Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh Và Các Văn Cúng Cô Hồn Hàng Ngày

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Bài Cúng Lễ Ban Công Đồng
  • Hướng Dẫn Văn Cúng Vào Ngày Giỗ
  • Bài Cúng Ông Công Rằm Tháng Giêng
  • Việc Tộc, Đôi Điều Ghi Nhận 13
  • Bài Văn Cúng Sao Giải Hạn Đầu Năm
  • 1. Giới thiệu và xuất xứ của văn tế thập loại chúng sinh

    Nhắc đến Đại thi hào dân tộc – Nguyễn Du có lẽ sẽ không còn xa lạ đối với tất cả mọi người. Văn tế thập loại chúng sinh là một tác phẩm xuất sắc và vô cùng nổi tiếng của ông được viết bằng chữ Nôm. Văn tế chiêu hồn hay văn chiêu hồn cũng là tên gọi khác của văn tế thập loại chúng sinh.

    Được biết bài văn tế được biên soạn trong những năm đầu thế kỷ 19 và không xác định được thời giạn cụ thể. Sau khi chứng kiến những hậu quả mà mùa dịch khủng khiếp đã gây ra Đại thi hào Nguyễn Du đã sáng tác bài này.

    Mùa dịch khủng khiếp năm ấy đã làm cho hàng triệu người chết. Một khung cảnh hoang tàn, một thảm cảnh nặng nề đã làm dân tình điêu đứng. Tại các chùa chiền đều lập đàn để cầu siêu cho các linh hồn đã bỏ mạng vì bệnh dịch.

    “Bài văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du sáng tác trước khi tác phẩm Truyện Kiều ra đời”. Theo lời kể của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn.

    Đại thi hào Nguyễn Du là tác giả của bài văn tế thập loại chúng sinh

    2. Chủ đề và bố cục của văn tế thập loại chúng sinh

    Đi xuyên suốt tác phẩm văn cúng cô hồn thập loại chúng đều tập trung đề cập tới một xã hội hồn ma vô cùng thảm thương, đau khổ, những con người kém may mắn đã trở thành những hồn ma đi lang thang trên cõi trần. Hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế ở thời điểm bấy giờ đã được phơi bày.

    Tác phẩm đã lấy được nhiều tình cảm của bạn đọc khi xây dựng hình ảnh tất cả chúng sinh trên nhân loại đều khổ cực, chịu nhiều oan khuất, cô độc một mình và chịu nhiều áp bức, đọa đày. Đặc biệt ở đây không có sự phân biết sang hèn, giàu nghèo, sự đáng thương của họ đã làm nên thành công của tác phẩm.

    Tác phẩm văn cúng cô hồn thập loại chúng sinh được Đại thi hào Nguyễn Du viết theo thể thơ song thất lục bát với tổng cộng 184 câu thơ được viết hoàn toàn bằng chữ Nôm. Bố cục chia làm 4 phần, gồm:

    • Phần 1: Gồm 20 câu thơ đầu tiên. Nội dung của 20 câu thơ này đều miêu tả về khung cảnh của một buổi chiều mùa thu tháng 7. Khung cảnh ấy có mưa dầm buồn bã khiến cho Nguyễn Du phải cảm thấy chạnh lòng và thương cho những chúng sinh đang sống trong cảnh bơ vơ, lạnh lẽo tại cõi âm mà lập đàn cầu siêu
    • Phần 2: Gồm 116 câu thơ tiếp theo được tác giả chỉ đích danh những nguyên nhân khiến cho mười loại Cô Hồn phải thiệt mạng
    • Phần 3: Gồm 20 câu thơ tiếp theo được Đại thi hào miêu tả một cách cụ thể về cuộc sống đau buồn, thê lương của những Cô hồn
    • Phần cuối: Gồm 28 câu thơ còn lại của bài văn chiêu hồn của nguyễn du. Nội dung của 28 câu thơ cuối cùng trong tác phẩm này chính là lời cầu xin phép Phật nhiệm màu có thể giúp cho những Cô Hồn này được giải thoát và mời họ tới nhận phần lễ cúng siêu độ

    Văn tế thập loại chúng sinh

    3. Trích bài “Bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” – Nguyễn Du

    Tác phẩm ” Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh ” được trích một đoạn:

    Những vong hồn đau khổ

    4. Tham khảo văn cúng cô hồn thập loại chúng sinh hàng ngày

    “Kính lễ mười phương Tam bảo chứng minh

    Hôm nay ngày………….Chúng con tên…………

    Ở tại số nhà…………………………………………

    Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn,thuận lợi bán zbuôn, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc.

    Kính thỉnh:

    Cô hồn xuất tại côn lôn Ở tam kì nghiệp,cô hồn vô số Những là mãn giả hằng hà Đàn ông,đàn bà,già trẻ lớn nhỏ Ôi! Âm linh ơi,cô hồn hỡi Sống đã chịu một đời phiền não Chết lại nhờ hớp cháo lá đa Thương thay cũng phận người ta Kiếp sinh ra thế,biết là tại đâu Đàn cúng thí vâng lời phật dạy Của có chi,bát nước nén nhang Cũng là manh áo thoi vàng Giúp cho làm của ăn đàng thăng thiên Ai đến đây dưới trên ngồi lại Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu Phép thiêng biến ít thành nhiều Trên nhờ tôn giả chia đều chúng sanh Phật hữu tình từ bi tế độ Chớ ngại rằng có có không không Nam mô Phật,Nam mô Pháp,Nam mô Tăng Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài. Chân ngôn biến thực: Nam mô tát phạt đát tha nga đa,phà lồ chí đế án tam bạt ra,tam bạt ra hồng (3 lần) Chân ngôn cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhựt ra hồng (3 lần).”

    “Kính lễ mười phương Tam bảo chứng minh

    Hôm nay ngày……tháng……năm………………( m lịch).

    Con tên là:…………………..tuổi……………….

    Ngụ tại số nhà …, đường…, phường (xã)… , quận (huyện) ……………, tỉnh (TP):…………………

    Trân trọng kính mời các chư vị khuất mặt, khuất mày, kẻ lớn, người nhỏ, thập loại cô hồn, các Đảng, âm binh ngoài đường, ngoài xá, hửu danh vô vị, hửu vị vô danh, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn…về nơi đây hưởng lộc thực đầy đủ…

    Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn, thuận lợi bán buôn, phù hộ được buôn may bán đắt, mọi sự được sở cầu như ý, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc.

    Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng. Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài.

      Chân ngôn biến thực : (biến thức ăn cho nhiều)

    NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA, NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ, ÁN TÁM BẠT RA, TÁM BẠT RA HỒNG (7 lần)

      Chân ngôn Cam lồ thủy: (biến nước uống cho nhiều)

    NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA, ÁN TÔ RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, TA BÀ HA (7 lần)

      Chân ngôn cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhựt ra hồng (7 lần)”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh
  • Các Bài Văn Cúng Chúng Sinh Cac Bai Van Cung Chung Sinh Doc
  • Lời Bài Thơ Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (Nguyễn Du)
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Nguyễn Du
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Đại Thi Hào Nguyễn Du
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh Và Các Văn Cúng Cô Hồn Hàng Ngày
  • Văn Khấn Bài Cúng Lễ Ban Công Đồng
  • Hướng Dẫn Văn Cúng Vào Ngày Giỗ
  • Bài Cúng Ông Công Rằm Tháng Giêng
  • Việc Tộc, Đôi Điều Ghi Nhận 13
  • Văn cúng cô hồn thập loại chúng sinh

    10 tháng 8, 2021

    KÍNH LỄ MƯỜI PHƯƠNG TAM BẢO CHỨNG MINH

    Hôm nay ngày……tháng……năm………………(Âm lịch).

    Con tên là:…………………..tuổi……………….

    Ngụ tại số nhà …, đường…, phường (xã)… , quận (huyện ) ……………,tỉnh (Tp):…………………

    Trân trọng kính mời các chư vị khuất mặt, khuất mày, kẻ lớn, người nhỏ, thập loại cô hồn, các Đảng, âm binh ngoài đường, ngoài xá, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn…về nơi đây hưởng lộc thực đầy đủ…

    Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, kỳ an gia trạch, kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn, thuận lợi bán buôn, phù hộ được buôn may bán đắt, mọi sự được sở cầu như ý, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc.

    Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài.

    – Tịnh pháp giới chân ngôn: ÔM LAM, ÔM SĨ LÂM (7 lần)

    – Chân ngôn phá địa ngục: ÁN GIÀ RA ĐẾ DẠ, TA BÀ HA.(7 lần)

    – Chân ngôn biến thực: (biến thức ăn cho nhiều)

    NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA, NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ , ÁN TÁM BẠT RA, TÁM BẠT RA HỒNG ( 7 lần )

    – Chân ngôn Cam lồ thủy: (biến nước uống cho nhiều)

    NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN TÔ RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, TA BÀ HA. (7 lần)

    Chân ngôn cúng dường: ÁN NGA NGA NẴNG TAM BÀ PHẠT PHIỆT NHỰT RA HỒNG (7 lần).

    Cúng cô hồn vào thời điểm sau 12 giờ trưa, vì từ khi mặt trời mọc đến 12 giờ trưa là giờ dương khí, còn sau 12 giờ trưa đến khuya là giờ khí âm.

    2/ Cháo trắng nấu lỏng (12 chén nhỏ), hay là cơm vắt: 3 vắt

    4/ Giấy áo, giấy tiền vàng bạc.

    6/ Mía (để nguyên vỏ và chặt tùng khúc nhỏ độ 15 cm)

    8/ Nước: 3 ly nhỏ, 3 cây nhang, 2 ngọn nến nhỏ.

    Điều quan trọng là phải đọc Thần chú cho đúng và đủ, gởi cái tâm thiết tha thương cảm, mong cho chúng sanh an vui và no. Gạo, muối, cháo, không cần nhiều. Nhờ có chú biến thực là đã biến hoá được hàng hà sa số thực phẩm rồi.

    (Theo Sư Ông Thích Thông Bửu, cô hồn rất thích bắp rang và mía).

    Phải khắc phục ngay nếu bị giống thế này ?

    Không còn cách nào nhanh và kinh tế bằng cách này:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Bài Văn Cúng Chúng Sinh Cac Bai Van Cung Chung Sinh Doc
  • Lời Bài Thơ Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (Nguyễn Du)
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Nguyễn Du
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Đại Thi Hào Nguyễn Du
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Thần Thổ Công
  • Bài Văn Khấn Cúng Thập Loại Chúng Sinh Rằm Tháng 7 Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tục, Văn Khấn Thay Bàn Thờ Gia Tiên Mới Đúng Cách, Chuẩn Phong Thủy
  • Văn Khấn Thay Bàn Thờ Thần Tài Ông Địa & Gia Tiên Mới Chuẩn Phong Thủy
  • Văn Khấn Thay Bàn Thờ Thần Tài Chính Xác Nhất
  • Văn Khấn Cúng Và Cách Cúng Trong Lễ Vật Cúng Nhập Trạch
  • Download Văn Khấn Cúng Khi Bốc Mộ Phiên Bản Doc
  • 1.Hướng dẫn bài cúng cô hồn tháng 7 cho gia chủ

    Đây là mẫu văn khấn chúng sinh (cúng cô hồn) theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam (NXB Văn hóa Thông tin).

    Bài văn khấn này được lưu ý là gia chủ phải cúng ngoài trời không được cúng cô hồn trong nhà.

    Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).

    ” Con lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương.

    Con lạy Đức Phật Di Đà

    Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

    Con lạy Táo Phủ Thần quân Chinh thần.

    Tiết tháng 7 sắp thu phân

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

    Âm cung mở cửa ngục ra

    Vong linh không cửa không nhà

    Đại Thánh Khảo giáo – A Nan Đà Tôn giả

    Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

    Gốc cây xó chợ đầu đường

    Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

    Quanh năm đói rét cơ hàn

    Không manh áo mỏng – che làn heo may

    Cô hồn năm bắc đông tây

    Trẻ già trai gái về đây hợp đoàn

    Nay nghe tín chủ thỉnh mời

    Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

    Cơm canh cháo nẻ trầu cau

    Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

    Gạo muối quả thực hoa đăng

    Mang theo một chút để dành ngày mai

    Phù hộ tín chủ lộc tài

    An khang thịnh vượng hòa hài gia trung

    Nhớ ngày xá tội vong nhân

    Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

    Bây giờ nhận hưởng xong rồi

    Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

    Tín chủ thiêu hóa kim ngân

    Cùng với quần áo đã được phân chia

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức

    Cho tín chủ con

    Tên là:………………………………

    Vợ/Chồng:…………………………

    Con trai:……………………………

    Con gái:…………………………….

    Ngụ tại:……………………………..

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô A Di Đà Phật ”

    Kết thúc bài văn khấn.

    2.Gợi ý các vật phẩm hộ thân bình an, giải trừ vận xui trong tháng cô hồn

    GẠO VÀNG THẦN TÀI được xem là một vật phẩm cực kỳ May mắn. Nó được chế tạo từ loại cát vàng và đá tự nhiên thuần khiết. Mỗi một công đoạn chế tác đều vận dụng theo các nguyên lý ngũ hành là Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ một cách nghiêm túc. Sức linh nghiệm đặc biệt mạnh, là một vật thần lực mạnh mà nhà nhà nên sử dụng có trong gia đình.

    Sản phẩm có nguồn gốc từ làng nghề trăm tuổi, cam kết nguyên liệu sử dụng 100% tự nhiên nhằm bảo vệ sức khỏe và đem lại hiệu quả cao nhất cho người sử dụng. Với công dụng :

    – Bột trừ tà dùng để bao sai, tẩy uế, lau sạch khi dọn bàn thờ, đồ cũng lễ,

    xông khí, tẩy trừ trượt khí, uế khí,… đem lại phúc tài lộc thọ cho gia chủ.

    – Xông đất, xông nhà mới, xông quán ăn, nhà hàng, mắc phong long, Tà Ma Quỷ Ám, bị trúng Ngãi độc….Nhà đất bán hoài không được, xui xẻo đủ thứ về bản thân mình hoặc tẩy uế và trừ khử cuối năm vào dịp 29 hay30 tết hoặc trong ngày tháng Cô Hồn…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Động Thổ Xây Nhà Hay Nhất
  • Bài Văn Khấn Thần Tài Sáng Mùng 1 Tết
  • Văn Khấn Ngày Vía Thần Tài Năm Canh Tý 2021 Để Đón Tài Lộc
  • Bài Cúng Và Văn Khấn Thần Tài Chuẩn Nhất 2021
  • Văn Khấn Thần Tài Hàng Ngày Đầy Đủ Nhất
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh Và Bố Cục Bài Thơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Sửa Chữa Nhà Cửa
  • Văn Khấn Cúng Mùng 1 Hàng Tháng (Âm Lịch) Năm 2021 Như Thế Nào Là Đúng Chuẩn?
  • Văn Khấn Cúng Rước Ông Bà Ngày 30 Tết Canh Tý
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7, Văn Khấn Lễ Vu Lan Và Bài Cúng Lễ Xá Tội Vong Nhân
  • Văn Khấn Cúng Mụ Cầu Bình An, May Mắn Cho Bé
  • Văn tế thập loại chúng sinh là một tác phẩm xuất sắc và vô cùng nổi tiếng của Đại thi hào dân tộc – Nguyễn Du. Tác phẩm là một bài văn tế được viết bằng chữ Nôm. Ngoài cái tên văn tế thập loại chúng sinh thì tác phẩm còn được gọi là văn tế chiêu hồn hay văn chiêu hồn.

    Thời gian ra đời của tác phẩm chưa được xác định chính xác mà chỉ biết là nó được biên soạn trong những năm đầu thế kỷ 19. Theo như văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú thì Đại thi hào Nguyễn Du đã sáng tác bài này sau khi chứng kiến những hậu quả mà mùa dịch khủng khiếp đã gây ra.

    Mùa dịch đã khiến cho hàng triệu người chết. Khắp một miền núi sông là khung cảnh hoang tàn, âm khí nặng nề. Tại các chùa chiền đều lập đàn để cầu siêu cho các linh hồn đã bỏ mạng vì bệnh dịch.

    Tuy nhiên, theo Giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì ông cho rằng văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du sáng tác trước cả khi tác phẩm Truyện Kiều ra đời.

    Chủ đề của bài văn tế thập loại chúng sinh Nguyễn Du, xuyên suốt tác phẩm đều tập trung đề cập tới một xã hội hồn ma vô cùng thảm thương, đau khổ. Đây là một hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế ở thời điểm bấy giờ.

    Tuy nhiên, nội dung tác phẩm có sự khác biệt ở chỗ không thể hiện sự sang hèn, đối lập giàu nghèo. Tất cả chúng sinh trên nhân loại ai cũng đều giống nhau, họ phải sống trong cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn. Bởi thế, ai cũng đều vô cùng đáng thương.

    Tác phẩm văn cúng cô hồn thập loại chúng sinh được Đại thi hào Nguyễn Du viết theo thể thơ song thất lục bát với tổng cộng 184 câu thơ được viết hoàn toàn bằng chữ Nôm. Bố cục của tác phẩm theo các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cho biết có thể chia làm 4 phần, gồm:

    • Phần 1: Gồm 20 câu thơ đầu tiên. Nội dung của 20 câu thơ này đều miêu tả về khung cảnh của một buổi chiều mùa thu tháng 7. Khung cảnh ấy có mưa dầm buồn bã khiến cho Nguyễn Du phải cảm thấy chạnh lòng và thương cho những chúng sinh đang sống trong cảnh bơ vơ, lạnh lẽo tại cõi âm mà lập đàn cầu siêu
    • Phần 2: Gồm 116 câu thơ tiếp theo được tác giả chỉ đích danh những nguyên nhân khiến cho mười loại Cô Hồn phải thiệt mạng
    • Phần 3: Gồm 20 câu thơ tiếp theo được Đại thi hào miêu tả một cách cụ thể về cuộc sống đau buồn, thê lương của những Cô hồn
    • Phần cuối: Gồm 28 câu thơ còn lại của bài văn chiêu hồn của nguyễn du. Nội dung của 28 câu thơ cuối cùng trong tác phẩm này chính là lời cầu xin phép Phật nhiệm màu có thể giúp cho những Cô Hồn này được giải thoát và mời họ tới nhận phần lễ cúng siêu độ

    “Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô,

    Não người thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.

    5. Đường bạch dương bóng chiều man mác,

    Ngọn đường lê lác đác sương sa,

    Lòng nào là chẳng thiết tha,

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    10. Có khôn thiêng phảng phất u minh,

    Thương thay thập loại chúng sinh,

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

    Hương khói đã không nơi nương tựa,

    Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,

    15. Còn chi ai quí ai hèn,

    Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,

    Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi,

    Muôn nhờ đức Phật từ bi,

    20. Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương.

    Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,

    Chí những lăm cướp gánh non sông,

    Nói chi những buổi tranh hùng,

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.

    25. Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở,

    Khôn đem mình làm đứa sất phu,

    Lớn sang giàu nặng oán thù,

    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    30. Quỷ không đầu than khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà cô hồn biết bao giờ cho tan!

    Cũng có kẻ màn lan trướng huệ,

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    35. Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới cầu nước chảy

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi,

    Khi sao đông đúc vui cười,

    40. Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Đau đớn nhẽ không hương không khói,

    Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

    Thương thay chân yếu tay mềm Càng năm càng héo, một đêm một rầu.

    45. Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngọn bút son thác sống ở tay,

    Kinh luân găm một túi đầy,

    Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

    Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

    50. Trăm loài ma mồ nấm chung quanh,

    Nghìn vàng khôn đổi được mình,

    Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    55. Cô hồn thất thểu dọc ngang,

    Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh.

    Kìa những kẻ bài binh bố trận

    Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung.

    Gió mưa sấm sét đùng đùng,

    60. Dãi thây trăm họ nên công một người.

    Khi thất thế tên rơi đạn lạc,

    Bãi sa trường thịt nát máu rơi,

    Bơ vơ góc bể chân trời,

    Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

    65. Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau,

    Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

    Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú,

    70. Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn,

    Ruột rà không kẻ chí thân,

    Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

    Của phù du dẫu có như không,

    75. Sống thời tiền chảy bạc ròng,

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm,

    Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm,

    Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm,

    80. Nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý

    Dấn mình vào thành thị lân la,

    Mấy thu lìa cửa lìa nhà,

    Văn chương đã chắc đâu mà trí thân?

    85. Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng,

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

    Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

    90. Bãi tha ma kẻ dọc người ngang,

    Cô hồn nhờ gửi tha phương,

    Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông.

    95. Gặp cơn giông tố giữa dòng,

    Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán,

    Đòn gánh tre chín dạn hai vai,

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

    100. Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khoá lính,

    Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan,

    Nước khe cơm ống gian nan,

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

    105. Buổi chiến trận mạng người như rác,

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi.

    Lập loè ngọn lửa ma trơi,

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

    Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

    110. Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

    Ngẩn ngơ khi trở về già,

    Đâu chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

    115. Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

    Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

    Thương thay cũng một kiếp người,

    120. Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

    Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

    Gửi mình vào chiếu rách một manh.

    Nắm xương chôn rấp góc thành,

    Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

    125. Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.

    Lấy ai bồng bế vào ra,

    U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

    130. Cũng có người sẩy cối sa cây,

    Có người leo giếng đứt dây,

    Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

    Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái

    Người thì sa nanh sói ngà voi,

    135. Có người hay đẻ không nuôi,

    Có người sa sẩy, có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

    Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

    Mỗi người một nghiệp khác nhau

    140. Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây,

    Hoặc là bụi cỏ bóng cây,

    Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ.

    145. Hoặc là nương thần từ, Phật tự

    Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không,

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

    Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết,

    150. Gan héo khô dạ rét căm căm,

    Dãi dầu trong mấy mươi năm,

    Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương.

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

    Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra,

    155. Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

    Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,

    Phóng hào quang cứu khổ độ u,

    Rắp hoà tứ hải quần chu,

    160. Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    165. Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao,

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,

    170. Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng,

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

    Của có chi bát cháo nén nhang,

    175. Gọi là manh áo thoi vàng,

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại,

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.

    Phép thiêng biến ít thành nhiều,

    180. Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.”

    “Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).

    Con lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương.

    Con lạy Đức Phật Di Đà

    Con lạy Bồ Tát Quan m.

    Con lạy Táo Phủ Thần quân Chinh thần.

    Tiết tháng 7 sắp thu phân

    Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

    Âm cung mở cửa ngục ra

    Vong linh không cửa không nhà

    Đại Thánh Khảo giáo – A Nan Đà Tôn giả

    Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương

    Gốc cây xó chợ đầu đường

    Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang

    Quanh năm đói rét cơ hàn

    Không manh áo mỏng – che làn heo may

    Cô hồn năm bắc đông tây

    Trẻ già trai gái về đây hợp đoàn

    Nay nghe tín chủ thỉnh mời

    Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau

    Cơm canh cháo nẻ trầu cau

    Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh

    Gạo muối quả thực hoa đăng

    Mang theo một chút để dành ngày mai

    Phù hộ tín chủ lộc tài

    An khang thịnh vượng hòa hài gia trung

    Nhớ ngày xá tội vong nhân

    Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời

    Bây giờ nhận hưởng xong rồi

    Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần

    Tín chủ thiêu hóa kim ngân

    Cùng với quần áo đã được phân chia

    Kính cáo Tôn thần

    Chứng minh công đức

    Cho tín chủ con

    Tên là:………………………………

    Vợ/Chồng:…………………………

    Con trai:……………………………

    Con gái:……………………………

    Ngụ tại:……………………………”

    4.2. Bài văn cúng cô hồn 2

    “Kính lễ mười phương Tam bảo chứng minh

    Hôm nay ngày………….Chúng con tên…………

    Ở tại số nhà…………………………………………

    Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn,thuận lợi bán zbuôn, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình ,nhơn sanh phước lạc.

    Kính thỉnh:

    Cô hồn xuất tại côn lôn

    Ở tam kì nghiệp,cô hồn vô số

    Những là mãn giả hằng hà

    Đàn ông,đàn bà,già trẻ lớn nhỏ

    Ôi! Âm linh ơi,cô hồn hỡi

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Chết lại nhờ hớp cháo lá đa

    Thương thay cũng phận người ta

    Kiếp sinh ra thế,biết là tại đâu

    Đàn cúng thí vâng lời phật dạy

    Của có chi,bát nước nén nhang

    Cũng là manh áo thoi vàng

    Giúp cho làm của ăn đàng thăng thiên

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu

    Phép thiêng biến ít thành nhiều

    Trên nhờ tôn giả chia đều chúng sanh

    Phật hữu tình từ bi tế độ

    Chớ ngại rằng có có không không

    Nam mô Phật,Nam mô Pháp,Nam mô Tăng

    Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài.

    Chân ngôn biến thực: Nam mô tát phạt đát tha nga đa,phà lồ chí đế án tam bạt ra,tam bạt ra hồng (3 lần)

    Chân ngôn cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhựt ra hồng (3 lần).”

    “Kính lễ mười phương Tam bảo chứng minh

    Hôm nay ngày……tháng……năm………………( m lịch).

    Con tên là:…………………..tuổi……………….

    Ngụ tại số nhà …, đường…, phường (xã)… , quận (huyện) ……………, tỉnh (TP):…………………

    Trân trọng kính mời các chư vị khuất mặt, khuất mày, kẻ lớn, người nhỏ, thập loại cô hồn, các Đảng, âm binh ngoài đường, ngoài xá, hửu danh vô vị, hửu vị vô danh, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn…về nơi đây hưởng lộc thực đầy đủ…

    Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch, Kỳ an bổn mạng. Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn, thuận lợi bán buôn, phù hộ được buôn may bán đắt, mọi sự được sở cầu như ý, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc.

    Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng. Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài.

      Chân ngôn biến thực : (biến thức ăn cho nhiều)

    NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA, NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ , ÁN TÁM BẠT RA , TÁM BẠT RA HỒNG (7 lần)

      Chân ngôn Cam lồ thủy: (biến nước uống cho nhiều)

    NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN TÔ RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ , TA BÀ HA (7 lần)

      Chân ngôn cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhựt ra hồng (7 lần)”

    Tế thập loại chúng sinh hay ngày nay còn được biết đến là lễ cúng cô hồn hàng năm. Năm nay, lễ cúng diễn ra từ mùng 1 đến 15/07 âm lịch, tức từ ngày 19/08 đến ngày 02/09/2020 dương lịch. Các bạn có thể chọn một ngày trong khoảng thời gian này để tổ chức lễ cúng sao cho thuận tiện thời gian nhất.

    Nếu không có thời gian hay kinh nghiệm chuẩn bị mâm cúng lễ, các bạn có thể liên hệ với Đồ Cúng Tâm Linh để sử dụng dịch vụ chuẩn bị đồ cúng tế cô hồn.

    Khi sử dụng dịch vụ của Đồ Cúng Tâm Linh các bạn còn có cơ hội được tham gia chương trình khuyến mãi Vòng Quay May Mắn để được ưu đãi tặng bộ giấy cúng Xá Tội Vong Nhân, giúp bạn vừa tiết kiệm chi phí lại vừa có một mâm lễ cúng hoàn hảo, trọn vẹn.

    Cách tham gia Vòng Quay May Mắn tại Đồ Cúng Tâm Linh rất đơn giản: chỉ cần điền thông tin email, số điện thoại và địa chỉ quận đang sinh sống rồi chọn nút “Bấm ngay” khi truy cập vào website https://docungtamlinh.com.vn/.

    Như vậy là chúng tôi đã giới thiệu đến các bạn văn tế thập loại chúng sinh của nguyễn Du và 3 bài văn cúng cô hồn thập loại chúng sinh. Hy vọng đây sẽ là thông tin hữu ích với các bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Cúng Cô Hồn Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Cô Hồn Chúng Sinh
  • Đền Cô Chín Suối Rồng
  • Văn Khấn Cô Chín Ở Đền Sòng Sơn Và Cách Sắm Lễ
  • Văn Khấn Cô Bơ Chuẩn Nhất Theo Tứ Phủ Công Đồng.
  • Tham Khảo Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh Hàng Tháng Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Chúng Sinh Ngoài Trời Vào Ngày Rằm Tháng Bảy Hàng Năm
  • Văn Khấn Cúng Chúng Sinh Rằm Tháng 7 Ngoài Trời
  • Văn Khấn Chuyển Bàn Thờ Thần Tài Sang Vị Trí Mới Trong Nhà
  • Thủ Tục Chuyển Bàn Thờ Cũ Sang Bàn Thờ Mới Phong Thủy 2021
  • Chuyển Bát Hương Từ Nhà Cũ Sang Nhà Mới Đúng Nhất
  • 19-03-2018 15:34

    Văn cúng cô hồn là một trong những nghi lễ phổ biến tại Việt Nam. Nhất là với những người kinh doanh buôn bán, cúng cô hồn, bài văn cúng cô hồn đã trở thành một trong những hoạt động không thể thiếu hàng thàng.Xem bói tử vi cho tháy tầm quan trọng và vai trò của phong tục cúng cô hồn.

    nam mô tát phạ đát tha, nga đà phạ lô chỉ đế , án tám bạt ra , tám bạt ra hồng ( 7 lần )

    nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô , ta bà ha .( 7 lần )

    Chân ngôn cúng dường: án nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhựt ra hồng (7 lần).

    : Các phẩm vật cúng cho Cô hồn tuyệt đối không được dùng tới, phải bỏ đi, không đem vào nhà. Vì theo quan niệm dân gian năng lượng mà của cõi âm rất đen tối và nặng nề. Nếu sau khi thực hiện các văn cúng thí thực cô hồn, văn khấn cô hồn chúng sinh, văn cúng tháng cô hồn…song mà bạn đem vào nhà để sử dụng thì sẽ gây họa lớn cho gia đình. Còn với đồ vàng mã thì nên đốt ngay tại chỗ, đĩa muối được rải ra xa 8 hướng tránh tai ương.

    : Trong quá trình đọc văn cúng thí thực cô hồn,văn khấn cô hồn chúng sinh,văn cúng tháng cô hồn thì nên nhớ diễn tả lời văn khấn cúng cô hồn thật thành tâm. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến văn cúng thập loại cô hồn mà còn ảnh hưởng đến sự linh nghiệm của lễ cúng. Kiến thức phong thủy đã cho thấy tầm quan trọng của lễ cúng cô hồn trong nền văn hóa của người Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cầu Thi Cử Cho Sĩ Tử
  • Bài Văn Khấn Cầu Thi Cử Đỗ Đạt Gặp Nhiều May Mắn
  • Văn Khấn Cầu Tài, Cầu Lộc, Cầu Bình An Ở Ban Tam Bảo
  • Khấn Cầu Bình An, Tài Lộc Ở Tam Bảo Như Thế Nào Đúng Cách?
  • Nghi Thức Cầu Quốc Thái Dân An
  • 17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • Bài Văn Cúng Khấn Lễ Nhập Trạch
  • Bài Văn Cúng Gia Tiên
  • Bài Văn Cúng Ngày Mùng Một Tết Nguyên Đán
  • Mẫu Những Bài Văn Cúng Khấn Trong Lễ Dâng Sao Giải Hạn
  • Đầy đủ 17 bài văn tế thập loại Cô Hồn dành cho chẩn tế âm linh cô hồn, chiến sĩ trận vong, đồng bảo tử nạn, chiêu hồn, giải oan bạt độ, cúng tế thí thực.

    KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn I)

    Trước cửa Phật lập đàn phổ thí,

    Cho trọn đều quân lợi âm dương,

    Quang minh tỏ khắp mười phương,

    Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào.

    Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp,

    Bóng mây từ che rợp mọi nơi,

    Lọt đâu dưới đất trên trời,

    Từ bi tế độ muôn đời viên thông.

    Trên đức Phật rất công rất chính,

    Dạy cho đời luyện tính tu tâm,

    Thương người đọa kiếp tối tăm,

    Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.

    Lòng từ mẫn mọi bề thương hết,

    Nay gặp ngày Đản tiết nên quy,

    Trước Đàn tề chỉnh oai nghi,

    Tuyên dương để chứng quy y thực hành.

    Hạnh giải thoát chúng sinh khổ não,

    Cõi Ta bà sáu đạo loanh quanh,

    Âm ty địa ngục đã đành,

    Dương gian địa ngục nỗi tình thêm thương.

    Nói không xiết trăm đường đày đọa,

    Rồi mang tai trát họa vào thân,

    Không sao khỏi nghiệp tham sân,

    Ăn quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.

    Nào những hạnh ranh ma quỉ quái,

    Dối lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?

    Bo bo giữ thói ở xằng,

    Cái dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.

    Nào những hạng lòng chim dạ thú,

    Ghét ghen nhau làm đủ tội tình,

    Khư khư quen thói chẳng lành,

    Cái vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.

    Nào những kẻ yếu đau què quặt,

    Phận hẩm hiu trời bắt chịu đày,

    Thật là khổ ách không may,

    Nào ai có muốn thân này thế đâu!

    Nào những kẻ âu sầu lòa lẫm,

    Số cưu mang câm điếc phải đành,

    Thực là khốn khổ thương tình,

    Ý ai chẳng muốn thân mình phong quang?

    Vì túc trái ngỡ ngàng sao đó,

    Hoặc tiền nhân nghiệp thọ thế nào,

    Thực lòng luống những lao đao,

    Cửa từ bi nỡ để ngơ sao đành.

    Thầy nay dạy thực hành chánh đạo.

    Dòng Thiền học Phật giáo chủ trương,

    Quang minh quảng đại vô lường,

    Ba thừa giáo hóa mọi phương thi hành.

    Giữ một mực chí thành tinh tiến,

    Dập các duyên hư huyễn hão huyền,

    Những môn tà đạo lưu truyền,

    Nay quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.

    Trước Đàn ngoại lễ nghi các thưùc,

    Trên đài sen tỏ đức huyên minh,

    Thầy đây lập nguyện chí thành,

    Tuyên dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.

    Hiện nay có chư Thiên hậu thổ,

    Cửa từ bi tế độ không cùng,

    Đạo tràng Thiền học lưu thông,

    Tu hành chân thật thủy chung một lòng.

    Đàn phổ thí phẩm vật nghi tiết,

    Thầy dạy thêm cho biết công duyên,

    Những người quỳ trước Phật tiền,

    Đem câu nhân quả phổ truyền rộng ra.

    Dặn hết thảy gần xa thiện tín,

    Nên thành tâm phát nguyện quy y,

    Nương nhờ Tam bảo hộ trì,

    Ăn chay niệm Phật mà quy cho tròn.

    Xem nhân thế càn khôn che chở,

    Nhứt hoàn hương duyên nợ phong trần,

    Hỡi ai kết quả tạo nhân,

    Xem cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.

    Muốn xét lại cho hay nghiệp trước,

    Hiện thọ đây thấy được tỏ tường,

    Muốn mong kiếp nữa vẻ vang,

    Sự hành trì phải sửa sang tự giờ.

    Nhân mấy quả trong cơ chuyển hóa,

    Nhân có đầy thì quả mới nên,

    Thầy nay chỉ dẫn căn nguyên,

    Cõi dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.

    Ơn đức Phật lời vàng khuyên nhủ,

    Dạy chúng sinh tín thụ cho hay,

    Phúc thời vui vẻ như đây,

    Họa thời khổ não đọa đầy như trên.

    Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ-tát Ma ha tát.

    -Trích Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971

    Ngạ quỷ đói

    SÁM TRIỆU CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 2)

    Hỡi linh hồn trước sau tề tựu,

    Nghe lời khuyên để rũ tội mình,

    Quan Âm Địa Tạng oai linh,

    Thích Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.

    Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất!

    Noi tâm lành của Phật làm gương,

    Diêm La cực khổ trăm đường,

    Mau tu thì đặng Tây phương thâu về.

    Hỡi linh hồn chết chìm đáy biển,

    Và bao người độc dược bỏ thân!

    Tiếng chuông tỉnh thức dần dần,

    Đừng ham cõi tục trầm luân luân hồi.

    Hỡi các hồn chết thiêu chết chém,

    Hổ giảo thân bị yểm bị trù!

    Kíp tìm kinh kệ sớm tu,

    Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

    Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa,

    Chết phong ba chết giữa núi non!

    Nếu nghe chuông dục bon bon,

    Mùi hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.

    Hỡi hồn ơi! Vì tình chư Phật,

    Ta khuyên hồn đất Phật là nơi,

    Các hồn sẽ đặng thảnh thơi,

    Hưởng mùi hương Phật suốt đời đặng an.

    Hỡi hồn đã lỡ làng trót dại,

    Theo đàng taø quỉ quái yêu tinh,

    Nay đây khẩn nguyện chân kinh,

    Khuyên hồn phải rán sửa mình cho tinh.

    Hỡi hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,

    Nương gió mây thừa thải từ xưa!

    Hồn ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,

    Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

    Hỡi hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,

    Ngài ra ơn gột khổ sanh linh.

    Hỡi hồn bị bịnh bỏ mình,

    Và hồn dậy phá chân kinh loạn trần.

    Nghe ta kinh kệ giải phân,

    Cầu cho hồn đặng muôn phần yên vui.

    Hỡi hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,

    Ta khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,

    Mùi hương lư ngọc bổng trầm

    Khéo tu hồn sẽ an tâm giữa trời.

    Các hồn bị cá xơi, rắn cắn,

    Cùng những hồn số vắn vô danh,

    Hãy nghe kinh kệ ăn năn,

    Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

    Hỡi những hồn vì lời gièm xiểm,

    Nên hủy mình chết lụn căm gan,

    Sớm nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,

    Phật kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

    Nam mô độ hộ muôn hồn,

    Vì hồn trót dại quáng mù từ xưa.

    Kinh là phước, cầu đưa tội lỗi,

    Tu là lành, sám hối ngàn năm.

    Lạy cầu chư Phật từ tâm,

    Khẩn van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.

    Tiếng chuông ngân hương thơm giải thoát.

    Nước nhành dương rảy mát xác phàm,

    Hỡi hồn cư ngụ muôn am!

    Về đây hưởng thực cầu van sửa mình.

    Nam Mô Bộ Độ Đế Rị Già Rị Đa Rị Đát Đa Nga Đa Gia (3 lần)

    -Trích Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974

    -Bài dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.

    SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA

    (Thí thực cô hồn 3)

    NGUYỄN DU

    Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh ngắt xương khô;

    Não người thay buổi chiều thu!

    Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,

    Đường bạch dương bóng chiều man mát,

    Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

    Lòng nào lòng chẳng thiết tha?

    Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    Xót khôn thiêng phảng phất u minh!

    Thương thay thập loại chúng sinh,

    Phách đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.

    Hương khói đã không nơi nương tựa,

    Phận mồ côi lần lữa đêm đêm;

    Còn chi ai khá ai hèn,

    Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu!

    Tiết đầu thu dựng Đàn giải thoát,

    Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.

    Muôn nhờ Phật lực từ bi,

    Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

    Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,

    Chí những lăm cướp gánh non sông;

    Nói chi đương thuở thị hùng,

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

    Bỗng phút đâu mưa bay, ngói lở,

    Khôn đem mình làm đứa sất phu;

    Giàu sang càng nặng oán thù,

    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    Quỷ không đầu van khóc đêm mưa;

    Đã hay thành bại là cơ,

    Mà u hồn biết bao giờ cho tan!

    Nào những kẻ màn loan, trướng huệ,

    Nhưõng cậy mình cung quế Hằng nga;

    Một phen thay đổi sơn hà

    Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?

    Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi;

    Khi sao đông đúc vui cười,

    Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

    Thảm thiết nhẽ không hương, không khói,

    Hồn ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;

    Thương thay chân yếu tay mềm,

    Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.

    Nào những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngòi bút son thác sống ở đây;

    Kinh luân chất một túi đầy,

    Đã đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.

    Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

    Trăm loài ma mồ nấm chung quanh;

    Nghìn vàng không đổi được mình,

    Lầu ca, viện xướng, tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    Cô hồn thất thểu dọc ngang,

    Mạng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

    Nào những kẻ bày binh bố trận,

    Đem mình vào cướp ấn Nguyên nhung.

    Gió mưa sấm sét đùng đùng,

    Rải thây trăm họ, làm công một người.

    Khi thất thế cung rơi, tên lạc,

    Bãi sa trường, thịt nát máu rơi;

    Bơ vơ góc biển chân trời,

    Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

    Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau;

    Ngàn cây nội cỏ rầu rầu,

    Naøo đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú,

    Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn;

    Ruột rà không kẻ chí thân,

    Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

    Của phù vân dù có như không;

    Sống thời tiền chảy bạc ròng,

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn thương gì hàng xóm,

    Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm;

    Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm,

    Tàn hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp càu chữ quí,

    Dấn mình vào thành thị lân la;

    Mấy thu lìa cửa, lìa nhà,

    Văn chương đã chắc đâu mà chí thân?

    Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng?

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

    Anh em thieân hạ láng giềng người dưng.

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

    Bãi tha ma kẻ dọc người ngang;

    Cô hồn nhờ gởi tha hương,

    Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông;

    Gặp cơn giông tố giữa dòng,

    Đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán,

    Đòn gánh tra chín dạn hai vai;

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

    Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

    Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan;

    Nước khe cơm vắt gian nan,

    Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.

    Buổi chiến trận mạng người như rác,

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi;

    Lập lòe ngọn lửa ma chơi,

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

    Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

    Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;

    Ngẩn ngơ khi trở về già,

    Ai chồng con tá biết mà cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não,

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa;

    Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

    Rồi tháng ngày hành khất ngược xuôi;

    Thương thay cũng một kiếp người,

    Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

    Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc,

    Gởi mình vào chiếu rách một manh;

    Nấm xương chôn rấp góc thành,

    Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

    Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha;

    Lấy ai bồng bế xót xa.

    U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

    Cũng có người sẩy cỗi sa cây;

    Có người gieo giếng thắt dây,

    Ngược trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,

    Người thì mắc sơn tinh thủy quái,

    Người thì sa nanh sói ngà voi;

    Có người hay đẻ không nuôi,

    Có người sa sẩy, có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

    Cầu Nại hà kẻ trước người sau;

    Mỗi người một kiếp khác nhau,

    Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ, dọc bụi,

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây;

    Hoặc là điếm cỏ bóng cây,

    Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ.

    Hoặc là nương thần từ Phật tự,

    Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông;

    Hoặc là trong quảng đồng không,

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

    Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,

    Ruột héo khô, dạ rét căm căm;

    Dãi dầu trong mấy mươi năm,

    Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương;

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

    Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra;

    Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

    Có khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.

    Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,

    Bóng hào quang cứu khổ độ ưu;

    Rắp hòa tứ hải quần chu,

    Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

    Nhởn nhơ Tiêu Diện đại vương,

    Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

    Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,

    Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;

    Mười loài là những loài nào,

    Gái trai, già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như bào như ảnh,

    Có chữ rằng: vạn cảnh giai không;

    Ai ơi lấy Phật làm lòng,

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

    Của có chi bát nước nén nhang;

    Gọi là manh áo thoi vàng,

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đấy dưới trên ngồi lại,

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu:

    Phép thiêng biến ít thành nhiều,

    Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ,

    Chớ ngại rằng có có không không;

    Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

    Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

    -Trích Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1973

    VĂN TẾ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 4)

    TRÀ AM VIÊN THÀNH

    Tượng nghe đại địa sơn hà,

    Luống trong sinh tử cửa nhà vốn không.

    Cô hồn hoạnh tử yểu vong,

    Nương thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.

    Trên thì tướng tướng, vương công,

    Dưới thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.

    Gái trai những kẻ tôn ti,

    Hoặc là tử trận, có khi oan tình.

    Hoặc là vương pháp gia hình,

    Uống trúng độc dược hại mình tự nhiên.

    Sa cơ sống gió chìm thuyền,

    Lỡ làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.

    Xà thương hổ đả hải hùng,

    Huyết hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!

    Hoặc là mắc phải thiên lôi,

    Vong thân chú trớ bồi hồi mạng chung.

    Hoặc là đường sá lỡ làng,

    Mắc phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.

    Hà sa phẩm loại khôn cùng,

    Lòng thành tín chủ mời chung các loài.

    Từ rằng theo bóng Như lai,

    Đã không cứu vớt lấy ai nương nhờ.

    Từ đường đâu có phụng thờ,

    Cô đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.

    Thảm thương mặt nước cung mây,

    Rả rời xương thịt, hồn bay lạc loài.

    Chẳng hay thử vãng hàn lai,

    Bốn mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.

    Thân bằng ít kẻ tri âm,

    Lấy ai cứu vớt mà hòng thoát ly!

    Thảm thương về chốn thổ ty,

    Luôn trong diểu diểu lấy gì mà ra!

    Nương nhờ tín chủ toàn gia,

    Thọ tài hưởng thực mà qua Liên trì.

    Từ rằng vâng phép từ bi,

    Siêu phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.

    Sớm khuya cửa Phật ân cần.

    Phù trì gia chủ thừa ân những ngày.

    Đừng còn theo thói mê say,

    Tham lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.

    Nam mô đức Phật Di Đà,

    Phóng quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.

    Trước triệu thỉnh lủy triều đế chủ,

    Trên ngai vàng trải nối hầu vương.

    Chín tầng điện các đài gương,

    Nước non muôn dặm, mười phương cầm quyền.

    Nghìn năm vương khí danh truyền.

    Xe loan để tiếng oán phiền chưa thôi!

    Tiếng quyên kêu nguyệt bồi hồi,

    Gành đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.

    Tiền vương hậu bá khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,

    Đấng hiền lương trí dũng khôn ngoan.

    Giá trong tieát trắng làm quan,

    Một lòng báo quốc nên trang đan thành.

    Nam châu bắc huyện thơm danh,

    Theo nơi tang thác bỏ đành quê hương.

    Thiên nhai hải giác khôn lường,

    Sa cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.

    Than ôi! Những đấng anh tài,

    Theo dòng thệ thủy cách đài dương quan.

    Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

    Chức phong hầu đứng trước muôn dân.

    Sức dời bảo đỉnh nghìn cân,

    Trường thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.

    Trước hùm sương nhiễm, ghê thay!

    Sa cơ một phút đổi thay công hầu.

    Thương ôi người ngựa ở đâu,

    Xui nên họa cả thảm sầu khôn dung.

    Xiết bao tướng súy anh hùng,

    Lánh nơi vinh hiển theo cùng âm ty.

    Những người sa trụy bất kỳ,

    Nghe lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.

    Lại thỉnh kẻ văn nhân tài tử,

    Chốn thư phòng cửa Khổng vào ra,

    Bút nghiên kinh sử ngâm nga,

    Văn chương tu luyện đợi khoa nương mình.

    Mơ màng lấp lóa đèn huỳnh,

    Công phu khổ dụng đăng trình gặp khi.

    Mười năm tân khổ mong thi,

    Naøo hay một phút xa kỳ công danh!

    Hồng lô tính tự rành rành,

    Đất vàng một nấm lấp thành văn chương.

    Văn nhân tài tử không lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,

    Nương rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.

    Cao Tăng quyết chí tinh tu,

    Trăm năm giới luật công phu dùi mài.

    Giữ gìn phạm hạnh hôm mai,

    Tỳ-kheo Ni chúng khác người thế gian.

    Hoàng hoa, thủy trúc luận bàn,

    Không đàm bí mật nên mang thế tình.

    Bóng đèn lấp lóa hư minh,

    Than ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.

    Nghe lời Bát nhã, Phạm âm,

    Truy y Thích tử lại lâm đáo đàn.

    Lại thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,

    Chốn Bồng lai sớm luyện đan tiên.

    Nương theo thạch động đào nguyên,

    Tu tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.

    Danh thơm chưa nức trong đời.

    Vô thường khi đã đổi dời công phu.

    Thương ôi! Sương tuyết dãi dầu,

    Tiêu điều gió thảm hoa sầu hơi sương.

    Huyền môn đạo sĩ khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,

    Với những kẻ lâm trận kiện nhi.

    Cầm bạch tiết, vác hồng kỳ,

    Tức gan quyết chí trận kỳ hơn thua.

    Trung thành hết sức phò vua,

    Nào hay một phút xa đưa dặm trường.

    Thương ôi! Huyết lụy sa trường,

    Thà ôm xương trắng để đường cho ai!

    Trận vong binh sĩ an tài,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,

    Chốn lâu đài khuê các vào ra.

    Ướp xông hương xạ diềm dà,

    Phấn thoa sáp đánh màu da khác người.

    Mặt hoa mày liễu tốt tươi,

    Hình dung yểu điệu, miệng cười như hoa,

    Hồn tiên kim ốc vào ra,

    Hoa tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!

    Thương ôi! Ngọn gió thổi sầu,

    Đống xương khô héo dãi dầu cỏ sương.

    Quần thoa phụ nữ khôn lường,

    Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

    Lại thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,

    Trải tháng ngày mua bán tranh đua.

    Đổi dời lừa tráo hơn thua,

    Đào công nối nghiệp bán mua so lường.

    Chẳng ngờ nổi trận phong sương,

    Mình vào ngư phúc dương trường, khốn thay!

    Hồn dời bể bắc dặm dài,

    Phách về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.

    Tha hương lữ khách lỡ thời,

    Nghe lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,

    Chịu đắng cay tọa thảo tam triêu;

    Bằng khi loan phụng hòa yêu,

    Hùng bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.

    Gái trai còn hãy chưa hay,

    Đêm trường mẫu tử, phút này giai quy.

    Thương ôi! Hoa nở chính kỳ,

    Nào hay một phút gặp khi mưa dầm.

    Huyết hồ sản nạn lỗi lầm,

    Nghe lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ nhung di man địch,

    Tiếng chẳng thuần ngọng lịu như câm.

    Lại còn trong dạ hiểm thâm,

    Cưu điều hung dữ lưu tâm hại người.

    Khinh khi Tam bảo chê cười,

    Tội khiên chất để bằng mười hà sa.

    Ngổ ngang mắng mẹ khinh cha,

    Ác cao như núi chết mà không tha.

    Chẳng may hồn phách la đà,

    Mịt mờ vũ trụ bao là đớn đau!

    Thương ôi! Ẩn ẩn phương nào,

    Ngày xuân chẳng thấy ra vào u quan!

    Hỡi người bội nghịch si ngoan,

    Nghe lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.

    Lại thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,

    Bị lao tù mắc phải gia hình.

    Gặp cơn thủy hỏa bất bình,

    Một đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.

    Nghìn năm oan khí chưa xong,

    Linh hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.

    Trời xanh tiếng hạc rộn ràng,

    Gió lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!

    Mấy người hoạnh tử xưa nay,

    Nghe lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.

    -Trích Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha Trang, 1972

    1 Câu này thỉnh kẻ cô hồn hoạnh tử khi lâm sản hoạc bị sẩy thai, sút thai.

    SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

    (Thí thực cô hồn số 5)

    Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

    Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

    Tiệc chay cúng thí vừa xong

    Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

    Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

    Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

    Cam lồ rưới khắp mười phương

    Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

    Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

    Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

    Từ rày bá tánh bình yên

    Phước lành để lại trong miền nhân gian

    Tuổi đời lộc nước chứa chan

    Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

    Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

    Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

    Vinh hoa phú quí đủ điều

    Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

    Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

    Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

    Đến khi trăm tuổi mạng chung

    Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

    A Di Đà Phật phóng quang

    Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

    Khổ đau biển cả chập chùng

    Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

    Đài sen hoa nở vãng sanh

    Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

    Từ đây bỏ việc hơn thua

    Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

    – Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

    VĂN TẾ CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn số 6)

    Hỡi ôi !

    Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,

    Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.

    Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,

    Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.

    Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,

    Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.

    Nên phải mang phiền não dập dồn,

    Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.

    Cầu chư Phật oai thần tế bạt,

    Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.

    Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,

    Xin chư vị tề lai thọ hưởng.

    Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,

    Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,

    Độ mười phương sanh chúng bình yên,

    Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.

    Lụy trào đế hầu vương đáng kính,

    Vận nước vong khó tính mưu thành.

    Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,

    Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.

    Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,

    Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.

    Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,

    Nơi dương thế âm dung đà khuất.

    Tài bút nghiên văn thần báo quốc,

    Tấm lòng son công chất nhà vàng.

    Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,

    Rồi một thuở danh vang tể tướng.

    Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,

    Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.

    Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,

    Ba thước đất vùi danh tài tử.

    Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,

    Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.

    Đèn tắt khuya Thiền thất hư minh,

    Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.

    Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,

    Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.

    Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,

    Chí chưa toại tầm đàng Địa phủ.

    Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,

    Tại trận tiền củ củ oai hùng.

    Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,

    Lằn tên đạn không dung tánh mạng.

    Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,

    Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.

    Sóng ba đào phong võ khó lường,

    Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.

    Mười tháng chẵn mang con trong dạ,

    Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.

    Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,

    Hoa mới nở vội liền mưa gió.

    Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,

    Công sanh thành chưa rõ cao dày.

    Hoặc huyền lương độc dược ra tay,

    Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.

    Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,

    Thác giữa đàng không đất gởi thây.

    Hồn dật dờ theo gió theo mây,

    Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.

    Người nghèo khó đốn cây non lãnh,

    Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.

    Bị độc trùng ác thú hổ lang,

    Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.

    Người lương thiện tao phùng tật đố,

    Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.

    Oan hồn tìm đến chốn u thâm,

    Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.

    Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,

    Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.

    Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,

    Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.

    Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,

    Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.

    Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,

    Hồn lìa cách dương trần rất thảm.

    Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,

    Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !

    Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,

    Rủi một phút thân thiêu tro bụi.

    Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,

    Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.

    Mạng số suy, thần tử chẳng tha,

    Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.

    Khi bão tố đá cây ngã liệt,

    Sập cửa nhà đè chết nào hay.

    Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,

    Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.

    Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,

    Chấn động miền non núi đất liền.

    Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,

    Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.

    Bị xe cán nát thây rùng rợn,

    Vận kiếp xui họa lớn nào hay.

    Bà con trông than khóc thảm thay,

    Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.

    Vì ái dục si tình tự tử,

    Cơn đắm mê nào sợ tội mang.

    Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,

    Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.

    Ít phước đức họa tai lôi kéo,

    Đời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,

    Trên giàn cao ngã té bất kỳ,

    Thân tan nát hồn phi phách tán.

    Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,

    Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.

    Thảm thương cho hồn phách linh đinh,

    Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.

    Người lương thiện chết oan điên đảo,

    Vì đạn tên lạc náo xóm làng.

    Oan hồn cam vào chốn nguy nan,

    Chịu u ám, xa đàng giải thoát.

    Bị khổ bức vì tình đen bạc,

    Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.

    Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,

    Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !

    Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,

    Đoạt của rồi giết chủ thác oan.

    Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,

    Kết thù oán khôn toan siêu độ.

    Đời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,

    Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.

    Phách hồn oan lạc lối u minh.

    Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.

    Đời giặc giã nghịch thù vô tận,

    Chôn sống người giữa đám đồng hoang.

    Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,

    Trong giây phút dương gian cách biệt.

    Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,

    Trói lương dân thù ghét quăng sông.

    Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,

    Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.

    Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,

    Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.

    Hồn phất phơ nơi chốn long đong,

    Biết bao thuở thoát vòng khổ não.

    Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,

    Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.

    Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,

    Bà con thấy, ai bi thống thiết !

    Người tắm biển tắm sông biệt tích,

    Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.

    Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,

    Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.

    Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,

    Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.

    Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,

    Rủi một phút hồn phi phách tán.

    Còn nhiều loại hồn oan ta thán,

    Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,

    Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,

    Đương xiêu lạc khắp nơi khổ não.

    Lời thiển bạc nay đà trần tố,

    Thương xót thay nỗi khổ các vì.

    Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,

    Xin sám hối tiền phi hậu quá.

    Xét tội lỗi oan khiên vay trả,

    Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,

    Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,

    Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.

    Quy y Phật tịnh yên hồn phách,

    Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.

    Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,

    Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.

    Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,

    Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.

    Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,

    Độ chư vị thoát đàng khổ não.

    Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,

    Thập Điện đồng mở đạo Từ bi.

    Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,

    Đức Địa Tạng đại bi cứu rỗi.

    Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,

    Vãng sinh miền Tịnh Độ thảnh thơi.

    Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,

    Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.

    Nam mô A Di Đà Phật.

    VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

    CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN

    (Thí thực cô hồn số 7)

    Hỡi chư chiến sĩ trận vong !

    Hỡi chư lương dân tử nạn !

    Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,

    Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

    Người sanh trên thế ai không chết,

    Để tấm lòng son rạng sử xanh.

    Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,

    Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.

    Chí trung cang nghĩa khí sắc son,

    Gương Thánh Đế nay còn nêu đó !

    Nợ nước non ai ai cũng có,

    Phận công dân giao phó phải mang.

    Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,

    Phải đáng bực trung thần liệt nữ.

    Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,

    Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.

    Nay tuy là u hiển biệt ly,

    Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,

    Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,

    Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.

    Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,

    Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.

    Thôi nợ nước nay đà tận báo,

    Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.

    Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,

    Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,

    Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,

    Rửa cừu oan diệt tất não phiền.

    Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,

    Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác

    Sen chín phẩm nở ra trước mắt,

    Hết tử sanh quả Phật thấy liền.

    Hỡi các vì hồn có linh thiên,

    Nơi chín suối khá liền sám hối,

    Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,

    Dắt dìu ra khỏi lối u minh.

    Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,

    Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.

    Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,

    Lập đức công báo bổ tứ ân,

    Lời thiết tha đạo đức phân trần,

    Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

    ĐỒNG BÀO TỬ NẠN.

    (Thí thực cô hồn số 8)

    Hỡi ôi !

    Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,

    Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,

    Chúng sanh phải chịu khổ nguy,

    Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.

    Việc may rủi biết đâu chọn lánh,

    Nhận làm người mang gánh sự trần,

    Tam cang mới nặng muôn cân,

    Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.

    Lẽ sống thác là tùy số phận,

    Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,

    Mình là bổn phận con dâu,

    Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.

    Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,

    Giận quân thù chí dốc tòng quân,

    Ra đi dạ luống bâng khuâng,

    Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.

    Khi lặn suối trèo non vượt bể,

    Khi lên truông qua ải xuống đèo,

    Đai cơm, bầu nước, gươm đeo,

    Chút thân sống thác do theo số trời.

    Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,

    Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,

    Nhớ con thổn thức canh gà,

    Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.

    Khi sớm tối ai vào thăm viếng,

    Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?

    Đêm ngày giọt lệ chứa chan,

    Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.

    Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,

    Đánh liều theo máy tạo vần xoay,

    Trước cờ da ngựa bọc thây,

    Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!

    Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,

    Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,

    Con thơ vợ yếu lao nhao,

    Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?

    Đêm tủi phận dở dang duyên nợ,

    Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,

    Trông cho chiến thắng khải hoàn,

    Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.

    Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,

    Cùng anh em chung chạ một nhà,

    Xóm làng cô bác ông bà,

    Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.

    Người muốn vậy không hề được vậy,

    Bãi trường sa thịt nát máu tơi,

    Tên rơi đạn lạc hết đời,

    Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!

    Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,

    Dưới hố hầm chân núi cội cây,

    Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,

    Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.

    Ai có phước thi hài chôn lấp,

    Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,

    Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,

    Đến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?

    Vợ con với mẹ cha đâu biết,

    Chừng hay tin thì việc đã rồi,

    Nợ trần phủi sạch ai ôi,

    Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !

    Khen anh dũng xông pha tên đạn,

    Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,

    Sống làm Tướng, thác làm Thần,

    Non sông gánh vác tử phần đao binh.

    Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,

    Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,

    Trận vong chiến sĩ vì đời,

    Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.

    Nén hương đốt gội nhuần trước án,

    Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,

    Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,

    Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.

    Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,

    Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,

    Hồi đầu nương cửa từ bi

    Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.

    Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,

    Phật mười phương quảng đại độ siêu,

    Nương đàn chẩn tế tiêu dao,

    Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.

    SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

    (Thí thực cô hồn số 9)

    Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

    Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

    Tiệc chay cúng thí vừa xong

    Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

    Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

    Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

    Cam lồ rưới khắp mười phương

    Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

    Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

    Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

    Từ rày bá tánh bình yên

    Phước lành để lại trong miền nhân gian

    Tuổi đời lộc nước chứa chan

    Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

    Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

    Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

    Vinh hoa phú quí đủ điều

    Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

    Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

    Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

    Đến khi trăm tuổi mạng chung

    Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

    A Di Đà Phật phóng quang

    Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

    Khổ đau biển cả chập chùng

    Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

    Đài sen hoa nở vãng sanh

    Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

    Từ đây bỏ việc hơn thua

    Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

    – Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

    VĂN TẾ LIỆT SĨ

    (Thí thực cô hồn 10)

    Hỡi chư Liệt sĩ ôi!

    Họa đao binh từng đốt nung đất Việt

    Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam

    Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông

    Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt

    Nhớ những anh hùng xưa!

    Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc

    Rửa nhục chung, sống chết đâu màng

    Chốn sa tràng, trải mật phơi gan

    Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết

    Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết

    Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương

    Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương

    Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt

    Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến

    Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng

    Đạn nổ súng rền, gió hơi bom,

    long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .

    Cờ phất còi reo, tiếng trống dục,

    chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.

    Dưới làn bom, thịt nát xương tan,

    Đành ngã gục không hề khuất tiếc.

    Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ,

    cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.

    Người chiến sĩ, đền xong nợ nước,

    trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.

    Đấng anh hùng, rửa sạch nhục chung,

    đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.

    Than ôi!

    Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.

    Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang

    Cảm thương người, tai nạn tràn lan

    Thương xót kẻ, uổng oan mất tích

    Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh

    Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh

    Nơi dạ đài, người tử si có linh

    Nương thể phách, về trai đàn chứng giám

    Hỡi ơi! Thương thay!

    Có linh xin chứng! Có linh xin chứng!

    – Trích soạn “Kinh Nhựt tụng” – Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.

    VĂN TẾ CÔ HỒN (II)

    (Thí thực cô hồn 11)

    Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê

    Cõi nhơn gian thủy lục ê chề

    Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán

    Trên đến bực vương hầu khanh tướng

    Dưới đến người sĩ cổ nông công

    Nào kẻ ty, nào người tôn

    Nào là nam, nào là nữ

    Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ

    Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng

    Hoặc sa hầm sa hang

    Hoặc trúng thang trúng dược

    Đau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn

    Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm

    Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều

    Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết

    Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt,

    Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi

    Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển

    Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,

    Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay

    Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai

    Mãn tám tiết vắng người đơm quảy

    Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu

    Mù mù mịch mịch, đường xuất lý m

    ảng đợi trông ngày tháng

    Hội vô giá may vừa gặp khoản,

    Nương theo công bí mật hôm nay

    Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh

    Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần

    Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi!

    Ngôi liên đài quanh quất bên thân

    Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt

    Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức

    Đã chứng vào trong bực vô sanh

    Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh

    Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.

    Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.

    – Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng – Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê – Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

    HỒI HƯỚNG TẾ VĂN

    (Thí thực cô hồn 12)

    Kiến văn như huyển ế

    Tam giới nhược không hoa

    Văn phục, ế căn trừ

    Trần tiêu, giác viên tịnh

    Phục dĩ,

    Nguyên chơn như thanh tịnh

    Tội tánh vốn là không

    Biển khổ rộng mênh mông

    Sóng quanh theo đuổi mãi

    Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải

    Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày

    Địa ngục đà thọ báo đắng cay

    Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát

    Đã chẳng có ngày giải thoát

    Ắt là không chỗ đặng siêu thăng

    Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân

    Để mở đặng đảo huyền dây ác thú

    Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú

    Thí ra trên tiệc cam lồ

    Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn

    Soi khắp trong đường minh giới

    Nào những mấy dòng mê cả thảy

    Khiến đều về cực lạc phương tây

    Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực

    Đem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi

    Diệm nhiên Đại sĩ một tay

    Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng

    Ngạ quỉ hằng hà sa số

    Vô lượng vô biên xiết kể biết bao

    Cúi xin từ kiếp bỏ liền

    Cho đến ngày tái thế

    Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để

    Rửa tội khiên phút đã sạch rồi

    Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức

    Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân

    Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ

    Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn

    Khắp nơi bủa chật thiết sàng

    Hiện pháp tòa Bồ đề là đó

    Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ

    Sái đề hồ cam lộ vào đây

    Gặp người trái chủ hôm nay

    Buổi đó hết đòi hết hỏi

    Nhóm kiếp oan gia buổi trước,

    Cùng nhau thôi vấn thôi vương

    Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương

    Lòng từ thiện minh quang bảo hộ

    Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ

    Nay thời nhập Thánh siêu phàm

    Nợ nhơn thân lụy thế hết còn

    Rày đã thừa ân giải thoát

    Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện

    Miền nhơn gian tứ tướng có chi

    Tu la đà bỏ cả sân si

    Địa ngục lại hết điều khổ não

    Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo

    Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng

    Giống làm sanh chật nức mười loài

    Lên bờ giác lánh nơi đường tối

    Khắp xin cả hữu tình một nỗi

    Quốc độ này, quốc độ nọ

    Và vô lượng các quốc độ thảy

    Cùng nhau chung chứng chơn thường

    Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài

    Thế giới đó, thế giới đây

    Và vô lượng các thế giới nào

    Buổi đó đều nên Phật đạo

    Tứ ân khắp báo

    Tam hữu đều nhờ

    Người trong pháp giới bao giờ

    Ai ai cũng đồng nên chưởng trí.

    – Trích soạn “Kinh Nhựt Tụng ” Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

    SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG

    (Thí thực cô hồn 13)

    Nam mô Từ phụ Di Đà,

    Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.

    Thương đời bá tánh vạn dân,

    Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.

    Thế gian mong được an nhàn,

    Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.

    Chết ao, khe, biển, suối, sông,

    Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.

    Gió giông bão tố thủy triều,

    Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.

    Hồn phi phách lạc mất rồi,

    Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.

    Cõi đời sanh tử mơi chiều,

    Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.

    Lại còn giặc giã đao binh,

    Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.

    Núi rừng đồng rộng biển sông,

    Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.

    Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,

    Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.

    Sông sâu biển rộng bốn phương,

    Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.

    Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,

    Độ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.

    Linh đinh hồn vía mịt mờ,

    Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.

    Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,

    Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.

    Hồn về cảnh Phật đề huề,

    Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.

    Quan Âm đại sĩ từ hàng,

    Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.

    Nguyện cho hồn đặng vui mừng,

    Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.

    Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,

    Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.

    Vớt vong khỏi chốn suối sông,

    Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.

    Đưa vong khỏi biển ba đào,

    Đến nơi bờ giác lên mau lạ thường.

    Nam Mô Địa Tạng Minh Vương,

    Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.

    Chúng sanh chìm đắm hải hà,

    Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.

    Nổi trôi khổ sở tấm thân,

    Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.

    Nam mô đức Phật Thích Ca,

    Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.

    Ở trong thế giới U Minh,

    Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.

    Nguyện ngài giáo chủ A Di,

    Độ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.

    Ở yên mát mẻ tu hành,

    Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.

    Nam mô Tịnh độ Lạc bang,

    Độ vong hồn đặng Tây phang mau về.

    – Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Độ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.

    – Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.

    VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ

    (Thí thực cô hồn 14)

    Bích Liên Pháp Sư

    SÁM TÁN KHÔ LÂU

    (Thí thực cô hồn 15)

    Bích Liên Pháp Sư

    Hôm qua đồng vắng ngoạn du

    Thấy liền Đại đức khô lâu một vùng

    Bốn bên ghê gốc bịt bùng

    Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh

    Dàu dàu âm khí lạnh tanh

    Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Quê người ở mé giang đầu thiu thiu

    Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu

    Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời

    Phèo phèo khí lạnh đòi nơi

    Anh em lai vãng, có người nào đâu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Ấy người quân tử ở đâu bên đường

    Nhà ai vang vọng đêm trường

    Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào

    Đau thay gan ruột như bào

    Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu

    Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

    Đôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này

    Xiết thay, người thế ra chi

    Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm

    Ác vàng thỏ bạc xa xăm

    Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi

    Dần dà chi nữa người ơi

    Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma

    Hôm nay thiện tín trai gia

    Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”

    Lò vàng vừa bén mùi hương

    Đạo tràng mời khắp mười phương cô hồn

    Bao nhiêu tội chướng để dồn

    Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu

    Ân triêm phước lợi thắm mầu

    Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.

    – Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng năm 1940.

    – Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre

    TRẠO VĂN DIỄN ÂM

    (Thí thực cô hồn 16)

    Bích Liên Pháp Sư

    Hôm nay cúng thí trai đàn,

    Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.

    Quan Âm cứu khổ đã đành,

    Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.

    Niệm câu Mô Phật từ bi,

    Tuyên lời bí mật đức dày công cao.

    Độ người thập loại nao nao,

    Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.

    Trước đây triều đại còn truyền,

    Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.

    Hầu vương huân thích vang danh,

    Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.

    Trung cung, Tể chấp, đại quan,

    Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.

    Điềm hoa tươi đã vứt đi,

    Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.

    Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,

    Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.

    Chăn dân bủa hóa giữa giòng,

    Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.

    Đau lòng một chiếu thôi thương,

    Phải khi trích án sa trường biên bang.

    Hồn còn trìu mến giang san,

    Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.

    Người võ sĩ, kẻ nhung thần,

    Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.

    Băng xông trăm trận mũi vàng,

    Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.

    Đánh Nam dẹp Bắc tơi bời,

    Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.

    Tấm lòng vì nước mà vong,

    Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.

    Những người học cổ cùng kinh,

    Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.

    Bóng quang, hột tuyết dòm theo,

    Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!

    Ta đà mạng vận làm sao,

    Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.

    Hương hồn uất uất chi linh,

    Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.

    Những người cắt ái từ thân,

    Cửa không sớm đã chân lần vào trong.

    Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,

    Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.

    Trải bao lạnh nắng xoay quanh,

    Sự vô thường đã đến mình nào hay!

    Hồi quang soi chút bóng dày,

    Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.

    Những người võ phục huỳnh quan,

    Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.

    Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,

    Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.

    Lao thần khổ hạnh đòi phen,

    Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.

    Thôi đừng tiếc chút dị hình,

    Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.

    Những người con thảo cháu lành,

    Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.

    Những người liệt nữ trinh thê,

    Cái thân coi chết như về đâu đâu.

    Với người trọng tiết vong xu,

    Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.

    Hồn còn chói lọi linh thiêng,

    Đến đây hưởng thọ một diên cam lồ.

    Những người đạo nữ Ni đồ,

    Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.

    Phụng loan bỏ khống duyên phần,

    Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.

    Còn chưa liễu đặng vô vi,

    Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!

    Hồn người thăm thẳm thanh thanh,

    Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?

    Những người địa lý thiên văn,

    Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.

    Bói qui, dịch sủ qui vàng,

    Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.

    Mách người hung kiết biết bao,

    Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.

    Thôi rày xả ngụy qui chân,

    Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.

    Những người tọa mãi hành thương,

    Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.

    Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,

    Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.

    Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,

    Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.

    Một niềm lữ mộng vơi vơi,

    Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.

    Những người phạm pháp tạo hình,

    Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.

    Hại người toan lấy của người,

    Oan gia trái chủ trả đời nào xong!

    Người tật ác, kẻ tai hung,

    Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.

    Suối vàng kíp kíp đôi chân,

    Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.

    Những người ngựa đạp, xe thương,

    Vách đè thân nát như tương rã rời!

    Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.

    Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.

    Hoặc là thủy hỏa tai ương,

    Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.

    Hồn người bất hạnh trầm trầm,

    Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.

    Những người âm huyết dương mao,

    Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.

    Thi công mà trả nợ đày,

    Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.

    Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,

    Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.

    Hồn người oan khổ biết bao,

    Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.

    Những người ngỗ nghịch mẹ cha,

    Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.

    Những người chê Phật khinh Tăng,

    Đốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.

    Lắm điều tà kiến trầm mê,

    Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.

    Hồn người thật ác, thương ôi,

    Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.

    Cửa nhà đại thí mở ra,

    Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.

    Tiên vong hòa tổ hòa tôn,

    Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.

    Đường ba, nạn tám thiếu chi,

    Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.

    Cậy chưng Phật Pháp quang miên,

    Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.

    A Di Đà Phật Bồ Đề,

    Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,

    Đường mê trông thấy nhãn tiền,

    Đắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!

    Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,

    Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.

    Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,

    Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.

    – Đây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định soạn, khoảng năm 1940.

    – Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.

    VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN

    (Thí thực cô hồn 17)

    Bích Liên Pháp Sư

    Dấu người thập loại biết là đâu?

    Hồn phách mơ màng trải mấy thu,

    Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,

    Những mồ vô chủ thấy mà đau!

    Tịch mịch dạ canh thâm,

    Hoa Đàm bá phạm âm,

    Cô hồn văn triệu thỉnh,

    Bộ bộ tốc lai lâm.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Ác vàng tên ruỗi,

    Thỏ bạc thoi dong,

    Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,

    Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!

    Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,

    Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,

    Nghe lời triệu thỉnh đành rành,

    Hồn chơi trong cõi U minh xin về.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Màu non lờ lạc,

    Dòng nước thầm thì,

    Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,

    Người mới đó, chim rày đã lặn.

    Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,

    Đôi phen mời, linh sản ở đâu đây,

    Vong linh ơi hỡi có hay,

    Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.

    – Nhứt tâm triệu thỉnh:

    Biển trần lênh láng,

    Sóng nghiệp lao xao,

    Người mê man trong giấc chiêm bao,

    May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.

    Sống chẳng niệm Di Đà Phật hiệu,

    Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,

    Đầy ba phen, hương thắp bảo đàn,

    Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.

    Xin vâng Tam Bảo pháp lành,

    Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.

    Về đây hưởng thọ hương huê,

    Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.

    – Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,

    Triều đại xưa, trải quá biết bao!

    Đền đài chín lớp ở cao,

    Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.

    Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,

    Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,

    Đỗ quyên kêu trót tàn canh,

    Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.

    Trước sau vương bá những là,

    Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.

    – Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

    Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,

    Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,

    Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.

    Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,

    Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,

    Ngựa xe chiến tướng vắng không,

    Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!

    Anh hùng tướng soái bao nhiêu,

    Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?

    – Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,

    Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.

    Ba năm thanh tiết làm quan,

    Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.

    Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,

    Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,

    Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,

    Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.

    Văn thần xiết kể muôn ngàn,

    Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.

    – Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,

    Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,

    Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,

    Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.

    Tan bữa đốm, tiếc dày công học,

    Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,

    Lụa hồng bảy thước đề tên,

    Đất vàng một cụm, lấp nền văn chương.

    Văn nhân biết mấy đâu lường,

    Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.

    – Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,

    Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,

    Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,

    Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.

    Làn hoa trúc, vài câu mật đế,

    Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,

    Tam canh song tẩm lạnh lùng,

    Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.

    Trung lưu này những bi ai,

    Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,

    Dòng vũ y phong cách nhà tiên,

    Tu chơn trong động đào nguyên,

    Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.

    Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,

    Đất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,

    Lò đơn lẫm quán lạnh sương,

    Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.

    Bao nhiêu đạo sĩ những là,

    Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.

    – Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,

    Đường bắc nam trải thử hành thương,

    Lợi quyền muôn dặm, toan đương,

    Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.

    Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,

    Bước đá mây, xương rã đường dê,

    Phách theo mây cuốn sè sè,

    Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Đông.

    Thương nhân, sau trước một dòng,

    Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,

    Sức phương cường, mình bận áo binh,

    Cờ điều phất bóng tương tranh,

    Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.

    Ruột gan nát, thao trường kim cổ,

    Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,

    Cát vàng văng vẳng tiếng ma,

    Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.

    Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,

    Đêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.

    – Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,

    Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,

    Trước mừng loan phụng hiệp bầy,

    Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.

    Vầng cung phụng, phút tường hung cát.

    Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,

    Nhành hoa nở, trận mưa tuông,

    Đường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.

    Những người sản nạn qui âm,

    Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.

    – Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,

    Với những người ú ớ điếc đui,

    Chết mình, tôi tớ lui thui,

    Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.

    Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,

    Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,

    Đêm trường thăm thẳm bóng mơi,

    Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.

    Những người bội nghịch hoang hung,

    Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.

    – Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,

    Gái má đào, sắc nước kém đâu,

    Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,

    Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.

    Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,

    Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,

    Phong lưu ngày trước đâu rồi,

    Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.

    Những trang xinh tốt xưa nay,

    Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.

    – Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,

    Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,

    Gặp tai nước lửa hại mình,

    Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.

    Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,

    Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,

    Mưa chiều khói lạnh nước reo,

    Lá thu gió thổi dập dìu như bay.

    Những người hoạnh tử xưa nay,

    Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.

    – Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,

    Những cô hồn mười loại đâu đây,

    Diện-Nhiên sở thống một tay,

    Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.

    Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,

    Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,

    Hồn cô, phách trệ linh đinh,

    Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.

    Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,

    Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.

    Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,

    Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.

    Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,

    Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.

    A Di Đà Phật Như Lai,

    Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.

    – Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai, Bé Gái Mau Ăn Chóng Lớn
  • Ông Trùm Giải Trí Bí Mật Cưng Chiều: Cô Vợ Ngốc Ngọt Ngào
  • Sa Vào Trêu Ghẹo Vợ Yêu : Tổng Giám Đốc Vô Cùng Cưng Chiều
  • Văn Khấn Tết Trung Nguyên (Rằm Tháng 7 Âm Lịch)
  • Dropdeck Giành Giải Nhất Cuộc Thi Start Jerusalem 2021
  • Lời Bài Thơ Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (Nguyễn Du)

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bài Văn Cúng Chúng Sinh Cac Bai Van Cung Chung Sinh Doc
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh Và Các Văn Cúng Cô Hồn Hàng Ngày
  • Văn Khấn Bài Cúng Lễ Ban Công Đồng
  • Hướng Dẫn Văn Cúng Vào Ngày Giỗ
  • văn tế thập loại chúng sinh

    Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô

    Não ngườI thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng…

    Đường bạch dương bóng chiều man mác,

    Dịp đường lê lác đác mưa sa

    Lòng nào lòng chẳng thiết tha

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    Có khôn thiêng phảng phất u minh…

    Thương thay thập loại chúng sing

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

    Hương lửa đã không nơi nương tựa

    Hồn mồ côi lần lữa bấy niên…

    Còn chi ai khá ai hèn

    Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

    Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi

    Muôn nhờ đức Phật từ bi

    Giải oan cứu khổ độ về tây phương.

    Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh

    Chí những lăm cất gámh non sông

    Nói chi những buổi tranh hùng

    Tưởngn khi thế khuất vận cùng mà đau!

    Bỗng phút đâu mưă sa ngói lở

    Khôn đem mình làm đứa thất phu

    Giàu sang càng nặng oán thù

    Máu tươi lai láng xương khô rụng rời

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.

    Cũng có kẻ màn lan trướng huệ

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy

    Phận đã đành trâm gãy bìng rơi

    Khi sao đông đúc vui cười

    Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Đau đớn nhẽ không hương không khói

    Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

    Thương thay chân yếu tay mềm

    Càngnăm càng héo một đêm một dài.

    Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngọn bút son thác sống ở tay

    Kinh luân găm một túi đầy

    Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

    Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,

    Trăm loài ma mồ nấm chung quanh

    Ngàn vàn khôn đổi được mình

    Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    Cô hồn thất thểu dọc ngang

    Nặng oan khôn nh9e tìm đường hóa sinh?

    Kìa những kẻ bài binh bố trận

    Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung

    Gió mưa sấm sét đùng đùng

    Phơi thây trăm họ nên công một người.

    Khi thất thế tên rơi đạn lạc

    Bãi sa trường thịt nát máu rơi

    Mênh mông góc bể chân trời

    Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

    Trời thăm thẳm mưa gào gió thét

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau

    Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

    Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú

    Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn

    Ruột rà khôngkẻ chí thân

    Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

    Của phù vân dẫu có như không

    Sống thời tiền chảy bạc ròng

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm

    Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

    Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm

    Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy

    Dẫn mình vào thành thị lân la

    Mấy thu lìa cửa lìa nhà

    Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.

    Dọc hàng qúan gặp tuần mưa nắng

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng

    Anh em thiên hạ láng giềng người dưng

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc

    Bãi tha ma kẻ dọc người ngang

    Cô hồn nhờ gửi tha phương

    Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông

    Gặp cơn giông tố giữa dòng

    Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán

    Đòn gánh tre chín dạn hai vai

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời

    Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khóa lính

    Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan

    Nước khe cơm vắt gian nan

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

    Buổi chiến trận mạng người như rác

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi

    Lập lòe ngọn lửa ma trơi

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

    Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp

    Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa

    Ngẩn ngơ khi trở về già

    Ai chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ

    Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất

    Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi

    Thương thay cũng một kiếp người

    Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.

    Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

    Gửi mình vào chiếu rách một manh

    Nắm xương chôn rấp góc thành

    Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

    Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha

    Lấy ai bồng bế xót xa

    U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối

    Cũng có người sẩy cối sa cây

    Có người leo giếng đứt dây

    Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

    Người thì mắc sơn tinh thủy quái

    Người thì sa nanh sói ngà voi

    Có người hay đẻ không nuôi

    Có người sa sẩy có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

    Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

    Mỗi người một nghiệp khác nhau

    Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây

    Hoặc là điếm cỏ bóng cây

    Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ

    Hoặc là nương thần từ Phật tự

    Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không

    Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre

    Sống đã chịu một bề thảm thiết

    Ruột héo khô dạ rét căm căm

    Dãi dầu trong mấy mươi năm

    Thở than dưới đất ăn nằm trên sương

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn

    Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra

    Lôi thôi bồng trẻ dắt già

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

    Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ

    Phóng hào quang cứu khổ độ u

    Rắp hòa tứ hải quần chu

    Não phiền trút sạch oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như hình như ảnh

    Có chữ rằng:”Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo

    Của có khi bát cháo nén nhang

    Gọi là manh áo thoi vàng

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ

    Phép thiên biến ít thành nhiều

    Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Nguyễn Du
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Đại Thi Hào Nguyễn Du
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Thần Thổ Công
  • Văn Cúng Tất Niên Xóm Van Cung Xom Tat Nien Doc
  • Chuyên Gia Chỉ Ngày, Giờ Tốt Nhất Cúng Tất Niên Tết 2021 Giúp Mang Tài Lộc Đến Nhà
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Nguyễn Du

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Bài Thơ Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (Nguyễn Du)
  • Các Bài Văn Cúng Chúng Sinh Cac Bai Van Cung Chung Sinh Doc
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh Và Các Văn Cúng Cô Hồn Hàng Ngày
  • Văn Khấn Bài Cúng Lễ Ban Công Đồng
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (cũng gọi với tên khác là Văn Chiêu Hồn) là một bài văn khấn tế, đề cập đến xã hội hồn ma một cách thảm thương nhất. Đó là hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế, song khác biệt cơ bản ở chỗ không có đối lập giàu nghèo, sang hèn. Chúng sinh ai cũng như ai cùng chịu cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn nên nhà thơ xót thương tất cả…

    Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm. Theo một số nhà nghiên cứu, phê bình văn học, có thể chia bài văn thành bốn phần:

    • Phần một (20 câu): Tả cảnh một chiều thu tháng bảy mưa dầm buồn bã, khiến nhà thơ chạnh lòng thương đến các chúng sinh đang lạnh lẽo, bơ vơ nơi cõi âm mà lập đàn cầu siêu…
    • Phần hai (116 câu): Chỉ danh nguyên nhân thiệt mạng của mười loại Cô Hồn.
    • Phần ba (20 câu): Miêu tả cảnh sống thê lương thảm thiết của các Cô Hồn.
    • Phần cuối (28 câu): Lời cầu xin phép Phật nhiệm mầu giúp cho họ được giải thoát. Cuối cùng là lời mời các Cô Hồn tới nhận phần lễ cúng để siêu độ.

    Xuất xứ tác phẩm:

    Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong bản văn do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “Đông Dương Tuần Báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết Văn Chiêu Hồn trước cả Truyện Kiều, khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812). Không có tài liệu nào cho thấy Nguyễn Du diễn Nôm bài Văn Chiêu Hồn từ một tác phẩm của Phật Giáo…

    Từ Điển Văn Học (NXB Thế Giới, 2004, tr. 1972) cho biết người đầu tiên phát hiện bài văn tại chùa Diệc ở thành phố Vinh là Lê Thước. Nhưng cổ nhất là bản khắc ván năm 1895, của nhà sư Chính Đại (nên được gọi là bản Chính Đại), được tàng trữ ở chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Từ hai bản này, Hoàng Xuân Hãn khảo chứng, hiệu đính kỹ lưỡng và đã đưa ra một văn bản khác có độ tin cậy cao hơn…

    Một phần cảnh đời tác giả:

    Trong phần giới thiệu Thơ Chữ Hán Nguyễn Du có đoạn:

    Cuộc sống “mười năm gió bụi” từ 1786 đến 1795 của Nguyễn Du như thế nào, thì ông đã phản ảnh rõ trong Thanh Hiên Thi Tập. Suốt mười năm ấy, nay đầu sông, mai cuối bể, ăn nhờ ở đậu, túi rỗng không, đau ốm liên miên, nghèo không tiền mua thuốc, nhiều lần muốn về quê nhà ở Hà Tĩnh, nhưng ở đó nhà cũng không có, mà anh em thì mỗi người một ngả… Đến khi được trở về nhà (làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An) thì ông đã là nhà nho mới hơn ba mươi tuổi mà tóc đã bạc trắng, bệnh tật, có lúc bệnh mấy tháng liền mà chỉ nằm chờ chết, trong nhà bếp lạnh tanh…

    Cho đến khi ông ra làm quan với triều Nguyễn, gia phả chép: Dầu làm đến chức Á Khanh mà ông vẫn giữ vẻ thanh nhã đơn giản như một học trò nghèo. Trong Nam Trung Tạp Ngâm, ít ra cũng có hai bài thơ nói đến vợ con ăn đói, mặt xanh như lá rau… Tất cả những chi tiết đó giải thích tại sao Nguyễn Du thuộc tầng lớp trên mà trong thơ ca lại có một mối đồng tình thắm thiết với những người vốn thuộc tầng lớp thấp… Điều này thấy rất rõ trong bài Văn Tế chiêu hồn.

    Nghe ngâm thơ bài “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh”:

    Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô

    Não người thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng…

    Đường bạch dương bóng chiều man mác,

    Dịp đường lê lác đác mưa sa

    Lòng nào lòng chẳng thiết tha

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    Có khôn thiêng phảng phất u minh…

    Thương thay thập loại chúng sinh

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

    Hương lửa đã không nơi nương tựa

    Hồn mồ côi lần lữa bấy niên…

    Còn chi ai khá ai hèn

    Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

    Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi

    Muôn nhờ đức Phật từ bi

    Giải oan cứu khổ độ về Tây phương.

    *

    Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh

    Chí những lăm cất gámh non sông

    Nói chi những buổi tranh hùng

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

    Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở

    Khôn đem mình làm đứa thất phu

    Giàu sang càng nặng oán thù

    Máu tươi lai láng xương khô rụng rời

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà Cô Hồn biết bao giờ cho tan.

    Cũng có kẻ màn lan trướng huệ

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi

    Khi sao đông đúc vui cười

    Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Đau đớn nhẽ không hương không khói

    Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

    Thương thay chân yếu tay mềm

    Càng năm càng héo một đêm một dài.

    Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngọn bút son thác sống ở tay

    Kinh luân găm một túi đầy

    Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

    Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,

    Trăm loài ma mồ nấm chung quanh

    Ngàn vàng khôn đổi được mình

    Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    Cô Hồn thất thểu dọc ngang

    Nặng oan khôn lẽ tìm đường hóa sinh?

    Kìa những kẻ bài binh bố trận

    Đổi mình vào cướp ấn Nguyên Nhung

    Gió mưa sấm sét đùng đùng

    Phơi thây trăm họ nên công một người.

    Khi thất thế tên rơi đạn lạc

    Bãi sa trường thịt nát máu rơi

    Mênh mông góc bể chân trời

    Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

    Trời thăm thẳm mưa gào gió thét

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau

    Ngàn mây nội cỏ rầu rầu

    Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú

    Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn

    Ruột rà không kẻ chí thân

    Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

    Của phù vân dẫu có như không

    Sống thời tiền chảy bạc ròng

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm

    Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

    Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm

    Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy

    Dẫn mình vào thành thị lân la

    Mấy thu lìa cửa lìa nhà

    Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.

    Dọc hàng quán gặp tuần mưa nắng

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng

    Anh em thiên hạ láng giềng người dưng

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc

    Bãi tha ma kẻ dọc người ngang

    Cô Hồn nhờ gửi tha phương

    Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông

    Gặp cơn giông tố giữa dòng

    Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán

    Đòn gánh tre chín dạn hai vai

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời

    Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khóa lính

    Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan

    Nước khe cơm vắt gian nan

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

    Buổi chiến trận mạng người như rác

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi

    Lập lòe ngọn lửa ma trơi

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

    Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp

    Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa

    Ngẩn ngơ khi trở về già

    Ai chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa

    Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất

    Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi

    Thương thay cũng một kiếp người

    Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

    Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

    Gửi mình vào chiếu rách một manh

    Nắm xương chôn rấp góc thành

    Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

    Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha

    Lấy ai bồng bế xót xa

    U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối

    Cũng có người sẩy cối sa cây

    Có người leo giếng đứt dây

    Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

    Người thì mắc sơn tinh thủy quái

    Người thì sa nanh sói ngà voi

    Có người hay đẻ không nuôi

    Có người sa sẩy có người khốn thương.

    *

    Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

    Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

    Mỗi người một nghiệp khác nhau

    Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây

    Hoặc là điếm cỏ bóng cây

    Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ

    Hoặc là nương Thần từ, Phật tự

    Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre

    Sống đã chịu một bề thảm thiết

    Ruột héo khô dạ rét căm căm

    Dãi dầu trong mấy mươi năm

    Thở than dưới đất ăn nằm trên sương

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn

    Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra

    Lôi thôi bồng trẻ dắt già

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe Kinh.

    *

    Nhờ phép Phật siêu sinh Tịnh Độ

    Phóng hào quang cứu khổ độ u

    Rắp hòa tứ hải quần chu

    Não phiền trút sạch oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe Kinh.

    Kiếp phù sinh như hình như ảnh

    Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật Giáo

    Của có khi bát cháo nén nhang

    Gọi là manh áo thoi vàng

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ

    Phép thiêng biến ít thành nhiều

    Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam-mô chư Phật, Pháp, Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Đại Thi Hào Nguyễn Du
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Thần Thổ Công
  • Văn Cúng Tất Niên Xóm Van Cung Xom Tat Nien Doc
  • Chuyên Gia Chỉ Ngày, Giờ Tốt Nhất Cúng Tất Niên Tết 2021 Giúp Mang Tài Lộc Đến Nhà
  • Văn Cúng Tất Niên Cần Biết Cho Bạn
  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Đại Thi Hào Nguyễn Du

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Của Nguyễn Du
  • Lời Bài Thơ Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (Nguyễn Du)
  • Các Bài Văn Cúng Chúng Sinh Cac Bai Van Cung Chung Sinh Doc
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh
  • Văn Cúng Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh Và Các Văn Cúng Cô Hồn Hàng Ngày
  • Văn tế thập loại chúng sinh còn được gọi là Văn chiêu hồn hay Văn tế chiêu hồn là một trong số tác phẩm xuất sắc của thi hào Nguyễn Du.

    Đôi nét về tác phẩm văn tế thập loại chúng sinh

    Văn tế thập loại chúng sinh, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “Đông Dương tuần báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, GS. Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả Truyện Kiều, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812).

    Từ Điển Văn Học (NXB Thế Giới, 2004, tr. 1972) cho biết người đầu tiên phát hiện bài văn tại chùa Diệc ở thành phố Vinh là Lê Thước. Nhưng cổ nhất là bản khắc ván năm 1895, của nhà sư Chính Đại (nên được gọi là bản Chính Đại), được tàng trữ ở chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Từ hai bản này, Hoàng Xuân Hãn khảo chứng, hiệu đính kỹ lưỡng và đã đưa ra một văn bản khác có độ tin cậy cao hơn…

    Trong phần giới thiệu Thơ Chữ Hán Nguyễn Du có đoạn:

    Cuộc sống “mười năm gió bụi” từ 1786 đến 1795 của Nguyễn Du như thế nào, thì ông đã phản ảnh rõ trong Thanh Hiên Thi Tập. Suốt mười năm ấy, nay đầu sông, mai cuối bể, ăn nhờ ở đậu, túi rỗng không, đau ốm liên miên, nghèo không tiền mua thuốc, nhiều lần muốn về quê nhà ở Hà Tĩnh, nhưng ở đó nhà cũng không có, mà anh em thì mỗi người một ngả… Đến khi được trở về nhà (làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An) thì ông đã là nhà nho mới hơn ba mươi tuổi mà tóc đã bạc trắng, bệnh tật, có lúc bệnh mấy tháng liền mà chỉ nằm chờ chết, trong nhà bếp lạnh chúng tôi đến khi ông ra làm quan với triều Nguyễn, gia phả chép: Dầu làm đến chức Á Khanh mà ông vẫn giữ vẻ thanh nhã đơn giản như một học trò nghèo. Trong Nam Trung Tạp Ngâm, ít ra cũng có hai bài thơ nói đến vợ con ăn đói, mặt xanh như lá rau… Tất cả những chi tiết đó giải thích tại sao Nguyễn Du thuộc tầng lớp trên mà trong thơ ca lại có một mối đồng tình thắm thiết với những người vốn thuộc tầng lớp thấp… Điều này thấy rất rõ trong bài Văn Tế chiêu hồn.

    Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm. Có thể chia bài văn thành bốn phần:

    Phần một (20 câu): tả cảnh một chiều thu tháng Bảy mưa dầm buồn bã, khiến nhà thơ chạnh lòng thương đến các chúng sinh đang lạnh lẽo, bơ vơ nơi cõi âm mà lập đàn cầu siêu…

    Phần hai (116 câu): nêu rõ tên và nguyên nhân thiệt mạng của mười loại cô hồn.

    Phần ba (20 câu): miêu tả cảnh sống thê lương thảm thiết của các cô hồn.

    Phần cuối (28 câu): lời thỉnh cầu phép Phật nhiệm mầu giúp cho họ được giải thoát. Cuối cùng là lời mời các cô hồn tới nhận phần lễ cúng để lên đàng thăng thiên…

    Nội dung bài Văn tế thập loại chúng sinh

    Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô

    Não người thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng…

    Đường bạch dương bóng chiều man mác,

    Dịp đường lê lác đác mưa sa

    Lòng nào lòng chẳng thiết tha

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    Có khôn thiêng phảng phất u minh…

    Thương thay thập loại chúng sinh

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

    Hương lửa đã không nơi nương tựa

    Hồn mồ côi lần lữa bấy niên…

    Còn chi ai khá ai hèn

    Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

    Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi

    Muôn nhờ đức Phật từ bi

    Giải oan cứu khổ độ về Tây phương.

    oOo

    Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh

    Chí những lăm cất gámh non sông

    Nói chi những buổi tranh hùng

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

    Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở

    Khôn đem mình làm đứa thất phu

    Giàu sang càng nặng oán thù

    Máu tươi lai láng xương khô rụng rời

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà Cô Hồn biết bao giờ cho tan.

    Cũng có kẻ màn lan trướng huệ

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi

    Khi sao đông đúc vui cười

    Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Đau đớn nhẽ không hương không khói

    Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

    Thương thay chân yếu tay mềm

    Càng năm càng héo một đêm một dài.

    Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngọn bút son thác sống ở tay

    Kinh luân găm một túi đầy

    Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

    Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,

    Trăm loài ma mồ nấm chung quanh

    Ngàn vàng khôn đổi được mình

    Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    Cô Hồn thất thểu dọc ngang

    Nặng oan khôn lẽ tìm đường hóa sinh?

    Kìa những kẻ bài binh bố trận

    Đổi mình vào cướp ấn Nguyên Nhung

    Gió mưa sấm sét đùng đùng

    Phơi thây trăm họ nên công một người.

    Khi thất thế tên rơi đạn lạc

    Bãi sa trường thịt nát máu rơi

    Mênh mông góc bể chân trời

    Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

    Trời thăm thẳm mưa gào gió thét

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau

    Ngàn mây nội cỏ rầu rầu

    Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú

    Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn

    Ruột rà không kẻ chí thân

    Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

    Của phù vân dẫu có như không

    Sống thời tiền chảy bạc ròng

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm

    Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

    Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm

    Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy

    Dẫn mình vào thành thị lân la

    Mấy thu lìa cửa lìa nhà

    Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.

    Dọc hàng quán gặp tuần mưa nắng

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng

    Anh em thiên hạ láng giềng người dưng

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc

    Bãi tha ma kẻ dọc người ngang

    Cô Hồn nhờ gửi tha phương

    Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông

    Gặp cơn giông tố giữa dòng

    Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán

    Đòn gánh tre chín dạn hai vai

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời

    Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khóa lính

    Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan

    Nước khe cơm vắt gian nan

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

    Buổi chiến trận mạng người như rác

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi

    Lập lòe ngọn lửa ma trơi

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

    Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp

    Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa

    Ngẩn ngơ khi trở về già

    Ai chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa

    Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất

    Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi

    Thương thay cũng một kiếp người

    Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

    Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

    Gửi mình vào chiếu rách một manh

    Nắm xương chôn rấp góc thành

    Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

    Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha

    Lấy ai bồng bế xót xa

    U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối

    Cũng có người sẩy cối sa cây

    Có người leo giếng đứt dây

    Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

    Người thì mắc sơn tinh thủy quái

    Người thì sa nanh sói ngà voi

    Có người hay đẻ không nuôi

    Có người sa sẩy có người khốn thương.

    oOo

    Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

    Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

    Mỗi người một nghiệp khác nhau

    Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây

    Hoặc là điếm cỏ bóng cây

    Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ

    Hoặc là nương Thần từ, Phật tự

    Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre

    Sống đã chịu một bề thảm thiết

    Ruột héo khô dạ rét căm căm

    Dãi dầu trong mấy mươi năm

    Thở than dưới đất ăn nằm trên sương

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn

    Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra

    Lôi thôi bồng trẻ dắt già

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe Kinh.

    oOo

    Nhờ phép Phật siêu sinh Tịnh Độ

    Phóng hào quang cứu khổ độ u

    Rắp hòa tứ hải quần chu

    Não phiền trút sạch oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe Kinh.

    Kiếp phù sinh như hình như ảnh

    Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật Giáo

    Của có khi bát cháo nén nhang

    Gọi là manh áo thoi vàng

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ

    Phép thiêng biến ít thành nhiều

    Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam-mô chư Phật, Pháp, Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

    Bài này còn gọi là “Văn chiêu hồn” hay “Văn tế chiêu hồn”. Nguồn: Văn tế cổ và kim, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1960

    Thi hào Nguyễn Du

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Bài Văn Cúng Khấn Thần Thổ Công
  • Văn Cúng Tất Niên Xóm Van Cung Xom Tat Nien Doc
  • Chuyên Gia Chỉ Ngày, Giờ Tốt Nhất Cúng Tất Niên Tết 2021 Giúp Mang Tài Lộc Đến Nhà
  • Văn Cúng Tất Niên Cần Biết Cho Bạn
  • Bài Văn Cúng Cầu Khấn Thần Tài
  • Bài Thơ: Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (Nguyễn Du

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Khấn Cầu Tình Duyên
  • Cô Bé Chí Mìu Bắc Giang
  • Bài Văn Khấn Cô Chín Phổ Biến Nhất
  • Tìm Hiểu Đền Cô Chí Mìu Bắc Giang
  • Văn Khấn Cô Chín Đầy Đủ Chính Xác Nhất
  • Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,

    Toát hơi may lạnh buốt xương khô,

    Não người thay buổi chiều thu,

    Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.

    5. Đường bạch dương bóng chiều man mác,

    Ngọn đường lê lác đác sương sa,

    Lòng nào là chẳng thiết tha,

    Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

    Trong trường dạ tối tăm trời đất,

    10. Có khôn thiêng phảng phất u minh,

    Thương thay thập loại chúng sinh,

    Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

    Hương khói đã không nơi nương tựa,

    Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,

    15. Còn chi ai quí ai hèn,

    Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?

    Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

    Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi

    Muôn nhờ đức Phật từ bi,

    20. Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương.

    Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,

    Chí những lăm cướp gánh non sông,

    Nói chi những buổi tranh hùng

    Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.

    25. Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở

    Khôn đem mình làm đứa sất phu,

    Lớn sang giàu nặng oán thù,

    Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

    Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

    30. Quỷ không đầu than khóc đêm mưa

    Cho hay thành bại là cơ

    Mà cô hồn biết bao giờ cho tan!

    Cũng có kẻ màn lan trướng huệ,

    Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

    35. Một phen thay đổi sơn hà,

    Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

    Trên lầu cao dưới cầu nước chảy

    Phận đã đành trâm gãy bình rơi,

    Khi sao đông đúc vui cười,

    40. Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

    Đau đớn nhẽ không hương không khói,

    Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

    Thương thay chân yếu tay mềm

    Càng năm càng héo, một đêm một rầu.

    45. Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

    Ngọn bút son thác sống ở tay,

    Kinh luân găm một túi đầy,

    Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

    Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

    50. Trăm loài ma mồ nấm chung quanh,

    Nghìn vàng khôn đổi được mình

    Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?

    Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

    Biết lấy ai bát nước nén nhang?

    55. Cô hồn thất thểu dọc ngang,

    Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh.

    Kìa những kẻ bài binh bố trận

    Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung.

    Gió mưa sấm sét đùng đùng,

    60. Dãi thây trăm họ nên công một người.

    Khi thất thế tên rơi đạn lạc,

    Bãi sa trường thịt nát máu rơi,

    Bơ vơ góc bể chân trời,

    Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

    65. Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

    Khí âm huyền mờ mịt trước sau,

    Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

    Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

    Cũng có kẻ tính đường trí phú,

    70. Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn,

    Ruột rà không kẻ chí thân

    Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

    Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

    Của phù du dẫu có như không,

    75. Sống thời tiền chảy bạc ròng,

    Thác không đem được một đồng nào đi.

    Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm

    Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

    Ngẩn ngơ trong quãng đồng chiêm,

    80. Nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu?

    Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý

    Dấn mình vào thành thị lân la,

    Mấy thu lìa cửa lìa nhà,

    Văn chương đã chắc đâu mà trí thân?

    85. Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

    Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng,

    Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

    Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.

    Bóng phần tử xa chừng hương khúc

    90. Bãi tha ma kẻ dọc người ngang,

    Cô hồn nhờ gửi tha phương,

    Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

    Cũng có kẻ vào sông ra bể,

    Cánh buồm mây chạy xế gió đông

    95. Gặp cơn giông tố giữa dòng,

    Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.

    Cũng có kẻ đi về buôn bán,

    Đòn gánh tre chín dạn hai vai,

    Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

    100. Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

    Cũng có kẻ mắc vào khoá lính,

    Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan,

    Nước khe cơm ống gian nan,

    Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

    105. Buổi chiến trận mạng người như rác,

    Phận đã đành đạn lạc tên rơi.

    Lập loè ngọn lửa ma trơi,

    Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

    Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

    110. Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

    Ngẩn ngơ khi trở về già,

    Đâu chồng con tá biết là cậy ai?

    Sống đã chịu một đời phiền não

    Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

    115. Đau đớn thay phận đàn bà,

    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

    Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

    Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

    Thương thay cũng một kiếp người,

    120. Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

    Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

    Gửi mình vào chiếu rách một manh.

    Nắm xương chôn rấp góc thành,

    Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

    125. Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

    Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.

    Lấy ai bồng bế vào ra,

    U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

    Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

    130. Cũng có người sẩy cối sa cây,

    Có người leo giếng đứt dây,

    Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

    Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái

    Người thì sa nanh sói ngà voi,

    135. Có người hay đẻ không nuôi,

    Có người sa sẩy, có người khốn thương.

    Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

    Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

    Mỗi người một nghiệp khác nhau

    140. Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?

    Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,

    Hoặc là nương ngọn suối chân mây,

    Hoặc là bụi cỏ bóng cây,

    Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ.

    145. Hoặc là nương thần từ, Phật tự

    Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông

    Hoặc là trong quãng đồng không,

    Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

    Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết,

    150. Gan héo khô dạ rét căm căm,

    Dãi dầu trong mấy mươi năm,

    Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương.

    Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

    Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra,

    155. Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

    Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

    Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,

    Phóng hào quang cứu khổ độ u,

    Rắp hoà tứ hải quần chu,

    160. Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.

    Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

    Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

    Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,

    Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

    165. Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,

    Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao,

    Mười loài là những loài nào?

    Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

    Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,

    170. Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”

    Ai ơi lấy Phật làm lòng,

    Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

    Của có chi bát cháo nén nhang,

    175. Gọi là manh áo thoi vàng,

    Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

    Ai đến đây dưới trên ngồi lại,

    Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.

    Phép thiêng biến ít thành nhiều,

    180. Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sình.

    Phật hữu tình từ bi phổ độ

    Chớ ngại rằng có có không không.

    Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng

    Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Việc Sắm Lễ Và Bài Văn Khấn Chúng Sinh
  • Bài Khấn Cúng Chúng Sinh Ngoài Trời Và Chọn Đồ Cúng
  • 3 Bài Văn Khấn Được Dùng Nhiều Nhất Dịp Rằm Tháng 7
  • Bài Văn Khấn Chúng Sinh Rằm Tháng 7 Cư Dân @ Có Thể Tham Khảo
  • Văn Khấn Cầu Tự Sinh Con
  • Tin tức online tv