Thành Tâm Đọc Bài Văn Khấn Giải Xui Trừ Hạn Này, Thần Tài Sẽ Mỉm Cười Ban Lộc, Vận Đỏ Kéo Đến Ầm Ầm

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Giải Hạn Sao Kế Đô
  • Văn Khấn Giải Hạn Sao Thủy Diệu Hàng Tháng Hàng Năm
  • Văn Khấn Để Cúng Sao Giải Hạn Sao Thủy Diệu
  • Bài Văn Khấn Giỗ Tổ Dòng Họ Được Sử Dụng Nhiều Nhất 2021
  • Văn Khấn Lễ Hóa Vàng Chuẩn Nhất Cho Năm Mậu Tuất
  • – Nước: 3 chén đầy ắp

    – Muối và gạo: mỗi loại 1 bát con

    – Quả cau lá trầu: 3 cặp

    – Thắt lưng: cắt làm 3 mảnh đều nhau

    – Thuốc lá: 3 điếu

    – Bộ Tam Sanh gồm 1 quả trứng vịt lộn đã luộc đập ra bát, 1 con tôm luộc, 1 miếng thịt rọi luộc cho ra đĩa

    – Tóc rối của người gặp vận xui

    – Đồng bạc: 3 xu lấy giấy đỏ bọc lại

    – Vàng mã, hoa tươi, các loại trái cây

    Bày mâm cỗ cúng ngoài sân. Sau khi sắp đủ lễ vật, thắp 3 nén nhang, khấn cúng rồi để mâm cỗ ở đó, đến khi tàn hết 3 nén nhang thì bỏ đồ cúng đi, tuyệt đối không ăn.

    Bài văn khấn giải xui trừ hạn

    Nam mô bậc hữu thiên chí tôn kim quyết Thượng đế ngọc hoàng.

    Con kính thỉnh: Mông Long Đại Tướng …(1) Tam Tai …(2) ách thần quang!

    Hôm nay là ngày … tháng … năm … (Đọc ngày tháng năm theo âm lịch)

    Con tên là:…

    Ngụ tại:…

    Nay con thành tâm sử biện hương hoa, lễ vật cùng các thứ cúng dâng giải hạn, kính dâng Mông Long Đại Tướng …(1) Tam Tai …(2) Ách Thần Quang giá đáo đàn tràng, chứng minh lòng thành mà thọ hưởng.

    Cúi lạy 3 lần rồi hóa vàng.

    Một số lưu ý khi đọc văn khấn

    Trước khi đọc, bạn nên tra xem phần (1) là tên các vị thần cai quản từng năm:

    – Năm Tí là Địa Vong, cúng vào ngày 22, khi đặt mâm cúng hướng về phía Bắc.

    – Năm Sửu có thần Địa Hình, cúng ngày 14 hướng Đông Bắc.

    – Năm Dần cúng thần Thiên Linh vào ngày rằm theo hướng Đông Bắc.

    – Năm Mão có thần Thiên Hình cúng ngày 14 theo hướng Đông.

    – Năm Thìn thần Thiên Kiếp cúng ngày 13 hướng Đông Nam.

    – Năm Tị cúng thần Hắc Sát vào ngày 11 cũng hướng Đông Nam.

    – Năm Dậu có thần Thiên Họa cúng ngày mùng 7 hướng Tây.

    – Năm Tuất là thần Địa Tai cúng ngày mùng 6 theo hướng Tây Bắc.

    – Năm Hợi cúng thần Địa Bại ngày 21 hướng Tây Bắc.

    Phần (2) là ngũ hành của năm đó, được tính như sau:

    – Năm Thân và Dậu là ngũ hành Kim.

    – Năm Dần và Mão là ngũ hành Mộc.

    – Năm Hợi và Tí thuộc ngũ hành Thủy.

    – Năm Tị và Ngọ thuộc ngũ hành Hỏa.

    – Các năm Thìn, Sửu, Mùi, Tuất ứng với ngũ hành Thổ.

    Ngoài cách trên, một cách hóa giải rất hiệu quả khi bị vận xui đeo bám, đó là bốc một nắm muối, sau đó ném nắm muối này qua vai trái của mình. Mọi điều xui rủi sẽ đi theo nắm muối này mà ở lại phía sau lưng, nhường chỗ cho những điều tốt đẹp, may mắn. Nếu là phụ nữ thì hãy nắm muối bằng tay phải, đàn ông thì nắm muối bằng tay trái. Nhất định phải nắm muối qua vai trái, nếu nhầm sang vai phải thì vận đã đen lại càng đen hơn.

    Một cách khác là nếu gia chủ cảm thấy vận xui sắp đến hoặc chuẩn bị đến những nơi không may mắn, thì tốt nhất nên đặt trong túi áo hoặc túi quần một mảnh vải đỏ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gọi Hồn, Áp Vong: Sự Thật Về Những Chiêu Trò
  • Văn Khấn Giao Thừa Năm 2021 Đón Nhiều Tài Lộc, An Khang, Thịnh Vượng,…
  • 10 Điều Nên Biết Về Phong Tục Đón Trẻ Sơ Sinh Về Nhà
  • Phong Tục Đón Trẻ Sơ Sinh Về Nhà Mà Mẹ Cần Nên Biết ?
  • Nghi Lễ Khi Sinh Con Đón Về Nhà Và Đầy Tháng
  • [Giải Đáp] Văn Khấn Khi Dọn Đến Ở Nhà Mới Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn, Cách Sắm Lễ Cúng Sửa Nhà, Lễ Tạ Sau Khi Hoàn Thành
  • Bài Văn Cúng Khai Trương
  • Bài Văn Khấn Cúng Nhập Trạch Chuyển Văn Phòng Làm Việc Mới
  • Văn Khấn Cúng Cáo Giỗ Ngoài Mộ Trước Ngày Giỗ, Văn Khấn Lễ Tiên Thường
  • Bài Văn Khấn Nhập Trạch Văn Phòng Làm Việc Chi Tiết
  • Về nhà mới ngoài việc các bạn cần lưu ý chọn ngày giờ tốt để dọn đến nhà mới thì bài văn khấn cần phải đúng chuẩn. Thời gian chuyển vào nhà mới, tốt nhất là vào buổi sáng, giữa trưa hoặc lúc mặt trời mới bắt đầu lặn, tránh chuyển nhà vào buổi tối.

    Có rất nhiều mẫu Văn khấn khi dọn đến ở nhà mới và nếu bạn vẫn đang hoang mang thì bài văn khấn dưới đây thật sự cần thiết dành cho bạn.

    Văn khấn khi dọn đến ở nhà mới?

    MẪU VĂN KHẤN KHI DỌN ĐẾN NHÀ MỚI

    – Hoàng thiên Hậu thổ chư vị tôn Thần.

    – Các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.

    Hôm nay là ngày……. tháng……… năm………..(âm lịch)

    Thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, các thứ cúng dâng

    Bày lên trước án Kính cẩn tấu trình: Các ngài Thần linh thông minh chính trực

    Giữ ngôi tam thai, nắm quyền tạo hoá

    Thể đức hiếu sinh của trời đất

    Phù hộ dân lành, bảo vệ sinh linh, nêu cao chính đạo.

    Nay gia đình chúng con hoàn tất công trình

    Chọn được ngày lành dọn đến cư ngụ

    Cho phép chúng con rước vong linh Gia tiên về đây thờ phụng.

    Phần sài nhóm lửa, kính lễ khánh hạ cầu xin chư vị minh thần

    Gia ân tác phúc, độ cho gia quyến chúng con:

    An ninh, khang thái, làm ăn tiến tới, tài lộc đồi dào

    Người người khoẻ mạnh, an khang

    Buôn bán, làm ăn bội thu phát đạt.

    Thương xót phù trì bảo hộ.

    Chúng con lại kính mời các vong linh tiên chủ, hậu chủ nhà này, đất này cùng về đây chiêm ngưỡng, thụ hưởng lễ vật;

    Phù trì cho toàn gia chúng con thịnh vượng an khang.

    Dồi dào sức khoẻ, trừ tai tật ách, bạn sự hanh thông. Dãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

    Một vài điều cần lưu ý khi dọn vào nhà mới

    Sau khi đọc Văn khấn khi dọn đến ở nhà mới , các thành viên trong gia đình cần tuân thủ những điều cơ bản dau đây:

    + Nếu là 1 gia đình có vợ chồng con cái thì đầu tiên là vợ gia chủ cầm 1 cái gương tròn đem vào nhà trước (mặt gương soi vào nhà)

    + Kế đến là gia chủ tự tay bưng bát nhang thờ Tổ Tiên, rồi lần lượt các người trong nhà mới đem vào: Bếp lửa (tốt nhất là Bếp còn đang cháy đỏ từ nhà cũ đem tới), chăn nệm, gạo, nước, muối, đồ tư trang quý giá…vv…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp 3 Bài Văn Khấn Ngoài Mộ Trước Ngày Giỗ
  • Bài Cúng Thôi Nôi Cho Bé Trai Và Bé Gái Đúng Chuẩn Nên Lưu Lại
  • Bài Khấn Lễ Ăn Hỏi: Lời Đọc Đúng Phong Tục Việt !
  • Bài Văn Cúng Khấn Tổ Tiên Tại Nhà Thờ Họ Đầy Đủ
  • Bài Khấn Gia Tiên Trong Lễ Ăn Hỏi Chuẩn Nhất
  • Đền Nguyên Phi Ỷ Lan

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Phi Ỷ Lan Và Những Giai Thoạị
  • Nguyên Phi Ỷ Lan Nguyen Phi Y Lan Doc
  • Nghệ Sĩ Việt Tề Tựu Trong Ngày Giỗ Mẹ Hiếu Hiền
  • Lời Bài Hát Ngày Giỗ Mẹ
  • Tục Thờ Tổ Mẫu Âu Cơ Ở Khu Di Tích Lịch Sử Đền Hùng
  • 1. ĐỀN NGUYÊN PHI Ỷ LAN

    Tìm hiểu một chút qua những giai thọai lịch sử về Nguyên Phi Ỷ Lan để biết tại sao bà nổi tiếng là tài năng và đức độ như vậy:

    Nằm ở phía tay trái, trước cửa đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan là đôi rồng chầu bằng đá phủ phục, với đường nét, chạm khắc hết sức tinh xảo.

    4.

    Đền thờ được xây dựng từ cuối thế kỷ XI, là nơi phụng thờ bà ngay trên quê hương của mình. Đền có kiến trúc theo lối cung đình thời Lý, có 72 cửa, thuộc loại cổ nhất nước ta, cách không xa đền phía tay phải có chùa mang tên: “Linh Nhân tư Phúc Tự” do chính Linh Nhân Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan xây dựng cùng với hàng trăm ngôi chùa khác, được khánh thành tháng 03 năm Ất Mùi (1115).

    5.

    Ngay cạnh đền là chùa Tư Phúc do nguyên phi Ỷ Lan cho xây dựng năm 1115. Đền và chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật quí như: Ba chân tảng đá chạm cánh sen, hai đầu sư tử đá, một thành bậc chim phượng đều ở thời Lý, bốn tấm bia đá thời hậu Lê, một khám thờ chạm rồng uốn khúc yên ngựa, chạm thủng hoa văn linh vật thời Mạc, năm hoành phi, hai câu đối ca ngợi công đức của thái hậu Ỷ Lan.

    Hàng năm cứ vào dịp từ 19 đến 21 tháng 2 âm lịch, du khách thập phương lại hành hương về Dương Xá tham dự lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày Nguyên phi Ỷ Lan đăng quang và ngày 24, 25 tháng 7 âm lịch, ngày mất của bà. Tất cả cùng về thắp hương tưởng niệm, nhớ về người phụ nữ có tài kinh bang tế thế, từng đã 2 lần nhiếp chính trông coi việc nước mà người phụ nữ đã nổi danh trong lịch sử nước nhà.

    (VOV) – Chùa Dâu tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa có nhiều tên gọi: Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự. Nơi đây là trung tâm thành cổ Luy Lâu từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên.

    Có câu thơ lưu truyền dân gian:

    Dù ai đi đâu về đâu

    Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về,

    Dù ai buôn bán trăm nghề

    Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu

    Theo ghi chép trong sách sử và bia đá, đây là ngôi chùa Phật giáo cổ nhất Việt Nam, là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, một từ Ấn Độ sang, một từ phương Bắc xuống. Chùa được xây dựng từ thế kỉ thứ 2 (khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226) dưới thời Sĩ Nhiếp làm thái thú. Chùa Dâu thờ nữ thần Pháp Vân nên gọi là chùa Pháp Vân và nằm trong vùng đất Cổ Châu nên cũng gọi là chùa Cổ Châu. Chùa gắn liền với truyện cổ tích Tứ pháp của người Việt xưa.

    Vào đầu công nguyên, các tăng sĩ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu Đà La, đã tới Dâu – tức Luy Lâu tiến hành truyền bá đạo Phật, lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu – trung tâm Phật giáo lớn nhất và cổ xưa nhất của Việt Nam. Chùa tháp được xây cất nguy nga bên cạnh thành quách, đền đài, cung điện, lầu gác, phố chợ sầm uất của đô thị Luy Lâu, trong đó chùa Dâu là trung tâm trong hệ thống các chùa thờ Phật và thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), một nét độc đáo trong sự kết hợp giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian của người Việt. Chùa Dâu trở thành trung tâm của Thiền phái Tì ni đa lưu chi – Thiền phái đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.

    Kiến trúc chùa Dâu còn đến ngày nay được dựng dưới thời Trần năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Bao quanh tòa điện chính hình chữ công là những dãy nhà ngang, nhà dọc vây kín theo kiểu nội công ngoại quốc.

    Chính giữa sân chùa trước bái đường, Mạc Đĩnh Chi đã cho dựng ngôi tháp Hòa Phong cao chín tầng, nay chỉ còn ba. Ngôi tháp vuông xây bằng gạch trần, dáng chắc khỏe nổi bật giữa khung cảnh xung quanh. Tháp tượng trưng cho ngọn núi vũ trụ, bốn góc tháp có bốn tượng Thiên vương trấn giữ, trên tháp treo một khánh đồng cổ.

    Tháp Hòa Phong Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới, cao khoảng 17 m nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ “Hòa Phong tháp”. Chân tháp vuông, mỗi cạnh gần 7 m. Tầng dưới có 4 cửa vòm. Từ “Hoà Phong” có nghĩa là ngọn gió mát mẻ, tốt lành.

    Trong tháp có treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817. Có 4 tượng Thiên Vương – 4 vị thần trong truyền thuyết cai quản 4 phương trời- cao 1,6 m ở bốn góc

    Trước tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33 m, cao 0,8 m. Điều này làm ngạc nhiên nhiều du khách, bởi xưa kia nước Việt không có con cừu. Truyền sử kể rằng: vào thời Luy Lâu còn là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của cả nước ta, có vị sư người Tây Thiên sang nước ta tu hành truyền bá đạo Phật. Ông dắt theo 2 con cừu. Một hôm sơ ý để 2 con đi lạc, 1 con lạc đến chùa Dâu, 1 con lạc đến lăng Sĩ Nhiếp (thái thú Giao Chỉ thời đó), dân ở 2 vùng này đã tạc tượng 2 con cừu bằng đá ở nơi chúng đến để thờ. Do vậy hiện nay chùa Dâu có 1 con, lăng Sĩ Nhiếp (cách đó 3 km) có 1 con.

    Trải qua bao biến động lịch sử, thành lũy, đền dài, dinh thự của trung tâm Luy Lâu bị hoang phế. Nhưng chùa Dâu với tháp Hòa Phong vươn cao và hàng trăm gian chùa cổ kính vẫn tồn tại với thời gian. Lịch sử đã từng khẳng định vị trí của chùa Dâu trong đời sống văn hóa, tâm linh dân tộc. Chùa là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử-văn hóa quốc gia.

    Chỉ dẫn đường đi: Cùa Dâu nằm trên địa phận xã Thanh Khương – Thuận Thành – Bắc Ninh. Có thể tới chùa bằng nhiều đường, tuy nhiên đường ngắn nhất tính từ trung tâm TP Hà Nội là: Cầu Chương Dương- Đường Nguyễn Văn Cừ – Cầu Chui – đường QL 5 – tỉnh lộ 181 – Dương Xá ( Gia Lâm ) – Phú Thị ( Gia Lâm ) – Thuận Thành – Phố Dâu – Chùa Dâu.

    18 vị La Hán trong chùa

    Các pho tượng Bồ Tát, Tam Thế, Đức Ông, Thánh Tăng được đặt ở phần hậu điện sau chùa chính

    Tư liệu tổng hợp. Ảnh Lê Bích

    3. CHÙA BÚT THÁP

    Năm 1876, vua Tự Đức khi đi qua đây thấy một ngọn tháp hình cây bút khổng lồ vươn lên trời xanh liền đặt tên là Bút Tháp…

    Khi nói về các danh thắng của đất Kinh Bắc, không thể không nhắc tới chùa Bút Tháp. Ngôi chùa nổi tiếng này còn được gọi là Ninh Phúc tự, nằm ở bên đê hữu ngạn sông Đuống, ngày nay thuộc thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

    Theo các tư liệu lịch sử, chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Đến thế kỷ 17, chùa trở nên nổi tiếng với sư trụ trì là Hòa thượng Chuyết Chuyết (1590-1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, người sang Việt Nam hoằng bá Phật pháp từ năm 1633. Năm 1644, Hòa thượng viên tịch và được vua Lê phong là “Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư”.

    Sau khi Hòa thượng Chuyết Chuyết viên tịch, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đã rời bỏ cung thất về chùa tu hành. Thấy chùa xuống cấp nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Duyên xin Chúa Trịnh Tráng bỏ tiền của ra công đức để trùng tu lại ngôi chùa. Đến năm 1647, việc trùng tu hoàn thành. Về cơ bản, quy mô và cấu trúc của chùa Bút Tháp hiện nay chính là ngôi chùa được xây dựng trong thời kỳ đó.

    Năm 1876, vua Tự Đức khi đi qua đây thấy một ngọn tháp hình cây bút khổng lồ vươn lên trời xanh liền đặt tên tháp là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi tên gốc của ngọn tháp là tháp Bảo Nghiêm. Từ đó ngôi chùa và thôn xóm quanh chùa mang tên là Bút Tháp. Ngoài ra, nhân dân trong vùng còn gọi là chùa Nhạn Tháp.

    Trong lịch sử của mình, chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915, 1921 và gần đây vào năm 1992-1996. Đây là ngôi chùa được đánh giá là có kiến trúc quy mô hoàn chỉnh nhất còn lại ở Việt Nam. Chùa cũng là nơi lưu giữ tượng Bồ tát Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất, một tuyệt tác điêu khắc cổ đã được công nhận là bảo vật Việt Nam.

    Một số hình ảnh Đất Việt ghi nhận về chùa Bút Tháp:

    Bút tháp là một trong số ít những ngôi chùa cổ có kiến trúc theo kiểu “Nội Công Ngoại Quốc”, được xây dựng trên quy mô lớn của Đồng bằng Bắc Bộ còn lại đến ngày nay..

    Cụm kiến trúc trung tâm ở Chùa Bút Tháp bao gồm 8 đơn nguyên chạy song hành được bố trí đăng đối trên một đường “Thần Đạo” và được bao bọc bởi hai dãy hành lang chạy suốt dọc chùa ở hai bên.

    Điểm nhấn kiến trúc của chùa là tháp Bảo Nghiêm, hay Bút Tháp, nơi thờ Hòa thượng Chuyết Chuyết. Tháp cao 13,05 m, gồm 5 tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh. Ngoài tầng đáy rộng hơn, 4 tầng trên gần giống nhau, rộng 2m. 5 góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29 m.

    Phần chân tháp được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng cột và lan can. Riêng ở tầng dưới cùng của toà tháp này có mười ba bức chạm đá với lấy đề tài chủ yếu là các con thú.

    Ngọn tháp là minh chứng cho tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của người thợ Việt Nam xưa.

    Một nét kiến trúc đặc sắc khác là chiếc cầu đá có ba nhịp uốn cong dẫn từ thượng điện đến ngôi tòa nhà Tích Thiện am, một công trình cấu tạo khung gỗ có 3 tầng mái.

    Hai bên cầu là hai hồ nhỏ thông nhau, có trồng cây thủy sinh, tạo nên sự hài hòa giữa vẻ đẹp kiến trúc và thiên nhiên.

    Cũng như tháp Bảo Nghiêm, cầu đá là nơi hội tụ của nhiều bức phù điêu và tượng đá giàu tính nghệ thuật.

    Chùa Bút Tháp là nơi lưu giữ tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay nổi tiếng do nhà điêu khắc họ Trương tạc năm 1656, hiện được công nhận là bảo vật quốc gia. Đây được coi là một kiệt tác độc nhất vô nhị về tượng Phật và nghệ thuật tạc tượng – nghệ thuật làm nổi bật triết lý nhà Phật bằng ngôn ngữ tạo hình hàm súc.

    Gác chuông chùa có 2 tầng, 8 mái.

    Một góc sân chùa nhìn từ gác chuông.

    Vườn tháp tổ, nơi lưu giữ di cốt của các thiền sư từng tu hành tại chùa.

    Văn bia của chùa.

    Nghê đá ngoài cổng Tam quan.

    Cách Hà Nội gần 30km, nằm ấp mình bên bờ đê phía nam của dòng sông Đuống hiền hoà, nghiêng trôi một “dòng lấp lánh”, làng tranh Đông Hồ đã trải qua biết bao thăng trầm để cố giữ cho “hồn dân tộc” mãi được “sáng bừng trên giấy điệp”.

    (GNO-Bắc Ninh): Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).Đầu xuân về thăm làng tranh Đông Hồ

    5. ĐỀN THỜ KINH DƯƠNG VƯƠNG

    Ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) có khu đền thờ và lăng mộ một đế vương, thủy tổ của người Việt là Kinh Dương Vương.

    Lăng mộ Kinh Dương Vương

    Đền Kinh Dương Vương

    Thời Lê Thánh Tông, sử gia Ngô Sĩ Liên chép “Kỷ Hồng Bàng”: “Tổ tiên người Việt có vua đầu gọi là Kinh Dương Vương tinh thần đoan chính, có đức tính của thánh nhân. Vương lấy con gái thần Động Đình sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc trứng nở ra thành 100 con. Lạc Long Quân mang 50 con đi khai phá miền biển, Âu Cơ mang 50 con đi khai phá miền núi. Con trưởng nối ngôi là Hùng Vương, đặt quốc hiệu là Văn Lang, định đô ở Phong Châu, chia thành 15 bộ. Hùng Vương trải 18 đời”. Kỷ Hồng Bàng kéo dài từ năm 2879 đến năm 258 trước công nguyên.

    Đền thờ Kinh Dương Vương nằm ở khu đất thoáng rộng ở giữa thôn Á Lữ, rộng đến 3.000m2, cảnh quan rất đẹp. Bên trong hậu cung đền có ba ngai thờ: Ngai Kinh Dương Vương đặt ở gian giữa, ngai Lạc Long Quân ở bên phải, ngai Âu Cơ đặt ở bên trái. Ngoài các đồ thờ cúng, đền có lưu giữ 15 đạo sắc phong thời Nguyễn, khẳng định đền thờ Kinh Dương Vương là lăng tẩm đế vương bằng chữ Hán, có một sắc phong của vua Tự Đức năm thứ 33, tạm dịch là: Xã Á Lữ từ lâu phụng thờ đền Kinh Dương Vương, vị vua khai sáng văn minh, thánh của người Việt. Chuẩn cho tiếp tục thờ theo nghi lễ quốc khánh.

    Đền thờ và lăng mộ Kinh Dương Vương trường tồn cùng với thời gian, luôn được nhân dân và Nhà nước bảo vệ, trùng tu tôn tạo, xây dựng lại với đạo lý vấn tổ, tầm tông.

    Hồng Bàng là tổ nước ta

    Nước ta khi ấy tên là Văn Lang.

    Lễ hội Kinh Dương Vương luôn được duy trì nhiều nghi lễ và một số hoạt động dân gian. Từ năm 2000, Nhà nước ta tổ chức quốc giỗ 10-3. Con cháu thập phương về dự hội Kinh Dương Vương diễn ra đồng thời với đền Hùng ở Phú Thọ. Vị thánh mở nước luôn được đời đời ngưỡng vọng.

    Ngày 20-2-2000, ông Nguyễn Khoa Điềm – Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin về dâng hương đền và lăng Kinh Dương Vương, đã ghi: “Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân – Âu Cơ là thủy tổ của đất nước, mở ra thời đại các vua Hùng làm rạng rỡ non sông đất Việt. Di sản và những nơi thờ cúng của các vị là tài sản quý báu thiêng liêng của dân tộc. Nhà nước ta nhất định sẽ có chính sách trùng tu, tôn tạo ngày càng tốt đẹp hơn.

    Mong muốn nhân dân Á Lữ chăm lo giữ gìn di tích thờ phụng Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân – Âu Cơ để làm nơi giáo dục muôn đời”.

    6. CHÙA PHẬT TÍCH

    (ĐVO) Tọa lạc trên sườn phía Nam núi núi Lạn Kha (còn gọi là núi Phật Tích) ở xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, chùa Phật Tích nổi tiếng trong lịch sử với kiến trúc đẹp và cảnh sắc thanh tịnh.

    Chùa Phật Tích nổi tiếng trong lịch sử với kiến trúc đẹp và cảnh sắc thanh tịnh.

    Chùa đã bị phá hủy phần lớn vào năm 1947. Nhiều hạng mục công trình mới được khôi phục lại trong thời gian gần đây.

    Tuy vậy, nhiều dấu tích của ngôi chùa cổ vẫn được lưu giữ, như những bức tường làm bằng đá xếp chồng lên nhau.

    10 tượng thú bằng đá cao 1m vẫn được giữ gìn, gồm sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa, mỗi loại hai con, nằm trên bệ hoa sen tạc liền bằng những khối đá lớn. Chúng được tạo tác trong thế chầu phục để thể hiện sự cảm hóa của Phật pháp.

    Tòa Tam bảo là nơi đặt tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh làm từ thời Lý, được coi là báu vật quốc gia của Việt Nam.

    Ngay dưới chân tượng là tầng hầm, nơi trưng bày nền móng đại bảo tháp nổi tiếng của thời Lý mới được khai quật. Dựa vào diện tích gần 100m2 của nền móng, các chuyên gia ước tính ngọn tháp cao khoảng 42m..

    Sau tòa Tam bảo là vườn tháp với 32 ngôi bảo tháp là nơi cất giữ xá lị của các bậc chư Tổ, chư Tăng đã viên tịch tại chùa. Phần lớn các tòa tháp được dựng vào thế kỷ 17.

    Vườn hoa mẫu đơn ở sân chùa, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên đã được phỏng dựng. Theo câu chuyện này, Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên…

    Từ sân chùa, có một lối đi xuyên qua rừng thông để lên đỉnh núi.

    Trên đỉnh núi đặt Đại Phật tượng A Di Đà, cao 27m, thực hiện theo nguyên mẫu bảo tượng A Di Đà trong chùa. Công trình được khánh thành vào dịp mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010 và là pho tượng Phật bằng đá lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện tại.

    Cách Đại Phật tượng không xa là tòa bảo tháp cao vút.

    Phong cảnh vùng đất Kinh Bắc nhìn từ đỉnh núi Lạn Kha.

    Vùng quê Kinh Bắc cổ kính và văn hiến có không ít những đền thờ thần mẫu, trong đó đền thờ Bà Chúa Kho ở làng Cổ Mễ ven chân núi Kho, nằm bên bờ sông Cầu (thuộc phường Vũ Ninh, TP Bắc Ninh) được coi là một ngôi đền thờ mẫu điển hình trong vùng. Hàng năm, cứ vào dịp đầu và cuối năm, hàng nghìn lượt khách thập phương trong cả nước lại về vãng cảnh, cầu may ở đền Bà Chúa Kho, các hoạt động tín ngưỡng và dịch vụ hành lễ cũng theo đó được mùa làm ăn sôi động.

    Hình ảnh Bà Chúa Kho được truyền tụng trong dân gian với sự ngưỡng mộ tôn thờ của dân vùng Kinh Bắc và khách thập phương cả nước. Tương truyền, bà Chúa Kho là người phụ nữ nhan sắc tuyệt trần, lại khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong và sau chiến thắng Như Nguyệt (1076), có công chiêu dân dựng lập làng xóm vùng Quả Cảm, Cổ Mễ, Thượng Đồng. Giúp mọi người khai khẩn đất đai nông nghiệp… Sau này bà trở thành một vị hoàng hậu (tương truyền vào thời Lý), giúp nhà vua trong việc kinh bang đất nước, giữ gìn kho lương, bà đã bị giặc giết trong lúc phát lương cứu đỡ dân làng vào ngày 12 tháng giêng năm Đinh Tỵ (1077). Cảm kích đối với tấm lòng bao dung của bà, nhà vua đã có chiếu phong cho bà là Phúc Thần, nhân dân Cổ Mễ nhớ ơn và lập đền thờ ở vị trí kho lương trước kia. Không ai biết tên thật của Bà là gì, chỉ gọi một cách tôn kính là Bà Chúa Kho. Hàng năm nhân dân địa phương tổ chức ngày tưởng nhớ đến bà rất trang nghiêm trọng thể.

    Ngôi đền nhìn về hướng Nam, phía trước là dải đồng trũng, uốn khúc theo triền núi bên dòng sông Cầu, quanh năm nước đầy tạo thành hồ lớn – gọi là hồ Đồng Trầm (hiện đã được quy hoạch xây dựng Khu Du lịch). Đền có kiến trúc của thời Lê, được bố trí theo chiều dọc, chạy từ chân lên sườn núi Kho. Cổng tam quan là công trình mở đầu cho cụm kiến trúc này, các công trình chính của đền bao gồm sân đền, hai dải vũ, toà tiền tế, công đệ nhị và hậu cung, tất cả tạo thành một thể thống nhất, uy nghi. Chị Hồng, quê ở TP Nam Định, người có 7 năm liền đến lễ ở đền Bà Chúa Kho kể: “Mình đi nhiều nơi song thích nhất kiểu kiến trúc ở đây. Mấy năm trước đến đây mình thường bị những người bán lễ, sớ, khấn thuê bám theo, chèo kéo, ép giá nhưng giờ hiện tượng này gần như không còn. Các khu vực bán hàng, dịch vụ hành lễ được quy hoạch rõ ràng, mỗi cửa hàng đều treo bảng giá chi tiết dưới sự giám sát, quản lý chặt chẽ của các cụ trong Ban Quản lý di tích, an ninh trật tự cũng được bảo đảm nên mình thấy rất yên tâm và thoải mái”.

    Có thể nói, hiện tượng tín ngưỡng thờ mẫu ở đền Bà Chúa Kho là nét văn hoá dân gian vừa làm thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng tâm linh vốn có của một bộ phận người dân Việt vừa giúp các hộ dân trong vùng phát triển nghề dịch vụ, tăng thêm thu nhập gia đình. Đồng thời, tạo thêm nguồn kinh phí để trùng tu, tôn tạo các công trình trong cụm di tích ngày càng khang trang, tố hảo. Lại sắp bước vào mùa lễ hội, hy vọng các cơ quan chức năng sớm quan tâm, phối hợp chặt chẽ bảo đảm an ninh trật tự, văn minh quanh khu vực cụm di tích để vượng khí tốt lành của đền Bà Chúa Kho được ban phát đều khắp cho tất cả dân chúng đến vãn cảnh và hành lễ nhằm giữ gìn nét văn hoá lành mạnh trong đời sống tín ngưỡng của nhân dân.

    (Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Linh Thiêng Lễ Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh
  • Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh
  • Lễ Giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo
  • Lên Núi Mâm Xôi Cầu Bình An Trong Ngày Giỗ Đức Thánh Trần
  • Thiêng Liêng, Ngày Giỗ Đức Thánh Trần
  • Văn Khấn Ông Hoàng Mười : Những Bài Văn Khấn Tại Đền Ông Hoàng Mười

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Ông Hoàng Bảy
  • Cách Sắm Lễ Và Bài Văn Khấn Nôm Đền Ông Hoàng Bảy
  • Cách Sắm Lễ, Bài Văn Khấn Nôm Đền Ông Hoàng Bảy
  • Bài Văn Khấn Mồng 1 Và Ngày Rằm Hàng Tháng Chính Xác Nhất Năm 2021
  • Tìm Hiểu Bài Văn Khấn Cúng Thần Linh Hàng Ngày Chuẩn Tâm Linh
    1. Trang chủ
    2. Phong Tục

    Ngoài ra còn các bài khấn tấu xin tài lộc, sức khỏe, công danh… chi tiết dành cho các Thanh Đồng khi đến lễ tại đền ông Mười.

    Cùng tham khảo

    I. Bài văn khấn ông Hoàng Mười thông dụng

    Đây là 2 bài văn khấn thông dụng dành cho du khách khi về lễ tại đền hoặc ban thờ của Ông.

    1. Bài văn khấn ông Mười thông dụng số 1

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương

    Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế

    Con lạy Tam Toà Thánh Mẫu

    Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

    Con lạy Tứ phủ Khâm sai

    Con lạy Chầu bà Thủ Mệnh

    Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Hoàng

    Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cô

    Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cậu

    Con lạy cộng đồng các Giá, các Quan, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

    Con lạy quan Chầu gia.

    Hương tử con là: …………………………………….

    Tuổi: ………………….

    Cùng đồng gia đại tiểu đẳng, nam nữ tử tôn Ngụ tại: …………………………………………….

    Hôm nay là ngày…… tháng…… năm………………(Âm lịch).

    Tín chủ con về Đền…………… thành tâm kính lễ, xin Chúa phù hộ độ trì cho gia đình chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

    Phục duy cẩn cáo!

    2. Bài văn khấn ông Mười thông dụng số 2

    Nam mô a di đà Phật ( 3 lần)

    Con lậy chín phương trời, con lạy mười phương đất, con lạy chư phật mười phương.

    Con lậy toàn thể chư phật, chư tiên, chư thánh.

    Con lậy Quan Hoàng Mười tối linh.

    Đệ tử con là:

    Ngụ tại: …

    Hôm nay là ngày …tháng ….năm… Chúng con về đây có chút hương hoa, oản quả, lễ mặn hoặc chay ( có lễ gì kêu lễ đó) xin dâng lên các chư tiên, chư thánh để cảm tạ ơn đức của các ngài đã phù hộ, độ trì cho chúng con suốt thời gian qua. Thời gian vừa qua, được sự lưu tâm, độ trì của các ngài mà công việc hanh thông, vẹn tròn. Đệ tử chúng con xin cảm tạ các .

    Hôm nay, chúng con đến đây với tất cả lòng thành kinh, xin các ngài phù hộ, độ trì cho chúng con các việc sau: ( xin việc gì thì nói cụ thể).

    Con xin đa tạ Quan Hoàng Mười tối linh và toàn thể các chư tiên, chư thánh.

    Nam mô a di đà Phật ( 3 lần).

    II Các bài văn khấn ông Hoàn Mười đầy đủ cho thanh đồng

    1. Bài văn khấn xin ông Mười tài lộc

    Đệ tử con muôn trung bách Bái, chân con quỳ, tay con chắp, miệng con tấu đức Hoàng Mười trong tỉnh Nghệ An.

    Long vân khánh hội, cát nhật đương thời, kỳ thi khánh tiệc, khánh đại giai kỳ.

    Nay nhất tâm tưởng vạn tâm cầu, nhất tâm cửa Phật, thật tâm cửa Thánh con đến cửa quan Hoàng. Con lễ bạc lòng thành, trước ngài chứng tâm, ngài chứng lễ. Sau thời ngài ân xá, phúc xá, đại xá con đói cơm thèm lộc, đói lộc xin ngân. Để rồi năm phương ngài tiếp lộc mười phương ngài tiếp tài.

    Trên ngài gia hộ, dưới ngài độ ngài thương. Ngài mở cung tài – ngài khai cung lộc. Ngài cho con xin đồng ngân, đồng xuyến, đồng tiền, đồng lương, giọt dầu, nén nhang…..để con trước lo việc tiên cung, tiên thánh – sau thời con gánh việc trần gian. Ngài cho con có đồng ra, đồng vào. Cầu con có con, cầu của có của. Mùa xuân có lộc, thu đông có tài. Khách gần mang đến, khách xa mang về.

    Lộc Hoàng lát đường đi không hết. Con nhất tâm tưởng vạn tâm cầu xin Hoàng. Hoàng ngoảnh mặt đi chúng con dại – Hoàng ngoảnh mặt lại chúc con khôn để rồi Hoàng cho xin lộc rơi, lộc vãi để có thêm đồng tiền, bát gạo. Để qua kỳ đói, khỏi kỳ nạn cho đẹp bằng người cho tươi bằng của. Con chí thiết lòng thành, không dám tham lam.

    Chỉ xin quan ban quốc dư, lộc tài mà không dám đơn sai.

    A di đà phật lạy hoàng !

    2. Bài văn khấn xin công danh tại đền Ông Hoàng Mười

    Con lạy quan Hoàng Mười – trấn thủ đất Nghệ An

    Hôm nay ngày lành tháng tốt, ngày tốt tháng đẹp. Ngày đại cát giờ đại an con đầu làm ngai hai vai làm trượng, Bắc ghế ông ngồi làm ngôi thánh ông ngự. Ngài về chứng đền chứng phủ, chứng đủ lô nhang, trên ngài tấu đế đình, dưới ông hạ trình thoải phủ.

    Hoàng cho con thời học ăn, học nói, học bói, học soi sau thời con có công danh, sự nghiệp, có của làm ra – cửa nhà làm nên, vẹn thời phê bút – mà phút thời phê danh cho con lấy tiếng cho thánh, lấy danh, lấy diện cho trần.

    Hôm nay con tâm thành lễ bạc, con tâm có của không, con giàu một bó, con khó một nén, giàu làm hẹp, kém làm đơn. Một nén cũng có mà một bó cũng thơm. Con lại mang miệng về tâu, con cúi đầu vọng bái. Con đói cơm thèm lộc đói phúc mà thèm tài. Đói cơm cha, thèm sữa mẹ.

    Việc âm chưa tường mà việc dương chưa tỏ. Nay Hoàng phê chữ đỏ, ông bỏ chữ đen. Hoàng ấn ngón tay, Hoàng xoay ngòi bút. Quyền của Hoàng, phép của Hoàng, gia bản nằm trong tay Hoàng để rồi ngài thương cho danh cho diện, cho quyền cho phép.

    Để con công danh thăng tiến, công việc được thăng quan, thăng cấp, thăng phẩm, thăng hàm. Ngài cầm cân nảy mực, đặt bút chư phê rõ ràng. Để rồi phúc đó mà quý nhân phù trợ, mà số đó thì được bạn hiền bạn tốt giúp đỡ. Cho gặp thầy, gặp bạn, gặp vạn sự lành. Gặp ông có nhân – gặp bà có đức. Nắn nở chở che, cho con nở cành xanh lá.

    Trăm tội ông xá, vạn tội ông thương ông chỉ đường dẫn lối để thuyền trôi một bến nước chảy xuôi dòng. Sông sâu bến ấy mà đáo lai thọ trường cũng là con ông. Nước sông lam chưa bao giờ cạn, lời của Hoàng chẳng dám đơn sai.

    A di đà phật con kêu thấu tấu nổi lạy hoàng. Để rồi phúc đó lại là gần hơn !

    3. Bài khấn xin Hoàng Mười sức khỏe

    A di đà Phật, đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối, xuân hạ thu đông, tứ thời bát tiết, tháng thuấn, ngày nghiêu.

    Lại nhất tâm mưa không quản, nắng không nề, đường xa bái ngái, tập bè kết phúc, tập phúc kết duyên đứng trước án tiền kêu cầu phật tiền, tiên, thánh, thần.

    Nay con có đăng trà quả thực, lễ mọn tâm thành đến lễ bái cửa hoàng để rồi ba mươi mồng một hội rằm người thương. Hoàng cho con già được mạnh khoẻ – trẻ đặng bình an. Bách bệnh tiêu tan vạn bệnh tiêu tán cho sức khỏe con được tốt để trên lo việc thánh – dưới gánh việc trần.

    Hoàng chẳng thiếu chi phép hoàng chẳng hẹp chi quyền, ngài khoá âm dạy dương, bồi hơi tiếp sức để cho đầu con được tinh tấn, thông minh, cho ngôn từ xúc tích, ý nghĩ chuyên sâu. Xin Hoàng cho con được sáng hai con mắt chặt hai đầu gối. Hoàng cho thuốc tiên tẩy hết bụi trần thanh cao rồi lại mười thanh cao.

    Hoàng cho con trước làm sao thì sau thời gia đình con cũng vậy. Để rồi điều lành mang lại điều dại mang đi, sổ sinh lại mở – sổ tử không phê. Mọi chốn bốn bề nương nhờ phật thánh, đình thần tam tứ phủ. Nay trên con đường phụng sự việc thánh thần – trần gian, con cũng tạo nên vô số, vô biên, vô lượng, công đức, lỗi lầm….nay con lầm biết lỗi, biết tội mà đến cửa cha cửa mẹ kêu cầu vọng bái để một lời không xảy bảy lời không dám đơn sai.

    Để rồi nương bóng hoàng sẽ được bình an, tai qua nạn khỏi. A di đà phật nay xin hoàng xá u, xá mê, xá lầm, xá lối, xá tội trần gian cho con biết đường mất lội biết lối mà về, cho đi đúng đường mà tu đúng đạo.

    4. Bài văn khấn ông Hoàng Mười xin buôn bán

    Ngày nay đói cơm thèm lộc, đói phúc thèm tài.

    Nay nương nhờ cửa cha, cửa mẫu cho chúng con xin lộc buôn, lộc bán, lộc vào, lộc ra. Cho con buôn may, bán đắt, buôn chín bán mười, buôn tươi bán tốt. Của một đồng, công một nén, một vốn bốn lời để thuận lòng khách đến, vừa lòng khách đi. Cho khách gần mang đến, khách xa mang về.

    Để rồi xin bề trên Phật Thánh soi xét cho người thương, cho giàu cửa hàng cho sang cửa ngõ. Buôn có bạn, bán có phường. Hàng hoá, tàu xe đi đường thượng lộ bình an, xuôi thuyền kịp bến. Cửa hàng, công việc còn nhỏ nay ơn trên ban lộc cho tiểu thành đại, cho ít thành nhiều, được khang trang, sạch sẽ, mát mẻ, hanh thông. Mở hàng có khách đến, tỏ lời khách thương để có thêm ngân thêm xuyến mà trang trải cuộc sống gia đình.

    A di Đà Phật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Đền Ông Hoàng Mười Dành Cho Con Nhang, Đệ Tử
  • Tiệc Ông Hoàng Mười Vào Ngày Nào? Sắm Lễ, Văn Khấn
  • Tìm Hiểu Sự Tích Và Bài Văn Khấn Ông Hoàng Mười
  • Truyền Thuyết Và Bài Văn Khấn Ông Hoàng Mười
  • Bài Văn Khấn Nôm Ông Hoàng Bảy Đầy Đủ
  • Văn Khấn Đền Ông Hoàng Mười Dành Cho Con Nhang, Đệ Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Ông Hoàng Mười : Những Bài Văn Khấn Tại Đền Ông Hoàng Mười
  • Bài Văn Khấn Ông Hoàng Bảy
  • Cách Sắm Lễ Và Bài Văn Khấn Nôm Đền Ông Hoàng Bảy
  • Cách Sắm Lễ, Bài Văn Khấn Nôm Đền Ông Hoàng Bảy
  • Bài Văn Khấn Mồng 1 Và Ngày Rằm Hàng Tháng Chính Xác Nhất Năm 2021
  • Văn khấn đền ông hoàng Mười dành cho con nhang, đệ tử

    “Gươm thiêng chống đất chỉ trời

    Đánh Đông dẹp Bắc việc ngoài binh nhung

    Hai vai nặng gánh cương thường

    Sông Lam sóng cả buồm giương một chèo”

    “Đất Nghệ An anh hùng hào kiệt

    Tiếng Ông Mười lẫm liệt ngàn xưa

    Cung gươm lên ngựa đề cờ

    Ra tay gìn giữ cõi bờ Việt Nam”

    “Chí anh hùng ra tay cứu nước

    Đi tới đâu giặc bước lui ngay

    Việt Nam ghi chép sử dày

    Cung cao điện ngọc đêm ngày khói nhang”

    “Năm cửa ô tới Đô Thành

    Nam Đàn, Nghi Lộc nức danh Ông Mười”

    Rồi có cả đoạn thơ hát khi Ông Hoàng Mười “tái đáo Thiên Thai”:

    “Hoa đào rơi rắc lối Thiên Thai

    Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi

    Ngõ hạnh suối đào xa cách mãi

    Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi

    Đá mòn rêu nhạt nước chảy hoa trôi

    Ước cũ duyên xưa có thế thôi”

    Hay khi dâng ông miếng trầu têm, văn thường hát:

    “Đất lề quê thói Nghệ An

    Miếng trầu cau đậu dâng Quan Hoàng Mười”

    Và có cả khi văn tấu điệu hò Nghệ Tĩnh để ông vỗ gối ban thưởng:

    “Muối đã mặn ba năm còn mặn

    Gừng đã cay chín tháng vẫn cay

    Ghế ông tình nặng nghĩa dày

    Xa xôi đến mấy, ra đây ngự đồng”

    “Xứ Nghệ vui nhất Chợ Vinh

    Đẹp nhất Bến Thủy, anh linh Ông Mười”

    Thần tích về ông hoàng Mười

    Đền thờ ông hoàng Mười tọa lạc ở địa phận làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Bản đền ông là một ngôi đền cổ nổi tiếng về sự linh thiêng rộng khắp xứ Nghệ.

    Theo lời tương truyền lại về thần tích ông hoàng Mười, ông chính là Lê Khôi, là vị tướng tài, là cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh.

    Có một dị bản truyền lại rằng, ông hoàng Mười giáng xuống trần và trở thành Uy Minh Vương Ly Nhật Quang, con trai Vua Lý Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An.

    Phải chăng chính những giai thoại huyền bí này càng bao phủ lên đền thờ Ông Hoàng Mười một bức màn tâm linh thiêng liêng, kỳ ảo, làm cho tích ông Hoàng Mười càng trở nên linh thiêng và được nhiều người lai vãng.

    Cầu gì khi đến đền ông hoàng Mười.

    Giới hầu đồng quan niệm quan Hoàng Mười là vị thánh có quyền năng ban phép lành cho con đường học hành, phát về công danh sự nghiệp. Do vậy, nhiều người tìm đến bản đền bản phủ ông xin lộc vào mỗi dịp đầu năm. Đó cũng là lý do khiến những ngôi đền thờ ông Hoàng Mười luôn tấp nập du khách vào mỗi dịp đầu xuân và dịp tháng 10 âm lịch hàng năm

    Đền Ông Hoàng Mười tại Nghệ An tổ chức hai kỳ lễ hội lớn là lễ hội khai điểm vào rằm tháng 3 Âm lịch và lễ hội giỗ ông Hoàng Mười từ ngày 8/10 đến 11/10 âm lịch. Trong khi đó, ngày chính tiệc hay còn gọi là ngày giỗ quan Hoàng Mười được coi là mùa tạ lễ quan trọng nhất.

    Lễ hội ông Hoàng Mười được tổ chức

    Phần lễ:

    Được tổ chức vào sáng 14/3 âm lịch: Lễ yết cáo

    Được tổ chức vào tối 14/3 âm lịch: Lễ đại tế

    Được tổ chức vào sáng 15/3 âm lịch: Lễ dâng hương

    Được tổ chức vào tối 15/3 âm lịch: Lễ yết cáo

    Được tổ chức vào tối 09/10 âm lịch: Lễ đại tế

    Được tổ chức vào sáng 10/10 âm lịch: Lễ tưởng niệm, dâng hương

    Được tổ chức vào tối 10/10 âm lịch: Lễ tạ

    Phần hội:

    Được tổ chức vào chiều 14/3 và chiều ngày 9/10 âm lịch: rước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền.

    Được tổ chức vào chiều 15/3 và chiều ngày 10/10 âm lịch: hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người.

    Được tổ chức vào sáng 16/3 và chiều ngày 11/10 âm lịch: rước sắc bằng thuyền từ đền về nhà thờ họ Nguyễn tại làng Xuân Am.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiệc Ông Hoàng Mười Vào Ngày Nào? Sắm Lễ, Văn Khấn
  • Tìm Hiểu Sự Tích Và Bài Văn Khấn Ông Hoàng Mười
  • Truyền Thuyết Và Bài Văn Khấn Ông Hoàng Mười
  • Bài Văn Khấn Nôm Ông Hoàng Bảy Đầy Đủ
  • Bài Văn Cúng Nhà Thờ Họ Ngày 1 Và Rằm Hàng Tháng
  • Đền Ngọc Sơn Thờ Ai? Những Kinh Nghiệm Khi Lễ Đền Và Bản Văn Khấn

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Bài Văn Khấn Lễ Thôi Nôi Dành Cho Bé Trai Và Bé Gái
  • Văn Khấn Lễ Tế Ngu
  • Văn Khấn Nghi Lễ Tế Ngu
  • Lễ Tế Ngu (Văn Khấn Trong Tang Lễ)
  • Bài Khấn Lễ Tế Thành Phần, Phản Khốc, Ngu, 49 Ngày, Cải Táng
  • Đền Ngọc Sơn là một ngôi đền cổ lâu đời nằm trên đảo Ngọc của hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tọa lạc tại vị trí giữa trung tâm thủ đô xô bồ và nhộn nhịp, đền Ngọc Sơn trong tâm trí người Hà Nội nói riêng và toàn dân Việt Nam nói chung mãi là biểu tượng văn hóa tâm linh quý giá không thể thay thế.

    Đền Ngọc Sơn là ngôi đền cổ có từ thế kỷ 19. Trải qua nhiều sự thay đổi, lịch sử đền Ngọc Sơn đã gắn liền với nhiều giai đoạn phát triển và đổi mới của dân tộc.

    Sau đó, đến thời nhà Trần, ngôi đền được đổi tên là Ngọc Sơn, là nơi thờ cúng những vị binh tướng đã hi sinh trong trận đánh quân Nguyên – Mông. Trải qua rất nhiều lịch sử thăng trầm khác, ngôi đền đã bị đổ nát.

    Đến thời Vĩnh Hựu nhà Lê, chúa Trịnh Giang đã dựng cung Thụy Khánh và đắp hai quả núi đất trên nền đất đền Ngọc Sơn cũ. Cuối đời nhà Lê, cung Thụy Khánh bị Lê Chiêu Thống phá hủy.

    Say đấy, một nhà từ thiện thời đó đã xây dựng một ngôi chùa quay mặt về phía Nam trên nền đất đó mang tên chùa Ngọc Sơn. Qua nhiều năm tháng đấu tranh lịch sử, ngôi chùa bị tàn phá gần như hoàn toàn.

    Sau đó ít lâu, con trai nhà từ thiện năm xưa đã nhượng lại chùa cho một hội từ thiện đổi làm đền thờ Tam Thánh. Hội này đã bỏ gác chuông, xây lại các gian điện chính, các dãy phòng hai bên làm nơi thờ tượng Văn Xương đế quân. Đến năm 1842, đền hoàn thành thi công và đổi tên là đền Ngọc Sơn.

    Cùng với tháp Rùa và cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn là điểm đến tâm linh quý giá gắn liền với văn hóa và lịch sử của người Hà Nội và nhân dân mọi miền tổ quốc. Từ xa xưa khi còn là học sinh tiểu học, ta đã từng được nghe về ngôi đền này trong sách giáo khoa: “Cầu Thê Húc màu son, cong cong như con tôm, dẫn vào đền Ngọc Sơn”.

    Đền được xây dựng theo kiến trúc hình vuông chữ Tam với 3 mái. Đến tới cổng đền Ngọc Sơn, du khách sẽ thấy được di tích Tháp Bút và Đài Nghiên biểu trưng cho một nền văn hiến, văn chương của dân tộc.

    Tới khu vực đền chính, hai ngôi đền được thiết kế nối liền nhau hiện ra uy nghi, bề thế. Ngôi đền thứ nhất ở phía Bắc thờ tượng Hưng đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và thần Văn Xương Đế Quân (chủ quản văn chương, khoa cử). Tại đây có các câu đối, hoành phi và vật bài trí cố xưa vô mang đậm giá trị tâm linh.

    Từ đền nhìn sang phía nam là trấn Ba Đình, tên gọi này xét theo ngụ ý sâu xa nghĩa là chắn những làn sóng văn hóa độc hại xâm nhập vào Nam Việt thời đó.

    Ngoài ra, đền cũng có cung thờ Phật, ban Công Đồng, Tam Tòa Thánh Mẫu… với tinh thần đoàn kết, hòa hợp giữa 3 đạo giáo phổ biến ở Việt Nam thời đó là Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo.

    Đền Ngọc Sơn được mở cửa từ 7h sáng đến 18h hàng ngày. Người ta thường tham quan thưởng ngoạn vào buổi sáng. Khi đó, sự kết hợp giữa kiến trúc văn hóa dân tộc tâm linh nằm trên hồ Hoàn Kiếm được bao quanh bởi những công trình hiện đại tại trung tâm thủ đô được hiện rõ ngay trước mắt. Hình ảnh đền Ngọc Sơn tạo nên một tổng thể hài hoà giữa cái xưa và cái nay, giữa con người với thiên nhiên hiếm nơi nào có được. Đền có thu giá vé vào khu vực trung tâm (vé người lớn: 30,000đ, vé trẻ em: 15,000đ/người), nếu quý khách không vào đến Đắc Nguyệt Lầu thì không cần mua vé.

    Mỗi dịp Tết đến xuân về hay những dịp đặc biệt trong năm, người dân Hà Nội và các tỉnh thành lân cận lại nô nức sắm sửa lễ vật đến đền Ngọc Sơn để tìm lại sự tịnh tâm chốn linh thiêng. Sau là dâng lễ xin lộc, cầu bình an may mắn cho gia khuyến. Các sĩ tử trước ngày đi thi cũng dành thời gian ghé qua đền Ngọc Sơn thành tâm cầu khấn, mong muốn được phù hộ cho đỗ đạt, công thành danh toại.

    Một số hình ảnh đền Ngọc Sơn:

    Khi lễ bái tại đền Ngọc Sơn, cần lưu ý là lễ từ đền chính sau đó theo hướng từ phải sang trái đi sâu vào bên trong. Khi bước vào đền chính, phải đi vào từ hai cửa hai bên chứ không nên đi từ cửa giữa, đồng thời phải bước qua bậu cửa. Cần ăn nói nhỏ nhẹ, ăn mặc lịch sự, không tự tiện chỉ tay vào tượng thờ trong đền. Không nên chụp ảnh trong khu thờ tự.

    Khi đến đây, du khách hành hương luôn lựa chọn những vật lễ trang trọng, bề thế dâng cửa đền. Oản lễ đang là sự lựa chọn của nhiều khách hàng muốn tìm thứ vật lễ vừa thẩm mỹ vừa mang trọn phần hồn của văn hóa tâm linh. Những quanh oản ngọc Tài lộc luôn được tạo hình thiết kế bắt mắt, phong phú về màu sắc và phụ kiện trang trí. Đảm bảo nguyên vẹn giá trị tâm linh lâu đời của thứ bánh dân tộc.

    Oản cô Tâm xin cung cấp một số mẫu dâng đền Ngọc Sơn để quý khách tham khảo

    Oản cô Tâm là đơn vị cung cấp nhiều mẫu Oản Nghệ Thuật thắp hương cúng bái. Những nghệ nhân làm oản đã tìm tòi nghiên cứu kỹ lưỡng, dày công sáng tạo lên những quanh oản lễ thiết kế độc lạ, thẩm mỹ và mang đậm sự linh thiêng thành kính. Chúng tôi hân hạnh được tư vấn cho quý khách nhũng mẫu oản dâng lễ đền Ngọc Sơn nói riêng và các mẫu oản lễ Tứ Phủ – Thần Tài – Phật – Gia Tiên nói chung với chất lượng tốt nhất.

    Nam mô a di đà phật! (3 lần)

    – Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    – Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    – Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.

    – Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.

    Hưởng tử con là ………………… Tuổi …

    Ngụ tại…………………………

    Hôm nay là ngày…… tháng……năm…..( âm lịch)

    Đọc bài văn khấn Thành Hoàng làng tại đình làng

    Đọc bài văn khấn Thành Hoàng làng tại đình làng

    Hương tử con đến nơi Đền Ngọc Sơn thành tâm kính nghĩ: Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

    Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giám, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo!

    Nam mô a di đà phật! (3 lần)

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

    – Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

    – Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng đế

    – Con lạy Tam Toà Thánh Mẫu

    – Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

    – Con lạy Tứ phủ Khâm sai

    – Con lạy Chầu bà Thủ Mệnh

    – Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Hoàng

    – Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cô

    – Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cậu

    – Con lạy cộng đồng các Giá, các Quan, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

    – Con lạy quan Chầu gia.

    Hương tử (chúng) con là: ………

    Cùng đồng gia quyển đẳng, nam nữ tử tôn

    Ngụ tại: …………….

    Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

    Tín chủ con về Đền Ngọc Sơn thành tâm kính lễ, xin Chúa phù hộ độ trì cho gia đình chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

    – Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.

    – Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    – Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

    – Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mấu.

    – Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

    – Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm tòa quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

    Hưởng tử (chúng) con là: ……………

    Ngụ tại: …………….

    Hôm nay là ngày ……. tháng …… năm ……

    Hương tử con đến nơi Đền Ngọc Sơn chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia chung chúng con sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Đền Ngọc Sơn Đầy Đủ, Chi Tiết Nhất
  • Văn Khấn Mùng 2 Tết 2021 Đinh Dậu
  • Văn Khấn Lễ Tạ Đất
  • Lễ Và Văn Khấn Tạ Thần Linh Thổ Địa Tại Nhà
  • Văn Khấn Ông Hoàng Bảy Và Cách Sắm Lễ Tạ Đền Ông Hoàng Bảy Đầy Đủ Nhất
  • Huyền Tích Linh Sơn Thánh Mẫu Núi Bà Đen

    --- Bài mới hơn ---

  • Cây Hương Thờ Mẫu Cửu Là Gì? Kinh Nghiệm Lập Cây Hương Thờ Mẫu Bán Thiên
  • Văn Khấn Tứ Phủ Và Những Điều Cần Biết
  • Văn Khấn Đền Đôi Cô Tuyên Quang
  • Văn Khấn Tại Đền Cô Tám Đồi Chè Chuẩn Nhất
  • Bài Văn Khấn Tại Đền Cô Mười Đồng Mỏ Theo Chuẩn Văn Hóa Đạo Mẫu Việt Nam
  • Cũng theo các bậc kỳ lão, tên gọi núi gắn liền với những giai thoại ly kỳ của Bà Đen, người được vua Gia Long phong thánh hiệu “Linh Sơn Thánh Mẫu”.

    Ngày nay, cứ đến dịp rằm tháng giêng (âm lịch) hàng năm, cả triệu lượt khách hành hương khắp nơi tìm về núi Bà Đen để viếng, bái Linh Sơn Thánh Mẫu.

    Trèo núi cấm không được kêu… mệt!

    Ngày nay, con đường bộ lên núi được đầu tư xây dựng một cầu thang dựng đứng, đi vòng vèo quanh những tảng đá từ chân núi lên đến chùa. Chỉ cần mất 1 giờ để leo đến Điện Bà. Trước năm 1975, khách thập phương muốn lên chùa phải leo trèo qua những tảng đá dưới những tán rừng đầy thú dữ suốt nửa ngày mới đến nơi. Thuở đó, việc đi viếng Bà là cả một chuyến phiêu lưu, mạo hiểm đúng cả nghĩa bóng lần nghĩa đen. Dù vậy, danh tiếng linh thiêng, cứ đến rằm tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, khách thập phương vẫn lũ lượt leo núi viếng Bà.

    Một góc chùa ngày thường.

    Hồi đó, có một giao ước bất thành văn rằng: Khi leo núi cấm thốt tiếng “mệt”. Những đoàn người hì hục leo núi, thỉnh thoảng hỏi nhau: “Mệt không?” Cả đoàn người phải đồng thanh hô lớn: “Khỏe!”, mặc dù ai cũng thở ra đằng tai. Tiếng hô “khỏe” lan truyền từ người mới đến chân núi lan dài đến người leo đến gần Điện Bà thành một thứ âm thanh vang dội núi rừng.

    Cho đến tận ngày nay giao ước này vẫn tồn tại. Họ tin rằng, đi viếng mà than thở mệt nhọc, sẽ không được Bà ban điều khấn xin, thậm chí còn gặp nguy hiểm khi leo núi?

    Bà Hai Đông, 82 tuổi, là cựu giáo viên thời Pháp, cư ngụ ở Tân Trung, ven Tỉnh lộ 793 dưới chân núi, giải thích: “Hồi kháng Pháp, đường lên núi không chỉ cheo leo hiểm trở, tăm tối mà còn đầy cọp, beo, rắn, rết. Người hành hương không dám đi lẻ một mình mà phải kết thành từng đoàn. Hồi còn thiếu nữ, chính tôi từng đi xem xác người bị cọp núi Bà vồ. Muốn đi vía Bà, đoàn người hành hương phải đi từ sáng tinh mơ mới kịp trở về chân núi trước khi trời tối.

    Việc hô “khỏe” của các đoàn hành hương có nhiều lợi ích. Thứ nhất, họ tự khích lệ quyết tâm vượt qua cơn mệt nhọc và nỗi sợ hãi để đi đến nơi về thật sớm. Thứ hai, các thành viên của đoàn sẽ không lạc nhau. Thứ ba, việc hô to như vậy sẽ xua đuổi thú dữ. Lâu dần, việc hô như vậy thành lệ, truyền sang đời sau và biến thành niềm tin tâm linh là Bà cấm than mệt khi đi viếng Bà?”

    Bà Hai Đông còn cho biết, ngày xưa Bà Đen nổi tiếng linh thiêng chỉ 2 phép: Phát duyên và phát vận. Căn cứ vào đó, hầu hết người đi viếng Bà chỉ cầu xin được tình duyên và gặp vận may. Các phép khác, Bà không ban.

    Truyền thuyết về Bà Đen

    Có đến 3 truyền thuyết về Bà Đen.

    Truyền thuyết thứ nhất cho rằng, ngày xưa, chủ vùng núi này là người phụ nữ Phù Nam có tên là Rê Đeng. Do người đời sau đọc trại thành Đen.

    Truyền thuyết thứ hai cho rằng, bà Đen tên thật là Lý Thị Thiên Hương, con gái một vị quan trấn nhậm Trảng Bàng thuộc triều Nguyễn tên là Lý Thiên. Mẹ là bà Ðặng Ngọc Phụng, người gốc ở Bình Ðịnh vào Trảng Bàng lập nghiệp.

    Trong làng có chàng trai Lê Sĩ Triệt, mồ côi cha mẹ, được một nhà sư nuôi dạy từ nhỏ, văn hay võ giỏi.

    Lần nọ, Thiên Hương lên núi cúng chùa bị một đám côn đồ vây bắt. Giữa lúc nguy khốn thì chàng Lê Sĩ Triệt xông ra đánh đuổi, cứu được nàng. Ðể đáp ơn chàng, cha mẹ nàng Thiên Hương hứa gả nàng cho Lê Sĩ Triệt. Chưa kịp đám cưới thì Lê Sĩ Triệt phải tòng quân đánh Tây Sơn.

    Khi Lê Sỹ Triệt tòng quân, ở nhà Lý Thị Thiên Hương bị kẻ xấu vây bắt, toan hãm hiếp. Giữ lòng trung trinh, nàng Hương nhảy xuống khe núi tử tiết. Sau khi chết, nàng Lý Thị Thiên Hương hiển thánh báo mộng cho vị sư trụ trì trên núi biết. Trong mộng, nàng Hương xuất hiện trong hình dáng một người phụ nữ đen đúa? Vị sư bèn đi tìm thi thể nàng đem về mai táng. Vì vậy, vị sư gọi nàng là nàng Đen. Người đời sau gọi là Bà Đen để tỏ lòng tôn kính.

    Khi nàng Đênh 13 tuổi, có một nhà sư tên là Trung Vân Danh, đạo hiệu Trừng Thanh tìm đến lưng chừng núi Một dựng chùa, thờ Phật và hoằng pháp độ sanh.

    Mộ đạo, nàng Đênh đã xin theo nhà sư Trừng Thanh học đạo. Thấy nàng Đênh xinh đẹp, quan trấn thủ Trảng Bàng cho người mai mối xin cưới cho con trai. Khi hai gia đình chuẩn bị lễ vật cho lễ cưới thì bất ngờ nàng mất tích. Gia đình hai bên cho người tìm kiếm khắp nơi thì phát hiện một khúc chân nghi là của nàng Đênh. Mọi người đồn đoán rằng nàng Đênh đã bị cọp vồ. Gia đình mai táng khúc chân và lập mộ cho nàng dưới chân núi.

    Từ đó, người ta gọi ngọn núi Một là núi Bà Đênh, đọc trại dần thành Bà Đen?

    Khi chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi, chạy đến núi Bà Đen lẩn tránh. Thiếu lương thực, từ vua đến lính đều đói lả. Nghe dân cư đồn về sự linh thiêng của bà Đen, trong cơn tuyệt vọng, chúa Nguyễn Ánh đã cầu khẩn xin phò trợ. Đêm đó, bà Đênh xuất hiện trong mộng của chúa Nguyễn Ánh. Bà cho biết Nguyễn Ánh đang nằm ngủ dưới gốc một loại cây cho trái có thể cứu đói binh sĩ.

    Khi thức giấc chúa Nguyễn Ánh trông thấy trên cành cây mình đang nằm ngủ có nhiều quả nhỏ chi chít. Hái xuống ăn thử thì có vị rất ngon. Ông truyền cho binh sĩ hái loại quả ấy ăn lót dạ. Ông đã đặt tên cho loại quả ấy là “tùng quân”.

    Năm 1790, Nguyễn Ánh đưa binh lính quay lại núi đúc tượng, cất lại điện thờ. Sau đó phong sắc Linh Sơn Điện và phong Bà là Linh Sơn Thánh Mẫu.

    Từ thuở khai hoang

    Ngày nay, sau nhiều lần trùng tu, xây mới, trên nền xưa của Linh Sơn Tự hiện diện một ngôi chùa khang trang có tên gọi là Linh Sơn Tiên Thạch Tự vừa thờ Phật vừa thờ Bà Đen. Sự giao thoa tín ngưỡng mặc nhiên đó đã được người dân chấp nhận.

    Căn cứ vào các nguồn sử liệu của Quốc Sử quán triều Nguyễn thì Vua Gia Long phong sắc cho Bà Đen. Điều đó có nghĩa là truyền thuyết về Bà Đen có trước khi Nguyễn Ánh vào núi lánh nạn Tây Sơn.

    Và cũng có nghĩa là điện thờ Bà Đen có tên gọi chính thức là Linh Sơn Điện. Như vậy, Linh Sơn Điện là vị trí của ngôi chùa Thượng. Còn một hang đá do các vị sư chi phái Liễu Quán (thuộc phái Lâm Tế Chánh Tông) làm nơi ẩn cư niệm Phật, được gọi là Linh Sơn Thạch Động Tự hoặc chùa Hang.

    Điện thờ Bà mang tín ngưỡng thờ Mẫu. Còn ngôi chùa là tín ngưỡng Phật giáo ẩn cư của chi phái Liễu Quán (Lâm Tế).

    Trở lại lịch sử, vào thế kỷ thứ XVIII, khi các chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía Nam thì một số cao tăng thuộc Thiền phái Liễu Quán cũng theo làn sóng di cư xuôi Nam đi tìm chốn non hoang, động vắng tu pháp.

    Năm 1763, Thiền sư Ðạo Trung Thiện Hiếu là đệ tử của Thiền sư Ðại Cơ và thuộc đời thứ tư của chi phái Liễu Quán tìm đến hang đá hoang vu trên núi Bà làm nơi định thiền. Đó chính là chùa Hang.

    Lúc đó Thiền sư Đạo Trung đã nhặt được một số tượng đồng cổ. Trong đó có một tượng thánh nữ bằng đồng màu đen. Vị sư đã cất miếu hương khói cho bức tượng này.

    Thuở đó đã có cư dân Việt và Cao Miên sinh sống dưới chân núi. Họ gọi Thiền sư Đạo Trung là “sư Bưng Đĩa” (Vì quan sát thấy Thiền sư thường nâng đĩa đựng hoa quả cúng tổ). Sau khi ẩn tu ở hang đá suốt 30 năm, Thiền sư Đạo Trung giao thạch điện cho đệ tử là Thiền sư Tính Thiện (tức Tánh Thiện Thanh Thanh). Thiền sư Đạo Trung về Thủ Dầu Một (Bình Dương) khai môn chùa Long Hưng. Kế nghiệp Thiền sư Tính Thiện là Thiền sư Hải Hiệp Từ Tạng.

    Năm 1784, Nguyễn Ánh vào núi lánh nạn Tây Sơn. Năm 1790, Nguyễn Ánh sắc phong Linh Sơn Thánh Mẫu. Năm 1820, Vua Minh Mạng cử Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định Thành lần thứ 2. Và một lần nữa, Vua Minh Mạng ban sắc phong Linh Sơn Thánh Mẫu cho Bà Đen. Vua Minh Mạng còn ban chỉ cho Lê Văn Duyệt xây cất ngôi Linh Sơn Điện khang trang hơn.

    Sau khi xây cất linh điện xong, Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã giao cho Thiền sư Hải Hiệp gìn giữ. Tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật hợp nhất trong một ngôi điện thờ.

    Năm 1857, Thiền sư Tánh Thọ Phước Chí từ chùa Phước Lâm, Tây Ninh lên núi thăm viếng thì phát hiện Thiền sư Hải Hiệp viên tịch từ lúc nào, thân xác đã hóa thổ. Điều lạ là, ngón tay út bàn tay trái của Thiền sư Hải Hiệp vẫn còn nguyên vẹn?

    Thiền sư Tánh Thọ đã đem ngón tay út của Thiền sư Hải Hiệp chôn dưới đáy chùa Hang để lập bia mộ. Gần 100 năm sau, mộ của Thiền sư Hải Hiệp được tín đồ cải táng ra ngoài xây tháp. Khi đào lên, ngón tay út vẫn còn nguyên và được cải táng?

    Sau khi chôn cất ngón tay cho sư phụ, Thiền sư Tánh Thọ tiếp tục tu hành tại Linh Sơn Điện.

    Sau năm 1940, quân Pháp và quân Nhật lần lượt chiếm đóng núi Bà Đen và phá hủy hoàn toàn Linh Sơn Điện. Tượng Bà bằng đồng, màu đen bị chúng cướp và thất lạc.

    Mãi đến năm 1956, một nhà giáo có uy tín ở địa phương, tên là Nguyễn Văn Hảo được một người phụ nữ đen đúa báo mộng cho biết, bà chính là Linh Sơn Thánh Mẫu. Bà bảo ông Hảo đến chùa Phước Lâm sẽ gặp bà? Ông Hảo bán tín bán nghi nhưng vẫn đến chùa Phước Lâm gặp vị sư trụ trì. Ông Hảo vừa kể xong câu chuyện nằm mơ thì vị sư trụ trì chùa Phước Lâm thất kinh xác nhận: “Một người lính Nhật đã bí mật giao cho tôi bức tượng trước khi về nước. Không ai biết chuyện này?” Câu chuyện này, được một nữ nhà giáo – con gái ruột của ông Nguyễn Văn Hảo – kể cho người viết nghe từ năm 1980.

    Ngay sau khi phát hiện bức tượng đồng Bà Đen được cất giấu ở chùa Phước Lâm, nhà sư Nguyên Chất – Trụ trì chùa Phước Lâm – cùng nhà giáo Nguyễn Văn Hảo và bạn bè lên núi xây cất lại nơi thờ Bà. Lần xây cất này, công trình được đặt tên là Linh Sơn Tự. Vào khoảng 1970, quân đội Mỹ xây dựng 1 trạm ra đa tình báo đặt trên đỉnh núi để kiểm soát địa bàn Tây Ninh và dòm vào căn cứ Trung ương Cục. Trước khi đưa quân lên núi, giặc Mỹ đã ném hàng tấn bom đạn và hơi cay các loại vào những nơi chúng nghi ngờ có quân ta trú đóng. Do giao tranh ác liệt, ngôi chùa bị cháy bởi bom napal Mỹ. Bức tượng Bà lại thất lạc lần nữa.

    Năm 1975, ni sư Diệu Nghĩa, đệ tử đời sau của sư Nguyên Chất đã xây lại chùa. Lần này, ngôi chùa có tên là Linh Sơn Tiên Thạch Tự. Năm 1992, ni sư Diệu Nghĩa đã cùng tín đồ tái thiết ngôi chùa suốt 3 năm. Ngày nay, ngôi chùa thật khang trang và rộng rãi, sẵn sàng cung nghinh khách hành hương viếng Bà, lễ Phật.

    Nông Huyền Sơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu Núi Bà Đen Là Di Sản Phi Vật Thể Quốc Gia
  • Chầu Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên
  • Chầu Bà Đệ Nhị Thượng Ngàn
  • Đền Mẫu Âu Cơ, Ấm Áp Một Huyền Tích Xưa
  • Bài Khấn Lễ Mẫu Âu Cơ
  • Văn Khấn Tại Đền Bà Chúa Kho

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Văn Khấn Đền Phủ
  • Văn Khấn Cất Nóc Nhà, Xây Thêm Tầng Trên Cùng Mà Không Phải Ai Cũng Biết
  • Văn Khấn Giao Thừa Ngoài Trời Đúng Và Đầy Đủ Nhất
  • Văn Khấn Giao Thừa Ngoài Trời
  • Văn Khấn Hóa Vàng Hết Tết Đầy Đủ Và
  • Lý Thị Châu sinh ngày 12 tháng 2 âm lịch tại phường Võ Trại trong kinh thành Thăng Long (nay là phường Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam).

    Cha bà là Lý Quýnh, quê ở làng Cổ Pháp (nay thuộc xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), làm chức Điện hộ binh lương đời nhà Trần, chuyên giữ gìn kho lương cho quân lính. Khi đến đóng quân trong kinh thành, ông cưới vợ ở phường Võ Trại, rồi bà ra đời sau đó.

    Thuở nhỏ, Lý Thị Châu theo học ở phường Bích Câu. Theo sử liệu thì bà là người vừa có tài văn võ lại vừa có nhan sắc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Đức Ông Chi Tiết Đầy Đủ Nhất
  • Hướng Dẫn Bài Văn Khấn Khi Động Thổ Xây Dựng
  • Bài Văn Khấn Đền Quán Thánh Đầy Đủ Nhất
  • Văn Khấn Đền Hùng Phú Thọ Đúng Bài Nhất
  • Bài Văn Khấn Bà Cô Ông Mãnh Đầy Đủ Chính Xác Nhất
  • Cầu Gì Thiêng Nhất Tại Đền Thần Huyền Thiên Trấn Vũ

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Chọn Lễ Vật Dâng Hương Cô Sáu Tại Côn Đảo
  • Đức Phật Đâu Cần Mâm Cao Cỗ Đầy Dâng Lễ
  • Hướng Dẫn Thủ Tục Làm Lễ Rước Dâu Chuẩn Nhất
  • Mâm Quả Cưới Hỏi Trọn Gói Làm Nghi Lễ Đính Hôn, Đám Cưới Rước Dâu Mq07 Thuộc Mâm Quả Lễ Vật Cưới Hỏi
  • Trình Tự Đầy Đủ Của Nghi Lễ Rước Dâu Của Nhà Gái
  • Chân Vũ là vị thần nổi tiếng và được thờ phụng phổ biến tại rất nhiều quốc gia đặc biệt là tại Trung Quốc và các nước Á Đông. Tại Việt Nam, thần Chân Vũ được người Việt gọi là thần Huyền Thiên Trấn Vũ hay Trấn Võ và tôn vào hàng các vị nam thần phối thờ cùng Tứ Phủ linh thiêng. Hiện nay, có hai ngôi đền nổi tiếng nhất thờ vị thần này tại Việt Nam đó chính là đền Sái và chùa Quán Huyền Thiên.

    Huyền Thiên Trấn Vũ được cho là vị thần tượng trưng cho sao Bắc Cực. Bởi theo tín ngưỡng dân gian của người Trung Quốc, tất cả các vì sao đều di chuyển vị trí riêng có chòm sao Bắc Cực là bất động. Do đó, họ xem ngôi sao này là tôn quý nhất. Theo đó, họ đã thánh hóa ngôi sao này với chức vị ” Bắc Đẩu Tinh quân”, do một vị thần ” Huyền Thiên Thượng Đế ” trấn giữ. Cũng bởi vậy, theo tín ngưỡng ông thuộc hàng các vị thần lớn nhất của Đạo Giáo thống trị phương Bắc. Đồng thời ông quản lý các loài thủy tộc nên cũng được người dân gọi là thủy thần hay hải thần. Theo hầu thần Chân Vũ theo quan niệm của người phương Bắc là có hai tướng Quy, Xà tượng trưng cho sự trường tồn, sức mạnh và Ngũ Long thần tướng.

    Truyền thuyết về vị thần Trấn Vũ xuất hiện vào khoảng thời nhà Tùy Trung Quốc. Đây là giai đoạn Đạo giáo phát triển bài bản với một hệ thống thần điện rõ ràng. Trước đó thần có tên là thần Huyền Vũ, đến khoảng năm Nguyên Phong đời Tống thì đổi thành Chân Vũ. Tên này được người dân xưng danh tôn thờ đến tận ngày nay.

    Theo truyền thuyết này, Ngọc Hoàng Thượng đế trên thiên đình vì muốn giúp trần thế đã tách một thể phách của mình xuống trần rồi đầu thai vào nhà Tịnh Lạc quốc vương và Thiện Thắng hoàng hậu. Có thuyết khác thì nói đây là thế phách thứ 28 của Thái Thượng Lão quân đầu thai. Vị Thái tử sinh ra đã không muốn nối nghiệp vua cha mà quyết tâm đi tu. Ngài được Diệu Lạc thiên tôn dạy dỗ. Thái Tử vào núi Vũ Đương tu hành. Khi đạt được thần thông, ngài rạch bụng bỏ gan và ruột đi rồi vân du về phương Bắc trừ yêu diệt quái giúp đời. Không ngờ rằng gan và ruột của ngài biến thành yêu quái Rùa và Rắn làm hại dân quanh núi. Ngài quay về thu phục hai yêu quái này và biến chúng trở thành hai vị tướng dưới trướng. Ngoài hai tướng này, thần còn có năm vị tướng khác là năm con rồng đi theo.

    Ngài được ngọc Hoàng thượng đế cho trấn giữ phương Bắc.

    Ngoài danh xưng thánh Chân Vũ, ngài còn nhiều cái tên khác như: Chân Vũ Tinh quân, Chân Vũ Đại Đế, Bắc Phương Chân Vũ Huyền Thiên Thượng Đế, Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế, Huyền Thiên Thượng Đế, Huyền Vũ, Bắc Đế, Đế Công, Thượng Đế Tổ sư, Đãng Ma thiên tôn, Trấn thiên Chân Vũ Linh ứng Hựu thánh đế quân, Hựu thánh Chân quân Huyền thiên Thượng đế, Ngọc Hư Sư Tướng, Báo Ân sư tướng, Phi phát sư tướng.

    Tại Việt Nam, người dân đã Việt hóa truyền thuyết về thần và gọi ngài là Trấn Vũ. Nhân gian truyền tụng về một vị thần giúp An Dương Vương trừ gà tinh, diệt cáo thành tinh ở Hồ Tây. Ở Hoa Lư cũng truyền tụng vị thần mang danh Thiên Tông với sự tích gần giống với thần Trấn Vũ nhưng đã được địa phương hóa và được coi là vị thần trấn phía đông Hoa Lư – một trong tứ trấn Hoa Lư cổ. Hiện tại Ninh Bình cũng có 7 nơi thờ thần quanh thành phố.

    Tiếng lành đồn xa, cứ thế đền Sái trở thành địa chỉ nổi tiếng nhất Kinh Kỳ khi nhắc đến rút quẻ đầu năm. Do vậy, vào những ngày lễ đầu năm, khung cảnh hàng dài cả trăm mét người xếp hàng chen chúc để được vào đền rút thẻ diễn ra thường xuyên và trở thành một khung cảnh quen thuộc, đặc trưng tại đền Sái. Sau khi rút thẻ xong, con hương sẽ đến gian các ông đồ thầy cạnh đền để giải nghĩa thẻ.

    Ngoài nổi tiếng với việc rút quẻ đầu năm đền Sái cũng nổi tiếng là địa chỉ cầu duyên, cầu con hay là nơi con hương dâng lễ vật cầu bình an, gia đình khỏe mạnh, gia sự tốt lành, làm ăn phát đạt vào những dịp đầu năm mới hay những ngày lễ hội tại đền.

    Đền Sái sừng sững trên núi cao đã có lịch sử thăng trầm hơn ngàn năm. Tại đền vẫn còn lưu truyền câu chuyện đắp thành cổ loa từ thời Hùng Vương. Theo đó, Thục Vương đắp thành ở đất Việt Thượng rộng hơn nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc nên gọi là Loa Thành. Thành cứ đắp xong lại đổ vì yêu ma Bạch Kê Tinh (gà trắng thành tinh) phá hoại. Ban ngày gà tinh trú ẩn ở núi Thất Diệu, đêm lại xuất hiện phá thành. Vua không có cách nào trừ khử, bèn lập đàn cầu khẩn được Huyền Thiên Trấn Vũ sai thần Kim Quy hiện ra mách bảo kể giết Bạch Kê tinh trên thành ốc mới xây xong. Từ ấy, thành mới được xây dựng thành công. Tưởng nhớ công đức của Huyền Thiên, vua đã cho xây đền thờ vị thần này trên đỉnh núi Thất Diệu.

    Đến thời vua Lý Thái Tổ dời đô ra thăng long năm 1000, đã đến núi Sái cầu Huyền Thiên và sinh được hoàng tử. Trả ơn thần Huyền Thiên, vua đã cho xây đền Trấn Vũ (đền Quán Thánh hiện nay) ở bắc kinh thành thờ vọng ngài.

    Ngày nay, nhờ nhân dân công đức, đền được tu bổ thường xuyên nên khang trang, rộng rãi, uy nghiêm và bề thế hơn rất nhiều.

    Ngày 27/01/1986, đền Sái được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử Nghệ thuật Kiến trúc quý giá.

    Đền Sái được xây dựng sừng sững trên đỉnh núi Thất Diệu thuộc núi Sái, một trong bảy ngọn núi thiêng nhất Thất Diệu Sơn thuộc xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Cổng vào đền được xây theo kiểu cổng ngũ quan với ba cửa chính và hai cửa phụ được trang trí đôi hàng câu đối bằng chữ Hán cùng rất nhiều hoa văn họa tiết vân mây, rồng phượng.

    Qua cổng đền, là tới gác chuông. Gác chuông mới được phục dựng lại vào năm 1989. Trên gác có treo quả chuông do dân làng Nhội đúc năm Thành Thái thứ 10 triều Nguyễn.

    Nhà tiền tế thuộc khu đền chính cũng mới được phục dựng năm 1999. Đây là nơi khách hành hương đặt lễ và khấn vái các vị thánh thần. Trong hậu cung đặt tượng thần Huyền Thiên Trấn Vũ được đúc bằng đất vô cùng to lớn được sơn son thiếc vàng, ngồi tĩnh tại, tay đặt lên chuôi kiếm gác trên mai rùa. Đằng trước tượng Huyền thiên Trấn Vũ đền Sái là bốn tướng đứng hầu hai bên, nét mặt và y phục vô cùng sống động.

    Phía bên trái đền Sái là đền Thượng, nơi thờ thần Cao Sơn Đại Vương thời Hùng Vương trên đỉnh núi Châu Lai.

    Ngay phía sau đền Sái là chùa Thích Ca. Chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng quen thuộc của nhân dân địa phương. Trong chùa còn lưu giữ rất nhiều tượng phật đẹp, có giá trị lớn về lịch sử và văn hóa.

    Lễ hội đền Sái được tổ chức hàng năm từ ngày mùng 5 đến ngày 11 tháng giêng với đặc sắc lễ rước vua giả không nơi nào có.

    Theo đó, từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 10, dân làng sẽ làm công tác chuẩn bị cho ngày lễ hội chính vào ngày 11 tháng giêng.

    Sau lễ ướm gương và mừng tựa thì cả đoàn vua, chúa kiệu phướn cờ quạt, … lên đền Sái bái yết vua theo đúng lễ nghi truyền thống. Chúa phải đi bộ đúng ba vòng quanh đình mới được vào đền yết kiến.

    Lễ bái xong, vua chúa được rước lên kiệu. Đám rước đi trong tiếng nhạc rộn vang, oai hùng, trang nghiêm. Đến cánh đồng Chầu, vua làm lễ bái vọng đức thánh huyền thiên trên đền Sái rồi cùng các quan trở về đình làng.

    Trong thời gian diễn ra nghi lễ, những hoạt động lễ hội khác cũng đồng thời được diễn ra như đấu vật, cổ truyền, hát dân ca, thi chọi gà, … diễn ra vô cùng sôi động.

    Mặc dù tục tổ chức lễ rước vua giả tại đền Sái đã có từ ngàn năm trước nhưng người dân địa phương nơi đây vẫn giữ lệ tổ chức lễ hội với đầy đủ nghi lễ được thực hiện đều đặn hàng năm. Điều này vừa thể hiện sự kính trọng của nhân dân đối với vị thần Huyền Thiên Trấn Vũ vừa thể hiện nỗ lực của địa phương trong việc lưu giữ những giá trị văn hóa tín ngưỡng vô cùng tốt đẹp hiếm nơi nào làm được.

    Chùa Quán Huyền Thiên vốn là nơi tu hành của đạo Lão (một đạo tín ngưỡng lâu đời tại nước ta), sau này chuyển thành chùa vào cuối thời Lê. Tương truyền khu xưa, đền được xây từ thời nhà Lý và sớm đứng vào hàng “Thăng Long tứ quán” của đạo Lão. (Ba quán kia gồm: Đế Thích quán nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên; Châu Vũ quán tức đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh, Đồng thiên quán, nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành).

    Sau khi đạo Lão suy tàn, quán chuyển thành chùa thờ phật.

    Về thời điểm xây dựng chùa thì không ai biết chính xác là khi nào. Tuy nhiên căn cứ vào bài thơ vịnh của cụ Trần Nguyên Đán có thể thấy quán được xây dựng vào trước thế kỷ 14. Sau đó, qua nhiều lần tu bổ và sang sửa, đền ngày một rộng hơn, khang trang hơn. Kiến trúc hiện tại của chùa được định hình nét kiến trúc thời nguyễn với nhiều lần tu sửa nhất: Thiệu Bình thứ 6(1439), Cảnh trị thứ 6 (1668), năm Tự Đức thứ 21 (1868), Bảo Đại thứ 5 (1930).

    Đầu thế kỷ 20, khi thực dân Pháp lấp hồ và mở rộng phố xá đã thu lấp nhiều công trình của chùa khiến chùa bị thu hẹp nhiều. Những ngày kháng chiến năm 1947, chùa bị tàn phá, tượng thần Huyền Thiên bị cháy.

    Năm 1948 dân địa phương cùng khách thập phương quyên góp và khôi phục lại chùa theo kiểu kiến trúc cũ “nội Công ngoại Quốc”. Đến năm 2014, chùa lại được tu bổ một lần nữa.

    Chùa Quán Huyền Thiên nằm tại Hàng Khoai Đồng Xuân, Hà Nội. Từ cổng nghi môn vào bao gồm các công trình như gác chuông, hai nhà bia, hai giếng cổ và nhà bái đường xây 7 gian kiểu vọng lâu 2 tầng 8 mái. Đây cũng là nơi đặt tượng thờ thần Huyền Thiên uy nghiêm.

    Tòa thiên hương chạy dọc như thượng điện, nối với 2 gian nhà ngang phía sau. Áp vào hai đầu hồi là hai dãy hành lang, nay dùng làm nhà khách.

    Trong chùa hiện phối thờ cả Phật và cà Thánh, Mẫu cùng tượng đạo Lão. Điều này cho thấy sự hòa hợp trong văn hóa tín ngưỡng linh thiêng của người Việt.

    Chùa còn là nơi lưu giữ một hệ thống văn bia đồ sộ. Có thể nói, chùa là nơi duy nhất tại phố cổ Hà Nội còn lưu giữ được lượng lớn văn bia được viết bằng cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ. Những văn bia này được đặt tại hai bên nhà tiền đường và chính điện của chùa. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ một bài minh chuông cho quả chuông nặng 500kg, cao 1m60 đúc năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793) treo tại gác chuông phía cổng.

    Oản Cô Tâm – đơn vị chuyên cung cấp oản lễ đẹp, chất lượng giá sỉ

    Oản đường là lễ vật truyền thống thường có trên mâm lễ thần Huyền Thiên Trấn Vũ nói riêng và mâm lễ Phật Thánh nói chung của ông bà ta xưa nay. Những quanh oản đường trắng tinh thơm mát thanh ngọt dâng lên các vị thần là thức lễ thể hiện lòng kính trọng, thành tâm nhất của con hương. Bởi oản được làm từ những nguyên liệu tự nhiên tượng trưng cho đất trời hoa cỏ, những gì tinh túy và tốt đẹp nhất. Do đó, dù có sắm muôn thức lễ thì cũng không nên quên một quanh oản đường thơm thảo trên mâm lễ dâng thánh được.

    Khách hàng muốn tìm mua đơn vị bán oản chuẩn, đẹp chất lượng như vậy thì chỉ có thể tìm đến . Oản Cô Tâm là đơn vị có uy tín trên thị trường trong ngành hàng cung cấp các sản phẩm oản chuyên biệt. Oản Cô Tâm tạo ra một dòng sản phẩm Oản Tài Lộc vừa đẹp, vừa sang, vừa chất lượng lại mang ý nghĩa tài lộc may mắn phục vụ tối đa nhu cầu cúng lễ của con hương, đệ tử muôn phương.

    Với dòng sản phẩm này, chúng tôi cung cấp 4 loại phẩm oản đa dạng cho khách hàng lựa chọn như Oản lễ Phật, Oản Lễ Tứ Phủ, Oản Lễ Gia Tiên và Oản Lễ Thần Tài. Mỗi loại oản phục vụ cho mỗi mục đích khác nhau sẽ mang màu sắc và thiết kế đa dạng khác nhau đem đến sự tốt lành cho gia chủ khi chọn mua oản để dâng tiến.

    Quý khách hàng có nhu cầu vui lòng truy cập trang web của để tham khảo và tìm mua sản phẩm ưng ý nhất.

    Oản Cô Tâm rất sẵn lòng phục vụ khách hàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nam Định: Chân Dung Người Phụ Nữ Bí Ẩn 22 Năm Làm Lễ Dâng Đức Thánh Trần
  • Người Phụ Nữ 22 Năm Làm Lễ Dâng Đức Thánh Trần
  • Bài Văn Khấn Đền Ông Hoàng Mười Chuẩn Xác Nhất
  • Lễ Vật, Văn Khấn Ông Hoàng Mười
  • Cách Sắm Lễ, Văn Khấn Ông Hoàng Mười
  • Đến Côn Đảo Thăm Mộ Cô Sáu

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chuyển Bàn Thờ Sang Vị Trí Khác Trong Nhà Đúng Cách
  • Chùa Đại Tòng Lâm: Lễ Cúng Dường Trai Tăng
  • Hướng Dẫn Lễ Cúng Nhập Trạch Chuyển Nhà Mới Và Những Điều Cần Lưu Ý
  • Bình Thuận: Buổi Lễ Cúng Dường Trai Tăng Mãn Hạ Trường Hạ Tịnh Xá Ngọc Vân
  • Tp.hcm: Tổ Đình Ngọc Phương Đón Tiếp Các Phái Đoàn Cúng Dường Trường Hạ
  • Khi đến Côn Đảo, bạn không những được hòa mình vào thiên nhiên xinh đẹp mà còn được viếng thăm mộ cô Sáu linh thiêng. Ngôi mộ với rất nhiều giai thoại tâm linh kỳ bí về người con gái yêu nước đã hy sinh anh dũng trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Một người con gái đã mất mà dân trên đảo rất tin yêu và kính trọng. Không những thế, bạn sẽ được trải nghiệm không gian linh thiêng và huyền bí khi viếng thăm nghĩa trang Hàng Dương, nơi nằm lại của những chiến sĩ yêu nước.

    Quan Trọng Để được hành trình như ý, bạn nên đặt trước & đặt sớm vé tàu cao tốc đi Côn Đảo từ Vũng Tàu. Số điện thoại phòng vé tàu cao tốc Côn Đảo: 082 232 0178

    Cô Sáu là ai? Mộ cô Sáu ở đâu?

    Cô Sáu ở đây là Võ Thị Sáu. Một người con gái sinh ra ở miền Đất Đỏ thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Cô là nhân vật có tầm ảnh hưởng không hề nhỏ trong lịch sử Việt Nam thời chống Pháp. Cô sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng và tham gia cách mạng khi còn rất trẻ.

    Tuy nhiên, trong thời gian hoạt động cách mạng cô bị thực dân Pháp bắt giữ và xử tử tại Côn Đảo. Cô ra đi khi chưa tròn 18 tuổi, độ tuổi xuân xanh còn rất trẻ của người con gái.

    Sau khi bị xử bắn, quân Pháp cứ ngỡ đã xóa được hình ảnh của người con gái kiên trung ấy. Nhưng chúng không ngờ, cái chết của cô Sáu đã trở thành một làn sóng dữ dội thúc đẩy phong trào cách mạng của quân và dân ta.

    Không những thế, nó còn gắn liền với rất nhiều giai thoại kỳ bí làm nên mảnh đất thiêng liêng Côn Đảo ở thời đó và cả bây giờ. Những giai thoại ấy không ngừng được lan truyền làm nên hình tượng bất tử của cô gái trẻ Võ Thị Sáu trong lòng người Việt Nam cũng như nổi kinh hoàng của thực dân xâm lược.

    Ngày nay, rất nhiều người muốn biết mộ cô Sáu ở đâu khi đến thăm Côn Đảo. Mộ cô nằm tại nghĩa trang Hàng Dương, một nghĩa trang rất lớn của Côn Đảo và là nơi yên nghỉ của nhiều chiến sĩ yêu nước khác. Nơi đây đã trở thành điểm đến tâm linh thu hút nhiều du khách gần xa khi đến với Côn Đảo.

    Hình ảnh bất tử của người con gái kiên trung

    Cô Sáu hy sinh ngày 23/1/1952. Cô là người tử tù nhỏ tuổi nhất ở Côn Đảo thời bấy giờ.

    Khi bị xử tử, cô Sáu không cho những người hành hình bịt mắt mình, cô cất cao giọng hát bài “Tiến quân ca” và mạnh mẽ thét lên “Đả đảo thực dân Pháp! Việt Nam độc lập muôn năm! Hồ Chủ Tịch muôn năm!” với ánh mắt quật cường.

    Những tiếng súng đồng loạt nổ lên, nhưng cô vẫn sống. Chính ánh mắt ấy đã làm cho những tên súng xử bắn phải hoảng loạn bắn sai mục tiêu. Cô Sáu chết dưới tay tên đội trưởng lê dương với khẩu súng ngắn dí tận mang tai cô mà bóp cò.

    Kể từ ngày cô Sáu ra đi, có rất nhiều giai thoại huyền bí về người con gái chết trẻ ấy. Ngày trước, gần mộ cô có một cây dương ngọn khô cằn sắp chết, chỉ duy nhất có một nhánh hướng Bắc là còn xanh tốt. Mọi người bảo nhau rằng hồn cô Sáu luôn hướng về miền Bắc về Hồ Chủ Tịch. Có nhiều đêm, người ta còn thấy hình bóng một cô gái với bộ đồ trắng bước ra từ nhánh dương đi dạo quanh khu nghĩa trang và từng con phố của Côn Đảo.

    Cô Sáu không những là chiến sĩ yêu nước anh dũng mà còn trở thành biểu tượng tâm linh trong cuộc sống của người dân Côn Đảo. Cô Sáu bất tử như một vị thần bảo hộ cho người dân nơi đây. Mỗi khi thề bồi, họ hay nói “Thề có cô Sáu chứng giám”. Hay khi mắng nhau thì bảo “Cô Sáu vặn cổ mày!”.

    Lễ viếng cô Sáu Côn Đảo

    Mọi người lấy ngày hy sinh của cô, ngày 23/1 hàng năm làm ngày giỗ cô Sáu. Vào ngày này, người dân Côn Đảo và Nhà nước cùng nhau tổ chức ngày lễ long trọng làm giỗ cho cô. Du khách ở khắp nơi đến với Côn Đảo, mang theo những lễ vật viếng mộ cô và tưởng nhớ người anh hùng dân tộc. Mỗi người đều chuẩn bị cho mình một bài văn khấn mộ cô Sáu để cầu bình an và tài lộc.

    Ngày trước, Côn Đảo lấy ngày 23/1 dương lịch hàng năm làm ngày giỗ Nữ liệt sĩ Võ Thị Sáu theo thông số giấy báo tử thời Pháp vào ngày cô hi sinh. Bắt đầu từ năm 2010 đến nay, mọi người dựa vào ngày 27/12 âm lịch làm ngày giỗ cô Sáu theo thông tin cập nhật từ Bảo tàng Côn Đảo.

    Vào những ngày bình thường, du khách có thể tham quan nghĩa trang Hàng Dương và viếng mộ cô Sáu vào khoảng giờ Tý (lúc 11h đêm). Người dân trên đảo bảo nhau rằng đây là giờ khắc linh thiêng nhất để cô Sáu chứng giám cho những thỉnh cầu của du khách. Nghĩa trang lúc đó được thắp sáng đèn lung linh và huyền ảo tạo cho bạn một không gian tâm linh huyền bí và ấn tượng.

    Lễ cô Sáu gồm những gì?

    Bạn đến nghĩa trang Hàng Dương và ra lễ tại Đài tưởng niệm các chiến sĩ yêu nước trước khi đến lễ chính cô Sáu vào giờ Tý (11 giờ đêm).

    Nghĩa trang được chia ra làm 4 khu là khu A, B, C và D. Khu A nghĩa trang Hàng Dương là khu mộ của những người yêu nước như Lê Hồng Phong, Nguyễn An Ninh,…

    Mộ cô Sáu rất dễ tìm, vì đây là ngôi mộ mà nhiều người đến viếng thăm nhất. Bạn chỉ cần đi theo dòng người là đến được mộ cô. Giờ làm lễ linh thiêng nên có rất nhiều người, bạn nên đến sớm một chút để sắp xếp đồ lễ và chuẩn bị bài khấn viếng mộ cô Sáu. Mộ cô nhiều người viếng nên bạn hãy kiên nhẫn xếp hàng chờ đợi, tránh chen lấn và xô đẩy ở nơi linh thiêng.

    Kinh nghiệm chuẩn bị lễ vật cúng/văn khấn cô Sáu

    – Bạn có thể chuẩn bị lễ vật cúng cô Sáu tại nhà hoặc mua ở chợ trung tâm Thị trấn Côn Đảo. Một bộ lễ vật cúng cô Sáu đầy đủ sẽ bao gồm 7 món như sau:

    • 1 nón lá
    • 1 sấp giấy tiền vàng bạc tổng hợp
    • 1 bộ lược gương
    • 1 sấp các thỏi vàng
    • 1 chai nước suối
    • 1 bó nhàng
    • 1 bó hoa trắng.

    Bó hoa trắng là lễ vật quan trọng nhất, bởi lúc sinh thời cô Sáu rất yêu màu hoa trắng. Với những du khách có điều kiện hơn, họ sẽ chuẩn bị thêm bộ áo dài được may đo thật làm lễ vật.

    – Sau khi mang những lễ vật này đến mộ cô Sáu, bạn đặt ngữa cái nón lá và sắp xếp lễ vật vào bên trong lòng nón rồi đặt lên mộ cô.

    – Tiếp theo đó là thành tâm cầu nguyện cô Sáu ban cho điều mà mình mong muốn theo bài văn khấn đã chuẩn bị trước. Văn khấn cô Sáu Côn Đảo có nhiều bản khác nhau. Bạn có thể chuẩn bị một bài khấn riêng cho mình với những thông tin như sau: họ tên, nơi ở, khấn cho quốc gia, khấn cho mọi người và khấn xin cô Sáu ban cho sức khỏe, bình an, tài lộc hay tình duyên,…

    – Sau khi đọc xong văn khấn bạn cúi lạy 3 lạy rồi bước ra ngoài hay đốt vàng tiền.

    Ngoài ra, bạn nên chuẩn bị thêm những lễ vật để viếng các anh hùng liệt sĩ khác. Những lễ vật đó bao gồm: cờ Tổ quốc, khăn rằn, mũ tai bèo, quần áo bộ đội. Hãy để lòng biết ơn của bạn sưởi ấm những chiễn sĩ yêu nước đang yên nghỉ nơi Côn Đảo.

    Bài khấn viếng mộ cô sáu

    Kính lạy:

    Ngài Kim niên Đương Cai Thái Tuế Chí Đức Tôn thần, Kim Niên Hành Binh, Công Tào Phán Quan.

    Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng Chư Vị Đại Vương.

    Ngài Bản Xứ Thần Linh Thổ Địa Tôn Thần.

    Các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ Long Mạch Tôn Thần, Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ cùng liệt vị Tôn Thần cai quản ở trong xứ này.

    Con là (tên của bạn)………………………………………………………………….

    Địa chỉ…………………………………………………………………………………………………..

    Sắm sanh phẩm vật, hương hoa phù tửu lễ nghi, trình cáo Tôn thần, kính viếng vong linh là: Cô Sáu

    Phần mộ ký táng tại nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo.

    Nay nhân ngày………………(Ví dụ: Cuối năm, hoặc Thanh minh, hoặc thăm mộ) con xin cúi lạy Thần Linh đất này, Thành Hoàng Bản Thổ nơi đây, đất lành chim đậu, đức dày thanh cao, giữ lành công lao, có kết có phát nhờ vào thần quan, tôn thần long mạch cao sang, nhị thập tứ hướng nhị thập tứ sơn quanh vùng.

    Chọn đây an táng mộ phần, thỏa yên muôn thủa, hồng ân đời đời, gia ân mãi mãi không thôi, chúng con xin có vài lời cầu xin: Bái tạ thủ mộ thần quan, cho chân linh dưỡng cho hài cốt nguyên vẹn toàn, phù hộ con cháu trần gian, an khang mạnh khỏe ăn làm gặp may. Âm dương cách trở, bát nước nén hương, biểu tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

    Phục duy cẩn cáo!

    (Khấn 3 lần rồi đốt vàng tiền).

    Bài khấn tham khảo langdaninhvan

    Một vài lưu ý khi đến nghĩa trang Hàng Dương viếng mộ cô Sáu

    • Nghĩa trang Hàng Dương và mộ cô Sáu là nơi thờ cúng linh thiêng nên bạn cần ăn mặc chỉnh tề, trang nghiêm, lịch sự khi đến viếng.
    • Giao tiếp nhỏ nhẹ, tránh nói to, nói tục, chửi bậy hay có những lời nói và hành vi không chuẩn mực.
    • Ngoài viếng thăm mộ cô Sáu, bạn nên đến thắp nhang cho những phần mộ khác trong nghĩa trang Hàng Dương. Vì tất cả họ đều là những anh hùng liệt sĩ hy sinh vì non sông Việt Nam.

    Tiết thanh minh vào tháng 3 âm lịch hàng năm là thời điểm mà nhiều du khách đến viếng thăm mộ cô Sáu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đồ Lễ Cô Sáu, Chuẩn Bị Sao Cho Đúng Cho Đủ Nhiều Người Không Biết
  • Lễ Cúng Nhập Trạch Chuyển Nhà
  • Thủ Tục Làm Lễ Cúng Chuyển Vào Nhà Mới Đúng Chuẩn
  • Thủ Tục Lễ Nhập Trạch Nhà Chung Cư Có Cúng Chúng Sinh Không?
  • Phục Dựng Lễ Cúng Bến Nước Của Đồng Bào J’rai
  • Tin tức online tv