【#1】Văn Khấn Giỗ Hết Khó 2 Năm Sau Ngày Mất Kèm Cách Chuẩn Bị Chu Đáo Nhất

Văn khấn giỗ hết khó 2 năm sau ngày mất kèm cách chuẩn bị chu đáo nhất: Lễ giỗ hết được tổ chức trang nghiêm,vẫn mặc tang phục, đầy đủ họ hàng, con cháu để thể hiện lòng thành kính với người đã khuất và cũng để cùng nhau chia sẻ nỗi đau thương của đại gia đình. # Cách chuẩn bị mâm lễ vật cúng giỗ hết khó + Mâm lễ mặn ở miền Bắc: Mâm giỗ thường có những món…

Văn khấn giỗ hết khó 2 năm sau ngày mất kèm cách chuẩn bị chu đáo nhất: Lễ giỗ hết được tổ chức trang nghiêm,vẫn mặc tang phục, đầy đủ họ hàng, con cháu để thể hiện lòng thành kính với người đã khuất và cũng để cùng nhau chia sẻ nỗi đau thương của đại gia đình.

# Cách chuẩn bị mâm lễ vật cúng giỗ hết khó

  • + Mâm lễ mặn ở miền Bắc: Mâm giỗ thường có những món quen thuộc đó là xôi, giò, gà luộc, canh, cơm, nem rán…
  • + Mâm lễ mặn ở miền Trung: Thường cầu kỳ hơn, trên mâm cúng giỗ gồm có Thịt gà, thịt vịt, các món cá hoặc tôm nem chả, canh bún.
  • + Mâm lễ mặn ở miền Nam: thường các gia đình sẽ lên thực đơn đầy đủ bốn món: Hầm, Thịt luộc, Xào, Kho (món kho thịt heo, thịt ba chỉ, xào với rau cải đồ lòng….)

Mỗi vùng miền đều có những phong tục riêng, nhưng điều cần lưu ý đó là những món cúng phải là những món ăn quen thuộc, dễ ăn, phù hợp với văn hóa vùng miền, bày trí sạch sẽ, gọn gàng để bảo đảm sự tôn nghiêm trong tâm linh.

  • + Hoa, quả, hương, phẩm oản
  • + Đồ hàng mã tiền, vàng, mã làm bằng giấy
  • + Vật dụng hàng mã như quần, áo, nhà cửa, xe cộ và một hình nhân

Cũng giống như ngày giỗ đầu, trong ngày giỗ Hết, gia đình chuẩn bị hương, hoa, cỗ mặn và mua sắm rất nhiều vàng mã hình tiền, vàng, các vật phẩm tượng trưng cho quần áo, đồ dùng, nhà cửa, xe cộ, đặc biệt không thể thiếu các hình nhân. Theo văn hóa tâm linh, các vật phẩm này sau khi hóa vàng sẽ được gửi xuống âm gian, vong linh nhận được chỉ dùng phần nhỏ, còn phần lớn mang đi biếu các “quan Âm phủ” để tránh bị phiền nhiễu, các hình nhân không phải để thế mạng mà để hóa thân thành người hầu, theo giúp việc cho các linh hồn.

Sau khi làm lễ tạ và hóa vàng, gia đình bày bàn ghế, thức ăn mời họ hàng, người thân và bạn bè dùng bữa. Lễ Đại Tường thường được làm cầu kỳ, linh đình, mời nhiều khách khứa hơn so với lễ Giỗ Đầu (Tiểu Tường). Trong lễ này con cháu vẫn mặc tang phục, mọi người đều giữ vẻ trang nghiêm, đau sót trước nỗi mất mát của gia đình.

Giỗ Hết còn gọi là Lễ Đại Tường, là ngày giỗ sau ngày mất 2 năm. Đây là ngày giỗ quan trọng không kém gì ngày giỗ đầu và ngày tang lễ. Thời gian này người thân, con cháu trong gia đình vẫn còn vương vấn nỗi nhớ nhung, sầu thảm. Lễ giỗ hết được tổ chức trang nghiêm,vẫn mặc tang phục, đầy đủ họ hàng, con cháu để thể hiện lòng thành kính với người đã khuất và cũng để cùng nhau chia sẻ nỗi đau thương của đại gia đình. Trước khi khấn vong linh người đã khuất, gia đình phải đọc văn khấn thần linh là các vị Thổ thần, Táo quân, Long mạch… trước:

+ Văn khấn Thần linh ngày giỗ hết khó:

  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
  • Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.
  • Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.
  • Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
  • Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ …..
  • Tín chủ (chúng) con là: …..
  • Ngụ tại: …..
  • Nhân ngày mai là ngày Giỗ Hết của …..
  • Tín chủ con cùng toàn thể gia khuyến tuân theo nghi lễ, sửa biện hương hoa lễ vật dâng cúng các vị Tôn thần.
  • Cúi xin các vị Bản gia, Thổ Công, Táo phủ Thần quân, Ngữ phương, Long mạch và các vị Thần linh, hiển linh chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.
  • Chúng con kinh thỉnh các Tiên linh, Gia tiên họ …..và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.
  • Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!

+ Văn khấn vong linh người đã khuất:

  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
  • Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.
  • Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.
  • Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
  • Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tổ Tiên nội ngoại họ …..
  • Tín chủ (chúng) con là: …..
  • Ngụ tại: …..
  • Hôm nay là ngày …..tháng …..năm …..
  • Chính ngày Giỗ Hết của …..
  • Thiết nghĩ …..vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại vừa ngày Giỗ Hết. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.
  • Thành khẩn kính mời …..
  • Mất ngày …..tháng …..năm …..
  • Mộ phần táng tại: …..
  • Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.
  • Tín chủ lại mời vong lonh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.
  • Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.
  • Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!
  • Nam mô a di Đà Phật!

# Hướng dẫn làm lễ trừ phục sau giỗ hết khó

Sau Lễ Đại Tường 3 tháng, gia đình sẽ chọn ngày tốt để làm lễ Trừ Phục (Lễ Đàm Tế). Đây là lễ để bỏ tang, người thân sẽ mang tang phục đem đi đốt hết. Cụ thể, Trừ phục gồm 3 lễ:

  • + Lễ sửa mộ: Đắp sửa mộ thành mộ tròn.
  • + Lễ đàm tế: Cất khăn tang. Huỷ đốt các thứ thuộc phần lễ tang, rước linh vị vào bàn thờ chính. Bỏ bàn thờ tang. Thu cất các bức trướng. câu đối viếng.
  • + Lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo tổ tiên: Chép sẵn linh vị mới, phủ giấy hay vải đỏ, khi đàm tế ở bàn thờ tang xong thì đốt linh vị cũ cùng với băng đen phủ quanh khung ảnh và văn tế. Sau đó rước linh vị, bát hương và chân dung (nếu có) đưa lên bàn thờ chính, đặt ở hàng dưới. Trường hợp nhà con thứ không thờ gia tiên bậc cao hơn thì vẫn để nguyên bàn thờ như cũ, không phải chuyển bàn thờ mà chỉ cần yết cáo gia thần và yết cáo tổ ở nhà thờ tổ.

Sau lễ trừ phục, người đang sống sẽ trở lại cuộc sống thường nhật, có thể tổ chức hay tham gia các cuộc vui, đình đám và người vợ mới có thể đi bước nữa (nếu chồng mình mất). Đây là một buổi lễ vô cùng quan trọng, vì nó là một bước ngoặt đối với người đang sống và vong linh của người đã mất.

【#2】Top #10 Văn Khấn Giỗ Người Chết Trẻ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất

Có 17 tin bài trong chủ đề văn khấn giỗ người chết trẻ

Một trong những nghi thức trong tục cúng của người Việt Nam chính là lễ cũng mở cửa mả. Đây là nghi thức được tiến hành sau khi chôn cất người đã khuất sau 3 ngày, với mục địch là giúp vong linh của họ được siêu thoát. Và để

Tết Đoan Ngọ còn được gọi là tết Đoan Dương. Đoan Ngọ là bắt đầu giữa trưa (Đoan: mở đầu, Ngọ: giữa trưa). Còn Dương là mặt trời, là khí dương, Đoan Dương có nghĩa là bắt đầu lúc khí dương đang thịnh. Tết Đoan Ngọ ở Việt Nam còn

Trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam, cứ đến ngày Rằm tháng Bảy mọi người khắp nơi lại tưng bừng tổ chức ngày lễ Vu Lan với tâm nguyện nhắc nhở các thế hệ con cháu nhớ tới công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà,

Giờ đẹp nhất để cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp là trong khung giờ 9 – 11 giờ sáng. Đây là giờ Tỵ và cũng là giờ hoàng đạo của ngày 23 tháng Chạp. Mâm cúng ông Công ông Táo 23 tháng Chạp Mâm cúng ông Công

Theo tục lệ, ngày 23 tháng Chạp, người Việt thường làm lễ tiễn ông Công ông Táo về trời. Bên cạnh những lễ vật, mâm cỗ, các gia đình cũng cần quan tâm tới văn khấn. Văn cúng khấn ông Công, ông Táo chính là một nghi thức không thể

Bài cúng rước ông bà ngày 30 Tết được cúng vào chiều cuối cùng của năm để rước ông bà tổ tiên về nhà ăn Tết. Dưới đây là văn cúng rước tổ tiên về ăn Tết cho các bạn cùng tham khảo. Cách cúng mời tổ tiên về ăn Tết

Theo phong tục người Việt, bài cúng cô hồn tháng 7 có ý nghĩa quan trọng. Ngoài việc chuẩn bị đồ lễ cúng cô hồn tháng 7, mâm cúng,… thì bài cúng phải chuẩn chỉnh và đúng cách. Hàng năm, người Việt cúng cô hồn vào ngày rằm tháng 7 âm

Ngày nay, Rằm tháng Giêng là một trong những ngày lễ rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt. Rằm Tháng Giêng là dịp quan trọng trong năm của người Việt. Ngày Rằm tháng Giêng (15/1 Âm lịch, còn gọi là lễ Thượng Nguyên, Tết Nguyên tiêu),

Bài cúng ông Công Ông Táo 2021 – Văn khấn Tết ông Công ông Táo năm 2021 được sử dụng trong ngày 23 tháng chạp để chuẩn bị cho nghi lễ cúng ông Táo về chầu Trời theo phong tục tập quán của người Việt Nam. Có rất nhiều bài

Đến hẹn lại lên, cứ đến giao thừa của cái Tết cổ truyền, là các gia đình người Việt lại tiến hành cũng giao thừa trong nhà và ngoài trời. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều người luôn thắc mắc về vấn đề tại sao lại phải tiến hành nghi

Phong tục cũng thần linh và gia tiên chính là nét văn hóa truyền thống vô cùng tốt đẹp của người Việt chúng ta. Bởi nó thể hiện được sự tôn kinh và hiếu thảo của những thế hệ hiện tại với những vị thần cũng như các bậc ông

Để mưu sinh, thăm viêng, hoặc di chuyển đến một địa điểm nào đó, thì điều mà bạn cần nhất lúc này để có thể tiết kiệm sức lực và thời gian chính là phương tiện giao thông. Và hiện nay, tại Việt Nam thì những phương tiện giao thông

Theo quan niệm tâm linh của người Việt, thì tháng 7 được coi là thời điểm của tháng cô hồn, thời điểm của ma quỷ. Chính vì vậy, để có thể tai qua nạn khỏi, xua đuổi những điềm xui xẻo, thì nghi thức mà tất cả ngôi gia đều

Đối với nền văn hóa tâm linh độc đáo của người Việt, thì có rất nhiều tập tục cúng kiến diễn ra. Đặc biệt, đối với những đứa trẻ vừa ra đời, cho đến khi lớn lên phải trả qua rat nhiều nghi lễ cúng, trong đó quan trọng hơn […]

Nếu chủ đề văn khấn giỗ người chết trẻ hay và ý nghĩa, hãy chia sẻ với bạn bè của mình. Chúc bạn một ngày tốt lành!

【#3】Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Mộ phần Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

Từ trung tâm Hà Nội, du khách lái xe hướng qua ra đường CT 01/ CT Pháp Vân – Cầu Giẽ. Đến đoạn giao giữa CT Hà Nội – Ninh Bình và CT Pháp Vân – Cầu Giẽ, lái xe qua vòng xuyến sang QL 21B vào Đại lộ Thiên Trường. Tại vòng xuyến Big C Nam Định, dẽ phải vào QL10/QL38B qua cầu Lộc An tới Đại Lộ Lê Đức Thọ qua cầu Nam Định dẽ phải vào ĐT490/ ĐT 490C, dẽ trái vào ĐT487 đến ngã rẽ phải thứ 5 dẽ vào và đi thẳng đến ngã dẽ thứ 4 bên trái dẽ vào đi thẳng theo đường làng Phú Hào là tới đền Phủ Giày.

Đền Phủ Giày thờ ai?

Đền là một quần thể gồm nhiều ngôi đền nhỏ ghép lại. Đặc biệt phải nói đến kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là Tiên Hương, Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là đền chính của Mẫu Liễu Hạnh và thờ bên chồng của Mẫu, còn phủ Vân Cát và Phủ Tổ là nơi thờ Mẫu và bên ngoại (bên bố mẹ đẻ) của Mẫu.

Lịch sử đền Phủ Giày

Đền Phủ Dầy có truyền thuyết kể lại rằng xưa kia vì nhớ thương chồng con trước khi về trời mà bà chúa Liễu Hạnh đã để lại chiếc giày ở trần gian. Cũng có truyền thuyết kể lại rằng vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy. Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.

Phủ Dầy bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của Trọng Nội, Xuất bản năm 1959 thì: đời Vua Anh Tông (1557) làng kẻ Giầy đổi thành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu. Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái. Sang đời Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam định.

Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất. Phủ Dầy chính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho một quần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản Nam định. Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương.

Kiến trúc đền Phủ Giày

Đền Phủ Giày gồm 3 quần thể chính:

Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định; nằm cạnh đường giao thông liên xã. Đây là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671), trải qua bao thăng trầm lịch sử, phủ vẫn giữ được nét cổ kính thời xưa.

Năm 1996 Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

Cảnh quan của phủ rất rộng rãi và thoáng đãng. Mới bước vào, du khách sẽ thấy một giếng nước tròn bên trong là ụ đất để cắm cờ khi diễn ra lễ hội. Cán cờ bằng gậy gỗ, trên đầu buộc túm lá hoặc quạ đen làm thiên sứ của trời. Lá cờ thần được treo trên đỉnh. Tiếp đến là sân lớn diễn ra các trò chơi hay là nơi những sập bán hàng được bày bán trong mùa lễ hội. au sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống. Tiếp nối 3 phương đình là hồ bán nguyệt, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô.

Kiến trúc các dãy nhà tại Phủ được nối liền nhau tạo thành thể thống nhất. Mỗi nhà sẽ có phòng riêng gọi là cung, có tất cả 4 cung: Cung đệ tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng. Đối xứng với cung Đệ Tứ bên trái là Ban Quan lớn Thủ phủ và bên phải là Ban Chầu Thủ phủ; cung đệ tam thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng và Hội Đồng các quan hay Ngũ vị vương quan; Cung đệ nhị thờ Tứ Vị Chầu bà và ba bộ long ngai; Cung Đệ nhất là cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung này ở trong cùng. Tuy nhiên, đa phần nơi thờ Mẫu Tứ phủ có nội cung (cung cấm).

Cung cấm có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh cùng với hai Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân đều được phong thần và sắc phong. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể vào đó được mà phải có sự cho phép của ban quản lý khu di tích mới được đặt chân vào đó.

Bên cạnh các dãy nhà thờ có 1 dãy nhà nữai là Ban Trần Triều. Trong dãy nhà này có đặt ban thờ Ban Trần Triều và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau nơi thờ chính là Động Sơn Trang, nơi này thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn Hai Chầu và mười hai cô Sơn Trang.

Phủ nằm phía bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo nên một quần thể thờ Phật – Mẫu – Thần.

Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: ” .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành “.

Từ cổng bước vào, du khách sẽ gặp Ngũ Vân Lâu, gác chuông với 5 cổng lớn xây dựng từ năm Tự Đức. Phía trong là hồ bán nguyệt xây bằng đá. Giữa hồ bán nguyệt có phương du nằm ở giữa và có hai cầu đá dẫn ra ngoài. Phương du gồm có ba gian làm bằng gỗ lim, mái có góc uốn cong, xung quanh lan can được ghép bằng những tường hoa bằng đá với những mảng phù điêu trạm khắc một số loài hoa và những con voi. Phương du có bốn mặt thoáng, là nơi khách đứng xem kéo chữ vào ngày hội.

Bên trong phủ có 4 cung thờ: kết câu hai cung đệ nhất và đệ nhị đều có 3 gian, và cả 2 đều được xây từ năm Tự Đức (1879). Cả hai cung đều bị giặc Pháp phá hủy mãi về sau mới được tôn tạo lại.

Cung đệ nhất là chính cung khép kín thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.

Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).

Trong Phủ còn dấu tích nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, nét độc đáo còn nằm ở văn bia cùng ngũ vân lâu ngay tại mặt chính của đền, các công trình bố trí chặt chẽ tạo thành thể thống nhất, giữ lại nét giá trị từ ngàn đời.

Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Lăng mộ Thánh Liễu Hạnh nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn cá chép. Ngôi mộ trước kia là bãi đất với lùm cây xanh lá, sau đó được xây thành khu nhỏ gồm gạch lát đá. Sau đó, vua Bảo Đại cầu tự được con và được thánh Mẫu báo mộng cho, năm 1938, vua Bảo Đại biết ơn mẫu và cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen hồng quy mô như hiện nay.

Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương. Từ ngoài vào bước theo bậc tam cấp lên đến mộ phải qua 5 lớp tường toàn bằng đá được chạm khắc, mỗi lớp tường vuông đều có cửa, cửa được bổ trụ bằng đá vuông với ba mặt đều khắc câu đối và phía trên đặt các nụ sen bằng đá hồng nhạt tới 60 nụ sen đá.

Xung quanh lăng mộ là hàng cây 4 mùa xanh mát, 4 cột trụ chính đặt 4 góc khiến lăng mộ càng thêm long trọng và trang nghiêm. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở chỗ cao nhất của cả khu lăng. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên.

Bên cạnh khu lăng mộ còn có một gian nhà thờ tự với kết cấu sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần. Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.

Hàng năm vào mùa lễ hội, đền đón hàng ngàn khách du lịch về trẩy hội. Hòa chung không khí tấp nập của mùa lễ hội, dân làng và du khách càng thấy hứng khởi đón chào một năm mới đầy thắng lợi./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./

Các dạng thức thờ Mẫu Thờ Mẫu ở Bắc bộ

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,…

Thờ Mẫu ở Trung Bộ Thờ Mẫu ở Nam bộ

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…

Liễu Hạnh công chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Mẫu Liễu Hạnh)

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

Đền thờ Thánh Mẫu, đường Ngô Quyền, thành phố Thông tin chung Đà Lạt

Tên thật Phạm Tiên Nga

Liễu Hạnh Công chúa ( chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Truyền thuyết

Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

Lần giáng sinh đầu tiên

Căn cứ vào ” Quảng Cung linh từ phả ký”, ” Quảng Cung linh từ bi ký” và ” Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnh như sau:

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn ( 1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Lần giáng sinh thứ hai

Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 ( 1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Hành thiện giúp đời

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh ( Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ tân phả của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Cảnh Hồ Tây.

Ông bèn lên tiếng ghẹo: 三木森庭,坐著好兮女子 – Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Người con gái nghe vậy, đối ngay: 重山出路走來使者吏人 – Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc bèn nói tiếp: 山人憑一几,莫非仙女臨凡 – Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.

c âu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên . Chữ bàng có bộ kỷ . Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm .

Cuộc tái hợp với Đào Lang- Người chồng kiếp trước

Hiện nay những câu đối, những dấu tích về 2 lần gặp gỡ tại Lạng Sơn và Phủ Tây Hồ còn lưu lại ở Đền Mẫu Đồng Đăng (nơi Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh lần đầu) và Phủ Tây Hồ (lần gặp thứ hai)

Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

Lễ hội

Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại.

Cung thờ Sơn Trang trong Phủ Tây Hồ

Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch – ngày giỗ của bà.

Địa điểm là:

Đền Sòng Sơn ở đường Hàng Bột, Hà Nội

Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ. Riêng lễ hội Phủ Dầy, còn gắn liền với Hội chợ Viềng, họp vào ngày 7 tháng giêng./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ (miền trời): mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
  • Nhạc phủ (miền rừng núi): mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

Tam phủ và Tứ phủ Hát Chầu Văn

Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thiên Y A Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên . Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.

Đó là hình thức hầu đồng với 36 giá chầu:

Thỉnh Mẫu Và Quan Đệ Nhất

【#4】Ngày Vía Thần Tài 2021 Là Ngày Nào? Nên Cúng Thần Tài Giờ Nào May Mắn Cả Năm?

Theo như lịch âm thì ngày vía Thần tài 2021 rơi vào ngày mùng 10 âm lịch tức thứ Hai, ngày 3/2/2020 theo dương lịch.

Ngày Thần Tài là ngày quan trọng nhất đối với hầu hết những người làm ăn kinh doanh, mua bán. Nhiều người sẽ đi mua vàng vào dịp này để cầu may mắn cả năm. Nhu cầu mua vàng ngày vía Thần tài tăng thường kéo theo giá vàng ngày vía Thần tài cũng tăng theo.

Các loại vàng Thần tài thường được nhiều người mua nhiều nhất là 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ bởi chúng mang ý nghĩa Lộc – Phát – Tài. Tùy theo sở thích riêng cũng như điều kiện kinh tế của mỗi người mà người mua có thể chọn mua nhiều loại vàng khác nhau.

Việc mua vàng vào ngày vía Thần Tài không chỉ đơn thuần là thể hiện mong muốn một năm mới thịnh vượng mà còn là một hình thức tiết kiệm, giữ của.

Nhiều người cho rằng vàng là phương thức đầu tư có mức độ an toàn mà đơn giản nhất, không tốn nhiều thời gian làm thủ tục hay vấp phải những biến động lớn ngoài thị trường.

Vàng cũng là thứ quen thuộc và gần gũi với người dân Việt, nên việc mua vàng vào ngày Thần tài lại trở nên nhộn nhịp và được hưởng hứng như vậy.

Mâm cỗ cúng Thần tài đúng chuẩn gồm những gì?

Thần Tài là vị thần mang tài lộc cho gia đình, mỗi khi làm việc gì, gia chủ thường cầu khấn Thần Tài. Cúng Thần Tài rất phổ biến quanh năm, nhưng ngày vía Thần tài, nhiều người quan tâm đến việc này hơn.

Nhiều gia đình thường cúng treo mâm cỗ “Tam sên” tức là thịt heo quay hoặc thịt heo luộc, tôm luộc, trứng luộc. Ở miền Nam một số nhà còn chuẩn bị sẵn cá lóc nướng trong ngày cúng Thần tài.

Bên cạnh đó mâm cỗ cúng Thần Tài cũng cần phải có hoa, nên mua hoa tươi không nên dùng hoa giả, có nụ và thơm càng tốt và trái cây. Thường táo, lê, chuối, cam hay quýt, một bát hương với hai cây đèn cầy nhỏ, khay nước gồm 3 cốc nước và 2 chén rượu trắng.

Cúng Thần tài 2021 giờ nào tốt nhất?

Theo các chuyên gia tâm linh, lễ cúng Thần Tài năm Canh Tý 2021 tốt nhất nên được tiến hành vào khung giờ buổi sáng từ 5h-7h hoặc 11h-13h.

Từ 5-7h là giờ Tân Mão, tức giờ Ngọc Đường hoàng đạo, chủ về tài lộc, phú quý. Cúng vía Thần Tài 2021 vào khung giờ này thì công việc hanh thông, dễ phát tài phát lộc như ý.

Từ 11-13h là giờ Giáp Ngọ, tức Tư Mệnh hoàng đạo. Nếu cúng lễ trong khung giờ này thì việc khai trương, mở cửa hàng, kí kết hợp đồng, đầu tư kinh doanh đều vô cùng thuận lợi. Công việc làm ăn gặp nhiều may mắn, càng ngày càng mở rộng quy mô kinh doanh, có nhiều tài sản tích lũy, tiền vàng nhiều vô kể….

Ngoài 2 khung giờ này thì gia chủ cũng có thể xem xét để làm lễ cúng vía Thần Tài 2021 vào giờ Thân (15h-17h) hoặc giờ Dậu (17h-19h).

Ai nên đứng ra cúng Thần Tài?

Người đứng ra làm lễ cúng Thần Tài 2021 nên là người chủ kinh doanh buôn bán. Nếu trong trường hợp có nhiều người cùng hùn hạp làm ăn thì nên chọn người lớn tuổi, có tâm thành kính trong việc thờ cúng để tiến hành lễ cúng này.

【#5】Thủ Tục Cúng Giỗ Và Văn Khấn Giỗ Đầu

Giỗ chạp là một trong những tập tục có từ lâu đời của người Việt Nam ta bao đời nay. Thủ tục cúng giỗ và những bài văn khấn cúng giỗ cần được chuẩn bị một cách chu đáo và cẩn trọng để tỏ lòng thành kính của con cháu đối với người đã khuất.

Thủ tục cúng giỗ

Theo tập quán của người Việt Nam từ lâu cho đến nay thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn của con cháu đối với ông bà, cha mẹ những người đã khuất. Trong thủ tục cúng giỗ theo âm Hán là Húy nhật hay còn được gọi là ngày kỷ niệm ngày mất của ông bà, tổ tiên. Chính vì thế, ngày trước ngày cúng giỗ chính gia chủ hoặc con cháu trong nhà phải làm lễ báo cho người hưởng giỗ được biết để về hưởng giỗ. Sau đó mới đến ngày cúng giỗ chính.

Thủ tục cúng giỗ tùy theo mỗi gia đình mà chuẩn bị the truyền thống, thói quen của mỗi gia đình cũng khác nhau. Có nhà chuẩn bị đơn giản là mâm cơm chay cùng với hương hoa, chè thuốc, bánh, trái, nước, rượu .. dâng lên ban thờ và khấn mời người hưởng giỗ về. Có gia đình tụ họp con cháu đông đủ sửa soạn thịnh soạn để dâng lên ông bà, gia tiên và cúng giỗ.

Vì thế mà thực đơn cúng giỗ mỗi nhà ở mỗi vùng miền khác nhau cũng khác.

Thông thường thực đơn cúng giỗ không quá cầu kỳ, mà được làm một cách đơn giản. Các cụ chứng cho tâm thành của con cháu chứ không chứng lễ mà dâng lên. Vì thế đây cúng là dịp thể hiện được tính văn hóa và nét đẹp trong truyền thống của người dân Việt bao đời nay. Thể hiện được tâm thức uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam

Văn khấn giỗ đầu như thế nào

Để ngày giỗ đầu được diễn ra chu đáo và suôn sẻ bạn xem qua bài văn khấn giỗ đầu sau

Con xin lạy chín phương trời, con lạy mười phương chư phật, chư phật mười phương Con cúng kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ và các chư vị Tôn thần. Con cũng kính lạy ngài Bản gia Táo Quân, ngài Bản gia Thổ Công, các vị Long Mạch, vị Thần tài. Con cúng kính lạy các ngài là Thần linh cai quản trong xứ này. Hôm nay là ngày: tháng năm Ngày hôm nay là ngày giỗ đầu của: Con cùng toàn thể con cháu trong gia đình thể theo nghi lễ, sắm sửa các hương hoa và lễ vật xin kính dâng lên trước án tọa của các vị Tôn thần cúng các chư vị uy linh xin kính cẩn tâu trình. Và kính cáo các vị Bản gia Thổ công, Táo quân, Long Mạnh và các vị Thần linh, cúi xin được minh chứng và phù hộ cho toàn gia quyến cúng con được an ninh khang thái và vạn sự được tốt lành. Xin kính thỉnh các Tiên linh, và Gia Tiên chúng con cùng những vong hồn nội tộc được thờ phụng cùng về hâm hưởng. Với lễ bạc thâm thành, chúng con cúi xin được phù hộ độ trì.

【#6】Văn Khấn Khi Trong Phong Tục Cúng Giỗ

Trong phong tục thờ cúng tổ tiên thì lễ cúng vong linh người đã khuất vào các kỳ giỗ: ông, bà, bố, mẹ, chồng (vợ) là quan trọng nhất. Cúng giỗ gia tiên thể hiện đạo hiếu, thể hiện tấm lòng thủy chung thương tiếc của người đang sống với người đã khuất. Nên vào ngày giỗ của tổ tiên, nhà giàu thì có tổ chức cúng lễ linh đình mời họ mạc gần xa, anh em bằng hữu về dự, còn nhà nghèo túng thì bát cơm, quả trứng, đĩa muốỉ, lưng canh với ba nén hương, cây đèn dầu cúng người đã khuất. Và trong khi cung giỗ, không thể thiếu văn khấn. Theo tục xưa:

Nếu bố đã chết thì phải khấn là: Hiển khảo

Nếu mẹ đã chết thì phải khấn là: Hiển tỷ

Nếu ông đã chết thì phải khấn là: Tổ khảo

Nếu bà đã chết thì phải khấn là: Tổ tỷ

Nếu cụ ông đã chết thì phải khấn là: Tằng tổ khảo

Nếu cụ bà đã chết thì phải khấn là: Tằng tổ tỷ

Nêu anh em đã chết thì phải khấn là: Thệ huynh, Thệ đệ

Nếu chị em đã chết thì phải khấn là: Thể tỵ, Thể muội

Nếu cô dì chú bác đã chết thì phải khấn là: Bá thúc; Cô di, Tỷ muội.

Hoặc khấn chung là Cao tằng tổ khảo, Cao tằng tô tỷ nội ngoại gia tiên.

Vài điều cần lưu ý khi cúng giỗ tô tiên:

Đổi với ngày giỗ của ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng (còn gọi là giỗ trọng) thì hôm trước ngày giỗ cần phải có cúng cáo giỗ. Ngày hôm cúng cáo giỗ còn gọi là ngày tiên thường.

Cúng cáo giỗ là để báo cho người đã khuất biết ngày hôm sau về hưởng giỗ, đồng thời là để báo vối Thần linh, Thể địa nơi để mộ người đã khuất cũng như Công thần Thổ địa tại gia cho phép người đã khuất được về hưỏng giỗ. Cúng cáo giỗ bao gồm cúng tại gia và cúng ngoài mộ. Trong cúng cáo giỗ phải cúng Công thần Thổ địa trước, cúng gia tiên sau. Ngoài việc khấn mời vong linh người được giỗ ngày hôm sau, còn phải khấn mời vong linh hương hồn gia tiên nội ngoại cùng về dự giỗ. Nhân dịp cúng giỗ ngoài mộ cần đắp sửa lại mộ phần.

Trong cúng giỗ đúng vào ngày mất của người được hưỏng giỗ cần phải cúng mời người được hưỏng giỗ trước, sau đó mối đến vong linh hai họ nội, ngoại từ bậc cao nhất trở xuống và cuốỉ cùng là cáo thỉnh gia thần cùng dự tiệc giỗ.

【#7】Cúng Rằm Tháng Giêng Vào Giờ Nào, Ngày Nào Là Tốt Nhất?

Thứ 4, 08/02/2017, 09:54 AM

(Tieudung.vn) – Cúng rằm tháng Giêng vào giờ nào, ngày nào là tốt nhất điều đơn giản nhưng không phải ai cũng biết.

Do rằm tháng giêng trùng hợp với lễ Thượng nguyên và Tết Nguyên tiêu trong dân gian, đồng thời ngày này là rằm đầu tiên của năm mới, thời điểm thích hợp nhất để cầu nguyện an lành cho cả năm, nên thu hút sự tham gia đông đảo của giới Phật tử và toàn thể dân chúng. Thành ngữ “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng Giêng” đã nói lên tầm quan trọng của hội rằm tháng Giêng trong tâm thức người Việt

Đối với hầu hết các chùa Việt, trọng tâm của hội rằm tháng Giêng là lễ cầu quốc thái dân an, cầu nguyện an lành, khỏe mạnh, no đủ, thịnh vượng và phát triển cho bá tánh và đất nước. Vì thế, ngày càng đông người đến chùa, lễ Phật, cầu nguyện trong hội rằm tháng Giêng là một tín hiệu tốt, thể hiện rõ nét tinh thần “Đạo pháp và Dân tộc”. Khi chùa chiền được tự do sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, được sửa chữa trùng tu to đẹp khang trang cùng với sự quan tâm khôi phục các lễ hội văn hóa truyền thống dân tộc của các cấp chính quyền và nhất là ý thức tìm về những giá trị sống của tổ tiên thông qua các lễ hội văn hóa của nhân dân được đánh thức, thì việc tham dự đông đảo các lễ hội như hội rằm tháng Giêng là điều bình thường.

Khá nhiều chùa chiền nhân dịp tết Nguyên Tiêu đã lập đàn Dược Sư, tụng kinh Dược Sư trong suốt tháng Giêng (hoặc từ mùng 8 đến rằm tháng Giêng), khuyến khích Phật tử tham gia tụng niệm rồi phục nguyện hồi hướng công đức an lành cho Phật tử. Thiết nghĩ, đây cũng là một cách tu tập, cầu nguyện có hiệu quả nhất để đem lại phước báo an lành như mong cầu của mọi người trước thềm năm mới.

Nên cúng vào chính rằm và giờ Ngọ

Rằm tháng Giêng hay còn gọi là Tết Nguyên Tiêu được mọi người cúng vào ngày 15 tháng giêng. Đây là ngày chính rằm.

Không phải bất cứ lúc nào cúng rằm tháng Giêng đã đúng cách. Ngược lại, giờ “chuẩn” để cúng rằm tháng Giêng theo phong tục từ xưa của cha ông ta là thường cúng vào giờ Ngọ!

Nhiều người tin rằng, thời điểm này là lúc Phật giáng lâm. Bởi thế ngày rằm tháng Giêng, người Việt rất coi trọng lễ cúng tại nhà. Các gia đình thường sắm hai lễ cúng rằm, một là cúng Phật, hai là cúng gia tiên vào giờ Ngọ. Tuy nhiên, hiện nay do điều kiện cuộc sống, mỗi gia đình lại tùy biến linh động cúng vào ngày, giờ khác nhau, nhưng đều thể hiện tinh thần chung là tấm lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với tổ tiên, ông bà, thần thánh.

Văn khấn Tết nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) tại nhà

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

– Con lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ chư vị tôn thần.

– Con kính lạy ngài bản cảnh Thành hoàng, ngài bản xứ Thổ địa, ngài bản gia Táo quân cùng chư vị tôn thần.

– Con kính lạy Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỉ, thúc bá đệ huynh, cô di, tỉ muội họ nội họ ngoại.

Tín chủ (chúng) con là: ………………………………………..

Ngụ tại:………………………………………………………………

Hôm nay là ngày rằm tháng giêng năm… gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngài bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các các cụ Tổ khảo, Tổ tỉ, chư vị hương linh gia tiên nội ngoại họ………………. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời ông bà Tiền chủ, Hậu chủ tại về hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành phù hộ độ trì cho gia chung chúng con được vạn sự tôn lành. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng an bình.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy).

Lan Ngọc (TH)

【#8】Tìm Hiểu Về Tục Lệ Cúng Giỗ Xưa Nay Của Người Việt

Uống nước nhớ nguồn ” đã là đạo lý ngàn đời của người Việt Nam. Không chỉ bày tỏ thành kính với người còn sống, người Việt còn tưởng nhớ đến công ơn và sự hiện diện của người đã mất. Chẳng thế mà cúng giỗ đã trở thành một truyền thống văn hóa tốt đẹp, thể hiện tấm lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc của người sống đối với người đã khuất. Tục lệ cúng giỗ xưa này của người Việt có gì thay đổi? Cùng Bảo Long tìm hiểu chi tiết hơn qua bài viết sau.

Giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường được hiểu là gì?

Ở Việt Nam, ngày giỗ thường được gọi là “húy nhật” hay “kỵ nhật”, là ngày mất tính theo âm lịch của một người nào đó. Ngày giỗ là dịp để họ hàng con cháu xôm tụ lại bên nhau, cùng dâng nén hương kính người thân đã mất và cũng là cơ hội để người trong gia đình gặp mặt, hỏi thăm cuộc sống và bàn bạc công việc chung.

Căn cứ vào mốc thời gian kể từ ngày qua đời của người quá cố, người ta tổ chức ngày giỗ với những nghi thức khách nhau là: Giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường.

Cúng giỗ ông bà tổ tiên chính là thể hiện lòng biết ơn, tưởng nhớ người đã khuất

Giỗ đầu còn gọi là Tiểu Tường, là ngày giỗ kỷ niệm đúng một năm một người ra đi. Vì nằm trong thời kì tang chế nên ngày giỗ đầu thường có không khí ảm đạm, bi ai. Ngày giỗ đầu được tổ chức rất trang nghiêm không kém gì đám tang, con cháu mặc tang phục, một số gia đình còn thuê cả kèn trống linh đình.

Giỗ hết hay còn gọi là Đại Tường, được tổ chức một năm sau giỗ đầu, khi người đã mất được tròn hai năm. Vì còn nằm trong thời kì tang chế nên thủ tục ma chay vẫn được diễn ra với nghi thức trang nghiêm. Giỗ hết được tổ chức long trọng, con cháu tề tụ đông đủ khách mời cũng được mở rộng. Giỗ hết đánh dấu một cột mốc quan trọng. Sau ngày này, người nhà sẽ bỏ tang phục, trở lại tham gia các tổ chức hội hè đình đám. Ở một số nơi, người phụ nữ có chồng qua đời chỉ được đi bước nữa sau giỗ hết.

Giỗ thường còn biết đến với tên “Cát Kỵ”, là ngày giỗ của người đã mất kể từ năm thứ ba trở đi. Thời gian ba năm đủ để xoa dịu vết thương của những ở lại và đủ để vong linh người quá cố được siêu thoát. Do đó, giỗ thường là dịp để họp mặt đông đủ, hỏi thăm sức khỏe và củng cố tình làng nghĩa xóm, tình thân dòng tộc. Người xưa có câu “Trâu bò được ngày phá đỗ, con cháu được ngày giỗ ông cũng là lẽ đó.

Những nguyên tắc chung của cúng giỗ

Mặc dù được tổ chức khác nhau ở mỗi dân tộc và vùng miền; nhưng về cơ bản, cúng giỗ thường có một số nghi thức giống nhau.

Trước ngày giỗ một hôm cần phải cúng cáo giỗ, mục đích là để xin Công Thần Thổ Địa và mời người đã khuất hôm sau về hưởng lễ chính. Ngày cáo giỗ chỉ làm cho người thuộc hàng trên (Ông, bà, cha, mẹ, anh, chị,…) chứ thường không làm cho những người thuộc hàng dưới (con, cháu, chắt, chít). Vào ngày này, người thân sẽ ra mộ, lau dọn mộ sạch sẽ, trưng hoa trái và rồi mời người mất về ăn giỗ. Bắt đầu từ lúc đó, bàn thờ luôn phải có nhang đèn cho đến hết lễ Chính Kỵ.

Tục lệ cúng giỗ xưa nay của người Việt như thế nào?

Giỗ chính (Chính Kỵ) diễn ra vào đúng ngày mất của người chết; tức sau cáo giỗ một ngày. dù gia chủ khá giả hay nghèo khó, người ta vẫn cố gắng để tổ chức một mâm cơm cúng để bày tỏ lòng thành kính với người đã qua đời. Nhà giàu thì có thể tổ chức linh đình, thuê kèn thuê trống, mời anh em dòng họ xa gần và cả láng giềng tham dự. Nhà nghèo thì mộc mạc đơn sơ hơn với chén cơm, quả trứng, đĩa muối, lưng canh với ba nén hương, đèn, nến cúng người đã mất. Thân bằng, cố hữu nhớ tới ngày giỗ có thể chủ động đến thắp nén nhang mà không cần phải đợi có lời mời.

Khách đến dự giỗ thường đặt đồ cúng lên bàn thờ, thắp hương và vái ba lạy xong đọc lời khấn. Sau khi hết ba tuần hương, gia chủ có thể vái ba vái ngắn rồi lấy đồ vàng mã đem đi hóa, rồi hạ lễ, mời mọi người ăn giỗ. Sau khi ăn giỗ xong, gia chủ hạ đồ lễ trên bàn thờ xuống, chia thành từng túi nhỏ cho những người đến ăn giỗ.

Giỗ thường được tổ chức tại nhà con trai trưởng; nếu người con trai trưởng đã mất thì cúng giỗ sẽ giao cho người cháu đích tôn. Tuy nhiên, ngày giỗ là ngày chung của tất cả các thành viên trong gia đình; vì thế cho nên đến ngày giỗ, những người con thứ, cháu thứ, cháu ngoại,… Đều tề tựu tại nhà người con trưởng và không quên mang theo đồ lễ đến góp cúng.

Lễ gửi giỗ tùy theo điều kiện của mỗi người, có khi là tiền, gạo, gà, hoặc trái cây,… Việc gửi giỗ và tổ chức giỗ to hay nhỏ không quan trọng, miễn là người còn sống có tấm lòng biết ơn, thành kính là được. Giỗ cúng là một nét đẹp đáng quý trong văn hóa người Việt.

Mỗi vùng miền lại có những tục lệ thờ cúng riêng

Tổ chức đám giỗ sao cho đúng, phù hợp với không gian, thời gian và điều kiện gia chủ là điều vô cùng cần thiết. Không nên vì câu nệ, sĩ diện mà phải tổ chức giỗ linh đình hay gây mất đoàn kết trong việc tổ chức. Hãy giữ cúng giỗ là một phong tục tập quán đẹp, đừng biến nó thành một hủ tục.

Tục lệ cúng giỗ ngày này có gì khác biệt so với thời ông cha ta?

Giỗ là để họp mặt gia đình, để tưởng nhớ và noi gương tốt của những người thân trong gia đình đã mất; đó là việc hiếu, là một hoạt động tâm linh của người Việt nói chung, người Hà Nội nói riêng. Nó mang nặng tính truyền thống và là một phong tục đậm đà bản sắc dân tộc, cần được duy trì.

Khoảng trên chục năm nay, khi đời sống nói chung tốt hơn, việc cúng giỗ được nhiều gia đình, dòng họ khôi phục. Nhưng do không hiểu hết ý nghĩa đúng hoặc không có ai hướng dẫn, hoặc cố tình làm to, làm trong diện rộng để khoe khoang, để thu lời.

Hãy giữ cúng giỗ là một phong tục tập quán đẹp, đừng biến nó thành một hủ tục.

Có người đi ăn giỗ để đền ơn người sống, để hối lộ; nên đặt lên bàn thờ không phải đồ lễ mà là phong bì… làm cho đám giỗ. Gây một sự ganh đua giữa các gia đình, tạo điều kiện cho một số việc làm xấu; một số tệ nạn xã hội – thường là cờ bạc, đốt vàng mã – phát triển.

Đây là một tục lệ cần được giữ gìn, phát huy nhưng làm thế nào để tiếp nối những điều tốt đẹp trong nó chứ không phải biến tấu một cách thái quá lên, làm mất đi ý nghĩa tốt đẹp vốn có của tục lệ thờ cúng tổ tiên.

Mong rằng bài viết này của Bảo Long sẽ giúp gia chủ hiểu rõ hơn về tục lệ cúng giỗ xưa nay của ông cha ta. Hy vọng có thể giúp mọi người đâu đó trong cuộc sống này.

Nếu gia chủ đang có nhu cầu về , tượng Phật, đồ phong thủy… hãy đến ngay với chúng tôi. Sử dụng công nghệ đúc truyền thống của làng nghề Ý Yên Nam định. Cùng với đó là các nghệ nhân lâu nắm, tài hoa. Các mẫu sản phẩm của chúng tôi luôn đa dạng từ hình dáng, mẫu mã, kích thước. Đặc biệt, vì là đơn vị trực tiếp sản xuất, giá thành vô cùng hợp lý. Tin chắc có thể làm hài lòng ngay cả những khách hàng khó tính nhất.

Quý khách quan tâm đến sản phẩm có thể đến các showroom gần nhất trên toàn quốc; hoặc liên hệ Hotline: 0915.979.388 – 0984.888.889 để được hỗ trợ nhanh nhất.

【#9】Văn Khấn Cúng Giỗ Và Nghi Thức Sắm Lễ Cúng Ông Bà, Cha Mẹ.

Ý nghĩa ngày cúng giỗ

Việc cúng giỗ những người đã khuất thể hiện lòng hiếu kính đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Nghi thức này luôn được người Việt tuân theo đạo làm người nhằm đề cao đạo hiếu thảo và nề nếp gia tiên. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế mà việc cúng giỗ sẽ được tổ chức linh đình hay tổ chức đơn giản chỉ trong gia đình. Tuy nhiên, dù có tổ chức to hay nhỏ thì đều thể hiện lòng thành tâm kính lễ từ gia đình đến những người đã khuất.

Nghi thức chuẩn bị cúng giỗ

Mâm cơm mặn gồm những lễ vật sau:

Một con gà luộc

Một miếng thịt heo luộc

8 đĩa xôi gấc, đỗ

8 chén cơm trắng

Mâm ngũ quả

Một bình hoa tươi

Một bộ đồ cúng, giấy tiền vàng, giấy đất, vàng mã

Một trầu têm cánh phượng đẹp

1 Cau tươi

Trà tươi

Thuốc lá

Rượu trắng

3 kiêng kỵ cần tránh trong tu sửa nhà cửa hợp phong thủy

Nội dung văn khấn cúng giỗ cha mẹ, ông bà

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ………………………………………………….

Tín chủ con là…………………………………………………Tuổi…………………

Ngụ tại………………………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày ………tháng ………năm………………………( Âm lịch).

Chính ngày giỗ của…………………………………………………………………

Thiết nghĩ…………………. Vắng xa trần thế, không thấy âm dung.

Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tắc thành.

Tâm thành kính mời…………………………………………………………………

Mất ngày ……………..tháng………………….năm………………………………..

Mộ phần táng tại……………………………………………………………………..

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương hồn gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thần Linh, Thổ địa, Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

【#10】Tìm Hiểu 3 Bài Văn Khấn Cúng Giỗ Chuẩn Tâm Linh Năm 2021

Cúng giỗ ông bà cha mẹ là một trong những nghi thức truyền thống của người Việt ta từ ngàn đời nay. Phong tục này giúp con cháu luôn ghi nhớ đến ông bà tổ tiên người có công lao sinh sinh thành và dưỡng dục con cháu. Đặc biệt trong ngày giỗ thì việc khấn vái rất quan trọng. Vậy văn khấn cúng giỗ như thế nào đúng chuẩn tâm linh? Mời bạn theo dõi bài chia sẻ sau đây của xoso88.net.

Tìm hiểu ý nghĩa của việc thực hiện nghi thức cúng giỗ ông bà cha mẹ

Trước khi tìm hiểu bài văn khấn cúng giỗ thì chúng ta cùng tìm hiểu ý nghĩa của nghi thức này:

  • Cúng giỗ được xem là một nghi thức vô cùng quan trọng đối với người Việt. Bởi vì nó thể hiện lòng biết ơn và tưởng nhớ của con cháu đối ông bà, cha mẹ đã khuất có công sinh thành và nuôi dưỡng chúng ta.
  • Đồng thời nghi thức này còn thể hiện nét đẹp truyền thống văn hóa của người Việt Nam: “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

3 bài văn khấn cúng giỗ ông bà cha mẹ đúng chuẩn tâm linh

Theo nhiều tài liệu tâm linh để lại thì phong tục cúng giỗ của người Việt đều phải trải qua 3 thời điểm là cũng giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường. 3 bài văn khấn cúng giỗ sau đây hoàn toàn dựa trên 3 thời điểm này:

Văn khấn gia tiên ngày giỗ đầu

“Con lạy chín phươngTrời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ………………………………………..

Tín chủ (chúng) con là:………………………………………….. Tuổi……………………………………..

Ngụ tại:………………………………………………………………………………………………………………

Hôm nay là ngày……………tháng……….năm…………….( âm lịch).

Chính ngày Giỗ Đầu của:………………………………………………………………………………………

Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình,

không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời:…………………………………………………………………………………………..

Mất ngày……………….. tháng……………………..năm……………………………( âm lịch)

Mộ phần táng tại:…………………………………………………………………………………………………

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!”

Văn khấn cúng giỗ ngày giỗ hết

“Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ… … … … … … …

Tín chủ (chúng) con là:… … … … … … …

Ngụ tại:… … … … … … .

Nhân ngày mai là ngày Giỗ Hết của… … … … … … …

Tín chủ con cùng toàn thể gia khuyến tuân theo nghi lễ, sửa biện hương hoa lễ vật dâng cúng các vị Tôn thần.

Cúi xin các vị Bản gia, Thổ Công, Táo phủ Thần quân, Ngữ phương, Long mạch và các vị Thần linh, hiển linh chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con kinh thỉnh các Tiên linh, Gia tiên họ… … … … … …. và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!”

Văn khấn ngày giỗ thường

Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ………………………………………………….

Tín chủ (chúng) con là……………………………………………………………………

Ngụ tại………………………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày …………… tháng ……………. Năm………………………………

Là chính ngày Cát Kỵ của…………………………………………………………………

Thiết nghĩ………………….(dài) vắng xa trần thế, không thấy âm dung.

Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời………………………………………………………………………

Mất ngày ……………..tháng………………….năm……………………………………..

Mộ phần táng tại…………………………………………………………………………..

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.

Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!