Top 18 # Xem Nhiều Nhất Văn Khấn Cúng Tuần Thất / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Herodota.com

Cúng Thất Tuần Và Những Điều Cần Lưu Ý Khi Cúng Thất Tuần / 2023

Theo phong tục dân gian, khi trong nhà có người qua đời cần bảo quản linh cữu trong nhà 3 ngày rồi mới mang đi mai táng. Người ta quan niệm linh hồn người chết sau 7 ngày sẽ trở về nhà, gọi là “tuần thất đầu tiên”. Nhiều người vẫn bán tín bán nghi rằng, liệu sau khi chết đi, linh hồn người ta có thể thực sự trở về dương gian được không? Đầu thất

Trong phong tục tang lễ của người xưa, “đầu thất” là chỉ ngày thứ 7 sau khi người chết tạ thế. Mọi người đều tin rằng vào ngày “đầu thất”, linh hồn người chết sẽ trở về nhà. Người nhà cần chuẩn bị một mâm cơm, sau đó trốn đi trước khi linh hồn người thân trở về (có thể trốn trong chăn, hoặc đi ngủ).

Nếu hồn nhìn thấy người nhà sẽ tưởng nhớ không muốn rời đi, từ đó ảnh hưởng tới việc đầu thai. Lại có người nói vào giờ Tý của ngày “đầu thất” người nhà nên đốt một đồ vật có giống như hình cái thang để linh hồn có thể theo chiếc thang này lên trời.

Những điều chú ý vào ngày “đầu thất”

Theo kinh Địa Tạng, thần thức của một người sau khi chết hầu hết đều phải trải qua giai đoạn trung gian. Tuổi thọ của thân trung ấm (nôm na là sự sống sau khi chết) tối đa là 49 ngày, sau đó người chết sẽ thọ sinh vào một cảnh giới tương ứng với nghiệp lực mà họ đã gây tạo.

Ngày thứ 7 sau khi con người mất đi được gọi là “đầu thất”. Cứ tính lần lượt theo thứ tự tổng cộng là bảy bảy 49 ngày và cứ hết 7 ngày được tính là một “tuần thất”. Trong tuần thất đầu tiên, thời gian linh hồn trở về dương gian là từ giờ Tý tới giờ Hợi.

1. Vào đêm của ngày đầu thất là thời khắc đầu tiên linh hồn được trở về dương gian sau khi qua đời. Vào thời điểm này ý thức của người chết chưa hoàn toàn bị mất đi, có nghĩa là họ chưa ý thức được bản thân mình đã chết, cũng chưa thể được gọi là ma.

Bởi vậy điều đầu tiên người nhà cần chú ý là giữ tâm thái tưởng nhớ tới người chết và đừng vì những chuyện nhỏ trong gia đình dẫn tới mâu thuẫn to tiếng, cãi cọ. Bởi vì làm vậy sẽ khiến linh hồn người chết thấy đau lòng, tiếc nuối, lưu luyến cõi hồng trần mà không muốn rời đi.

2. Vào giờ Tý của ngày đầu thất linh hồn sẽ được quỷ đầu trâu mặt ngựa, bốn vị quỷ âm sai bảo vệ đưa về dương gian. Đúng vào giờ Tý sẽ từ cửa sổ và ống khói để đi vào nhà. Lúc này người nhà cần chuẩn bị một mâm cỗ chay cúng lễ. Trong các vật phẩm cúng lễ kỵ cúng thịt bò, thịt ngựa và những thứ hôi tanh. Cỗ chay càng thịnh soạn càng tốt, là để đáp tạ bốn vị quỷ sai đã đưa linh hồn về nhà, đồng thời cũng để họ không chèn ép linh hồn. Trong mâm cỗ chay cũng có thể bày loại đồ ăn mà linh hồn khi sống thích ăn để họ nhận và mang đi đường.

3. Đồng thời vào giờ Tý người nhà nên bày một bát nước sạch và một bát năm loại ngũ cốc trước cửa nhà. Ý nghĩa của việc đặt một bát nước là để người quá cố gột rửa đi bụi trần, tiêu trừ tai nạn và yên tâm lên đường. Bày một bát có năm loại ngũ cốc là để phòng trừ tà, đuổi độc. Vào sáng sớm hôm sau, bát nước cần đổ ngay trước cổng nhà còn bát ngũ cốc đổ ra chỗ thoát nước.

4. Trong ngày đầu thất, người nhà không được phép ra mộ để cúng lễ. Bởi vào ngày đầu thất, Thần linh tại mộ của người mất sẽ chính thức ghi chép lại tên tuổi của họ trong từ trường âm trạch và khi ghé bước tuần tra sẽ tìm người thế thân. Bởi vậy trong tuần thất đầu tiên nếu vô tình mạo phạm lui tới mộ phần cúng lễ sẽ làm cả thổ công và linh hồn ham mê những đồ cúng lễ không thể rời đi mà người sống cũng có thể sẽ bị bắt đi theo.

5. Vào đêm linh hồn trở về, những người đang mang thai hoặc đang trong thời gian ở cữ trong nhà đều nên trốn đi nơi khác để tránh va chạm với linh hồn và âm binh các ngả. Đối với những linh hồn đột ngột tạ thế, vào tuần thất đầu tiên thường sẽ báo mộng cho người nhà. Khi đó người nhà không được sợ hãi mà cần tĩnh tâm hỏi linh hồn muốn gì, cần gì để họ yên tâm ra đi. Sau ngày đầu thất, linh hồn người chết sẽ đi tới Vọng Hương đài và bắt đầu tới đường Hoàng Tuyền một đi không trở lại.

Người ta sau khi qua đời vì sao phải cúng thất?

Người sau khi qua đời vì sao phải cúng thất? Có rất nhiều người hỏi vấn đề này, vì sao phải làm thất? Người vãng sinh (đến thế giới Cực Lạc) và người sinh thiên (chuyển sinh ở cõi trời) đều không có thân trung ấm thì không cần làm thất. Thế nhưng người thông thường nghiệp chướng sâu nặng thì đều có thân trung ấm.

Con người trong cõi nhân sinh ai cũng phải trải qua lục đạo luân hồi (6 nẻo luân hồi). Khoảng thời gian bắt đầu từ khi con người chết đi cho tới khi đi đầu thai chuyển sinh gọi là giai đoạn “Thân trung ấm”.

Ví dụ như một đứa trẻ trong thời gian ở âm gian đợi cơ duyên chuyển sinh cứ 7 ngày được tính là một kỳ. Nếu 7 ngày kết thúc vẫn chưa tìm được cơ duyên chuyển sinh thì tiếp tục đợi 7 ngày nữa, cứ như vậy trong vòng 49 ngày. Do vậy trong giai đoạn này cần phải cúng lễ siêu độ cho họ.

Trung ấm thông thường tồn tại 49 ngày, chính là 7 lần 7. Trong thời gian trung ấm thì cứ 7 ngày, người chết lại có một lần biến dị sinh tử, cũng chính là nói họ cứ 7 ngày thì có một lần rất đau khổ.

Bởi thế, con người cũng nhất định không được tự sát. Tự sát thì vô cùng thống khổ, vì sao vậy? Hễ là người tự sát mà chết thì thân trung ấm mỗi 7 ngày một lần lại phải tự sát một lần. Nó không phải làm một lần rồi xong mà mỗi 7 ngày thì phải diễn lại một lần, rất khổ sở. Thí dụ như treo cổ mà chết, mỗi lần cách 7 ngày họ lại phải treo cổ một lần. Uống thuốc độc mà chết thì cách 7 ngày họ lại phải uống độc một lần…

Trong thời gian thọ thân trung ấm, hương linh vẫn thọ dụng được tất cả những vật phẩm mà thân nhân dâng cúng (thường là cơm, nước, hương, hoa) nhưng chỉ hưởng mùi vị của thức ăn mà thôi. Vì thế, thân trung ấm còn được gọi là hương ấm (thọ dụng mùi hương của thực phẩm). Cho nên trong vòng 49 ngày, thân nhân cần dâng cúng cơm nước hàng ngày cho người chết để họ được no đủ. Đặc biệt vào những ngày tuần thất thường cúng kính trang trọng hơn như đến chùa hoặc thỉnh chư tăng về nhà làm lễ cầu siêu cho người quá vãng.

Sau 49 ngày, khi thần thức tìm được cảnh giới tái sinh, thường thì họ sinh về một trong sáu cõi của lục đạo (Trời, A Tu La, người, súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục) và từ đây sự thọ dụng của họ có khác biệt. Đơn cử như nếu thần thức sinh vào cõi Trời thì họ sẽ không ăn thực phẩm của cõi người. Vì thực phẩm ở cõi trời có vị cao cấp hơn rất nhiều lần. Hoặc nếu họ đọa vào địa ngục thì cũng không thể thọ dụng được thực phẩm của loài người vì bị hành hạ, phải ăn hòn sắt nóng, uống nước đồng sôi, chịu nhiều đau khổ cùng cực… Duy chỉ có các chúng sinh trong loài quỷ thần thì vẫn có thể “ăn” được những phẩm vật do thân nhân dâng cúng.

***

Theo phong tục ở các làng quê Việt Nam, khi trong nhà có người qua đời, con cháu phải túc trực bên linh cữu 3 ngày rồi mới được đưa đi mai táng. Quê tôi cũng không ngoại lệ nhưng khi mai táng xong gia đình còn mời pháp sư về làm một nghi lễ gọi là “Lê kiều vong”. Bà ngoại tôi mất năm 79 tuổi không phải vì bệnh tật mà vì tuổi già. Khi còn sống bà còng gập lưng nên lúc nào bên cạnh cũng phải có một cây gậy trúc.

Còn có một phong tục nữa là nếu trong nhà có ai không may qua đời vào “giờ trùng” thì khi đào huyệt sẽ phải đào 2 cái. Một cái huyệt giả, nông gọi là thiên di và một cái huyệt thật. Khi mai táng họ sẽ đưa linh cữu người quá cố qua huyệt thiên di đó trước rồi mới an táng tại huyệt thật. Lại nói về lúc đưa bà đi mai táng, cậu tôi vốn có tật ở chân, hôm đó nằm mệt nên không đi được.

Dì tôi chặt một cành tre và dán giấy màu trắng lên đó như hình cái thang rồi đưa cho thầy pháp sư. Pháp sư bày lễ trước sân nhà với hoa quả và những đồ chay thông thường trên một chiếc bàn. Ông ngồi đó tụng kinh trong vòng 3 tiếng đồng hồ rồi từng người con trong nhà sẽ phải ngồi bên cạnh thầy cầm cành trúc đó.

Nếu cành trúc rung lên là báo hiệu linh hồn người mất đã nhập vào người đang giữ cành trúc. Khi đó sẽ làm lễ để đưa vong đó ra mộ. Hôm đó là một ngày tháng 7 nóng bức, trời cũng đã nhá nhem tối, từng người từng người ngồi cầm cành trúc mà vẫn không thấy nó rung lên.

Mọi người đều lo lắng không biết quá trình làm lễ xảy ra chuyện gì. Có những linh hồn về còn trách mắng con cái khi sống đã đối xử tệ với mình. Còn hồn bà ngoại tôi thì sao nhỉ? Tôi tò mò không hiểu sau khi bà mất 3 ngày sẽ về nói với con cháu những gì.

Mãi tới hơn 6h tối, tôi mới thấy anh họ mình từ ngoài ngõ chạy vào bảo mọi người rằng hồn bà đang trên nhà cậu tôi. Mọi người chạy vội lên nhà thì thấy cậu đang nằm khóc. Pháp sư dỗ dành và đưa cậu xuống nhà bà để ngồi cầm cành trúc đó. Tôi thấy cậu cứ khóc và mếu máo: ” Đã bảo không muốn đi rồi mà còn sai người tới bắt đi “.

Khi xuống nhà, tôi thấy dáng đi của cậu còng còng như bà ngoại mà chân lại không còn bị dị tật nữa, hoàn toàn như thường. Cậu đi vào phòng nơi bà tôi đã nằm trước khi qua đời rồi hỏi: ” Gậy của bà đâu? “. Mọi người đưa cho cậu cây gậy mà bà còn dùng khi sống, sau đó cậu đi quanh nhà nhìn một vòng và chỉ khóc.

Khi trở dậy, mọi người hỏi đã nhìn thấy gì, cậu bóp trán hồi lâu kể lại: “Cậu đang nằm thì cảm giác như có một luồng hơi lạnh tiến lại thân thể và cứ lưu luyến, khóc lóc không muốn ra khỏi nhà nhưng như có ai đó bắt ép phải đi. Trên đường từ nhà ra mộ bà, cậu chỉ thấy một vệt sáng và cứ đi theo vệt sáng chỉ đường ấy”.

Theo chúng tôi

Văn Khấn Bài Cúng Thất / 2023

Cúng thất là một nghi lễ Phật giáo thỉnh thoảng tôi cũng hay được mời tham dự nơi những ngôi chùa, do chư tăng cử hành. Nếu những nghi lễ khi tang lễ có thể có mặt nhiều người ngoài gia đình, họ hàng, thì cúng thất thường chỉ bao gồm những người thân trong gia đình người quá cố, và một số ít họ hàng thân thuộc, cúng thất có thể được cử hành tại gia với những nhà sư được mời tới nhà, nhưng thường được cử hành tại chùa, là nơi thờ phượng đặt tro cốt của người quá cố.

Cúng thất là một nghi thức quan trọng bên Phật giáo dành cho người mới khuất, cúng thất bao gồm 7 thất, mỗi thất 7 ngày, vị chi là 49 ngày kể từ ngày mất. Theo quan niệm truyền thống dân gian, con người khi sinh ra sau 7 ngày thì được một lạp, và khi mất sau 7 ngày thì được một kỵ. Mỗi lạp thì sinh ra một vía, còn mỗi kỵ thì mất đi một vía. Con người có 7 vía (chúng ta thường hay nghe nói réo 3 hồn 7 vía), cho nên người ta có lệ cứ 7 ngày sau khi mất cúng một lần, gọi là cúng thất, tất cả bao gồm 7 thất, thất cúng cuối cùng gọi là chung thất, trọn 49 ngày,

Trong kinh Địa Tạng của Phật giáo, có nói đến trong 49 ngày nếu tạo được nhiều phước lành cho người đã khuất, thời có thể cứu người đã khuất khỏi đọa vào chốn ác đạo, và được sinh lên cõi thiện. Đối với thân quyến hiện tại cũng được nhiều phước lành. Cứ 7 ngày như thế là một tuần chay, cúng 7 tuần chay trọn 49 ngày gọi là “Thất thất lai tuần”. Như chúng ta đã biết triết lý Phật giáo tin rằng khi chưa dứt khỏi luân hồi, thì con người luân hồi trong lục đạo, gồm 3 ác đạo là Súc sanh, Ngạ quỷ, Đia ngục, và 3 thiện đạo là Cõi người, A tu la (Phi thiên), và Thiên.

Tín ngưỡng Phật giáo tin rằng trong vòng 49 ngày sau khi mất (Thân trung ấm), là thời gian hồn phách của con người chờ được xem xét để tái sinh trong lục đạo (một trong sáu cõi kể trên). Nếu thực vật chỉ có một phần sinh hồn, động vật (các loài vật) có sinh hồn và giác hồn, thì con người có sinh hồn, giác hồn, và linh hồn (3 hồn 7 vía).

Trong vòng 49 ngày mất chúng ta thường thấy mỗi ngày người trong gia đình cúng cơm cho người đã khuất, cúng cơm này là cúng cho người đã khuất hưởng khi chưa biết sẽ về đâu. Nhưng cúng thất không phải là cúng cho người đã khuất, mà đây là lễ vật dâng cúng lên chư Phật, Bồ Tát để cầu xin vong linh được tiếp dẫn, siêu thoát về nơi Thiện đạo (3 cõi lành trong 6 cõi luân hồi).

Trong nghi lễ cúng thất được cử hành tại chùa tôi đã có dịp tham dự, thường thấy có một vài cho đến vài chục chư tăng cử hành lễ, tùy theo yêu cầu của gia chủ. Như vào dịp An cư kiết hạ vừa rồi, nhân có các chư tăng về an cư, tại một Tu viện Phật giáo tôi đã được tham dự một lễ cúng chung thất có đến 50 chư tăng hành lễ, rất trang trọng và ấn tượng. Tôi cũng thường thấy trong nghi lễ có phóng sinh chim chóc để cầu phước cho người quá vãng.

Nhân đây tôi cũng muốn nói thêm về một tục lệ dân gian chúng ta thường thấy trong đám tang tôi đã đọc được trong sách vở, là tục đội mũ rơm, thắt lưng bằng dây gai dây chuối, và chống gậy tre hay gậy vông. Nguyên do của tập tục này lại chính là để bảo vệ an toàn cho thân nhân người quá cố. Ngày xưa đường xá chật hẹp, người quá vãng thường được an táng nơi đồng ruộng, hay trên núi. Đường xá đi lại trơn trượt, khó khăn, đã có trường hợp sau mấy ngày tang ma mệt mỏi, người đi đưa mất thăng bằng ngã đập đầu hay rơi xuống vực, cũng có khi con cái quá thương tiếc tự đập đầu gây thương tích. Để tránh những điều đó người ta mới làm ra những chiềc mũ bện bằng rơm cho người thân đội (tạo an toàn khi va đập giống như mũ bảo hộ chạy xe gắn máy bây giờ). Áo tang lụng thụng dễ vướng víu vấp ngã nên được buộc lại bằng giây chuối, giây lạt, còn cây gậy chống cũng có tác dụng đi lại thêm vững chắc trên đường trơn trượt hay đường núi gập ghềnh. Tục phân biệt tang cha chống gậy tre còn tang mẹ chống gậy vông.

Bài văn khấn, cúng làm tuần ( cúng vong ) hoặc lễ cúng 7, 14, 21, 28, 35, 42, 49, 100 ngày người mất. khấn vái cúng thất tuần người mới mất

VĂN CÚNG LÀM TUẦN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ……………….tỉnh,……………..huyện,……………….xã,………….thôn, ………….xứ chi nguyên. Tuế Thứ………..niên,………………….ngoạt,………………..nhựt Tư nhơn trưởng nam…………..Hiền thê………………cùng toàn gia đẳng. Cung lễ……………phụ thân ( mẫu thân)…………trọng phủ………………..trọng nương;……………..quận. Từ trần ngày……….tháng……….năm……….hưởng………tuổi. Thành tâm cẩn dụng…hương đăng hoa quả thanh chước thứ phẩm chi nghi. Cẩn ủy hiếu bái…………………..cẩn dĩ phỉ nghi. ĐIẾU CÁO VU – Thiết niệm ngài (1)Thái Quản nhờ ơn độ dẫn vong linh phục vị vong chánh hồn chi vị. – Cung niệm hiển khảo (tỷ) …….trọng………..quận phần hồn chi vị lễ tuần linh. Toàn gia đẳng xin bái khấp phụ (mẫu) thân. Thương thay xin thượng hưởng lễ (2) sơ tuần thất nhựt tuần (3) 7 ngày. Qui linh an lạc miền tiên cảnh. Xin phò hộ con cháu gia nương bình an. HIẾU TƯ CẨN CÁO DI

Nên Cúng Cơm Cho Người Chết Như Thế Nào Và Trong Bao Lâu?

Theo nhà Phật giáo lý “sanh lão bệnh tử” là quy luật tự nhiên trong quá trình duyên khởi, giúp cho con người có ý thức hệ về cuộc sống ra sau cho tốt, sống như thế nào có ích lợi cộng đồng và theo quy luật tất yếu nghiên cứu tu hành giải thoát khổ đau sanh tử luân hồi. Sanh lão bệnh tử là quy luật tất yếu nhưng không có tín điều sắp sẳn, được áp dụng cho chúng sanh chung và con người trên hành tinh, có công năng giúp cho con người giác ngộ. Sanh trụ dị diệt là lực đẩy, không ai có thể tránh những quy luật cộng đồng. Sống chết là việc có sẵn trong cuộc đời, từ giáo lý nầy mà nhà Phật cân nhắc để chúng sanh giác ngộ, hướng dẫn chúng sanh nhất là con người có thể vượt quy luật sống chết bằng cách sống theo đời sống tâm linh. Vì tâm linh thì vô biên, vô bờ bến, không sanh không diệt, tức là không có sanh ra nên không có chết đi và không có tìm kiếm sự tồn tại nên không trốn chạy sự hủy diệt, bất sanh bất diệt là thường trụ niết bàn. Phật là tĩnh thức giác ngộ. giác ngộ thì không còn nằm trong quy luật sanh tử, thành, trú, họai, không nữa. Tuy nhiên, nhà Phật cũng dạy, con người do mang thân tứ đại, gồm đất, nước, lửa, gió, thêm cả thức đại, không đại, nên có hòa hiệp, có tan rã, có hiện tiền có họai diệt, tức có sống, có chết. Con người từ Vua đến Quan đến hàng thứ dân, dân giả giàu nghèo khi hưng thời thì oai phong lẫm liệt, lúc già cỗi hưu trí ngẫm nghĩ lại cuộc đời, có sự tiếc nuối sợ chết, sợ tử thần đến viếng nhà thì không ổn. Từ khi có giáo lý Đức Phật con người không còn kinh hoàng trước cái tham sống sợ chết nữa.

Phong tục tập quán

Phong là phong hóa, một thói quen nhất định của một dân tộc, của người địa phương trở thành nếp văn hóa chung của một dân tộc. Tục là tuc lệ những thói quen không bỏ được nhự tục ăn trầu, hút thuốc, tục đám ma chay rườm rà…Tuy nhiên, có thời điểm những phong tục trở thành lạc hậu, chỉ còn là một nếp văn hóa của một dân tộc địa phương nào đó trong đời người. Tập quán là thói quen của con người trong một vùng miền hay một quốc gia, tập quán con người trong một sớm một chiếu khó có thể bỏ được và nếu có bỏ chỉ là thời điểm lịch sử, ví như người dân quê Việt Nam đến mùa cấy thì có người đứng đầu trong “vạn cấy” thổi tù và để gom công, Tuy nhiên, ngày nay có thể bỏ khi người nông dân phục vụ cho nông trường làm tính giờ, không tính công.

Phong tục tập quán về việc tổ chức tang lễ của người Việt. Nói đến tang lễ là nói đến chết, nói đến chết là nói đến việc làm đám tang (tang lễ). Chúng ta sẽ tìm hiểu một số lễ tang của các nước lân bang và Việt Nam, sau đó sẽ bàn đến chi tiết khi gia đình hữu sự và hậu sự thực hiện các nghi cúng cho đủ lễ

Lễ tang cho gia đình Phật tử theo hệ thống Phật giáo Nam tông, cụ thể như ở vương quốc Lào là nước thuộc quốc giáo Phật giáo nguyên thủy. Trong gia đình có người qua đời tất cả đều vui, hát ca ngâm vịnh, rượi thịt, vui vì người thân sẽ chuyển sang kiếp khác sung sướng hơn, bà con hàng xóm láng giềng tụ tập phụ khâm liệm người chết, đặt áo quan vào một gốc nhà, cho hàng xóm láng giềng đến cúng lạy. Mọi người đến viếng lễ tang được mời sang nhà khác đãi ăn uống, lễ tang được tổ chức ba ngày, hoặc bốn ngày tùy theo quý Sư phán định. Ngày cuối cùng tang chủ và mọi người đem đi hỏa thiêu, sau đó hốt tro cốt đem vào chùa gần nhất phụng thờ. Từ đó mỗi năm gia đình đến thăm cúng giỗ, cúng dường chùa (Bài học thêm – sách địa lý Lớp Đệ Nhất 1969 – nói về phong tục lễ táng của người Lào)

Lễ tang xứ Tây Tạng-Trung Quốc, là xứ sở có đá không có đất, không có rừng, không có gỗ làm củi. Gia đình có người qua đời, sau khi làm lễ tang xong, đội mai táng đem người chết ra bãi tha ma, phân thây người chết bằng cách, chặt từng mảnh nhỏ thân thể người chết, bằm nhỏ cho loài chim kên kên đến tha mổ ăn cho đến khi hết những phần thịt xương của người chết mới thôi, phong tục nầy gọi là “điểu táng” (Ánh sáng Á châu – Đoàn Trung Còn)

Lễ tang theo Phật giáo Hòa Hảo ở An Giang, miền Tây Nam phần Việt Nam. Ban Tổ chức thường đến tụng kinh cầu an lúc sanh tiền, đến khi chết tụng kinh cầu siêu cho vong hồn người chết nghe kinh, nghe niệm Phật mà siêu thoát về với Phật A Di Đà. Lễ Tang chỉ tổ chức một ngày từ sáng đền chiều, thì động quan an táng gọi là “tử là táng”. Lễ tang theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Tứ Ân ở Ba Chúc, huyện Tri Tôn, Nhà Lớn Ông Trần ở Long Sơn, Bà Rịa thì con người sau khi chết thân xác được bó trong 7 “nẹp tre” khiêng đem đi chôn trong vòng một ngày đó. Điều ngày có nghĩ tang lễ cũng theo phung tục tập quán “tử là táng” chết là chôn cất, không coi ngày giờ năm tháng xấu hay tốt lành chi cả (Tổ đình Thành An – Thích Minh Tâm). Tục nầy giúp cho con người tự tin hơn vì không tin vào lý số, nên không có ngày kỵ, không hao tốn tiền của, không sát sanh hại vật.

Lễ phạn hàm

Những việc làm trong lễ tang thì nhiều, thật là phức tạp. Một Thầy cúng khi lãnh đàm quý Thầy thực hiện từng chi tiết nhỏ không sai sót chút nào. Khi người thân trút hơi thở, gia quyến sẵn sàng làm các việc gần gũi người thân, như làm lễ hú hồn, lễ đốt đồ cũ. Người Phật giáo thì dọn dẹp hết tất cả các vật dụng của người chết, vật dụng của gia đình, ghế đẳng sắp xếp có thứ lớp để mọi người đi tới lui không dụng chạm khua động lớn, làm chấn động người chết, thần thức nổi sân sẽ bị đọa lạc. Gia đình thỉnh đạo tràng nam nữ Phật tử chùa gần nhất đến hộ niệm, niệm Phật đến qua khỏi 8 tiếng đồng hồ đến khi thân xác hoàn toàn không còn cảm giác “sống” đau đớn, hoặc cho đền khi làm lễ khâm liệm.

Lễ phạn hàm: Tiếp theo là làm lễ phạn hàm, hay ngậm hàm, phạn là lương thực cơm gạo, hàm là ngậm, tức là bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền (đồng kẽm, đồng chinh) vào miệng người chết. Gạo để linh hồn người chết ăn, khỏi phải thành ma đói ( ngạ quỷ). Tiền dùng để đi đò hay qua cầu sang bên kia thế giới. Những người lúc sống ăn ở bạc ác thì lúc chết linh hồn phải qua cầu Nại hà. Người lương thiện được qua cầu Kim ngân. Ngày xưa nhà giàu dùng gạo và vàng, ngọc để làm lễ phạn hàm. Ở nông thôn miền Nam để trà, gạo, có khi là vài phân vàng, nếp sồng, đắp mặt người chết bằng tờ giấy trắng hoặc giấy quyền, loại giấy hút thuộc rê (vấn) (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư)

Ba vắt cơm để trên đầu người chết

Cúng Phía đầu nằm người chết có đặt cúng 3 vắt cơm, 4 cây đền sáp đặt ở bốn gốc, không dâng hương. Có nơi dâng hương do người nhà không biết đó thôi vì dâng hương có mùi thơm bắt buộc mọi người phải ngửi, nếu ngửi thì ngửi luôn mùi xác chết, bất tiện mất vệ sinh quá, nên không dâng hương.

Lệ cúng 3 vắt cơm: Do quý Thầy cúng đã từng làm và chuyền nối nhau thực hiện từ lâu đời, 3 vắt cơm là biểu tượng của tam tài “Thiên Địa Nhơn” (theo Nho gia, Đạo gia), lúc người chết trở về với linh khí tinh nguyên của trời đất. Ba vắt cơm sau khi tẩm liệm xong đa phần các gia đình tin tưởng đem treo ở giàn bếp. Khi nào người nhà có bệnh hoạn hiểm nghèo đem ra đốt tán nhuyễn cho uống sẽ hết bệnh. Có nhiều nơi người thân quý mến người chết đem ăn luôn ba vắt cơm để thể hiện tình cảm với người chết, việc làm nầy quá mất vệ sinh dễ sanh bệnh đối với người ăn. Về sau những tu sĩ Phật giáo tiến bộ, tu sĩ chuyên tu lần lượt bỏ hình thức đặt ba vắt cơm cúng trên đầu người chết. (tác giả nhận định không phải truyền thống nhà Phật)

Đặt nải chuối xanh: Theo xưa có đặt nải chuối dằn bụng phòng linh miêu nhảy qua người chết sẽ hồi dương, người cõi âm nhập tràng, thành quỷ nhập tràng. Ở một thuyết khác câu chuyện bất đầu từ chàng trai sống chung với người mẹ già. Một ngày nọ chàng trai này lên rừng đốn và bất ngờ thấy cây chuối già xanh có hoài gần chín nên đã chặt đem về nhà để chín đem đi bán và ăn. Thế là chàng trai đã chặt buồng chuối này đèm về nhà. Khi đem về tới nhà thì không biết để đâu, cất đâu sợ mẹ già ở nhà thèm và đói ăn hết làm sau. Vì vậy chàng trai mới nghĩ ra cách là phải treo buồng chuối này lên cao để bảo quản. Thế là qua ngày hôm sau chàng trai lên rừng đốn củi tiếp thì ở nhà người mẹ chờ con về mà không thấy về trưa rồi nên cũng đói bụng thấy chuối con trai mình treo trên nhà bếp đã chín nên có ý định lấy chuối để ăn. Không ngờ là trèo lên thì bất ngờ ngã xuống bà cụ chết. Khi chàng trai về đến nhà thì gọi Mẹ ơi! Mẹ ơi! …Không nghe mẹ trả lời chàng trai mới vào nhà thì bất ngờ thấy mẹ mình đã chết vì trèo lên để lấy chuối ăn cho đỡ đói. Thế là chàng trai mới trách mình là tại mình mà mẹ mới chết. Khi mẹ chết trong nhà không cò gì hết chỉ có buồng chuối nên cậu ta mới lấy nải chuối còn xanh để trên bụng Mẹ mình nghĩ rằng mẹ mình đói bụng mà không ăn được nên bằng cách để trên bụng mẹ.. Sự tích về nải chuối để trên bụng người chết là vậy (trang mạng Văn hóa xã hội – tôn giáo, tâm linh – Đào Minh Định)

Lễ nhập quan, thành phục, thọ tang

Nhập quan: Linh cữu được khiêng ra đặt giữa nhà, người chết ngoài đời do nhà đồ làm tất cả các việc. Việc tẩn liệm bằng trà, cách đây 60 năm nhà đồ không có trà, nên đồ tẩn liệm bằng rơm quấn trong giấy mỏng gọi là giấy súc. Vật dụng nầy ngày nay không còn, mà để trà rồi để thêm những đồ cũ, vật dụng của người chết được đem theo. Kế đến đậy nắp áo quan, gắn sơn chai, đóng lại theo kiểu mang cá hoặc đóng đinh cho kín.

Thành phục: Là lễ phát tang, cũng là lễ chính thức của đám tang, phát tang, giúp cho các thành viên vợ chồng, dâu rể con cháu trực hệ trong gia đình thọ tang người chết, ông bà cha mẹ. Thọ tang là chịu tang đối với những người lớn hơn mình, hay ngang mình là vợ chồng không chịu tang với người chết thấp hơn mình và có lễ cúng cơm cho người chết.

Thọ tang: Tang ai nấy mặc. Có gia đình sang giàu thì may đồ tang bằng vải tốt. Có gia đình nghèo may đồ tang bằng vải bô, áo bả hài gai, vải mùng, vì nghĩ đồ tang chỉ có mặc trong thời gian ngằn rồi đốt, nên đa phần các gia đình không quan tâm vải tốt xấu lắm. Trong thập niên 50 Thầy cúng thường lấy đồ xả tang của gia chủ may quần áo rồi nhuộm lại màu đen rồi mặc.

Trong giới tu sĩ xuất gia thọ tang màu vàng để nói lên đây là việc thọ tang người xuất gia, xuất thế gian. Tang trong đạo không phải như con cháu thọ tang cha mẹ ngoài đời nữa, mà đệ tử thọ tang Thầy Tổ, những bậc Cao Tăng, do đó chư Tăng Ni thọ tang màu vàng là vậy.

Thứ bậc thọ tang: Theo thứ bậc trong gia đình mà thọ tang: – Con trai, con gái, rễ, dâu thọ tang trắng – Trai trưởng nam thọ tang trắng có chống gậy tang cha chống gậy trúc (tròn), tang mẹ chống gậy vông (vuông), đội bích cân – Anh hoặc các em của người mất thọ tang trắng – Cháu nội thọ tang trắng có chấm đỏ – Cháu ngọai thọ tang trắng có chấm xanh – Cháu cố thọ tang trắng có chấm vàng – Cháu kêu bằng chú thọ tang trắng. Trong thời gian thọ tang, con cháu đi làm ăn hay đi làm việc đều có mang tang màu đen hay màu trắng, tùy theo màu áo mậc trong mình kich thước 2 cm x 1,5 cm.

Cúng cơm trong lễ tang:

Cúng cơm: Phải cúng như thế nào cho đúng, tại bàn vong linh có cúng 3 chén cơm, đồ ăn, hương hoa trà quả. Cơm gồm một chén giữa đầy cúng cho vong linh người mới chết, hai chén hai bên thì hơi lưng để hai bên, biểu hiện hai bên vai giác, kiến cho những người hầu cận vong linh Thầy cúng gọi là Tả mạng thần quang, Hữu mạng thần quang. Có nơi cúng 3 chén, có nơi cúng 6 chén, không nên để 5 chén là sai. Ý nghĩa chén cơm ở giữa có cắm đôi đũa, hai chén cơm hai bên mỗi chén một chiếc đũa là cúng cơm cho vong linh (ma mới) mới ăn. Tuy nhiên, nếu hai bên để mỗi nơi một đôi đũa nữa thì các cô hồn (ma cũ) sẽ đến dành giựt, vong mới không được ăn, nên có thành ngữ “ma cũ ăn hiếp ma mới” là vậy. Theo quý Thầy cúng thì nghi thức nầy không phải của Phật giáo, mà chỉ làm theo tục lệ tín ngưỡng dân gian từ xa xưa lưu truyền lại.

Thuyết khác, ý nghĩa cúng 3 chén cơm chén giữa đầy dành cúng cho vong linh mới chết, có cắm một đôi đũa. Hai chén hai bên có cắm mỗi chén một chiếc đũa dành cho người giữ vong linh ăn chậm hơn vong linh chánh, nếu không thì vong linh chánh sẽ bị dành giựt, ăn không kịp. Đây cũng là tục lệ văn hóa vùng, tục cúng kiến riêng tại các địa phương trong dân gian Trung quốc có ảnh hưởng đến tục lệ Việt Nam (theo Đại Đức Thạc sĩ Thích Thiện Huy các tục lệ trên chỉ có truyền khẩu trong dân gian, xưa bày nay vẽ chứ không có trong nhà Phật)

Theo tuc miền Trung trên nóc áo quan bày một bát cơm úp, cắm một chiếc đũa vót cho sơ ra như gai nhọn (có nơi gọi là chiếc đũa bông), một quả trứng luộc, ba nén hương. Bát cơm, quả trứng, có thể là bữa ăn để linh hồn người chết khỏi trở thành ma đói. Nhưng chiếc đũa có gai nhọn thì chắc chắn không phải là để dùng ăn cơm. Không ai có thể ăn với một chiếc đũa như thế. Chiếc đũa bông nhiều gai nhọn có ý nghĩa không cho giặc cướp lấy cơm của người chết và trừ ma quỷ hiếp đáp vong linh (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư). Đến ngày động quan, Thầy cúng kêu làm lại chén cơm có để trứng gà luộc mới, một đôi đũa bông, chén cơm mới để lại trên nắp áo quan, đến khi đem ra huyệt chôn cất xong, Thầy cúng hướng dẫn để chén cơm, trứng luộc, đôi đũa bông trên nấm mộ, nhiều nơi còn đặt thêm mớ bùi nhùi. Tục nầy mang ý nghĩa chúc tụng: “mớ bùi nhùi tượng trưng cho thế giới hỗn mang; trong hỗn mang hình thành nên thái cực (bát cơm); thái cực sanh ra lưỡng nghi (đôi đũa). Có lưỡng nghi (âm dương) là có sự sống (quả trứng)”.

Thầy cúng: Xưa chỉ một, nay có rất nhiều Thầy dự có tổ chức thành Ban gọi là Ban kinh sư từ 4 đến 6, hoặc 8 vị có trách nhiệm điều hành đám tang. Ban Kinh sư hướng dẫn như thế nào làm như thế nấy, Thầy cúng khi lãnh đám tang có trách nhiệm cúng cơm vào buổi sáng, trưa, chiều, có nơi cúng trưa và chiều.

Tu sĩ Phật giáo, người xuất gia, Sa môn viên tịch chỉ cúng cơm ngọ thời, không cúng cơm chiều.

Lo hậu sự là báo hiếu

Hậu sự là lo việc báo hiếu, cúng kiến người chết sau lễ tang. Trong đời dù Bạn có làm việc quan được trọng thị ở thế gian đến đâu, nhưng không thể bỏ bê việc cúng kiếng ông bà cha mẹ từ lúc người còn sống đến những ngày cuối cùng cho đến khi qua đời. Lễ tang tuy không bận rộn lắm nhưng được ràng buộc bởi đạo hiếu nghĩa, đạo làm con cháu với người trên trước, đạo làm người đối với người đã qua.

Ngoài đời những người có hiếu đạo bao giờ cũng được tôn kính trọng dụng, mọi người tin tưởng, là chỗ dựa tinh thần của gia đình. Đôi khi lan tỏa đến xã hội và là người tiêu biểu trong xã hội xóm làng. Người xưa tôn trọng đạo hiếu, ông bà cha mẹ qua đời, phận làm con có khi là con trai trưởng nam, hoặc con lớn, con trai con gái lớn cạo tóc để thọ tang thờ cúng người thân qua đời trong thời gian 3 năm. Có khi mỗi đêm trải chiếu, nằm cạnh bàn thờ vong để dâng hương cho vong linh, hoặc cũng có khi cao đầu, ăn chay trường ba năm để cầu cho người qua đời được gần gủi Phật, nghe kinh mau siêu thoát luân hồi, tái sanh vào chỗ tốt lành.

Theo Hiếu kinh của Mạnh Tử dạy: khi cha me qua đời, dù cho con có làm quan lớn ở cấp bậc nào đi nữa cũng phải mặc áo bả hài gai, cất chòi ngoài mộ để cúng kiếng, đêm nằm canh giữ quạt mồ cha mẹ đúng ba năm cho mồ khô ráo để tỏ lòng tôn kính (theo đạo hiếu. Khổng giáo, Lão giáo).

Trong Đại Luật mặc dù chuyên hoằng giới nhưng Đức Phật cũng thường cân nhắc môn đệ xuất gia cũng như tại gia giữ đạo hiếu. Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới Đức Phật dạy: “Hiếu thuận đối với cha mẹ, Sư trưởng, chư Tăng, đối với Tam bảo, sự hiếu thuận phù hợp chánh pháp chí thượng, sự hiếu thuận ấy gọi là giới, cũng gọi là năng lực chế ngự, đình chỉ mọi sự tội lỗi”.

Con cháu nhà Phật muốn báo hiều trọn vẹn thì tự phát tâm tụng kinh Bộ cầu nguyện cho ông bà cha me tại gia lúc sanh tiền cũng như khi qua đời, phát nguyện ăn chay trường, hoặc phát tâm rước chư Tăng Ni đến tụng kinh Địa Tạng. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế gia đình làm việc từ thiện xã hội giúp đỡ người nghèo giúp cho họ qua cơn họan nạn, làm việc phóng sanh, ấn tống kinh sách Phật giúp cho người cải ác tùng thiện, đi cúng thập tự cầu cho ông bà cha mẹ siêu sanh Tịnh độ đó mới là đạo hiếu của Nhà Phật và có kết quả thực tế. Đức Phật dạy: ” Hiếu với Mẹ Cha tức là kính Phật. Nếu ở đời không có Phật thì hãy khéo thờ cha mẹ. Khéo phụng thờ Cha mẹ như phụng thờ Phật vậy” (Kinh Đại Tập)

Nhân nói việc lễ tang và lo hậu sự là báo hiếu ông bà cha mẹ đã qua, Đức Phật còn quan tâm đến những lúc ông bà cha me tại tiền, khi cha mẹ còn làm con phải hết lòng hiếu thuận, niềm tin vững vàng với Thầy Tổ, Tam Bảo. Cho nên đạo Phật còn gọi là Đạo Hiếu…”

Cúng cơm sau lễ tang

Sau lễ tang mọi người đều mệt mỏi. Tuy nhiên, đối với người còn ở lại dù khổ đau bao nhiêu cũng phải tỉnh táo để lo việc cúng kiếng, các lễ cúng đối với vong linh. Nhất là lễ cúng cơm là lễ quan trọng trong đạo hiếu. Người có lòng hiếu thảo hay không phải xem cung cách đối xử của con cháu đối với người đã qua, ai hiếu thảo, ai không hiếu thảo. Lời Phật dạy: “vạn hạnh Bồ tát hiếu nghĩa vi tiên”, trong các hạnh Bồ tát thì hiếu đạo là việc trước tiên. Phật xưa thị hiện vao đời cứu chúng sanh, có khi thị hiện làm con, lúc cha mẹ mù lòa, muốn đi đâu con phải gánh cha gánh mẹ giúp cha me đi đây đi đó cho thỏa dạ. Cha mẹ đói khát con lóc thịt thân mình cho cha mẹ ăn, để đổ đói qua ngày (Kinh Đại phương tiện Phật Báo Ân – bản dịch HT Thích Trí Tịnh).

Việc lễ tang ngày nay dù chúng ta biết có nhiều hủ tục cần bỏ bớt, nhưng những việc còn lại phải làm, làm cho chí vóc, làm cho đầy đủ không được sai sót, như:

Cúng an sàng: Là an vị vong linh, sau khi hạ huyệt chôn cất xong, đem vong vị về tại nhà, thiết lập bàn thờ vong, an sàng linh vị, cũng gọi cúng an sàng. Bàn thờ nầy dành để cúng vong, cúng cơm sau lễ tang. Việc cúng kiếng nầy được thực hiện đến khi mãn tang (mãn khó), sau đó thỉnh vong linh thờ cúng chung với bàn thờ cửu huyền (thờ cúng ông bà) và mọi năm cúng giỗ tưởng niệm người đã qua.

Cúng mở cửa mộ: Còn gọi là mở cửa mả hay khai mộ, sau lễ an sàng, tức là từ khi chôn cất đến ngày thứ ba mọi người trong gia đình ra thăm mộ có đem theo lễ vật cúng, như: thang 9 bậc đối với người nữ, thang 7 bậc đối với người nam. Cây thang 5 tấc tượng trưng cho ngũ thường, 3 ống trúc đựng gạo nước tượng trưng cho tam cang, gà con kêu chi chít, tiếng kêu của gà con làm cho vong linh đã chết sau 3 ngày tỉnh thức biết đường lên khỏi mộ, cây mía lau tượng trưng cho công lao của cha mẹ lo cho con cái đến ốm o gầy mòn như cây mía, nhưng vẫn ngọt ngào với con. Ngoài các vật dụng đặc biệt trên còn có chè xôi, tam sên (hay tam sanh, gồm thịt, tôm, trứng luộc), trái cây, rượu, trà, gạo, muối, giấy tiền vàng bạc, trầu cau…Ở nhà cúng 4 mâm cơm, cúng ông bà, đất đai, cô hồn, cúng vong.

Cúng thất: lấy dấu mốc ngày người chết là ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy làm lễ cúng thất, cúng tuần thất, 7 ngày, Nghi thức cúng thất bắt đầu từ buổi chiều ngày trước khoảng 16 giờ, tức ngày còn sống, rước Thầy đến cúng khai kinh, có sắm hương hoa trà quả, chè xôi, cúng tất cả các bàn thờ trong nhà, như cúng ông bà, cúng đất đai, cúng vong linh người chết và một mâm cúng cô hồn. Ngày hôm sau huờn kinh, không có cúng cơm. Nghi thức các lễ cúng thất đều giống nhau.

Cúng 21 ngày: tức là cúng thất thứ ba, 7 x 3 = 21 ngày gọi là tuần tam thất

Cúng 49 ngày gọi là cúng thất thứ bảy 7 x 7 = 49 ngày gọi là cúng 49 ngày hay gọi cúng tuần chung thất

Cúng 100 ngày trong thời gian nầy từ khi người thân qua đời đến ngày thứ 100. Trong những lúc gia đình ăn cơm vào buổi trưa và chiều con cháu có để bát cơm trên bàn ăn và một đôi đũa, mời ông bà về ăn rồi mới ăn, gọi là trả hiếu ông bà cha mẹ, cho đến khi nào phôi pha sự đau buồn cuộc tử biệt sanh ly mới thôi.

Cúng giáp năm cũng gọi là cúng Tiểu tường.

Cúng mãn tang, cũng gọi mãn khó, cũng gọi là Đại tường… Các nghi cúng 21 ngày, 49 ngày, 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang vẫn y như lễ cúng mỗi tuần thất, có khai kinh và huờn kinh.

Nghi thức cúng dành cho người xuất gia viên tịch hình thức như nhau, nhưng có khác nội dung do Ban kinh sư chịu trách nhiệm biên soạn.

Việc cúng cơm cho người chết ngoài thế gian ông bà già xưa quy định con cháu phải cúng cơm hằng ngày, trưa, chiều đủ 3 năm mới hết cúng. Ngày nay các Thầy cúng giảm chế bớt lý do con cháu đi làm ăn xa, người ở ngoai quốc, nhà đơn chiếc, nên chỉ còn cúng cơm đến 100 ngày thì ngưng. Rồi đến cúng tiểu tường, tròn một năm đối cha mẹ, người thân qua đời. Người Phật giáo, hoặc tu sĩ xuất gia, hàng giáo phẩm Tăng Ni trong chốn thiền môn, việc cúng kiếng dành cho các tu sĩ có phần trịnh trọng hơn nhiều. Các đệ tử thay phiên lo việc cúng cơm, làm các việc báo ân Thầy Tổ, nên việc cúng cơm được duy trì đến 3 năm mới không còn cúng nữa. Tuy nói 3 năm nhưng chỉ có 24 tháng là tới ngày cúng mãn khó, mãn tang, đại tường..Chúng ta cũng cần nên biết thêm việc tính ngày mãn tang, ngày giỗ chạp. Ngày cúng 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang thì tính tháng nhuần, mặc dù có dư một tháng nhưng vẫn tính là 24 tháng, đàm giỗ thì tính nhuần, nhơn gian có câu : “đám giỗ tính nhuần, làm tuần tính đủ” là vậy.

Lễ tang là công việc quan trọng. Nhà có lễ tang thì mọi việc đều tạm ngưng, giảm bớt công việc ngoài xã hội để lo lễ tang cho ông bà cha mẹ. Đạo hiếu ở thế gian rất cần được phổ cập trong nhân gian thật nhiều, đem lại đạo đức hấp thụ thật nhiều cho con người, nhất là người hung ác hiện nay ngày càng nhiều. Phật giáo còn quan trọng hơn, nhất là đối với các bậc tôn túc Thầy Tổ, hàng giáo phẩm, nhưng không chú trọng nhiều về hình thức lễ tang mà chú trọng đến việc thác sanh cao đăng thượng phẩm, cao đăng bảo địa, cao đăng Phật quốc.

Việc tín ngưỡng các tập tục ma chay có ảnh hưởng nhiều theo tập tục từng vùng văn hóa của xứ sở Trung Hoa rộng lớn, ảnh hưởng mấy nghìn năm theo Mật giáo, đạo thờ cúng, tang chay của Khổng giáo, Đạo giáo cũng xuất phát từ Trung Hoa. Vì vậy, việc tổ chức lễ tang hiện nay ảnh hưởng nhiều tập tục của Trung Hoa kết hợp với tập tục của người Việt…Như vậy một lễ tang dành cho một người chết là một tập hợp những tập tục văn hóa nhiều miền vùng văn hóa khác nhau của các quốc gia đuợc giới thiệu tại một lễ tang “đúng nghĩa”. Chúng ta thấy có một sự áp đặt nặng nề bất công quá, rườm rà, tốn kém, tổn hao công sức tài sản tiền bạc của gia đình thật vô lý vô cảm.

Đối với Phật giáo khi trong nhà có người thân qua đời thì nên thực hiện lễ tang cho chu đáo giản dị nhưng không kém phần trang nghiêm, không giết mổ heo, trâu, bò, gà vịt, giảm bớt những hủ tục rườm rà hao tốn thời gian kinh phí, nên cúng cơm chay cho vong linh. Những nghi lễ vô lý như đốt vàng mã, để nải chuối xanh trên bụng người chết, khóc mướn, leo lên nóc nhà hú hồn, nhất là không nên để thời gian lễ tang quá lâu, không mở cửa mộ theo hủ tục vác mía lau, kéo gà, làm than 7 nấc, 9 nấc, cúng tam sên…. Những tôn giáo khác và các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Phật giáo Tứ Ân cũng làm tròn đạo hiếu, nhưng tổ chức lễ tang rất đơn giản.

Từ thập niên 60 đến nay, các Giáo hội Phật giáo tại Việt Nam, tông cũng như giáo từng kêu gọi thống nhất các nghi lễ trong cả nước, tiến đến giản dị hóa những tập tục lễ tang, những nghi không có trong Đạo Phật. Tổ chức lễ tang theo nghi lễ Nhà Phật gọn, giản đơn gọi là “tam nhựt bất cấm” hay “tử là táng” trong hai ngày nầy là nhanh gọn, không phải xem lịch số ngày giờ tốt xấu.

Từ lễ tang đến các việc cúng hậu sự theo xưa bày nay vẽ thì quá rườm rà, Sư có lời khuyên gia đình Phật tử chúng ta nên gởi vong linh vào chùa nghe kinh được siêu thoát. Thỉnh thoảng quý vị đến thăm ông bà vào các ngày lễ cúng tuần đầu, tuần tam thất, tuần chung thất, 100 ngày, giáp năm, mãn khó mà thôi chứ không đi cúng kiếng hằng ngày, hay hằng tuần trở ngại nhiều việc

Việc sanh là đến, đến đây từ mình, mang gánh nặng tham sân si, những gì hiện nay ta có, như: hạnh phúc khổ đau, nhiễm ô, bệnh hoạn, có đủ tiền tài danh vong, quyền thế, chức vị, vợ chồng con cái, gia cang sự nghiệp một gánh tình tang nặng nề vô cùng như núi tu di. Tử là đi, đi về với vĩnh cửu vô biên, đi về với không ta, bỏ tham sân si, không còn hình bóng của ta, không còn thân tứ đại giả danh của ta, đi về với hư vô, không cần phải xây lâu đài dưới âm phủ như các vua chúa, quan tham sợ mất của…Cuối đời phải để cho nhẹ nhàng mà quẳng gánh ra đi về cố quán, về với chính mình, về với Cực lạc Tây phương.

Hủ tục lễ cũ xưa bày

Nay xin đừng vẽ lại ngày tháng qua.

Chúng sanh: sanh, tử, bệnh, già,

Theo chi lệ cũ rườm rà tốn hao.

HT Thích Giác Quang

Văn Khấn Cúng Cơm Cửu Huyền Thất Tổ / 2023

Cúng cơm cửu huyền thất tổ không phải là điều gì đó xa lạ với tất cả mọi gia đình. Trong quá trình cúng gia chủ (người đại diện) sẽ đọc bài văn khấn. Việc này rất quan trọng giúp việc thờ cúng thêm ý nghĩa. Văn khấn cúng cơm cửu huyền thất tổ rất nhiều người đang thắc mắc nó có nội dung như thế nào? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ngay sau đây:

Theo nguồn gốc hiếu đạo được truyền lại từ bao đời nay có tổ tiên mới sanh ra ông bà và có ông bà mới sanh ra cha mẹ. Nhiệm vụ của con cái phải lo phụng dưỡng ông bà cha mẹ khi còn sống và phải tôn thờ cúng kỵ khi người đã khuất bóng.

Có thể nói cúng thờ cúng cửu huyền thất tổ là một trong những phong tục tập quán được truyền từ rất nhiều thế hệ.

Cội nguồn của mỗi chúng ta đó là tổ tiên, ông bà, cha mẹ của chúng ta. Họ là những người đã dầy công giáo dưỡng chúng ta khôn lớn nên người. Công lao to lớn mà ở thế gian nầy không gì có thể so sánh được.

> Việc cúng cửu huyền thất tổ và cách cúng cửu huyền thất tổ ông bà đúng cách giúp cho con cháu tưởng nhớ đến ông bà và cha mẹ những người đã khuất. Thể hiện sự kính hiếu của con cháu. Giúp cho đại gia đình đoàn kết, anh chị em thương yêu hòa thuận lẫn nhau.

Mâm cơm cửu huyền thất tổ bày biện khá công phúc Mâm cơm cúng cửu huyền thất tổ bao gồm

+ Món bánh chưng (bánh tét) tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở của muôn loài và con người mỗi năm một tuổi.

+ Thịt lợn chế biến thuộc về âm, dưa hành (củ kiệu) thuộc về dương, âm dương hài hoà tượng trưng cho sự phát triển.

+ Cơm trắng là lương thực hàng ngày, nên trong mâm cỗ có nếp, có tẻ cũng như có âm có dương đầy đủ lẽ sinh sôi.

+ Bát nước chấm đặt giữa mâm hình tròn với 4 bát cơm đặt 4 góc mâm, tượng trưng cho trời đất vũ trụ, mà con người dù ở cõi âm hay dương đều có cuộc sống trong đó.

> Tuỳ từng hoàn cảnh kinh tế của mỗi gia đình người Việt mà các mâm cỗ cúng lớn nhỏ khác nhau, nhưng tựu chung đầy đủ 4 món cơ bản là: Bánh chưng (bánh tét), thịt lợn, dưa hành (củ kiệu) và cơm trắng (cơm tẻ).

Cúng cơm cửu huyền thất tổ nên lưu ý điều gì?

Khi làm mâm cơm cửu huyền thất tổ ,cúng gia tiên, thường không bày bằng mâm cao cỗ đầy mà do tấm lòng thành của gia chủ. Ngoài ra không được vi phạm một số điều sau đây:

1/ Trên mâm cơm cúng cửu huyền thất tổ không chứa những món gỏi, sống hay tanh

2/ Không nêm nếm thức ăn, hay ăn thử thức ăn dùng để làm cơm cúng cửu huyền thất tổ

3/ Mâm cơm cúng phải được đặt riêng, bày trên những bát đĩa, đĩa mới, hoặc để dùng riêng, không dùng chung với chén đũa thừa ngày sử dụng.

4/ Không cúng cơm cửu huyền thất tổ như món như cá mè, cá sông.

5/ Cúng cơm cửu huyền thất tổ Không sử dụng đồ đóng hộp, các món ăn đặt sẵn ngoài nhà hàng để thờ cúng.

Bộ đồ thờ cần thiết trên bàn thờ cửu huyền thất tổ

Trên bàn thờ của người Việt thường có: bát hương, lọ hoa, mâm trái cây, kỷ nước

Trên bàn thờ thường bày lá trầu, quả cau, cùng với bát nước trắng tinh khiết. Gia chủ cần sắp xếp theo lề lối “đông bình”, “tây quả” – bát nước đặt bên phải, trầu cau đặt bên trái. >> Bởi nước là nguồn gốc của sự sống, trầu cau là kết quả của sự sinh thành.

Ngoài lễ vật thường bầy hai ngọn đèn dầu. Bởi khi cúng trên bàn thờ cửu huyền thất tổ cần phải thắp sáng lên tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, gọi là “nhật nguyệt quang minh”. Phải có ngọn đèn dầu soi tỏ con đường để thế giới hữu hình biết lối đi về, chứng giám và phù hộ cho con cháu sức khoẻ dồi dào, làm ăn thịnh vượng. Nếu không có đèn dầu các bạn có thể thay bằng nến.

Ý nghĩa của số nén hương: Đốt một nén hương là “tâm hương”, thể hiện sự đốt cháy niềm tin vào những ước vọng trong sự thờ cúng. Đốt 3 nén hương thể hiện cho khái niệm tam tài “thiên, địa, nhân” là trời, đất và con người trong mối đồng giao cộng cảm.

Hôm nay, ngày…. tháng…. năm…

Tín chủ con là….. cùng với toàn gia kính bái..

Kính cẩn sắm một lễ gồm… gọi là lễ mọn lòng thành, kính dâng lên:

Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, bản gia tiên sư, bản viên thổ công, liệt vị tôn thần.

Và các vị tổ bá, tổ thúc, tổ cô, cùng các vong linh phụ thờ theo tiên tổ.

Kính cẩn thưa rằng: Năm cũ sắp hết, ngày Tết tới gần, chuẩn bị mừng xuân.

Kính cáo: thô, địa, chư vị linh thần.

Kính mời: Vong linh tiên tổ về với gia đình để cháu con phụng sự.

Thành kính lạy Cửu Huyền Thất Tổ,

Ngỏ đáp ơn báo bổ sanh thành,

Cửu Huyền Thất Tổ lòng thành chứng tri.

Noi theo hạnh từ bi của Phật,

Bỏ dứt đi những tật xấu xa,

Trau giồi đức hạnh thuận hòa,

Ðạo thành cứu độ Mẹ, Cha, Cửu Huyền.

Nay phẩm vật hiện tiền dâng cúng,

Hương, đăng, hoa chúc tụng cầu xin,

Cửu Huyền Thất Tổ hương linh,

Chứng lòng hiếu thảo ân sinh thuở đầu.

Công dạy dỗ cao sâu thăm thẳm,

Công dưỡng nuôi khó gẫm gì hơn,

Ăn cay, uống đắng không sờn,

Vì con đau khổ không hờn phiền chi.

Nội ngoại đồng bác ái tình thương,

Cửu Huyền Thất Tổ đồng nương,

Từ đời vô thỉ khôn lường kiếp sinh.

Ân dưỡng dục minh minh như hải,

Ân sanh thành tợ Thái Sơn cao,

Con nay muốn đáp công lao,

Ðền ơn trả nghĩa thế nào cho xong.

Lời Phật dạy mênh mông biển khổ,

Cõi Ta bà không chỗ dựa nương,

Chúng sanh vì bởi tình thương,

Tình ân, tình ái mà vương nghiệp sầu.

Sanh tử mãi biết đâu mà kể,

Cứ trầm luân trong bể ái hà,

Tham lam, sân giận, cùng là si mê.

Những tội lỗi không hề dứt bỏ,

Ðường tử sanh nên khó bước qua,

Cửu Huyền Thất Tổ, ông bà đền ân.

Ðem phẩm vật cúng dâng Tam Bảo,

Nhờ chư Tăng tâm đạo cầu nguyền,

Cầu cho Thất Tổ Cửu Huyền,

Siêu sinh Tịnh độ phước duyên đủ đầy.

Ai muốn đáp công thầy dạy dỗ,

Hay đền ơn Thất Tổ Cửu Huyền,

Chúng sanh tất cả các miền,

Thì nên phát đại lời nguyền độ tha.

Trước xuất thế lìa xa cõi tục,

Sau diệt tiêu lòng dục, tánh phàm,

Chẳng còn ưa chuộng, muốn ham,

Thân tâm thanh tịnh, Già lam dựa kề.

Tu chứng đắc Bồ đề Phật quả,

Ðộ chúng sanh tất cả siêu thăng,

Vượt lên cửu phẩm thượng tầng,

Là phương trả nghĩa đáp bằng công lao.

Ai hiếu tử mau mau ghi nhớ,

Muốn đáp đền mối nợ từ xưa,

Công dầy quả mãn phước thừa báo ân

Bài văn cúng giỗ ông bà như thế nào

Con lạy chín phương trời, con lạy mười phương Chư phật, con lạy Chư phật mười phương.

Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ và chư vị Tôn Thần

Con xin kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Tảo phủ Thần Quân

Con xin kính lạy ngài Đông Trù tư mệnh Táo thủ Thần Quân

Con xin kính lạy các ngài Thần linh và các Thổ địa cai quản trong xứ này

Con xin kính lạy Tổ tiên nội ngoại họ: Nêu tên họ

Tín chủ con là: Nêu đầy đủ họ và tên của người chủ gia đình tổ chức cúng giỗ

Hôm nay là ngày tháng năm (âm lịch)

Chính là ngày giỗ của: Đọc họ và tên của người hưởng giỗ

Con thiết nghĩ rằng: Vắng xa trần thế không thấy âm dung

Năm qua tháng lại đến ngày húy lâm. Ơn võng cực được xem như trời biển. Nghĩa sinh thành không bao giờ quên, càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp được bao nhiêu càng cảm thấy thâm tình mà không bề dãi tỏ. Ngày mai là ngày Cát Kỵ, hôm nay chúng con toàn gia con cháu trong nhà nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng và đốt nén hương dãi tỏ tấm lòng thành.

Mất ngày tháng năm (âm lịch)

Cúi xin linh thiêng giáng thế về linh sàng và chứng giám lòng thành, để thụ hường lễ vật độ cho cháu trong nhà được an ninh khang thái, vạn sự được tốt lành, gia cảnh được hưng long thịnh vượng.

Con cũng xin kính mời các vị Tiên Tổ hai bên nội ngoại, các vị Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương hồn gia tiên nội ngoại cùng đồng lai lâm hưởng.

Con cũng xin kính mời các ngài Thần Linh, các ngài Thổ Địa, ngài Thổ Công, ngài Táo Quân và các chư vị Linh thần đồng lai để giám cách thượng hưởng.

Con cũng xin mời các vong linh là các vị Tiền chủ, vị Hậu chủ nhà này và đất này cùng tới để âm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thanh xin cúi xin được phù độ trì.

Văn Cúng Cửu Huyền Thất Tổ / 2023

VĂN CÚNG CỬU HUYỀN THẤT TỔ

Thành kính lạy Cửu Huyền Thất Tổ, Ngỏ đáp ơn báo bổ sanh thành, Con quy y Phật tu hành, Cửu Huyền Thất Tổ lòng thành chứng tri. Noi theo hạnh từ bi của Phật, Bỏ dứt đi những tật xấu xa, Trau giồi đức hạnh thuận hòa, Ðạo thành cứu độ Mẹ, Cha, Cửu Huyền. Nay phẩm vật hiện tiền dâng cúng, Hương, đăng, hoa chúc tụng cầu xin, Cửu Huyền Thất Tổ hương linh, Chứng lòng hiếu thảo ân sinh thuở đầu. Công dạy dỗ cao sâu thăm thẳm, Công dưỡng nuôi khó gẫm gì hơn, Ăn cay, uống đắng không sờn, Vì con đau khổ không hờn phiền chi. Cha mẹ rất từ bi hà hải, Nội ngoại đồng bác ái tình thương, Cửu Huyền Thất Tổ đồng nương, Từ đời vô thỉ khôn lường kiếp sinh. Ân dưỡng dục minh minh như hải, Ân sanh thành tợ Thái Sơn cao, Con nay muốn đáp công lao, Ðền ơn trả nghĩa thế nào cho xong. Lời Phật dạy mênh mông biển khổ, Cõi Ta bà không chỗ dựa nương, Chúng sanh vì bởi tình thương, Tình ân, tình ái mà vương nghiệp sầu. Sanh tử mãi biết đâu mà kể, Cứ trầm luân trong bể ái hà, Cũng vì bản ngã chấp ta, Tham lam, sân giận, cùng là si mê. Những tội lỗi không hề dứt bỏ, Ðường tử sanh nên khó bước qua, Làm con muốn cứu mẹ cha, Cửu Huyền Thất Tổ, ông bà đền ân. Ðem phẩm vật cúng dâng Tam Bảo, Nhờ chư Tăng tâm đạo cầu nguyền, Cầu cho Thất Tổ Cửu Huyền, Siêu sinh Tịnh độ phước duyên đủ đầy. Ai muốn đáp công thầy dạy dỗ, Hay đền ơn Thất Tổ Cửu Huyền, Chúng sanh tất cả các miền, Thì nên phát đại lời nguyền độ tha. Trước xuất thế lìa xa cõi tục, Sau diệt tiêu lòng dục, tánh phàm, Chẳng còn ưa chuộng, muốn ham, Thân tâm thanh tịnh, Già lam dựa kề. Tu chứng đắc Bồ đề Phật quả, Ðộ chúng sanh tất cả siêu thăng, Vượt lên cửu phẩm thượng tầng, Là phương trả nghĩa đáp bằng công lao. Ai hiếu tử mau mau ghi nhớ, Muốn đáp đền mối nợ từ xưa, Cần nên tu niệm sớm trưa, Công dầy quả mãn phước thừa báo ân.

VĂN CÚNG CỬU HUYỀN THẤT TỔ

Thành kính lạy Cửu Huyền Thất Tổ, Ngỏ đáp ơn báo bổ sanh thành, Con quy y Phật tu hành, Cửu Huyền Thất Tổ lòng thành chứng tri. Noi theo hạnh từ bi của Phật, Bỏ dứt đi những tật xấu xa, Trau giồi đức hạnh thuận hòa, Ðạo thành cứu độ Mẹ, Cha, Cửu Huyền. Nay phẩm vật hiện tiền dâng cúng, Hương, đăng, hoa chúc tụng cầu xin, Cửu Huyền Thất Tổ hương linh, Chứng lòng hiếu thảo ân sinh thuở đầu. Công dạy dỗ cao sâu thăm thẳm, Công dưỡng nuôi khó gẫm gì hơn, Ăn cay, uống đắng không sờn, Vì con đau khổ không hờn phiền chi. Cha mẹ rất từ bi hà hải, Nội ngoại đồng bác ái tình thương, Cửu Huyền Thất Tổ đồng nương, Từ đời vô thỉ khôn lường kiếp sinh. Ân dưỡng dục minh minh như hải, Ân sanh thành tợ Thái Sơn cao, Con nay muốn đáp công lao, Ðền ơn trả nghĩa thế nào cho xong. Lời Phật dạy mênh mông biển khổ, Cõi Ta bà không chỗ dựa nương, Chúng sanh vì bởi tình thương, Tình ân, tình ái mà vương nghiệp sầu. Sanh tử mãi biết đâu mà kể, Cứ trầm luân trong bể ái hà, Cũng vì bản ngã chấp ta, Tham lam, sân giận, cùng là si mê. Những tội lỗi không hề dứt bỏ, Ðường tử sanh nên khó bước qua, Làm con muốn cứu mẹ cha, Cửu Huyền Thất Tổ, ông bà đền ân. Ðem phẩm vật cúng dâng Tam Bảo, Nhờ chư Tăng tâm đạo cầu nguyền, Cầu cho Thất Tổ Cửu Huyền, Siêu sinh Tịnh độ phước duyên đủ đầy. Ai muốn đáp công thầy dạy dỗ, Hay đền ơn Thất Tổ Cửu Huyền, Chúng sanh tất cả các miền, Thì nên phát đại lời nguyền độ tha. Trước xuất thế lìa xa cõi tục, Sau diệt tiêu lòng dục, tánh phàm, Chẳng còn ưa chuộng, muốn ham, Thân tâm thanh tịnh, Già lam dựa kề. Tu chứng đắc Bồ đề Phật quả, Ðộ chúng sanh tất cả siêu thăng, Vượt lên cửu phẩm thượng tầng, Là phương trả nghĩa đáp bằng công lao. Ai hiếu tử mau mau ghi nhớ, Muốn đáp đền mối nợ từ xưa, Cần nên tu niệm sớm trưa, Công dầy quả mãn phước thừa báo ân.