Hình Tượng “bà Cậu” Và Tục Cúng Ghe Ở Miền Tây

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Sám Hối Với Thai Nhi
  • Cách Thờ Cúng Ông Địa
  • Cách Luộc Gà Cúng Đẹp, Không Bị Nứt
  • Hơn 20 Cách Nấu Các Món Ngon Cúng Giỗ Bạn Nên Biết
  • Hướng Dẫn Cách Cúng Đầy Tháng Bé Trai Đơn Giản Bố Mẹ Có Thể Tự Làm Tại Nhà
  • Đại đa số ghe buôn, ghe hàng đều thờ “Bà Cậu” trên ghe và tổ chức cúng ghe vào các ngày 16 và 29 âm lịch mỗi tháng. Về lễ vật, nếu các phương tiện vận tải trên bộ thường cúng gà (tượng trưng cho hoạt động chạy nhảy mau mắn) thì cúng ghe phải cúng vịt (tượng trưng cho sự bơi lội, di chuyển thuận lợi trên sông).

    Mâm cúng gồm vịt luộc với ba chén cháo, một bình trà, một bình rượu và bánh ngọt, có nơi cúng thêm đầu heo tùy theo kinh tế gia đình. Mâm cúng đặt trước mũi ghe, khi bắt đầu cúng, chủ ghe đốt nhang cầu nguyện việc mua bán, may mắn, sức khỏe…

    Về hình tượng “Bà Cậu” có nhiều giả thuyết, nhưng đa số chủ nghe thường truyền tụng đó là một bà già và hai người con trai chuyên cứu giúp người trên sông nước khi gặp nạn. Để tỏ lòng tri ân, các bạn hàng xưa tổ chức cúng vái cầu nguyện Bà và hai cậu con trai phò hộ, giúp đỡ. Hình tượng “Bà Cậu” còn được người đi ghe xuồng đem ra cảnh báo trừng phạt đối với những hành vi, lời nói sai trái, không trung thực.

    Có những “điềm báo” chẳng biết dựa trên nền tảng tâm linh nào, chẳng hạn việc mua bán sẽ thành đạt nếu trong khi di chuyển bắt gặp chó lội ngang sông và ở trước mũi ghe hoặc ban đêm trong khoang ghe xuất hiện đom đóm; việc mua bán sẽ khó khăn khi gặp rắn hay ngỗng lội ngang…

    Tục cúng ghe ở Miền Tây khá phong phú, mặt khác lại có một số nét tương đồng. Để chuẩn bị đóng ghe mới, bao giờ chủ nhà cũng cúng vái miếng ván gỗ đầu tiên, gọi là tục cúng “gim lô”. Trên đó là mâm đồ cúng tương tự mâm cúng hàng tháng của chủ ghe nhưng có kèm theo một tấm vải đỏ tượng trưng cho sự may mắn. Miếng ván gỗ “gim lô” phải dày hơn các miếng gỗ tiếp theo.

    Sau khi hoàn thành chiếc ghe, chủ nhà phải thu hồi các cây đinh đã đóng trên miếng “gim lô”, thợ đóng ghe phải “xảm” vào đó các cọc gỗ khác tương ứng. Tục truyền rằng nếu mất mấy cây đinh ấy thì sẽ bị nhiều điều xui xẻo.

    Khi kéo ghe lên bờ để sửa chữa hoặc đại tu, người dân cúng “lên nề”, nghi thức cũng tương tự lễ nghi cúng hàng tháng. Cúng ghe để xuất hành buôn bán đầu năm, chủ ghe phải chọn ngày. Nếu đã chọn được ngày tốt nhưng vì một nguyên nhân nào đó chưa xuất hành được thì bày lễ vật trên bờ, sau đó cho ghe chạy qua chạy lại nơi đặt mâm cúng ba lần, rồi xuất hành ngày nào thì tùy ý.

    Sau nghi thức cúng ghe, chủ nghe mời các ghe đậu lân cận sang uống rựơu, đờn ca tài tử, bàn bạc chuyện buôn bán làm ăn cho chuyến đi tới. Tục cúng ghe ở đồng bằng sông Cửu Long được xem là một tập tục văn hóa tâm linh, gắn chặt trong đời sống dân gian truyền thống đã vài trăm năm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Những Bài Văn Cúng Cô Hồn Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Và Lễ Vật Cúng Nhập Trạch Về Nhà Mới
  • Cách Cúng Cô Hồn Sai Có Thể Đưa Vong Về Nhà?
  • Đồ Cúng Cô Hồn Gồm Những Gì, Có Ăn Được Không Và Cách Bày Mâm Cúng
  • Thắp Hương Rằm Tháng 7 Như Thế Nào Cho Chuẩn?
  • Tìm Hiểu Về Tục Thờ “bà, Cậu” Ở Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Ông Công Ông Táo Trên Ban Thờ Hay Trong Bếp Mới Đúng Chuẩn?
  • Tìm Hiểu Bài Cúng Cơm Hàng Ngày Cho Người Mới Mất
  • Lễ Vật Cúng Thổ Công Như Thế Nào ?
  • Xem Ngày Tốt Cúng Xe Năm 2021
  • Khấn Cúng Chúng Sinh (Ngoài Trời) *
  • Tùy theo tập quán tín ngưỡng từng vùng miền, hầu hết ngư dân, chủ phương tiện đưa rước hành khách, mua bán trên sông rạch ở các tỉnh Nam Bộ đều tin tưởng vào sự hiển linh của “Bà, Cậu”.

    Đến nay có nhiều giai thoại nói về danh xưng “Bà, Cậu” với nhiều nguồn gốc, điển tích khác nhau. Có người cho rằng Bà và Cậu chỉ là một người phụ nữ tên Cậu rất linh thiêng và sống ở trên sông, biển.

    Làm thuyền giấy rước “Bà, Cậu”.

    Một giả thiết khác được nhiều người tán đồng là “Bà” ở đây mang tên Thiên Hậu, vị “nữ thần” này cai quản sông nước để giúp đỡ người dân khi gặp hoạn nạn, không gây bão lũ để người dân yên ổn làm ăn. Cạnh đó còn trừ khử những loại người hung ác, gian tà. Còn “Cậu” ở đây là nói về hai người con của bà tên Tài và Quý, những người luôn ở bên bà để cứu nạn những người không may gặp nạn trên sông, biển.

    Dù hình tượng, quan niệm về “Bà, Cậu” chưa thống nhất nhưng hầu hết những người thờ cúng đều rất tin tưởng và duy trì lệ cúng rất thường xuyên. Thông thường, bàn thờ “Bà, Cậu” trên ghe, tàu luôn được đặt ở nơi trang trọng trong khoang sinh hoạt. Trên bàn thờ luôn có nhang, hoa tươi, trái cây các loại. Trước mỗi chuyến khởi hành chủ phương tiện đều thắp nhang khấn vái để được mua may, bán đắt, đi đường suôn sẻ, không gặp xui xẻo, ma quỷ đeo bám…

    Một ngôi miếu thờ ở Cái Răng (TP Cần Thơ).

    Nhiều người sau mỗi chuyến đi mua bán, đánh bắt có lời to còn tổ chức cúng vái “Bà, Cậu” rất trang trọng. Riêng về ngày cúng thường xuyên thường tổ chức vào ngày 16 âm lịch hàng năm với hai mục đích: cúng vái “Bà, Cậu” phù hộ cho gặp được những điều may mắn. Cạnh đó còn cúng vái những oan hồn “cô hồn cát đản” không theo quấy rối.

    Về lễ vật để cúng kiến, thông thường chủ nhà sẽ cúng vịt luộc cùng các món ăn phụ khác. Lý giải vì sao phải cúng vịt mà không là loại gia súc, gia cầm khác, ông Võ Văn Tám, 67 tuổi ngụ thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau cho biết “…Sở dĩ dân miền sông nước miền Tây thường cúng Bà Cậu bằng vịt vì quan niệm con vịt luôn luôn nổi và bơi lướt nhanh trên mặt nước. “Bà, Cậu” không ăn vịt mà dùng vịt để cưỡi đi giúp các ghe, tàu mỗi khi gặp sóng to, gió lớn, vượt qua các chướng ngại để đi đến nơi về đến chốn an toàn…”.

    Làm Lân trong lễ hội cúng “Bà, Cậu”.

    Tùy theo đặc điểm riêng, chủ ghe, tàu ngoài việc cúng “Bà, Cậu” tại phương tiện của mình, họ còn tham gia cúng tại các cơ sở thờ tự khác như: lăng, miễu, am thờ… do chính quyền địa phương tổ chức cúng “Bà, Cậu” kết hợp với các lễ hội khác như lễ nghinh Ông ở Sông Đốc (Cà Mau); Gành Hào (Bạc Liêu); Thạnh Hải (Bến Tre); Cái Răng (TP Cần Thơ)… về ngày cúng thì mỗi nơi mỗi khác nhưng về nghi thức cúng bái thì có rất nhiều nét tương đồng. Nhiều địa phương còn tổ chức lễ cúng hàng năm rất hoành tráng thu hút rất nhiều du khách đến tham quan, thưởng lãm.

    Tập quán tôn sùng, thờ cúng “Bà, Cậu” đã trở thành nét văn hóa tâm linh vốn có tự lâu đời đã và đang được người dân vùng nước Nam Bộ duy trì cho đến nay bằng sự thành kính chân tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Bài Khấn Cầu Trúng Số Độc Đắc
  • Bài Cúng Rằm Tháng Bảy Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Thủ Tục Chuyển Nhà Lấy Ngày
  • Cách Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà, Ngoài Trời Dễ Thực Hiện
  • Văn Khấn Cúng Đầy Tháng
  • Tín Ngưỡng Thờ Bà Cậu Ở Cần Thơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bua Ho Ly Chin Duoi, Bua Ho Ly, Bua Cao Chin Duoi
  • Kỳ Lạ Ở Tục Cúng Vuông Của Dân Miền Tây Nam Bộ
  • Điều Kỳ Lạ Ở Tục Cúng Vuông Của Người Dân Miền Tây
  • Cách Sắp Xếp Đồ Thờ Cúng Bằng Đồng Trên Bàn Thờ Gia Tiên
  • Thờ Cúng Gia Tiên Thế Nào Cho Đúng Và Đủ?
  • Tín ngưỡng thờ Bà Cậu có nguồn gốc ở miền Trung, được các ngư dân mang vào Nam Bộ từ khoảng xuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Có nhiều ý kiến cho rằng đây là tín ngưỡng xuất phát từ tín ngưỡng thờ Mẫu, đó là thần Nước, Mẫu Thủy, Mẫu Thoải. Trong dân gian, Mẫu Thoải là hóa thân lần thứ ba của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được gọi là Mẫu Đệ Tam. Mẫu Đệ Tam cai quản vùng sông nước, biển cả và luôn luôn cứu độ cho dân cư khu vực này. Binh tướng của bà là các thần dưới dạng rắn, thuồng luồng- có sức mạnh dẹp yên sóng gió, có khả năng làm mưa, chống lũ lụt, hồng thủy… Ngư dân tin rằng khi đi biển, nếu gặp bão thì Bà sẽ cứu giúp. Tín ngưỡng Mẫu Thoải rất phổ biến ở khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và khi vào đến Nam Bộ thì việc phối thờ Thiên Y A Na Bà Chúa Ngọc cùng hai người con (Cậu Trài (Tài)- Cậu Quí) tạo thành tục thờ đặc trưng của cư dân biển đảo là thờ Bà Cậu.1

    Nghi thức hạ thủy bè thủy lục tại Lễ Tống ôn ở Miếu bà Xóm Chài (Cái Răng- Cần Thơ). Ảnh: DUY KHÔI

    Người đi ghe xuồng mỗi buổi sáng đều thắp nhang cầu mong Bà Cậu phù hộ những điều tốt lành.

    Ảnh: DUY KHÔI

    Sở dĩ dân miền sông nước thường cúng Bà Cậu bằng vịt vì quan niệm, với nghề nghiệp và cuộc sống của họ, hạnh phúc và thành đạt là ghe, tàu đi đến nơi về đến chốn. Ngược lại, điều luôn làm họ lo lắng là tai họa, không may phương tiện bị rủi ro va chạm, đụng chìm… đồng nghĩa với thất bại, phá sản, giải nghệ. Chính vì vậy phương tiện nổi đi nhanh an toàn trong mọi điều kiện luôn là yêu cầu số một đối với người mưu sinh trên sông nước. Trong khi đó, con vịt luôn luôn nổi và bơi lướt nhanh trên mặt nước. Thế là họ thường dâng cúng Bà cặp vịt. Mặc dù đối với nhà Phật, đức Bồ Tát không dùng đồ mặn, nhưng người dâng cúng “lý sự” rằng, Bà không ăn vịt mà dùng vịt để cưỡi đi giúp các ghe, tàu mỗi khi gặp sóng to, gió lớn, vượt qua các chướng ngại trên luồng để đi đến nơi về đến chốn an toàn.2

    Trong khi đó, Bà Cậu được Huỳnh Tịnh Paulus Của ghi nhận trong Đại Nam Quấc âm tự vị trong mục từ Bảy bà ba cậu là: Bà chúa Tiên, bà chúa Ngọc, bà chúa Xứ, bà chúa Động, bà Cố Hỉ, bà Thủy, bà Hỏa; cậu Trày, cậu Quí đều là con bà chúa Ngọc, làm bạn với một vị thái tử mà sinh ra; còn có cậu Lý, cậu Thông, nói theo vần kể có ba cậu. Về hai người sau không rõ sự tích.3

    Lại có quan niệm cho rằng, đánh bắt cá vốn là nghề kiếm sống của những người hạ bạc (hiểu là nghèo khổ cùng cực nhất trong xã hội thời xưa, nên được xếp đứng đầu trong tứ nghệ khổ: ngư, tiều, canh, mục), bởi thế có câu: Cùng nghề đi tát, mạt nghề đi câu. Nói cách khác, ngư dân là những người bạc phận nhất, cực chẳng đã mới làm cái nghề đi vào ngõ cụt: Nhất phá sơn lâm nhì đâm hà bá. Chính vì vậy ngư dân phải tự tìm cho mình sự che chở của một thế lực siêu hình mà theo họ là đầy quyền năng: Bà Cậu, xem như Thủy thần- chỗ dựa tâm linh, để cầu xin được phù hộ độ trì. Thế mới được an lòng!

    Thủy thần là vị thần bảo hộ cho những người sống nghề sông nước, là một đối tượng được nghĩ ra trên cơ sở phối hợp pha lẫn các truyền thuyết sẵn có từ thuở xa xưa đem từ miền ngoài vào, rồi tự tâm thức, bà con đặt định một danh hiệu rất chung chung: Bà Cậu. Không ít người đã cố gắng lý giải về nguồn gốc, danh tánh, nhưng dân gian kể cả những người sống nghề hạ bạc cũng không mấy ai quan tâm đến thần tích tuy luôn rất thành kính, sợ hãi. Với họ, có hai loại thủy thần: tốt, thân thiện thì Bà Cậu; còn xấu, gây tai họa cho người là… Hà Bá và Bà Thủy.4

    Ở Cần Thơ, Bà Cậu không chỉ được thờ trong khoang ghe, tàu mà còn được xây miếu thờ. Ngôi miếu này hiện tọa lạc tại khu vực Xóm Chài, thuộc khu vực 3, phương Hưng Phú, quận Cái Răng. Đây là ngôi miếu được xây dựng từ rất lâu đời, cách đây khoảng 120 năm. Trước đây, cư dân khu vực này sống bằng nghề chài lưới, đánh cá… mà công việc này hằng ngày phải đối với diện với bao hiểm nguy của sông sâu nước chảy, sóng to gió lớn… nên cần có sự che chở của một vị thần để vững tâm trong công cuộc mưu sinh. Và Bà Cậu- với tư cách là vị thần cai quản vùng sông nước, có thể đem đến cho họ sự bình an trong tâm tưởng nên dân làng chung tay xây miếu thờ Bà, mong Bà phù hộ cho sóng yên gió lặng, mọi người được bình yên, tôm cá đầy thuyền. Miếu Bà Xóm Chài lúc đầu được xây dựng đơn giản bằng cột gỗ, lợp lá. Sau một thời gian dài, ngôi miếu xuống cấp, hư hỏng, dân làng mới góp tiền xây lại ngôi miếu khang trang như hiện nay. Trong miếu, ngoài việc thờ Bà Cậu, dân làng ở đây còn thờ Bà Chúa Xứ, Tả Ban, Hữu Ban, Thành Hoàng và Phật Di Lặc. Nhìn chung, việc thờ cúng ở miếu Bà Xóm Chài không khác mấy so với cơ cấu thờ cúng ở đình làng. Ngay cả lễ cúng Bà hằng năm cũng là mô phỏng lễ hội Kỳ Yên ở đình làng.

    Hằng năm, miếu Bà có hai kỳ cúng lớn, đó là ngày 13, 14 tháng Giêng âm lịch và ngày 23, 24 tháng 4 âm lịch. Trong đó, lễ cúng vào tháng Giêng là lớn nhất, có học trò lễ, có thuyền tống ôn, thu hút hàng trăm lượt người đến tham dự. Phẩm vật cúng Bà trong các ngày này gồm có: heo trắng làm sẵn, gà, cháo ám, trái cây… Trong đó, heo gà dùng cúng Bà Cậu, còn cháo ám dùng để cúng binh.

    Mặc dù người dân nơi đây không biết Bà Cậu là ai nhưng niềm tin của họ đối với Bà Cậu là tuyệt đối. Họ tin rằng, mọi bất trắc trên sông nước mà quá trình làm nghề họ gặp phải đều có Bà Cậu che chở. Vì lẽ đó, tín ngưỡng thờ Bà Cậu của người dân Cần Thơ là thể hiện sự tri ân của dân làng đối với đấng bề trên, cho họ một cuộc sống ấm no đủ đầy, bình an, hạnh phúc. Đồng thời qua đó còn thể hiện lòng ước mong mỗi cuộc hải trình ra khơi được đi đến nơi về đến chốn, sóng yên gió lặng, tôm cá đầy thuyền.

    Trần Phỏng Diều

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Thờ Cúng Ông Địa Thần Tài Giúp Thu Hút Tài Lộc
  • Cách Thờ Cúng Ban Thờ Thần Tài Và Ông Địa Để Tiền Vào Như Nước
  • Văn Khấn An Vị Phật Quan Âm Và Những Chú Khi Thờ Phật Tại Nhà?
  • Tết Ông Công Ông Táo: Nguồn Gốc Và Phong Tục
  • Lưu Ý Cách Cúng Ông Công Ông Táo Ở Ba Miền Để Cả Năm No Ấm
  • Xót Thương Cậu Bé 6 Tuổi Cùng Ông Bà Sống Nơm Nớp Trong Căn Nhà Dột Nát

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Cúng Tất Niên Chiều 30 Tết Bính Thân 2021
  • Đọc Truyện Thiên Linh Cái
  • Bài Khấn Cúng Âm Binh
  • Cách Sắp Xếp Và Ý Nghĩa Các Đồ Thờ Cúng Trên Bàn Thờ Tổ Tiên
  • Hướng Dẫn Cách Thờ Cúng Tổ Tiên Theo Tín Ngưỡng Việt
  • Lên 6 tuổi, cậu bé Trung không có tình yêu thương của người cha. Hàng ngày cậu bé cùng ông bà phải sống trong căn nhà dột nát, nguy cơ đổ sập bất cứ lúc nào. Khuôn mặt Trung buồn thiu khi cái đói, cái nghèo bủa vây gia đình em không lối thoát.

    Con dốc nhỏ kéo dài từ cánh đồng ngô, loằng ngoằng dẫn chúng tôi đến thăm ngôi nhà của cậu bé Phan Văn Trung theo sự chỉ đường của anh Giáp Văn Thực – Trưởng thôn Gia Tiến, (xã Tân Trung, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang). Cậu bé không có cha, em là “con nhặt” của người mẹ hâm dở Phan Thị Nhung Hương (31 tuổi) gầy nhom, xấu xí.

    Nhấn để phóng to ảnh

    Cậu bé Trung 6 tuổi không có cha, mẹ lại không được khôn ngoan nên em chỉ biết dựa vào bà ngoại.

    Nhấn để phóng to ảnh

    Căn buồng nơi ông ngoại cậu bé Trung nằm với la liệt các đồ vứt đi nhặt được ở các nơi về.

    Khi chúng tôi đến, cậu bé Trung khuôn mặt buồn thiu đang ở bên ông ngoại. Mấy ngày nay, ông ngoại của em ốm sốt nằm bẹp ở trong nhà vì không có tiền đi bệnh viện.

    Để kiếm cái ăn, bà ngoại của em đã đi bắt cua từ sáng sớm, dặn cậu bé ở nhà trông ông nhưng em cũng chẳng biết làm gì ngoài việc quanh quẩn bên giường của ông với sự lo lắng hằn trên gương mặt non dại.

    Nhấn để phóng to ảnh

    Toàn cảnh ngôi nhà của cậu bé Trung với những đồ đã hỏng và nền đất mấp mô.

    Bước chân vào bên trong, cảnh tượng ngôi nhà tồi tàn hiện ra trước mắt chúng tôi, nền nhà đất lồi lõm với những vũng sâu khoét to đến hơn một gang tay. Tài sản là 2 chiếc giường đã gãy gần sập xuống, một chiếc tủ không có cánh với các đồ được gom lại do những nhà khác thải ra đặt chung đống áo quần lộn xộn….

    Tổ ấm ấy của Trung và ông bà là một gian nhỏ, mái lợp thủng lỗ chỗ nhìn xuyên tới cả trời. Những hôm trời nắng thì mặt trời xuyên rọi vào trong còn hôm trời mưa thì ở trong nhà cũng không khác gì ngoài sân. Xung quanh nhà 4 mảng tường bong tróc, sụt lở khắp nơi, bụi bay mù mịt.

    Vì trong nền nhà mấp mô, không bàn ghế nên mọi người chỉ vào thăm ông ngoại của Trung một chút rồi ra hết cả ngoài sân đứng dù trời vẫn nóng như thiêu, như đốt. Trong lúc nhờ người đi gọi bà Tuyết ở ngoài đồng trở về, anh Thực tâm sự:

    “Trong xã Gia Trung, thì hoàn cảnh của gia đình cháu Trung này là bi đát nhất. Ông bà Tuyết sinh được 2 cô con gái thì cả 2 cùng bị dở. Cô lớn là Phan Thị Hương Nhung chính là mẹ cháu Trung, cô bé là Phan Thị Hương, cả 2 chẳng biết làm ăn gì cả, bà Tuyết sai gì làm nấy nhưng mà cũng chậm chạp lắm.

    Nhấn để phóng to ảnh

    Bà Tuyết năm nay mới ngoài 50 nhưng trông già sọm với công việc ngày ngày đi bắt cua nuôi chồng, con và cháu.

    Nhấn để phóng to ảnh

    Bà tủi thân vì có đến tận 2 cô con gái nhưng đều dơ dở không biết làm gì cả.

    Ông ngoại cháu Trung là Phan Văn Đức ngày trước đi phu hồ bị vôi vữa bắn vào mắt nên giờ gần như không nhìn thấy. Ông ấy cũng không được khôn nhưng được cái chăm chỉ làm lụng quanh năm. Đợt này do nắng quá, lại không có gì ăn uống nên ông vật ra ốm khiến chúng tôi cũng lo quá!”.

    Vừa dứt lời tâm sự của anh trưởng thôn, cũng là khi bà Tuyết xách một chiếc xô sứt mẻ từ ngoài đồng trở về. Biết khách phải đứng hết ở ngoài sân, bà Tuyết xấu hổ không dám ngẩng mặt lên, đôi bàn tay chai sạn với chằng chịt những vết sứt sẹo cứ bám chặt vào nhau mãi không rời.

    Nhấn để phóng to ảnh

    Ngôi nhà của bà chẳng có gì đáng giá đến 20 ngàn đồng.

    Mới ở cái tuổi ngoài 50, nhưng nhìn bà Tuyết đã già như một bà cụ. Dáng bà gầy sọp, héo hon với hai má tóp lại cùng hàm răng đã gãy gần hết. Bà Tuyết bảo: “Tôi có hẳn 2 cô con gái đấy chứ nhưng giá mà chúng bình thường như mọi người thì tôi đã được nhờ…”.

    Bỏ dở câu nói, bà lại cúi đầu, im lặng. Cái đói, cái nghèo bủa vây nhiều năm qua khiến bà trở nên cùng quẫn đáng thương. Chồng ốm không có tiền đi bệnh viện, cháu thì đói khát chờ bà… Biết bao nỗi lo cùng nhau kéo đến khiến bà kiệt sức, đường cùng không lối thoát.

    Nhấn để phóng to ảnh

    Sự nghèo khổ của bà đến tận cùng khi không có tiền mua nổi cái kiềng nấu cơm mà phải kê 3 hòn gạch lên để nấu.

    Nhấn để phóng to ảnh

    Những mảng tường bong tróc, như sắp sập trong ngôi nhà của bà.

    Đi vòng quanh nhà bà, điều khiến chúng tôi càng thêm hoang mang và lo lắng hơn khi nguồn nước sinh hoạt của gia đình cũng mất vệ sinh và cạn kiệt dần. Một chiếc giếng với thành được xây bằng gạch, đã vỡ nhiều viên nham nhở rêu cáu và nguy hiểm được bà múc mãi mới nổi một gàu nước đục ngầu.

    Ở gần ngay đó là gian bếp với vật liệu đun là những thứ rác rưởi được đi nhặt ở khắp mọi nơi về và hoàn toàn tối thui, không có bóng điện. Đến chiếc kiềng để bắc nồi lên bếp cũng không có nên phải kê tạm 3 viên gạch…

    Mọi thứ diễn ra trước mắt khiến chúng tôi một lần nữa phải giật mình vì cái sự nghèo xác xơ, không có nổi một vật dụng gì đáng giá đến 20 ngàn đồng của gia đình bà.

    Ái ngại trước hoàn cảnh của gia đình, ông Nguyễn Văn Nhưỡng – Chủ tịch UBND xã Tân Trung cho biết: “Xã đã nắm bắt được hoàn cảnh gia đình của bà Tuyết từ lâu rồi và cũng có phương án hỗ trợ, tuy nhiên chỉ được phần nào thôi. Hôm nay được các anh chị nhà báo về thăm, chúng tôi cũng mong muốn cơ quan giúp cho gia đình đỡ khổ”.

    Nhấn để phóng to ảnh

    Không có gì để đốt, bà thường nhặt nhạnh những thứ họ vất đi để mang về làm chất đốt.

    Thương bà nhưng cậu bé Trung chẳng biết làm gì hơn bởi em mới chỉ lên 6 tuổi. Gương mặt cậu bé lúc nào cũng buồn thiu, đến bữa ăn hàng ngày cũng bị đói, nói gì đến ước mơ xa hơn khi có một mái nhà lành lặn để ở.

    1.Mã số 3423: Bà Nguyễn Thị Tuyết (thôn Gia Tiến, xã Tân Trung, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang)

    Ngõ 2 nhà số 48 Giảng Võ, Đống Đa, Hà Nội

    Tel: 024. 3. 7366.491/ Fax: 024. 3. 7366.490

    Email: [email protected]

    Tên TK:Báo Điện tử Dân trí

    Số TK: 0451000476889

    Tại: Ngân Hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Thành Công – Hà Nội.

    Account Name: Bao Dien tu Dan tri

    Account Number: 0451370477371

    Swift Code: BFTV VNVX 045

    Bank Name: THE BANK FOR FOREIGN TRADE OF VIETNAM (VietComBank)

    Tên TK: Báo Điện tử Dân trí

    Số TK: 129 0000 61096

    Tại: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm

    * Tài khoản VND tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV)

    Tên Tài khoản : Báo Điện tử Dân trí

    Số Tài khoản : 2611 000 3366 882

    Tại : Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam- Chi nhánh Tràng An

    Địa chỉ : Số 11 phố Cửa Bắc, Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; ĐT: 0436869656.

    * Tài khoản USD tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV)

    Account Name : Bao Dien tu Dan tri

    Account Number : 2611 037 3366 886

    Swift Code : BIDVVNVX261

    Bank Name : Bank for Investment and Development of Vietnam JSC,Trang An Branch

    Address : No 11 Cua Bac Str.,Ba Dinh Dist.,Hanoi, Vietnam; Tel: (84-4)3686 9656.

    Tên TK: Báo Điện tử Dân trí

    Số TK: 0721101010006

    Tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Thái Thịnh – Hà Nội

    Tên TK: Bao Dien tu Dan tri

    Số TK: 0721101011002

    Swift Code: MSCBVNVX

    Bank Name: MILITARY COMMERCIAL JOINT STOCK BANK – MCSB ( No.3, Lieu Giai str., Ba Dinh Dist., Hanoi, Vietnam)

    – Tên tài khoản: Báo Điện tử Dân trí

    – Số tài khoản VND: 1400206034036

    – Tại Ngân hàng: Agribank CN Láng Hạ

    VP Hà Tĩnh: 46 Nguyễn Công Trứ, Phường Tân Giang, TP Hà Tĩnh. Tel: 0239.3.857.122

    VP Đà Nẵng: 25 Nguyễn Tri Phương, Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Tel: 0236. 3653 725

    VP TPHCM: số 294 – 296 đường Trường Sa, phường 2, quận Phú Nhuận, TPHCM. Tel: 028. 3517 6331 (Trong giờ Hành chánh) hoặc số hotline 0974567567

    VP Cần Thơ: 53/13 Lý Tự Trọng, Q Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Tel: 0292.3.733.269

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Thủ Tục, Cách Bỏ Bàn Thờ Thần Tài Cũ Chuẩn Nhất
  • Cách Thờ Cúng Ông Địa Thần Tài Chuẩn Nhất
  • Cách Đặt Bàn Thờ Ông Địa, Ông Thần Tài Đúng Giúp Phát Tài Phát Lộc
  • Cung Cấp Bàn Thờ Ông Địa, Bàn Thờ Thần Tài Đẹp Giá Rẻ Tại Quận 7 Tp.hcm
  • Cung Cấp Bàn Thờ Thần Tài Ông Địa Tại Đồng Nai (Giao Hàng Tận Nhà)
  • Tục Thờ Bà Cô, Ông Mãnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tại Sao Cần Phải Dâng Sao Giải Hạn Vào Đầu Năm?
  • Chùa Phúc Khánh: Giải Hạn Xong, Muốn Cầu An Lại Phải Đóng Thêm Tiền
  • Cách Cúng Tam Tai Giải Hạn
  • 59 Điều Cơ Bản Cần Nhớ Khi Xây Dựng Nhà Cửa
  • Kích Thước Cửa Sổ Tiêu Chuẩn Thường Dùng Trong Xây Dựng
  • Bà cô ông mãnh là từ mà dân gian dùng cho những người chết trẻ, chưa lập gia đình. Người ta cho rằng vì chết trẻ nên bà cô ông mãnh rất linh thiêng. Nếu cảm thấy “hợp” người thân nào thì sẽ phù hộ độ trì rất nhiều. Nếu thờ cúng bà cô ông mãnh không đến nơi đến chốn sẽ bị quở phạt. Bà cô ông mãnh lẽ ra cũng nên thờ cúng với tổ tiên, nhưng dân gian quan niệm rằng bà cô ông mãnh tuổi thấp nên chưa thể hưởng hương hoa cùng các cụ đời trước được. Giống như trên cõi dương gian, trẻ con chỉ ngồi riêng một mâm khi ăn giỗ nên bà cô ông mãnh cũng được thờ riêng 1 bàn thờ.

    Bàn thờ bà cô ông mãnh được đặt dưới gầm hương án bàn thờ tổ tiên. Cũng có thể đặt cùng trên bàn thờ tổ tiên nhưng bát nhang phải thấp hơn thờ gia tiên 1 bậc. Cũng có thể lập riêng bàn thờ nhưng phải thấp hơn bàn thờ tổ tiên. Bài trí bàn thờ bà cô ông mãnh rất đơn giản, sơ sài. Chỉ đặt bài vị (hoặc ảnh), bát nhang, chén nước, bình hoa, đôi đèn… Người ta cúng vào ngày sóc vọng, ngày kỵ, giỗ Tết giống thờ tổ tiên.

    Nếu người cúng ngang hàng với bà cô ông mãnh thì chỉ lâm râm khấn mà không cần lễ. Nếu thuộc hàng dưới thì phải khấn và lễ. Khi gia đình gặp chuyện về sức khỏe, vật chất… người ta cúng bà cô ông mãnh để được phù hộ độ trì cho mọi sự được hanh thông và tốt hơn.

    Bà tổ cô là tổ tiên của mình thôi, có gì cứ khấn như khấn tổ tiên.Còn có nhiều bà tổ cô linh thiêng được đi theo hâu phật thánh, có bà cô hóa sớm được đi theo hầu cô chín(cô chín sòng chứ không phải cô chín thượng).Tuy nhiên bà cô tổ làm việc trên thiên đình,có bà theo hầu thánh,có bà theo hầu Phật…,nên đuợc Trời Phật ban cho nhiều phép tắc,chức vị, sức mạnh quyền lực để trừ tà ma có ảnh hương xấu cho họ tộc,nhất là đặc biệt có uy lực bảo vệ sự sống của trẻ con trong dòng họ…và tất nhiên khi bà cô tổ đã làm việc trên thiên đình thì bà có thể ra vào nhà mình bất cứ lúc nào mà không cần phải xin phép thần linh thổ địa tại nhà.Cho nên nhà có gì thì kêu tấu với cô cho mọi việc được êm xuôi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Tục Nhập Khẩu Bếp Gas Âm Kính Hai Lò Nấu
  • Nổi Lửa Nhà Bếp Phong Tục Khi Chuyển Sang Nhà Mới
  • Khu Du Lịch Núi Sam An Giang
  • Ly Kỳ Sự Tích Về Bà Chúa Xứ Núi Sam Ở Vùng Châu Đốc An Giang
  • Ly Kỳ Truyền Thuyết Về Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam Châu Đốc
  • Tục Cúng Tiễn Ông Bà Ngày Mùng 3 Tết

    --- Bài mới hơn ---

  • Tp.hcm: Thịt Gà, Hoa Quả Đắt Hàng Lễ Tiễn Ông Bà
  • Một Mâm Cỗ Ngon Gồm Những Món Gì?
  • Con Dâu Một Mình Lăn Vào Bếp, Lấy Lòng Mẹ Chồng Bằng 4 Mâm Cỗ Đầy Ắp Món Ngon
  • 21 Thực Đơn Bữa Tiệc Nhỏ Chiều Lòng Mọi Thực Khách
  • 8X Làm 3 Mâm Cỗ 10 Món Hết 1,5 Tiếng, Dân Mạng Nức Nở Quá Nhanh Quá Nguy Hiểm
  • (Baonghean.vn) Dù giàu hay nghèo, mỗi gia đình cũng cố gắng sắm sửa một mâm cơm tươm tất cúng tiễn ông bà tổ tiên vào ngày mồng 3 Tết và cầu mong một năm mới an lành, nhiều may mắn.

    Từ nhiều năm nay, bà Trần Thị Lương (Khối 7, thị trấn Dùng) cứ ngày mùng 3 Tết luôn thức dậy từ 5h sáng, lục đục làm mâm cơm cúng ông bà. Bà cho biết: “Ngày mùng 3 Tết là tất cả con cháu trong gia đình lại sum họp để thực hiện việc cúng tiễn ông bà, tổ tiên. Nếu vào ngày 29 tháng Chạp chúng ta đã rước ông bà long trọng như thế nào thì hôm nay khi đưa ông bà đi cũng phải chuẩn bị tươm tất không kém để phải phép với những bậc tiền nhân. Gà trống cúng ngày mùng 3 phải chọn con thật no tròn, chắc nịch, có cặp chân đẹp, bày biện thật đẹp. Mâm cơm phải có canh rau, đồ xào, các loại nước chấm, trà rượu để ông bà thưởng thức. Chân gà giữ lại để treo đằng cửa cùng với hình ông cọp, bộ tiền vàng mã cũng phải chuẩn bị thật chu đáo để làm lộ phí tiễn ông bà lên đường. Điều đó thể hiện lòng quan tâm hướng đến ông bà của con cháu trong gia đình.”

    Đội cỗ đi nhà thờ họ cúng tổ tiên

    Thành kính hướng về tổ tiên.

    Hóa vàng mã

    Trước kia, lễ tiễn ông bà kết thúc Tết Nguyên đán có thể diễn ra vào mùng 5-7-10 nhưng nay, lễ tiễn ông bà thường được tiến hành vào trưa, chiều ngày mùng 3 tết. Cũng như ngày rước ông bà về, ngày tiễn đưa con cháu phải tề tựu đông đủ. Trong ngày này, nhà nhà tấp nập chuẩn bị cho mâm cơm cúng, thường có đủ những món ăn truyền thống như gà luộc, bánh chưng, bánh tét, thịt kho, củ kiệu… để dâng lên ông bà tổ tiên.

    Trong những ngày Xuân quây quần sum họp bên nhau, con cháu vẫn luôn hoài niệm tri ân về tổ tiên đã khuất. Tục lệ rước ông bà về sum vầy ăn tết và tiễn đưa ông bà đi là sự thể hiện lòng thành kính hướng về tổ tiên của dân tộc ta. Đó là một trong những nét đẹp văn hóa của người Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhộn Nhịp Cúng Tiễn Ông Bà Ngày Mùng 3
  • Mâm Cơm Mùng Ba, Cúng Tiễn Ông Bà
  • Những Điều Chưa Biết Về Lễ Cúng Đêm Giao Thừa (Trừ Tịch)
  • Lễ Ăn Hỏi Cần Bao Nhiêu Mâm Quả?
  • Đặt Heo Quay Cho Mâm Quả Lể Cưới
  • Tục Vía Bà “Ngũ Hành Nương Nương”

    --- Bài mới hơn ---

  • Qui Khuyen Hoc Ninh Hoa
  • Cách Ghi Phong Bì Đám Giỗ Thành Kính Không Phải Ai Cũng Biết!
  • Đi Đám Giỗ Nên Mua Gì Vừa Thiết Thực Lại Đầy Ý Nghĩa
  • 16 Món Ngon Ngày Giỗ Miền Bắc
  • Tin Tức, Giải Trí, Kinh Tế, Xã Hội
  • Từ thời Trung Hoa cổ đại, Ngũ Hành vốn là một khái niệm siêu hình học nền tảng trong các học thuyết về Âm Dương/Ngũ Hành của Khổng tử và Lão tử. Ngũ Hành là 5 loại vật chất căn bản, gồm: Kim (kim loại), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa ( lửa) và Thổ (đất). Như giải thích trong kinh Dịch và kinh Thư, 5 chất liệu ấy vận động, phát triển theo hướng “tương sinh” và “ tương khắc”, đồng thời biểu thị quy luật sinh thành/vận động của toàn vũ trụ, thế giới và cả trong cuộc sinh tồn của nhân loại. Xuất phát từ Trung Quốc, lần hồi thuyết Ngũ Hành được tín ngưỡng hóa thành sự thờ phượng “vạn vật linh thiêng”, rất phổ biến trong nhiều dân tộc Á Đông – trong đó có Việt Nam –  cho đến ngày nay.

    “NĂM CHẤT” ĐƯỢC TÍN NGƯỠNG THỜ “MẪU” BIẾN THÀNH “NĂM BÀ” 

    Tiếp nhận thuyết Ngũ Hành từ phương Bắc rồi hòa quyện vào những tín ngưỡng dân gian đã có trước, người Việt cổ đã đưa thuyết này vào thờ phượng với những nhận định thực tiễn, giản dị. Chẳng hạn như ở vùng nóng bức quanh năm, thường xảy ra hoả hoạn, thì hành Hỏa được lập miếu thờ; vùng duyên hải, sông rạch thì thờ Thủy thần; vùng rừng núi thì thờ Bà Chúa Thượng Ngàn; vùng trồng lúa, trồng màu thì thờ Thổ thần v.v… Mặt khác, tại nước Việt xưa, so với các tục thờ Thổ Địa, Tài Thần, Chúa Xứ Thánh mẫu v.v…, thì tục thờ Ngũ Hành Nương Nương – tức thờ Ngũ Hành (vật chất) như một nhóm năm vị nữ thần – đã xuất hiện muộn hơn.

    Còn muộn hơn là mãi đến năm Duy Tân thứ năm (tức năm 1911), triều đình nhà Nguyễn mới sắc phong chung cho năm Bà là các “Đức Thánh Nương, Trứ Phong Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần”, phân ra là: Thổ Đức Thánh Phi, Hỏa Đức Thánh Phi, Kim Đức Thánh Phi, Thủy Đức Thánh Phi và Mộc Đức Thánh Phi. 

    Nhưng tại sao biểu tượng cho “năm chất căn bản tạo nên trời đất” lại là các nữ thần mà không là nam thần?

    Theo thiển ý (bởi chưa thấy có tài liệu, sách vở nào về khảo cổ học, nhân chủng học, tôn giáo học… đưa ra lý giải tương tự), là vào thời tiền sử, theo cái nhìn sơ khai của các dân tộc trồng lúa nước, sống phụ thuộc vào thiên nhiên – như người Việt cổ – thì, giới tự nhiên, hoang dã có tính chất tạm gọi là “âm sinh”, bởi ở đâu cũng thế, con người cổ đại nhìn thấy việc đẻ đái, trẻ con sơ sinh cũng như các thú vật sơ sinh khác được sinh ra duy nhất chỉ từ người đàn bà hay các con thú giống cái.

    Có thể nói, dù chỉ là một kinh nghiệm hết sức hồn nhiên, thô thiển trước thế giới quanh mình nhưng kinh nghiệm trực quan nói trên đã mang tính chất vũ trụ quan nguyên thủy của con người bầy – đàn. Hơn thế, đây cũng là nguyên do có trước tiên trong số những nguyên do dẫn tới chế độ mẫu hệ cùng tín ngưỡng thờ Mẫu – biểu tượng thần linh nghiêng về “Mẹ”, “Mẹ Đất” rất phổ biến trong các chủng người cổ đại.

    Trước kia, Ngũ Hành Nương Nương thường được thờ trong những am, miếu, điện…, phổ biến nhất là các ngôi miếu lớn, nhỏ mà người dân quen gọi ngắn gọn là “miếu Ngũ Hành” hay “miếu Bà” – hiếm khi nghe kiểu gọi “miếu năm Bà”. Tiến về phương Nam, đến vùng đất Gia định cũ, rồi TP HCM ngày nay (mở rộng từ đô thành Sài Gòn cũ), tục thờ Bà Ngũ Hành càng được quảng bá rộng rãi, những ngôi miếu Bà xuất hiện khắp nơi, nhất là ở các vùng nông thôn và vùng ven đô.

    Ban đầu, người ta thờ Bà bằng bài vị chữ Nho, nhưng mấy mươi năm gần đây, bài vị lần hồi được thay bằng tượng tô, đúc bằng xi măng. Cần để ý là từ màu sơn thân tượng cho đến màu y áo, khăn choàng khoác ngoài, ở mỗi Đức Bà (tức mỗi Hành) đều có màu chủ đạo riêng biệt, đó là: Kim Bà màu trắng, Mộc Bà màu xanh, Hỏa Bà màu đỏ, Thủy Bà màu đen (hoặc tím) và Thổ Bà màu vàng. 

    “BÀ” Ở TRONG ĐÌNH, CHÙA, CẢ TRONG KHU PHỐ, NGÕ HẺM 

    Ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định cũ, do phần lớn giới trung lưu và giới bình dân (tiểu thương, sản xuất tiểu/thủ công nghiệp, buôn gánh bán bưng, lao động chân tay…), thường cùng tin là Bà Ngũ Hành linh hiển, nên từ xa xưa, trước ngày 30/4/1975, miếu Bà được cất, dựng rải rác, liền kề nhau ở khắp các thôn ấp, đường phố. Như ở quận Gò Vấp (thuộc tỉnh Gia Định cũ, vùng đất có rất nhiều chùa, miếu), ở một đoạn đường Nguyễn Thái Sơn giáp đường Lê Lợi thuộc phường 3,  chỉ nội trong hai khu phố kề nhau, đã có tới 4 chỗ thờ Bà Ngũ Hành, gồm một miếu ở mặt tiền đường và ba cái kia thì khuất trong ngõ hẻm, cách nhau chỉ chừng 500 – 600 mét.

    Xưa nay, trong đất thổ cư, vườn tược của mình, nhiều nhà giàu đã cúc cung dựng miếu thờ Bà, như ở vùng quận 9 (gần Trường Bộ Binh Thủ Đức cũ) hiện nay, có những ngôi miếu Bà thật nhỏ, có khi chỉ bằng cái tủ áo, được cất ngay cạnh ao nuôi cá và chuồng gà vịt. Có nơi Bà được gia chủ thờ riêng một miếu, cũng có nơi thờ chung với Thổ Địa, Quan Công, Mẹ Thai Sanh…

    Còn ở các nơi thờ phượng công cộng là các ngôi đình làng, kiểu thờ “quần tiên, chư thần” càng phồn tạp hơn. Mang danh nghĩa “đình” là dành thờ Thành Hoàng (vị nhân thần bảo hộ cho làng, xã), nhưng trong đình thì ngoài bệ thờ Thành Hoàng, luôn luôn có thêm bàn thờ, trang thờ Ngũ Hành Nương Nương, Quan Thánh, Thổ Địa, Tiền Hiền, Hậu Hiền, Linh Sơn Thánh Mẫu .v.v…

    Ở những ngôi đình cổ, như đình Minh Hương Gia Thạnh (ở quận 5, xây năm 1797) , đình Phong Phú (ở quận 9, xây năm 1937), đình Phú Nhuận ( 150 năm tuổi), đình An Phú (ở quận 12, khoảng 250 năm tuổi) .v.v…, thì hằng năm, bá tánh cùng vía Bà cũng lớn không thua gì lễ vía Thành Hoàng địa phương. 

    Một điểm đặc biệt nữa là dù chỉ thuộc về tín ngưỡng dân gian chứ không thuộc hàng “chư Phật” trong Phật giáo, Bà Ngũ Hành vẫn được thờ trong chùa (chính danh là cửa Phật), có điều phải là những ngôi chùa cổ (theo Đại Thừa). Như trong khuôn viên một số ngôi cổ tự như chùa Phổ Đà Quan Âm (quận Gò Vấp), chùa Vạn Thọ (quận 1), chùa Bình An (quận Bình Tân), chùa Bửu Long sơn tự ở tận Dĩ An (Bình Dương).v.v…, những ngôi miễu Bà được bá tánh cúc cung quanh năm hương khói… Còn ở những ngôi chùa tạm gọi là ‘tân thời’, mới cất gần đây như trường hợp chùa Quảng Đức (mới xây dựng sau 30-4 ở quận 3), không thấy có những am, khám thờ các vị thần bên tín ngưỡng dân gian, như Bà Ngũ Hành, Quan Công, Linh Sơn Thánh Mẫu…

    Được thờ cúng từ ở những ngôi miếu khang trang, lộng lẫy, cho đến những bàn thờ, trang thờ nhỏ bé, đơn sơ tại tư gia, có thể nói “Bà” là nhóm thần linh rất gần gũi với bá tánh. Thậm chí ở vài cái miếu trong ngõ hẻm – có khi nhỏ, hẹp đến nổi chỉ bằng chừng 2-3 chiếc chiếu đôi trải ra – miếu vẫn còn là “hộ khẩu 1 người” bởi người coi sóc miếu ăn ở, sinh hoạt luôn ở phía sau bàn thờ Bà. 

    VÍA BÀ LUÔN CÓ BÓNG RỖI ĐẾN HÁT, TẾ…

    Theo đúng tục lệ thì lễ vía Ngũ Hành Nương Nương là vào ngày 19 tháng Ba âm lịch hằng năm, nhưng có vài nơi cúng trễ hơn, như ở ngôi miếu Bà nằm ở đường Phan Văn Khỏe, gần chợ Bình Tây (cất năm 1970), lại cúng Bà vào ngày 23 tháng Ba.

    Cũng theo đúng lệ thì vào kỳ vía, các miếu Bà phải mời đám bóng rỗi – pêđê nam – đến hát, tế, múa dưng bông… thật tưng bừng, thu hút rất đông bá tánh xa, gần đến coi. Trước vía 1- 2 ngày, bà con bổn đạo thường cùng nhau “đấp y cho Mẹ”, là nghi thức lau chùi, sơn sửa, thay áo, mão mới cho các pho tượng Bà.

    Vừa rồi, một ngôi miếu Ngũ Hành nằm ở đường Trương Đăng Quế (phường 3 Gò Vấp), dù chẳng rõ dự án mở rộng  con đường này có thực hiện hay không, tức tương lai ngôi miếu có bị giải tỏa trắng hay không, trước mắt vẫn rục rịch tô sửa, sơn phết chuẩn bị cho kỳ vía Bà năm nay. Đúng ra, theo chị Dung, người vừa coi sóc miếu vừa có nghề tế bóng rỗi, bà con ở đây vẫn có lệ riêng là bất kỳ lúc nào trong năm, hễ trong bổn đạo có ai phát tâm cúng Bà là đến nhờ chị tổ chức, sửa soạn mâm lễ, chứ không cần chờ đến kỳ vía tháng Ba âm lịch như lúc này mới cúng.

    Còn theo bà Ba Thích, thuộc gia đình đã bỏ công bỏ của cất ngôi miếu này từ năm 1950, cứ 3 năm một lần, gia đình bà đều giữ đúng lệ cúng tạ Ngũ Hành Hành Nương, bởi: “Bao năm qua, có Bà, Mẹ Mẫu đã gia ơn phò hộ thì gia đình tôi mới được mạnh khỏe, bình an bấy lâu…”.

     

    PHẠM NGA thực hiện

    --- Bài cũ hơn ---

  • Miếu Ngũ Hành – Phong Thủy Trọng Hùng
  • Văn Khấn Ngày Tết Đoan Ngọ (5/5 Âm Lịch)
  • Quảng Nam: Chùa Yên Sơn Thiết Lễ Cúng Dường Trai Tăng
  • Tổng Kết Chương Trình Cúng Dường Trai Tăng Tại Trung Tâm Nhân Đạo Hộ Pháp (Bà Rịa
  • Mc Chương Trình Lễ Cúng Dường Trai Tăng Tam Thất Trai Tuần
  • Tục Thờ Cúng Ông Bà Tổ Tiên Của Người Thái

    --- Bài mới hơn ---

  • Tại Sao Phải Thờ Cúng Ông Bà, Tổ Tiên Và Người Đã Mất?
  • Vì Sao Phải Thờ Cúng Ông Bà Tổ Tiên, Người Đã Khuất?
  • Tín Ngưỡng: Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên (Ông/bà
  • Thổ Công Là Gì? Cách Thờ Cúng Thổ Công Cho Nhà Tăng Phúc Trạch
  • Các Loại Bàn Thờ Trong Tín Ngưỡng Thờ Cúng Của Người Việt
  • Thờ cúng ông bà tổ tiên là đạo hiếu tốt đẹp lâu đời của mỗi dân tộc, thể hiện lòng thành kính biết ơn sâu sắc của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, cụ, kỵ đã khuất. Với người Việt Nam nói chung, đồng bào dân tộc Thái nói riêng, thờ cúng ông bà tổ tiên là một phong tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống tâm linh, tinh thần.

    Uống nước nhớ nguồn

    Dù trải qua những biến động, thăng trầm, nhưng tục lệ thờ cúng ông bà tổ tiên vẫn luôn được bao đời đồng bào Thái gìn giữ và lưu truyền nguyên vẹn để nhắc nhớ về gốc nguồn mỗi con người. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên rất giản dị: Người Thái đen quan niệm khi một người chết đi thì chỉ có thể xác là tan dần theo năm tháng, còn linh hồn vẫn hiện hữu. Họ phù hộ và cưu mang cho con cháu khi gặp tai ương, hoạn nạn; vui mừng khi con cháu gặp may mắn, khích lệ con cháu làm điều thiện và cũng quở trách khi làm những điều tội lỗi… Vì thế, mỗi khi đến dịp lễ, tết, nhà có hiếu, hỷ hay gặp chuyện khó khăn, đau ốm, người trong nhà lại làm cơm đặt lên bàn thờ mời ông bà tổ tiên và giãi bày hay cầu xin những điều tốt đẹp đến trong cuộc sống…

    Nhà nghiên cứu văn hóa Thái – Hà Nam Ninh, cho biết: “Người Thái gọi tổ tiên là đắm pang. Theo quan niệm của người Thái, đắm pang là các linh hồn của một đại gia đình gồm nhiều thế hệ cha ông đã từ giã cõi trần về với cõi bun (cõi hạnh phúc) ở trên tầng trời. Bộ phận ngự ở trên bàn thờ gia đình con cháu gọi là phi hươn (ma nhà). Đắm pang luôn luôn để mắt, để tai, dõi theo từng bước đi của con cháu, chăm lo, phù hộ cho con cháu gặp được điều tốt lành. Con cháu luôn cảm thấy yên tâm, vì quan niệm rằng lúc nào cũng có ông bà, tổ tiên bên cạnh, nhìn thấy trước những điều sắp xảy ra với mình mà ra hiệu, mách bảo con cháu ứng phó, tránh được rủi ro. Vì thế, người Thái luôn luôn biết ơn, tôn kính tổ tiên. Trong sinh hoạt hàng ngày, nếu bữa ăn có cơm ngon, canh ngọt, người chủ gia đình phải có vài lời khấn mời tổ tiên trước khi cả nhà ăn cơm; lúc mở chĩnh rượu cần phải khấn tổ tiên trước khi uống; khi có công to việc lớn, như: Ăn cơm mới, lên nhà mới, ma chay, cưới hỏi hay trong nhà có người sắp đi xa nhà thì đều làm lễ cúng ma nhà để thông báo và mời tổ tiên về hưởng thụ lễ vật, cầu mong ông bà tổ tiên phù hộ cả nhà đều khỏe mạnh, ăn nên làm ra, gặp nhiều may mắn. Tục thờ tổ tiên, thờ đa thần (nhiên thần và nhân thần) và thờ vật tổ (tô tem) là tín ngưỡng truyền thống của người Thái Việt Nam, đó cũng là tín ngưỡng của người Việt cổ. Quan niệm tín ngưỡng này có hệ thống thuyết lý, có sách vở ghi chép, có các quy ước về hình thức thể hiện, nên có sức thuyết phục, tồn tại bền vững. Chính vì thế, người Thái không theo một tôn giáo nào ngoài tín ngưỡng thờ tổ tiên”.

    Việc cúng giỗ vô cùng quan trọng, không được khinh suất, nếu không sẽ khiến linh hồn của người đã khuất mủi lòng, hờn giận, cho là con cháu bất kính, quên ơn và sẽ có lời phàn nàn. Theo quan niệm cũ, nếu ma nhà có lời phàn nàn, con cháu có thể bị buồn phiền hoặc đau ốm. Thờ cúng tổ tiên căn bản là tấm lòng thành, tùy quy mô và tính chất của từng dịp mà có thể người nhà tự cúng khấn hoặc nhờ thầy cúng hành lễ. Thầy mo Hà Văn Nước, bản Tân Phúc, xã Phú Lệ (Quan Hóa), chia sẻ: “Thầy mo, thầy cúng rất quan trọng trong đời sống tâm linh người Thái. Chúng tôi được xem là cầu nối giữa người trần thế với thế giới thần linh. Công việc của chúng tôi là làm lễ, mời những người đã khuất về hưởng lễ vật của con cháu và giãi bày những tâm tư, tình cảm của gia chủ với tổ tiên để những người đã khuất phù hộ cho con cháu mạnh khỏe, ăn nên làm ra. Đặc biệt, khi trong nhà có người chết, thầy cúng càng quan trọng hơn, chúng tôi làm nhiệm vụ dẫn dắt linh hồn người đã khuất về với tổ tiên và trở thành ông bà tổ tiên của gia đình, của dòng họ”.

    Từ xa xưa, đồng bào dân tộc Thái đã hình thành riêng cho dân tộc mình lịch thiên can theo chu kỳ cứ 10 ngày quay vòng một lần. Dựa theo lịch này, mỗi gia đình, dòng họ sẽ chọn lấy ngày phù hợp với họ nhà mình để cất nhà, cưới xin, đi đường xa, hay làm lễ cúng bái ông bà tổ tiên… Ngoài thờ cúng tổ tiên vào dịp lễ, tết, hay nhà có hiếu, hỷ, theo lịch thiên can này, tùy theo từng gia đình, dòng họ, đồng bào Thái còn duy trì cứ 5 ngày hoặc 10 ngày làm cơm cúng tổ tiên một lần, gọi là “Pạt tống”. Ngày “Pạt tống” gọi là “Mự Vên tông” (ngày giỗ tổ). Nghĩa là khi bố mất, con phải chọn ngày rước hồn bố lên nhập với tổ tiên và thay ông làm chủ tổ tiên, gọi là “po đẳm”. Ngày gọi hồn lên nhập tổ tiên có thể một ngày, ba ngày, năm ngày sau khi bố mất nhưng không được quá một vòng thiên can 10 ngày theo lịch của người Thái. Ví dụ: Gọi hồn bố nhập tổ tiên ngày giáp thì cứ đến ngày giáp là ngày giỗ tổ tiên (Mự Vên tông). Như vậy, mỗi tháng người Thái giỗ tổ tiên ba lần. Trong mâm cúng “Pạt tống” này người ta không quá nặng về hình thức là phải nhất thiết mâm cao cỗ đầy như những dịp lễ tết, mà đồng bào quan niệm con cháu sinh hoạt như thế nào, ăn uống ra sao thì ông bà tổ tiên cũng vậy. Nên trong mâm cúng “Pạt tống”, ngoài xôi, rượu, người ta chỉ cần sắp con cá nướng, thịt nướng hoặc con gà rồi bày thêm đĩa rau, đĩa măng… đặt lên ban thờ cúng ông bà tổ tiên – cọ lọ hóng (góc trong cùng gian cuối của nhà sàn).

    Tiếp theo, gia chủ chuẩn bị cho ông mo sổ ghi chép tên của những người đã khuất để ông mo gọi mời họ về. Theo thứ tự ông mo sẽ mời thân sinh gia chủ trước sau đó đến tên các cụ những người đã khuất trong dòng họ… Mỗi tên người khi ông mo gọi đến sẽ bón 3 miếng thịt, 3 thìa măng… vào một lỗ nhỏ đã được đục trước đó tại nơi thờ cúng tổ tiên. Hành động này được gọi là bón ma nhà. Cúng xong một hồi chủ nhà lại dọn sẵn một mâm cúng có thịt gà và đủ các loại như ở mâm trên ra ngoài sàn để ông mo mời thổ công, thổ địa, ma rừng, ma núi, thần sông suối và cầu khấn phù hộ cho gia chủ được khỏe mạnh, làm ăn phát đạt.

    Tục lệ nhân văn

    Thờ cúng tổ tiên của đồng bào dân tộc Thái còn thể hiện tính nhân văn ở chỗ, ngoài duy trì và phát huy tục lệ thờ cúng ông bà tổ tiên đằng nội, ở một số địa phương, dòng họ còn giữ được phong tục thờ cúng tổ tiên đằng ngoại. Nếu gia đình nào chỉ sinh được con gái, thì khi bố mẹ mất đi, người con gái cả sẽ giữ trọng trách thờ cúng bố mẹ mình. Nhưng hai tổ tiên đằng nội và đằng ngoại không thể thờ chung một ban thờ. Nên người ta làm một ngôi nhà nhỏ trong khuôn viên của nhà họ làm nơi thờ cúng bố mẹ vợ, gọi là “Hướn nghé”.

    Với kiến trúc nhà sàn thu nhỏ chỉ một gian, “Hướn nghé” được dựng bằng tre, cao hơn một mét, rộng khoảng 1,3m2 đến 1,5m2, xung quanh được đan phên tre, lợp bằng gianh tre hoặc tấm prô. Bên trong “Hướn nghé” người ta cài “Tạy” theo hướng quay ra phía trước. “Tạy” – tượng trưng là bản khai sinh, khai tử của người con trai trong nhà. Còn bản khai sinh, khai tử của nữ giới là “So lo một”. Những túi “Tạy”, “So lo một” này luôn được cài trên gian thờ, chỉ được phép bỏ đi khi người có tên trong mỗi chiếc “Tạy”, “So lo một” đó qua đời. Vì nhà chỉ có con gái, nên trong hoàn cảnh thờ cúng bố mẹ đẻ ở “Hướn nghé”, người con gái phải “giả” làm con trai để được thờ cúng bố mẹ mình vào những dịp lễ tết, ngày giỗ tổ – “Pạt tông” của họ đằng ngoại nhà mình. Đến khi người phụ nữ đó mất, không còn ai duy trì thờ cúng nữa, lúc đó “Hướn nghé” sẽ bị phá dỡ đi.

    Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cho đến nay vẫn tồn tại phổ biến và chi phối mạnh đến mọi mặt đời sống thường nhật của đồng bào dân tộc Thái. Nó thể hiện quan niệm nhân sinh, giúp các thế hệ người Thái hiểu được truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc mình, từ đó thêm trân trọng, gìn giữ.

    Bài và ảnh: Tăng Thúy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Phải Thờ Cúng Ông Bà Tổ Tiên Và Những Người Đã Khuất
  • Phong Tục Thờ Cúng Tổ Tiên Của Người Việt
  • Lược Ý Đốt Đèn Cúng Phật Trong Nghi Thức Nhiên Đăng Phật Giáo Bắc Truyền
  • Tỉa Chân Nhang Trước Hay Sau Khi Cúng Ông Táo Ngày Tết 2021【Chính Xác】
  • Khi Niệm Hương Cúng Phật, Nên Niệm Danh Hiệu Phật Nào Trước?
  • Tục Thờ Bà Chúa Xứ Ở Cà Mau

    --- Bài mới hơn ---

  • Viếng Miếu Bà Chúa Xứ
  • Tour Cần Thơ Châu Đốc
  • Viếng Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Du Lịch Châu Đốc Miếu Bà Chúa Xứ Giá Rẻ
  • Miếu Bà Chúa Xứ Một Điểm Đến Du Lịch Tâm Linh Ở Miền Tây
  • Tuy là vùng đất mới được khai phá nhưng Cà Mau là nơi hội tụ nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian độc đáo và phong phú, trong đó có tục thờ Bà Chúa xứ.

    Tục thờ Bà Chúa xứ là hình thức tín ngưỡng dân gian phổ biến ở Nam Bộ, một số miếu thờ nổi tiếng gắn với những lễ hội truyền thống được nhiều người biết đến như: miếu Bà Chúa xứ núi Sam (Châu Ðốc), miếu Bà Chúa xứ núi Bà Ðen (Tây Ninh), miếu Bà Chúa xứ Tháp Mười (Ðồng Tháp)… Những miếu thờ này từ lâu đã trở thành địa chỉ hành hương quen thuộc của đông đảo người dân Nam Bộ. Ðây cũng là những điểm đến tham quan của khách du lịch trong và ngoài nước.

    Tại Cà Mau, theo kết quả kiểm kê vào đầu năm 2021, trên toàn tỉnh còn lại hàng chục miếu thờ Bà Chúa xứ được xây dựng quy mô, trở thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng. Riêng địa bàn TP Cà Mau đã có 14 miếu thờ. Tại các huyện trong tỉnh vẫn còn một số miếu thờ dưới hình thức cộng đồng, nhiều miếu thờ đã có hàng trăm năm, gắn liền với lịch sử khai phá, dựng làng, lập ấp của cư dân địa phương.

    Miếu thờ Bà Chúa xứ ở ấp Rau Dừa, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước.

    Theo các nhà nghiên cứu, tục thờ Bà Chúa xứ ở Nam Bộ nói chung, ở Cà Mau nói riêng có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ mẫu, sâu xa hơn là tín ngưỡng “cha trời – mẹ đất” cổ truyền của người Việt. Theo chân những lớp người đi khai hoang, mở cõi, hình thức tín ngưỡng này đã được các lưu dân mang theo trong tâm thức, như một “hành trang tinh thần” từ quê cha, đất tổ.

    Khi vào đến dãy đất miền Trung lại được giao lưu, tiếp biến văn hoá với tín ngưỡng thờ Mẹ xứ sở (vốn là nữ thần Pô Inư Nagar) của người Chăm, quá trình “Nam tiến” lại tiếp tục diễn ra cùng với sự gặp gỡ giữa các nền văn hoá Việt – Chăm – Khmer – Hoa… Trên vùng đất mới đã làm biến đổi nhiều yếu tố gốc của tín ngưỡng thờ mẫu truyền thống.

    Hệ thống miếu thờ Bà Chúa xứ thường có 2 loại, loại miếu thờ của gia đình thường được lập với quy mô nhỏ, trong sân hoặc vườn nhà để các thành viên trong gia đình thờ cúng; loại miếu thờ cộng đồng do dân cư trong xóm góp công góp của xây dựng, ban đầu có thể làm bằng cây lá, khi có điều kiện thì xây dựng bằng bê-tông, cao và rộng để người có thể đi vào sắp lễ cúng kiếng thường xuyên.

    Bên trong các miếu thờ thường có tượng Bà Chúa xứ bằng bê-tông ở tư thế ngồi, đặt trang nghiêm chính giữa bệ thờ, đầu đội mão trang trí sặc sỡ, mặc áo hoàng bào hoặc áo lụa thêu rồng phụng, trên cổ đeo nhiều chuỗi hạt, hai bên có lộng che, có khi thêm đôi hạc đứng chầu. Trong khuôn viên một số miếu thờ còn có bàn thờ Thông thiên, bệ thờ thần Nông, thần Hổ…

    Bài vị trong các miếu thờ Bà Chúa xứ thường được viết bằng chữ Hán với các danh xưng của Bà: “Chúa xứ nương nương”, hoặc “Chúa xứ thánh mẫu”, có khi là “Chúa xứ bổn cảnh”. Thời Nguyễn, dưới triều vua Gia Long, bà còn được sắc phong là “Linh Sơn thánh mẫu” ghi nhận sự có mặt của tín ngưỡng thờ Bà Chúa xứ trong lịch sử dân tộc. Bà Chúa xứ vừa là một “phúc thần” với chức năng phù hộ sức khoẻ, tiền tài, danh vọng, công việc… nhưng có lúc lại đóng vai một “ác thần” trong những thề thốt, nguyền rũa, trù ếm lẫn nhau của nhân gian.

    Tại các miếu Bà Chúa xứ, vào các ngày rằm và mùng 1 âm lịch hằng tháng (ngày Sóc, ngày Vọng) người dân địa phương thường sắp mâm lễ đến thắp nhang khấn vái cầu bình an, sức khoẻ, việc làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu… Lễ cúng thường là trái cây và bánh ngọt, những gia đình có điều kiện cũng cúng lễ mặn như thịt heo, gà, vịt.

    Trong sách “Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long”, các tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Ðường đã mô tả hiện tượng thờ Bà Chúa xứ phổ biến ở Nam Bộ trước năm 1990: “Ở Nam Bộ, nhà nào cũng có miếu thờ Bà Chúa xứ, đặt ở góc nhà hoặc góc vườn. Trong rừng U Minh, người dân đốn củi, lấy mật ong cũng thờ Bà Chúa xứ để cầu mong được mạnh khoẻ, tránh được sốt rét, tránh rủi ro trong nghề nghiệp…”.

    Ðặc điểm chung của các miếu thờ Bà Chúa xứ ở Cà Mau là hầu hết được xây dựng dọc theo các tuyến sông rạch, thuận lợi cho người dân đi lại để thực hành tín ngưỡng. Nhiều miếu thờ được lập ở ngã ba sông, nơi xuồng ghe thường qua lại, người trong xóm có công có việc đi ngang miếu như được nhắc nhớ vào thắp nén nhang “đi thưa, về trình” với thần linh. Những miếu thờ này không chỉ dành cho người dân địa phương, mà khách thương hồ có dịp đi ngang qua muốn cầu nguyện chuyện gì cũng có thể vào khấn vái để xin Bà phù hộ.

    Hoàn cảnh hình thành các miếu thờ ở các địa phương cũng khác nhau, có gia đình do đã lập miếu từ nơi khác, khi di cư đến Cà Mau thì lập lại để thờ; có người do ốm đau, bệnh tật nên người nhà khấn vái cầu xin Bà Chúa xứ phù hộ, đến khi khỏi bệnh liền lập miếu thờ; có người nằm mộng thấy bà hiện về báo điềm lành hoặc điềm dữ đối với gia đình, làng xóm, để thể hiện lòng thành kính nên lập miếu thờ để Bà phù hộ, độ trì…

    Có thể nói, tục thờ Bà Chúa xứ là sản phẩm văn hoá tâm linh được hình thành qua quá trình giao lưu, tiếp biến và hội tụ của nhiều làn sóng văn hoá trên vùng đất mới. Ðây là hình thức tín ngưỡng phổ biến trong đời sống dân gian Cà Mau qua nhiều thế hệ, gắn liền với công cuộc khai phá, định cư của người Việt ở vùng đất tận cùng đất nước./.

    Bài và ảnh: Huỳnh Thăng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Giúp Người Dân Cầu Được Ước Thấy
  • Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Ở Vùng Châu Đốc An Giang
  • Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc
  • Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam An Giang
  • Em Hãy Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử: “miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam”
  • Tục Cúng Đưa Ông Bà Ngày Mùng 3 Tết Ở Huế

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Mụ (Cúng 3 Tháng Mười Ngày Cho Bé)
  • Cúng Đầy Cữ 3 Tháng 10 Ngày Cho Bé Như Thế Nào Cho Đúng? Xôi Cô Hồng
  • Cúng Mụ 3 Tháng 10 Ngày Cho Con Khỏe Mạnh
  • Cúng Mụ 3 Tháng 10 Ngày Cho Bé Có Ý Nghĩa Gì?
  • Làm Gì Khi Bé Được 3 Tháng 10 Ngày: Mẹo Dân Gian Cực Hay Cho Mẹ
  • Tục cúng đưa ông bà ở Huế thường diễn ra vào mùng 3 Tết. Tuy nhiên tùy vào tín ngưỡng của mỗi nhà mà người ta chọn ngày tốt để cúng (thường từ mùng 4-6 Tết ). Ý nghĩa của lễ cúng này là thể hiện sự biết ơn của con cháu đối với công ơn sinh thành, dưỡng dục của ông bà tổ tiên đã khuất.

    Dân gian có mấy câu thơ:

    “Mùng một Tết Cha, Mùng hai Tết mẹ, Mùng 3 Tết Thầy”

    Thế nên theo phong tục, ông bà tổ tiên sau khi ăn Tết với con cháu xong thì được tiễn đưa về với cõi vĩnh hằng và cầu mong con cháu làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn, sức khỏe trong năm mới.

    Trong ngày này, mọi người thường làm mâm cơm truyền thống với nhiều món ăn như: gà luộc, bánh chưng, bánh tét, thịt kho,… lễ vật gồm có: cau trầu, rượu, giấy tiền vàng mã,… để dâng lên cúng ông bà, tổ tiên. Có người đã chuẩn bị từ những ngày trước Tết để đảm bảo mọi thứ vẫn đẩy đủ dâng lên ông bà, tổ tiên.

    Sau khi cúng xong, gia chủ tiến hành tục “hóa vàng” (hay còn gọi là đốt vàng mã). Phần tiền vàng sẽ được hóa trước, đồ dùng của tổ tiên (như vali, dù, áo quần,…) hóa sau. Đốt xong, người ta phải đổ chén rượu vào đống tro để các cụ mang đồ đi không bị thất lạc.

    Chị Nguyễn Thị Gái (đường Nhật Lệ, TP Huế) cho biết: “Năm nào cũng thế, sau ba ngày rước ông bà về nhà ăn Tết cùng gia đình thì tôi đã đi chợ từ rất sớm để nấu một mâm cơm cúng tiễn ông bà tổ tiên”.

    Phong tục cúng đưa ông bà là một trong những nét đẹp truyền thống, ẩn chứa đạo lý sâu xa của dân tộc về việc giáo dục chữ Hiếu, nguồn cội cho con cháu, nhắc nhở những ai còn sống phải luôn ghi nhớ về những kỉ niệm, công đức của ông bà.

    Với ước mong một năm mới an lành, gặp nhiều may mắn cho dù bình dân hay khá giả, gia đình nào cũng cố gắng sắm sửa cho nhà mình một mâm cơm cúng thật tươm tất.

    Nga – Nhật – Dương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Thuộc Tây Tứ Mệnh Thì Nên Chọn Hướng Bếp Nào?
  • Lễ Cúng Dời Văn Phòng Và Bài Khấn Nhập Trạch Chuẩn
  • Bài Cúng Dâng Sao Thái Bạch
  • Bài Văn Khấn Cúng Sao Giải Hạn Sao Thái Bạch
  • Sự Tích Ông Tổ Nghề Mộc
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100