Top 18 # Xem Nhiều Nhất Văn Khấn Dâng Sớ / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Herodota.com

Bài Khấn Dâng Sớ Lễ Mẫu / 2023

Hoàn Cảnh Khó Khăn Gia Đình Đang Nuôi Hai Con Đang ăn Hov, Bài Khấn Dâng Sớ, Bài Khấn Dâng Sớ Lễ Mẫu, Bài Khấn Dâng Sao Giải Hạn, Bài Khấn Mẫu Đồng Đăng, Văn Khấn Dâng Sao Giải Hạn Đầu Năm, Bài Khấn Dâng Hương, Công Tác Tạo Nguồn Phát Triển Đảng Viên Trong Vùng Đồng Bào Dân Tộc Vùng Có Đạo Thuận Lợi Khó Khăn V, Mẫu Bản Giải Trình Của Đảng ủy Về Việc Chậm Chuyển Đảng Chính Thức Cho Đảng Viên Dự Bị, Phấn Đấu Rèn Luyện Để Xứng Đáng Với Danh Hiệu Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Mẫu Bản Giải Trình Của Đảng ủy Về Chậm Chuyển Đảng Chính Thức Cho Đảng Viên Dự Bị, Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Tổ Chức Đảng Và Đảng Viên Của Đảng Uỷ, Bài Khấn Xin Bán Nhà, Văn Khấn Xe Mới, Bài Khấn Cô Sáu Côn Đảo, Bài Khấn Xin Con, Văn Khấn Xe ô Tô, Bài Khấn Xin Sửa Mộ, Bài Khấn Xin Lộc, Văn Khấn Xe ô Tô Đầu Năm, Bài Khấn Xin Sám Hối, Văn Khấn Xe ô Tô Mới, Bài Khấn Xây Nhà, Văn Khấn Đền, Văn Khấn Xe, Bài Khấn Dỡ Nhà, Bài Khấn Dỗ, Bài Khấn Vào Đền, Bài Khấn Yên Tử, Bài Khấn Tạ Đất, Bài Khấn Đền, Khấn Cầu 2, Bài Khấn Vái Về Nhà Mới, Văn Khấn 1, Bài Khấn Đền Mẫu, Bài Khấn Vào Hè, Bài Khấn Dọn Về Nhà Mới, Bài Khấn Cầu Cơ, Bài Khấn Cầu An Đầu Năm, Bài Khấn 30 Tết, Bài Khấn 30, Bài Khấn 3.3, Văn Khấn 15 Rằm, Bài Văn Khấn Tẩy Uế, Văn Khấn Xin Sửa Nhà, Văn Khấn Xin Tài Lộc, Văn Khấn Yên Tử, Bài Khấn 23 Tết, Bài Khấn 15/7, Bài Khấn 12 Bà Mụ, Văn Khấn 15/8, Văn Khấn 16, Khấn Ra Hè, Văn Khấn 15, Văn Khấn 12 Bà Mụ, Bài Khấn Cầu An, Bài Khấn Ban Thần Tài, Bài Khấn Ban Tam Bảo, Bài Khấn Bán Nhà, Bài Khấn Ban Mẫu, Văn Khấn Xin Hạ Lễ, Bài Khấn Bà Cô Tổ, Văn Khấn 1 Tết, Con Quý Vị Gặp Khó Khăn Khi Đọc?, Văn Khấn 1/7 âm, Văn Khấn 1/8, Bài Khấn 5/5, Bài Khấn Vào Nhà Mới, Văn Khấn Sửa Mộ, Văn Khấn 2, Bài Khấn ở Phủ Tây Hồ, Bài Khấn Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Mẫu, Bài Khấn ở Nhà, Bài Khấn Lễ Tạ, Văn Khấn Tại Đền, Bài Khấn Ra Mộ, Bài Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Rằm, Bài Khấn Lễ Đổ Mái Nhà, Bài Khấn Lễ Đền, Bài Khấn Rằm Tại Nhà, Bài Khấn Lễ ăn Hỏi, Văn Khấn Tạ Mộ, Văn Khấn Tạ Đất, Văn Khấn Tẩy Uế, Bài Khấn Mở Cửa Mã, Bài Khấn ở Yên Tử, Bài Khấn ở Đền Mẫu, Bài Khấn ở Đền, Văn Khấn Tế Họ, Từ Văn Bản Lao Xao Của Duy Khán, Bài Khấn ở Ban Tam Bảo, Bài Khấn Nôm, Văn Khấn Tế Tổ, Bài Khấn ông Địa Thần Tài, Bài Khấn ông Táo, Bài Khấn Phá Dỡ Nhà, Mẫu Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Bài Khấn Phủ Dầy,

Hoàn Cảnh Khó Khăn Gia Đình Đang Nuôi Hai Con Đang ăn Hov, Bài Khấn Dâng Sớ, Bài Khấn Dâng Sớ Lễ Mẫu, Bài Khấn Dâng Sao Giải Hạn, Bài Khấn Mẫu Đồng Đăng, Văn Khấn Dâng Sao Giải Hạn Đầu Năm, Bài Khấn Dâng Hương, Công Tác Tạo Nguồn Phát Triển Đảng Viên Trong Vùng Đồng Bào Dân Tộc Vùng Có Đạo Thuận Lợi Khó Khăn V, Mẫu Bản Giải Trình Của Đảng ủy Về Việc Chậm Chuyển Đảng Chính Thức Cho Đảng Viên Dự Bị, Phấn Đấu Rèn Luyện Để Xứng Đáng Với Danh Hiệu Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Mẫu Bản Giải Trình Của Đảng ủy Về Chậm Chuyển Đảng Chính Thức Cho Đảng Viên Dự Bị, Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Tổ Chức Đảng Và Đảng Viên Của Đảng Uỷ, Bài Khấn Xin Bán Nhà, Văn Khấn Xe Mới, Bài Khấn Cô Sáu Côn Đảo, Bài Khấn Xin Con, Văn Khấn Xe ô Tô, Bài Khấn Xin Sửa Mộ, Bài Khấn Xin Lộc, Văn Khấn Xe ô Tô Đầu Năm, Bài Khấn Xin Sám Hối, Văn Khấn Xe ô Tô Mới, Bài Khấn Xây Nhà, Văn Khấn Đền, Văn Khấn Xe, Bài Khấn Dỡ Nhà, Bài Khấn Dỗ, Bài Khấn Vào Đền, Bài Khấn Yên Tử, Bài Khấn Tạ Đất, Bài Khấn Đền, Khấn Cầu 2, Bài Khấn Vái Về Nhà Mới, Văn Khấn 1, Bài Khấn Đền Mẫu, Bài Khấn Vào Hè, Bài Khấn Dọn Về Nhà Mới, Bài Khấn Cầu Cơ, Bài Khấn Cầu An Đầu Năm, Bài Khấn 30 Tết, Bài Khấn 30, Bài Khấn 3.3, Văn Khấn 15 Rằm, Bài Văn Khấn Tẩy Uế, Văn Khấn Xin Sửa Nhà, Văn Khấn Xin Tài Lộc, Văn Khấn Yên Tử, Bài Khấn 23 Tết, Bài Khấn 15/7, Bài Khấn 12 Bà Mụ,

Dâng Sớ Cầu An &Amp; Cúng Sao Giải Hạn / 2023

Trong đời sống này, dù đông hay tây, Việt Tàu Phi Ấn, Anh Pháp Mỹ Nga, hễ là người ta, không hề phân biệt, dù nam hay nữ, biết chữ hoặc không, tông môn giáo phái, tín đồ tu sĩ, bác sĩ luật sư, xuất xứ ngành nghề, trẻ già bé lớn, thường dân quan chức, học thức ít nhiều, không điều riêng tư, da trắng da đen, da vàng da đỏ, không bỏ một ai, thảy đều thường gặp: những chuyện may rũi, chuyện được chuyện mất, chuyện hên chuyện xui, chuyện vui chuyện buồn, luôn luôn thay đổi, trong mỗi phút giây, lúc được tán thán, khi bị phỉ báng, nhiều khi chán ngán, cái cảnh tình đời, lúc được lên voi, khi bị xuống chó, không ai thèm ngó, vợ bỏ con chê, lúc được lên hương, khi bị lọt mương, hết đường chạy chọt, lúc được hiển vinh, khi bị tủi nhục, ở tù rục xương, lúc được sung sướng, khi bị khổ đau, không sao kể xiết.

Những lúc vui sướng, cuộc đời lên hương, chỉ biết thụ hưởng, phủ phê hỉ hả, không nhớ gì cả. Nhưng khi quá khổ, chịu đựng không thấu, tranh đấu đảo điên, khổ nạn liên miên, bấy giờ mới nhớ, đến chuyện cầu nguyện,khấn vái thần linh, van xin bồ tát, khẩn cầu thượng đế, ban cho phép lành, dành cho phép lạ, hy vọng cầu may, đổi thay vận mệnh.

Bởi vậy cho nên, mỗi dịp đầu năm, sau tết nguyên đán, mùng tám tháng giêng, người ta thường hay, chạy ngay vào chùa, nhân mùa thượng ngươn, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn,cầu cho nạn khỏi, cầu cho tai qua, cầu cho toàn gia, bình an vô sự, kể từ đầu năm, chí những cuối năm. Sẵn dịp trăng rằm, cầu luôn đủ thứ: nào được buôn may, gặp hên bán đắt, một vốn bốn lời, nhất bổn vạn lợi, không đợi kiếp sau, kiếp này trúng số, con cháu đỗ đạt, tiền bạc như nước, sắm xe tậu nhà, tha hồ sung sướng. Các chuyện cầu nguyện, van xin cầu khẩn, khấn vái như vậy, có thực hay không, có được gì không?

Người thì nói có, hễ cầu thì được, linh ứng vô cùng, nên tin là có, mất mát gì đâu. Kẻ lại nói không, trông chi chuyện đó, nằm mơ thì có, mở mắt tay không, không vẫn hoàn không, uổng công dâng sớ, mất tiền cúng sao, mau mau tỉnh thức! Tại sao như vậy? Bởi vì, thử hỏi: Sớ kia ai đọc? đọc cho ai nghe? chấp nhận hay không? thực không ai biết! Sao nọ ở đâu? ảnh hưởng thế nào? thực không ai biết! Hãy nhân dịp này, chúng ta cùng nhau, xét thử xem sao, cái chuyện đầu năm, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn,có đúng chánh pháp, có ích lợi gì, thực tế hay không?

Thực ra nếu như, người ta tu nhân, tích phước nhiều đời, từ trước đến nay, thì được gặp may, không cần cầu nguyện, chẳng cần van vái, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn. Những người đạo khác, đâu có bận tâm, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, nhưng họ có phước, họ vẫn gặp may, tiêu tai khỏi nạn, tam tai đại hạn, chẳng nghĩa lý gì, chẳng cần cúng sao, Hãy thử suy nghĩ: Tại sao như vậy?

Bởi theo thông lệ, từ xưa tới nay, nhiều người thường hay, vào chùa đầu năm, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, nhưng mà tai nạn, vẫn tới ào ào, làm sao giải thích?Theo đúng chánh pháp, chúng ta phát tâm, giúp đời giúp người, gặp chuyện khó khăn, khốn khó khổ đau, cùng nhau tu tập, hạnh nguyện bố thí, tài thí pháp thí, cùng vô úy thí, cứu nhân độ thế, giúp đỡ tiền của, giúp công giúp sức, giúp lời chỉ dẫn, khuyên lơn an ủi, cho người bớt lo, cho đời bớt khổ, bớt cơn sợ hãi, thấy đâu là phải, việc đúng thì làm, đúng với chánh đạo. Làm được như vậy, chúng ta được phước, dù không mong cầu, chắc chắn không nghi. Khi tích được phước, dù ít hay nhiều, phước báo lai đáo, nghiệp báo tiêu trừ, chúng ta gặp may, tai qua nạn khỏi, gặp thầy gặp thuốc, tưởng như phép lạ.

Thử xét thí dụ:trên chuyến phi cơ, xe hơi xe lửa, xe đò tàu thủy, chỉ khi gặp nạn, mới biết người nào, có phước bao nhiêu. Người nào phước nhiều, thoát nạn hiểm nguy, đường tơ kẻ tóc, một cách lạ lùng, hoàn toàn an ổn, người đời cho là: phép lạ hiển linh, thần linh cứu độ, người đó số hên, cho nên mạng lớn. Người nào kém phước, cũng được người cứu, chậm hơn một chút, xây xát ít nhiều, người đời cho là: người đó cũng hên, nên còn cứu kịp. Người nào vô phước, rước họa vào thân, các kẻ ác nhân, làm việc thất đức, không chịu tích phước, chẳng chịu tu nhân, thân không giữ được, người đời cho là: tới số mạng vong, không ai cứu nổi!

Lúc gặp hiểm nguy, người cầu Đức Mẹ, kẻ khấn Quán Âm, lâm râm cầu nguyện. Nếu như cả hai, cùng được thoát hiểm, vị nào cứu họ? Còn nếu cả hai, đều bị thảm tai, chúng ta thử hỏi: Hai ngài ở đâu, chẳng nghe kêu cứu? Bác ái từ bi, sao nghe chẳng cứu? Thực ra đó là: chẳng có vị nào, cứu hay không cứu, các người gặp nạn. Chúng ta nên biết, sự thực chính là: chỉ có phước báu,do ở thiện tâm, cứu giúp con người, khi gặp tai biến, dù ở nơi đâu, trên đất trên không, trên sông trên biển. Còn phước thì sống, hết phước mạng vong, đừng mong cầu khẩn, hãy mau giác ngộ.

Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:Chỉ có phước báo, mới có thể làm, giảm thiểu nghiệp báo. Phước báo là do, việc làm phước thiện, chính mình tạo ra, chứ không phải do, thượng đế ban cho, hay do cầu nguyện. Nếu cầu nguyện được, tại sao nhiều người, cùng cầu cùng nguyện, kẻ chết người sống? kẻ qua người vướng?

Chúng ta nên biết, sự thực chính là: người nào tích phước, từ trước đến nay, không cần cầu nguyện, cuộc đời cũng an,ít gặp nguy nan, ít có sóng gió, ít có trắc trở, đở bớt phiền muộn, tai qua nạn khỏi, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, chuyện khó hoá dễ. Khi tích phước đức, dù ít hay nhiều, đều được hưởng phước, rước được điều may, không hay thất bại, tại thế an vui, tai qua nạn khỏi, gặp thầy gặp thuốc, không chuốc ưu phiền, người hiền thường gặp, bệnh tật tiêu trừ, tưởng như phép lạ. Còn như cầu nguyện, mà không tích phước, thì cũng như không, chẳng nên trông mong, phép lạ xảy đến! Nghiệp báo cũng do, chính mình tạo ra, chứ không phải do, thượng đế thần linh, hay bất cứ ai, xúi bảo mình làm.

Chính do tâm tham, xui khiến người ta, nổi lên tâm ma, cầu xin tiền tài, giàu sang sung sướng, một chút phẩm vật, nhỏ nhoi chút xíu, dâng cúng cho chùa, nhà thờ đền miếu, cầu xin bạc triệu, liệu còn chưa đủ, ngủ nghỉ ăn uống, muốn danh muốn lợi, tài sắc phù du, muốn tu nên bỏ. Chính do tâm sân, xui khiến người ta, nổi lên tâm ma, cầu xin thắng kiện, tàn hại kẻ thù, triệt hạ đối thủ, người họ không ưa, vui mừng khi thấy, kẻ thù thê thảm, sống trong khổ nhục, chết cũng không xong, họ mới hài lòng.Chính do tâm si, xui khiến người ta, nổi lên tâm ma, cầu nguyện vãng sanh, tây phương cực lạc, mà không cần tu, không gìn giữ giới, ngay trong hiện đời, đợi lúc hấp hối, nói với người nhà, rước nhiều ông bà, đến nhà hộ niệm, chỉ niệm mười tiếng, liền khiến được lên, cảnh giới Di Đà: thiệt là vô minh!

Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy,thí dụ như sau: Nếu một người nào, phải bị trừng phạt, nuốt một nắm muối, thì sẽ đau khổ, biết là dường nào. Nếu bỏ nắm muối, vào một tô nước, rồi mới phải uống, thì sẽ dễ chịu, hơn một chút xíu. Nếu bỏ nắm muối, vào một lu nước, rồi mới phải uống, thì sẽ dễ chịu, nhiều hơn chút nữa. Nếu bỏ nắm muối, vào một hồ nước, rồi mới uống vào, thì dễ như không, không còn lớn chuyện.

Nắm muối tượng trưng, cho các nghiệp nhân, bất thiện chẳng lành, con người đã tạo, từ trước đến nay, bây giờ phải lãnh, nghiệp quả nghiệp báo, nói chung đó là: quả báo khổ đau, không sao tránh khỏi.

Chỉ có phước báo, ít hay là nhiều, tượng trưng tô nước, lu nước hồ nước, mới có thể giúp, con người vượt qua, sóng gió ba đào, nạn tai đau khổ, như vậy mà thôi. Đó mới thực là: chí công vô tư. Mình làm mình hưởng.Mình làm mình chịu.

Con người nên lo, dừng nghiệp chuyển nghiệp, tự mình suy xét, chính bản thân mình, đừng nhìn người khác, tu sửa ba nghiệp: thân khẩu và ý, đừng làm bậy bạ, đừng nói tốt xấu, đừng nghĩ vẫn vơ, ngay từ bây giờ, đừng đợi đến khi, nghiệp báo xảy ra, dù có rên la, không còn kịp nữa, nghiệp báo vay trả, chẳng ai thoát cả, van xin cầu khẩn, thì cũng muộn màng! Cầu nguyện van xin, dù tin hay không, thực sự chẳng giúp, chẳng ích gì đâu. Hãy thử suy nghĩ: Tại sao như vậy?

Bởi vì các vị, giáo chủ giáo phẩm, giáo quyền cao cấp, giáo hội trung ương, giáo sĩ địa phương, một khi tai ương, đến lúc xảy ra, là ai cũng vậy, cũng phải trả nghiệp, đã tạo trước kia, nhiều đời nhiều kiếp, hoặc trong kiếp này, cũng bị nguyền rủa, vu khống cáo gian, xử án khổ nạn, bắt bớ giam cầm, ám sát giết hại, dù là người thân, cũng không thay được.

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:Dù cho lên non, xuống biển vào hang, nghiệp báo đã mang, vẫn theo con người, như hình với bóng, không ai có thể, tránh được thoát được.

Tóm lạixưa nay, cuộc đời đổi thay, vui buồn sướng khổ, cũng tại con người, tạo phước cũng có, tạo nghiệp cũng có, tạo phước hưởng phước, hưởng phước báo lành, tạo nhân lãnh quả, nhân thiện quả hiền, nghiệp ác quả dữ. Đúng luật nhân quả, áp dụng ba đời: quá khứ hiện tại, và cả vị lai, chẳng hề sai chạy, chẳng vị nể ai, bất cứ người nào, dù tin hay không, nếu đã gieo nhân, cũng đều gặt quả. Trong sách có câu, cổ nhân thường dạy: Lưới trời tuy thưa, mà chưa ai thoát. Chữ “trời” có nghĩa: nghiệp báo đã mang, đến giờ phải trả, chưa ai thoát được.

Thượng đế thần linh, ơn trên thiêng liêng, chí công vô tư, không bao giờ làm, theo lời cầu nguyện, van xin khấn vái, của những con người, chẳng tích phước đức, lại gây ác nhân, thất đức vô cùng. Chẳng hạn như là: nay đâm bị thóc, mai thọc bị gạo, vu khống cáo gian, khai man lý lịch, lợi dụng pháp luật, xúi người kiện tụng, lợi dụng thần thánh, kiếm tiền bất chánh, giựt hụi quịt nợ, sang đoạt tài sản, chiếm hữu tác quyền, làm tiền trắng trợn, hung tợn hiếp người, bần cùng cô thế, bất kể khổ đau, của bao người khác.

Ngày xưa chư Tổ, có lòng dạy dỗ, con người phát tâm, làm lành lánh dữ, tạo nên phương tiện, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn. Mục đích khuyến dụ, mọi người về chùa, cúng kiến lễ lạy, mong cầu an tâm, gia đạo hòa bình, tánh tình hướng thiện, rồi nhân dịp đó, truyền bá chánh pháp, thuyết giảng giáo lý, chỉ bát chánh đạo, đó là:chánh kiến, và chánh tư duy, chánh ngữ chánh nghiệp, cùng là chánh mạng, và chánh tinh tấn, chánh niệm chánh định, giảng luật nhân quả, giải lý vô thường, phước đức công đức, phước báo quả báo, đọc tụng kinh điển, chí tâm tu tập, dạy các pháp môn, niệm Phật ngồi thiền, hiền lành tạo phước, việc thiện làm trước, từ khước ác nhân, tu tâm dưỡng tánh, giúp đỡ con người, giác ngộ chân lý, thấy được sự thực, giải thoát khổ đau, xây dựng cuộc sống, an lạc hạnh phúc.

Ngày nay chúng ta, tâm Phật tâm ma, lẫn lộn khó phân, cho nên tạm dùng, phương tiện thiện xảo, cúng sao giải hạn, dâng sớ cầu an, khi còn hoang mang, tâm thường bất an, gian nan khốn khổ, không chỗ nương tựa, vì chưa hiểu đạo, chẳng biết làm sao, thực hành thế nào, cho đúng chánh pháp.

Giờ đây thấu hiểu, rõ ràng không nghi, đâu là chánh pháp, chúng ta phát nguyện: dừng nghiệp chuyển nghiệp, quày đầu hướng thiện, quyết tâm trì chí, ý hướng tu hành, tu tâm dưỡng tánh, tránh làm điều ác, chỉ làm điều thiện, giữ tâm thanh tịnh, tích cực chuyển hóa, cuộc sống tâm linh, của bản thân mình, ngày được tốt hơn, tâm được an hơn, cuộc sống tốt hơn, an lạc hạnh phúc. Như vậy thực tế, những người xung quanh, cùng chung phúc lạc, cho đến một ngày, ngộ được chánh đạo, đạt được đỉnh cao: niết bàn giải thoát.

Phân Biệt Văn Khấn Và Sớ / 2023

PHÂN BIỆT VĂN KHẤN VÀ SỚ – ĐIỆP

Đời sống tâm linh và đặc biệt là đạo thờ cúng Ông Bà Tổ Tiên của Dân Tộc ta thật là phong phú, đa dạng; trong đó điều căn bản được đề cập đến trước nhất là phần cách thức dâng cúng. “Của cho không bằng cách cho”, cách thức cúng luôn được đề cao, và trong phần lễ nghi ấy, văn cúng luôn thể hiện sự đóng góp quan trọng.

Tuy nhiên có khá nhiều hình thức hành văn trong các loại nghi lễ cúng, để tiện cho việc sử dụng của đồng bào, chúng tôi xin giới thiệu một số nét căn bản:

Văn cúng: là sự trình bày rành mạch nội dung người dâng cúng cần giới thiệu, tấu trình về nguyên nhân, các thức dâng cúng và bày tỏ nguyện vọng của mình trong và sau lễ cúng. Có khá nhiều cách thể hiện, cách viết văn nhưng về căn bản là chỉ khác nhau ở cách hành văn (lối viết cổ (Hán – Việt), hay lối viết hiện đại (chữ Quốc Ngữ)), còn về nội dung thì như tôi đã vừa nêu.

Vậy văn cúng là nói chung, tên gọi chung, là hình thức, là văn bản, là ý chí, nguyện vọng, làm phương tiện chuyển tải thông điệp giữa hai thế giới khác biệt, cách biệt trong nghi lễ, trong đời sống văn hóa tâm linh, khi cúng ai cũng dùng được, từ cúng bình thường đến cúng Thần, Thánh, cúng Phật.

Sớ, Điệp, Trạng, Hịch, Triệu, công văn, cung văn… cũng là phương tiện, chứa đựng nội dung của hình thức cúng, nghi lễ cúng nhưng thiên về chuyên môn hơn, trang trọng hơn, dùng cho các nghi cúng tấu trình Bề Trên (Thần, Thánh, Tiên, Phật…), phương thức lập ra những loại này là có luật lệ, phép tắc, nguyên tắc rõ ràng.

Sớ: gồm có sớ dành cho cầu an, cầu siêu, và một vài loại sớ khác như: Sớ cúng ngoại cảnh ngoại càng, sớ cúng sao, sớ cúng Quan Thánh, …..

Điệp: được chia làm 2 loại, điệp dùng cho cầu siêu và điệp đặc biệt dùng cho trong lúc hành Tang Lễ, (chúng ta thường hay gọi là Điệp Cúng Đám).

Trong các bản Trạng Văn thì gồm các thể loại như: Dẫn Thuỷ Sám Tiên Hạt, Văn Hịch Thuỷ, Văn Cúng Hậu Thổ …..( Ta Bà Giáo Chủ )( Vạn Đức Từ Tôn )

2 – Sớ 1 – SỚ CẦU AN :3 – Sớ Cầu Siêu Chẩn Tế ( Tịnh Bình )4 – Sớ cúng ngọ khai kinh ( Phong Túc Diêu Đàn )5 – Sớ Chẩn Tế ( Thắng Hội Hoằng Khai )6 – Sớ tụng Kinh Thuỷ Sám ( Sám Viên Minh )7 – Sớ cúng Tiêu Diện ( Biến Thể Diện Nhiên )8 – Sớ Giải Oan Bạt Độ ( Chuẩn Đề Thuỳ Phạm )9 – Sớ Vu Lan 1 ( Thu Lai Nguyệt Đáo )10 – Sớ Vu Lan 2 ( Phật Từ Mẫn Thế )…..

3 – CÁC LOẠI SỚ KHÁC :

1 – Sớ cúng Ngoại Cảnh Ngoại Càng ( Càng Khôn Hiển Thị )2 – Sớ cúng Cầu Ngư ( Thiên Địa Thuỷ Phủ )3 – Sớ cúng Vớt Đất ( Hoàng Thiên Giáng Phước )4 – Sớ cúng Giao Thừa ( Diêu Hành Tam Giới )5 – Sớ cúng Lễ Thành ( Quyền Tri Bắc Hải )6 – Sớ cúng Hội Đồng Thánh Mẫu ( Thánh Cảnh Cao Diêu )7 – Sớ Cúng Sao 1 (Đảng Đảng Châu Thiên )8 – Sớ Cúng Sao 2 ( Tai Tinh Thối Độ )9 – Sớ cúng bà Bổn Mạng ( Phương Phi Tiên Nữ )10 – Sớ cúng Quan Thánh ( Trung Huyền Nhật Nguyệt )…..

4 – ĐIỆP CẦU SIÊU :

1 – Điệp Cầu Siêu ( Tư Độ Vãng Sanh )2 – Điệp cúng Cô Hồn ( Khải Kiến Pháp Diên )3 – Điệp Cấp ( Tư Độ Linh Diên )4 – Điệp cấp Phóng Sanh ( Khải Kiến Pháp Diên )5 – Điệp cấp Thuỷ Sám ( Tư Độ Đạo Tràng )6 – Điệp Thăng Kiều ( Tư Độ Đạo Tràng Trai Diên )7 – Điệp Thượng Phan ( Tư Độ Đạo Tràng )8 – Điệp Tam Thế Tiền Khiên ( Tư Độ Đạo Tràng )9 – Điệp Vu Lan ( Tư Độ Vãng Sanh )10 – Điệp cúng Tuần ( Tư Độ Vãng Sanh )11 – Điệp cúng Vớt Chết Nước ( Tư Độ Đạo Tràng )12 – Điệp cúng Chết Cạn ( Tư Độ Đạo tràng Tế đàn )13 – Điệp cúng Bà Cô Thân Ruột ( Tư Độ Linh Diên ) …..

5 – ĐIỆP CÚNG ĐÁM :

1 – Điệp Thành Phục ( Tư Minh Siêu Độ )2 – Điệp Triêu Điện ( Tư Độ Linh Diên )3 – Điệp Tịch Điện 1 ( Tư Độ Linh Diên )4 – Điệp Tịch Điện 2 ( Tư Minh Siêu Độ )5 – Điệp Khiển Điện ( Tư Độ Linh Diên )6 – Điệp Tế Đồ Trung ( Tư Độ Linh Diên )7 – Điệp Cầu Siêu Cáo Yết Từ đường ( Mộ Tùng Căn Trưởng )8 – Điệp An Linh Phản Khốc ( Tư Độ Linh Diên )…..

6 – TRẠNG :

1 – Trạng Đảo Bệnh ( Thiết Cúng Đảo Bệnh Kỳ An )2 – Trạng cúng Phù Sứ ( Linh Bảo Đại Pháp Ty )3 – Trạng Lục Cung ( Cúng Khẩm Tháng )4 – Trạng cúng Quan Sát ( Khởi Kiến Pháp Diên )5 – Trạng Tống Mộc ( Khởi Kiến Pháp Diên )6 – Trạng cúng Đất ( Thiết Cúng Tạ Thổ Kỳ An )7 – Trạng cúng Khai trương ( Thiết Cúng Khai Trương Kỳ An ) 8 – Trạng cúng Hoàn Nguyện ( Thiết Cúng Hoàn Nguyện )9 – Trạng cúng Tiên Sư ( Khởi Kiến Pháp Diên )10 – Trạng Tạ Mộ ( Khởi Kiến Pháp Diên )…..

7 – CÁC LOẠI VĂN :

1 – Dẫn Thuỷ Sám Tiên Hạt ( Tư Độ Đạo Tràng )2 – Văn cúng Hưng tác ( … )3 – Văn Hịch Thuỷ ( Khai Giải Bạt Độ Trầm Luân Tế Đàn )4 – Văn cáo Đạo Lộ ( … )5 – Văn cúng Hậu Thổ (… )6 – Văn Thượng Lương ( … )…..

1 – Sớ Cầu An ( Phật Nãi )2 – Sớ Cầu An ( Nhất Niệm Tâm Thành )3 – Sớ Cầu An ( Thoại Nhiễu Liên Đài )…..

2 – SỚ CẦU SIÊU :

1 – Sớ Cầu Siêu Cầu Siêu

Văn Khấn Tấu Sớ Ông Công Ông Táo Lên Trời / 2023

Văn khấn tấu sớ ông công ông táo lên trời. Bài văn khấn cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp là một nghi lễ không thể thiếu trong ngày lễ tiễn ông Công ông Táo về trời. Văn…

Văn khấn tấu sớ ông công ông táo lên trời. Bài văn khấn cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp là một nghi lễ không thể thiếu trong ngày lễ tiễn ông Công ông Táo về trời.

Văn khấn tấu sớ ông công ông táo lên trời

Theo tục lệ cổ truyền, người Việt tin rằng, hằng năm, cứ đến ngày 23 tháng Chạp, Táo Quân lại cưỡi cá chép bay về trời để trình báo mọi việc xảy ra trong gia đình với Ngọc Hoàng. Cho đến đêm Giao thừa Táo Quân mới trở lại trần gian để tiếp tục công việc coi sóc bếp lửa của mình.

Văn khấn tấu sớ ông công ông táo lên trời

Lễ cúng thường diễn ra trước 12h trưa ngày 23 tháng Chạp. Xin giới thiệu bài cúng khấn ông Công ông Táo phổ biến.

Bài 1: Bài cúng khấn Tết ông Táo 23 tháng Chạp theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam – (NXB Văn hóa Thông tin)

(23 tháng Chạp)

Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương Con kính lạy Ngài đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân. Tín chủ (chúng) con là: …………… Ngụ tại:………… Hôm nay ngày 23 tháng Chạp tín chủ chúng con thành tâm sắp sửa hương hoa phẩm luật, xiêm hài áo mũ, kính dâng tôn thần. Thắp nén tâm hương tín chủ con thành tâm kính bái. Chúng con kính mời ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân hiển linh trước án hưởng thụ lễ vật.

Cúi xin Tôn thần gia ân xá tội cho mọi lỗi lầm trong năm qua gia chủ chúng con sai phạm. Xin Tôn thần ban phước lộc, phù hộ toàn gia chúng con, trai gái, già trẻ sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng, vạn sự tốt lành. Chúng con lễ bạn tâm thành, kính lễ cầu xin, mong Tôn thần phù hộ độ trì.

Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật!

me Những đồ “vàng mã” sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ.

Văn khấn tấu sớ ông công ông táo lên trời rất quan trọng trong lễ cúng

Bài 2: Bài văn khấn theo Nguyễn Thị Nhi – Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Hôm nay là ngày… tháng… năm. Tên tôi (hoặc con là)…, cùng toàn gia ở… Kính lạy đức “Đông Trù tư mệnh Táo phủ Thần Quân: (Có thể khấn thêm: Thổ địa Long Mạch Tôn Thần. Ngũ phương ngũ thổ Phúc Đức chính Thần) Hàng năm gặp tiết hết năm, tháng vừa cuối Chạp. Gia đình sửa lễ bạc dâng lên. Cảm tạ phúc dày nhờ Thần phù hộ. Kính mong thần tâu bẩm giúp cho: Bếp trong nếp sống rất hòa, ngoài mặt dám rằng cũng đẹp. Cảm thông xin tấu thực thà. Cầu mong giúp đỡ lợi lạc. Người người lo ấm, cả nhà thêm tiếng tốt lẫy lừng. Việc việc thành công, một cửa ngút khí lành man mác. Muôn trông ơn đức vô cùng.

Cẩn cốc (vái 4 vái).

Chú ý: Sau khi bày lễ, thắp hương và khấn xong, đợi hương tàn lại thắp thêm một tuần hương nữa lễ tạ rồi hóa vàng mã và thả cá chép ra ao, hồ, sông, suối… để cá trở ông Táo lên chầu trời.