Top 18 # Xem Nhiều Nhất Tụng Kinh Ngày Rằm Tháng 10 / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Herodota.com

Ngày Mùng 1 Tụng Kinh Gì Và Tụng Kinh Thế Nào Cho Đúng? / 2023

Tụng kinh mùng 1 đầu tháng tại nhà là cách để cầu mong những điều tốt đẹp, may mắn đến với gia đình. Vậy ngày mùng 1 tụng kinh gì?

Cứ đến ngày rằm và mùng 1 đầu tháng, người Việt có phong tục đi lễ chùa để nghe kinh tụng và cầu an đến với người thân trong gia đình

Cứ đến ngày rằm và mùng 1 đầu tháng, người Việt có phong tục sắm lễ cúng tại nhà để cầu sức khỏe, bình an, vạn sự như ý. Đồng thời, mọi người còn đi lễ chùa để nghe kinh tụng và cầu an đến với người thân trong gia đình. Vậy ngày mùng 1 tụng kinh gì cho đúng với phong tục.

Tụng kinh là đọc một cách thành kính những lời dạy của đức Phật. Đây là cách để thấm nhuần những tư tưởng tốt đẹp, hướng thiện của Phật giáo và thực hành trong cuộc sống hàng ngày. Song song đó, đây là cách giúp chúng ta tịnh tâm, tạo phúc lành rất tốt.

Tụng kinh mùng 1 đầu tháng là cách để cầu mong những điều tốt đẹp, may mắn đến với gia đình

Việc tụng kinh được thực hiện ở chùa với không khí trang nghiêm và có các sư thầy chỉ bảo vẫn là tốt hơn cả. Tuy nhiên, nếu không có điều kiện thì chúng ta có thể tụng kinh ở nhà cũng rất tốt.

Tu tại gia sẽ giúp chúng ta có một đời sống nội tâm an tịnh và sâu sắc. Các Phật tử tự tu tập hàng ngày ở gia đình thường nương vào kinh Phật tụng để tu hành. Tu tại gia sẽ bao gồm các việc như đọc kinh Công phu khuya vào buổi sáng, buổi tối tụng đọc Nghi thức Tịnh độ, tụng kinh Nhật tụng, thực hành ăn chay, niệm Phật và duy trì đều đặn các thời khóa.

Ngày mùng 1 tụng kinh gì?

Theo giáo lý đạo Phật, nghi thức tụng kinh nhằm để cầu an và cầu siêu. Có thể hiểu đơn giản cầu an là cầu cho một người nào đó được khỏe mạnh, an lạc và hạnh phúc. Còn “cầu siêu” là nguyện vọng hay mong muốn người chết được siêu độ, siêu thoát hay được sanh về thế giới chư Phật.

Trong ngày mùng 1 và 15 âm lịch hàng tháng, nên tụng đọc kinh Phổ môn

Nhìn chung các bộ kinh đều có tác dụng phá trừ mê mờ, khai mở tâm trí. Do đó, có thể chọn tụng bộ kinh nào cũng được chỉ cần chúng ta chí thành đọc tụng.

Tuy nhiên, chúng ta nên lựa đọc những bộ kinh nào phù hợp với căn cơ và sở nguyện của mình. Những kinh thường được trì tụng ở nước ta từ xuất gia cho đến tại gia có thể kể đến như: Hồng Danh, Di Đà, Vu Lan, Phổ Môn, Dược Sư, Địa Tạng, Lăng Nghiêm, Kim Cang, Pháp hoa…

Với mỗi hoàn cảnh, mỗi trường hợp cần chọn một bộ kinh cho thích hợp để tụng như: cầu an thì tụng kinh Phổ Môn, Dược Sư,cầu siêu thì tụng kinh Di Đà, Vu Lan… cầu sám hối thì tụng kinh Lương Hoàng Sám, Thủy Sám…

Tụng kinh mùng 1 Tết có ý nghĩa là như một nghi thức đề cầu an cho năm

Tụng kinh ngày mùng 1 hàng tháng và tụng kinh mùng 1 hôm rằm là việc cần làm nhằm để cầu mong mọi chuyện suôn sẻ, thuận buồm xuôi gió. Trong ngày mùng 1 và 15 âm lịch hàng tháng, nên tụng đọc kinh Phổ môn. Trong ngày 14 và 30 âm lịch hàng tháng cần thực hiện lễ sám hối theo Nghi thức Sám hối .

Như vậy, kinh mùng 1 Tết là kinh cầu an và có ý nghĩa là như một nghi thức đề cầu an cho năm.

Trước khi tụng kinh mùng 1, phải tẩy trần sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, tư thế ngồi đứng đoan chính, tụng vừa đủ nghe

Trước khi tụng kinh mùng 1, phải tẩy trần sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, tư thế ngồi đứng đoan chính, tụng vừa đủ nghe.

Có 2 thời gian cố định chọn để tụng kinh đó là buổi khuya và buổi tối. Thời khuya, thường tụng chú Lăng Nghiêm và Đại bi thập chú. Còn buổi tối là tụng Kinh Di Đà. Trong mỗi quyển kinh đều có ghi rõ phần nghi thức tụng kinh ở phần đầu trước. Phật tử có thể tiến hành theo đó.

Những đồ dùng gia đình như cốc, ly, chén, gương, bát được làm bằng thủy tinh nên thường rất dễ vỡ và dễ khiến gia chủ lo lắng. Vậy, Mùng 1 Tết làm vỡ bát hay gãy đũa là điềm gì? Cách hóa giải thế nào?

Tụng Kinh Gì Cho Người Mới Mất? Cách Tụng? / 2023

Mình xin nhấn mạnh ở đây là mình là người trần mắt thịt, không biết gì. Mẹ mình bảo sao thì mình nói vậy. Và những gì mẹ mình nói là ông Hoàng chỉ dạy mẹ mình và cho phép nói thì mới được nói. Vậy nên ai tin thì làm theo, ai không tin thì cũng coi như không có duyên với nhau. Vì ở đây có người biết người không, người kiến thức cao siêu hơn mình nhiều nên mình không dám tranh cãi. Trong lòng mỗi người đều có Đạo của mình. Phật và Thánh cũng đã khác nhau rồi nên mình cũng không biết giải thích cho các bạn thế nào đâu ạ.

1. Lúc trước mình đọc Kinh gì tại nhà khi mẹ mình mới mất ?

“Bạn ơi! Trong vòng 49 ngày thì con cháu tụng Kinh gì cho người đã khuất? Và mình nghe nói là hàng ngày phải nhẩm trì chú gì nữa để hướng dẫn linh hồn đi đúng đường mà không nhầm đường xuống địa ngục nữa.”

Nói chung Kinh nào thì quan trọng nhất vẫn là tâm. Nếu tâm không sáng đọc trăm quyển kinh cũng vô dụng. Khi ấy vừa đọc tâm mình vừa mong mẹ được siêu thoát. Và kể cả sau này khi làm bất cứ việc thiện gì mình đều lẩm nhẩm khấn là tất cả công đức xin hồi hướng cho mẹ con.

2. Ai đọc Kinh cho người đã mất là tốt nhất ?

Đọc Kinh, nên là con trai, cháu trai, con dâu… đọc.

Con gái/ cháu gái đọc thì nên là chưa lấy chồng.

Tại vì sao? Mẹ mình bảo trên thiên tính rằng con gái lấy chồng thì theo phúc nhà chồng. Vậy nhà không có con trai và con gái lấy chồng hết rồi có đọc được không? Có. Chỉ cần thành tâm. Tuy nhiên khi ấy kết quả ko đc tốt nhất vì phần lớn phúc nhà chồng bạn sẽ hưởng, cha mẹ đẻ chỉ hưởng chút xíu thôi. Nên đợt ấy mẹ mình bảo mẹ mất sớm thì cũng thiệt thòi, nhưng lại may cái là mình còn ở nhà chưa đi lấy chồng, chứ không chưa chắc được như hôm nay. Bất công nhỉ, nhưng luật trên thiên là vậy rồi không biết làm sao ☹️

3. Siêu thoát là gì ? Siêu thoát đi đâu ? Đọc Kinh có siêu thoát được không ?

Có bạn hỏi mình là:

Thế nào là siêu thoát ?

Thoát rồi thì thoát vào đâu?

Lục đạo luân hồi thế nào?

Làm gì có chuyện chỉ đọc kinh là siêu thoát, thế thì cứ giết người rồi đọc Kinh là xong à?

Mình xin trả lời là mẹ mình, lúc đó được thoát không phải xuống ngục và có số đi hầu nên được ông Hoàng cho theo. Tuy nhiên đến gần đây, khi nhà mình làm lễ đoạn tang cho mẹ mình, mẹ mình bảo lúc ấy phải tạm dừng không theo ông Hoàng nữa, bị giam ở dưới âm chờ xét xử. Mặc dù 2 năm qua mẹ mình đi theo ông Hoàng và tích đức rất nhiều nhưng đến ngày đoạn tang vẫn phải xuống chờ xét xử. Ông Hoàng cũng không xin được.

Nói vậy để các bạn biết là đọc Kinh chỉ giúp nhẹ bớt đi, chứ ai tội nặng thì vẫn nặng, nhẹ thì vẫn nhẹ. Có những tội trên trần nghĩ là không phải tội xuống đấy cũng vẫn phải nghe xử. Như mẹ mình đang sống lăn ra đòi chết cũng là tội (mẹ mình bảo thế).

4. Nếu THIÊU thì hồn bay phách tán phải không ?

Nhà ngoại cảm Bích Hằng bảo rằng chôn thì luôn tìm thấy hồn nhưng thiêu khi thì thấy khi thì không bao giờ thấy, hồn bay phách tán là vì sao?

Nói thực là mẹ mình chưa bao giờ nói cho mình về chuyện hồn bay phách tán hay như nào nên mình không biết nó có thật không. Nhưng mà chôn thì như mình đã nói là ít thủ tục hơn thiêu, hồn luôn nhận được xác được mộ nên tất nhiên sẽ tìm thấy hồn. Còn thiêu thì nếu hồn không nhận được xác không về được mộ sao mà tìm thấy được.

Nhà ngoại cảm thì chỉ nhìn thấy và nghe thấy người âm nói thôi. Nhưng không phải người âm nào cũng biết được đúng quy trình đâu ạ. Mẹ mình tính ra cũng không phải người âm mà đang tu tập để được làm người thiên nên mới biết nhiều vậy.

6. Người chết cái gì cũng biết, làm gì có chuyện không gọi nhận xác thì không biết đâu là xác mình?

Mẹ mình bảo, ng mới chết như đứa trẻ con.

Đang trên trần xuống đấy lớ nga lớ ngớ. Thế mới có cái vụ ma cũ ma mới đấy ạ.

Bạn tưởng tượng đang lơ ngơ chưa biết mình chết xong vèo cái bị đuổi ra khỏi xác. Xong 1 đám người đem xác đi thiêu. Từ đầu mặt mũi chân tay đầy đủ nhìn cái là biết sau ra 1 hũ trắng bệch không nói sao người ta biết đấy là người ta. Xong vèo cái đi chôn thì làm sao giữa hàng ngàn ngôi mộ biết đâu là mình. Mất lâu rồi có thể là sẽ tìm được nhưng trong 49 ngày đầu không biết mộ ở đâu bơ vơ như người không nhà, người nhà có cúng gì cũng không được ăn thì có khổ không.

chúng tôi Chia sẻ từ Thùy Trang

Tụng Kinh, Trì Chú, Niệm Phật / 2023

Người Phật tử, nếu chỉ thờ, lạy và cúng Phật, thì cũng chưa có thể được gọi là thuần thành. Người Phật tử thuần thành còn phải tụng kinh, trì chú và niệm Phật. Vả lại nếu bỏ qua ba phần sau này, thì ba phần trước là thờ, lạy và cúng khó có thể viên dung cả Sự và Lý được. Vì phần Lý là phần cao siêu khó thực hành, mà nếu chúng ta không tụng kinh, niệm Phật để cho tâm hồn được sáng suốt, tỏ ngộ các lý lẽ sâu xa huyền diệu trong kinh điển, thì chúng ta không làm thế nào để đạt được 4 phép lạy thuộc về Lý là: Phát trí thanh tịnh lễ, biến nhập pháp giới lễ, chánh quán lễ, thật tướng bình đẳng lễ và 5 món diệu hương để cúng Phật là: Giới hương, Ðịnh hương, Huệ hương, Giải thoát hương, Giải thoát tri kiến hương. Và nếu không thực hành được 4 phép lạy về Lý và cúng dường được 5 món diệu hương, thì sự lạy và cúng chỉ là phần “Sự” là phần hình thức, và vì thế, kẻ tín đồ khó có thể tiến được trên đường đạo. Bởi vậy, cùng một lần với thờ, lạy và cúng Phật, chúng ta phải tụng kinh, trì chú và niệm Phật. Ðó là những điểm căn bản tối thiểu mà một Phật tử thuần thành không thể bỏ qua được.

B. CHÁNH ÐỀ I. ÐỊNH NGHĨA

1. Tụng kinh: Tụng là đọc thành tiếng một cách có âm điệu và thành kính. Tụng kinh là đọc một cách thành kính những lời đức Phật đã dạy trong kinh điển, hợp với chân lý và căn cơ của chúng sinh.

2. Trì chú: Trì là nắm giữ một cách chắc chắn. Chú là lời bí mật của chư Phật mà chỉ có chư Phật mới hiểu được, chứ các hàng Bồ tát cũng không hiểu thấu. Các bài chú đều có oai thần và công đức không thể nghĩ bàn, dứt trừ được nghiệp chướng, tiêu tai giải nạn và tăng trưởng phước huệ, nên cũng gọi là thần chú.

3. Niệm Phật: Niệm là tưởng nhớ. Niệm Phật là tưởng nhớ danh hiệu Phật, hình dung Phật và đức hạnh của Phật, để luôn luôn cố gắng noi theo bước chân Ngài.

II. LÝ DO PHẢI TỤNG KINH – TRÌ CHÚ – NIỆM PHẬT 1. Vì sao phải tụng kinh?

Chúng ta sống trong cõi dục, cho nên lòng dục vọng của chúng ta không bao giờ ngừng nghỉ, cho đến trong giấc ngủ, cũng còn chiêm bao cãi lẫy, cười khóc, vui buồn như lúc thức. Trong cảnh mê mờ đầy dục vọng ấy, may thay, đức Phật vì đã thương xót chúng sinh mà truyền dạy những lời vàng ngọc, có thể phá tan màng mây u ám của vô minh và tội lỗi. Nhưng những lời lẽ cao siêu ấy, chúng ta nghe qua một lần , hai lần cũng không thể hiểu thấu và nhớ hết được. Cho nên chúng ta cần phải đọc đi đọc lại mãi, để cho lý nghĩa thâm huyền được tỏa ra, và ghi khắc trong thâm tâm chúng ta, không bao giờ quên được. Ðó là lý do khiến chúng ta phải tụng kinh.

2. Vì sao phải trì chú?

Chú có công năng phi thường, nếu người thành tâm trì chú, thì được nhiều hiệu lực không thể tưởng tượng. Chẳng hạn thần chú “Bạt nhứt thế nghiệp chướng căn bổn đắc sinh Tịnh độ đà-la-ni” có hiệu lực tiêu trừ được hết gốc rễ nghiệp chướng, làm cho người được vãng sinh về Tịnh độ. Thần chú “Tiêu tai kiết tường” có hiệu lực làm cho tiêu trừ các hoạn nạn, tai chướng, được gặp những điều lành. Thần chú “Lăng Nghiêm” thì phá trừ được những ma chướng và nghiệp báo nặng nề v.v… Thần chú “Chuẩn Ðề” trừ tà, diệt quỷ. Thần chú “Thất Phật diệt tội” có công năng tiêu trừ tội chướng của chúng ta từ nhiều đời nhiều kiếp v.v… Vì thế nên chúng ta phải trì chú.

3. Vì sao phải niệm Phật?

Tâm chúng ta bị vô minh làm mờ đục, chẳng khác gì nước bị bùn nhơ làm ngầu đục. Muốn cho nước đục kia hóa ra trong, không có phương pháp nào hay hơn là gia một chút phèn vào, thì các chất dơ bẩn ngầu đục kia dần dần lắng xuống, bấy giờ nước đục trở nên trong sạch.

Phương pháp niệm Phật cũng vậy, có công năng trừ phá các vọng niệm đen tối ở nơi tâm của chúng ta, làm cho tâm mê muội, mờ ám trở nên sáng suốt, chẳng khác gì chất phèn làm cho nước trở nên trong vậy.

Vì sao niệm Phật lại làm cho tâm mê muội trở nên trong sáng?

Vì lý do rất dễ hiểu sau đây:

Tâm chúng ta rất điên đảo, không bao giờ dừng nghỉ. Kinh thường nói: “Tâm viên, ý mã”, nghĩa là “tâm” lăng xăng như con vượn nhảy từ cành nầy qua cành khác, và “ý” như con ngựa chạy lung tung luôn ngày suốt buổi. Làm sao cho tâm ý chúng ta đừng nghĩ xằng bậy? Chỉ có một cách là bắt nó nghĩ những điều tốt lành, hay đẹp. Niệm Phật chính là nhớ nghĩ đến những vị hoàn toàn tốt đẹp, những hành động trong sáng, những đức tánh thuần lương. Càng niệm Phật nhiều chừng nào, thì ít niệm ma chừng ấy. Ma ở đây là tất cả những gì xấu xa đen tối, làm hại mình hại người. Vì thế chúng ta nên luôn luôn niệm Phật.

III. PHẢI THƯỜNG TỤNG NHỮNG BỘ KINH NÀO, TRÌ CHÚ GÌ VÀ NIỆM DANH HIỆU PHẬT NÀO? 1. Các kinh thường tụng.

Phàm là kinh Phật thì bộ nào tụng cũng được cả, vì kinh nào cũng có công năng thù thắng là phá trừ mê mờ, khai mở tâm trí sáng suốt cho chúng sinh, nếu chúng ta chí thành đọc tụng.

Nhưng vì căn cơ của chúng ta không đến, nên chúng ta phải lựa những bộ kinh nào thích hợp với căn cơ và sở nguyện của chúng ta mà đọc tụng.

Thông thường, các Phật tử Việt Nam, từ xuất gia cho đến tại gia đều trì tụng những kinh như: Di Ðà, Hồng Danh, Vu Lan, Phổ Môn, Dược Sư, Ðịa Tạng, Kim Cang, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa v.v…

Nhiều người có quan niệm, chọn bộ kinh cho thích hợp với mỗi hoàn cảnh, mỗi trường hợp để tụng, như lúc:

a) Cầu siêu thì tụng kinh Di Ðà, Ðịa Tạng, Vu Lan v.v…;

b) Cầu an thì tụng kinh Phổ Môn, Dược Sư v.v…;

c) Cầu tiêu tai và giải bịnh thì tụng kinh Kim Cang, Lăng Nghiêm v.v…;

d) Cầu sám hối thì tụng Hồng Danh.

Cái quan niệm lựa chọn như thế cũng có phần hay là làm cho tâm chuyên nhất sẽ được hiệu nghiệm hơn. Nhưng chúng ta không nên quên rằng về mặt giáo lý cũng như về mặt công đức, bất luận một bộ kinh nào, nếu chí tâm trì tụng, thì kết quả cũng đều mỹ mãn như nhau cả.

2. Các chú thường trì.

Ở chùa, chư Tăng hằng ngày, trong thời khóa tụng khuya, trì chú Lăng Nghiêm, Ðại Bi, Thập chú hay Ngũ bộ chú v.v… Còn ở nhà, phần nhiều cư sĩ trì chú Ðại Bi và Thập chú, bởi hai lẽ: một là thời giờ ít ỏi, vì còn phải lo sinh sống cho gia đình; hai là chú Lăng Nghiêm đã dài, lại thêm chữ âm vận, trắc trở khó đọc, khó thuộc. Nhưng nếu cư sĩ nào có thể học hết các thần chú, trì tụng được như chư Tăng thì càng tốt.

3. Các hiệu Phật thường niệm.

Ðức Phật nào cũng đủ cả 10 hiệu, đồng một tâm toàn giác, từ bi vô lượng, phước trí vô biên, thương chúng sinh vô cùng vô tận, nên chỉ niệm danh hiệu một đức Phật nào cũng đều được cảm ứng đến tất cả chư Phật, công đức cũng đều vô lượng vô biên.

Nhưng đứng về phương diện trình độ và hoàn cảnh mà luận, thì hiện nay, chúng ta là người ở thế giới Ta-bà, nhằm quốc độ của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni giáo hóa, lẽ cố nhiên chúng ta phải niệm danh hiệu của Ngài. Dụ như dân chúng ở trong nước nào, phải nhớ nghĩ đến ơn nhà cầm quyền chính trị sáng suốt ở trong nước đó.

Nếu tín đồ nào tu theo pháp môn Tịnh độ, thì thường ngày phải niệm danh hiệu đức Phật A-Di-Ðà. Pháp môn này được thành lập do lời dạy sau đây của đức Phật Thích-Ca: “Ở cõi thế giới Ta-bà này, đến thời kỳ mạt pháp, cách Phật lâu xa, chỉ có pháp “Trì danh niệm Phật”, cầu vãng sinh về Tây phương cực lạc là quốc độ của đức Phật A Di Ðà, thì dễ tu dễ chứng hơn hết”.

Ngoài ra, cũng có người niệm danh hiệu đức Phật Di Lặc, để cầu sinh về cõi trời Ðâu-Suất; hoặc niệm danh hiệu đức Phật Dược Sư, để cầu cho khỏi tật bịnh.

Tóm lại, tín đồ phải niệm đủ Tam thế Phật:

a) Niệm đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, là niệm đức Phật hiện tại, mà cũng là đức Phật giáo chủ của chúng ta.

b) Niệm đức Phật A Di Ðà, là niệm đức Phật đã thành từ quá khứ xa xưa, mà cũng là đức Phật tiếp dẫn chúng ta về Cực lạc.

c) Niệm đức Phật Di Lặc, là niệm đức Phật vị lai.

IV. LỢI ÍCH CỦA SỰ TỤNG KINH – TRÌ CHÚ – NIỆM PHẬT 1. Lợi ích của sự tụng kinh.

Những lời giáo hóa trong ba tạng kinh điển của Phật, đều toàn là những lời hiền lành, sáng suốt do lòng từ bi và trí tuệ siêu phàm của Phật nói ra. Kinh Phật, vì thế, có phần siêu việt hơn tất cả những lời lẽ của thế gian. Nếu chúng ta chí tâm trì tụng, chắc chắn sẽ được nhiều lợi ích cho mình, cho gia đình và những người chung quanh:

a) Cho mình: Lúc tụng niệm, hành giả đem hết tâm trí chí thành đặt vào văn kinh để khỏi sơ suất, nên sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều thâu nhiếp lại một chỗ. Chăm lo tụng kinh, nên ba nghiệp của thân, khẩu, ý không còn móng khởi lên mười điều ác nữa, mà chỉ ghi nhớ những lời hay, lẽ phải.

b) Cho gia đình: Trước khi sắp sửa tụng kinh, những người trong nhà đều dứt các câu chuyện ngoài đời và khách hàng xóm đến ngồi lê đôi mách cũng tự giải tán. Trong gia đình nhờ thế được thanh tịnh, trang nghiêm, hòa thuận.

c) Cho người chung quanh: Trong những lúc đêm thanh canh vắng, lời tụng kinh trầm bổng theo với tiếng mõ nhịp đều, tiếng chuông ngân nga, có thể đánh thức người đời ra khỏi giấc mê, đưa lọt vào tai kẻ lạc lối những ý nghĩa thâm huyền, những lời khuyên dạy bổ ích, chứa đựng trong kinh điển mà hành giả đang tụng.

Như vậy rõ ràng tụng kinh chẳng những có lợi ích cho mình, cho gia đình, mà còn cho những người chung quanh nữa. Ðó là mới nói những điều ích lợi thông thường có thể thấy được, ngoài ra tụng kinh còn có những điều lợi ích, linh nghiệm lạ thường, không thể giải thích được, ai tụng sẽ tự chứng nghiệm mà thôi.

2. Lợi ích của sự trì chú.

Các thần chú tuy không thể giải nghĩa ra được, nhưng người chí tâm thọ trì, sẽ được công hiệu thật là kỳ diệu, khó có thể nghĩ bàn, như người uống nước ấm, lạnh thì tự biết lấy.

Có thể nói: Một câu thần chú, thâu gồm hết một bộ kinh, vì vậy, hiệu lực của các thần chú rất phi thường. Khi gặp tai nạn, nếu thực tâm trì chú, thì mau được giải nguy. Như thuở xưa, Ngài A-Nan mắc nạn, Ðức Phật liền nói thần chú Lăng Nghiêm, sai ngài Văn-Thù Sư-Lợi đến cứu, thì Ngài A-Nan liền được thoát nguy.

Ngày nay có nhiều trường hợp mà người thành tâm niệm chú thấy được hiệu nghiệm rõ ràng. Theo lời bác sĩ Thiện Thành nói lại, thì vào năm 1946, giữa lúc loạn ly, bác sĩ ở trong một vùng rừng sâu, núi hiểm tại Trung Việt. Một lần bác sĩ bị một chứng bịnh nan y, mặc dù lương dược Ðông, Tây sẵn có trong tay, cũng không làm sao trị được. Bác sĩ tưởng sẽ bỏ mình trong xóm người sơn cước, không ngờ lúc còn ở dưới mái nhà cha mẹ, thường đêm nghe thân phụ trì chú “Công Ðức Bảo Sơn”, bác sĩ liền đem thần chú ấy ra áp dụng. Trong lúc ấy, các người nuôi bịnh cũng xúm lại hộ niệm cho bác sĩ suốt đêm. Sáng hôm sau, quả thật bác sĩ lành mạnh trở lại một cách dễ dàng, làm cho tất cả các bạn đồng nghiệp đều ngạc nhiên.

3. Lợi ích của sự niệm Phật.

Niệm Phật công đức lại còn to lớn hơn nữa, vì một câu niệm Phật có thể gồm thâu cả 3 tạng kinh điển, hết thảy thần chú, cùng là các pháp viên đốn, như tham thiền, quán tưởng v.v…

Ðức Phật Thích-Ca Mâu-Ni có dạy rằng: “Sau khi Phật nhập diệt, về thời kỳ mạt pháp, đến kiếp hoại, các kinh sẽ bị tiêu diệt hết, chỉ còn kinh Di Ðà lưu truyền lại độ trăm năm rồi cũng diệt luôn. Lúc bấy giờ chỉ còn một câu niệm Phật gồm 6 chữ “Nam mô A Di Ðà Phật”, mà đủ năng lực đưa chúng sinh về cõi Cực lạc”.

Lời Phật nói không sai, bằng chứng là có nhiều nhân vật chuyên trì một câu niệm Phật, mà biết được ngày giờ và thấy được điềm lành trước khi vãng sinh. Như ngài Tổ Huệ Viễn, trong mười năm niệm Phật, ba lần thấy đức A-Di Ðà rờ đầu; trong hội Liên xã, có 123 người chuyên tu phép “Trì danh niệm Phật”, đều lần lượt được Phật rước về cõi Tịnh độ. Gần đây ở Nam phần Việt Nam, vào năm 1940, có 3 vị sĩ quan Pháp là đại úy Touffan, trung úy Retourna, thiếu úy Brillant đồng lái một chiếc thủy phi cơ bay từ đảo Côn Lôn về Sài Gòn. Giữa đường, chiếc phi cơ hư, rơi xuống biển. Thiếu úy Brillant (người Pháp lai Việt) niệm Phật cầu cứu. Chiếc thủy phi cơ lững đững trên mặt biển suốt ba giờ đồng hồ, mới gặp một chiếc tàu đánh cá của người Nhật đến cứu. Khi ba vị sĩ quan vừa bước sang tàu, thì chiếc thủy phi cơ chìm ngay xuống biển. Ai nấy đều lấy làm lạ, hỏi nhau: Tại sao khi nãy có 3 người ngồi nặng, phi cơ lại nổi, mà bây giờ không có người nó lại chìm ngấm? Chỉ có thiếu úy Brillant mới giải thích được sự lạ lùng ấy. Ông kể lại cho mọi người nghe sự linh ứng của pháp niệm Phật mà ông thường áp dụng, và lần nầy là lần thứ hai ông được thoát nạn nhờ phép niệm Phật ấy. Ðại úy Touffan và trung úy Retourna hết lòng tin tưởng, nên khi về đến Sài Gòn, hai vị sĩ quan ấy chung nhau một số tiền, cất một cái am đẹp đẽ ở Cát Lái, làng Thạnh Mỹ Lợi, tỉnh Gia Ðịnh để thờ Phật gọi là tỏ lòng tri ân. Ðây chỉ là một câu chuyện trong muôn ngàn câu chuyện về sự lợi ích của phép niệm Phật.

C. KẾT LUẬN Khuyên Phật tử tụng kinh, niệm Phật và trì chú cả Sự lẫn Lý cho được viên dung.

Tụng kinh, trì chú, niệm Phật là 3 phương pháp tu hành gồm đủ cả Sự và Lý. Dù tại gia hay xuất gia, dù Tiểu thừa hay Ðại thừa, tiêu cực hay tích cực, không ai có thể rời ba phương pháp nầy được. Bởi thế, Phật tử cần phải học tụng kinh, niệm Phật và trì chú cho Sự, Lý đi đôi, lời nói và việc làm phù hợp, mới có được kết quả tốt đẹp.

Ba pháp môn tụng kinh, trì chú và niệm Phật, tuy không đồng mà kết quả đều thù thắng. Phật tử có thể tùy theo trình độ, hoàn cảnh của mình mà tu một, hai hay cả ba pháp ấy. Thí dụ như người biết chữ và mạnh khoẻ, công ăn việc làm hằng ngày không bận rộn lắm, thì nên tụng kinh, trì chú, niệm Phật đủ cả ba pháp môn. Còn người tuổi già, sức yếu, mắt lờ, răng rụng, miệng lưỡi phều phào, thân thể mỏi mệt, nếu tụng kinh, trì chú không nổi, thì phải chuyên tâm niệm Phật, đi đứng nằm ngồi, lúc nào cũng phải niệm Phật.

Nhưng các Phật tử nên nhớ, khi miệng tụng kinh, trì chú, niệm Phật, tay gõ mõ, đánh chuông, lần chuỗi, thì tâm trí phải gội rửa hết bao ý nghĩ bất chính, những ham muốn đê hèn, và đặt vào đấy hình ảnh của đấng từ bi. Rồi phải noi gương Ngài, mở lòng thương rộng lớn, nghĩ đến nỗi thống khổ của muôn loài và phát nguyện đem sức mình ra, ban vui cứu khổ cho tất cả. Ðến khi thôi tụng niệm, trở lại tiếp xúc việc đời, thì phải làm thế nào cho những hành động của mình cũng được từ bi như tư tưởng và lời nói của mình vậy.

Người tụng kinh trì chú và niệm Phật, làm đúng như thế, thì chắc chắn sẽ được chứng quả thánh không sai.

Tụng Kinh Thế Nào Để Cầu An? / 2023

HỎI:Chị và cả nhà tôi đều biết bệnh tật là do nghiệp của mình tạo ra nên luôn động viên tinh thần cho chị lạc quan tích cực điều trị. Trước mắt, gia đình tôi sẽ trích một ít tiền tiết kiệm hàng năm để làm việc thiện, vun bồi thêm phước đức, chuyển hóa một phần nghiệp bệnh của chị. Vậy nên làm các việc thiện nào là phù hợp? Mặt khác, tôi cũng không biết nên khuyên chị đọc tụng kinh/chú nào để được chư Phật gia hộ, nghiệp chướng tiêu trừ, bệnh tật mau chóng qua khỏi. Gia đình tôi đều là Phật tử. Hiện tôi đang có người chị (36 tuổi) mắc bệnh ung thư tuyến giáp, mới phát hiện và đang điều trị.

Vì hiện nay có rất nhiều kinh/chú cũng như có nhiều quan điểm tùy thuộc tông phái Phật giáo Nguyên thủy, Đại thừa, Kim cang thừa… khác nhau. Có người nói nên đọc kinh này, người khác khuyên nên trì chú kia khiến tôi không biết phải làm thế nào. Theo quý Thầy, đọc tụng kinh/chú nào để được chư Phật gia hộ như ý nguyện?

(PHÚ QUỐC, dophuquoc927@gmail.com)

Bạn Phú Quốc thân mến!

Theo quan điểm Chánh pháp, bệnh tật thì ai cũng có, khác nhau ở chỗ nặng nhẹ, chữa trị dễ hay khó, đủ duyên gặp thầy gặp thuốc hay không…, tất cả đều là biểu hiện của nghiệp.

Cụ thể, Đức Phật dạy, người nào trong quá khứ không trưởng dưỡng từ bi, tạo nhiều nghiệp nhân giết hại chúng sinh thì đời này chịu bệnh đau, yểu mệnh.

Ngược lại, người nào giàu lòng từ bi, yêu thương muôn loài, thường tu hạnh phóng sinh, bảo vệ sinh mạng và môi trường sống thì được phước khỏe mạnh, trường thọ. Bệnh nghiệp do mình tạo ra và cũng do chính mình chuyển hóa.

Khi gia đình có người bệnh, nhất là những bệnh khó chữa, ngoài việc tích cực điều trị, ngoài sự động viên hỗ trợ về tinh thần thì ‘trích một ít tiền tiết kiệm hàng năm để làm việc thiện, vun bồi thêm phước đức, chuyển hóa một phần nghiệp bệnh’ là điều nên làm.

Người bệnh nếu còn sức thì nên tự mình làm việc thiện, hoặc người nhà làm thay thì phải thông tin đầy đủ cho người bệnh biết để hoan hỷ.

Việc thiện thì rất nhiều, khái quát là việc gì mà lợi mình, lợi người, có lợi ích, có giá trị thiết thực trong hiện tại và tương lai.

Muốn được nhiều phước thì trước, trong và sau khi làm thiện, thân tâm đều hoan hỷ, biết rõ lợi ích và phước báo của việc mình làm.

Làm xong thì nguyện đem tất cả công đức, phước báo này hồi hướng cho mình hoặc người bệnh (tên tuổi, địa chỉ đầy đủ) được tăng phần phước thọ, nghiệp chướng tiêu trừ, thân tâm an lạc.

Việc tu tập và cầu nguyện trong lúc điều trị bệnh tật vô cùng quan trọng. Tu tập thì có nhiều cách, tụng kinh và trì chú chỉ là một trong những cách ấy.

Bạn quan tâm đến việc ‘đọc tụng kinh/chú nào để được chư Phật gia hộ, nghiệp chướng tiêu trừ, bệnh tật mau chóng qua khỏi’.

Sự thật thì không kinh/chú nào của bất kỳ tông phái Phật giáo nào mang chức năng điều trị thân bệnh cả, có chăng là công năng chuyển hóa bệnh nghiệp thuộc tâm bệnh mà thôi.

Hiện mỗi tông phái Nguyên thủy (Nam tông), Đại thừa, Kim cang thừa (Bắc tông) đều có kinh cầu an và cầu siêu. Nên bạn có nhân duyên với tông phái nào thì trì tụng kinh chú cầu an của tông phái đó.

Thường thì người bệnh chịu một lúc hai nỗi thân đau, tâm khổ. Người Phật tử hiểu đạo, có chánh kiến thì phải hiểu rõ rằng, điều trị thân bệnh cần phối hợp chặt chẽ với trị liệu tâm bệnh, được như thế thì kết quả điều trị sẽ khả quan hơn, nhất là đối với bệnh nan y.

Nói thẳng ra, không có bộ kinh hay câu thần chú nào mà chỉ đọc tụng rồi nhiệm mầu xảy đến (hay phép lạ hiện ra) khiến bệnh nhân lành khỏe cả.

Người bệnh cần đọc hay nghe kinh để hiểu rõ sinh, lão, bệnh, tử là thuộc tính của đời sống, là chân lý phổ quát có thân nên có bệnh của mọi chúng sinh.

Kế đến, bệnh tật do nghiệp mà ra (biệt và cộng nghiệp) nên muốn bớt bệnh thì cần chuyển nghiệp. Để chuyển nghiệp thì trước phải sám hối tội lỗi quá khứ, hiện tại thì tu tập mười nghiệp thiện (thân, miệng, ý), tích cực làm phước trong khả năng.

Chính những nỗ lực hướng thiện này sẽ góp phần khiến cho tội diệt phước sinh, căn lành thêm lớn, hóa giải oan khiên, gặp thầy gặp thuốc, bệnh tật dần thuyên giảm, thân khỏe tâm an, sống lâu an ổn.

Tuy nhiên, một số người vì nghiệp nhân xấu ác trong quá khứ nặng nề nên những thiện nghiệp mà họ đã cố gắng tạo ra trong hiện đời không đủ lớn mạnh để can thiệp nghiệp cũ thì vẫn bị nghiệp cũ quật ngã.

Nhân lành mà ta vừa tạo ra trước đó không hề mất mà sẽ trổ quả ở đời sau. Cụ thể, người bệnh và thân nhân dù đã tìm mọi cách chạy chữa, cầu nguyện nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm và đến lúc phải ra đi theo lộ trình sinh lão bệnh tử.

Người Phật tử cần thấy rõ không phải là Phật pháp không mầu nhiệm mà nhân quả nó đang như vậy, không thể khác.

Tóm lại, khi bản thân hay gia đình có người bệnh thì hết lòng chạy chữa, động viên chăm sóc và cầu nguyện Tam bảo gia hộ, tu tập để chuyển hóa nghiệp.

Nếu tự thân người bệnh nhẹ nghiệp thì hy vọng sẽ chữa lành và sống lâu, còn nếu nặng nghiệp thì sẽ theo đúng theo quy luật sinh lão bệnh tử. Nhân quả – Nghiệp báo của mỗi người sẽ chi phối tiến trình này, thánh thần tiên Phật không thể can thiệp.

Người đệ tử Phật có chánh kiến cần quán triệt về bệnh nghiệp như thế để an nhiên, chăm lo chuyển nghiệp, đối diện với mọi sự thật tốt xấu buồn vui đã và đang xảy ra, kể cả đó là điều phũ phàng nhất.

Theo; báo Giác Ngộ