Top #10 Xem Nhiều Nhất Phật Thánh Mới Nhất 8/2022 # Top Like | Herodota.com

Kinh Nhật Tụng: Vạn Phật Thánh Thành

--- Bài mới hơn ---

  • Thượng Đế & Phật Mẫu
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài – Cecrs
  • Vài Nét Về Chữ Hiếu Trong Đạo Cao Đài Qua Quyển Kinh Thiên Đạo Và Thế Đạo
  • Ý Nghĩa Loài Hoa Mẫu Đơn
  • Địa Mẫu Chân Kinh (Kỳ 1)
  • Publisher Description

    Quyển cẩm nang này gồm có nghi thức tụng kinh  sáng và  tối  hàng ngày cũng như các nghi lễ đặc biệt trong các tu viện  Phật giáo Đại thừa. Phần văn bản tiếng Trung Hoa của các nghi lễ được đi kèm với tiếng Việt và tiếng Anh cũng như phiên âm theo pinyin để phát âm.

     

    Buổi tụng kinh sáng, theo truyền thống từ 4 đến 5 giờ sáng mỗi sáng sớm, bao gồm thần chú Lăng Nghiêm (từ Kinh Lăng Nghiêm),  Chú Đại Bi cùng các thần chú khác ngắn hơn, Tâm Kinh, và Mười Đại Nguyện của Đức Bồ Tát Phổ Hiền từ Kinh Hoa Nghiêm.

     

    Lễ buổi tối theo truyền thống từ 6 đến 7 giờ tối và luân phiên giữa Kinh A Di Đà và Lễ Sám Hối Tám Mươi Tám Vị Phật.

     

    Ngoài ra, quyển cẩm nang này còn có các nghi lễ phóng sanh, tắm Phật, Lễ  Đại Bi Sám cùng các nghi lễ khác. Cẩm nang này cũng có Kinh Vu Lan, là kinh về thực hành hiếu hạnh.

    This handbook contains the liturgy for daily morning and evening recitation as well as for special ceremonies in Mahayana Buddhist monasteries. The text for these ceremonies is in Vietnamese and is accompanied by Pinyin Romanization and English translation. Morning ceremony, which traditionally last from 4 to 5 am every morning, consists of the Surangama Mantra (from the Surangama Sutra), the Great Compassion Mantra and other shorter mantras, the Heart Sutra, and the Ten Great Vows of Samantabhadra (Universal Worthy) Bodhisattva taken from the Avatamsaka (Flower Adornment) Sutra. Evening ceremony traditionally lasts between 6 to 7 pm and alternates between the Amitabha Sutra and the Eighty-Eight Buddha Repentance Ceremony. In addition, the handbook contains ceremonies for liberating life, bathing the Buddha, the Great Compassion Repentance Ceremony, among others. It also includes the Ullambana Sutra, the sutra on the practice of filial piety.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Ý Các Món Ngon Thắp Hương Rằm Tháng Giêng Vừa Thơm Ngon Vừa Đơn Giản
  • Các Món Ngon Ngày Tết Dễ Làm 3 Miền Bắc, Trung, Nam
  • Các Món Ngon Ngày Tết Dễ Làm Của 3 Miền Bắc Trung Nam
  • Các Món Ăn Ngày Tết Tiêu Biểu Của Ba Miền Việt Nam – Embassy Of Vietnam In Seoul, Korea – 베트남 대사관
  • Danh Sách Những Vật Dụng Cần Phải Có Khi Về Nhà Mới
  • Thỉnh Phật Thánh Thần Tiểu Khoa Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngày Nào Cũng Thắp Hương Cúng Phật Hay Chỉ Ngày Rằm?
  • Câu Khấn Nguyện Trước Khi Ăn
  • Năm Phép Quán Trước Khi Ăn
  • Kinh Dược Sư — Lược Ý Đốt Đèn Cúng Phật Trong Nghi Thức Nhiên…
  • Cách Nấu 4 Loại Xôi Chè Đơn Giản Và Dễ Làm Dâng Mâm Cúng Ngày Mùng Một ~ Ẩm Thực Thông Thái
  • ( Đây là khoa cúng tuần tiết tiểu khoa. Phần chữ nghiêng tùy thỉnh từng nơi, từng nhà, từng việc. Nên nhấn vào dòng trên TẢI VỀ để xem và in ra giấy).

    Đàn lễ bày biện đã xong, Đệ tử Trai chủ, các Phật tử quỳ lễ cung kính nghênh đón chư Phật, Bồ tát, Thánh thần 5 lễ.

    ooo

    Nén hương Trầm vừa mới thắp lên – Cả Pháp giới ngào ngạt Hương thơm

    Hội biển Phật, Thánh từ xa thấy – Đàn tràng kết Đại mây tốt lành

    Chư Phật, Bồ tát hiển hiện thân – Chúng con Chân thành Đại Tri ân.

    Nam mô Hương Vân cái Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    Sắc thân Phật tốt đẹp vô tận – Trí tuệ cao sâu rộng vô biên

    Thế gian không dám sánh, nghĩ bàn – Nên Chúng con qui y, đỉnh lễ.

    Chư Phật 10 phương tận Hư không – Triệu ức Thân phân hiển hiện cùng.

    Biến hóa vạn sắc mầu Ngọc bích – Thân hình vàng đỏ tía Trang nghiêm.

    Gió mây Từ bi soi sáng rực – Mưa Pháp khắp nơi, Khí tốt lành

    Vọng xa phương Tây lời lễ thỉnh – Chư Phật, Bồ tát chứng lòng thành.

    Phật Thích ca Mâu ni – (Đại chúng hòa) Đại Thánh Thày dạy 3 cõi Trời, Người.

    000

    Nhất tâm đỉnh lễ Nam mô Tất cả chư Phật, Tôn pháp, Hiền Thánh tăng

    Tam bảo Vô lượng ở khắp 10 phương, 3 thời. (1 lễ)

    Nhất tâm kính lễ 2 vị vua trời Phạm vương, Đế thích

    cùng với 8 Bộ Trời, Rồng quy y, tham học Tam bảo, hộ trì Chính pháp. (1 lễ)

    Tất cả Cung kính Tín lễ Tam bảo. (1 lễ)

    000

    Theo đó: Duyên Pháp đã khởi sáng soi, Tâm ý Chúng con chân thành; kính mong, đón nghênh chư Phật, Bồ tát, Thánh thần hiển hiện Đàn tràng Thanh tịnh. Với các nghi thức cùng với sức mạnh tụng niệm Thần chú, phép nước Thanh tịnh sái tẩy Đàn tràng. 1 câu Thần chú, 1 giọt nước trong là 10 phương đều thanh tịnh. Phật, Thánh, Chúng con thì đều ở trong kho tàng Giáo pháp Như lai. Nay Chúng con xin tụng niệm Thần chú Bí mật sái tịnh Đàn tràng.

    (Niệm chú Sái tịnh Tam nghiệp, Tịnh Pháp giới, Ngũ bộ, Đại bi sái tẩy Đàn tràng)

    Cúi đầu quy y Tô tất đế – Đầu mặt đỉnh lễ Phật Thế tôn

    Chúng con ca tụng đức Chuẩn đề – Nguyện đấng Từ bi thương phù hộ.

    Nam mô Sap ta Nam – Sam dac Sam But đa – Cô ti nam. Tat da tha:

    Ôm. Ca lê Cu lê Cun đê. Sva ha. (3 lần)

    (Nam mô Tát đa nẩm Tam miệu Tam Bồ đề, Cu chi nẩm, Ðát điệt tha:

    Án. Chiết lệ Chủ lệ Chuẩn đề. Sa bà ha)

    Nam mô Thanh lương Địa Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    Chúng con cung kính nghênh đón chư Phật, Bồ tát, Thánh thần ở khắp 10 phương bằng 5 thứ Hương trong Tâm. Hương tâm thơm ngát theo gió bay đến tất cả các cõi làm cảm động Phật, Thánh, Thần cho nên tất cả đều nghe thấy biết. Do mây Kinh pháp và gốc tin sâu nên chỉ 1 niệm là tất cả Phật, Bồ tát, Thánh thần đều cùng hiển hiện. Giờ Chúng con xin được tụng niệm Mật chú Hương tâm.

    Hương Giới, hương Định cùng hương Tuệ

    Hương biết Giải thoát, Hương Giải thoát

    Kết thành Đại Đài mây thơm ngát – Khắp Pháp giới rực rỡ sáng soi

    Cúng dàng 10 phương, 3 thời Phật – Tôn pháp, Bồ tát, các Thánh thần.

    ooo

    Đỉnh báu Hương trầm vừa mới đốt – Chiên đàn, Trầm quý ngát hương thơm

    Khói bay lan tỏa hoa Sen động – Chư Phật, Bồ tát xuống cõi Trời

    La hán núi Thanh lương – Nhận Trời, Người dâng cúng. (họa)

    Nam mô Hương Cúng dàng Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    Kính nghe: Pháp thân của Phật chân thực do đắc vô lượng vô biên Công đức đến từ Hư không. Trước là sức mạnh tụng niệm Thần chú sái tẩy Đàn tràng; sau là Hương thơm tỏa khắp cung kính cúng dàng Phật thánh, Bồ tát, Tôn thần. Hôm nay tiết Trời mùa… Chúng con xin được tiến lễ tiết tuần…, nguyện cầu giáng lâm để cho Chúng con cùng được tri ân Phật thánh, Thiên địa, Nhật nguyệt, Quốc gia Xã hội, Đất nước, Thày dạy, Mẹ cha, Tín thí và để cứu độ giải thoát Chúng sinh, Vong linh siêu thoát. Cũng để Chúng con đều cùng Sám hối khiến cho Tội lỗi tiêu trừ, Phúc đức tăng thêm, cầu cho gia đình An khang thọ lạc và để Giải trừ tất cả Nghiệp chướng, Tội chướng, Oán thù Oan khiên, bệnh tật tai ương, lửa cháy lũ lụt, lao ngục tù tội, 3 tai 8 nạn, Vô minh Phiền não; để mà vĩnh viễn lìa xa khổ ách, thường được Cát tường; tu tập tinh tiến, chứng đạo Bồ đề, sinh cõi Cực lạc. Phật dạy tụng niệm Thần chú phụng thỉnh:

    Nam mô Bu pu Tê ri – Ca ri Ta ri – Ta tha ga ta da. (3 lần)

    (Nam mô Bộ bộ đế rị, Già đa rị, đát đá nga đá gia)

    ooo

    Đệ tử, Trai chủ Tâm thành dâng Hương thỉnh lễ.

    Trời cao thơm ngát hương Giới, Định – Tâm thành 1 niệm như Lư hương.

    Chỉ trong khoảnh khắc tỏa 10 phương – Là hết bệnh nạn, tan Tai chướng.

    Nam mô Hương Cúng dàng Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    Kính cẩn dâng hương Chí tâm Lễ thỉnh: Nam mô tất cả Phật đà gia tôn; Đạt ma gia tạng; Tăng già gia chúng tọa trên Đài cao vạn hoa nghìn báu tỏa ánh Quang minh suốt cả 3 thời: Thanh tịnh Pháp thân Tỳ lư Giá na Phật, Viên mãn Báo thân Lô Xá na Phật, Thiên bách ức Hóa thân Thích ca Mâu ni Phật, Đại từ Đại bi Tiếp dẫn Đạo sư A Di đà Phật, Tiêu tai Diên thọ Dược sư Lưu ly Quang vương Phật, Đương lai Giáo chủ Di Lặc tôn Phật, Vô lượng Ức kiếp Thiên Quang vương Tĩnh trụ Phật, 7 đức cổ Phật, 7 đức Phật Thế tôn, 7 đức Phật Dược sư, 35 đức Phật thời Hiện tại, 53 đức Phật thời Quá khứ; tất cả chư Phật kiếp Trang nghiêm, kiếp Hiện tại, kiếp Tinh tú; chư Phật 3 thời ở khắp 5 phương, 10 phương Pháp giới tận cùng Hư không.

    Kính nguyện: Chư Phật Từ bi thương xót Chúng sinh Quang giáng Đàn tràng thụ nhận cúng dàng, chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    ooo

    ĐƯỜNG KHO PHÁP 3 THỪA:

    Chí tâm Lễ thỉnh: Nam mô 12 bộ Khế kinh Bí điển ở cõi Thiên trúc; tất cả kho tàng Đạt ma gia Tôn pháp: Kinh Tu đà la, Luật Tỳ Ni da, Luận A Tỳ đàm, Thần chú Tổng trì Đà la ni, Trí tuệ Bát nhã Ba la Mật đa ở khắp 10 phương, 3 thời.

    Kính nguyện: Kho báu 3 Thừa, các phẩm Tôn kinh tụ ánh Quang minh vàng tía Diệu kỳ sáng soi các cõi 10 phương, Quang giáng Đàn tràng thụ nhận cúng dàng, chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    ooo

    ĐƯỜNG THỈNH CHƯ BỒ TÁT:

    Chí tâm Lễ thỉnh: Nhập vào biển nguyện Từ bi cùng rừng Công đức vô lượng Trang nghiêm, Nam mô: Di Lặc Bồ tát, Văn thù Sư lợi Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Đại Thế chí Bồ tát, Quán Thế âm Bồ tát, Chuẩn Đề vương Bồ tát, Địa Tạng vương Bồ tát, Nhật Cung Bồ tát, Nguyệt Cung Bồ tát, Dược vương Bồ tát, Dược thượng Bồ tát, Kim Cương thủ Bồ tát, Bảo Đàn hoa Bồ tát, Vô Tận ý Bồ tát, Hư Không tạng Bồ tát, Tiêu Tai chướng Bồ tát, Phả quang Giải Oan kết Bồ tát, Trường Thọ Bồ tát, Diên Thọ Bồ tát, Tổng Trì vương Bồ tát, tất cả các Đại Bồ tát, biển cả Thanh tịnh Bồ tát ở khắp 10 phương, 3 thời.

    Kính nguyện: Chư tôn Bồ tát không quyên thề nguyện tỏa ánh Hào quang giáng hạ Đàn tràng thụ nhận cúng dàng, chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    ooo

    ĐƯỜNG THỈNH THANH VĂN; HIỀN THÁNH TĂNG:

    Chí tâm Lễ thỉnh chư vị Tôn giả Đại A La hán: Ma ha Ca diếp, A Nan đà, Ưu Ba ly, Ca chiên diên, Tân đầu Lư phả La đỏa, Phú Lâu na Di đa na Ni tử, Tu Bồ đề, Xá Lợi phất, Đại mục Kiền liên, Câu Hy la, La Hầu la, A Na luật, Kiều Trần như, Tu Đạt đa cùng với tất cả Duyên giác Độc giác Bích chi Phật, A La hán Thanh văn 5 Quả 4 Hướng, các Thánh tăng đắc Đạo và các Trời được cúng dàng; Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp lôi, Pháp điện, Tứ pháp Việt nam.

    Kính nguyện: Ân đức rộng sâu, Uy linh diệu kỳ, tỏa ánh Hào quang giáng hạ Đàn tràng thụ nhận cúng dàng, chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    ooo

    ĐƯỜNG THỈNH CÁC ĐỜI SƯ TỔ, TĂNG CHÚNG:

    Chí tâm Lễ thỉnh: Đại Sư tổ Bồ đề Đạt ma, Tuệ năng Tào khê; 3 Đại Pháp sư: Từ Đạo Hạnh, Không Lộ, Giác Hải; 3 tổ Trúc lâm: Tĩnh Tuệ Đầu đà, Pháp loa, Huyền Quang… Thuyền sư nhục thân Bồ tát: Cưu ma La thập, Huyền Trang, Mã Minh, Long thụ, Tuệ Viễn… cùng với 28 đời Sư tổ Tây thiên, 6 đời Đông độ, tất cả Pháp sư 3 Tạng, các Đại Pháp sư, các Đại Sơ tổ, các Đại Sư tổ; các đời Sư tổ: Tỳ ni Đa Lưu chi, Vô ngôn Thông, Lâm Tế, Tào Động, Thảo Đường; Thuyền sư Tông sư truyền Giới truyền Giáo các Tông các phái Tăng già gia ở khắp Việt nam, Đông độ, Tây thiên, 10 phương, 3 thời, các đời Sư tổ chùa:…

    Kính nguyện: Tất cả Pháp sư 3 Tạng, các Đại Pháp sư, các vị Sư tổ giáng hạ Đàn tràng thụ nhận cúng dàng, Chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    ooo

    ĐƯỜNG THỈNH HỘ PHÁP, THIỆN THẦN:

    Chí tâm Lễ thỉnh các vị Bồ tát hóa thân: Hộ pháp Tôn thiên cảm ứng Tam châu Thần vương Kiền đạt Thiên tướng Vi đà, Lực sĩ Kim cương Mật tích, Thần Chấp Kim cương, Bồ tát Quyến sách, 8 bộ Kim cương, 18 Thần rồng Hộ pháp, 12 Đại tướng Dược xoa, 25 Thần Hộ giới, Đại sĩ Tiêu diện, vua quỷ Diệm khẩu, Biện tài Thiên nữ, Già lam Chân tể, 8 bộ Trời Rồng: thần Hương Âm nhạc, Thần không phải Trời, Thần không phải Người, Thần chim, Thần rắn, Thần là Người, Thần không phải Người, tất cả Hộ pháp Hộ giáo, Hộ kinh Hộ chú, Hộ giới Hộ đàn; các ban Bộ hạ.

    Kính nguyện: Uy linh bí mật bảo vệ pháp Phật; Từ hiếu giúp đời, giáng hạ Đàn tràng thụ nhận cúng dàng; Hương hoa thỉnh.

    ooo

    ĐƯỜNG THỈNH CÁC THÁNH, CÁC THẦN VIỆT NAM:

    Chí tâm Lễ thỉnh: Thần ngày, Thần đêm, Thần 12 Thời, Thượng đẳng Thánh thần Sơ đại Nam Việt Thủy: Bàn cổ Sơ khai, Tam hoàng Ngũ đế, Thần nông Xã tắc, Viêm đế, Đế Minh, Đế Nghi, Vụ Tiên Thánh mẫu; Xích Quỉ Kinh Dương vương, Động Đình Thần Long, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thập bát Hùng vương, Phù Đổng Thiên vương, Phù tiên Chử đạo Tổ; Quốc chúa Nam thiên Tản viên Sơn Thánh, Cao Sơn Hiển ứng, Quý Minh Uy linh; Thánh mẫu Man nương, Thánh mẫu Quỳnh hoa Dung Liễu Hạnh; Trung thiên Bảo quốc, Trung lang Tế thế, Khai thiên Hộ quốc Thân vệ Tướng quân, Thánh Địa lý Tả Ao, Đại Thần y Thiền sư Tuệ Tĩnh, Đại Thần dược Hải Thượng Lãn ông… Thái tổ Quang Trung, Hồ Chủ tịch, Võ Đại tướng; Tả dư Đại Địa trấn hội;, các đời Thánh tổ Thánh sư Địa lý Phong thủy, Tiên hiền Tiên nho, Thần y Thần dược, Tử vi Lý số, Tổ nghề Tổ nghiệp, Khai quốc Công thần đức trọng, các ban Tả hữu.

    Kính nguyện: Bảo vệ Xã tắc, bình an Nhân dân, hưng long Thổ phủ, Diệu danh Giang sơn, giáng hạ Đàn tràng thụ nhận cúng dàng; Hương hoa thỉnh.

    000

    ĐƯỜNG THỈNH GIA TIÊN CÁC HỌ KHU CÚNG VONG CHO GIA ĐÌNH, HỘ TỘC PHẬT TỬ:

    Chí tâm Lễ thỉnh: Thủy tổ, Cụ tổ, Hội đồng Cô tổ, Hội đồng Mãnh tổ, Tổ chi, Tiên tổ lâu đời, Cụ kỵ ông bà, (cha mẹ), Cô dì chú bác, các anh chị em, Cô bé Cậu bé cùng các Chân linh thân thuộc hàng bậc xa gần, sinh trước hóa sau, sinh rơi sống lạc, có tên không vị, có vị không tên, có tên có vị, không tên không vị, mất hiệu quên tên, có hiệu không hiệu, có sinh không dưỡng, không sinh không dưỡng, có mộ không mộ, mất mộ quên mộ… tất cả Tổ tiên Nội ngoại, 6 họ 2 bên các đời, các chi các nhánh (các vị Chủ đất trước sau, Chân linh, cây cối linh vật cư ngụ, phảng phất ở tại Trạch thổ).

    Kính nguyện: Đại thánh Khởi giáo Tôn giả A Nan đà, Đại sĩ Tiêu diện tiếp dẫn các chư Chân linh và nhờ sức mạnh Tam bảo diệu kỳ, Thần chú Bí mật nhiệm mầu dẫn đến Đàn tràng chiêm ngưỡng Thế tôn, thụ lộc Phật thánh, Quy y Tam bảo, nghe Pháp lĩnh Kinh, thụ nhận Công đức, vãng sinh Cực lạc.

    000

    ĐƯỜNG THỈNH TĂNG NI, CƯ SĨ, THẦN HẬU, TRĂM HỌ, CHÚNG SINH CÔ HỒN TẠI CHÙA ĐÌNH ĐỀN PHỦ:

    Chí tâm Lễ thỉnh: Các vị Cao thấp 2 Đế: Chân như, Trần tục, 4 chúng Tỷ khiêu đã được Thụ kí đắc môn Giải thoát; Tâm tín thâm sâu đã quay trở về với cảnh thanh nhàn: Tất cả các vị khai sáng, lập dựng tu tạo Chùa chiền Già lam sau trước, Sư tăng Sư ni, Thức xoa Ma na, Chú tiểu, Nam nữ Cư sĩ; Thí chủ tạo tượng đúc chuông, sửa chùa in kinh, hiến ruộng hiến vườn; các Sãi làm việc Phật sự, các vị mua hậu các thế các đời tùy duyên ít nhiều Công đức: Các Tông phái Pháp, Thuyền tông Pháp quyến, các vị Giới hạnh Thanh tịnh đã mất cùng với Quyến thuộc. Tất cả chư vị Liệt sĩ; các mẹ Liệt sĩ, các mẹ Anh hùng, cụ kỵ ông bà cha mẹ toàn gia trước sau, Họ tộc các đời, các phái Tổ tiên đầu xóm cuối làng; các chư Chân linh: nạn nhân chiến tranh, đồng bào tử nạn, sinh trước hóa sau, sinh rơi sống lạc, có tên không vị, có vị không tên, có tên có vị, không tên không vị, mất hiệu quên tên, có hiệu không hiệu, có sinh không dưỡng, không sinh không dưỡng, có mộ không mộ, mất mộ quên mộ… (cúng Chúng sinh thì tiếp) cùng với tất cả kẻ oán người thân, Chúng sinh ở trong 6 nẻo luân hồi, 3 đường xấu ác, 10 loại Cô hồn ở khắp Đông Tây Nam Bắc, 2 phương trên dưới ở trong Pháp giới.

    Kính nguyện: Đại thánh Khởi giáo Tôn giả A Nan đà, Đại sĩ Tiêu diệm tiếp dẫn tất cả Chân linh, các loại Chúng sinh, Cô hồn Nam nữ trong khắp 10 phương giáng phó Đàn tràng. Nhờ vào sức mạnh Tam bảo diệu kỳ, Thần chú Bí mật nhiệm mầu mà đến Đàn tràng, chiêm ngưỡng Thế tôn, thụ vị Cam lộ, nghe Pháp nghe Kinh, lĩnh nhận Công đức, chuyên cần tu Giới Định Tuệ thoát khổ sinh tử luân hồi, vượt sang bờ Giác, vãng sinh Cực lạc.

    ooo

    Chúng con phụng thỉnh đã xong, kính thỉnh chư Phật an tọa Tòa sen vàng báu, kính mời Bồ tát, Thánh thần an tọa tòa cao, Chúng con xin tụng Thần chú.

    Phật, Pháp, Bồ tát hiện Đàn tràng – Thánh Hiền, Trời đất chứng giám Đàn

    Hộ pháp, Tiên, Rồng cùng ứng hiện – Không bỏ Từ bi hãy Chứng minh.

    Nam mô Vân Lai tập Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    Chí tâm Kính lễ: Tất cả Tam bảo Phật Pháp Tăng ở khắp 10 phương 3 thời, Thánh thần 3 cõi Trời cao; Tôn thần Đất nước, Hộ pháp Tiên Rồng, Thành hoàng Thổ địa, Táo quân Giám trai, Địa mạch Long mạch, vạn đấng Anh linh Từ bi cảm ứng, quang giáng Đàn tràng, thụ nhận cúng dàng, chứng minh Công đức, phù hộ, độ trì cho Chúng con và Gia đình, Họ hàng Tổ tiên Nội ngoại, 6 họ.

    Nam mô An Bảo tọa Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    Nam mô An Vị tọa Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    Hôm nay Trai chủ… tâm thành kính dâng 6 loại lễ vật: Hương, Hoa, Đăng, Trà, Quả, Thực lên Phật, Thánh, Thần. Nhờ sức Tam bảo biến hóa Lễ vật thành hà sa cõi Đại thiên ẩm thực cõi Trời, cao lương mỹ và thành hà sa biển cả Cam lộ.

    MỸ VỊ, THÀNH VÔ LƯỢNG BIỂN NƯỚC CAM LỘ:

    Nam mô Sa rva Ta tha ga ta A va lô ki tê. Ôm. Sam ba ra – Sam ba ra Hum. (3 lần)

    (Nam mô Tát phạ đát Tha nga Đá phạ rô chỉ đế. Úm Tam bạt la Tam bạt la Hồng)

    ooo

    Nam mô Sô rô Ba da – Ta tha ga ta da. Tat da tha:

    Ôm. Sô rô Sô rô – Ha ra Sô rô – Ha ra Sô rô. Sva ha. (3 lần)

    (Nam mô Tô rô Bà da, Đát tha nga đá gia. Ðát điệt tha:

    Úm. Tô rô Tô rô, Bát la Tô rô, Bát la Tô rô. Sa bà ha)

    ooo

    Chúng con xin dâng Lễ vật lên tất cả Phật, Tôn pháp, Bồ tát ở khắp 10 phương, tiếp cúng các vị Hiền thánh, Trời đất, Tiên, Thần; cuối cấp cho các Chúng sinh ở trong 6 đường Phàm phu như nhau không có khác biệt, tùy Duyên đều được đủ đầy như ý. Trai chủ được vô lượng Phúc đức và Ba la mật. 3 Đức, 6 vị dâng lên Phật, Thánh, Bồ tát, Tôn thần, Hữu tình ở khắp 10 phương Pháp giới.

    ooo

    THẦN CHÚ CÚNG DÀNG RỘNG KHẮP:

    Ôm. Ga ga na – Sam ba va – Va di ra. Hôt. (3 lần)

    (Án. Nga nga nẵng Tam bà phạ Phiệt nhật la. Hộc)

    Nam mô Phả Cúng dàng Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    Thiết nghĩ: Từ buổi ban sơ Phật tu khổ hạnh thân thể yếu suy, 1 bà lão đã sai cô Mục nữ dâng cúng lên Phật 1 bát cháo sữa. Có thực mới vực được Đạo cho nên Chúng con xin được dâng cúng Thuyền duyệt Thiền định Hỷ lạc và các vật phẩm tinh túy như ẩm thực ở bếp Trời lên Phật, Thánh thần.

    Nam mô Thuyền Duyệt tạng Bồ tát Ma ha tát. (3 biến).

    ooo

    Chúng con cúi đầu đỉnh lễ chư Phật Thế tôn đủ đầy Kinh, Pháp; các chư Bồ tát gia tăng Công đức không thể nghĩ bàn. Ngưỡng mong Tam bảo, 7 đức Thế tôn, chư Phật ở khắp 10 phương, 3 thời chứng minh Công đức.

    Nam mô Phật đà gia. Nam mô Đạt ma gia. Nam mô Tăng già gia.

    Nam mô Đa bảo Như lai. Nam mô Bảo thắng Như lai. Nam mô Diệu Sắc thân Như lai. Nam mô Quảng Bác thân Như lai. Nam mô Lý Phố úy Như lai. Nam mô Cam Lộ vương Như lai. Nam mô A Di đà Như lai.

    Kính nguyện: Tất cả Tam bảo, chư Phật, Bồ tát, Hiền thánh, Trời đất, Tiên, Thần chứng minh cúng dàng.

    Cúng hiến đã xong, nay Trai chủ có Sớ văn xin được tuyên đọc. (tuyên Sớ)

    ooo

    Văn sớ tuyên đọc đã xong, nay cùng với tiền vàng trước Đàn xin được thiêu hóa. (hóa Sớ)

    ooo

    TÂM KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA (CỐT YẾU KINH ĐẠI BÁT NHÃ):

    Bồ tát Quán Tự tại tu hành thâm sâu Bát nhã Ba la Mật đa nên đã soi thấy 5 Uẩn tức Ấm thì đều tướng Không cho nên đã vượt qua hết khổ đau, hoạn nạn. Này Xá lợi phất! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc, Sắc là Không, Không là Sắc. Cảm Thụ nhận chịu, Tưởng tượng nhớ nghĩ, Hành xét tính suy, Thức biết cũng đều như vậy.

    Này Xá Lợi phất! Tất cả các Pháp thì Tính tướng Không, chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch; chẳng tăng chẳng giảm… Do Tính tướng Không nên chẳng có Sắc; do đó chẳng có: cảm Thụ nhận chịu, Tưởng tượng nhớ nghĩ, Hành xét tính suy, Thức biết; chẳng có: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý; tướng Sắc, Âm thanh, Mùi, Vị, Xúc giác, các Pháp nên chẳng có 18 Giới: từ Mắt thấy biết đến Ý thấy biết và cũng chẳng có, chẳng hết ngu mê Vô minh… cho đến Già, chết . Do đó phải biết Bát nhã Ba la Mật đa là Thần chú Tối cao nhất, là Vĩ đại nhất, Minh sáng vô cùng, chẳng gì sánh được, có công năng diệt mọi sự khổ não. Đúng thực như thế chẳng hề giả dối, Thần chú niệm là:

    Ga tê Ga tê – Pa ra Ga tê – Pa ra Sam Ga tê – Bô đi. Sva ha. (3 lần)

    (Yết đế yết đế, Ba la yết đế, Ba la Tăng yết đế, Bồ đề. Sa bà ha)

    Nam mô Đăng Vân lộ Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC:

    Công đức cúng Phật hơn tất cả – Đạt được bao nhiêu đều hồi hướng

    Cho các đời kẻ Thân, người Oán – Gia đình được thọ lạc an khang

    Cùng 6 họ Nội ngoại Tổ tiên – Và tất cả Oan gia Trái chủ

    Và các Chúng sinh đang chìm đắm – Được về cõi Cực lạc Phương tây

    Hồi hướng trang nghiêm các cõi Phật – Chư Phật 10 phương cả 3 thời

    Thanh văn, Bích chi Phật, Bồ tát – Đắc Bát nhã Ba la Mật đa.

    Hồi hướng Chúng sinh mắc 8 nạn – Không gốc Thiện, Nhân duyên tu tập

    Cả Địa ngục, Ma quỷ, Súc sinh – Cùng vào Hội biển Phật Thanh tịnh.

    Hồi hướng khắp cả các Thế gian – Tất cả Chúng sinh trong 6 đường

    Đều cùng nhau vào cửa Huyền diệu – Biển Hoa tạng Thế giới hoa Sen.

    Nam mô Sa bà Thế giới Tam giới Đạo sư Tứ sinh Từ phụ Nhân Thiên Giáo chủ

    Thiên bách ức Hóa thân Bản sư Hoà thượng Thích ca Mâu ni Phật. (3 lần)

    ooo

    1. Tự theo về với Phật rồi – Cầu cho tất cả mọi loài Chúng sinh.

      Thấu hiểu Đại đạo Quang minh – Nguyện thề theo Phật quyết tâm không lùi. (1 lễ) o

    2. Tự theo về với Pháp rồi – Cầu cho tất cả mọi loài Chúng sinh.

      Kho Kinh, Luật, Luận thuộc thông – Trí tuệ như biển hòa đồng Như lai. (1 lễ) o

    3. Tự theo về với Tăng rồi – Cầu cho tất cả mọi loài Chúng sinh.

      Hòa hợp tất cả 1 dòng – Không còn trở ngại, đều cùng tiến tu. (1 lễ)

      000

      Nay lễ Sám tạ, hiến cúng Phật thánh, Trời đất, Tôn thần đã xong. Công đức đạt được vô lượng vô cùng. Chúng con cúi đầu Tạ lễ 3 lễ. (3 lạy)

    oooooooooooo

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Lập Đàn Và Tụng Kinh Dược Sư – Việt Lạc Số
  • Hiển Thị Bản Việt Dịch Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cung Dưỡng Pháp Trong Đại Chánh Tạng
  • Cách Nhận Diện Tượng Phật Dược Sư Đơn Giản Nhất
  • Ý Nghĩa Thờ Phụng Đức Phật Dược Sư Lưu Ly
  • Ý Nghĩa Và Cách Thỉnh Tượng Phật A Di Đà Đúng Nhất
  • Đại Khoa Cúng Phật, Thánh, Bách Thần (Hán Việt) 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Phật Thánh Thiếu Gì Vàng Bạc, Người Dân Cứ Cúng Làm Gì?
  • Hoa Cúng Phật Ngày Tết, Hoa Cúng Phật, Chơi Hoa Ngày Tết
  • Cách Dâng Hoa, Ý Nghĩa Và Những Lưu Ý Khi Dâng Hoa Trên Ban Thờ Ngày Tết ” Shop Hoa Vô Ưu
  • Cong Duc Duc Phat Mau, Chuong Iii, Tran Van Rang
  • Luoc Thuat Toa Thanh Tay Ninh
  • ĐẠI KHOA CÚNG PHẬT, THÁNH, BÁCH THẦN (HÁN VIỆT)

    chùa Liên hoa thôn Đặng Xuyên, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng yên

    Pháp sự phân ban tuyên diễn Đại thừa, tán dương khoa giáo. Trai chủ Đệ tử, thị chư Chúng đẳng, các các hồ quỵ, Tâm trì Hương hoa, như Pháp cúng dàng, cúng dàng Thập phương, Tam thế Pháp giới Thường Trụ Tam bảo, Thánh, Thiên, chư Thần.

    Pháp sự Đàn khai chấn Đại thiên – Quang trung vô lượng diệc vô biên

    Nguy nguy từ thính Chân như Pháp – Hồi hướng Bồ đề Bát nhã Duyên.

    Chiên đàn Hải ngạn – Lô nhiệt Minh hương – Gia du Tử mẫu lưỡng vô ương, Hỏa nội đắc Thanh lương – Chí tâm Kim tương – Nhất chú biến Thập phương.

    Lô hương sạ nhiệt – Pháp giới mông huân – Chư Phật Hải hội tất dao văn

    Tùy sứ kết Tường vân – Thành ý Phương ân – Chư Phật hiện toàn thân.(nhạc)

    Nam mô Hương Vân cái Bồ tát Ma ha tát. (3 biến)

    Phù dĩ: Hương hoa đấu thể – Đăng chúc giao huy

    Phạm tướng Trang nghiêm – Hoàn ưng tán lễ.

    ĐC: Chí tâm tán lễ. Đàn tràng Chân Pháp giới; Ngã Phật sơ Đăng giác, Đàn nội y Chính hỗ Trang nghiêm. Thánh phàm giao Tự tại, phóng Quang minh bất khởi tọa chu Sát hải, Ngũ quả cập Ngũ nhân, thập Xứ tinh thập Hội. Đế võng trùng trùng vô quái ngại, Phổ hiền tác truyền trì, Văn thù khai ám muội. Nhất sát na thành Chính giác. Viên hành giải nguyện, các chư Đệ tử Trai chủ, Quyến thuộc, Chúng đẳng bảo Bình an, tăng Phúc tuệ, đương lai Thế xả Diêm phù sinh Tịnh độ.

    PC: Như lai Diệu sắc Thân – Thế gian vô dữ đẳng

    Vô tỷ bất tư nghị – Thị cố cung kính lễ.

    TẢ: Thập phương chư Phật thái Hư không

    Bách ức phân thân hiển hiện đồng.

    HỮU: Biến hóa vạn ban Bích Ngọc tướng

    Trang nghiêm Thiên xích tử Kim dung.

    TẢ: Từ phong hạo hạo Tường vân nhiễu

    Pháp vũ phi phi Thụy khí nùng

    HỮU: Dao vọng Tây kiền thân lễ thỉnh

    Giáng lâm Đông độ giám vô cùng.

    Nam mô Đại giác Tôn thiên Phúc tướng Thanh liên tọa hạ

    Thường trụ Phật đà gia. (1 lễ)

    Nam mô Kim khẩu diễn Vi diệu Pháp Bí mật Bảo tạng

    Thường trụ Đạt ma gia. (1 lễ)

    Nam mô Du Tam giới Lịch Tứ châu Thần thông Diệu dụng

    Thường trụ Tăng già gia. (1 lễ)

    Nam mô Tham Tam bảo Hộ Chính pháp Phạm vương, Đế thích,

    Bát bộ Long Thiên chúng. (1l)

    Nhất thiết Cung kính Tín lễ Thường trụ Tam bảo. (1 lễ)

    (Niệm chú Đại bi hoặc Chuẩn đề)

    Khể thủ quy y Tô tất đế – Đầu diện đỉnh lễ Thất câu chi

    Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn đề – Duy nguyện Từ bi thùy gia hộ.

    Nam mô Sap ta Nam – Sam dac Sam But đa – Cô ti Nam – Tat đi da tha:

    Ôm. Ca lê Cu lê Cun đê. Sva ha. (3 biến)

    (Nam mô Tát đá nẫm tam diểu, tam bồ đà, Câu chi nẫm đát điệt tha:

    Úm. Chiết lệ Chuẩn đề. Sa bà ha)

    ĐC: Dương chi Tịnh thủy biến sái Tam thiên

    Tính Không, Bát đức lợi Nhân Thiên

    Pháp giới Quảng tăng Duyên

    Diệt tội, Tiêu khiên, Hỏa diệm hóa Hồng liên.

    PC: Bồ tát liễu đầu Cam lộ thủy – Năng linh nhất trích biến Thập phương

    TẢ: Tinh chuyên cấu uế Tịnh quyên trừ – Linh thử Đàn tràng tất Thanh tịnh.

    Nam mô Thanh lương Địa Bồ tát Ma ha tát. (3 biến)

    NGHI THỨC AN VỊ TƯỢNG PHÁP:

    Phù thử thủy giả: Bát Công đức thủy tự thiên Chân -Tiên tẩy Chúng sinh Nghiệp cấu trần. Biến nhập Tỳ lô Hoa tạng Giới – Cá trung vô xứ bất siêu luân. Thủy bất tẩy thủy, Diệu cực Pháp thân – Trần bất nhiễm trần, phản tác tự. Kỷ nguyên trừ Nội ngoại, đản địch Đàn tràng, Sái khô mộc nhi tác Dương xuân. Khiết uế ban nhi thành Tịnh độ – Sở vị đạo, Nội ngoại trung gian. Vô trọc uế, Thánh phàm u hiển tổng Thanh lương.

    Thế tôn sắc tướng như Kim thân – Diệc như Thiên nhật chiếu Thế gian.

    Năng bạt nhất thiết chư Khổ não – Ngã kim khể thủ Đại Pháp vương.

    Pháp vương Vô thượng tôn – Tam giới Vô luân thất.

    Thiên Nhân chi Đạo sư – Tứ sinh chi Từ phụ.

    Đệ tử, Chúng đẳng………….. Từ nhất niệm Quy y, năng diệt Tam kỳ Nghiệp, xưng dương nhược tán thán, ức kiếp mạc năng tận. Nhất tâm đỉnh lễ Nam mô Tận Hư không biến Pháp giới, Vi trần Sát độ trung, Quá hiện vị lai chư Phật, tôn Pháp, Hiền Thánh tăng, Thập phương Thường trụ Tam bảo.

    TẢ: Cung văn: Dục nghinh Thập phương chư Phật, tu bằng Ngũ phần Pháp Hương yên ái, Tường vân Mật bá, Thiên đường Phật quốc, phong phiêu Thụy khí tu đạt Địa phủ Long cung. Ký năng cảm động vu Thánh hiền, tất thị vô tư ư ảnh hưởng. Cố Kinh vân Tín căn sinh nhất niệm, chư Phật tận dao tri. Phần Hương đạt tín Đà la ni Cẩn đương trì tụng.

    TẢ: Giới hương, Định hương dữ Tuệ hương

    Giải thoát, Giải thoát Tri Kiến hương

    HỮU: Quang minh Vân đài biến Pháp giới

    Cúng dàng Thập phương vô lượng Phật

    PC: Hương tài nhiệt lô, phần Bảo đỉnh trung

    Chiên đàn, Trầm nhũ Chân kham cúng

    TẢ: Hương yên liễu nhiễu, Liên hoa động

    Chư Phật Bồ tát hạ Thiên cung.

    PC: Thanh lương Sơn La hán – Nạp thụ Nhân gian cúng. (họa)

    Nam mô Hương Cúng dàng Bồ tát Ma ha tát. (3 biến)

    Dĩ thử nguyện cầu Đoạn trừ nhất thiết Nghiệp chướng Tội chướng, Oán kết Oan khiên, Oan gia Trái chủ, Bệnh tật Tai ương, Tam tai Bát nạn, Vô minh Phiền não; vĩnh ly Khổ ách, thường hoạch Cát tường; An khang Thọ trường; Tinh tiến Tu tập, đắc Vô thượng Bồ đề, đồng sinh Cực lạc quốc… Dĩ thử tập Phúc nghinh Tường, cầu Phúc Thọ dĩ Khang ninh, bảo Gia môn nhi Cát khánh. Dĩ thử Sám hối Tội diệt Phúc sinh, cầu Phúc bách Phúc tự chí, độ Sinh, Chúng sinh giải thoát, Vong linh siêu thoát; Như lai giáo hữu phụng thỉnh Chân ngôn, cẩn đương trì tụng.

    ĐC: Nam mô Bu pu Tê ri – Ca ri Ta ri – Ta tha ga ta da. (3 biến)

    (Nam mô Bộ bộ đế lị dá lị đát đá nga đá gia)

    Tín chủ kiền thành phần Hương bái thỉnh.

    ĐƯỜNG MẬT TẤU: (Tín chủ phụng Hương, Mật đảo xong, Cử tán)

    PC: Giới định Chân hương phần khởi xung Thiên thượng.

    Nhất niệm kiền thành nhiệt tại Kim lô phóng.

    Khoảnh khắc nhân uân tức biến mãn Thập phương

    Tích nhật gia du miễn nạn tiêu Tai chướng.

    Nam mô Hương Cúng dàng Bồ tát Ma ha tát. (3 biến)

    PC: Cẩn vận Chân hương Chí tâm Bái thỉnh: Nam mô Thiên hoa Đài thượng Bách bảo Quang trung, tam thập nhị tướng chi Năng nhân, bát thập chưởng hảo chi Đại giác, Quá hiện vị lai nhất thiết Thường trụ Phật đà gia tôn; Quá hiện vị lai nhất thiết Thường trụ Đạt ma gia tạng; Quá hiện vị lai nhất thiết Thường trụ Tăng già gia chúng.

    Duy nguyện: Thiên thùy Bảo cái, Địa dũng Kim liên; giáng phó Đàn tràng chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    Cẩn vận Chân hương, chí tâm bái thỉnh:

    Bồ tát hạ Vân trung – Giáng sinh Tịnh Phạn vương cung.

    Ma gia hữu hiếp miễn Kim đồng – Thiền nhạc tấu Trường không.

    Mục cố Tứ phương chu Thất bộ – Chỉ Thiên chỉ Địa tôn hùng.

    Cửu Long phun thủy mộc Từ dung – Vạn pháp đắc Chính tông.

    Vô thượng Năng nhân – Tăng kỳ cửu viễn tu Chân – Đâu suất giáng Trần

    Trường từ bảo vị Kim luân – Tọa Bồ đề tòa Đại phá Ma quân,

    Nhất đổ Minh tinh Đạo thành – Giáng Pháp lâm – Tam thừa Chúng đẳng qui Tâm

    Vô sinh dĩ Chứng – Hiện tiền Chúng đẳng qui Tâm – Vô sinh tốc Chứng.

    Tứ sinh Cửu hữu đồng đăng Hoa tạng Huyền môn,

    Bát nạn Tam đồ cộng nhập Tỳ lô tính hải

    Cung duy: Nam mô Sa bà Thế giới, Tam giới Đạo sư, Tứ sinh Từ phụ, Nhân Thiên Giáo chủ, Thiên bách ức hóa thân, Bản sư Hoà thượng Thích ca Mâu ni Phật.

    Duy nguyện: Ngã Phật từ bi, bất vi bản thệ, lân mẫn Hữu tình, Quang giáng Đạo tràngnhập Thần tượng Pháp Chứng minh Công đức. Hương hoa thỉnh.

    Cẩn vận Chân hương, chí tâm bái thỉnh:

    A Di Đà Phật thân kim sắc – Tướng hảo Quang minh Vô đẳng luân

    Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu di – Hám mục trừng thanh Tứ Đại hải

    Quang trung hóa Phật vô số ức – Hóa Bồ tát chúng diệc Vô biên

    Tứ thập bát nguyện độ Chúng sinh – Cửu phẩm Hàm linh đăng Bỉ ngạn.

    Cung duy: Nam mô Tây phương Cực Lạc Thế giới Giáo chủ Đại từ Đại bi Cửu phẩm Tiếp dẫn Đạo sư A Di đà Phật.

    Duy nguyện: Ngã Phật từ bi, bất vi bản thệ, lân mẫn Hữu tình, Quang giáng Đạo tràngnhập Thần tượng Pháp Chứng minh Công đức. Hương hoa thỉnh. 000

    Cẩn vận Chân hương, chí tâm bái thỉnh:

    Như lai Thân quang như Lưu ly – Phổ cập Pháp giới thật Diệu kỳ

    Cứu khổ Hàm linh hằng Hỷ xả – Độ sinh vạn loại dụng Từ bi

    Thập nhị Nguyện vương tiêu tai ách – Quán đỉnh Chân ngôn bạt khổ mê

    Phổ độ Chúng sinh đồng giải thoát – Viên thành Vô thượng đạo Bồ đề.

    Cung duy: Nam mô Đông phương Tịnh Lưu ly Thế giới Giáo chủ Tiêu tai Diên thọ Dược sư Lưu ly Quang vương Phật.

    Duy nguyện: Ngã Phật từ bi, bất vi bản thệ, lân mẫn Hữu tình, Quang giáng Đạo tràngnhập Thần tượng Pháp Chứng minh Công đức. Hương hoa thỉnh.

    PC: Cẩn vận Chân hương, chí tâm bái thỉnh: Đại hùng Giác phụ, lưỡng túc Y vương, biến hóa ức thiên độ Nhân vô lượng. Thanh tịnh Pháp thân Tỳ lô Giá na Phật, Viên mãn Báo thân Lô Xá na Phật, Thiên bách ức Hóa thân Thích ca Mâu ni Phật, Đương lai Giáo chủ Hạ sinh Di Lặc tôn Phật, Tây phương Giáo chủ Cửu phẩm Đạo sư A Di đà Phật, Đông phương Giáo chủ Dược sư Lưu ly Quang vương Phật, Ngũ phương Ngũ Phật, Thập phương Thập Phật, Tam thập ngũ Phật, Ngũ thập tam Phật, Trang nghiêm kiếp thiên Phật, Hiền kiếp thiên Phật, Tinh tú kiếp thiên Phật; tận Thập phương Tam thế Nhất thiết chư Phật.

    Duy nguyện: Ngã Phật Từ bi, bất vi bản thệ, lân mẫn Hữu tình, Quang giáng Đạo tràng chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG TAM THỪA – PHÁP TẠNG:

    TẢ: Tái vận Chân hương, Chí tâm Bái thỉnh: Nam mô Tam thừa Bí điển, Ngũ bộ Huyền văn, giá lý đằng Đệ nhất Nghĩa Thiên ngôn, chỉ đích Chân Tam muội hải, xuân lôi phạm hưởng khai Huyền nghĩa ư lộc giã Uyển trung, Ca lăng Tiên âm tuyên văn cú ư Kim cương tọa thượng. Nha tiềm tối sám, Ngọc trục lâm lương, lý triệt Nhất thừa Thanh hòa Hải triều văn thứu lĩnh; Kinh phiên Tam tạng, Công kiên kiếp Thạch bí Long cung, trượng bán ngôn nhi Thiên chướng, tiêu trừ bằng Tứ cú nhi Lục trần Thanh tịnh.

    Duy nguyện: Tam thừa Bảo tạng, chư phẩm tôn Kinh, Tử Kim quang Tụ diệu Thập phương, Bạch ngọc hào phân suy Sa giới; giáng phó Đạo tràng chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG NHẬP BI THỈNH CHƯ TÔN BỒ TÁT.

    TẢ: Tái vận Chân hương chí tâm bái thỉnh: Nhập bi nguyện hải, thụ Công đức lâm, chủng chủng Trang nghiêm, Từ bi Vô lượng Nam mô: Đại trí Văn thù Sư lợi Bồ tát, Đại Hạnh nguyện Phổ Hiền Bồ tát, Từ bi Quán Thế âm Bồ tát, Lương Hữu đức Đại Thế chí Bồ tát, Vô Tận ý Bồ tát, Bảo Đàn hoaBồ tát, Dược vương Bồ tát, Dược thượng Bồ tát, Nhật Cung Bồ tát, Nguyệt Cung Bồ tát, Trường Thọ Bồ tát, Diên Thọ Bồ tát, Bồ tát Di Lặc Bồ tát, Thất Câu chi Phật mẫu Đại Chuẩn đề Minh vương Bồ tát, Minh dương Cứu khổ Bản tôn Địa Tạng vương Bồ tát, Phả quang Giải Oan kết Bồ tát, Thanh tịnh Đại Hải chúng Bồ tát.

    Duy nguyện: Chư tôn Bồ tát Ma ha tát bất vi bản thệ, phủ vận Thần thông; giáng phó Đạo tràng chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG NHẬP BI 1; THỈNH QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT (dụng cho Đàn lễ độ Dương):

    HỮU: Tái vận Chân hương, Chí tâm Bái thỉnh:

    Trí tuệ Hoằng thâm Đại Biện tài – Đoan cư Ba thượng tuyệt Trần ai.

    Tường quang thước phá Thiên sinh bệnh – Cam lồ năng trừ vạn kiếp tai.

    Túy liễu phất khai kim Thế giới – Hồng liên dõng xuất ngọc Lâu đài.

    Ngã kim khể thủ phần Hương tán – Nguyện hướng Nhân gian ứng Hiện lai.

    Cung duy: Nam mô Chính pháp Minh vương – Viên thông Giáo chủ Thiên thủ Thiên nhãn – Thánh quán Tự tại – Đại từ Đại bi – Tầm thanh Cứu khổ Cứu nạn Linh cảm ứng Quán Thế âm Bồ tát Ma ha tát – Hồng Liên tọa hạ.

    Duy nguyện: Bất vi bản thệ, lân mẫn Hữu tình, Quang giáng Đạo tràng nhập Thần tượng Pháp chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    Tái vận Chân hương chí tâm bái thỉnh:

    Thủ trì trung Tích trượng – Trấn sao Địa ngục chúng Môn khai

    Trưởng thượng Minh châu – Chiếu triệt Thiên đường chư Lộ thấu

    Chúng sinh độ tận – Phương chứng Bồ đề – Địa ngục vị Không – Thệ bất thành Phật.

    Cung duy: Nam mô U minh Giáo chủ, Minh dương cứu khổ, Đại định Đại lực,Đại bi Đại nguyện, Đại Thánh Đại từ, Đại sĩ Đại Đại Địa Thần Địa Tạng vương Bồ tát Ma ha tát – Liên tọa hạ.

    ĐƯỜNG NHẬP BI 2; THỈNH THẤT CÂU CHI PHẬT MẪU ĐẠI CHUẨN ĐỀ MINH VƯƠNG BỒ TÁT (dụng cho Đàn lễ chuyên biệt):

    Tướng hảo Từ bi thu nguyệt mãn – Hóa thân đằng vân mộ vân phồn.

    Hương yên đôi ly chiêm ứng hiện – Vạn tượng đằng huy Diệu chúc lư.

    Cung duy: Nam mô Tỳ lô Giá na Cung điện trung Thất Câu chi Phật mẫu Đại Chuẩn đề Minh vương Bồ tát Ma ha tát – Liên tọa hạ.

    ĐƯỜNG THỈNH BÍCH CHI PHẬT, THANH VĂN, HIỀN THÁNH TĂN, CHƯ TỔ:

    PC: Tái vận Chân hương Chí tâm Bái thỉnh: Tứ quả Tứ hướng Bích chi Phật, Thanh văn, La hán, Hiền Thánh tăng phả Thiên Ứng cúng:

    Tân Đầu lư Đại đức Tôn giả – A Nhã kiều Trần như Tôn giả

    Ma ha Ca diếp Tôn giả – Ưu lâu Tần loa Ca diếp Tôn giả

    Già la Ca diếp Tôn giả – Na đề Ca diếp Tôn giả – Xá Lợi phất Tôn giả

    Đại mục Kiền liên Tôn giả – Ma ha Ca Chiên diên Tôn giả – A lậu Lâu đàTôn giả

    Kiếp Tân la Tôn giả – Kiều phạm Ba đề Tôn giả – Ly Bà đa Tôn giả

    Tất lăng Gia Bà ta Tôn giả – Bạc Câu la Tôn giả – Ma ha Câu Hi la Tôn giả

    Nan đà Tôn giả – Tôn Đà la Nan đà Tôn giả – Phú Lâu na Di đa na Ni tử Tôn giả

    Tu Bồ đề Tôn giả – A Nan Tôn giả – Ưu Ba li Tôn giả – A na Luật Tôn giả

    Tân đầu Lư Phả loa đỏa Tôn giả – La Hầu la Tôn giả.

    Như thị chúng sở Tri thức Đại A La hán, phụ Hữu học Vô học, Nhị Thiên Nhân đẳng. (Có thể thỉnh riêng đường Chư tổ ở dưới)

    Tây thiên Tứ thất, Đông độ Nam việt Lịch đại Tổ sư Tào Khê Nam hoa tự, Đại giám Chân không Phổ giác Viên minh Thiền sư Nhục thân Bồ tát, Yên Tử sơn Đầu đà Điều ngự Giác hoàng Tĩnh Tuệ Thiền sư, Báo nghiêm Tháp Hoằng Pháp độ nhân Chuyết Công Hòa thượng, Phổ Giác Quảng tế Đại đức Thiền sư Nhục thân Bồ tát, Tại công Hòa thượng, Minh Hạnh Thiền sư, Anh Công Chí Công Đại đức Thiền sư, Lương Vũ Đế quân, Tam châu Cảm ứng Hộ pháp Vi đà Tôn thiên Bồ tát; Nhị thập Ngũ vị Giới thần, Nhất thập Bát vị Hộ giáo Già lam Thánh chúng Bồ tát.

    Duy nguyện: Bất vi bản thệ, lân mẫn Hữu tình quang giáng Đạo tràng Chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG THỈNH LỊCH ĐẠI TỔ SƯ, TĂNG CHÚNG:

    Duy nguyện: Hổ tủy bất càn tăng điểm xuất, Long diên hữu vị tái chiêm lai; thỉnh giáng Đạo tràng Chứng minh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG NHẬP BI 3 – THỈNH MỤC KIỀN LIÊN (dụng cho Đàn lễ độ Âm):

    HỮU: Tái vận Chân hương, Chí tâm Bái thỉnh: Nam mô Tiểu xưng La bốc Trưởng hiệu Mục liên; Thiện tâm xuất Hiếu tử chi Môn, Tu thân triệu Phật pháp chi Đạo; Thần thông Đệ nhất vận Từ bi nhi cứu khổ Chúng sinh, Hiếu thuận cư Tiên trì Trai giới nhi báo ân Phụ mẫu; phi Cà sa trì Tích trượng, Diêm vương văn nhi hợp trưởng, hàng Tâm viên đỉnh tương quải phương bào, Ngục tối kiến nhi đê Đầu củng thủ.

    Cung duy: Đại bi Đại nguyện Đại thánh Đại từ Ma ha Mục Kiền liên Tôn giả.

    Duy nguyện: Bất vi bản thệ, phủ vận Thần thông giáng phó Đạo tràng Chứng minh Công đức. Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG NHẬP BI 4 – THỈNH ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT (dụng cho Đàn lễ độ Âm, Thổ trạch):

    TẢ: Tái vận Chân hương, Chí tâm Bái thỉnh: Nam mô Từ tâm Quảng đại Hoằng thệ vô biên, Xả huyễn thân nhi đốn liễu Vọng duyên, đầu giấc Hoa nhi tảo mông Thụ ký. Thủ trì trung Tích trượng – Trấn sao Địa ngục chúng Môn khai; Trưởng thượng Minh châu, chiếu triệt Thiên đường chư Lộ thấu. Chúng sinh Độ tận, phương chứng Bồ đề, Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật. Thù thâm ân ư Phụ mẫu – Thí quảng lợi ư Quần sinh.

    Cung duy: Nam mô Đại bi Đại nguyện Đại thánh Đại từ U minh cứu khổ Địa Tạng vương Bồ tát Ma ha tát.

    Duy nguyện: Bất vi bản thệ, phủ vận Thần thông giáng phó Đạo tràng. Chứng minh Công đức. Hương hoa thỉnh.

    Duy nguyện: Bất xả Uy quang, thỉnh giáng Đạo tràng chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    HỮU: Tái vận Chân hương Chí tâm Bái thỉnh: Nhạc phủ Chí tôn Đông nhạc Thiên tề Đại sinh Nhân thánh Đế quân; Nam nhạc Tư thiên Chiếu thánh Đế quân; Tây nhạc Kim thiên Thuận thánh Đế quân; Bắc nhạc An thiên Nguyên thánh Đế quân; Trung nhạc Trung thiên Sùng thánh Đế quân, Nhạc phủ Gia khánh nhất thiết quyến thuộc Tôn thần.

    Duy nguyện: Bất xả Uy quang, thỉnh giáng Đạo tràng chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    Duy nguyện: Bất xả Uy quang, thỉnh giáng Đạo tràng chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    HỮU: Tái vận Chân hương Chí tâm Bái thỉnh: Thủy phủ chí tôn Phù tang Cam lâm Đại đế Tứ độc Giang hà Hoài hải Quảng nguyên Đại vương; Cửu giang Tứ hải Bát đại Long vương; Hải vân Uy đức Luân cái Long vương, Bạt Nan đà Long vương, Sa Già la Long vương, Hoa Tu cát Long vương, Đức Xoa ca Long vương, A na Bà Đạt đa Long vương, Ma Na tư Long vương, Ưu Bát laLong vương; nhất thiết Bát hải Long vương; thục xuyên tự điển, khuê uyên đàm đỗng, nhất thiết chư tư Chân tể.

    Duy nguyện: Bất xả Uy quang, thỉnh giáng Đạo tràng chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    3 ĐƯỜNG THỈNH ĐỊA PHỦ (dụng cho Đàn lễ độ Âm):

    TẢ: Tái vận Chân hương Chí tâm Bái thỉnh: Chức ty Thập điện vị liệt Lục tào; Chưởng ác Xích phù Chửng Lục thú Tam đồ chi khổ, yêu triền hồng thải tiếp Tứ sinh Thập loại chi thăng; đãng đãng Thí nhân triêu triêu Bố đức, Thiện chi sở khuyến, Hạnh phùng chiết ngục, duy lương ác hữu sở trừng, giám kiến tường hình hữu khánh. Cung duy:Minh phủ Thập điện Từ vương Điển ngục Chúa tể, Công tào Phán quan nhất thiết Bộ thuộc Đẳng chúng.

    Duy nguyện: Thượng tuân Phật sắc, Hạ mẫn khẩn tình, lai tự phi phong, khứ như xiết điện giáng phó Đạo tràng chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    HỮU: Tái vận Chân hương Chí tâm Bái thỉnh: Chưởng sinh Tử bạ ty Thiện ác quyền thẩm nghiện phân minh U ngục lại bình phản chi trách. Khoan bình nhân nộ, minh đồ tư phán đoạn chi năng. Duy tỵ tác uy sử Nhân Thiên hình tranh phạt, tỉnh hề lao chủy sở chi thương. Trạch bố nhân thi, nhất bản hiếu sinh chi đức. Cung duy: Minh phủ Thập điện Từ vương cập Ngục quan Ngục lại Đẳng chúng.

    Duy nguyện: Thượng tuân Phật sắc, Hạ mẫn khẩn tình, lai tự phi phong, khứ như xiết điện giáng phó Đạo tràng chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    TẢ: Tái vận Chân hương Chí tâm Bái thỉnh: Phúc uy khắc cẩn dư đoạt vưu công, quyền hành giai đắc ư trung các đương kỳ khả; phòng phạm hà lao dụng lực, nhất xuất ư công nhân Tào vô dị ư Đại tào; Âm giới hữu đồng ư Dương giới, oán thân bình đẳng. Dạ đài hóa tác Liên đài; linh ngữ Hư không ám cảnh hóa thành Tiên cảnh. Cung duy: Minh phủ Thập điện Từ vương cập Ngưu đẩu Mã diện Ngục tốt Quỷ vương A bàng La sát nhất thiết Bộ tòng Đẳng chúng.

    Duy nguyện: Thượng tuân Phật sắc, Hạ mẫn khẩn tình, lai tự phi phong, khứ như xiết điện giáng phó Đạo tràng chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG THỈNH HỘI ĐỒNG THÁNH MẪU:

    Duy nguyện: Giáng Phúc lưu Ân chiêm vũ lộ, trừ tai tống ách bảo bình an, giáng phó Đạo tràng chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG THỈNH HỘI ĐỒNG TRẦN TRIỀU:

    HỮU: Tái vận Chân hương Chí tâm Bái thỉnh: Cung duy Đông A hiển Thánh, Nam nhạc giáng Thần; cung tự Trần vương vận cổ xưng dương Thánh đức – Long công Thịnh đức, Vĩ liệt Hồng huân, Thượng Thượng đẳng Tối linh Thần, Thái phu Thượng phụ Thượng Quốc công Bình Bắc Đại Nguyên súy Nhân vũ Hưng đạo Ðại vương, Trần triều khải Thánh An sinh Hiển hoàng Khâm minh, An sinh Thiện đạo Quốc mẫu nhị vị Đường tông Đại vương. Vương phi Nguyên từ Quốc mẫu Đại vương. Cung duy Trần triều Vương tử Khai Quốc công Hưng Vũ Đại vương, Hưng Hiến Đại vương, Hưng Nhượng Đại vương, Hưng Chí Đại vương. Trần triều Điện súy Thượng Chiêm cảm Hùng văn Đại vương. Vương nữ Thiên Thành Quyền Thanh Công chúa, Vương dưỡng nữ Đại Hoàng Công chúa, Vương nữ Tôn thuận Thánh Bảo từHoàng hậu, Vương nữ Ngoại tôn Tĩnh Huệ Công chúa.

    Phả thỉnh: Nam Tào Bắc Đẩu, Dã Tượng Yết Kiêu, Vương tế Vương tôn, Tả hữu Công đồng Văn quan Võ tướng, Liệt vị Bách quan, Gia tướng Gia thần cập Trần triều tông Thần, Hoàng thân Quốc thích, Tả hữu Giám đàn, nhất thiết chư tư Bộ chúng, Ngũ lôi Thiên tướng, Ngũ hổ Đại thần, Thủ cai Bản đền Bản điện, Thiên thiên Lực sĩ, Vạn vạn Hùng binh.

    Duy nguyện: Nam bang hiển Thánh, Việt địa giáng Thần, hằng an Dân kế thế chi Công, Uy sát Quỷ tà chi Diệu, thỉnh giáng Đạo tràng chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    TẢ Tái vận Chân hương chí tâm Cung thỉnh: Kim niên Kim nguyệt, Kim nhật Kim thời, Hư không Quá vãng, Thần tiên Tứ trực Công tào, Ngũ phương Sứ giả, Trì phan Đồng tử, Dẫn đạo Tướng quân, Kim niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần, Bản phủ Châu huyện Thành hoàng Tôn thần, Bản cảnh Đương cai Xã lệnh thủ Thổ chi Thần, Bản tự Hợp điện (Gia cư) tự phụng;Hương hỏa Hữu cảm, nhất thiết minh Thần, Môn thừa Hộ úy, Tỉnh táo Long quan, Giám trai Sứ giả, Kiên lao Địa thần; Pháp diên Hữu cảm, vô lượng Thần kỳ, thị Thánh thị Phàm, viết U viết Hiển.

    Đường thỉnh Thổ địa 5 phương:

    Hữu: Đông phương Cưu Di quân, Nam phương Bất Luyến quân, Tây phương Lục Tuất quân, Bắc phương Ngũ Hóa quân, Trung ương Tam Thái quân, Ngũ thổ Ngũ phương, Thổ Địa Thổ công, Thổ mẫu Thổ hầu, Thổ bá Thổ quân, Thổ mãnh Thổ trọng, Thổ khảm Thổ khang, Thổ lý Thổ tôn, Sơn thần Thổ công, Thổ thần Thổ phủ, Thổ địa Thần kỳ, Vạn phúc Phu nhân, chư đẳng gia Thần, nhất thiết uy linh Thổ gia quyến thuộc.

    Duy nguyện: Đồng thừa Pháp lực vận Thần uy, giáng phó Hương diên, thụ tư cúng dàng. Hương hoa thỉnh.

    Đường thỉnh Thổ công, Long mạch:

    Tả: Cung thỉnh: Chư vị Ngũ đế Ngũ thổ Ngũ phương, Sơn thần Thổ công, Thổ thần Thổ phủ, Thổ địa Thần kỳ, Vạn phúc Phu nhân, chư đẳng gia Thần, Thổ gia quyến thuộc cập Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Táo gia quyến thuộc; Phục long Đằng xà, Thanh long Bạch hổ, Chu tước Huyền vũ; Tứ phương Bát hướng, Cửu cung Bát quái, Nhị thập tứ Sơn, Nhị thập tứ Hướng, Nhị thập tứ Khí, Nhị thập bát Tướng, Thất thập nhị Hầu, Long mạch Long thần; Địa phương Địa chủ, Tiếp dẫn tài Thần; Chúa cảnh Bản thổ, Bản xứ, Chúa đất Phúc đức Chính thần; Trạch tả, Trạch hữu, Trạch trung Thủ thần, Thần tử, Thần mẫu, Lục giáp Cấm kỵ, Thập nhị Thời thần, Môn đình Hộ mạch, Tỉnh giáo Tinh lộ… Tứ duy Lục hợp, Đạo lộ Thần quan phả cập nhất thiết chư vị Tôn thần thượng Thiên hạ Địa, Nội ngoại Trạch thổ, Thần gia trấn tọa, Đường thượng Hộ trung, Hỗn biên chi Thần nhất thiết Bộ chúng.

    Chia sẻ bài viết:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Khoa Cúng Phật, Thánh, Bách Thần (Hán Việt) 2
  • Đại Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung Nhâm Thìn 2012 Tại Tòa Thánh Tây Ninh
  • 10 Loại Hoa Quả Không Nên Thắp Hương
  • Tổng Hợp Các Loại Trái Cây Cúng Khai Trương
  • 2. Ý Nghĩa Của Việc Cúng Quả (Trái Cây)
  • 30 Ngày Thiền Thất Bên Trong Vạn Phật Thánh Thành

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Liên Hệ Giữa Đức Phật Và Thánh Mẫu
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Đạo Cao Đài
  • Phap Mon Tinh Do Trong Dao Cao Dai
  • Nguồn Gốc Hai Bài Niệm Hương Và Khai Kinh Của Đạo Cao Đài
  • Tamduyen.com ” Luận Giải: Về Ý Nghĩa, Công Dụng, Và Xuất Xứ Của Kinh Nhựt Tụng Trong Đạo Cao Đài
  • Tôi đã từng nghe về một Vạn PhậtThánh Thành cách đây vài mươi năm về trước, khi từ thời ngài Tuyên Hóacòn sống trước năm 95 nhưng quả thậttôi chưa đủ duyên để diện kiến ngài vàtu học dưới mái chùa ngài. Trong bản nội quy mà khách Tăng/Ni phải tuân theo khi đến viếng Vạn Phật Thánh Thánh gồm có 10 điều tóm tắt như sau:

    1) Phải được phép của giới sư khi đến ở lại VPTT.

    2) Phải có giấy giới thiệu của ngôi chùa mình ở.

    3) Luôn mặt áo giới khi ra ngoài.

    4) Một ngày ăn một bữa.

    6) Không đi lang thang ra ngoài khuôn viên của VPTT.

    KHÓA TU PHẬT THẤT.

    Ngày thứ 1:

    Buổi sáng tinh mơ, đúng 3.25am tiếng bảng (bằng tay) đã đứng thức chúng Tăng dậy. Sau đó 3 phút, tiếng bảng bằng máy tiếp tục đánh lên, và cứ thế sau 10 phút lại đánh lên nữa. Tiếng bảng chát chúa vang lên trong đêm khuya, không ai có thể ngủ mê thêm nữa dù lười đến đâu! Nước rửa mặt lạnh như nước đá sẽ làm mọi người tỉnh táo. H.T khai thị: Mặc mặc cảm ứng, mặc mặc trung. Trực chỉ sơn cùng thủy tận xứ, Tiêu dao Pháp-giới nhậm Tây Đông.

    Nghĩa là:

    Đến khi núi mòn sông cạn hết, Tiêu diêu Pháp-giới khắp Đông Tây. Quang quang tương chiếu; Khổng khổng tương thông.

    Nghĩa là:

    Ánh sáng này chiếu ánh sáng kia; Lỗ lông này thông lỗ lông kia.

    Thêm vào đó, cổ nhân lại có câu:

    “Quân tử cầu chư kỷ, Tiểu nhân cầu chư nhân.”

    Nghĩa rằng:

    Nhược yếu nhân bất tử, Tiên hạ tử công phu.

    Nghĩa là:

    Mình nếu muốn không chết, Thì phải tu hết mình. “Tử công phu” (tu hết mình),

    Nghĩa là:

    Lòng người tu Đạo chớ ngờ nghi, Nghi ngờ nổi dậy liền mờ mê. Tử tâm nhiệt như hỏa, Bất thị nhiệt tha nhân, Tiệm tiệm luân đáo ngã.

    Nghĩa là:

    Ta thấy người ấy chết, Lòng ta nóng như lửa, Chẳng phải nóng cho người, Mà từ từ lửa tới ta. Trường giang, hậu lãng thôi tiền lãng.”

    Nghĩa là

    “Sông Trường giang, sóng sau đẩy sóng trước.” Ngày thứ 2: H.T Tuyên Hóa khai thị. Tất cả, tất cả, thật, thật, thật. Nam Bắc sơn đầu ngọa thổ nê.

    Nghĩa là:

    Nằm dưới đất bùn khắp núi đầy non. “Một chút thời gian, một chút mạng sống.” “Thân không bịnh khổ, Tâm chẳng tham luyến, Như nhập Thiền-định, Vui cười vãng sinh.”

    Đó mới là nắm chắc được việc sinh tử trong tay mình vậy!

    Ngày thứ 3:

    Rét chết không phan duyên Đói chết không hóa duyên Nghèo chết không cầu duyên Tức sự minh lý, minh lý tức sự Tự hỏi: Mình có tranh không? Tự hỏi: Mình có tham không? Tự hỏi: Mình có cầu không? Tự hỏi: Mình có ích kỷ không? Tự hỏi: Mình có tự lợi không? Tự hỏi: Mình có vọng ngữ không? Tự hỏi: Mình có ăn ngày một bữa không? Tự hỏi: Mình có luôn đắp y giới không? Lời H.T dạy:

    Chúng ta lúc nào cũng ở trong mộng. Rằng:

    Nhân tử mộng nhất trường. Mộng lý thân vinh quý, Mộng tỉnh tại cùng hương, Triều triều thị tác mộng, Bất giác mộng hoàng lương, Mộng trung nhược bất giác, Uổng tác mộng nhất trường.

    Nghĩa là:

    Người sống: một tràng mộng, Người chết: mộng một tràng. Trong mộng thân vinh quý, Tỉnh mộng vẫn nghèo xơ, Ngày ngày cứ nằm mộng, Chẳng biết mộng “kê vàng,” Nằm mộng mà chẳng biết, Uổng thay mộng một tràng.

    Ngày thứ 4:

    Sau khi ăn xong, mọi người tự đi lấy 1 chiếc khăn (để trong chậu nước nóng) gần đó quay lại chỗ mình và chùi sạch sẽ khu vực bàn ăn trước mặt mình, xong để khăn lại trong chậu và cầm bình bát và dĩa của mình đi rửa ở một khu nhà bếp gần đó, rửa xong quay trở lại chỗ cũ để trên bàn như trước và chờ đến 11.50 đi thành hàng ra Chánh điện hồi hướng. Lời H.T khai thị:

    Ngày thứ 5:

    H.T Tuyên Hóa khai thị: Bớt Nói Chuyện, Dụng Công Cho Nhiều.

    Vạn Phật Thánh Thành có sáu đại tông chỉ để hướng dẫn việc tu, tức là: Nếu bạn hiểu rõ sáu tông chỉ này một cách chân thật thì bạn sẽ không uổng đã tới Vạn Phật Thánh Thành. Có một số người rất háo danh, nhưng Vạn Phật Thánh Thành không cần những kẻ đó. Vì sao? Bởi Vạn Phật Thánh Thành muốn dứt trừ ngũ dục: “Tài, sắc, danh, thực, thùy.”

    Ngày thứ 6:

    “Hưởng phước thì hết phước, Chịu khổ thì hết khổ.” Lão H.T Tuyên Hóa dạy như sau: Tâm lắng, nước hiện trăng. Ý định, trời không mây. Dừng tâm, dứt niệm, giàu sang thật!

    Ngài dạy tiếp:

    Sáu thức vừa động, tâm bị che mờ.”

    Ngày thứ 7:

    H.T Tuyên Hóa khai thị. Kiến sự tỉnh sự xuất thế gian KHÓA THIỀN THẤT.

    Ngày thứ 1:

    Pháp Thiền Thoại Đầu.

      1. Khi chưa có trời đất, ta là cái gì ?

      2. Muôn pháp về một, một về chổ nào ?

      3. Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn lai của ta ra sao ?

      4. Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu ?

      5. Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì ?

    Chương trình khóa Thiền thất gồm các thời gian tu tập như sau: Lời H.T khai thị:

    Ngày thứ 2:

    Ở trong buổi giảng: “Không trừ vọng tưởng thì Chẳng thể khai ngộ”, ngài dạy:

    Ngài dạy:

    H.T Khai thị:

    Phương pháp “không biết” -trên không biết có trời, dưới không biết có đất, ở giữa không biết có người. Từ sáng đến tối, quý vị làm gì? Không biết! Ăn thức gì? Không biết! Mặc áo gì? Không biết!

    Cũng như đang hôn trầm, cái gì cũng không biết. Có câu:

    Dưỡng thành đại chuyết phương vi xảo, Học đáo như ngu thủy kiến kỳ.

    Nghĩa là: Nếu quý vị làm sao thành như người ngu đần nhất thế giới, thì lúc ấy mới sinh ra sự xảo diệu. Bấy giờ thì:

    Nhất liễu, nhất thiết liễu, Nhất ngộ, nhất thiết ngộ.

    Nghĩa là:

    Ngày thứ 3:

    Mới đầu đau, thấu xương đau, đáng sợ đau, Nhẫn chịu đau, tập quen đau, coi thường đau, Nghiệm ra đau, đau, đau, đau, có gì đau! H.T Tuyên Hóa khai thị: (Nếu ai tĩnh tọa chỉ một sát-na,

    Ngày thứ 4:

    H.T Tuyên Hóa dạy:

    Ngày thứ 5:

    Ngài dạy:

    H.T Tuyên Hóa dạy:

    “Nhất thốn quang âm nhất thốn kim, Thốn kim nan mãi thốn quang âm.” (Một phút thời gian, một tấc vàng, Vàng sao mua đặng phút thời gian?)

    Lại nói rằng:

    “Thất lạc thốn kim dung dị đắc, (Tấc vàng mất đi dễ kiếm lại, Thời gian qua mất khó lòng tìm!)

    Người ta nói rằng:

    “Vô quy củ bất thành phương viên.” (Không có quy củ thì chẳng thành nề nếp được.)

    Ngày thứ 6:

    Chỉ trong giây lát ngồi tĩnh tọa,

    Nghĩa là:

    Không xả được tử, không đổi được sanh Không xả được giả, không thành được chân, Không xả được khổ, không đạt được lạc.

    H.T Tuyên Hóa khai thị:

    “Đả bất phá danh lợi quan, Khiêu bất xuất luân hồi khuyên,”

    nghĩa rằng:

    “Đánh không sập cửa danh lợi, Nhảy không thoát vòng luân hồi.”

    Ngày thứ 7:

    H.T Tuyên Hóa khai thị:

    “Phạn ngữ thiền na ba-la-mật Thử vân tịnh lự tế tiến tham Sơn cao thủy thâm vô sở úy Thủy tri triên ngoại biệt hữu thiên.

    Thế nào là soi thấu? Là tham! Soi thấu câu “Niệm Phật là ai.” Dù cho núi có cao, biển có sâu tới mức nào mình cũng không sợ hãi. Tới lúc đó mình mới biết bên ngoài bầu trời này còn có những bầu trời kháctrùng trùng vô tận. Do đó mình phải miên mật tham không ngừng, tức là soi vào câu “Niệm Phật là ai.” Soi đi soi lại câu đó cho đến khi “Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ,” nghĩa là cho tới chỗ mình tưởng rằng, “Núi đã hết, sông đã cùng, không còn chỗ đi nữa,” thì khi mình quay trở lại tự nhiên sẽ thấy “Liễu ám hoaminh hữu nhất thôn,”

    Nghĩa là:

    “Sẽ thấy xuất hiện một thôn trang,

    Ngày thứ 8:

    Ngày thứ 9:

    Thế là suốt trong thời gian ở đây, thời gian nào rảnh, dù có 5 phút hay 15 phút, tôi cũng cầm những cuốn sách khai thị và nghiến ngấu đọc, như trước đây chừa từng được đọc. Tôi bỗng trân quý thời gian vô cùng, như lời H.T dạy: (Một phút thời gian, một tấc vàng, Vàng sao mua đặng phút thời gian?)

    H.T Tuyên Hóa khai thị:

    “Đại địa xuân hồi bách vật sinh

    Ngày thứ 10:

    H.T Tuyên Hóa khai thị:

    “Thập phương đồng tụ hội Giai kỳ học vô vi Thử thị tuyển Phật trường Tâm không cập đệ quy.

    Nghĩa là:

    Tới lúc đó thì tự tại vô cùng, tự khắc sẽ biết bổn lai diện mục là như thế nào. Tuy nhiên, tới được cảnh giới đó chẳng phải dễ dàng. Bởi vậy mới cần phải gắng sức nhẫn chịu, chịu đựng mọi thống khổ, mọi sựgian nan. Như quả qua được cửa ải này thì sẽ gặp một sự thống khoái: “Chính là ăn bằng niềm vuithiền duyệt, và sống trong pháp hỷ.”

    Ngày thứ 11:

    Đời sống và trí tuệ trong tu hành cho tôi thấy rõ được sự thật và bản chất của cuộc đời. Đôi khi vạch trần nó ra để soi rọi và quán chiếu, ta thấy được tất cả sự trần trụi, ô trược và khổ đau của chúng sinh làm sao! Cái khổ đau của việc nhận giả làm thật, lấy dơ làm sạch, lấy phải làm quấy, lấy khổ làm vui, nên ngàiTuyên Hóa cũng nói rằng: “Chúng sinh khi sinh ra đã hồ đồ, sống hồ đồ, cả một cuộc đời hồ đồ và khi chết đi cũng hồ đồ.”

    H.T Tuyên Hóa khai thị:

    Ngày thứ 12:

    H.T Khai thị: Ngày thứ 13: H.T Tuyên Hóa khai thị: Đi đứng nằm ngồi Không lìa bỏ nó Lìa bỏ cái đó Tức thành lầm lỗi. Mọi sự qua suông sẻ Khó xả duy nổi nóng Nếu quả không tức giận Đó là hòn ngọc quý Lại không biết hận người Sự việc đều trôi chẩy Phiền não chẳng hề sanh Lấy đâu tạo oan nghiệt? Thường chỉ rặt trách người Khổ đau chuốc mãi mãi.

    Dụng công nơi Thiền đường, ta phải ghi nhớ hai câu sau:

    Ma-ha-tát, chẳng lý tới kẻ khác Di-đà Phật, ai nấy tự lo lấy! Không bàn lỗi người khác Lỗi người tức lỗi ta

    Ngày thứ 14:

    H.T dạy:

    Thầy Duy-na thưa:

    “Bạch Ngài, Ngài đuổi tôi thì được rồi, song tôi muốn xin Ngài một việc, mong Ngài thuận cho.”

    Vị Phương-trượng hỏi: “Thầy sắp ra đi, còn muốn yêu cầu gì nữa?”

    Thầy Duy-na lại hỏi Phương-trượng: “Thưa Ngài, tôi nên đi về đâu?”

    “Đề khởi được” cái gì? Đề khởi được câu “Niệm Phật là ai?”

    Ngày thứ 15:

    H.T khai thị:

    Lão Tử nói rằng:

    “Quân tử hữu tạo mệnh chi học, Mệnh do ngã lập, Phước tự kỷ cầu. Họa, phước vô môn, Duy nhân tự chiêu.”

    Nghiã là:

    “Quân tử có cái học tạo mệnh, Mệnh do mình lập, Phước do mình cầu. Phước với họa chẳng có cửa, Chỉ do mình tự chiêu cảm lấy.”

    Ngày thứ 16:

    Tôi được biết là những khóa thiền thất sau này (khi không còn H.T nữa) thì đã được điều chỉnh lại thời gian, bởi vì nếu gắt quá thì sẽ khó có nhiều được có đủ khả năng, thời gian, căn cơ mà tham dự. Khi H.T còn sống, có khóa thiền thất lên đến 100 ngày, và thời gian dụng công lên đến 21 tiếng mỗi ngày. Chúng ta hãy đọc một đoạn sau đây về H.T Tuyên Hóa khai thị: “Yếu học hảo, oan nghiệt trảo, Yếu thành Phật, tiên thọ ma.” Một Trăm Ngày Thiền Thất “Muốn học tốt, oan nghiệt tìm, Muốn thành Phật, trước gặp ma.” “Dục cùng thiên lý mục, Cánh thượng nhất tằng lâu. (Muốn thấy tận cùng ngàn dặm, Phải bước lên thêm một tầng lầu.) trong tập khai thị: H.T Tuyên Hóa khai thị: “Kỳ tấn duệ giả, kỳ thối tốc”

    Dịch là:

    “Tiến càng nhanh, thì lùi cũng rất mau.” “Nhất nhật vô quá khả cải, Tức nhất nhật vô công khả tạo”.

    Ngày thứ 17:

    “Một ngày chẳng sửa lỗi lầm, Là một ngày chẳng tạo công đức.”

    Nghĩa là:

    H.T Tuyên Hóa khai thị: “Thực, sắc tánh dã.” “Bão noãn tư dâm dục, Cơ hàn khởi đạo tâm.” Đói lạnh mới khởi lòng trộm cắp.)

    Nghĩa là:

    H.T Tuyên Hóa khai thị: “Dưỡng thành đại chuyết phương vi xảo, Học đáo như ngu thủy kiến kỳ.”

    Ngày thứ 18:

    “Dưỡng tâm như dại là tuyệt xảo, Học tới như ngây mới diệu kỳ.” Ma Ha Tát, bất quản tha, Di Đà Phật, các cố các. A Di Đà Phật, ai lo chuyện nấy!) Vạn duyên phóng hạ, (Buông xả mọi chuyện, Một niệm không khởi.)

    Ngày thứ 19:

    H.T Tuyên Hóa khai thị: Nhẫn phiến khắc, phong bình lãng tĩnh, Thối nhất bộ, hải khoát thiên không. (Nhẫn một chút, gió êm sóng lặng, Lùi một bước, biển rộng trời cao.)

    Dịch là:

    Bị mao đái giác hoàn! (Một hạt cơm thí chủ, Nặng như núi Tu Di, Ăn rồi không tu hành, Mang lông, đội sừng trả!) Nhất sám tiện tiêu. (Tội lỗi dẫu lớn đầy trời,

    Ngày thứ 20:

    Thiện ác lưỡng điều đạo, Tu đích tu, tạo đích tạo. Tu thì tu, tạo vẫn tạo.) KHÓA TU CHẤM DỨT.

    Ngày thứ 21:

    Bởi vậy:

    Họ muốn nói đạo lý với tôi, nhưng lại không dám công khai. Họ bèn đi thỉnh giáo vị đoàn trưởng kiêm cố vấn của họ là Pháp Sư Đạt Ma Nan Đà. Pháp Sư Đạt Ma Nan Đà sau khi nghe chuyện, Pháp Sư bènquở trách họ:

    Thấy vị cố vấn của họ phản ứng như thế, họ mới không đến tranh cãi với tôi.

    Về nhà, Ngài thưa hỏi thân mẫu, bà dạy :

    Ngài lại thưa : Như vậy, có cách gì thoát khỏi sự chết chăng?”

    Bấy giờ trong nhà có vị khách xưa kia từng tu Đạo, đỡ lời đáp rằng:

    Tuyên Quy diệu nghĩa chấn gia thanh, Hóa thừa Linh nhạc Pháp Đạo long, Độ dĩ tứ lục truyền tâm ấn, Luân triền vô hưu tế khổ luân.

    Ngày lại ngày, Ngài cung kính phụng dưỡng song thân như đối với Đức Phật vậỵ Chẳng bao lâu tiếnghiếu thảo đồn khắp bốn phương, và mọi người đều gọi Ngài là Bạch Hiếu Tử (người con chí hiếu họ Bạch).

    Vừa nhìn thấy Ngài, Lão Hòa Thượng, lúc ấy đã 109 tuổi, liền nhận ra ngay sự chứng ngộ của Ngài. Khi đó, Lão Hòa Thượng nói :“Như thị, như thị!” và Ngài cũng đáp lại “Như thị, như thị !” Biết Ngài là bậc ‘pháp khí’, Lão Hòa Thượng Hư Vân ấn chứng sở đắc của Ngài, và Ngài chính thức trở thành vị tổ thứ chín củaThiền Tông Quy Ngưỡng. Lão Hòa Thượng Hư Vân đã bày tỏ sự tin tưởng vào Ngài qua bài kệ:

    (2) Phiên dịch kinh điển Phật Giáo, và

    Vốn nuôi chí nguyện đem Chánh Pháp truyền bá đến khắp nơi trên toàn thế giới, nên năm 1961, Ngài sang Úc Châu hoằng Pháp; và năm sau, 1962, Ngài đến San Francisco, Hoa Kỳ. Tại đây, nơi một nhà kho nhỏ, Ngài kiên trì tu hành trong im lặng, chờ đợi cơ duyên hoằng dương Đạo Pháp chín muồi. Lúc ấy, Ngài tự gọi mình là Mộ Trung Tăng (nhà sư trong phần mộ), và Hoạt Tử Nhân (người đã chết nhưng còn sống).

    Năm 1968, biết cơ duyên đã đến, Ngài nói: “Một đóa hoa sẽ nở ra năm cánh.” Mùa hè năm ấy, Ngài chủtrì Pháp hội giảng Kinh Lăng Nghiêm trong 96 ngày. Khi Pháp hội kết thúc, quả nhiên có năm người Mỹ xin xuất gia với Ngài. Từ đó, Ngài chủ trì nhiều Pháp hội khác giảng giải Tâm Kinh, Kinh Địa Tạng, Kinh Pháp Hoa, Kinh Pháp Bảo Đàn, v.v… Năm 1971, Ngài giảng bộ Kinh tối cao của Đại Thừa, Kinh Hoa Nghiêm .

    Vâng theo di huấn của Ngài, tứ chúng đệ tử tại các đạo tràng thuộc Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới đềuchuyên tâm trì tụng Kinh Hoa Nghiêm và niệm Phật suốt 49 ngày kể từ hôm Ngài viên tịch. Ngày 12 tháng 6, 1995, Lễ Nhập Quan được cử hành tại Long Beach Thánh Tự; và đến ngày 16 tháng 6, kim quan của Ngài được cung thỉnh về Vạn Phật Thánh Thành. Tại đây, Đại Lễ Truy Ân được tổ chức từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 7. Và sau Thánh Lễ Trà Tỳ, ngày 29 tháng 7, tro cốt của Ngài được rải trên địa phận của Vạn Phật Thánh Thành đúng như lời di giáo của Ngài:

    Chánh Pháp “Quý vị thành thật tu hành, không ham hư danh giả lợi, không tham của cúng dường -đó chính làChánh Pháp trụ thế. Nếu mọi người xuất gia đều có thể giữ giới không đụng đến tiền bạc (ngân tiền giới), đều có thể ngồi Thiền, có thể ngày ăn một bữa lúc giữa trưa, có thể luôn luôn mặc giới y và nghiêm trì giới luật, thì đó là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!”

    H.T Tuyên Hóa

    Ngày 23 tháng 6 năm 1996, đúng một năm sau ngày Hòa ThượngTuyên Hóa nhập Niết Bàn, Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới long trọngtổ chức Lễ Cung Thỉnh Xá Lợi Hòa Thượng Về Các Đạo Tràng Chi Nhánh. Hòa Thượng Tuyên Hóa đã vĩnh viễn ra đi, nhưng trong tâm trí mọi người vẫn âm vang lời di huấn của Ngài: “Hãy quét sạch tất cả các Pháp, ly khai tất cả các tướng !”

    “Nếu quý vị có thể không tranh, không tham, không cầu, khôngích kỷ, không tự lợi, và không nói dối, thì đó chính là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!”.

    Như vậy, thế nào là thời kỳ Mạt Pháp? Trong quyển 5 của Pháp Hoa Nghĩa Sớ có chép: “Khi “Pháp” trở thành suy vi, đó gọi là thời Mạt Pháp.”

    Trong quyển 6, chương Nghĩa Lâm của Đại Thừa Pháp Uyển có nói: “Chỉ có giáo pháp mà không có gì khác thì gọi là Mạt Pháp.”

    Tuy nhiên, sự mô tả chân chánh tường tận về thuyết Mạt Pháp được xuất hiện trong phần Nguyệt Tạng của Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập, và trong Kinh Pháp Diệt Tận.

    Về sau, thuyết Mạt Pháp xuất hiện dưới triều đại Bắc Tề (550-377 SCN), trong bài văn phát nguyện củaThiền Sư Huệ Tư ở Nam Nhạc (). Thiền Sư Huệ Tư đã tự ghi lại là ngài sanh vào năm thứ 82 của thời Mạt Pháp và đã chép lại toàn bộ Kinh Bát Nhã cùng nhiều bản văn khác. Ngài đã nguyện sẽ truyền Pháp cho đến khi Bồ Tát Di Lặc đến thế gian này.

    Nói chung, cho dù thời kỳ Mạt Pháp nhất định có xảy đến chăng nữa, thì trong quyển 49 của Thập Tụng Luật , Đức Phật cũng đã nêu ra năm điều có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.

    Năm điều này là:

    1. . Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo chỉ dựa vào giáo pháp chân chánh màtiến tu, xa lánh cái nhìn lệch lạc (thiên kiến) của Tiểu Thừa cùng các tà thuyết của ngoại đạo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.

    3. Kính Sư Thượng Tòa (tôn kính phụng sự các bậc trưởng thượng). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo tôn kính và phục tòng các vị đại đức ở hàng thượng tọa và chuyên cần cầu học yếu nghĩa Phật Pháp từ họ; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.

    “Phật Pháp chưa diệt, Tăng tự diệt, Thành thật chân chánh, bị chế giễu, Gian ngoa xảo trá, được tán dương.

    Mặc dầu Đức Phật nhiều lần đề cập đến sự hủy diệt của Phật Pháp, tuy nhiên Đức Phật cũng có ý khắc phục sự hủy diệt của Chánh Pháp. Như trong Kinh Niết Bàn có chép:

    Hòa Thượng đã cảm khái rằng:

    “Tôi muốn nói lời thật, Không sợ bị đánh, chửi. Giết tôi, tôi chẳng sợ, Giải thoát, có gì ngại?”

    Phật Giáo có câu: “Thà cả ngàn năm chẳng vãng sanh, còn hơn một ngày trong ma đạo “. Nếu chúng ta thiếu Trạch Pháp Nhãn của “Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối” (trong Kinh Lăng Nghiêm ) e rằng chúng ta có thể trở thành quyến thuộc của loài ma mà chính mình lại không hay không biết!

    Để có thể phân biệt chánh tà, ngài dạy ta nên quán xét về bảy điểm như sau:

    Hòa Thượng Hư Vân đã nói:

    Trong kinh có nói rằng những biểu hiện suy tàn của thời kỳ Mạt Pháp có thể nhận thấy ở khắp nơi – như việc Tăng sĩ cưới vợ, ni cô lấy chồng, giới y cà-sa được thay bằng y phục thế tục, cư sĩ ngồi trên tòa cao, v.v … Có cư sĩ Âu Dương Cánh Vô đã dùng tri kiến riêng của mình mà viết ra Lăng Nghiêm Bách Ngụy Thuyết để phản đối Kinh Lăng Nghiêm .

    Lại có Pháp Sư Viễn Tham tuyên bố rằng Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Viên Giác, Kinh Pháp Hoa và nhiều bộ kinh khác, cũng như Đại Thừa Khởi Tín Luận đều là giả mạo. Ở Việt Nam mình thì có T.T Nhật Từ cũngthường xuyên giảng dạy cho chư Tăng Ni và Phật tử (youtube: Kinh Lăng Nghiêm. TNT) rằng, kinh Lăng Nghiêm, kinh Địa Tạng là ngụy tạo do chư tổ Trung Hoa lập ra chứ không phải do Phật thuyết, hoặc là chỉ có 5 cõi chứ không có 6 cõi luân hồi, không có địa ngục.v.v…Người tu hành hoặc một vị giảng sưchân chính khi thuyết giảng điều gì phải y theo Kinh, Luật và Luận, ba tạng giáo điển của chư Phật và chư tổ sư truyền lại để xác lập. Không thể y cứ vào các luận án tiến sĩ của giáo sư này, giáo sư nọ hoặc các tài liệu nghiên cứu từ đại học này, đại học kia, hoặc cũng không thể y cứ kiến thức, tri thức thế gianđể chứng minh Phật giáo và các cảnh giới trong luân hồi là có hay không có. Người xuất gia không khéotu hành, thuyết giảng khắp nơi mà lại tùy tiện diễn giảng theo tư kiến của mình thì sẽ đắc tội với chư Phật, chư tổ. Đây cũng chính là những hiện tượng của thời kỳ Mạt Pháp vậy.

    “Trong Phật Giáo, tất cả kinh điển đều rất quan trọng, nhưng Kinh Lăng Nghiêm còn quan trọng hơn nữa. Với ngài thì nơi nào có Kinh Lăng Nghiêm , thì nơi đó có Chánh Pháp trụ thế. Khi Kinh Lăng Nghiêm bị mất đi, đó là dấu hiệu của thời kỳ Mạt Pháp. Khi giảng Kinh Lăng Nghiêm , ngài có nói rằng: ‘Vào thời kỳ Mạt Pháp, Kinh Lăng Nghiêm sẽ bị diệt trước nhất. Sau đó dần dần các kinh khác cũng bị diệt theo.’

    Này Ca Diếp! Những người hộ trì Chánh Pháp được quả báo công đức vô lượng như thế. Do nhân duyên hộ trì Chánh Pháp này, mà nay Ta được tướng hảo trang nghiêm và thành tựu được Pháp thân kim cang bất hoại.”

    Kinh Lăng Nghiêm là chân thân của Phật, là xá-lợi của Phật, là tháp miếu thờ Phật. H.T nói rằng, nếu Kinh Lăng Nghiêm là ngụy tạo, thì tôi sẵn sàng chịu đọa địa ngục Vô Gián, vĩnh viễn ở chốn địa ngục, không bao giờ được trở lại thế gian để gặp mọi người nữa! Người nào có thể học thuộc Kinh Lăng Nghiêm , học thuộc Chú Lăng Nghiêm, thì người đó chính là đệ tử chân chánh của Phật!”

    Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tôn Giả Ca Diếp rằng:

    Nếu không còn ai tu hành, không có người nào đọc, tụng, và học thuộc Kinh Lăng Nghiêm, thì đó là thời kỳ Mạt Pháp. Bởi trong Kinh Lăng Nghiêm , có phần “Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối” giảng về sát sanh(sát), trộm cắp (đạo), dâm dục (dâm), dối trá (vọng); với phần “Ngũ Thập Ấm Ma” giảng về thiên ma,ngoại đạo cặn kẽ đến tận xương tuỷ; và cả hai phần này đều nói rất rõ ràng rằng khi nào không còn người giữ giới, thì khi đó là thời kỳ Mạt Pháp. Giới còn, tức là Phật Pháp còn vậy!

    Ăn Ngày Một Bữa Và Luôn Mặc Y Giới

    Vì sao lại như thế? Hòa Thượng giải thích rằng:

    Cái nhìn của Hòa Thượng về việc kiến tạo chùa chiền như sau:

    Và, có câu thành ngữ Trung Hoa nói rằng: “Đồ ăn uống sanh ra nam nữ.” Điều này chứng minh rằngdâm dục là từ sự ẩm thực quá lượng mà ra. Và nếu đó là việc “ăn phi thời,” thì đó là vấn đề phá giới.

    “1. Ít dục vọng (thiểu dâm); 2. Ít ngủ (thiểu thùy);

    Không ăn phi thời là hạnh nguyện mà người xuất gia phải giữ và là điều kiện tiên quyết của việc cạo đầuxuất gia. Hơn nữa, trong Bát Quan Trai Giới của người tại gia cũng có bao gồm giới “không ăn phi thời”. Do đó đây là vấn đề giới luật có được nghiêm trì hay không. Ngoại trừ khi bị bệnh, không có lý luận nào có thể chấp nhận được.

    Thêm nữa, trong Kinh Xứ Xứ có liệt kê năm loại phước đức có được do không ăn sau giờ ngọ:

    Từ đó chúng ta có thể thấy rằng không ăn sau giờ ngọ thì có thể được phước. Ngoài ra trong Luận Đại Tỳ-Bà-Sa cũng cho rằng:

    Trong Kinh Trường Trảo Phạm Chí Thỉnh Vấn có nói:

    “Dược thạch (nghĩa thường: thuốc và đá) là thứ dùng để chữa bệnh. Người xưa dùng đá làm kim châm, ngày nay thì người ta dùng sắt. Tất cả đều nhằm mục đích chữa bệnh.”

    Trong Kinh Tỳ-Ni Tam Muội có giải thích như sau:

    Về ý nghĩa của chữ “dược thạch,” trong quyển 18 của Huyền Ưng Âm Nghĩa có chép:

    Trong quyển một của Phật Đình Sự Uyển, Phần La-Hán Dược Thạch, có nói rằng:

    Trong Thiền Lâm Tượng Khí, Phần Ẩm Đạm Môn, có nói như sau về dược thạch:

    Từ đó có thể thấy rằng danh từ “dược thạch” (thuốc) chỉ là một tên khác để chỉ “bữa ăn tối” được Phật Giáo Trung Hoa phát minh ra mà thôi!.

    “Đúng sai cần gì cãi, Thật giả lâu tự biết, Kẻ trí thấy chân thật, Kẻ ngu hành giả dối, Kẻ tốt học Bồ tát, Kẻ xấu dám mắng Phật,

    Nói chung, mặc dầu Đức Phật, Đấng Thế Tôn, đã loại bỏ một số giới điều nhỏ trước khi nhập Niết Bàn, nhưng giới không ăn phi thời thì không bỏ được. Quyển 15 của Kinh Tạp A Hàm nói rằng:

    Kinh Đại Bi có chép rằng:

    Các kinh sách Hòa Thượng đã giảng trong suốt cuộc đờicủa Ngài được liệt kê tổng quát như sau: Kinh Lục Tổ, Kinh Địa Tạng, Kinh A Di Đà, Kinh Bốn Mươi Hai Chương, Bách Pháp Minh Môn Luận, Kinh Di Giáo, Chứng Đạo Ca của Đại Sư Huyền Giác— tất cả có hơn 30 loại khác nhau. Ngoài ra Hòa Thượng còn giải thích về hai lãnh vực triết học của Trung Hoa: và . Trong tất cả những kinh sách này có ba tác phẩm rất đặc biệt, ít có người giảng giải, đó là: Lăng Nghiêm Chú Cú KệSơ Giải, Thủy Kính Hồi Thiên Lục, và Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải (chân dung của chư Tổ Phật Giáo qua lờigiải thích bằng ngôn ngữ dễ hiểu của thời đại ngày nay).

    Loạt bài thuyết giảng Lăng Nghiêm Chú Cú Kệ Sơ Giải kéo dài tám năm, từ 1979 đến 1987. Trong suốtlịch sử Phật Giáo, bài chú này hiếm khi được giải thích. Chỉ có Đại Sư Tục Pháp của triều nhà Thanh và Pháp SưBá Đình ở Từ Vân Tự tại Vũ Lâm là từng giảng giải chú này. Pháp Sư Bá Đìnhnghiên cứu Mật Bộ và trước tác bộ Lăng Nghiêm KinhQuán Đảnh Sớ gồm hai mươi sáu quyển, dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Hoa, và sau đó giải thích chi tiết về mật chú này.

    Trong Kinh và Chú của Phật Giáo, có “năm loại không phiên dịch” (ngũ chủng bất phiên) bởi vì ngôn ngữbí mật của chư Phật khó cho hầu hết các vị thánh khác hiểu được, chứ đừng nói đến người thường. Mặc dầu theo thông lệ là không dịch các bài chú trong kinh, tuy nhiên người ta có nhiều ý kiến khác nhau vềvấn đề này. Một số người nghĩ rằng việc dịch ý nghĩa của các bài chú có thể mang lại hai mươi bốn loạilợi ích. Vì vậy, khi Hòa Thượng có được bản Lăng Nghiêm Chú Sớ vào năm Dân Quốc thứ 38 (1949), Ngài đã ghi lại:

    “Ảo diệu vô cùng thật khó sánh, Trong Chú Lăng Nghiêm đủ hiệu năng “Là Vua Kiên Cố trong các định Thanh tịnh các nghiệp thân, khẩu, ý Đủ đức được gặp câu linh diệu, Luôn luôn đừng quên việc xiển dương.”

    Ngài cũng nói:

    “Chúng sanh khi tập điều thiện, dù được nắm tay đối mặt, ba lần răn năm lần dạy, vẫn chưa chịuphụng hành; nhưng khi gặp ác duyên thì niệm niệm liền tăng trưởng, tự biết rành rẽ mà chẳng cần ai vẽ bày. Những kẻ lầm đường lạc lối mà biết quay lại, thật ít lắm thay! Do đó, mọi sự giống như ánh trăng đáy nước và bóng hoa trong gương–chỉ có dáng dấp mà thật không hình hài. Đây chính gọi là sự hy vọng việc không thể hy vọng, sự thành tựu việc không thể thành tựu. Bởi lẽ đó nên viết Gương, Nước Về Trời (Thủy Kính Hồi Thiên) vậy”.

    Có thể nói rằng Thủy Kính Hồi Thiên Lục chính là ‘nhất mạch tâm truyền’ từ Xuân Thu Bút Sử, và cũng là sách ghi chép về nhân quả sống động, rõ rệt nhất của đời nay. Trong tác phẩm này, trước tiên, Hòa Thượng giới thiệu sơ lược về cuộc đời của mỗi nhân vật, rồi dùng tám câu thơ bốn chữ (bát cú tứ ngôn) để ca ngợi, và sau đó kết thúc bằng một bài thơ “hựu thuyết kệ viết” (lại nói kệ rằng) theo thể thất ngôn. Bộ sách này xứng đáng để xem đi xem lại, có thể giúp người đời hiểu biết về luật nhân quả, xét chuyện đã qua mà biết chuyện sẽ đến, và đoạn ác tu thiện.

    Trong bài tựa sách, Hòa Thượng đã viết :

    “Thầy gởi cho con bộ Phật Tổ Đạo Ảnh mà Thầy đã hiệu đính trong nhiều năm gần đây. Hãy đọc, và lưu giữ bộ sách này, và Thầy hy vọng con sẽ được lợi ích cho mình, làm lợi ích cho người và trân quý Đạo.” “Con là đệ tử đã thiết tha quan tâm đến Phật Pháp và sự tiếp nối huệ mạng của chư Phật Tổ. Naythuận theo hạnh nguyện của con, Thầy gởi cho con văn bản Phật Tổ Nguyên Lưu để kế thừaTổ mạch, với kỳ vọng Tổ Đạo nhờ đó mà được trùng hưng, sự truyền thừa này sẽ bất tận.”

    Bây giờ chúng tôi xin giới thiệu Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải (Chân Dung Các Vị Tổ Phật Giáo Giải Thích Bằng Bạch Thoại). Đây là công trình do Hòa Thượng giảng giải trong mười ba năm, trải dài từ năm 1972 đến năm 1985, tổng cộng 346 tiêu đề. Những nhân vật quan trọng được giới thiệu trong này như sau: Từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi “niêm hoa vi tiếu”, giơ cánh hoa trên tay và mỉm cười truyền pháp cho Tôn Giả Ca Diếp; rồi Tôn Giả Ca Diếp truyền cho Nhị Tổ là Tôn Giả A Nan, và tiếp tục như vậy cho đến vị tổ thứ hai mươi tám là Thiền Sư Bồ Đề Đạt Ma, mới là người chính thức mang pháp Thiền sang nước Trung Hoa và trở thành Sơ Tổ ở đất nước này (Đông Độ Sơ Tổ).

    Thật ra, việc Hòa Thượng giảng thuật bộ sách Phật Tổ Đạo Ảnh là do một đại nhân duyên. Vào năm 1958, Lão Hòa Thượng Hư Vân gởi bộ sách này cho Hòa Thượng [Tuyên Hóa] cùng với bức thư trong đó nói rằng:

    Hòa Thượng có lời thệ nguyện rằng: “Chỉ cần tôi còn một hơi thở, thì tôi còn giảng kinh thuyết pháp!”; cho nên, Hòa Thượng trước thuật rất nhiều. Thêm vào đó, Hòa Thượng còn nguyện “; điều này có thể nói là công đức vô lượng vô biên.Trước mắt, Tổng Hội Pháp Giới Phật Giáo đã phiên dịch được hơn một trăm bộ kinh Phật và sách khai thị. Sau khi Hòa Thượng viên tịch, công tác phiên dịch kinh điển không hề bị gián đoạn, chư đệ tử của Ngài vẫn tiếp tục lãnh đạo chúng sanh, dẫn dắt họ từ trong bóng đêm tăm tối đến nơi quang minh sáng sủa, từ bờ bên này sang đến cứu cánh Niết Bàn ở bờ bên kia !

    Thủy Kính Hồi Thiên Lục

    Suốt cuộc đời, Hòa Thượng dùng Sáu Đại Tông Chỉ: để giáo hóa chúng sanh (thật ra đây chính là Năm Giới). Nhiều Phật tử không xem trọng những tông chỉ này, cho rằng ngay cả đứa trẻ lên ba cũng có thể nói ra được. Như vậy còn cần nói thêm gì nữa ? Tuy nhiên, tôi không biết Hòa Thượng đã nói bao nhiêu lần:

    Phải chăng Lão Tử từng nói:

    Tranh là tâm hơn thua, Đi ngược lại với Đạo, Tâm sanh ra bốn tướng, Làm sao được Tam muội.? Việc việc buông thì dễ, Tánh nóng khó sửa đổi. Thật sự không nóng giận, Tức có ngọc vô giá. Lại không buộc lỗi người, Mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Phiền não không khởi nữa, Sân hận không kiếm ta. Thường luôn tìm lỗi người, Khổ mình không thể dứt.

    Lão Tử còn nói:

    Không bàn luận lỗi người, Lỗi người là lỗi mình,

    Hết thảy là khảo nghiệm, Coi thử mình ra sao, Đối cảnh lầm không biết, Phải luyện lại từ đầu.

    Hòa Thượng cũng từng nói:

    Tu hành, về căn bản thì rất đơn giản: “Đạo có sẵn ngay đó, đừng tìm cầu đâu xa.”Nhưng người ta luôn luôn tìm con đường tắt; họ chạy loanh quanh tìm “mật pháp” để tu hành. Điều này thật sự làm chocon người càng hồ đồ thêm. Chúng ta không nhận thức được rằng “sự bí mật nằm ngay bên cạnh chúng ta” hay sao? Nó nằm ngay trong việc theo đuổi dục vọng vật chất và chấp trước của tâmphân biệt; nó nằm ngay ở sự chế ngự nóng giận và từ chối nói dối. Đó là những “mật pháp” tức khắc; đó là Đạo!

    TÓM LẠI.

    Ngoài Sáu Đại Tông Chỉ, Hòa Thượng còn có hai bài thơ đáng được chúng ta tín thọ và phụng hành. Đó là:

    Trong sách và các thánh nhân đã dạy chúng ta rằng: Sự hướng dẫn của Hòa Thượngcũng là quay trở lại và tìm trong chính mình.

    Theo tôi biết, chưa có vị Thầy nào tự đánh mình vì đệ tử không hiếu thuận. Điều này thật vô cùng đau lòng. Hòa Thượng đã áp dụng đạo lý “lỗi người là lỗi mình; đồng thể tức Đại Bi”, có thể nhìn là thấy ngay. Điều này đã được mô tả trong Phẩm 25 của Kinh Hoa Nghiêm:

    Một ngày mùa đông tháng 2 tại Đức quốc.

    Khai thị 1,2,3,4,5,6.

    Vạn Phật Thánh Thành website: http://www.chuavanphat.org

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tả Một Ngày Mới Bắt Đầu Ở Quê Em
  • Thần Cấp Căn Cứ Chương 158: Yêu Tinh Nước Trái Cây
  • Cúng Thần Tài Ngày Rằm: Nhẩm Khấn Đúng Bài Để Thần Ưng Bụng Mở Túi Ban Phát Lộc Lá, Làm Gì Cũng Gặp May
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Chép Đỏ (Chép Ông Táo)
  • Đỏ Rực Cả Làng, Hàng Tấn Cá Chép Chuẩn Bị Tết Ông Táo
  • Khoa Cúng Phật Thánh Tôn Thần Tổng Hợp Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 5 Cửa Hàng Văn Hóa Phẩm Phật Giáo Uy Tín Giá Tốt Tại Tp.hcm.
  • Bộ Đồ Thờ Cúng Gồm Những Gì? Ý Nghĩa Và Cách Sắp Xếp
  • Lễ Cấp Sắc Của Người Sán Dìu
  • Sách Cúng Tạp Tiếu Chư Khoa Song Ngữ + Thủy Lục Chư Khoa
  • Cúng Rằm Tháng 8 Ngày Nào
  • (Chú ý: Đây là khoa Tổng hợp cúng Phật thánh, Bách thần. Phần chữ nghiêng là tùy cải theo việc. Nhấn vào dòng TẢI VỀ dòng trên để xem và lấy bản dạng PDF để in ra giấy)

    MỞ ĐẦU ĐÀN LỄ

     (tay cầm bó hương quấn vải đỏ tuyên)

    PC:     Thiết nghĩ: Đàn tràng bày biện đã xong, Đèn nến soi sáng lung linh. Nhạc Pháp vang lừng, Hương thơm tỏa khắp.

    TẢ:       Đàn tràng hoàn tất, Đại chúng đủ đầy. Trai chủ… chí thành tâm tâm cảm động.        

    HỮU:     Trước chuông vàng vang tiếng, sau Khánh ngọc vang âm. Chuông trống cùng Nạo bạt đồng thanh âm vang chấn động.

    TẢ:       Trên vang lên trời cao, dưới vọng xa 8 hướng. Du dương khắp núi sông, ngân nga khắp các cõi.

    HỮU:    Uy phong xét xem các nơi cấm kỵ. Trước các Long thần, khiến hết khiếp hãi trong Tâm, an ủi vỗ về tất cả.

    TẢ:    Mọi người hoan hỷ đều cùng suốt thông. Y phục chỉnh nghiêm, tuân theo lệnh Phật.

    PC:         Phật dạy Thần chú An yên Thổ địa, Thần chú niệm rằng.

    TẢ:                                       Đồng quê, rừng núi tiếng chuông vang.

    Thổ địa, Long thần khắp Thế gian.

    HỮU:                       Lắng nghe tuyên dương Chân ngôn diệu

    Các phương xa xứ đều mừng vui.

    ĐC:                              Nam mô Hoan hỷ Địa Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    PC:        Chuông trống nổi lên vọng vang 3 cõi, cung thỉnh 5 vị Sứ giả, cung kính thỉnh nghênh Hội đồng Phật Thánh, Bồ tát, Tôn thần hiện giáng Đàn tràng.

    Hãy nổi Âm thanh vọng vang chấn động. (nổi nhạc, trống, chiêng)

    ooo

    Đàn lễ bày biện đã xong, Đệ tử Trai chủ, các Phật tử quỳ lễ cung kính nghênh đón chư Phật, Bồ tát, Thánh thần 5 lễ.

    ĐƯỜNG THỈNH HỘI ĐỒNG THÁNH MẪU:

    Chí tâm Lễ thỉnh: Đệ nhất Thiên tiên Thanh vân Tiêu Huyền nữ Cửu trùng Thiên Thánh mẫu, Đệ nhị Địa tiên Quỳnh hoa Dung Liễu Hạnh Thánh mẫu, Đệ tam Thủy tiên Xích Lân Long nữ Bạch ngọc Động đình Thủy tinh Thánh mẫu, Đệ tứ Nhạc tiên Thượng ngàn Lê Mại Bạch anh Quản trưởng Sơn lâm Thánh mẫu; 5 vị Hoàng Thái tử Vương quan, 4 ban Khâm sai Công chúa, 4 phủ Thánh Hoàng, 36 Thần nữ, 60 Hoa giáp Thần nương, 8 bộ Sơn trang, 12 Tiên nàng, Tiên cô, Hoàng quận Hội đồng, Công đồng Tả hữu, Liệt vị trăm quan, các ban Bộ hạ.

    Kính nguyện: Giáng Phúc lưu Ân, trừ Tai tiêu Ách, bảo hộ bình an, giáng hạ Đàn tràng thụ nhận cúng dàng; Hương hoa thỉnh.

    ooo

    ĐƯỜNG THỈNH HỘI ĐỒNG TRẦN TRIỀU:

    Chí tâm Lễ thỉnh: Thượng đẳng Tối linh Thần Đại Nguyên súy Thượng Quốc công Bình bắc Nhân vũ Hưng đạo Ðại vương, Đường tông khởi Thánh: An sinh Hiển Hoàng Khâm minh, Thiện đạo Quốc mẫu; Vương phi Nguyên từ Quốc mẫu, Trần triều Điện súy Thượng Chiêm cảm Hùng văn và 4 Vương tử: Hưng Vũ, Hưng Hiến, Hưng Trí, Hưng Nhượng; 4 vị Vương cô: Quyên Thanh Công chúa, Dưỡng nữ Đại Hoàng Công chúa Anh Nguyên Thủy tiên Quận chúa, Bảo từ Thuận thánh Hoàng hậu, Ngoại tôn Tĩnh Huệ Công chúa. Cùng 2 vị Thần: Nam Tào, Bắc Đẩu; 5 vị Tướng quân: Dã Tượng Yết Kiêu, Nghĩa Xuyên, Hùng Thắng, Huyền Do; Vương tế Vương tôn, Tả hữu Công đồng Văn quan Võ tướng, Hoàng thân Quốc thích, các ban Bộ hạ.

    Kính nguyện: Hiển Thánh thời Trần, giáng Thần đất Việt, ban Ân giáng Phúc, yên ổn Nhân dân, diệt trừ Ma quỷ, giáng hạ Đàn tràng thụ nhận cúng dàng; Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG THỈNH CÁC VỊ THẦN LINH:

    Lại thắp Hương thơm Chí tâm Lễ thỉnh: 5 vị vua Thần cai quản 5 phương đất đai, Thành hoàng Quốc gia, Trấn phủ, Châu huyện, Thôn xã Bản cảnh; chủ Đất các phương; Chúa đất khu vực xóm làng (phố phường); Thần đất Thần núi, Thổ thần Thổ phủ, Thổ địa Thần kỳ; các vị Thần linh cai quản nhà cửa cổng ngõ; Táo quân Giám trai cai quản bếp giếng, Thần tài Tiếp dẫn; Đại thần vua đất Kiên lao, Đại long Thần mạch, Linh khí núi sông, Địa mạch Long mạch, Phục long Đằng xà, Thanh long Bạch hổ, Chu tước Huyền vũ; Linh thần cai quản: 4 phương 8 hướng, 8 quẻ 9 cung; 24 Sơn, 24 Hướng, 24 Khí, 28 Tướng, 72 Quan hầu; các Thần Tả hữu trong ngoài Đất đai, Thần cha Thần mẹ, Thần cái Thần con bảo vệ xóm làng (phố phường), những nơi cấm kỵ; vô lượng Linh thần cai quản đường đi lối lại, giám sát đất đai, xét soi phẩm hạnh…

    Cùng Thần Hư không, Thần Không gian, Thần Thời gian, Thần 12 Thời, Thần ngày, Thần đêm, Thần mây, Thần gió, Thần mưa, Thần sấm, Thần sét, Thần lửa, Thần nước, Thần biển, Thần núi, Thần rừng, Thần đất, Thần đá, Thần sóng, Thần sông, Thần suối, Thần khe, Thần hồ, Thần ao, Thần giếng, Thần gò, Thần đống, Thần Nguyên khí, Thần Linh khí, Thần Chùa tháp Phật, Thần Phật đường, Thần Phật thất, Thần Đình đền, Thần Phủ miếu, Thần Đàn lễ, Thần Từ đường, Thần Gia đường, Thần nhà cửa, Thần vàng, Thần bạc, Thần khoáng, Thần cát, Thần cây thuốc, Thần cây cỏ và các Quyến thuộc.

    Kính nguyện: Hà sa các Thánh từ mây giáng, triệu ức Tôn thần cưỡi ngựa xe, giáng lâm bảo hộ Đàn tràng, chiêm ngưỡng Thế tôn, nhận cúng dàng, lĩnh Công đức; Hương hoa thỉnh.

    ooo

    Chí tâm Lễ thỉnh: Tất cả Thượng đẳng Thánh thần Sơ đại Nam Việt Thủy Đại vương: Bàn cổ Sơ khai, Tam hoàng Ngũ đế, Thần nông Xã tắc, Viêm đế, Đế Minh, Đế Nghi, Vụ Tiên Thánh mẫu; Xích Quỉ Kinh Dương vương, Động Đình Thần Long, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thập bát Hùng vương, Phù Đổng Thiên vương, Phù tiên Chử đạo Tổ; Quốc chúa Nam thiên Tản viên Sơn Thánh, Cao Sơn Hiển ứng, Quý Minh Uy linh; Thánh mẫu Man nương, Thánh mẫu Quỳnh hoa Dung Liễu Hạnh; Trung thiên Bảo quốc, Trung lang Tế thế, Khai thiên Hộ quốc Thân vệ Tướng quân, Thánh Địa lý Tả Ao, Đại Thần y Thiền sư Tuệ Tĩnh, Đại Thần dược Hải Thượng Lãn ông… Thái tổ Quang Trung, Hồ Chủ tịch, Võ Đại tướng; Tả dư Đại Địa trấn hội; Đông tây Nam bắc, tất cả các đời Thánh tổ Thánh sư Địa lý Phong thủy, Tiên hiền Tiên nho, Thần y Thần dược, Tử vi Lý số, Tổ nghề Tổ nghiệp, Đức trọng Khai quốc Công thần, các ban Bộ hạ.

    Kính nguyện: Bảo vệ Xã tắc, bình an Nhân dân, hưng long Thổ phủ, Diệu danh Giang sơn, giáng hạ Đàn tràng thụ nhận cúng dàng; Hương hoa thỉnh.

    ooo

    NGHI THỨC CÚNG DÀNG

    Chúng con phụng thỉnh đã xong, kính thỉnh chư Phật an tọa Tòa sen vàng báu, kính mời Bồ tát, Thánh thần an tọa tòa cao, Chúng con xin tụng Thần chú.

    Phật, Pháp, Bồ tát hiện Đàn tràng – Thánh Hiền, Trời đất chứng giám Đàn

    Hộ pháp, Tiên, Rồng cùng ứng hiện – Không bỏ Từ bi hãy Chứng minh.

    Nam mô Vân Lai tập Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    Chúng con Chí tâm Kính lễ: Tất cả Tam bảo Phật Pháp Tăng ở khắp 10 phương, 3 thời, Thánh thần 3 cõi Trời cao; Đất nước Tôn thần, Hộ pháp Tiên Rồng, Thành hoàng Thổ địa, Táo quân Long mạch, vạn đấng Anh linh Từ bi cảm ứng, quang giáng Đàn tràng, thụ nhận cúng dàng, chứng minh Công đức, phù hộ, độ trì cho Chúng con và Gia đình, Họ hàng Tổ tiên Nội ngoại, 6 họ.

    Nam mô An Bảo tọa Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    Nam mô An Vị tọa Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    Hôm nay Đệ tử Trai chủ… tâm thành kính dâng 6 loại lễ vật uy nghi: Hương, Hoa, Đăng, Trà, Quả, Thực lên tất cả Phật, Tôn pháp, Bồ tát, Thánh hiền, Trời đất, Tiên, Thần. Xin nhờ sức mạnh Tam bảo biến hóa Lễ vật từ ít thành nhiều, thành hà sa cõi Đại thiên đầy ắp ẩm thực cõi Trời, cao lương mỹ vị và thành hà sa biển cả Cam lộ.

    ooo

    THẦN CHÚ BIẾN HÓA LỄ VẬT THÀNH VÔ LƯỢNG CAO LƯƠNG MỸ VỊ:

    Nam mô Sa rva Ta tha ga ta A va lô ki tê. Ôm. Sam ba ra – Sam ba ra Hum. (3 lần)

    (Nam mô Tát phạ đát Tha nga Đá phạ rô chỉ đế. Úm Tam bạt la Tam bạt la Hồng)

    ooo

    THẦN CHÚ BIẾN HÓA LỄ VẬT THÀNH VÔ LƯỢNG BIỂN NƯỚC CAM LỘ:

    Nam mô Sô rô Ba da – Ta tha ga ta da. Tat da tha:

    Ôm. Sô rô Sô rô – Ha ra Sô rô – Ha ra Sô rô. Sva ha. (3 lần)

    (Nam mô Tô rô Bà da, Đát tha nga đá gia. Ðát điệt tha:

    Úm. Tô rô Tô rô, Bát la Tô rô, Bát la Tô rô. Sa bà ha)

    ooo

    Chúng con xin dâng Lễ vật lên tất cả Phật, Tôn pháp, Bồ tát ở khắp 10 phương, tiếp cúng các vị Hiền thánh, Trời đất, Tiên, Thần; cuối cấp cho các Chúng sinh ở trong 6 đường Phàm phu như nhau không có khác biệt, tùy Duyên đều được đủ đầy như ý. Trai chủ được vô lượng Phúc đức và Ba la mật. 3 Đức, 6 vị dâng lên Phật, Thánh, Bồ tát, Tôn thần, Hữu tình ở khắp 10 phương.

    THẦN CHÚ CÚNG DÀNG RỘNG KHẮP:

    Ôm. Ga ga na – Sam ba va – Va di ra. Hôt. (3 lần)

    (Án. Nga nga nẵng Tam bà phạ Phiệt nhật la. Hộc)

    Nam mô Phả Cúng dàng Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    Thiết nghĩ: Từ buổi ban sơ Phật tu khổ hạnh thân thể yếu suy, 1 bà lão đã sai cô Mục nữ dâng cúng lên Phật 1 bát cháo sữa. Có thực mới vực được Đạo cho nên Chúng con xin được dâng cúng Thuyền duyệt Thiền định Hỷ lạc và các vật phẩm tinh túy như ẩm thực ở bếp Trời lên Phật, Thánh thần.

    Nam mô Thuyền Duyệt tạng Bồ tát Ma ha tát. (3 biến).

    ooo

    Chúng con cúi đầu đỉnh lễ chư Phật Thế tôn đủ đầy Kinh, Pháp; các chư Bồ tát gia tăng Công đức không thể nghĩ bàn. Ngưỡng mong Tam bảo, 7 đức Thế tôn, chư Phật ở khắp 10 phương, 3 thời chứng minh Công đức.

    Nam mô Phật đà gia. Nam mô Đạt ma gia. Nam mô Tăng già gia.

    Nam mô Đa bảo Như lai. Nam mô Bảo thắng Như lai.

    Nam mô Diệu Sắc thân Như lai. Nam mô Quảng Bác thân Như lai.

    Nam mô Lý Phố úy Như lai. Nam mô Cam Lộ vương Như lai.

    Nam mô A Di đà Như lai.

    Kính nguyện: Tất cả Tam bảo, chư Phật, Bồ tát, Hiền thánh, Trời đất, Tiên, Thần chứng minh cúng dàng.

    ooo

    (Nếu có mã, có lễ thì HÀNH PHÁP KHAI QUANG ĐIỂM NHÃN, CÚNG PHÓNG SINH

    Cúng hiến đã xong, nay Trai chủ có Sớ văn xin được tuyên đọc. (Tuyên sớ)

    ooo

    Văn sớ đã tuyên đọc xong cùng với tiền vàng trước Đàn xin được thiêu hóa.

    ooo

    TÂM KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA (CỐT YẾU KINH ĐẠI BÁT NHÃ):

    Bồ tát Quán Tự tại tu hành thâm sâu Bát nhã Ba la Mật đa nên đã soi thấy 5 Uẩn tức Ấm thì đều tướng Không cho nên đã vượt qua hết khổ đau, hoạn nạn. Này Xá lợi phất! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc, Sắc là Không, Không là Sắc. Cảm Thụ nhận chịu, Tưởng tượng nhớ nghĩ, Hành xét tính suy, Thức biết cũng đều như vậy.

    Này Xá Lợi phất! Tất cả các Pháp thì Tính tướng Không, chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch; chẳng tăng chẳng giảm… Do Tính tướng Không nên chẳng có Sắc; do đó chẳng có: cảm Thụ nhận chịu, Tưởng tượng nhớ nghĩ, Hành xét tính suy, Thức biết; chẳng có: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý; tướng Sắc, Âm thanh, Mùi, Vị, Xúc giác, các Pháp nên chẳng có 18 Giới: từ Mắt thấy biết đến Ý thấy biết và cũng chẳng có, chẳng hết ngu mê Vô minh… cho đến Già, chết . Do đó phải biết Bát nhã Ba la Mật đa là Thần chú Tối cao nhất, là Vĩ đại nhất, Minh sáng vô cùng, chẳng gì sánh được, có công năng diệt mọi sự khổ não. Đúng thực như thế chẳng hề giả dối, Thần chú niệm là:

    Ga tê Ga tê – Pa ra Ga tê – Pa ra Sam Ga tê – Bô đi. Sva ha. (3 lần)

    (Yết đế yết đế, Ba la yết đế, Ba la Tăng yết đế, Bồ đề. Sa bà ha)

    Nam mô Đăng Vân lộ Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC:

    Chư Phật Từ bi sâu rộng, cảm ứng không thể nghi ngờ, Hào quang Đại định Thanh tịnh lặng trong chiếu khắp các cõi. Chúng con nguyện cầu đừng bỏ Chúng sinh, hãy ban Phúc thiện để cho Chúng con được hoa Sen báu hiện ra trước mặt.

    Nam mô Tăng Phúc tuệ Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

    ooo

    Công đức cúng Phật hơn tất cả – Đạt được bao nhiêu đều hồi hướng

    Cho các đời kẻ Thân, người Oán – Gia đình được thọ lạc an khang

    Cùng 6 họ Nội ngoại Tổ tiên – Và tất cả Oan gia Trái chủ

    Và các Chúng sinh đang chìm đắm – Được về cõi Cực lạc Phương tây

    Hồi hướng trang nghiêm các cõi Phật – Chư Phật 10 phương cả 3 thời

    Thanh văn, Bích chi Phật, Bồ tát – Đắc Bát nhã Ba la Mật đa.

    Hồi hướng Chúng sinh mắc 8 nạn – Không gốc Thiện, Nhân duyên tu tập

    Cả Địa ngục, Ma quỷ, Súc sinh – Cùng vào Hội biển Phật Thanh tịnh.

    Hồi hướng khắp cả các Thế gian – Tất cả Chúng sinh trong 6 đường

    Đều cùng nhau vào cửa Huyền diệu – Biển Hoa tạng Thế giới hoa Sen.

    Nam mô Sa bà Thế giới Tam giới Đạo sư Tứ sinh Từ phụ Nhân Thiên Giáo chủ

    Thiên bách ức Hóa thân Bản sư Hoà thượng Thích ca Mâu ni Phật. (3 biến)

    000

    QUY Y TAM BẢO, HÒA CÙNG THẦN THÁNH:

    1. Tự theo về với Phật rồi – Cầu cho tất cả mọi loài Chúng sinh.

      Thấu hiểu Đại đạo Quang minh – Nguyện thề theo Phật quyết tâm không lùi. (1 lễ)o

    2. Tự theo về với Pháp rồi – Cầu cho tất cả mọi loài Chúng sinh.

      Kho Kinh, Luật, Luận thuộc thông – Trí tuệ như biển hòa đồng Như lai. (1 lễ) o

    3. Tự theo về với Tăng rồi – Cầu cho tất cả mọi loài Chúng sinh.

      Hòa hợp tất cả một dòng – Không còn trở ngại, đều cùng tiến tu. (1 lễ)

      000

      Hòa cùng chư Thánh chư Thần:

      Nguyện đem Công đức này – Ban khắp cho tất cả

      Chúng con cùng Chúng sinh – Đều tu và đắc Đạo.

      ooo

      Thần Phục vọng: Thánh giá tương lâm, Lễ vật cụ biện, cúng lễ bất như Nghi thức. Thị chi tướng dã, chư vị Bồ tát tật tốc chiếu lâm, tiếp phó Đàn tràng, chứng minh Công đức.

      Tư thời Đàn nghi cáo tất, Pháp sự chu viên, trượng đà thừa cận, phản ư Tịch quang. Thánh cảnh Long xa, Phượng liễn tương huyền giá Thiên cung. Phụng tống chư Phật, chư Thánh, tôn Thần, chư Linh hồi quy. Thỉnh khứ lưu Ân, Thần khứ lưu Phúc, Cát xương thiên thu vạn vạn tuế. Đại chúng chí thành, khấu đầu tiễn biệt.

      Nam mô Đằng Vân lộ Bồ tát Ma ha tát. (3 biến)

      ooo

      Nay lễ Sám tạ hiến cúng Phật thánh, Trời đất, Tôn thần đã xong. Công đức đạt được vô lượng vô cùng. Chúng con cúi đầu Tạ lễ 3 lễ. (3 lạy)

      ooo

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Lại Đặt Một Bát Cơm, Một Quả Trứng Khi Cúng Giỗ?
  • Hướng Đặt Bàn Thờ Thiên – Những Mẫu Bàn Thờ Thiên Đang Thịnh Hành
  • Đặt Xôi Chè Cúng Nhập Trạch Về Nhà Mới, Quy Tắc Cúng Lễ Nhập Trạch Về Nhà Mới
  • Chuyển Nhà Gặp Trời Mưa Sẽ Mang Đến May Mắn Cho Chủ Nhân
  • Ngày Nhập Trạch Mà Trời Mưa Là Điềm Lành Hay Dữ?
  • Đại Khoa Cúng Phật, Thánh, Bách Thần (Hán Việt) 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Đại Khoa Cúng Phật, Thánh, Bách Thần (Hán Việt) 1
  • Phật Thánh Thiếu Gì Vàng Bạc, Người Dân Cứ Cúng Làm Gì?
  • Hoa Cúng Phật Ngày Tết, Hoa Cúng Phật, Chơi Hoa Ngày Tết
  • Cách Dâng Hoa, Ý Nghĩa Và Những Lưu Ý Khi Dâng Hoa Trên Ban Thờ Ngày Tết ” Shop Hoa Vô Ưu
  • Cong Duc Duc Phat Mau, Chuong Iii, Tran Van Rang
  • Hữu: Cung thỉnh: Phật Đường thần, Tự Từ thần, Miếu tháp thần, Xá trạch Thần, Đàn thần, Vân thần, Vũ thần, Lôi thần, Chấn thần, Điện thần, Phong thần, Hư không Thần, Không gian thần, Thời gian thần, Thủy thần, Hỏa thần, Hải thần, Ba thần, Hải Triều thần, Hà chiểu Thần, Giang hải Thần, Tuyền nguyên Thần, Khê thần, Hồ Trì thần, Tỉnh thần, Nguyên khí thần, Linh khí thần, Gò thần, Đôi thần, Thổ thần, Địa thần, Sa thần, Sa kHóang thần, Kim thần, Lâm thần, Lâm Khí thần, Thụ thần, Dược thảo thần, Thảo mộc thần…. cập chư tư Bộ chúng.

    (Thỉnh cúng Tạ mộ: Ngũ phương Ngũ đế Thủ mộ Thần quan; Thủ quan Thủ mộ Thủ hình Thủ cốt Thần quan, Đương phương Thủ sứ nghĩa trang… Thần quan).

    Duy nguyện: Hà sa Hiền thánh đằng vân tập, ức triệu Tôn thần giá vũ lai, lai lâm Pháp hội, chiêm ngưỡng Thế tôn, thủ hộ Đàn tràngchứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    TẢ: Tái vận Chân hương Chí tâm phụng thỉnh: Thần nông Xã tắc Sơ đại Nam Việt Thủy tổ, Viêm đế Nhị đại Nam Việt Thủy tổ, Đế Minh Tam đại Nam việt Thủy tổ, Vụ Tiên Thánh mẫu; Xích Quỉ Kinh Dương Vương, Động Đình Thần LongThánh mẫu, Lạc Long Quân Thánh phụ, Âu Cơ Thánh mẫu, Thập bát Hùng vương,Phù Đổng Thiên vương, Phù tiên Chử đạo Tổ; Quốc chúa Nam thiên Tản viên Sơn Thánh, Cao Sơn Hiển ứng, Quý Minh Uy linh, Quỳnh hoa Dung Liễu Hạnh Địa tiên Thánh mẫu – chư vị Đại vương.

    Chí tâm phụng thỉnh: Trung thiên Bảo quốc, Trung lang Tế thế, Khai thiên Hộ quốc Thân vệ Tướng quân, Tả Ao Thánh Địa lý, Tuệ Tĩnh Đại Thần y Thiền sư, Hải Thượng Lãn ông Đại Thần dược, Quang Trung Thái tổ, Hồ Chí Minh Chủ tịch, Võ Nguyên Giáp Đại tướng cai quản Bắc Trung Nam – chư vị Thượng đẳng Phúc thần Đại vương. Phả cập nhất thiết các chư vị Việt Nam Đại thánh, Thượng đẳng Tối Linh thần; Tả dư Đại Địa trấn hội; Đông tây Nam bắc Đường thượng Lịch đại nhất thiết chư vị Địa lý Phong thủy Thánh tổ Thánh sư, Tiên hiền Tiên nho, Thần y Thần dược, Tử vi Lý số, các các Tổ nghệ, Khai dựng Tổ nghiệp, Truyền phát Tinh hoa bách nghệ vạn nghề bách nghệ vạn nghề, nhất thiết chư vị Khai quốc Công thần cập chư tư Bộ chúng.

    Duy nguyện: Bảo an Xã tắc, hộ Quốc tý Dân, Thổ phủ Hưng long, Diệu danh Giang sơn, giáng phó Đạo tràng chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG THỈNH CHƯ THÁNH, CHƯ THẦN VIỆT NAM (dụng cho Đàn lễ độ Dương):

    TẢ: Tái vận Chân hương Chí tâm phụng thỉnh: Thần nông Xã tắc Sơ đại Nam Việt Thủy tổ, Viêm đế Nhị đại Nam Việt Thủy tổ, Đế Minh Tam đại Nam việt Thủy tổ, Vụ Tiên Thánh mẫu; Xích Quỉ Kinh Dương Vương, Động Đình Thần LongThánh mẫu, Lạc Long Quân Thánh phụ, Âu Cơ Thánh mẫu, Thập bát Hùng vương,Phù Đổng Thiên vương, Phù tiên Chử đạo Tổ; Tam vị Quốc chúa Nam thiên: Tản viên Sơn Thánh, Cao Sơn Hiển ứng, Quý Minh Uy linh, Quỳnh hoa Dung Liễu Hạnh Địa tiên Thánh mẫu – chư vị Đại vương.

    Chí tâm phụng thỉnh: Trung thiên Bảo quốc, Trung lang Tế thế, Khai thiên Hộ quốc Thân vệ Tướng quân, Thánh Địa lý Tả Ao, Đại Thần y Thiền sư Tuệ Tĩnh,Đại Thần dược Hải Thượng Lãn ông, Quang Trung Thái Tổ, Hồ Chí Minh Chủ tịch, Võ Nguyên Giáp Đại tướng – chư vị Thượng đẳng Phúc thần Đại vương.

    Phả cập nhất thiết các chư vị Việt Nam Đại thánh, Thượng đẳng Tối Linh thần; Đông tây Nam bắc Đường thượng Lịch đại nhất thiết chư vị Thánh tổ, Thánh sư, Tiên hiền Tiên nho, Thần y Thần dược, Tử vi Lý số, các các Tổ nghệ, Khai dựng Tổ nghiệp, Truyền phát Tinh hoa bách nghệ vạn nghề, nhất thiết chư tư Bộ chúng.

    Duy nguyện: Uy quang hiển hách, Thánh đức khoan dung, túc túc ân xa, đằng đằng phong mã, Phúc lâm Từ sở, Hộ quốc An dân; giáng phó Đàn tràng, thụ tư cúng dàng, chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    HỮU: Tái vận Chân hương Chí tâm Bái thỉnh: Nhị vị Tinh quân Đại học Quán sĩ, Văn chương Tư mệnh Văn Xương Đế quân Đại vương; Đại thành Chí thánh Văn Tuyên vương Vạn thế Sư biểu Đại vương; Đinh Quý công Tiến sĩ Phù Nham bá Đại vương, Đinh Quận công Thượng đẳng Đại vương; Huệ Cảm Linh Khánh vương Huệ Việt linh Mạc Đại vương; An Nam Lý số Tuyền hầu Trình Quốc Công Nguyễn Đại vương; Văn Trinh Công Tiều ẩn Khang tiết Chu Đại vương; Ức trai Nguyễn Đại vương; Thiên cảm Gia ứng Nam giao Học tổ Sĩ Đại vương.

    Duy nguyện: Ngưỡng hà hồng ân quả hậu, ban Khoa cử tứ Công danh, cánh kỳ Khoa thành ứng đắc Bảng nhãn đề danh, giáng phó Đàn tràng, thụ tư cúng dàng, Chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG THỈNH CHƯ VỊ DANH NHÂN, TỔ NGHỀ (dụng cho Đàn lễ độ Dương):

    TẢ: Tái vận Chân hương Chí tâm phụng thỉnh: Hoàng Chiêm Đại vương,Hoàng Chỉ Đại vương, Hòa Chính Đại vương; Cao vương Thiên tử Đại vương,Quản Lộ Đại vương, Quách Phác Cảnh Đôn Đại vương, Thúc Mậu Dương Quân Tùng Đại vương, Thái Tố Lại Văn Tuấn Đại vương, Lưu Cơ Lưu Bá Ôn Đại vương,Hi Di Trần Đoàn Đại vương… Phả thỉnh chư vị Tả dư Đại địa trấn hội; Việt Nam,Đông tây Nam bắc Đường thượng Lịch đại nhất thiết chư vị Thánh tổ, Thánh sư, Thần y Thần dược, Tử vi Lý số, các các Tổ nghệ, khai dựng Tổ nghiệp, truyền phát Tinh hoa bách nghệ muôn nghề cập nhất thiết chư tư Bộ chúng.

    Duy nguyện: Khai thông Đại long, Tụ phát Tú khí, Phong đằng Địa mạch, Thổ phủ Hưng long, Trấn hưng Xã tắc, Diệu danh Giang sơn; giáng phó Đàn tràng, thụ tư cúng dàng, chứng minh Công đức, Hương hoa thỉnh.

    Duy nguyện: Khai quốc Công thần phụ triều Hoàng đế, Hộ quốc Tý dân; giáng phó Đàn tràng, thụ tư cúng dàng, Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG THỈNH CHƯ THẦN THÀNH HOÀNG VĨNH TUY, PHỦ THỜ LIÊN HOA TRÌ (dụng cho Đàn lễ chuyên biệt):

    Duy nguyện: Giáng Phúc lưu Ân chiêm vũ lộ, trừ tai tống Ách bảo Bình an, thỉnh giáng Đàn tràng, thụ tư cúng dàng, chứng minh Công đức. Hương hoa thỉnh.

    ĐƯỜNG THỈNH GIA TIÊN TẠI TỪ ĐƯỜNG, GIA ĐƯỜNG (dụng cho Đàn lễ tại gia, phả độ):

    ĐƯỜNG THỈNH TĂNG NI, CƯ SĨ, THẦN HẬU, TRĂM HỌ, CHÚNG SINH CÔ HỒN (dụng cho Đàn lễ ở chùa):

    Cung thỉnh: … tự Lịch đại Tổ sư; Tứ phẩm Giới đàn, Tỳ khiêu Tỳ khiêu Ni, Thức xoa Ma na, Sa di, Sa di Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di vị ngộ liễn Tông, niêm đăng Đạo tràng, Thiền gia Ngũ phái, các Tông Pháp phái, Thiền tông Pháp quyển, Tịnh hạnh Tiên vong, chư Phật tử đẳng; hoặc Trí tuệ thiển thâm phất hoạch siêu thăng; hoặc tiền khai sáng Già lam, hậu khai sáng Già lam, tiền Thần hậu Phật tu lập Chùa tháp chúc cơ lập tự, thí Điền tiến Địa, tạo Tượng đúc Chuông, san Kinh tiếp Chúng, chủng thụ Tài hoa, Bố thí Chúng sinh, hằng tu Phật sự, kiêm tri chức vụ, thủ hộ Tăng đường, Phật hậu, sinh tiền ký hậu, Đa thiểu tùy duyên Công đức, các đời Thế các Liệt sĩ chiến sĩ trận vong, Anh hùng Thân mẫu, Đồng bào tử nạn, đa sinh Phụ mẫu, Lũy kiếp gia nương, Thất tổ Cửu huyền, Tiền vong hậu hóa, chư gia tộc tính, các phái Tổ tiên Tiền sinh, oan hồn uổng mệnh, Nam nữ thương vong, Hà sa Ngạ quỷ, Hữu danh Vô vị, Hữu vị Vô danh, Đẳng đẳng sảng linh, Trùng trùng quyến thuộc, nhất thiết truy lưu Đẳng chúng.

    Duy nguyện: Đồng thừa Phật lực cộng mộc An ba, giáng phó Đạo tràng, thụ tư Cúng dàng. Hương hoa thỉnh.

    Đường thỉnh tắt nếu cúng Chúng sinh:

    Thập phương chư Phật giáng Đạo tràng – Hộ pháp Long thiên giáng Đạo tràng.

    Thụ thử Hương Hoa Phả Cúng dàng – Thụ thử Trai duyên Phả Cúng dàng.

    ĐC: Bất sả Từ bi tác Chứng minh – Bất sả Uy quang tác Chứng minh.(nhạc)

    Nam mô Vân Lai tập Bồ tát Ma ha tát. (3 biến)

    ĐC: Ân cần phụng thỉnh: Phật Pháp Tăng Tam bảo, Thiên Địa Thủy Vạn linh, lượng Phật Thánh dĩ Từ bi nguyện thùy lân nhi cảm ứng.

    Nam mô An Bảo tọa Bồ tát Ma ha tát. (3 biến)

    Dĩ kim Đệ tử Trai chủ đồng Gia quyến đẳng kiền cụ Hương hoa, Đăng trà, Quả thực lý đương phụng hiến.

    Nam mô Sa rva Ta tha ga ta A va lô ki tê. Ôm. Sam ba ra – Sam ba ra Hum.

    (Nam mô Tát phạ đát tha nga đá phạ rô chỉ đế. Úm. Tam bạt la tam bạt la hồng)

    Nam mô Sô rô Ba ja – Ta tha ga ta. Tat đi da tha;

    Ôm. Sô rô Sô rô – Ha ra Sô rô – Ha ra Sô rô. Sva ha. (3 biến).

    (Nam mô Tô rô bà ra, đát tha nga đá ra, đát điệt tha;

    Úm. Tô rô tô rô bát ra tô rô bát ra tô rô. Sa bà ha)

    Thử thực Sắc Hương vị Thượng cúng Thập phương Phật, Trung phụng chư Thánh hiền; Hạ cấp Lục đạo phẩm đẳng thí vô sái biệt. Tùy duyên giai Báo mãn. Năng linh Thí giả đắc vô lượng Ba la mật. Tam đức, Lục vị cúng Phật cập Tăng, Pháp giới Hữu tình phổ đồng cúng dàng.

    Ôm. Ga ga nga – Sam ba va – Va di ra. Hột. (3 biến)

    (Án Nga nga nẵng Tam bà phạ Phiệt nhật la Hộc)

    Ngã kim phụng hiến Cam lồ vị – Lượng đẳng Tu di vô quá thượng,

    Sắc Hương mỹ vị biến Hư không – Duy nguyện Từ bi ai nhiếp thụ.

    Nam mô Phả Cúng dàng Bồ tát Ma ha tát. (3 biến)

    Nhũ lạc Đề hồ, Thuyền duyệt Tô đà tạo xuất Thiên trù cúng. Thành đạo đương sơ, Mục nữ tiền lai tống; Lão mẫu tặng tương, thác tại Kim bàn, phụng hiến Thượng Như lai, Hiền thánh vô biên Chúng.

    Nam mô Thuyền Duyệt tạng Bồ tát Ma ha tát. (3 biến).

    Khể thủ Bạc già phạm, viên mãn Tu Đa la, Thượng thừa Bồ tát tăng Công đức nan tư nghị. Ngưỡng duy chư Phật, Tam bảo, chư Thiên, Tôn thần chứng minh Công đức. (nhạc).

    Nam mô Phật đà gia – Nam mô Đạt ma gia – Nam mô Tăng già gia.

    Nam mô Đa bảo Như lai – Nam mô Bảo thắng Như lai.

    Nam mô Diệu sắc Thân Như lai – Nam mô Quảng Bác thân Như lai.

    Nam mô Lý Phố úy Như lai – Nam mô Cam Lộ vương Như lai.

    Nam mô A di đà Như lai.

    Duy nguyện: Thường trụ Tam bảo, thất Phật Thế tôn, Thập phương chư Phật, Bồ tát Hiền thánh, chư Thiên, Tôn thần bất xả Từ bi vị tác Chứng minh cúng dàng.

    Ga tê Ga tê – Pa ra Ga tê – Pa ra Sam Ga tê – Bô đi. Sva ha. (3 biến)

    (Yết đế yết đế, Ba la yết đế, Ba la Tăng yết đế, Bồ đề. Sa bà ha)

    Nam mô Đăng Vân lộ Bồ tát Ma ha tát. (3 biến)

    Cúng Phật, Thánh thần Công đức Thù Thắng hạnh. Vô biên Thắng Phúc giai Hồi hướng, phổ nguyện trầm nịch chư Hữu tình, tốc vãng Vô lượng Quang Phật sát, Hối hướng Nhân duyên Tam thế Phật; Văn thù, Phổ hiền, Quán Tự tại… Nguyện dĩ thử Công đức phổ cập ư nhất thiết; Ngã đẳng dữ Chúng sinh giai cộng thành Phật đạo. Thập phương Tam thế nhất thiết Phật, chư tôn Bồ tát Ma ha tát, Ma ha Bát nhã Ba la mật. Tứ sinh Cửu hữu đồng đăng Hoa tạng Huyền môn. Bát nạn, Tam đồ cộng nhập Tỳ lư Tính hải.

    Nam mô Sa bà Thế giới Tam giới Đạo sư Tứ sinh Từ phụ Nhân Thiên Giáo chủ

    TAM QUI, HÒA NAM THÁNH CHÚNG:

    Tự quy y Phật, đương nguyện Chúng sinh

    Thể giải Đại đạo, phát Vô thượng Tâm. (1 lễ) O

    Tự quy y Pháp, đương nguyện Chúng sinh

    Thâm nhập Kinh tạng, Trí tuệ như Hải. (1 lễ) O

    Tự quy y Tăng, đương nguyện Chúng sinh

    Thống lý Đại chúng, nhất thiết Vô ngại. (1 lễ) O

    Hòa nam Thánh chúng:

    Nguyện dĩ thử Công đức – Phổ cập ư nhất thiết

    Ngã đẳng dữ Chúng sinh – Giai cộng thành Phật đạo.

    Đàn tràng dĩ tất, phụng tống chư Phật, chư Thánh, tôn Thần, chư Linh hồi quy. Tại Đông phương quy Đông phương, tại Tây phương quy Tây phương, tại Nam phương quy Nam phương, tại Bắc phương quy Bắc phương, tại Trung ương quy Trung ương, tại Thiên thượng thăng Thiên thượng, tại Hạ Địa hoàn Địa linh. Thỉnh khứ lưu Ân, Thần khứ lưu Phúc, Cát xương thiên thu vạn vạn tuế.

    Tư thời Đàn nghi cáo tất, Pháp sự chu viên, trượng đà thừa cận, phản ư Tịch quang. Thánh cảnh Long xa, Phượng liễn tương huyền giá Thiên cung. Đại chúng chí thành, khấu đầu tiễn biệt.

    Nam mô Đằng Vân lộ Bồ tát Ma ha tát. (3 biến)

    Thượng lai Sám tạ hiến cúng Phật thánh, Tôn thần Công đức vô hạn, Lương nhân khể thủ, Hòa nam Tam tôn Thánh chúng. Đệ tử Trai chủ (Đồng gia, … tộc…) Chúng đẳng, kiền thành Tạ lễ.

    QUAN KIM NIÊN HÀNH KHIỂN:

    1. Năm Tý: Chu vương Hành khiển, Thiên ôn Hành binh chi thần, Lý Tào phán quan.

    2. Năm Sửu: Triệu vương Hành khiển, Tam thập lục Thương Hành binh chi thần,

    3. Năm Dần: Ngụy vương Hành khiển, Mộc tinh Hành binh chi thần, Tiêu Tào phán quan.

    4. Năm Mão: Trịnh vương Hành khiển, Thạch tinh Hành binh chi thần, LiễuTào phán quan.

    5. Năm Thìn: Sở vương Hành khiển, Hỏa tinh Hành binh chi thần, Biểu Tào phán quan.

    6. Năm Tỵ: Ngô vương Hành khiển, Thiên hao Hành binh chi thần, Hứa Tào phán quan.

    7. Năm Ngọ: Tần vương Hành khiển, Thiên hao Hành binh chi thần, Ngọc Tào phán quan.

    8. Năm Mùi: Tống vương Hành khiển, Ngũ đạo Hành binh chi thần, Lâm Tào phán quan.

    9. Năm Thân: Tề vương Hành khiển, Ngũ miếu Hành binh chi thần, Tống Tào phán quan.

    10. Năm Dậu: Lỗ vương Hành khiển, Ngũ nhạc Hành binh chi thần, Cự Tào phán quan.

    11. Năm Tuất: Việt vương Hành khiển, Thiên bá Hành binh chi thần, Thành Tào phán quan.

    12. Năm Hợi: Lưu vương Hành khiển, Ngũ ôn Hành binh chi thần, Nguyễn Tào phán quan.

    Chia sẻ bài viết:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung Nhâm Thìn 2012 Tại Tòa Thánh Tây Ninh
  • 10 Loại Hoa Quả Không Nên Thắp Hương
  • Tổng Hợp Các Loại Trái Cây Cúng Khai Trương
  • 2. Ý Nghĩa Của Việc Cúng Quả (Trái Cây)
  • Lễ Vật Cúng Ông Táo Ngày 23 Tháng Chạp
  • Tam Thánh Phật Gồm Những Ai? Có Nên Thờ Tại Gia Không?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thứ Tự Thắp Hương Trong Nhà Khi Có Nhiều Bàn Thờ
  • Có Nên Thắp Nhang Mỗi Ngày Không?
  • Nên Thắp Mấy Nén Hương Trên Bàn Thờ?
  • Những Loại Quả Không Nên Thắp Hương Trên Ban Thờ
  • Cách Bày Trí Bàn Thờ Gia Tiên Cho Hợp Phong Thủy
  • Tam thánh Phật gồm những ai?

    Tam thánh Phật gồm những ai là băn khoăn của nhiều gia chủ nhất là những người mến mộ đạo Phật. Theo kinh điển Phật giáo, Tam Thánh Phật gồm có Tây Phương Tam Thánh và Thích Ca Tam Thánh.

    Tây phương Tam Thánh – Tiếp độ chúng sinh về cảnh giới Tây Phương Cực Lạc

    Tây phương Tam Thánh tượng trưng cho các đức hạnh tốt đẹp mà chúng ta luôn hướng tới. Thường ở giữa là Đức Phật A Di Đà – là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại Thừa. Tên của ngài nghĩa là Vô Lượng Thọ – nghĩa là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang – nghĩa là ánh sáng vô lượng.

    Đức Phật A Di Dà là giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc, hạnh nguyện của ngài là tiếp độ chúng sinh lúc lâm chung được sinh về cảnh giới an vui – tịnh độ sang cõi Cực Lạc này. Tịnh độ có nghĩa là không còn điều tham, điều xấu, điều nhơ, điều ác…. Khi lên chùa, mọi người niệm danh hiệu “Nam mô A Di Đà Phật” chính là thể hiện tâm nguyện bỏ ác làm lành, xả bỏ khổ đau, nuôi dưỡng chân tâm.

    Bên trái ngài là Bồ Tát Quán Thế Âm – vị Phật đại diện cho sự từ bi độ lượng. Quán Thế Âm Bồ Tát luôn lắng nghe nỗi khổ thế gian, tay trái cầm bình cam lộ, tay phải cầm cành dương liễu, nước cam lộ rưới tới đâu là lan tỏa tình thương tới đó, làm mát mẻ, êm dịu mọi khổ đau của chúng sinh.

    Bên phải ngài là Bồ Tát Đại Thế Chí tay cầm gậy như ý, đây là vị Phật tượng trưng cho sự thông tuệ của nhân loại.

    Tam Thánh Phật gồm những ai, gia chủ cũng có thể hiểu gồm có Đức Phật A Di ĐÀ, Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại thế Chí Bồ Tát.

    Thích Ca Tam Thánh – Biểu tượng của lòng từ bi và trí tuệ

    Thích Ca Tam Thánh Còn được gọi là Hoa Nghiêm Tam thánh vì ý nghĩa chủ yếu được nêu rõ trong Kinh Hoa Nghiêm. Đức Phật Thích Ca ở giữa, Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử xanh bên phải và Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi trắng sáu ngà bên trái hoặc vị trí của 2 vị có thể đổi ngược lại.

    Ngài đã từng nói:

    “Ta là Phật đã thành

    Chúng sinh là Phật sẽ thành”

    Thể hiện tâm tính hướng thiện, hướng đến những điều tốt đẹp luôn có sẵn trong mỗi chúng ta.

    Phổ Hiền Bồ Tát hay Visvabhadra (Bật-luân-bạt-đà): Phổ là tỏa ra khắp nơi, Hiền là đức hạnh, hiền thiện, Bồ Tát Phổ Hiền tượng trưng cho đức hạnh tối diệu. Ngài được biết đến với mười đại nguyện rộng lớn về đức hạnh và quyết tâm cứu độ hết thảy chúng sinh. Ngài là biểu tượng cho lý, định, hạnh, nắm giữ lý đức, định đức và hạnh đức của chư Phật. Ngoài ra, còn có phép tu Phổ Hiền diên mạng để cầu được khỏe mạnh, trường thọ.

    Thù Sư Lợi Bồ Tát (Phạn danh là Manjusri, Văn Thù Sư Lợi): Hán dịch là Diệu Đức, Diệu Cát Tường…Tương truyền kể rằng: Ngài là Thái tử con thứ ba của vua Vô Tránh Niệm thời quá khứ, có tên là Vương Chúng. Theo kinh điển Phật giáo, Ngài phát mười tám lời đại nguyện để trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật và cứu độ chúng sinh. Ngài xuất hiện trong các Kinh Hoa Nghiêm, Thủ Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Duy-ma-cật… được xem là trí tuệ bậc nhất trong hàng Bồ tát, thường thay Phật nói pháp, điều động hội chúng, tán thán Đức Phật sau các đoạn giảng, ngài được Đức Phật Bảo Tạng thọ ký sẽ thành Phật trong tương lai (Kinh Pháp Hoa quyển 9, Kinh Đại Bảo Tích quyển 60).

    Như vây, gia chủ đã biết Tam Thánh Phật gồm những ai, hy vọng qua bài viết sẽ giúp gia chủ có thêm nhiều kiến thức bổ ích.

    Gia chủ có nên thờ Tam Thánh Phật tại gia không?

    Đối với những người mến mộ đạo Phật hoặc theo Đạo, thờ Tam Thánh Phật tại gia là một việc làm để thể hiện lòng biết ơn cũng như cung kính tới mười phương chư Phật.

    Tam Thánh Phật là những người có có lòng từ bi vô hạn đến với chúng sinh, là gương sáng mà chúng ta cần phải noi theo. Vì thế thờ Tây Phương Tam Thánh hoặc Thích Ca Tam Thánh tại gia là để giúp gia chủ nhìn thấy Phật mà có lòng từ bi, sống đẹp và yêu thương con người hơn.

    Không những vậy Tam Thánh Phật là những bậc đáng được tôn thờ, Phật có trí tuệ cùng công đức vô biên, sáng suốt và hiểu rõ mọi chuyện trần thế. Vì vậy khi thờ những Phật tại gia mọi người trong gia đình luôn sáng suốt và có trí tuệ. Không những thế, còn có ý nghĩa giúp cho ngôi nhà của bạn luôn ấm no, hạnh phúc, bình an, có nhiều may mắn và tài lộc.

    Tam Thánh Phật gồm những ai, có nên thờ tại gia không đã có câu trả lời. Gia chủ nên mua bộ có vẻ đẹp tinh xảo, thần thái trang nghiêm và đặc biệt là có độ bền cao, chỉ cần thỉnh một lần gia chủ có thể thờ cả đời, tránh bị mối mọt như tượng gỗ, hay rạn nứt rơi vỡ như tượng bằng gốm sứ, đá, ngọc thạch.

    Gia chủ có nhu cầu mua tượng Tam Thánh Phật có thể đến ngay , thương hiệu nổi tiếng chuyên cung cấp , tượng Phật,… đa dạng về mẫu mã và kích thước. Tượng phật được đúc thủ công tinh xảo bằng 100% đồng nguyên chất, trau chuốt cẩn thận bởi đôi bàn tay tài hoa của nghệ nhân, thợ làng nghề đúc đồng Ý Yên – Nam Định. Đồ đồng Quang Hà chuyên nhận đúc tượng theo yêu cầu, từ kích thước lớn đến nhỏ, có thể nhận làm công trình tại tất cả các tỉnh thành trên toàn quốc, với mức giá rẻ nhất cùng nhiều ưu đãi hấp dẫn.

    Mời gia chủ liên hệ ngay số hotline 0967.23.7777 để nhận được những điều tuyệt vời nhất!

    Nếu quý khách có nhu cầu về các sản phẩm đồ đồng, xin vui lòng liên hệ tại:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thiếu Những Món Đồ Này Thì Mộ Bàn Thờ Mất Ý Nghĩa !! Bộ Bàn Thờ Chuẩn.
  • Cách Đặt, Hướng Đặt Bàn Thờ Phật Bà Quan Âm Trong Nhà Chuẩn Phong Thủy
  • Cách Đặt, Hướng Đặt Bàn Thờ Phật Bà Quan Âm
  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Thờ Phật Tại Nhà
  • Những Điều Cần Biết Khi Thờ Phật
  • Phật Thánh Thiếu Gì Vàng Bạc, Người Dân Cứ Cúng Làm Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoa Cúng Phật Ngày Tết, Hoa Cúng Phật, Chơi Hoa Ngày Tết
  • Cách Dâng Hoa, Ý Nghĩa Và Những Lưu Ý Khi Dâng Hoa Trên Ban Thờ Ngày Tết ” Shop Hoa Vô Ưu
  • Cong Duc Duc Phat Mau, Chuong Iii, Tran Van Rang
  • Luoc Thuat Toa Thanh Tay Ninh
  • Cúng Phật Hoa Quả Giả Có “phải Tội”?
  • “Phật thánh thiếu gì vàng bạc, nhưng họ đã rũ bỏ tất cả để đến với chân tu, người dân cứ mang vàng bạc cúng bái, đốt vàng mã cho họ làm gì”, Thượng tọa Thích Quảng Tùng, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho biết.

    Đến hẹn lại lên, những ngày đầu xuân năm mới, nhà nhà nô nức đi trảy hội kèm theo đó là sắm sửa đủ thứ để dâng lên Phật, Thánh.

    Theo Thượng tọa Thích Quảng Tùng, đi lễ đầu năm là nét đẹp văn hóa của người dân Việt Nam, cầu tài, cầu lộc, cầu sức khỏe bình an. Theo Phật giáo nhân dịp đầu năm được nghỉ ngơi, phật tử đến chùa để học hỏi, noi gương đức Phật, tu tập trí tuệ để giác ngộ. Tuy nhiên, thời buổi kinh tế thị trường cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chùa chiền.

    Mâm cao cỗ đầy xin gì được nấy?

    “Văn hóa đi chùa không được thuần túy như xưa là thành tâm sửa biện hương hoa dâng cúng mà nó xô bồ hơn. Nhiều người đến chùa với tâm trạng khác nhau, nhiều mục đích khác nhau. Người cầu mong buôn may bán đắt, cầu người kia gặp hạn để mình thế chân, ngồi vào ghế của họ, học hành thông minh sáng láng, học ít mà lại hiểu nhiều…Những chuyện như thế chẳng Phật, Thánh nào giúp cho được”, Thượng tọa Thích Quảng Tùng nói.

    Mâm cao cố đầy dâng Phật không làm cho mình nhiều lộc, nhiều tiền hơn người khác

    Theo thầy Tùng, Phật giáo dạy rằng mình muốn giàu sang phú quý thì phải làm phúc bố thí, suốt ngày keo kiệt bo bo thì làm sao phú quý được. Thế nhưng dân gian thì mỗi người với mỗi trình độ khác nhau thì hiểu biết về điều này cũng khác nhau nên mới có chuyện có những người chi quá nhiều tiền vào việc sắm lễ để dâng lên chùa. “Có nhiều người tin rằng sắm nhiều thứ dâng cúng Phật, Thánh là Phật, Thánh sẽ chứng cho tấm lòng của mình, rồi khấn khấn vái vái xin Phật, Thánh đủ thứ nhưng rồi cũng không được như ý mình thì lại tỏ ra không tin vào đức Phật nữa. Đây gọi là những người tín ngưỡng theo tình cảm”, thầy Tùng nói.

    Giải sao chẳng giải quyết được gì

    Với quan điểm của nhà Phật, đầu năm, những người tín ngưỡng theo lý trí thường muốn đi lễ chùa để tĩnh tâm, vãn cảnh chùa chiền, thăm thầy, thăm sư, lòng thành tôn kính là chính.

    Dân gian cũng tin rằng, làm lễ dâng sao giải hạn vào đầu năm vào ngày rằm tháng giêng là tốt nhất vì mọi tai ách, mọi sự xui xẻo ta phải giải trừ nó ngay từ đầu năm thì suốt cả năm con người đều yên tâm, vui vẻ và hạnh phúc.

    Trong thực tế việc lễ dâng sao giải hạn ngày càng phát triển và nhiều người lợi dụng phong tục này để trục lợi, bày vẽ nhiều lễ nghi sa hoa lãng phí, đặc biệt là mê tín làm sai lệch phong tục này.

    “Tôi phải nói ngay rằng, việc đốt vàng mã, dâng sao giải hạn thì với Phật giáo là không có chuyện đó. Đức Phật thiếu gì vàng bạc nhưng họ đã rũ bỏ tất cả để đến với chân tu, người dân cứ mang vàng bạc của Phật giáo là Thất thánh tài. Phải lấy lòng tin vững chắc là của quý; lấy giới luật thanh tịnh làm của báu; cung kính tùy thuận người có đức hạnh là tài của; biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; lấy việc nghe nhiều lời thuyết pháp, sự hiểu rộng làm tài của; xem bố thí là tài của riêng; Trí huệ là tài của. Đấy mới là vàng bạc của đức Phật chứ không phải là vàng thế gian đang lầm tưởng để dâng lên Đức Phật”, Thượng tọa nói.

    Đốt vàng mã không làm cho tâm mình an, trong người bình an thì cầu mới bình an được.

    Thượng tọa Thích Quảng Tùng cho rằng với tâm lý tin rằng “tốt lễ dễ kêu”, vào dịp đầu năm hay rằm tháng bảy, để tỏ lòng tri ân đối với những người đã khuất, nhiều người thường đốt vàng mã nhưng Phật giáo không khuyến khích điều này. “Bố mẹ chúng ta còn sống thì tết đến xuân về lì xì mừng tuổi ông bà lấy may. Bố mẹ chúng ta mất đi thì hàng năm cúng bái, tết đến cũng có chút quà gửi ông bà gọi là bày tỏ tấm lòng. Nhưng thành tâm là chính, cái gì quá cũng đều không tốt đâu. Đốt nhà lầu xe hơi, hàng triệu, hàng chục triệu tiền vàng mã là vô cùng lãng phí, mang tiền này đi làm từ thiện lại tốt hơn rất nhiều”, Thượng tọa Thích Quảng Tùng cho biết.

    Thượng tọa Thích Quảng Tùng cũng khẳng định rằng trong Phật giáo không có chuyện làm lễ giải hạn đầu năm, nó thuộc một tôn giáo khác. “Theo tôi, làm lễ giải hạn cắt sao đầu năm không được cái gì cả. Mình muốn tránh xấu, tránh ác thì mình phải làm việc thiện. Phật giáo tin rằng tụng kinh niệm Phật, tâm thanh tịnh là tránh được ác. Tuy nhiên, một số vị sư bây giờ chiều theo phật tử cũng tổ chức lễ giải sao cho họ nên đã làm sai đường hướng của Phật giáo. Chùa của tôi (Chùa Côn Sơn Kiếp Bạc- PV) từ xưa tới nay đầu năm không tổ chức giải sao, chém sao cho ai bao giờ, chỉ có tụng kinh niệm Phật. Giải sao không giải quyết được gì”, Thượng Tọa nói.

    Đốt vàng mã không làm tâm mình an: Đại đức Thích Thanh Lịch, Ủy viên bạn Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ninh, trụ trì chùa Đống Phúc (Quảng Yên, Quảng Ninh)

    Ngày Lễ, Tết, nhà chùa hướng dẫn cho khách thập phương, phật tử trong vùng nghi thức đi lễ chùa, nghi thức cúng Phật, mỗi người tùy theo tâm của mình làm một việc nhỏ nhất trong chùa cũng là phát tâm công đức. Không phân biệt tuổi tác, đẳng cấp trong xã hội, ai về với chùa cũng được các nhà sư đón tiếp hoan hỷ, tạo được sự gần gũi giữa đạo và đời.

    Đạo Phật tin rằng: “Cứu một mạng người hơn xây 7 tòa tháp”, cứ làm việc thiện đi rồi tâm mình an. Đốt nhiều vàng mã, đốt hình nhân thế mạng không làm tâm mình an.

    Tốt lễ dễ xin là hoàn toàn không đúng: Đại đức Thích Tâm Kiên (trụ trì chùa Một Cột, Hà Nội)

    Người dân đi lễ bây giờ không biết phân biệt đâu là đền, đâu là chùa và phủ để có cách hành lễ cho phù hợp. Đi chùa lễ theo đạo Phật, đi Phủ lễ mẫu, sang bên Quán Thánh là lễ ông Trấn Vũ. Đây là 3 màu sắc tôn giáo khác nhau.

    Đừng nghĩ rằng khi đi chùa phải “tốt lễ dễ van” để cầu được nhiều tài lộc. Điều đó hoàn toàn không đúng.

    Phật không cần mâm cao cỗ đầy, chỉ cần tâm thành của những người đến lễ. Vì thế nên mọi người chỉ cần bông hoa, chén nước vào dâng lễ là đủ. Vào chùa mọi người thấy sự lắng đọng và sự bình an.

    Nhưng không phải mình làm cái ác mà vào cầu xin sự bình an được. Trong người bình an thì cầu mới bình an. Phật là hướng đạo sư chỉ cho con người ta con đường đi, chứ không phải làm cái ô để che chở cho mọi người.

    Tình Lê

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Khoa Cúng Phật, Thánh, Bách Thần (Hán Việt) 1
  • Đại Khoa Cúng Phật, Thánh, Bách Thần (Hán Việt) 2
  • Đại Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung Nhâm Thìn 2012 Tại Tòa Thánh Tây Ninh
  • 10 Loại Hoa Quả Không Nên Thắp Hương
  • Tổng Hợp Các Loại Trái Cây Cúng Khai Trương
  • Sớ Hội Đồng Thánh Mẫu ( Thánh Cảnh Cao Diêu )

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Văn Khấn Và Sớ
  • Cúng Rằm Tháng Chạp 2022 Có Gì Khác So Với Ngày Rằm Hàng Tháng Và Phải Chuẩn Bị Những Gì?
  • Sớ Cúng Rằm Tháng Bảy Ontao Doc
  • Sớ Lễ Ngọc Hoàng Ngày Thánh Đản Đại Lễ 越南道教
  • Sớ Cúng Quan Thánh ( Trung Huyền Nhật Nguyệt )
  • Thánh đức nguy nguy Tiên cung đảng đảng , tỷ đệ tử biền trăng bách Phúc , nam sơn thọ khảo ư quy linh

    SỚ HỘI ĐỒNG THÁNH MẪU

    ( Thánh cảnh cao diêu )

    Phục dĩ .

    Thánh cảnh cao diêu khể thủ cầu vinh hoa phú quý , Thần Tiên quảng đại thành tâm đão Phúc thọ khang ninh dục cầu trường sinh bất lão tu bằng Tiên Thánh phò trì

    Sớ vị :

    Việt Nam Quốc …………….. gia cư phụng Phật Thánh thượng hương ……

    Tứ phủ công đồng ngự tiền chiếu giám . Ngôn niệm : Sinh phùng quý thế hạnh hoạch nhơn luân , hà càn khôn chí đại chí cao công hoành phú tải , cảm Tiên Thánh tối linh tối sảng đức quảng chiếu lâm , tư giả bản nguyệt cát nhật liệt trần hương hoa đăng trà phẩm , kim tắc cẩn cụ sớ văn hòa nam bái bạch .

    – Nam Mô Đại Từ Bi Cứu Khổ Nạn Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát Chứng Minh .

    Cung phụng : Tam nguyên , Tam phẩm , Tam quan , Tam phủ công đồng , Tứ phủ Đại Đế ngọc bệ hạ , Thiên Tiên , Địa Tiên , Sơn Tiên , Thủy Tiên Tôn Vị Thánh Mẫu Châu Cung Hạ , Tây Cung Vương Mẫu Bản Mạng Chúa Tiên , Thượng Thiên Thiên Y A Na Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Mẫu Châu Cung Hạ , Quản Cai Sơn Nhạc Cửu Châu Lê Mại Đại Vương , Thượng Thiên , Thượng ngàn , Trung Thiên , Thủy Phủ Chư vị Đức Chầu Thánh Nữ , Ngũ Hành Lục Động Bạch Thố Kim Tinh Mộc tinh Thánh Nữ , Tam Động Hỏa Phong Thần Nữ Tiên Bà , Thượng Thiên Nhị Vị Trạng Nguyên Tôn Ông Tôn Thần , Thượng Thiên Thượng Ngàn Trung Thiên Thủy Phủ Chư Vị Hoàng Thái Tử , Chư Vị Công Chúa Thánh Tiền , Thượng Thiên Thượng Ngàn Trung Thiên Thủy Phủ Giám Sát Khâm Sai Thập Nhị Triều Quận , Thập Nhị Cô Nương , Tả Hữu Bá Quan Văn Võ , Thần Liêu Ngũ Lôi Linh Quan , Ngũ Hổ Đại Tướng , Thống cập trì tùng bộ hạ nhất thiết oai linh , đồng thùy chiếu giám cọng giáng cát tường .

    Phục nguyện : Thánh đức nguy nguy Tiên cung đảng đảng , tỷ đệ tử biền trăng bách Phúc , nam sơn thọ khảo ư quy linh , hộ toàn gia hội hiệp , thiên tường Bắc Hải thiêm trù ư hạc toán , ngưỡng lại Phật Thánh phò trì chi đại lực dã cẩn sớ .

    Tuế thứ …………… niên ………….. nguyệt ………….. nhật , thời .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sớ Cúng Anh Em Trai (Bi Tụy Linh Nguyên)
  • Cách Cúng Lễ Hóa Vàng Dịp Tết Nguyên Đán Kỷ Hợi 2022 Chuẩn Nhất Theo Chia Sẻ Của Chuyên Gia
  • Lễ Cúng Tiên Thường Cung Tiến Giác Linh Và Nhiễu Tháp Đức Hòa Thượng Thiện Phước
  • Câu Chuyện Truyền Thông Về Dâng Sớ Cúng Sao
  • Tiền Duyên Là Gì? Sao Lại Phải Cắt Tiền Duyên?
  • Ngũ Công Vương Phật . Tranh Thờ Dân Gian Đức Thánh Trần 25X32Cm

    --- Bài mới hơn ---

  • Nấu Xôi Chè Cúng Rằm Cho Công Ty
  • Thả Cá Phóng Sinh Ngày Ông Công, Ông Táo Sao Cho Đúng Cách?
  • Văn Khấn Phóng Sinh Và Những Lưu Ý Đặc Biệt Cần Chú Ý
  • Bài Cúng Phóng Sinh Và Lễ Vật Cần Có Cho Nghi Lễ Phóng Sinh
  • Hướng Dẫn Cách Xin Số Đề Nhị Ca Phong Chuẩn Xác Nhất
  • Vị Thánh – Tướng

    Nam : Tân Mùi , thờ Phật Thích Ca Mâu Ni .

    Nữ : thờ Chúa Tiên Nương Nương độ mạng. Nam : Canh Thân, Canh Tuất thờ Phật A-Di-Đà

    Nữ : thờ Chúa Tiên Nương Nương Nương độ mạng. Nữ : thờ Chúa Tiên Nương Nương độ mạng Nam : Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng . Nữ : Nữ : thờ Phổ Hiền Bồ TátNữ : thờ Quan Âm Bồ Tát độ mạng Nam : Kỷ Mão, thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng . Nữ : thờ Chúa Tiên Nương Nương đô mạng theo phong tục việt nam ngủ công vương phật gồm :

    Nam : Mậu Tý , Mậu Tuất, Mậu Dần , Kỷ Sửu , Kỷ Dậu, Kỷ Hợi . thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng . thờ Quan Âm Đại Thế Chí độ mạng.

    Nam : Mậu Thìn, Mậu Thân, Kỷ Tỵ thờ , Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng .

    Nam :Canh Tý, Canh Dần, Canh Thìn, Canh Ngọ,

    Tân Sửu, Tân Mão, Tân Tỵ, Tân Hợi thờ Cửu Thiên Vũ Đế Đức Thánh Trần Hưng Đạo độ mạng .

    1/ CỬU THIÊN VŨ ĐẾ ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO

    2/ ĐỨC TẢN VIÊN SƠN THÁNH

    3/ TIÊN ÔNG CHỮ ĐỒNG TỬ

    4/ THÁNH MẪU BẢO VƯƠNG .[ MẸ PHỦ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG THÁNH GIÓNG ]

    5/ LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA

    Tứ bất tử : là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam, đó là Tản Viên Sơn Thần, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, và Liểu Hạnh Công Chúa.

    Tản Viên Sơn Thần , hay gọi là Sơn Tinh, là vị thần Núi Tản Viên (Ba Vì), núi tổ của các núi nước Việt Nam. Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai

    Phù Đổng Thiên Vương. hay còn gọi Thánh Gióng, tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.

    Người Nhà Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Thánh Mẫu Bảo Vương . Ướm vào dấu chân lớn để thụ thai . Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy.

    Tiên Ông Chử Đồng Tử . còn được gọi là Chử Đạo Tổ, tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân, và sự sung túc giàu có.

    Tên các vị Tứ bất tử của nước ta, người đời Minh cho là: TẢN VIÊN, PHÙ ĐỔNG, CHỮ ĐỒNG TỬ, NGUYỂN MINH KHÔNG. Đúng là như vậy. Vì bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào.

    Liểu Hạnh Công Chúa., hay Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Liễu Hạnh, tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, phúc đức, sự thịnh vượng, văn thơ.

    Trong 4 vị trên thì 3 vị nam thần đầu tiên theo truyền thuyết có từ thời Hùng Vương, và đã được thờ ở rất nhiều nơi từ rất lâu. Riêng Mẫu Liễu Hạnh là phụ nữ duy nhất, mới được đưa vào hệ thống thần thánh từ đời Hậu Lê.

    TỪ TRẦN HƯNG ĐẠO ĐẾN ĐỨC THÁNH TRẦN TRONG ĐẠO MẪU

    Do Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện khá muộn so với 3 vị kia nên có ý kiến cho rằng bên cạnh 4 vị thánh kia, Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân tộc Việt còn có 2 vị thánh khác là Đạo Hạnh và Nguyển Minh Không.

    Ghi chép

    Tài liệu xưa nhất về thuật ngữ Tứ bất tử là bản Dư địa chí, in trong bộ Ức Trai di tập. Nuyển Tông Quai ở thế kỷ XVII là người đầu tiên giải thích thuật ngữ Tứ bất tử, khi ông chú giải điều 32 trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Lời chú ấy như sau:

    Kiều Oánh Mậu người làng Đường Lâm là nhà học giả cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục có viết:

    Những thông tin về Tứ bất tử trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về Tứ bất tử thì phong phú hơn và thường khẳng định tứ bất tử gồm: Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh Công chúa. Ví dụ như Nguyễn Tuân (1910-1987), trong thiên truyện Trên đỉnh non Tản in trong tập Vang bóng một

    Đức Thánh Trần trở thành đạo sĩ?

    CHẦU VĂN ĐỨC THÁNH TRẦN

    Công cứu quốc cao dày đã rõ

    Ơn chúng sinh tế độ còn dài

    Đại vương từ ngự thiên đài

    Ngọc hoàng giáng chỉ cứu người dương gian

    Ngôi vạn kiếp bốn phương chầu lại

    Đức uy linh bát hải lan ra

    Nam tào bắc đẩu hai tòa

    Xa ba thiên tướng hằng hà thiên binh

    Việc nội ngoại ngụ dinh tuần thú

    Khắp thiên đình địa phủ dương gian

    Bên ngai tả hữu hai ban

    Kiếm thần cờ lệnh ấn vàng trong tay

    Trên ngọc bệ tàn mây ngũ sắc

    Trước long đình hổ phục rồng chầu

    Thần thông biến hóa phép màu

    Nghìn tai nghìn mắt đâu đâu tỏ tường

    Đạo đức cao bốn phương bái phục

    Phép uy linh quỷ khóc thần kinh

    Triệt dịch lệ giải đao binh

    Phò nguy cứu khố tà tinh tiêu trừ

    Suốt nam bắc phụng thờ thành kính

    Cả muôn dân cửa thánh đội ân

    Tâm thành cầu khấn phép thần

    Phút đầu hiện ứng mười phân vẹn mười

    Non nước nhược ngự chơi ngày tháng

    Chốn non bồng thăng giáng hôm mai

    Trần gian bao cửa đền đài

    Đăng vân giá vụ khắp nơi đi về

    Từ sơn cước suối khe rừng nội

    Đèn phồn hoa cát bụi chẳng nề

    Một tay che chở phù trì

    công ơn tế thế sánh bì trời cao

    chúng tôi

    Sau khi đại phá quân Nguyên, Mông (1258 – 1288), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được dân chúng khắp nơi coi như vị thánh giúp dân thoát kiếp lầm than. Nhưng tại sao Đức Thánh Trần lại gia nhập vào hàng Tứ Phủ trong Đạo Mẫu? Đó là vấn đề được người dân và cả giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm.

    Trong hệ thống biểu tượng tâm linh Việt, không ít nhân vật có thật được dân chúng huyền thoại hóa, tôn làm thánh và trở thành đấng quyền năng siêu việt, có ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và tâm linh của mỗi người. Trong số đó, Đức Thánh Trần (Trần Quốc Tuấn) là nhân vật đã gia nhập Tứ Phủ và trở thành chư vị thần thánh giúp dân thoát khổ, thoát nạn.

    Đến nay, giới nghiên cứu văn hóa vẫn chưa tìm ra được dấu mốc thời gian cụ thể trong việc gia nhập Đạo Mẫu của vị tướng thời nhà Trần. Trong sách “Đạo Mẫu Việt Nam”, tập I, GS Ngô Đức Thịnh chủ biên có nói: “Trong đạo Mẫu Tứ Phủ đây đó người ta còn nhắc tới Phủ Trần Triều, một phủ thuần tuý mang tính chất nhân Thần. Bởi thế cần xem xét Đức Thánh Trần cùng với các thuộc hạ của Ông trong hệ thống điện thần Tứ Phủ cũng như trong thực hành tín ngưỡng”. Như vậy, việc chỉ ra thời gian cụ thể khi Đức Thánh Trần đi vào Đạo Mẫu là chưa chắc chắn. Tuy nhiên, có người cho rằng không nên đặt ra vấn đề như trên. Bởi lẽ việc thần thánh hóa một nhân vật lịch sử phải trải qua thời gian nhất định. Có thể nhân vật lịch sử đó được nhân dân yêu quý, người này nói tốt, người kia nói tốt… thì tự trong tâm tưởng người dân đã coi nhân vật đó như một vị thần rồi. Cái sự yêu quý ấy cứ ngày một lan ra, thấm sâu vào quần chúng và dần dần, người ta lập đền thờ ở nhiều nơi. Nơi thờ chính, nơi thờ vọng… Cứ như thế Trần Quốc Tuấn đã đi vào đạo Mẫu Tứ Phủ một cách tự nhiên nhất, hợp lòng người nhất.

    Theo truyền thuyết về Đức Thánh Trần thì ông là con của Đức Long vương Bát Hải Đại Vương cai quản vùng sông nước. Do dân chúng gặp kiếp nạn mà đầu thai vào Trần Quốc Tuấn để cứu dân khỏi nạn giặc ngoại xâm, giết người, cướp của.

    Đức Thánh Trần “được đặt riêng một phủ Trần Triều. Về hàng bậc, ông được Vua Trần phong là THƯỢNG PHỤ QUỐC CÔNG TIẾT CHÊ HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG còn cao hơn cả cha Vua, có lúc Ông được đồng nhất với Vua Cha trong đối sánh với Thần Mẹ, ngày giỗ và lễ hội kèm theo của Ông cũng đồng nhất với ngày giỗ Cha “tháng Tám giỗ Cha” cùng với Bát Hải Đại Vương. Nơi thờ Ông ở Kiếp Bạc, có ngọn núi xèo rộng ra ôm lấy thung lũng trước mặt ngôi đền là núi Nam Tào và Bắc Đẩu. Như vậy trong tâm thức dân gian, nghiễm nhiên Ông được coi như là Ngọc Hoàng, một Vua Cha cao hơn, bên trên cả Thánh Mẫu. Tuy nhiên, không giống như Vua Cha Ngọc Hoàng hay Vua Cha Bát Hải, các vị chỉ ngự trên điện thần chứ không giáng đồng, các Thánh hàng Mẫu cũng chỉ giáng chứ không nhập đồng, còn Đức Thánh Trần và một số thuộc hạ của Ông thì lại giáng đồng chuyên để trừ tà, cứu chữa con bệnh, tạo nên hẳn một dòng Thanh đồng phân khác với hình thức hầu đồng của dòng đồng cốt thờ Mẫu. Trong thứ tự giáng đồng của những người có căn Trần Triều thì thường là sau khi Mẫu giáng, và trước các vị Thánh hàng Quan. Đấy là chưa kể hình thức lên đồng để trừ tà thường diễn ra trong dịp lễ tiết của Đức Thánh Trần ở những nơi thờ tự chính của Ông” – theo sách “Đạo Mẫu Việt Nam”.

    Việc Đức Thánh Trần được người dân đặt vai trò như một đạo sĩ đã gây ra sự khó hiểu trong cộng đồng. Bởi ông xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc, thân làm tướng, thống lĩnh ba quân, đánh Đông, dẹp Bắc, phong thái uy nghi và chỉ tương xứng với những việc cao quý, hợp với đấng quân vương. Còn công việc xua đuổi ma tà, quỷ quái thuộc về các đạo sĩ, những nhân vật thường có thân phận thấp bé trong xã hội. Nhưng ở đây, Đức Thánh Trần lại đóng vai của một bậc hạ lưu. Tại sao vậy?

    Trước đây, cố GS Trần Quốc Vượng đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: “Thời nhà Trần, bên cạnh đạo Phật, Đạo giáo khá thịnh hành, nhiều người thuộc giới quý tộc, hoàng thân cũng là những đạo sĩ, tín đồ đạo giáo, trong đó có Trần Hưng Đạo. Từ sau khi chiến thắng giặc Nguyên, Mông, được phong vương, Ông quay trở về sống ở Kiếp Bạc, vui thú với cảnh sắc thiên thiên, làm thuốc chữa bệnh cứu người. Huyền thoại về việc Ông dùng ma thuật để trừ tà Phạm Nhan chỉ là sự lịch sử hóa, huyền thoại hóa một thực tế Ông là một thầy thuốc có tài chữa bệnh hậu sản, bệnh của phụ nữ. Với lại, trong dân gian, việc chữa bệnh bằng thuốc luôn đi liền với các hành động có tính ma thuật. Bởi vậy, sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, danh tiếng và uy tín của Ông đã được huyền thoại hóa, khoác ra ngoài cái vỏ tín ngưỡng và lưu truyền mãi về sau, cho tận tới ngày nay”.

    Không những thế, cố GS Trần Quốc Vượng còn giải mã luôn những điều kỳ lạ khi đặt Đức Thánh Trần ngang hàng với vua cha là Bát Hải Đại Vương. Đó là bởi cuộc đời của Trần Quốc Tuấn gắn liền với những chiến công oanh liệt ở sông nước, ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông thu phục giang sơn về một mối… Cho nên, người dân coi ông như một vị thần cai quản miền sông nước là điều dễ hiểu.

    Theo các nhà nghiên cứu Văn hóa thì Đức Thánh Trần hiện đang được nhân dân tứ phương phụng thờ dưới 3 hình thức hoàn toàn khác nhau. Hình thức thứ nhất, người dân thờ Trần Quốc Tuấn với vai trò là một anh hùng dân tộc, người đã góp công lớn vào sự kiện 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông, bảo vệ lãnh thổ Quốc gia. Hình thức thứ hai là người dân coi Trần Quốc Tuấn như vị vua cha, ngang hàng với Bát Hải Đại Vương. Cách phân biệt hai hình thức này dựa vào điện thờ. Hình thức thứ nhất thì ngoài điện thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ra không có điện thờ Mẫu và điện thần thờ Mẫu. Hình thức thứ hai thì ngược lại. Hình thức thứ 3 là thờ Ông là vị Thần Độ Mạng cho tuổi Nam có can là Canh và Tân . Còn tuổi Nam can Mậu và Kỷ thì thờ ông trong bộ NGỦ CÔNG VƯƠNG PHẬT.Gồm Trần Hưng Đạo, Tản Viên Sơn Thánh, Tiên Ông Chử Đồng Tử, Bảo Vương Thánh Mẫu Mẹ Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng và Liểu Hạnh Công Chúa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thỉnh Dây Chuyền Phật Bốn Mặt Thái Lan Và Thần Voi Ý Nghĩa, Linh Thiêng © Xamphep.com™
  • Mùng 9 Tháng Giêng Ta: Cúng Trời, Vía Ngọc Hoàng
  • Cúng Rằm Tháng Giêng Năm Mậu Tuất Cứ Chọn Đúng 2 Giờ Vàng Này Để Được Trời Phật Ban Phúc, Thưởng Tài Lộc, Rước Bình An Vào Nhà
  • Rằm Tháng Giêng Năm Mậu Tuất 2022 Cúng Đúng 2 Giờ Vàng Này Để Được Trời Phật Ban Phúc, Đón Tài Rước Lộc Về
  • Hướng Dẫn Cúng Vía Ngọc Hoàng Cầu Thiên Thời
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100