Văn Khấn Giỗ Bằng Âm Hán

--- Bài mới hơn ---

  • Top 10 Văn Khấn Cầu Yên Đầu Năm Xem Nhiều Nhất,
  • Lễ Cúng Khai Trương Cửa Hàng Công Ty Gồm Những Gì
  • Văn Khấn Trước Khi Lau Dọn Bàn Thờ
  • Văn Khấn Cúng Rằm Tháng 7 Bàn Thờ Thần Tài
  • Văn Khấn Công Đồng Tam Tứ Phủ
  • CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    ……………Thành, ……………..huyện, ………………..xã, ………………….thôn, ……………………xứ chi nguyên.

    Tuế thứ……………….niên, ……………ngoạt, ……….Nhựt

    Tư nhơn Trưởng nam ……………………… cùng toàn gia nam nữ tử tôn hôn tế nội ngoại đẳng.

    Cung lễ kỷ niệm tiền hàng phụ (mẫu) thân……… trọng phủ (trọng nương), …………..quận

    Từ trần ngày….tháng….năm……

    Thành tâm cẩn dụng …………….hương đăng hoa quả thanh chước thứ phẩm chi nghi.

    Cẩn ủy lễ bái …………………. Cẩn dĩ phỉ nghi.

    KÍNH CÁO VU

    Cung niệm Trung tư hiển khảo hoặc (Phụ tiến hiển tỷ) , trọng ………….., …………….quận

    Đã cung lễ Đại tường ngày……tháng…..năm………

    Nay gia đẳng kỷ niệm tiền hàng cầu linh hồn phụ ……… hiển hiện khôn thiên đồng lai chứng giám tam tuần lễ nghi kính viếng. Cầu xin phò trì con cháu toàn gia đẳng hưng thịnh bình an khương thái.

    Lễ thành tiền hàng xin thỉnh hương linh thân …….. vào với ông bà thờ hằng đúng ngày kỷ niệm.

    Thương thay xin thượng hưởng.

    CUNG DI CỐ PHỤ (MẪU)

    Công cha mẹ như trời cao biển rộng

    Nghĩa sanh thành tận bể cả sông sâu

    Con cháu hãy nhớ vì đâu có mình

    Còn cha còn mẹ là hơn,

    Mất cha mất mẹ như đờn đứt dây

    Đờn đứt dây thì còn nối lại

    Cha mẹ mất rồi biết kiếm đâu ra.

    Đàn cháu con bồi hồi thương xót quá

    Phải nhớ câu tử hiếu phụng tiên

    Nghĩa đời nay ân đức đời sau

    Nên cung thỉnh tỏ lòng hiếu để

    Hôm nay là ngày tiền hàng kính lễ

    Thỉnh tiên linh chung vọng gia đường

    Hàng năm lo việc khói hương phụng thờ

    PHỤC LỄ CẨN CÁO

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Đọc Bài Văn Khấn Cúng Đầy Tháng Cúng Mụ Cho Bé Gái Trai
  • Văn Khấn Cúng Đất Đai, Thổ Công Chuẩn Nhất Hiện Nay
  • Bài Cúng Tết Đoan Ngọ Mùng 5 Tháng 5
  • Văn Khấn Thần Linh Mùng 1 Và Ngày Rằm Hàng Tháng
  • Cúng Lễ Hóa Vàng Tiễn Ông Bà Tổ Tiên Thế Nào Cho Đúng?
  • Văn Khấn Giỗ Thường Bằng Âm Hán

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Cho Ngày Giỗ Chính
  • Văn Khấn Giỗ Thường Hàng Năm Cho Ông Bà Tổ Tiên Chuẩn Nhất?
  • Văn Khấn Ngày Cáo Giỗ
  • Tìm Hiểu Về Bài Văn Khấn Cúng Lễ Tiểu Tường Và Đại Tường
  • Văn Khấn Ngày Giỗ Đầu
  • Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đệ ….Thập….niên, tuế thứ…., ….nguyệt, …nhật.

    tỉnh, ….huyện, …..xã (phường), ……..thôn.

    Tín chủ con là: cung thừa phụ mẫu mệnh cập chư thúc mệnh, hiệp dữ bào đệ, tỷ muội, nội ngoại, tử, tôn, hôn, tế đẳng đồng gia gia kính bái.

    Kim nhân: Hiển khảo (tỷ) hoặc Tổ khảo (tỷ) hoặc Tằng tổ khảo (tỷ)..huý nhật.

    Cẩn dĩ: hương đăng (hương đèn nến), trà tửu (chè rượu), quả phẩm (hoa quả), phù lưu (trầu cau), trư nhục (thịt lợn), tư thành (xô), hàn âm (gà), tỉnh quả (bánh trái), kim ngân minh y (vàng mã), đẳng vật chi nghi (các thứ khác), cung trần bạc tế.

    Hiển: ………tôn linh vi tiền, Cảm kiền cáo vu:

    ViếtV: (Chú ý: Nếu cúng giỗ trước ngày thì dùng: Lai nhật huý lâm, nếu cúng giỗ đúng ngày thì ghi: Huý nhật phục lâm)

    Tuế tự lưu dịch / lai nhật huý lâm /Truy viễn cảm thần /Bất thăng vĩnh mộ /Cung trần phỉ lễ /Tinh sảng hữu thành /Thức biểu hiếu tâm /Ngưỡng duy lai hâm.

    Kính thỉnh: Tiên Tổ khảo, Tiên Tổ tỷ (trên kỵ)

    Tằng Tổ khảo, Tằng Tổ tỷ (cụ)

    Kính kỵ: Liệt vị chư tiên linh, cập phụ vị, thương vong đẳng tòng tự, đồng lai hâm hưởng.

    Kính cáo: Bản gia Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, bản gia tiên thánh, tiên sư, bản viên thổ công, bản đường ngũ tự tôn thần, mặc thuỳ chiếu giám, đồng lai giám cách, tích chi hanh cát.

    http://Thuviengiadinh.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Giao Thừa Trong Nhà Và Ngoài Trời Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Lễ Giao Thừa Trong Nhà Năm Đinh Dậu (2017)
  • Bài Cúng Giao Thừa Ngoài Trời Năm 2021
  • Văn Khấn Giao Thừa Bàn Thờ Thần Tài
  • Văn Khấn Giao Thừa Năm 2021 Đón Nhiều Tài Lộc, An Khang, Thịnh Vượng,…
  • Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Linh Thiêng Lễ Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh
  • Đền Nguyên Phi Ỷ Lan
  • Nguyên Phi Ỷ Lan Và Những Giai Thoạị
  • Nguyên Phi Ỷ Lan Nguyen Phi Y Lan Doc
  • Nghệ Sĩ Việt Tề Tựu Trong Ngày Giỗ Mẹ Hiếu Hiền
  • Mộ phần Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

    Từ trung tâm Hà Nội, du khách lái xe hướng qua ra đường CT 01/ CT Pháp Vân – Cầu Giẽ. Đến đoạn giao giữa CT Hà Nội – Ninh Bình và CT Pháp Vân – Cầu Giẽ, lái xe qua vòng xuyến sang QL 21B vào Đại lộ Thiên Trường. Tại vòng xuyến Big C Nam Định, dẽ phải vào QL10/QL38B qua cầu Lộc An tới Đại Lộ Lê Đức Thọ qua cầu Nam Định dẽ phải vào ĐT490/ ĐT 490C, dẽ trái vào ĐT487 đến ngã rẽ phải thứ 5 dẽ vào và đi thẳng đến ngã dẽ thứ 4 bên trái dẽ vào đi thẳng theo đường làng Phú Hào là tới đền Phủ Giày.

    Đền Phủ Giày thờ ai?

    Đền là một quần thể gồm nhiều ngôi đền nhỏ ghép lại. Đặc biệt phải nói đến kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là Tiên Hương, Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là đền chính của Mẫu Liễu Hạnh và thờ bên chồng của Mẫu, còn phủ Vân Cát và Phủ Tổ là nơi thờ Mẫu và bên ngoại (bên bố mẹ đẻ) của Mẫu.

    Lịch sử đền Phủ Giày

    Đền Phủ Dầy có truyền thuyết kể lại rằng xưa kia vì nhớ thương chồng con trước khi về trời mà bà chúa Liễu Hạnh đã để lại chiếc giày ở trần gian. Cũng có truyền thuyết kể lại rằng vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy. Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.

    Phủ Dầy bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của Trọng Nội, Xuất bản năm 1959 thì: đời Vua Anh Tông (1557) làng kẻ Giầy đổi thành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu. Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái. Sang đời Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam định.

    Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất. Phủ Dầy chính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho một quần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản Nam định. Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương.

    Kiến trúc đền Phủ Giày

    Đền Phủ Giày gồm 3 quần thể chính:

    Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định; nằm cạnh đường giao thông liên xã. Đây là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671), trải qua bao thăng trầm lịch sử, phủ vẫn giữ được nét cổ kính thời xưa.

    Năm 1996 Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

    Cảnh quan của phủ rất rộng rãi và thoáng đãng. Mới bước vào, du khách sẽ thấy một giếng nước tròn bên trong là ụ đất để cắm cờ khi diễn ra lễ hội. Cán cờ bằng gậy gỗ, trên đầu buộc túm lá hoặc quạ đen làm thiên sứ của trời. Lá cờ thần được treo trên đỉnh. Tiếp đến là sân lớn diễn ra các trò chơi hay là nơi những sập bán hàng được bày bán trong mùa lễ hội. au sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống. Tiếp nối 3 phương đình là hồ bán nguyệt, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô.

    Kiến trúc các dãy nhà tại Phủ được nối liền nhau tạo thành thể thống nhất. Mỗi nhà sẽ có phòng riêng gọi là cung, có tất cả 4 cung: Cung đệ tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng. Đối xứng với cung Đệ Tứ bên trái là Ban Quan lớn Thủ phủ và bên phải là Ban Chầu Thủ phủ; cung đệ tam thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng và Hội Đồng các quan hay Ngũ vị vương quan; Cung đệ nhị thờ Tứ Vị Chầu bà và ba bộ long ngai; Cung Đệ nhất là cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung này ở trong cùng. Tuy nhiên, đa phần nơi thờ Mẫu Tứ phủ có nội cung (cung cấm).

    Cung cấm có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh cùng với hai Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân đều được phong thần và sắc phong. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể vào đó được mà phải có sự cho phép của ban quản lý khu di tích mới được đặt chân vào đó.

    Bên cạnh các dãy nhà thờ có 1 dãy nhà nữai là Ban Trần Triều. Trong dãy nhà này có đặt ban thờ Ban Trần Triều và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau nơi thờ chính là Động Sơn Trang, nơi này thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn Hai Chầu và mười hai cô Sơn Trang.

    Phủ nằm phía bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo nên một quần thể thờ Phật – Mẫu – Thần.

    Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: ” .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành “.

    Từ cổng bước vào, du khách sẽ gặp Ngũ Vân Lâu, gác chuông với 5 cổng lớn xây dựng từ năm Tự Đức. Phía trong là hồ bán nguyệt xây bằng đá. Giữa hồ bán nguyệt có phương du nằm ở giữa và có hai cầu đá dẫn ra ngoài. Phương du gồm có ba gian làm bằng gỗ lim, mái có góc uốn cong, xung quanh lan can được ghép bằng những tường hoa bằng đá với những mảng phù điêu trạm khắc một số loài hoa và những con voi. Phương du có bốn mặt thoáng, là nơi khách đứng xem kéo chữ vào ngày hội.

    Bên trong phủ có 4 cung thờ: kết câu hai cung đệ nhất và đệ nhị đều có 3 gian, và cả 2 đều được xây từ năm Tự Đức (1879). Cả hai cung đều bị giặc Pháp phá hủy mãi về sau mới được tôn tạo lại.

    Cung đệ nhất là chính cung khép kín thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.

    Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).

    Trong Phủ còn dấu tích nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, nét độc đáo còn nằm ở văn bia cùng ngũ vân lâu ngay tại mặt chính của đền, các công trình bố trí chặt chẽ tạo thành thể thống nhất, giữ lại nét giá trị từ ngàn đời.

    Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

    Lăng mộ Thánh Liễu Hạnh nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn cá chép. Ngôi mộ trước kia là bãi đất với lùm cây xanh lá, sau đó được xây thành khu nhỏ gồm gạch lát đá. Sau đó, vua Bảo Đại cầu tự được con và được thánh Mẫu báo mộng cho, năm 1938, vua Bảo Đại biết ơn mẫu và cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen hồng quy mô như hiện nay.

    Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương. Từ ngoài vào bước theo bậc tam cấp lên đến mộ phải qua 5 lớp tường toàn bằng đá được chạm khắc, mỗi lớp tường vuông đều có cửa, cửa được bổ trụ bằng đá vuông với ba mặt đều khắc câu đối và phía trên đặt các nụ sen bằng đá hồng nhạt tới 60 nụ sen đá.

    Xung quanh lăng mộ là hàng cây 4 mùa xanh mát, 4 cột trụ chính đặt 4 góc khiến lăng mộ càng thêm long trọng và trang nghiêm. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở chỗ cao nhất của cả khu lăng. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên.

    Bên cạnh khu lăng mộ còn có một gian nhà thờ tự với kết cấu sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần. Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.

    Hàng năm vào mùa lễ hội, đền đón hàng ngàn khách du lịch về trẩy hội. Hòa chung không khí tấp nập của mùa lễ hội, dân làng và du khách càng thấy hứng khởi đón chào một năm mới đầy thắng lợi./

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.

    Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./

    Các dạng thức thờ Mẫu Thờ Mẫu ở Bắc bộ

    Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,…

    Thờ Mẫu ở Trung Bộ Thờ Mẫu ở Nam bộ

    So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

    Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…

    Liễu Hạnh công chúa

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    (đổi hướng từ Mẫu Liễu Hạnh)

    Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

    Đền thờ Thánh Mẫu, đường Ngô Quyền, thành phố Thông tin chung Đà Lạt

    Tên thật Phạm Tiên Nga

    Liễu Hạnh Công chúa ( chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

    Truyền thuyết

    Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

    Lần giáng sinh đầu tiên

    Căn cứ vào ” Quảng Cung linh từ phả ký”, ” Quảng Cung linh từ bi ký” và ” Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnh như sau:

    Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

    Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

    Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

    Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

    Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

    Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

    Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

    Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

    Tháng Giêng năm Nhâm Thìn ( 1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

    Lần giáng sinh thứ hai

    Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

    Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 ( 1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

    Hành thiện giúp đời

    Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

    Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh ( Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ tân phả của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Cảnh Hồ Tây.

    Ông bèn lên tiếng ghẹo: 三木森庭,坐著好兮女子 – Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

    Người con gái nghe vậy, đối ngay: 重山出路走來使者吏人 – Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

    Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc bèn nói tiếp: 山人憑一几,莫非仙女臨凡 – Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.

    c âu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên . Chữ bàng có bộ kỷ . Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm .

    Cuộc tái hợp với Đào Lang- Người chồng kiếp trước

    Hiện nay những câu đối, những dấu tích về 2 lần gặp gỡ tại Lạng Sơn và Phủ Tây Hồ còn lưu lại ở Đền Mẫu Đồng Đăng (nơi Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh lần đầu) và Phủ Tây Hồ (lần gặp thứ hai)

    Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

    Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

    Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

    Lễ hội

    Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại.

    Cung thờ Sơn Trang trong Phủ Tây Hồ

    Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch – ngày giỗ của bà.

    Địa điểm là:

    Đền Sòng Sơn ở đường Hàng Bột, Hà Nội

    Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ. Riêng lễ hội Phủ Dầy, còn gắn liền với Hội chợ Viềng, họp vào ngày 7 tháng giêng./

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

    • Thiên phủ (miền trời): mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
    • Nhạc phủ (miền rừng núi): mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
    • Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
    • Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

    Tam phủ và Tứ phủ Hát Chầu Văn

    Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thiên Y A Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên . Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.

    Đó là hình thức hầu đồng với 36 giá chầu:

    Thỉnh Mẫu Và Quan Đệ Nhất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo
  • Lên Núi Mâm Xôi Cầu Bình An Trong Ngày Giỗ Đức Thánh Trần
  • Thiêng Liêng, Ngày Giỗ Đức Thánh Trần
  • 20/8 (Âm Lịch) Lễ Giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo
  • Giải Thích Câu Ca Dao: “dù Ai Đi Ngược Về Xuôi. Nhớ Ngày Giỗ Tổ Mùng Mười Tháng Ba”
  • Tìm Hiểu Bài Văn Khấn Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương Mới Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Ngày Giỗ Thường (Cát Kỵ)
  • Cách Chuẩn Bị Và Bài Văn Khấn Giỗ Tổ Ngành May Chuẩn Nhất
  • Download Văn Khấn Cúng Giỗ Tổ Nghề May
  • Văn Khấn Các Vị Thần Linh Vào Ngày Tiên Thường Chuẩn Tập Tục Việt Nam
  • Văn Khấn Ngày Giỗ Ông Nội
  • Dân gian ta có câu: “Dù ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”. Giỗ tổ Hùng Vương là một trong những nghi thức trọng đại của toàn thể dân tộc để tưởng nhớ đến công lao của các vị vua Hùng đã có công dựng nước. Vậy văn khấn ngày giỗ tổ Hùng Vương như thế nào? Để biết thêm chi tiết về vấn đề này mời bạn theo dõi bài chia sẻ sau đây của xoso88.net.

    Bài văn khấn ngày giỗ tổ Hùng Vương chuẩn tâm linh

    Dựa trên các tài liệu phong thủy và văn khấn cổ truyền thì bài văn khấn ngày giỗ tổ Hùng Vương như sau:

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.

    Con kính lạy các Vua Hùng linh thiêng, gây dựng nên đất Tổ.

    Hương tử con là………………………………………………..Tuổi………….

    Ngụ tại……………………………………………………………………….

    Hôm nay là ngày…… tháng……năm………………..(Âm lịch) Nhân ngày giỗ Tổ

    Hương tử con đến nơi……………Đền thờ Vua Hùng thành tâm kính nghĩ: Vua Hùng và các bậc tổ tiên đã có công dựng nước, tạo nên giang sơn đất nước mấy nghìn năm, luôn ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

    Cầu mong cho các Vị Vua Hùng luôn giữ mai uy nghiêm và linh thương để bảo vệ nước, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Phục duy cẩn cáo!

    Bài cúng giỗ tổ Hùng Vương được sử dụng phổ biến nhất

    Bài văn khấn ngày giỗ tổ Hùng Vương được người dân sử dụng phổ biến như sau:

    Nam mô a di đà Phật! (3 lần)

    Kính lạy chín phương trời đất, Mười phương chư Phật, Thánh hiền.

    Lạy các Vua Hùng linh thiêng, Gây dựng đất này Tiên tổ.

    Con tên là…… địa chỉ……………

    Nhân ngày Giỗ tổ con xin gởi đến đấng bề trên chút hương hoa lễ phẩm thể hiện lòng thành của gia đình con đến các Vua Hùng và các bậc tổ tiên.

    Kính xin độ trì phù hộ,

    Mọi chuyện tốt lành bình an.

    Bách bệnh giảm trừ tiêu tan,

    Điều lành mang đến vẹn toàn. Điều dữ mang đi, yên ổn.

    Đi đến nơi, về đến chốn,

    Tai qua nạn khỏi tháng ngày

    Cầu được ước thấy, gặp may, Mọi điều hanh thông, thuận lợi.

    Con cái học hành tấn tới, Ngoan ngoãn nghe lời mẹ cha. Thi đỗ lớp gần, trường xa, mát mặt gia đình làng nước.

    Tình duyên gặp người kiếp trước, Ý trung nhân… xứng muôn phần.

    Tình xa duyên thắm như gần, Suốt đời yêu thương nhất mực.

    Đi làm… thăng quan tiến chức, Buôn bán một vốn bốn lời.

    Hạnh phúc thanh thản một đời.

    Nam mô a di đà Phật!

    Kính lạy cao xanh Trời đất, Lạy các Vua Hùng linh thiêng. Đức Thánh Trần cõi người hiền, Muôn đời độ trì phù hộ!

    Nam mô a di đà Phật! (cúi lạy 3 cái)

    Bài văn tế ngày giỗ tổ Hùng Vương

    Việt Nam, ngày 10 tháng 3 năm 4897 Việt lịch. Tế chủ thành tâm chắp tay cúi đầu đảnh lễ dâng hương, kính cáo cùng:

    Tiên Linh Thủy tổ Việt tộc Kinh Dương vương Lộc Tục

    Tiên Linh Việt tổ phụ Lạc Long Quân Sùng Lãm

    Tiên Linh Việt tổ mẫu Âu Cơ

    Tiên Linh 18 đại Hùng Vương

    Tiên Linh tiên vương các triều đại

    Tiên Linh các Anh hùng Liệt nữ

    Tiên Linh trăm họ Âu Lạc Việt

    Cáo rằng:

    Nước có nguồn, cây có cội

    Chim có tổ, người có tông

    Bảo tồn bản sắc cội nguồn để làm người không vong bản

    Ghi nhớ công nghiệp tiên tổ cho con cháu biết giống dòng

    Nhớ chư tổ linh xưa,

    Lĩnh Nam một dải hoang vu, công khai phá mồ hôi tràn Đông Hải

    Âu Lạc hai dòng hợp nhất, giữ giống nòi máu đỏ đẫm Hoa Nam

    Tiếng BỐ ƠI rươm rướm lệ dân Hùng

    Lời LY ƯỚC nỉ non đàn chim Việt

    Nào bảo bọc dân ương

    Nào chăm lo dân hạnh

    Chống giặc tự thiếu niên, tài Thánh Gióng vang danh Phù Đổng

    Ngăn sông bằng đức tịnh, hạnh Sơn Tinh rạng rỡ Tản Viên

    Lo nông tang như An Tiêm, hoang đảo thành đồng dưa trù phú

    Tình bao la như Đồng Tử, thành trì hóa dạ trạch phiêu diêu

    Gương hiếu đạo mộc mạc Lang Liêu

    Tình sắc son thủy chung Cao thị

    Trống đồng dội vạn thù khiếp vía

    Đàn đá reo muôn dân ca xang

    Hai nghìn sáu trăm năm dư là bản hùng ca thần công Bắc địch

    Mười tám triều đại nguyên sơ là nôi văn minh thánh tích Nam di

    Than ôi,

    Một phút sa cơ, ngàn năm quốc hận

    May nhờ,

    Thiên đức Việt tổ, triệu dân đồng lòng

    Chống giặc Bắc, núi sông là hầm chông hào lũy

    Hóa dân Nam, chương đạo thay kiếm kích binh đao

    Qua gian khó dập dồn, nước non lại đến kỳ thái bình độc lập

    Bao chiến công vang dội, con cháu giữ tròn dải gấm vóc non sông

    Tuy 54 dân tộc anh em đoàn kết một lòng

    Nhưng năm ngàn năm văn hiến chưa xứng đền ơn nghĩa cả

    Kính lạy chư linh, chúng con nay:

    Mượn nhang đèn thể hiện lòng thành

    Dâng bánh trái hàm ơn tiên tổ

    Nguyện rằng:

    Xem núi sông là máu thịt, quyết bảo toàn từng tấc đất, không phụ chí tổ vương

    Tiếp văn hóa từ muôn phương, gắng thu nhập từng phát minh, dựng văn minh Việt tộc

    Cố sao cho: Trống trường mãi rền vang, cáo thế giới “Việt sư hưng Việt quốc”

    Chiêng quốc lễ ngân dài, nhắc nhân tâm “Nam đế trị Nam bang”

    Thắp trăm nén nhang

    Lòng thành đảnh lễ

    Linh thiêng chư tổ

    Chứng giám lòng thành

    Nhất tâm hồi hướng Việt tổ thánh linh đăng đàn thụ lễ

    phiêu thạch ba

    Cẩn bút

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Ngày Giỗ Thường Cúng Ông Bà, Cha Mẹ Hàng Năm.
  • Văn Khấn Giỗ Tổ Hùng Vương Tại Nhà. Bạn Đã Biết?
  • Văn Khấn Cúng Và Cách Cúng Trong Khi Cúng Giỗ Gia Tiên
  • Hiểu Biết Hơn Về Ngày Cúng Giỗ Gia Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ
  • Văn Khấn Gia Tiên Ngày Giỗ Tiên Thường (Cát Kỵ)
  • Ý Nghĩa Mâm Ngũ Quả Bằng Tiếng Anh Trong Văn Hóa 3 Miền

    --- Bài mới hơn ---

  • Tả Mâm Ngũ Quả Nhà Bạn Bằng Tiếng Anh
  • Mâm Ngũ Quả Ngày Tết 3 Miền: Bày Loại Quả Nào Để Tài Lộc Dồi Dào?
  • Mắc Những Sai Lầm Này Khi Bày Mâm Ngũ Quả Đừng Trách Sao Thần Tài Lộc Không Đến Gõ Cửa
  • Cách Bày Mâm Ngũ Quả Đầy Đủ Và Đúng Nhất Để May Mắn Kéo Về, Thần Linh Phù Hộ, Làm Gì Cũng Thành Công
  • Cách Bày Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Miền Bắc Miền Nam
  • Ý nghĩa từng loại trong mâm ngũ quả bằng tiếng Anh

    Mâm ngũ quả bao gồm 5 loại quả khác nhau và mỗi loại chính là tượng trưng cho một ước nguyện của gia chủ, thông qua các tên gọi và màu sắc của chúng. Ngoài ra, “ngũ” còn thể hiện cho ước muốn của những người con đất Việt đạt được ngũ phúc lâm môn: Phúc, Quý, Thọ, Khang, Ninh.

    The five fruits tray consists of 5 different types of fruits and each is a symbol of a homeowner’s wish, through their names and colors. In addition, “five” also expsses the desire of Vietnamese people to achieve the five blessings of forestry: Phuc, Quy, Tho, Khang, Ninh.

    Tùy theo văn hóa từng vùng miền cùng với đặc trưng về khí hậu, sản vật và quan niệm riêng mà người ta chọn các loại quả khác nhau để có thể bày mâm ngũ quả.

    Depending on the culture of each region along with the characteristics of climate, products and personal notions, people choose different fruits to display five fruits tray.

    Chuối: Một tượng trưng cho con cháu sum vầy, con đàn cháu đống quây quần, đầm ấm, cùng nhau hứng lấy may mắn, bao bọc và chở che.

    Phật thủ: Tượng trưng cho bàn tay phật che chở cho cả gia đình.

    Bưởi: Mong muốn cho gia đình một năm mới an khang, thịnh vượng.

    Quả lê hay dưa lê: Tượng trưng cho sự thành đạt, thăng tiến cả trong công việc và tình cảm.

    Cam, quýt: Tượng trưng cho sự thành đạt phát triển đi lên.

    Lê: Vị ngọt thanh, ngụ ý việc gì cũng trơn tru, suôn sẻ gặp nhiều may mắn.

    Bananas: A symbol for the grandchildren and grandchildren, the grandchildren gather together, warm, get together for luck, wrap and cover.

    Buddha’s hand: Symbolizes the Buddha’s hand to protect the whole family.

    Grapefruit: Wishing for a happy and prosperous new year for the family.

    Orange and tangerine: Symbolizing the development success.

    Le: Sweet and sweet, implying that everything is smooth and smooth with lots of luck.

    Lựu: Nhiều hạt, tượng trưng cho con cháu đề huề.

    Đào: Thể hiện sự thăng tiến vượt bậc trong công việc.

    Táo: Phú quý, giàu sang, tiền vào như nước.

    Thanh long : Rồng mây hội tụ, phúc quý đương vinh, thể hiện sự phát tài phát lộc.

    Pomegranate: Many seeds, symbolizing descendants to draw.

    Dao: Demonstrating great progress at work.

    Apples: Rich, rich, rich in water.

    Dragon fruit: Dragon clouds converge and glorify the glory, expssing the financial development.

    Dưa hấu: Căng tròn, mát lành, hứa hẹn sự ngọt ngào, may mắn và duyên thầm.

    Quả trứng gà: Lộc trời cho, cao quý và trong sáng.

    Sung: Gắn với biểu tượng sung mãn, sức khỏe và tiền bạc, động lực phấn đấu.

    Đu đủ: Thịnh vượng, đủ đầy, ấm no chan hòa.

    Xoài (phát âm giống như “xài”): Cầu mong cho việc tiêu xài thoải mái không thiếu thốn.

    Watermelon: Round, cool, promising sweetness, luck and grace.

    Chicken eggs: Heavenly and beautiful, noble and pure.

    Sung: Attached to the symbol of fullness, health and money, motivation strives.

    Enough: Prosperity, full, warm.

    Mango (pronounced like “spend”): Pray for comfortable spending without shortage.

    Từ vựng tiếng Anh về các loại trái cây sử dụng trong mâm ngũ quả

    Avocado: /¸ævə´ka:dou/: bơ

    Apple: /’æpl/: táo

    Orange: /ɒrɪndʒ/: cam

    Banana: /bə’nɑ:nə/: chuối

    Grape: /greɪp/: nho

    Grapefruit (or pomelo) /’greipfru:t/: bưởi

    Starfruit: /’stɑ:r.fru:t/: khế

    Mango: /´mæηgou/: xoài

    Pineapple: /’pain,æpl/: dứa, thơm

    Mangosteen: /ˈmaŋgəstiːn/: măng cụt

    Mandarin (or tangerine): /’mændərin/: quýt

    Kiwi fruit: /’ki:wi:fru:t/: kiwi

    Kumquat: /’kʌmkwɔt/: quất

    Jackfruit: /’dʒæk,fru:t/: mít

    Durian: /´duəriən/: sầu riêng

    Lemon: /´lemən/: chanh vàng

    Lime: /laim/: chanh vỏ xanh

    Papaya (or pawpaw): /pə´paiə/: đu đủ

    Soursop: /’sɔ:sɔp/: mãng cầu xiêm

    Custard-apple: /’kʌstəd,æpl/: mãng cầu (na)

    Plum: /plʌm/: mận

    Apricot: /ˈæ.prɪ.kɒt/: mơ

    Peach: /pitʃ/: đào

    Cherry: /´tʃeri/: anh đào

    Sapota: sə’poutə/: sapôchê

    Rambutan: /ræmˈbuːtən/: chôm chôm

    Coconut: /’koukənʌt/: dừa

    Guava: /´gwa:və/: ổi

    Fig: /fig/: sung

    Dragon fruit: /’drægənfru:t/: thanh long

    Melon: /´melən/: dưa

    Watermelon: /’wɔ:tə´melən/: dưa hấu

    Lychee (or litchi): /’li:tʃi:/: vải

    Longan: /lɔɳgən/: nhãn

    Pomegranate: /´pɔm¸grænit/: lựu

    Berry: /’beri/: dâu

    Strawberry: /ˈstrɔ:bəri/: dâu tây

    Passion-fruit: /´pæʃən¸fru:t/: chanh dây

    Persimmon: /pə´simən/: hồng

    Tamarind: /’tæmərind/: me

    Cranberry: /’krænbəri/: quả nam việt quất

    Jujube: /´dʒu:dʒu:b/: táo ta

    Dates: /deit/: quả chà là

    Green almonds: /gri:n ‘ɑ:mənd/: quả hạnh xanh

    Ugli fruit: /’ʌgli’fru:t/: quả chanh vùng Tây Ấn

    Citron: /´sitrən/: quả thanh yên

    Currant: /´kʌrənt/: nho Hy Lạp

    Ambarella: /’æmbə’rælə/: cóc

    Cobra melon ‘koubrə ´melən/: dưa gang

    Granadilla: /,grænə’dilə/: dưa Tây

    Cantaloupe: /’kæntəlu:p/: dưa vàng

    Honeydew: /’hʌnidju:/: dưa xanh

    Malay apple: /mə’lei ‘æpl/: điều

    Star apple: /’stɑ:r ‘æpl/: vú sữa

    Almond: /’a:mənd/: quả hạnh

    Chestnut: /´tʃestnʌt/: hạt dẻ

    Honeydew melon: /’hʌnidju: ´melən/: dưa bở ruột xanh

    Blackberries: /´blækbəri/: mâm xôi đen

    Raisin: /’reizn/: nho khô

    Five fruits in the North

    Người miền Bắc thường bày mâm ngũ quả theo thuyết Ngũ hành trong văn hóa phương Đông là vạn vật dung hòa cùng trời đất. Chính vì thế, mâm ngũ quả cũng phải phối theo 5 màu chính tượng trưng cho các mệnh ứng với các thành viên trong gia đình: Kim quy định màu trắng, Mộc màu xanh, Thủy màu đen, Hỏa thì màu đỏ và Thổ là màu vàng. Cách sắp xếp và trang trí màu sắc cho từng loại quả xen kẽ với nhau để đẹp mắt, hợp phong thủy ngày Tết. Tuy không câu nệ đến vấn đề số lượng nhiều hay ít, nhưng hầu hết tất cả các gia đình Việt đều sắm đủ lễ, đủ các loại, hoa quả phải thuận theo ý nghĩa tượng trưng cho những điều tốt đẹp để bày cúng.

    Mâm ngũ quả miền Bắc thường có 5 loại quả chính: Chuối, bưởi, đào, hồng, quýt.

    The five fruits of the North usually have 5 main fruits: Banana, pomelo, peach, pink and tangerine.

    Cách trình bày mang đậm phong vị truyền thống là: Chuối ở dưới cùng như một sự nâng đỡ và đoàn kết của các con cháu, đỡ lấy toàn bộ các loại quả khác. Chính giữa là quả bưởi hoặc phật thủ vàng tượng trưng cho sự tối cao và nằm ở vị trí cao nhất trung tâm, tượng trưng cho sự bao bọc che chở và mang tới những điều may mắn tốt đẹp cho tất cả các thành viên trong gia đình. Các loại quả bày xung quanh giống như sự phù trợ riêng cho những người thân xung quanh. Những chỗ còn trống sẽ được cài xen kẽ với quýt vàng, táo xanh, hoặc những quả ớt chín đỏ, tạo nên màu sắc và sự vui vẻ hạnh phúc.

    The psentation of the traditional style is: Bananas at the bottom as a support and solidarity of descendants, supporting all other fruits. The middle is the grapefruit or the golden buddha symbolizing the supme and lies in the highest position of the center, symbolizing the protection covering and bringing good luck to all members of the family. family. The fruits are displayed around like a special support for the relatives around. The vacant places will be installed alternately with golden tangerines, green apples, or red chili peppers, creating color and happy happiness.

    Do hoa quả, trái cây ngày càng phong phú và đa dạng nên mâm ngũ quả của các gia đình trong ngày Tết càng đặc sắc và mang tới nhiều sự khác biệt cũng như có cách bày phối ấn tượng hơn, người ta cũng không câu nệ một cách cứng nhắc “ngũ quả” nữa mà có thể thêm là bát, cửu, thập quả, thêm chùm nho mọng, thêm táo xanh, ớt đỏ, hồng xiêm… Dù cho việc bày biện nhiều loại quả hơn nhưng người ta vẫn gọi chung đó là “mâm ngũ quả”.

    Because fruits and fruits are increasingly rich and perse, the five-fruit tray of families on Tet holiday is more unique and brings many different things as well as the way to distribute more gracefully. rigidly “the five fruits” can be added as a bowl, a cup, a fruit, a bunch of berry grapes, a green apple, a red chilli, a red rose … Although it is more fruitful, people still call They are “five fruits tray”.

    Ý nghĩa mâm ngũ quả miền Trung bằng tiếng Anh

    Five fruits of Central Vietnam

    Khúc ruột miền Trung nghèo khó với những thiên tai bão lũ quanh năm, đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt, ít hoa quả nên người dân sinh sống ở nơi đây cũng không quá câu nệ đến hình thức và ý nghĩa mâm ngũ quả ngày Tết, chủ yếu là có gì cúng nấy và thành tâm dâng kính tổ tiên. Bởi thế, nên mâm ngũ quả của mỗi nhà lại có sự khác nhau, quả gì cũng được, miễn là tươi ngon.

    The poor Central Vietnam guts with year-round storms and floods, barren land, harsh climate, few fruits so people living here are not too fond of the form and meaning of five fruits tray. on New Year’s Day, there are mostly offerings and sincere offerings of ancestral glasses. Therefore, the five fruits tray of each house is different, whatever it is, as long as it is fresh.

    Các loại quả thường thấy có thể kể đến như là: Thanh long, chuối, dưa hấu, mãng cầu, dứa, sung, cam, quýt…

    Common fruits can be mentioned as: dragon fruit, banana, watermelon, custard apple, pineapple, fig, orange, tangerine …

    Ý nghĩa mâm ngũ quả miền Nam bằng tiếng Anh

    Five fruits of the South

    Người miền Nam ta bày mâm ngũ quả theo mong muốn “Cầu sung vừa đủ xài” ước mong cho một năm mới đủ đầy, sung túc, tương ứng với 5 loại quả mang đặc trưng phong vị riêng theo những đặc trưng riêng của thời tiết cũng như khí hậu như: Mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài. Ngoài ra, tùy và các gia đình còn có thêm các loại quả như dứa với mong muốn con cháu đầy nhà và đi cùng với nó là một cặp dưa hấu xanh vỏ đỏ lòng để cầu cho những điều may mắn sẽ đến với tất cả chúng ta.

    The Southern people show the five fruits tray according to the desire “Just enough to spend” the desire for a new year full and prosperous, corresponding to 5 types of fruits with specific taste according to the specific characteristics of the weather as well as climate such as: Soursop, fig, coconut, papaya, mango. In addition, depending on the families, there are also fruits such as pineapple with the desire to fill the house and accompany it a pair of red-skinned green watermelons to pray for good luck.

    Mâm ngũ quả ngày Tết của người miền Nam được thể hiện rõ tính bình dị và dân dã và hóm hỉnh. Mỗi người có một cuộc sống cũng như mong muốn khác nhau, biết là nào là “đủ”, nhưng trong gia đình thì các thành viên đều mong muốn cũng chỉ cần đầy đủ mà thôi.

    The five fruits of Tet holiday of the Southern people are clearly shown the idyllic and rustic and witty. Each person has a different life and desire, knows what is “enough”, but in the family, the members want to be full.

    Người miền Nam chúng ta kỵ nhất là cúng một số loại quả vì theo phát âm tên gọi của chúng mang đến ý nghĩa không tốt, như:

    We Southern people are the most afraid to offer some kind of fruit because according to the pronunciation of their name, it means not good, like:

    Chuối: Chúi nhủi, làm ăn không phất lên được, họ quan niệm rằng loại quả này sẽ mang tới những điều không may mắn trong làm ăn kinh doanh.

    Bananas: Bunching, doing business does not float up, they conceive that this fruit will bring unfortunate things in doing business.

    Lê, táo (bom): Lê lết, đổ bể và dễ thất bại.

    Pears, apples (bombs): Pitted, broken and easy to fail.

    Cam, quýt: Quýt làm cam chịu, những người dân trong khu vực miền Nam quan niệm rằng trong năm mới sẽ không có sự bất công nào cho chính gia đình nhà mình.

    Orange and tangerine: Tangerines do doomed, the people in the Southern region believe that in the new year there will be no injustice for their own families.

    Ý nghĩa mâm ngũ quả bằng tiếng Anh không những giúp các bạn có thể luyện tập ngôn ngữ chung mà có thể cung cấp những thông tin về nét đẹp văn hóa đặc trưng của người dân đất Việt, dù có những nét khác nhau giữa các vùng miền nhưng trên hết đều thể hiện sự thành kính hướng về nguồn cội, tổ tiên và cùng nhau ước mong cho một năm mới an khang, hạnh phúc và đủ đầy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Bày Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Ý Nghĩa Nhất
  • 10+ Cách Trình Bày Mâm Ngũ Quả Ngày Tết, Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất 2021
  • Hướng Dẫn Chị Em Cách Trình Bày Mâm Ngũ Quả Đẹp Mà Đơn Giản Nhất
  • Cách Chọn Và Bày Mâm Ngũ Quả Đẹp Chưng Bàn Thờ Ngày Tết
  • Những Lưu Ý Khi Bày Mâm Ngũ Quả Để Bàn Thờ Hút Tài Lộc
  • Văn Khấn Bài Cúng Thất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Cúng Khấn Ngày Giỗ Thường
  • Bài Cúng Rước Ông Bà Ngày Tết Canh Tý 2021 Chuẩn Nhất
  • Bài Cúng 30 Tết Chuẩn Cho Năm 2021
  • Bài Văn Khấn Ở Nhà Thờ Họ Đầy Đủ Chính Xác
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Nhà Thờ Họ
    • Cúng thất là một nghi lễ Phật giáo thỉnh thoảng tôi cũng hay được mời tham dự nơi những ngôi chùa, do chư tăng cử hành. Nếu những nghi lễ khi tang lễ có thể có mặt nhiều người ngoài gia đình, họ hàng, thì cúng thất thường chỉ bao gồm những người thân trong gia đình người quá cố, và một số ít họ hàng thân thuộc, cúng thất có thể được cử hành tại gia với những nhà sư được mời tới nhà, nhưng thường được cử hành tại chùa, là nơi thờ phượng đặt tro cốt của người quá cố.
    • Cúng thất là một nghi thức quan trọng bên Phật giáo dành cho người mới khuất, cúng thất bao gồm 7 thất, mỗi thất 7 ngày, vị chi là 49 ngày kể từ ngày mất. Theo quan niệm truyền thống dân gian, con người khi sinh ra sau 7 ngày thì được một lạp, và khi mất sau 7 ngày thì được một kỵ. Mỗi lạp thì sinh ra một vía, còn mỗi kỵ thì mất đi một vía. Con người có 7 vía (chúng ta thường hay nghe nói réo 3 hồn 7 vía), cho nên người ta có lệ cứ 7 ngày sau khi mất cúng một lần, gọi là cúng thất, tất cả bao gồm 7 thất, thất cúng cuối cùng gọi là chung thất, trọn 49 ngày,
    • Trong kinh Địa Tạng của Phật giáo, có nói đến trong 49 ngày nếu tạo được nhiều phước lành cho người đã khuất, thời có thể cứu người đã khuất khỏi đọa vào chốn ác đạo, và được sinh lên cõi thiện. Đối với thân quyến hiện tại cũng được nhiều phước lành. Cứ 7 ngày như thế là một tuần chay, cúng 7 tuần chay trọn 49 ngày gọi là “Thất thất lai tuần”. Như chúng ta đã biết triết lý Phật giáo tin rằng khi chưa dứt khỏi luân hồi, thì con người luân hồi trong lục đạo, gồm 3 ác đạo là Súc sanh, Ngạ quỷ, Đia ngục, và 3 thiện đạo là Cõi người, A tu la (Phi thiên), và Thiên.
    • Tín ngưỡng Phật giáo tin rằng trong vòng 49 ngày sau khi mất (Thân trung ấm), là thời gian hồn phách của con người chờ được xem xét để tái sinh trong lục đạo (một trong sáu cõi kể trên). Nếu thực vật chỉ có một phần sinh hồn, động vật (các loài vật) có sinh hồn và giác hồn, thì con người có sinh hồn, giác hồn, và linh hồn (3 hồn 7 vía).
    • Trong vòng 49 ngày mất chúng ta thường thấy mỗi ngày người trong gia đình cúng cơm cho người đã khuất, cúng cơm này là cúng cho người đã khuất hưởng khi chưa biết sẽ về đâu. Nhưng cúng thất không phải là cúng cho người đã khuất, mà đây là lễ vật dâng cúng lên chư Phật, Bồ Tát để cầu xin vong linh được tiếp dẫn, siêu thoát về nơi Thiện đạo (3 cõi lành trong 6 cõi luân hồi).
    • Trong nghi lễ cúng thất được cử hành tại chùa tôi đã có dịp tham dự, thường thấy có một vài cho đến vài chục chư tăng cử hành lễ, tùy theo yêu cầu của gia chủ. Như vào dịp An cư kiết hạ vừa rồi, nhân có các chư tăng về an cư, tại một Tu viện Phật giáo tôi đã được tham dự một lễ cúng chung thất có đến 50 chư tăng hành lễ, rất trang trọng và ấn tượng. Tôi cũng thường thấy trong nghi lễ có phóng sinh chim chóc để cầu phước cho người quá vãng.
    • Nhân đây tôi cũng muốn nói thêm về một tục lệ dân gian chúng ta thường thấy trong đám tang tôi đã đọc được trong sách vở, là tục đội mũ rơm, thắt lưng bằng dây gai dây chuối, và chống gậy tre hay gậy vông. Nguyên do của tập tục này lại chính là để bảo vệ an toàn cho thân nhân người quá cố. Ngày xưa đường xá chật hẹp, người quá vãng thường được an táng nơi đồng ruộng, hay trên núi. Đường xá đi lại trơn trượt, khó khăn, đã có trường hợp sau mấy ngày tang ma mệt mỏi, người đi đưa mất thăng bằng ngã đập đầu hay rơi xuống vực, cũng có khi con cái quá thương tiếc tự đập đầu gây thương tích. Để tránh những điều đó người ta mới làm ra những chiềc mũ bện bằng rơm cho người thân đội (tạo an toàn khi va đập giống như mũ bảo hộ chạy xe gắn máy bây giờ). Áo tang lụng thụng dễ vướng víu vấp ngã nên được buộc lại bằng giây chuối, giây lạt, còn cây gậy chống cũng có tác dụng đi lại thêm vững chắc trên đường trơn trượt hay đường núi gập ghềnh. Tục phân biệt tang cha chống gậy tre còn tang mẹ chống gậy vông.

    Bài văn khấn, cúng làm tuần ( cúng vong ) hoặc lễ cúng 7, 14, 21, 28, 35, 42, 49, 100 ngày người mất. khấn vái cúng thất tuần người mới mất

      VĂN CÚNG LÀM TUẦN

      CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

      ……………….tỉnh,……………..huyện,……………….xã,………….thôn, ………….xứ chi nguyên. Tuế Thứ………..niên,………………….ngoạt,………………..nhựt Tư nhơn trưởng nam…………..Hiền thê………………cùng toàn gia đẳng. Cung lễ……………phụ thân ( mẫu thân)…………trọng phủ………………..trọng nương;……………..quận. Từ trần ngày……….tháng……….năm……….hưởng………tuổi. Thành tâm cẩn dụng…hương đăng hoa quả thanh chước thứ phẩm chi nghi. Cẩn ủy hiếu bái…………………..cẩn dĩ phỉ nghi. ĐIẾU CÁO VU – Thiết niệm ngài (1)Thái Quản nhờ ơn độ dẫn vong linh phục vị vong chánh hồn chi vị. – Cung niệm hiển khảo (tỷ) …….trọng………..quận phần hồn chi vị lễ tuần linh. Toàn gia đẳng xin bái khấp phụ (mẫu) thân. Thương thay xin thượng hưởng lễ (2) sơ tuần thất nhựt tuần (3) 7 ngày. Qui linh an lạc miền tiên cảnh. Xin phò hộ con cháu gia nương bình an.

      HIẾU TƯ CẨN CÁO DI

    Nên Cúng Cơm Cho Người Chết Như Thế Nào Và Trong Bao Lâu?

      Theo nhà Phật giáo lý “sanh lão bệnh tử” là quy luật tự nhiên trong quá trình duyên khởi, giúp cho con người có ý thức hệ về cuộc sống ra sau cho tốt, sống như thế nào có ích lợi cộng đồng và theo quy luật tất yếu nghiên cứu tu hành giải thoát khổ đau sanh tử luân hồi. Sanh lão bệnh tử là quy luật tất yếu nhưng không có tín điều sắp sẳn, được áp dụng cho chúng sanh chung và con người trên hành tinh, có công năng giúp cho con người giác ngộ. Sanh trụ dị diệt là lực đẩy, không ai có thể tránh những quy luật cộng đồng. Sống chết là việc có sẵn trong cuộc đời, từ giáo lý nầy mà nhà Phật cân nhắc để chúng sanh giác ngộ, hướng dẫn chúng sanh nhất là con người có thể vượt quy luật sống chết bằng cách sống theo đời sống tâm linh. Vì tâm linh thì vô biên, vô bờ bến, không sanh không diệt, tức là không có sanh ra nên không có chết đi và không có tìm kiếm sự tồn tại nên không trốn chạy sự hủy diệt, bất sanh bất diệt là thường trụ niết bàn. Phật là tĩnh thức giác ngộ. giác ngộ thì không còn nằm trong quy luật sanh tử, thành, trú, họai, không nữa. Tuy nhiên, nhà Phật cũng dạy, con người do mang thân tứ đại, gồm đất, nước, lửa, gió, thêm cả thức đại, không đại, nên có hòa hiệp, có tan rã, có hiện tiền có họai diệt, tức có sống, có chết. Con người từ Vua đến Quan đến hàng thứ dân, dân giả giàu nghèo khi hưng thời thì oai phong lẫm liệt, lúc già cỗi hưu trí ngẫm nghĩ lại cuộc đời, có sự tiếc nuối sợ chết, sợ tử thần đến viếng nhà thì không ổn. Từ khi có giáo lý Đức Phật con người không còn kinh hoàng trước cái tham sống sợ chết nữa.

    Phong tục tập quán

    • Phong là phong hóa, một thói quen nhất định của một dân tộc, của người địa phương trở thành nếp văn hóa chung của một dân tộc. Tục là tuc lệ những thói quen không bỏ được nhự tục ăn trầu, hút thuốc, tục đám ma chay rườm rà…Tuy nhiên, có thời điểm những phong tục trở thành lạc hậu, chỉ còn là một nếp văn hóa của một dân tộc địa phương nào đó trong đời người. Tập quán là thói quen của con người trong một vùng miền hay một quốc gia, tập quán con người trong một sớm một chiếu khó có thể bỏ được và nếu có bỏ chỉ là thời điểm lịch sử, ví như người dân quê Việt Nam đến mùa cấy thì có người đứng đầu trong “vạn cấy” thổi tù và để gom công, Tuy nhiên, ngày nay có thể bỏ khi người nông dân phục vụ cho nông trường làm tính giờ, không tính công.
    • Phong tục tập quán về việc tổ chức tang lễ của người Việt. Nói đến tang lễ là nói đến chết, nói đến chết là nói đến việc làm đám tang (tang lễ). Chúng ta sẽ tìm hiểu một số lễ tang của các nước lân bang và Việt Nam, sau đó sẽ bàn đến chi tiết khi gia đình hữu sự và hậu sự thực hiện các nghi cúng cho đủ lễ
    • Lễ tang cho gia đình Phật tử theo hệ thống Phật giáo Nam tông, cụ thể như ở vương quốc Lào là nước thuộc quốc giáo Phật giáo nguyên thủy. Trong gia đình có người qua đời tất cả đều vui, hát ca ngâm vịnh, rượi thịt, vui vì người thân sẽ chuyển sang kiếp khác sung sướng hơn, bà con hàng xóm láng giềng tụ tập phụ khâm liệm người chết, đặt áo quan vào một gốc nhà, cho hàng xóm láng giềng đến cúng lạy. Mọi người đến viếng lễ tang được mời sang nhà khác đãi ăn uống, lễ tang được tổ chức ba ngày, hoặc bốn ngày tùy theo quý Sư phán định. Ngày cuối cùng tang chủ và mọi người đem đi hỏa thiêu, sau đó hốt tro cốt đem vào chùa gần nhất phụng thờ. Từ đó mỗi năm gia đình đến thăm cúng giỗ, cúng dường chùa (Bài học thêm – sách địa lý Lớp Đệ Nhất 1969 – nói về phong tục lễ táng của người Lào)
    • Lễ tang xứ Tây Tạng-Trung Quốc, là xứ sở có đá không có đất, không có rừng, không có gỗ làm củi. Gia đình có người qua đời, sau khi làm lễ tang xong, đội mai táng đem người chết ra bãi tha ma, phân thây người chết bằng cách, chặt từng mảnh nhỏ thân thể người chết, bằm nhỏ cho loài chim kên kên đến tha mổ ăn cho đến khi hết những phần thịt xương của người chết mới thôi, phong tục nầy gọi là “điểu táng” (Ánh sáng Á châu – Đoàn Trung Còn)
    • Lễ tang theo Phật giáo Hòa Hảo ở An Giang, miền Tây Nam phần Việt Nam. Ban Tổ chức thường đến tụng kinh cầu an lúc sanh tiền, đến khi chết tụng kinh cầu siêu cho vong hồn người chết nghe kinh, nghe niệm Phật mà siêu thoát về với Phật A Di Đà. Lễ Tang chỉ tổ chức một ngày từ sáng đền chiều, thì động quan an táng gọi là “tử là táng”. Lễ tang theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Tứ Ân ở Ba Chúc, huyện Tri Tôn, Nhà Lớn Ông Trần ở Long Sơn, Bà Rịa thì con người sau khi chết thân xác được bó trong 7 “nẹp tre” khiêng đem đi chôn trong vòng một ngày đó. Điều ngày có nghĩ tang lễ cũng theo phung tục tập quán “tử là táng” chết là chôn cất, không coi ngày giờ năm tháng xấu hay tốt lành chi cả (Tổ đình Thành An – Thích Minh Tâm). Tục nầy giúp cho con người tự tin hơn vì không tin vào lý số, nên không có ngày kỵ, không hao tốn tiền của, không sát sanh hại vật.

    Lễ phạn hàm

    • Những việc làm trong lễ tang thì nhiều, thật là phức tạp. Một Thầy cúng khi lãnh đàm quý Thầy thực hiện từng chi tiết nhỏ không sai sót chút nào. Khi người thân trút hơi thở, gia quyến sẵn sàng làm các việc gần gũi người thân, như làm lễ hú hồn, lễ đốt đồ cũ. Người Phật giáo thì dọn dẹp hết tất cả các vật dụng của người chết, vật dụng của gia đình, ghế đẳng sắp xếp có thứ lớp để mọi người đi tới lui không dụng chạm khua động lớn, làm chấn động người chết, thần thức nổi sân sẽ bị đọa lạc. Gia đình thỉnh đạo tràng nam nữ Phật tử chùa gần nhất đến hộ niệm, niệm Phật đến qua khỏi 8 tiếng đồng hồ đến khi thân xác hoàn toàn không còn cảm giác “sống” đau đớn, hoặc cho đền khi làm lễ khâm liệm.
    • Lễ phạn hàm: Tiếp theo là làm lễ phạn hàm, hay ngậm hàm, phạn là lương thực cơm gạo, hàm là ngậm, tức là bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền (đồng kẽm, đồng chinh) vào miệng người chết. Gạo để linh hồn người chết ăn, khỏi phải thành ma đói ( ngạ quỷ). Tiền dùng để đi đò hay qua cầu sang bên kia thế giới. Những người lúc sống ăn ở bạc ác thì lúc chết linh hồn phải qua cầu Nại hà. Người lương thiện được qua cầu Kim ngân. Ngày xưa nhà giàu dùng gạo và vàng, ngọc để làm lễ phạn hàm. Ở nông thôn miền Nam để trà, gạo, có khi là vài phân vàng, nếp sồng, đắp mặt người chết bằng tờ giấy trắng hoặc giấy quyền, loại giấy hút thuộc rê (vấn) (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư)

    Ba vắt cơm để trên đầu người chết

    • Cúng Phía đầu nằm người chết có đặt cúng 3 vắt cơm, 4 cây đền sáp đặt ở bốn gốc, không dâng hương. Có nơi dâng hương do người nhà không biết đó thôi vì dâng hương có mùi thơm bắt buộc mọi người phải ngửi, nếu ngửi thì ngửi luôn mùi xác chết, bất tiện mất vệ sinh quá, nên không dâng hương.
    • Lệ cúng 3 vắt cơm: Do quý Thầy cúng đã từng làm và chuyền nối nhau thực hiện từ lâu đời, 3 vắt cơm là biểu tượng của tam tài “Thiên Địa Nhơn” (theo Nho gia, Đạo gia), lúc người chết trở về với linh khí tinh nguyên của trời đất. Ba vắt cơm sau khi tẩm liệm xong đa phần các gia đình tin tưởng đem treo ở giàn bếp. Khi nào người nhà có bệnh hoạn hiểm nghèo đem ra đốt tán nhuyễn cho uống sẽ hết bệnh. Có nhiều nơi người thân quý mến người chết đem ăn luôn ba vắt cơm để thể hiện tình cảm với người chết, việc làm nầy quá mất vệ sinh dễ sanh bệnh đối với người ăn. Về sau những tu sĩ Phật giáo tiến bộ, tu sĩ chuyên tu lần lượt bỏ hình thức đặt ba vắt cơm cúng trên đầu người chết. (tác giả nhận định không phải truyền thống nhà Phật)
    • Đặt nải chuối xanh: Theo xưa có đặt nải chuối dằn bụng phòng linh miêu nhảy qua người chết sẽ hồi dương, người cõi âm nhập tràng, thành quỷ nhập tràng. Ở một thuyết khác câu chuyện bất đầu từ chàng trai sống chung với người mẹ già. Một ngày nọ chàng trai này lên rừng đốn và bất ngờ thấy cây chuối già xanh có hoài gần chín nên đã chặt đem về nhà để chín đem đi bán và ăn. Thế là chàng trai đã chặt buồng chuối này đèm về nhà. Khi đem về tới nhà thì không biết để đâu, cất đâu sợ mẹ già ở nhà thèm và đói ăn hết làm sau. Vì vậy chàng trai mới nghĩ ra cách là phải treo buồng chuối này lên cao để bảo quản. Thế là qua ngày hôm sau chàng trai lên rừng đốn củi tiếp thì ở nhà người mẹ chờ con về mà không thấy về trưa rồi nên cũng đói bụng thấy chuối con trai mình treo trên nhà bếp đã chín nên có ý định lấy chuối để ăn. Không ngờ là trèo lên thì bất ngờ ngã xuống bà cụ chết. Khi chàng trai về đến nhà thì gọi Mẹ ơi! Mẹ ơi! …Không nghe mẹ trả lời chàng trai mới vào nhà thì bất ngờ thấy mẹ mình đã chết vì trèo lên để lấy chuối ăn cho đỡ đói. Thế là chàng trai mới trách mình là tại mình mà mẹ mới chết. Khi mẹ chết trong nhà không cò gì hết chỉ có buồng chuối nên cậu ta mới lấy nải chuối còn xanh để trên bụng Mẹ mình nghĩ rằng mẹ mình đói bụng mà không ăn được nên bằng cách để trên bụng mẹ.. Sự tích về nải chuối để trên bụng người chết là vậy (trang mạng Văn hóa xã hội – tôn giáo, tâm linh – Đào Minh Định)

    Lễ nhập quan, thành phục, thọ tang

    • Nhập quan: Linh cữu được khiêng ra đặt giữa nhà, người chết ngoài đời do nhà đồ làm tất cả các việc. Việc tẩn liệm bằng trà, cách đây 60 năm nhà đồ không có trà, nên đồ tẩn liệm bằng rơm quấn trong giấy mỏng gọi là giấy súc. Vật dụng nầy ngày nay không còn, mà để trà rồi để thêm những đồ cũ, vật dụng của người chết được đem theo. Kế đến đậy nắp áo quan, gắn sơn chai, đóng lại theo kiểu mang cá hoặc đóng đinh cho kín.
    • Thành phục: Là lễ phát tang, cũng là lễ chính thức của đám tang, phát tang, giúp cho các thành viên vợ chồng, dâu rể con cháu trực hệ trong gia đình thọ tang người chết, ông bà cha mẹ. Thọ tang là chịu tang đối với những người lớn hơn mình, hay ngang mình là vợ chồng không chịu tang với người chết thấp hơn mình và có lễ cúng cơm cho người chết.
    • Thọ tang: Tang ai nấy mặc. Có gia đình sang giàu thì may đồ tang bằng vải tốt. Có gia đình nghèo may đồ tang bằng vải bô, áo bả hài gai, vải mùng, vì nghĩ đồ tang chỉ có mặc trong thời gian ngằn rồi đốt, nên đa phần các gia đình không quan tâm vải tốt xấu lắm. Trong thập niên 50 Thầy cúng thường lấy đồ xả tang của gia chủ may quần áo rồi nhuộm lại màu đen rồi mặc.
    • Trong giới tu sĩ xuất gia thọ tang màu vàng để nói lên đây là việc thọ tang người xuất gia, xuất thế gian. Tang trong đạo không phải như con cháu thọ tang cha mẹ ngoài đời nữa, mà đệ tử thọ tang Thầy Tổ, những bậc Cao Tăng, do đó chư Tăng Ni thọ tang màu vàng là vậy.
    • Thứ bậc thọ tang: Theo thứ bậc trong gia đình mà thọ tang: – Con trai, con gái, rễ, dâu thọ tang trắng – Trai trưởng nam thọ tang trắng có chống gậy tang cha chống gậy trúc (tròn), tang mẹ chống gậy vông (vuông), đội bích cân – Anh hoặc các em của người mất thọ tang trắng – Cháu nội thọ tang trắng có chấm đỏ – Cháu ngọai thọ tang trắng có chấm xanh – Cháu cố thọ tang trắng có chấm vàng – Cháu kêu bằng chú thọ tang trắng. Trong thời gian thọ tang, con cháu đi làm ăn hay đi làm việc đều có mang tang màu đen hay màu trắng, tùy theo màu áo mậc trong mình kich thước 2 cm x 1,5 cm.

    Cúng cơm trong lễ tang:

    • Cúng cơm: Phải cúng như thế nào cho đúng, tại bàn vong linh có cúng 3 chén cơm, đồ ăn, hương hoa trà quả. Cơm gồm một chén giữa đầy cúng cho vong linh người mới chết, hai chén hai bên thì hơi lưng để hai bên, biểu hiện hai bên vai giác, kiến cho những người hầu cận vong linh Thầy cúng gọi là Tả mạng thần quang, Hữu mạng thần quang. Có nơi cúng 3 chén, có nơi cúng 6 chén, không nên để 5 chén là sai. Ý nghĩa chén cơm ở giữa có cắm đôi đũa, hai chén cơm hai bên mỗi chén một chiếc đũa là cúng cơm cho vong linh (ma mới) mới ăn. Tuy nhiên, nếu hai bên để mỗi nơi một đôi đũa nữa thì các cô hồn (ma cũ) sẽ đến dành giựt, vong mới không được ăn, nên có thành ngữ “ma cũ ăn hiếp ma mới” là vậy. Theo quý Thầy cúng thì nghi thức nầy không phải của Phật giáo, mà chỉ làm theo tục lệ tín ngưỡng dân gian từ xa xưa lưu truyền lại.
    • Thuyết khác, ý nghĩa cúng 3 chén cơm chén giữa đầy dành cúng cho vong linh mới chết, có cắm một đôi đũa. Hai chén hai bên có cắm mỗi chén một chiếc đũa dành cho người giữ vong linh ăn chậm hơn vong linh chánh, nếu không thì vong linh chánh sẽ bị dành giựt, ăn không kịp. Đây cũng là tục lệ văn hóa vùng, tục cúng kiến riêng tại các địa phương trong dân gian Trung quốc có ảnh hưởng đến tục lệ Việt Nam (theo Đại Đức Thạc sĩ Thích Thiện Huy các tục lệ trên chỉ có truyền khẩu trong dân gian, xưa bày nay vẽ chứ không có trong nhà Phật)
    • Theo tuc miền Trung trên nóc áo quan bày một bát cơm úp, cắm một chiếc đũa vót cho sơ ra như gai nhọn (có nơi gọi là chiếc đũa bông), một quả trứng luộc, ba nén hương. Bát cơm, quả trứng, có thể là bữa ăn để linh hồn người chết khỏi trở thành ma đói. Nhưng chiếc đũa có gai nhọn thì chắc chắn không phải là để dùng ăn cơm. Không ai có thể ăn với một chiếc đũa như thế. Chiếc đũa bông nhiều gai nhọn có ý nghĩa không cho giặc cướp lấy cơm của người chết và trừ ma quỷ hiếp đáp vong linh (Phong tục tang ma – Nguyễn Dư). Đến ngày động quan, Thầy cúng kêu làm lại chén cơm có để trứng gà luộc mới, một đôi đũa bông, chén cơm mới để lại trên nắp áo quan, đến khi đem ra huyệt chôn cất xong, Thầy cúng hướng dẫn để chén cơm, trứng luộc, đôi đũa bông trên nấm mộ, nhiều nơi còn đặt thêm mớ bùi nhùi. Tục nầy mang ý nghĩa chúc tụng: “mớ bùi nhùi tượng trưng cho thế giới hỗn mang; trong hỗn mang hình thành nên thái cực (bát cơm); thái cực sanh ra lưỡng nghi (đôi đũa). Có lưỡng nghi (âm dương) là có sự sống (quả trứng)”.
    • Thầy cúng: Xưa chỉ một, nay có rất nhiều Thầy dự có tổ chức thành Ban gọi là Ban kinh sư từ 4 đến 6, hoặc 8 vị có trách nhiệm điều hành đám tang. Ban Kinh sư hướng dẫn như thế nào làm như thế nấy, Thầy cúng khi lãnh đám tang có trách nhiệm cúng cơm vào buổi sáng, trưa, chiều, có nơi cúng trưa và chiều.
    • Tu sĩ Phật giáo, người xuất gia, Sa môn viên tịch chỉ cúng cơm ngọ thời, không cúng cơm chiều.

    Lo hậu sự là báo hiếu

    • Hậu sự là lo việc báo hiếu, cúng kiến người chết sau lễ tang. Trong đời dù Bạn có làm việc quan được trọng thị ở thế gian đến đâu, nhưng không thể bỏ bê việc cúng kiếng ông bà cha mẹ từ lúc người còn sống đến những ngày cuối cùng cho đến khi qua đời. Lễ tang tuy không bận rộn lắm nhưng được ràng buộc bởi đạo hiếu nghĩa, đạo làm con cháu với người trên trước, đạo làm người đối với người đã qua.
    • Ngoài đời những người có hiếu đạo bao giờ cũng được tôn kính trọng dụng, mọi người tin tưởng, là chỗ dựa tinh thần của gia đình. Đôi khi lan tỏa đến xã hội và là người tiêu biểu trong xã hội xóm làng. Người xưa tôn trọng đạo hiếu, ông bà cha mẹ qua đời, phận làm con có khi là con trai trưởng nam, hoặc con lớn, con trai con gái lớn cạo tóc để thọ tang thờ cúng người thân qua đời trong thời gian 3 năm. Có khi mỗi đêm trải chiếu, nằm cạnh bàn thờ vong để dâng hương cho vong linh, hoặc cũng có khi cao đầu, ăn chay trường ba năm để cầu cho người qua đời được gần gủi Phật, nghe kinh mau siêu thoát luân hồi, tái sanh vào chỗ tốt lành.
    • Theo Hiếu kinh của Mạnh Tử dạy: khi cha me qua đời, dù cho con có làm quan lớn ở cấp bậc nào đi nữa cũng phải mặc áo bả hài gai, cất chòi ngoài mộ để cúng kiếng, đêm nằm canh giữ quạt mồ cha mẹ đúng ba năm cho mồ khô ráo để tỏ lòng tôn kính (theo đạo hiếu. Khổng giáo, Lão giáo).
    • Trong Đại Luật mặc dù chuyên hoằng giới nhưng Đức Phật cũng thường cân nhắc môn đệ xuất gia cũng như tại gia giữ đạo hiếu. Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới Đức Phật dạy: “Hiếu thuận đối với cha mẹ, Sư trưởng, chư Tăng, đối với Tam bảo, sự hiếu thuận phù hợp chánh pháp chí thượng, sự hiếu thuận ấy gọi là giới, cũng gọi là năng lực chế ngự, đình chỉ mọi sự tội lỗi”.
    • Con cháu nhà Phật muốn báo hiều trọn vẹn thì tự phát tâm tụng kinh Bộ cầu nguyện cho ông bà cha me tại gia lúc sanh tiền cũng như khi qua đời, phát nguyện ăn chay trường, hoặc phát tâm rước chư Tăng Ni đến tụng kinh Địa Tạng. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế gia đình làm việc từ thiện xã hội giúp đỡ người nghèo giúp cho họ qua cơn họan nạn, làm việc phóng sanh, ấn tống kinh sách Phật giúp cho người cải ác tùng thiện, đi cúng thập tự cầu cho ông bà cha mẹ siêu sanh Tịnh độ đó mới là đạo hiếu của Nhà Phật và có kết quả thực tế. Đức Phật dạy: ” Hiếu với Mẹ Cha tức là kính Phật. Nếu ở đời không có Phật thì hãy khéo thờ cha mẹ. Khéo phụng thờ Cha mẹ như phụng thờ Phật vậy” (Kinh Đại Tập)
    • Nhân nói việc lễ tang và lo hậu sự là báo hiếu ông bà cha mẹ đã qua, Đức Phật còn quan tâm đến những lúc ông bà cha me tại tiền, khi cha mẹ còn làm con phải hết lòng hiếu thuận, niềm tin vững vàng với Thầy Tổ, Tam Bảo. Cho nên đạo Phật còn gọi là Đạo Hiếu…”

    Cúng cơm sau lễ tang

    • Sau lễ tang mọi người đều mệt mỏi. Tuy nhiên, đối với người còn ở lại dù khổ đau bao nhiêu cũng phải tỉnh táo để lo việc cúng kiếng, các lễ cúng đối với vong linh. Nhất là lễ cúng cơm là lễ quan trọng trong đạo hiếu. Người có lòng hiếu thảo hay không phải xem cung cách đối xử của con cháu đối với người đã qua, ai hiếu thảo, ai không hiếu thảo. Lời Phật dạy: “vạn hạnh Bồ tát hiếu nghĩa vi tiên”, trong các hạnh Bồ tát thì hiếu đạo là việc trước tiên. Phật xưa thị hiện vao đời cứu chúng sanh, có khi thị hiện làm con, lúc cha mẹ mù lòa, muốn đi đâu con phải gánh cha gánh mẹ giúp cha me đi đây đi đó cho thỏa dạ. Cha mẹ đói khát con lóc thịt thân mình cho cha mẹ ăn, để đổ đói qua ngày (Kinh Đại phương tiện Phật Báo Ân – bản dịch HT Thích Trí Tịnh).
    • Việc lễ tang ngày nay dù chúng ta biết có nhiều hủ tục cần bỏ bớt, nhưng những việc còn lại phải làm, làm cho chí vóc, làm cho đầy đủ không được sai sót, như:
    • Cúng an sàng: Là an vị vong linh, sau khi hạ huyệt chôn cất xong, đem vong vị về tại nhà, thiết lập bàn thờ vong, an sàng linh vị, cũng gọi cúng an sàng. Bàn thờ nầy dành để cúng vong, cúng cơm sau lễ tang. Việc cúng kiếng nầy được thực hiện đến khi mãn tang (mãn khó), sau đó thỉnh vong linh thờ cúng chung với bàn thờ cửu huyền (thờ cúng ông bà) và mọi năm cúng giỗ tưởng niệm người đã qua.
    • Cúng mở cửa mộ: Còn gọi là mở cửa mả hay khai mộ, sau lễ an sàng, tức là từ khi chôn cất đến ngày thứ ba mọi người trong gia đình ra thăm mộ có đem theo lễ vật cúng, như: thang 9 bậc đối với người nữ, thang 7 bậc đối với người nam. Cây thang 5 tấc tượng trưng cho ngũ thường, 3 ống trúc đựng gạo nước tượng trưng cho tam cang, gà con kêu chi chít, tiếng kêu của gà con làm cho vong linh đã chết sau 3 ngày tỉnh thức biết đường lên khỏi mộ, cây mía lau tượng trưng cho công lao của cha mẹ lo cho con cái đến ốm o gầy mòn như cây mía, nhưng vẫn ngọt ngào với con. Ngoài các vật dụng đặc biệt trên còn có chè xôi, tam sên (hay tam sanh, gồm thịt, tôm, trứng luộc), trái cây, rượu, trà, gạo, muối, giấy tiền vàng bạc, trầu cau…Ở nhà cúng 4 mâm cơm, cúng ông bà, đất đai, cô hồn, cúng vong.
    • Cúng thất: lấy dấu mốc ngày người chết là ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy làm lễ cúng thất, cúng tuần thất, 7 ngày, Nghi thức cúng thất bắt đầu từ buổi chiều ngày trước khoảng 16 giờ, tức ngày còn sống, rước Thầy đến cúng khai kinh, có sắm hương hoa trà quả, chè xôi, cúng tất cả các bàn thờ trong nhà, như cúng ông bà, cúng đất đai, cúng vong linh người chết và một mâm cúng cô hồn. Ngày hôm sau huờn kinh, không có cúng cơm. Nghi thức các lễ cúng thất đều giống nhau.
    • Cúng 21 ngày: tức là cúng thất thứ ba, 7 x 3 = 21 ngày gọi là tuần tam thất
    • Cúng 49 ngày gọi là cúng thất thứ bảy 7 x 7 = 49 ngày gọi là cúng 49 ngày hay gọi cúng tuần chung thất
    • Cúng 100 ngày trong thời gian nầy từ khi người thân qua đời đến ngày thứ 100. Trong những lúc gia đình ăn cơm vào buổi trưa và chiều con cháu có để bát cơm trên bàn ăn và một đôi đũa, mời ông bà về ăn rồi mới ăn, gọi là trả hiếu ông bà cha mẹ, cho đến khi nào phôi pha sự đau buồn cuộc tử biệt sanh ly mới thôi.
    • Cúng giáp năm cũng gọi là cúng Tiểu tường.
    • Cúng mãn tang, cũng gọi mãn khó, cũng gọi là Đại tường… Các nghi cúng 21 ngày, 49 ngày, 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang vẫn y như lễ cúng mỗi tuần thất, có khai kinh và huờn kinh.
    • Nghi thức cúng dành cho người xuất gia viên tịch hình thức như nhau, nhưng có khác nội dung do Ban kinh sư chịu trách nhiệm biên soạn.
    • Việc cúng cơm cho người chết ngoài thế gian ông bà già xưa quy định con cháu phải cúng cơm hằng ngày, trưa, chiều đủ 3 năm mới hết cúng. Ngày nay các Thầy cúng giảm chế bớt lý do con cháu đi làm ăn xa, người ở ngoai quốc, nhà đơn chiếc, nên chỉ còn cúng cơm đến 100 ngày thì ngưng. Rồi đến cúng tiểu tường, tròn một năm đối cha mẹ, người thân qua đời. Người Phật giáo, hoặc tu sĩ xuất gia, hàng giáo phẩm Tăng Ni trong chốn thiền môn, việc cúng kiếng dành cho các tu sĩ có phần trịnh trọng hơn nhiều. Các đệ tử thay phiên lo việc cúng cơm, làm các việc báo ân Thầy Tổ, nên việc cúng cơm được duy trì đến 3 năm mới không còn cúng nữa. Tuy nói 3 năm nhưng chỉ có 24 tháng là tới ngày cúng mãn khó, mãn tang, đại tường..Chúng ta cũng cần nên biết thêm việc tính ngày mãn tang, ngày giỗ chạp. Ngày cúng 100 ngày, cúng giáp năm, cúng mãn tang thì tính tháng nhuần, mặc dù có dư một tháng nhưng vẫn tính là 24 tháng, đàm giỗ thì tính nhuần, nhơn gian có câu : “đám giỗ tính nhuần, làm tuần tính đủ” là vậy.

    • Lễ tang là công việc quan trọng. Nhà có lễ tang thì mọi việc đều tạm ngưng, giảm bớt công việc ngoài xã hội để lo lễ tang cho ông bà cha mẹ. Đạo hiếu ở thế gian rất cần được phổ cập trong nhân gian thật nhiều, đem lại đạo đức hấp thụ thật nhiều cho con người, nhất là người hung ác hiện nay ngày càng nhiều. Phật giáo còn quan trọng hơn, nhất là đối với các bậc tôn túc Thầy Tổ, hàng giáo phẩm, nhưng không chú trọng nhiều về hình thức lễ tang mà chú trọng đến việc thác sanh cao đăng thượng phẩm, cao đăng bảo địa, cao đăng Phật quốc.
    • Việc tín ngưỡng các tập tục ma chay có ảnh hưởng nhiều theo tập tục từng vùng văn hóa của xứ sở Trung Hoa rộng lớn, ảnh hưởng mấy nghìn năm theo Mật giáo, đạo thờ cúng, tang chay của Khổng giáo, Đạo giáo cũng xuất phát từ Trung Hoa. Vì vậy, việc tổ chức lễ tang hiện nay ảnh hưởng nhiều tập tục của Trung Hoa kết hợp với tập tục của người Việt…Như vậy một lễ tang dành cho một người chết là một tập hợp những tập tục văn hóa nhiều miền vùng văn hóa khác nhau của các quốc gia đuợc giới thiệu tại một lễ tang “đúng nghĩa”. Chúng ta thấy có một sự áp đặt nặng nề bất công quá, rườm rà, tốn kém, tổn hao công sức tài sản tiền bạc của gia đình thật vô lý vô cảm.
    • Đối với Phật giáo khi trong nhà có người thân qua đời thì nên thực hiện lễ tang cho chu đáo giản dị nhưng không kém phần trang nghiêm, không giết mổ heo, trâu, bò, gà vịt, giảm bớt những hủ tục rườm rà hao tốn thời gian kinh phí, nên cúng cơm chay cho vong linh. Những nghi lễ vô lý như đốt vàng mã, để nải chuối xanh trên bụng người chết, khóc mướn, leo lên nóc nhà hú hồn, nhất là không nên để thời gian lễ tang quá lâu, không mở cửa mộ theo hủ tục vác mía lau, kéo gà, làm than 7 nấc, 9 nấc, cúng tam sên…. Những tôn giáo khác và các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Phật giáo Tứ Ân cũng làm tròn đạo hiếu, nhưng tổ chức lễ tang rất đơn giản.
    • Từ thập niên 60 đến nay, các Giáo hội Phật giáo tại Việt Nam, tông cũng như giáo từng kêu gọi thống nhất các nghi lễ trong cả nước, tiến đến giản dị hóa những tập tục lễ tang, những nghi không có trong Đạo Phật. Tổ chức lễ tang theo nghi lễ Nhà Phật gọn, giản đơn gọi là “tam nhựt bất cấm” hay “tử là táng” trong hai ngày nầy là nhanh gọn, không phải xem lịch số ngày giờ tốt xấu.
    • Từ lễ tang đến các việc cúng hậu sự theo xưa bày nay vẽ thì quá rườm rà, Sư có lời khuyên gia đình Phật tử chúng ta nên gởi vong linh vào chùa nghe kinh được siêu thoát. Thỉnh thoảng quý vị đến thăm ông bà vào các ngày lễ cúng tuần đầu, tuần tam thất, tuần chung thất, 100 ngày, giáp năm, mãn khó mà thôi chứ không đi cúng kiếng hằng ngày, hay hằng tuần trở ngại nhiều việc
    • Việc sanh là đến, đến đây từ mình, mang gánh nặng tham sân si, những gì hiện nay ta có, như: hạnh phúc khổ đau, nhiễm ô, bệnh hoạn, có đủ tiền tài danh vong, quyền thế, chức vị, vợ chồng con cái, gia cang sự nghiệp một gánh tình tang nặng nề vô cùng như núi tu di. Tử là đi, đi về với vĩnh cửu vô biên, đi về với không ta, bỏ tham sân si, không còn hình bóng của ta, không còn thân tứ đại giả danh của ta, đi về với hư vô, không cần phải xây lâu đài dưới âm phủ như các vua chúa, quan tham sợ mất của…Cuối đời phải để cho nhẹ nhàng mà quẳng gánh ra đi về cố quán, về với chính mình, về với Cực lạc Tây phương.

    Hủ tục lễ cũ xưa bày

    Nay xin đừng vẽ lại ngày tháng qua.

    Chúng sanh: sanh, tử, bệnh, già,

    Theo chi lệ cũ rườm rà tốn hao.

    HT Thích Giác Quang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Trong Lễ Tang
  • Tổng Hợp Các Bài Văn Khấn Trong Tang Lễ Việt Nam (Phần 2)
  • Nghi Thức Nhập Quan Trong Tang Lễ
  • Lễ Trị Quan Và Nhập Liệm
  • Tổng Hợp Các Bài Văn Khấn Trong Tang Lễ Việt Nam (Phần I)
  • Văn Khấn Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Khấn Nôm Khi Cúng Cho Vong Linh Người Thân Đã Mất
  • Bài Cúng Cô Hồn Tháng 7 Năm Canh Tý 2021
  • Lễ Cúng Khai Trương Khách Sạn Theo Phong Tục Việt
  • [ Bài Cúng Khai Trương ]Cửa Hàng, Quán Ăn, Khách Sạn, Công Ty
  • Văn Khấn Xin Lộc Lô Đề Chuẩn Tâm Linh
  • Văn khấn cúng tại đền Hùng

    Văn khấn ngày giỗ tổ Hùng Vương

    Giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm là dịp để con cháu tỏ lòng biết ơn tới các vị vua Hùng đã có công dựng nước và phù họ cho chúng ta cuộc sống sau này. Sau khi có lịch nghỉ 30/4 – 1/5, nhiều gia đình sẽ lên lịch đi Đền Hùng để tham dự lễ giỗ Tổ.Vào ngày giỗ tổ Hùng Vương, chúng ta cần chuẩn bị mâm cỗ cúng và bài văn khấn giỗ tổ Hùng Vương. Mời các bạn cùng tham khảo bài văn khấn giỗ Tổ sau đây.

    Sắm lễ, đồ cúng giỗ tổ Hùng Vương

    Bộ Văn hóa hướng dẫn nghi thức tưởng niệm các Vua Hùng Trong Công văn số 796/HD-BVHTTDL ngày 18/3/2009) ghi rõ Lễ phẩm gồm:

    • Bánh dày 18 chiếc (dâng lên 18 đời Vua Hùng)
    • Bánh chưng 18 chiếc (dâng lên 18 đời Vua Hùng)
    • Hương hoa, nước, trầu, cau, rượu và ngũ quả.

    Bánh dày hình tròn, tượng trưng cho Trời, thường không có nhân. Bánh chưng hình vuông, tượng trưng cho Đất, bên trong có nhân mặn.

    Bên cạnh hướng dẫn đó thì lễ vật dâng cúng trong các buổi tế lễ Hùng Vương hầu hết ở các địa phương gần như giống nhau đều bao gồm: xôi, oản, hoa quả, rượu, hương, gạo muối, bánh chưng bánh dày, gà luộc (bắt buộc phải là gà trống thiến), thịt lợn (bắt buộc là lợn đen).

    Tại Đền Thượng còn lưu giữ tấm bia đá thời phong kiến ghi về “Điển lệ miếu thờ Hùng Vương” có quy định: Lễ phẩm dùng cho ngày Giỗ Tổ của dân tộc gồm: bò, dê, lợn, xôi.

    Bài cúng giỗ tổ Hùng Vương

    Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

    Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.

    Con kính lạy các Vua Hùng linh thiêng, gây dựng nên đất Tổ.

    Hương tử con là………………………………………………..Tuổi………….

    Ngụ tại……………………………………………………………………….

    Hôm nay là ngày…… tháng……năm………………..(Âm lịch) Nhân ngày giỗ Tổ

    Hương tử con đến nơi……………Đền thờ Vua Hùng thành tâm kính nghĩ: Vua Hùng và các bậc tổ tiên đã có công dựng nước, tạo nên giang sơn đất nước mấy nghìn năm, luôn ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

    Cầu mong cho các Vị Vua Hùng luôn giữ mai uy nghiêm và linh thương để bảo vệ nước, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Phục duy cẩn cáo!

    Bài khấn giỗ tổ Hùng Vương

    Nam mô a di đà Phật! ( 3 lần )

    Kính lạy chín phương trời đất,

    Mười phương chư Phật, Thánh hiền.

    Lạy các Vua Hùng linh thiêng,

    Gây dựng đất này Tiên tổ.

    Con tên là…… địa chỉ…………… Nhân ngày Giỗ tổ con xin gởi đến đáng bề trên chút hương hoa lễ phẩm thể hiện lòng thành của gia đình con đến các

    Vua Hùng và các bậc tổ tiên.

    Kính xin độ trì phù hộ,

    Mọi chuyện tốt lành bình an.

    Bách bệnh giảm trừ tiêu tan,

    Điều lành mang đến vẹn toàn.

    Điều dữ mang đi, yên ổn.

    Đi đến nơi, về đến chốn,

    Tai qua nạn khỏi tháng ngày.

    Cầu được ước thấy, gặp may,

    Mọi điều hanh thông, thuận lợi.

    Con cái học hành tấn tới,

    Ngoan ngoãn nghe lời mẹ cha.

    Thi đỗ lớp gần, trường xa,

    Mát mặt gia đình làng nước.

    Tình duyên gặp người kiếp trước,

    Ý trung nhân… xứng muôn phần.

    Tình xa duyên thắm như gần,

    Suốt đời yêu thương nhất mực.

    Đi làm… thăng quan tiến chức,

    Buôn bán một vốn bốn lời.

    Hạnh phúc thanh thản một đời,

    Nam mô a di đà Phật!

    Kính lạy cao xanh Trời đất,

    Lạy các Vua Hùng linh thiêng.

    Đức Thánh Trần cõi người hiền,

    Muôn đời độ trì phù hộ! Nam mô a di đà Phật! ( cúi lạy 3 cái )

    Văn khấn giỗ tổ Hùng Vương

    Nam mô a di đà Phật! (3 lần)

    Kính lạy chín phương trời đất, Mười phương chư Phật, Thánh hiền.

    Lạy các Vua Hùng linh thiêng, Gây dựng đất này Tiên tổ.

    Con tên là…… địa chỉ……………

    Nhân ngày Giỗ tổ con xin gởi đến đấng bề trên chút hương hoa lễ phẩm thể hiện lòng thành của gia đình con đến các Vua Hùng và các bậc tổ tiên.

    Kính xin độ trì phù hộ,

    Mọi chuyện tốt lành bình an.

    Bách bệnh giảm trừ tiêu tan,

    Điều lành mang đến vẹn toàn. Điều dữ mang đi, yên ổn.

    Đi đến nơi, về đến chốn,

    Tai qua nạn khỏi tháng ngày

    Cầu được ước thấy, gặp may, Mọi điều hanh thông, thuận lợi.

    Con cái học hành tấn tới, Ngoan ngoãn nghe lời mẹ cha. Thi đỗ lớp gần, trường xa, mát mặt gia đình làng nước.

    Tình duyên gặp người kiếp trước, Ý trung nhân… xứng muôn phần.

    Tình xa duyên thắm như gần, Suốt đời yêu thương nhất mực.

    Đi làm… thăng quan tiến chức, Buôn bán một vốn bốn lời.

    Hạnh phúc thanh thản một đời.

    Nam mô a di đà Phật!

    Kính lạy cao xanh Trời đất, Lạy các Vua Hùng linh thiêng. Đức Thánh Trần cõi người hiền, Muôn đời độ trì phù hộ!

    Nam mô a di đà Phật! (cúi lạy 3 cái)

    Văn tế Giỗ tổ Hùng Vương:

    Việt Nam, ngày 10 tháng 3 năm 4897 Việt lịch. Tế chủ thành tâm chắp tay cúi đầu đảnh lễ dâng hương, kính cáo cùng:

    Tiên Linh Thủy tổ Việt tộc Kinh Dương vương Lộc Tục

    Tiên Linh Việt tổ phụ Lạc Long Quân Sùng Lãm

    Tiên Linh Việt tổ mẫu Âu Cơ

    Tiên Linh 18 đại Hùng Vương

    Tiên Linh tiên vương các triều đại

    Tiên Linh các Anh hùng Liệt nữ

    Tiên Linh trăm họ Âu Lạc Việt

    Cáo rằng:

    Nước có nguồn, cây có cội

    Chim có tổ, người có tông

    Bảo tồn bản sắc cội nguồn để làm người không vong bản

    Ghi nhớ công nghiệp tiên tổ cho con cháu biết giống dòng

    Nhớ chư tổ linh xưa,

    Lĩnh Nam một dải hoang vu, công khai phá mồ hôi tràn Đông Hải

    Âu Lạc hai dòng hợp nhất, giữ giống nòi máu đỏ đẫm Hoa Nam

    Tiếng BỐ ƠI rươm rướm lệ dân Hùng

    Lời LY ƯỚC nỉ non đàn chim Việt

    Nào bảo bọc dân ương

    Nào chăm lo dân hạnh

    Chống giặc tự thiếu niên, tài Thánh Gióng vang danh Phù Đổng

    Ngăn sông bằng đức tịnh, hạnh Sơn Tinh rạng rỡ Tản Viên

    Lo nông tang như An Tiêm, hoang đảo thành đồng dưa trù phú

    Tình bao la như Đồng Tử, thành trì hóa dạ trạch phiêu diêu

    Gương hiếu đạo mộc mạc Lang Liêu

    Tình sắc son thủy chung Cao thị

    Trống đồng dội vạn thù khiếp vía

    Đàn đá reo muôn dân ca xang

    Hai nghìn sáu trăm năm dư là bản hùng ca thần công Bắc địch

    Mười tám triều đại nguyên sơ là nôi văn minh thánh tích Nam di

    Than ôi,

    Một phút sa cơ, ngàn năm quốc hận

    May nhờ,

    Thiên đức Việt tổ, triệu dân đồng lòng

    Chống giặc Bắc, núi sông là hầm chông hào lũy

    Hóa dân Nam, chương đạo thay kiếm kích binh đao

    Qua gian khó dập dồn, nước non lại đến kỳ thái bình độc lập

    Bao chiến công vang dội, con cháu giữ tròn dải gấm vóc non sông

    Tuy 54 dân tộc anh em đoàn kết một lòng

    Nhưng năm ngàn năm văn hiến chưa xứng đền ơn nghĩa cả

    Kính lạy chư linh, chúng con nay:

    Mượn nhang đèn thể hiện lòng thành

    Dâng bánh trái hàm ơn tiên tổ

    Nguyện rằng:

    Xem núi sông là máu thịt, quyết bảo toàn từng tấc đất, không phụ chí tổ vương

    Tiếp văn hóa từ muôn phương, gắng thu nhập từng phát minh, dựng văn minh Việt tộc

    Cố sao cho: Trống trường mãi rền vang, cáo thế giới “Việt sư hưng Việt quốc”

    Chiêng quốc lễ ngân dài, nhắc nhân tâm “Nam đế trị Nam bang”

    Thắp trăm nén nhang

    Lòng thành đảnh lễ

    Linh thiêng chư tổ

    Chứng giám lòng thành

    Nhất tâm hồi hướng Việt tổ thánh linh đăng đàn thụ lễ

    phiêu thạch ba

    Cẩn bút

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Cúng Mụ Làm Lễ Đầy Tháng, Thôi Nôi Cho Bé Tại Nhà Chuẩn Nhất
  • Sắm Mâm Lễ Vật Cúng Đầy Tháng Cho Bé Đơn Giản Nhất
  • Hướng Dẫn Tự Cúng Xe Ô Tô Vào Mùng 1 Hàng Tháng Cầu May Mắn Bình An
  • Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Hàng Tháng Chính Xác Nhất
  • Cách Cúng Và Bài Khấn Cúng Phóng Sinh Tại Nhà
  • Bài Văn Khấn Bốc Bát Hương Thần Linh, Gia Tiên Và Những Điều Cần Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuẩn Bị Mâm Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai Gồm Những Gì?
  • Văn Khấn Cúng Sao Giải Hạn Sao Kế Đô
  • Văn Khấn Cúng Quan Âm Bồ Tát Tại Nhà Và Chùa Đúng Chuẩn Nhất 2021
  • [Taimienphi.vn] Cách Rút Chân Nhang Bàn Thờ Thần Tài, Gia Tiên, Văn Khấn Rút, Tỉa Chân
  • Quy Trình Đi Cầu Tự Ở Chùa Hương
  • Vào những dịp cuối năm, nhiều gia đình thường hay thay bát hương mới cầu mong những điều lành, tốt, sự mới mẻ, thay đổi vận mệnh. Để thực hiện được điều này, gia chủ sẽ cần phải hiểu biết về văn khấn bốc bát hương. Phải nắm bắt được cách cầu khấn như thể nào mới có thể xin rước bát nhang mới về được.

    Vì sao phải dùng văn khấn bốc bát hương?

    Một vật quan trọng nhất trên bàn thờ gia tiên, thần linh,… chính là bát hương – nơi thần linh, linh hồn tổ tiên ngự trị. Thế nên vật này vô cùng linh thiêng, gia chủ phải sử dụng văn khấn bốc bát hương thật cẩn thận, xin phép các bậc tâm linh mới được phép thay bát mới. Nếu tùy tiện thực hiện thì có thể làm phật lòng người quá cố, những vị thần, Phật đem lại điềm dữ, tai họa, ảnh hưởng đến bản thân và gia đình.

    Những vật cần chuẩn bị cho buổi lễ bốc bát hương mới

    Trước khi đi vào tìm hiểu về bài văn khấn bốc bát hương thổ công, thần linh, gia tiên,… Gia chủ cần phải chuẩn bị những lễ vật cúng bài cho buổi lễ kỹ càng nhất, làm hài lòng thần linh, thuận tiện trong việc xin phép bốc bát hương mơi. Những thứ cần chuẩn bị như sau sau:

    • Một con gà luộc để cúng (không có cũng được, có thì càng tốt).
    • Một chân giò heo (chân trước), làm sạch rồi đem luộc chín.
    • Một phần xôi trắng (nếp, cúc,…).
    • Nửa xị rượu trắng.
    • 5 trái trứng sống (tốt nhất là trứng gà ta), 2 gram thị nạt vai tươi, khi làm thực hiện nghi lễ xong thì phải đem đi luộc chín ngay.
    • Chuẩn bị 3 miếng lá trầu, 3 trái cau.
    • 3 bát nước tinh khiết, không màu, không mùi.
    • 9 bông hoa hồng (lựa màu hồng son, không quá đậm.
    • Một bát gạo, một bát muối.
    • Một bộ đinh vàng và hoa cúng.
    • 5 phần tiền vàng, lễ cúng.
    • Một bộ đồ (mã) quan cho thần linh, hài, hia, mũ, ngựa (đỏ), kiếm (trắng).
    • Bày một mâm cơm bao gồm 6 bát cơm (mỗi bát chỉ lấy 1 muỗng cơm), 1 tô canh bí, giữ lại phần nước luộc rau củ cho vào bát riêng để cúng luôn. Lưu ý không được sử dụng nguyên vật liệu là tỏi, hành trong quá trình nấu nướng.

    Văn khấn bóc bát hương mới

    Sau khi chuẩn bị lễ vật đầy đủ, gia chủ có thể sử dụng bài văn khấn như sau:

    Con lạy chín phương trời mười phương Phật. Con kính lạy các chư vị thần linh, hiển linh, hiển pháp, pháp thuật vô biên. Hôm nay là ngày… tháng … năm … Tên con là … Tín chủ của …, ngụ tại … Con xin làm lễ bốc bát hương mới ( hoặc thay bàn thờ mới), mục đích con nguyện khấn cầu …, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, làm ăn phát đạt, cầu được ước thấy, vạn sự như ý. Con xin kính lạy các vị tổ tiên nội ngoại sống khôn chết thiêng. Hôm nay con xin làm lễ bốc bát hương mới (hoặc thay bàn thờ mới), kính xin các vị gia tiên về phù hộ độ trì cho con cho cháu mạnh khoẻ, tài lộc đầy nhà, mọi việc đều diễn ra như mong muốn. Con kính lạy các bà cô tổ, ông mãnh nội ngoại hai bên sống khôn, chết thiêng lắng nghe lời con cầu khấn như sau: … (Lời cầu nguyện, mong ước).

    Sau khi thực hiện lễ cúng, vái xong, tới lúc những nén hương đầu tiên đã tàn thì tiếp tục đột một đợt nhang nữa. Kế đến là bắt đầu đốt giấy tiền, vàng bạc, đồ mã, bảng văn khấn đã chuẩn bị sẵn. Phần gạo và muối chia ra rải từng thứ trước cửa nhà. Khi đợt hương thứ hai đã tàn hẵn, gia chủ xin phép lấy lễ vật xuống, lập tức đem những trái trứng và thịt vai đi luộc chín.

    Bài khấn an vị bát hương

    Sau khi rước được bát hương mới về rồi không có nghĩa là mọi việc đã hoàn tất. Gia chủ còn phải thực hiện nghi lễ, bài khấn an vị bát hương để mọi việc trong nhà hòa thuận, ổn định, không xảy ra biến cố,… Việc không thực hiện nghi lễ cúng kiếng này chính là sự thiếu sót của rất nhiều gia đình, nên cần phải lưu ý tìm hiểu và thực hiện đầy đủ, chính xác.

    Thực hiện nghi lễ cúng, khấn an vị bát hương

    Sau khi rước bát hương mới về rồi, gia chủ cần phải thực hiện nghi lễ an vị bát hương. Chỉ cần làm theo các bước sau đây:

    Khâu chuẩn bị, thực hiện một vài điều trước khi làm lễ an vị bát hương

    Sau khi làm lễ, hãy lấy bát hương mới ra lau sạch bằng rượu gừng hay nước ngũ vị và một vài loại nước khác. Kế đến chỉ dùng một chiếc khăn khô, sạch lau lại. Gia chủ chú ý rằng, trong quá trình lau phải niệm liên tục 7 lần câu “Án lam xoa ha”. Lau chùi sạch sẽ xong, gia chủ hãy mời các sư thầy về làm lễ sái tịnh, cho vào cốt bát hương, tro hay cát trắng.

    Khấn thấn chư vị thần tiên linh ứng bát hương

    Sau khi hoàn thành việc chuẩn bị, lau chùi, làm lễ sái tịnh,… gia chủ hãy niệm như sau:

    Nam mô a di đà Phật. Nam mô a di đà Phật. Nam mô a di đà Phật. Kính lạy các vị thánh tiên, thổ Công thổ Địa táo phủ thần quân Ngày hôm nay đệ tử thiết lập lô nhang phụng thờ bản gia táo phủ thần quân, tâm hương tấu thỉnh chư vị giáng lô nhang chứng tâm cho gia trung đệ tử, nhất một lòng, trung một dạ hương khói phụng thờ chư vị tôn thần, nguyện chư vị giáng phúc trừ tai độ âm độ dương, cho gia trung đệ tử. Khấn thỉnh Thánh ứng bát hương: Kính thỉnh bản gia táo phủ thần quân lai giám lô nhang. Kính thỉnh bản gia táo phủ thần quân lai giám lô nhang. Kính thỉnh bản gia táo phủ thần quân lai giám lô nhang.

    Sau khi gia chủ đọc kinh khấn chư vị thần linh ứng bát hương thì hãy chuyển qua tụng Chú Đại Bi.

    Nghi lễ an vị bát hương

    Thực hiện lễ tạ

    Bước cuối cùng để khấn bái an vị bát hương là thực hiện lễ tạ. Tực cúng cơm bàn thờ liên tục 100 ngày sau khi chôn cất người đã khuất. Nghi lễ này giúp tiếp sức cho linh hồn người vừa mất vững bước trên còn đường về miền cực lạc trong vòng 100 ngày, và siêu thoát.

    Văn khấn thay bàn thờ thần tài

    Trong trường hợp gia chủ muốn thay bàn thờ thần tài, thổ địa mới thuận tiện cho việc thờ cúng. Việc trước tiên vẫn là phải chuẩn bị tất cả những lễ vật cần thiết để cúng kiến. Khi thắp nhang vái lậy, gia chủ cần phải đọc bài văn khấn thay bàn thờ thần tài thật thành tâm như sau:

    Hôm nay nhằm ngày … tháng … năm … âm lịch. Con tên … sinh sống tại địa chỉ … Hôm này là ngày lành tháng tốt, con cầu xin ông thần tài, thổ địa cho phép thay bàn thờ đã cũ, nhỏ hẹp bằng một chiếc mới, đẹp và rộng rãi hơn. Tất cả chỉ là để giúp việc thờ cúng hai ông thần tài, thổ địa thật tốt, bày biện trái cây, lễ vật đầy đủ và thoải mái hơn. Kính cao chư vị thần linh ông Thần Tài và Thổ Địa, Thượng trung hạ đẳng thần linh hãy an tọa, ngự vào bát hương trên bàn thờ mới để phù hộ, độ trì cho con. Cầu mong có được sự bình an, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng, sức khỏe dồi dào, mọi sự như ý.

    Bài cúng ông thần tài

    Khi đã hoàn tất các nghi lễ khấn xin thay bàn thờ thần tài, thổ địa, bốc bát hương mới,… Mỗi ngày gia chủ phải cúng kiến, cầu khấn các vị thần linh này mới phù hộ, độ trì cho được. Thể nên cứ vào mỗi lần thắp nhang, dâng lễ vật mỗi buổi sáng, gia chủ nên đọc bài cúng ông thần tài, thổ địa như sau:

    Lạy Thành Hoàng bản cảnh, Ông Địa, Thần Tài, ông chủ gia, bà chủ đất, các phần hương linh khuất mặt, khuất mày, chư vị Tiền chủ và Hậu chủ. Tín chủ của con là … niên canh …, … tuổi. Ngụ tại địa chỉ số … đường … quận … tỉnh/ thành … Việt Nam quốc. Khấn cầu Thành Hoàng bản địa, Ông Địa, Thần Tài chứng giám cho lòng thành tâm kính, xin chư vị thần linh phù hộ, bang cho con được … (lời cầu khấn, mong muốn). Nếu vạn sự vẹn toàn, con xin hứa được hậu tạ … (lễ vật, hành động). Con xin Thành Hoàng bản địa, Ông Địa, Thần Tài, ông chủ gia, bà chủ đất, hương hồn các cụ, chư vị Tiền chủ, Hậu chủ chứng giám cho lòng thành của con. Kính bái.

    Sau khi đọc bài văn cúng Ông Thần Tài, Thổ Địa xong thì hãy dập đầu, vái 3 lần rồi cắm nhang là xong.

    Bên trên chính là tổng hợp những bài văn khân bốc bát hương mới, xin thay bàn thờ, an vị bát hương, cúng thần tài thổ địa,.. Mong rằng với một số những thông tin bên trên có thể giúp gia chủ thực hiện tốt những sự kiến cúng kiến, cầu khần thần linh, gia tiên,… Hãy luôn nhớ rằng việc cầu xin, đọc văn khấn phải luôn bỏ hết lòng thành vào thì mới linh ứng. Cảm ơn tất cả quý đọc giả vì đã tham khảo bài viết này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Tạ Mộ Mới Xây Dựng Xong
  • Những Bài Văn Cúng Trong Tết Cổ Truyền
  • Hướng Dẫn Cúng Ngày 30 Tết, Đêm Giao Thừa Cơ Bản
  • Chuẩn Bị Lễ Cúng Về Nhà Mới Cần Những Gì
  • Lễ Vật Và Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Rằm Tháng Bảy
  • Văn Khấn Cúng Bốc Bát Hương Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Tất Niên Công Ty Cuối Năm 2021
  • Văn Khấn Bài Cúng Tất Niên Công Ty Cuối Năm 2021 Đầu Năm 2021
  • Mâm Cúng Về Nhà Mới Gồm Những Gì, Cách Thực Hiện Lễ Cúng Nhập Trạch
  • Văn Khấn “cúng Nhập Trạch Về Nhà Mới”, Chuẩn Bị Mâm Lễ Đúng Cách
  • Văn Khấn Bàn Thờ Thiên Ngoài Trời
  • 1. Sắm lễ vật thay bàn thờ, bốc bát hương

    – 1 chân giò trước làm sạch luộc chín,

    – 5 quả trứng gà ta (để sống) 2 lạng thịt vai (để sống), lễ xong phải luộc chín luôn

    – 1 đĩa gạo mối (không trộn lẫn),

    – 1 lạng chè ngon + 1 bao thuốc lá,

    – 1 bộ quần áo quan thần linh đỏ, hia, mũ, ngựa đỏ, kiếm trắng,

    – 1 mâm cơm canh (không hành tỏi).

    2. Bốc bát hương

    Chọn bát hương đáy lồi lên phía miệng, hai đầu rồng chầu vào một thái cực. Rửa sạch bát hương bằng nước sạch, để khô. Lấy một lễ vàng tiền lau trong ngoài, xong hoá lễ đó, tay cầm bát hương úp xuống, ngón tay cái bịt mắt hai con rồng hơ quay 3 vòng trên lửa vàng tiền. Bốc toàn bộ tro tiền bỏ vào bát hương (đấy là cốt), cho một viên ngọc có màu tương sinh với cung Sinh của mệnh chủ vào đáy bát hương (chọn ngọc có hình đồng tiền càng tốt). Cho tro rơm nếp vào, không được vỗ hay ấn.

    3. Cách bày bát hương

    Để bát hương cách tường 5cm, bát hương thần linh ở giữa, bát hương gia tiên bên tay trái (theo chiều từ trong tường nhìn ra), bát hương bà tổ cô ông mãnh bên tay phải. Các bát hương cách nhau 10cm đến 15cm.

    Cách thắp hương: Bát hương thần linh thắp 9 nén hương, hai bát hương còn lại thắp 5 nén hương. Hết tuần hương này thì thắp thêm một tuần nữa, mỗi bát chỉ cần 3 nén. Khi cháy hết hương nếu hương thông thì được việc, nếu tắt hương là việc không thành. Nếu chân giò hoặc thịt cúng xong có mùi thơm như mùi cơm nếp là rất tốt (Có mùi tanh thì phải làm lễ hoá giải).

    4. Văn khấn bốc bát hương mới

    Con lạy chín phương trời mười phương Phật. Con kính lạy các chư vị thần linh, hiển linh, hiển pháp, pháp thuật vô biên.

    Hôm nay là ngày …. tháng …. năm ….

    Tên con là ………… (Tín chủ của ………. địa chỉ ………..)

    Con làm lễ bốc bát hương mới (thay bàn thờ mới), mục đích con xin cầu………, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, ăn nên làm ra, cầu được ước thấy, vạn sự như ý.

    Con xin kính lạy các cụ tổ tiên nội ngoại sống khôn thác thiêng, hôm nay con làm lễ bốc bát hương mới (thay bàn thờ mới), kính xin các cụ về phù hộ độ trì cho con cho cháu mạnh khoẻ, an ninh khang thái, mọi việc được hanh thông.

    Con kính lạy các bà cô tổ ông mãnh nội ngoại sống khôn chết thiêng cho con cầu ……………………

    Cúng xong, hương cháy hết đợt thứ nhất, sau khi thắp đợt thứ hai thì bắt đầu hóa tiền vàng, tờ văn khấn. Vãi gạo, muối ra trước cửa ngõ (vãi riêng từng thứ). Lúc tàn hết hương thì xin hạ lễ. Lúc tàn hết hương thì xin hạ lễ, đem thịt và trứng sống luộc chín.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Đổ Bê Tông (Cất Nóc)
  • Văn Khấn Chuyển Phòng Làm Việc Mới Và Lưu Ý Khi Chuyển Phòng Làm Việc
  • Văn Khấn Từ Đường
  • Ý Nghĩa Tết Trung Thu Và Bài Văn Khấn Rằm Tháng 8
  • Văn Khấn Gia Tiên Rằm Tháng 8
  • Văn Khấn Ngoài Trời Ngày Mùng 1 Và 15 Hàng Tháng Chính Xác Nhất Và Đầy Đủ Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cho Lễ Cúng Ngày Rằm Tháng 7
  • Mâm Cúng Cô Hồn Hàng Tháng Mùng 2; 16
  • Văn Khấn Gia Tiên, Chúng Sinh Chuẩn Nhất Ngày Rằm Tháng Bảy
  • Cúng Cô Hồn Vào Ngày Nào Trong Tháng 7 Âm Lịch Và Cần Chuẩn Bị Lễ Vật Gì?
  • Văn Khấn Rằm Tháng 7 Tại Nhà Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Văn khấn ngoài trời ngày mùng 1 và 15 hàng tháng chính xác nhất

    Văn khấn ngoài trời ngày mùng 1 và 15 hàng tháng chính xác nhất theo truyền thống dân tộc nước ta.

    Khi nói đến cúng ngoài trời, chúng ta nghĩ ngay đến việc cúng chung thiên. Cúng chung thiên có nghĩa là cúng ở giữa trời và đất. Việc làm lễ cúng chung thiên ngoài trời hàng tháng vào mùng 1 và 15 là vô cùng quan trọng, đây là phong tục mà hầu hết của người dân Việt Nam.

    Theo tín ngưỡng dân gian, Trời được xếp trước phật theo thứ tự được thờ “Trời – Phật – Thánh – Thần” chính vì thế nên việc thờ Trời luôn là việc đầu tiên của mỗi người, mỗi gia đình.

    Bàn thờ thiên là sự kết nối giữa trời và đất, giữa cõi âm và cõi dương và cao hơn chính là ý nghĩa nhân văn, ước mong mưa thuận gió hòa, cầu mong những điều tốt đẹp đến với cuộc sống con người. Theo nghiên cứu trong đời sống tâm linh của người Việt, cây hương có thể giúp truyền tải thông điệp thiêng liêng giữa các thế giới, giữa chốn âm dương và giữa con người thần linh hay ma quỷ.

    Đặt bàn thờ thiên ngoài trời để thờ cúng nhằm mục đích cúng xin “thông với thiên”, cầu mong điều cát lành. Ở trong nhà bị vướng mái, không thông thiên được, cho nên làm bàn thờ thiên ngoài trời rồi ra ngửa mặt lên trời khấn vái.

    là danh từ để chỉ cho chỗ thờ phụng ở ngoài trời. Trước kia thì bàn thờ thiên thường được làm bằng chất liệu gạch và bằng gỗ. Ngày nay để bàn thờ thiên đẹp, chuẩn phong thủy người ta làm bàn thờ thiên bằng đá.

    Bài văn khấn ngoài trời mùng 1 và 15 hàng tháng

    Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

    Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ thần quân.

    Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quan trong xứ này.

    Con kính lạy ngài Bản gia Tiền chủ ngụ trong nhà này.

    Tín chủ con là …………………………….Tuổi………………….

    Ngụ tại………………………………………………………………

    Hôm nay là ngày………. tháng…………năm…………(Âm lịch)

    Tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương dâng lên trước án, thành tâm kính mời: Đức Hoàng thiên hậu Thổ Chư vị Tôn Thần, ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng Chư vị Tôn thần, ngài Bản gia Tiền Chủ. Cúi xin Chư vị Tôn thần Bản gia Tiền Chủ thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Cô Hồn Tháng 7 Nhiều Nhà Tin Dùng
  • Văn Khấn Ban Thần Tài Ngày Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Gia Tiên Xin Bán Đất, Bán Nhà Cho Đúng Đạo, Đúng Phép
  • Hướng Dẫn Cách Cúng Khai Trương Shop Quần Áo Đúng Cách Để Làm Ăn Phát Đạt
  • Văn Khấn Cúng Khi Đi Chùa Ngày Rằm, Mùng Một Âm Lịch Hàng Tháng
  • Tin tức online tv