tri đề ngày 25-5-1927, đề cập tới Đạo Cao Đài Nguyên Văn bằng chữ Pháp dịch ra như sau :

“Sau khi nghiên cứu tận nơi rất kỷ lưỡng, ta nhận định rằng Tôn-Giáo Cao-Đài tạo dựng trong trường hợp bất chánh đáng trách, bởi họ lợi dụng Tôn Giáo để làm phương chăm, lường gạt Quốc Dân ta qui về Họ đặng lợi dụng lòng tín ngưỡng đem quyền lợi riêng tư về cho nhóm của họ .

“Giáo Lý của Phật-Giáo mà cả dân Tộc Cao-Miên đả thấm nhuần và đang dìu đắt chúng ta đến tận thiện tận mỹ, Thì ngoài Đạo-Phật của ta ra, không một Tôn-Giáo nào được đến choán chỗ trên quê hương chúng ta được.”

Thông Tri nầy kêu gọi dân chúng Miên Quốc nên hướng sự tín ngưỡng trở về Phật Giáo cổ truyền và khuyến cáo Quốc Dân nên lưu ý đề phòng sự nguy hiểm của Đạo Cao Đài, bởi Đạo nầy là người Việt Nam tạo ra khuynh hướng lật đổ các truyền thống cổ truyền của Vương Quốc.

Tháng 6 Năm 1927, có nhiều Huấn Thị rõ rệt hơn, gởi đến các vị Sư Sãi nhắc đi nhắc lại rằng Chánh-Phủ Hoàng-Gia có bổn phận ngăn cấm Giáo-Lý Cao-Đài, Vì Giáo-Lý nầy trái với Bản Hiến Pháp Quốc Gia, lại trái hẳn với những điều cấm răn của Phật Tổ, lại làm hoen ố tác phong của nhà Phật Tử.

Việc ngăn cấm nầy củng có đem lại sự kết quả phần nào sự vãng lai của dân Miên suy giảm, nhưng cuộc di chuyển, từng đoàn người cũng còn tiếp tục âm thầm. Công cuộc phổ thông Chơn Giáo được thận trọng hơn, thay chiều đổi hướng, hoán cổ canh tân trong việc thờ phượng, lễ bái một cách rõ rệt.

Tiếp theo lại có biện pháp khắt khe quyết liệt hơn trong cuộc chặn đứng các cuộc di chuyển của Tần Nhơn, hướng về Biên Giao Lý Miên Việt, cấm hẳn các việc tuyên truyền, có ảnh hưởng tốt cho Tân Đạo Giáo. Bởi Xứ Cao Miên đặt dưới quyền bảo hộ của Chánh Phủ Pháp nên biện Pháp nầy dể dàng ban bố lan rộng đến Miền Nam nước Việt cũng như ở nước Miên.

Miền Nam Việt Nam là thuộc địa của Pháp, qui tùng Pháp chế của Pháp, nên hưởng được sự tự do tín ngưỡng rộng rãi hơn, nước Miên là một Vương Quốc trong thể chế Bảo Hộ.

Bới thế nên Đạo Cao Đài bị công khai lên án là: “Tà-Giáo” do một sắc luật của Vua Cao Miên ban hành ngày 25-12-1926, tiếp theo đó lại có Sắc Chỉ thứ hai đề ngày 6-2-1927, ấn định hình phạt đối với Dân Miên nào nhìn nhận là đã Nhập Môn theo Đạo Cao Đài, hoặc có tham dự các cuộc lễ bái Quan Hôn, Tang Tế của Đạo Cao Đài, mà Chánh Phủ Hoàng Gia không thừa nhận.

Sắc Chỉ còn tham chiếu điều thứ 15 của Hòa Ước Bảo Hộ ngày 11-8-1963 và những Sắc Luật của Hoàng Gia đề ngày 21-11-1903, Ngày (6-8-1919) Ngày 31-12-1925, cũng như Sắc Luật mới của Nhà Vua đề ngày (1-4-1930) bổ túc các điều khoản nêu trên.

Tham chiếu điều thứ 149, 213 và 214 của Bộ Hình Luật Cao-Miên thì Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo là hai Tôn Giáo được phép tự do tín ngưỡng trong xứ Cao Miên.

Còn TIN LÀNH chỉ được hành Đạo với điều kiện là người Tín Đồ TIN LÀNH GIÁO phải là người có Quốc Tịch Pháp mới được.

Bởi các cớ trên, nên gần ngót một năm, con số người Miên đến Tòa-Thánh Tây-Ninh lần lần giảm bớt, trái lại việc phổ thông truyền giáo trên đất Miên vẫn tiếp tục có hiệu quả với sự khôn khéo và kín đáo của các nhà truyền giáo Cao Đài, hoặc Miên, hoặc Việt.

Hạ tuần tháng ba năm Đinh Mão (AVIRIL 1927) ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, đang làm Công Chức tại Sở Thương Chánh Saigon, Nhờ sự biến chuyển Thiêng Liêng của ĐỨC CHÍ TÔN đã báo trước, được thuyên chuyển lên Kim Biên mở Đạo, ở đậu tại nhà Ông CAO ĐỨC TRỌNG (sau lại ĐỨC CHÍ TÔN giáng phong Ông Cao Đức Trọng vào hàng phẩm TIẾP ĐẠO là một Chức Sắc trong Thập Nhị Thời Quân.

Buổi ban sơ nhờ sự xây bàn cầu cơ mà quyến rủ được một số Anh-Em toàn là công tư Chức, hướng dẫn đức tin của họ về Tân Giáo Lý CAO ĐÀI.

Trong một đàn cơ vào lối tháng Năm 5 Dương Lịch Năm (1927), có một Đấng Thiêng Liêng Giáng Cơ xưng là: CHƯỞNG ĐẠO NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN hay VICTORHUGO, tức là nhà Đại Văn Hào Trứ Danh của Nước Pháp, mà ai ai cũng đều nghe danh.

Sau bao ngày liên tiếp, Đức Ngài Giáng Cơ dạy Đạo bằng những Thi Văn rất tài tình làm cho mọi người đều thán phục, Ngài mới cho biết rằng: Ngài Lãnh Sắc Chỉ NGỌC HƯ CUNG, đến làm CHƯỞNG GIÁO hướng Đạo cho nhơn loại buổi Hạ Nguơn nầy, tạo lập Hội Thánh Ngoại Giáo (NISSIO ETRNGERE) và (THIÊN NHƠN HÒA ƯỚC).

Và từ đây nền tảng cuộc Truyền Giáo bắt đầu xây dựng dưới sự hướng dẫn của Ngài, mà mỗi khi giảng dạy, Ngài xưng Danh là: CHƯỞNG ĐẠO NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN hay là VICTOR HUGO.

Trở lại những biện pháp khắc khe do bao nhiêu Sắc Luật của Chánh Phủ Hoàng Gia, công cuộc phổ thong Chơn Giáo Cao Đài phải thay đổi chiều hướng, thay vì ăn sâu vào quần chúng Cao Miên, các nhà truyền giáo cố tâm phổ thông trong hàng Việt Kiều ở rải rác trong toàn xứ Cao Miên, nhờ vậy mà né tránh những qui chế quá ư nghiêm nghị của Chánh Phủ Miên Triều. Duyên cớ là toàn thể Việt Kiều đang sanh sống tại Miên Quốc, nhất là tại Thủ Đô Nam Vang, đều là Công Dân ở Miền-Nam Việt-Nam, thuở Ấy gọi là: (Nam-Kỳ) Thuộc Địa của Pháp, hưởng qui chế Pháp cũng như những người Việt Nam khác, Phổ thông Đạo Giáo của họ. Còn về phần Hoa Kiều thì họ được thong thả về tư tưởng bởi không có qui chế nào ngăn cản họ nhập vào Đạo Giáo của họ ưa thích, Mặc dầu Chánh Phủ Hoàng Gia ra nhiều Sắc Luật nghiêm cấm công khai, thế mà qua năm Mậu Thìn (1928), Đạo Giáo Cao Đài mạnh mẻ lan tràn sâu rộng trên toàn lãnh thổ Cao Miên.

Đầu tiên là trong tỉnh (PREYVENG) kế tiếp là Tỉnh (SVEYRIENG), giáp ranh Tỉnh Tây Ninh đã có hàng ngàn, hàng vạn người Việt- Kiều và Hoa Kiều nhập môn Cầu Đạo, đặc biệt có một điều là với sự bền tâm thiện chí, cố tránh mọi sự va chạm với Chánh Quyền Miên, cũng như Pháp, các Chức Sắc Chức Việc và toàn thể Bổn Đạo tỏ vẻ không hề quan tâm đến Dân Chúng Cao Miên, mà chỉ chủ tâm lôi cuốn phần đông Việt Kiều và Hoa Kiều đem vào cửa Đạo. Với thái độ như vậy, Chánh Quyền Miên cũng hơi yên tâm một lúc.

Muốn cho dể dàng trong việc truyền giáo khắp nơi trong Miên Quốc, Chư Thiện Nam tín Nữ Hoa Việt có sáng kiến tự nhủ nhau mỗi người đồng tâm nhứt trí lập tờ Cam Đoan với Chánh Quyền Pháp cũng như với Chánh Quyền Hoàng Gia như sau:

“Chúng tôi tự nguyện kể từ đây sanh hoạt theo một đời sống Đạo Đức, Nghĩa Nhân, đầy đủ Bác Ái Công Bình, trọn tuân theo luật Pháp của Đại-Đạo Cao-Đài, mà nguồn cội tại TÒA-THÁNH TÂY-NINH, với sứ mạng cao thượng của các Đấng trọn lành nơi Cỏi Thiêng Liêng Hằng Sống là :

“QUI NGUYÊN TAM GIÁO, THỐNG HIỆP NGŨ CHI, HOẰNG KHAI ĐẠI ĐẠO, Khắp Năm Châu Thế Giới, Hầu tận độ chúng sanh chung hưởng cảnh Thái Bình với một kỷ nguyên (ĐẠI ĐỒNG HUYNH ĐỆ).

“Chúng Tôi thành thật cam kết với Chánh Phủ rằng: Chúng Tôi không bao giờ vô tình hay cố ý làm một điều chi vi phạm đến sự Trị An Quốc Gia.

“Nếu chúng Tôi thất tín với Chánh Quyền thì cả thảy chúng tôi chịu tội Tử Hình y theo Quốc Pháp.”

Với những đàn cúng thường, hay thiết lễ tại các Tư Gia, nhờ sự Tổ Chức khôn khéo mà đem ảnh hưởng chơn lý phổ thông sâu rộng. mỗi khi có việc Quan Hôn, Tang Tế sự, thì chủ gia thừa dịp mời bà con cùng thân bằng quyến thuộc đến tham dự đông đảo, nhờ sự tổ chức khôn khéo, ôn hòa và thận trọng như thế mà mỗi dịp, đều có kết quả khả quan là lúc nào cũng có người đến xin nhập môn cầu Đạo.

Mặc nhiên Nhà Chức Trách ở Đô Thị cũng như ở tỉnh hằng phái người dọ thám để xem hành vi của Chức Sắc Truyền Giáo và Chư Đạo Hữu mới Nhập Môn để mong thâu thập ít nhiều tin tức. Nhưng trong bao nhiêu báo cáo, Phúc Trình của Mật Vụ, toàn là tin thất thiệt, cố ý thổi phồng mỗi việc để kiếm lời ban khen. Chẳng có một sự việc nào báo Cáo về CAO ĐÀI mà Chư Đạo Hữu hân-hạnh được Nhà Cầm Quyền đãi ngộ đúng đắn cả, bởi sự đối đãi hẹp hòi ấy mà gây ảnh hưởng phản ứng trong tâm hồn quần chúng, và cũng do đó mà các Chức Sắc, Chức Việc càng thận trọng hơn trong việc Truyền Giáo Phổ Thông.

Danh nghĩa và Tôn Chỉ của Đạo Cao Đài lại càng lan rộng ra khắp Miền Tây Vương Quốc, ngoài hai tỉnh (FRY-VONG và SVAY-RIENG) giờ lại đến Tỉnh Tà-Keo và đáng kể nhứt, quan trọng nhứt là Trung Tâm Thủ Đô Nam Vang, Giáo Lý Cao Đài được phổ biến sâu rộng.

Nhờ vậy mà trong dịp lễ Thượng Nguơn, năm Kỷ Tỵ (1929) Người Miên trở lại đi tầm Đạo hướng vế TÒA-THÁNH TÂY-NINH, mặc dầu con số có kém hơn các năm về trước (tức năm 1926-1927) Nhà đương quyền Miên được báo động, cấp thời lo cản trở sự di chuyển của dân Miên, và dùng những biện pháp hành chánh khắc khe đối với ĐẠO CAO ĐÀI đương cơn phát triển.

Các Ty, Sở, An Ninh, Tình Báo Quốc Phòng đồng ấn định phương pháp đối phó, bằng cách ra Châu Tri, Bố Cáo cho toàn dân Miên để dụ họ phải trung thành với Giáo Lý Nhà Phật, không nên theo một Đạo Giáo nào mà Chánh Phủ cấm đoán. Ai biết hối ngộ sẽ được ưu đãi, ai cải lời sẻ bị trừng phạt. Nhưng phía dân chúng lại có phản ứng bằng cách tuyên truyền rằng ĐỨC PHẬT hiện ở Tây-Ninh. Bằng cớ là Pho Tượng của Thái Tử Sĩ Đạt Ta đã chuyển hóa, kỵ mã trước Tổ Đình, ấy là vị cứu tinh giáng thế, mà từ lâu dân chúng Miên hằng mong đợi. Vì vậy người nầy rủ người kia, đồng hè nhau đi hành hương cúng Phật như mấy năm về trước.

Chánh Quyền Hoàng Gia thấy không thể khuyên nhũ bằng Châu Tri, Bố Cáo bèn ra lịnh cho lực lượng Cảnh Sát đứng ra ngăn chận làn sóng người Miên đương rời Vương Quốc, di chuyển đi hành hương nơi Tổ Đình TÒA-THÁNH TÂY-NINH, số người di chuyển rất đông đảo, lính tráng chỉ áp đảo một phần nào thôi, còn bao nhiêu đều qua lọt biên giới.

Cùng lúc ấy không dễ gì xin phép cất tiểu Thánh-Thất trên đất Miên được, bởi kể vào đơn xin phép thì đơn bị bát, muốn lướt được Chánh Quyền Địa Phương thì phải ngụy trang, đục cột đẽo kèo một nơi nào đó, sắp đặt những món cần thiết trong việc cất nhà, rồi tối lại Chư Đạo Hữu ráp nhau dựng lên, lợp lá hay lợp thiết, làng xã hay biết, thì đứng trước một việc đã rồi, đành lập Vi Bằng giải đến Quan Tỉnh, nơi nào dễ thì biên phạt nhẹ một số tiền, chớ không hề bị bắt buộc dở nhà, bên trong nhà thì lập Thiên Bàn cúng kiến, Chư Đạo Hữu hội họp dưới 20 người thì không phạm luật, đó là tiêu chuẩn Thánh-Thất ngụy trang, rồi lần lượt thành thói quen, Làng Xã chỉ dòm chừng chớ không làm khó. Kế hoạch nầy lan tràn trong các Tỉnh, nên nhiều nơi đã có Tiểu Thánh Thất là nơi hội họp cúng kiến.

Còn tại Thủ Đô Miên Quốc, Hội Thánh Ngoại Giáo dưới quyền Chủ Trưởng của Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, có sứ mạng phải lo tạo dựng một ngôi Thánh Đường, cho trang nghiêm đồ sộ để qui tụ các Tinh Thần Đạo Giáo về đó, dự định cất Thánh-Thất Tại Kim- Biên, kéo dài từ năm (1930) đến năm (1937) mới xong và ăn lễ khánh thành.

Chánh Quyền Cao Miên rất lo ngại mà nhận thức các đơn vị truyền giáo của Cao Đài càng ngày càng bành trướng, nhưng theo qui chế bảo hộ, thì những người công dân Nam Việt là người thuộc địa Pháp, ngoài vòng qui chế của Hoàng Gia nên họ vẫn được tự do, trong việc truyền bá của họ.

V. HOÀNG GIA CAO MIÊN CẦU CỨU VỚI CHÁNH QUYỀN BẢO HỘ

Nhận được thông điệp của Nhà Vua, Quan Khâm Sứ Bảo Hộ liền thân hành đến hội đàm với bạn đồng liêu, là Quan Thống Đốc Nam Kỳ Saigon để tham khảo ý kiến, khi trở về Nam Vang, Quan Khâm sứ đến trình bày cùng Quốc Vương về trách vụ khó khăn của Ông trong vấn đề Pháp lý như vầy:

“Tôn Giáo Cao Đài đã được Chánh Quyền Pháp chấp nhận cho Hoằng Hóa khắp Ngũ Châu do bức đơn Chánh Thức đề ngày 25 tháng 8 Năm Bính-Dần (dl: 29-9-1926) mà Pháp Triều đã nhìn nhận”.

Quốc Vương Cao Miên và Quan Khâm Sứ Bảo Hộ đành phải nhìn nhận Pháp Lý, nên có ra một quyết nghị chung chế giảm cho Đạo Cao Đài Hoằng Hóa trong số người Việt Nam trên lãnh thổ Cao Miên, trừ dân bổn xứ là người (KHME). Tuy nhiên họ có tầm hạn chế việc tạo lập Thánh-Thất mà chỉ nhìn nhận số Thánh-Thất đang có trong đó thôi, không cho gia tăng, và cũng ngấm ngầm phá rối.

“Trong lúc gần đây những vị Lãnh Đạo của một Tôn Giáo mới, tuyên truyền rằng, Dân Tộc Cao Miên có Tân Quốc Vương giáng lâm tại Tòa-Thánh Cao-Đài ở Tỉnh Tây-Ninh (Nam-Kỳ), nên một số dân Miên đáng kể, võ trang đao kiếm đến triêm bái nơi đó ngót vạn người”.

Nghe như vậy Quan Thống Đốc Nam Kỳ (BLANCHARD DE LA BUOSSO) hiệp với Quan Khâm Sứ Đại Thần của Vua (MONIVONG), cùng với các Quan Giám Đốc Sở Mật Thám Nam Kỳ và Cao Miên lập thành một phái đoàn đến tận TÒA-THÁNH TÂY-NINH để quan-sát.

Ông (DE LA BROSSO) ý kiến với Đức Quyền Giáo Tông THƯỢNG TRUNG NHỰT, và xin nhờ Ngài đính chánh tin đồn trong tờ báo nói rằng: “Có vì Tân Quốc Vương xuất hiện” đồng thời ngỏ ý buộc Đức Quyền Giáo Tông phải chịu trách nhiệm nếu có biến cố xảy ra do tin đồn ấy.

ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, không ngần ngại tuyên bố rằng: “Bần Đạo nhơn danh Giáo Tông ĐẠO CAO ĐÀI, lấy danh dự chịu mọi trách nhiệm về tin đồn mấy Ông vừa nói, đó là một điều mỉa mai, tôi tin không bao giờ có sự thật như vậy”.

Nắm được cơ hội thuận tiện nầy, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, liền gởi cho toàn Đạo ở Nam Kỳ một bức thông điệp ban hành sự tự do tín ngưỡng. Về phía Cao-Miên, Ngài dạy Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, Chủ Trưởng Ngoại Giáo, phải nương dịp nầy mà phổ biến khắp nơi trên Tần Quốc cho Chư Tín Hữu vững tâm truyền giáo.

Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, lịnh thông truyền cho toàn Đạo trong Miên Quốc, đồng thời cũng gởi thông báo cho các Quan Tham Biện Chủ Tỉnh và Chánh Quyền Cao Miên được Tường Tri.

Trong Thông Điệp, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG khuyên nhũ chư Đạo Hữu lúc nào cũng phải tuân hành luật Pháp Quốc Gia, và tỏ vẻ Đạo Đức để nêu gương cho sanh chúng mà nền Đạo cũng được êm ấm đối với Chánh Quyền của mỗi Quốc Gia.

Trọn năm Kỷ Tỵ (1929) trôi qua, không một sự việc gì xảy ra đối với bức thông điệp trên, đằng khác Hội Thánh và các Chức Sắc Địa Phương hằng ra Châu Tri nhắc nhở toàn Đạo, Mọi Tín Hữu an phận Tu Hành, chẳng nên va chạm đến Pháp Luật, trong Đạo cũng như ngoài đời.

Nhờ sự tu chỉnh nội dung của Nền Hành Chánh Đạo. Nên mọi sự tiến triển điều hòa, Nhơn Sanh Nhập Môn càng ngày càng đông mà được an ninh trật tự mọi nơi, làm cho Chánh Quyền được vững tâm mà để yên cho Chức Sắc Hành Đạo.

Trong Những cuộc Quan Hôn, Tang Tế Sự, hoặc là lễ giỗ của Tổ Tiên nơi các Tư Gia của Đạo Hữu, đó là cơ hội thuận tiện để biểu dương tinh thần Bác Ái, thủ tục vãng lai, Chư Chức Sắc, Chức Việc đứng ra lo lắng tổ chức các cuộc hành lễ trang nghiêm và cũng không quên xin phép với Chánh Quyền. Mỗi khi có cúng tế là cuộc hội họp rất đông đảo, có Nhạc Sỉ, Đồng Nhi luân phiên cúng kiến, kế tiếp tụng Kinh không dứt. Những dịp nầy như vậy cũng hiếm có, mà mỗi khi có là cơ hội lôi cuốn tinh thần Dân Chúng hiếu kỳ đến xem đông đảo, trật tự an ninh có phần náo nhiệt, nhưng nhờ sự tổ chức chu đáo nên không có sự gì xảy ra đáng tiếc.

Đây trở lại vụ tạo dựng Thánh Thất Kim Biên, Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, Chủ Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo, sau khi tìm được một miếng đất gần Châu Thành, có giếng nước rộng bề dài khoảng (200 mét), bề ngàng khoảng (100 Mét) Của Ông (GROSLLER) là một người Pháp đương dùng làm rẫy nay không dùng nữa, nên nhường lại cho Bổn Đạo, một dịp rất may là người Pháp nầy lại là một Ông Chủ Sở của một Chức Sắc Cao-Đài là GIÁO HỮU THƯỢNG VINH THANH, Tức Là Ông Trần Quang Vinh (là Phối Sư hiện nay đó), Nên Ông nhường không, nghĩa là Ông hiến không bán, Bổn Đạo chỉ hoàn lại cho Ông một số bạc (Bốn trăm đồng Ông đào giếng Nước và xây Ciment) Ông có làm giấy hẳn hòi.

Sau lại Chánh Quyền Pháp muốn làm khó cho Đạo có mời ông đến hỏi, có ý muốn xúi ông ấy lấy đất lại, Ông bèn trả lời rằng : “Đất của tôi, Tôi có quyền chuyển nhượng cho ai tự ý tôi, chỉ có thế thôi”. Nên miếng đất ấy trở nên của Đạo, mà Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH thay mặt làm chủ.

Sở Đất nầy nằm ngay mặt tiền chạy dài theo đường (Fierre pasquier) mặt hậu có bưng, Phía Bắc và Phía Nam có hàng rào dày đặt trồng bằng cây tươi. Vị trí rất thuận tiện, cách Chợ Nam-Vang một cây số ngàn (1000 Mét).

Lúc ấy miếng đất còn trống, nên Hội-Thánh cho phép người Đạo Hữu hiến thân cất nhà lá ở chung quanh tùy theo chỉ số định, còn bên trong dài theo bưng cất Văn Phòng Cửu Viện dài cỡ (30 mét), ngang 10 mét) phía sau là nhà cao cẳng tạm cho Ông Chủ Trưởng ở làm Việc, các nơi trống thì trồng hàng bông, chính giữa miếng đất chừa một khoảng thật rộng để làm Thánh-Thất.

Công việc tạo tác là một việc thiết yếu nhứt, cần phải vận động tích cực, về mặt tài chánh hầu cung ứng vật liệu theo nhu cầu để mong kiến tạo một ngôi thờ xứng đáng.

Một mặt thì Hội-Thánh Ngoại-Giáo những việc trình diễn Văn Nghệ Cổ Ca, Đồng bào Việt Kiều đến xem đông nghẹt. Nhân dịp đó mà Hội-Thánh quyên góp được một số tiền đáng kể, nhưng không đủ. Mặt khác Châu Tri cho Toàn Đạo trong Xứ Miên, các Tỉnh Đạo đóng góp lần lần, phương tiện tài chánh đến đâu thì mua vật liệu đến đó, còn công quả thì khỏi nói, ai ai cũng muốn giúp cho có công với Đạo, nhờ vậy mà ngôi Thánh Đường đồ sộ được tạo dựng nơi ấy, nay biến thành trung tâm Thành Phố.

Cũng nên xác nhận rằng việc xin phép cất Thánh-Thất, gặp nhiều trở ngại, không một Chánh Quyền nào, Đô Thị cũng như Hành Chánh dám cấp giấy phép. Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, đi vận động khắp các nơi, từ Hoàng Gia đến Thị Xã, rốt cuộc cũng không được, có ai dám cho phép, vì họ nghi ngại Cao Đài làm Chánh Trị rồi lôi cuốn công dân của họ.

Tuy nhiên việc gì đến sẽ đến, bị thúc giục rát quá, cấp bách quá, nên Ông Đô Trưởng bảo:

“Tôi không có quyền cho phép bằng giấy tờ, nhưng nhắm mắt để mấy ông làm, rồi hậu quả ra sao mấy ông chịu”.

Nhờ vậy mà Bổn Đạo làm càng, ráp nhau xây dựng gắp rút hoàn thành trong một thời gian kỷ lục.

Sau lại, Ông THƯỢNG BẢY THANH cũng bị cò bót đòi hỏi, công việc kéo dài cho đến năm (1942) là năm Thánh-Thất bị Chánh Quyền trưng dụng rồi dở luôn.

Chánh Phủ Miên trưng dụng sở đất nầy và thế cho sở đất hiện tại Ở (FUOT SVAY-PREY) hộ Đệ Ngũ, Châu Thành Nam Vang mà Hiện nay ngôi Thánh Thất rất khang trang tọa lạc tại Số 226 đường (PHIAUV FREAK BAT FORODOM, PHNOM PENH).

Sau một thời gian không lâu tiếp theo bức thông điệp của Đức QUYỀN GIÁO TÔNG, mặc dầu nền Đạo đương êm đềm tiến triển, Chánh Phủ Hoàng Gia và Chánh Phủ Bảo Hộ tự nhiên thay đổi thái độ, bãi bỏ chánh sách khoan hồng, đương đối xử với Đạo Giáo Cao Đài. Họ trở lại hiến chế Cao Miên để áp đảo Việt Kiều trong vấn đề Tôn Giáo, bắt buộc mỗi khi có tế lễ cúng kiến, dầu tại tư gia hay là trong Thánh-Thất, thì phải xin phép Chánh Quyền. Đây là vào lối năm (1930) tình hình chung trong xứ không được yên tịnh.

Ngày 4-7-1930, Quan Khâm xứ Cao-Miên ra Chỉ thị cho các Quan Tham Biện Chủ Tỉnh. Nguyên văn bản thông dịch như sau :

“Hiện nay có biến động, để ngăn ngừa mọi việc hội họp có thể gây rối và tổn thương chánh sách trị an, bổn chức nhứt định thủ tiêu Pháp Chế khoan hồng mà từ lâu đã áp dụng tương đối với Tôn Giáo CAO ĐÀI, cho đến khi có lịnh mới.

“Vậy Kể từ ngày ra Chỉ Thị nầy, Bổn Chức nghiêm cấm Đạo Cao Đài hành lễ cúng kiến, bất luận dưới hình thức nào, lớn nhỏ cũng thế, nếu có ai còn tổ chức hành lễ cúng tế, thì vị Công sứ Chủ Tỉnh có bổn phận ngăn ngừa nghiêm nhặt, không cho cuộc lễ đó xảy ra, nhưng không nên ngược đãi họ, trừ trường hợp họ bành trướng công khai giữa đường phố thì nhà đương quyền phải cấm chỉ hẳn chẳng nên dung thứ.

“Nếu có xảy ra trường hợp như thế Bổn Chức yêu cầu các Giới Chức hãy lấy lý lịch của những người Chủ Trương Tổ Chức cuộc lễ ấy, rồi lập tức cấp báo bằng điện tín cho bổn sứ rõ liền. Bổn Chức sẽ có biện pháp đối phó bằng cách buộc họ phải tuân hành thủ tục hành chánh là trục ngoại họ ra khỏi lãnh Thổ Cao Miên.

“Bổn Chức yêu cầu các quan Công Sứ Tỉnh phải ban hành sâu rộng chỉ thị nầy cho toàn thể dân chúng đều biết.”

Báo Chí bên Pháp đã công khai, nhấn mạnh nhiều bài trong đề tài “Áp Chế Tôn Giáo” nêu rành từ sự việc của các nạn nhân, toàn là tín đồ của Đạo Cao Đài.

Như vừa qua vài ngày 11-5-1930 tại Tỉnh Tà Keo có bà Góa Phụ Huỳnh Thị Trọng, Cúng Lễ Giỗ Tổ Tiên theo nghi thức Tôn Giáo Cao Đài, bị Nhà Cầm Quyền địa phương bắt giam, nhà cửa bị đập phá tan hoan, theo lịnh của Quan Chủ Tỉnh, sở tại đã mâu thuẫn cho phép bằng khẩu lịnh để sau nầy dể đính chánh.

Nạn Nhân sau khi được trả tự do, bèn làm đơn tố giác ra tòa án, nội vụ có đầy đủ chứng cớ, kết cuộc Tòa Thượng Thẩm Saigon chỉ cảnh cáo suôn Nhân Viên Công Lực thừa hành Chức Vụ. Quả có thi hành bổn phận ngoài ý định của Thượng Cấp, đập phá vỡ tan đồ thờ phượng cúng kiến, thiêu hủy Thánh Tượng đang thờ (Do Nghị Định ngày 16-4-1929) của Quan Khâm sứ bảo hộ mà không bị chi hết.

Một bức thư của Hội Nhân Quyền bên Pháp Quốc đề ngày 12-2-1932 gởi cho Tổng Trưởng Bộ Thuộc Địa đề cập đến trường hợp của một Hoa Kiều tên (TỀ-LIN), có Vợ Việt-Nam sanh được 3 đứa con, đã từng sanh sống tại Cao-Miên trên 20 Năm qua, đã bị trục xuất khỏi Đông-Dương, do nghị định của Quan Khâm sứ Bảo Hộ đề ngày 2-7-1929, chỉ vì tội có tham dự lễ giỗ Tổ Tiên của một gia đình có Đạo Cao Đài, mà cuộc cúng kiến gồm vỏn vẹn có 9 vị bà con thân quyến, hơn nữa là đã có giấy phép của Chánh Quyền địa phương ký cho.

Ngày 19-11-1930 Sở Cảnh Sát Đô Thành cho Nhân Viên đến Tịch-thâu, mà không cần hỏi giấy phép chuyên chở những Pho Tượng Phật do Chư Đạo Hữu địa phương gởi hiến cho Đạo, khi một chiếc tàu (CHALOUPE) vừa cập bến để di chuyển đến Thánh-Thất Kim Biên.

Chẳng những như thế mà thôi, người ta còn mục kiến rõ ràng hơn những vụ lính tráng bao vây lục xét nhà cửa trong Châu Vi Thánh-Thất một cách phi pháp, không riêng vì chủ trương đập phá Thánh Tượng và nghi thức thờ phượng mà lại còn thêm những vụ bắt bớ giam cầm tra khảo dã man nữa. Đây là một việc thử thách hi hữu rất nên trọng hệ mà không bao giờ cả tín đồ Đạo Cao Đài nơi đây xao lãng được.

Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, Chủ Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo, có vào đơn với Chánh Quyền xin phép thiết lễ cúng rằm Trung Nguơn, Tại Thánh-Thất Kim-Biên vào ngày 7 và 8 tháng 9 Năm 1930 (Canh Ngọ). Thay vì từ chối hay cho phép, Chánh Quyền ra mật lịnh đề ngày 6-9-1930, cho Sở Công-An và Cảnh-Sát, đến bao vây Thánh-Thất, lục soát, và bắt tất cả những người ở trong nhà kể cả khách khứa.

Vụ bao vây và bắt bớ nầy đặt dưới quyền chỉ huy toàn quyền hành động của nhân viên Mật Thám (DESFRANCOIS) thi hành thủ đoạn đêm (7-9-1930) lúc 20 giờ 15.

Liền đó Ông Chủ Trưởng Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH (Lê Văn Bảy) và 97 Vị trong đó có cả Chức Sắc, Chức Việc và Đạo Hữu Nam, Nữ, ở các nhà chung quanh Thánh Đường, chờ đến giờ Tý (12 Giờ đêm) cúng Đại Đàn, 98 Vị Đạo Hữu bị bắt, dẫn ra đường sắp hàng hai dưới trận mưa tầm tả, đem về tống giam vào khám tất cả.

Mãi đến hai ngày sau tức là ngày 9-9-1930, Ông Giáo Sư Chủ Trưởng, đang bị giam trong khám, mới được giấy cáo tri của Nhà Cầm Quyền cho biết là đơn xin phép của ông bị bát bỏ, nghĩa là không được phép cúng rằm Trung Nguơn, mà ngày rằm tức là đêm 7-9-1930 qua rồi.

Qua đến ngày thứ ba, tức là ngày 10-9-1930, tất cả đều được trả tự do trong ba ngày bị giam cầm, không một ai bị thẩm vấn cả, nhưng bị đưa ra Tòa Án về Tội hội họp không xin phép.

Tại Phiên Tòa ngày 20-5-1931 Tòa Sơ Thẩm Nam Vang lên án các bị can như sau:

TUYÊN PHẠT

Ông LÊ VĂN BẢY, Giáo Sư Chủ Trưởng 200 quan tiền vạ; Chức Sắc Chức Việc 100 quan; Tín Đồ Nam, Nữ mỗi người 50 quan.

Tòa Án còn nghiêm khắc tuyên bố giải tán Giáo Hội Cao Đài tại Cao Miên, vì không thích hợp với Hiến chế hiện hành.

Trong bản án, Ông Chánh Án Tòa Sơ Thẩm chiếu theo các điều khoản trong bộ hình luật, cấm các cuộc hội họp công khai quá 20 người mà không có giấy phép, và cũng căn cứ vào các qui điều pháp định trong Bộ Hình Luật của Chánh Phủ Hoàng Gia và các Sắc Luật của Miên Triều Qui Định, sự hành lệ theo Tôn Giáo tại nước Cao Miên.

Về Phần bào chữa, Ông Trạng Sư Tòa Thượng Thẩm Saigon (LORTAT-JACOB), Đã biện minh rõ rệt lý lẻ nội vụ và minh định rằng trước khi có cuộc lễ, Ông LÊ VĂN BẢY đã vào đơn xin phép đàng hoàng, nhưng trong lúc chờ đợi mọi người đều bị bắt trước giờ hành lễ, làm cho cuộc lễ bất thành, hơn nữa giấy cáo tri của nhà đương quyền bát đơn chỉ đem trao cho Ông LÊ VĂN BẢY hai ngày sau khi Ông đã bị bắt giam trong khám.

Sau khi bào chữa rất dài mà Ban Đạo Sử còn giữ đặng trong quyển (LES MARTYRS) do LA FOI MOUVELIE, Ông Trạng Sư nhấn mạnh rằng :

“Truy nã họ là bất hợp pháp và bất hợp hiến” hơn nửa Ông chứng minh rằng “Những Thân Chủ Tôi đều là những người Tâm Đạo”.

Ông LÊ VĂN BẢY, Chống án lên Tòa Thượng Thẩm Saigon.

Trong Phiên xử ngày 7-11-1931, xác nhận bản án Tòa Sơ Thẩm Nam Vang, nhưng chế giảm số tiền phạt vạ còn từ 100 quan trở xuống 16 quan, lại hưởng được án treo.

Vụ nầy Trạng Sư thượng tờ lên Tòa Phá Án bị bát đơn, ngày 31-1-1932.

May thay cách vài tuần sau do một Đạo Luật Ân Xá của Quốc Hội Pháp đề ngày 16-12-1932 ban bố sự tư do, tín ngưỡng cho Đạo Cao Đài, nên các án tiết, các vụ phạt vạ có liên hệ đến các vụ hội họp lễ bái, các quyền Tự Do của Tín Đồ Cao Đài đều được ân xá. Nhờ sự vận động tại Pháp Quốc của: Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH, với sự can-thiệp của Hội Nhơn Quyền và nhiều Nghị Sĩ, nhiều báo chí đã dày công binh vực Đạo.

Về Vấn đề Tòa Án cũng trong một lúc mà có việc mâu thuẫn xảy ra trong việc xử tụng, như ở Tỉnh Bạc Liêu Tín Đồ Cao Đài cũng nhóm họp cúng kiến, cũng bị bắt giải tòa, đến ngày xét xử, Quan Chánh Án Tòa Sơ Thẩm, với lý do là Đạo Giáo Cao Đài, không phải là một Hiệp Hội, nên tha bổng Nội vụ, Quan Biện Lý Thượng Tố lên Tòa Thượng Thẩm Saigon xác nhận bản án của Tòa Sơ Thẩm Bạc Liêu nên miễn tố tất cả các can phạm.

Riêng tại Đông Dương hai ân nhân bênh vực Cao Đài Giáo là hai vị Trạng Sư Pháp: Ông LORTAT-JACON và Ông ROGOR L.SCAUX, Đóng Văn Phòng Tại Nam Vang, mặc dầu nghề nghiệp là Trạng Sư, nhưng vì chủ nghĩa cao thượng, không hề thọ lãnh thù lao của Đạo, mặc dầu mỗi lần bào chữa hay chạy lo lắng tốn kém, Ông Bảy đến đền ơn, thì hai ông vẫn từ khước thẳng thắng, cho rằng họ không có công chi mà họ chỉ làm bổn phận Nhơn Đạo và Thiêng Liêng cao cả mà lương tâm bảo làm.

Có một lần nọ Năm 1929 Ông Trạng Sư (LORTAT-JACOB). Mãn nhiệm kỳ ba năm, trở về Pháp nghỉ 6 Tháng, trong lúc lưu lại Saigon, Ông ở lữ quán (Cemtinental). Một đêm nọ, có Đức Quyền Giáo Tông THƯỢNG TRUNG NHỰT, Giáo Sư Thượng Bảy Thanh, Giáo Hữu Thượng Vinh Thanh đến viếng, sau đôi câu chuyện hàn huyên, Đức Quyền Giáo Tông, trân trọng trao cho ông một bao thơ trong ấy có số bạc là Năm Ngàn đồng với những lời nói hết sứ khéo léo để đền ơn, nhưng Ông cũng từ chối, cương quyết từ chồi với những lời lẻ Đạo Đức.

Đó là một sự việc đúng mức như vậy trước mặt tác giả cuốn sử nầy, lúc ấy là: Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH, chứng minh là sự thật.

PHẢN ỨNG CUẢ HAI TỜ BÁO PHÁP

ĐỐI VỚI VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT GIÁO.

Tờ báo “IA GRIEFE” Số 36 xuất bản tại Pháp ngày 5-9-1931, và kế tiếp số 38 đề ngày 17-9-1931, tố cáo những biện pháp hẹp hòi, đê tiện của Khâm Sứ Cao-Miên, đã thi hành thủ đoạn áp đảo và đe dọa Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, Chủ Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo, lại còn thêm tuyên bố cấm “Không thể để cho người không trung thành ngồi yên” (Ý Nghĩa là phải trung thành với Pháp Quốc).

Báo (LA GRIFFE), lại còn lên án thẳng tay về thái độ bất chánh của quan chức cai trị ở thuộc địa, đồng thời đã kích thẳng tay sự thành lập Cơ Quan gọi là “PHẬT GIÁO NGHIÊN CỨU VIỆN”, Do Nghị Định đề ngày 25-1-1930 của toàn quyền (PIERRE PASQUIER), Với mục kiến giả tạo là để nghiên cứu Phái Phật Giáo Tiểu Thừa, đem phổ biến và áp dụng cho dân chúng Miên Quốc và Ai Lao, tuyên truyền cho tận nơi các sóc, các khum, các làng mạc xa-xôi hẻo-lánh. Còn về thổ dân Miên mà ở Nam Việt thì tuyên truyền cho người Miên cư ngụ trong những tỉnh Châu-Đốc, Sóc-Trăng, Trà Vinh v.v… là những nơi có nhiều dân Miên cư ngụ, bắt buộc họ phải theo Phật Giáo Tiểu Thừa, ngấm ngầm là không cho họ Nhập Môn theo CAO ĐÀI GIÁO.

Tờ báo còn nhấn mạnh rằng Phật Giáo Tiểu Thừa thành lập là một thủ đoạn đê hèn để đầu độc dân bị trị, cố tình thống nhứt Phật Giáo. Trong báo số 25 xuất bản Ngày 16-6-1932 Toàn-Quyền (PIERRE PASQUIER) Bị Tố cáo ngay là hám vọng làm Giáo Chủ Phật Giáo Thống Nhất, để đối lập hẳn Đạo Cao Đài, định dùng quyền lực của mình mà áp đảo Đức Quyền Giáo Tông LÊ VĂN TRUNG, tức là áp đảo toàn cả ĐẠO CAO ĐÀI vậy.

Tờ Báo “LE PROGRES CIVIQUE”, Số 614 đề ngày 16-12-1931, Xuất bản tại Pháp, đã kích và bêu xấu thái độ của Tổng Trưởng Bộ Thuộc Địa “PAUL REYNAVU” trong dịp nầy đi thị sát tại Đông Dương, Ông cố ý thân hành đến viếng Trung Tâm “PHẬT GIÁO NGHIÊN CỨU VIỆN” tại NAM VANG, Ông tiếp xúc từng vị Sư Sãi đến chào ông.

Ý chỉ bất chánh của Toàn Quyền (PIERRE PASQUIER), Thống Nhứt Phật Giáo lập thành “NGHIÊN CỨU VIỆN” theo sự nhận xét của Ký Giả Trung Tá “ALEXIS METOIS” Tác giả bài báo đã lật tẩy cả hai tà thuyết:

-TÀ THUYẾT THỨ NHỨT: Sự kiện Thống Nhứt, tự nó đã trái hẳn với các qui điều của nhà Phật.

-TÀ THUYẾT THỨ NHÌ: Kế hoạch để thuyết phục các Sư Sãi hiện đang bị lệ thuộc dưới quyền là nghịch hẳn triết lý hư không vô ngã của Phật Đạo.

Bởi vậy Ông Tổng Trưởng Thuộc địa,”PAUL ROYNAUD” tiếp xúc với các Sư Sãi là tự nhận “Mình là tội nhơn tòng phạm với những kẻ đi ngược giáo điều nhà Phật”.

Với việc trường hợp ngẫu nhiên như trên, nên lúc ấy là lúc Ông Khâm Sứ Cao Miên “LAVIT” đang nghỉ phép bên Pháp, tự nhiên có luồng du luận đồn đãi rằng: Ông sẻ bị thay thế tại Cao-Miên bằng một Ông Khâm Sứ khác, Đó là Ông: “SYLVESTRE”. Đây là một bằng chứng bất hòa giữa quan lại Pháp, họ mới tạo ra tin đồn ấy, mà rồi tin đồn thành ra tin thật, Ông “SYLVESTRE”Thế cho Ông “LAVIT”.

Giao tiếp với Thánh Đường của một Đạo Giáo bên Đức Quốc gọi là : “EGLISC CNOSTIQUE D’11CMAGNE” và còn chẳng bao lâu nữa Tôn Giáo Cao Đài sẽ có mặt tại Hội Nghị Tôn Giáo Quốc Tế (Chicago) Mỹ Quốc.

Trong quan trường, sự hành động của các quan chức lúc nầy cũng được thận trọng, họ cũng nên tránh va chạm tới Đạo Giáo Cao Đài, vì mỗi khi chư tín hữu bị va chạm, là sẽ có cơ hội cho Hội Thánh kêu ca tranh tụng cho rằng: Chánh Quyền Áp -Đảo Tôn Giáo.

Về phía Tôn Giáo thì Chư Tín Đồ vẫn dùng phương diện ôn hòa để tránh sự khiêu khích, tuy nhiên họ vẫn xem thường những quyết định của Nhà Cầm Quyền Hành Chánh, cũng như Tư Pháp. Họ lo xây dựng Uy Tín trong khắp Quần Chúng, để cho Thế Giới thấy rằng Uy Quyền của Chánh Quyền Pháp áp dụng khắt khe đối với Đạo Cao Đài không hiệu quả nữa, vì không có duyên cớ nào để họ đưa ra Tòa Án được, Theo đức tin của họ có là nhờ huyền diệu Thiêng Liêng ban bố cho Hội Thánh có đủ khả năng bảo vệ toàn Đạo.

Tại Cao-Miên, đa số Dân Miên còn trong vòng cương tỏa của bao nhiêu Sắc Luật khắc khe, nên tránh liên hệ với Đạo CAO ĐÀI, chỉ còn có Việt-Kiều Hoa-Kiều tiếp tục Nhập Môn Cầu Đạo, cũng không kém phần quan trọng.

LOAN ĐẾN HỘI THÁNH NGOẠI GIÁO

Đ ẠO SỬ CAO ĐÀI, đi đến một giai đoạn biến chuyển: do sự tranh chấp quyền hành giữa Chức Sắc Đại Thiên Phong, làm Tại TÒA-THÁNH TÂY-NINH, cho giảm tinh thần hăng say Truyền Giáo, có ảnh hưởng đến Hội-Thánh Ngoại-Giáo ở Miên-Quốc, một giai đoạn trong những cuộc tranh chấp nầy có liên hệ đến Nền Đạo tại Nam-Vang.

Ông Lê Bá Trang lại nhơn danh chức vụ NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ, ra Châu Tri hiệu triệu trong việc thành lập “BAN CHỈNH ĐẠO” để đối phó với ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG.

Để làm sáng tỏ lập trường, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT, liền Bổ Nhiệm Chức Sắc Trung Thành đi Châu Lưu khắp các tỉnh trong Nam Kỳ để tuyển chọn số Đạo Tâm Trung Thành với Chánh Giáo của ĐỨC CHÍ TÔN, và giải thích cho toàn đạo rõ chi tiết về vụ đồ mưu giục loạn của ông (Lê Bá Trang).

Nhờ biện pháp nầy mà trong bổn Đạo ai ai cũng rõ thấu mưu đồ của “Ông Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh” muốn lật đổ Đức Quyền Giáo Tông là bất chánh, nên toàn thể Tín đồ đều hưởng ứng uy tín về Đức Quyền Giáo Tông THƯỢNG TRUNG NHỰT. Sự thành công vẻ vang nầy có tiếng dội ra ngoài cõi Đông Dương, nhứt là Pháp Quốc.

Còn về vụ “VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT GIÁO” Của Toàn quyền Pier PASQUICR tại Kim Biên, thì Ban Trị Sự của Viện có phái những vị truyền giáo đi khắp nước Miên và trong các tỉnh Nam Kỳ mà có nhiều Dân Miên cư ngụ, hô hào giảng giải về Phật Giáo Tiểu Thừa của “Nghiên Cứu Viện”.

Lại không quên khuyên nhủ đồng bào của họ đừng theo Tôn Giáo nào khác, Nhất là Tôn Giáo Cao Đài là một Đạo Giáo không phù hợp với Giáo Điều của Nhà Phật.

S ự tích Thánh-Thất Kim-Biên (Như đã tường thuật trong trang 24 tới tràng 27) đã trải qua biết bao trở ngại thăng trầm, biến thiên kể từ năm 1930 trở đi nhưng kết cuộc cũng hình thành tốt đẹp (Ảnh Thánh-Thất Kim-Biên được đăng trong Quyển LỊCH-SỬ CAO-ĐÀI. Bằng Pháp Văn tựa đề “HISTOIRE PHILOSOPHIE du CAODAI ISIE” (Trang 176).

Mãi đến Năm 1937 mới làm lễ Khánh Thành liên tiếp trong ba ngày 21-22-23- tháng 5.

Lúc Ấy Ông THƯỢNG VINH THANH (Đã Vinh Thăng Giáo Sư) đương quyền là Phó Chủ Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo, thay mặt Hội-Thánh, Đăng đàn đọc một bài diễn văn vang dội toàn cõi Đông-Dương lan đến Pháp Quốc mà có nhiều báo chí đăng tải. Những giai đoạn rất tế nhị của bài Diễn Văn có ghi rõ trong Quyển Lịch Sử và Triết Lý Đạo Cao -Đài mà Tác-Giả là một Người Pháp, Ông “GABRIE1 GOBRON, Đắc Phong ” TIẾP DẨN ĐẠO NHƠN” ngày 23-3-1932, nơi Trang 87 tới trang 109, có nhiều đoạn Văn đáng lưu ý bởi có tác dụng làm sáng tỏ tương lai của Đạo CAO ĐÀI, Như đoạn văn trích lục sau đây :

“Ngày Hôm nay Hội-Thánh Ngoại-Giáo CAO ĐÀI ăn Lễ Khánh Thành Thánh-Thất đầu tiên tại Thủ Đô Miên-Quốc, chúng tôi đã chọn ngày 22 Tháng 5 Dương Lịnh (22 Mai) là ngày kỷ niệm Đăng Tiên của Vị văn hào nước Pháp, một Đại Ân Nhân của Nhân Loại tức là Ông V I C T O R H U G O mà từ năm 1927 tới nay Ngài là Đấng CHƯỞNG-GIÁO Thiêng-Liêng của chúng tôi hằng cảm mến để ghi dấu tất lòng thành của chúng tôi đối với nước Pháp là nơi xuất thế của một bậc Vĩ Nhân mà chúng tôi đả thọ giáo triết lý cao siêu của Ngài, trong tình thương nhân loại. Chẳng những trong ngày giờ nầy, mà ngay từ khi chúng tôi còn là một sinh viên trong các trường của Pháp Quốc là một nước đầy tinh thần hào hiệp khoan dung và Nhân Đạo”.

Vào Năm 1937 Nước Pháp thay đổi đường lối Chánh Trị có ý thức áp dụng một thể chế khoan dung đối với các thuộc địa, Sang bằng những nổi bất công đã áp dụng từ trước, nên trong bài Diễn-Văn có lời chứng minh tỏ sự biết ơn như sau :

“Công Việc Phổ Thông ĐẠO CAO ĐÀI, từ đây được thung dung tự toại, sự tự do tín ngưỡng đã được ban bố, chúng tôi tỏ long biết ơn Nước Pháp, một Nước Pháp có ĐẠO CAO ĐÀI, một nước đàn anh có đức độ, có đầy đủ thiện chí dung hòa trong tình thương Huynh Đệ với một tâm lý cao thượng, sẵn sàng dìu đường dẫn lối cho đàn em thiếu phương tiện nhưng đầy đủ phẩm hạnh hiện nay.

“Đối Với Nước Pháp nầy là một Quốc Gia Văn Minh tiến bộ, một nước đầy khích lệ tuyên dương giá trị tinh thần cao cả cho đại đồng, tin thần xây dựng, niềm hòa ái cho toàn thế giới.

“Nên Chúng Tôi toàn thể Tín Hữu Cao Đài lấy lòng cảm mến, trân trọng tỏ bày nơi đây sự tri ân nồng hậu của chúng tôi.

Như thế là không ai có thể phủ-nhận được cái kết quả của một công cuộc đàn áp Đạo Cao Đài do quyền lực Bảo Hộ của Nước Pháp cũng như quyền lực của Chánh Phủ Hoàng Gia Miên. Hiện khi mục kiến tổng số Tín Đồ Nhập Môn càng ngày càng tăng, so với tỷ lệ của con số tín đồ đã thâu hoạch tại Nam Kỳ đó vậy.

Sự thành lập Hội-Thánh Ngoại-Giáo của ĐẠO CAO ĐÀI, (Mission Etrangere du Caodaism) Là do quyền năng Thiêng Liêng của Đức CHƯỞNG ĐẠO NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN hay là VICTOHUGO, và đặt dưới quyền Bảo hộ Hữu Hình của ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, vào Trung tuần Năm Đinh-Mão (1927).

Trung Tâm Lâm Thời cũng là Thánh-Thất tạm đặt tại đường ( Lalande Callan), Nam Vang.

Những Chức Sắc Thiên Phong ban sơ được thọ phong trong một đàn cơ thiết lập tại Thánh-Thất tạm ở Nam-Vang vào đêm 29 tháng 6 Năm Đinh Mão (dl: 27-7-1927) do ĐỨC HỘ PHÁP và Ông CAO ĐỨC TRỌNG Phò Loan (Ông Cao-Đức-Trọng lúc nấy chưa thọ Chức) ĐỨC CHÍ TÔN giáng xưng danh:

NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ VIẾT CAO-ĐÀI

TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA-HA TÁT

Giáo-Đạo Nam-Phương

THẦY MỪNG CÁC CON

BẢY, LẮM, SỰ – Thầy phong cho ba con Chức Giáo-Hữu.

CHỮ, VINH, CỦA – Thầy Phong cho con chức Lễ-Sanh.

(Và tiếp theo một đoạn văn xuôi Thầy dạy Đạo… Đoạn văn nầy Tác Giả không nhớ).

Trong bài Thánh Giáo, không thấy Đức Chí Tôn Phong Chức cho Ông CAO ĐỨC TRỌNG, Đức HỘ PHÁP bèn hỏi ? Bạch Thầy còn Em con, (TRỌNG) Sao Thầy không phong chức.

Thấy đáp : “TẮC sao con dại quá vậy, TRỌNG thuộc về Chi Đạo bên HIỆP THIÊN ĐÀI”.

Tác Giả có mặt Hầu Đàn, còn nhớ rõ sự diễn tiến của đàn cơn như vậy, nhưng quên hẳn đoạn văn xuôi của CHÍ TÔN dạy. Với thời gian bài Thánh Giáo nầy không còn là bởi lúc tác giả Vân lịnh ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG và ĐỨC LÝ ĐẠI TIÊN, ra hiệp tác với Nhựt Bổn để Cứu Nước, Cứu Đạo, rồi kế bị Pháp Bắt nên Tập Thánh Giáo rơi vào tay Công An Pháp và thất lạc luôn.

Sau đổi qua làm việc hảng “DENIS FRERES”.

2/- Ông NGUYỄN VĂN LẮM, Làm việc tại Đông Dương Ngân Hàng Chi Nhánh Nam Vang.

3/- Ông VÕ VĂN SỰ, Có tiệm Thuốc Bắc và phòng Mạch tại đường Gallieni, Nam-Vang.

Ba Vị Thầy Phong Chức LỄ SANH:

1/- Ông ĐẶNG TRUNG CHỮ, Kế Toán Viên hãng (ALLATINI)

2/- Ông TRẦN QUANG VINH, Thư Ký Ngạch Bảo Hộ.

3/- Ông PHAN KIM CỦA, Thầu Khoán Biển Hồ và Chủ xe đò.

Ông CAO ĐỨC TRỌNG, Làm việc tại Văn Phòng Chưởng Khế Nam Vang, Tác Giả cần giải thích về trường hợp của Ông CAO ĐỨC TRỌNG.

Lúc Phong Chức cho mọi người, CHÍ TÔN không nhắc đến Ông CAO ĐỨC TRỌNG là vì Ông nầy đã có Thiên Phẩm trong Hàng Thập Nhị Thời Quân, Đức HỘ PHÁP không hiểu thấu nên mới hỏi ĐỨC CHÍ TÔN, nhờ vậy mới biết Ông là “TIẾP ĐẠO”.

Buổi ban sơ ở Nam Kỳ, Thầy Phong Chức cho Thập Nhị Thời Quân là 12 Phẩm lớn bên Hiệp Thiên Đài, chỉ có 11 vị được chọn trong ba Chi PHÁP, ĐẠO, THẾ mà trong Chi Đạo còn khuyết một vị trong Phẩm: TIẾP ĐẠO, đó là quyền năng Thiêng Liêng dành sẵn cho Ông CAO ĐỨC TRỌNG ở MIÊN QUỐC, một bí quyết mà người phàm ở thế gian nầy làm sau thấu rõ. Hơn nữa còn một bí quyết khác mà ít người để ý, nhờ ĐỨC HỘ PHÁP chỉ truyền.

Tác Giả mới hiểu quyền năng Thiêng Liêng là vô đối, trong hàng Thập Nhị Thời Quân tức là có 12 Vị (12 Phẩm) nhưng lạ một điều là quyền năng Thiêng Liêng xây chuyển thế nào mà tuổi không trùng nhau nghĩa là 12 vị là 12 con giáp khác nhau:

TÝ, SỬU, DẦN, MẸO, THÌN, TỴ, NGỌ, MÙI, THÂN, DẬU, TUẤT, HỢI.

Sau khi ĐỨC CHÍ TÔN phong, Tái Cầu, Đức Chưởng Đạo NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN, giáng đàn chấm phái :

-Ông LÊ VĂN BẢY: Phái Thượng, Thánh Danh Thượng Bảy Thanh.

-Ông NGUYỄN VĂN LẮM: Phái Thượng, Thánh Danh Thượng Lắm Thanh.

-Ông VÕ VĂN SỰ: Phái Ngọc, Thánh Danh Ngọc Sự Thanh.

-Ông ĐẶNG TRUNG CHỮ: Phái Thượng, Thánh Danh Thượng Chữ Thanh.

-Ông TRẦN QUANG VINH: Phái Thượng, Thánh Danh Thượng Vinh Thanh.

-Ông PHAN KIM CỦA: Phái Thái, Thánh Danh Thái Của Thanh.

Trong lúc Tác Giả viết đến đoạn nầy (Năm 1973) thì trong sáu vị Chức Sắc đầu tiên, bốn Ông đã qui vị:

-Ông LÊ VĂN BẢY: qui vị tại Kim Biên ngày 10-1-năm Mậu-Tý (dl: 19-2-1948).

-Ông NGUYỄN VĂN LẮM: qui vị tại Châu Đốc (Không biết Ngày).

-Ông VÕ VĂN- SỰ: qui vị tại Tòa Thánh năm 1969.

-Ông ĐẶNG-TRUNG-CHỮ, Qui-Vị tại Chợ-Lớn Năm 1947.

-Hiện tại còn Ông TRẦN QUANG VINH, bị ngưng quyền chức, Tác Giả quyển lịch sử nầy.

-Ông NGUYỄN KIM CỦA: hiện là Giáo Sư. Khâm Trấn Kim Biên Tông Đạo.

Về Phái Nữ, sau lại lần lượt Đức Chưởng Đạo Giáng Phong:

-Bà Góa Phụ (BATRYA): Nhũ Danh TRẦN KIM PHỤNG, đắc phong Giáo Hữu, sau thăng Giáo Sư.

-Bà LÊ VĂN BẢY: Nhũ Danh ĐẶNG THỊ HUÊ, đắc phong Giáo Hữu.

-Bà NGUYỄN THỊ HẠT: (Thân Mẫu Ông ĐẶNG TRUNG CHỮ) đắc phong Giáo Hữu.

-Bà HUỲNH THỊ TRỌNG: (Bạn của Ông Chữ) đắc phong Lễ Sanh sau thăng Giáo Hữu.

Tuy nhiên liên tục trong bao nhiêu năm, có nhiều nguyên nhân Nam, Nữ Đắc Phong Chức Sắc thọ đến ngày nay, kẻ mất người còn, nhớ không thể xiết kể, trong số đó, Bà Đạo Nhơn VÕ HƯƠNG NHÂM là bạn của Ông Sĩ Tải HUỲNH HỮU LỢI, Bà Qui Vị Tại Tòa-Thánh, còn Ông HUỲNH HỮU LỢI hiện nay (Năm 1973) Thăng chức Cải Trạng.

-Ông LÂM TÀI KHÍ, được thăng phẩm Phối Sư qui vị tại Cao Miên.

-Ông NGUYỄN HƯỢT HẢI, Sĩ Tải, qui vị tại (KOMPONG-TRABEK) và còn nhiều nữa không thể nhớ hết, xin kiếu lổi cùng chư vị thân nhân của những vị Chức Sắc quá cố đã dày công xây đắp nền Đại Đạo.

Trung Tâm Bộ của Hội-Thánh Ngoại-Giáo đặt giữa Thủ Đô Miên Quốc gồm đầy đủ Chức Sắc có thiện chí hoạt động rất đắc lực, trong thời gian kỷ lục. Đạo mới phôi thai vừa được một năm (1927-1928), mà số Tín Đồ Nam Nữ Nhập Môn lên tới 10.000 Người.

Nhờ sự sáng suốt trong lề lối kỹ thuật và sanh hoạt hữu hiệu, Chư Chức Sắc Thiên Phong lẫn Chức Việc trong toàn quốc đều được thăng cấp, đặc biệt trong ba năm sau.

-Ông LÊ VĂN BẢY: vinh thăng Giáo Sư (1933), đến năm (1938), mới chuyển về Tòa-Thánh.

-Ông ĐẶNG TRUNG CHỮ: được thăng phẩm Phối Sư (1939).

-Ông TRẦN QUANG VINH: được thăng phẩm Phối Sư Năm (1948).

-Ông Giáo Sư LÊ VĂN BẢY, được Tòa-Thánh Bổ Nhiệm làm Chủ-Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo từ năm 1927 tới Năm 1937 thì Hội-Thánh phái đi truyền giáo bên Trung Hoa, Ông đến Vân Nam (YUNNAM) tạm lập một Văn Phòng Truyền Giáo tại Vân Nam Phủ (YUNNAM FOU). Vì Ông không biết tiếng Trung-Hoa nên phải cần một Thông-Dịch-Viên, Ông hành sự nơi đây được một năm, nên chỉ có kết quà xoàng thôi, qua năm sau (1938) Ông được lịnh hồi hương và được Bổ Nhiệm luôn về Tòa-Thánh.

-Ông CAO ĐỨC TRỌNG, được ĐỨC CHƯỞNG ĐẠO chỉ định thay thế địa vị Chủ-Trưởng Ngoại-Giáo.

-Bà Giáo Sư TRẦN THỊ KIM PHỤNG

-Ông Giáo Sư ĐẶNG TRUNG CHỮ

-Ông Giáo Sư TRẦN QUANG VINH

-Ông Giáo Sư THÁI VĂN GẤM (Tòa Thánh Bổ Nhiệm)

-Ông Giáo-Sư TRẦN VĂN PHẤN (Tòa Thánh Bổ Nhiệm).

Hạ Tuần tháng 7 Nam Tân Tỵ (1941) tình thế Đạo biến thiên, Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, tự trở về Kim-Biên tiếp tục cầm quyền Đạo, cho đến ngày Thánh-Thất bị Chánh-Phủ Bảo-Hộ xung công và phá dở (1943).

Ông Giáo Sư THÁI GẤM THANH: là một trong số 6 vị Đại Thiên Phong bị Chánh Quyền Pháp bắt lưu đày tại đảo (MADAGASCAR) và Qui Liễu nơi đó vào ngày 20 Tháng 8 Năm Nhâm Ngọ (Dl: 29-9-1942).

Ông Giáo Sư THÁI PHẤN THANH: cũng bị lưu đày sang (MADAGASCAR) được trả tự do, hồi hương năm (1946), về Quê nhà tại Vũng Tàu, rồi đến ngụ tại Gò Vấp và Qui-Vị Vào Năm (1965).

HOẠT-ĐỘNG TẠI PHÁP QUỐC

Đầu mùa Xuân Năm Tân Mùi (1931) Chánh Phủ Bảo Hộ Pháp tại Cao Miên phái Ông TRẦN QUANG VINH (lúc bấy giờ Ông Thọ Phong Giáo Hữu) Sang Pháp Công Cán trong dịp đấu xảo Quốc Tế Thuộc Địa ở (VINCENNES-PARIS).

Thừa Cơ Hội Ông Truyền Giáo và Vận Động cho Đạo Cao Đài, được tự do Tín Ngưỡng ở Đông-Dương. Ông thuyết phục và gầy dựng được một số nhân vật tín ngưỡng ở Đông-Dương, Chánh khách Pháp có thiện chí với Đạo Cao Đài. Trong số ấy với 5 vị kể tên sau đây được thọ phong Chức Sắc vào năm (1832):

1/-TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN: Ông Gaoriel Gobron, Giáo Sư Trung Học.

2/- Nữ Giáo Sư: FELICIEN CHALLAYE Bạn của Ông Giáo Sư Đại Học (SORBONNE).

3/- Giáo Hữu: Ông Charles BELLAN, Cựu Tham Biện ở Đông Dương.

4/- Giáo Hữu: Ông Gabriel, ABADIE de LESTRAC, Luật Sự Tòa-Án PARIS.

5/- Nữ Lễ Sanh: Bà Marguerite GOBRON, Sau thăng Giáo Hữu. (Bạn của Tiếp Dẫn Đạo Nhơn GABRIEL GOBRON).

Ngoài ra, còn các vị ân nhân can thiệp cho sự tự do tín ngưỡng tại Đông Dương đáng kể nhất là:

1/- Ông A1bert SARRAUT: Tổng Trưởng.

2/- Ông Alcxis METOIS: Trung Tá Quân Đội Pháp.

3/- Ông Edouard DAIADIER: Tổng Trưởng và Cựu Thủ Tướng.

4/- Ông, Henri GUERNUP: Nghị sĩ Quốc hội, Cựu Tổng Trưởng. Tổng thư Ký Hội Nhân Quyền.

5/- Ông Emile XAHN: Tổng Thư Ký Hội Nhân Quyền.

6/- Ông Ernest, OUEREY: Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp Tại Nam Kỳ.

7/- Ông Eugene TOZZA: Luật Sư Tòa Thượng Thẩm PaRis.

8/- Ông Fe licien CHALIKTE: Giáo Sư Đại Học (Sorbonne).

9/- Ông Marius NOUTET: Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp, Bà Tổng Trưởng.

10/- Cô Marthe WILLIAMS: Nghị Viện Hội Nhân Quyền.

11/- Ông Paul RANADIER: Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp.

12/- Ông Marc RUCART: Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp.

13/- Ông Jean PIOT: Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp.

14/- Ông Jean Miche1 RENAITOUR: Nghị Sĩ Quốc Hội pháp.

15/- Ông VOIRIN: Nhân Sĩ.

16/- Ông Andre PNILIP: Nhân Sĩ.

17/-Ông Jean IAFFRAI: Chủ Nhiệm Kiêm Chủ Bút Báo LA GRIFFE.

Ngoài ra tại Đông Dương còn bao nhiên nhân vật binh vực Cao Đài như Nhị Vị Trạng Sư:

-LORTA-JACOB: Trạng Sư Tòa Thượng Thẩm Saigon đặt Văn Phòng tại Nam Vang.

-Rogor LASGAUX: Trạng Sư -id-

Và ba quan Khâm Sứ tại Miên Quốc là Ông RICHOMNE, Ông SYLVES TRE Và Ông THIBAUDEAU, mặc dầu là Quan Bảo Hộ của Pháp Triều, nhưng ba Ông nầy để yên cho Đạo Cao Đài mà lắm lúc còn bênh vực là khác.

Tác Giả là người trong cuộc, xin nhấn mạnh rằng hai Ông, LASCAUX và LORTAT-JACOB, mặc dù là nghề nghiệp Trạng Sư, nhưng với một tâm hồn Cao Thượng, Hai Ông thường nói rằng lấy Lương Tâm và Tình Thương Nhơn Loại mà bào chữa cho sự Bất Công, nên không bao giờ thọ một thù lao nào của Đạo. Tác Giả xin lấy hết Danh Dự và Lương Tâm mà chứng nhận sự nầy.

Còn về phần Báo Chí, thì có các báo sau đây liên tiếp bào chữa và tường thuật tất cả mọi sự áp chế Đạo Cao Đài:

1)- LA LIBRE OPINION-PARIS.

2)- CAHIER de le LICGUE, des DROITS de L’HOME-FARIS.

3)- La GRIFFE-PARIS.

4)- Le BRCGRES CIVIQEE-PARIS.

5)- Le FR.TERNISTE-LILLE (Nord).

6)- Le re1veil, OUVRIER – NANCY.

7)- Le SEMEUR-FAIAISE (Ca1Vados).

8)- L’AURORE MALGACHE-TAMANARIVE.

9)- GERMINAL-CROIX (Nord).

10)- La TRIPUNE INDOCHINOISE-SAIGON.

Cuối Mùa Đông Năm Tân -Mùi (1931) Ông TRẦN QUANG VINH tức HIỂN TRUNG, đã mãn hạn công cán tại Pháp Quốc trở về tới Saigon vào ngày 30 tháng 12 Năm 1931.

Lúc Tàu cặp bến Nhà Rồng thì có: ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG-TRUNG-NHỰT, ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, Ông Chánh Phối Sư THÁI THƠ THANH, Ông Bảo Văn- Pháp Quân CAO QUỲNH DIÊU, Ông Giáo Hữu THƯỢNG TUY THANH (Tức là ông Từ Huệ), Ông Giáo Hữu THÁI GẤM THANH, đón tiếp mừng rỡ.

Chiều lại sau bữa tiệc do Ông THÁI THƠ THANH khoản đãi tại Tư Gia của ông ở Tân Định, ĐỨC HỘ PHÁP có nhã ý thiết lập một đàn cơ trên lầu ba, trước Thiên Bàn có đủ mặt các vị kể trên.

ĐỨC HỘ PHÁP và Ông BẢO VĂN PHÁP QUÂN Phò Loan, Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn Giáng Cơ tỏ vẻ vui mừng và bảo HIỂN TRUNG, đưa đầu vào bàn cơ, Ngọc Cơ úp trên đầu Hiển Trung tỏ vẻ ban ơn. Bài Cơ bằng Pháp Văn có đăng tải trong quyển sách “LESMESSAGES SFIRITES” Trang 63, và trong Quyển “BỔ TÚC HỒI KÝ” của PHỐI SƯ THƯỢNG VINH THANH, có phiên dịch ra Việt Văn.

Đêm mùng chín tháng giêng Năm Nhâm Thân (Dl: 14-2-1932) Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH, Về Tòa-Thánh hầu lễ Vía ĐỨC CHÍ TÔN, mãn đàn là 4 giờ sáng. Chư Chức Sắc và Chư Đạo Hữu, đứng bài bản, Nam Tả, Nữ Hữu. ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG bèn dạy: Giáo-Hữu THƯỢNG VINH THANH, Đãnh Lễ Thầy rồi giới thiệu Công Tác của Đạo ở Pháp Quốc, trên tay Anh Cả thì cầm một tập hồ sơ đưa lên cao và tuyên bố rằng: Đây là tất cả công việc của Em “THƯỢNG VINH THANH”, lo cho Đạo tại Pháp, nhờ đó mà ngày nay nền Đạo mới được Chánh Phủ Pháp ban bố sự tự do tín ngưỡng trên toàn cõi Đông Dương và ân xá tất cả tù tội và phạt vạ.

ĐỨC QUYỂN GIÁO TÔNG tuyên dương công trạng của Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH tại giữa Đền-Thánh, không tiếc lời khen ngợi. Trong lúc ấy Anh Cả đọc lớn bốn câu văn dạy Đạo của Bát Nương Giáng tại Tòa-Thánh rút trong một bài “Trường-Thiên” Ngày 18 Tháng 9 Năm Canh-Ngọ (dl: 8-11-1930), Do ĐỨC HỘ PHÁP và Ngài BẢO VĂN PHÁP QUÂN Phò Loan, Sĩ Tải Phạm Văn Ngọ Hầu bút như sau :

Nếu có kẻ an bang tái thế.

“Quì mà nghinh lấy lễ trọng người.

“Cỗi thân ra mãnh áo tơi,

“Che mưa đỡ nắng cho đời nguy nan.

Đọc xong bốn câu văn, Anh Cả liền quì xuống, Đức Hộ Pháp cũng quì luôn và toàn cà Đàn noi gương hai Anh lớn đều quì tất cả.

Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH, đứng trước một hoàn cảnh bất ngờ lấy làm bối rối, không biết làm thế nào hơn là quì mọp xuống trước mặt Anh Cả lạy hai lạy rồi đứng dậy kính cẩn đa tạ Anh Cả, ĐỨC HỘ PHÁP và toàn cả Đàn Tiền, luôn tiện lượt thuật sơ qua công tác đã làm tại Pháp Quốc.

Sự tranh đấu sống còn của ĐẠO CAO ĐÀI, đặng kết quả mỹ mãn và đã thành công là nhờ tài Lãnh Đạo của ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG và ĐỨC HỘ PHÁP nên HỘI-THÁNH NGOẠI-GIÁO mới tồn tại đến ngày hôm nay.

Tác-Giả chỉ ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe với tất cả sự trung thực và cũng căn cứ vào những tài liệu lưu trữ tại Văn Khố của Miên Triều và Văn Khố của Chánh Phủ Bảo Hộ Pháp Quốc tại Kim Biên.

TÒA-THÁNH TÂY-NINH, Mùa Thu Năm Kỷ Dậu (1969),

Tác Giả Chỉnh Lại, Cũng vào mùa Thu, Năm Quí Sửu (1973).

TRẦN-QUANG-VINH

và NGỌC TRANG THANH (Lê Bá Trang)

Để Thống Nhứt nền Hành Chánh Đạo, Ông Nguyễn Ngọc Tương, đương quyển Thượng Chánh Phối Sư tại Tòa Thánh Tây Ninh (Năm 1932) cố gắng bài trừ nạn chia phe phân phái xem có mòi nguy hiểm do Ông Phối Sư THÁI CA THANH (Nguyễn Văn Ca) Cựu Đốc Phủ Sứ về hưu) đả tách rời Tòa Thánh về lập một Chi Phái ở Mỹ Tho, Ông Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh triệu tập một phiên tòa đặng xử ông THÁI CA THANH, có hành vi Nghịch Đạo Pháp.

Thế rồi một nghị định đề ngày 25 tháng 6 Năm 1932, Chiếu theo bản án của phiên tòa nói trên, Ngưng Quyền Chức ông THÁI CA THANH, trong một thời hạn là 3 Năm và khai trừ khỏi Hội Thánh, hình phạt nầy được thông báo cho toàn Đạo.

Tiếp theo Hội Thánh phái nhiều Chức Sắc lãnh trách vụ, đi viếng các Thánh Thất để nung đúc tinh thần của toàn Đạo, chư Đạo Hữu đồng thời giải thích cho họ hiểu rằng: Triết lý và chơn tướng của ĐẠO CAO ĐÀI chỉ do nơi nguồn cội tại Tòa Thánh Tây Ninh mà thôi. Song song với vụ trên, Chư Vị Giáo Hữu đương cầm quyền Hành Chánh tại các Tỉnh đều được lịnh mời về Tòa Thánh để dự khóa Tu Nghiệp.

Một phái đoàn Chức Sắc Hội Thánh đến yết kiến Ông Ernest, (OUTREY), Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp nhờ Ông nầy can thiệp với Chánh Phủ Pháp cho Đạo Cao Đài được tự do tín ngưỡng. Phái Đoàn Hội Thánh không quên nhấn mạnh lưu ý Ông Nghị Sĩ, Đại Diện một Thuộc Quốc tạ Hạ Nghị Viện Pháp, rõ thấu Tôn Chỉ của Đạo Cao Đài khác hẳn với hành tàng của Cộng Sản đã từng gây tang tóc, máu đổ xương rơi tại mấy vùng ở Đông Dương trong khoản năm (1930-1931).

Ông Nghị Sĩ hứa sẽ thỏa mãn yêu sách của phái đoàn bằng cách vận động cho tất cả Dân Việt Nam có Đạo Cao Đài được sự ân hưởng tự do tín ngưỡng trong khuôn khổ hợp hiến.

Qua ngày hôm sau Báo “La Tribune Indcchinoisc” Tại Saigon có tường thuật lại một cách trung thực cuộc tiếp xúc nầy, Đồng-thời Tờ Cao Đài Tạp Chí (Larevue Cacdafste) kỳ tháng 6 Năm 1952 củng đã ca ngợi cử chỉ đoan chánh của Nghị Sĩ Outrey. Thái độ khoan hồng nầy được Hạ Nghị Viện Pháp xác nhận trong văn thơ đề ngày 18-7-1932, gởi Ông Gabriel Gobron, là một trong các vị ân nhân nhiệt tình bênh vực cho Đạo Cao Đài.

Trong Văn-Thơ có đoạn viết :

“Hiển nhiên tôi có đòi hỏi cho những Tín Đồ Cao Đài ở Nam Kỳ một chế độ Tự Do hơn trước.

“Sự thật, từ lâu tôi có ác cảm đối với họ, tôi cũng từng yêu cầu chánh quyền theo dõi họ một cách nghiêm khắc, nhưng đến ngày nay, tôi có đủ lý lẻ để nhìn nhận rằng: những Phúc-Trình gởi đến tôi báo cáo về Đạo Cao Đài, nếu không hoàn toàn là gian dối thì ít ra củng có thêu dệt một cách quá đáng. Giờ đây tôi được biết rõ nhiều người Việt Nam có Đạo Cao Đài, đứng vào bậc thượng lưu trí thức ở trong xứ đã từng chứng tỏ lòng trung thành đối với nước Pháp đó là động lực thúc đẩy tôi tuyên bố trước mặt họ là tôi quyết tâm đòi hỏi một thể chế Tự Do Tín Ngưỡng cho Tôn Giáo Của Họ”.

Đồng thời có nhiều thành tích từ hải ngoại bênh vực giới Chức Sắc cao cấp lãnh đạo tại Tòa-Thánh Tây-Ninh về công cuộc phổ thông Giáo Lý.

La Libre Opinion (Tự Do Ngôn Luận).

Le Frogrès Civique (Dân Tiến).

Le Griffe (Móng Nhọn).

Vu (Thấy).

Le Fraterniste ( Huynh-Đệ, tại Lille).

Le Réveil Ouvrier (Tỉnh Giấc Lao Động, tại Nancy).

Le Semeur( Người Gieo Giống, tại Falaise).

Germinal ( Nẩy mầm của Nhà xuất bản Miền Bắc Nước Pháp).

Giáo Sư LÊ VĂN BẢY làm giấy ủy nhiệm cho người thay mặt Ông đi dự Hội Thần Linh Học Quốc Tế tạ Luân Đôn (Londres) và đây là lần đầu tiên tiếng nói của Đạo Cao Đài mới được nghe thấy trong một Hội Nghị Quốc Tế.

Một Cựu Tham Biện Chủ-Tỉnh tại Đông Dương, Ông Charles BELLAN, Tự Nguyện đứng ra bảo vệ nền Tôn-Giáo.

Năm (1933) Tòa Thánh Tây Ninh phái người đi dự Đại Hội Quốc Tế THẦN LINH HỌC tại CHICAGO” Mỹ Quốc.

Tuy nhiên hoàn cảnh Tòa Thánh Tây Ninh lại không mấy khả quan, chỉ hưởng được mấy năm thịnh vượng, rồi tiếp liền theo đó là giai đoạn kinh tế khủng hoảng trầm trọng toàn Đông Dương từ năm 1930, không khỏi ảnh hưởng tới Tòa Thánh Tây Ninh, mà số tài nguyên hiện có không đủ sức tiếp tục các công tác dự trù.

Diện Tích đất đai của Tòa Thánh lúc ban Sơ là 96 Mẫu Tây, trên thực tế đã được mở rộng gấp ba lần là nhờ công lao của Chư Tín Đồ khai khẩn những khu rừng hoang vu chung quanh vùng, hoặc đã mua lại đất Lâm Sản của những chủ khác.

Nền Kinh Tế kiệt quệ, mọi việc sinh hoạt đều ngưng trệ làm cho người ngoại quốc đến viếng Tòa Thánh có cảm tưởng đến một vùng xác sơ nghèo khổ và khốn đốn.

Tình trạng như thế nầy không thể thu hút được đông khách hành hương du ngoạn, con số đã sụt bớt lần, đồng thời số tiền hỉ cúng cũng giảm theo.

Thiên phóng sự của Ký Giả (Geoges PEYNOND ) Đăng trong tạp chí ILLUSTRATION Số: 4748 Ngày 3-3-1934 tả cảnh u buồn Của Tòa Thánh VaTiCan Việt Nam như Sau:

“Đây là một Địa Cảnh gồm nào là Chùa Chiền, Thư Viện, Cốt Tượng, Mồ Mả, Miếu Tháp, Văn Phòng Làm việc, nơi thông công cùng các Đấng Thiêng Liêng, các sở ruộng rẫy, các lối đi nhỏ hẹp làm cho khách in trí đó là một cảnh vật tiêu sơ khốn khổ hầu như hoang phế. Kinh tế dường như kiệt quệ. Nhà điện không chạy nữa, máy móc nằm yên trên một gộc đá. Các Cơ Sở ruộng rẩy, với những cuộc khai hoang, hình như ngưng hoạt động.

“Nơi Chánh Điện, Sự tiếp đón Khách Khứa vô cùng lễ độ. Vài gã Thanh Niên có vẻ mệt nhọc vì chay lạt hoặc vì thái quá trong trai giới, đang làm lụng vất vả uể oải, vào công việc nhẹ nhàng đứng dậy chào khách khi chúng tôi đi ngang qua đó.”

Những nổi khó khăn về vật chất chưa đủ giải thích cảnh thương tâm nầy, thêm vào đó là lột cuộc tranh chấp Quyền Hành Giữa Chức Sắc Cao Cấp. Việc tranh chấp quyết liệt đến mức độ xảy ra vào năm 1933.

Chúng ta thử phát họa ra đây nếp sanh hoạt của Tín Đồ Cao Đài:

Vào Năm 1931-1932 Chánh Quyền Pháp dùng thế lực ngăn chận Bổn Đạo không cho hội họp cúng kiến không quá 20 người, lại còn đưa ra lắm biện pháp cấm giảng Đạo vì cho đó là có tánh cách làm rối cuộc trị an công cộng. Hơn nữa là theo dõi hành vi xê dịch của Chức-Sắc, ngăn cản các cuộc di cư của Tín Đồ Trung Thành về cư trú vùng Tòa Thánh. Nếu cần thì nhà cầm quyền cho lính Cảnh Sát, đến giải tán, các cuộc hội họp cúng kiến không có xin phép, hoặc bắt bớ để truy tố ra Tòa Án, và cuối cùng là đưa ra ngục, đóng cửa những Thánh Thất không có giấy phép xin khai mở hợp lệ.

Năm 1932 Tòa-Thánh Tây Ninh kiểm soát trong khắp các Tỉnh Nam Kỳ 128 cái Thánh Thất, phần đông xây cất trong các Tỉnh: Mỹ Tho, Bến Tre, Chợ Lớn, Gia Định.

Thông thường biện pháp đóng cửa Thánh Thất không gây ra phần phản ứng rắc rối, Chánh-Quyền đem áp dụng tại các Tĩnh Miền Tây nhiều hơn các nơi khác.

Hồi Tháng 3 năm 1931 trong Quận Cà Mau có hai cuộc hội họp cùng kiến Qui Tụ, mỗi nơi trên 200 Đạo Hữu không xin phép. Cảnh Sát đến giải tán và bắt 81 người trong số đó có 48 vị tín đồ bị giam vào khám.

Tại Rạch Giá những cuộc hội họp cúng kiến như thế củng bị báo cáo lên Thượng Cấp.

Nhiều Phúc Trình Cơ Quan Hành Chánh trong mấy tháng tiếp theo đó cho biết sự bành trướng của Giáo Phái Cao Đài và việc tranh chấp quyền hành trong hàng Chức Sắc thuộc hệ thống Tòa Thánh Tây Ninh. Có phải chú trọng đến vấn đề Qui Nhứt, đồng thời bảo thủ số Đạo Hữu trung kiên hơn là thâu thập thêm người mới.

Trong vòng tháng 8, tháng 9 Quyền Hành Chánh Địa Phương Tỉnh Sa Đéc và Vĩnh Long, đóng cửa nhiều Thánh Thất là vì tại Vĩnh Long cũng như tại Rạch Giá và Thủ Dầu Một việc truyền bá Giáo Lý Cao Đài có vẻ hoạt động mạnh mẻ vào khoản cuối năm 1951.

Ông Chánh Phối Sư THƯỢNG TƯƠNG THANH, tận dụng mọi thủ đoạn vận động bên Chánh Quyền đặng tranh thủ ưu thế tự do hơn phái Tây Ninh, Ông lập những Tờ Thỉnh Nguyện của Tín Đồ tỏ dạ trung thành với Chánh Quyền Pháp. Cam kết rằng mọi hoạt động của Ông chỉ có mục đích duy nhứt trong phạm vi Tôn Giáo thuần túy.

Tháng 11 Năm 1951, Chánh Phối Sư THƯỢNG TƯƠNG THANH, để lên Quan Thống Đốc Nam Kỳ một tờ Cam Kết với (15,000 chữ ký) của Chức sắc và Tín Đồ về phái của Ông, cam đoan với Chánh-Phủ là không hề làm diều chi gây rối an ninh trật tự công cộng, để xin cho bổn đạo được tự do cúng kiến các kỳ lễ vía trong các Thánh Thất.

Sau cuộc hội nghị với quan Chủ Tỉnh và Quan Thống Đốc, Ông Chánh Phối Sư THƯỢNG TƯƠNG THANH, được hồi đáp như sau :

“Với sự chấp thuận của Phủ Toàn Quyền vì chứng tớ cam kết, Chánh Phủ không thể cho phép một cách tổng quát các cuộc nhóm họp rình rang, mặc dù với những Văn Kiện kêu ca về lượng khoan hồng, thảy đều có quan hệ trực tiếp đến nền an ninh trật tự của Nhà Nước.”

Tuy Nhiên Ông được phép cử Hành Lể Giáng Sinh (NOEL) tại Tòa Thánh Tây Ninh, Chư Tín-Đồ và Dân-Chúng đến dự đông đảo, trong số có một phái đoàn Cao Miên có vẻ sang trọng rất được chú ý.

***

Tình hình khẩn trương chỉ phát hiện từ năm 1932.

ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT, lần hồi ra mặt nhờ ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, để cũng cố được uy thế trong lúc Ông Chánh Phối Sư NGUYỄN NGỌC TƯƠNG, tìm cách nương tựa Chánh Quyền để đối phó với hành động chia phe phân phái của Ông Chánh Phối Sư THÁI CA THANH mà Tòa Đạo đã lên án, loại trừ, đồng thời nghiêm thái độ với các chi phái khác.

***

Thật vậy Ông Cựu Hội Đồng Quản Hạt VÕ VĂN THƠM, Tại Cần Thơ cố gắng qui tụ chung quanh ông một số tín đồ, không chịu tùng Tòa Thánh Tây Ninh, còn Ông Cựu Đốc Phủ Nguyễn Văn Ca, đối với toàn khối tín hữu chính thống, đã tự ông tỏ ra là một địch thủ đáng sợ. Ông Ca hoạt động bành trướng mạnh mẻ về miền Tây, đặc biệt là tại Rạch Giá nhờ có sự trợ lực của Ông Đốc-Phủ TRẦN NGUYÊN LƯỢNG”.

Tại Trà Vinh, bào huynh Ông là Y Sĩ chánh ngạch Nguyễn Văn Phấn mà hành động khiến Chánh Quyền lưu ý vào khoản tháng 3 Năm 1932; những tuyên Ngôn của Ông PHẤN có dụng ý làm cho người ta tin tưởng rằng có một mình ông có thể hòa giải được các Chi Phái Miền Tây với Tòa Thánh Tây Ninh mà thôi, Ông có cử chỉ khiêu khích chánh quyền địa phương để cố tạo cho ông một uy thế huyền ảo có thể đưa ông lên tới một địa vị trọng yếu đứng hàng đầu trong nền Đạo. Ví như vào tháng 3 Năm 1932, Ông khai mở một cái Thánh Thất bất hợp pháp để khuyến rủ chư Tín đồ hội họp cúng kiến trong khi Chánh Quyền đã ra lịnh cấm các sự tu-họp quá 20 người, Ông cho Tín Đồ Nhập Đàn mỗi lần 3 người vào bái lễ, xong rồi rút ra ngoài để nhường chỗ cho ba người khác vào cúng lạy cho đến khi hết số Đạo Hữu tựu họp.

Khắp nơi, việc hoạt động truyền giáo có mòi ráo riết có phải chăng đây là vì mục đích tranh giành ảnh hưởng giữa các Chi Phái hơn là vì Đạo Tâm tín ngưỡng.

Đại Khái người ta không quên những kết quả thắng lợi tại Pháp Quốc và Đức Quốc; bằng chứng cụ thể là một số Văn Thơ trao đổi, qua lại giữ Tòa-Thánh Tây-Ninh với các đô thị lớn bên Âu Châu do Ông NGUYỄN VĂN KHANH (Dân Tây) tức là : Páu Marchet (1) Giám Đốc Nhựt Báo “Le Phero Indochinois” (Đàn rọi Dông-Dương) vừa trao cho Cảnh Sát Trưởng Địa Phương ngày 20 tháng 9 Năm 1932.

***

Mấy tháng trôi qua, Hai ông Chánh Phối Sư Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang đã mất một phần ảnh hưởng quan trọng.

ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT và ĐỨC HỘ PHÁP, lướt qua cơn giông tố buổi đầu.

…………………..

(1)Số Văn Kiện nầy làm nổi bậc các Danh Nhân Chánh Khách Như Ông Henri Guernut, Nghị Sĩ Tỉnh Kisne, Ông Emile Kahn, Tổng Thư Ký Hội Nhân Quyền, các Văn Kiện can thiệp đều gởi đến Ông Tổng Trưởng Bộ Thuộc Địa là Ông: A1bert Sarrautm, để xin chánh thức nhìn nhận Đạo Cao Đài.

Từ Đức Quốc, Ông Go1vwin, Viết thư cho Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt xem như là một “ĐỨC-THÁNH-CHA” để ca tụng Công-Đức.

Bây giờ đã thành công và tiếp tục chấp chưởng quyền hành nền Đạo cho đến lúc xảy ra hai biến cố quan trọng có ảnh hưởng lớn lao trong toàn Đạo đó là:

1- ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT Đăng Tiên, vào ngày 13 Tháng 10 Năm Giáp-Tuất (8-11-1934).

2- ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, bị thực dân Pháp bắt đày ra hải đảo MADAGASCA (Phi-Châu) Ngày Mùng 4 Tháng 6 Nhuần Tân Tỵ ( 27-7-1941).

II. ĐỨC HỘ PHÁP TẠO LẬP PHẠM MÔN

Một Thành phần xu-hướng theo hai Ông Chánh Phối Sư Nguyễn Ngọc Tương và Ông Lê Bá Trang bị mất ảnh hưởng và tín nhiệm tại Tòa Thánh.

Một phần khác lại là phần đông có Đạo tâm có khuynh hướng Tu Chơn, cầu tiến trung kiên, nguyện ở lại Tòa Thánh, dưới sự lãnh Đạo của ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT và ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC. Trên thực tế, Đức Quyền Giáo Tông càng ngày càng sát cánh với Đức Hộ Pháp và nương theo uy thế của ông nầy tiến bước.

Đức Hộ Pháp nương theo gương giáo hóa, của Đức KHỔNG PHU TỬ, lập KHỔNG-MÔN, để tạo thành một cơ Sở “PHẠM-MÔN” gồm một số thiện tín trọn dạ trung thành cùng Ngài. Số tín đồ gia Nhập PHẠM MÔN tăng rất nhanh, gồm (500 Vị), xem như một tập thể Cộng Sản Đạo Đức mà những Đạo Sở đều sẵn lòng phát nguyện hiến dâng tất cả sự nghiệp, sanh mạng và tài sản cho nền sanh hoạt cộng đồng. Mọi người tập trung tài lực thành quả lao công để chia sớt nhau những nhu cầu hằng bửa để chung sống với nhau như công thức của Ông (FOURRIER) là : (TẤT CẢ CHO MỘT, MỘT CHO TẤT CẢ) hay nói một cách khác là : “NHỨT BỔN TÁN VẠN THÙ, VẠN THÙ QUI NHỨT BỔN”.

Các môn Đồ nầy xem như đàn con trong một gia-đình đặt dưới sự lãnh đạo của một Cha Già là: ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC mà mọi người đều suy tôn là “SƯ PHỤ”.

Có dư luận xuyên tạc rằng Đức Ngài đi sái Chơn Truyền của Đạo bởi sở hành trái với tôn chỉ đại đồng.

VÀ CHỐNG ĐỐI LẪN NHAU TẠI TÒA THÁNH

Hai vị Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh, không chống đối nổi với phong trào càng ngày càng thắng lợi của ĐỨC-QUYỀN GIÁO-TÔNG và ĐỨC HỘ-PHÁP, đành phải đi viện binh để làm hậu thuẫn; Đây là Ông NGUYỄN PHAN LONG, Hội Đồng Quản Hạt, một Chánh Trị gia lại là chủ bút, hiện đang nổi tiếng là một nhà trí thức bậc nhất nhì ở Nam Kỳ. Ông chịu đứng về phe hai ông Chánh Phối Sư, Ba Ông đồng hiệp nhau với một số Tín Đồ thuộc phe hai Ông ở Tòa Thánh, triệu tập một Đại Hội ngày 11-11-1932 cốt để chiếu theo chương trình nghị sự mà tuyên án Ông Chánh Phối Sư THÁI CA THANH là chia phe phân phái và chỉ trích sự phát hiện Cơ Sở PHẠM MÔN, của ĐỨC HỘ PHÁP. Số Đạo Hữu tụ tập về Tòa Thánh trong dịp nầy cũng đông trót ngàn người. bởi có sự mời mọc của hai Ông Chánh Phối Sư, mà kết cuộc phiên họp phải đình lại, bởi vì Ông Chánh Phối Sư NGUYỄN NGỌC TƯƠNG lâm bịnh không đến được.

Những sự chống đối lẫn nhau đến hồi quyết liệt.

Nào cuộc tranh chấp về ngôi thứ và quyền lợi, thêm phần Đạo Hữu ly tán trước mắt Chánh Phủ, vì sự kiện nầy mà đến ngày 18-1-1933 hai Ông Chánh Phối Sư TƯƠNG và TRANG, Công khai không nhìn nhận số tín đồ ở Tỉnh Châu Đốc tố cáo nhân viên Mật Thám đến phá rối họ trong một cuộc nhóm họp cúng kiến có xin phép.

Hai Ông ra tờ Hiệu Triệu kêu gọi tín Đồ Cao Đài phải trọn dâng lịnh và phục tùng Pháp Chánh Truyền, bất luận trong một hoàn cảnh nào.

Ngược lại, ĐỨC HỘ PHÁP CƯƠNG QUYẾT, tỏ nguyện vọng được quyền tự chủ trong sự tự do tín ngưỡng trong bao nhiêu bài diễn văn của Ngài, hàm súc nhiều điển tích có ý nghĩa sâu xa làm cho các nhà đương quyền càng lo sợ.

***

Tại Tỉnh Bạc Liêu xảy ra một cuộc hội họp cúng kiến của 80 vị tín đồ Cao Đài trong Thánh Thất mà không có xin phép, Cảnh Sát Công An tới bao vây bắt, lập Vi Bằng giải ra Tòa Án. Đến ngày xử tụng, Ông Chánh Án Tòa Sơ Thẩm Bạc Liêu, trái với sự mong muốn của Chánh Quyền Địa Phương, Tuyên Bố giữa Tòa là Tha bổng tất cả với lý do sau đây:

“Xét rằng các điều khoản: 291, 292 và 294, trong bộ hình luật canh cải hiện hành không nhầm những cuộc nhóm họp quá 20 người, Đạo Cao Đài không phải là “Hiệp Hội” mà là một Tôn Giáo.

Bản Quyết Nghị nầy làm cho mọi người ngạc nhiên dầu là Chánh Quyền hay là can phạm.

Do sự kiện nầy mà Quan Thống Đốc Nam Kỳ “KRAUTHEIMER”, để lời kết luận trong bản phúc trình tháng ba nói về tình hình Chánh Trị như vầy:

“Chánh Phủ càng ngày càng mất quyền sau khi đã trình bày trong bản phúc báo về tháng trước rằng,:

“Nếu có nhiều bản án mà Tòa-xử có ý nghĩa một chiều như thế thì e rằng sau đây Chánh-Phủ phải thiếu một biện-pháp để đối phó với Đạo Cao-Đài”.

***

SAU CUỘC SUY TÔN ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG

Hai Vị Chánh Phối Sư NGUYỄN NGỌC TƯƠNG và LÊ BÁ TRANG, bị loại ra khỏi Tòa-Thánh.

Vào cuối tháng ba Năm 1933 cuộc lễ đăng điện để suy tôn Ngài Đầu Sư THƯỢNG TRUNG NHỰT, lên Phẩm QUYỀN GIÁO TÔNG, do chỉ định thứ nhì, ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG và ĐỨC HỘ-PHÁP lập tại TÒA-THÁNH TÂY-NINH, Ngày mùng 3 tháng 10 Năm Canh Ngọ (Dl: 22-11-1930), Diễn ra Tại Tòa-Thánh Tây-Ninh với một quyết định vang dội.

Hai Vị Chánh Phối Sư THƯỢNG TƯƠNG THANH (Nguyễn-Ngọc Tương) và NGỌC TRANG THANH (Lê Bá Trang) bị loại trừ khỏi quyền hành chấp chưởng trong Hội Thánh.

Thế là từ đây, hai vị Đại Thiên Phong nầy đã mất hết quyền hành tại Tòa Thánh: Ông Trang thì rút về Quê quán, còn Ông Tương thì viết thư cho Quan Thống Đốc Nam Kỳ với giọng nói ít nhiều chua cay như sau:

“Tôi được người ta cho tự do rời khỏi các quyền hành chấp chưởng bấy lâu, giờ đây tôi lấy làm bất mãn với bầu không khí nặng nề làm cho tôi nghẹt thở tại nơi nầy.”

Ông báo tin cho Quan Thống Đốc rõ là Ông rời khỏi Tòa-Thánh Tây-Ninh, dứt khoát chức trách và quyền hạn hữu-hình, đặng trở về một Thánh-Thất lo phần việc Thiêng Liêng, quan hệ với phẩm tước của Ông.

ÔNG CHÁNH PHỐI SƯ NGỌC TRANG THANH

MƯU ĐỒ KHÔI PHỤC QUYỀN HÀNH

Đ ầu tháng tư năm (1933) tình trạng tại Tòa Thánh xoay chiều một cách bất thường.

Ông Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh tổ chức một phiên họp với 7 vị Chức Sắc Thiên Phong trong đó có Ông, Ông được đắc thăm với 6 lá phiếu làm hậu thuẫn, đứng ra là tố cáo ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG rằng cầm quyền trong 7 năm qua là lợi dụng địa vị để bòn rút tiền bạc của Chư Đạo Hữu, bán đất của Hội Thánh và làm nhiều điều tổn thương cho Đạo. Cuộc hội họp của 7 vị Chức-Sắc nầy lập Vi Bằng buộc ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, phải chịu phục lịnh họ, hay là từ Quyền chức trong thời hạn 8 ngày và tuyên bố cuộc lễ suy tôn ĐỨC QUYỀN GIÁO-TÔNG trước đây là bất hợp pháp, mặc dầu có nghị định thứ hai của ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG và ĐỨC HỘ PHÁP ấn định.

Tuy nhiên Đức Quyền Giáo Tông vẫn trầm tỉnh, để cho sự việc trôi qua, biết rằng với một Hội nghị như thế không cắt quyền cắt chức ai được, nhứt là một chức vị “QUYỂN GIÁO-TÔNG” không phải là một việc chơi mà ai muốn cắt lúc nào cũng được.

***

ÔNG CHÁNH PHỐI SƯ NGỌC TRANG THANH TRIỆU TẬP HỘI ” QUYỀN VẠN LINH, VỚI HẬU THUẪN CỦA ÔNG NGUYỄN PHAN LONG

Thấy không làm gì được nên ngày 11 tháng 6 Năm 1933, Ông Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh tự quyền triệu tập Hội “QUYỀN-VẠN LINH” gồm các cơ quan trong Đạo với ý định mời Đức Quyến Giáo Tông, ra lịnh đóng cửa Tòa Thánh. Ông Chánh Phối Sư NGỌC TRANG THANH, ra lịnh khác, tông cửa vào (Lúc Ấy là Đền Thánh Tạm) Truyền cho thuộc hạ của Ông khiên bàn ghé sắp đặt cuộc hội họp, giữa khoản Cửu Trùng Đài, Ông toa rập với phe của Ông NGUYỄN PHAN LONG ngồi ghế Chủ Tọa trong lúc ông nầy mặc âu phục, chưa hề biết luật Đạo là gì.

Ông Chánh Phối Sư NGỌC TRANG THANH, thừa dịp nầy tuyên bố trước mặt trót (500 Tín Đồ phe Ông là buộc ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, phải ra trước phiên họp để trả lời một cuộc truy tố quan trọng.

Lúc Ông Trang phái người đi mời ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG đến dự nhóm thì Đức Ngài hồi đáp rằng: “Không hề nhìn nhận quyền hạn của một cuộc hội nhóm bất thường, bất ngờ và bất hợp pháp như thế”. Tuy nhiên Đức Ngài cũng phái Ông TIẾP THẾ LÊ THẾ VĨNH, và Ông GIÁO SƯ THƯỢNG BẢY THANH thay mặt đối thủ.

Trong lúc ấy giữa Cung Điện Cửu Trùng Đài, đương phiên nhóm họp, thì bất thình lình có một Chức Sắc Phái NỮ, Bà GIÁO SƯ HỒ HƯƠNG LỰ (Sau nầy bà được vinh thăng tới Đầu Sư) Tức là Thân mẫu của hai vị Đại Thiên Phong CAO THƯỢNG SANH, và CAO TIẾP ĐẠO, Phía ngoài cửa Đền-Thánh bước vào, tay nương gậy, bà la lối lớn tiếng, Phản đối cái hội Bất-hợp-pháp nầy, nhứt là Bà không tiết lời phản đối Ông NGUYỄN PHAN LONG, là người không có Đạo Cao Đài, mang Âu Phục mà dám ngồi ghế Chủ Tọa giữa Đền-Thánh hội nhóm quá thất lễ.

Vì Bà là một Chức-Sắc phái Nữ già cả, trong Hội Nghị không ai dám phản kháng lại Bà, mặc dầu xôn xao nhưng im lặng, Bà la lối lớn tiếng bắt buột hội phái giải-tán, nên cuộc họp bất thành, rồi mọi người lần lượt rút ra khỏi Đền Thánh.

Ý Định của cuộc họp nầy là lợi dụng chữ “Quyền-Vạn-Linh” đặng để truất quyền của Anh-Cả, Nhưng mưu sự tại nhơn, thành sự tại thiên, kết cuộc ĐỨC QUYỀN GIÁO-TÔNG vẫn còn Quyền Hành nguyên vẹn.

***

THANH-THẾ CỦA ÔNG NGUYỄN PHAN LONG

Ông Nguyễn Phan Long là người như thế nào?

Ông Nguyễn Phan Long là một nhà “CÔNG PHÁP HỌC” một lãnh tụ Quốc Gia, từng được đắc cử Hội Đồng Quảng Hạt tại Nam Kỳ, Chủ Nhiệm Nhựt Báo “ĐUỐC NHÀ NAM”, Kiêm Giám Đốc Chánh Trị với Ông “BÙI QUANG CHIÊU” trong Nhựt Báo Pháp Văn “Le TRIBUNE INDOCHINOISE” (Diễn Đàn Đông Dương) là một cơ Quan chánh trị công khai hoạt động của đảng Lập Hiến Đông Dương thành lập từ năm 1923.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến Ông NGUYỄN PHAN LONG, điểu khiển một trong các nhựt báo lớn tại Saigon, tờ “VIỆT THANH” Năm 1947.

Ngày 9-9-1947 Ông Chủ Gia phái đoàn 24 nhân sĩ được phái sang Hương Cảng (HONGKONG) để yết kiến cụ Hoàng Bảo Đại.

Tháng Giêng năm 1950, Ông được Hoàng Bảo Đại chỉ định làm Thủ Tướng, thành lập Chánh Phủ Việt Nam.

Nội các Ông NGUYỄN PHAN LONG chỉ thành hình được ba tháng rồi để nhường lại nội các cho Ông TRẦN VĂN HỮU.

Với thanh thế kể trên, chỉ kể thành tích trước Đệ Nhị Thế Chiến, Ông Nguyễn Phan Long mà hiệp với Ông Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh, củng là một tay đối thủ lợi hai để chống đối với ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, nhưng cũng vô hiệu quả, như chư đọc già đả mục kiến ở các khoản trên.

Trong vụ tranh chấp còn ba nhân vật là: Chức Sắc Đại Thiên Phong, nên kể ra đây cho biết hành vi của mỗi vị:

1)- Ông Chánh Phối Sư THƯỢNG TƯƠNG THANH, làm màu từ bi đạo đức tuân theo Thánh ý ĐỨC CHÍ TÔN nên yên phận.

2)- Ông Thái Chánh Phối Sư THÁI THƠ THANH (Nguyễn Ngọc Thơ).

3)- Bà Đầu Sư LÂM HƯƠNG THANH.

Hai vị nầy không theo dõi kịp thời thế biến chuyển nên bị lôi cuốn, khi thì thiên về bên nầy, lúc nghe theo bên kia.

Còn phần ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC thì người ta quyết đoán rằng Đức Ngài nhờ có Thánh Giáo dạy đứng ra ngoài vòng cuộc tranh chấp trong giai đoạn nầy.

THUYÊN CHUYỂN CHỨC SẮC

N gười ta có cảm tưởng rằng, trong xứ Nam Kỳ lúc bấy giờ là một sân khấu của một cuộc thuyên chuyển Chức Sắc Cao Đài thuộc khuynh hướng, đặc biệt là tại các tỉnh Miền Tây, làm cho phần đông tín đồ hoang mang dao động và làm cho đức tin cũng bị sức mẻ một phấn nào.

Rút kinh nghiệm trong cuộc biến cố ngày 11-6-1933, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG bèn tổ chức một ban Bảo Thể trung kiên để bảo-vệ Tòa-Thánh Tây-Ninh, và Ngài cương quyết ra lịnh khai trừ, trục xuất, ngưng quyền liên tiếp những phần tử phản lại chơn truyền.

Ngày 16-9-1933, trong Tờ Phúc Trình gởi về Chánh Quốc cho toàn quyền Đông Dương có đoạn viết về tình hình xáo trộn chung tại Nam Kỳ, chưa bao giờ khó phân tách như hiện nay.

Cuộc tranh chấp Đạo Giáo tràn sang Miên Quốc, nơi mà Viện Phật Giáo Tại Nam Vang, giao phó trách-nhiệm cho những vị tuyên giáo đi vận động khắp trong xứ để cảnh cáo Dân Miên không cho theo Đạo Cao Đài mà Giáo Lý không phù hợp với Giáo Điều thuần tuý của Phật Giáo.

Rồi cuộc tranh chấp phe phái lại quay sang Trung Kỳ, nơi mà ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG Huấn Thị cho tất cả tín đồ Miền Trung. Nhất là tại “Huế” để nâng cao trình độ dân trí nơi đây và dự định gởi ra đó một phái đoàn truyền giáo.

Về phía Ông C.P.S LÊ BÁ TRANG, thì ông tung ra những Châu-Tri bố cáo khắp nơi để hạ uy tín đối phương.

Ông còn lưu ý Chánh Quyền về những Thánh Giáo có thể làm nguy hại cho sự an ninh công cộng của nhà nước.

Ông Chánh Phối Sư LÊ BÁ TRANG còn gởi cáo trạng đến Biện Lý Cuộc tố cáo Ông Giáo Sư LÊ VĂN BẢY ở Nam Vang về tội, sang đoạt hồ sơ trong vụ chống đối với ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG tại Tòa Thánh. Ông LÊ VĂN BẢY, bị Tòa Án câu lưu hết mấy hôm buộc phải hoàn trả tập tái liệu ấy lại.

Một vụ tố cáo tương tự đối với ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, nhưng tòa xét ra là toàn lời vu khống.

Cũng với mục đích mưu hại ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, Nên Biện Lý Cuộc Tây Ninh phải cứu xét từ lá đơn, nào là vụ đòi nợ, biểu thủ tiền nhơn công, giả mạo căn cước buôn bán đất lừa phỉnh…

Trong số đơn trạng, có lộn tờ tố cáo ĐỨC-QUYỀN GIÁO-TÔNG, lạm dụng số tiền mua sở đất của Ông CAPIFALI và ESBELETTE, giá đất gấp đôi so với số tiền ông đã trả cho chủ đất hồi lúc mới trở về Tòa-Thánh năm 1931.

Ngày 3-9-1933, có đến 70 lá đơn như thế tố cáo Đức Ngài.

Bất Thần một Chức Sắc qui vị tại Toà-Thánh.

ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG quàng linh cửu vị nầy tại trụ sở của Ông LÊ BÁ TRANG, trong thời gian là 6 ngày, bị tố cáo vệ sinh công cộng ngày 29-10-193, Đức Ngài bị phạt 5 quan tiền vạ.

Do tờ tường trình về vụ sĩ nhục khiến danh dự nhân phẩm của ngài bị tổn thương quá đáng, một hội cộng đồng do phe đối lập tạo dựng, tuyên bố lý do bất lực của Ngài.

Ngưng tất cả quyền hành tối cao của Ngài, và buộc Ngài từ chức. Nhưng sự kiện ấy không có hiệu lực chi cả, mặc dầu họ buộc Ngài phải giao quyền lãnh đạo nền Tôn Giáo cho ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, là Chức Sắc bảo tồn luật pháp Chơn Truyền, và ba vị Đầu Sư: THƯỢNG TƯƠNG THANH, NGỌC TRANG THANH THÁI THƠ THANH, với Bà Chánh Phối Sư LÂM HƯƠNG THANH, để ông đi dưỡng trí. Quyết nghị trên không có hiệu lực chi cả.

Ông Chánh Phối Sư LÊ BÁ TRANG, tách rời TÒA-THÁNH.

Ông Chánh-Phối-Sư NGUYỄN NGỌC TƯƠNG, cũng nối gót theo sau, cả hai Ông trở về An Hội (Bến Tre) và thành lập một chi phái mới.

***

ÔNG CHÁNH PHỐI SƯ THƯỢNG TƯƠNG THANH HOẠT ĐỘNG TẠI BẾN TRE TỰ XƯNG LÀ GIÁO TÔNG VÀ THÀNH LẬP BAN CHỈNH ĐẠO

T ại An Hội trong Tỉnh Bến Tre, Ông Chánh Phối Sư Nguyễn Ngọc Tương lãnh đạo, trước nhứt là lo chống đối Tòa-Thánh Tây-Ninh nhưng vô hiệu quả.

Sau hi ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG đăng tiên, Ông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG mới tự xưng là Giáo Tông mà trong bổn Đạo gọi là “GIÁO-TÔNG BẾN-TRE”, Ông đảm đương việc cải tổ một bộ máy hành chánh mới mẻ do ông chấp chưởng quyền hành, quyết tâm tranh thủ công việc thống nhứt các Chi Phái do đó mà “BAN CHỈNH ĐẠO” được thành hình đặt dưới quyền Chưởng Quản của Ông.

-Ông Chánh Phối Sư LÊ BÁ TRANG khuất tịch năm (1936).

-Ông Chánh Phối Sư Nguyễn Ngọc Tương sẽ có vài cuộc biến thiên, số 50 cái Thánh Thất có giấy phép trước kia đã biến thành “Nhà Tịnh” mà ông luôn luôn bảo thủ cho đến ngày ông thất lộc vào tháng 8 Năm 1951.

Lúc bấy giờ một người con trai của Ông Tên: NGUYỄN NGỌC THƯƠNG thay ông cầm đầu một nhóm Tín đồ của Ông lối 15 Ngàn người, thêm một số tín đồ cỡ 60 ngàn người thuộc các nhóm khác.

TÌNH HÌNH Ở TÒA-THÁNH NĂM 1934

T ại Tòa-Thánh Tây-Ninh, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT, vẫn ung dung làm chủ tình hình.

Tháng 2 Năm 1934, Ông tiếp một phái đoàn Thanh Tra Lao Động, Cứu Trợ Quốc Tế gồm các yếu nhơn danh tiếng là:

– Ông PERI, Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp.

– Ông BRUNEAU, Tổng Thư Ký Liên Minh Kỹ Thuật Dệt.

– Ông CHAINTRON, hiệu BARTHEL Chủ bút Nhựt Báo LA DEEENSE.

***

Trước đó vài hôm, Ngày 13-2-1934, vì chưa kịp nộp tiền phạt vạ Tư Pháp, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG bị bắt câu lưu, và được trả tự do sau khi nộp phạt. Tiếp theo đó, vì lẽ Ngài là một Nhân Vật trong xứ, một Thượng Hội Đồng, đã được thưởng “BẮT ĐẨU BỘI TINH” mà bị làm nhục với một sự phạt vạ nhỏ nhen như thế, nên Ngài gửi trả Huy Chương Cao Đảng ấy lại cho Tổng Thống Pháp.

Từ Đây ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, gia công với Hội Thánh chỉnh đốn nền Đạo trong lúc hai ông Chức Sắc Đại Thiên Phong là Nhị Vị Chánh Phối Sư, THƯỢNG TƯƠNG THANH và NGỌC TRANG THANH bỏ nhiệm sở.

Cuộc tranh chấp với Tòa-Thánh được chấm dứt kể từ ngày nầy.

ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG ĐĂNG TIÊN

N gày 28-3-1934 lại xảy ra hai vụ án phạt vạ nữa:

– ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG bị phạt 200 quan, về tội mở cửa một ngôi trường họ để dạy trẻ con trong Nộ Ô Tòa-Thánh mà không xin được phép.

– ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, bị phạt 100 quan tiền vạ về tội mở Trường Y Dược để lo thuốc men săn sóc chư Đạo Hữu trong lúc đau ốm.

Vì quá lao tâm nhọc trí với bao nhiêu sự thử thách, mà chư đọc giả đã mục kiến, ĐỨC QUYỀN GIÁ TÔNG kiệt sức nhóm bịnh trong một thời gian ngắn và qui liễu tại Tòa-Thánh Tây-Ninh ngày 10 Tháng 10 Năm Giáp Tuất (8-11-1934).

G iữa tình trạng khẩn trương tại Tòa-Thánh, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT lại đăng-tiên, thật là một biến chuyển hết sức quan trọng, lại thêm vào đấy một hoàn cảnh rất bi đát mà toàn Đạo đều chịu ảnh hưởng.

Đây nhắc lại những năm vừa qua ai cũng nhìn thấy cái nạn chia phái càng ngày càng nẩy nở, cuộc tranh chấp nội bộ càng gia tăng, những khó khăn về vật chất càng khổ sở, lòng nhiệt thành mộ Đạo của phần đông tín đồ buổi ban sơ, nhường chỗ cho sự uể oải, chán nản và lo âu trong tâm hồn, nên việc truyền giáo đã gặp những chướng-ngại, đủ thứ ở Việt-Nam, còn tại các xứ bảo hộ thì Đạo Cao Đài bị cấm hẳn.

***

ÔNG NGUYỄN NGỌC TƯƠNG ĐẮC CỬ GIÁO TÔNG BẾN TRE

Tại Bến Tre một nhóm lối vài ba trăm người Tín Đồ hội nhóm lo chọn người kế vị GIÁO TÔNG, với sự hám vọng và cũng là vì sự tín ngưỡng của họ, họ Cầu Cơ Thỉnh Giáo các Đấng Thiêng Liêng, không gặp đều phản ứng trái ngược, nên Ông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG, nương theo sự thuận lợi nầy tổ chức cuộc bầu cử Nội Bộ với kết quả của một số thuộc hạ bỏ thăm ưng thuận, Ông bèn tự xưng đắc cử GIÁO TÔNG, thay thế cho Đức quyền Giáo Tông vừa Qui Vị.

Lẻ dỉ nhiên việc đơn phương bầu cử “Giáo-Tông” như thế là lạm-quyền, không noi theo Chơn Truyền Luật Pháp của nền Đạo, lại chứng minh sự phàn loạn chống đối Tòa-Thánh Tây-Ninh.

Cuộc tranh chấp quyền hành đến hồi quyết liệt.

Khi Phái Đoàn Đại Diện cho Ông “Tân Giáo Tông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG”, đến hành trình xin dự tang lễ Đức Quyền Giáo Tông THƯỢNG TRUNG NHỰT, tức thì vấp phải một phản ứng rõ ràng: Bị từ chối một cách khéo léo, Phái Đoàn Bến Tre chỉ được phép đến lễ bái Liên Đài đang quàng trên Cửu Trùng Thiên giữa sân Đại Đồng Xã, rồi rút lui.

Cái hố phân cách chưa lúc nào bị đào sâu như lúc nầy.

ĐÁM TANG CỦA ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG

C ùng Khắp xứ Nam-Kỳ, Trung-Kỳ, Cao-Miên và Ai-Lao có trên ba vạn Tín đồ Nam, Nữ qui tụ về Tòa-Thánh để tang, mỗi người trên đầu đều chít khăn tang trắng, mọi cuộc tế lễ sắp đặt có chương trình rất nghiêm trang. Trong Đền-Thánh thì Chư Đạo Hữu, Đồng Nhi Nam,Và Nữ luân phiên nhau tụng kinh, ngày đêm không dứt. Trên Cửu Trùng Thiên, chung quanh Liên Đài thì Chức Sắc luân phiên đứng hầu, dưới Phòng Trù thì dọn cơm liên tục, làm thế nào trong trong ba vạn người phải có ăn mỗi ngày hai bữa cơm cho đủ, cuộc tế lễ trong vòng một tuần lễ.

Dưới mắt một người Việt Nam hoặc một Tín Đồ Cao Đài thì sự lễ nghi long trọng vẫn là thường tình, nhưng chúng ta đặt cuộc lễ dưới mắt của một người ngoại quốc để họ mô tả những điều mắt thấy tai nghe có lẻ thiết thực hơn.

Đây cảm tưởng của một ký giả người Pháp:

Ký giả nầy tên JEAN DRSENNE đến Tòa-Thánh bốn ngày sau khi Đức Quyền Giáo Tông đăng Tiên, và Liên Đài đã đem quàng trên Cửu Trùng Thiên, ở thêm Tòa Thánh ba ngày nữa để dự cho đến khi mãn cuộc lễ.

“… Nào là những đoàn người từ các nơi xa gần đi bằng xe hơi, xe cam nhong, xe bò, xe đạp, nào là ghe thuyền, chở đầy tín đồ đàn ông, đàn bà, con nít thảy thảy đều quyết chí đi mau tới Tòa-Thánh đặng thọ tang, có người lại bịt khăn trắng trước khi thọ lễ.

“Suốt ngày đêm, mọi người gồm cả Nam Phụ Lão Ấu luân phiên nhau lập thành hành ngũ chỉnh tề đến lễ bái trước Liên Đài hình bát giác, trong ấy thể xác được tẩn liệm cẩn thận, bằng cách ngồi kiết già, y như thể thức của ĐỨC HỘ PHÁP đang tọa thiền nhập định.

“Về tế lễ ban đêm, khi Thượng Thống Lễ Viện sắp đặt trật tự cho Chức Sắc, Chức Việc và Chư Đạo Hữu đứng có hàng ngũ chỉnh tề trên những kệ ván đặt chung quanh Cửu Trùng Thiên. Trước Liên Đài thì hàng lớp có trật tự quì giữa sân vái van thì thầm tiếng dội ra, làm như người ta có cảm tưởng như tiếng sóng bủa trên gành ở phương xa vọng lại khi trầm khi bổng, một giọng bi ai thống thiết như xé nát tâm can, ai bi não nuột, đó là những lời cầu nguyện thốt ra tiếng thì thầm tưởng niệm vong linh của người quá vảng, một giọng khẩn vái đều đều, tỏ lòng mến tiết đau thương. Những khấn nguyện rì rào ấy thình lình bị áp hẳn bởi một âm thanh hòa điệu của đoàn phụ nữ và Đồng Nhi tụng kinh cầu siêu, nhịp nhàng như tiếng hát oán than trầm bổng, khiến cho thính giả xúc động đến rợn người.

“Một chập sau khi mãn lễ, đoàn người lần lượt rút lui, Sân Đại Đồng Xã trở về cảnh trống trải của màng đêm vũ trụ trên nền trời tím thảm, các vì tinh tú thay phiên nhau nhấp nháy, các ngọn đuốc bằng mủ dầu chai soi sáng chung quanh đài với những làn khói đen theo chiều gió mùa Đông lạnh buốt.

“Bấy giờ chỉ còn lại có 36 Vị Chức Sắc Phái Thượng chầu chung quanh Liên Đài, họ xem thường mỏi mệt rét lạnh giữa tiết Đông.

“Qua ngày thứ ba là ngày lễ An Táng chánh thức, Số Tín Đồ Nam, Nữ đã đông lại còn đông hơn theo phong tục mà nhứt là thủ tục CAO ĐÀI thì mọi người đều y phục áo dái trắng, đầu bịt khăn trắng để tang xen lẫn với những Chức Sắc mặc áo rộng màu xanh (Phái Thượng), màu đỏ (Phái Ngọc), màu vàng (Phái-Thái).

“Dưới ánh sáng ban mai trong nền trời quang đãng, trên Liên Đài có gắn một đóa hoa sen lớn trải cánh hồng điều, hấp dẫn nhản quang của tất cả mọi người.

“Rồi bổng nhiên tiếng êm diệu của dàn nhạc bổn xứ trổi lên như khóc, như than qua những giọng lệ tức tưởi, tiếng vang dội của đoàn kèn làm biểu lộ những nổi bi ai thống thiết của toàn những người đi dự lễ.

Bà góa phụ LÊ VĂN TRUNG tiến lên trước Liên Đài Thờ, có mấy vị Chức sắc dìu đỡ.

“Tiếng Âm nhạc trổi lên theo nghi lễ, tám vị Lễ Sĩ mặc sắc phục Vàng, Xanh, Đỏ, tiến từ bước một với bộ điệu rập ràng khoan nhặt tùy theo nhịp của tiếng đàn, tiếng trống, trên hai tay họ bưng nhang, đèn, hoa quả, rượu, trà đưa ngang lên trán. Đó là lễ dâng Tam Bửu tượng trưng cho ba món báu là : TINH, KHÍ, THẦN.

“Và đây là lễ bái rất trang nghiêm, tôn kính của toàn thể tín đồ trước Liên Đài. Ngắm nhìn quang cảnh ấy có thể nói họ là những người theo cổ tục không ai bằng, họ vẫn có tinh thần trung kiên với truyền thống Tổ Phụ không đâu hơn. Tuy nhiên ở Đông Dương, thuyết Canh Tân Chủ Nghĩa vẫn sống chung được ân hậu với Cổ Truyền là nhờ sự ôn hòa trung thứ của thuyết Qui Nguyên Thượng Cổ vậy.

“Ai có biết chiếc bàn tròn để giữa kệ trên Cửu Trùng Thiên để làm chi chăng? Đó là nơi Hộ Pháp và Ba vị Đại Thiên Phong đứng lên đọc ai điếu. Trên bàn ấy có đặt sẵn một máy thu băng, và phát thanh. Trước nhứt là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, kế đó là ba vị Chức Sắc Cao Cấp, đại diện cho các Cơ Quan của Đạo, lần lượt đọc bài ai điếu với giọng mến thương, nhắc lại bao nhiêu công nghiệp trong vĩ vãng của một bậc Vĩ Nhân đã vì đời mà tận tụy, và cả kiếp sanh đầy gian nan khổ hạnh. Nhứt là bài diễn văn tuyệt bút của ĐỨC HỘ-PHÁP, hàm súc nhiều ý nghĩa bi thương bóng bẩy và kích thích tinh thần đối với thế hệ mai sau. Toàn thể đám tang im phăng phắc trong bầu không khí trầm lặng, chú ý nghe từ câu văn giọng đọc qua làn sóng phát thanh vang dội khắp cả núi rừng đất Việt.

“Thế là xong, chiếc Liên Đài có hoa sen tươi thắm ấy được kiệu trên lưng con Long Mã để toàn Đạo đưa Đức Ngài đến nơi an nghỉ nghìn thu mà Hội Thánh đã chu tất sẵn, giờ dây xác thể của ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG LÊ VĂN TRUNG không còn nữa, nhưng nền Đạo Cao Đài vẫn tiếp tục hoạ -động và chiến thắng.”

Đến đây là chấm dứt bài tường thuật về cảm tưởng của Ký Giả JEAN DORSENNE.

***

N hững ngọn đuốc soi sáng chung quanh Liên Đài của Đức Quyền Giáo Tông đã tắt hẳn, duy có cuộc tranh chấp không chút phai mờ. Mặc dầu trình độ và Chức Phẩm cách biệt nhau, nhưng tại bốn địa phương sau dây đã chứng minh sự hoạt động đáng kể:

Tại Tòa-Thánh thì Hội-Thánh lo chấn chỉnh nội bộ một cách chính chắn, sắp xếp chức phẩm nào vào nhiệm vụ nấy, với tài dung người một cách đặc sắc, ngôi sao của ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC chiếu sáng phi thường. Các Cơ quan Đạo Tuyên bố tín nhiệm và đồng tôn Đức Ngài làm lãnh đạo tối cao, lại nữa các cuộc tiếp xúc của Ngài với bà MONNLER (Tức là bà LÂM HƯƠNG THANH, một nhà quyền qui cao sang, giàu lòng từ bi quảng đại, khiến cho bà trở nên “Ân-Nhân”, của nền Đạo bằng cách trợ giúp tài sản và đứng tên xin phép khai mở phạm vi Thánh Địa.

Tại Bến Tre Ông Giáo Tông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG, Cố vận Động bằng đủ mọi cách để tự xưng mình là người chánh thức kế vị ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT. Tuy có một số Chức Sắc theo giúp đỡ Ông trong việc điều hành cơ quan Hành Chánh-Đạo, Ông Giáo Tông “TƯƠNG” có vẻ lo ngại cho việc Tổ Chức không được chu đáo, nên lắm lúc Ông đồ theo cách hoạt động của các Thánh-đường Thiên Chúa Giáo, rồi chỉnh đi chỉnh lại không tiến bộ chút nào .

Tại Mỹ Tho Ông Phối Sư THÁI CA THANH (Nguyễn Văn Ca, cựu Đốc Phủ Sứ), tách rời Tòa-Thánh cũng khá lâu, cũng lo hoạt động tranh đấu để bành trướng thế lực cho phái của Ông, phái nầy thờ “Trái Tim”.

Tại Cần Thơ, Ông VÕ VĂN THƠM có ảo vọng lôi cuốn chư Đạo Hữu ở Miền Tây Nam Kỳ theo về phe của Ông.

***

Như Thế là các vị trí cũng như hoàn cảnh của số Tín Đồ theo về Tòa-Thánh Tây-Ninh bị đe dọa và phong tỏa khắp nơi, cũng nhân vì ngày 19 Tháng 3 năm Giáp-Tuất (2-5-1934) “Cái Phiên Tòa Tam Giáo, do các chi phái phản loạn tổ chức đã tuyên bố giải-tán “PHẠM-MÔN”.

Bản án nầy không ban hành được vì ĐỨC HỘ-PHÁP sẵn có đại chí và thông minh hoạt bát, không hề nhượng bộ, mà nhứt định tiến tới từ bước một, Đứng trước bao nhiêu tín hữu Đạo Tâm có chí nguyện hy sinh, ĐỨC HỘ PHÁP đề xướng nguyện vọng tha thiết của Đức Ngài là phải làm thế nào khuếch trương mối Đạo, đồng thời vận động thống nhứt ý chí toàn cõi Đông Dương. Đức Ngài chứng tỏ là một nhà Triết học thông minh đại tài hay về “Vật lực luận”. Nhờ có Ông TIẾP THẾ LÊ THẾ VĨNH trợ-lực, nên ĐỨC HỘ-PHÁP không ngần-ngại đối phó ngang hành với Chánh Phủ Thuộc Địa Pháp. Không phải lòn cúi như các Chi Phái khác mỗi khi làm việc chi đều đệ đơn xin phép, mà Đức-Ngài cứ tự tiện xây cất Tòa-Thánh và các Thánh-Thất, mở-rộng cửa cho Chư Đạo Hữu tu-họp cúng kiến mà không cần xin phép nhà cầm quyền. Đức Ngài chỉ gởi Văn Thư đến các quan chức có trách nhiệm cố ý nhắc nhở họ thi hành quyền tự do tín ngưỡng, mà chính Hương Chức trong làng ít được thấu hiểu, do đó mà nhà chức trách thường hay vi phạm.

Với tư cách Đại Diện cho Hôi Thánh, ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC đã nắm được ưu thế hành động tự tin đứng vững địa vị tối cao.

Công tác xây dựng mở mang của Hội-Thánh Tây-Ninh càng ngày được dể dàng hơn bởi các biến chuyển vừa qua, bên Chánh Quốc Pháp, mặt trận bình dân Pháp lên cầm quyền, đường lối Chánh-Trị mới không khỏi có ảnh hưởng đến Đông-Dương.

Cuối năm (1934) Quan Toàn Quyền Pháp Rene ROBIN, ban cho Đạo Cao Đài quyền tự do tín ngưỡng và tự do hành đạo, bài bỏ hẳn chế độ bắt buộc phải xin phép trước mỗi khi xây cấy Thánh Thất mới.

Báo chí được tin trên, bèn đăng tải với mhững lời ca ngợi nồng nhiệt. Nhựt báo bằng Pháp Văn LA TRBUNE INDOCHINOISE (Diễn Đàn Đông-Dương) viết bài ca tụng có đoạn nói:

“Chính mình Ông ROBIN đã ban bố chế độ khoan hồng cho Toàn Dân bổn xứ nói chung, mà đạt biệt nhứt là toàn thể Tín Đồ Cao Đài không khỏi nhận chân tình chính trị cao cả và tri ân của ông vậy.”

“Tuy nhiên Nghị-định đề cập đến quyền Tự do Tín ngưỡng ấy minh xác rằng:

“Chỉ có dân chúng thuộc địa như ở Nam-Kỳ và các Thành Phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng (Tourane) mới được hưởng thụ quyền tự do tín ngưỡng, Trái lại dân chúng đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp như ở Bắc Việt, Trung Việt, Ai Lao, và Cao Miên thì người dân không được hưởng quyền tự do nói trên.”

***

Giờ đây ĐẠO CAO ĐÀI thuộc hệ thống TÒA THÁNH TÂY NINH, có một sắc diện mới-mẻ, ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, nắm vững quyền Hội-Thánh, với nấy ngàn Chức Sắc Thiên Phong, Chức Việc để chấn chỉnh va điều hòa Tổ Chức Hành Chánh Đạo, trong nước và ngoài nước y theo Tân Luật, Pháp Chánh Truyền và Chơn Truyền Chánh Pháp của Đạo.

Đức Ngài cho tái thiết lại TÒA NỘI CHÁNH CỬU TRÙNG ĐÀI, Gồm Cửu Viện ba phái: “THÁI, THƯỢNG, NGỌC” mỗi viện đều có văn phòng riêng.

TÒA NỘI CHÁNH CỬU TRÙNG ĐÀI

PHÁI THÁI : do THÁI CHÁNH PHỐI SƯ điều khiển ba viện:

a- HỘ VIỆN chuyên về phần thâu xuất tài chánh, giữ gìn tài sản của Đạo .

b- LƯƠNG VIỆN : Chuyên lo lương thực, vận động Gạo Lúa tích trữ để nuôi tất cả Chức Sắc và Đạo Hữu hiến thân làm Công-Quả.

c- CÔNG VIỆN: Tuyển chọn và tập trung các công thợ chuyên môn xây cất các dinh thự nhà cửa, Thợ Sơn, Thợ Đắp Vẽ, Thợ Mộc, mở mang đường xá, cống rãnh.

PHÁI THƯỢNG : Do THƯỢNG CHÁNH PHỐI SƯ điều khiển gồm có ba viện:

a- HỌC-VIỆN : Đào tạo Đạo Đức Học Đường, Xây dựng thêm trường ốc, cốt giáo hóa con em trong Đạo, đào tạo các mầm non nhằm kế chí cho đàn Anh trong tương lai.

b- Y-VIỆN: Chuyên lo Tổ chức Dưỡng Đường, đào tạo Y Tá, Điều Dưỡng, thâu thập Y Sĩ để chăm lo sức khỏe cho Chư Tín Hữu điều trị các căn bịnh với những phương tiện Y Khoa.

c- NÔNG-VIỆN: Chuyên lo canh tác ruộng rẫy, tổ chức các cơ sở về nông nghiệp để nuôi những người hiến thân làm công quả.

PHÁI NGỌC : Do NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ điều khiển, gồm có ba viện:

a- HÒA-VIỆN: là Cơ quan gìn giữ an ninh trật tự trong Châu Vi Thánh Địa, hòa giải mọi việc tranh tụng, trong hàng Chức Việc và Đạo Hữu.

b- LẠI-VIỆN : Trông nom về nhân sự, về Hành Chánh, thuyên bổ Chức Sắc đi hành Đạo khắp nơi trong nước và ngoài nước.

c- LỄ-VIỆN: Chuyên lo các nghi lễ cúng kiến hằng ngày, các ngày vía và sóc vọng, có “Ban Tiếp Tân” đón rước quan khách viếng thăm Tòa-Thánh.

***

TRẤN ĐẠO & CHÂU ĐẠO

L úc Bấy giờ Hội-Thánh Tây-Ninh phân số 20 Tỉnh Thành trong Xứ Nam Kỳ thành 5 Trấn Đạo Như hồi xưa. Mỗi Trấn đặt một vị Giáo Sư cầm đầu gọi là: KHÂM TRẤN ĐẠO.

Mỗi Tỉnh ở ngoài đời thì trong Đạo gọi là: CHÂU ĐẠO; dưới quyền của một vị Giáo Hữu gọi là: KHÂM CHÂU ĐẠO.

Đây các TRẤN ĐẠO, CHÂU ĐẠO theo hệ thống Tòa-Thánh Tây-Ninh:

-TRẤN ĐẠO AN GIANG gồm 5 Châu Đạo: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Bạc Liêu.

-TRẤN ĐẠO LONG HỒ gồm 5 Châu Đạo: Cần Thơ, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng.

-TRẤN ĐẠO GIA ĐỊNH gồm 4 Châu Đạo: Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh.

-TRÂN ĐẠO BIÊN HÒA gồm 3 Châu Đạo: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một.

-TRẤN ĐẠO ĐỊNH TƯỜNG gồm 3 Châu Đạo: Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre.

Ngoài ra trong mỗi Trấn Đạo, nếu cần thì mỗi Châu Đạo có đặt một Chức Sắc HIỆP THIÊN ĐÀI, để trông nom vế Luật Pháp Chơn Truyền.

HIỆP THIÊN ĐÀI

HIỆP THIÊN ĐÀI, đặt dưới quyền Chưởng Quản của ĐỨC HỘ PHÁP, phân ra ba cơ quan như sau:

A/- BỘ PHÁP CHÁNH: Chuyên giữ gìn Luật Pháp Chơn Truyền của Đạo, điều tra và xử đoán các việc tranh tụng trong cửa Đạo.

B/- CƠ QUAN PHƯỚC THIỆN:

Chuyên về các việc tạo dựng: Lương Điền, Thương Mãi, Công Nghệ. Đài thọ chu đáo cho các Dưỡng Đường, Nhà Bảo Sanh, Dưỡng Lão, Cô Nhi, Quả Phụ cứu giúp cho đời người bớt đau khổ về vật chất, bảo bọc những kẻ cô thế tật nguyền. Ngoài ra Cơ Quan Phước Thiện, hiệp với Lễ Viện Hành Chánh lo về mọi việc Tế Lễ trong Đạo.

C/-CƠ THÁNH VỆ VÀ BẢO THỂ: Chịu trách nhiệm về an ninh trật tự, trong Châu Vi Thánh Địa, canh gát tuần phòng, ngăn ngừa những kẻ gian manh, trộm cướp, bảo vệ Chức Sắc Hội-Thánh tại các dinh thự của mỗi Cơ Quan.

NỀN ĐẠO SUNG TÚC TRỞ LẠI

Các cuộc tạo tác cơ sở xây dựng đã bị ngưng trệ một thới gian, nay có cơ hội hoạt động mạnh trở lại, nhứt là trong vùng Nội Ô Thánh Địa.

Ở Tỉnh, các Thánh Thất mở rộng cửa đón tiếp tất cả Chư Đạo Hữu và khách khứa đến lễ bái càng ngày càng đông.

Tòa-Thánh Tây-Ninh thường xuyên thuyên bổ Chức Sắc trấn nhậm các Tỉnh, các Quận, các Thánh Thất kèm theo trách vụ Phổ Tế, Phổ Độ Nhơn Sanh Tu Hành, quảng bá Giáo Lý Đại Đạo, đồng thời kiểm soát và chăm nom số Tín Đồ Trung Kiên với Tôn Chỉ.

Với sự phân công bổ nhiệm của Hội-Thánh ủy thác cho hàng Phẩm Giáo Sư, Giáo Hữu đi Hành Đạo Địa Phương, có qui định ranh giới quyền hạn đành rành, họ cố gắng lo tròn trọng trách của bề trên phú thác, họ hoạt động rất có hiệu quả nên nguồn máy Hành Chánh càng thêm vững chắc.

CAO ĐÀI GIÁO ĐÃ THÀNH CÔNG

Vì từ đây chỉ còn điều chỉnh về mặt tiểu tiết nữa thôi.

LỂ TIỂU TƯỜNG CỦA ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG

ĐẠI HỘI NHƠN SANH TÍN NHIỆM VÀ TRAO QUYỀN LÃNH ĐẠO TỐI CAO CHO ĐỨC HỘ PHÁP

Tại Tòa-Thánh Tây-Ninh kể từ Ngày 13 đến rằm tháng 10 Năm Ất Hợi, (8 tới 10-11-1935) là Lễ Tiểu Tường ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT, Thiện Nam, Tín Nữ, Quan Khách ở các Tỉnh và khắp nơi trong xứ tựu về Tòa-Thánh Rất đông đảo.

Cuộc lễ Tiểu Tường vừa xong, tiếp đến ngày 16 và 17 tháng 10 Năm Ất Hợi (Dl: 11,12 tháng 11-1935) Là Ngày Đại Hội Nhơn Sanh và Hội-Thánh nhóm chung nhau, để tuyển trạch người kế vị cho ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG.

Mặc dầu không có Thánh Giáo nào chỉ dạy cho biết Thánh Ý của ĐỨC CHÍ TÔN, và trong bầu không khí Tôn Nghiêm và trọng hệ nầy, ai cũng hướng về ĐỨC HỘ PHÁP. Ngặt nổi ĐỨC HỘ PHÁP theo Pháp Chánh Truyền là người gìn giữ Luật Pháp Của Đạo, là vị Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, kiêm Chưởng Quản Chi Pháp, thì không có lãnh trách nhiệm Giáo Tông.

-Trong lúc chờ đợi có Giáo Tông chánh vị, thì Hội đặc tín nhiệm nơi ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, và yêu cầu Đức Ngài đứng lên lèo lái con Thuyền Đạo.

Đây là giải pháp tạm thời để cho Đức Ngài, Nắm hai quyền HIỆP THIÊN ĐÀI và CỬU TRUNG ĐÀI, cho đến khi có Đầu Sư Chánh Vị.

Thế thường người ta thường mục kiến trường hợp tạm thời với thời gian vô định “VẨN LÀ THIỆT THỌ VẬY”.

Trên thực tế với bao nhiêu phá rối và đánh đỗ của các Chi Phái, với bao nhiêu vụ áp bức của Chánh Quyền Pháp bắt lưu đày, Đức Ngài suốt thời gian Đệ Nhị Thế Chiến cho đến ngày nay, chỉ một mình Đức Ngài, HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, đã trở thành một Giáo Chủ Hữu hình của nền ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ TÒA-THÁNH TÂY-NINH vậy.

Với tư thế xứng đáng vào hang phẩm tối cao, tối trọng ĐỨC HỘ PHÁP vượt qua tất cả các trở ngại gây hấn, đứng đầu là cuộc khuấy rối của bao nhiêu Chi Phái, đạp bao nhiêu chướng ngại. Kể từ trước đến năm 1939, Ngôi Sao của Đức Ngài càng sáng tỏ, uy tín gia tăng trong toàn Đạo, nhờ thế mà công cuộc tổ chức chấn hưng nền Đạo đặt trên nền tảng vững chắc.

***

Những năm trước Đệ Nhị Thế Chiến thỉnh thoảng xảy ra những vụ xung đột giữa Quyền Đạo và Quyền Đời. tình thế khủng hoảng mới lại xuất hiện. Sau ngày Quan Toàn Quyền (Remne ROBIN) rời khỏi Đông-Dương (Dl: 13-11-1939) Chánh Quyền Thuộc Địa trở lại tấn công nền Đạo một cách rõ rệt, nhưng nhờ sự can thiệp của Ông Trưởng Thuộc Địa Georges MANDEL, kịp thời chận đứng sự đàn áp trong năm 1940 cho tới giữa năm 1941, nên việc áp chế được châm giảm một lúc.

Thật Vậy, Quyền Hạn của ĐỨC HỘ PHÁP chỉ đóng khung trong Toàn Đạo thuộc Tòa-Thánh Tây-Ninh mà thôi, còn các Chi Phái mà chúng ta đã thấy nẩy nở ra trước đây vẫn ở trong chế độ tự lập tự trị mà ganh hiềm Tòa-Thánh. Sự tranh chấp bất hòa vẫn xảy ra làm cho người ta cảm tưởng rằng: Nền Đạo Cao Đài đang sống trong thời Đại Vô Chánh Phủ, nguyện vọng Thống Nhứt của mọi người không thực hiện được vì những phe nầy chỉ muốn phe kia tùng phục mình, rốt cuộc chẵn có Chi Phái nào chịu nhẫn nhượng cho nhau.

NGUYỆN VỌNG THỐNG NHỨT

N guyện vọng Thống Nhứt được cụ thể hóa từ năm (1933) chung quanh vùng Cầu Kho (Saigon) bằng một cuộc hội nhóm để tìm đất thỏa hiệp gồm những Đạo Hữu có địa vị quan trọng như Ông Phủ VƯƠNG QUANG KỲ, Giáo Sư TRẦN VĂN QUẾ, Ký Giả NGUYỄN PHAN LONG, Hiệu Trưởng ĐOÀN VĂN BẢN, Cựu Hội Đồng Quản Hạt CAO TRIỀU PHÁT, Đốc Phủ Sứ NGUYỄN VĂN KIÊM, Huyện Hàm NGUYỄN VĂN DƯỚC, Chủ Doanh Nghiệp PHAN TRƯỜNG MẠNH, Giám Thị Nhà Ga NGUYỄN VĂN PHÙNG, Thư Ký Sở Mật Thám VÕ VĂN TƯƠNG.

CAO ĐÀI TỔNG HỘI: PHÁI ÔNG NGUYỄN PHAN-LONG

Ba Năm sau, vào năm 1936, Phái Cao Đài Tổng Hội, tự phát xuất một cuộc vận động thống nhứt các Chi Phái.

Do Một bài Thánh Giáo, Nhóm Cao Đài Tổng Hội tiếp xúc các Chi phái, ra lịnh cho Ông Giáo Lãnh NGUYỄN VĂN HIÊN, thuộc phái CHƠN MINH LÝ (Tòa Thánh Trung Giang), phải giao liên với Ông ĐOÀN VĂN BẢN, Thuộc Thánh Thất Cầu Kho và Ông CAO TRIỀU PHÁT, Chưởng Pháp Cai Quản Thánh Thất “CAO THƯỢNG BỬU TÒA” (Tòa Thánh Hậu Giang) song không đi đến Thống Nhứt được, mặc dầu trong mấy năm dài, các Chi Phái vẫn chịu khó và cố tâm tìm phương dung hợp .

***

Ông NGUYỄN PHAN LONG, lấy tư cách Hội Đồng Quản Hạt làm Cố Vấn nền Tôn Giáo, can-thiệp với Quan Thống Đốc (KRAUTHSIMER) xin mở cửa lại số 92 cái Thánh-Thất đặt dưới quyền Cai Quản của Ông “PHÓ GIÁO LÃNH” NGUYỄN NGỌC TƯƠNG, lúc Ông đang cầm quyền Chánh Phối Sư, Quyền Đầu Sư đứng tên làm chủ tất cả các Thánh-Thất thuộc Tòa-Thánh Tây-Ninh, rồi xảy ra các cuộc tranh chấp cho tới ngày ông rút về Bến Tre.

Ông NGUYỄN PHAN LONG cảm nghỉ rằng với uy thế ông đã tạo, và giúp đỡ nhiều Đạo Hữu bấy lâu nay Ông có thể thực hiện được công tác liên hòa rộng rải chung quanh ông, có phải chăng nhờ thế mà ông được cử làm Chủ Tịch của “CAO-ĐÀI TỔNG-HỘI”?

Về việc Ông xin giao trả các Thánh-Thất, Ông chỉ thành công một phần nào đó thôi, còn những Thánh-Thất thuộc về Tòa-Thánh Tây-Ninh, thì vẫn đứng ngoài vòng ảnh hưởng ấy.

Trong Tập San CAO-ĐÀI GIÁO LÝ, Số Noel (1950) Trang 85 với Tựa đề “TÒA-THÁNH TÂY-NINH KHÔNG THỪA NHẬN” có một đoạn viết như sau :

“Nhờ sự kiên trì nhẫn nại với bao nhiêu kinh nghiệm rút rỉa ngoài đời, với sự tế nhị trong trường ngoại giao “Ông NGUYỄN PHAN LONG” đã qui tựu một số cộng sự viên trung thành và tận tụy, sau một thời gian tương đối ngắn ngũi, nhiều chi phái tập trung lại chung quanh ông, thành lập “TRUNG TÂM CAO-ĐÀI HUYNH ĐỆ” mà Giáo Lý chỉ đứng vững với những bài phiên luận suôn.

“Dưới quyền điều-khiển của Ông, sau ba năm nổ lực, nhóm nầy truyền bá Giáo Lý Cao-Đài ra tới Miền Trung Việt. Đà Nẵng, Tam Quan và khóa vòng hoạt động, với 12 Trụ Sở làm chi nhánh gọi là “LONG-VÂN CHI-HỘI” nơi nhóm hợp để tìm phương thống nhứt.

“Năm Mậu Dần (1938) nhóm Tín Đồ Cầu Kho (Sai Gòn) có thiện- chí tổ chức “Lễ kỷ niệm ngày thành Đạo” dưới quyền Chủ Tọa của “CAO-ĐÀI TỔNG-HỘI” nhân-dịp nầy chư Đạo Hữu các nơi Bắc, Trung, Nam, Cao-Miên, và Ai-Lao, được mời về nhóm họp một phiên họp khoán Đại Hội Nghị để giải quyết vấn đề thống nhất tinh thần và Đại Đồng Giáo Lý. Số tín đồ tựu họp khá đông, các bài thuyết giáo được phát thanh đầy đủ.”

Tuy sự hoạt Động có phần chu đáo, nhưng không làm tổn-thương nổi uy thế của Tòa-Thánh Tây-Ninh.

Cũng trong năm nầy (1938), sau kỳ Đại Hội một thời gian ngắn, có lịnh Thiêng Liêng do nơi “CAO-ĐÀI TỔNG-HỘI” ban hành tuyên bố giải tán tất cả 12 Chi Hội LONG-VÂN.

Sự tuyên bố nầy gợi ra hai nhận định chính xác :

– Một mặt cuộc tranh đấu của LONG-VÂN-HỘI chỉ đe dọa quyền hành của HỘI-THÁNH TÂY-NINH nhưng không lay chuyển nổi.

Hậu quả liền theo đó là trong đêm mùng 8 rạng mùng 9 tháng giêng năm Mậu Dần (DL: 7-8 Pe1vrier 1938), một bài Thánh Giáo xác nhận, ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC là : CHƯỞNG QUẢN NHỊ HỮU HÌNH ĐÀI HIỆP-THIÊN VÀ CỬU-TRÙNG, làm cho gia tăng cương vị của ĐỨC HỘ PHÁP. Chung qui sự thất bại hoàn toàn của Phái Ông NGUYỄN PHAN LONG đã rõ rệt.

Mặc khác Tập San “CAO-ĐÀI GIÁO-LÝ” Số 8 Tháng 6 và tháng 7 Năm 1949, nơi trang 339 có nhắc:

“Cuộc hội họp của 12 Chi hội LONG-VÂN có tánh cách quá khích với ảo vọng chống đối Tòa-Thánh Tây-Ninh khiến các nhà đương quyền chú ý theo dõi và nghi ngờ sẽ có rối loạn. Vì lẽ ấy một số Trụ Sở bị Chánh Quyền đóng cửa, một số tín đồ bị bắt điều tra.”

***

Ngày 23 Tháng 7 năm Canh Thìn (Dl: 26-8-1940), có 16 Thánh-Thất, trong số 79 còn lại, kể cả Đền-Thánh Tây-Ninh cũng bị đóng cửa theo lịnh của Chánh Phủ vì không có giấy phép. Ngoài ra các nhà Sở Phước Thiện cũng bị tình nghi là nơi làm quốc sự của Đạo Cao-Đài, nơi nào bị đóng cửa đều bị khám xét cẩn mật, nhứt là tại Tòa-Thánh Tây-Ninh, Chánh Quyền tịch thâu các sổ sách chứng minh sự hoạt động của nền Đạo kể sau đây :

Bộ Đạo Bản Đồ Tổ Chức, Sổ Nhật ký Công Văn, gởi đi và nhận được, Giấy Thông Hành đi Hành Đạo, Phúc Trình có định kỳ 3 Tháng, 6 Tháng và hằng năm, dự án, thâu xuất, sổ kết toán, Châu Tri, Bố Cáo, Huấn Lịnh, Nghị Định, Tờ Thuyên Bổ Chức Sắc, Tờ Ban Khen, Nghị Quyết trục Xuất (vụ Ông Tương, Ông Trang), Bản án các phiên xử Tòa Đạo (Pháp Chánh) v.v…

Các Công Văn đều có đóng dấu chứng minh đó là những Văn Kiện Đạo làm Chánh Trị đề theo kiểu mẫu của Nhà Nước, Đây là một Tổ Chức Quốc Sự núp dưới bóng Đạo để mưu đồ Lập Quốc đợi thời cơ thay thế Chánh Quyền Pháp tại Đông Dương.

Lẻ dĩ nhiên Cơ Quan Hành Chánh Đạo bị ngưng trệ.

Toàn Đạo phẫn uất lãnh đạm với hành tàng của Chánh Quyền, nhưng với kiên nhẫn khép mình trong vòng trật tự an ninh.

Vài tháng sau, các phong trào cách mạng Chống Pháp nổi lên khắp xứ, trong khoản tháng 10 tháng 11 Năm 1940, trong vùng Lạng-Sơn Cao-Bằng, trong giải Núi Đông-Triều ngoài Bắc-Việt. Tại Miền-Nam Việt Nam , Cuộc Cách-Mạng Chống Pháp cũng nổi lên tại các Tỉnh Tân An, Mỹ Tho, Cao Lãnh. Lần thứ nhứt Dân Thôn quê dựng cờ đỏ sao vàng của Cộng-Sản.

Tháng Giêng Năm 1941, ở Miền-Bắc Trung-Việt, khắp mọi nơi nhứt là tại vùng đồ lương dân tâm quá xao xuyến đòi hỏi quyền tự do làm cho Chánh Quyền Pháp phải sử dụng lối đàn áp khắt khe và bắt bớ để vãn hồi an ninh công cộng.

Đối với Chánh Quyền toàn thể Tín Đồ trung thành với Tòa-Thánh Tây-Ninh đều xa lánh những thành phần phá rối Chánh-Phủ, Họ không quên lưu ý Chánh Quyền rằng hễ nơi nào có Đạo Cao-Đài thì Cộng Sàn không phương lan tràn đến được.

Những hoạt động Chánh Trị của các phong trào cứ tiếp diễn, trong những tin tức thâu thập được, đã có đề cập đến một số nhân vật ở Tỉnh Tây-Ninh.

Quan Toàn Quyền liền áp dụng biện pháp cứng rắn hy vọng chấm dứt các hành động mà Ông cho rằng phá rối cuộc trị an công cộng.

CỦA ĐẠO CAO-ĐÀI ĐỨC HỘ PHÁP THỌ NẠN NĂM VỊ CHỨC SẮC THIÊN PHONG BỊ PHÁP BẮT LƯU ĐÀY

N gày nùng 4 tháng 6 Nhuần, Năm Tân-Tỵ (Dl: 27-7-1941). ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC Bị nhà cầm quyền Pháp bắt đày đi Sơn La canh giữ nghiêm nhặt tại mỗi nơi bí mật để chờ lịnh phán quyết cuối cùng, Những Đạo Hữu trung thành và thân nhân cố gắng chạy các nơi dò la tin tức, song không được kết quả chi.

Đến Ngày 11 Tháng 7 Năm Tân-Tỵ (Dl: 2-9-1941), Năm Vị Chức Sắc Đại Thiên Phong sau đây cũng bị bắt chung số phận và dẫn giải đến Djiring là một Quận nhỏ ở vùng Cao Nguyên Miền Nam Trung Việt:

1-Ông, KHAI PHÁP TRẦN DUY NGHĨA, Thời Quân Hiệp Thiên Đài (Phẩm nầy tương đương với Đầu Sư Cửu Trùng Đài) bị bắt tại Saigon.

2-Ông TRẦN VĂN PHẤN, Giáo Sư THÁI PHẤN THANH) Chủ Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo Cao Đài tại Nam Vang, bị Bắt tại Thủ Đô nầy.

3- Ông NGUYỄN THẾ TRỌNG, Ngọc Chánh Phối Sư bị bắt tại Tòa-Thánh Tây-Ninh.

4- Ông THÁI VĂN GẤM (Giáo Sư THÁI GẤM THANH), liễu Đạo tại Karianga MADAGACAR, Ngày 20 tháng 8 Năm Nhâm Ngọ (29-9-1942).

5- Ông ĐỖ QUANG HIỂN, Sĩ Tải Hiệp Thiên Đài, Bí Thư của ĐỨC HỘ PHÁP, tử tại Karianga, ngày 14 Tháng 4 Năm 1943 ( Al- Ngày 10 Tháng 3 Năm Quí-Mùi).

Ba Ông, TRỌNG, GẤM và HIỂN, đều bị bắt tại Tòa-Thánh.

Vị Chức sắc thứ 6 là Ông ĐẶNG TRUNG CHỮ, Chánh Phối Sư tránh khỏi sự truy nã của Chánh Quyền Pháp suốt thời gian Đệ Nhị Thế Chiến, Ông tham gia việc Đạo một cách miễn cưỡng và cuối cùng Ông bị Việt Minh ám sát tạ Phú Lâm (Chợ-Lớn) vào tháng 5 Dương Lịch 1947.

Ngày rằm tháng 7 Năm Tân-Tỵ (dl: 6-9-1941), Sáu Vị Chức-Sắc Đại Thiên Phong còn có mặt tại Saigon, cũng trong ngày nầy, tất cả đều bi đưa một cách bí mật xuống một chiếc Tàu “S/S Cao TOURANE” tàu nhổ neo tách bến và từ đây, họ phải chịu số phận Tù-Đày.

Ngày 30-9-1941 (Âm Lịch Mùng 10 Tháng 8 năm Tân-Tỵ), 6 Vị Đại Thiên phong đến (TAMATAVE) để rồi 4 hôm sau tàu cập bến (Diego Suarez) và bị giam vào khám ở thị trấn nầy được 4 ngày, tiếp theo 4 ngày nữa ở tại (ANALALAVA) Nơi đây một chiếc tàu Xà-Lúp chở 6 vị đến (MOSSI-LEVE) để câu lưu 8 tháng.

Đến năn 1943 và 1944, tất cả đều sống trong cảnh lao tù tại (KACIANGO), là nơi mà hai Ông THÁI VĂN GẤM và ĐỔ QUANG HIỂN từ trần vì bịnh.

Năm 1945, 4 vị còn sống sót được dời đến địa điểm (STRONDIEULA)

Năm 1946, đi (BELTROKA) Ở Phía Nam đảo MADAGACAR 4 tháng.

Từ tháng 7 Dương Lịch Năm 1946 họ bị di chuyển đến thị trấn (ANTSIRABE) qua Thủ Đô (TANANARIVE), Sau rốt đến hải cảng (TAMATAVE), là nơi mà tất cả được chờ ngày hồi hương.

ĐỨC HỘ PHÁP, được hồi hương trước và tới Saigon ngày 26 tháng 7 năm Bính Tuất (dl: 22-08-1946).

Sau lại 3 vị Chức Sắc còn sống sót là Khai Pháp TRẦN DUY NGHĨA, Ngọc Chánh Phối Sư NGUYỄN THẾ TRỌNG và Giáo Sư TRẦN VĂN PHẤN, được một chiếc hạm Pháp đưa về đến Saigon ngày 29-11-1946.

***

Nhưng giờ đây chúng ta hãy xem lại tại Việt Nam, cái tin vang dội và những cuộc bắt bớ quan trọng kể trên đã phát sanh và cảm giác như thế nào mà hậu quả của nó ra sao?

Cái tin Đức Hộ Pháp PHẠM CÔNG TẮC bị bắt gây náo loạn kinh khủng và gieo rắc một mối hổn loạn vô cùng rộng giữa các giới Tín Đồ CAO ĐÀI GIÁO, toàn Đạo đều nhận định rằng:

Tiền Đồ của Đại Đạo Cao-Đài đã đến hồi quá ư đen tối, một Chức Sắc hiện diện tại Tòa-Thánh Tây-Ninh lúc nầy càng đắn đo với số phận, lo ngại về An Ninh bản thân mình hơn la lo lắng vận mạng của Đạo, họ liền rời khỏi Thánh-Địa, những Chức-Sắc còn ở lại có tinh thần can đảm hơn, Quyết định tiếp tục cầm giềng mối Đạo, và gìn giữ tài sản của Hội-Thánh.

A. THÁI ĐỘ CỦA CHƯ CHỨC SẮC HIỆN DIỆN TẠI TÒA-THÁNH

Đ ể được an toàn trong tình thế khẩn trương các Chức Sắc hiện diện nơi Tòa-Thánh, bèn hội thảo một kế hoạch như sau:

Trước tiên là Không nhìn nhận Quyền Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài của ĐỨC HỘ PHÁP để biện minh với Chánh Phủ Pháp, là số Chức Sắc hiện diện không theo đường lối chánh trị của Đức Hộ Pháp.

Kế tiếp là thành lập quyền Quản Trị duy nhứt giao cho ba vị Chánh Phối Sư toàn quyền điều khiển nền Đạo. (Hiệp Thiên Đài không được đề cập đến, có nghĩa là đặt dưới quyển điều khiển của Hội-Thánh Cửu Trùng Đài).

Ngày 16 Tháng 6 nhuần Tân Tỵ (Dl: 8-8-1941) trước sự hiện diện của hai vị Chức Sắc Hiệp Thiên Đài, là Luật Sự PHAN HỮU PHƯỚC và VÕ VĂN NHƠN, Hội Thánh Cửu Trùng Đài hội nhóm một phiên họp bất thường. Ông Chánh Phối Sư Ngọc Trọng Thanh trình ra giữa Hội một bản Vi Bằng đánh máy sẵn, trong ấy thay vì ghi rõ sự thật “ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC bị Chánh Quyền Pháp bắt đem đi biệt tích. Lại bóp méo ghi rằng: “Nghĩ vì Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc vô cớ vắng mặt tại TÒA-THÁNH….”

Thế là Toàn Hội đồng Ký Tên, nhưng liền sau đó có một phản ứng mãnh liệt của hai vị Luật Sự Hiệp Thiên Đài.

Nhận thấy có ý đồ mờ ám vi phạm Luật Pháp Chơn Truyền của nền Đạo nên hai vị Luật Sự, nhơn danh Chức Sắc Hiệp Thiên Đài, yêu cầu Hội-Thánh cho mượn bảng Vi-Bằng để điều chỉnh những chỗ Vi Hiến Nhưng Ông Ngọc Chánh Phối Sư Ngọc Trọng Thanh không cho.

Sau những lời qua tiếng lại và cũng vì nóng lòng biết rõ mưu đồ còn dự tính làm hại đến Thanh Danh Hội-Thánh, nên Luật Sự VÕ VĂN NHƠN với tay lên bàn lấy Vi-Bằng (4 bản) xé tan nát.

Thế là Kế Hoạch của Hội-Thánh bị đổ vỡ.

***

Ngày 11 Tháng 7 Năm Tân Tỵ (2-9-1941) có tin Chư Vị Thiên Phong bị bắt, bị Chánh Quyền Pháp dẫn đi biệt tích, vì tình thế quá ư khẩn trương, nên Hội-Thánh Nghị Quyết giao vận mạng của nền Đạo cho Ông Quản Lý Hòa-Viện là Giáo-Sư THƯỢNG TRÍ THANH (Nguyễn Văn Trí) Thay mạt Hội-Thánh Cầm Quyền Đạo Tại Tòa-Thánh.

Ngày 6 Tháng 8 Năm Tân-Tỵ (26-9-1941) Quan Tham-Biện Chủ Tỉnh Tây-Ninh, và Ông Chủ Quận Châu Thành Tây Ninh LÊ VĂN HUÊ, đến Tòa-Thánh Giáp mặt Ông Giáo Sư TRÍ, và hẹn cho Ông 24 tiếng đồng hồ phải rời khỏi Tòa-Thánh đặng qua ngày hôm sau có một trung đoàn quân sĩ Pháp đến chiếm đóng. Một sự hổn loạn mới mẻ kinh hoàng hơn tiếp diễn. Chức Sắc, Chức Việc và bao nhiêu Tín Đồ Nam, Nữ, lại phải một phen nữa tức cấp rời khỏi Tòa-Thánh để tìm nơi trú ẩn.

Từ ngày ĐỨC HỘ PHÁP bị bắt đi biệt tích và biệt tin tức đến nay có hơn một tháng, Chư Chức Sắc Đại Thiên Phong, còn lại công cử nhau thay phiên cầm giềng mối Đạo. Mặc dầu các phiên nhóm không được hợp với Pháp Luật Chơn truyền Đại Đạo, Nhà Cầm Quyền Pháp tiếp tục bắt bớ một cách phi lý chẳng có lịnh của Biện Lý hay Tòa Án nào cả. Các cuộc bắt bớ khám xét, đóng cửa các Thánh Thất, các cơ sở Phước Thiện ngày càng gia tăng, cho đến việc chiếm đóng TÒA-THÁNH, là những hành tàng áp bức Đạo đến mức tột độ, giữa tình trạng nghiêm trọng như thế. Lịch Sử ĐẠO CAO ĐÀI đang phải gặp thời kỳ Đau đớn nhứt, đen tối nhứt, kể từ ngày Khai Đạo cho đến nay.

Sự thật tại vùng TÒA-THÁNH TÂY-NINH lúc bấy giờ, không một ai nghe thấy Chức Sắc đương cầm quyền Hội-Thánh bí mật nhóm họp nhau để bàn thảo kế hoạch, đối phó với tình thế, mà trái lại im hơi lặng tiếng, chẳng có thái độ chi bày giải với Chánh Quyền Pháp, khả dĩ khiến họ phải suy nghĩ: đó là một phản ứng của CAO-ĐÀI, mặc dầu là một phản ứng tiêu cực.

Bốn vị Chức Sắc: PHƯỚC, NHƠN, TÝ, HOÀI, đồng lập thệ trung thành với đường lối của ĐỨC HỘ PHÁP Phạm Công Tắc, rồi hai Ông Lễ Sanh Tý và Hoài bận việc phải về Long Xuyên và Rạch Giá, mấy tuần qua, hai vị Luật Sự Phước và Nhơn phải đi ẩn dật một nơi xa Tòa-Thánh, dự thảo những Công Văn kể sau:

A/- Thông Tri báo tin cho toàn Đạo Cao Đài, ở Đông Dương (Nam, Trung, Bắc, Cao-Miên và Ai-Lao) rõ biết ngày giờ ĐỨC HỘ PHÁP Giáo Chủ Đạo Cao Đài, ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ ĐỘ, bị nhà đương quyền Pháp bắc vô cớ và các tin tức quan trọng vừa xảy ra tại Tòa-Thánh Tây-Ninh. Xin lưu ý Toàn Đạo hãy bình tỉnh theo dõi tình hình Đạo đang lúc biến thiên.

B/- Thơ gởi cho Bộ Tư Lệnh Nhựt-Bổn vừa đóng Tổng Hành Dinh tại Phòng Thương Mãi Saigon, để báo tin về cách đối xử của Chánh Phủ Pháp với Đạo Cao Đài, Đồng thời yêu cầu Bộ Tư Lệnh Nhựt có nghĩa vụ làm sáng tỏ vấn đề tại sao? ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC Giáo Chủ Đạo Cao Đài bị bắt cóc.

D/-Nhiều Văn Thư gởi cho Toàn Quyền Đông Dương là Ông Decoux Quan Thống Đốc Nam Kỳ, các quan Khâm Sứ Bảo Hộ, Giám- Đốc Các Sở Mật Thám Trung, Nam, Bắc Việt Nam, Lào, và Cao Miên, đại ý thẳng thắng và cương quyết phàn kháng Chánh Sách Thuộc Địa hũ lậu của Thực Dân Pháp tại Đông-Dương, đã vô tình làm mất lòng Dân Bổn Xứ, vi phạm nặng nề sự tự do tín ngưỡng và Hành Đạo của Tôn Giáo Cao Đài, gây phẫn uất trong quần chúng.

Lại tố cáo chế độ hèn nhát của các nhà đương quyền thay mặt Chánh Quốc Pháp, cũng bôi lọ nền văn minh của Thiên Chúa Giáo tại Đông Nam Á.

Sự bắt cóc ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, Giáo Chủ Cao Đài Giáo và các Chức Sắc Thiên Phong, đã ghi vào lịch sử nhơn loại một vết đen tối vì không chịu tuyên-bố lý do, không đem họ ra trước pháp đình để ánh sáng công lý soi được tỏ rạng hầu phá tan các sự mờ ám để trấn an dân chúng, đồng thời giữ danh dự và thể thống cho nước Pháp.

E/- Gởi cho các báo chí và một số nhân sĩ ái quốc trong nước, mỗi nơi một Hồ Sơ gồm các bản văn của hai vị Luật Sự Hiệp Thiên Đài, đã gởi cho các nhà cầm quyền Pháp, Bộ Tham Mưu Quân Đội Nhự Bổn, Lãnh Sự Ngoại Quốc để báo động và yêu cầu can thiệp với Chánh Quyền Pháp.

Hai Vị Luật Sự PHAN HỮU PHƯỚC và VÕ VĂN NHƠN còn phái nhiều tín hữu trung kiên mang các Hồ Sơ trên, đi khắp nơi tuyên truyền các giới Đạo và Đời, với mục đích gây phong trào ” Phản kháng bất bạo động” gây phản ứng khắp xứ, góp ý thức về một cuộc cách mạng chống chánh quyền Pháp đang bột phát.

***

1)- Lý do bắt ĐỨC HỘ PHÁP, hiện câu lưu tại đâu để cho toàn Đạo Hữu được rõ.

2)- ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, Giáo Chủ Cao Đài Giáo ngày nay có phải chịu số phận như Đức Chúa JESUS CHRIST ngày xưa chăng?

3)- Xin Chánh Phủ Vui Lòng cho phép hai vị Luật Sự Hiệp Thiên Đài là: PHAN HỮU PHƯỚC và VÕ VĂN NHƠN, được theo Đức Giáo Chủ hầu giúp đỡ Ngài trong buổi đồ lưu.

Đúng Ngày giờ hứa hẹn, hai vị Luật Sự đến Sở Mật Thám Trung Ương, được ông Giám Đốc tiếp tại Văn Phòng của Ông trên lầu (Lúc ra đi hai vị Luật Sự có cho Ông Giáo Thiện Gấm tháp tùng, nhưng không để ông vào Văn Phòng mà Ông chỉ có phận sự ở ngoài đường, cách xa 100 mét để ngóng tin tức mà thôi.

Vừa bước lên lầu, thì gặp Ông Phó Giám Đốc một người Pháp râu rìa to tướng còn trẻ, với nét mặt hầm hằm sát khí, trợn mắt đe dọa Luật Sự Nhơn (đang là một Thanh Niên nhỏ tuổi hơn Ông Phước), Nhơn vẫn bình tỉnh thẳng thắng lễ độ cà cương nghị đáp ứng, độ 15 phút sau thì Ông Chánh Giám Đốc, tuổi tác hơn ông Phó, với tư-cách nhã nhặn, ôn hòa và lịch sự, mời hai Ông Luật Sự ngồi đối diện, rồi ông chậm rãi khởi đầu:

“- Chúng tôi có tiếp được tất cả Văn Thư của Nhị Vị Luật Sự và hiểu được Tâm Đạo chánh đáng của Nhị Vị, chỉ vì lý do đặc biệt và Chánh trị buổi nầy mà Chánh Phủ Pháp phải đem giữ ĐỨC HỘ PHÁP ở một nơi an toàn, vì có lịnh bề trên không được tiết lộ, song Đức Ngài được đối đãi tử tế, sức khỏe được chăm sóc chu đáo, Chánh Phủ Pháp không bao giờ hà khắc đối với Ngài. Xin Nhị Vị Chức Sắc cứ yên tâm mà vui lòng về cho toàn bổn Đạo được rõ như vậy. Nhị Vị cứ về Hành Đạo tự do như từ trước đến nay, chúng tôi chỉ khuyên trong Đạo chẳng nên làm điều chi bạo động, làm mất trật tự an ninh của Chánh Phủ mà thôi.

“- Còn việc hai ông muốn xin theo ĐỨC HỘ PHÁP, thì không được vì chúng tôi được lịnh thượng cấp, chỉ mời một mình ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC mà thôi. Vậy hai Ông cứ an tâm vui lòng trở về Tòa Thánh , cho toàn Đạo được rõ.

Cuộc tiếp xúc với Ông Giám Đốc sở mật thám Trung Ương thay mặt chánh quyền Pháp kéo dài đến 1 giờ đồng hồ, để nhiều lời an ủi vỗ về, tỏ thái độ một nhà chánh trị khôn khéo.

Hai Vị Luật Sự PHƯỚC và NHƠN về TÒA THÁNH, liền viết Thông Tri tường thuật cuộc tiếp xúc với Chánh Phủ cho toàn Đạo được rõ như trên, song không quên nhấn mạnh sự bất mãn về tâm lý của toàn Đạo đối với hành động bắt ĐỨC HỘ PHÁP. Hai Ông nhứt định phải tìm cho ra chỗ giam ĐỨC HỘ PHÁP, liền đi đến chi nhánh tòa soạn Báo (ASAHI) của Nhựt Bổn tại Saigon để giao cho họ một số Văn Thơ đã gởi cho các nhà đương quyền Pháp và Ngoại Quốc với tư cách thông tin, trước là làm quen, rồi để lời nhờ Ban Giám Đốc Tòa Soạn nầy giới thiệu qua. Bộ Tư Lệnh Quân Đội Nhựt vừa đóng Tổng Hành Dinh, tại Phòng Thương Mãi Bến Chương Dương Saigon, là một khu biệt lập, Chung Quanh có Biện Tây (Cảnh Sát Pháp tại Đô Thành) Ngày đêm canh gát nghiêm nhặt để ngăn ngừa dân chúng đi lại giao dịch với Nhựt Bổn.

Hai Vị Luật Sự PHƯỚC và NHƠN, mặc Tiểu Phục Hiệp Thiên Đài, công nhiên lướt qua hang rào Cảnh Sát, đi thẳng đến Tổng Hành Dinh Nhựt, nhờ có sự Giới Thiệu của Ban Giám Đốc Chi Nhánh của Tòa soan Nhựt Báo ASAHI hai vị Luật Sự được tiếp đón ngay và mời thẳng lên Văn Phòng trên lầu.

Ông Đại Tá Tư Lịnh Chỉ Huy Quân Đội Nhựt Hoàng tại Miền Nam rất lưu ý các Văn Thư của Hai Ông PHƯỚC và NHƠN, Nghiêm chỉnh trao đổi ý kiến về thời cuộc. Cuối cùng Đại Tá trao cho Nhị Vị Luật Sự một bản tin tức tối mật của Ban Gián Điệp Nhựt Phủ Toàn Quyền báo cáo cho ông được rõ tỉ mỉ về vụ Chánh Phủ Pháp Bắt ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, và 5 Vị Đại Thiên Phong của CAO ĐÀI TÒA-THÁNH TÂY-NINH. Bản báo-cáo như sau :

“Do lịnh tối cao của Toàn Quyền Đông-Dương là Ông DECOUX, ra lịnh cho sở mật thám Saigon bắt Ông PHẠM CÔNG TẮC, vì lý do tình nghi làm Quốc Sự có nguy hại đến nền cai trị của Chánh Quyền Pháp, Lúc mới bị bắt, Ông TẮC đươc đưa một cách bí mật đến Sơn-La, (Bắc-Kỳ) để câu lưu và canh chừng nghiêm nhặt, sau một tháng câu lưu tại (Sơn-La), là một địa điểm đầy rừng thiên nước độc, khí hậu rất xấu thuộc vùng sơn cước thượng du Bắc Việt, Ông PHẠM CÔNG TẮC được di chuyển trở về Saigon, Chánh Quyền Pháp dấu kính Ông ở dưới một chiếc Sà Lang (Chaland) để chờ bắt thêm 5 vị Chức Sắc yếu trọng của Đạo Cao Đài là các Ông: TRẦN DUY NGHĨA, NGUYỄN THẾ TRỌNG, TRẦN VĂN PHẤN, THÁI VĂN GẤM, và ĐỖ QUANG HIỂN, để rồi sang qua một chiếc tàu lớn, chở 6 Ông qua (MADAGASCAR), câu lưu họ nơi đó một thời gian vô hạn định…”.

Xem bản tin tối mật xong, hai vị Luật-Sự PHƯỚC và NHƠN, yêu cầu Bộ Tư Lệnh Nhựt can thiệp giúp Đạo… thì Đại Tá Quân Đội Nhựt đáp đại cương rằng:

“Chánh Phủ Nhựt-Bổn mới vừa ký Hiệp Ước với Chánh Phủ Pháp tại Đông Dương về việc Quân Sự mà thôi, còn việc bắt ĐỨC HỘ PHÁP, các Chức Sắc Cao Cấp khác của Đạo thì thuộc nội bộ Chánh Trị của Pháp, Theo nguyên tắc ký kết thì Bộ Tư Lệnh Quân Đội Nhựt chúng tôi không có quyền can thiệp. Tuy nhiên, chúng tôi rất lưu ý theo dõi, hiện giờ chúng tôi xin Quí Ông thông cảm và ẩn nhẫn chờ thời cơ thuận tiện, vì quyền hạn chúng tôi chưa cho phép hành động khác hơn, Và chúng tôi xin cám ơn về tin tức quan trọng nấy mà hai Ông Luật Sự có nhã ý cho chúng tôi được rõ….Chúng tôi mong được có sự cộng tác mật thiết giữa chúng ta, Nhựt-Bổn và Việt-Nam vì quyền lợi chung của giống da vàng trong khối Đại-Đông-Á.”

Cuộc Hội Đàm với Đại Tá Tư Lệnh Quân Đội Nhựt Hoàng ở Miền Nam kéo dài hai tiếng đồng hồ trong bầu không khí tín cẩn và thân mật.

***

Từ giả Bộ Tư Lệnh Nhựt Bổn, hai vị Luật Sự an nhiên vượt qua hàng rào Cảnh Sát Pháp để trở về Tòa Thánh báo cáo mọi tin tức đã thâu thập được về phía Chánh Quyền Pháp cũng như tin tối mật của Bộ Tư Lệnh Quân Đội Nhựt cho Gia Đình ĐỨC HỘ PHÁP và số Chức Sắc còn hiện diện tại Tòa-Thánh biết. Song rất ít người tin rằng những thành quả truy tìm tin ĐỨC HỘ PHÁP và 5 vị Đại Thiên Phong bị bắt biệt tâm tích cho đến nay lại được hai vị Luật Sự PHƯỚC và NHƠN Khám phá ra sự thật.

E Ngại về các hoạt động cương trực của hai vị luât sự sẽ mang lại hậu quả nguy hiểm bất an cho Hội Thánh, và rất căm phẫn về việc Luật Sự NHƠN xé vi bằng phiên nhóm Ngày 16 tháng 6 nhuần Tân-Tỵ vừa rồi, nên Ông Giáo Sư THƯỢNG TRÍ THANH, đương kiêm Quản Lý Hòa-Viện, vừa được chư Chức Sắc Nam, Nữ còn lại Ở Tòa Thánh tôn lên nắm quyền nơi Thánh Địa, Triệu tập một phiên nhóm. Chức sắc Hội Thánh quyết định trục xuất hai vị Luật Sự PHAN HỮU PHƯỚC và VÕ VĂN NHƠN ra khỏi ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ. Nghị định trục xuất nầy ban hành trong toàn đạo khắp cả Nam, Trung, Bắc và đệ trình cho chánh quyền Pháp tường tri, cốt yếu không nhìn nhận hai Luật Sự Hiệp Thiên Đài chẳng chịu tùng quyền Hội Thánh nên Tòa Thánh Tây Ninh không chịu trách nhiệm về các hoạt động của PHƯỚC và NHƠN.

Đã từ lâu hai vị Luật Sự nầy ra tạm trú ngoài Châu Thành Thánh Địa để phản đối thái độ bất hảo của Chánh Quyền Pháp tại Đông Dương. Sau khi gởi xong các Văn Kiện đi các nơi và tìm ra tin tức ĐỨC HỘ PHÁP và 5 Vị Đại Thiên Phong bị bắt đày lưu nơi hải ngoại rồi. Khi Hai Ông PHƯỚC VÀ NHƠN trở lại lập Văn Phòng tại Ngoại Ô Tòa Thánh nơi nhà Ông Phó Quản Lý Công Viện Phước Thiện là Ông HUỲNH VĂN LIÊN, để tiếp-tục công khai tiến hành việc Đạo.

Nhận thấy công việc hoạt động của PHƯỚC và NHƠN, gây cảnh hưởng bất lợi cho sự cai trị của Thực Dân. Một mặt Chức Sắc Hội Thánh không công nhận, một mặt chánh quyền theo dõi hằng ngày, thấy số Chức Việc, Đạo Hữu trung thành với ĐỨC HỘ PHÁP, tới lui hưởng ứng mãnh liệt, Ông Chánh Chủ Tỉnh Tây Ninh ra lịnh cho Ông Quan Chủ Quận Châu Thành LÂM VĂN HUÊ mời hai vị đến Văn Phòng rồi tống giam vào khám (nơi mà Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung-Nhựt bị giam 48 tiếng đồng hồ hồi năm 1934), giam đến ngày thứ ba, Ông Phó Chủ Tỉnh cho mời hai vị Luật Sự đến Văn Phòng Tòa Hành Chánh Tỉnh để phủ hủy và cũng để đe dọa (Bởi hai vị Luật Sự cũng gởi cho Chủ Tỉnh Tây Ninh và Hội Thánh tất cả Hồ Sơ Công Văn đả gởi đi các nơi như kể trên để tường-tri.

Được trả tự do, hai vị Luật Sự PHƯỚC và NHƠN không chịu trở về Tòa-Thánh, định ở lại đòi Chánh Quyền cấp giấy tống giam và ghi rõ lý do bắt bớ và giấy trả tự do hợp pháp. Giằng co mãi, biết rằng không thâu thập được kết quả nên hai vị Luật Sự đành từ giả với lời yêu cầu: “Chánh Quyền nên làm việc đúng đắng, tôn trọng tự do tín ngưỡng đã ban hành đối với Đạo Cao Đài”, rồi trở về Văn Phòng làm việc Đạo theo chương trình dự liệu.

Cương quyết đem hết tất cả khả năng để chống lại sự kinh hải do Chánh Quyền Pháp nhẫn tâm đàn áp, gieo hoang mang cho toàn Đạo, Khủng bố toàn dân, hai vị Luật Sự thản nhiên tiếp tục hoạt động, càng ngày càng có thêm sự hưởng ứng, của các phần tử trung kiên, bất khuất ở các tỉnh về, Văn Phòng của Luật Sự lãnh công tác, công việc vừa bộc phát, như ngọn lửa mới vừa nhen nhúm thì Chánh Quyền Pháp lại dập tắc ngay.

Ngày 15 tháng 12 Năm 1941 (Nhuần 25/10 Tân-Tỵ) Hai vị Luật Sự PHAN HỮU PHƯỚC và VÕ VĂN NHƠN, bị Sở Mật Thám Saigon đến bao vây Văn Phòng tại Ngoại Ô Thánh Địa lúc 4 giờ sáng, tịch thâu tất cả tài liệu và bắt đi biệt tích, Ông Giáo-Sư THƯỢNG TRÍ THANH, đang nắm chủ Quyền Thánh-Địa củng bị bắt một lượt với Phước Nhơn, cả ba bị đem dấu kín trong ba tháng đầu tại Hội -Xuân (thuộc Tỉnh Thanh Hóa) giáp với Ai-Lao. Qua Tết Nguyên Đán Năm Giáp Ngọ (Tháng 2 DL 1942), ba Ông Phước, Nhơn và Trí bị đưa về Nhà Lao Thanh Hóa Tỉnh Lỵ Ở Bắc Trung-Kỳ một tháng, tra tấn lấy khẩu cung xong rồi đem lưu đày tại Sơn-La, hạ tuần tháng 2 Dương Lịch (1945), kế tiếp di chuyển lên Lai Châu một Tỉnh giáp Biên Giới phía Nam Trung-Hoa. Cho đến Thượng tuần tháng 4 (DL: 1945), Lúc nầy Quân Đội Pháp bị Quân Đội Nhựt Bổn đánh bại, phải bỏ xứ Việt-Nam Chạy thoát thân, nên đoàn tù Chánh Trị Phạm gồm đủ các thành phần Đảng phái: Cộng Sản, Quốc Gia, Tôn Giáo, Chống chế độ Phong Kiến… mới được giải thoát tại tỉnh Lai Châu.

Sau vụ Bắt hai vị Luật Sự Phước và Nhơn và Giáo Sư Trí thì còn lại hai vị Giáo Sư Tuốc và Chất mỗi tháng chỉ đi viếng thăm Tòa Thánh Tây Ninh một lần để rồi về quê nhà ôm theo bao nhiêu tủi hận vì đả chứng kiến những cảnh tồi bại, đang phá hoại thuần phong mỹ tục của toàn Đạo đã từng công phu khổ hạnh để xây dựng.

Còn Ông Phối Sư THƯỢNG CHỮ THANH (ĐẶNG TRUNG-CHỮ), là một Chức Sắc Cao Cấp, có nhiệm vụ chánh-thức Giao Dịch với Chánh Phủ điều khiển nền Đạo, thì đào nhiệm đi ẩn trốn rất kín đáo trong Chợ Lớn.

Ngày 21Tháng 12 Năm 1942, mùng 7 tháng giêng năm Nhâm Ngọ Ông ra mặt nhờ xe Ô Tô của Ông Giáo Sư THƯỢNG VINH THANH, (Trần Quan Vinh) đang là một Công Chức tại Nam Vang, nhân dịp tết về Sai-Gòn, rước Ông lên Kim-Biên lánh-nạn, thay vì làm gương mẫu với tinh thần hy sinh phục vụ cho toàn Đạo Hữu đang trông đợi nơi ông, Ông trở lại gieo rắt thêm những sự sợ hải kinh hoàng cho Chư Thiện-Nam Tín Nữ.

Tình hình Chánh Trị càng khẩn trương, Đạo Cao Đài ở Kim Biên, gặp nhiều khó khăn, Ông CHỮ trốn sang vọng các sáu tháng sau khi trờ về Nam Vang.

***

Như thế kể từ Năm 1942 các hoạt động của Đạo Cao Đài đã thật sự ngưng hẳn tại Nam Kỳ, Các Thánh Thất cơ sở Phước Thiện đều bị đóng cửa, Nhân Viên Công Lực Sở Mật Thám, với những điềm chỉ viên săn tin cho Pháp luôn luôn rình rập ngày đêm, Số Thiện Nam, Tín Nữ trung kiên với Đạo muốn cúng kiến thì chỉ thật hành tại tư gia hoặc khi cần thông tin với nhau thì phải hết sức thận trọng và bí mật.

VỚI QUÂN ĐỘI NHỰT ĐẢO CHÁNH PHÁP TRONG ĐÊM 9-3-1945

V ới tin ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, Giáo Chủ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và một số Chức Sắc Đại Thiên Phong đang cầm quyền yếu trọng của Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh bị bắt đi biệt tích, Chánh Phủ Thực Dân Pháp thời ấy đã ngang nhiên vi phạm công khai quyền tự do tín ngưỡng và hành Đạo mà Quan Toàn Quyền ROBIN đã công bố cho Đạo CAO ĐÀI Từ Năm 1934.

Bị đàn áp đến cực độ, nên tinh thần bất khuất của khối Tín Đồ CAO ĐÀI dầu kiên tâm nhẫn nại đến đâu, cũng phải có phản ứng tương đương, càng bị đàn áp, càng mất chủ quyền, nên toàn Đạo cũng như toàn dân càng khao khát, Tự Do, Độc Lập cho bản thân họ và cho Tổ Quốc của Họ bấy nhiêu. Huống chi nền Đạo Cao Đài bị đàn áp trực tiếp đến cực độ, thì sự căm hờn phẫn uất đối với Chánh Quyền Pháp đã bộc phát trong lòng Toàn Đạo và Toàn Dân cũng lên đến cực độ. Tình trạng ấy đã gây ý thức cho tất cả chư Tín Hữu giác ngộ, toàn dân thức tỉnh, nên Chư Tín Đồ Cao Đài phải cương quyết đứng lên khởi nghĩa, phất cờ tranh đấu chống Pháp, để khôi phục nền Độc Lập cho Quốc Gia, khôi phục tự do tín ngưỡng cho Đạo Giáo hầu xây dựng xã hội lành -mạnh cho Dân Tộc một nước tự chủ và phú cường.

***

Kịp khi Quân Đội Nhựt Bổn ký kết với Pháp đóng quân ở Đông Dương, đang tìm những lực lượng hợp tác, đồ mưu lật đổ Chánh Quyền Pháp, thì Hai Ông LỂ SANH NGỌC HOÀI- THANH (Trương Văn Hoài) Và THƯỢNG TÝ THANH (Nguyễn Văn Tý) là hai người trước đây đã thề nguyền với hai Luật Sự PHƯỚC và NHƠN, liên lạc với Nam Vang thương lượng với Ông Giáo Sư THƯỢNG VINH THANH (Trần-Quang-Vinh), tìm phương hợp tác với Quân Đội Thiên Hoàng hầu có xây dựng phong trào “PHỤC-QUỐC”.

May thay, lúc ấy Ông TRẦN QUANG VINH nghỉ việc ở Nam Vang đã về Long Xuyên trú ngụ, nên một nhóm anh em bèn tổ chức Cầu Cơ lần đầu tiên tại Long Xuyên, đêm 28 Tháng 10 Năm 1942 do Giáo Hữu THÁI ĐẾN THANH và Lễ Sanh NGỌC HOÀI THANH Phò Loan, ĐỨC LÝ ĐẠI TIÊN, và ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT, giáng dạy phải hợp tác với Nhựt Bổn mới mong gở ách nô lệ cho Dân Tộc Việt Nam được trong thới gian 20 ngày. Ông Giáo Sư THƯỢNG VINH THANH ngồi chờ đợi một nhóm Chức Sắc có thiện chí mà Ông đã phái người đi mời.

Đến ngày 17 tháng 11 Năm 1942, Có một số Chức Sắc Huynh Đệ hưởng ứng, nên đêm ấy có Đàn Cơ tại tư gia Ông TRẦN QUANG VINH, với sự hiện-diện của Giáo Sư ĐỨC, Giáo Sư NON, Giáo Sư VINH, Giáo Hữu ĐẾN, Giáo Hữu CAO, Giáo Hữu HÀO, Lễ Sanh HOAI, Lễ Sanh TÝ, Lể Sanh SÁNG (Bình Định) tất cả là: 9 vị (Là Cửu-Thiên-Khai-Hóa).

ĐỨC LÝ ĐẠI TIÊN và ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, Giáng dạy và thúc giục phải mau đi hợp tác với Nhựt Bổn.

Vì có lịnh Anh Cả QUYỀN GIÁO TÔNG, nên ngày hôm sau: 18 Tháng 11 Năm 1942, nhóm Anh Em đều giải tán, kẻ đi Saigon người đi các tỉnh để vận động.

Chỉ một thời gian ngắn ngủi, nhờ quyền năng của Thiêng Liêng xây chuyển, nên cơ hội hợp tác đắc thành. Chức Sắc và Đạo Hữu các nơi nườm nượp đi Saigon để cộng tác và nhơn một phiên nhóm Chức Sắc có sự hiện diện của hai vị Sĩ Quan Nhựt Bổn, Tất cả đồng thanh yêu cầu Ông TRẦN QUANG VINH, làm Đại Biểu cho Đạo Cao Đài.

Từ đây, mọi việc giao thiệp với Bộ Tư Lệnh Quân Đội Nhựt Hoàng, và Lèo lái con thuyền PHỤC QUỐC, đều do Ông Đại Biểu đảm trách.

Nhờ sự đoàn kết của toàn Đạo “NHỨT HÔ BÁ ỨNG” và sự “HỢP TÁC” hữu hiệu, nên kết quả đem đến Đảo Chánh Pháp: đêm 9 tháng 3 năm 1945, mở màng Giải Phóng cho Dân Tộc Việt Nam bị đô hộ dưới ách thống trị của Thực Dân Pháp trót 80 năm.

CAO ĐÀI ĐÃ THÀNH CÔNG

ĐỨC HỘ PHÁP VÀ 3 VỊ ĐẠI THIÊN PHONG ĐƯỢC TRẢ TỰ DO

Thế là sự nghiệp Cách Mạng tranh đấu giải ách nô lệ cho Đạo Cao Đài và cho Toàn Dân Việt-Nam đã thành công rực rỡ.

Nhờ dịp nầy mà Ông Giáo Sư Đại Biểu, yêu sách Chánh Phủ Pháp phải trả tự do cho Đức Hộ Pháp PHẠM CÔNG TẮC với 3 vị Đại Thiên Phong còn sống sót đang bị đồ lưu nơi hải đảo MADAGASCAR. Chánh Phủ Pháp phải nhượng bộ.

ĐỨC HỘ PHÁP được hồi hương, về đến Sài Gòn ngày 26 Tháng 7 Nam Bính Tuất (22-8-1946).

Ba vị Chức Sắc còn sống sót là: Khai Pháp TRẦN DUY NGHĨA, Chánh Phối Sư: NGUYỄN THẾ TRỌNG và Giáo Sư TRẦN VĂN PHẤN, được một chiến hạm Pháp đưa về đến Saigon ngày mùng 6 Tháng 11 Năm Bính Tuất (29-11-1946).

Kể từ đây Đức Ngài tiếp tục cầm giềng mối Đạo, lo Phục Hưng Đại Nghiệp Đạo cho đến khi đăng Tiên tại Nam Vang (Cam-Bốt) Ngày mùng 10 Tháng 4 Năm Kỷ Hợi (17-5-1959).

Tòa Thánh Tây Ninh, mùa thu năm KỶ Dậu (1969)

Tác giả chỉnh lại cũng vào mùa thu năm Qúi Sửu (1973)

VII.TIỂU SỬ ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC

ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, Sanh Ngày 5 tháng 5 Năm Canh Dần ( 21-6-1890). Tại Làng Bình Lập, Tỉnh Tân An.

Phụ thân là Ông PHẠM CÔNG THIỆN, Người Đạo Gia Tô, Mẫu Thân Ngài là Bà: LA THỊ ĐƯỜNG, theo Phật-Giáo.

Ngài đã được Phụ Thân đưa đi làm lễ rửa tội tại Nhà Thờ Thiên Chúa.

Thuở thiếu niên Ngài học tại Saigon, rồi qua trường Trung Học Mỹ Tho, đến năm 20 tuổi, Ngài thi đậu, được vào ngạch Thương Chánh và lập gia đình, Ngài Kết hôn với Bà NGUYỄN THỊ NHIỀU, Sinh quán tại Làng Tân Phú, Quận Bến Lức, Tỉnh Chợ Lớn, Là Ái Nữ của Ông: NGUYỄN VĂN PHƯỚC và Bà LÊ THỊ BƯỞI.

Ngài làm việc tại Saigon được một ít lâu, rồi đổi đi Cái Nhum, thuộc Tỉnh Vĩnh-Long.

Là một Công Chức Ngài rất thích nghiên cứu về “THẦN LINH HỌC” và tham dự nhiều nhóm truyền giáo tại Việt Nam, theo phái “Thiền Lâm” và Đạo Thiên Chúa. Ngài có tánh Nhân Đức, Nhân Từ, Quảng Đại, lại giao thiệp rộng, nên Ngài được quen thân trong nhiều giới, Ngài thích giải trí bằng thi phú văn chương và âm nhạc.

Khoảng Năm 1924-1925, Ngài thường đi lại với Ông CAO HUỲNH CƯ, CAO HOÀI SANG, và nhiều nhân vật khác nổi tiếng ở Saigon.

Ngoài giờ làm việc, Ngài thích họp các bạn thân lại để cầu thỉnh các đấng Thiêng Liêng đặng xin ban cho thi phú. Việc thỉnh giáo xin thi phú đều đặng thỏa mãn, cho đến lúc các Đấng trọn lành giáng cơ chỉ dạy các Ngài con đường phải tiến tới thành lập một Tôn Giáo mới. Đó là sứ mạng Thiêng Liêng của các Ngài đã được vạch ra từ lúc bấy giờ.

Vào Năm 1926, trong một Đàn Cơ quan trọng tại nhà Ông LÊ VĂN TRUNG, Ngài được THƯỢNG ĐẾ phong làm HỘ PHÁP (Bảo Vệ Luật Pháp) còn các bạn của Ngài đều được phong vào hàng Chức Sắc.

Nhân dịp được Chánh Phủ cho nghỉ phép 6 tháng. ĐỨC HỘ PHÁP liền mở màn sinh hoạt thuần túy theo Đạo Giáo, nơi Chùa Từ Lâm Tự tại Gò Kén (nguyên là một ngôi Chùa Phật thuộc Tỉnh Tây Ninh ).

Theo Thiên ý của ĐỨC CHÍ TÔN đã cho biết trước, khi mãn phép, liền có Nghị Định của Thương Chánh Trung Ương Hà Nội thuyên bổ Ngài lên Nam Vang vào hạ tuần tháng 3 Năm Đinh-Mão (1927).

Khoản cuối Năm 1926, Chùa Từ Lâm Tự bị lấy lại trong lúc ĐỨC HỘ PHÁP vắng mặt, thì hai vị Đại Thiên Phong THƯỢNG TRUNG NHỰT (Lê Văn Trung), CAO THƯỢNG PHẨM (Cao Huỳnh Cư) và Chư Vị Chức Sắc Cao Cấp thay thế Đức Ngài quán xuyến mọi việc. Di chuyền Tổ Chức ĐẠO CAO-ĐÀI về làng Long Thành Tây Ninh, tuân hành đúng theo lịnh của ĐỨC LÝ ĐẠI TIÊN, để tạo lập Tòa Thánh.

Trong thời gian 8 Tháng lưu trú tại xứ Miên, được hiệp tác với Ông CAO TIẾP ĐẠO (Cao Đức Trọng), ĐỨC HỘ PHÁP mở cuộc truyền giáo Phổ Độ dân chúng Miên và Việt Kiều.

Cùng lúc ấy Ngài Được thăng bật Tham Tá, mà cũng chính là lúc công việc Đạo càng đa đoan, Ngài vào đơn xin đổi về Nam Kỳ, nhưng vô hiệu quả. Sau đó trong gia đình Ngài ở Tây Ninh có một đứa con gái của Ngài lâm bịnh nặng, mà Bác Sĩ không sao chữa trị nổi, nên Ngài xin Từ-Chức, đồng thời bỏ sở làm, trở vế Tây Ninh vào thượng tuần tháng giêng năm 1928. Đứa con bịnh đã chết. Chánh phủ ra Nghị Định ngày (11-4-1928) Giải Chức Ngài vì lý do phế vong phận sự. Thế là từ đây, Ngài được thong thả hoạt động về mặt Đạo Giáo theo Sở thích của Ngài.

ĐỨC HỘ PHÁP bèn đem hết năng lực để bành trướng nền Đạo. Số Tín Đồ các nơi tựu về theo Ngài rất đông đảo, khiến Ngài trở thành một mối lo âu thường xuyên của Nhà Cầm Quyền Pháp.

Đạo Cao Đài đến đây còn phải vượt qua nhiều cơn thử thách nghiêm trọng. Một số tín đồ ở Cầu Kho (Saigon), cố ý chống đối Ngài, Đáng kể là Đạo Hữu (Tư-Mắt) đã nhiều phen đe dọa đuổi Đức Hộ Pháp và Cao Thượng Phẩm ra khỏi Tòa Thánh.

Đức Hộ Pháp đành cam chịu biết bao trận khảo thí ngặt nghèo, cho đến đổi phải buộc lòng rời khỏi Tòa Thánh, đi ẩn cư từ nơi nầy sang nơi khác. Khi thì Ngài ở Thủ Đức, lúc Tại Mỹ Tho, nhưng không bao giờ Ngài xao lảng khuếch trương nền Đạo. Trong Tỉnh Mỹ Tho, Ngài tạo dựng Ngôi Tiểu Thánh Đường lấy tên là: THÁNH THẤT KHỔ HIỀN TRANG, để Chư Đạo Hữu sùng bái ĐỨC CHÍ TÔN, cho đến khi ĐỨC CAO THƯỢNG PHẨM liễu Đạo Năm (1929).

Chính lúc nầy tại Tòa Thánh toàn thể Chức Sắc nhận thấy không còn ai có khả năng lèo lài con thuyền Đạo, nên phái một số Chức Sắc trong Hội Thánh đi yêu cầu ĐỨC HỘ PHÁP Trở vế cấm giềng mối Đạo.

Đức Ngài phải đem hết tâm lực đối phó một cách rất chua cay với các Chi Phái phản nghịch của Nền Chơn Giáo, đồng Thời Đức Ngài cố gắng đem hết khả năng vào công cuộc Kiến Thiết Ngôi Đền Thánh đương xây cất.

Năm 1940 Đạo Cao Đài chạm phải nhiều khó khăn nghiêm trọng hơn.

Năm 1941 Các Công Tác xây cất Đền Thánh đều bị ngưng lại.

Ngày 4 Tháng 6 Nhuần Tân-Tỵ ( Chủ-Nhật 27-7-1941) ĐỨC HỘ PHÁP bị Chánh Quyền Pháp Bắt di câu lưu. Ban đầu họ đưa Ngài đến Djiring (Trung-Kỳ), rồi giải đến Sơn-La ( Miền Thượng-Du Bắc-Việt) và sau cùng chở Ngài qua tận Madagascar (Phi-Châu), để rồi chịu số phận tù đày hơn 5 năm biệt xứ.

Ngày 26 tháng 7 Bình Tuất (22-8-1946), Đức Ngài được đưa về Việt Nam, trả tự do tại Saigon. Nhìn thấy Quê Hương Tổ Quốc bị chiến tranh tàn khốc, tâm can Ngài rất đau xót thảm não.

Nhưng với nghị lực cương quyết cứu vãn tình thế đen tối cho dân, cho nước, giữa lúc khói tỏa đạn bay do đoàn quân viễn chinh Pháp tái chiếm Đông Dương, gây cảnh thịt rơi máu đỗ của nòi giống đang chống nạn Ngoại-Xâm. Đức Ngài liền Triệu tập “Hội Nhơn Sanh” tái thủ quyền bính, ngày đêm lo chỉnh đốn nội bộ, khôi phục quyền hành cho Hội-Thánh, thống nhứt các Đảng Phái, thành lập Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Lực Quốc Gia làm hậu thuẫn cho Giải Pháp “BẢO ĐẠI” để tranh đấu buộc nước Pháp phải trao trả chủ quyền Độc Lập lại cho Việt Nam do Cựu Hoàng Bảo Đại nắm quyền “QUỐC TRƯỞNG”.

Tham vọng xâm lăng của Thực Dân Pháp bị thất bại trước sự kháng chiến anh dũng của Toàn Dân Việt Nam trong Năm (1954) tại “ĐIỆN BIÊN PHỦ”, Pháp bèn thương thuyết với Việt Minh mang danh nghĩa kháng chiến, để chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17 bởi Hiệp Định “GENEVE”, Ký kết giữa hai phe ngày 20 tháng 7 Năm 1954, lấy sông Bến Hải làm ranh giới.

Từ vĩ tuyến 17 đỗ ra Ải Nam Quan, thuộc Chánh Quyền Việt Minh, theo ảnh hưởng Cộng Sản; từ Bến-Hải đổ vô đến Mũi Cà Mau, Thuộc Chánh Quyền Quốc Gia.

Năm 1955 QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI, bị Thủ Tướng NGÔ-ĐÌNH DIỆM truất phế, ảnh hưởng của Pháp tại Miền Nam được Tư Bản Mỹ thay thế.

Từ đây Dân Việt chia làm hai khối: Một nữa Ở Miên Bắc bị lệ thuộc Cộng Sản Nga-Tàu, một mặt nữa tại Miên Nam bị Tư Bản Mỹ thao túng. Cuộc tranh chấp bị ảnh hưởng của Cộng Sản, Tư Bản thúc đẩy dân Việt vào cảnh cốt nhục tương tàn, nồi da xáo thịt, tài diễn tấn tuồng TRỊNH NGUYỄN Phân Tranh trong Lịch Sử nước nhà.

1)-Thống Nhứt Lãnh Thổ và Khối Dân Tộc Việt Nam với phương pháp ôn hòa.

2)- Tránh mọi xâm phạm Nội Quyền Việt Nam.

3)- Xây Dựng Hòa Bình, Hạnh Phúc và Tự Do Dân Chủ cho Toàn Dân.

Nội dung Bản Cương Lỉnh làm nhiều giai đoạn và chi tiết rõ ràng, nếu được các phe lâm chiến biết nghe theo sáng kiến của Đức Ngài thì cảnh tang tóc tại bán đảo Đông Dương đã không làm ngòi cho thế chiến thứ ba vậy.

ĐỨC HỘ PHÁP, một Vĩ Nhân của thế kỷ thứ 20, suốt kiếp sanh tận tụy Thể Thiên Hành Hóa lấy Đạo Cứu Đời, Cứu Khổ cho Nhơn Loại.

Ba ngày trước khi lâm chung Đức Ngài còn gởi cho Chánh Phủ Hoàng Gia Cao Miên để lời Di Chúc rằng:

“Ngày nào Tổ Quốc thân yêu của chúng tôi, Nước Việt Nam của chúng tôi, được Độc Lập và Thống Nhứt thì chừng ấy Tín Đồ của Chúng tôi sẽ di thi hài của Bần Đạo về TÒA-THÁNH TÂY-NINH”.

ĐỨC HỘ PHÁP Qui Thiên Ngày mùng 10 Tháng 4 Năm Kỷ Hợi (17-5-1959) hưởng thọ 70 Tuổi.

Ngài đã làm xong sứ mạng Thiêng Liêng tối trọng đại, của một Đấng Giáo Chủ thay trời độ thế.

Viết xong Tại Tòa-Thánh Tây-Ninh Mùa Thu Năm Kỷ Dậu (1969)

Ký tên

Trần Quang Vinh

DI NGÔN CỦA ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC

Bản Di Ngôn chính tay Đức Hộ Pháp viết bằng Pháp Văn ba ngày trước khi qui Thiên. Đây là bản thông dịch ra Việt Ngữ để cho Chư Tín Hữu có thể hiểu đặng.

ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ

TÒA-THÁNH TÂY-NINH

…………………………..

Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Giáo Chủ Đạo Cao Đài

Kính gừi cho

Hoàng Tử Norodom Sihanouk Sandach Upayuareaach

Thưa Hoàng Tử,

Bần Đạo gởi những dòng chữ nầy đến Hoàng Tử trong lúc nằm tại giường bịnh (Dưỡng Đường Calmette). Sức khỏe của Bần Đạo càng ngày càng suy giảm và Bần Đạo nghĩ không còn có thể sống bao lâu nữa.

Vậy Bần Đạo xin gửi lần cuối cùng đến Hoàng Tử và Chánh Phủ Hoàng Gia Cao Miên tất cả lời cảm tạ chơn thành về sự khoán đãi rộng rãi mà Hoàng Tử và Chánh Phủ Hoàng Gia dành cho bản thân Bần Đạo, cho đoàn tùy tùng và cho cà Tín Đồ của Bần Đạo.

Bần Đạo thành tâm cầu nguyện Đức Thượng Đế Cao Đài và Đức Phật Tổ ban hồng ân che chở cho Vương Quốc Cao Miên và cho bản thân Hoàng Tử sớm được bình phục sức khỏe và nhứt là thực hiện vẻ vang Chánh Sách Hòa Bình Trung Lập và Hòa Bình Chung Sống, chánh sách đặc biệt ưu ái mà Bần Đạo đã phí tổn sức lực, sức khỏe trọn đời mà Bần Đạo không thực hiện được.

Bần Đạo thành tâm ước mong cho Tổ Quốc thân yêu của chúng tôi, nước Việt Nam , có thể đeo đuổi chánh sách ấy ngày gần đây và tay nắm tay cùng đi với nước Cao Miên trong tình thương hòa ái giữa các sắc dân, đặc biệt là giữa hai dân tộc Miên Việt.

Bần Đạo rất hân hạnh, nếu được yết kiến Hoàng Tử lần cuối cùng để tỏ bằng lời nói sự biết ơn của Bần Đạo, nhưng không biết sức của Bần Đạo có còn chờ được ngày về của Hoàng Tử hay chăng?

Dầu sao, nhơn danh Tín Hữu của chúng ta, nhơn danh tình thương và tình huynh đệ giữa hai dân tộc Miên Việt, và nhứt là nhơn danh tương lai không rời của hai nước chúng ta Cao Miên và Việt Nam, Bần Đạo hết sức thành khẩn yêu cầu Hoàng Tử một ân huệ đặc biệt và cuối cùng là ban ân cho Thánh Thất của chúng tôi đang có lịnh phá hủy để có thể lưu kỷ niệm độc nhứt cho những ngày lưu trú của Bần Đạo tại Cao Miên.

Để Hoàng Tử có thể nhận định một cách xác thật việc đã qua, Bần Đạo kính gửi cho đây một bảng sao tờ thỉnh nguyện mà Bần Đạo vừa đệ trình cho Đức Vua.

Phần khác, nếu Bần Đạo thoát kiếp nơi đây, Bần Đạo kính cẩn khẩn cầu Hoàng Tử cho phép Bần Đạo tạm gửi thi hài nơi đất Miên, dưới sự bảo vệ tối cao của nhà Vua, của Hoàng Tử và Chánh Phủ Hoàng Gia Cao Miên. Ngày nào Tổ Quốc thân yêu của chúng tôi, nước Việt Nam sẽ thống nhứt hoặc sẽ theo cùng Chánh Sách Hòa Bình và trung lập là mục tiêu đời sống của Bần Đạo thì Tín Đồ của chúng tôi sẽ di thi hài của Bần Đạo về Tòa Thánh Tây Ninh.

Bần Đạo lại khẩn cầu Hoàng Tử và Chánh Phủ Hoàng Gia, sau khi Bần Đạo thoát xác, dành cho đoàn tùy tùng và Tín Đồ của Bần Đạo việc cư trú rộng lượng và mọi sự dễ dải trong việc tu hành theo tôn giáo của chúng tôi.

Biết rằng Hoàng Tử sẽ chấp nhận đơn thình cầu nầy, Bần Đạo yên lòng nhắm mắt và đem theo kỷ niệm êm đềm nhứt trong đời Bần Đạo với sự cung kính cầu xin Hoàng Tử nhận nơi đây lòng tri ân vĩnh viễn của Bần Đạo.

NAM VANG, ngày 14- 5- 1959

HỘ PHÁP

Ký tên: PHẠM CÔNG TẮC

Số 226 Phlauv Préah Bat Nordon Phnom-Penh

Phiên dịch y bản Pháp Văn đính hậu

Tòa Thánh Tây Ninh, mùa thu năm Kỷ Dậu (1969)

Trần Quang Vinh

【#3】Lễ Vật Cúng Đầy Tháng Cho Bé Gái Chuẩn Bị Như Thế Nào Là Đúng?

Lễ vật cúng đầy tháng cho bé gái chuẩn bị như thế nào là đúng? Sau 30 ngày làm quen với môi trường sống ngoài bụng mẹ, em bé giờ đây sẽ được ra mắt tổ tiên dòng họ thông qua lễ cúng đầy tháng. Vậy cha mẹ cần phải chuẩn bị lễ vật cúng đầy tháng cho bé gái như thế nào, cách cúng và bày mâm ra sao? Đó luôn là câu hỏi được đặt ra cho nhiều gia đình trẻ.

Lễ vật cúng đầy tháng cho bé gái gồm những gì?

Cúng đầy tháng hay còn gọi là cúng mụ, là phong tục lâu đời của các nước châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Thông thường, để cảm tạ 12 Bà Mụ đã có công coi sóc và phù hộ từ khi thụ thai cho đến lúc chào đời, gia đình sẽ cúng lễ đầy tháng. Vì thế, cha mẹ cần lưu ý những điểm sau đây để chuẩn bị chu đáo các lễ vật cúng đầy tháng cho bé gái.

Xôi, chè là 2 món tuy đơn giản nhưng nhất định không được thiếu trong mâm cúng đầy tháng. Lễ vật cúng đầy tháng cho bé gái được bày thành 2 mâm, 1 mâm cho 12 Bà Mụ và 1 mâm cho Đức Ông. Mâm của 12 Bà Mụ gồm những lễ vật sau:

  • Xôi chia thành 12 dĩa nhỏ (thông thường là xôi gấc hoặc xôi 3 màu)
  • Chè chia thành 12 dĩa nhỏ (nếu là con gái nên cúng chè trôi nước)
  • Cháo trắng 12 chén nhỏ
  • 2kg thịt heo quay xếp đều 12 dĩa có kèm bánh hỏi
  • Nước hoặc rượu rót đều 12 ly nhỏ
  • Bánh kẹo trẻ con chia thành 12 dĩa nhỏ

Những lễ vật này sẽ được đặt trên 1 chiếc bàn lớn, đặt cách bàn cúng Đức

ông chừng 10 phân. Do nhiều lễ vật nên mâm cúng 12 Bà Mụ sẽ đặt trên bàn to hơn mâm

cúng dành cho Đức Ông. Lễ vật cúng đầy tháng cho bé gái trên mâm cúng Đức Ông gồm có:

  • 1 tô chè đặt chính giữa 3 dĩa xôi lớn
  • 1 tô cháo lớn
  • 1 con gà cúng, luộc nguyên con để tréo cánh
  • 1 miếng thịt heo quay để nguyên đặt trên dĩa

Bên cạnh đó, gia đình còn có thể đặt thêm trái cây, bình hoa hoặc bánh kem để trang trí cho bàn cúng. Trái cây có thể chọn các loại tùy theo mùa hoặc sẵn có, miễn sao là loại phù hợp dùng để cúng và không làm mất vẻ trang nghiêm. Bình hoa và bánh kem có thể chọn theo giới tính của cháu bé hoặc sở thích của gia đình. Các loại hoa phù hợp hoặc một chiếc bánh kem có in hình xinh xắn sẽ giúp cho mâm cúng trở nên sinh động và gần gũi hơn.

Cách chọn ngày giờ và sắp xếp bàn cúng: Khi đã chuẩn bị đầy đủ lễ vật cúng đầy tháng cho bé gái, gia đình còn cần phải đặc biệt chú ý đến yếu tố chọn ngày giờ và cách bày trí mâm cúng.

Chọn ngày giờ cúng đầy tháng cho bé gái:

Theo phong tục người Á Đông, hễ gia đình có dịp gì quan trọng như cưới hỏi, đầy tháng, thôi nôi, xây nhà,… đều tìm đến thầy phong thủy để xem ngày giờ. Cúng đầy tháng cho bé gái không nhất thiết phải xem ngày giờ qua kỹ, cứ theo cách tính sau đây gia đình vẫn có thể chọn được thời gian thích hợp.

“Gái lùi 2, trai lùi 1”. Đây chính là cách tính ngày cúng đầy tháng đúng theo phong tục tập quán được lưu truyền từ thời xưa cho đến ngày nay. Ngày cúng đầy tháng cho bé gái, là ngày trước ngày đầy tháng 2 ngày và phải tính theo lịch âm.

Vào ngày này, gia đình có thể chọn cúng vào buổi sáng sớm hoặc lúc trời chạng vạng chiều tối. Sở dĩ có cách chọn như thế, là vì muốn tránh thời gian trong ngày, vì theo quan niệm ngày xưa, trong ngày là lúc con người lao động vất vả. Nên chọn sáng sớm vì đó là lúc năng lượng tràn trề, hoặc buổi chiều tối khi con người chuẩn bị nghỉ ngơi.

Gia đình cần chuẩn bị 2 chiếc bàn, 1 to 1 nhỏ để đặt 2 mâm cúng. Bàn lớn đặt mâm cúng 12 Bà Mụ, bàn nhỏ đặt mâm cúng Đức Ông. Hai bàn này cách nhau chừng 10 phân, bàn nhỏ đặt phía trên và bàn lớn đặt phía dưới.

Lễ vật cúng đầy tháng cho bé gái có thể xếp theo vòng tròn ngắn hoặc dài tùy theo hình dáng của chiếc bàn. Cách sắp xếp lễ vật phải tuân theo quy tắc “Đông bình, Tây quả”, nghĩa là bông để phía Đông còn trái cây đặt ở phía Tây. Nên chọn vị trí đặt bàn cúng ở nơi trang nghiêm, phía trước bàn thờ tổ tiên hoặc đặt ngay giữa nhà, phía cửa ra vào.

Cúng đầy tháng cho bé gái hay trai đều không quá khác nhau, quan trọng là cách chuẩn bị lễ vật sao cho phải thật chu đáo và đầy đủ. Để có được sự chỉn chu đó, các bậc cha mẹ cần tìm hiểu kỹ về lễ vật cúng đầy tháng cho bé gái để có được buổi cúng đầy tháng thật trọn vẹn cho con của mình.

【#4】Hiểu Đúng Về Ý Nghĩa Lễ Vu Lan Và Cúng Cô Hồn Ngày Rằm Tháng 7

Rằm tháng Bảy âm lịch hàng năm được gọi là ngày lễ Vu Lan (báo hiếu). Ngày này cũng thường được gọi là ngày lễ cúng cô hồn hay ngày xá tội vong nhân. Lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn tuy có chung nguồn gốc Phật giáo và nhằm mục đích rốt ráo là cầu nguyện cho chư hương linh được siêu thoát, song lại xuất phát từ những điển tích riêng biệt và thực hành theo các nghi thức khác nhau. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ và cửu huyền thất tổ nhiều đời nhiều kiếp, một đằng là để bố thí cho những vong hồn không ai thờ cúng. Một đằng là báo hiếu, một đằng là tu phúc. Do hai lễ đó trùng trong ngày rằm tháng 7 nên nhiều người lầm tưởng rằng hai lễ đó là một.

Ngày rằm tháng Bảy là ngày chư tăng tự tứ, cũng là ngày chư Phật, Bồ Tát mười phương hoan hỷ, chư thiên đều tán thán và chư thiện thần gia tâm hộ trì. Chư tăng đã tròn đủ ba tháng an cư kiết hạ, giới luật tinh nghiêm, tâm niệm thanh tịnh, tăng thêm tuổi đạo, công đức cao dày. Ngày này cũng là ngày trong ba đường ác – địa ngục, ngã quỷ, súc sinh – được dừng nghỉ hành hạ, để cho chúng sinh nào biết hồi tâm hướng thiện niệm Phật, hồi tâm giác tỉnh theo tiếng chuông u minh, theo lời chú nguyện của chư tăng thì liền đó chư Phật đến phóng quang tiếp độ, cứu thoát khỏi cảnh khổ.

Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của Tôn giả Mục Kiền Liên. Tôn giả Mục Kiền Liên là một đệ tử lớn của đức Phật, và được suy tôn là bậc thần thông đệ nhất. Sau khi chứng quả A la hán, Ngài dùng thiên nhãn quan sát khắp các cõi sống thì thấy mẹ mình đang bị nạn đói khát dày vò trong cõi sống quỷ đói. Tôn giả bèn cầm bát cơm xuống cõi quỷ đói đưa cho mẹ. Mẹ cầm lấy bát cơm đưa vào miệng, thì cơm hóa thành than hồng cháy đỏ không tài nào ăn được. Tôn giả Mục Kiền Liên không biết làm sao được, bèn trở về xin Phật ra tay cứu giúp. Đức Phật nói: “Mẹ ông bao nhiêu đời sống xan tham keo kiệt, nên phải chịu khổ báo là quỷ đói, một mình ông không thể cứu nổi mẹ đâu. Phải nhân ngày rằm tháng Bảy tổ chức cúng dường đức Phật và chúng Thánh Tăng mười phương nhờ vào sức mạnh chú nguyện của đức Phật và chúng Tăng mười phương thì mẹ ông mới có thể siêu thoát được”.

Tôn giả Mục Kiền Liên vâng lời đức Phật dạy, đến ngày rằm tháng Bảy là ngày tự tứ ra hạ của chư Tăng, đem thức ăn, đèn, sáp, hương hoa… đặt vào chậu lớn, cúng dường trai Tăng. Bà mẹ của Tôn giả Mục Kiền Liên nương nhờ vào uy lực của Giới đức và phước đức của chư Tăng mười phương, và cũng nương nhờ vào công đức bố thí và lòng chí thành của Tôn giả Mục Kiền Liên, mà sớm thoát khỏi nỗi khổ của quỷ đói, nỗi khổ ví như nỗi khổ của người bị treo ngược, siêu thăng lên các cõi lành.

Nhân đó, đức Phật Thích Ca có lời dạy Tôn giả Mục Kiền Liên rằng: “Làm người đệ tử Phật có đức hiếu thuận, phải thường xuyên ghi lòng tạc dạ công ơn cha mẹ đời này cho đến cha mẹ bảy đời. Mỗi năm vào ngày rằm tháng Bảy, hãy nên làm lễ Vu Lan Bồn, cúng dường đức Phật và chúng Tăng, để báo ơn sinh thành nuôi dưỡng của cha mẹ, cầu cho cha mẹ sống lâu trăm tuổi và sau khi mạng chung được sinh vào các cõi lành”.

Theo Kinh Cứu Bạt Diệm Khẩu Đà La Ni, lúc bấy giờ Đức Phật đang thuyết pháp tại tăng xá Ni-câu-luật-na trong thành Ca-tỳ-la-vệ, tôn giả A Nan ngồi nhập định ở chỗ thanh vắng. Trong đêm hôm đó, khoảng quá canh ba bỗng thấy một ngã quỷ tên Diệm Khẩu (còn gọi là Diệm Nhiên) xuất hiện, cổ họng nhỏ như cây kim, hình dáng khô gầy xấu xí, tóc xõa rối bời, móng vuốt sắc bén giơ ra rất đáng sợ, miệng phun lửa đỏ. Ngã quỷ đến trước Ngài A Nan và báo rằng còn 3 ngày nữa Ngài sẽ chết rồi đọa đường ngã quỷ. Tôn giả nghe như vây sinh tâm hoảng sợ, liền hỏi xem phải làm sao để thoát khỏi cảnh khổ ấy. Ngã quỷ bảo, nếu ngày mai tôn giả có thể bố thí cho vô số ngã quỷ cùng vô số các vị tiên nhân Bà la môn, mỗi người đều được thí cho một hộc lương thực…. cũng như vì ngã quỷ mà cúng dường Tam bảo thì bản thân Ngài sẽ được tăng tuổi thọ lại cũng giúp cho ngã quỷ này được thoát khỏi cảnh khổ và sinh lên cõi trời.

Tôn giả A Nan nhìn thấy ngã quỷ thân hình khô gầy xấu xí, miệng phun lửa đỏ, cổ họng nhỏ như cây kim… lại nói ra những lời đáng sợ như vậy thì hết sức kinh hoàng, vội vàng đứng dậy tìm đến Đức Phật, cầu xin Ngài chỉ dạy phương thức để không phải đọa cảnh ngã quỷ.

Đức Phật bảo A Nan: “Ông không nên quá lo lắng, ta có cách giúp ông có thể bố thí cho vô số ngạ quỷ cùng vô số các vị tiên nhân Bà la môn đều được đầy đủ món ăn thức uống”.

Kinh cũng dạy rằng: “Tất cả chúng sinh đều do nơi ăn uống mới sống được, nếu không ăn uống, thì thân thể ốm gầy, dẫu có thí tài, thí pháp cũng không đủ cho sinh mạng; nay nhân sự cực khổ của chúng sinh, mà khởi cái bi tâm, nên dùng chân ngôn vật thực, mà cúng thí cho Quỷ loại, khiến đặng dứt khổ được vui”.

Sau đó, Đức Phật truyền dạy chân ngôn Vô lượng uy đức tự tại quang minh thù thắng diệu lực (tức chú biến thực). Đức Phật dạy Ngài A Nan rằng, chân ngôn này có năng lực giúp người trì chân ngôn có thể bố thí cho vô số ngạ quỷ, vô số vị tiên nhân Bà la môn… đều được no đủ với các món ăn thức uống tùy theo nghiệp lực của họ; giúp họ bỏ thân ngã quỷ sinh lên cõi trời, đồng thời giúp người trì chân ngôn tăng được tuổi thọ…

Lễ cúng thí thực cô hồn thấm đẫm tinh thần từ bi của đạo Phật. Chính sức mạnh của câu chân ngôn cộng hưởng với năng lực tu hành đức độ của hành giả tác động vào thần thức của cô hồn sẽ giúp cô hồn, ngã quỷ tỉnh ngộ và siêu thoát.

Lễ cúng cô hồn có thể được thực hành công phu mỗi ngày, hoặc tổ chức trong ngày lễ Vu Lan rằm tháng Bảy. Những hành giả muốn đi trên con đường thánh thiện giải thoát của Đức Phật không gì khác hơn là phải nỗ lực phát huy trí tuệ, trưởng dưỡng tình yêu thương, phát triển đời sống giới đức, phạm hạnh. Vì chỉ có đức hạnh và trí tuệ mới tạo cho hành giả tự tại trong mọi tình huống, cứu độ vong linh, cô hồn, tạo phúc điền cho người tại thế nương nhờ.

【#5】Lễ Vật Cúng Mụ Đầy Tháng

Lễ vật cúng mụ đầy tháng đúng cách và những gợi ý vật phẩm mẹ nên tham khảo kiên cố sẽ là những thông báo cần thiết tương trợ rất nhiều cho các bà mẹ trong việccúng đầy tháng cho bé , ngó ơn trên đất trời mang lại cho con những điều may mắn và thành công trong cuộc sống sau này.

thường nhật, theo phong tục nước ta thì khi trẻ con được sinh ra tròn một tháng sẽ được bác mẹ làm lễ cúng đầy tháng để tạ ơn đất trời vì “mẹ tròn con vuông” và sau là để trình diện họ hàng nội ngoại về thành viên mới trong gia đình nhằm mong muốn mọi người đón nhận, xót thương và chở che cho bé trong chặng hành trình dài sau này.

Trẻ vừa mới chào đời sẽ có khá nhiều bỡ ngỡ với thế giới xung quanh nên cần lắm bàn tay nâng đỡ và hơi ấm từ người mẹ từ trong bụng cho tới khi ra đời nên việc cúng đầy tháng bé gái để giúp bé dần cảm nhận được mọi thứ bên ngoài chính là điều khôn cùng cấp thiết đấy.

Làm lễ đầy tháng cho bé như thế nào cho đúng quy cách?

1. Mụ bà Trần Tứ Nương, coi việc sanh đẻ (chú sinh)

2. Mụ bà Vạn Tứ Nương, coi việc thai nghén (chuyển sinh)

3. Mụ bà Lâm Cửu Nương, coi việc thụ thai (thủ thai)

4. Mụ bà Lưu Thất Nương, coi việc nặn hình hài nam, nữ cho đứa bé

5. Mụ bà Lâm Nhất Nương, coi việc săn sóc bào thai (an thai)

6. Mụ bà Lý Đại Nương, coi việc chuyển dạ (chuyển sinh)

7. Mụ bà Hứa Đại Nương, coi việc khai hoa nở nhụy (hộ sản)

8. Mụ bà Cao Tứ Nương, coi việc ở cữ (dưỡng sanh)

9. Mụ bà Tăng Ngũ Nương, coi việc chăm nom trẻ sơ sinh (bảo tống)

10. Mụ bà Mã Ngũ Nương, coi việc ẵm bồng trẻ nít (tống tử)

11. Mụ bà Trúc Ngũ Nương, coi việc giữ trẻ (bảo tử)

12. Mụ bà Nguyễn Tam Nương, coi việc chứng kiến và giám sát việc sinh nở

Theo cách tính truyền thống, ngày cúng đầy tháng của trẻ sơ sinh được căn cứ vào lịch âm và tùy thuộc vào giới tính của đứa bé. Theo đó, nếu là bé gái sẽ lùi lại 2 ngày và nếu là bé trai sẽ lùi lại 1 ngày như cách ông bà xưa vẫn nói “gái lùi hai, trai lùi một”.

* thí dụ, nếu bé sinh vào ngày 03/03 âm thì ngày cúng đầy tháng sẽ là ngày 01/03 âm nếu đó là bé gái. Nếu là bé trai thì ngày cúng đầy tháng sẽ là ngày 02/03 âm. Thông thường, lễ cúng đầy tháng này được thực hành vào trước 12 giờ trưa

bây giờ, các cha mẹ thường cứ ngày sinh của con dựa trên lịch dương và ngày cúng đầy tháng là ngày trùng ngày sinh vào đúng tháng sau.

Cách làm lễ cúng đầy tháng bé gái

ngoại giả, còn có 3 Đức ông đó là tổ sư, tiên sư cha và ông cha với chức năng truyền dạy nghề nghiệp cho bé trong tương lai (không phải 13 đức thầy).

Những gợi ý về việc chuẩn bị các vật phẩm cúng lễ đầy tháng cho bé con mà các mẹ nên tham khảo

– Giấy cúng Đầy tháng (bao gồm mâm hài và đồ cho bà mụ và bà chúa)

– Trầu têm cánh phượng (12 phần nhỏ với 1 phần lớn)

– Chè (bé gái chè đậu trắng còn bé gái thì chè trôi nước)

– Xôi (Xôi gấc 12 phần nhỏ 1 phần đông)

– Heo quay miếng (Chia làm 12 miếng nhỏ 1 miếng lớn)

Một số hình ảnh mâm cúng đầy tháng bé gái

Cúng đầy tháng bé gái

Bài cúng khi cúng đầy tháng bé gái

Sau khi bày đầy đủ lễ vật thì tộc trưởng, Ông hoặc Bố của bé sẽ tiến hành nghi lễ, thắp ba nén hương khấn nguyện:

na mô A Di Đà Phật!

na mô A Di Đà Phật!

nam vô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ tát

– Con lạy Đệ nhất Thiên tỷ đại tiên chúa

– Con kính lạy Đệ nhị Thiên đế đại tiên chúa

– Con kính lạy Đệ tam Thiên Mụ đại tiên chúa

– Con kính lạy Tam thập lục cung chư vị Tiên Nương

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ……

Vợ chồng con là …………………………………………………………………………………………. sinh được con (trai, gái) đặt tên là ………………………………………………………………………..

Chúng con ngụ tại ………………………………………………………………………………………..

Nay nhân ngày đầy tháng chúng con thành tâm sửa biện hương hoa lễ phẩm và các thứ cúng dâng bày lên trước án, trước bàn toạ chư vị Tôn thần cung kính tâu trình:

Nhờ ơn thập phương chư Phật, chư vị Thánh hiền, chư vị Tiên Bà, các đấng ngốc, ông công địa mạch, hậu thổ chính thần, ông cha nội ngoại, cho con sinh ra cháu, tên ………………………….. sinh ngày ………………… được mẹ tròn, con vuông.

Cúi xin chư vị tiên Bà, chư vị Tôn thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật , phù trợ phù hộ, vuốt ve che chở cho cháu được ăn ngon, ngủ yên, hay ăn chóng lớn, vô bệnh vô tật, vô ương, vô bờ, vô ách, phù trợ cho cháu bé được tươi đẹp, sáng ý, minh mẫn, thân mệnh bình yên, cường tráng, kiếp kiếp được hưởng vinh hoa phú quý. Gia đình con được phúc thọ an khang, nhân lành nảy nở, nghiệp dữ tiêu tan, bốn mùa không hạn ách nghĩ lo.

Xin chân tình đỉnh lễ, cúi xin được chứng giám lòng thành.

nam vô A Di Đà Phật!

nam vô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Sau nghi thức cúng đầy tháng là nghi tiết khai hoa còn gọi là “bắt miếng”. Đứa bé được đặt ngay trên bàn giữa, chủ lễ rót trà thấp hương xin phép bắt miếng. Xong, bồng đứa trẻ một tay, tay kia cầm một nhánh hoa điệp (có thể hoa khác) vừa quơ qua, quơ lại trên miệng cháu bé vừa dạy những lời tốt đẹp như sau:

Mở miệng ra cho có bông, có hoa,

Mở miệng ra cho kẻ thương, người nhớ,

Mở miệng ra cho có bạc, có tiền,

Mở miệng ra cho xóm giềng quý mến…

Tiếp sau là lời chúc hạ và tặng quà hoặc tiền mừng tuổi của khách mời, của dòng họ bà con cho cháu bé và gia đình nhân ngày cháu tròn một tháng tuổi.

Lễ cúng đầy tháng là hình thức tín ngưỡng dân gian mang đậm dấu ấn của tín ngưỡng thờ mẫu, qua đó cho thấy tín ngưỡng dân gian nói chung luôn hướng con người không chỉ biết có hiện tại, mai sau, mà còn nhận rõ truyền thống văn hóa mang tính bản sắc của gia đình – từng lớp. song song Lễ cúng đầy tháng còn là sự trình diễn.# của những ước vọng tốt đẹp của các đời trước đối với các đời kế thừa.

con nít khi vừa chào đời sẽ hoàn toàn lạ lẫm với thế giới xung quanh mình nên ngoài sự nâng đỡ và sưởi ấm từ bác mẹ cũng cần đến sự xót thương và đồng hành từ họ hàng nội ngoại nên việc làm lễ cúng như thế nào cho hợp lý và đúng quy cách chính là điểu cấp thiết để mọi người bằng lòng bé đến với họ.

【#6】Cách Bày Lễ Vật Và Bài Đọc Cúng Mụ Đầy Tháng Cho Bé

Người xưa tin rằng, mỗi một đứa trẻ khỏe mạnh ra đời là công lao rất lớn của bà Mụ, người được cho là có công nặn và giúp mẹ tròn con vuông. T

Để khẳng định sự tồn tại và vai trò của một thành viên mới trong gia đình cũng như gia tộc, các bố mẹ sẽ tổ chức một lễ cúng cho đứa con mới sinh của mình khi bé đã tròn một tháng tuổi. Đây là nghi thức có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi người.

Cách tính mốc đầy tháng cho con trẻ

Theo cách tính truyền thống, ngày đầy tháng của trẻ sơ sinh được căn cứ vào lịch âm và tùy thuộc vào giới tính của đứa bé. Theo đó, nếu là bé gái sẽ lùi lại 2 ngày và nếu là bé trai sẽ lùi lại 1 ngày như cách ông bà xưa vẫn nói “gái lùi hai, trai lùi một”. Chẳng hạn, nếu bé sinh vào ngày 28/3 âm thì ngày cúng đầy tháng sẽ là ngày 26/4 âm nếu đó là bé gái. Nếu là bé trai thì ngày cúng đầy tháng sẽ là ngày 27/4 âm. Thông thường, lễ này được thực hiện vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối.

Ngày nay, các bố mẹ thường căn cứ ngày sinh của con dựa trên lịch dương và ngày cúng đầy tháng là ngày trùng ngày sinh vào đúng tháng sau.

Các lễ vật cúng đầy tháng

Theo tín ngưỡng dân gian, đứa trẻ sinh ra sẽ được trông nom, săn sóc bởi 12 bà Mụ. Do đó, nhất thiết trong mâm cúng phải đủ 12 chén chè nhỏ và 3 tô chè lớn. Ngoài ra, còn có các lễ vật khác để cúng Đức ông và ba Đức thầy bao gồm: 1 đĩa xôi lớn, 12 đĩa xôi nhỏ; 3 chén cháo nhỏ và 1 tô cháo lớn; 13 cái bánh tráng nướng; 1 con gà hoặc vịt luộc; 1 mâm hoa quả, 1 mâm cơm (cá, thịt luộc, canh, đồ xào và cơm). Cùng với các lễ vật này còn có thêm một bình hoa, trà, rượu, hương, đèn, nước, gạo, muối, muỗng và không thể thiếu một đôi đũa hoa (đũa được vót ngược đầu và có bông trên đầu đũa) vì theo quan niệm dân gian, bà chúa chỉ thích dùng đũa này.

Bên cạnh đó, bạn còn phải chuẩn bị sẵn những loại gai khác nhau, số lượng tùy vào giới tính của đứa trẻ (con trai 7, con gái 9) và nấu chúng trong một chiếc nồi sạch chung với chiếc đinh hoặc một mảnh thép đã được nướng đỏ.

Cách sắp đặt mâm cúng

Nếu theo quy định chính xác, bạn cần chia thành 2 mâm: một trên một dưới sao cho mâm trên không cách mâm dưới quá 10 phân. Cách đặt mâm cúng luôn tuân theo nguyên tắc “Đông bình Tây quả” tức phía Đông là vị trí đặt bình hoa và phía Tây là vị trí đặt lễ vật.

Bao giờ mâm cúng cũng được bài trí theo nguyên tắc cân đối và có đủ các lễ vật.​

Lưu ý, các mâm này phải được bài trí thật cân đối và đầy đủ các lễ vật đã nêu.

Các nghi lễ cúng đầy tháng

Người xưa tin rằng, mỗi một đứa trẻ khỏe mạnh ra đời là công lao rất lớn của bà Mụ, người được cho là có công nặn và giúp mẹ tròn con vuông. Trên hết, đây còn là nghi thức để ra mắt một thành viên mới trong gia đình với họ hàng, bà con trong dòng tộc.

Nghi thức thắp hương và khấn

Sau khi sắp hết lễ vật lên bàn, một người lớn trong họ sẽ thực hiện nghi lễ thắp hương và khấn:

“Hôm nay, ngày (mùng)… tháng… (âl), ngày cháu (nội hay cháu ngoại… ) họ, tên… tròn 1 tháng tuổi, gia đình chúng tôi bày mâm lễ vật này, cung thỉnh thập nhị mụ bà và tam đức ông trước về chứng minh nhận lễ, sau tiếp tục phù trợ cho cháu (tên… ) mạnh tay, mạnh chân, mau lớn, hiền, ngoan, phù trợ cho gia đình an vui, hạnh phúc”.

Nghi thức khai hoa

Đặt trẻ ở trên bàn giữa, người lớn trong họ sẽ thắp hương và bắt đầu mở lời xin phép khai hoa. Sau đó, người chủ lễ sẽ bồng đứa trẻ trên tay, đồng thời cầm một cành hoa quơ qua quơ lại miệng bé và đọc những lời cầu chúc mang ý nghĩa tốt đẹp:

“Mở miệng ra cho có bông, có hoa,

Mở miệng ra cho kẻ thương, người nhớ,

Mở miệng ra cho có bạc, có tiền,

Mở miệng ra cho xóm giềng quý mến…”​

Nghi thức đặt tên cho con

Sau khi cầu chúc điều tốt lành đến với đứa trẻ, người chủ lễ sẽ tiếp tục nghi thức Xin Keo. Theo đó, chủ lễ sẽ lấy 2 đồng tiền cổ làm bằng bạc thật và gieo vào một chiếc đĩa sâu lòng. Nếu có một mặt úp, một mặt ngửa thì chứng tỏ cái tên đã được tổ tiên chứng giám và ưng thuận. Ngược lại, nếu đều là 2 mặt úp hoặc 2 mặt ngược thì phải tiến hành gieo đồng tiền này lại. Nếu đã 3 lần mà vẫn chưa được thì phải đặt tên khác cho trẻ.

Ngày nay, khi sinh trẻ ra, mọi người thường đặt tên con ngay để làm các thủ tục khai sinh nên tập tục Xin Keo này cũng không còn tồn tại. Tuy nhiên, một số gia đình vẫn còn giữ tục này như một truyền thống gia tộc.

Ngoài ra, theo tục xưa, sau Xin Keo người mẹ cũng phải được làm phép để tẩy uế và kết thúc thời gian ở cữ. Theo đó, mẹ phải bồng trẻ bước qua một nồi nước sôi có đặt đinh nung đỏ nhiều lần (trai 7 lần, gái 9 lần) và sau đó đi quanh nhà. Trong lúc đi, mẹ cố tình làm rơi tiền để cầu mong cuộc sống của con sau này dư dả, đủ đầy. Dù ngày nay, việc tẩy uế cho người mẹ sau sinh đã được coi là hũ tục và không còn tồn tại nhưng chút sót lại của việc đánh rơi tiền từ tục tẩy uế này vẫn còn được duy trì ở số ít gia đình.

Sau tất cả các nghi thức này là lời cầu chúc và lì xì của những người họ hàng trong dòng tộc cũng như các vị khách tham dự tiệc mừng.

MẸ ĐÃ BIẾT CÁC LỄ VẬT VÀ NGHI THỨC CÚNG MỤ KHI BÉ TRÒN THÁNG CHƯA BÀI KHẤN CÚNG THÔI NÔI CHO BÉ

【#7】Chuyên Cung Cấp Khay Inox Đựng Trái Cây Tô Giá Rẻ Tại Tphcm

Tên Sản Phẩm: Khay inox đựng thức ăn

Quy cách kỹ thuật

Kích Thước ( dài x rộng):

Khay inox 1/9: 17 x 11cm

Khay inox 1/6: 16 x 16cm

Khay inox 1/4: 16.5 x 26cm

Khay inox 1/3: 17.5 x 32cm

Khay inox 1/2: 26.5 x 32cm

Khay inox 1/1: 54 x 32cm

Sâu lòng tùy chọn: 6,5cm, 10cm, 15cm

Nắp đậy ( bán riêng): nắp mica trong hoặc nắp inox

Được làm từ chất liệu Inox chuẩn 304 cao cấp , 100% inox không nhiễm từ, quy cách theo tiêu chuẩn quốc tế ,an toàn cho người sử dụng

Khay được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại, sản phẩm bóng đẹp, không bị nhiễm từ…đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Ưu điểm: Chất liệu inox chắc chắn, dày dặn, tránh móp méo, biến dạng, bền bỉ theo thời gian sử dụng, mang đến cho sản phẩm độ bóng đẹp, không bị hoen gỉ, không gây hóa chất độc hại khi tiếp xúc với thức ăn hoặc nhiệt độ cao.

Dễ vệ sinh chùi rửa, dễ dàng cất gọn, tiết kiệm diện tích không gian

Thích hợp: dùng để đựng thạch, topping, flan, các loại hạt trân châu, đựng kem, trái cây, xiên que…

806 khách hàng đã mua sản phẩm này

100% nguồn nguyên liệu chính hãng

Được kiểm định nghiêm ngặt trước khi nhập kho, đảm bảo sản phẩm được sản xuất với chất lượng cao

Bản vẽ thiết kế hoàn thiện trong ngày

Bản vẽ thiết kế được hoàn thiện trong vòng 12 – 24 giờ, thể hiện chính xác hình ảnh thương hiệu.

Đổi Trả Miễn Phí

Được đổi trả miễn phí nếu mẫu mã, kiểu dáng, kích thước sản phẩm không đúng như bảng vẽ.

Thời gian gần đây, Sài Gòn đang rộ lên trào lưu bán trái cây tô không chỉ thu hút đông đảo các cô cậu học sinh sinh viên, mà ngay cả thành phần công nhân viên cũng ưu chuộng không kém. Không chỉ được thưởng thức đa dạng các loại trái cây ngon, mát, bổ, mà chính ở cách bán trái cây bằng tô khiến nhiều người tò mò, thích thú. Chính vì thế mà ngày càng nhiều các điểm bán trái cây tô mọc lên cạnh tranh buôn bán.

Tên Sản Phẩm: Khay inox đựng thức ăn

Quy cách kỹ thuật

Kích Thước ( dài x rộng):

Khay inox 1/9: 17 x 11cm

Khay inox 1/6: 16 x 16cm

Khay inox 1/4: 16.5 x 26cm

Khay inox 1/3: 17.5 x 32cm

Khay inox 1/2: 26.5 x 32cm

Khay inox 1/1: 54 x 32cm

Sâu lòng tùy chọn: 6,5cm, 10cm, 15cm

Nắp đậy ( bán riêng): nắp mica trong hoặc nắp inox

Được làm từ chất liệu Inox chuẩn 304 cao cấp , 100% inox không nhiễm từ, quy cách theo tiêu chuẩn quốc tế ,an toàn cho người sử dụng

Khay được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại, sản phẩm bóng đẹp, không bị nhiễm từ…đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Ưu điểm: Chất liệu inox chắc chắn, dày dặn, tránh móp méo, biến dạng, bền bỉ theo thời gian sử dụng, mang đến cho sản phẩm độ bóng đẹp, không bị hoen gỉ, không gây hóa chất độc hại khi tiếp xúc với thức ăn hoặc nhiệt độ cao.

Dễ vệ sinh chùi rửa, dễ dàng cất gọn, tiết kiệm diện tích không gian

Thích hợp: dùng để đựng thạch, topping, flan, các loại hạt trân châu, đựng kem, trái cây, xiên que…

Và để đáp ứng nhu cầu mua bán của khách hàng, công ty Thiên Phúc chúng tôi đã và đang cho ra đời các mẫu khay inox bán trái cây tô vô cùng chất lượng và an toàn. Được thiết kế sáng tạo, đa ngăn giúp đựng được rất nhiều loại trái cây khác nhau. Khay được làm bằng 100% inox chất lượng, đảm bảo an toàn sử dụng, chống rỉ sét, tuổi thọ sử dụng cao. Sản phẩm khay inox đựng trái cây của Thiên Phúc đảm bảo chuẩn inox 304, cam kết theo chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Inox 304 là loại inox phổ biến và được ưa chuộng nhất hiện nay trên thế giới. Inox 304 chiếm đến 50% lượng thép không gỉ được sản xuất trên toàn cầu.

Thiên Phúc nhận cung cấp tất cả các loại khay inox 304 đựng thực phẩm cho các ngành hàng: khay inox đựng trà sữa, khay inox đựng thạch, khay inox đựnng trái cây, khay inox đựng topping, khay inox đựng kem, kem inox đựng xiên que…Khách hàng cần mua khay inox bán trái cây tô hay bất cứ các dòng khay đựng inox nào hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và chọn mua các khay inox có kích thước phù hợp nhất

LỢI THẾ CỦA XƯỞNG THIÊN PHÚC

1.Sản phẩm sản xuất trực tiếp tại xưởng không qua trung gian

(Khách hàng có thể tham khảo trực tiếp mẫu mã tại xưởng, tham quan xưởng sản xuất)

2. Nguồn nguyên vật liệu đa đạng chất lượng ổn định: gỗ, sắt, inox

(100% nguyên liệu nhập chính hãng có hóa đơn, nói không với nguyên liệu trôi nổi kém chất lượng)

3. Hỗ trợ thiết kế , bàn giao bản vẽ nhanh trong ngày

4. Tất cả hình ảnh trên website 100% công ty sản xuất, có video kèm theo mỗi sản phẩm

(Khách hàng sẽ không sợ mua hàng online không đúng hình, kém chất lượng)

(Một số công ty khác hình ảnh cắt ghép trên mạng, không chứng minh được sản phẩm do công ty mình sản xuất, mua bán trung gian, giá thành rẻ chất lượng không đảm bảo)

5. Được đổi trả miễn phí nếu mẫu mã, kiểu dáng, kích thước sản phẩm không đúng như bảng vẽ.

【#8】Nên Làm Gì Với Quần Áo, Vật Dụng Của Người Thân Vừa Qua Đời?

Nói đến chết tức là nói đến sống, có sống có chết có sanh có diệt, có họai diệt rồi tiếp tục tái sanh theo nghiệp thức. Có sanh sôi nẩy nở, giải quyết việc sanh tử của đời người là bàn đến nhân sinh quan, việc lúc nào cũng hiện hữu đồng hành cùng con người.

Việc cúng 49 ngày cho người quá vãng có ý nghĩa gì?

Vấn: Gia đình con vừa có người thân qua đời nên phải lo chuyện cúng tế tang chay rất nhiều phiền não. Quả thật là gia đình nhà con rất khả giả và có điều kiện. Các vật dụng áo quần người vừa mất cũng toàn là hàng hiệu. Mọi người bảo đó là quần áo người mất nên đốt đi. Thay vào đó, cả nhà lại lo đi mua áo quần vàng mã đốt để thay thế vì bảo như vậy người thân không bị đói lạnh, có tất cả những điều họ cần nơi âm giới. Nếu không đốt họ sẽ về đòi. Có gia đình gần đó người thân hiện về bảo rất đói kém, cần phải đốt áo quần vàng mã nên gia đình họ đốt cả nhà lầu, xe hơi, điện thoại iphone, tiền đô la rất nhiều, kể cả người hầu như một vương phủ. Con không hiểu người đã mất rồi đốt vàng mã như vậy là có đúng không và người âm có nhận được hay không? Áo quần của người đã mất có phải đốt đi không? Nếu cho người khác mặc vậy người nhận áo quần ấy có bị làm sao không? Có cần phải cúng tế, trì chú, đọc kinh gì để hóa giải tất cả những điều này không? Con xin cảm ơn Sư.

Đáp: I. Việc sống chết

Bàn đến lễ tang là bàn đến việc chủ chánh của con người là: “Sống chết”. Nói đến chết tức là nói đến sống, có sống có chết có sanh có diệt, có họai diệt rồi tiếp tục tái sanh theo nghiệp thức. Có sanh sôi nẩy nở, giải quyết việc sanh tử của đời người là bàn đến nhân sinh quan, việc lúc nào cũng hiện hữu đồng hành cùng con người. Sống và chết bàn hết cả đời người, từ đời nầy sang đời khác cũng không xong chuyện, sự sống chết là sự chuyền nối nhau như mắc xích, như hạt giống lên mầm sanh ra cây, cây trở lại thành trái và cho ra hạt giống, con người cũng thế cứ chuyền nối nhau sanh sanh hóa hóa không hồi kết thúc (Việc tái sanh – Kinh Na Tiên Tỳ Kheo). Nói về nhân sanh và vũ trụ, Đức Phật hướng dẫn mọi người thật chi tiết về thân ngũ uẩn, nói đến thân ngũ uẩn thì lúc nào cũng đi theo một quy luật hòa hiệp rồi ly tan, nhân sự hiệp tan mà Phật có nhắc đến thân vô thường, khổ, không, vô ngã. Nhờ đó giúp cho mọi người hiểu và thường xuyên quán chiếu để giảm bớt khổ đau, tiến lần đến tâm không còn khổ đau hướng về thánh thiện.

Theo Phật giáo do con người còn mang thân tứ đại. Tứ đại hay lục đại là tấm thân mình hình thành bởi đất (Thịt, gân, xương), nước (Máu mủ và các loại nước trong thân), lửa (Hơi nóng), gió (Hơi thở), thức đại (Sự hiểu biết), không đại (Trí giác), có hình thành có tan rã . Do vô thường nên thấy có sống đó rồi chết đó, do vô ngã nên biết thân là duyên hợp, huyễn hoặc không tồn tại, chết rồi tái sanh không theo ý muốn. Cuộc sống con người chỉ trong một niệm (Sát na vô thường), một hơi thở (Nhất kỳ vô thường), thở ra không hít vào là chết. Thân người luôn nằm trong quy luật sanh, trụ, dị, diệt đó là vô thường có sống ắt có chết, có sanh tất có diệt. Chúng ta không thể có những đòi hỏi nào hơn khi con người được sanh ra thì mang lại niềm vui cho mọi người, khi con người chết thì đem lại sự khổ đau cho mọi người. Con người là trọng tâm của sự sống, có con người có trí giác, có huệ lực có tất cả, con người mà vô tâm dù có sống như xác không hồn. Ví như máy xe có nhiều bộ phận được lắp ráp bởi trí tuệ con người và con người điều khiển khối sắt tổng hợp ấy biết chạy trăm cây số giờ.

Trong 36.000 ngày trên hành tinh này con người là trung tâm của tham luận. Chính sự bàn luận đó cũng có khi đưa con người đến chân thiện mỹ, cũng có khi sự bàn luận đưa đến áp lực, o ép, ức chế, hận thù là chuyện trăm năm không bao giờ chấm dứt. Với con người nếu không có tôn giáo, không có tôn ti trật tự thì không có đạo đức. Con người không có phương hướng chống đỡ những thiên tai địch họa. Tôn giáo là trí tuệ và đạo đức, có trí tuệ con người mới có cơ sở tìm lối thoát, lối thoát cho chính bản thân và con người, lối thoát cho cộng đồng và xã hội. Trí tuệ là nền tảng đưa con người vượt sống chết, giải thoát những khổ đau phiền não trong giây phút hiện tại, có như thế con người mới rảnh tâm rảnh tay mà giải quyết việc cộng đồng.

Cúng cơm cho người đã mất có ăn được không? II. Sự sanh

Trước nhất chúng ta nói một ít về hành trình của con người khi được sanh ra và đến với thế gian. Con người được sanh ra trong cuộc đời, nói về đời sống thì rất đa dạng phong phú. Khi vừa được lọt lòng mẹ, người thân phải lo liệu cầu trời khẩn Phật váy van tứ phương, mẹ sanh mẹ độ cho trẻ lành mạnh, mẹ tròn con vuông, lo cho sự ấm áp của tấm thân Ông bà nội ngọai thì lo bảy lo ba làm sao cho mọi việc tốt lành đến với cháu, lo cho bà mẹ được lành lặn để nuôi con,. Mặc khác lại tìm cách đặt tên cho trẻ làm sao cho không trùng lấp với thân tộc, đến cơ quan hộ tịch lo giấy khai sanh, nhập hộ khẩu cho con mong sao trong tương lai con có vị trí vững vàng với xã hội. Theo tập tục cha me lúc nào cũng chăm hẳm với thời gian, bảo vệ con, tính tháng tính ngày mừng con được đầy tháng, rồi tròn một năm 12 tháng, sắm sanh lễ vật mừng lễ “Thôi nôi”. Nếu là gái, me phải lo cho việc “Xỏ lỗ tai đeo bông liền”, sắm cho con trẻ những vật dụng nhiều màu sắc giúp cho con có tầm nhìn xa, ngắm nghía những cái đẹp, là trai thì được sắm sanh xe cộ cho con tung tăng tập tành cho mau khôn lớn được vẫy vùng trong thiên hạ. Những ca dao nói về tình Cha nghĩa Mẹ như sau:

Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ

Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn cha.

Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.

Tảo tần sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn

Đưa tấm lưng gầy cha che chở đời con

(Diễn đàn Lê Quý Đôn – Chúc Khả)

Trẻ mới sanh là trọng tâm của gia đình, con được sanh ra trong nhà giàu hay nghèo đều được cha mẹ lo cho con ăn học, nghèo giàu có khác nhau, nhưng cái lo liệu cho con thì không khác. Những ước mơ cho tương lai, sự ước mong trên hết là làm sao con có chí khí, có trí thông minh không thua sút mọi người, nên thân nên phận, thành nhân chi mỹ, gánh vác việc đời, việc xã hội, việc nhà.. Việc cuối cùng trông con đến tuổi “Thành nhân” là dựng vợ gã chồng mong sao cho con hạnh phúc an vui. Trai thì nối dòng tông phong vọng tộc, Gái thì làm tỏ rạng gia phong

Dạy cho con biết việc đời

Đi trong nhân thế rạng ngời gia phong

Trai thì nối dõi giống dòng

Gái thì đức hạnh sạch trong vẹn toàn

Nói đến sự chết, trong gia đình gọi là “Hữu sự”. “Hữu sự” tức là nhà có người qua đời (Chết) có lễ tang. Sự mất mát của người thân, một bước ngoặc của đời người, mọi người đau đớn vì từng hòa hiệp rồi nay lại ly tan, một cú xốc lớn trong đời người, nhất là những cái chết bất đắc kỳ tử, hoạch tử, trẻ chết, đẹp chết, ngoan chết, chết do thiên tai. Đối với người trẻ trung hay trẻ thơ, hoặc có những hiện tượng xảy ra như người thân cùng huyết thống dòng họ qua đời liên tục liên táng, gia đình sẽ cảm thấy lo âu, đơn phương đối diện với cuộc sống tẻ nhạt vô cùng. Tâm trí cứ mãi ưu tư sợ rằng gia đình mất đức thiếu phước nên cái chết liên tục đến, là một sư lo lắng có điều gì đó ập đến gia phong.

Sự chết đem lại tiếc nuối với một người đã được đào tạo thành nhân chi mỹ, đang có trách nhiệm phụng sự gia đình xã hội, giờ nầy lại qua đời, chết trong cái không thể chết, chắc chắn phải được người thân dù giàu hay nghèo cũng đều lo liệu tế lễ tang chế đặc biệt. Người Á đông nói chung, người Việt nói riêng lo tang chay cho người đã qua đời dường như là một vinh dự lớn trong đời người làm con cháu, làm người thân trong gia đình. Tại lễ tang mọi người có dịp gặp nhau phân định xưng hô thứ lớp trong gia đình, nhìn bà con, những người lớn chưa được nhiều người biết hôm nay được giới thiệu để mọi người biết. Lúc bấy giờ người chủ tang được coi như người có quyền lực và quan trọng nhất tại cuộc lễ. Người chết rồi thì được trưng bày một bàn thờ thật trang nghiêm, vong vị đường hoàng, mọi người đến viếng cúng đôi liễng, trướn, hoa cườm, hoa tươi treo giáp nhà, phúng điếu tiền để trong phong bì.

Ngày nay theo lễ nghi của miền Bắc, một ít ở miền Trung, Nam việc phúng viếng là quan trọng. Người phúng viếng sau khi dâng hương tường niệm người quá cố, rồi để phong bì tiền trong thùng kiếng. Khi có người xá hay lạy thì con cháu quỳ lạy đáp. Việc cúng cơm cũng không dám đơn sai trễ nải, sợ vong hồn người thân bi đói khát tội nghiệp. Sau lễ tang người có trách nhiệm xây mộ kiến thiết nhà mồ thật trang trọng, lúc nào cũng giữ sạch, dáng vẽ uy nghi tráng lệ nhằm để nói lên phần mộ nầy có con cháu báo hiếu chăm sóc hằng ngày. Cũng có gia đình hoàn cảnh đơn chiếc lắm, đau lòng khi người chết bị phủ phàng, hoặc không ai hương khói cúng quảy

Từ việc tế sống đến việc tế chết, cũng như mừng sinh nhựt (Sống), hay tang chế (Chết) có ảnh hưởng lớn đến đời sống con người. Từ vua chúa cho đến quan lại, từ hàng cửu phẩm đến hàng thứ dân, từ giàu đến nghèo ai ai cũng có bổn phận với trời đất, trời cha đất me, với tổ tiên ông bà cha me tại tiền cũng như khuất núi. Việc thiết lập đàn Nam giao, đàn Xã tắc ở cố đô Huế vào thế kỷ 17 của nhà Nguyễn, việc người dân xây dựng từ đường cũng thế đó, rất có ý nghĩa tôn trọng đạo trời đất, đạo ông bà có ảnh hưởng đến tâm linh rộng lớn, bao la của trời đất. Đó là tôn vinh 8 chữ vàng trung, tín, lễ, nghĩa, hiếu, để, liêm, sĩ.

Người Việt học Phật, có câu “Vạn hạnh Bồ tát hiếu nghĩa vi tiên”. Do quá trình du hóa hội nhập lễ tang theo nghi nhà Phật luôn có pha trộn ảnh hưởng văn hóa đa phương, một phần tư tưởng hình nhi hạ của Khổng tử, dân tình lúc nào trong lòng cũng kính thờ tổ tiên, những người đã khuất bóng. Trong sách Trung Dung của Tử Tư thường dạy: Kính trọng người chết cũng như người còn sống, trọng người đã mất như người còn sống, có câu:

“Sự tử như sự sanh,

Sự vong như sự tồn”,

Nghĩa là sự chết như sự sống, sự mất mát cũng như tồn tại, chết cũng không khác sống, những việc đã mất cũng không khác mấy như viện hiện hữu. Trong chốn thiền môn quý Sư Thầy thường giảng câu: “Dương gian Âm phủ đồng nhất lý”. Không đâu như người Á đông, nhất là người Việt Nam dù có đi xa quê hương xứ sở, dù có lỡ quên địa chỉ hình ảnh nơi chôn nhau cắt rún, dù có thay thiên đổi địa, dù có chiến tranh tàn khốc làm mất dấu vết quê hương, hoặc đi theo một ý tưởng nào xa lạ bên trời âu Mỹ đi nữa họ cũng vẫn thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ ruột thịt. Lúc nào họ cũng hoài cổ, dòng họ huyết thống không bao giờ bị quên lãng.

III. Lễ tang

Tang chế là việc hiếu, là cơ hội cho con cháu báo ân báo hiếu. Tang chế diễn ra trong gia đình khi có người chết, người thân qua đời gọi là lễ tang. Lễ tang quan trọng theo sự chết của người thân, người lớn hay người nhỏ, ông bà cha me hay con cái, dù giàu hay nghèo, nam hay nữ, từ vua quan, cho đến hàng thứ dân đều không tránh khỏi quy luật sanh lão bệnh tử. Chết tức là lui về quá khứ, chuẩn bị cho cuộc sống mới ở tương lai. Chết như người cởi bỏ chiếc áo cũ và tái sanh, như người mặc chiếc áo mới. Cái chết nào của người thân cũng đem lại sự đau buồn nhất trong gia đình. Vì sao? Vì người ruột thịt chết là ra đi vĩnh viễn, trong nhà đột ngột vắng bóng một người, một cuộc xuất hành không bao giờ trở lại với gia đình.

Theo tự điển Việt Nam của Thanh Nghị từ ngữ Lễ tang như sau: Lễ là nghi lễ, tang là tang tóc, tang chế là một cuộc lễ có vẻ ảm đạm tang tóc sầu bi. Hình thức của lễ tang thì buồn lắm. Thập niên 1950 ở quê hương Sư, tại một lễ tang gia đình gia giáo, thuộc ấp Mỹ Thạnh, xã Hòa Định, Quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, tang chủ có người thân là hiền thê 37 tuổi qua đời. Ông chồng cũng trạc chừng 37 tuổi vừa khổ não khóc lóc, cũng vừa lo nhờ người bạn thân khéo tay dùng kéo cắt mo cau thành một đàn chim dán vào mành trúc tạo thành cảnh vật đàn chim tung cánh giữa khung trời đang bay về núi, những con cò đi ăn đêm đậu lại cành cây lông cánh ũ rũ. Lễ tang nầy thật lớn, có nhiều bà con họ hàng thân thuộc, hàng xóm láng giềng tham dự đông dầy, các con các cháu đều tỏ lòng thương tiếc khóc lóc bi ai, kêu gào thảm thiết giải bày vãn than.

Đức Phật niết bàn, chư Trưởng lão do cảm thương Phật, nhớ Phật đã từng để kim quan của Ngài suốt môt tuần lễ, sau khi kết tập Kinh Luật lần thứ nhứt xong mới hỏa thiêu (Trích đoạn Lời tựa Nhị Khóa Hiệp Giải). Lúc bấy giờ có 7 Vương quốc lân bang và Vương quốc Câu Thi na đến canh chừng an ninh nghiêm nhặt, sau khi hỏa thiêu thâu lấy Xá lợi (Xương cốt) vô số. Có ông Trưởng giả Hương Tánh đứng ra ổn định cuộc lễ và phân Xá lợi Phật chia cho tám Vương quốc thờ tại quê hương của xứ mình, tháp thứ chín thờ cái bình, tháp thứ mười thờ tro hài cốt, và tháp thứ mười một thờ tóc Phật khi Ngài còn tại thế gian. Đặc biệt, Phật đản sanh, xuất gia, thành đạo, nhập Niết-Bàn đều nhằm vào ngày mùng 8 tháng hai âm lịch. (Thư viện Hoa Sen – Toàn Không)

Tang lễ của các vị vua chúa rất rườm rà rất hao tốn công sức thiên hạ, như lễ tang thời nhà Lê đã được thương nhân Pháp Jean Baptiste Tavernier thế kỷ 17 ghi lại. Khi vua Lê Hy Tông băng hà thì người ta đem ướp tử thi ngài ngay và đặt lên long sàng. Trong sáu mươi lăm ngày dân chúng mới được phép chiêm ngưỡng, vẫn hầu hạ, dâng cơm như khi vua còn sống. Cơm cúng xong thì một nữa đem biếu các Nhà Sư và một nửa đem bố thí cho người nghèo đói. Khi ngài vừa tắt nghỉ thì chúa Trịnh báo tin ngay cho các quan đầu các đạo và định thời hạn để tang là bao lâu. Thường thì quan võ và quan án ba năm; tôn thất sáu tháng; triều thần sáu tháng và dân sự ba tháng. Trong ba năm để tang vua, bỏ hết các cuộc vui, trừ lễ đăng quang tân quân. Những món ăn dâng vua mới đều đựng trong đĩa phủ sơn đen; vua cạo đầu và đội mũ gai. Các hoàng thân và bốn mươi quan đại thần cũng để tang như vậy đến khi nào rước linh cữu xuống thuyền đem đi an táng một nơi đã định mới thôi. Ba quả chuông đặt trên một ngọn tháp cũng đánh mãi đến khi linh cữu rước xuống thuyền. Ba ngày sau các quan mới được vào làm ai điếu tiên vương và đến ngày thứ mười trở đi hàng thứ dân mới được vào chiêm bái.

Lễ tang các cụ già thì đa phần có con cháu đông đầy, tang chủ rước quý Sư Thầy thuộc hàng giáo phẩm, mua áo quan thuộc loại “Hàng nhứt” bằng gỗ quý ở một nhà mai táng nổi tiếng. Thời gian lễ tang kéo dài cả tuần lễ để cho con cháu ở xa về. Việc đãi đằng ở nông thôn xưa thì giết heo, bò, trâu đãi khách đến viếng lễ tang. Việc tiếp tân cũng có nhiều cách thức đối với các bậc ông Cổ, ông Cả, ông Chủ trong làng đến phúng viếng có khác, các hiệp hội, những người thân, sui gia, bạn bè đến phúng viếng tiếp tân hình thức nhẹ hơn những người già cả. Khi có người phúng viếng thì nhạc lễ trỗi lên báo hiệu và rước người làm lễ phúng viếng. Người chết là Phật tử thì ngoài bàn vong còn có bàn thờ Phật bên cạnh. Các chùa đến viếng nếu có tụng kinh thì tụng ở bàn Phật, gia chủ sẽ trao cho vị chủ lễ 4 cây nhang, một cây dâng tưởng niệm trước bàn vong, còn 3 cây niệm hương tại bàn Phật, phía đại chúng mỗi thầy 2 cây nhang một cây tưởng niệm tại bàn vong, một cây dâng tại bàn Phật. Tùy theo lễ tang, lễ có ít người thì quý Sư Thầy thông báo gia chủ sẽ tụng một thời kinh ngắn cầu nguyện cho hương linh siêu sanh lạc quốc, nếu có đông người đến viếng thì chỉ chia buồn vài lời an ủi với gia chủ. Lễ tang ngày nay đối với các cụ già thì còn chôn cất theo đất nhà, nhưng cũng phải cầu xin lắm với cơ quan thẩm quyền địa phương mới cho phép, còn lại đa phần là thiêu hóa rải trong hư không, rải xuống sông biển, hoặc gởi vào chùa phụng thờ.

Ở Việt Nam người con thọ tang ông bà cha mẹ 3 năm (nói 3 năm chứ chỉ có 24 tháng). Trong 3 năm đó lúc cúng vong tiến linh con cháu phải mặc đồ tang. Ngoài ra người thọ tang dù đi bất cứ nơi nào trong trời đất, hay chỉ đi ra khỏi nhà phải đeo một miếng tang nhỏ màu đen hay trắng, độ chừng 2 cm x 1,5 cm trước ngực hay trên chiếc nón, tang có khi là tang màu đen, tang màu trắng. Trong nhà Phật người đệ tử xuất gia thọ tang Thầy Tổ màu vàng.. Theo một vị Thầy cúng nói về việc thọ tang, con cháu để tang ông bà, tính theo bên Nội, thuộc dòng họ cùng huyết thống, như sau: – Con trai và con gái thọ tang trắng – con trai Trưởng nam thọ tang trắng đội bích cân, có chống gậy (Trong gia đình chỉ có một trai dù là trai đầu lòng, ở giữa hay trai út cũng gọi là trưởng nam) – con rể, con dâu thọ tang trắng – cháu nội thọ tang trắng có chấm đỏ – cháu ngoại thọ tang trắng có chấm xanh – cháu cố thọ tang trắng có chấm vàng.

Việc thờ cúng, kỵ giỗ có phù hợp với giáo lý Phật giáo? Xem lịch số ngày giờ, cúng cơm cho người chết

Người thân qua đời, dù có đi coi Thầy nhằm ngày tốt hay xấu cũng chỉ là thời gian không còn cân đối nữa để cho gia đình quan tâm. Coi là coi vậy thôi chứ hiện nay lịch số thế gian không còn phù hợp và đúng nữa do ảnh hưởng thời tiết khí hậu diễn biến vô chừng, có cả sự nóng lạnh vô chừng theo hiện tượng Elnino, hiệu ứng nhà kín, nạn phá rừng, xây đập thủy điện xen vào…các hiện tượng. Sự tiến bộ của khoa học làm cho lịch số trở thành vô nghĩa, chệch hướng sai với ngày đêm, năm tháng nếu có xem cũng chỉ là nhờ Thầy xem giúp dùm vậy thôi. Vả lại, lịch số ở mỗi nơi có khác nhau, như ở tây bán cầu tính một thế kỷ là 100 năm, ở đông bán cầu tính một thế kỷ là 60 năm, người Maya một năm có 18 tháng, một tháng có 20 ngày, như vậy lịch số có sự trùng lấp với nhau chăng? Chẳng lẻ người Tây phương, người Á đông hay người Maya, người Hồi giáo sẽ chết theo vì những ngày xấu của đạo bên nầy hay xấu của đạo bên kia? Việc Thầy cúng coi ngày giờ năm tháng hiện nay có pha trộn giữa đông và tây, khi thì Việt, khi thì Trung, khi thì nương vào các tôn giáo nên không rõ ngày giờ nào là chuẩn, là xấu là tốt, không còn hiệu lực.

Nhà Phật khắp khuyên bà con Phật tử không nên khóc cho người đã chết, vì làm chấn động thần thức người chết khó mà siêu thoát. Người Hoa kiều ở Chợ Lớn rất sợ người chết dù đó là ông bà cha mẹ, nhưng khóc thì khóc cho người chết dữ lắm, có khi tang chủ mướn người khóc hộ. Năm 1967 tác già bài nầy có kết hợp đưa lễ tang người Hoa qua đời tại bệnh viện Chợ Rẫy, xe tang chỉ đưa từ nhà xác bệnh viện đến nghĩa trang. Khi đoàn tang lễ đi ngang qua nhà, tang chủ không cho đem vô nhà vì sợ ma mới nhập vào nhà, chỉ cho xe tang đi chậm chứ không được ghé, bên cạnh có người đi theo “Khóc mướn” thật thảm thiết bi ai vô cùng

Theo sách Liễu sanh thoát tử có hai dạng người mau đầu thai: Một là người niệm Phật chánh niệm khi lâm chung liền vãng sanh về cõi Phật A Di Đà, hai là người làm việc ác trong thế gian, khi thác liền theo nghiệp thức tái sanh vào kiếp khác ngay để trả quả báo. Số còn lại trung ấm thân chờ đợi thọ cảm nghiệp thức mà lần lượt tái sanh, tức 49 ngày.

Trong những ngày lễ tang, việc cúng cơm do Thầy chủ lễ tang thực hiện. Lúc bấy giờ tang chủ quỳ trước linh án để cúng dâng cơm cho vong linh người thân. Sau khi an táng có các lễ khai mộ (Nếu hỏa thiêu thì giảm việc khai mộ), lễ cúng thất (7 ngày), lễ cúng tuần chung thất (49 ngày), cúng 100 ngày, cúng giáp năm, lễ cúng mãn tang (Mãn khó, xả tang). Trong thời gian 3 năm thọ tang, hằng ngày con cháu cúng cơm 3 lần (Sáng, trưa, chiều) cho người qua đời không được sai sót, bỏ cuộc, cũng có thể cúng cơm hai lần trưa và chiều. Riêng buổi sáng có khi cúng nước trà, cà phê, cúng bánh trái theo sở ý của người chết lúc sanh tiền.

Xử lý vật dụng của người chết

Có những người chết còn để lại nhiều động sản, bất động sản giá trị được người thân tiếp nhận và chia sẻ đồng đếu, có chia sẻ mới hòa thuận lẫn nhau trong anh chị em ruột thịt. Như vậy tất cả áo quần mới may của người chết chưa mặc vẫn để lại cho người sau mặc không phải trở ngại, có người cũng chẳng để lại tài sản nào ở thế gian. Nhìn chung cũng chẳng ai muốn mặc đồ của người chết, lý do “Sợ người chết” hoặc mặc không vừa, cũng không ai mà dành quần áo của người chết.

Rất cần thiết đến người ruột thịt làm việc tắm rửa lau sạch cho người chết. Trường hợp người chết không có người thân thì mới nhờ đến người láng giềng thân thiết chăm sóc. Người chết phải được mặc quần áo mới, nam áo dài khăn đống, nữ áo dài, Phật tử mặc áo vạc hò, áo tràng lam hoặc nâu, quý Sư Thầy đến thăm dạy đọc bài:

Tẩy dục thân thể

Đương nguyện chúng sanh

Thân tâm vô cấu

Nội ngọai thanh khiết

Án bạt chiết ra, não ca tra tá ha (3 lần)

Sau đó đem toàn bộ quần áo cũ, đồ bệnh nhất là bệnh truyền nhiễm tất cả những vật dụng cũ không cần thiết, giường chỏng thiêu hóa, đọc bài:

Y quấn khâm phục tệ thân hình

Ngự thử phong hàn bảo vong vinh

Nục thể khinh an vô chướng ngại

Tây phương tưởng niệm đắc siêu sanh

Nam mô Giai Bảo Mãn Bồ Tát Ma ha tát (Đốt quần áo)

Lễ tang là việc buồn. Ngày nay đôi khi xảy ra việc buồn gấp trăm lần về tình cảm anh em. Nguyên nhân từ mỗi gia đình trước giờ nhà ai nấy lo, tình cảm ruột thịt không còn sâu đậm như thời thơ ấu, hoặc chấm dứt tình cảm ruột thịt do có dâu và rễ ở chung nhà. Một ít gia đình cha hay mẹ chết chưa đến ngày đi chôn, mà không lo việc tụng niệm cầu cho cha mẹ siêu sanh lạc quốc, lại nóng vội lo mời thừa phát lại đến làm giấy tờ thưa kiện lẫn nhau, anh em đòi chia động sản bất động sản nhanh gấp, tranh dành tài sản với nhau, thật đau buồn.

Việc đốt vàng mã, hình nhân người thế

Việc đốt vàng mả, người thế (Ở phương Đông), đốt hình nhân (Ở phương Tây), hình nộm (Của người làm nông vụ) là hủ tục trong các thời đại phong kiến xa xưa, xuất phát từ những câu chuyện dân gian địa phương, thuộc lọai truyền khẩu, không có thuyết minh. Một đôi khi sự việc trở thành phong tục tập quán, nhắc lại sự kiện lịch sử, nhưng dù phong tục tập quán đôi khi cũng không còn phù hợp với đời sống tiến bộ hiện tại, như:

Người Ecuador năm nào cũng làm những hình nhân to hơn người thật để đốt đêm giao thừa. Dân Anh quốc hằng năm cứ mùng 5 tháng 11 lại nổi lửa mừng ngày Guy Fawkes khủng bố hụt thượng viện năm 1605. Ở Hoa Kỳ hàng năm, có hàng chục nghìn người tụ tập lại giữa sa mạc, lột truồng ra rồi đốt một người gỗ tượng trưng cho “The Man”, những kẻ áp bức trong xã hội này, và lấy đấy làm vui và cho là việc hay lắm.

Người dân đảo Faroe ở Đan Mạch hàng năm dùng thuyền lùa vài trăm chú cá voi vào một eo biển hẹp, sau đó lấy mũi lao đâm chết. Họ coi thịt cá voi là một phần quan trọng của đời sống văn hóa và sẽ không từ bỏ nó.

Thời phong kiến các vua chúa như Tần Thủy Hoàng ((259-210) trước công nguyên), vừa lên ngôi năm 13 tuổi. Đến năm 22 tuổi đã cho xây cung điện thu nhỏ ở âm phủ, tạo thế đứng cho mình sau khi chết vẫn còn có cuộc sống như ờ dương gian, vàng son như sanh tiền. Có người đem theo cả tài sản, thê thiếp thật chôn theo, thật đau lòng và hao tốn (Thời nhà Chu, năm 1022 trước tây lịch). Tục lệ nầy được thực hiện tại các vùng Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á, nhất là người dân Phù Nam, người Khmer, khi vua băng hà hoàng hậu hay phu nhân phải được chôn theo để tỏ lòng tôn kính thủy chung.

Trong sử học Việt Nam có Công nữ Ngọc Vạn làm Hoàng hậu thời vua Chetta đệ nhị, vương quốc Campuchia. Sau khi nhà vua băng hà, bà phải bị chôn theo vua, nhưng sau đó bà tìm cách trốn được về nước Đại Việt và đi tu Phật tại Long Cốc Thượng Tự, Tổ đình Linh Sơn, núi Dinh (Bà Rịa). Sau đó đến tu tại núi Chứa Chan, cuối đời bà đến tu và hộ trì tại Tổ đình Quốc Ân Kim Cang và qua đời tại đây, hiện nay tháp mộ ba vẫn còn. Công nữ Ngọc Vạn đã tìm cách thoát chết không phải bị chôn sống theo nhà vua.

Theo nhận định của người Phật giáo thì tục đốt vàng mã là phi Phật pháp, là một hủ tục có tính du nhập, học đòi, bắt chước, chứ không phải phong tục tập quán của một dân tộc, hủ tục được một vài người Trung Hoa địa phương bày vẽ. Theo sách Trực ngôn cảnh giáo, năm Văn Công thứ 4, vua Tấn Mục Công, tên là Khắc Nhâm băng hà. Ba anh em họ Tử Xa được vua yêu thương nên bị chôn theo. Nhân dân trong nước thấy vậy rất thương tiếc nên nghĩ ra phương cách tìm vật khác để thay thế, vật ấy được dùng bằng cỏ, bằng gỗ.

Năm Nguyên Hưng 105, đời Hán Hoa, ông Thái Lĩnh chế biến hình người chôn theo bằng hình nộm, ông Vương Dũ làm vàng bạc bằng giấy, mọi người sử dụng theo. Việc làm vàng mã lúc bấy giờ chỉ có ở trong cung cấm vua chúa và các quan.

Về sau, năm 762 đời nhà Đường, vua Đường Đạt Tôn có nhà Sư là Đạo Tăng nhân ngày rằm tháng bảy cho làm hàng mã xe cộ nhà cửa, vàng bạc bằng giấy phổ biến trong dân gian. Vua nhà Đường tùy thuận Phật giáo cho phép phát hành, từ đó có tục lệ đốt vàng mã trong dân chúng.

Vương Luân một thương nhân có mưu đồ, cho người giả người bệnh rồi chết, được tẩn liệm trong quan tài, có một kẻ hở để đưa nước và đồ ăn vào cho người “Giả bệnh chết” sử dụng. Lúc đó nhiều người đến phúng viếng lễ tang, ông Vương Luân tổ chức nhiều người đem những đồ vàng mã, hình nhân, tiền vàng bằng giấy đến cúng đốt cho người nằm trong quan tài, bỗng dưng quan tài nhúc nhích và sống lại. Từ đó mọi người đồn đãi từ gần đền xa, ông Vương Luân có dịp bán đắc “Đồ vàng mã” (Theo Mạc Vi – Xã hội và Gia đình – Web Báo Tiền phong, 30/7/2014). Tục đốt vàng mã trong dân gian Trung Quốc có từ đây.

Như vậy tục đốt vàng mã là hủ tục xa xưa, có động thái dối trá lường gạt mọi người vô cùng phải không các Bạn:

Việc tang việc lễ nói rồi

Việc nào nên tránh, việc thôi không làm

Tu theo chánh pháp Phật ban

Hủ tục nên bỏ nhẹ nhàng tấm thân

Nh ững câu chuyện ẩn chứa sau nét đẹp văn hóa của tổ tiên

HT. Thích Giác Quang

【#9】Lễ Vật Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai Mẹ Cần Biết

Lễ vật cúng đầy tháng cho bé trai luôn được xem như mối quan tâm hàng đầu của các bậc phụ huynh vì đây là truyền thống lâu đời của người Việt. Theo đó, cuộc đời mỗi người được chính thức bắt đầu ngay sau lễ đầy tháng và có tuổi sau ngày thôi nôi.

Nguồn gốc của lễ cúng đầy tháng cho bé trai

Lễ đầy tháng là nghi lễ khẳng định sự hiện hữu của một thành viên mới trong gia đình. Khi nói về nguồn gốc của lễ cúng đầy tháng, mỗi khu vực sẽ có những sự tích khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn là những câu chuyện về các bà Mụ và Đức ông. Người ta thường truyền tai nhau về truyền thuyết: Mỗi đứa trẻ sơ sinh đều được các vị Đại Tiên (Bà Chúa Đầu thai) hay còn gọi là 12 Bà Mụ nhào nặn ra. Mỗi Mụ Bà sẽ có trách nhiệm tạo ra một bộ phận cho đứa trẻ như mắt, mũi, tay, chân, tóc… Do đó, mỗi hình hài của bé đều nhờ vào công của các Bà Mụ. Khi bé yêu tròn một tháng tuổi và khỏe mạnh, cha mẹ phải thực hiện nghi lễ cúng cảm ơn Bà Mụ và Đức ông đã đem đứa trẻ đến nhà, giúp mẹ tròn con vuông.

Lễ vật cúng đầy tháng cho bé trai gồm những gì?

  • 12 chén chè nhỏ
  • 1 con gà luộc
  • Bộ tam sên (thịt heo luộc, trứng luộc, tôm hoặc cua luộc)
  • Mâm ngũ quả, hoa tươi, nhang thơm, đèn, trà, rượu, nước muối, gạo.
  • 1 bộ đồ hình thế (phải được ghi tên và ngày tháng năm sinh của bé, cúng xong sẽ đốt đi để giải hạn cho bé)
  • 13 miếng trầu cánh phượng, 13 đôi hài, 13 bộ váy áo đẹp và 13 nén vàng.

Trong đó đĩa xôi, miếng trầu, đôi hài, váy áo và nén vàng phải có hình dáng giống nhau. Tuy nhiên, bạn cần nhớ 12 món kích thước như nhau và 1 bộ phải có kích thước to hơn

Cách bài trí lễ vật cúng đầy tháng cho bé trai

Khi sắp xếp mâm cúng đầy tháng cho bé trai, gia đình cần chia thành 2 mâm. Một mâm trên cách mâm dưới không quá 10cm. Trong đó, bàn nhỏ và thấp hơn để bày trí lễ vật cúng Đức ông. Ngược lại, bàn lớn cao hơn sẽ bày lễ vật cúng 12 bà Mụ. Khi đặt mâm cúng, gia chủ cần tuân theo nguyên tắc “Đông bình Tây quả”, nghĩa là vị trí đặt bình hoa ở phía Đông và hoa quả ở phía Tây

Sau khi bày lễ xong, bố hoặc mẹ bé sẽ thắp 3 nén hương, rồi bế trẻ ra trước án và khấn cúng Mụ với tấm lòng thành và nội dung là: “Hôm nay, cháu bé tròn 1 tháng tuổi, gia đình chúng tôi bày trí mâm lễ vật này, cung thỉnh thập nhị mụ bà và tam đức ông trước về minh chứng nhận lễ, sau tiếp tục phù trợ cho cháu khỏe mạnh, hiền, ngoan, phù trợ cho gia đình tôi an vui, hạnh phúc.”

Sau khi thắp nhang khấn cúng đầy tháng xong sẽ đến nghi thức đặt tên. Người cúng sẽ khấn vái tổ tiên một tên họ đầy đủ của bé mà gia đình đã chọn sẵn. Sau đó gieo 2 đồng tiền lên đĩa, nếu 1 úp, 1 ngửa (âm dương) nghĩa là cái tên dự định đặt cho con đã được tổ tiên chấp nhận. Ngược lại, nếu 2 mặt đều úp hoặc ngửa thì bắt buộc phải làm lại và tuân thủ quy tắc quá tam ba bận. Sau ba lần gieo quẻ mà không được, bạn nên chọn tên khác cho con trai.

Kết thúc lễ này mọi người trong gia đình, họ hàng sum vầy thụ hưởng đồ cúng và gửi những lời chúc tốt đẹp, may mắn hoặc lì xì cho con trai để hoàn tất tiệc đầy tháng. Ngoài ra một số nơi còn có tập tục khai hoa hay còn gọi là “bắt miếng”. Đứa bé thường được đặt ngay trên bàn giữa hoặc nằm trong nôi bên cạnh bàn cúng, người cúng rót trà thắp hương xin phép bắt miếng. Khi đó, người ta sẽ bồng trẻ trên một tay, tay kia cầm một nhánh hoa đưa qua lại trên miệng bé và dạy những lời tốt đẹp như sau: “Mở miệng ra cho có bông, có hoa – Mở miệng ra cho kẻ thương, người nhớ – Mở miệng ra cho có bạc, có tiền – Mở miệng ra cho xóm giềng quý mến”.

【#10】Mâm Lễ Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai

Published on

  1. 2. Cách tính ngày cúng đầy tháng bé trai Trước khi tiến hành nghi lễ cúng đầy tháng thì việc đầu tiên cần làm là xác định ngày thực hiện nghi lễ. Ngày cúng đầy tháng của bé trai dựa theo lịch âm và sẽ sụt lại 1 ngày như câu ca dao mà ông bà xưa vẫn hay nói “gái lùi hai, trai lùi một”. Mâm lễ cúng đầy tháng cho con rất được cha mẹ xem trọng Các lễ vật trong mâm cúng đầy tháng cho bé trai Theo truyền thuyết nhân gian, thì một đứa trẻ sinh ra dù là bé trai hay gái ở bất cứ miền nào cũng đều sẽ được trông nom, săn sóc bởi 12 bà Mụ, Đức Ông, Thầy. Do đó, trong mâm cúng đầy tháng cho bé trai ở miền Nam phải đầy đủ những món sau đây: – Mâm lễ cúng 12 bà Mụ: Theo quan niệm, ngay từ khi đứa trẻ được hình thành trong bụng mẹ, bé đã được các Mụ Bà nâng đỡ và săn sóc. Lễ cúng đầy tháng cũng chính là dịp để bố mẹ tỏ lòng thành, tạ ơn các Mụ Bà. Một mâm lễ cúng mụ Bà đầy đủ gồm:  12 chén chè nhỏ.  12 đĩa xôi nhỏ (xôi gấc).  12 chén cháo nhỏ.  12 ly nước.  2 đĩa bánh hỏi, số lượng bánh phải chia hết cho 12.  12 đĩa bánh các loại dành cho trẻ con.  12 đĩa thịt quay (2kg).  Giấy tiền, trầu cau, hoa tươi. – Hình ảnh mâm cúng đầy tháng bé theo phong tục Miền Nam
  2. 3. – Mâm lễ cúng kính Đức ông: Số lượng không nhiều như mâm cúng Mụ Bà nhưng lễ vật ở mâm cúng Đức Ông trong ngày đầy tháng bé trai cũng khá phức tạp. Một mâm cúng Đức Ông đầy đủ gồm:  Một con gà trống luộc chéo cánh.  3 đĩa xôi gấc lớn.  1 tô cháo lớn.  1 tô chè lớn.  1 miếng thịt quay.  1 đĩa trầu cau, hoa quả, rượu và giấy tiền. Ngoài các lễ vật này thì cần thêm hoa (lay ơn, cát tường hoặc đồng tiền), trà, rượu, nhang, đèn, nước, muối, gạo, muỗng, mâm ngũ quả, bộ tam sên (3 món luộc là thịt, trứng, tôm hoặc cua) và không thể thiếu một đôi đũa hoa vì theo quan niệm dân gian, bà chúa chỉ thích dùng đũa này.
  3. 4. Mâm lễ cúng đầy tháng bé trai trọn gói của người Nam Dịch vụ chuẩn bị mâm lễ cúng đầy tháng bé trai trọn gói Ngày nay, rất ít người biết về việc cúng đầy tháng nhất là những đôi vợ chồng trẻ mới sinh con lần đầu thì đây là một điều bỡ ngỡ bởi họ chưa có kinh nghiệm trong ngày cúng Mụ cho bé. Bên cạnh đó, do cuộc sống và công việc quá bận rộn nên việc sắm sửa lễ vật thật chi tiết, đầy đủ cũng là một điều khó khăn và tốn không ít thì giờ. Chính những bỡ ngỡ về kinh nghiệm cũng như hạn chế về mặt thời gian trong việc chuẩn bị và sửa soạn lễ cúng mà nhiều gia đình thường bỏ qua hoặc tiến hành nghi lễ đầy tháng cho bé không được chỉnh chu và đúng cách. Bảng giá Mâm Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai Trọn Gói Mâm Cúng Đầy Tháng Bé Trai Trọn Gói Phương Án 1:
  4. 5. Mâm Cúng Đầy Tháng Bé Trai Trọn Gói Phương Án 2: Mâm Cúng Đầy Tháng Bé Trai Trọn Gói Phương Án 3:
  5. 7.  Đảm bảo cung cấp dịch vụ nhanh gọn, hỗ trợ tư vấn nhiệt tình cho cha mẹ tiến hành được ngày lễ đầy tháng, để lại cho bé và gia đình những khoảnh khắc ấm áp, tuyệt vời nhất.  Tặng quà kèm theo cho bé.  Thường xuyên có các chương trình khuyến mãi, chương trình ưu đãi đặc biệt.  Lựa chọn những lễ vật theo yêu cầu.  Vệ sinh an toàn thực phẩm.  Đảm bảo về giá.  Hóa đơn chứng từ đầy đủ. (VAT)  Tiết kiệm thời gian.  Tiết kiệm chi phí. Vì chúng tôi hiểu rằng tình yêu mà cha mẹ dành cho con là điều thiêng liêng nhất. Khoảnh khắc mà bạn lưu giữ cho con luôn là khoảnh khắc đẹp nhất trong đời mỗi bé. Nếu cha mẹ quá bận rộn và không có thời gian để chuẩn bị cho mâm cúng hoặc chưa có kinh nghiệm trong việc cúng đầy tháng cho bé trai. Đừng chần chờ, hãy nhấc máy liên hệ với chúng tôi qua số Hotline: 0901 30 56 68 hoặc truy cập Website: https://docungtamlinhviet.com Để đặt mâm đồ cúng trọn gói và được giao hàng tận nơi