Sớ Thiên Quan Âm Hán Việt, Hán Nôm

--- Bài mới hơn ---

  • Tải Bài Sớ Văn Cúng Táo Quân 2022
  • Sớ Cúng Rằm Tháng Bảy
  • Tiễn Ông Táo Về Trời: Đốt Vàng Mã Đúng Cách Để Rước Lộc Cả Năm
  • Cúng Thần Tài Đầu Năm Mới Vào Giờ Nào Là Tốt Nhất?
  • Phủ Tây Hồ Và Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Liễu Hạnh
  • Sớ Thiên Quan âm Hán Việt, được sưu tầm để cho các bạn tham khảo, các thầy chùa, thầy cúng và các bạn yêu thích Hán nôm, Hán Việt lưu trữ.

    伏 以 上 承

    天 之 大 德 曰 生 相o 帝 體 好 生 之 念o人 之 所 欲 者 壽o 有 生 求 延 壽 之 文o 某 節 祈 安o 天 官 錫 福 爰 有

    越 南 國 依 于

    家 處 居 奉

    佛 聖 獻 供 某 天 拜 禱o 天 官 祈 安 請 福o 送 厄 迎 祥o 求 康 寧 延 壽 事o 今 臣 信 主 即 日 仰 干

    大 德 俯 鉴 小心o 言 念 臣 等o 群 居 中 土o 頂 戴

    上 天o 軺 瞻 太 歳 之 權o 八柱 擎 天 行 化o 景 仰

    當 該 之 令o 五 方 溥 地 安 民o 今 年 行 行 病 行 灾o 偶 有 巡 遊 之 運 値o 民 眾 欲 安 欲 逸o 必 先 禮 禱 以 迎 祥o 爰 兹 旬 臨 某 節o 日 屆吉 時o 依 寺 堂 而 啓 建 法 坛o 禮 用 陳 于 式 燕 仗 玄 文 而 宣 行 科 範o 福 上 迓 于 初 筵o 謹 具 投 詞o 虔 伸 奏 上

    三 界 主 瘟o 天 符 大 帝 匡 輔 先 生 玉 陛 下

    當 年 某 王 行 遣 至 徳 尊 神o 某 行 兵 之 神o 某 曹 判 官 治 下

    當 境 城 隍 本 土 大 王 上 等 神 祠 下

    五 方 五 帝o 瘟 部 雜 部o 道 路 神 官 o 普 及

    四 辰 行 灾 之 神 位 前

    會 同 左 右 文 武 官 僚 案 下 恭 望

    天 神 職 掌 當 年o 權 該 週 歲o九 霄 欽

    帝 令o 行 時 而 春 脚 留 蘇o 萬 隊 擁 雄 兵o 到 處 而 秋 毫 無 犯o 伏 願

    五 瘟 聖 者o 遄 歸 東 海 之 津o

    行 病 鬼 王 速o 去 某 之 界o 福 留 民 社o 家 廷 盛 旺o 四 時 無 限 厄 凶 灾o 慶 溢 諸 家o 人 物 康 寧o 八 節 有 榮 花 勝 利o 咸 孚 燕 喜o 共 木

    鴻 庥o 但 臣 下 情 無 任 激 切 屏 营 之 至 謹 疏

    天 運 年 月 日 臣 叩 首 上 疏

    SỚ CÚNG QUAN THÁNH( Trung huyền nhật nguyệt )

    Phục Dĩ :

    Trung huyền nhật nguyệt thường chiếu như tại chi anh linh , khí tác sơn hà vĩnh ngưỡng vô cùng chi huệ trạch , nhất thành thượng đạt thốn niệm diêu thông .

    Sớ vị : Việt Nam Quốc …………….. gia cư phụng Phật Thánh tu hương hiến cúng ………. Thánh đức phủ giám phàm tâm . Ngôn niệm : Trung can lẫm lẫm , chánh khí đường đường , chiến Ngụy chinh Ngô , Tam Quốc anh hùng đệ nhất phong kim đô ấn thiên thu nghĩa khí vô song , tại Nho tại Đạo tại Thiền , nhân dân chiêm ngưỡng , hộ Quốc hộ Dân hộ Vật đại đại tôn sùng , tư giả cung trần tố phẩm dĩ hiến hoa diên , kiền thành phúng tụng Tiêu Tai Chư Phẩm thần Chú , tập thử thiện nhân kỳ tăng Phúc thọ , kim tắc cẩn cụ sớ văn hòa nam bái tấu .

    – Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Hán Thất Hán Thọ Đình Hầu Quan Thánh Đế Quân Bồ Tát Chứng minh .

    Diên phụng : Linh Quan Vương Thiên Quân Thái Ất Lôi Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn . Cửu Thiên Phụ Nguyên Khai Hóa Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế Thất Khúc ………. Thánh Thiên Tôn . Oai hiển Võ Linh Hầu Quan Thánh Thái Tử . Mã Tiền Uy Dũng Công Châu Đại Tướng Quân . Thị tùng bộ hạ nhất thiết oai linh , đồng thùy chiếu giám cọng giáng cát tường .

    Phục nguyện : Hộ Quốc hộ kỳ thần dân mặc tứ sùng thành chi Phúc chỉ , tại thượng tại kỳ tả hữu trường chiêm hiễn hách chi oai linh , khuôn phò đệ tử dĩ bình an , bảo hộ sinh nhân nhi cát khánh .

    Ngưỡng lại Thánh từ chứng minh . Cẩn sớ .

    Tuế thứ ………….. niên ………………….nguyệt ………………nhật ,thời .

    Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sớ Cúng Quan Thánh ( Trung Huyền Nhật Nguyệt )
  • Sớ Lễ Ngọc Hoàng Ngày Thánh Đản Đại Lễ 越南道教
  • Sớ Cúng Rằm Tháng Bảy Ontao Doc
  • Cúng Rằm Tháng Chạp 2022 Có Gì Khác So Với Ngày Rằm Hàng Tháng Và Phải Chuẩn Bị Những Gì?
  • Phân Biệt Văn Khấn Và Sớ
  • Chữ Nôm Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Chữ Hán Và Chữ Nôm ⇒By Tiếng Trung Chinese

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Cúng Nhà Thờ Họ Ngày 1 Và Rằm Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Nôm Ông Hoàng Bảy Đầy Đủ
  • Truyền Thuyết Và Bài Văn Khấn Ông Hoàng Mười
  • Tìm Hiểu Sự Tích Và Bài Văn Khấn Ông Hoàng Mười
  • Tiệc Ông Hoàng Mười Vào Ngày Nào? Sắm Lễ, Văn Khấn
  • Chữ Nôm (字喃), còn gọi là Quốc âm (chữ Hán: 國音), là một hệ chữ ngữ tố từng được dùng để viết tiếng Việt, gồm các từ Hán-Việt và các từ vựng khác. Nó bao gồm bộ chữ Hán tiêu chuẩn và các chữ khác được tạo ra dựa theo quy tắc.

    Chữ Nôm là gì? Định nghĩa

    Cả hai từ “Chữ” và “Nôm” trong chữ Nôm đều là từ Hán Việt cổ. Từ chữ bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của chữ “tự” 字 (có nghĩa là chữ).

    Từ “Nôm” bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán trung cổ của chữ “nam” 南 (có nghĩa là phía nam). Ý của tên gọi chữ Nôm là đây là thứ chữ dùng để ghi chép tiếng nói của người phương Nam (tức người Việt, xưa kia người Việt tự xem mình là người phương Nam, còn người Trung Quốc là người phương Bắc).

    Tên gọi chữ Nôm khi viết bằng chữ Nôm có thể viết bằng rất nhiều cách khác nhau:

    字喃,(⿰字宁)喃,(⿰字守)喃,喃,茡喃,芓喃,(⿰字文)喃,喃,佇喃,宁喃

    字諵,(⿰字宁)諵(⿰字守)諵,諵,茡諵,芓諵,(⿰字文)諵,諵,佇諵,宁諵

    Vậy còn Chữ Nho là gì?

    Danh từ chữ Nho được dùng để chỉ chữ Hán do người Việt dùng trong các văn bản ở Việt Nam.

    Các quan điểm về sự hình thành của chữ Hán Nôm

    Cách cấu tạo chữ Nôm có thể đã manh nha ló dạng từ những năm đầu khi người Hán chinh phục đất Giao Chỉ (Miền Bắc Việt Nam) và đặt nền đô hộ trên các bộ lạc người Việt vào đầu Công Nguyên.

    Vì ngôn ngữ khác biệt, những “chữ Nôm” đầu tiên xuất hiện vì nhu cầu ghi địa danh, tên người hoặc những khái niệm không có trong Hán văn. Song chứng cứ còn lưu lại hết sức ít ỏi, khó kiểm chứng được một cách chính xác.

    Phạm Huy Hổ trong “Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào?” thì cho rằng chữ Nôm có từ thời Hùng Vương. Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San lại cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp cuối đời Đông Hán thế kỷ thứ 2.

    Nguyễn Văn Tố dựa vào hai chữ “bố cái” trong danh xưng “Bố Cái đại vương” do nhân dân Việt Nam suy tôn Phùng Hưng mà cho rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng thế kỷ thứ 8.

    Ý kiến khác lại dựa vào chữ “cồ” trong quốc hiệu “Đại Cồ Việt” (大瞿越) để cho rằng chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng.

    Trong một số nghiên cứu vào thập niên 1990, các học giả căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt đã đi tới kết luận rằng âm Hán Việt (âm của người Việt đọc chữ Hán) ngày nay bắt nguồn từ thời nhà Đường-nhà Tống thế kỷ 8-9.

    Và nếu âm Hán Việt có từ thời Đường, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi cố định cách đọc Hán Việt (nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự) và chỉ có thể ra đời sau khoảng thế kỷ thứ 10 khi người Việt thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938.

    Về văn bản thì khi tìm chứng tích trước thời nhà Lý, văn tịch hoàn toàn không lưu lại dấu vết chữ Nôm nào cả. Sang thời Lý thì mới có một số chữ Nôm như trong bài bi ký ở chùa xã Hương Nộn, huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ (tạc năm 1173 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 11) hay bia chùa Tháp Miếu, huyện Yên Lãng (nay thuộc Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (tạc năm 1210 triều vua Lý Cao Tông).

    Trước tác thì phải sang thời nhà Trần mới có dấu tích rõ ràng. Hàn Thuyên là người có công lớn phát triển thơ Nôm thời kỳ này với việc mở đầu thể Hàn luật.

    Sự hình thành và Phát triển của chữ Hán Nôm

    Ban đầu khi mới xuất hiện, chữ Nôm thuần túy mượn dạng chữ Hán y nguyên để ghi âm tiếng Việt cổ (mượn âm để chép tiếng Quốc âm). Phép đó gọi là chữ “giả tá”.

    Dần dần phép ghép hai chữ Hán lại với nhau, một phần gợi âm, một phần gợi ý được dùng ngày càng nhiều và có hệ thống hơn.

    Phép này gọi là “hài thanh” để cấu tạo chữ mới. Kể từ thời Lê về sau số lượng sáng tác bằng chữ Nôm tăng dần trong suốt 500 năm từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Dồi dào nhất là các áng thi văn có tính cách cảm hứng, tiêu khiển, và nặng phần tình cảm.

    Những tác phẩm Nôm này rất đa dạng: từ Hàn luật (thơ Nôm (tiếng Việt) theo luật Đường), đến văn tế, truyện thơ lục bát, song thất lục bát, phú, hát nói, tuồng, chèo.

    Thi ca chữ Nôm đã diễn tả đầy đủ mọi tình cảm của dân tộc Việt, khi thì hào hùng, khi bi ai; khi thì trang nghiêm, khi bỡn cợt.

    Chữ Hán Nôm Trước thế kỷ 15

    Một số di tích còn lưu lại dấu vết chữ Nôm trước thế kỷ 15 nhưng số lượng không nhiều ngoài vài văn bia.

    Tuy nhiên có thuyết cho rằng một tác phẩm quan trọng là tập Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, dịch Nôm là Phật nói cả trả ơn áng ná cực nặng đã ra đời vào thời nhà Lý khoảng thế kỷ 12. Đây cũng là đặc điểm vì tập này là văn xuôi, một thể văn ít khi dùng chữ Nôm.

    Nhà Trần cũng để lại một số tác phẩm chữ Nôm như mấy bài phú của vua Trần Nhân Tông: “Cư trần lạc đạo phú” (居塵樂道賦) và “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca” (得趣林泉成道歌).

    Chữ Hán Nôm Thế kỷ 15 -17

    Thời kỳ này phần lớn thi văn lưu truyền biết tới nay là thơ Hàn luật bát cú hoặc tứ tuyệt.

    Một số là trước tác cảm hứng riêng như:

    • Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi)
    • Hồng Đức quốc âm thi tập (Lê Thánh Tông)
    • Bạch Vân am thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
    • Ngự đề hoà danh bách vịnh (Chúa Trịnh Căn)
    • Tứ thời khúc vịnh (Hoàng Sĩ Khải)
    • Ngọa long cương (Đào Duy Từ)

    nhưng cũng không thiếu những tác phẩm theo dạng sử ký như: Thiên Nam Minh giám, Thiên Nam ngữ lục.

    Thơ lục bát cũng xuất hiện với tác phẩm “Cảm tác” của Nguyễn Hy Quang, được sáng tác năm 1674.

    Thế kỷ 17 cũng chứng kiến sự xuất hiện nhưng đã sớm nở rộ của văn học Nôm Công giáo, với những tác giả tên tuổi như nhà truyền giáo Girolamo Maiorica (chủ trì biên soạn hơn 45 tác phẩm nhiều thể loại), thầy giảng Gioan Thanh Minh (viết tiểu sử các danh nhân và thánh nhân), thầy giảng Lữ-y Đoan (viết Sấm truyền ca, truyện thơ lục bát phỏng tác từ Ngũ Thư).

    Chữ Hán Nôm Thế kỷ 18 – 19

    Thơ Hàn luật của những thế kỷ kế tiếp càng uyển chuyển, lối dùng chữ càng tài tình, hóm hỉnh như thơ của Hồ Xuân Hương hay Bà Huyện Thanh Quan.

    Ngược lại thể thơ dài như Ai tư vãn của Ngọc Hân Công chúa cùng thể song thất lục bát trong Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm lưu danh những nữ sĩ biệt tài thời trước.

    Riêng Chinh phụ ngâm được xem là một tuyệt tác, có phần trội hơn nguyên bản chữ Nho.

    Thể song thất lục bát cũng lưu lại tác phẩm Cung oán ngâm khúc, lời văn cầu kỳ, hoa mỹ nhưng thể thơ phổ biến nhất là truyện thơ lục bát, trong đó phải kể Truyện Kiều (Nguyễn Du) và Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu).

    Văn từ truyện thơ bình dị hơn nhưng lối hành văn và ý tứ không kém sâu sắc và khéo léo.

    Những tác phẩm truyện Nôm khuyết danh khác như:

    tất cả được phổ biến rộng rãi khiến không mấy người Việt lại không biết vài câu, nhất là Truyện Kiều.

    Dưới triều đại nhà Tây Sơn, do sự hậu thuẫn của Quang Trung hoàng đế, toàn bộ các văn kiện hành chính bắt buộc phải viết bằng chữ Nôm trong 24 năm, từ 1788 đến 1802.

    Thời kỳ cuối của chữ Nôm xuất hiện nhiều tác phẩm thi ca theo thể hát nói như của Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương v.v.

    Những thể cũ song thất lục bát và lục bát (các truyện Nôm) vẫn góp mặt song thêm vào đó là những vở tuồng hoặc chèo dân gian cũng được soạn bằng chữ Nôm như Kim Thạch kỳ duyên, Chàng Lía (Văn Doan diễn ca), Quan Âm Thị Kính.

    Đối ngược lại tài liệu văn học thì triết học, sử học, luật pháp, y khoa và ngữ học tuy có được ghi lại bằng chữ Nôm nhưng tương đối ít. Văn vần thì có Đại Nam quốc sử diễn ca (thời Nguyễn).

    Đặc biệt là cuốn từ điển song ngữ Hán Nôm Đại Nam Quốc ngữ do Văn Đa Nguyễn Văn San soạn năm Tự Đức thứ 30 (1877).Song sử liệu, nhất là chính sử cùng các văn bản hành chính của triều đình thì nhất thể đều bằng chữ Hán.

    Ngoại lệ là những năm tồn tại ngắn ngủi của nhà Hồ (thế kỷ 15) và nhà Tây Sơn (thế kỷ 18).

    Những văn bản hành chính như sổ sách, công văn, giấy tờ, thư từ, khế ước, địa bạ v.v. chỉ đôi khi xen chữ Nôm nếu không thể tìm được một chữ Hán đồng nghĩa để chỉ các danh từ riêng (như tên đất, tên làng, tên người), nhưng tổng thể vẫn là văn bản Hán Việt.

    Sự Suy giảm của chữ Hán Nôm

    Dưới chính quyền thuộc địa và bảo hộ của Pháp, vào cuối thế kỷ 19 tại Nam Kỳ và đầu thế kỷ 20 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, vị thế của chữ Hán và chữ Nôm bắt đầu giảm sút.

    Kỳ thi Hương cuối cùng tại Nam Kỳ được tổ chức vào năm 1864, tại Bắc Kỳ là năm 1915, tại Trung Kỳ là năm 1918 và kỳ thi Hội sau cùng được tổ chức vào năm 1919.

    Trong chừng mực nào đó, chữ Hán vẫn tiếp tục được dạy trong thời Pháp thuộc. Học chính Tổng quy (Règlement général de l’Instruction publique) do Toàn quyền Albert Sarraut ban hành năm 1917 quy định ở cấp tiểu học, mỗi tuần dạy Hán tự một giờ rưỡi và dạy tiếng Pháp (lớp nhì và lớp nhất) ít nhất 12 giờ.

    Ở cấp trung học, mỗi tuần quốc văn (gồm Hán tự và Quốc ngữ) dạy 3 giờ trong khi Pháp văn và lịch sử Pháp dạy 12 giờ.

    Bên cạnh bộ Quốc-văn giáo-khoa thư của nhóm Trần Trọng Kim, Nha Học chính Đông Pháp còn tổ chức và cho sử dụng bộ Hán-văn tân giáo-khoa thư xuất bản lần đầu năm 1928 do Lê Thước và Nguyễn Hiệt Chi biên soạn, đều được dùng rộng rãi cho tới trước năm 1949.

    Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dừng việc dạy chữ Hán trong nhà trường kể từ năm 1950. Còn tại miền Nam, Giáo dục Việt Nam Cộng hòa quy định dạy chữ Hán cho học sinh trung học đệ nhất cấp….? Sau tái thống nhất, chương trình giáo dục phổ thông của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không giảng dạy chữ Hán.

    Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ

    Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ là hai hệ chữ dùng để viết tiếng Việt, chúng có vai trò khác nhau trong dòng lịch sử và văn hóa.

    Chữ Quốc ngữ được các nhà truyền giáo Dòng Tên tại Việt Nam sáng chế dựa trên ký tự Latinh vào nửa đầu thế kỷ 17 và suốt một thời gian dài tới cuối thế kỷ 19 chỉ được lưu hành trong giới Công giáo.

    Tuy nhiên, trái với nhiều người lầm tưởng, trong thời kỳ này, lượng văn thư Kitô giáo chữ Nôm vượt xa chữ Quốc ngữ, và sách chữ Nôm vẫn được người Công giáo sử dụng cho đến giữa thế kỷ 20.

    Thời Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa muốn tăng cường ảnh hưởng của tiếng Pháp và hạn chế ảnh hưởng của Hán học cùng với chữ Hán. Sự giảm sút của chữ Hán cũng dẫn đến sự suy giảm của chữ Nôm.

    Về văn tự thay thế để viết tiếng Việt, họ bất đắc dĩ phải chấp nhận sự hiện hữu của chữ Quốc ngữ do các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha chế tạo.

    Các phong trào cải cách như Hội Trí Tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chữ Quốc ngữ.

    Ngày nay, tiếng Việt hầu như được viết hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ, trong khi đó chỉ rất ít người, chủ yếu là các học giả, có thể đọc viết được chữ Nôm.

    Một số người cho rằng chữ Quốc ngữ đã làm lu mờ vị thế của chữ Nôm nhưng một số khác thì nhấn mạnh rằng về mặt kỹ thuật, hai hệ chữ này không loại trừ nhau, nghĩa là, người ta vẫn có thể biết chữ Quốc ngữ đồng thời học chữ Nôm vì điều này không ai ngăn cấm cả.

    Những cách tạo chữ Nôm

    Mượn cả âm và nghĩa của chữ Hán

    Mượn cả âm đọc (âm Hán Việt) và nghĩa của chữ Hán để ghi lại các từ từ Hán Việt. Âm Hán Việt có ba loại là:

    • Âm Hán Việt tiêu chuẩn: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán thời Đường.

      Ví dụ: “ông” 翁, “bà” 婆, “thuận lợi” 順利, “công thành danh toại” 功成名遂.

    • Âm Hán Việt cổ: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán trước thời Đường.

      Ví dụ: “mùa” 務 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là”vụ”), “bay” 飛 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phi”), “buồng” 房 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phòng”).

    • Âm Hán Việt Việt hoá: là các âm gốc Hán bị biến đổi cách đọc do ảnh hưởng của quy luật ngữ âm tiếng Việt.

      Ví dụ: “thêm” 添 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “thiêm”), “nhà” 家 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “gia”), “khăn” 巾 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “cân”), “ghế” 几 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là “kỉ”).

    Ba loại âm Hán Việt kể trên đều được dùng trong chữ Nôm.

    Mượn âm chữ Hán, không mượn nghĩa

    Mượn chữ Hán đồng âm hoặc cận âm để ghi âm tiếng Việt. Âm mượn có thể là âm Hán Việt tiêu chuẩn, âm Hán Việt cổ hoặc âm Hán Việt Việt hoá. Khi đọc có thể đọc giống với âm mượn hoặc đọc chệch đi.

    Ví dụ: Đọc giống như âm Hán Việt tiêu chuẩn:

    • chữ “một” 沒 có nghĩa là “chìm” được mượn dùng để ghi từ “một” trong “một mình”,
    • chữ “tốt” 卒 có nghĩa là “binh lính” được mượn dùng để ghi từ “tốt” trong “tốt xấu”,
    • chữ “xương” 昌 có nghĩa là “hưng thịnh” được mượn dùng để ghi từ “xương” trong “xương thịt”,
    • chữ “qua” 戈 là tên gọi của một loại binh khí được mượn dùng để ghi từ “qua” trong “hôm qua”.

    Đọc chệch âm Hán Việt tiêu chuẩn:

    • “gió” 這 (mượn âm “giá”),
    • “cửa” 舉 (mượn âm “cử”),
    • “đêm” 店 (mượn âm “điếm”),
    • “chạy” 豸 (mượn âm “trãi”).

    Đọc giống như âm Hán Việt cổ:

    • chữ “keo” 膠 (“keo” trong “keo dán”, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “giao”) được dùng để ghi lại từ “keo” trong “keo kiệt”,
    • chữ “búa” 斧 (“búa” trong “cái búa”, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phủ”) được dùng để ghi lại từ “búa” trong “chợ búa” (“búa” trong “chợ búa” là âm Hán Việt cổ của chữ “phố” 鋪).

    Mượn nghĩa chữ Hán, không mượn âm

    Mượn chữ Hán đồng nghĩa hoặc cận nghĩa để ghi lại âm tiếng Việt.

    Ví dụ:

    • chữ “dịch” 腋 có nghĩa nghĩa là “nách” được dùng để ghi lại từ “nách” trong “hôi nách”,
    • chữ “năng” 能 có nghĩa là “có tài, có năng lực” được dùng để ghi lại từ “hay” trong “văn hay chữ tốt”.

    Tạo chữ ghép Chữ ghép, còn gọi chữ là chữ hợp thể, là chữ được tạo ra bằng cách ghép hai hoặc nhiều hơn chữ khác thành một chữ.

    Các chữ cấu thành nên chữ ghép có thể đóng vai trò là thanh phù (bộ phận biểu thị âm đọc của chữ ghép) hoặc nghĩa phù (bộ phận biểu thị ý nghĩa của chữ ghép) hoặc vừa là thành phù vừa là nghĩa phù hoặc dùng làm phù hiệu chỉnh âm chỉ báo cho người đọc biết chữ này cần phải đọc chệch đi.

    Chúng có thể được viết nguyên dạng hoặc bị viết tỉnh lược mất một phần hoặc thay bằng chữ giản hóa. Thanh phù luôn có âm đọc giống hoặc gần giống với âm đọc của chữ ghép.

    Phù hiệu chỉnh âm được dùng trong chữ Nôm là bộ “khẩu” 口 (đặt ở bên trái chữ ghép), dấu “cá” 亇 (bắt nguồn từ chữ “cá” 个 viết theo thể thảo thư, đặt ở bên phải chữ ghép), dấu nháy “?” (đặt ở bên phải chữ ghép), bộ “tư” 厶 (đặt ở bên trên hoặc bên phải chữ ghép), dấu “冫” (đặt bên trái chữ ghép, chỉ thấy dùng trong các bản văn bản Nôm ở vùng Nam Bộ Việt Nam).

      “chân” 蹎 (“chân” trong “chân tay”): chữ này được cấu thành từ chữ “túc” 足 và chữ “chân” 真. “Túc” 足 có nghĩa là “chân” được dùng làm “nghĩa phù” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép.

    Trong chữ ghép chữ “túc” 足 khi đứng ở bên trái phải viết dưới dạng biến thể gọi là “bàng chữ túc” ⻊. Chữ “chân” 真 (“chân” trong “chân thành”) đồng âm với “chân” trong “chân tay” được dùng làm thanh phù biểu thị âm đọc của chữ ghép.

    • “gạch” ? (“gạch” trong “gạch ngói”): chữ này được cấu thành từ chữ “thạch” 石 và chữ “ngạch” 額. “Thạch” 石 có nghĩa là “đá” được dùng làm nghĩa phù, ý là gạch thì được làm bằng đất đá. “Ngạch” 額 dùng làm thanh phù.
    • “khói” : chữ này được cấu thành từ chữ “hỏa” 火 và chữ “khối” 塊 bị tỉnh lược một phần (tỉnh lược bộ “thổ” 土 ở bên trái chữ “khối” 塊). “Hỏa” 火 có nghĩa là lửa, gợi ý nghĩa của chữ ghép (lửa cháy tạo ra khói), “khối” 塊 gợi âm đọc của chữ ghép.
    • “ra” : chữ này được cấu thành từ chữ “la” 羅 giản hóa và chữ “xuất” 出. “Xuất” 出 có nghĩa là “ra” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép.
    • “trời” : chữ này được cấu thành từ chữ “thiên” 天 có nghĩa là “trời” và chữ “thượng” 上 có nghĩa là “trên”, ý là “trời” thì nằm ở trên cao.
    • “lử” : (“lử” trong “mệt lử”) gồm chữ “vô” 無 có nghĩa là “không có” và chữ “lực” 力 có nghĩa là “sức, sức lực”, ý là “lử” là không còn sức lực gì nữa.

    Tiếng Việt hiện đại không có phụ âm kép nhưng trong tiếng Việt từ giai đoạn trung đại trở về trước thì lại có phụ âm kép. Trong chữ Nôm hợp thể để biểu thị các phụ âm kép người ta dùng một hoặc hai chữ làm thanh phù. Nếu dùng hai chữ làm thanh phù thì một chữ sẽ dùng để biểu thị phụ âm thứ nhất của phụ âm kép, chữ còn lại biểu thị phụ âm thứ hai của phụ âm kép. Ví dụ:

    – “blăng” : “Blăng” hiện nay đã biến đổi thành “trăng, giăng”. Chữ “blăng” ? được cấu thành từ chữ “ba” 巴, chữ “lăng” 夌 và chữ “nguyệt” 月. “Ba” 巴 biểu thị phụ âm thứ nhất “b” của phụ âm kép “bl”, “lăng” 夌 biểu thị phụ âm thứ hai “l” và phần vần của từ “blăng”, “nguyệt” 月 có nghĩa là “mặt trăng” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép này.

    – “mlời” : “Mlời” hiện nay đã biến đổi thành “lời, nhời” (“lời” trong “lời nói”). Chữ “mlời” ? được cấu thành từ chữ “ma” 麻 (bị tỉnh lược thành “亠”) và chữ “lệ” 例. “Ma” 麻 biểu thị phụ âm thứ nhất

    – “m” của phụ âm kép “ml”, “lệ” 例 biểu thị phụ âm thứ hai “l” và phần vần cửa từ “mlời”.

    – “tlòn” : “ Tlòn” hiện nay đã biến đổi thành “tròn”. Chữ này được cấu thành từ chữ “viên” 圓 (bị tỉnh lược bộ “vi” 囗 ở phía ngoài thành “員”) và chữ “lôn” 侖. “Viên” 圓 có nghĩa là “tròn” được dùng làm nghĩa phù. “Lôn” 侖 là thanh phù, biểu thị phụ âm thứ hai “l” của phụ âm kép “tl” và phần vần của từ “tlòn”.

    – “krông” 滝: “Krông” hiện nay đã biến đổi thành “sông”. Chữ này được cấu thành từ bộ “thủy” 水 và chữ “long” 竜. “Thủy” có nghĩa là “sông” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. “Long” 竜 biểu thị phụ âm thứ hai “r” của phụ âm kép “kr” và phần vần của từ “krông”.

    – “sláu” : “sláu” hiện nay đã biến đổi thành “sáu”. Chữ này được cấu thành từ chữ “lão” và chữ “lục”. “Lục” 六 là nghĩa phù, có nghĩa là “sáu”. “Lão” 老 là thanh phù, biểu thị phụ âm thứ hai “l” của phụ âm kép “sl” và phần vần của từ “sláu”.

    Lược bớt nét của chữ Hán để biểu thị phải đọc chệch đi

    Lược bớt ít nhất là một nét của một chữ Hán nào đó để gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này phải đọc chệch đi.

    Ví dụ:

    – chữ “ấy” : lược nét chấm “丶” trên đầu chữ “ý” 衣. Việc lược bớt nét bút này gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này không đọc là “y” hay “ý” (chữ 衣 có hai âm đọc là “y” và “ý”) mà cần đọc chệch đi.

    – “khệnh khạng” : chữ “khệnh ? là chữ “cộng” 共 bị lược bớt nét phẩy “㇒”, chữ “khạng” ? là chữ “cộng” 共 bị lược bớt nét mác “㇔”.

    – “khề khà”: chữ “khề” ? là chữ “kỳ” bị lược bớt nét phẩy “㇒”, chữ “khà” ? là chữ “kỳ” bị lược bớt nét mác “㇔”.

    Mượn âm của chữ Nôm có sẵn

    Dùng chữ Nôm có sẵn để ghi lại từ tiếng Việt đồng âm hoặc cận âm nhưng khác nghĩa hoặc đồng nghĩa nhưng khác âm với chữ được mượn. Khi đọc có thể đọc giống với âm đọc của chữ được mượn hoặc đọc chệch đi.

    Ví dụ:

    • Đọc giống với âm đọc của chữ được mượn: chữ “chín” ? (“chín” trong “chín người mười ý”) được dùng để ghi từ “chín” trong “nấu chín”.
    • Đọc chệch âm: chữ “đá” ? (“đá” trong “hòn đá”) được dùng để ghi từ “đứa” trong “đứa bé”.

    Nhược điểm của chữ Hán Nôm

    Nhìn chung chữ Nôm thường có nhiều nét hơn, phức tạp hơn chữ Hán (do phần lớn là những chữ buộc phải ghép 2 chữ Hán lại) nên khó học, khó nhớ hơn cả chữ Hán vốn cũng đã khó nhớ.

    Để đọc viết được chữ Nôm đòi hỏi phải có vốn hiểu biết chữ Hán nhất định. Hệ chữ Nôm cũng không có sự thống nhất: có thể có nhiều chữ dùng để ghi cùng một âm tiết, hoặc ngược lại, một chữ có thể có nhiều cách đọc khác nhau.

    Tình trạng này còn do “tam sao thất bản”, phần vì trình độ người thợ khắc chữ ngày xưa, phần vì khâu in mộc bản có chất lượng không cao (chữ bị nhòe, mất nét). Do đó có người nói “chữ Nôm phải vừa đọc vừa đoán”, “nôm na là cha mách qué”.

    Về mặt ngữ học thì do âm trong tiếng Việt nhiều hơn số âm trong tiếng Hán (tiếng Việt có 4500 đến 4800 âm; tiếng Hán Quan thoại có khoảng 1280 âm) nên người viết phải dùng dấu nháy đặt cạnh một chữ để biểu thị những chữ cận âm.

    Người đọc vì vậy phải giỏi mà đoán cho trúng âm, khiến chữ Nôm rất khó đọc.

    Chữ Nôm của các dân tộc khác

    Ở Việt Nam, không chỉ có dân tộc Kinh chế tạo ra chữ Nôm, một vài dân tộc thiểu số khác như Tày, Dao, Ngạn,… cũng tạo ra chữ Nôm dựa trên chữ Hán để lưu lại ngôn ngữ của họ.[19]

    Chữ Nôm Tày

    Chữ Nôm Dao

    Chữ Nôm Ngạn

    Người Ngạn, một nhóm cư dân ở tỉnh Cao Bằng tự nhận thuộc dân tộc Tày nhưng về mặt ngôn ngữ thì gần với người Giáy, từng sử dụng chữ Nôm Ngạn trộn với chữ Hán trong các bài mo (khấn cúng).

    “Chữ nôm” của các nước khác

    Do 喃 nôm = 口 khẩu + 南 nam nên chữ “喃 nôm” trong tên gọi “chữ Nôm” thường được hiểu với ý nghĩa là “ngôn ngữ của người Nam”.

    Tuy nhiên, nếu mở rộng khái niệm “chữ nôm” ra cho tất cả các hệ chữ được sáng tạo dựa trên chữ Hán thì có người còn gọi những chữ được các dân tộc phương bắc như Nhật Bản, Triều Tiên là “chữ nôm Nhật”, “chữ nôm Triều”, hay gọi những hệ thống chữ của các dân tộc thuộc Trung Quốc như Tráng, Đồng, v.v. là “chữ nôm Choang”, “chữ nôm Đồng”, v.v.

    Kokuji (国字 Quốc tự) trong hệ thống Kanji của người Nhật cũng được tạo thành từ chữ Hán để ghi lại những từ và khái niệm riêng trong tiếng Nhật.

    Ví dụ: 畑 hatake = 火 hoả + 田 điền, nghĩa là cánh đồng khô, để phân biệt với 田 là ruộng trồng lúa nước; 鮭 sake = 魚 ngư + 圭 khuê, nghĩa là cá hồi Nhật Bản; 瓩 kiloguramu = 瓦 ngoã + 千 thiên, nghĩa là kílô-gam.

    Trong hệ thống Kanji hiện đại, cũng có nhiều chữ không có trong các tự điển Trung Quốc nhưng không phải là Kokuji vì đó chỉ là cách đơn giản hoá những chữ Hán đã có sẵn theo kiểu của người Nhật.

    Ví dụ:

    円 là giản thể của 圓 viên; 売 là giản thể của 賣 mại.

    Tương tự như Kokuji của người Nhật, người Triều Tiên cũng dùng chữ Hán để tạo thành một số chữ biểu ý riêng trong hệ thống Hanja của họ. Ví dụ: 畓 dap = 水 thuỷ + 田 điền, nghĩa là ruộng nước, để phân biệt với 田 là đồng khô; 巭 bu = 功 công + 夫 phu, nghĩa là người lao động.

    Chữ Choang vuông Sawndip của người Tráng ở cực nam Trung Quốc được phát triển dựa trên chữ Hán và thường được so sánh với chữ Nôm của dân tộc Kinh ở Việt Nam do có nhiều điểm tương đồng giữa hai hệ thống chữ viết này.

    Tuy nhiên, ngoài những cách tạo chữ tương tự với cách tạo chữ Nôm là giả tá, hình-thanh và hội ý, còn có những chữ vuông Choang được tạo ra bởi những cách sơ khai hơn là tượng hình và chỉ sự

    Tuy nhiên, cũng nên phân biệt những “chữ nôm” này với những bộ chữ biểu âm như Kana và Hangul trong tiếng Nhật và tiếng Hàn hiện đại.

    Các phần mềm viết chữ Hán Nôm

    Có nhiều phần mềm máy tính tạo ra ký tự chữ Nôm bằng cách gõ chữ Quốc ngữ.

    HanNomIME là phần mềm chạy trên Windows hỗ trợ cả chữ Hán và chữ nôm.

    Vietnamese Keyboard Set hỗ trợ gõ chữ Nôm và chữ Hán trên Mac OS X.

    WinVNKey là bộ gõ đa ngôn ngữ trên Windows hỗ trợ gõ chữ Hán và chữ Nôm bằng âm Quốc ngữ.

    Weasel Hannom là bộ gõ của Ủy ban phục sinh Hán Nôm được xây dựng trên cơ sở bộ gõ Weasel.

    Phông chữ Nôm nằm trong cơ sở dữ liệu Unihan. VietUnicode là phông Unicode chứa các ký tự chữ Nôm. Nó là một dự án trên SourceForge. Phông TrueType có thể tải về từ.

    Một số từ điển chữ Nôm trên mạng Internet có Từ điển ở Viện Việt học (tiếng Việt) Nom character index (Tiếng Anh).

    Trích nguồn: vi.wikipedia.org

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Lễ Chạp Mộ Mời Gia Tiên Về Ăn Tết
  • Văn Khấn Tảo Mộ Tết Thanh Minh Tại Nhà Và Tại Mộ Đầy Đủ Nhất
  • Bài Văn Khấn Tết Thanh Minh Năm 2022 Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng Tết Thanh Minh Theo ‘văn Khấn Cổ Truyền’
  • Văn Khấn Tổ Tiên Trong Nhà Rằm Tháng Bảy( Tết Trung Nguyên)
  • Sự Khác Nhau Giữa Bài Vấn Khấn Bằng Chữ Hán Và Chữ Nôm

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bài Văn Khấn Văn Phòng Theo Tục Lệ Người Việt Nam
  • Văn Khấn Lễ Ban Tam Bảo
  • Văn Khấn Mùng Một Tết Chuẩn Nhất Cả Ngoài Trời Lẫn Gia Tiên
  • Văn Khấn Cúng Giao Thừa Trong Nhà Và Ngoài Trời Năm Kỷ Hợi 2022
  • Bài Văn Khấn Cúng Giao Thừa Trong Nhà Năm Kỷ Hợi 2022
  • Cúng giỗ được chia thành dịp trong năm, có thể là giỗ thường, giỗ gia tiên … Nhiều người cúng gia tiên bằng bài văn khấn chữ Hán, nhiều người lại cúng bằng chữ Nôm. Vì thế nên có các bài văn khấn khác nhau. Cùng tìm hiểu sự khác nhau giữa bài vấn khấn bằng chữ Hán và chữ Nôm

    Các bài cúng giỗ trong năm

    Bài văn cúng giỗ đầu : Hay còn được gọi là giỗ tiểu tường. Là ngày giỗ năm đầu tiên của người đã khuất. Vì thế ngày giỗ đầu thường được làm rất chu đáo, trang nghiêm và thường bi ai.

    Cúng ngày giỗ thường : Hay còn được gọi tên là Cát Kỵ là ngày giỗ của người đã mất hàng năm được tính từ năm thứ 3 trở đi. Thông thường chỉ làm giỗ trong thời gian là 5 năm sau đó thì gửi vào nhà thờ họ để thờ chung vào những dịp lễ tết và rằm tháng giêng.

    Văn khấn gia tiên ngày giỗ bằng chữ Nôm

    Con lạy chín phương trơi, mười phương trư phật, trư phật mười phương

    Con lạy Hoàng Thiên hậu Thổ chư vị Tôn Thần

    Con lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân

    Con lạy các ngài Thần linh, Thổ đia cai quản đất này.

    Hôm nay là ngày tháng năm (âm lịch)

    Ngày trước giỗ tiên thường của:

    Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả đốt nén tâm hương, trước án tọa Tôn thần cùng các trư vị uy linh, kính cẩn tâu trình.

    Chúng con mời các vị Bản gia Thổ công, Táo quan, Long Mạch và các Thần Linh thiêng hiển hiện trước án, chứng giám cho tấm lòng thành thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang vạn thái, vạn sự tốt lành.

    Kính thỉnh các tiên linh, gia tiên chugns con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng cùng về âm hưởng.

    Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì.

    Văn cúng giỗ bằng âm hán như thế nào

    Để hiểu hơn về văn cúng giỗ bằng âm hán bạn có thể tìm hiểu bài khấn mẫu sau đây.

    Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

    Đệ … Thập … Niên, tuế thứ … nguyệt … nhật … tỉnh … huyện … xã … phường … thôn…

    Trưởng nam: … Cùng thừa mẫu mệnh hiệp dữ chư thúc, dữ dồng bào đệ, tỷ, muội, nội, ngoại tử, tôn hôn, tề đẳng toàn gia kính bái.

    Cần dĩ: … chi nghi, cung trấn bạc tề

    Hiển: … tôn linh vi tiền, cảm kiền cáo vu

    Kính kỵ: .. liệt vị chư tiên linh, cập phụ vị, thương vong đẳng lòng tự, đồng lai hâm hưởng.

    Kính cáo: Bản gia đông trù mệnh Táo phủ thần quân, bản gia tiên thánh, tiên sư, bản viên thổ công, bản đường ngũ tự gia thần, mặc thùy chiều giám, đồng lai giám cánh, tích chi hanh cát.

    Bài văn khấn bằng chữ Nôm được nhiều người sử dụng do dễ đọc, dễ khấn còn đối với bài văn khấn bằng chữ Hán dành riêng cho những người thầy cúng. Hi vọng qua bài viết này các bạn đã hiểu được sự khác nhau giữa bài vấn khấn chứ Hán và chữ Nôm. Cảm ơn các bạn đã theo dõi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Chuẩn Nhất Lễ Chạp Mộ Cuối Năm Mời Gia Tiên Về Ăn Tết
  • Cầu Cho Quốc Thái Dân An
  • Mâm Cúng Tất Niên Cần Những Gì? Cúng Ngày Nào Đẹp [ Vượng Phú…]
  • Bài Văn Khấn Ban Công Đồng Đầy Đủ Nhất
  • Sự Tích Đền Cô Chí Mìu Bắc Giang
  • Xưng Hô Theo Lối Hán Việt Cổ Ngữ – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cúng Tổ Ngành Sân Khấu
  • Hướng Đến Ngày Giỗ Tổ Ngành May
  • Cách Cúng 100 Ngày Cho Người Mất Đúng Phong Tục Tín Ngưỡng
  • Nghi Thức Cúng Bái Tổ Tiên
  • Tục Thờ Cúng Gia Tiên Của Người Việt Trong Ngày Tết
  • Việt Lạc xin liệt kê các cách xưng hô theo lối Hán Việt cổ ngữ để quý thầy tham khảo

    Chúng tôi mạn phép tổng hợp các cách xưng hô theo lối Hán Việt cổ ngữ từ các bài viết trên mạng internet, tạo thành 1 bảng cho dễ tra cứu. Mong sẽ giúp ích được cho bạn đọc.

    Bảng tổng hợp các cách xưng hô theo lối Hán Việt

    Ông Sơ

    Cao Tổ Phụ

    高祖父

    Bà Sơ

    Cao Tổ Mẫu

    高祖母

    Chít

    Huyền Tôn

    玄孫

    Ông Cố

    Tằng Tổ Phụ

    曾祖父

    Bà Cố

    Tằng Tổ Mẫu

    曾祖母

    Chắt

    Tằng Tôn

    曾孫

    Ông Nội

    Nội Tổ Phụ

    內祖父

    Bà Nội

    Nội Tổ Mẫu

    內祖母

    Cháu Nội

    Nội Tôn

    內孫

    Ông Nội Đã Mất

    Nội Tổ Khảo

    內祖考

    Bà Nội Đã Mất

    Nội Tổ Tỷ

    內祖妣

    Cháu

    Nội Tôn

    內孫

    Cháu Nối Dòng

    Đích Tôn

    嫡孫

    Ông Ngoại

    Ngoại Tổ Phụ

    外祖父

    Bà Ngoại

    Ngoại Tổ Mẫu

    外祖母

    Ông Ngoại

    Ngoại Công

    外公

    Bà Ngoại

    Ngoại Bà

    外婆

    Ông Ngoại Đã Mất

    Ngoại Tổ Khảo

    外祖考

    Bà Ngoại Đã Mất

    Ngoại Tổ Tỷ

    外祖妣

    Cháu Ngoại

    Ngoại Tôn

    外孫

    Ông Nội Vợ

    Nhạc Tổ Phụ

    岳祖父

    Bà Nội Vợ

    Nhạc Tổ Mẫu

    岳祖母

    Ông Nội Vợ Đã Mất

    Nhạc Tổ Khảo

    岳祖考

    Bà Nội Vợ Đã Mất

    Nhạc Tổ Tỷ

    岳祖妣

    Cháu Nội Rể

    Tôn Nữ Tế

    孫女婿

    Cha Đã Mất

    Hiển Khảo

    顯考

    Mẹ Đã Mất

    Hiển Tỷ

    顯妣

    Con Trai Mất Cha

    Cô Tử

    孤子

    Con Gái Mất Cha

    Cô Nữ

    孤女

    Con Trai Mất Mẹ

    Ai Tử

    哀子

    Con Gái Mất Mẹ

    Ai Nữ

    哀女

    Con Trai Mất Cả Cha Và Mẹ

    Cô Ai Tử

    孤哀子

    Con Gái Mất Cả Cha Và Mẹ

    Cô Ai Nữ

    孤哀女

    Cha Ruột

    Thân Phụ

    親父

    Cha Ghẻ

    Kế Phụ

    繼父

    Cha Nuôi

    Dưỡng Phụ

    養父

    Cha Đỡ Đầu

    Nghĩa Phụ

    義父

    Con Trai Lớn (Con Cả)

    Trưởng Tử

    長子

    Con Trai Lớn

    Trưởng Nam

    長男

    Con Trai Thứ Hai (Con Kế)

    Thứ Nam

    次男

    Con Trai Thứ Hai (Con Kế)

    Thứ Nam

    次女

    Con Trai Út

    Quý Nam

    季男

    Con Trai Út

    Vãn Nam

    晚男

    Con Trai Nói Chung

    Nam Tử

    男子

    Con Gái Lớn (Con Cả)

    Trưởng Nữ

    長女

    Con Gái Út

    Quý Nữ

    季女

    Con Gái Út

    Vãn Nữ

    晚女

    Con Gái Nói Chung

    Nữ Tử

    女子

    Mẹ Ruột

    Sinh Mẫu

    生母

    Mẹ Ruột

    Từ Mẫu

    慈母

    Mẹ Ghẻ

    Kế Mẫu

    繼母

    Con Của Bà Vợ Nhỏ Gọi Bà Vợ Lớn Của Cha Là

    Đích Mẫu

    嫡母

    Mẹ Nuôi

    Dưỡng Mẫu

    養母

    Mẹ Có Chồng Khác

    Giá Mẫu

    嫁母

    Má Nhỏ (Tức Vợ Bé Của Cha)

    Thứ Mẫu

    次母

    Mẹ Bị Cha Từ Bỏ

    Xuất Mẫu

    出母

    Bà Vú Nuôi

    Nhũ Mẫu

    乳母

    Chú Vợ

    Thúc Nhạc

    叔岳

    Bác Vợ

    Bá Nhạc

    伯岳

    Cháu Rể

    Điệt Nữ Tế

    侄女婿

    Chú Ruột

    Thúc Phụ

    叔父

    Vợ Của Chú

    Thím = Thẩm

    Bác Ruột

    Bá Phụ

    伯父

    Cháu Của Chú Và Bác Tự Xưng Là

    Nội Điệt

    內姪

    Cha Chồng

    Chương Phụ

    嫜父

    Dâu Lớn

    Trưởng Tức

    長媳

    Dâu Thứ

    Thứ Tức

    次媳

    Dâu Út

    Quý Tức

    季媳

    Dâu Nói Chung

    Hôn Tử

    婚子

    Cha Vợ (Sống)

    Nhạc Phụ

    岳父

    Cha Vợ (Chết)

    Ngoại Khảo

    外考

    Mẹ Vợ (Sống)

    Nhạc Mẫu

    岳母

    Mẹ Vợ (Chết)

    Ngoại Tỷ

    外妣

    Rể

    Tế

    婿

    Chị, Em Gái Của Cha Ta Kêu Bằng Cô

    Thân Cô

    親姑

    Ta Tự Xưng Là

    Nội Điệt

    內姪

    Chồng Của Cô

    Cô Trượng

    姑丈

    Chồng Của Cô

    Tôn Trượng

    尊丈

    Chồng Của Dì

    Di Trượng

    姨丈

    Chồng Của Dì

    Biểu Trượng

    表丈

    Cậu

    Cựu Phụ

    舅父

    Mợ

    Cựu Mẫu

    舅母

    Mợ

    Cấm

    Ta Tự Xưng Là

    Sanh Tôn

    甥孫

    Cậu Vợ

    Cựu Nhạc

    舅岳

    Cháu Rể

    Sanh Tế

    甥婿

    Vợ

    Chuyết Kinh

    拙荊

    Vợ Chết Rồi

    Tẩn

    Ta Tự Xưng Là

    Lương Phu

    良夫

    Vợ Bé

    Thứ Thê

    次妻

    Vợ Bé

    Trắc Thất

    測室

    Vợ Lớn

    Chánh Thất

    正室

    Vợ Sau

    Kế Thất

    繼室

    Anh Ruột

    Bào Huynh

    胞兄

    Em Trai

    Bào Đệ

    胞弟

    Em Trai

    Xá Đệ

    舍弟

    Em Gái

    Bào Muội

    胞 妹

    Em Gái

    Xá Muội

    舍 妹

    Chị Ruột

    Bào Tỷ

    胞 姊

    Anh Rể

    Tỷ Trượng

    姊 丈

    Anh Rể

    Tỷ Phu

    姊夫

    Em Rể

    Muội Trượng

    妹丈

    Em Rể

    Muội Phu

    妹 夫

    Em Rể

    Khâm Đệ

    襟弟

    Chị Dâu

    Tợ Phụ

    似婦

    Chị Dâu

    Tẩu

    Chị Dâu

    Tẩu Tử

    嫂 子

    Em Dâu

    Đệ Phụ

    弟 婦

    Em Dâu

    Đệ Tức

    弟媳

    Chị Chồng

    Đại Cô

    大 姑

    Em Gái Của Chồng

    Tiểu Cô

    小姑

    Anh Chồng

    Phu Huynh

    夫兄

    Anh Chồng

    Đại Bá

    大伯

    Em Trai Của Chồng

    Phu Đệ

    夫弟

    Em Trai Của Chồng

    Tiểu Thúc

    小叔

    Chị Vợ

    Đại Di

    大姨

    Em Vợ (Gái)

    Tiểu Di Tử

    小姨 子

    Em Vợ (Gái)

    Thê Muội

    妻妹

    Anh Vợ

    Thê Huynh

    妻兄

    Anh Vợ

    Đại Cựu

    大舅

    Anh Vợ

    Ngoại Huynh

    外兄

    Em Vợ (Trai)

    Ngoại Đệ

    外弟

    Em Vợ (Trai)

    Thê Đệ

    妻弟

    Em Vợ (Trai)

    Tiểu Cựu Tử

    小舅子

    Con Gái Đã Có Chồng

    Giá Nữ

    嫁女

    Con Gái Chưa Có Chồng

    Sương Nữ

    孀女

    Cha Ghẻ (Con Tự Xưng)

    Chấp Tử

    執子

    Tớ Trai

    Nghĩa Bộc

    義僕

    Tớ Gái

    Nghĩa Nô

    義奴

    Cha Chết Trước, Rồi Đến Ông Nội Chết. Tôn Con Của Trưởng Tử Đứng Để Tang, Gọi Là

    Đích Tôn Thừa Trọng

    嫡孫承重

    Cha Chết Chưa Chôn

    Cố Phụ

    故父

    Mẹ Chết Chưa Chôn

    Cố Mẫu

    故母

    Cha Chết Đã Chôn

    Hiển Khảo

     顯 考

    Mẹ Chết Đã Chôn

    Hiển Tỷ

    顯 妣

    Mới Chết

    Tử

    Đã Chôn Hay Hỏa Táng

    Vong

    Anh Ruột Của Cha

    Đường Bá

    堂伯

    Mình Tự Xưng Là

    Đường Tôn

    堂孫

    Em Trai Của Cha

    Đường Thúc

    堂叔

    Chị Và Em Gái Của Cha

    Đường Cô

    堂 姑

    Anh Em Bạn Với Cha Mình

    Niên Bá

    年伯

    Anh Em Bạn Với Cha Mình

    Quý Thúc

    季叔

    Anh Em Bạn Với Cha Mình

    Lệnh Cô

    令姑

    Mình Tự Xưng Là

    Thiểm Điệt

    忝姪

    Mình Tự Xưng Là

    Lịnh Điệt

    令姪

    Bác Của Cha Mình

    Tổ Bá

    祖伯

    Chú Của Cha Mình

    Tổ Thúc

    祖叔

    Cô Của Cha Mình

    Tổ Cô

    祖姑

    Con Cháu Thì Tự Xưng Là

    Vân Tôn

    云孫

    Gia Tiên Bên Nội

    Nội Gia Tiên

    內家先

    Gia Tiên Bên Ngoại

    Ngoại Gia Tiên

    外家先

    Con Thừa Lệnh Mẹ Đứng Ra Cúng Cho Cha

    Cung Thừa Mẫu Mệnh

    恭承母命

    Con Thừa Lệnh Cha Đứng Ra Cúng Cho Mẹ

    Cung Thừa Phụ Mệnh

    恭承父命

    Ngoài ra cần nhấn mạnh một số quy tắc để xưng hô giữa các đời như sau:

    Danh xưng khi sống

    Danh xưng khi đã mất

    Cha

    Hiển khảo (đã mai táng rồi)Cố phụ (khi còn trên đất, chưa chôn)

    Mẹ

    Hiển tỷ (đã chôn rồi)Cố mẫu (chưa mai táng)

    Ông nội (đời thứ 3)

    Hiển tổ khảo

    Bà nội

    Hiển tổ tỷ

    Ông cố (đời thứ 4)

    Hiển tằng tổ khảo

    Bà cố

    Hiển tằng tổ tỷ

    Ông cao (đời thứ 5)

    Hiển cao tổ khảo

    Bà cao

    Hiển cao tổ tỷ

    Từ đây trở lên, mỗi đời thêm một chữ “cao” và chỉ thêm tố đa là 2 chữ nữa mà thôi. Nếu trên 3 chữ cao thì chỉ dùng thêm một chữ “thượng” nữa.Ví dụ: Thượng cao cao cao tổ khảo.

    Con

    Hiển thệ tử (con trai)Hiển thệ nữ (con gái)

    Cháu nội (3 đời)

    Hiển đích tôn (cháu nội trưởng)Hiển nội tôn (cháu nội thứ)

    Cháu cố (4 đời)

    Hiển tằng tônCháu cao (5 đời) Hiển huyền tôn

    Cách xưng hô của người đứng cúng

    Trường hợp

    Xưng hô

    Cha chết

    Con trai xưng: Cô tử (chưa chôn)Con gái xưng: Cô nữ

    Mẹ chết

    Con trai xưng: Ai tửCon gái xưng: Ai nữ

    Cha, mẹ đều chết (một người đã chết trước, nay thêm một người nữa)

    Con trai xưng: Cô ai tửCon gái xưng: Cô ai nữCon gái đã có chồng: Giá nữ

    Cha,mẹ chết chôn cất xong xuôi , từ đây về sau

    Con trai xưng: Hiếu tử hay Thân tửCon gái xưng: Hiếu nữ hay Thân nữRể xưng: Nghĩa tếDâu xưng: Hôn

    Cháu nội trưởng (cha chết trước ông bà): Ðích tôn thừa trọng

    Cháu nội trưởng (cha chưa chết): Ðích tôn

    Cháu nội : Nội tôn

    Cháu gọi bằng cố (4 đời) : Tằng tôn

    Cháu gọi bằng cao (5 đời)  : Huyền tôn

    Cháu 6 đời: Lai tôn

    Cháu 7 đời: Côn tôn

    Cháu 8 đời: Nhưng tôn

    Cháu 9 đời: Vân tôn

    Cháu 10 đời: Nhĩ tôn

    Dòng trực hệ, cháu gọi là tôn, sau đời thứ 10 đều gọi là Tự tôn.

    Vợ của cháu thêm chữ hôn sau chữ tôn; ví dụ: vợ của cháu nội là nội tôn hôn

    Cháu gái thêm chữ nữ sau chữ tôn; ví dụ: cháu nội gái là nội tôn nữ.

    Chồng của cháu gái thêm chữ tế sau chữ tôn; ví dụ: chồng của cháu nội gái là nội tôn tế.

    Dòng bàng hệ, hậu duệ tôn, cháu gọi là Ðiệt.

    Cũng có ý cho rằng nên xưng hô thế này

    • Khảo, tỷ : Cha Mẹ
    • Tổ khảo, tổ tỷ : Ông Bà
    • Tằng tổ khảo, tỷ: Cụ Đời thứ 3
    • Cao tổ khảo, tỷ: Kỵ, Đời thứ 4
    • Thiên tổ khảo, tỷ: Đời thứ 5
    • Liệt tổ khảo, tỷ: Đời thứ 6
    • Thái tổ khảo, tỷ: Đời thứ 7
    • Viễn tổ khảo, tỷ: Đời thứ 8
    • Tỳ tổ khảo, tỷ: Đời thứ 9
    • Thời phong kiến, nhà vua thờ tổ tiên chín đời đến Tỳ Tổ. Còn quan lại và bình dân thờ bảy đời đến Thái Tổ.

    Các cách xưng hô theo lối Hán Việt cổ ngữ trên có thể áp dụng trong các văn sớ, điệp… khi liệt kê tử tôn gia quyến hoặc liệt kê vong linh phụ tiến trong lòng sớ hoặc xưng hô khi đứng cúng, rất mong bài này sẽ giúp ích ít nhiều cho quý vị.

    Mong được sự tham khảo và góp ý từ quý thầy, quý đồng đạo xa gần.

    Ngoài ra, để hỗ trợ công việc sớ sách được nhanh chóng, chính xác và thẩm mỹ hơn, quý bạn hữu có thể tham khảo phần mềm viết sớ tự động Việt Lạc Sớ do công ty Việt Lạc phát triển.

    Mọi chi tiết vui lòng liên hệ: 096.536.2819

    Nguồn tham khảo

    • https://sites.google.com/site/mjnhchan/cach-xung-ho
    • http://www.oocities.org/nghilephatgiao/N09_CachGhiCungVan.htm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Xưng Hô Các Chức Danh Trong Khấn Vái Theo Hán Việt
  • Bật Mí Cách Làm Thịt Gà Cúng Nhanh Mà Đẹp
  • Cách Viết Sớ Đi Lễ
  • Tin Tức, Giải Trí, Kinh Tế, Xã Hội
  • 16 Món Ngon Ngày Giỗ Miền Bắc
  • Bài Văn Khấn Ông Công Ông Táo Bằng Tiếng Việt, Chữ Nôm Và Tiếng Hán

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Ông Táo Hàng Ngày
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Nhà Chuẩn Bộ Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Lễ Cúng Ông Công Ông Táo Về Chầu Trời
  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Cầu Duyên, Văn Cúng Ông Tơ, Bà Nguyệt Cầu Duyên
  • Văn Khấn Tết Nguyên Đán
  • H.T (Tổng hợp)

    Hôm nay là ngày 23 tháng Chạp – ngày các Táo về trời. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo những bài văn khấn ông Công ông Táo phổ biến nhất bằng tiếng Việt, chữ Nôm và tiếng Hán.

    Theo lệ, ngày 23 tháng Chạp, các gia đình Việt Nam sẽ sắm sửa lễ vật, bày biện ban thờ, cúng tiễn ông Công ông Táo chầu trời. Xin giới thiệu ba bài văn khấn ông Công ông Táo phổ biến nhất bằng chữ Hán, chữ Nôm và tiếng Việt để bạn đọc tham khảo.

    Văn khấn ông Công ông Táo bằng chữ Nho (chữ Tàu)

    Nam Quốc….. ……………………………………….

    *Tỉnh….. …………………………………………….

    *Thị….. ………………………………………..

    *Địa danh.Phường,Xã,Thôn ………………………..

    *Đệ tử……………..Tên…………………

    Hôm nay ngày ……Tại ………

    Tấu thỉnh Thổ Công táo quân thiên đình, tam giới, thần thánh chư thiên.

    Thiên phủ, địa phủ, thủy phủ. Nhạc phủ vạn pháp thần thông. Tấu thỉnh Thổ Địa thần kỳ, Thành Hoàng xá lệnh. Cung duy Thổ Công Táo Quân thiên đình.

    Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân. Thổ Gia Thổ Trạch Tứ Phương Ứng Giáng.

    Thỉnh Môn Thần, Phúc Sự. Thỉnh Tĩnh Thần Thanh Thủy. Thỉnh Hỏa Thần Thượng thiên

    Thỉnh Bếp Thần Linh Hỏa. Thỉnh Vua Bếp Tam Tài. Thỉnh Xí Thần. Thỉnh Khố Cung Thần trông nom trông gia nhân. Thỉnh Ngũ Phương Ngũ Đế.

    Hỏa hóa ngân lưỡng tống táo vương. Thượng thiên hảo sự quảng tuyên dương. Phụng đạo tụng kinh

    Kì thao thanh bình đệ tử…… Phàm cư đại trung hoa…tỉnh…thị…hiệu. Kim nhật kiền thành. Dĩ hương chúc thanh sái chi nghi kính cáo

    Cửu thiên trù phủ tôn thần chi vị tiền viết duy:

    Thần linh thông thiên phủ. Trạch phái nhân hoàn. Công sùng viêm đế. Đức bị dưỡng quần sinh.

    Đệ tử mỗi niên tứ quý. Ngưỡng lại tôn thần bảo hữu. Nhật thực tam xan. Toàn cảm đại đức khuông phù.

    Thánh đức quảng bác. Thốn tâm nan báo. Nhật thường chi gian. Ngôn hoặc phi lễ. Hành hoặc phi nghi. Trù tạo chi tế. Hoặc phần mao cốt. Hoặc đôi uế ô.

    Bất tri cấm kị. Mạo phạm táo quân đại vương. Hàng tai trí họa. Dĩ trí gia trạch bất an.

    Kinh doanh bất thông. Nhân đinh bất vượng. Sinh súc bất lợi. Thường sinh tật bệnh chi tai.

    Đệ tử hạp gia kiền niệm. Bặc kim đại cát lương thần.

    Phụng tụng táo vương phủ quân chân kinh nhất quyển

    Bổ tạ linh văn nhất hàm.

    Thành khẩn lễ bái.

    Thượng phụng

    Cửu thiên nhạc trù tư mệnh

    Thái ất nguyên hoàng định phúc . Phụng thiện thiên tôn vị tiền. Phục nguyện đại thi xá hựu.Vĩnh tăng phúc lộc. Phùng hung hóa cát. Phổ ước an ổn. Thánh từ động hồi. Chiêu cách văn sơ

    Thiên vận…niên….nguyệt….nhật.

    Văn cúng ông Táo bằng tiếng Việt

    Nam mô a di đà Phật!

    Nam mô a di đà Phật!

    Nam mô a di đà Phật!

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

    Con kính lạy Ngài đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

    Tín chủ (chúng) con là: ……………

    Ngụ tại:…………

    Hôm nay, ngày 23 tháng chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái.

    Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật.

    Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm. Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai giá, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành.

    Chúng con lễ bạn tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì.

    Nam mô a di đà Phật!

    Nam mô a di đà Phật!

    Nam mô a di đà Phật!

    Bài khấn nôm cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp

    Hôm nay là ngày… tháng… năm…

    Tên tôi (hoặc con là)…, cùng toàn gia ở…

    Kính lạy đức “Đông Trù tư mệnh Táo phủ Thần Quân:

    (Có thể khấn thêm: Thổ địa Long Mạch Tôn Thần. Ngũ phương ngũ thổ Phúc Đức chính Thần)

    Hàng năm gặp tiết hết năm, tháng vừa cuối Chạp. Gia đình sửa lễ bạc dâng lên. Cảm tạ phúc dày nhờ Thần phù hộ. Kính mong thần tâu bẩm giúp cho:

    Bếp trong nếp sống rất hòa, ngoài mặt dám rằng cũng đẹp. Cảm thông xin tấu thực thà. Cầu mong giúp đỡ lợi lạc. Người người lo ấm, cả nhà thêm tiếng tốt lẫy lừng. Việc việc thành công, một cửa ngút khí lành man mác. Muôn trông ơn đức vô cùng.

    Cẩn cốc (vái 4 vái)

    Xin giới thiệu cách chuẩn bị mâm cỗ cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp đơn giản mà đầy đủ nhất để bạn đọc tham khảo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Ông Hoàng Bảy
  • Bài Văn Khấn Ông Địa Thần Tài Nhân Ngày Khai Trương Trọng Đại
  • Bài Văn Khấn Ông Công Ông Táo Như Thế Nào
  • Văn Khấn Ông Công Ông Táo 23 Tháng Chạp Âm Lịch
  • Văn Khấn Đền Ông Hoàng Bảy Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Sớ Cúng Phật Sám Hối – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Ngoài Trời – Cập Nhật Những Bài Văn Khấn Ngoài Trời
  • Cách Khấn Phật Đơn Giản Và Hiệu Quả – Hương Nhang Sạch Thảo Mộc Cao Cấp Lư Đồng
  • Tục Thờ Năm Ông Của Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương Và Tứ Ân Hiếu Nghĩa
  • Ngũ Công Vương Phật .đức Thánh Trần Trong Tranh Thờ Dân Gian 25X32Cm
  • Cách Xin Số Đề Nhị Ca Phong Đánh Đâu Thắng Đó
  • Cúng phật sám hối nghĩa là để tạ lỗi, chuộc lỗi hay rửa tội khi mình làm sai với người khác, phạm tội với triều đình, có lỗi với ông (bà), cha (mẹ), dòng họ làng nước.

    Mẫu lòng sớ:

    Phục dĩ

    Đại tạo nguy nguy đản bố hảo sinh chi đức tiêu tâm dực dực cung trần bộc bạch chi hoài phủ lịch thành ngưỡng can

    Viên hữu:………………………………

    Thượng phụng

    Phật thánh hiến cúng…thiên kỳ an giải hạn tập phúc nghênh tường nguyện cầu bản mệnh bình an gia môn hưng vượng sự

    Kim thần

    Tín chủ:………………………………………………….

    Đại giác phủ giám phàm tâm ngôn niệm thần đẳng sinh cư trung giới mệnh chúc

    Thượng thiên hà kiền khôn phúc tái chi ân cảm tam quang chiếu lâm chi đức tư phùng tiết lễ đảo kỳ an ách vận gia lâm

    Ký lại khuông phù chi lực hung tinh sở chiếu cung kỳ bảo hữu chi công kiền thân kỳ đảo kích thiết đan thành sám khiên

    Hối quá phù mệnh vị dĩ an ninh giải hạn trừ tai bảo đồng gia nhi cát khánh cẩn thủ kim nguyệt cát nhật thỉnh mệnh

    Thiện tăng tựu vu tịnh xử tu thiết kỳ an pháp đàn nhất diên nhi tán kim tắc án đăng bạc cúng kệ chấn triêu âm

    Hội phạm hành chi thiện hòa chuyển cát tường chi kinh chú cẩn tương chử sớ bái khải

    Cung duy

    Nam mô thập phương vô lượng thường trụ tam bảo nhất thiết chư vị bồ tát

    Nam mô đại từ đại bi linh cảm ngũ bách danh quan thế âm bồ tát

    Tam giới thiên chủ tứ phủ vạn linh công đồng đại đế

    Phục nguyện

    Phật đức thùy từ hoàng thiên tích phúc bảo thần đẳng thân cung khang thái mệnh vị duyên trường tòng tư vô bán điểm chi ngu tự thử

    Nạp thiên tường chi khánh cầu chi quả toại ngưỡng tích như ngôn đãng thần hạ tình vô nhâm kích thiết bình doanh chi chí

    Thiên vạn…niên…nguyệt …nhật thần khấu thủ bách bái thượng sớ

    Ý nghĩa:

    • Sám hối những giới đã phạm:

    Nếu tội lỗi mà có hình tướng thì dẫu cả hư không vô tận kia cũng không chứa hết tội lỗi của chúng sanh đã tạo tác từ vô thủy đến nay. Đúng vậy, chúng ta đã từ vô lượng kiếp trôi lăn, tội lỗi chất chồng, lớp này lớp kia, truyền nối nhiều đời thật không kể xiết được.

    Vừa lọt lòng mẹ, chúng ta đã mang sẵn nhiều chủng nghiệp khác nhau, tạo nên những cá tính khác nhau. Ai ai cũng chứa đầy những giống loại tâm lý, tính tình, khả năng, thói quen, ác tật phức tạp. Những tham, sân, mạn, tật đố, hiềm hận, bạc ơn, phản phúc, bỏn xẻn…đã có đầy đủ ở trong mỗi chúng ta. Các hạt giống này đã có sẵn, do duyên sanh, hiện hành… làm nhân, làm quả tương tục, liên miên, bất tận. Tất cả những“tiền khiên tội lỗi” ấy, chúng đã đâm chân mọc rễ nhiều đời, mọi phương cách sám hối đều không thể rửa sạch. Chỉ có tu tuệ quán mới có thể bứng nhổ được một phần nào. Và cũng có thể, có một số chúng tử xấu ác trong vô thức, chúng ta không tạo nhân tham sân để cho nó duyên khởi, như ngũ cốc để trong kho lâu ngày thì mầm giống sẽ tự tiêu hoại.

    Tuy nhiên, những tội lỗi chúng ta làm trong hiện tại, sau khi sám hối, nguyện ăn năn chừa bỏ, chúng ta sẽ thấy thân tâm thư thái, nhẹ nhàng, sẽ không còn bị ám ảnh về tội lỗi nữa. Thoát khỏi ám ảnh tội lỗi là ý nghĩa rất quan trọng, rất có lợi ích do nhờ sám hối đúng đắn mang lại.

    • Nguyện từ nay về sau xin chừa bỏ:

    Khi đã xin từ bỏ thì sẽ không còn dám tái phạm, từ nay về sau cố gắng sống cho tốt hơn, cố gắng phát triển những hạnh lành, những đức tính thanh cao.

    Quả vậy, nếu xấu ác là quá nhiều như hư không vô tận không thể chứa hết thì những hạnh lành, những đức tính tốt đẹp, cao cả ở trong tâm chúng ta có được từ “vô thỉ dĩ lai”  cũng nhiều đến vô biên vô lượng. Những đức tính ấy, những thiện pháp thanh lương và cao sáng ấy ví dụ như: Chân thật, nhẫn nại, từ ái, đức tin, tấn, niệm, vô tham, vô sân, tàm, quý…

    Ý nghĩa sám hối không chỉ đơn thuần là chừa bỏ ác xấu mà còn phát triển những hạnh lành nữa vậy. Phải làm cho những cái xấu ác không có cơ hội nẩy nở, tăng trưởng; mà chúng ta phải tạo duyên, điều kiện tốt cho những mầm giống thiện nẩy sinh, đâm chồi, ra hoa, kết trái nữa.

    Nhờ sám hối, con người có thể cải hóa được những cái xấu ác trong lòng mình, có thể được an vui, thanh thản do si mê đã lỡ tạo tác ác nghiệp, phạm giới trong quá khứ. Ngoài ra, ta còn có cơ hội phát triển những đức tính tốt đem lại hạnh phúc cho mình và người.

    Cách cúng sám hối:

    – Vào những ngày 14 và 30 mỗi tháng, Phật tử đến chùa làm phước, bố thí, xin giới và làm lễ sám hối, nghe pháp… Dịp này, Phật tử tụng kinh Tam Bảo, đối trước điện Phật hoặc đối trước Tăng đọc lời sám hối hoặc tụng bài kinh sám hối. Họ cũng thường xin chư Tăng truyền thọ lại Ngũ giới hoặc Bát quan trai giới. Xin thọ trì giới trở lại, có thể bất cứ lúc nào, trong các lễ trai tăng, cúng dường, nghe pháp hoặc các lễ chúc phúc an lành…

    Nếu không đến chùa được thì Phật tử có thể sám hối và xin giới ngay bàn thờ Phật ở trong nhà rồi nguyện thọ trì giới cho được trong sạch từ nay về sau.

    – Với hàng xuất gia thì có 227 điều luật, tùy theo nặng nhẹ mà trục xuất, cấm phòng hay sám hối. Những giới có thể sám hối được đều tương tợ nhau, nghĩa là vị tỳ-khưu phạm giới trình giới tội của mình với vị tỳ-khưu cao hạ. Và sự đối đáp xẩy ra như nhau: Hiền giả đã “thấy rõ tội” chưa? Vị phạm giới đáp: Thưa vâng, bạch tôn giả, con “đã thấy rõ tội” rồi! Sau đó vị sư cao hạ khuyên pháp đệ của mình cố gắng giữ giới cho trong sạch.

    Cách thức sám hối này rất trong sáng, không mang màu sắc tín ngưỡng, mà trái lại; tỏ lộ tình cảm đạo lý, giúp người phạm giới sau khi “thấy tội” của mình rồi, nguyện chừa bỏ để nỗ lực tu tập cho tốt hơn.

                                                                                                                                                              Theo: Kim Dung

                                                                                                                                                               Nguồn: Sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Sám Hối Tại Nhà
  • Phương Pháp Lạy Sám Hối Căn Bản Giúp Giảm Nghiệp, Giữ Gìn Sức Khỏe
  • Nghi Thức Lạy Sám Hối Và Niệm Phật
  • Nghi Thức Lạy Sám Hối
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Nhất Cách Thờ Tượng Phật Bà Quan Âm Trong Nhà
  • Văn Khấn Nôm

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Giỗ Cha Mẹ, Ông Bà Nội Ngoại Như Thế Nào
  • Bài Văn Cúng Khấn Hóa Vàng Mã Chuẩn Nhất Và Cách Sắm Lễ Hóa Vàng
  • Bài Cúng Rằm Và Cách Chuẩn Bị Lễ Vật Cúng Rằm Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Hàng Tháng
  • Bài Văn Khấn Và Lễ Vật Cúng Cô Hồn Hàng Tháng
  • Cúng giỗ – Truyền thống của sự tôn kính, hiếu thảo

    • Cúng giỗ – được coi là nghi lễ vô cùng quan trọng để tưởng nhớ đến thời điểm mà những người thân của mình qua đời của người Việt. Đây được coi là thời điểm, để những người thân trong gia đình, tưởng niệm thương nhớ đến những người đã khuất, cũng như thể hiện lòng hiếu kính đối với Tổ tiên, ông bà.
    • Đối với những gia đình có điều kiện, thì có thể tiến hành tổ chức vô cùng linh đình, mời những người thân, hàng xóm lãng giềng của mình đến dự giỗ. Còn những gia đình không có điều kiện, thì chỉ cần có được mân cơm với đĩa muối, quả trứng, ba nén nhang, 1 đôi nến cũng những món ăn đơn giản dị, cũng đã chứng tỏ được lòng thành kính của mình đối với tổ tiên, ông bà của mình. Lòng thủy chung, thương xót người đã khuất chỉ phụ thuộc vào việc con cháu phải nhớ ngày người mất để làm giỗ, không liên quan đến việc làm giỗ lớn hay nhỏ.

    Những ngày quan trọng trong cúng giỗ

    Trong truyền thống cúng giỗ của người Việt, thì có ba thời điểm cúng quan trọng, mà tất cả gia đình đều phải thực hiện, đó chính là: giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường.

    • Giỗ đầu: Chính là ngày giỗ đầu tiên của những người đã mất cách đó tròn 1 năm, và đang còn trong thời gian để tang và đây là ngày vô cùng đau buồn của gia đinh cũng những người thân của người đã khuất. Trong ngày giỗ này, thường được tổ chức vô cùng long trọng nghiêm trang, con cháu của người mất mặc tang lễ.
    • Giỗ hết: Tức là thời điểm mà người mất đã tròn 2 năm và chưa mãn tang. Thời điểm này chắc chắn vẫn chưa thể giúp những người còn sống nguôi ngoai đi nỗi đau, nên được tổ chức nghiêm trang, và nhiều gia đình con cháu họ vẫn mặc tang lễ.
    • Giỗ thường: là ngày giỗ sau ngày người mất từ ba năm trở đi. Trong lễ giỗ này, con cháu chỉ mặc đồ thường phục, không khóc như ngày đưa ma nữa, không còn cảnh bi ai, sầu thảm, là dịp để con cháu người quá cố sum họp để tưởng nhớ người đã khuất và diện mời khách không còn rộng rãi như 2 giỗ trước.

    Văn khấn, bài cúng

    Bài khấn 1

    Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

    Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

    Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

    Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ…………………………

    Tín chủ (chúng) con là:………………………………Tuổi……………………..

    Ngụ tại:………………………………………………………………………………

    Hôm nay là ngày……………tháng……….năm…………….(Âm lịch).

    Chính ngày Giỗ Đầu của………………………………………………………………

    Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

    Thành khẩn kính mời…………………………………………………………………

    Mất ngày…………. Tháng………………năm…………………(Âm lịch)

    Mộ phần táng tại:……………………………………………………………………..

    Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

    Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

    Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

    Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Bài khấn 2 (văn cúng giỗ bằng âm hán)

    VĂN CÚNG ĐÁM GIỖ KỴ

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    ……….Thành, …………huyện, …………..xã,……………thôn,……………..xứ chi nguyên.

    Tuế thứ……………..niên,………………ngoạt,………………..Nhựt

    Tư nhơn ………………………..cùng toàn gia nam nữ tự tôn tiểu đẳng. Tiết………chánh nhựt kiết thời.

    -Kính lễ kỷ niệm Tằng tổ khảo…………………, thuộc ………… quận.

    -Thành tâm cẩn dụng hương đăng hoa quả thanh chước thứ phẩm chi nghi

    -Cẩn ủy lễ bái tự tôn……………………..cẩn dĩ phỉ nghi

    KÍNH CÁO VU

    -Thiết niệm Hiển Tằng Tằng tổ khảo tỷ ………………. quận chư tôn linh vị tiền.

    -Cung niệm Hiển tằng tổ tỷ ……….quận chánh lễ chư tôn linh vị tiền.

    -Hiển chư tôn linh vị tiền

    -Hiển Hiển khảo tỷ chư tôn linh tọa tiền

    -Hiển Bá Hiển thúc Hiển cô chư tôn linh

    -Phối niệm Ngoại gia Tằng tổ khảo chư tôn linh

    -Cập đường đường bá thúc huynh đệ cô di tỷ muội, Đẳng chư hương hồn đồng lai liệt vị bổn ban.

    CUNG DUY TIÊN TỔ KHẢO TỶ

    -Tánh bẫm từ tường đức dưỡng thuần túy

    – Cây có cội mới thắm chồi xanh lá – Nước có nguồn mới thành bể cả sông sâu – Chữ trung chữ hiếu làm đầu – Con cháu tâm niệm vì đâu có mình – Công cha như núi Thái Sơn – Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra – Toàn gia đẳng nhớ ơn hiếu để – Nay hậu thế thành tâm kính lễ – Cầu cho phước tổ ân triêm – Con cháu hậu thể hưởng thêm suốt đời – Toàn gia nam nữ ghi lời – Nghĩa đời nay an đức đời sau – Nên cung thỉnh tỏ lòng hiếu để – Nay kỷ niệm kính lễ – Nguyện tâm linh xin hưởng phò trì – Giữa án thờ rượu chúc tam tuần – cầu tiên tổ vui miền lạc cảnh.

    Ngưỡng lại Tiên tổ ông bà lưu gia ư huệ phước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cô Chín Đền Sòng Sơn Thanh Hoá
  • Văn Khấn Cô Chín Những Điều Chưa Biết Về Cô Chín
  • Văn Khấn Bàn Thờ Thiên Địa Ngoài Trời
  • Văn Khấn Ngoài Trời Ngày Mùng 1 Hàng Tháng Đầy Đủ Chính Xác Nhất
  • Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà Theo Tập Văn Cúng Gia Tiên
  • 43 Điều Cấm Kỵ Tâm Linh Nên Biết – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm

    --- Bài mới hơn ---

  • Linh Hồn Sau Khi Chết 3 Ngày Sẽ Đi Về Đâu?
  • Phong Tục Tập Quán Đón Tết Dương Lịch Của Các Nước
  • Lên Với Tết Tây Nguyên
  • Tìm Về Xứ Xở Của Những Lọ Mắm Tôm Truyền Thống “chính Hiệu”
  • Bật Mí Cách Nấu Xôi Mặn Của Người Hoa
  • 1. Những ngôi nhà bằng gỗ khi có máu (cả người hay động vật) bám trên thân gỗ thì nên thay đổi, hoặc không nên ngủ gần đó.

    2. Khi đi ngang những con sông, suối, ao, hồ không rõ nguồn gốc tuyệt đối không nên vứt đồ cá nhân mình xuống, nếu vô tình bị rớt mà có thể lấy lại được thì nên lấy lại.

    3. Lúc ngủ ko nên quay chân hoặc quay đầu ra cửa (tư thế dành cho người chết). Tuyệt đối không quay chân vào bàn thờ (bất kính với bề trên).

    4. Trong nhà có người chết vì treo cổ tự tử, thì khi lấy xác xuống, hãy lấy sợi dây đó đốt ngay. Bởi quan niệm của người xưa, đó là “sợi dây oan nghiệt”, nếu không đốt đi thì nó vẫn luẩn quẩn quanh nhà và sẽ có người chết vì tự tử.

    5. Sau khi an táng người chết, trong vòng 1 tháng, ban đêm nếu có ai gọi tên mình thì tuyệt đối không được trả lời, không được mở cửa, không được thưa gởi gì hết.

    6. Nếu đi đám ma, lỡ người quá cố ấy có xinh gái hay đẹp trai thì không được khen.

    7. Người nào có tang (khăn tang) trong người thì không nên tới nhà những người bạn hay người thân vì sẽ “lây” cái tang và đem điều không may đến cho họ.

    8. Khi đi đến qua những nơi vắng vẻ, không ngoái cổ quay đầu nhìn lại phía sau, dù có cảm giác “hình như” có người đang đi theo mình hoặc gọi tên mình.

    9. Khi lên giường ngủ không để mũi dép hướng về phía giường.

    10. Không cắm đũa đứng giữa bát cơm, vì đó là hình thức cúng tế, cũng giống như kiểu thắp hương, dễ dẫn dụ ma quỷ vào nhà ăn chung.

    11. Không chụp ảnh vào ban đêm, bởi người xưa quan niệm rằng ma quỷ luôn lảng vảng chung quanh đó sẽ “vô hình” vào ảnh chung với người sống, đó là điều không tốt.

    13. Không may vá, mua đinh, chải tóc, soi gương vào ban đêm.

    14. Không ăn vụng đồ cúng.

    15. Đi đường nếu gặp tiền lẻ hay những vật dụng cá nhân của người khác không nên lượm lặt dù là mục đích gì. Thông thường một số người đang gặp hạn người ta giải hạn bằng cách vứt bỏ những thứ ấy xem như vứt bỏ cái xui của họ, nếu mình nhận lấy thì sẽ lãnh lại cho họ.

    16. Nếu đi đường khuya vắng không thấy người mà nghe tiếng gọi tên mình thì đừng trả lời.

    17. Đừng bao giờ thề thốt hay hứa hẹn với người đã chết rồi không làm.

    18.  Vào nghĩa trang không nên bình phẩm, chê khen ảnh, tên, bia mộ người đã khuất.

    19. Khi đi dự đám tang về nên hơ người bằng lửa ấm, thay quần áo và hạn chế tiếp xúc với trẻ nhỏ.

    20. Những ai cúng giải hạn hằng năm, nơi làm lễ cúng là những ngã ba, tư đường thì trong vòng một năm không nên đặt chân đi ngang qua nơi đó. Vì thế khi chọn nơi cúng hạn nên chọn những nơi ít thường xuyên lui tới nhất.

    21. Ai đã lầm lỡ phá bỏ thai nhi con mình thì hãy đặt cho bé cái tên và đem lên chùa gửi.

    22. Nếu trước nay chưa cúng cô hồn bao giờ do không có điều kiện thì không cúng luôn, chớ nên cúng rồi lại bỏ.

    23. Đi đường gặp người tai nạn thì không nên bình luận. Nếu không thể giúp đỡ, không phận sự, hãy im lặng.

    24.  Nhà có con nhỏ không nên cho bé đi viếng nghĩa trang hay dự tang lễ.

    25. Đối với phụ nữ, con gái nên hạn chế phơi quần áo ngoài trời vào ban đêm, đặc biệt là đồ nhỏ.

    26. Vào ban đêm tránh soi mình dưới mặt nước.

    27. Đi trên đường trời tối nên tránh đùa giỡn, gọi tên nhau lớn tiếng và nhắc đến ma qủy, nếu không ma quỷ sẽ ghi nhớ tên người được gọi, đó là điềm xấu.

    28. Những vật dụng cá nhân của người đã chết nên chôn theo hoặc đốt bỏ không nên giữ lại để tiếp tục sử dụng.

    29.  Tuyệt đối không nên tắm ở những ao, hồ, sông suối đã có tai nạn chết người.

    30. Khi đang trong quá trình xây dựng nhà cửa, nếu giữa chủ nhà và thợ xây xảy ra xích mích nên lưu ý kẻo bị họ thư ếm vào nhà. Cách giải: kết thúc thi công, ăn trộm 1 món đồ của họ không để họ biết.

    31. Tránh tiếp xúc chơi bùa ngải nếu không hiểu thấu đáo, không nên uống các loại Bùa mà các “Thầy Pháp” cho.

    32. Người không quen thân thì đừng tiết lộ ngày tháng năm sinh, giờ sinh, tên tuổi cho họ biết.

    33.  Nhà có người mất nên đi xem giờ để tránh trúng giờ độc gây ra hiện tượng trùng tang.

    34. Thực hiện làm ăn hay làm những việc mang tính chất đại sự nên xem ngày để tránh nhằm vào ngày Tam Nương.

    35. Khi ăn uống nên hạn chế gõ, khua chén đũa.

    36.  Phụ nữ có thai hạn chế đi ăn cưới, đi dự đám tang.

    37. Không nên hái “lộc” ở những cây cổ thụ um tùm, gần đền, chùa, miếu…

    38. Nên mang theo vài tép tỏi bên mình khi đi đường xa để tránh bị kẻ xấu hại bằng bùa ngải.

    39. Có câu: Chim sa cá luỵ, thế nên gặp những con vật trong hoàn cảnh đó không nên chiếm hữu nó và đem về nhà.

    40.  Buổi tối không chơi năm mười (hay còn gọi là cút bắt).

    41. Không treo chuông gió ở đầu giường vì tiếng chuông sẽ thu hút sự chú ý của ma quỷ, khi ngủ sẽ dễ bị chúng xâm nhập quấy phá.

    42.  Không hù dọa người khác khiến họ giật mình “hồn bay phách lạc” dễ bị ma quỷ xâm nhập.

    43. Cây đa, góc tối là nơi hội tụ âm khí nên kiêng kỵ ngồi hoặc trốn… ở đó

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hạn Chế Quyền Ly Hôn Đối Với Người Chồng
  • Giải Pháp Nào Hạn Chế Ly Hôn?
  • Những Giải Pháp Xã Hội Cho Tình Trạng Ly Hôn Ngày Càng Tăng
  • Nguyên Nhân, Giải Pháp Khắc Phục
  • Thực Hiện Hiệu Quả Các Giải Pháp Kiềm Chế Tai Nạn Giao Thông
  • Sớ Giải Tam Tai – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảng Xếp Hạng Bóng Đá Hạng Nhất Việt Nam 2022
  • Các Giải Pháp Đồng Bộ Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông: Bắt Đầu Từ Đâu? – Cdc Bắc Giang
  • Thực Hiện Hiệu Quả Các Giải Pháp Kiềm Chế Tai Nạn Giao Thông
  • Nguyên Nhân, Giải Pháp Khắc Phục
  • Không chỉ có giải hạn sớ Sao mà còn có sớ Giải Tam tai tức là hạn của 3 năm liên tiếp đến với mỗi tuổi. Trong một đời người, cứ 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai. Thường thì hạn năm giữa là nặng nhất.

    Lòng sớ hạn Tam tai:

    Phục dĩ

    Thượng đế hảo sinh năng tứ nhân nhân chi phúc hạ nguyên tống ách nguyệt trừ cá cá chi tai phàm tâm khẩn niệm

    Tuệ nhãn diêu thông

    Viên hữu:…………………………….

    Thượng phụng

    Phật thánh hiến cúng…thiên bái đảo giảm hạn tam tai cầu bản mệnh khang cường sự

    Kim thần

    Đệ tử:………………………………….

    Tình chỉ kỳ vi giải ách trừ tai an nhân lợi vật cẩn thủ kim nguyệt cát nhật thỉnh mệnh thiện tăng tựu vu tịnh xử

    Tu thiết lễ tống tam tai giải hạn pháp đàn nhất diên chu viên nhi tán kim tắc pháp diên dĩ biện khoa phạm tuyên hành

    Cẩn cụ sớ văn kiền thân thượng tấu

    Cung duy

    Nam vô đô đàn giáo chủ chính pháp minh vương thiên thủ thiên nhãn quan thế âm bồ tát

    Hồng liên tọa hạ tam giới chủ ôn thiên phù đại đế ngọc bệ hạ

    Đương canh thành hoàng bản thổ đại vương phúc thần từ hạ

    Tam tai thiên hạ thiên cổ thiên hình kiếp chư tinh quân

    Vị tiền

    Tam tai địa hình địa vong địa họa địa bại chư tinh quân

    Vị tiền

    Tam tai địa sát âm sát hắc sát bạch sát chư tinh quân

    Vị tiền

    Ngụ phương ngũ đế đạo lộ thần quan

    Vị tiền

    Đương xử thổ địa ngũ phương long mạch thằn quan

    Vị tiền

    Cung vọng

    Hồng quan phủ thùy chiếu giám phục nguyện

    Tai vận biến thành bất tai chi vận hữu na kỳ cư nân hương phiên vô nâm chi hương hà hạnh vu tuất thân cung khang

    Thái gia đạo hưng long tứ tự hòa bình thiên tường vân tập sở cầu như ý hữu cảm giai thông đẫn thần hạ tình vô

    Nhâm kích thiết bình doanh chi chí cẩn sớ

    Thiên vận…niên…nguyệt…nhật thần khấu thủ bách bái thượng sớ

     

    Ý nghĩa:

    Hạn tam tai là hạn của 3 năm liên tiếp đến với mỗi tuổi. Trong một đời người, cứ 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai. Thường thì hạn năm giữa là nặng nhất.

    – Tam tai là ba tai họa, gồm: Hỏa tai, Thủy tai, Phong tai.

    + Hỏa tai là tai họa do lửa cháy, như cháy nhà, cháy rừng.

    + Thủy tai là tai họa do nước gây ra, như lũ lụt, sóng thần.

    + Phong tai là tai họa do gió gây ra, như bão, lốc.

    – Ngoài ra còn có Tiểu Tam tai là ba thứ tai họa nhỏ, gồm: Cơ cẩn chi tai là tai họa do mất mùa lúa và rau. Tật dịch tai là tai họa do bịnh dịch truyền nhiễm. Đao binh tai là tai họa do chiến tranh.

    – Một số việc xấu thường xảy đến cho người bị Tam tai: Tính tình nóng nảy bất thường. Có tang trong thân tộc. Dễ bị tai nạn xe cộ. Bị thương tích. Bị kiện thưa hay dính đến pháp luật. Thất thoát tiền bạc. Mang tiếng thị phi. Tránh cưới gả (đối với nam), hùn vốn, làm nhà, sửa nhà, mua nhà và kỵ đi sông đi biển. Tiếp tục làm những việc đã làm từ trước thì thường không bị ảnh hưởng nặng. Không nên khởi sự trong những năm bị Tam tai.

    • 3 chum nước
    • 1 nhúm muối gạo
    • 3 miếng trầu cau
    • 1 khúc dây lưng quần cắt làm 3 đoạn
    • 3 điếu thuốc
    • 1 bộ Tam Sanh ( trứng vịt luộc, 1 con tôm luộc, thịt ba rọi luộn)
    • 3 chum rượi
    • 1 ít tóc rối của người bị Tam Tai
    • 3 đồng bạc
    • Cặp đèn cầy
    • Giấy vàng bạc
    • Bông
    • Hoa quả
    • Bộ đồ thế
    • 3 cây nhang

    Sắp xếp bày bàn cúng:

    • Bình bông để bên phải (ngoài nhìn vô), trái cây bên trái. Tiếp theo ở giữa, phía trước là lư hương, trong kế theo là 3 cây đèn, tiếp trong là 3 ly rượu, hàng kế là 3 ly trà, trong nữa là bài vị (cắm vào ly gạo, bề mặt có chữ quay về phía người cúng).
    • Người cúng sắp đặt bàn sao cho mặt mình nhìn về hướng Tây-nam, tức bài vị ở phía Tây-nam, người cúng ở phía Đông-bắc. Kế là một mâm sắp bộ tam sênh ở giữa, trầu cau, gạo muối, thuốc hút, giấy tiền vàng bạc để xung quanh.
    • Cúng vị Thần nầy cho đến khi tàn nhang và đèn, xong rồi người cúng không được nói chuyện với bất cứ ai, đem gói tóc móng tay ra ngã ba đường mà bỏ, nhớ đừng ngoái lại xem, ít bạc lẻ nhớ để vào gói tóc, bỏ luôn tóc và móng tay (Phải là của người bị tam tai mới được), khi vái cúng cho mình hoặc cho con cháu cũng phải nói rõ Họ tên của người mắc tam tai.

    Cách cúng hạn Tam Tai:

    • Thời gian: 18 – 20 giờ
    • Địa điểm: ngã ba đường
    • Hướng cúng: Tây Nam
    • Xá ba xá, cắm nhang vào lư hương, lạy 12 lạy (cầu cho 12 tháng bình yên).
    • Châm trà, rượu đủ ba lần. Đốt thuốc cúng. Thời gian chờ nhang tàn, giữ yên lặng, vái nguyện thêm âm thầm trong tâm…
    • Chờ đến tàn hết nhang đèn, âm thầm lặng thinh, không nói chuyện với bất cứ ai. Xong, đem gói nhỏ (tóc, móng tay, móng chân) ra ngã ba đường mà bỏ, hoặc đốt chung với 3 xấp giấy tiền vàng bạc, vừa đốt vừa van vái cho tiêu trừ hết tai nạn. Tiền lẻ và gạo muối vãi ra đường. Chỉ mang bàn và đồ dùng (ly tách mâm …về). Về đến nhà phải thay quần áo mới. Đồ cúng ai ăn cũng được (hoặc bỏ lại ngoài đường, không mang vào nhà), tuổi mình cúng không nên ăn.
    • Ngoài việc cúng giải hạn Tam tai như trên, nếu ai thường xuyên làm việc thiện, và đặc biệt nhất là thường xuyên phóng sanh cá, ốc… còn sống xuống sông, ao, bàu… thì việc hóa giải Tam tai càng hiệu quả nhanh và lại được hưởng âm phước vô lượng…

                                                                                                                                                                   Theo: Kim Dung

                                                                                                                                                                     Nguồn: Sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mầm Đậu Nành Nguyên Xơ Organic
  • Tinh Chất Mầm Đậu Nành – “Thần Dược” Cho Sức Khỏe Và Sắc Đẹp Phụ Nữ
  • Đậu Nành Trong Tiếng Tiếng Anh
  • 15 Điều Mà Chị Em Cần Biết Để “hồi Xuân”
  • Ý Nghĩa Ngày Vía Đức Quán Thế Âm 19/2 Âl
  • Lòng Sớ Gia Tiên – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cửa Và Quy Định Xây Dựng Nhà Ở: Những Điều Bạn Cần Biết
  • Ống Nhôm Nhún Bán Cứng
  • Ống Nhôm Bán Cứng (Ống Nhôm Nhún)
  • Lựa Chọn Quà Tặng Khai Trương Văn Phòng, Spa Ý Nghĩa Nhất
  • Lời Chúc Mừng Khai Trương Hay Và Ý Nghĩa
  • Cúng gia tiên là cúng tổ tiên trong nhà, là nghĩa vụ thiêng liêng của con cháu để tỏ lòng nhớ ơn nguồn cội của mình “Cây có cội nước có nguồn”.

    Cúng gia tiên là một cái đạo “Đạo thờ cúng ông bà”, gọi tắt là đạo ông bà. Đạo ở đây không phải là tôn giáo vì không có giáo chủ, môn đệ… .mà chỉ là “đạo làm người” trong gia đình, lấy tình cảm và sự liên hệ máu mủ ruột thịt trong gia đình làm chủ yếu.

    Sớ Gia Tiên

    Lòng sớ Gia Tiên:

    Phục dĩ

    Tiên tổ thị hoàng bá dẫn chi công phất thế  hậu côn thiệu dực thừa chi bất vong thỏa kỳ sở

    Tôn truy chi nhi tự

    Viên hữu

    Việt Nam Quốc:………………………………………………

    Thượng phụng

    Tổ tiên cúng dưỡng …. thiên tiến lễ gia tiên kỳ âm siêu dương khánh quân lợi nhạc sự kim thần

    Hiếu chủ:………………………………………………………………..

    Tiên giám phủ tuất thân tình ngôn niệm kiền thủy khôn sinh ngưỡng hà thai phong chi ấm thiên kinh địa nghĩa thường tồn thốn thảo

    Chi tâm phụng thừa hoặc khuyết vu lễ nghi tu trị hoặc sơ vu phần mộ phủ kim tư tích hữu quý vu trung

    Tư nhân tiến cúng gia tiên

    Tu thiết hương hoa kim ngân lễ vật phỉ nghi cụ hữu sớ văn kiền thân phụng thượng

    Cung duy

    Gia tiên … tộc đường thượng lịch đại tổ tiên đẳng đẳng chư vị chân linh

    Vị tiền

    … tộc triều bà tổ cô chân linh

    Vị tiền

    … tộc ông mãnh tổ chân linh

    Vị tiền cung vọng

    Tiên linh

    Phủ  thùy hâm nạp giám truy tu chi chí khổn dĩ diễn dĩ thừa thi phủ hữu chi âm công năng bảo năng trợ

    Kỳ tử tôn nhi hữu lợi thùy tộ dận vu vô cương tông tự trường lưu hương hỏa bất mẫn thực lại

    Tổ đức âm phù chi lực dã

    Thiên vận …… niên … nguyệt … nhật thần khấu thủ bách bái thượng sớ

    Ý nghĩa:

    Cúng gia tiên là thể hiện sự hiếu thảo và tình thương yêu của con cháu đối với người quá cố. Cúng gia tiên trong ba ngày Tết bày tỏ lòng tri ân, thương nhớ của con cháu đối với tổ tiên nguồn cội. Việc cúng kính không chú trọng ở hình thức mâm cao cỗ đầy mà chú trọng ở nội dung, đó là tấm lòng thành kính tri ân thương nhớ và noi gương. Vua Hùng Vương thứ 6 không chọn cao lương mỹ vị để cúng gia tiên mà chọn bánh chưng bánh dầy là món đơn sơ giản dị nhưng hàm chứa nội dung ý nghĩa sâu sắc.

    Xưa kia, ngoài những biến cô xảy ra trong gia đình, còn nhiều trường hợp con cháu cũng làm lễ cúng bái gia tiên, kêu cầu khấn vái như: trong làng trong xóm có đám cướp đang hoành hành đốt nhà, cướp của… gia chủ vội vàng khấn lễ tố tiên, cầu cho gia đình mình tai qua nạn khỏi, bọn cướp không đến quấy nhiễu nhà mình. Hoặc đất nước đang thanh bình bỗng có loạn binh đao, giặc trong, thù ngoài đang giày xéo quê hương đất nước,… khi đó con cháu cũng tạ lễ cầu xin tổ tiên phù hộ cho toàn gia tránh được tai ương, những lúc loạn lạc. Làng xóm đang yên lành, làm ăn khoẻ mạnh, bỗng nhiên nạn dịch ập đến, cướp đi sinh mạng con người, con cháu cũng xin với tổ tiên che chở để tránh khỏi căn bệnh hiếm nghèo…

    Lễ vật cúng Gia tiên:

    • Hoa
    • Hoa quả
    • Rượu, bia
    • Xôi
    • Chè
    • giò trả
    • Gà luộc
    • bát canh măng
    • Thịt
    • Nem
    • Cơm
    • Bát, đũa

    Cách cúng Gia tiên:

    Việc cúng bái tổ tiên bao giờ cũng do gia trưởng làm chủ lễ. Mỗi lần cúng lễ, dù ít dù nhiều bao giờ cũng có «lổ lễ. Thông thường đồ lễ gồm trầu, rượu, hoa quả (mùa nào thức nấy) vàng hương và nưỏc lạnh. Trong trường hợp khẩn cấp, đêm hôm khuya khoắt cần phải cáo lễ, dồ lễ có thế giảm đến mức tôi thiểu, chỉ cần một chén nước lạnh, một nén hương thắp trên bàn thờ là đủ. Cốt là ỏ lòng thành.

    Tùy theo hoàn cảnh gia đình chủ giàu nghèo, và tùy tính chất quy mô của từng buổi lễ, mà đồ lễ có thổ gồm thiều thứ như: xôi chè, oản, chuôi hoặc cỗ mặn…, có khi thêm cả hàng mã…

    Đồ lễ được sắm đầy đủ đã đặt sẵn lên bàn thờ, gia trưởng khăn áo chỉnh tề, thắp nén hương cắm vào bál bình hương, rồi cung kính đứng trước bàn thờ khấn.

    Trước bàn thờ tổ, gia trưởng kính cẩn phải mời hết các cụ kỵ từ ngũ đại trở xuống, cùng với chú bác, cô dì, anh chị em nội ngoại, những người đã khuất.

    Ngày xưa văn khấn các cụ thường dùng chữ nho, nhưng trong dân gian vẫn có người dùng chữ Nôm, nhất là đốì với những gia đình vị trưởng lão đã qua đời, các con nhỏ chưa biết khấn vái, việc khấn vái trong gia đình do người phụ nữ có tuổi phụ trách. Theo quan niệm của người xưa thì tất cả các nghi lễ đều cấm đàn bà tham gia cúng lễ, nhưng trong hoàn cảnh một sô’ gia đình như chồng đi làm ăn xa hay đã qua đời, thường thì người vợ sẽ đảm đương việc khấn cúng thay con cháu còn nhỏ.

    Trước khi khấn phải vái ba vái. Sau khi khấn xong gia trưởng lễ bốn lễ thêm ba vái, ta gọi là bốn lễ . Cần nhố rằng trước khi cúng, bàn thờ đã có đèn thờ hoặc nến. Cũng có gia đình trên bàn thờ có đỉnh trầm, nên đốt đỉnh trầm làm cho buổi lễ thêm uy nghi. Hương thăp trên bàn thờ bao giờ cũng thắp sô nén hương theo số lẻ Do không biết chữ Hán, nên văn khấn dùng chữ Nôm để tránh nhầm lẫn ngữ nghĩa chữ nọ chữ kia, hoặc (loạn khấn trước đưa ra sau, làm mất ý nghĩa của văn khấn.

    Đặc biệt từ sau khi thực dân Pháp sang đô hộ nước ta, chữ quốc ngữ được dùng rộng rãi thay thế chữ Hán và nhất là từ ngày Cách mạng Tháng 8 thành công 1945, hầu hết việc khấn vái dân ta đều dùng tiếng Việt t hay cho chữ Hán. Nói chung, văn khấn bao gồm một số nội dung bắt buộc như nói rõ ngày tháng làm lễ, lý de lễ tạ, ai là người đứng ra lễ tạ, ghi rõ họ tên tuổi, nơi sinh, trú quán, đồng thòi liệt kê lễ vật và cuối cùng là lòi đề dạt cầu xin cho toàn gia quyến.

    Sau khi gia trưởng khấn lễ xong, con cháu trong gia đình (trừ trẻ nhỏ) cũng lần lượt theo thứ bậc tỏi lễ trước bàn thờ bốn lễ rưỡi. Nhưng thường ở những ngày giỗ chạp mọi người trong gia đình mới yêu cầu lễ đủ, ngoài ra chỉ cần gia chủ khấn lễ là được. Ngày nay tại các I hành thị, trong lễ bái có phần đơn giản hóa như người la lấy vái thay lễ. Trước khi khấn vái ba vái ngắn. Khấn xong, vái thêm 4 vái dài và ba vái ngắn thay cho hôn lễ rưỡi.

    Tóm lại, trong việc cúng lễ tổ tiên, lòng thành kính phải để lên hàng đầu. Trong lòng mình nghĩ như thế nao quỷ thần đều biết rõ. Việc cúng bái mà xúc phạm đến tổ tiên là thiếu sự hiếu thảo.

                                                                                                                                                    Theo: Kim Dung

                                                                                                                                                    Nguồn: Sưu tầm

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dọn Về Nhà Mới Sao Cho Mọi Sự Hanh Thông, Tránh Hung Kỵ?
  • Khai Trương Quán Cafe Bằng Cách Tốt 1. – Coffeetree
  • Làm Thế Nào Khai Trương Quán Cafe Hiệu Quả – Cà Phê Sạch
  • Xem Ngày Tốt Chuyển Nhà Nhập Trạch Tháng 10 Năm 2022 Theo Tuổi
  • 9 Lưu Ý Khi Chuyển Về Nhà Mới Từ Chuyên Gia Phong Thuỷ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×