【#1】Văn Khấn Giỗ Con Trai, Con Gái Đã Khuất Đầy Đủ, Chính Xác Nhất

Ý nghĩa văn khấn giỗ con trai, con gái đầy đủ, chính xác nhất

Ngày giỗ được tổ chức hàng năm vào đúng ngày mất của người đã khuất. Đây là dịp để anh em, họ hàng gần xa sum vầy, gặp gỡ, cùng nhau tổ chức ngày giỗ lễ cho con cháu trong nhà. Hành động này không chỉ để tưởng nhớ, an ủi người đã mất trong nhà, mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của mọi người trong gia đình với nhau. Mọi người cùng nhau dâng lên người khuất lễ sắm và mâm cơm đã được chuẩn bị. Cùng cầu nguyện phụ hồ độ trì cho một năm an lành, phát tài và yên ấm trong nhà.

Ngày Giỗ Thường được gọi là “Cát Kỵ”. Đây là ngày giỗ thường niên của người đã khuất kể từ năm thứ ba trở đi.

Ngày giỗ này sẽ được duy trì đến hết năm đời. Theo quan niệm dân tộc Việt, ngoài năm đời vong linh người quá cố đã có thể siêu thoát hay đầu thai chuyển thế. Nên việc cúng giỗ không còn cần thiết nữa. Nhưng cũng có vùng miền đưa vào tống giỗ chung tại nhà thờ tộc vào Xuân – Thu nhị kỳ (Chạp mã).

Nếu như giỗ Tiểu Tường và giỗ Đại Tường là lễ giỗ trong vòng tang, không khí vẫn ngập tràn bi ai, thương xót, thống khổ, thì ngày giỗ thường lại là ngày của con cháu nội ngoại xum họp tưởng nhớ người đã khuất.

Lễ vật cần chuẩn bị cho ngày cúng giỗ

Lễ cúng ngày Cát Kỵ vẫn bao gồm những lễ vật như những ngày giỗ lễ trước đó: Hương, phẩm oản, hoa quả, trầu cau, vàng mã và mâm lễ mặn gồm có xôi, gà, các món cơm canh…

Trong ngày Cát Kỵ, thông thường người ta chỉ mời những người trong gia đình họ tộc đến dự (diện mời không rộng như hai giỗ trước). Sau đó, cha mẹ, ông bà sẽ ra mộ phần con cháu đã khuất đề mời vong linh người đó về thụ hưởng. Đồng thời các con cháu sửa sang đắp lại mộ phần. Từ sáng ngày Tiên Thường, gia chủ đã phải lau chùi bàn thờ, bày biện lễ vật của gia chủ và người gửi giỗ.

Trong ngày giỗ này, gia chủ buộc phải làm hai lễ là lễ cúng yết cáo Thổ Thần và lễ cáo Gia tiên với: hương, hoa, quả, phẩm oản, tiền vàng, trầu, rượu, lễ nặm cúng dâng và lễ cúng gia tiên dòng tộc

Văn khấn giỗ con trai, con gái

“Nam mô a di đà Phật !

Nam mô a di đà Phật !

Nam mô a di đà Phật !

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ

Tín chủ con là: ………………Tuổi: ………………

Ngụ tại: ………………………

Hôm nay là ngày: ………tháng: ………năm: ………(Âm lịch).

Chính ngày giỗ của: ………………

Thiết nghĩ vắng xa trần thế, không thấy âm dung.

Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tắc thành.

Tâm thành kính mời: ………………

Mất ngày: ………tháng: ………năm: ………

Mộ phần táng tại: ………………………………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương hồn gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thần Linh, Thổ địa, Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!”

【#2】Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Mộ phần Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

Từ trung tâm Hà Nội, du khách lái xe hướng qua ra đường CT 01/ CT Pháp Vân – Cầu Giẽ. Đến đoạn giao giữa CT Hà Nội – Ninh Bình và CT Pháp Vân – Cầu Giẽ, lái xe qua vòng xuyến sang QL 21B vào Đại lộ Thiên Trường. Tại vòng xuyến Big C Nam Định, dẽ phải vào QL10/QL38B qua cầu Lộc An tới Đại Lộ Lê Đức Thọ qua cầu Nam Định dẽ phải vào ĐT490/ ĐT 490C, dẽ trái vào ĐT487 đến ngã rẽ phải thứ 5 dẽ vào và đi thẳng đến ngã dẽ thứ 4 bên trái dẽ vào đi thẳng theo đường làng Phú Hào là tới đền Phủ Giày.

Đền Phủ Giày thờ ai?

Đền là một quần thể gồm nhiều ngôi đền nhỏ ghép lại. Đặc biệt phải nói đến kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là Tiên Hương, Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là đền chính của Mẫu Liễu Hạnh và thờ bên chồng của Mẫu, còn phủ Vân Cát và Phủ Tổ là nơi thờ Mẫu và bên ngoại (bên bố mẹ đẻ) của Mẫu.

Lịch sử đền Phủ Giày

Đền Phủ Dầy có truyền thuyết kể lại rằng xưa kia vì nhớ thương chồng con trước khi về trời mà bà chúa Liễu Hạnh đã để lại chiếc giày ở trần gian. Cũng có truyền thuyết kể lại rằng vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy. Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.

Phủ Dầy bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của Trọng Nội, Xuất bản năm 1959 thì: đời Vua Anh Tông (1557) làng kẻ Giầy đổi thành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu. Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái. Sang đời Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam định.

Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất. Phủ Dầy chính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho một quần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản Nam định. Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương.

Kiến trúc đền Phủ Giày

Đền Phủ Giày gồm 3 quần thể chính:

Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định; nằm cạnh đường giao thông liên xã. Đây là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671), trải qua bao thăng trầm lịch sử, phủ vẫn giữ được nét cổ kính thời xưa.

Năm 1996 Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

Cảnh quan của phủ rất rộng rãi và thoáng đãng. Mới bước vào, du khách sẽ thấy một giếng nước tròn bên trong là ụ đất để cắm cờ khi diễn ra lễ hội. Cán cờ bằng gậy gỗ, trên đầu buộc túm lá hoặc quạ đen làm thiên sứ của trời. Lá cờ thần được treo trên đỉnh. Tiếp đến là sân lớn diễn ra các trò chơi hay là nơi những sập bán hàng được bày bán trong mùa lễ hội. au sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống. Tiếp nối 3 phương đình là hồ bán nguyệt, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô.

Kiến trúc các dãy nhà tại Phủ được nối liền nhau tạo thành thể thống nhất. Mỗi nhà sẽ có phòng riêng gọi là cung, có tất cả 4 cung: Cung đệ tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng. Đối xứng với cung Đệ Tứ bên trái là Ban Quan lớn Thủ phủ và bên phải là Ban Chầu Thủ phủ; cung đệ tam thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng và Hội Đồng các quan hay Ngũ vị vương quan; Cung đệ nhị thờ Tứ Vị Chầu bà và ba bộ long ngai; Cung Đệ nhất là cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung này ở trong cùng. Tuy nhiên, đa phần nơi thờ Mẫu Tứ phủ có nội cung (cung cấm).

Cung cấm có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh cùng với hai Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân đều được phong thần và sắc phong. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể vào đó được mà phải có sự cho phép của ban quản lý khu di tích mới được đặt chân vào đó.

Bên cạnh các dãy nhà thờ có 1 dãy nhà nữai là Ban Trần Triều. Trong dãy nhà này có đặt ban thờ Ban Trần Triều và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau nơi thờ chính là Động Sơn Trang, nơi này thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn Hai Chầu và mười hai cô Sơn Trang.

Phủ nằm phía bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo nên một quần thể thờ Phật – Mẫu – Thần.

Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: ” .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành “.

Từ cổng bước vào, du khách sẽ gặp Ngũ Vân Lâu, gác chuông với 5 cổng lớn xây dựng từ năm Tự Đức. Phía trong là hồ bán nguyệt xây bằng đá. Giữa hồ bán nguyệt có phương du nằm ở giữa và có hai cầu đá dẫn ra ngoài. Phương du gồm có ba gian làm bằng gỗ lim, mái có góc uốn cong, xung quanh lan can được ghép bằng những tường hoa bằng đá với những mảng phù điêu trạm khắc một số loài hoa và những con voi. Phương du có bốn mặt thoáng, là nơi khách đứng xem kéo chữ vào ngày hội.

Bên trong phủ có 4 cung thờ: kết câu hai cung đệ nhất và đệ nhị đều có 3 gian, và cả 2 đều được xây từ năm Tự Đức (1879). Cả hai cung đều bị giặc Pháp phá hủy mãi về sau mới được tôn tạo lại.

Cung đệ nhất là chính cung khép kín thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.

Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).

Trong Phủ còn dấu tích nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, nét độc đáo còn nằm ở văn bia cùng ngũ vân lâu ngay tại mặt chính của đền, các công trình bố trí chặt chẽ tạo thành thể thống nhất, giữ lại nét giá trị từ ngàn đời.

Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Lăng mộ Thánh Liễu Hạnh nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn cá chép. Ngôi mộ trước kia là bãi đất với lùm cây xanh lá, sau đó được xây thành khu nhỏ gồm gạch lát đá. Sau đó, vua Bảo Đại cầu tự được con và được thánh Mẫu báo mộng cho, năm 1938, vua Bảo Đại biết ơn mẫu và cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen hồng quy mô như hiện nay.

Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương. Từ ngoài vào bước theo bậc tam cấp lên đến mộ phải qua 5 lớp tường toàn bằng đá được chạm khắc, mỗi lớp tường vuông đều có cửa, cửa được bổ trụ bằng đá vuông với ba mặt đều khắc câu đối và phía trên đặt các nụ sen bằng đá hồng nhạt tới 60 nụ sen đá.

Xung quanh lăng mộ là hàng cây 4 mùa xanh mát, 4 cột trụ chính đặt 4 góc khiến lăng mộ càng thêm long trọng và trang nghiêm. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở chỗ cao nhất của cả khu lăng. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên.

Bên cạnh khu lăng mộ còn có một gian nhà thờ tự với kết cấu sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần. Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.

Hàng năm vào mùa lễ hội, đền đón hàng ngàn khách du lịch về trẩy hội. Hòa chung không khí tấp nập của mùa lễ hội, dân làng và du khách càng thấy hứng khởi đón chào một năm mới đầy thắng lợi./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./

Các dạng thức thờ Mẫu Thờ Mẫu ở Bắc bộ

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,…

Thờ Mẫu ở Trung Bộ Thờ Mẫu ở Nam bộ

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…

Liễu Hạnh công chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Mẫu Liễu Hạnh)

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

Đền thờ Thánh Mẫu, đường Ngô Quyền, thành phố Thông tin chung Đà Lạt

Tên thật Phạm Tiên Nga

Liễu Hạnh Công chúa ( chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Truyền thuyết

Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

Lần giáng sinh đầu tiên

Căn cứ vào ” Quảng Cung linh từ phả ký”, ” Quảng Cung linh từ bi ký” và ” Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnh như sau:

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn ( 1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Lần giáng sinh thứ hai

Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 ( 1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Hành thiện giúp đời

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh ( Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ tân phả của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Cảnh Hồ Tây.

Ông bèn lên tiếng ghẹo: 三木森庭,坐著好兮女子 – Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Người con gái nghe vậy, đối ngay: 重山出路走來使者吏人 – Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc bèn nói tiếp: 山人憑一几,莫非仙女臨凡 – Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.

c âu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên . Chữ bàng có bộ kỷ . Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm .

Cuộc tái hợp với Đào Lang- Người chồng kiếp trước

Hiện nay những câu đối, những dấu tích về 2 lần gặp gỡ tại Lạng Sơn và Phủ Tây Hồ còn lưu lại ở Đền Mẫu Đồng Đăng (nơi Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh lần đầu) và Phủ Tây Hồ (lần gặp thứ hai)

Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

Lễ hội

Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại.

Cung thờ Sơn Trang trong Phủ Tây Hồ

Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch – ngày giỗ của bà.

Địa điểm là:

Đền Sòng Sơn ở đường Hàng Bột, Hà Nội

Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ. Riêng lễ hội Phủ Dầy, còn gắn liền với Hội chợ Viềng, họp vào ngày 7 tháng giêng./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ (miền trời): mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
  • Nhạc phủ (miền rừng núi): mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

Tam phủ và Tứ phủ Hát Chầu Văn

Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thiên Y A Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên . Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.

Đó là hình thức hầu đồng với 36 giá chầu:

Thỉnh Mẫu Và Quan Đệ Nhất

【#3】Tìm Hiểu Về Tục Lệ Cúng Giỗ Xưa Nay Của Người Việt

Uống nước nhớ nguồn ” đã là đạo lý ngàn đời của người Việt Nam. Không chỉ bày tỏ thành kính với người còn sống, người Việt còn tưởng nhớ đến công ơn và sự hiện diện của người đã mất. Chẳng thế mà cúng giỗ đã trở thành một truyền thống văn hóa tốt đẹp, thể hiện tấm lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc của người sống đối với người đã khuất. Tục lệ cúng giỗ xưa này của người Việt có gì thay đổi? Cùng Bảo Long tìm hiểu chi tiết hơn qua bài viết sau.

Giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường được hiểu là gì?

Ở Việt Nam, ngày giỗ thường được gọi là “húy nhật” hay “kỵ nhật”, là ngày mất tính theo âm lịch của một người nào đó. Ngày giỗ là dịp để họ hàng con cháu xôm tụ lại bên nhau, cùng dâng nén hương kính người thân đã mất và cũng là cơ hội để người trong gia đình gặp mặt, hỏi thăm cuộc sống và bàn bạc công việc chung.

Căn cứ vào mốc thời gian kể từ ngày qua đời của người quá cố, người ta tổ chức ngày giỗ với những nghi thức khách nhau là: Giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường.

Cúng giỗ ông bà tổ tiên chính là thể hiện lòng biết ơn, tưởng nhớ người đã khuất

Giỗ đầu còn gọi là Tiểu Tường, là ngày giỗ kỷ niệm đúng một năm một người ra đi. Vì nằm trong thời kì tang chế nên ngày giỗ đầu thường có không khí ảm đạm, bi ai. Ngày giỗ đầu được tổ chức rất trang nghiêm không kém gì đám tang, con cháu mặc tang phục, một số gia đình còn thuê cả kèn trống linh đình.

Giỗ hết hay còn gọi là Đại Tường, được tổ chức một năm sau giỗ đầu, khi người đã mất được tròn hai năm. Vì còn nằm trong thời kì tang chế nên thủ tục ma chay vẫn được diễn ra với nghi thức trang nghiêm. Giỗ hết được tổ chức long trọng, con cháu tề tụ đông đủ khách mời cũng được mở rộng. Giỗ hết đánh dấu một cột mốc quan trọng. Sau ngày này, người nhà sẽ bỏ tang phục, trở lại tham gia các tổ chức hội hè đình đám. Ở một số nơi, người phụ nữ có chồng qua đời chỉ được đi bước nữa sau giỗ hết.

Giỗ thường còn biết đến với tên “Cát Kỵ”, là ngày giỗ của người đã mất kể từ năm thứ ba trở đi. Thời gian ba năm đủ để xoa dịu vết thương của những ở lại và đủ để vong linh người quá cố được siêu thoát. Do đó, giỗ thường là dịp để họp mặt đông đủ, hỏi thăm sức khỏe và củng cố tình làng nghĩa xóm, tình thân dòng tộc. Người xưa có câu “Trâu bò được ngày phá đỗ, con cháu được ngày giỗ ông cũng là lẽ đó.

Những nguyên tắc chung của cúng giỗ

Mặc dù được tổ chức khác nhau ở mỗi dân tộc và vùng miền; nhưng về cơ bản, cúng giỗ thường có một số nghi thức giống nhau.

Trước ngày giỗ một hôm cần phải cúng cáo giỗ, mục đích là để xin Công Thần Thổ Địa và mời người đã khuất hôm sau về hưởng lễ chính. Ngày cáo giỗ chỉ làm cho người thuộc hàng trên (Ông, bà, cha, mẹ, anh, chị,…) chứ thường không làm cho những người thuộc hàng dưới (con, cháu, chắt, chít). Vào ngày này, người thân sẽ ra mộ, lau dọn mộ sạch sẽ, trưng hoa trái và rồi mời người mất về ăn giỗ. Bắt đầu từ lúc đó, bàn thờ luôn phải có nhang đèn cho đến hết lễ Chính Kỵ.

Tục lệ cúng giỗ xưa nay của người Việt như thế nào?

Giỗ chính (Chính Kỵ) diễn ra vào đúng ngày mất của người chết; tức sau cáo giỗ một ngày. dù gia chủ khá giả hay nghèo khó, người ta vẫn cố gắng để tổ chức một mâm cơm cúng để bày tỏ lòng thành kính với người đã qua đời. Nhà giàu thì có thể tổ chức linh đình, thuê kèn thuê trống, mời anh em dòng họ xa gần và cả láng giềng tham dự. Nhà nghèo thì mộc mạc đơn sơ hơn với chén cơm, quả trứng, đĩa muối, lưng canh với ba nén hương, đèn, nến cúng người đã mất. Thân bằng, cố hữu nhớ tới ngày giỗ có thể chủ động đến thắp nén nhang mà không cần phải đợi có lời mời.

Khách đến dự giỗ thường đặt đồ cúng lên bàn thờ, thắp hương và vái ba lạy xong đọc lời khấn. Sau khi hết ba tuần hương, gia chủ có thể vái ba vái ngắn rồi lấy đồ vàng mã đem đi hóa, rồi hạ lễ, mời mọi người ăn giỗ. Sau khi ăn giỗ xong, gia chủ hạ đồ lễ trên bàn thờ xuống, chia thành từng túi nhỏ cho những người đến ăn giỗ.

Giỗ thường được tổ chức tại nhà con trai trưởng; nếu người con trai trưởng đã mất thì cúng giỗ sẽ giao cho người cháu đích tôn. Tuy nhiên, ngày giỗ là ngày chung của tất cả các thành viên trong gia đình; vì thế cho nên đến ngày giỗ, những người con thứ, cháu thứ, cháu ngoại,… Đều tề tựu tại nhà người con trưởng và không quên mang theo đồ lễ đến góp cúng.

Lễ gửi giỗ tùy theo điều kiện của mỗi người, có khi là tiền, gạo, gà, hoặc trái cây,… Việc gửi giỗ và tổ chức giỗ to hay nhỏ không quan trọng, miễn là người còn sống có tấm lòng biết ơn, thành kính là được. Giỗ cúng là một nét đẹp đáng quý trong văn hóa người Việt.

Mỗi vùng miền lại có những tục lệ thờ cúng riêng

Tổ chức đám giỗ sao cho đúng, phù hợp với không gian, thời gian và điều kiện gia chủ là điều vô cùng cần thiết. Không nên vì câu nệ, sĩ diện mà phải tổ chức giỗ linh đình hay gây mất đoàn kết trong việc tổ chức. Hãy giữ cúng giỗ là một phong tục tập quán đẹp, đừng biến nó thành một hủ tục.

Tục lệ cúng giỗ ngày này có gì khác biệt so với thời ông cha ta?

Giỗ là để họp mặt gia đình, để tưởng nhớ và noi gương tốt của những người thân trong gia đình đã mất; đó là việc hiếu, là một hoạt động tâm linh của người Việt nói chung, người Hà Nội nói riêng. Nó mang nặng tính truyền thống và là một phong tục đậm đà bản sắc dân tộc, cần được duy trì.

Khoảng trên chục năm nay, khi đời sống nói chung tốt hơn, việc cúng giỗ được nhiều gia đình, dòng họ khôi phục. Nhưng do không hiểu hết ý nghĩa đúng hoặc không có ai hướng dẫn, hoặc cố tình làm to, làm trong diện rộng để khoe khoang, để thu lời.

Hãy giữ cúng giỗ là một phong tục tập quán đẹp, đừng biến nó thành một hủ tục.

Có người đi ăn giỗ để đền ơn người sống, để hối lộ; nên đặt lên bàn thờ không phải đồ lễ mà là phong bì… làm cho đám giỗ. Gây một sự ganh đua giữa các gia đình, tạo điều kiện cho một số việc làm xấu; một số tệ nạn xã hội – thường là cờ bạc, đốt vàng mã – phát triển.

Đây là một tục lệ cần được giữ gìn, phát huy nhưng làm thế nào để tiếp nối những điều tốt đẹp trong nó chứ không phải biến tấu một cách thái quá lên, làm mất đi ý nghĩa tốt đẹp vốn có của tục lệ thờ cúng tổ tiên.

Mong rằng bài viết này của Bảo Long sẽ giúp gia chủ hiểu rõ hơn về tục lệ cúng giỗ xưa nay của ông cha ta. Hy vọng có thể giúp mọi người đâu đó trong cuộc sống này.

Nếu gia chủ đang có nhu cầu về , tượng Phật, đồ phong thủy… hãy đến ngay với chúng tôi. Sử dụng công nghệ đúc truyền thống của làng nghề Ý Yên Nam định. Cùng với đó là các nghệ nhân lâu nắm, tài hoa. Các mẫu sản phẩm của chúng tôi luôn đa dạng từ hình dáng, mẫu mã, kích thước. Đặc biệt, vì là đơn vị trực tiếp sản xuất, giá thành vô cùng hợp lý. Tin chắc có thể làm hài lòng ngay cả những khách hàng khó tính nhất.

Quý khách quan tâm đến sản phẩm có thể đến các showroom gần nhất trên toàn quốc; hoặc liên hệ Hotline: 0915.979.388 – 0984.888.889 để được hỗ trợ nhanh nhất.

【#4】2 Bài Văn Khấn Cúng Ông Công Ông Táo 23 Tháng Chạp

Bài văn khấn cúng vái ông công ông táo chầu trời chuẩn nhất hàng ngày cúng ngày thường cúng về nhà mới cúng thần bếp cúng mổng 1 cúng ông táo về trời 23 tháng chạp năm 2021 cuối năm đêm giao thừa đơn giản hay nhất,

Ngày 23 tháng chạp (hay 23-12) hàng năm là ngày ông táo về trời vì vậy mọi người dân Việt Nam hay mua cá chép về cùng ông táo ông công. Hàng năm ngày này là ngày vô cùng quan trọng vì không chỉ nó đánh dấu ngày cuối năm sắp tới Tết mà nó còn là ngày để cúng các vị thần giúp phù hộ cho bạn những điều may mắn, tốt lành, ăn nên làm ra..

Bài cúng ông táo ông công 23 tháng 12 sẽ được chúng tôi chia sẽ giúp các cô, các chú, các bác, các bạn đọc bài cúng hay nhất, chuẩn nhất. Hãy cùng tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa để hiểu hơn về tục lễ cúng ông táo ông công ngày 23 tháng chạp hàng năm nha,

Lễ cúng ông táo ông công xuất phát từ đâu?

Nguồn gốc của Táo quân là xuất phát từ Trung Quốc có 3 vị thần là Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ nhưng ở Việt Nam lại chuyển hóa thành 3 vị thần gồm 2 ông một bà thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc vì người Việt quan trọng chuyện Bếp núc nên thần Bếp chính là phụ nữ đàn bà nên sẽ khác một chút so với Trung Quốc.

Người dân Việt Nam thì luôn luôn thờ cúng ông Táo rất chu đáo vì mọi người mong rằng ông Táo sẽ phù hộ cho họ có những nồi cơm đầy đủ, ấm cúng, cơm lành canh ngọt.. Khi đó vừa giúp mọi người cơm no áo ấm mà cũng giúp họ “giữ lửa” hạnh phúc của gia đình mình hòa thuận, êm ấm.

Ngoài ra ông Táo là người theo dõi mọi chuyện nhà từ Bếp núc tới mọi thứ vặt vãnh vì vậy ông sẽ tường tận mọi chuyện. Nên mọi người thờ cúng ông Táo mong rằng năm mới sẽ được ông táo phù hộ, độ trì giúp mọi điều may mắn, tốt lành sẽ đến với mình.

Đồ cùng ông công ông táo cần chuẩn bị những gì?

Đồ cúng ông táo mua cũng rất đơn giản bạn chỉ cần ra chợ là chỗ nào cũng bán. Đồ cùng gồm 3 chiếc mũ ông công trong đó 2 chiếc mũ đàn ông có hình cánh chuồn chuồn trên đầu và 1 chiếc mũ đàn bà không có hình cánh chuồn chuồn. Những chiếc mũ ông công thì được trang trí các vòng trón màu sắc lấp lánh và các dây kim tuyến rực rỡ thể hiện sự oai phong, uy nghiêm. Ngoài ra bạn còn mua thêm các đồ cúng khác như: Hương, đèn nến, lọ hoa tươi, đĩa ngũ quả tươi. Ba bộ mũ áo, hia hài Táo Quân cùng tiền vàng.

Tuy nhiên để đồ cúng dễ hiểu hơn mọi người thường sử dụng 3 đồ: mũ, áo, hia là một chiếc mũ, một chiếc áo và 1 chiếc hia tượng trưng. Sau đó sẽ dùng 3 đồ này cúng và đốt với bài vị cũ của ông công ông táo để tiền họ chầu trời. Sau đó sẽ lập bài vị mới để mời ông công ông táo tới ở giúp độ trì, phù hộ cho gia đình.

Tuy nhiên mỗi miền Bắc, Trung, Nam lại có một tục cúng các lễ vật khác nhau 1 chút.

Ở miền Bắc thì thường cúng với cá chép sóng vì người miền Bắc quan niệm “cá hóa long” là cá chép hóa rồng giúp đưa ông táo ông công về trời. Sau khi cúng xong con cá chép sẽ được phóng sinh thả vào các sông, ao, hồ như vừa làm tích đức mà vừa làm một điều tốt.

Còn ở miền Trung thì lại sử dụng con ngựa bằng giấy vì theo truyền thuyết “Thánh Gióng” phi ngựa về trời cũng là con ngựa thần giúp đưa ông táo ông công về trời.

Còn ở miền Nam thì phong tục đơn giản hơn chỉ cần cúng 3 đồ vật mũ, áo, hia thôi là đủ rồi.

Ngoài ra các gia đình cũng sẽ cúng kèm với các đồ vật như (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng… cúng đồ mặn) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc…)

Tục lễ cúng ông táo ông công có ý nghĩa như thế nào?

Lễ cúng ông táo ông công (hay còn gọi (Táo quân hay Thổ Công) có ý nghĩa rất lớn đối với người dân Việt Nam. Vì Táo Quân là vị thần cai quản chuyện bếp núc, cai quản và theo dõi mọi hoạt động trong gia đình của bạn. Vì vậy sự may mắn, no ấm, hạnh phúc đều được quyết định nhờ ông táo ông công.

Ông Táo ông Công cũng là người ngăn chặn ma quỷ xâm nhập vào nhà , giữ cho gia đình luôn được bình yên, hạnh phúc, thanh tịnh. Khi cai quản mọi việc trong gia đình thì chuyện tốt bạn làm hay chuyện xấu gia đình bạn làm thì ông Táo đều biết rõ và nhìn thấy tường tận. Vì vậy khi chầu trời sẽ bẩm báo với Ngọc Hoàng xem cách ăn ở đối nhân xử thế của gia đình bạn để từ đó ban phúc hay phạt họa cho gia đình bạn.

Từ ý nghĩa của cúng ông Táo ông Công thì bạn cũng sẽ thấy được răng các cư xử hàng ngày, cách đôi nhân xử thế, những việc tốt việc xấu mình làm cũng rất quan trọng và đây cũng là 1 năm để mình nhìn lại mọi việc tốt xấu, việc gì làm chưa tốt thì hãy cố gắng sửa và làm nhiều việc tốt hơn nữa nhé.

Đọc bài văn khấn cúng ông táo ông công

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Tên tôi (hoặc con là)…, cùng toàn gia ở…

Kính lạy đức “Đông Trù tư mệnh Táo phủ Thần Quân:

(Có thể khấn thêm: Thổ địa Long Mạch Tôn Thần. Ngũ phương ngũ thổ Phúc Đức chính Thần)

Hàng năm gặp tiết hết năm, tháng vừa cuối Chạp. Gia đình sửa lễ bạc dâng lên. Cảm tạ phúc dày nhờ Thần phù hộ. Kính mong thần tâu bẩm giúp cho:

Bếp trong nếp sống rất hòa, ngoài mặt dám rằng cũng đẹp. Cảm thông xin tấu thực thà.

Cầu mong giúp đỡ lợi lạc. Người người lo ấm, cả nhà thêm tiếng tốt lẫy lừng. Việc việc thành công, một cửa ngút khí lành man mác. Muôn trông ơn đức vô cùng.

Cẩn cáo (vái 4 vái)

Bài cúng ông táo ông công chầu trời:

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Kính lạy ngài Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân.

Tín chủ chúng con là: ………………………….

Ngụ tại: ……………………………………..

Nhân ngày 23 tháng Chạp tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật xiêm hài áo mũ, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, dâng hiến tôn thần, đốt nến tâm hương dốc lòng bái thỉnh.

Chúng con kính mời:

Ngài Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân giáng lâm trước án hưởng thụ lễ vật.

Phỏng theo lệ cũ, ngài là vị chủ, ngũ tự gia thần, soi xét lòng trần, Táo quân chứng giám.

Trong năm sai phạm, các tội lỗi lầm, cúi xin tôn thần, gia ân châm trước. Ban lộc ban phước, phù hộ toàn gia, trai gái trẻ già, an ninh khang thái.

Dãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

Cẩn cáo.

Vừa rồi là chia sẻ nguồn gốc, ý nghĩa, bài văn cúng ông táo ông công chầu trời. Hi vọng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ý nghĩa cũng như có được bài cúng văn khấn thật hay và chuẩn nhất!

Xem nhièu bài viết hay về lá Số Tử Vi Phong Thủy tại chuyên mục Tử Vi Phong Thủy trọn đời

【#5】Mẫu Văn Cúng Giổ Tổ Họ Đồng ………..

MẪU VĂN CÚNG GIỔ TỔ HỌ ĐỒNG ………..

DUY: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tỉnh …..huyện……, xã ….., thôn ….. , Nhà thờ tổ họ …..

Tuế thứ : Mậu Tuất niên , …..nguyệt , …..nhật, Hậu duệ , trưởng tôn , đời thứ …. , Trưởng tộc là …………..

Cùng các bậc cao niên , các con trai , gái , dâu , rể , cháu ,chắt nội , ngoại đồng tộc và thân hữu gần xa, gồm có:

…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Về đây tề tựu , nhân ngày húy kỵ Đức ( Viễn -Thủy- Thượng ….. tổ , cập liệt vị Tiên linh .

Xin kính cẩn tiến lệ : Hương , đèn , phù lưu thanh tước , trà rượu , kim ngân minh y , hoa quả , bánh kẹo , mâm cỗ , đẳng vật chi nghi , lệ mọn tâm thành , cẩn chiêu cáo vu :

Cung thỉnh : Đức Thượng tổ Đồng ……., phủ quân chân linh , vị tiền.

Cập Đức ….. Thượng Tổ Tỷ phu nhân , chính thất húy danh …….., nhũ nhân chi linh , vị tiền .

Cung thỉnh liệt vị tiên linh :

– Thế thứ 2 :Cung thỉnh : …………

chúng tôi nhân , chính thất húy danh…………, vị tiền .

– Thế thứ 3 : Cung thỉnh : …………

chúng tôi nhân , chính thất húy danh…………, vị tiền .

– Thế thứ 4 : Cung thỉnh : …………

chúng tôi nhân , chính thất húy danh…………, vị tiền .

– Thế thứ 5 -1 : Cung thỉnh : …………

chúng tôi nhân , chính thất húy danh…………, vị tiền .

Kính lạy Đức Thủy tổ Đồng tộc, kính lạy Liệt vị Tiên linh và xin kính cáo :

Lẽ tự nhiên : Con người ta , trăm họ đều có Tổ có Tông .

Giọt nước kia , triệu khối cũng có nguồn có ngọn .

Muôn lá ngàn cành , đều sinh ra từ gốc rễ .

Nghìn suối trăm sông , cùng khởi tự sơn khê .

Mừng hôm nay : Trên đất quê hương , tưng bừng ngày húy nhật.

Nhà thờ Tổ họ Đồng ta , (Giỗ- Chạp Tổ hoặc khánh thành) uy linh dáng cổ, trong không gian ( Xuân-hạ- Thu- Đông) nguyên lễ tiết , ngào ngạt hương thơm .

Toàn thể già trẻ gái trai , con cháu mọi nhà.

Về đây tề tựu , với tầm lòng thành, tưởng nhớ các vị Tiên linh.

Tự hào thay : Được làm hậu duệ tôn Đồng …

Kiêu hãnh thay : Được mang dòng máu liệt vị Tiên tổ. Liệt vị Tiên linh Đồng tộc.

Nhở thuở xưa : Quê hương họ ta , địa danh ……..thôn , ……….xã , ……….huyện , …….đạo , An nam quốc .

Đức Thủy tổ Đồng … lập nghiệp sinh cơ , khai sinh dòng họ . Trải biết bao sóng gió , vượt muôn vàn gian lao , mở trời mở đất,

Sinh con sinh cháu , Đức lưu quang truyền nối đời đời .

Thời Mạc triều, mảnh đất Chí Linh có 6 Tiến sỹ, được Triều đình trọng, vua ban, hào quang tôn vinh muôn thế hệ .

Phát huy truyền thống học hành, thành đạt, vẻ vang 6 Tiến sỹ họ Đồng đất …………thời Phong kiến, tiên linh các thế hệ tiếp theo đã trên dưới thuận hòa , kỉ cương giữ vững , người người nhà nhà ra sức sản xuất , xây dựng , sẵn sàng hăng hái xung phong chiến thắng giặc đói , địch họa , thiên tai.

Đồng tộc đoàn kết, quy tụ dòng họ lớn giữa cộng đồng các dòng tộc” tiên linh các thế hệ tiếp theo đã lấy điều “Nhân làm gốc” , thương yêu đùm bọc lẫn nhau , từ Một gốc , đã nảy nhiều cành ; Lập chùa Tam quan , siêu sinh tĩnh độ liệt vị vong linh ; chiêu dân lập ấp mở đất, dựng làng (nếu có), công lao ấy làm nức lòng thiên hạ .

Liệt vị tiên linh ta , lấy nông nghiệp làm nghề căn bản , chăm lo trồng trọt chăn nuôi ; lấy sự học mở mang học vấn làm đầu , quyết chí tu thân tích đức ; làm thầy dạy chữ vẫn là nhất tự vi sư ,bán tự vi sư ; chú tâm phụng Phật đạo lấy điều thiện răn mình dự pháp ; Cứu mình giúp người , (nghề đông y truyền nối nhiều đời- nếu có) ; / Việc âm việc dương ,y lưu phong thủy luôn luôn chú trọng ; Tề gia trị quốc , giỏi việc nhà chăm việc nước , nhiều người làm công chức , danh sáng bảng vàng ; Chữ Hiếu chữ Trung , việc trong Họ tộc , công giữa cộng đồng , trước sau giữ trọn .

Tự thuở khai sinh dòng Họ , đến nay lịch sử đã trải hơn 300 – 500 năm ( s năm theo ghi chép của dòng họ) ; Nhờ Đại công đại đức Ngài Thượng tổ Đồng…. và liệt vị tiên linh gồm …. thế đại , họ Đồng Tiến phát triển thịnh vượng an khang , con con cháu cháu đời đời sinh sôi nảy nở .

Thiết niệm : Vừng nhật nguyệt mười phương rạng rỡ / Đức Tiên linh muôn thuở sáng ngời / ngửa trông phúc ấm nối đời / Tế Thần Thần tại về nơi từ đường / Đế con cháu lửa hương phụng sự / Ngàn năm sau xuân tự thu thường / Ơn trời đất cao dày che chở , Ơn Tổ tiên phù hộ độ trì / Nên : Cây vững cội , thắm cành xanh lá / Nước tự nguồn thành bể cả sông sâu / Chữ trung chữ hiếu làm đầu /Người người tâm niệm vì đâu có mình / Nhờ tiên tổ anh linh phù hộ / Dìu cháu con tiến bộ trưởng thành / Trẻ già trai gái yên lành / Họ hàng thịnh vượng , gia đình an vui .

Hôm nay đây : Vận nước trải qua đã lắm thăng trầm / Lòng dân vẫn qui về một mối / Trên nhờ ơn Đảng , Bác Hồ / Giương cao ngọn cờ cách mạng /Trong Họ nhờ hồng phúc Tổ tiên / truyền lại ý chí kiên cường / giành được độc lập tự do , ấm no hạnh phúc / Nay chúng con đồng tộc đẳng / ghi tâm khắc cốt công ơn / khấu đầu kính lạy tạ ơn Đức Thủy tổ Đồng Tiến Chí Linh, tạ ơn liệt vị tiên linh , tạ ơn liệt vị tổ Bá , tổ Thúc , cập chư vị tảo sinh tảo lạc viễn cận đẳng hồn / Cúi xin Chư vị đa thiểu nhận tình chấp nhận mọi lệ vật cúng tiến / Cầu xin Chư vị tiên linh lưu ân lưu phúc / phù hộ cho toàn họ Đồng Tiến ta các môn các hộ , định cư nơi quê hương bản quán , hoặc sinh cơ lập nghiệp , học hành , công tác ở Hà nội, Sài gòn, ………., hay làm ăn ở mọi miền Tổ quốc , cũng như ở Châu Âu, Mỹ , Hàn quốc , Đài loan (Nếu có) và các quốc gia lãnh thổ khắp thế giới / mọi người già trẻ gái trai , thịnh vượng an khang, đồng tâm nhất trí / đoàn kết một lòng ,giữ vững kỷ cương , kính trọng thương yêu nhau , trên thuận dưới hòa / Phát huy truyền thống tiên linh , xây dựng dòng họ ngày càng lớn mạnh đông vui trong xã hội văn minh phồn thịnh đời đời/ Cầu xin liệt vị Tiên linh phù hộ cho nội tộc , cùng gia đình, người người ai nấy được hưởng phú, quý, thọ, khang, ninh ngũ phúc du đồng / phúc lộc thọ quần mông hưu mĩ .

CẨN CÁO ! CẨN CẨN CÁO

MẪU VĂN CÚNG GIỔ TỔ HỌ ĐỒNG….

(ngày…. Tháng….., năm Mậu Tuất – 2021)

DUY : Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam , tỉnh Hải Phòng, huyện…….., xã ………. , thôn ……….. , Nhà thờ tổ họ Đồng…….

Tuế thứ : ………………..niên , ……….nguyệt , ……nhật .Hậu duệ trưởng tôn , đời thứ ……………..là…………………………

Cùng các bậc cao niên , các con trai , gái , dâu , rể , cháu ,chắt nội , ngoại đồng tộc và thân hữu gần xa ,gồm có:

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

Về đây tề tựu , nhân ngày húy kỵ Đức Thượng tổ , cập liệt vị Tiên linh .

Xin kính cẩn tiến lễ : Hương , đèn , phù lưu thanh tước , trà rượu , kim ngân minh y , hoa quả , bánh kẹo , mâm cỗ , đẳng vật chi nghi , lễ mọn tâm thành , cẩn chiêu cáo vu :

Cung thỉnh : Đức Thượng tổ Đồng Tiến…, phủ quân chân linh , vị tiền. Đức chúng tôi nhân , húy danh …….,nhũ nhân chi linh , vị tiền .

Cung thỉnh liệt vị tiên linh :

– Thế thứ 2 :Cung thỉnh : ……………

– Thế thứ 3 :Cung thỉnh : ………….

– Thế thứ 4 :Cung thỉnh : …………………

– Thế thứ 5 -1 : Cung thỉnh : ……………

– Tt 5 – 2 :Cung thỉnh : …………….

– Tt 5 – 3 :Cung thỉnh : ………Qúy công , ……, tự ….. , phủ quân chi linh, cập chúng tôi nhân , vị tiền .

– Thế thứ 6 – 1 :Cung thỉnh : ………..phủ quân . cập chúng tôi nhân vị tiền .

– Đồng cung thỉnh Liệt vị tiên linh vô thừa tự , cập tảo sinh tảo lạc các thế đại viễn cận đẳng hồn , cung thỉnh Tổ Bá , tổ Thúc chư vị tiên linh đồng lai hâm hưởng .

Kính lạy Đức Thượng tổ Đồng ……, kính lạy Liệt vị Tiên linh và xin kính cáo :

” Lẽ tự nhiên : Con người ta , trăm họ đều có Tổ có Tông .

Giọt nước kia , triệu khối cũng có nguồn có ngọn .

Muôn lá ngàn cành , đều sinh ra từ gốc rễ .

Nghìn suối trăm sông , cùng khởi tự sơn khê .

Mừng hôm nay : Trên đất quê hương , tưng bừng ngày húy nhật .

Nhà thờ Tổ họ Đồng Tiến ta , ngào ngạt khói hương .

Toàn thể già trẻ gái trai , con cháu mọi nhà ,

Về đây tề tựu , với tầm lòng thành , tưởng nhớ các Tiên linh

Tự hào thay : Được làm hậu duệ tôn Đồng Tiến…

Kiêu hãnh thay : Được mang dòng máu liệt vị ….

Liệt vị Tiên linh Đồng tộc .

Nhớ thuở xưa : Quê hương họ ta , mang danh ……thôn , ….xã , …… huyện , …. đạo , An nam quốc .

Đức Thượng tổ Đồng…….. lập nghiệp sinh cơ , khai sinh dòng họ . Trải biết bao sóng gió , vượt muôn vàn gian lao , mở trời mở đất,

Sinh con sinh cháu , Đức lưu quang truyền nối đời đời .

Thời Mạc triều hung thịnh, 6 vị Tiến sỹ Đồng tộc đất Chí Linh hiển hách : Ngài Đồng Hãng, Đồng Đắc, Đồng Văn Giáo, Đồng Tồn Trạch, Đồng Bỉnh Do, Đồng Hưng Tạo được Triều đình trọng dụng, công đức tôn vinh muôn thế hệ .

” Phát huy hào quang của vị Thiền sư Pháp Loa _ Đồng Kiên Cương tu thiền đắc đạo, các vị Tiến sỹ Đồng họ ta làm vẻ vang Đồng tộc “, tiên linh các thế hệ tiếp theo đã trên dưới thuận hòa , kỷ cương giữ vững , người người nhà nhà ra sức sản xuất , xây dựng , sẵn sàng hăng hái xung phong chiến thắng giặc đói , địch họa , thiên tai .

“Mở mang qui mô dòng họ lớn giữa cộng đồng các dòng họ” tiên linh các thế hệ tiếp theo đã lấy điều ” Nhân làm gốc” , thương yêu đùm bọc lẫn nhau , từ Một gốc , đã nảy nhiều cành ; Vị Thiền sư Đồng tộc siêu sinh tĩnh độ liệt vị vong linh ; các vị Tiên tổ chiêu dân lập ấp mở làng , công lao ấy làm nức lòng thiên hạ .

Liệt vị tiên linh ta , lấy nông nghiệp làm nghề căn bản , chăm lo trồng trọt chăn nuôi ; lấy sự học mở mang học vấn làm đầu , quyết chí tu thân tích đức ; làm thầy dạy chữ vẫn là nhất tự vi sư ,bán tự vi sư ; chú tâm phụng Phật đạo lấy điều thiện răn mình dự pháp ; Cứu mình giúp người , nghề đông y ( nếu có) truyến nối nhiều đời ; / Viêc âm việc dương ,y lưu phong thủy luôn luôn chú trọng ; Tề gia trị quốc , giỏi việc nhà chăm việc nước , nhiều người làm chức việc trong tỉnh, thành, huyện, xã thôn ; Chữ Hiếu chữ Trung , việc trong Họ , công giữa cộng đồng , trước sau giữ trọn .

Tự thuở khai sinh dòng Họ , đến nay lịch sử đã trải hơn 300- 700 năm ( tùy theo lịch sử dòng họ) ; Nhờ Đại công đại đức Ngài Thủy tổ …….. và liệt vị tiên linh gồm …. thế đại , họ Đồng ……. phát triển thịnh vượng an khang , con con cháu cháu đời đời sinh sôi nảy nở .

Hôm nay đây : Vận nước trải qua đã lắm thăng trầm / Lòng dân vẫn qui về một mối / Trên nhờ ơn Đảng , Bác Hồ / Giương cao ngọn cờ cách mạng /Trong Họ nhờ hồng phúc Tổ tiên / truyền lại ý chí kiên cường / giành được độc lập tự do , ấm no hạnh phúc / Nay chúng con đồng tộc đẳng / ghi tâm khắc cốt công ơn / khấu đầu kính lạy tạ ơn Đức Thủy tổ, đức Thành hoàng làng, tạ ơn liệt vị tiên linh , tạ ơn liệt vị tổ Bá , tổ Thúc , cập chư vị tảo sinh tảo lạc viễn cận đẳng hồn / Cúi xin Chư vị đa thiểu nhận tình chấp nhận mọi lệ vật cúng tiến / Cầu xin Chư vị tiên linh lưu ân lưu phúc / phù hộ cho toàn họ các môn các hộ , định cư nơi quê hương bản quán , hoặc sinh cơ lập nghiệp ở Hà nội , Sài gòn , chúng tôi làm ăn ở mọi miền Tổ quốc / mọi người già trẻ gái trai , thịnh vượng an khang ,đồng tâm nhất trí / đoàn kết một lòng ,giữ vững kỷ cương , kính trọng thương yêu nhau , trên thuận dưới hòa / Phát huy truyền thông tiên linh xây dựng dòng họ ngày càng lớn mạnh đông vui trong xã hội văn minh phồn thịnh / Cầu xin liệt vị Tiên linh phù hộ cho nội tộc người người ai nấy được hưởng phú , quý , thọ , khang , ninh ngũ phúc du đồng / phúc lộc thọ quần mông hưu mỹ .

Cẩn cáo ! Cẩn cẩn cáo !”

MẪU VĂN CÚNG TÔN THẦN …..

DUY! Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam , tỉnh ……., huyện ………., xã ……., thôn ……. , Nhà thờ Tổ Họ Đồng ( Tiến, Xuân, Văn…)

Tuế thứ ………………..niên , ………………nguyệt , ……………nhật .

Tín chủ , hậu duệ tôn đời thứ ……… , tộc trưởng họ Đồng……là : Đồng Tiến……., Đồng tộc đẳng

Hôm nay nhân việc lớn :……………………………………………….

………………………………………………………………………………

Xin kính lễ : Hương , đèn , phù lưu thanh tước , kim ngân minh y , hoa quả , bánh kẹo , cỗ bàn , đẳng vật chi nghi , lễ mọn lòng thành . Trân trọng :

Kính lạy : Việt nam Hoàng thiên hậu thổ .

Kính lạy : Chín phương Trời , Mười phương Đất ..

Kính lạy : Quan ……………..đương niên ,…………………. hành khiển ,………………phán quan , chúng tôi thần .

CUNG THỈNH : THỔ ĐỊA TÔN THẦN , LONG THẦN BẢN XỨ , THÀNH HOÀNG BẢN CẢNH , HÔI ĐÒNG CHƯ PHẬT 10 PHƯƠNG CHI VỊ , VỊ TIỀN .

” Cung duy : Tôn thần vâng chỉ Ngọc Hoàng thượng đế / Uy linh truyền khắp ngũ phương / Đức tài vang xa bốn biển / Tiêu trừ tà tinh ác quỷ / Kim , mộc , thủy , hỏa , thổ / Phù hộ muôn dân / Phúc lành ban cho / Tai ương tống khứ / Phú quý khang ninh trường thọ / độ trì vạn sự bình yên .

Bản đường CHƯ VỊ Thánh thần / Đèn trời soi chiếu muôn dân / Cúi xin xét thấu lòng trần / Kính mong các Ngài chiếu giám / chấp kỳ lễ bạc / phù hộ độ trì / ban phúc lộc thọ cho chúng con trong đồng tộc / gặp được mọi sự lành / tránh khỏi mọi sự dự / lớn bé trẻ già thịnh vượng an khang” .

Kính xin Chư vị Thánh thần cho phép liệt vị tiên linh , tiên tổ họ ĐỒNG TIẾN….. được (nhập từ đường – nếu khánh thành từ đường) hâm hưởng lễ yết cáo thần linh và tiên tổ …………………………….

………………………………………………………………………………..

Để cháu con trong toàn họ trọn niềm hiếu kính .

Cẩn cáo ! Cẩn cẩn cáo !

VĂN CÚNG TỔ CÔ , TỔ CẬU .

***

Duy! Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam , tỉnh Hải Dương, huyện ….., Xã ……, thôn …….. , Nhà thờ họ Đồng…. .

Tuế thứ :………………..niên , ……………….nguyệt ……………..nhật

Tín chủ , Hậu duệ tôn , trưởng tộc họ Đồng là:…………………đồng tộc đẳng .

Hôm nay : …………………………………………………………

…………………………………………………………………………

Xin kính lễ : hương , đèn , trà rượu , trầu cau , vàng bạc áo quần , hoa quả , bánh kẹo , cỗ bàn , lễ mọn tâm thành .

Trân trọng kính mời :…………………………………………………

………………………………………………………………………………. Vị tiền .

Trước hương linh …………………………………………………….

Xin trình thưa rằng : Nước có nguồn , cây xanh nhờ gốc , người sinh do tổ .

Từ trong một gốc sinh ra , nội rồi có ngoại . Nhờ phúc đức liệt vị tiên linh phù hộ độ trì , con cháu trong toàn họ nam phụ lão ấu , đã dược hưởng thịnh vượng an khang . Nay nhân kỳ…………………………..

……………………………………………………………………..

Cháu con tưởng nhớ , khắc cốt ghi tâm công ơn ,và xin kính dâng lễ mọn lòng thành , cúi xin …………………………………………..đa thiểu nhận tình , thụ hưởng lễ vật , lưu ân lưu phúc phù hộ độ trì cho các môn các hộ , mọi người trong họ Đồng tộc được hưởng phúc lộc thọ dồi dào , thịnh vượng an khang , kính trọng thương yêu đoàn kết với nhau trăm người như một , trên thuận dưới hòa , xây dựng dòng họ đời đời hưng thịnh .

Cẩn cáo ! Cẩn cẩn cáo !

MẪU VĂN KHẤN LỄ TẢO MỘ

(Dịp cuối năm hoặc Thanh Minh)

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam , tỉnh Hải Phòng, huyện ………., xã ………, Nghĩa trang Họ Đồng tại …………

Ngày……….tháng ………năm …………………….. .

Hậu duệ tôn Trưởng tộc là Đồng Tiến , đồng tộc đẳng , hôm nay theo thông lễ hàng năm là ngày Lễ Tảo mộ .

Xin kính lễ : hương , đèn , phù lưu , thanh tước , kim ngân , xiêm hài áo mũ , hoa quả , bánh kẹo , mâm cỗ , lễ mọn tâm thành .

Con kính lạy : Chín phương trời , mười phương Chư Phật , Chư Phật Mười phương

Con kính lạy : Hoàng thiên , Hậu thổ chư vị Tôn Thần .

Con kính lạy Ngài Địa tạng vương bồ tát .

Con kính lạy : Ngài kim niên đương cai ………………..,……………….hành khiển ,………………..chi thần , ………………..phán quan .

Con kính lạy : Ngài Bản cảnh thành hoàng .

Con kính lạy các Ngài Bản xứ thần linh thổ địa tôn thần .

Con kính lạy Các Ngài Ngũ phương ngũ thổ long mạch tôn thần , các Ngài Tiền Chu tước , Hậu Huyền vũ , tả Thanh long , hữu Bạch hổ và các vị Tôn thần cai quản tại Nghĩa trang này . Vị tiền thụ hưởng lễ vật

Con xin kính lạy Liệt vị Tôn linh TIÊN TỔ có mộ phần an táng tại nghĩa trang này . Vị tiền thụ hưởng lễ vật .

Trước bản tọa Chư vị tôn thần , con kỉnh cẩn trình tâu rằng :

” Các vị thần linh thông minh chính trực, giữ ngôi tam thai nắm quyền tạo hóa , thể đức hiếu sinh , phù hộ dân lành , nêu cao chính đạo . Vâng chỉ Ngọc hoàng thượng đế , uy linh truyền khắp ngũ phương , đức tài vang xa bốn biển , cấm trừ tà tinh ác quỷ , trấn giữ Nghĩa trang này . Thời gian qua , mộ phần liệt vị Tiên Tổ của dòng họ Đồng an táng tại nơi đây đã dược Chư vị Tôn thần đẳng vạn anh linh phù trì bảo hộ nên đã được muôn sự an toàn , Dương cơ Âm mộ mọi chỗ tốt lành . Kính đức lớn công cao, ân thâm nghĩa trọng , chúng con nay xin ý khẩn tâm thành khấu lạy tạ ơn Chư vị tôn thần . Và kính cầu xin Chư vị tôn thần cai quản nghĩa trang này được uy linh trường cửu , Liệt vị Tiên Tổ chúng con được phách thể bình yên , phần mộ vững bền , bảo tồn khô cốt , phúc di lưu cho con cháu chắt … đời đời thịnh vượng an khang .

Trước bản tọa liệt vị hương linh Tiên tổ , con kính cẩn trình tâu rằng :

Cẩn cáo ! Cẩn cẩn cáo !

Nước có nguồn , cây xanh nhờ gốc , nhân sinh do Tổ . Nay : tiết thuộc tàn đông ( hoặc Thanh Minh) , Nguyên đán sắp đến , cháu con tưởng niệm , tảo mộ âm phần ,liệt vị Tiên tổ , cúi xin phù hộ , các môn các hộ , lớn bé trẻ già , an khang thịnh vượng . Kính xin Chư vị tôn thần cho phép và kính mời liệt vị Tiên Tổ về Từ đường và các gia đình đón mừng năm mới ( Tảo mộ Thanh Minh), để cháu con phụng sự trong tiết xuân thiên , báo đáp ân thâm , tỏ lòng hiếu kính .

【#6】Giới Thiệu Sơ Lược Về Động Sơn Trang

Giới thiệu về Động Sơn Trang

Động Sơn Trang thờ ai? Vì sao lại có tục thờ cung Sơn Trang? Để giúp các bạn có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng tôi xin gửi tới bạn đọc bài viết giới thiệu về Động Sơn Trang để bạn đọc cùng tham khảo và có thể hiểu rõ hơn.

Động Sơn Trang thờ ai?

Có lẽ tại hầu hết đền, phủ đều có cung thờ Sơn Trang. Cung Sơn Trang (hay còn gọi Động Sơn Trang) thường được bài trí là một động đá có Chúa Sơn Trang và các Cô Sơn Trang ngự.

Vậy Chúa Sơn Trang là ai và tục thờ Sơn Trang có từ bao giờ? Đây là một câu hỏi mà ai đi lễ đền, phủ đều muốn biết.

Tục thờ Sơn Trang có từ bao giờ

Tục thờ Sơn Trang là một tục thờ tối cổ của người Việt, ra đời từ thời Âu Lạc, cách đây cỡ 2000 năm. Còn tục thờ Tứ Phủ có lẽ chỉ thịnh hành khi có xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh cách đây hơn 600 năm. Như vậy, tục thờ Sơn Trang ban đầu là một tín ngưỡng thờ Mẹ rừng có từ trước khi Mẫu Liễu Hạnh ra đời.

Tại sao Cung Sơn Trang lại được phối thờ trong các đền phủ theo tín ngưỡng Tứ Phủ

Khi xuất hiện Mẫu Liễu Hạnh. Triều đình nhà Lê đã phong Chúa Sơn Trang là “Lê Mại Đại Vương”. Kể từ đó Chúa Sơn Trang trở thành Mẫu Thượng Ngàn đứng ngôi thứ hai trong Tam Tòa Thánh Mẫu. Như vậy, Tín ngưỡng thờ Tứ Phủ được coi là sự kết hợp hài hòa của tục thờ Mẫu Liễu Hạnh và tục thờ Sơn Trang.

Chúa Sơn Trang là ai

Theo tác giá Đồng Âm thì ngự tại Cung Sơn Trang (hay Tòa Sơn Trang) là Tam Tòa Sơn Trang. Tam Tòa Sơn Trang bao gồm:

– Sơn Trang Đệ Nhất: Thanh Sơn Đại Vương Bạch Anh Quản Trưởng Sơn Lâm Công chúa Lê Mại Đại Vương.

– Sơn trang Đệ Nhị: Diệu Tín Thiền Sư La Bình Công chúa.

– Sơn Trang Đệ Tam: Sơn Trang đệ tam Diệu Nghĩa thiền sư Quế Hoa công chúa.

Đây là ba Chúa Sơn Trang có từ thời Vua Hùng, cả 3 ngôi này đều được coi là ba hiện thân của Mẫu Thượng Ngàn. Bởi Mẫu Thượng Ngàn tại đền Bắc Lệ chính là La Bình Công Chúa; tại Đền Suối Mỡ chính là Quế Hoa Công Chúa, còn tại đền Đông Cuông là Lê Mại Đại Vương Công Chúa.

Mẫu Thượng Ngàn cai quản tam thập lục động, thập nhị tiên nàng, bát bộ sơn trang. Trong tòa Sơn trang chia ra làm 12 chốn Mán, 12 chốn Mường, 12 chốn man di Thổ tộc cho nên mới gọi là tam thập lục động sơn lâm sơn trang, và 82 cửa rừng, 72 cửa biển, bát bộ sơn trang (8 tướng trai), thập nhị bộ tiên nàng (12 tướng gái).

Bát Bộ Sơn Trang là ai

Theo tương truyền Mẫu Thượng Ngàn lấy ông họ Đỗ ở Đồng Đăng, hạ sinh được ông Đỗ Đống, Ông Đỗ Đống lấy bà Nguyễn Thị Tươi sinh ra 8 tướng phù giúp An Dương Vương, sau này hiển linh phù giúp Hai Bà Trưng và các đời Lý, Trần, Lê. Nhân dân ta gọi là 8 tướng sơn trang, Cai quản Các Lũng, Các Nương Núi Rừng, gồm: Đỗ Trinh, Đỗ Triệu, Đỗ Hiệu, Đỗ Trung, Đỗ Bích, Đỗ Trương, Đỗ Cường, Đỗ Dũng.

12 cô Sơn Trang là ai

Theo ý kiến của Trang Hatvan thì Thập nhị cô Sơn Trang là 12 thánh cô đi theo hầu Mẫu Thượng Ngàn. 12 Thánh Cô này là: Cô Cả Núi Dùm; Cô Đôi Bắc Lệ; Cô Bơ Thượng Ngàn, Cô Tư Ỷ La, Cô Năm Đồng Tiền, Cô Sáu Đồi Ngang, Cô Tám Thượng Ngàn, Cô Chín thượng ngàn, Cô Mười Suối Ngang, Cô Mười Một Đồng Nhân, Cô Mười Hai Thượng Ngàn. Theo ý kiến này thì 12 cô sơn trang không phải là các cô trong Tứ Phủ Thánh Cô.

Chúa Sơn Trang chính là hiện thân của Mẫu Thượng Ngàn

Như vậy, Chúa Sơn Trang thờ trong Động Sơn Trang chính là hiện thân của Mẫu Thượng Ngàn trong Tam Tòa Thánh Mẫu.

Văn khấn ban Sơn Trang

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức chúa Thương Ngàn đỉnh thương cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương ngọc điện hạ.

Con kính lạy Đức Thượng Ngàn chúa tể Mị Nương Quế Hoa công chúa tối tú tối linh, cai quản ba mươi sáu cửa rừng mười hai cửa bể.

Con kính lạy chư Tiên, chư Thánh chư Thần, Bát bộ Sơn trang, thập nhị Tiên Nàng, Thánh cô Thánh cậu, Ngũ hổ Bạch xà Đại tướng.

Hương tử con là…………………….

Ngụ tại………………………..

Nhân tiết……………Chúng con thân đến phủ chúa trên ngàn, đốt nén tâm hương kính dâng lễ vật, một dạ chí thành, chắp tay khấn nguyện. Cúi xin lượng cả bao dung, thể đức hiếu sinh, phù hộ độ tri cho chúng con cùng cả gia quyến chín tháng đông, ba tháng hè được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vượng tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám, phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

【#7】Bài Văn Khấn Cúng Giỗ 49 Ngày, Lễ Tất Khốc 100 Ngày Ngoài Mộ

Nam mô A di đà phật!

Nam mô A di đà phật!

Nam mô A di đà phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

Hôm nay là ngày………..tháng………..năm…………. (âm lịch), tức là ngày………….tháng………..năm…….. (dương lịch).

Tại địa chỉ:…………..

Con trai trưởng là: ……………

Vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là Mẹ)/Vâng theo lệnh của phụ thân (nếu là Cha), các chú bác, anh rẻ cùng chị gái, em trai em gái và các dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Hôm nay nhân ngày lễ Chung Thất theo nghi lễ cổ truyền, kính cẩn sắm các lễ vật dâng lên bao gồm : Đọc tên các lễ vật đã sắm.

Kính dâng lễ mọn với tấm lòng thành.

Trước linh vị hiển chân linh.

Xin kính cẩn trình thưa rằng:……….

Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế (nếu là người Cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế (nếu là người Mẹ). Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng biết là bao. Mất lâu nay thở than trầm mơ màng. Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ. Sống thời lai lai láng láng hớn hở chừng nào. Thác thời kể tháng kể ngày buồn tênh mọi lẽ.

Tính đến nay Chung Thất tới tuần. Lễ bạc nhưng tâm thành gọi là có nén nhang.

Xin mời hiển……….

Xin mời hiển……….

Xin mời hiển……….

Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về tâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn Thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ và toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.

Nam mô A di Đà phật!

Nam mô A di Đà phật!

văn khấn tạ mộ mới xây,văn khấn xây mộ,văn khấn cúng tạ mộ mới xây xong,van khan,bai van khan,bài văn khấn,văn khấn,văn khấn nôm,tạ mộ thanh minh,tạ mộ mới xây,văn khấn tạ mộ mới,văn khấn sửa chữa mộ phần,khấn sửa chữa mộ,văn khấn cải táng,văn khấn giỗ đầu,bài văn khấn ngoài mộ ngày giỗ đầu,văn khấn ngoài mộ ngày giỗ thường,văn khấn ngoài mộ ngày giỗ hết,văn khấn cúng 49 ngày,văn khấn 100 ngày,văn khấn 49 ngày,văn khấn 49 ngày cho người mất.

Xin chân thành cảm ơn.

【#8】Rằm Trung Thu, Rằm Tháng 8: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa, Văn Khấn Cúng Gia Tiên Chuẩn Nhất

Bài cúng Rằm tháng 8 được thực hiện trong Tết Trung Thu, ngoài việc sắm lễ, văn khấn cúng gia tiên cũng được khá nhiều người quan tâm. Nguồn gốc, ý nghĩa:

Tết Trung thu diễn ra vào ngày 15 của tháng 8 Âm lịch, đây là thời điểm mặt trăng tròn nhất và sáng nhất, cũng là khoảng thời gian mà người Châu Á thu hoạch xong mùa vụ và bắt đầu tổ chức những lễ hội mà trong đó phải kể đến lễ hội trăng rằm.

Theo tài liệu có trong truyền thuyết của Trung Quốc phổ biến có từ thời Tây Hán (206 TCN – 24 SCN) thì Hậu Nghệ là một người bất tử, trong khi đó Hằng Nga là một tiên nữ xinh đẹp sống ở Thiên Đình và phục vụ cho Tây Vương Mẫu. Cả hai người là vợ chồng.

Sắc đẹp của Hằng Nga và sự bất tử của Hậu Nghệ đã làm cho một số vị thần tiên khác ghanh ghét, và họ đã vu oan một tội lỗi phạm thiên đình cho Hậu Nghệ trước mặt Vua Nghiêu.

Từ đó, Hằng Nga và Hậu Nghệ bị đuổi khỏi hoàng cung và phải sống cuộc đời thường dân. Từ đó, cuộc sống làm lụng, săn bắn đã làm cho chàng Hậu Nghệ trở thành một xạ thủ có tiếng trong dân gian.

Bấy giờ, có 10 mặt trời cùng lúc tồn tại, cứ một mặt trời thì chiếu một ngày, và cứ thay phiên như vậy trong vòng một ngày. Tuy nhiên, tai họa ập đến, một ngày kia cả 10 mặt trời cùng xuất hiện trong một ngày và đã thiêu cháy hầu hết sinh linh trên mặt đất.

Trước hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” trên, Vua Nghiêu đã sai Hậu Nghệ bắn rơi 9 mặt trời chỉ để một cái lại mà thôi. Chàng Hậu Nghệ đã hoàn thành sứ mạng xuất sắc.

Để đáp lại, Vua Nghiêu đã cho chàng một viên thuốc trường sinh bất lão và dặn rằng “Tạm thời không được uống cái này vào, hay bắt đầu cầu nguyện và ăn chay trong một năm sau đó mới được uống”. Hậu Nghệ làm theo, chàng đem viên thuốc về nhà và giấu nó ở cái rui trên nóc nhà và tự khổ luyện tinh thần.

Được khoảng nửa năm, Vua Nghiêu mời chàng đến kinh thành “chơi” . Hằng Nga ở nhà thì bỗng lưu ý đến một vật sáng lóng lánh trên mái nhà và phát hiện ra viên linh dược, sau đó, biết là linh dược, nàng đã uống ngay viên thuốc cũng đúng lúc Hậu Nghệ vừa về đến và ngay tức khắc chàng đã biết chuyện gì đã xảy ra. Nhưng tất cả đã quá muộn, Hằng Nga bắt đầu bay về trời.

Với chiếc nỏ trong tay, Hậu Nghệ đuổi theo Hằng Nga. Nhưng đi được đến nửa đường thì thần Gió đã cản chàng lại mặc cho nàng tiên nữ xinh đẹp kia bay đến mặt trăng. Khi vừa đến nơi Hằng Nga bỗng không thở được và viên thuốc bỗng văng ra. Kể từ đó, Hằng Nga mãi ở trên mặt trăng không thể nào trở lại. Truyền thuyết còn kể lại rằng nàng đã kêu gọi những con thỏ ở mặt trăng tạo ra viên thuốc giống như vậy để nàng còn quay về với người chồng ngày đêm mong nhớ, nhưng tất cả đều vô dụng.

Trong khi đó, ở dương thế, sự mong nhớ và nỗi hối hận ngày đêm cồn cào Hậu Nghệ. Cuối cùng, chàng xây một lâu đài trong mặt trời và đặt tên là “Dương”, trong khi đó thì Hằng Nga cũng xây một lâu đài tương tự đặt tên là “Âm”. Cứ mỗi năm một lần, vào ngày rằm tháng 8, hai người được đoàn viên trong niềm hân hoan hạnh phúc. Chính vì thế mà mặt trăng luôn thật tròn và thật sáng vào ngày này như đê nói đến niềm vui, sự hân hoan khi được gặp mặt của con người.

Bài cúng Rằm tháng 8 được thực hiện trong Tết Trung Thu, ngoài việc sắm lễ, văn khấn cúng gia tiên cũng được khá nhiều người quan tâm. Ảnh: Internet

Hậu Nghệ vốn là người phàm trần và là một xạ thủ rất giỏi, chàng đã bắn rơi 9 mặt trời để cứu loài người, nhưng sau đó chàng ta đã trở thành vua Trung Quốc nhưng rồi anh ta trở nên bạo ngược và thi hành những đạo luật khắt khe với nhân dân.Một ngày kia, Hậu Nghệ đánh cắp một viên thuốc trường sinh bất lão của một vị nữ thần.

Tuy nhiên, Vợ Hậu Nghệ, Hằng Nga đã uống nó vì nàng không muốn chồng của mình cứ mãi mãi trở thành một ông vua bạo ngược để nhân dân oán ghét. Và sau khi uống viên linh dược, Hằng Nga đã bay về trời. Vì quá yêu thương Hằng Nga, Hậu Nghệ đã không nỡ bắn rơi mặt trăng giống như chàng đã từng làm với 9 mặt trời trước đó.

Một truyền thuyết khác đã cho rằng: Hằng Nga và Hậu Nghệ đều là những vị thần bất tử sống trên thiên đình. Một ngày kia, người con trai thứ 10 của Ngọc Hoàng đã phân thân thành mười mặt trời từ đó gây nên thảm kịch cho loài người.

Trước tình hình đó, Hậu Nghệ, với tài bắn tên của mình đã bắn rơi 9 mặt trời nhưng vì tình cảm, đã tha chết cho bản thể thứ 10 của con trai của Ngọc Hoàng. Dĩ nhiên, Ngọc Hoàng không chấp nhận và rất phật ý. Ông ta đã trừng phạt Hậu Nghệ và Hằng Nga bằng cách bắt họ phải sống cuộc đời con người ở trần thế.

Sau khi xuống trần thế, hối tiếc cuộc sống bất tử đã qua, Hậu Nghệ đã bỏ nhà ra đi tìm thứ thuốc có thể trường sinh bất lão. Cuối cùng, chàng tìm thấy Tây Vương Mẫu, bà đã cho Hậu Nghệ linh dược, nhưng dặn rằng: mỗi người chỉ nên uống nửa viên để có được sự sống trường tồn.

Hậu Nghệ đem viên thuốc về nhà và để nó trong một chiếc lọ. Chàng đã cảnh báo Hằng Nga không được mở chiếc lọ ra để xem trong đó có gì và đi săn bắn trong vài tháng. Cũng giống như Pandora trong Thần Thoại Hi Lạp.

Sự tò mò đã làm Hằng Nga mở chiệc lọ và tìm thấy viên thuốc, dĩ nhiên nàng đã uống hết viên linh dược mà không biết rằng mỗi người chỉ nên uống nửa viên. Hậu quả thật tai hại, Hằng Nga đã bay về mặt trăng mà không thể cứu vãn được. Kể từ đó cả hai người đã phải sống trong tình cảnh chia lìa, ngăn cách.

Ở Khía cạnh lịch sử, Tết Trung Thu được cho là thời điểm kỷ niệm của quân Minh chống lại quân Nguyên vào đầu thế kỷ XIV. Vào thời đó, quân Minh đang nổi dậy chống lại triều đình nhà Nguyên chính vì vậy, việc tụ tập tại những nơi công cộng bị cấm.

Thế nên nghĩa quân không thể liên lạc được. Một vị tướng của quân Minh thời đó nhận thấy rằng người Mông Cổ không ăn Bánh Trung Thu, chính vì thế ông ta đã mở một tiệm bán bánh và trong mỗi cái bánh là một miếng giấy nhỏ viết rằng: “Giết tất cả bọn Mông Cổ vào ngày 15 tháng 8”.

Đêm trung thu năm đó, quân Minh đã tiêu diệt được quân Nguyên và giành chính quyền.

Và sau đó là việc thành lập triều đại Nhà Minh( 1368 – 1644), dưới sự thống lĩnh của hoàng đế Chu Nguyên Chương. Kể từ đó, Bánh Trung Thu không chỉ có giá trị ở khía cạnh văn hóa mà nó còn chứa đựng trong nó lòng tự hào dân tộc của người Trung Quốc.

Chính vì những lý do đó, Tết Trung Thu trở nên một phần không thể thiếu của nền văn hóa Trung Quốc đến nỗi ngày nay rất nhiều người Trung Quốc đặt tên cho con gái họ là Nguyệt với ước mong con gái họ sẽ xinh đẹp, trong sáng và đầy đặn như mặt trăng vậy.

Tục lệ ăn bánh hình mặt trăng trong dịp Tết Trung thu đã có từ thời Bắc Tống ở Trung Quốc, cách đây trên 1.000 năm.

Trong đêm 15 tháng 8 Âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh “đoàn viên”, bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà.

Đêm Trung thu, các em rước đèn, múa sư tử. Ngoài Bắc gọi là múa sư tử, trong Nam gọi là múa lân. Lân còn gọi là kỳ lân. Kỳ là tên con đực, lân là tên con cái. Lân là con vật đứng thứ hai trong tứ linh: long (rồng), lân, qui (rùa), phụng (phượng hoàng). Lân là con vật thần thoại, thân hươu, móng ngựa, đuôi bò, miệng rộng, mũi to, có một sừng ở ngay giữa trán, lông trên lưng ngũ sắc, lông dưới bụng màu vàng. Tục truyền, lân là con vật hiền lành, chỉ có người tốt mới nhìn thấy nó được.

Thoạt nhìn, đầu lân giống đầu sư tử. Do vậy, người ta gọi múa lân thành múa sư tử.

Ở nhiều địa phương có tục các em rước đèn kéo quân trong dịp Tết Trung thu. Đèn kéo quân hình vuông, cao khoảng 80cm, rộng mỗi bề khoảng 50cm. Bốn mặt đều phết giấy Tàu bạch như giấy bóng mờ hiện nay. Phía trên và phía dưới có đường viền sặc sỡ.

Bên trong có một tán giấy hình tròn. Khi đốt đèn, hơi lửa bốc lên, tán giấy xoay quanh. Đèn kéo quân còn gọi là đèn chạy quân vì hình đoàn quân cứ liên tục kéo đi, chạy đi không ngừng hết vòng nọ đến vòng kia. Chỉ khi nào đèn hết dầu (nến), đèn tắt thì các tán không quay nữa. Đèn có bốn mặt, hình ảnh xem ở mặt nào cũng được.

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ.

Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn.

Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng.

Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian.

Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng.

Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ.

Lại có chuyện kể rằng một vị tướng tên là Lưu Tú ở đời nhà Tây Hán, từ năm 206 trước Tây lịch tới năm 23 Tây lịch, trong lúc quân tình khốn quẫn đã cầu Thượng Đế giúp cho quân lính có đồ ăn để chờ quân tiếp viện. Sau khi cầu Thượng Đế, quân lính tìm được khoai môn và bưởi để ăn.

Nhờ đó sau này Lưu Tú mới bình định được toàn quốc và lên làm vua tức là vua Quang Võ nhà Hậu Hán. Ngày mà Lưu Tú cầu được linh ứng là ngày rằm tháng tám. Từ đó nhà vua truyền lệnh cứ đến rằm tháng tám là làm lễ tạ trời đất và thưởng trăng bằng khoai môn và bưởi. Ngày lễ trọng thể vui tươi này được gọi là Tết Trung Thu. Tục lệ này được truyền sang Việt Nam và đã được người Việt sửa đổi để thích hợp với tính tình và phong tục Việt.

Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung Thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Còn theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung Thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê – Trịnh thì Tết Trung Thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa.

Nghiên cứu về nguồn gốc Tết Trung Thu, theo học giả P.Giran (trong Magiet Religion, Paris, 1912) thì từ xa xưa, ở Á Đông người ta đã coi trọng Mặt Trăng và Mặt Trời, coi như một cặp vợ chồng. Họ quan niệm Mặt Trăng chỉ sum họp với Mặt Trời một lần mỗi tháng (vào cuối tuần trăng).

Sau đó, từ ánh sáng của chồng, nàng trăng mãn nguyện đi ra và dần dần nhận được ánh dương quang – trở thành trăng non, trăng tròn, để rồi lại đi sang một chu kỳ mới.

Do vậy, trăng là âm tính, chỉ về nữ và đời sống vợ chồng. Và ngày Rằm tháng Tám, nàng trăng đẹp nhất, lộng lẫy nhất, nên dân gian làm lễ mở hội ăn Tết mừng trăng. Còn theo sách “Thái Bình hoàn vũ ký” thì: “Người Lạc Việt cứ mùa Thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ưng ý nhau thì lấy nhau”. Như vậy, mùa Thu là mùa của thành hôn.

Việt Nam là một nước nông nghiệp nên nhân lúc tháng Tám gieo trồng đã xong, thời tiết dịu đi, là lúc “muôn vật thảnh thơi”, người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi Tết Trung Thu.

Người Hoa và người Việt đều làm bánh trung thu để cúng, ăn, biếu thân bằng quyến thuộc, và đãi khách. Điểm chung kế tiếp là người Hoa và người Việt đều tổ chức rước đèn trong đêm trung thu.

– Con kính lạy Hoàng thiên hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại

Tín chủ (chúng) con là:………………………………….Tuổi:………………

Ngụ tại:………………………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày Rằm tháng Tám gặp tiết Trung Thu, tín chủ chúng con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng. Xin các ngài độ cho chúng con thân cung khang thái, bản mệnh bình an. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng vinh quang thịnh vượng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Lễ vật, mâm cúng gia tiên:

Mâm lễ cúng gia tiên ngày Tết Trung Thu ngoài những món truyền thống thì bao giờ cũng phải có: bánh nướng, bánh dẻo, cốm, chuối, na, hồng, bưởi,… và tất nhiên phảị có hương, hoa, đèn, nến. Nhân dịp Tết Trung Thu mọi người đều gửi biếu ông, bà, cha, mẹ, người thân, người mà mình mang ơn bánh Trung Thu, cốm, chuối, hồng… để tỏ lòng biết ơn quí trọng.

【#9】Văn Khấn Ngày Giỗ Đầu (Tiểu Tường)

(Thuviengiadinh.vn) – Người xưa đã có câu “Cây có cội, nước có nguồn” ai sinh ra cũng có cha mẹ, tổ tiên, những người đã hết lòng chăm lo cho mình và cả những người đã khuất cũng là người đã góp công sức để có mình ngày hôm nay, chính vì thế ngày Tiểu Tường được coi là một ngày giỗ khá quan trọng đối với người còn sống cần làm cho người đã khuất. Vậy cần khấn như thế nào cho đúng?

Trước tiên cần phải hiểu Ý nghĩa Lễ Giỗ

1. Ý nghĩa: Ngày giỗ đầu hay còn được gọi là “Tiểu Tường” là ngày giỗ (kỵ giỗ) đầu tiên sau đúng một năm ngày mất của ai đó. Đây là một trong hai giỗ thuộc kỳ tang. Bởi vậy, vào ngày Giỗ Đầu người ta thường tổ chức trang nghiêm, bi ai, sầu thảm chẳng khá gì mấy so với ngày để tang năm trước. Nghĩa là con cháu đều có vận tang phục, khi tế lễ đều có khóc như đưa đám, một số nhà có điều kiện còn thuê cả đội kèn chồng nữa.

2. Sắm lễ: Vào ngày Giỗ Đầu, ngoài mâm lễ mặn, hoa, quả, hương, phẩm oản, người ta thường mua sắm rất nhiều đồ hàng mã không chỉ là tiền, vàng, mã, giấy mà còn cả các vật dụng như quần , áo, nhà cửa, xe cộ mà thậm chí còn mua sắm cả hình nhân bằng giấy nữa.

“Hình nhân” ở đây không phải để thế mạng cho ai mà là tục tín ngưỡng tin rằng, với phép thuật của thuật của thầy phù thủy thì hình nhân bằng giấy khi đốt đi sẽ hóa thành người hầu hạ vong linh nơi Âm giới.

Sau buổi lễ những đồ vàng mã sẽ được mang ra tận ngoài mộ để hóa (đốt). Nhưng đồ vàng mã đốt trong ngày Tiểu Tường còn được gọi là “mã biếu”. Gọi là mã biếu vì người ta nghĩ rằng những đồ mã này chỉ cúng cho vong linh người mất, nhưng người đó không được dùng mà phải mang biếu các ác thần để tránh sự quấy nhiễu. Văn khấn Thổ Thần, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh trước khi Giỗ Đầu

Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản gia Táo Quân, ngài Bản gia Thổ Công, Long Mạch, Thần Tài.

– Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.

Hôm này là ngày ….. tháng ….. năm …………………………………………………….. Tín chủ (chúng) con là: …………………………………………………………………….. Ngụ tại:……………………………………………………………………………………… Nhân ngày mai là ngày Giỗ Đầu của………………………………………………………. Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, sắm sửa hương hoa lễ vật kính dâng lên trước án tọa Tôn Thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình. Kính cáo Bản gia Thổ Công, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành. Kính thỉnh các Tiên linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ……………………………… Tín chủ (chúng) con là:…………………………………………………………………… Ngụ tại:……………………………………………………………………………………. Hôm nay là ngày …………… tháng ……………. năm …………………………………… Chính ngày Giỗ Đầu của…………………………………………………………………… Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành. Thành khẩn kính mời……………………………………………………………………… Mất ngày…………. Tháng………………năm…………………………………………… Mộ phần táng tại:…………………………………………………………………………..

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng. Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng. Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn Lễ Tiểu Tường, Đại Tường (Giỗ đầu, giỗ thứ 2)

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cào Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày Giỗ Đầu (Giỗ thứ Hai) theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lòng thành

Trước linh vị của: Hiển………………chân linh.

Xin kính cẩn thưa rằng:

Mây che núi Hỗ (nếu là cha hoặc núi Dĩ nếu là mẹ) muôn dặm mơ màng. Gió thổi cành Thung (nếu là cha hoặc cành Huyên nếu là mẹ) một vùng nghi ngút Nhớ thưở trước, một nhà sum họp, vui vầy những ước, đặng trăm năm Mà bấy nay, đôi ngả cách xa, nông nỗi nào ngờ, nên một phút. Ơn chín chữ, trời cao biển rộng, hiểm chưa chút công đền nghĩa trả, gánh cương thường, nghĩ nặng trên vai; Đêm năm canh, than vắn thở dài, những mơ màng tiếng nói điều ăn, lòng tưởng vọng, thấm đau trong ruột. Cõi trần thế, xuân qua thu lại, ngày trời kể, chẵn một năm tròn; (hoặc hăm bốn tháng tròn). Giỗ Tiểu Tường (hoặc Đại Tường) lễ bạc tâm thành, chén rượu dâng một vài tuần rót. Nhà đơn bạc, còn nhiều bề khiếm khuyết, hương thơm, nến đỏ, việc lễ nghi, tạm gọi theo thời;

Bài văn ai kể mấy khúc nôm na, tâm động, thần tri, miền minh phủ, may chi thấu chút.

Xin kính mời:

Hiển:………………………………………….

Hiển:………………………………………….

Hiển:………………………………………….

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Cúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

【#10】Văn Khấn Ngày Giỗ Ông Nội

Tín chủ con Kính lạy : Chín phương Trời, Năm phương Đất, Chư Phật mười phương; Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần;

Đương cai Đinh Dậu niên Khang Kiệt Đại tướng quân Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc Hành Binh chi Thần, Cự Tào Phán quan;

các ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân: Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, Thổ địa Long mạch Tôn thần, Ngũ phương, Ngũ Thổ, Phúc đức Chính thần và Chư vị thần linh cai quản xứ An Phong.

Hậu duệ tôn Lương gia sinh sống tại Lào Cai Kính lạy : Hương linh Tổ khảo Lương Đức Trính;

Kính lạy Tằng tổ khảo: Lương Đức Trinh, Tổ tỉ: Nguyễn Thị Lễ; Tổ bá phụ khảo: Lương Đức Quýnh; Tổ cô: Lương Thị Mẹt; Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ: Hiển khảo Lương Đức Thân cùng các vị Nội Ngoại tiên linh, Thúc, Bá, Cô, Dì, Đệ, Huynh, Tỉ, Muội, các vong linh phụ thờ,

: Lương Đức Mến tuổi Ất Mùi, SN 1955; Là Trưởng Nam của Lương gia gốc Phương Hạ, Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng, chuyển quán hiện ở: thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai cùng Mẫu thân, các em, các con, các cháu tụ họp tại Gia đường kính cẩn thưa trình:

Nhân tưởng nhớ Tổ khảo , toàn gia chúng con lòng thành sắm sanh lễ vật: hương hoa, trầu thuốc, nước, rượu cơm canh, cúng dâng trước án

thành tâm kính mời: Ngài Đương Niên Chi Thần, Đương cai Thái Tuế chí đức tôn thần; Ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, Bản xứ Thần Linh Thổ Địa; Ngài Định phúc Táo quân, các ngài Địa chúa long mạch Tôn thần và tất cả các vị Thần Linh cai quản ở trong khu vực này;

Chúng con tiếp kính thỉnh Hương linh Tổ khảo, Lương tộc lịch đại tổ tiên, các bậc phụ thờ theo tiên tổ cùng các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh khai mở đất này, lẩn khuất quanh đây, các linh hồn chiến sĩ trận vong vì nước, các oan hồn uổng tử không nơi nương tựa, các hài nhi yểu mệnh

xin cùng giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật, Chứng minh lời khấn nguyện của cháu con:

Úc Giang ôm đất địa linh; Tượng Sơn rợp che quê Tổ.

Lớn lên khi ách đô hộ phủ khắp xóm làng; Vượt khó khăn cũng học hành có văn có tự.

Được ưu bổ Lý trưởng chăm sóc việc làng; Lo bênh dân quan trường trễ nải nên cảnh nhà khốn khó.

Ham chén rượu cuộc cờ, làng thiếu thuế liên miên; Vui cánh diều câu hát chị bù chì không đủ.

Hôn phối tăng tình thân họ Đặng họ Lương; 6 bận gieo gặt hái 4 lần biết bao gian khó.

Thủa hai gái gia cảnh khó khăn; Biệt vợ con ra làm phu mỏ.

Họ tìm về sinh tiếp hai trai; Đời túng quẫn quyết đi tháo gỡ.

Sau hội làng mở lối cổng sau; Bặt tin tức không nhời nhắn gửi.

Người vợ hiền xáo, xén tìm kế sinh nhai; Đàn con lớn lên trong gian khó.

Vợ và các con các cháu quy tập mộ phần người cùng là tiên tổ;

Rời bỏ chốn chôn rau, lên biên cương, thực thi khai hoang rừng rú.

Lại những ngày tay trắng khai cơ chặt cây mở lối, san núi, be bờ, dạ luôn hướng tới tương lai; Qua bao bận chí bền vượt khó, chiếu đất màn trời, vỡ ruộng, dựng nhà lòng vẫn nhớ về đất Tổ.

Một thời khai hoang, mặc muỗi độc rừng thiêng; Mấy bận xây nền, dù đói ăn vất vả.

4 trái xưa thành 3 đại gia đình, 9 con chỉ còn dâu trưởng; Cháu nội ngoại đến trưởng thành có 15, dựng gia thất thành 29 cả rể dâu nay còn 21 dẫu chưa giầu nhưng có ăn có để;

41 chắt kéo thêm về thành 74 nay còn 71: đứa sĩ quan, đứa kĩ sư, đứa giáo viên, đứa xới xáo làm ăn, đứa còn đang đi học; Chồi lan quế kị có 63 chút nội, ngoại, gái, trai đầy đủ.

Gốc Tử phần tu dựng Từ đường; Nơi Nghĩa địa đẹp mồ tiên tổ.

Sắm hương, nến, trà, rượu, cau, trầu, nước với quả và hoa;

Bầy muối, xôi, gạo, gà, canh, cơm cùng vàng và mã.

Tâm thành kính tụng, thắp nén hương thơm;

Bày lên trước án, cúi xin thấu tỏ.

Các chư Phật, Thần, Thánh, các bậc Tiên linh;

Những người mở đất, Tiền chủ cùng Hậu chủ.

Kính Vong linh Tổ khảo ngược đường đất lên đây

Về Gia đường giáng lâm, chứng giám, cùng là nạp thụ.

Toàn năm hưng thịnh: vượng phúc đẹp ân;

Mọi chỗ tốt lành: dương cơ âm mộ.

Phù hộ cho toàn gia: Mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, sở cầu như nguyện, mọi việc hanh thông;

Độ trì để hậu nhân: Luôn gặp việc may, vượt qua điều hạn, thêm của thêm người, thẳng đường tiến bộ.

Già tinh anh giữ vững ngọn cờ, Trẻ công tác, lao động mọi đường hoan lộ

Bé bú mớm hay ăn, chóng lớn, luôn gặp vía lành;

Người học hành mạnh khỏe, chăm ngoan, đã thi là đỗ.

Khi hương đã tàn: vàng, mã, áo, quần thiêu hóa gửi xuống cõi âm;

Lễ vật phẩm thừa: xôi, rượu, canh, thịt, cháu con thụ lộc.

Văn khấn đôi dòng; Tâm nhang một nén.

( Trưởng Nam Lương Đức Mến, cẩn soạn, Vũ Thủy Đinh Dậu, 02/ 2021)