Top #10 Xem Nhiều Nhất Nghi Thức Cúng Cơm Hương Linh Mới Nhất 8/2022 # Top Like | Herodota.com

Nghi Thức Cúng Cơm Cho Hương Linh

--- Bài mới hơn ---

  • Món Chay Cúng Giỗ Cực Hấp Dẫn Với Thực Đơn Bạn Không Thể Bỏ Qua
  • Thị Trường Ngày Ông Công Ông Táo: Giá Cá Chép Giảm ‘nhiệt’ Theo Giờ, Hoa Tươi Tăng Mạnh
  • Cúng Ông Công Ông Táo Sớm, Giá Các Mặt Hàng Đều Rẻ
  • Nhận Đặt Mâm Cỗ Cúng Ông Táo
  • Mâm Lễ Cúng Ông Táo Trọn Gói
  • NGUYỆN HƯƠNG

    Tang chủ nguyện hương…, dâng hương…, lễ hương linh tam… bái, bình thân giai quỳ… (Tang chủ quỳ, dâng hương ngang trán vái tên người chết, cắm hương xong, lễ ba lạy và quỳ xuống)

    THỈNH HƯƠNG LINH

    Chân ngôn thần lực dẫn hương linh

    Từ chốn u minh về dương thế

    An toạ linh sàng để nghe kinh

    Tang gia hiếu tử chí thành hiến dâng. O

    THỈNH ĐỨC DI ĐÀ TIẾP DẪN Nam mô nhất tâm phụng thỉnh

    Sông mê dào dạt sóng tình

    Biển đau lênh láng lệ mình khóc than

    Muốn mau thoát khỏi trần gian

    Hãy nên niệm Phật tiêu tan khổ nàn. O

    Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A-di-đà Phật, tay bưng sen vàng tiếp dẫn hương linh ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. , hôm nay là ngày cúng cơm (thọ tang, bốn chín ngày, trăm ngày, giáp năm, hai năm), hương thơm ngào ngạt, triệu thỉnh hương linh, trở lại đàn tràng (gia đường), lễ Phật, nghe kinh.

    Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh

    Thân cử bước thênh thang

    Tâm tự tại an nhàn

    Tới lui không vướng mắc

    Vượt thoát cảnh trần gian. O

    THỈNH ĐỨC QUÁN THẾ ÂM TIẾP DẪN Nam mô nhất tâm phụng thỉnh

    Đức Quán Âm tu hành nhiều kiếp

    Với lời nguyện tha thiết độ sanh

    Khắp muôn nơi cầu nguyện chí thành

    Ngài ứng hiện muôn hình tế độ. O

    Nam mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ-tát, tay cầm nhành liễu, phóng hào quang tiếp dẫn hương linh ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. tuổi, hôm nay là ngày cúng cơm (thọ tang, bốn chín ngày, trăm ngày, giáp năm, hai năm), hương thơm ngào ngạt, triệu thỉnh hương linh, trở lại đàn tràng (gia đường), lễ Phật, nghe kinh.

    Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh

    Hồn về dương thế

    Phách ở nơi nao

    Mau mau tỉnh ngộ

    Vượt thoát trần lao.

    THỈNH ĐỨC ĐỊA TẠNG TIẾP DẪN Nam mô nhất tâm phụng thỉnh

    U minh dứt hết ngục hình

    Dương gian độ thoát chúng sanh không còn

    Bồ đề nguyện lớn vuông tròn

    Chứng nên Phật quả không còn tử sinh. O

    Nam mô U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ-tát, tay cầm tích trượng, phóng hào quang tiếp độ hương linh ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. tuổi, hôm nay là ngày cúng cơm (thọ tang, bốn chín ngày, trăm ngày, giáp năm, hai năm), hương thơm ngào ngạt, triệu thỉnh hương linh, trở lại đàn tràng (gia đường), lễ Phật, nghe kinh.

    Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh

    Được nương nhờ oai thần chư Phật

    Nay về đây nghe pháp nghe kinh

    Hồn thiêng thụ hưởng linh đình

    Nén hương, bát nước, ân tình cúng dâng.

    CHÂM TRÀ LẦN I

    Tang chủ thành tâm hiến trà cho hương linh…

    Tang gia hiếu quyến lễ… tạ hương linh nhị… bái. OO

    BA LẦN TRIỆU THỈNH Hương hoa thỉnh, hương hoa triệu thỉnh Nam mô nhất tâm triệu thỉnh

    Tang chủ thành tâm bái thỉnh. Hương linh ơi nghe lời mời thỉnh… hương linh ơi nghe lời mời thỉnh… hương linh ơi nghe lời mời thỉnh… ba lần triệu thỉnh hương linh đã về, hồn thiêng an toạ linh sàng, tang chủ thành tâm thiết đàn hương hoa, cam lồ, pháp thực đủ đầy kính dâng.

    DÂNG CƠM CÚNG

    Tang chủ thành tâm dâng cơm.

    (Tang chủ gắp thức ăn, mỗi thứ một ít để vào bát cơm, đôi đũa gác ngang và nâng ngang trán) (Tuỳ theo trường hợp cúng cho cha mẹ, vợ chồng,… mà người chủ lễ chọn những phần sau đọc cho phù hợp)

    Đây bát cơm đầy nặng ước mong

    Cha (mẹ) ơi! Đây ngọc với đây lòng

    Đây tình còn đọng trong tha thiết

    Ân nghĩa sinh thành chưa trả xong.

    Chim loan phụng từ xưa hoà hợp

    Đàn sắt cầm bỗng đứt dây tơ

    Âm dương xa cách đôi bờ

    Bóng kia hình nọ bây giờ tìm đâu.

    – Cúng tổ tiên, ông bà, cô bác, anh chị:

    Đây nền nhân, đây nhà nghĩa, do tổ tiên gầy dựng mà nên! Nọ lá ngọc, nọ cành vàng, bởi công đức chất chồng mà có.

    Hiểu đạo nghĩa càng thêm thân thiết

    Rõ bà con thương tiếc biết bao

    Âm dương xa cách đớn đau

    Giờ nương Tam Bảo sớm mau an nhàn.

    CHÚ BIẾN THỰC

    Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ lồ chỉ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần) O

    CHÚ BIẾN THUỶ

    Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần) O

    CHÚ PHỔ CÚNG DƯỜNG

    Án, nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (3 lần) O

    (Tang chủ thành tâm để bát cơm xuống)

    Sắc hương mỹ vị đầy hư không

    Nguyện cho hương linh đều no đủ.

    Nam mô Mỹ Hương Trai Bồ-tát Ma-ha-tát. (3 lần) O

    CHÂM TRÀ LẦN II

    Cam lồ một giọt linh thiêng

    Tiêu trừ đói khát triền miên

    Mật ngôn mầu nhiệm hồn thiêng an lành.

    Tang chủ thành tâm hiến trà cho hương linh…

    Toàn gia hiếu quyến lễ… hương linh nhị… bái… OO

    KHAI THỊ HƯƠNG LINH

    Biển khổ mênh mông sóng nổi trôi

    Muốn đến Bồ đề bờ giác ngộ

    Nếu mà chưa từng nghe kinh pháp

    Thì làm sao thoát khỏi luân hồi.

    Nam mô Đa Bảo Như Lai

    Nam mô Bảo Thắng Như Lai

    Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai

    Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai

    Nam mô Ly Bố Uý Như Lai

    Nam mô Cam Lồ Vương Như Lai

    Nam mô A-di-đà Như Lai. O

    QUY Y CHO HƯƠNG LINH (Nếu hương linh quy y rồi thì khỏi)

    Hương linh quay về nương tựa Phật

    Hương linh quay về nương tựa Pháp

    Hương linh quay về nương tựa Tăng.

    Quay về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối cho hương linh.

    Quay về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.

    Quay về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.

    SÁM HỐI CHO HƯƠNG LINH

    Hương linh đã tạo bao nghiệp ác

    Đều do vô thỉ tham, sân, si

    Từ thân, miệng, ý phát sinh ra

    Tất cả hương linh đều sám hối. O

    OAI LỰC SỰ HƯỚNG NGUYỆN

    Nguyện đều no đủ bỏ xan tham

    Mau thoát u minh sinh Tịnh độ

    Quy y Tam Bảo phát Bồ đề

    Rồi sẽ đạt thành đạo vô thượng

    Công đức đi về cõi vị lai

    Tất cả hương linh cùng tiếp nhận. O

    CHÂM TRÀ LẦN III

    Tang chủ thành tâm hiến trà cho hương linh…

    Toàn gia hiếu quyến lễ… hương linh nhị… bái. OO

    CHÚ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ

    Nam mô a di đa bà dạ. Đa tha dà đa dạ. Đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di rị đa, tỳ ca lan đa. Dà di nị, dà dà na. Chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần) O

    HỒI HƯỚNG

    Nguyện sinh Tịnh độ Di-đà

    Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình

    Hoa khai ngộ pháp vô sanh

    Cùng chư Bồ-tát bạn lành với ta

    Nguyện đem công đức tạo ra

    Hướng về tất cả gần xa hưởng nhờ

    Con cùng muôn loại thân sơ

    Đều thành Phật đạo đến bờ an vui. O

    PHỤC NGUYỆN

    Nam mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo.

    Tác đại chứng minh. O

    Hôm nay ngày….. tháng….. năm….. có gia đình tang chủ thành tâm thiết lễ cúng cơm. Nguyện đem công đức hồi hướng cầu siêu cho hương linh (Họ tên ………., pháp danh ………., mất ngày ………., hưởng dương/thọ ………. tuổi), được phát tâm tỉnh giác, lìa chỗ tối tăm, xa rời đường dữ, tin sâu Tam Bảo, sinh về cõi Phật an vui. O

    Thứ nguyện: Tâm chí thành dâng lên, nguyện cho hương linh, nghiệp chướng tiêu trừ, vãng sinh Tịnh độ. Lại nguyện cho toàn thể tang gia hiếu quyến, thân tâm an lạc, thường được kiết tường, xa lìa khổ ách. O

    Khắp nguyện: Kẻ mất siêu thăng, người còn phúc lạc, âm dương lưỡng lợi, pháp giới nhân thiên, đồng thành Phật đạo.

    Nam mô A-di-đà Phật. O

    TIỄN ĐƯA HƯƠNG LINH

    Hồn về Cực Lạc Tây phương

    Ngát hương sen nở hào quang sáng ngời

    Chắp tay vĩnh biệt cõi đời

    Quán Âm, Thế Chí đón mời hồn đi. O

    HOÀN TẤT

    Tang chủ đứng dậy, lễ tạ hương linh tứ… bái… OOOO

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Thức Thờ Cúng Tổ Tiên Của Người Việt
  • Các Nghi Thức Cúng Giỗ Tại Việt Nam
  • Cúng Ông Công Ông Táo Giờ Nào Để Cả Năm May Mắn?
  • Vàng Mã Cúng Tổ Nghề
  • Tìm Hiểu Về Tục Lệ Cúng Giỗ Xưa Nay Của Người Việt
  • Nghi Thức Cúng Hương Linh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Rằm Tháng Ba
  • Tải Về Tập Văn Cúng Gia Tiên Sách Miễn Phí Pdf • Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Lễ Rằm Tháng 7 Tại Nhà Thờ Họ Trương Việt Nam – Clb Dn Họ Trương Tp Hcm
  • Văn Khấn Tại Các Đền, Điện Thờ Tứ Phủ
  • Văn Cúng Tất Niên Chiều 30 Tết Đầy Đủ, Chính Xác Nhất Năm 2022
  • Nghi lễ hành trì

    Nghi Thức Cúng Hương Linh

     

    Kích cỡ chữ:

    (Nghi thứ 1)

    (Ghi chú: Đây là nghi cúng Hương linh thông thường, quý Phật tử

    có thể thực hành theo nghi nầy là đủ. Nhưng đây chỉ là lễ cúng linh,

    sau khi đã làm lễ Cầu siêu cho Hương linh trước Tam bảo rồi)

    Chủ lễ xướng: Gia chủ tựu vị. (Tức là gia đình có Hương linh cúng trong lễ nầy, đến quỳ trước bàn thờ linh.).

    Chủ lễ và Ban hộ niệm đồng hòa: Phần Hương (Tức

    là đốt hương dâng Hương linh, mỗi vị cúng linh có một cây hương hoặc

    chỉ có vị Đại diện gia đình cầm hương đưa lên ngang trán, thầm khấn

    nguyện)

    Chủ lễ xướng: Thượng hương. (Cắm hương lên bát nhang của Hương linh)

    Chủ lễ và Ban hộ niệm đồng hòa: Hiếu quyến lễ Hương linh bốn lạy.

    Đồng hòa tiếp: Cùng quỳ.

    Chủ lễ sám :

    Có sanh có tử có luân hồi,

    Không sanh không tử không tới lui,

    Sanh tử, tới lui là mộng huyễn,

    Mau xa trần thế, đến sen đài.

    Ngưỡng trông đức Phật Di Đà từ bi phóng quang tiếp độ :

    Đồng niệm tiếp dẫn cho Hương linh :

    Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật. (từ 3 đến 10 lần)

    Chủ lễ :

    Nay lấy chơn ngôn mà triệu thỉnh,

    Hương linh chẳng rõ để biết, nghe,

    Nhờ sức Tam bảo đã hộ trì,

    Ngày nầy, giờ nầy xin dự hội.

    Hương linh nghe triệu thỉnh, nghe triệu thỉnh, xin nguyện đến cho.

    Đồng hòa : Hương vân thỉnh, hương vân thỉnh.

    Chủ lễ :

    Hôm nay, ngày . . . tháng . . . năm . . Nguyên quán làng . . . xã . .

    . huyện . . . tỉnh . . Gia quyến hiện ở tại . . . . Tất cả đều thiết

    lễ: (Phát tang, làm tuần, cúng năm mươi ngày, một trăm ngày, giáp năm, xả tang, húy nhật, hiệp kỵ, …) để báo đáp thâm ân sanh thành dưỡng dục. Hiện hiếu quyến gồm có : . . . . (Con trai, con dâu, con gái, con rễ, cháu đích tôn, cháu nội, cháu ngoại, v. v..) Một dạ chí thành dâng hương và phẩm vật cúng dường ; ngữa trông ơn Phật từ bi gia hộ.

    Thành tâm phụng thỉnh đức tiếp dẫn đạo sư Phật A Di Đà từ bi phóng quang tiếp độ: Hôm nay chánh thỉnh hương linh : . . . (Cha, mẹ, chú, cô, dì, …) Pháp danh : . . . (nếu có) Sanh ngày . . . tháng . . . năm . . Hưởng thọ : . . . . (mấy) tuổi,

    Tạ thế ngày . . tháng . . năm . . . Thỉnh lần thứ nhất, nguyện hương

    linh lên ngồi linh đài để nghe kinh kệ và con cháu thành tâm cúng

    dường.

    Đồng hòa: Hương linh nghe triệu thỉnh, hương linh nghe triệu thỉnh, xin nguyện đến cho.

    Chủ lễ: Thành tâm phụng thỉnh đức đại từ

    đại bi Bồ tát Quán Thế Âm, từ bi phóng quang tiếp độ: Hôm nay chánh

    thỉnh hương linh : . . . . Pháp danh : . . . . Sanh ngày . . tháng . .

    năm Hưởng thọ : . . . . . (Mấy) tuổi. Tạ thế ngày . . tháng

    . . năm . . Thỉnh lần thứ hai, nguyện hương linh lên ngồi linh đài

    để nghe kinh kệ và thọ nhận phẩm vật do con cháu cúng dường.

    Đồng hòa: Hương linh nghe triệu thỉnh, hương linh nghe triệu thỉnh, xin nguyện đến cho.

    Chủ lễ: Thành tâm phụng thỉnh đức Bồ tát

    Địa Tạng Vương đang đang hóa độ tại cảnh giới U minh, từ bi phóng

    quang tiếp độ: Hôm nay chánh thỉnh hương linh : . . . Pháp danh : . .

    .Sanh ngày : . . tháng . . năm . . Hưởng thọ : . . . . (Mấy)

    tuổi, Tạ thế ngày : . . tháng . . năm . Thỉnh lần thứ ba, nguyện

    hương linh lên ngồi linh đài để nghe kinh kệ, được con cháu cúng

    dường, sớm dứt trừ nghiệp chướng và sanh về cảnh giới tịnh độ của đức

    Phật A Di Đà.

    Đồng hòa:

    Ba lần phụng thỉnh hương linh về,

    Thọ nhận cúng dường, kinh kệ nghe,

    Thấu rõ kệ kinh, mong giải thoát,

    Oai lực Tam bảo đã chứng tri.

    Nam mô chứng minh sư Bồ tát Ma ha tát.(3 lần)

    Chủ lễ: Dâng trà

    Đồng hòa: Lạy hai lạy.

    Đồng hòa: Cùng quỳ.

    Chủ lễ xướng điệp (nếu có) :

    Âm, dương không hai lý,

    Sanh, tử có hai đường,

    Nay có Điệp văn đọc,

    Trước hương linh cúng dường.

    Điệp rằng: Lập đàn siêu độ: Nay tuyên đọc điệp : . . . (Tiến điệp hay Thỉnh điệp)

    tiến cúng hương linh: . . . . ., Pháp danh : . . . . Nguyên quán

    làng . . ., xã: . . ., huyện . . ., tỉnh . . , huyện . . ., nước Việt

    Nam. Hiện đang cư ngụ tại nước Hoa Kỳ, (Có thể là Pháp, Anh, Ý, Đức, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, . . .), tiểu bang . . ., thành phố . . . gia cư lập đàn phụng Phật, dâng hương, tụng kinh cầu siêu nhân ngày húy nhật (Chung thất, năm mươi ngày, giáp năm, xả tang, . . .; tìm chữ đúng ý để đưa vào mấy chấm chấm trước đó). Hiếu tử . . .

    (Con trai trưởng, con trai, con dâu, con gái, con rễ, cháu nội, cháu

    ngoại, . .. . . . . . theo thứ tự như đây để liệt kê vào cho đúng)

    và cùng toàn thể hiếu quyến con cháu, trai gái, nội ngoại, lớn nhỏ

    vân vân. Đồng kính thiết lễ gồm: hương hoa quả phẩm, cổ bàn, trầm trà

    thanh đạm, cung kính cúng dường:

    Phụng vì truy tiến : . . . . . .

    (Tên các bậc lớn hơn hương linh đang được cúng, điền vào đây, nhiều hay ít tùy theo)

    Phụng vì chánh cúng : . . . . .

    (Tên hương linh được cúng chính thức, điền vào đây. Chỉ có một vị chính thức mà thôi).

    Phụng vì phối tiến : . . . . . .

    (Tên

    các hương linh được mời về cùng dự, hoặc là cùng hàng cùng lứa với

    hương linh cúng chính thức, hoặc vai vế nhỏ hơn, điền vào đây, nhiều hay

    ít tùy duyên).

    Hởi ôi !

    Sống gởi thác về, già hay trẻ không ai thoát khỏi số mạng.

    Trời cao đất dày, lên hoặc xuống khó rõ biết được hướng phương.

    Muốn cầu về thẳng tây phương,

    Phải nương thuyền từ tế độ.

    Hôm nay đúng ngày húy nhật, cung thỉnh chư Tăng lập đàn pháp sự.

    Phúng tụng: Kinh văn Pháp bảo Đại thừa, niệm thần chú vãng

    sanh tịnh độ. Nhờ ơn lành nầy, cầu về tây phương. Lại nữa, nương vào

    thiện lợi rõ đường sanh tử, thoát khỏi ba đường dữ; do công đức nghe

    kệ kính Pháp bảo chứng được niết bàn, vượt lên chín phẩm.

    Cầu xin hương linh hoan hỷ thọ nhận.

    Nay toàn thể hiếu quyến cúi xin ngừng tuyên điệp.

    Âm, dương cách trở đôi phương,

    Nương nhờ sứ giả chỉ đường U minh.

    Tiếp nhận hướng dẫn hương linh,

    Minh trung thâu chấp, hiếu tình cúng dâng.

    Vâng theo lời chỉ giáo của Hòa thượng : . .

    (Ghi Pháp tự của Hòa thượng, Thượng tọa hay Đại Đức vào đây).

    Chủ lễ: Cúng trà.

    Đồng hòa: Lạy hai lạy.

    Đồng hòa: Tất cả cùng quỳ.

    Đồng tụng cúng dường:

    Nam mô Đa Bảo Như Lai,

    Nam mô Bảo Thắng Như Lai,

    Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai,

    Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai,

    Nam mô Ly Bố Úy Như Lai,

    Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai,

    Nam mô A Di Đà Như Lai.

    Nam mô tác phạ đát tha nga đá, phạ lô dĩ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 hay 7 lần)

    Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần)

    Án, nga nga nẵng, tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)

    Đồng tụng :

    Con nay, xin cúng vị cam lồ,

    Tam bảo từ bi chứng giám cho,

    Xin nguyện hương linh được no đủ,

    Tây phương cực lạc hướng theo về.

    Nam mô phổ cúng dường Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    Chủ lễ: Cúng trà.

    Đồng hòa: Lạy hai lạy.

    Đồng tụng :

    Quy mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương tây thế giới an lành,

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh,

    Cúi xin đức từ bi tiếp độ :

    Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    Nam mô A Di Đà Phật. (30 lần)

    Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (3 lần)

    Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần)

    Đồng tụng :

    Ba đời mười phương Phật,

    A Di Đà bậc nhất,

    Chín phẩm độ chúng sanh,

    Oai đức không cùng cực,

    Con nay vì hương linh,

    Sám hối ba nghiệp tội,

    Phàm được bao phước thiện,

    Chí tâm nguyện hồi hướng,

    Nguyện cùng người niệm Phật,

    Vãng sanh nước Cực Lạc,

    Thấy ngộ pháp tánh,

    Phát tâm đại bồ đề,

    Đoạn vô biên phiền não,

    Tu vô lượng pháp môn,

    Thệ nguyện độ chúng sanh,

    Đều trọn thành Phật đạo.

    Hư không có thể tận,

    Nguyện của con không cùng,

    Loài hữu tình, vô tình,

    Đều được thành Chánh giác.

    Đồng tụng: Tâm kinh Bát nhã ba la mật đa (Bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Quang)

    Quán Tự Tại Bồ Tát, khi thực hành Bát nhã ba la mật đa sâu xa, thì soi thấy năm uẩn đều không, vượt mọi khổ ách.

    Xá Lợi Tử ! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc ; sắc tức là

    không, không tức là sắc; thọ tưởng hành thức cũng đều như vậy.

    Lợi Tử ! Không ấy của các pháp, không sanh không diệt, không nhớp không

    sạch, không thêm không bớt ; nên trong không, không sắc thọ tưởng

    hành thức ; không nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý ; không sắc thanh hương vị

    xúc pháp; không nhãn giới cho đến ý thức giới ; không vô minh và sự

    diệt tận của vô minh, cho đến không lão tử và sự diệt tận của lão tử,

    không khổ tập diệt đạo ; không trí không được vì không được gì cả.

    Bồ Tát y theo Bát nhã ba la mật nên tâm không vướng mắc, không vướng

    mắc nên không khiếp sợ, siêu thoát mộng tưởng điên đảo, cứu cánh niết

    bàn. Chư Phật cả ba thời gian y theo Bát nhã ba la mật nên được Vô

    thượng Bồ đề. Do đó nên biết Bát nhã ba la mật là bài chú rất thần

    diệu : bài chú rất sáng chói, bài chú tối thượng, bài chú tuyệt bậc

    mà đồng bậc, trừ được hết thảy khổ não, chắc thật, không hư ngụy. Nên

    tôi nói chú Bát nhã ba la mật. Ngài liền nói chú ấy: “Yết đế yết đế,

    ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha.” (3 lần)

    Đồng tụng: Vãng sanh tịnh độ thần chú

    (Đến đây đốt Điệp văn cúng hương linh)

    Nam mô a di đà bà dạ, đá tha dà đa dạ, đá địa dạ tha.

    A di rị đô bà tì,

    A di rị đá, tất đam bà tỳ,

    A di rị đá, tì ca lan đế,

    A di rị đá, tì ca lan đá,

    Dà di nị, dà dà na.

    Chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần)

    Chủ lễ: Hiếu quyến thành tâm lạy tạ hương linh

    Đồng hòa: Bốn lạy.

    Đồng tụng:

    Nguyện sanh Cực Lạc cảnh phương tây,

    Chín phẩm hoa sen là cha mẹ,

    Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh,

    Bồ tát bất thoái là bạn hữu.

    Chủ lễ sám:

    Bỏ chơn tâm, theo trần cảnh là nguyên nhân đau khổ,

    Trở về Giác ngộ là mắt thấy Như Lai,

    Vì hương linh nghiệp chướng vẫn còn dầy,

    Bây giờ trở về quy y Tam Bảo được hoa khai thấy Phật.

    Đại chúng đồng niệm, tiếp dẫn hương linh siêu sanh Lạc quốc.

    Đại chúng đồng hòa: Nam mô A Di Đà Phật.

     

    NGHI THỨC CÚNG VONG (Nghi thứ 2)

    GỒM CÓ :

    • Hương linh lễ Phật (gia chủ lạy thế)

    • Thỉnh hương linh

    • Thỉnh Đức Quán Thế Âm Tiếp Dẫn…

    • Thỉnh Đức A Di Đà Tiếp Dẫn…

    • Thỉnh Đức Địa Tạng Tiếp Dẫn…

    • Xướng và đọc Điệp (nếu có)

    • Cúng Cơm và Nước

    • Niệm Phật

    • Sám Di Đà

    • Tiễn đưa hương linh

    • Phục Nguyện

    DÙNG ĐỂ :

    Cúng các hương linh, như hương linh Ông, Bà, Cha, Mẹ, v.v… Cúng ở nhà hay ở chùa cũng được.

    NGHI THỨC CÚNG VONG

    (Đồ cúng chỉnh tề, tang chủ quỳ gối, dâng hương ngang trán, vái tên họ người chết, cắm hương xong, chủ lễ xướng)

    HƯƠNG LINH LỄ PHẬT

    Tây Phương tiếp độ hương hồn.

    (1 tiếng chuông, chúng đồng niệm)

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    (1 tiếng chuông, chủ lễ xướng tiếp)

    Vong tựu Phật tiền, đảnh lễ tam (1 tiếng chuông, chúng hòa:) bái.

    (3 tiếng chuông, chờ tang chủ lạy thế cho hương linh xong, hữu ban tiếp: )

    Hồ quỳ. (cầm 3 cây hương, chủ lễ cử tán: )

    THỈNH HƯƠNG LINH

    Chơn ngôn thần lực dẫn hương linh

    Từ chốn U Minh về Dương Thế

    An tọa linh đường để nghe kinh

    Tang môn hiếu tử linh đình cúng dâng…

    Chủ lễ bái: Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh.

    THỈNH ĐỨC QUÁN ÂM TIẾP DẪN…

    Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh:

    Đức Quán Âm tu hành nhiều kiếp

    Với lời nguyền tha thiết độ sanh

    Khắp muôn nơi cầu nguyện chí thành

    Ngài ứng hiện muôn hình tế độ. (1 t. Chuông)

    Cung vi,

    Nam mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, tay cầm nhành liễu, phóng hào quang tiếp dẫn hương linh, (tên họ: …, Pháp danh: …, sinh ngày: …, chết ngày: …, tại: …) hôm nay là Lễ … (Thọ Tang, Tứ Cửu, Bách Nhật, Tiểu Tường, Đại Tường…), hương thơm ngào ngạt, cung thỉnh hương linh (lần I), trở lại gia đình, lễ Phật nghe Kinh. [Nếu không cúng tại nhà, nên đổi chữ Gia Đường lại là… (Đàn Tràng)].

    Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh. (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông).

    Hữu Ban: Duy nguyện:

    Hồn về Dương Thế

    Phách ở nơi nao?

    Mau mau tỉnh ngộ

    Vượt thoát trần lao.

    Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông)

    THỈNH ĐỨC DI ĐÀ TIẾP DẪN…

    Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh:

    Sông mê rào rạt sóng tình

    Biển đau lênh láng lệ mình khóc than

    Muốn mau thoát khỏi trần gian

    Hãy nên niệm Phật tiêu tan khổ nàn.

    Cung vi:

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, tay bưng kim đài, tiếp dẫn hương linh (tên họ: …, Pháp danh: …, sinh ngày: …, chết ngày: …, tại:…), hôm nay là Lễ…, hương thơm ngào ngạt, cung thỉnh hương linh, (lần II), trở lại gia đình, lễ Phật nghe Kinh.

    Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông).

    Tả Ban: Duy Nguyện:

    Thân cử bước thênh thang

    Tâm tự tại an nhàn

    Tới lui không vướng mắc

    Vượt thoát cảnh trần gian.

    Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông)

    THỈNH ĐỨC ĐỊA TẠNG TIẾP DẪN…

    Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh:

    U Minh, dứt hết ngục hình

    Dương gian, độ thoát chúng sanh không còn.

    Bồ Đề nguyện lớn vuông tròn

    Chứng nên Phật quả không còn tử, sanh.

    Cung vi:

    Nam Mô U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát, tay cầm tích trượng, phóng hào quang tiếp độ hương linh (Tên họ: …, Pháp danh: …, sinh ngày: …, chết ngày: …, tại: …), hôm nay là Lễ…, hương thơm ngào ngạt, cung thỉnh hương linh (lần III), trở lại gia đình, lễ Phật nghe Kinh.

    Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông)

    Hữu Ban: Duy nguyện:

    Được nương nhờ oai thần chư Phật

    Nay về đây thính Pháp văn Kinh

    Hồn thiêng thụ hưởng linh đình

    Nén hương, bát nước, ân (thâm) tình cúng dâng.

    Hữu Ban tiếp: Hương hoa thỉnh, (1 tiếng chuông)

    Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (1 tiếng chuông)

    Đại chúng đồng tụng:

    Ba lần cung thỉnh

    Hương linh đã về

    Hồn thiêng an tọa linh sàn

    Tang môn hiếu tử thiết đàn kính dâng.

    Tả Ban: Tang chủ lễ nhị

    Chúng hòa: bái. (2 tiếng chuông)

    Hữu ban tiếp: Hồ quỳ.

    XƯỚNG VÀ ĐỌC ĐIỆP (nếu có)

    Chủ lễ xướng:

    Âm dương đồng nhứt lý

    Sanh tử chia đôi đàng

    Điệp tang họp thời dọc

    Cầu chư Phật chứng minh. (1 tiếng chuông)

    (Đọc điệp xong, cúng cơm. Tang chủ gắp thức ăn, mỗi thứ một chút, để vào bát cơm lưng, gác ngang đôi đũa, chắp tay vái cúng)

    CÚNG CƠM VÀ NƯỚC

    Đồng tụng:

    Nam Mô Đa Bảo Như Lai

    Nam Mô Bảo Thắng Như Lai

    Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai

    Nam Mô Quảng Bát Thân Như Lai

    Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai

    Nam Mô Cam Lồ Vương Như Lai

    Nam Mô A Di Đà Như Lai. (3 lần, 1 tiếng chuông)

    Nam Mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần, 1 tiếng chuông)

    Hôm nay, dâng cúng cơm nầy

    Sắc, hương, mỹ, vị biến đầy hư không

    Thành tâm tha thiết ngưỡng mong

    Hương linh nạp thọ, tấc lòng nhớ thương.

    Mỹ Thanh trai Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông)

    Chủ lễ xướng: Hiến trà, (rót trà cúng, lần thứ nhứt)

    Hữu Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị

    Chúng hòa: bái. (2 tiếng chuông)

    Tả Ban: Hồ Quỳ. (1 tiếng chuông, đồng tụng: )

    Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần, 1 tiếng chuông).

    Hữu Ban xướng:

    Ruột se thắt, âm dương xa cách

    Ngậm ngùi thay, hồn phách về đâu!?

    Chủ lễ xướng: Hiến trà, (rót nước cúng lần thứ nhì)

    Tả Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị

    Chúng hòa: bái. (2 tiếng chuông, đồng tụng)

    Nam Mô Cam Lồ Vương Bồ Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông)

    Hữu Ban xướng:

    Cam lồ một giọt linh thiêng

    Tiêu trừ đói khát triền miên

    Mật ngôn mầu nhiệm, hồn thiêng an lành.

    Chủ lễ xướng: Hiến trà, (rót trà cúng, lần thứ ba)

    Tả Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị

    Chúng hòa: bái. (2 tiếng chuông)

    Hữu Ban: Hồ Quỳ. (1 tiếng chuông, đồng tụng)

    Án, nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần,1 tiếng chuông)

    Hữu ban xướng:

    Hồn sắp thoát dương gian

    Chốn U Minh mờ hiện

    Âm dương chia đôi đàng

    Bát hương, đôi nến gần tàn

    Cúi xin chư Phật dẫn đàng hồn đi. (1 tiếng chuông, đồng niệm)

    NIỆM PHẬT

    A Di Đà Phật thân sắc vàng,

    Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời,

    Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển,

    Mắt trong ngần, bốn biển long lanh,

    Ánh hào quang hóa vô số Phật,

    Vô số Bồ Tát hiện ở trong,

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh,

    Chín phẩm sen vàng lên giải thoát,

    Qui mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh,

    Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. (1 tiếng chuông)

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    Nam Mô A Di Đà Phật. (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

    Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

    Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (Khi đang tụng chú Vãng Sanh, nếu có sớ nên đốt)

    9. CHÚ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ

    Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha, a di rị đô, bà

    tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di rị đa, tỳ

    ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ ca ca lệ, ta bà ha. (3 lần, 1 tiếng

    chuông)

    TIỄN ĐƯA HƯƠNG LINH

    Chỉ chủ lễ xướng:

    Hồn về Cực Lạc Tây Phương

    Ngát hương sen nở, hào quang sáng ngời

    Chắp tay, vĩnh biệt cõi đời

    Quán Âm, Thế Chí đón mời hồn đi.

    (Chủ lễ tiếp:)

    PHỤC NGUYỆN

    Hồn siêu nơi cõi Tịnh

    Nghiệp dứt chốn trần ai

    Hoa sen chín phẩm vừa khai

    Phật bèn thọ ký cho ngay nhứt thừa

    Cầu xin chư Phật tiếp đưa

    Hồn về Cực Lạc say sưa Pháp mầu

    Nguyện cho hương linh…

    Sớm về cõi Phật

    Hưởng cảnh thanh bình

    Pháp giới chúng sinh

    Trọn thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng niệm:)

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    Hữu Ban xướng: Tang Chủ tựu vị lễ tứ,

    Chúng hòa: bái. (4 tiếng chuông, tang chủ lạy 4 lạy, lui ra).

    Theo: chuaviengiac

    Tiêu điểm:

    Các tin đã đăng:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Lễ Đàm Tế (Tức Là Lễ Hết Tang Trừ Phục)
  • Bài Văn Khấn Ông Địa Thần Khai Trương Cửa Hàng Đúng Chuẩn
  • Mẫu Bài Khấn Cúng Cơm Hàng Ngày Cho Người Mới Mất, Văn Khấn Cúng Cơm Cửu Huyền Thất Tổ
  • Bài Văn Khấn Cúng Rước Ông Bà
  • Bài Văn Khấn Tứ Phủ Công Đồng Chính Xác Nhất
  • 9. Nghi Thức Cúng Cơm Cho Vong Linh

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Đáp 4 Thắc Mắc Về Cách Cúng Xả Xui Như Thế Nào?
  • Xả Tang Là Gì? Thời Gian Để Tang Là Bao Lâu?
  • Xả Tang Là Gì? Những Kiêng Kỵ Khi Chưa Xả Tang
  • Vấn Đề Xả Tang Cho Cha Mẹ
  • Chương 61: 60. Vấn Đề Xả Tang Theo Ý Muốn
  • 9. NGHI THỨC CÚNG CƠM CHO VONG LINH

    Từ bi quảng đại diệu khó lường

    Cứu khổ đường mê Địa Tạng Vương

    Tích trượng rung thời khai địa ngục

    Thần châu chỗ chiếu hết đau thương

    Bi quang cứu tế u minh giới

    Pháp lực giương buồm Bát Nhã thuyền

    Tiếp dẫn tinh thần cao đuốc tuệ

    Đường đường khắp phóng ngọc hào quang.

    U minh giáo chủ Địa Tạng đại sư

    Hoằng khai phương tiện khắp rộng từ bi

    Quá khứ phụng sự chư Phật

    Từ quang tỏa thấu đường nẻo cửu tuyền

    Tuệ nhật sáng soi thiết vi u ám

    Dẫn chúng sinh vào cửa chánh giác

    Độ khổ thú lên đường Bồ đề.

    Hôm nay (gia quyến) nhân tấc lòng hiếu sửa soạn cơm chay, cầu diệu lực chú thần cứu đường mê qua hiểm ải. Nguyện Bồ tát tiếp tịnh phách thân nhân dẫn dắt từng bước từng bước quang minh. Nhờ đại hùng lực Phật từ bi phá vỡ trùng trùng u ám.

    Thân vàng rực rỡ tuyệt trần ai

    Khắp phóng hào quang chiếu cửu cai

    Trệ phách u hồn mong tiếp dẫn

    Đường mê nay hóa đóa sen khai.

    Thức thần phân biệt nên có xoay vần

    Hơi thở ra liền thành phân cách

    Tánh Phật như như bản lai thường trụ

    Sinh tử luân hồi Niết bàn giải thoát.

    Trăm năm bóng ảnh chóng tựa sát na

    Bốn đại huyễn thân đâu có lâu dài

    Mỗi ngày trần lao cho nên nghiệp thức mơ màng

    Chẳng biết nhất tánh viên minh, rông rỡ sáu căn tham dục

    Công danh phú quý, chung quy một giấc mộng vô thường

    Tranh ngã tranh nhân, khoe tài cậy giỏi

    Gió lửa dời tan còn chi già trẻ

    Đầu non khe suối chôn bao kẻ anh hùng

    Tóc xanh mới đây nay đã bạc trắng

    Lễ mừng sinh nhật hôm nào, nay tiếp tới kỳ phúng điếu

    Một bao máu thịt trăm năm khổ luyến ân tình

    Mấy thước xương khô, buông lung tham sẻn bạc tiền

    Hơi thở đã ra thật khó trở lại

    Bóng chiều đã xế đâu chắc ngày mai

    Dòng sông ái bao giờ ngừng chìm nổi

    Cảnh nhà khuyên dứt mối tơ vương

    Nếu cứ đắm luyến việc đời, vua Diêm La hốt nhiên cho bắt

    Quay đầu trở lại không còn thấy một người thân

    Núi đao rừng kiếm chịu vạc đồng dầu sôi

    Gặp chém chặt thì một phút phân hai đoạn

    Khát uống đồng sôi, đói ăn sắt nóng

    Kiếp kiếp đắng cay rồi lại luân hồi

    Mặc áo lông đeo sừng, miệng ngậm hàm sắt,

    Mang nặng chở xa, đói khát roi vọt

    Thịt xương dâng người để đền nợ cũ.

    Oan khiên chất chứa ăn nuốt lẫn nhau

    Khi ấy hối hận học Đạo không biết nhờ đâu

    Chi bằng ngay lúc này niệm Phật tu hành, chớ để thời giờ qua mất

    Nhân sinh trăm tuổi như bóng chiều tàn

    Ngọn đèn trước gió, giọt sương đầu ngọn cỏ

    Sao cứ tâm tư trăm mối, ý khởi ngàn đầu

    Lưới trần lao miên mật bao khoen

    Dây ân ái thắt chặt vạn kết

    Núi kiêu mạn sừng sững ngang trời

    Bể tham lam không bờ không bến

    Chi bằng niệm Phật tu hành, liền được vãng sinh cõi Phật

    Đời người trăm tuổi như khảy móng tay

    Có khác nào chiếc lá trôi xuôi

    Hay tương tợ trời tây thỏ lặn

    Đập hòn đá mong cầu ánh lửa

    Bóng ngựa câu bên cửa thoáng qua

    Ngọn đèn lu trước trận phong ba

    Hạt móc sớm treo trên ngọn cỏ

    Thuyền chưa tới bờ ván đã hư mục

    Chớp mắt thôi chỉ thấy mịt mờ

    Sao tình nghĩa còn nhiều vương vít

    Lưới trần gian khin khít muôn trùng

    Trí vẫn hướng về nới trói buộc

    Núi kiêu mạn chất chồng gò đống

    Biển tham sân cuồn cuộn phong ba

    Chỉ còn cách sớm hôm niệm Phật

    Mới mong về cõi tịnh an vui.

    Nay các chân linh đã nghe bài kệ vô sinh để khỏi gây nhân hữu lậu, xin các chân linh nghe thêm bài kệ hàng ma:

    Lửa mồi ánh chớp có gì đâu?

    Ân ái sao còn vướng vít nhau

    Tấm thân vàng kệch rượu cơm bầu

    Luân hồi sống chết ai là khỏi

    Tờ lệnh Diêm La kíp tới hầu

    Phúc tội tóc tơ bày rõ hết

    Phân minh sổ sách trước như sau

    Cột đồng giường sắt trông ghê khiếp

    Khóc thét kêu gào tránh được đâu

    Đầu thai làm kiếp ngựa hay trâu

    Nghiệp duyên chồng chất quên đời trước

    Nhờ Phật rồi may mới thoát cầu

    Một điểm chân như ai nấy sẵn

    Thoát vòng sinh tử niệm lên mau.

    Nay các chân linh kíp kíp theo tôi niệm Nam Mô A Di Đà Phật và bốn thánh hiệu để được vãng sinh về nơi An Lạc:

    Quạ bay thỏ chạy chóng như thoi

    Than hỡi đời ta được mấy hồi

    Chỉ cõi Tây Phương An Lạc cảnh

    Quay đầu ta kíp niệm đi thôi.

    Dù cho nhà ngọc với kho vàng

    Cảnh đến vô thường khó nỗi mang

    Chỉ cõi Tây Phương An Lạc cảnh

    Quán Âm Bồ Tát độ cho sang.

    Sống trên bảy chục mấy ai đâu

    Trăm tuổi xem như bóng ngựa câu

    Chỉ cõi Tây Phương nơi Lạc cảnh

    Cầu xin Thế chí độ sang mau

    Giơ tay cất bước tội ngang mày

    Địa ngục đao sơn cửa rộng thay

    Chỉ cõi Tây Phương nơi Lạc cảnh

    Cầu xin Địa Tạng độ qua ngay

    Hàm đan giấc mộng có hay chi

    Cuộc thế lân la mãi làm gì?

    Chỉ cõi Tây Phương nơi lạc cảnh

    Cầu xin Thanh Tịnh độ cho về

    Nguyện vong chóng sinh sang Tịnh độ

    Ngôi cửu liên là chỗ náu nương

    Vô sinh sen nở ngát hương

    Chư tôn Bồ Tát bên đường tiếp nghênh

    Chốn ao báu muôn sen đua nở

    Phật Di Đà Thế Chí Quán Âm

    Phát lời thệ nguyện dự phần tiêu dao

    Vãng sinh Tịnh độ thần chú:

    KINH TÂM YẾU BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

    Bồ Tát Quán Tự Tại thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa Ngài soi thấy năm uẩn đều không độ hết thảy khổ ách.

    Này Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng hành, thức cũng đều như thế.

    Xá Lợi Tử! Tướng không của mọi Pháp không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt, cho nên trong chân không không có sắc, không có thọ, tưởng hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý . Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới cho nên không có ý thức giới. Không có vô minh, cũng không có hết vô minh. Cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí tuệ cũng không có chứng đắc bởi vì vô sở đắc. Bồ Tát y Bát Nhã Ba La Mật Đa nên tâm không quản ngại, vì không quản ngại nên không sợ hãi, xa hẳn mộng tưởng điên đảo đạt tới cứu cánh Niết bàn. Ba đời chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa nên được đạo quả Vô Thượng Chính Đẳng, Chính Giác. Cho nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú trừ được hết thảy khổ chân thực không hư.

    Tụng kinh công đức thù thắng hạnh

    Vô biên thắng phúc con hồi hướng

    Khắp nguyện trầm nịch bao chúng sinh

    Sớm về cõi Phật quang vô lượng

    Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não

    Nguyện được trí tuệ chân minh liễu

    Khắp nguyện tội chướng đều tiêu trừ

    Đời đời thường hành Bồ Tát đạo

    Nguyện sinh Tây Phương cõi Tịnh độ

    Chín phẩm hoa sen làm cha mẹ

    Hoa nở thấy Phật chứng vô sinh

    Bất thoái Bồ Tát đồng bạn lữ

    Tam Bảo chứng minh oai thần hộ niệm, Bồ tát, Thanh văn, Phạm vương, Đế Thích, bốn Thiên vương, chúng Thiên long, tám bộ Hộ pháp thần vương tất cả Thiện thần xin rủ lòng từ bi gia hộ.

    Hiền tiền đệ tử chúng con nguyện đem công đức này hồi hướng Quốc gia hưng thịnh, Phật pháp trường tồn, nhân dân an lạc, gia đình phật tử chúng con bốn mùa không chút tai ương, quanh năm thêm lành cát khánh. Kế nguyện cầu siêu chư hương linh cửu huyền thất tổ, ông bà cha mẹ nhiều đời, bà con nhiều kiếp, các hương linh anh hùng chiến sĩ vì nước hy sinh, đồng bào tử nạn, khắp duyên trăm họ, nam nữ, mười hai loại cô hồn. Nương công đức này tới trước Tam Bảo dự lễ nghe kinh, mau xả đường mê siêu sinh Tịnh độ. Phục nguyện âm siêu, dương thái, Pháp giới chúng sinh tình cùng vô tình đều trọn thành Phật đạo.

    Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh, hiểu rõ đạo lớn, phát tâm Bồ đề.

    Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.

    Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lãnh đại chúng, hết thảy không ngại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Vong Linh, Cúng Cô Hồn Có Phải Là Pháp Của Đạo Phật?
  • Văn Khấn Cúng Giải Hạn Sao Thái Âm
  • Cách Cúng Khấn Ngày Vía Thần Tài Mùng 10 Tháng Giêng Hút Tài Lộc Cho Gia Chủ
  • Có Được Cúng Vái, Dâng Đồ Ăn Đồ Uống Cho Người Chết Không?
  • Cúng Vía Thần Tài Mồng 10 Tháng Giêng Giờ Nào Tốt Nhất Để Tiền Bạc Rủng Rỉnh Cả Năm?
  • Cúng Cơm Cho Hương Linh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Làm Lễ Hóa Vàng Và Văn Khấn Tiễn Ông Bà, Tổ Tiên Vào Mùng 3 Tết Nguyên Đán 2022 Chuẩn Nhất
  • Bài Văn Khấn Tết Hàn Thực Mùng 3 Tháng 3 Al Chi Tiết Nhất Năm 2022
  • Bài Văn Khấn Tết Hàn Thực Mùng 3 Tháng Ba Âm Lịch
  • Bài Văn Khấn Tết Hàn Thực. Cách Sắm Lễ Cúng Mùng 3 Tháng 3.
  • Văn Khấn Tết Hàn Thực Mùng 3 Tháng 3 Nhiều Người Sử Dụng Nhất
  • Vấn đề cúng cơm trong 49 ngày, cúng bao nhiêu lần, cúng những thức ăn gì?

    Đúng lý ra, vong cần Pháp thực hơn cần vật thực. Tuy nhiên, lòng thương yêu của người còn sống đối với thân nhân quá cố được biểu lộ bằng cách cho ăn, chớ thật sự ra, vong không cần phải ăn đâu!

    Vong cần Pháp thực để có thể hiểu rõ, để có thể rung cảm được. Một khi rung cảm được thì vong có thể siêu được một cách dễ dàng.

    Tuy vậy, muốn cho vong ăn thì cũng được; nếu có nhiều thì giờ thì cho vong ăn mỗi ngày, nếu không có nhiều thì giờ thì cho vong ăn mỗi tuần, hay mỗi hai tuần, tùy ở lòng hảo tâm của người chủ lễ, không nhất thiết lắm.

    Một người khi còn tại thế, có thể ăn bất kỳ một con vật nào hợp với khẩu vị của họ, nhưng khi đã bỏ xác thân rồi, bất luận là dân tộc nào, tôn giáo nào, vong cũng chỉ hưởng đồ thanh nhẹ, không hưởng những đồ nặng được (như tôm, cua, sò, ốc, thịt, cá…).

    Trong thời gian người chủ lễ hành lễ siêu độ cho vong, người chủ lễ bắt buộc phải trường chay trong 49 ngày, có thể dùng những thức ăn của người chủ lễ để chia lại cho vong cũng rất tốt; tức là tuyệt đối phải cúng thức ăn chay cho Vong.

    Biến Thực Biến Thủy

    Khi dâng cúng đồ ăn thức uống cho vong, người chủ lễ có cần phải trì Chú biến thực biến thủy không?

    Biến thực biến thủy là biến đồ ăn thức uống ra nhiều để tất cả các vong đều nhận được cả.

    Nếu cúng cho 2 vong linh cùng chung một bàn thức ăn thì lúc đó phải biến thực biến thủy. Nếu cúng cho 2 vong linh ở 2 bàn thờ vong khác nhau thì không cần phải biến thực biến thủy. Thức ăn của vong linh nào thì vong linh đó hưởng khi được dâng cúng.

    Nếu cúng cho nhiều vong linh ở tại 01 bàn thờ vong thì phải biến thực biến thủy để tất cả các vong đều nhận được đồ ăn thức uống.

    Việc trì Chú Biến Thực Biến Thủy đòi hỏi một sự quán tưởng. Người chủ lễ chưa biết tu tập, đem tâm lực của mình để siêu độ cho Hương Linh, nên tránh những việc khiến cho mình lúng túng, không trôi chảy trong khi hành lễ – vả lại thân nhân quá cố cũng chỉ một người, cho nên lấy tâm thành khấn nguyện khi dâng cúng thức ăn cho hương linh là đủ rồi.

    Tất cả mọi việc không nên cưỡng cầu, làm trong khả năng gánh vác được của mình. Điều quan trọng chính là sự Thành Tâm, Thành Ý của mình đối với vong linh.

    Thức ăn được bày ra để cúng cho vong, cũng chỉ tượng trưng một vài món, chứ không cần phải quá nhiều. Vong không ăn và nuốt như người đời đâu! Vong chỉ hưởng hơi thôi, vì có thân xác đâu để mà ăn với uống. Tất cả mọi thứ cũng chỉ là qua Ý Thức mà thôi.

    Khai Yết Hầu

    Nên nhớ rằng: vong linh chỉ là một cái bóng rất nhẹ, cần phải trì Chú Khai Yết Hầu, vong mới có thể hấp thụ dễ dàng được hết những cái hơi từ ở thức ăn dâng cúng.

    Trong thời gian 49 ngày, vong linh còn cảm giác mình hiện hữu, do đó mà mới có vấn đề đói lạnh. Sở dĩ có vật thực là tại vì hương linh chưa nhận thức được rằng mình đã mất, cho nên vẫn còn cảm giác đói no, vì vậy mà phải cho hương linh được thỏa cái cảm giác đó của mình. Nhưng muốn cho hương linh thỏa được cái cảm giác đó, phải có câu thần Chú Khai Yết Hầu để khơi dậy cái thức của hương linh, giúp hương linh nhận ra rằng đây là đồ ăn thức uống. Khi hương linh nhận biết được thì hương linh sẽ hấp thụ được, nếu hương linh không nhận biết được thì sẽ không hấp thụ được.

    Cho nên việc hương linh hấp thụ được lý cao siêu của lời Kinh, của câu trì Chú, niệm Phật, của lời giảng Pháp, sẽ giúp cho cái Thức của hương linh sáng rực lên. Pháp thực cần hơn vật thực ở điểm đó vì sẽ giúp cho cái thức của hương linh được sáng lên, tức là cho hương linh cái Trí Huệ.

    Với cái Trí Huệ đó, hương linh mới nhận ra được hướng đi của mình và biết được nên đi về đâu, nếu có sự chọn lựa giữa Cõi Trời hay Cõi Phật hoặc Cõi Người. Thời gian 49 ngày là thời gian “đặc ân.” Dù rằng khi còn sống, hương linh không đủ tư cách để được vãng sanh về cõi Cực Lạc hay được về Cõi Trời, nhưng nếu trong thời gian 49 ngày, hương linh hết dạ chân thành ăn năn sám hối, biết bỏ xuống hết tất cả những phiền não và nhận chân ra được rằng mình đã làm điều sai trái, hương linh sẽ có toàn quyền trên sự lựa chọn của mình giữa 3 cõi Phật – Trời – Người.

    Vật thực dâng cúng cho vong, ngoài trà, nước hoặc nước ngọt, có nên cúng rượu hoặc bia hay không?

    Nên nhớ rằng: vật thực cho vong gồm tất cả những gì thật là giản dị thì vong sẽ nhận được, còn những gì rườm rà vong khó lòng nhận được.

    Sắp dọn cho vong ăn có cần phải đặt chén, dĩa, muổng, đũa hay không?

    Thật ra vong cũng không cần đến muỗng nỉa gì hết, vong chỉ hưởng mùi thôi. Cho nên, cần phải dùng những thức ăn thật là thanh.

    Vong Thật Sự Cần Những Gì?

    Điều quan trọng không phải là cho vong ăn, mà chính là phải giúp cho vong sám hối, sám hối rất nhiều!

    Khi một người bỏ thân xác, không phải rằng chỉ một hiện kiếp, là người đó có thể thanh toán hết tất cả nghiệp lực của mình trong quá khứ, đó là chưa kể rằng trong hiện kiếp, người đó đã còn tạo ra những nghiệp lực mới nữa. Cho nên vong phải sám hối, sám hối không ngừng. Vì vậy thời giờ cho vong ăn, nên để dành cho vong sám hối, niệm Phật và giảng Pháp cho vong nghe.

    Cho nên, đừng quan trọng hóa việc cho vong ăn, đó là tư tưởng thường tình của chúng sanh, có cho ăn thì mới tỏ rõ được tấc lòng thương yêu, trìu mến. Đối với một vong linh, làm sao cho thần thức rung động nhanh chóng để tìm ra đúng con đường đi kế tiếp của mình, đó mới là một tình thương đúng nghĩa, một sự chắt chiu hợp lý, hợp tình của người ở lại.

    Người đời đặt ra rất là nhiều nghi thức, bảo phải như vầy, như vầy, và biến cái không thành cái có.

    Cái không là cái gì?

    Cái không là vong linh. Biến thành cái có, là vong linh biến trở lại làm người. Cho nên đặt ra rất nhiều nghi thức rườm rà. Thoạt xem qua thì tưởng là có ích lợi cho vong, nhưng thật sự ra thì không có gì ích lợi cả.

    Vong cần phải bỏ xuống cái gánh nặng của mình. Nếu một vong linh nào vào giờ phút lâm chung, không tự siêu thoát được, thì phải chắc chắn rằng, vong linh đó bị vướng mắc.

    Hơi ấm cuối cùng dù rằng tụ lại ở ngực, tức là được trở lại kiếp Người, nhưng vẫn phải siêu độ, vì sao?

    Vong linh đó không bị đọa, có nghĩa là không bị vướng mắc quá nhiều đến nỗi phải bị đọa, nhưng vẫn có vướng mắc; không có vong linh nào trở lại kiếp người mà không bị vướng mắc cả. Cho nên, nếu hơi ấm cuối cùng tụ từ ngực trở xuống, bắt buộc phải siêu độ để cho các vướng mắc đó được trở nên nhẹ nhàng.

    Mà những vướng mắc đó là cái gì? Tức là những nghiệp lực của mình, nhân quả mình tạo ra, những điều sai trái mình làm, những suy nghĩ sai lầm của mình. Tất cả những cái gì không nằm trong chữ Đúng, đều phải giúp cho vong cởi bỏ xuống. Những nỗi oan tình, ẩn ức, những uẩn khúc không bày tỏ được… tất cả những điều đó thuộc về Sân Hận, khiến cho vong linh khó lòng cất bước. Vì vậy bắt buộc phải siêu độ.

    Những người được ra đi tức khắc, sinh về Cõi Trời hay Cõi Phật, những người đó không cần phải siêu độ. Cho nên, siêu độ cho vong linh, điều quan trọng là phải làm sao để cho vong linh thấu hiểu được rằng, vong linh ra đi mang hành trang quá nhiều, mà hành trang đó không phải là những hành trang quý báu. Hành trang đó chỉ là những cục đá mà thôi, mang theo làm gì cho nặng nề. Do đó, cần phải giúp cho vong linh soạn lại cái hành trang của mình, để cho được nhẹ nhàng hơn.

    Tất cả những nghi thức nào giúp cho vong linh được nhẹ nhàng cất bước, nhìn thấu suốt được con đường mình đi, nói tóm lại, là giúp cho vong linh sớm siêu thoát, các nghi thức đó đều chấp nhận được. Ngoài ra đó, những gì rườm rà, không ích lợi cho vong linh thì không nên đặt thành vấn đề và không nên xem nó là cần thiết.

    Vong linh cần Pháp thực hơn là vật thực. Cúng một chén cơm, cúng hai chén cơm, cúng ba chén cơm hay cúng một chục chén cơm, vong linh cũng chỉ hưởng được hơi cơm mà thôi. Không nhất thiết phải là mâm cao cỗ đầy, đồ ăn phải thật là ngon, chỉ cần làm sao đồ ăn thật tinh khiết, để vong có thể hấp thụ được cái hơi mà thôi, càng tinh khiết chừng nào thì vong linh càng dễ dàng hấp thụ chừng nấy.

    Nếu không thể nào nấu ra thành món ăn, chỉ cần 1 chén cơm, vong linh cũng vẫn hưởng được, không sao cả.

    BIẾN THỰC CHƠN NGÔN

    Nam mô tát phạ đát tha nga đa, phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra, tam bạt ra hồng.(7 lần)

    Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha. (7 lần)

    Án, bộ bộ đế rị, dà đa rị đát đa nga đa da. (7 lần)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Ông Công Ông Táo 23 Tháng Chạp Chuẩn Nhất Theo Chia Sẻ Của Chuyên Gia
  • Tiểu Thuyết Búp Sen Xanh Tieu Thuyet Bup Sen Xanh Doc
  • Truyện Ma: Gặp Ma Trẻ Con
  • Truyện Ma Dòng Sông Nuôi Xác Seri Truyện Ma Rằm Tháng Tám
  • Thánh Lễ Giỗ 1 Năm Ông Cố Giuse Phan Văn Hòa
  • Cách Cúng Gia Tiên Theo Nghi Thức Tâm Linh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn & Cách Cúng Đưa Ông Táo Về Trời Miền Nam【Chuẩn Nhất】
  • Hướng Dẫn Cúng Mụ Cho Trẻ Đơn Giản Và Đúng Nhất
  • Cách Cúng Ngày Vía Thần Tài Để Phát Tài Phát Lộc Cả Năm
  • Cách Khấn Lễ Khi Đi Chùa Chuẩn Nhất!
  • Văn Khấn Cúng Sao Kế Đô, Cách Dâng Sao Kế Đô
  • Phong tục thờ cúng tổ tiên là một nét đẹp đặc sắc trong văn hóa ứng xử của người Việt. Phong tục ấy không chỉ thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” mà còn mang giá trị giáo dục sâu sắc cho các thế hệ mai sau. Tuy nhiên, nghi thức cúng lễ Tâm tinh như thế nào là đúng? Sau nhiều năm nghiên cứu khảo nghiệm về các khả năng đặc biệt, TS Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ UIA đã đưa ra một cách nhìn rất ấn tượng về NGHI THỨC CÚNG TÂM LINH trên cơ sở giải mã những thông điệp từ thế giới vô hình, điều mà bấy lâu nay nhiều người vẫn chưa hiểu thấu đáo về phong tục tốt đẹp này.

    Thần thức song hành cùng thế giới hữu hình

    Trước tiên, cần phải khẳng định rằng, bài viết này chỉ nhằm đưa ra một vấn đề để cùng tham khảo, tùy theo tín ngưỡng của mỗi người mà có sự ứng dụng sao cho được lợi ích viên mãn trong nghi lễ cúng gia tiên.

    Để làm rõ hơn về phong tục cúng tổ tiên, trước tiên cần biết thêm về khái niệm “thần thức”, điều mà dân gian thường gọi là linh hồn, người cõi âm, hương linh, anh linh, giác linh…

    Con người khi chết đi thì vẫn còn lưu lại phần “thần thức” thoát ra khỏi thân tứ đại. Điều này trùng hợp với quan điểm của đạo Phật về thuyết luân hồi, cho rằng con người phải trải qua nhiều kiếp, trước khi được trở về cảnh giới cực lạc.

    Với phong tục thờ cúng tổ tiên, dù vô tình hay hữu ý, chúng ta đều đã chấp nhận phần “thần thức” ấy đang song hành cùng thế giới hữu hình. Dựa trên những cơ sở này, Chương trình khảo nghiệm đã phát triển thêm một hướng mới, đi sâu vào việc giải mã những thông điệp của thế giới tâm linh, hướng tới những giải pháp ứng xử mang đậm tính nhân văn trong phong tục cúng lễ.

    Con người sinh ra, ai cũng có cha mẹ, ông bà, cao hơn nữa là tổ tiên dòng tộc. Mẹ cha nuôi dưỡng chúng ta, nhưng không bao giờ nghĩ đến việc mình được trả công, mà duy nhất chỉ mong cho các con trưởng thành vinh hiển, làm vẻ vang dòng họ tổ tông. Với công ơn sinh thành dưỡng dục, khi mẹ cha còn sống thì phụng dưỡng, khi khuất bóng thì kính thờ, phận làm con cần phải đáp đền thế nào cho tròn chữ Hiếu?

    Dù tiền tài, phẩm vật có uy nghi đến đâu chăng nữa cũng chẳng thể đáp đền công đức Cù Lao, cao lương mỹ vị đủ đầy cũng không thể sánh tày ơn Phiếu Mẫu. Vì vậy, cách báo hiếu hoàn mỹ nhất, ngoài việc dâng tịnh tài, tịnh vật ra, cần dâng HỶ THỰC, HIẾU THỰC và PHÁP THỰC, giúp “thần thức” của người đã khuất thoát khỏi trạng thái phiền não để trở về cảnh giới an lạc. Điều này phù hợp với quan điểm cửa Phật: “Tài thí không bằng Pháp thí”.

    Dâng cúng Phạn thực bằng đồ mặn hay đồ chay?

    Phương thức thờ cúng tổ tiên trong nhiều gia đình hiện nay tuy tốn kém, nhưng chưa thực sự đáp ứng được các thông điệp từ thế giới tâm linh. Khi các gia đình cúng bằng những thực phẩm có nguồn gốc sát sinh, khiến phần “thần thức” của người đã khuất dần dần trở nên “nghiện” các thứ tanh tưởi đó.

    Thông qua các kết quả khảo nghiệm thấy rằng: Người mới qua đời, “thần thức” rất hoang mang, không có khả năng tự chủ. Lúc ấy, nếu các gia đình dùng những đồ cúng có nguồn gốc tanh hôi, sẽ vô tình làm cho “thần thức” của người đã khuất rời xa cảnh giới thanh tịnh. Bằng chứng là những đám cúng giỗ mà giết mổ nhiều, rượu thịt bừa mứa thì thường hay xảy ra va chạm, cự cãi, thậm chí có thể đâm chém nhau ngay trong lễ cúng. Đó là bởi đám cúng giỗ đó đã bật tín hiệu, quyến rũ các phần “thần thức” ưa thích tanh hôi, tham lam, sân hận, gây “tác dụng ngược”, tạo nên sự nóng nảy vô cớ, thiếu kiềm chế của những chúng sinh tham gia thụ hưởng đồ cúng lễ.

    Từ hàng ngàn ca khảo nghiệm điển hình, kết quả thống kê cho thấy có tới trên 80% đối tượng tội phạm hình sự đều có nguồn gốc xuất thân từ những gia đình làm nghề bất lương (ví dụ như buôn bán ma túy, hành nghề cờ bạc hoặc làm giàu trên thân xác phụ nữ, đặc biệt là các nghề sát sinh, đồ tể…).

    Trong những gia đình đó, “thần thức” của người đã khuất luôn bị “ô nhiễm” bởi môi trường không lành mạnh, dù người thân có cúng dâng mâm cao cỗ đầy cũng không thể siêu thoát. “Âm không siêu thì dương không thái”, vì thế không trước thì sau, những gia đình đó cũng gặp những tai họa khó lường theo luật Nhân Quả.

    Các thần thức (linh hồn) khi đã “nghiện” những mùi vị tanh tưởi do người thân dâng cúng thì thường tìm đến những gia đình đang làm nghề sát sinh hoặc mắc nghiện ngập…để tái sinh trong kiếp sau theo nghiệp lực “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” và như vậy họ sẽ bị nghiệp sát sinh, nghiệp bất lương lôi cuốn vào vòng xoáy tội phạm trong kiếp sau.

    Vậy nên, trong mâm cúng lễ gia tiên, tốt nhất nên dùng những đồ chay tịnh và cần phải dùng nghi thức cúng Tâm linh để chuyển thành “hỷ thực và hiếu thực”. Ví dụ như khi ta đang đói bụng, nếu nghe được một tin rất vui, cảm giác đói trước đó có thể dễ dàng tan biến. Phần “thần thức” cũng như vậy, họ không còn xác thân hữu hình để thọ hưởng các đồ cúng bằng “phạn thực” mà chỉ tồn tại dưới dạng thân trung ấm. Tâm thức khi được làm quen với môi trường thanh tịnh, được hưởng những đồ “hỷ thực, hiếu thực”, chính là cách nạp thêm năng lượng tinh thần, để phần “thần thức” vượt lên một cung bậc mới trên hành trình tiến hóa tâm linh..

    Chỉ dùng đồ cúng lễ thanh tịnh thôi thì cũng chưa đủ, mà còn phải dùng nghi thức của nhà Phật để hồi hướng công đức cho gia tiên. Cùng với việc đọc tụng những bài kinh cầu nguyện sự an lành, con cháu khi tham gia cúng lễ cũng phải thật sự thanh tịnh, và cũng phải sám hối diệt trừ tam độc “tham, sân, si”, nhiếp tâm hướng về điều Thiện để dâng gia tiên tiền tổ. Nhiều cuộc khảo nghiệm đã chỉ ra rằng phần “thần thức” chỉ thực sự hoan hỷ khi những người trực tiếp cúng lễ phải là con hiền, dâu thảo, cháu ngoan. “Thần thức” không hoan hỷ với sự cúng thuê, cúng mướn.

    Cúng theo nghi thức Tâm linh cần những điều gì?

    Cúng giỗ theo nghi thức phàm phu: Các con cháu về dự ăn uống, đánh chén là chính, còn việc tri ân, đề cao công đức và tưởng nhớ đến người đã khuất thì bị xem nhẹ, thậm chí nhiều đám giỗ, các con cháu chẳng hề quan tâm đến tên, tuổi, cuộc đời sự nghiệp của người đã khuất, mà chỉ chủ yếu là khấn cầu lợi, xin được “người âm phù hộ” và cũng là dịp để đón tiếp chiêu đãi tiệc tùng nhằm mở rộng mối bang giao giúp cho công danh, sự nghiệp của tín chủ có cơ hội thăng trưởng.

    Nhưng cúng theo nghi thức Tâm linh thì hoàn toàn khác hẳn với cúng phàm phu. Những người con hiền dâu thảo, cháu ngoan khi tổ chức cúng giỗ tri ân, báo hiếu cho người đã khuất là chính yếu, còn ăn uống tiệc tùng chỉ là phần thứ yếu. Do vậy, với nghi thức cúng Tâm linh, trọng tâm là phải làm sao cho thần thức của người đã khuất được trở về cảnh giới an lạc, đó chính là “âm siêu dương thái”.

    Để việc cúng lễ được viên mãn thì cần phải đảm bảo những nội dung sau:

    Dâng tịnh tài, tịnh vật (gọi là Phạn thực): Tịnh tài là dâng những tài vật trong sạch, không cúng tiền giả, vàng mã, không cúng những đồng tiền có nguồn gốc bất lương (như tiền do cá cược, cờ bạc, buôn bán ma túy, trộm cắp, sát sinh…), không cúng đồ giả, đồ cũ, không cúng những phẩm thực tanh hôi có nguồn gốc sát sinh. Vì người đã khuất không còn tấm thân tứ đại nữa, do vậy không thể thọ hưởng trực tiếp vào các đồ cúng bằng phạn thực, nên cần phải có những bài thần chú để biến các thức ăn sang dạng Hỷ thực, Hiếu thực (đọc các bài thần chú (còn gọi là Chú Biến Thực để “chuyển hóa” các thứ dâng cúng sang pháp Hỷ thực).

    Dâng Hiếu thực: Các thành viên trong hiếu quyến cần tụng Sám hối và tụng Vu Lan, dâng lời tự bạch thiết tha để chuyển hóa tâm thức, giúp thần thức người đã khuất có cơ hội tiêu trừ sân hận, phiền não.

    Dâng Pháp thực: Tụng kinh Bát Nhã và lời kệ của chư Phật, chư Tổ để trợ duyên cho thần thức được tăng trưởng đạo lực, trở về cảnh giới an lạc (đối với những người đi theo đạo Thiên Chúa thì cần đọc những lời răn của Chúa…)… Trải qua nhiều lần được hưởng “Hỷ thực, Hiếu thực, Pháp thực” và an trú trong môi trường thanh tịnh, phần “thần thức” của gia tiên sẽ dần được tiếp cận với cảnh giới cao hơn trên hành trình tiến hóa Tâm linh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Xin Bán Nhà
  • Kinh Nghiệm Viếng Mộ Cô Võ Thị Sáu Ở Côn Đảo
  • Hướng Cẫn Cách Cúng Vái (Bái), Lạy Đúng? Ý Nghĩa Số Lần Vái Lạy?
  • Quan Ngũ Hổ Là Ai? Ý Nghĩa Thờ Ngũ Hổ Trong Đạo Mẫu
  • Cúng Tất Niên Như Thế Nào
  • Nghi Thức Sám Hối Với Vong Linh Thai Nhi

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Ở Nhà Thờ Họ Đầy Đủ Và Chuẩn Nhất
  • Hướng Dẫn Quy Trình Và Văn Khấn Chuyển Bàn Thờ Gia Tiên
  • Truyền Thống Vinh Quy Bái Tổ , Trang Điện Tử Www.hovuvovietnam.com
  • Tục Vinh Quy Bái Tổ Thời Xưa
  • Nghi Thức Tổ Chức Một Lễ Vinh Quy Bái Tổ
  • Diệu Huyền

    Bài viết được sưu tầm bởi nhà xinh

    Ý NGHĨA CỦA BÀI SÁM HỐI VỚI VONG LINH THAI NHI

    Hẳn những bậc làm cha mẹ đã từng bỏ thai vì bất cứ lý do gì thì sẽ cảm thấy lòng mình không yên ổn, luôn canh cánh về một phần máu thịt đã mất của mình và hẳn sẽ cảm thấy lòng mình yên ổn hơn khi vong linh của thai nhi được siêu thoát. Cha mẹ có thể đến chùa đăng ký làm lễ cầu siêu cho thai nhi nhưng không phải lúc nào cũng có đủ thời gian, điều kiện, duyên lành để thực hiện nghi thức cầu siêu như mình mong muốn.

    Để những cha mẹ vì lý do nào đó bỏ thai nhi mà chưa có điều kiện làm lễ cầu siêu cho vong linh thai nhi thì có thể tự cầu siêu cho vong linh thai nhi mà mình đã từ bỏ.

    Cha mẹ có thể đến bất kỳ chùa nào gần nơi mình sinh sống hoặc những nơi địa điểm làm lễ phóng sinh đọc bài sám hối này, hoặc nếu không có điều kiện thì có thể ngồi trước bàn thờ Phật (nếu gia đình nào có thờ Phật) hoặc bàn thờ gia tiên để đọc bài văn sám hối này.

    Nghi thức cũng rất chi đơn giản, chỉ cần đèn, nến, hương, hoa, quả, nước là đủ, quan trọng nhất là mình phải thành tâm thì sẽ vô cùng lợi lạc, cũng không khác gì các thầy làm lễ cầu siêu đâu.

    NGHI THỨC SÁM HỐI VỚI VONG LINH THAI NHI

    Thành tâm con kính lạy:

    Đức Phật A Di Đà

    Bồ Tát Địa Tạng Vương

    Bồ Tát Quán Thế Âm

    Bồ Tát Đại Thế Chí

    Xin chứng giám lòng con

    Với tất cả tâm thành

    Con dâng lời sám hối:

    Khi xưa con lầm lỗi

    Đã phá bỏ thai nhi

    Vì không hiểu Phật Pháp

    Nên phạm giới sát sanh

    Lại sát hại con mình

    Làm thai nhi khốn khổ

    Trong cõi giới U Minh

    Bơ vơ và đói lạnh

    Nếu chúng con tỉnh thức

    Thì thai nhi bây giờ

    Đã trưởng thành khôn lớn

    Biết hiếu thuận mẹ cha

    Ngày nay gặp Phật Pháp

    Nghe được lời thai nhi:

    “Cha mẹ ơi sao nỡ,

    Giết con lúc còn non!

    Muốn có được thân người

    Phải tu hành nhiều kiếp

    Nay cơ hội mất rồi

    Cha mẹ ơi có thấu?

    Thân người đã mất rồi

    Muôn kiếp khó được lại

    Con khổ cha mẹ khổ

    Vạn kiếp làm sao nguôi!

    Anh chị em của con

    Được cha mẹ cưng chiều

    Con làm vật hy sinh

    Cho họ được đầy đủ

    Cha mẹ thử nghĩ coi

    Làm vậy có đúng không?

    Đứa thương đứa ruồng bỏ

    Con làm sao khỏi hận?

    Còn những tình nhân trẻ,

    Chưa chuẩn bị vào đời

    Để làm mẹ làm cha

    Lại chẳng kể đạo lý

    Làm con người đoan chánh

    Phạm phải tội tà dâm

    Chỉ đắm say khoái dục

    Thai nhi được tạo ra

    Đem lại phiền phức lớn

    Liền đang tâm phá bỏ

    Không một chút tiếc thương

    Không một chút hối hận

    Không một chút quan tâm

    Đến mạng sống thai nhi

    Lầm lối tiếp lỗi lầm,

    Cho rằng mình có quyền

    Sanh sát theo ý muốn.

    Nợ mạng phải đòi mạng

    Lẽ thường tình thế gian

    Hận này sao nguôi được?”

    Trước tam bảo quang minh

    Con thành tâm lễ Phật

    Nguyện chư Phật mười phương

    Chứng minh lời sám hối:

    Các con thương yêu ơi

    Cắt đứt mạng sống con

    Nay hối hận vô cùng

    Xin các con hoan hỷ

    Tha tội cho mẹ cha

    Từ nay trở về sau

    Không còn dám tái phạm

    Vâng theo lời Phật dạy

    Sám hối tội đã làm

    Bằng phóng sinh cứu mạng

    Làm các việc phước thiện

    Tụng kinh và lễ Phật

    Chuyên niệm A Di Đà

    Bồ Tát Địa Tạng Vương

    Hồi hướng cho thai nhi

    Sớm lìa khổ được vui

    Nay đối trước Tam Bảo

    Chí thành con sám hối

    Nguyện Chư Phật chứng minh

    Tội chướng được tiêu trừ,

    Thành tâm con khấn nguyện

    Đức Phật A Di Đà

    Địa Tạng Vương Bồ Tát

    Quán Âm cùng Thế Chí

    Rủ lòng đại từ bi

    Cứu độ các vong linh

    Thai nhi được vãng sanh

    Về Tây Phương Cực Lạc.

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ

    Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật (3 lần)

    Nam Mô A Di Đà Phật (Niệm theo sức của mình)

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)

    Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)

    Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)

    Chú ý: 

    – Niệm Nam Mô A Di Đà Phật tùy theo sức của mình càng nhiều càng tốt. Sau đó niệm danh hiệu các vị Phật cho tới hết

    – Sám hối xong cho vong linh thai nhi thì sám hối luôn với oan gia trái chủ cho tới hết. 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Văn: Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai
  • Sư Tích Và Cách Dâng Lễ Đền Ông Hoàng Bơ
  • Hoàng Tử Chốn Thoải Cung
  • Bản Văn: Ông Hoàng Bơ
  • Sự Tích Về Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn Thanh Tra Giám Sát
  • Cúng Cơm Cho Hương Linh Sau Ngày Chung Thất?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bạn Cần Biết: Ý Nghĩa Của Việc Dâng Hoa Cúng Dường Ở Tam Bảo Trong Chùa
  • Lưu Ngay 101 Cách Cắm Hoa Đẹp Để Bàn, Ngày Lễ Ấn Tượng Cực Dễ Làm
  • Cách Nấu Chè Đậu Trắng Cúng Đầy Tháng Bé Trai
  • Học Cách Nấu Chè Xôi Để Cúng Thôi Nôi Bé Trai
  • Cách Nấu Chè Đậu Trắng Cúng Thôi Nôi Dẻo Ngon, Mềm Tan Đơn Giản
  • HỎI: Mẹ tôi mất đã được 5 tuần, em tôi nói rằng sau 49 ngày (chung thất) sẽ không cúng cơm nữa. Vì theo kinh Địa Tạng, sau 7 tuần thì thần thức của hương linh sẽ theo nghiệp mà thọ sanh. Xin hỏi, vậy có nên cúng cơm nữa không? Mặt khác, em tôi có ý định tụng kinh Dược Sư để cầu an cho mẹ ở cõi âm, điều ấy có nên không? Vào khoảng tuần thứ 4 sau ngày mẹ mất, tôi mơ thấy mẹ đang lội qua một biển lớn. Giấc mộng ấy có ý nghĩa thế nào? (DIỆU THANH, DIỆU HẠNH, Quang Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai)

    ĐÁP: Bạn Diệu Thanh và Diệu Hạnh thân mến!

    Theo tinh thần của kinh Địa Tạng và quan điểm Phật giáo Bắc truyền nói chung thì thần thức của một người sau khi chết hầu hết đều phải trải qua giai đoạn trung gian, thọ thân trung ấm tối đa là 49 ngày, sau đó sẽ thọ sanh vào một cảnh giới tương ứng với nghiệp lực mà họ đã gây tạo. Và không nhất thiết phải đợi đến ngày chung thất (49 ngày sau khi chết) thì hương linh mới tái sanh mà có thể ngay sau khi chết, hoặc trong tuần thất đầu tiên (7 ngày sau khi chết), hay trong tuần thất thứ hai (14 ngày sau khi chết) cho đến các tuần thất tiếp theo hương linh đều có thể tái sanh tùy nhân duyên, nghiệp lực của mỗi người.

    Trong thời gian thọ thân trung ấm, hương linh vẫn thọ dụng được tất cả những vật phẩm mà thân nhân dâng cúng (thường là cơm, nước, hương, hoa) nhưng chỉ hưởng mùi vị của thức ăn mà thôi. Vì thế, thân trung ấm còn được gọi là hương ấm (thọ dụng mùi hương của thực phẩm). Cho nên trong vòng 49 ngày, thân nhân cần dâng cúng cơm nước hàng ngày cho người chết để họ được no đủ, đặc biệt vào những ngày tuần thất thường cúng kính trang trọng hơn (như đến chùa hoặc thỉnh chư Tăng về nhà làm lễ cầu siêu cho người quá vãng).

    Sau 49 ngày, khi thần thức tìm được cảnh giới tái sanh, thường thì họ sanh về một trong sáu cõi của lục đạo (trời, a tu la, người, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục) và từ đây, sự thọ dụng của họ có khác biệt. Đơn cử như, nếu thần thức sanh vào cõi trời thì họ sẽ không ăn thực phẩm của cõi người vì thực phẩm ở cõi trời thượng vị hơn rất nhiều lần. Hoặc nếu họ đọa vào địa ngục thì cũng không thể thọ dụng được thực phẩm của loài người vì bị hành hạ, phải ăn hòn sắt nóng, uống nước đồng sôi, chịu nhiều đau khổ cùng cực v.v… Duy chỉ có các chúng sanh trong loài quỷ thần thì vẫn có thể “ăn” được những phẩm vật do thân nhân dâng cúng.

    Mặt khác, đối với phong tục người Việt thì việc làm cỗ dâng cúng cha mẹ ông bà tổ tiên còn thể hiện tấm lòng thành của con cháu đối với người đã khuất. Do đó, để tưởng niệm người thân, vào các ngày giỗ hoặc lễ Tết thì mâm cơm cùng hoa trái để cúng kính ông bà và tổ tiên là điều không thể thiếu. Vì chúng ta là người trần mắt thịt nên không biết được thân nhân của mình sau khi chết tái sanh về đâu (chúng sanh trong loài quỷ thần vẫn hưởng được đồ cúng) và dâng cơm nước để thể hiện lòng thành, sự tri ân đối với người đã khuất là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc nên ta cần phải thực hành cúng kính. Nghĩa là, sau 49 ngày khi thần thức đã tái sanh thì chúng ta không cúng cơm nước hàng ngày như trước đây nhưng vào các ngày lễ tiếp theo như tiểu tường, đại tường hay ngày kỵ giỗ hàng năm thì thân nhân cần phải làm mâm cơm cúng giỗ. Có điều không nên quá câu nệ vào hình thức trong việc cúng kính mà luôn tâm niệm “lễ bạc nhưng lòng thành”, tưởng niệm về người đã khuất trong tinh thần tri ân và đền ân.

    Vấn đề tụng kinh Dược Sư để “cầu an” cho mẹ ở cõi âm, theo chúng tôi thì nên chuyển thành để “cầu siêu” cho mẹ sẽ chính xác hơn. Vì các hương linh thọ sanh trong những cảnh giới khổ đau luôn mong mỏi người thân làm những điều phước thiện để hồi hướng cho họ, giúp họ nương nhờ phước báo ấy để mau được siêu sanh. Tụng kinh (không nhất thiết là kinh Dược Sư, Địa Tạng hay Di Đa …), lễ sám, làm phước như cúng dường, bố thí, phóng sanh rồi hồi hướng phước báo cho thân nhân là những việc cần làm. Nếu hương linh đã tái sanh vào những cảnh giới an lành thì việc hồi hướng phước đức cho họ càng làm cho phước báo của họ thêm tăng trưởng.

    Thường thì sau khi người thân mất đi, thân nhân vì quá tiếc thương nên hay nhớ nghĩ về họ và thường mơ thấy người đã khuất. Hầu hết đó chỉ là những giấc mơ bình thường trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta chứ không phải là sự báo mộng của người chết hay khả năng “thấy” được cảnh giới của người chết. Do đó, không nên suy nghĩ nhiều hoặc tìm cách để giải mã những chuyện mộng mị mà tốt nhất là tập trung toàn bộ tâm lực để làm phước hồi hướng cho hương linh. Thiết nghĩ, đó là những việc làm có ý nghĩa thiết thực nhất để cầu nguyện âm siêu dương thái.

    Nguồn: giacngo.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Cúng Ngọ (Cúng Cơm Trưa Cho Chư Phật)
  • Đĩa Bày Hoa Quả Bằng Đồng
  • Các Loại Bàn Thờ Trong Tín Ngưỡng Thờ Cúng Của Người Việt
  • Thổ Công Là Gì? Cách Thờ Cúng Thổ Công Cho Nhà Tăng Phúc Trạch
  • Tín Ngưỡng: Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên (Ông/bà
  • Nghi Thức Cúng Quá Đường (Ăn Cơm Trong Chánh Niệm)

    --- Bài mới hơn ---

  • Vương Hiệu Vị Hành Khiển Và Phán Quan Năm Tân Sửu 2022
  • 2 Bài Văn Khấn Cúng Giao Thừa Ngoài Trời Đêm 30 Tết Năm Canh Tý 2022 Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng Giao Thừa Xuân Tân Sửu 2022
  • Sự Tích Đền Quan Lớn Tuần Tranh (Đền Tranh)
  • Quan Lớn Tuần Tranh: Thần Tích Và Quyền Phép
  • Bài TỲ-KHEO NGUYÊN TẠNG

    Sau khi hành giả vào trong trai đường, nghe thầy Chứng Minh nhịp ba tiếng chuông, chấp tay xá một xá và ngồi xuống, khi nghe một tiếng khánh, mở nắp bình bát ra, cắm chiếc muỗng quay ra phía ngoài vào cơm trong bình bát, sau đó nghe chuông hành giả tay trái nâng bát đưa lên ngang trán, tay phải kiết ấn cam lồ ngang miệng bình bát hay bát cơm để tụng bài cúng dường:

    Cúng dường Thanh Tịnh Pháp Thân Tì Lô Giá Na Phật,

    Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật,

    Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật,

    Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật,

    Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật,

    Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật,

    Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát,

    Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát,

    Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát,

    Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát,

    Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

    Tam đức lục vị, cúng Phật cập Tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường, nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn.

    Dâng cơm lên trán và bắt ấn cúng dường để biểu tỏ lòng tôn kính ba ngôi Tam Bảo. Cúng dường xong để bát xuống, liền xoay hướng muỗng vào bên trong, với ý nghĩa, phần cơm dành cho mình, còn trước khi cúng, quay muỗng ra ngoài là để dâng cúng mười phương Tam Bảo.

    Tay phải kiết ấn cam lồ biểu trưng cho lòng từ bi, như hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm, tay cầm bình cam lồ, tay bắt ấn để ban rải lòng từ bi để cứu khổ chúng sanh. Tay trái kết ấn Tam Sơn biểu trưng cho Giới Định Tuệ, là ba môn vô lậu học, một môn học có thể đưa hành giả đi vào đường giác ngộ.

    Ta thấy trong nghi cách dâng bát cơm cúng dường này đã gói gọn ý nghĩa từ bi và trí tuệ, là hai yếu tố quyết định quan trọng trong đời mình, hạnh phúc hay đau khổ cũng chính từ đây mà có. Từ bi là lòng thương không có điều kiện, và trí tuệ là trí hiểu biết không nhiễm ô, đây là mục đích tối hậu của mọi hành giả, ai thành tựu được pháp hành này, người ấy luôn sống an lạc tự tại dung thông ngay trong hiện tại và mai sau, tất nhiên, con đường dẫn đến giải thoát sinh tử luân hồi đã ngắn dần ở phía trước.

    Tiếp đó, thầy Chứng Minh để một cái chung nhỏ trong lòng bàn tay trái, tay mặt gắp 7 hạt cơm để vào chung, kiết ấn cam lồ và mặc niệm:

    Pháp lực bất tư nghì.

    Từ bi vô chướng ngại.

    Thất liệp biến thập phương.

    Phổ thí châu sa giới.

    Án độ lợi ích tá ha (3 lần)

    Sau đó đại chúng đồng tụng bài biến thực biến thủy chơn ngôn:

    – Nẳng mồ tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra tam bạt ra hồng (3 lần).

    – Nẳng mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô ta bà ha. (3 lần).

    – Án Nga nga nẵng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng (3 lần).

    Thầy Chứng Minh thầm nguyện:

    Nhữ đẳng quỉ thần chúng.

    Ngã kim thí nhữ cúng.

    Thử thực biến thập phương.

    Nhất thiết quỉ thần cộng.

    Án mục lăng tá bà ha. (3 lần).

    Theo sau là Thị Giả tống thực, đem chung nhỏ ra trước bàn ngoài sân để cúng Đại Bàng bằng cách hô to:

    Chim đại bằng cánh vàng, chúng quỉ thần nơi đồng rộng, mẹ con quỉ la sát, cam lồ được no đủ. Án mục đế tóa ha. (7 lần)

    Tiếp theo, Thầy Chứng Minh xướng Tăng Bạt:

    Phật dạy đại chúng, ăn xét năm điều, nghĩ sai nói chuyện, tín thí khó tiêu, đại chúng nghe tiếng khánh, cùng giữ chánh niệm. Nam Mô A Di Đà Phật !

    Tiếp đó, tất cả đại chúng hai tay bưng bát cơm đưa lên trán và thầm đọc:

    Tay bưng bát cơm, nguyện cho chúng sanh, Pháp thí thành tựu, nhận của trời người cúng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra (3 lần)

    Nhận của trời người cúng ở đây là xứng đáng nhận sự cúng dường của người và trời, chỉ cho bậc A La Hán, người đã đoạn tận tam độc tham, sân, si và vô minh phiền não. Trong khi Cúng Quá Đường ý niệm này khởi lên, mong cho chính bản thân mình và hết thảy chúng sinh sớm chứng đắc A La Hán và thoát ly sinh tử luân hồi khổ đau.

    Nghe tiếng khánh để bát cơm xuống và múc ít cơm ra chén để lưu phạn. Nghe chuông, bưng chén cơm để trước ngực và thầm đọc:

    Nay đem phước đã tu, ban cho tất cả quỉ, ăn rồi hết đau khổ, xả thân về cõi tịnh, hưởng phước của Bồ Tát, rộng lớn như hư không, quả tốt như vậy đó, tiếp tục lớn thêm mãi. Án độ lợi ích tá ha. (3 lần)

    Lưu phạn là san sẻ phần cơm của mình cho chúng quỉ thần và cho người ăn sau mình; ý nghĩa bố thí, mở rộng tình thương của mình dành cho người bất hạnh, không đủ cơm ăn áo mặc, ý tưởng này giúp cho hành giả nuôi dưỡng từ tâm ngay trong lúc mình ăn.

    Lưu phạn xong, nghe hai tiếng chuông đại chúng bắt đầu dùng cơm, trước khi ăn, hành giả phải khởi niệm Tam Đề và Ngũ Quán, đây là một nghi cách đẹp và có ý nghĩa của nhà Phật mà hành giả không phải chỉ áp dụng trong khi Cúng Quá Đường mà có thể áp dụng trong tất cả các bữa ăn khác của mình trong đời sống.

    Tam Đề là ăn ba muỗng cơm lạt đầu tiên, muỗng thứ nhất: thầm đọc, nguyện chấm dứt tất cả những điều ác; muỗng thứ hai: nguyện làm tất cả những việc lành; muỗng thứ ba: nguyện giúp đỡ tất cả chúng sanh.

    Ý nghĩa Tam Đề này là nói rõ mục đích tối hậu của hành giả tự độ mình là dứt ác, làm lành, đạt đến giải thoát và thực thi hạnh độ tha là giúp đỡ người khác rõ biết đường đi lối về của nhân quả nghiệp báo, ra khỏi tà kiến để chấm dứt đau khổ trong đời sống để rồi cuối cùng cũng đạt đến giác ngộ giải thoát như bản thân mình.

    Tiếp đến bắt đầu ăn cơm phải tưởng Ngũ Quán:

    – Thứ nhứt. Con xin biết ơn người đã phát tâm cúng dường, sửa soạn những thức ăn này;

    – Thứ hai. Con nguyện nổ lực tu học, trau dồi giới hạnh để xứng đáng thọ dụng những thức ăn này;

    – Thứ ba: Trong khi ăn, con nguyện từ bỏ lòng tham dục, tham ăn;

    – Thứ tư: Con quán chiếu những thức ăn này như những vị thuốc, để cho thân thể con khỏi bệnh tật;

    – Thứ năm: Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ mà con xin thọ dụng những thức ăn này.

    Trong suốt thời gian dùng cơm, hành giả luôn luôn giữ chánh niệm với năm phép quán trên.

    Ăn cơm xong, lấy tăm xỉa răng và thầm nguyện:

    Nhấm tăm dương chi, nên nguyện chúng sinh, tâm tính thuần hóa, cắn nát phiền não. Án a mộ dà, di ma lệ, nhĩ phạ ca ra, tăng thâu đà nễ, bát đầu ma, câu ma ra, nhĩ phạ tăng thâu đà da, đà ra đà ra, tố di ma lê, sa phạ ha (3 lần),

    Ngày xưa tăm dùng trong chùa thường được làm bằng cành dương nhỏ, nên gọi là tăm dương. Ăn xong xỉa răng là thời điểm sau cùng của bữa ăn; thân vừa no đủ và tâm tư thư thái, hoan hỷ, không có chút lo lắng phiền não, nên cũng mong cho người khác cũng giống như chính mình.

    Sau đó Thầy Chứng Minh nhịp một tiếng chuông, đại chúng cùng uống nước, hai tay bưng bát nước cung kính trước ngực và thầm nguyện:

    Phật nhìn một bát nước, có tám vạn tư vi trùng, nếu không trì chú này, như ăn thịt chúng sanh. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha (3 lần).

    Qua Phật nhãn, Đức Thế Tôn thấy rõ có vô số vi trùng trong một bát nước, một cái thấy mà mãi đến hơn 2,000 năm sau mới có người phát hiện, đó là vào hậu bán thế kỷ 19, nhà sinh vật học người Pháp Louis Pasteur (1822-1895) khám ra những vi khuẩn gây bệnh qua kính hiển vi. Cũng chính vì bài kệ chú uống nước có tính siêu khoa học này mà nhà bác học vĩ đại nhất của thế kỷ thứ 20, ông Albert Einstein (1879-1955) đã không ngần ngại khi tuyên bố “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học.”

    Uống nước xong, nghe chuông, đại chúng cùng tụng bài Kiết Trai:

    Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề, cu chi nẫm, đát điệt tha. Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha (7 lần).

    Gọi là bố thí, tất được ích lợi; vui thích bố thí, sau được an vui. Thọ thực hoàn tất, nên nguyện chúng sanh, việc làm hoàn mãn, đầy đủ Phật pháp.

    Theo sau là nghi thức niệm Phật và Kinh Hành, đi từ trai đường lên Chánh Điện, hành giả chấp tay nghiêm trang và từng bước chân kinh hành, miệng niệm Phật trong chánh niệm, vào điện Phật, lễ Tứ Thánh, quỳ xuống tụng bài Sám Nguyện và hồi hướng công đức, đó là hoàn mãn thời Cúng Quá Đường!

    (Bài này đã được đăng trên trang Facebook của Duyên Giác Ngộ ngày 10 tháng 7, 2022)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cúng Quá Đường (Bài Viết Của Tt Thích Nguyên Tạng)
  • 10 Bài Phục Nguyện Cúng Quá Đường
  • Bài Cúng Quan Âm Bồ Tát
  • Nghi Thức Cúng Thí Thực
  • Quy Y Tam Bảo Là Gì, Ý Nghĩa, Lợi Ích Của Quy Y Tam Bảo
  • Văn Khấn An Vị Bát Hương Và Nghi Thức Cúng Lễ Chuẩn Lễ

    --- Bài mới hơn ---

  • Sắm Lễ Cúng Bốc Bát Hương Thế Nào?
  • Văn Khấn Ông Công, Ông Táo
  • Cúng Đưa Ông Táo Về Trời Lúc Mấy Giờ, Ngày Nào Đẹp?
  • Cách Cúng Đưa Ông Táo Về Trời Ngày 23 Tháng Chạp Đúng Thủ Tục
  • Đưa Ông Táo Về Trời Ngày 23 Tháng Chạp Cùng Ý Nghĩa Sâu Sắc
  • Lễ an vị bát hương được hiểu đơn giản là một nghi thức đặt bát hương mới cho nhà mới hoặc cho nhà thờ họ mới. Trong nghi thức này thì văn khấn an vị bát hương được xem là một yếu tố quan trọng. Vậy bài văn khấn này như thế nào? Mời bạn theo dõi bài chia sẻ sau đây của xoso88.net

    Trước khi tìm hiểu bài văn khấn an vị bát hương thì chúng ta cùng tìm hiểu một chút về lễ an vị bát hương. Theo quan niệm của các chuyên gia phong thủy thì lễ an vị bát hương hương còn được gọi với cái tên là bái bạch Thánh ứng lô Hương. Tức là đây là một hình thức xin đặt bát Hương lên bàn thờ mới. Nghi thức cúng lễ này thường được áp dụng khi lập bát hương hoặc khi lập bàn thờ mới.

    Những lễ vật cần chuẩn bị để thực hiện lễ an vị bát hương

    • Một con gà luộc: lưu ý phải là gà trống thiến
    • Một đĩa xôi trắng nhỏ
    • Một chai rượu trắng
    • Một đĩa hoa quả tròn có đủ 5 loại trái cây
    • Một họ hoa cúc vàng lưu ý số hoa trong lọ phải là số lẻ
    • Một đĩa trầu cau gồm có 3 lá trầu, 3 quả cau
    • Tiền vàng thì chuẩn bị 3 đinh tiền, 1 đinh vàng
    • Vàng mã gồm có: một con ngựa đỏ cùng mũ, áo kiếm đầy đủ
    • Cùng các đồ cũng lễ khác tùy theo lòng thành của gia chủ.

    Sau khi chuẩn bị xong đầy đủ lễ vật mới thực hiện các nghi thức tiếp theo như đọc văn khấn an vị bát hương.

    Theo cuốn sách văn khấn cổ truyền Việt Nam do bộ Văn hóa thông tin xuất bản thì bài văn khấn an vị bát hương như sau:

    Trước khi đọc bài văn khấn thì gia chủ nên dùng một bát nước sạch có ngũ vị hương, trì chú Thanh Tịnh Pháp Án Lam Xa ha cùng Cam Lồ Thủy để tẩy uế sau đó mới khấn:

    ” Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha . Án tô rô tô rô , bát ra tô rô , bát ra tô rô, sa bà ha ” (7 hay 9 lần)

    .

    Sau đó dùng nước và khăn sạch lau bát hương và đọc án lam xóa ha (7-21 lần)

    Dùng chỉ ngũ sắc kết lại thành dây . Ngũ sắc là năm màu của ngũ hành : vàng , trắng , đen (hay xanh da trời) , xanh lá cây , và đỏ . Dùng tẩy uế rồi vừa kết chỉ vừa trì Lục tự Đại Minh Thần Chú Án Ma Ni Bát Di Hồng .

    Sau khi bốc bát Hương lên bàn thờ , gia chủ thắp 3 nén hương cắm vào bát hương rồi bái bạch thỉnh Thánh ứng lô Hương như sau :

    ” Con kính lạy Việt Nam Hoàng thiên hậu thổ

    Con kính lạy,Thổ Công, thổ địa tôn thần, sơn thần chúa đất, bản gia Đông trù tư mệnh táo phủ thần quân – Thổ địa long mạch tôn thần- Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần. thần tài tiền vị.

    Hôm nay ngày…tháng… Năm …… Gia chủ con là chúng tôi năm ………… hành canh … tuổi, thê ………….. sinh năm ………….. hành canh … tuổi, nam tử ….. sinh năm …. hành canh … tuổi, nữ tử…….ngụ tại ngôi gia số ……………………… hôm nay ngày lành tháng tốt đệ tử xin lập bát hương phụng thờ chư vị tôn thần hoàng thiên hậu thổ, thổ công chúa đất , thần tài , ngũ phương chi thần vị tiền,bản đông trù tư mệnh táo phủ thần quân, bản gia thổ địa long mạch tôn thần, bản gia ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần

    Tâm hương tấu thỉnh chư vị giáng lô nhang chứng tâm cho gia trung đệ tử, nhất một lòng, trung một dạ hương khói phụng thờ chư vị tôn thần, nguyện chư vị giáng phúc trừ tai độ âm độ dương, cho gia trung đệ tử “

    Lời thỉnh Thánh ứng lô Hương:

    ” Kính thỉnh ngài ngũ phương thổ công , thổ địa tôn thần ,sơn thần chúa đất thần tài tiền vị, bản gia Đông trù tư mệnh táo phủ thần quân – Thổ địa long mạch tôn thần- Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần , lai giám lô nhang (3 lần) “

    Sau khi đọc bài khấn xong thì thực hiện đọc Chú đại bi

    Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần)

    Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.

    Nam-mô hắc ra đát na, đá ra dạ da.

    Nam-mô a rị da, bà lô Yết-đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da.

    Ma-ha-tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da.

    Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.

    Nam-mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da bà lô Yết-đế, thất Phật ra lăng đà bà.

    Nam-mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha.

    Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, câu lô câu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà la, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra.

    Ma mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta-bà ha, tất đà dạ ta-bà ha.

    Ma ha tất đà dạ ta-bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta-bà ha.

    Na ra cẩn trì ta-bà ha. Ma ra na ra ta-bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta-bà ha. Ta-bà ma ha, a tất đà dạ ta-bà ha.

    Giả kiết ra a tất đà dạ ta-bà ha.

    Ba đà ma kiết tất đà dạ ta-bà ha.

    Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ ta-bà ha.

    Ma bà rị thắng yết ra dạ, ta-bà ha.

    Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da.

    Nam-mô a rị da bà lô Yết-đế thước bàn ra dạ, ta-bà ha.

    Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ ta-bà ha. (3 lần)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn An Vị Bát Hương Thần Tài Thổ Địa
  • Văn Khấn An Vị Bát Hương Gia Tiên
  • Bài Khấn An Vị Bát Hương Gia Tiên
  • Bài Khấn An Vị Bát Hương Thần Tài
  • Bài Khấn An Vị Bát Hương
  • Cúng Cơm Vong, Hương Linh Có Thọ Hưởng Được Không?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Tại Đền Cô Sáu Lục Cung
  • Thăm Mộ Cô Sáu Côn Đảo
  • Bài Văn Khấn Cô Sáu Côn Đảo Và Chuẩn Bị Lễ Viếng Mộ Cô Sáu
  • Cúng Chúng Sinh Như Thế Nào, Vào Giờ Ngày Tháng Nào ?
  • Đừng Bỏ Qua Bài Viết Này Nếu Không Muốn Nguy Hiểm Đến Cuộc Sống Và Ngôi Nhà
  • Sau khi một người đã mất, vong hồn của họ có dùng được đồ ăn do người thân cúng hay không? Nhiều người cho rằng cần phải cúng vì họ dùng được nhưng cũng có ý kiến ngược lại.

    Cúng cơm vong, hương linh có thọ hưởng được không?

    Với người đã mất nếu làm mâm cơm cúng, họ có thọ hưởng được hay không?

    Sau thời gian hơn tám giờ hộ niệm, người ta kiểm tra hơi ấm để đoán định khuynh hướng tái sanh của người mất, việc này chỉ có tính tương đối mà thôi. Bởi không ai có thể biết việc một người sau khi mất tái sanh vào đâu, trừ tuệ giác của Thế Tôn và các bậc Thánh A-la-hán.

    Tái sanh là sau khi chết tùy theo nghiệp của mình mà sanh vào một cảnh giới nào đó trong Tam giới, Lục đạo (trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục).

    Một người khi mất đi, thần thức của họ (thân trung ấm) hầu hết trải qua giai đoạn trung gian thường là khoảng 49 ngày để tìm cảnh giới tái sanh.

    Việc một số người trong Ban hộ niệm nói “được sinh vào cõi lành” chỉ là dự đoán xu hướng tái sanh vào cõi trời hoặc người, hoàn toàn không mang ý nghĩa ngay lúc đó thần thức đã tái sanh vào cõi lành.

    Vì thế, khi chưa tái sanh (còn ở dạng thân trung ấm) thì hàng ngày thân nhân dâng cúng cơm nước thần thức đều ăn uống được (dưới dạng hưởng mùi vị – xúc thực). Khi đã tái sanh rồi, chỉ có người nào tái sanh vào loài quỷ thần mới thọ dụng các thực phẩm do loài người dâng cúng mà thôi.

    Có còn cúng cơm cho hương linh sau ngày chung thất?

    Trao đổi về điều này, thầy Thích Phước Thái cho rằng: “Theo tinh thần của kinh Địa Tạng và quan điểm Phật giáo Bắc truyền, một người khi mất đi, thần thức của họ (thân trung ấm) hầu hết đều phải trải qua giai đoạn trung gian thường là khoảng 49 ngày để tìm cảnh giới tái sanh.

    Cúng cơm vong, hương linh có thọ hưởng được không?

    Trong thời gian thọ thân trung ấm, hương linh vẫn thọ dụng được tất cả những vật phẩm mà thân nhân dâng cúng (thường là cơm, nước, hương, hoa) nhưng chỉ hưởng mùi vị của thức ăn mà thôi. Vì thế, thân trung ấm còn được gọi là hương ấm (thọ dụng mùi hương của thực phẩm).

    Cho nên trong vòng 49 ngày, thân nhân cần dâng cúng cơm nước hàng ngày cho người chết để họ được no đủ, đặc biệt vào những ngày tuần thất thường cúng kính trang trọng hơn (như đến chùa hoặc thỉnh chư Tăng về nhà làm lễ cầu siêu cho người quá vãng).

    Chúng ta là người trần mắt thịt nên không thể biết được thân nhân sau khi chết tái sanh về đâu. Trong khi loài quỷ thần vẫn hưởng được đồ cúng vì thế việc dâng cơm nước vẫn nên thực hiện.

    Sau 49 ngày, khi thần thức tìm được cảnh giới tái sanh, thường thì họ sanh về một trong sáu cõi của lục đạo (trời, a tu la, người, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục) và từ đây, sự thọ dụng của họ có khác biệt. Đơn cử như, nếu thần thức sanh vào cõi trời thì họ sẽ không ăn thực phẩm của cõi người vì thực phẩm ở cõi trời thượng vị hơn rất nhiều lần. Hoặc nếu họ đọa vào địa ngục thì cũng không thể thọ dụng được thực phẩm của loài người vì bị hành hạ, phải ăn hòn sắt nóng, uống nước đồng sôi, chịu nhiều đau khổ cùng cực v.v… Duy chỉ có các chúng sanh trong loài quỷ thần thì vẫn có thể “ăn” được những phẩm vật do thân nhân dâng cúng.

    Mặt khác, đối với phong tục người Việt thì việc làm cỗ dâng cúng cha mẹ ông bà tổ tiên còn thể hiện tấm lòng thành của con cháu đối với người đã khuất. Do đó, để tưởng niệm người thân, vào các ngày giỗ hoặc lễ Tết thì mâm cơm cùng hoa trái để cúng kính ông bà và tổ tiên là điều không thể thiếu. Vì chúng ta là người trần mắt thịt nên không biết được thân nhân của mình sau khi chết tái sanh về đâu (chúng sanh trong loài quỷ thần vẫn hưởng được đồ cúng) và dâng cơm nước để thể hiện lòng thành, sự tri ân đối với người đã khuất là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc nên ta cần phải thực hành cúng kính. Nghĩa là, sau 49 ngày khi thần thức đã tái sanh thì chúng ta không cúng cơm nước hàng ngày như trước đây nhưng vào các ngày lễ tiếp theo như tiểu tường, đại tường hay ngày kỵ giỗ hàng năm thì thân nhân cần phải làm mâm cơm cúng giỗ. Có điều không nên quá câu nệ vào hình thức trong việc cúng kính mà luôn tâm niệm “lễ bạc nhưng lòng thành”, tưởng niệm về người đã khuất trong tinh thần tri ân và đền ân.

    Vấn đề tụng kinh Dược Sư để “cầu an” cho mẹ ở cõi âm, theo chúng tôi thì nên chuyển thành để “cầu siêu” cho mẹ sẽ chính xác hơn. Vì các hương linh thọ sanh trong những cảnh giới khổ đau luôn mong mỏi người thân làm những điều phước thiện để hồi hướng cho họ, giúp họ nương nhờ phước báo ấy để mau được siêu sanh. Tụng kinh (không nhất thiết là kinh Dược Sư, Địa Tạng hay Di Đa…), lễ sám, làm phước như cúng dường, bố thí, phóng sanh rồi hồi hướng phước báo cho thân nhân là những việc cần làm. Nếu hương linh đã tái sanh vào những cảnh giới an lành thì việc hồi hướng phước đức cho họ càng làm cho phước báo của họ thêm tăng trưởng.

    Thường thì sau khi người thân mất đi, thân nhân vì quá tiếc thương nên hay nhớ nghĩ về họ và thường mơ thấy người đã khuất. Hầu hết đó chỉ là những giấc mơ bình thường trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta chứ không phải là sự báo mộng của người chết hay khả năng “thấy” được cảnh giới của người chết. Do đó, không nên suy nghĩ nhiều hoặc tìm cách để giải mã những chuyện mộng mị mà tốt nhất là tập trung toàn bộ tâm lực để làm phước hồi hướng cho hương linh. Thiết nghĩ, đó là những việc làm có ý nghĩa thiết thực nhất để cầu nguyện âm siêu dương thái.

    Cách làm mâm cơm cúng vong như thế nào cho đúng? Khi cúng vong, trên mâm cơm cúng thường thấy có ba chén cơm để ngang nhau. Chén cơm chính giữa thì để một đôi đũa, còn 2 chén cơm 2 bên, thì chỉ để có 2 chiếc đũa. Vậy điều này có ý nghĩa gì ?

    Nghi lễ cúng cơm này do dân gian từ xưa truyền lại. Đây là một tập tục có từ ngàn xưa.

    Khi cúng để 3 chén cơm, một chén chính giữa phải đầy cơm và 2 chén 2 bên thì lưng. Chén cơm và đôi đủa ở giữa là để cúng cho hương linh mới chết, còn 2 chén và 2 chiếc đũa 2 bên là để cúng cho 2 bên vai giác, tức là tả mạng thần quang và hữu mạng thần quang.

    Thường là để cúng 3 chén, 6 chén hoặc 9 chén, chớ để 5 chén là sai. Lý do để 2 chiếc đủa 2 bên, ý nói rằng, ma cũ thường ăn hiếp ma mới, nên chỉ để một chiếc mà không để nguyên đôi. Nếu để nguyên đôi, thì hương linh mới chết đó khó có thể ăn được trọn vẹn, mà bị các cô hồn giành giựt ăn hết vậy.

    Cách thức cúng cơm này không phải là nghi thức của Phật giáo, mà làm theo tục lệ tín ngưỡng nhân gian từ xưa lưu truyền lại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Đổ Mái Nhà, Cất Nóc
  • Bài Cúng Văn Khấn Cúng Cất Nóc Nhà Đúng Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng Khi Đi Chùa
  • Bài Cúng Chuyển Bàn Thờ Tổ Tiên Chính Xác Nhất
  • Bài Văn Cúng Đưa Ông Táo Về Trời 23 Tháng Chạp Chuẩn Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100