Truyền Thuyết Và Bài Văn Khấn Ông Hoàng Mười

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Sự Tích Và Bài Văn Khấn Ông Hoàng Mười
  • Tiệc Ông Hoàng Mười Vào Ngày Nào? Sắm Lễ, Văn Khấn
  • Văn Khấn Đền Ông Hoàng Mười Dành Cho Con Nhang, Đệ Tử
  • Văn Khấn Ông Hoàng Mười : Những Bài Văn Khấn Tại Đền Ông Hoàng Mười
  • Bài Văn Khấn Ông Hoàng Bảy
  • Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh, sau làm đến nguyên thần tam triều Lê gia, phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân. Vì thế, ông Hoàng Mười còn được nhân dân xứ Nghệ tôn vinh là “Đức thánh minh”, là một vị quan nằm trong hệ thống điện thần thờ mẫu tứ phủ ở Việt Nam.

    Lại có một dị bản khác cho rằng ông giáng xuống trần là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An.

    Nhưng sự tích được lưu truyền nhiều nhất có lẽ là câu chuyện: Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà).

    Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mội người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời.

    Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An. Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười (hay còn gọi là Ông Mười Củi) không chỉ vì ông là con trai thứ mười của Vua Cha (như một số sách đã nói) mà còn vì ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn), không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương, không chỉ nơi trần thế mà các bạn tiên trên Thiên Giới ai cũng mến phục, các nàng tiên nữ thì thầm thương trộm nhớ.

    Văn khấn đền ông Hoàng Mười

    “Gươm thiêng chống đất chỉ trời

    Đánh Đông dẹp Bắc việc ngoài binh nhung

    Hai vai nặng gánh cương thường

    Sông Lam sóng cả buồm giương một chèo”

    “Đất Nghệ An anh hùng hào kiệt

    Tiếng Ông Mười lẫm liệt ngàn xưa

    Cung gươm lên ngựa đề cờ

    Ra tay gìn giữ cõi bờ Việt Nam”

    “Chí anh hùng ra tay cứu nước

    Đi tới đâu giặc bước lui ngay

    Việt Nam ghi chép sử dày

    Cung cao điện ngọc đêm ngày khói nhang”

    “Năm cửa ô tới Đô Thành

    Nam Đàn, Nghi Lộc nức danh Ông Mười”

    Đoạn thơ hát khi Ông Hoàng Mười “tái đáo Thiên Thai”:

    “Hoa đào rơi rắc lối Thiên Thai

    Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi

    Ngõ hạnh suối đào xa cách mãi

    Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi

    Đá mòn rêu nhạt nước chảy hoa trôi

    Ước cũ duyên xưa có thế thôi”

    Khi dâng ông miếng trầu têm, văn thường hát:

    “Đất lề quê thói Nghệ An

    Miếng trầu cau đậu dâng Quan Hoàng Mười”

    Và có cả khi văn tấu điệu hò Nghệ Tĩnh để ông vỗ gối ban thưởng:

    “Muối đã mặn ba năm còn mặn

    Gừng đã cay chín tháng vẫn cay

    Ghế ông tình nặng nghĩa dày

    Xa xôi đến mấy, ra đây ngự đồng”

    “Xứ Nghệ vui nhất Chợ Vinh

    Đẹp nhất Bến Thủy, anh linh Ông Mười”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Nôm Ông Hoàng Bảy Đầy Đủ
  • Bài Văn Cúng Nhà Thờ Họ Ngày 1 Và Rằm Hàng Tháng
  • Chữ Nôm Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Chữ Hán Và Chữ Nôm ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Nghi Lễ Chạp Mộ Mời Gia Tiên Về Ăn Tết
  • Văn Khấn Tảo Mộ Tết Thanh Minh Tại Nhà Và Tại Mộ Đầy Đủ Nhất
  • Truyền Thuyết Và Bài Văn Khấn Cô Bơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Cúng 12 Bà Mụ Đầy Cữ, Đầy Tháng, Đầy Năm
  • Bài Văn Khấn Cúng Cô Hồn Tháng 7 Đầy Đủ Theo Văn Khấn Cổ Truyền
  • Hai Bài Văn Khấn Cúng Trong Đêm Giao Thừa Năm 2021 Mang Đến Tài Lộc Và May Mắn Cho Gia Chủ
  • Văn Khấn Gia Tiên Rằm Tháng 7 Và Mâm Lễ Cúng Gia Tiên Rằm Tháng 7
  • Bài Văn Khấn Cúng Lễ Tạ Đất
  • Cô Bơ vốn là con Thủy Tề ở dưới Thoải Cung , được phong là Thoải Cung Công Chúa, giá ngự vào ra trong Cung Quảng Hàn. Có người còn nói rằng, Cô Bơ là con gái vua Long Vương rất xinh đẹp nết na nên được Đức Vương Mẫu (có người cho rằng đó là Mẫu Cửu Trùng Thiên) cho theo hầu cận, chầu chực trong cung cấm. Sau này Cô Bơ Thoải giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng, tương truyền sự tích như sau: Đức Thái Bà nằm mộng thấy có người con gái xinh đẹp, dáng ngọc thướt tha, tóc mượt mắt sáng, má hồng, môi đỏ, cổ cao ba ngấn, mặc áo trắng đến trước sập nằm dâng lên người một viên minh châu rồi nói rằng mình vốn là Thủy Cung Tiên Nữ, nay vâng lệnh cao minh lên phàm trần đầu thai vào nhà đó, sau này để giúp vua giúp nước, thì Thái Bà thụ thai.

    Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi. Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh.

    Nhang thơm một triện,trống điểm ba hồi

    Đệ tử con, dâng bản văn mời

    Dẫn sự tích thoải cung công chúa

    Tiền duyên sinh ở: thượng giới tiên cung

    Biến hóa lên về Động Đình trung

    Thác sinh xuống, con vua thoải tộc

    Điềm trời giáng phúc, thoang thoảng đưa hương

    Mãn nguyệt liền, hoa nở phi phương

    Da tựa tuyết ánh hường tươi tốt

    Hoa cười ngọc thốt, nét ngọc đoan trang

    Áo trắng hoa, chỉnh triện dung nhan

    Tươi vẻ ngọc diện càng tươi sáng

    Tóc mây hương thoảng, da trắng lạ lùng

    Điểm yên chi, má đỏ hồng hồng

    Đôi mắt phượng lóng la lóng lánh

    Tai đeo vàng cánh chân dận hài hoa

    Điệu lưng ong dáng ngọc thướt tha

    Chuỗi tràng mạng kim sa đài các

    Mỗi ngày một khác, vẻ đẹp quá ưa

    Áo bạch bào phơn phớt hương đưa

    Chiếc lồng cổ hây hây xạ nức

    Động lòng quân tử trạnh dạ văn nhân

    Nói về tài cô tài vẹn mười phân

    Nói về sắc mười phần nhan sắc

    Áo hoa quần trắng, tóc phượng lưng ong

    Chỉnh chiện thay nhan sắc não nùng

    Vịnh thơ phú ngân nga đàn hát

    Phấn nhồi má hạc, sáp điểm mày ngài

    Cô mặc áo màu phơn phớt lòng trai

    Hài mỏ phượng khoan thai chân bước

    Đàn cầm thánh thót dạo khúc năm cung

    Văng vẳng nghe tiếng nhạc lạ lùng

    Điểm đót nhẹ giục lòng quân tử

    Ba ngàn tiên nữ trăm ả theo hầu

    Người vui mừng sắm sửa trầu cau

    Kẻ hầu hạ nâng khăn sửa túi

    Éo le cô nhiều lỗi cách điệu trăm phần

    Người thanh tân nết cũng thanh tân

    Người lịch sự thêm càng lịch sự

    Hằng Nga tiên tử cung quế Quảng Hàn

    Vấn khăn chầu áo ngự điểm trang

    Lược ngà chải, gương loan điểm đót

    Khăn hồng chau chuốt chuỗi ngọc lưu ly

    Vẻ thướt tha tính nết nhu mỳ

    So mọi vẻ cầm kỳ thi họa

    Truyền chim nhắn cá trăm sự đinh ninh

    Gẩy đàn ca tang tính tang tình

    Tiếng thánh thót giọng loan to nhỏ

    Phỉ lòng trăng gió hội ngộ bạn tiên

    Chốn Ba Bông cảnh sắc thiên nhiên

    Non nọ nước ấy miền sơn thuỷ

    Ấy mong tri kỷ gió lạnh sương rơi

    Khen trăng già sao khéo trêu ngươi

    Tiên thượng giới, bạn người hạ giới

    Hoa đào còn đợi, sao thấy gió đông

    Đợi rồi mong nào đã phỉ lòng

    Riêng chỉ đẻ tấc lòng bối rối

    Gió trăng đã trải quý tộc thiết tha

    Bỗng hay đâu non nước la đà

    Cánh chim nhạn cao xa bay bổng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Cúng Rằm Tháng 7, Văn Khấn Cúng Chúng Sinh Chuẩn Nhất
  • Cách Làm Lễ Và Văn Khấn Bốc Bát Hương Thổ Công Chuẩn Nhất
  • Bài Văn Khấn Chuyển Bàn Thờ Ông Thần Tài Chuẩn Xác Nhất
  • Bài Văn Khấn Ban Tam Bảo Đầy Đủ Và Cụ Thể Nhất Cho Dành Cho Bạn
  • Bài Văn Khấn Cúng Ban Sơn Trang Đúng Và Đầy Đủ Nhất Để Đi Lễ Chùa
  • Truyền Thuyết Và Bài Văn Khấn Quan Thánh Đế Quân

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Cúng Xe Ô Tô Xuất Hành
  • Bài Cúng Nhập Trạch Nhà Mới, Chung Cư Chính Xác Nhất Được Nhiều Người Dùng
  • Văn Khấn Cúng 12 Bà Mụ Cho Trẻ Tại Nhà
  • Bài Cúng Ông Công Ông Táo Theo Văn Khấn Cổ Truyền Việt Nam
  • Văn Khấn Bài Cúng An Vị Bát Hương
  • Quan thánh đế quân vốn là hình tượng thánh trong tín ngưỡng của người Hoa nhưng du nhập vào Việt Nam vào thời Nguyễn. Cùng tạp chí tử vi tìm hiểu truyền thuyết và bài văn khấn Quan Thánh đế quân nhé!

    Trong lịch sử, khi phong trào “phản Thanh phục Minh” nổ ra ở Trung Quốc, một đợt di dân tự phát lớn của các di thần nhà Minh sang nước ta. Qua các thương nhân đi trước, đa số người Hoa đến với vùng đất mới phương Nam và trong hành trang của họ là tư duy nhị nguyên, là hình mẫu chuẩn mực đạo đức phong kiến như đã nêu trên, mà Quan Công là điển hình, nên cũng không thể thiếu biểu tượng tâm linh là việc lập Quan Đế Miếu ( còn gọi là chùa Ông).

    Quan Thánh Đế được người Hoa tôn kính gọi là Ông, họ Quan tên Vũ, tự Trường Sinh, sau đổi Vân Trường. Dân gian thường gọi là Quan Công, Quan Thánh, Quan Vũ (Võ), Quan Đế, Quan Vân Trường, Quan Xích Đế, Hán Thọ Đình Hầu và như trên đã nói do thành thần ngay sau khi tử trận (dân gian thường dùng từ “hiển thánh”) nên cũng gọi là Quan Thánh Đế. Ông sinh năm 162, quê ở Giải Lương, quận Bồ Châu, tỉnh Hà Đông (Trung Quốc xưa). Tương truyền Ông cao chín thước, râu dài hai thước (thước thời xưa khoảng 0,4m), mặc đỏ như gấc, môi như tô son, mắt phượng mày tằm, oai phong lẫm liệt, tay cầm thanh long yển nguyệt (nặng 82 cân), cưỡi ngựa Xích Thố.

    Ông đến cùng Lưu Bị, Trương Phi và kết nghĩa anh em, thề sống chết có nhau (sự tích kết nghĩa vườn đào). Là vị tướng cuối nhà Đông Hán đầu thời Tam Quốc ở Trung Quốc, Ông đã góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục với hoàng đế đầu tiên là Lưu Bị. Ông cũng là người đứng đầu trong ngũ hổ tướng của Thục, gồm: Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng Trung và Mã Siêu. Ông được hoàng đế Lưu Bị bổ nhiệm cai quản đất Kinh Châu (năm 216). Đến năm 219, nước Ngô tấn công Kinh Châu, Quan Vũ thất thủ mất thành, cùng với con là Quan Bình chạy về Phàn Thành, bị quân Ngô bắt được giải đến vua Ngô Tôn Quyền. Vua Ngô sợ hậu họa liền sai quân đem hai cha con Ông đi chém. Bấy giờ là năm Kiến An thứ 24, (tháng 10 năm 219), Ông hưởng dương 58 tuổi.

    Lúc đầu người Hoa và cư dân ở Trà Đư đã chung tay xây dựng nên Quan Đế Miếu Trà Đư, sau đó do sự dịch chuyển của đơn vị hành chính mà được di dời về doi Thường Lạc, rồi bởi ảnh hưởng của địa hình phải chuyển đến vị trí ngày nay và mang tên Quan Đế Miếu Hồng Ngự. Từ điểm xuất phát đến vị trí hiện tại, qua hai lần di dời tên gọi Quan Đế Miếu vẫn được duy trì, chỉ riêng ở Thường Lạc, nền Miếu xưa nay đã được thay bằng chùa Phật (Chùa Thiên Quang), tức là có sự chuyển đổi công năng từ kiến trúc văn hóa tín ngưỡng của người Hoa thành của người Việt, một biểu hiện sự dung hợp về văn hóa của các cộng đồng dân cư ở địa phương.

    Bài văn khấn quan Thánh Đế Quân

    ” Nam mô Phục Ma Đại Đế Quan Thánh Đế Quân Bồ Tát ( 3 lần)

    …Con tên …, … tuổi, ngụ tại địa chỉ số nhà…, phường…, Thành phố… Vì ngưỡng mộ sự trung nghĩa và đức độ của Ngài mà nay đã thiết lập bàn thờ Ngài tại tư gia, (cơ quan) như vầy. Kính mong triệu thỉnh Ngài Quan Thánh Đế Quân nhập tượng, trấn trạch, duy trì chánh khí trong nhà. Và xin nguyện sẽ cố gắng noi theo sự dạy bảo của Ngài. Đệ tử thành tâm phụng thỉnh!” (3 lần, mỗi lần lạy 1 lạy).

    Khi cần xin một điều gì, hay lễ vía Ông thì sắm cau, trầu, rượu, trái cây và dùng bài khấn sau:

    ” Nam mô Phục Ma Đại Đế Quan Thánh Đế Quân Bồ Tát.

    Hôm nay nhân ngày …. gì đó, để tưởng nhớ tới công ơn trì gia, trấn trạch, của Ngài, đệ tử có bày chút ít hoa, quả, rượu, …thành tâm xin phụng thỉnh Ngài về hưởng dụng chứng giám.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Ngày Vía Thần Tài Chuẩn Nhất Năm
  • Văn Khấn Tạ Đất
  • Cách Rút Chân Nhang Bàn Thờ Thần Tài
  • Bạn Đã Biết Về Đình Ứng Thiên
  • Ngày Vía Thần Tài:mua Linh Vật
  • Viết Đoạn Văn Khoảng 200 Thuyết Minh Về Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam

    --- Bài mới hơn ---

  • Độc Đáo Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Lễ Vía Bà Chúa Xứ
  • Hướng Dẫn Gia Chủ Các Bốc Bát Hương Như Thế Nào Là Đúng?
  • Cách Bốc Bát Hương Thổ Công Đơn Giản Ai Cũng Làm Được
  • Nghi Thức Đơn Giản Trì Tụng Chú Đại Bi Tại Nhà
  • Miếu Bà Chúa Xứ là một công trình kiến trúc đẹp và tôn nghiêm, tọa lạc dưới chân núi Sam, thuộc phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là một di tích nổi tiếng ở khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hàng năm thu hút gần 2 triệu lượt người đến cúng bái, tham quan. Khách hành hương, du lịch đến từ khắp nơi trên cả nước, tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo kéo dài suốt nhiều tháng.

    Năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được chính thức công nhận là lễ hội quốc gia. Năm 2008, lễ hội được tổ chức với tên gọi Tuần lễ quốc gia Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam. Lễ hội chính thức khai mạc vào tối ngày 25-05 tại Trung tâm thương mại núi Sam. Lễ khai mạc đã thu hút khoảng 10.000 lượt khách trong nước và quốc tế đến tham dự. Dịp này, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã tiến hành nghi thức trao giấy xác nhận và cúp lưu niệm kỷ lục Việt Nam đối với “Ngôi miếu lớn nhất Việt Nam” và “Tượng bà bằng đá sa thạch xưa và lớn nhất Việt Nam” cho đại diện Ban quản trị lăng miếu núi Sam.

    Miếu Bà có từ khi nào cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn, nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng miếu thành hình sau năm 1824. Tương truyền, lúc đầu, miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra cánh đồng bát ngát. Năm 1870, miếu được xây lại bằng đá miểng và lợp ngói. Đến năm 1972, miếu được xây dựng mới, đồ sộ và lộng lẫy theo lối kiến trúc cổ kính phương Đông. Công trình là một quần thể hoành tráng trên mặt bằng rộng với dãy Đông lang, Tây lang, chánh điện, nhà khách…theo đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, nhưng xây dựng dở dang. Mãi đến năm 1995, Ban Quản trị lăng miếu núi Sam mới tiếp tục xây dựng phần còn lại.

    Tương truyền, dưới triều Minh Mạng, khi Thoại Ngọc Hầu giữ trọng trách trấn giữ biên giới Tây Nam, giặc ngoại xâm thường sang quấy nhiễu. Mỗi lần ông xuất quân, bà chánh thất phu nhân Châu Thị Tế thường đến khấn vái, mong Bà phù hộ Thoại Ngọc Hầu đánh thắng giặc, bảo vệ cuộc sống yên lành cho dân. Về sau, để tạ ơn những điều ứng nghiệm, phu nhân Thoại Ngọc Hầu đã cho xây cất lại ngôi miếu to và khang trang hơn. Lễ khánh thành được tổ chức trong 3 ngày 24, 25, 26 tháng 4 âm lịch. Từ đó về sau thành lệ, dân chúng lấy những ngày trên làm lễ Vía Bà. Nếu chi tiết này có thật, thì đây cũng là một thông tin cho biết rằng miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng từ thời Minh Mạng.

    Ngôi miếu có bố cục kiểu chữ 国 – Quốc, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Các hoa văn ở cổ lầu chánh điện thể hiện đậm nét nghệ thuật. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ.

    Chánh điện gồm hai lớp. Lớp trong cùng là nơi thờ Bà Chúa Xứ với tượng Bà bằng đá đặt trên bệ cao, sát hai bên là hai con hạc trắng biểu tượng cốt cách tiên thánh của Bà. Bên phải tượng Bà là một linga cũng bằng đá đặt trên một hương án thờ, gọi là bàn thờ Cậu. Bên trái tượng Bà là hương án thờ một tượng gỗ chạm hình yoni, gọi là bàn thờ Cô. Lớp thứ hai là bàn thờ Hội đồng, sát liền hai tượng chim phượng. Hai bên trái, phải của bàn thờ Hội đồng là bàn thờ Tiền hiền khai khẩn (ở bên trái) và bàn thờ Hậu hiền khai cơ (ở bên phải).

    Ngay lối vào chánh điện có đôi câu đối thể hiện quyền lực linh thiêng của Bà trong việc ban phúc, bảo vệ nhân dân. Nội dung như sau:

    求必應試必霛夢中指示​

    暹可驚清可慕意外難量​

    Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị​ Xiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng​ Cầu nhất định được, ban nhất định linh, báo cho biết trong mộng​

    Người Xiêm phải sợ, người Thanh phải nể, không thể tưởng tượng nổi

    Truyện xưa kể lại rằng: Những năm 1820 – 1825, Quân Xiêm thường sang nước ta quấy nhiễu, cướp bóc. Mỗi khi giặc đến, người dân quanh vùng lại phải bồng bế nhau chốn chạy lên núi lánh nạn. Có lần quân giặc đuổi theo lên đến đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà. Chúng hì hục cậy ra, lấy dây buộc lại dùng đòn khiêng xuống núi để mang về xứ. Nhưng khi bọn chúng mới khiêng đi được một đoạn đường ngắn, lạ thay tượng Bà bỗng dưng nặng trĩu không thể nào nhấc lên được nữa. Khi đó, một tên trong bọn tức giận đập vào cốt tượng làm gãy một phần cánh tay bên trái và ngay tức khắc hắn bị Bà trừng phạt.

    Thời gian sau, Bà thường hiện về xưng là Bà Chúa Xứ, dạy dân làng khiêng xuống núi lập miếu thờ cúng. Bà sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tránh được giặc cướp quấy phá, thoát khỏi dịch bệnh hoành hành. Thấy vậy, dân làng họp nhau lên núi khiêng tượng về thờ cúng. Nhưng lạ thay, dù mấy chục thanh niên trai tráng hò nhau gắng sức vẫn không lay chuyến nổi tượng Bà. Trong lúc mọi người đang rất thất vọng, có ý định bỏ dở thì một cô gái trong làng bỗng dưng lên đồng cho biết : “Bà chỉ cần 9 cô gái đồng trinh lên khiêng”. Dân làng làm theo lời dạy ấy và qủa đúng thật 9 cô gái đồng trinh khiêng tượng Bà đi xuống một cách nhẹ nhàng.

    Bỗng nhiên khi đi đến chân núi thì tượng Bà trở nên nặng, không thể khiêng nổi thêm một bước nào nữa. Khi đó mọi người đã hiểu rằng, Bà đã chọn nơi đây để an vị nên đã không cố gắng di chuyển đi nữa mà lập miếu thờ cúng chỗ đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Trình Gợi Ý 2 Ngày 1 Đêm Hành Hương Vía Bà Chúa Xứ Ở An Giang
  • Blog Du Lịch: Kinh Nghiệm Làm Lễ Viếng Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang)
  • Kinh Nghiệm Đi Miếu Bà Chúa Xứ Cầu An, Xin Lộc Đầu Năm Không”cháy Túi”
  • Tục Thờ Bà Chúa Xứ Ở Tây Nam Bộ Qua Nghiên Cứu Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam, An Giang
  • Lễ Hội Bà Chúa Xứ Ở An Giang
  • Viết Bài Văn Thuyết Minh Về Lễ Hội “vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” (Châu Đốc, An Giang)

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam Hà Nội
  • Địa Điểm Du Lịch Miếu Bà Chúa Sứ Núi Sam Di Tích (Lịch Sử, Kiến Trúc Và Tâm Linh) Quan Trọng Của Tỉnh Và Của Khu Vực.
  • Về Miền Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ Ở An Giang
  • An Giang: Lễ Hội Bà Chúa Xứ
  • Vào những năm 1820, quân Xiêm thường xuyên quấy nhiễu biên giới nước ta. Khi đến núi Sam, trông thấy tượng Bà, chúng hì hục dùng đủ mọi cách để khiêng tượng Bà xuống núi, nhưng khi vừa đi được một đoạn ngắn thì kì lạ thay, tượng Bà bỗng nặng trĩu đến cả chục binh sĩ trai tráng cũng không thể bê nổi. Khi đó, một tên trong đám giặc nổi giận, đạp vào cốt tượng làm gãy một phần cánh tay bên trái và ngay lập tức bị trừng phạt đau đớn.

    Một thời gian sau, nhiều người trong làng luôn mơ thấy tượng Bà hiện về tự xưng là Bà Chúa Xứ, báo mộng dân làng khiêng bà xuống núi lập miếu thờ, bà sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, bảo vệ dân làng khỏi nạn giặc cỏ. Vậy là cả làng lên khiêng tượng Bà Chúa Xứ xuống núi để xây miếu thờ cúng, nhưng không hiểu sao tất cả thanh niên lực lưỡng trong làng cũng không thể bê tượng Bà lên. Khi ấy, một cô gái tự xưng là Chúa Xứ Thánh Mẫu và báo rằng Bà chỉ cần 9 cô gái đồng trinh khiêng bà. Quả nhiên, 9 cô gái di chuyển Bà một cách dễ dàng và khi xuống đến chân núi, tượng Bà trở nên nặng không thể di chuyển được, dân làng hiểu rằng Bà đã chọn vị trí này để làm miếu cho mình.

    Tượng Bà cao khoảng 1m65, theo nhà khảo cổ học người Pháp Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, tượng Bà thuộc loại tượng thần Visnu, tạc dáng người ngồi nghĩ ngợi quý phái vương giả. Chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, có thể được tạc vào cuối thế kỷ VI. Theo một số nghiên cứu khác, tượng Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miếu, điểm tô lại trở thành Bà Chúa Xứ quyền thế. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, tượng Bà Chúa Xứ vẫn là còn là điều bí ẩn.

    Ban đầu, miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng khá sơ sài, nằm trên vùng đất trũng và lợp bằng lá tre, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra con đường làng và cánh đồng bát ngát. Trải qua nhiều lần trùng tu, đến năm 1992, di tích quốc gia miếu Bà Chúa Xứ hoàn thành khá quy mô với khu Đông Lang, Tây Lang, chánh điện, nhà khách… Ngay lối chánh điện có đôi câu đối thể hiện quyền uy linh thiên của Bà Chúa Xứ:

    Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị Xiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng.

    Dịch nghĩa là:

    Cầu tất được, ban nhất định linh, báo mộng cho biết Người Xiêm phải sợ, người Thanh phải nể, không thể tưởng tượng nổi.

    Sau khi xây dựng, miếu được một người trông nom cai quản gọi là Từ. Ban đầu, các hoạt động cúng bái còn khá lẻ tẻ và đơn sơ, tuy nhiên sau năm 1870, khi miếu được trùng tu khang trang đã thu hút người dân thập phương nên Lễ hội Bà Chúa Xứ từ đó cũng trở nên phổ biến. Lễ hội được bắt đầu từ đêm 23/4 đến ngày 27/4 âm lịch, ngày chính vía là 25/4 âm lịch, là ngày tượng Bà an vị sau khi khiêng xuống núi. Các nghi thức cúng bái sẽ được các hương chức trong làng thực hiện theo nghi thức cổ truyền. Trước khi cử hành các nghi thức, vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm, Ban quản trị miếu bầu ra chủ lễ với các tiêu chí như ngoài 60 tuổi và vẫn khỏe mạnh, còn đủ vợ đủ chồng, con cái đông đủ cả trai cả gái và đạo đức tốt.

    Vào đêm 23/4, rạng sáng 24/4, Lễ tắm Bà được tiến hành theo nghi thức trang trọng. Tượng Bà sẽ được lau bằng nước thơm, thay y phục mới, còn y phục cũ sẽ được cắt nhỏ và ban cho khách trẩy hội như một hình thức cầu an, cầu may.

    Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà được tiến hành lúc 15h ngày 24/4 âm lịch. Tương truyền, Thoại Ngọc Hầu là một danh tướng lẫy lừng thời Nguyễn, từng là trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, người có công lớn trong công cuộc khẩn hoang lập ấp, đào kênh đắp đường, xây dựng và bảo vệ vùng đất mới. Một trong những đóng góp to lớn nhất của Thoại Ngọc Hầu chính là lộ núi Sam – Châu Đốc dài 5km, xây dựng từ năm 1826 đến 1827, huy động gần 4500 nhân công. Sau khi hoàn thành, ông cho khắc bia “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương” dựng tại núi Sam năm 1828 để kỷ niệm. Ngày nay, tấm bia không còn nhưng còn văn bia trong sử sách. Các bô lão trong làng và Ban quản trị miếu mặc lễ phục chỉnh tề sang lăng Thoại Ngọc Hầu làm Lễ thỉnh sắc rước bài vị của Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại để tỏ lòng biết ơn người có công khai phá vùng đất hoang vu này.

    Lễ Túc Yết được tổ chức vào đêm 25, rạng sáng 26/4 âm lịch. Lễ được tiến hành theo trình tự: dâng hương, chúc tửu, hiến trà, đọc văn tế. Cuối cùng, văn tế được hóa cùng một ít giấy vàng mã. Tiếp ngay sau Lễ Túc Yết là đến Lễ Xây Chầu – Hát Bội do một người sành nghi lễ và có uy tín trong Ban tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.

    Lễ Chánh tế được diễn ra vào 4 giờ sáng ngày 26/4 và cuối cùng, chiều ngày 27/4 sẽ đưa sắc Thoại Ngọc Hầu về lăng.

    Phần hội diễn ra rất sôi nổi đan xen với phần lễ, các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian được biểu diễn như múa lân, múa mâm thao, múa đĩa chén… thu hút sự chú ý và tham gia của du khách thập phương. Lễ khai hội thường tổ chức vào trước đêm Lễ tắm Bà, tức là phần trước lễ truyền thống. Chương trình khai hội khá đặc sắc, phong phú với các tiết mục được sân khấu hóa như biểu diễn lân sư rồng, diễu hành xe hoa hay ca múa nhạc dân tộc Khmer. Sau đó, Lễ phục hiện sẽ được tiến hành với ý nghĩa tái hiện bối cảnh rước tượng Bà từ đỉnh núi Sam theo truyền thuyết.

    Hàng năm, miếu Bà Chúa Xứ thu hút hàng nghìn khách thập phương đến hành hương chiêm bái, đóng góp cho việc tôn tạo miếu. Ngoài việc trùng tu miếu, Ban quản lý sử dụng một phần số tiền đóng góp để làm phúc lợi xã hội.

    Nhờ có Lễ Bà Chúa Xứ, hàng năm, những người tham gia lễ hội đã giúp tạo nguồn thu nhập cho người dân địa phương, đời sống dần trở nên ổn định hơn.

    Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ vẫn luôn là nét văn hóa cộng đồng đặc sắc của các dân tộc, nét hành hương tâm linh đặc trưng của Nam bộ. Ý nghĩa của Lễ hội không chỉ dừng lại ở văn hóa tâm linh mà còn thể hiện niềm tự hào dân tộc với những trang sử vẻ vang chói lọi cũng như các đóng góp cho xã hội. Du khách đến với Lễ hội không chỉ là tham gia một nét văn hóa vùng miền, mà còn tận mắt chứng kiến các chứng tích lịch sử mà ông cha ta đã dày công xây dựng và giữ gìn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam: Dàn Ý & Văn Mẫu
  • Tháng 5: Đến An Giang Dự Lễ Hội Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam Là Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Quốc Gia
  • Tháng 5 Đến An Giang Dự Lễ Hội Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Bí Ẩn Chuyện “vay Tiền
  • Thuyết Minh Về Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam: Dàn Ý & Văn Mẫu

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Bài Văn Thuyết Minh Về Lễ Hội “vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” (Châu Đốc, An Giang)
  • Thuyết Minh Về Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam Hà Nội
  • Địa Điểm Du Lịch Miếu Bà Chúa Sứ Núi Sam Di Tích (Lịch Sử, Kiến Trúc Và Tâm Linh) Quan Trọng Của Tỉnh Và Của Khu Vực.
  • Về Miền Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ Ở An Giang
  • Bài viết số 1: Thuyết minh về Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam Hà Nội

    Ngày nay, du lịch là một loại hình nghỉ dưỡng, ăn chơi, tham quan, cúng viếng,…đã không còn xa lạ với con người bởi những địa điểm du lịch về sinh thái hay tâm linh đều được rất nhiều người quan tâm. Nếu nói về du lịch sinh thái, ta không còn quá xa lạ với những cái tên như vườn Quốc gia Ba Vì ở Hà Nội, Vịnh Hạ Long ở Quảng Ninh,…nhưng đối với loại hình du lịch về tâm linh, chùa Một Cột, khu du lịch tâm linh núi Bà Đen, chùa Hương,..lại được rất nhiều du khách viếng thăm. Trong đó, không thể không kể đến miếu Bà Chúa Xứ núi Sam với kiến trúc, các lễ hội và câu chuyện tâm linh nơi đây.

    Du lịch tâm linh là loại hình du lịch đến và để cầu nguyện, chúc phúc, cầu bình an, tài lộc,…của con người ngày nay và miếu Bà Chúa Sứ ở núi Sam cũng là một trong những địa điểm du lịch tâm linh được nhiều khách du lịch đến viếng thăm. Miếu Bà là một công trình kiến trúc đẹp và vô cùng trang nghiêm ngự trị ở chân núi Sam, thuộc phường núi Sam ( trước thuộc xã Vĩnh Tế ), huyện Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đươc ngự trị tại An Giang, vốn là một vùng đất có điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi, hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt, bồi đắp phù sa với những câu chuyện kì bí, miếu Bà Chúa Xứ núi Sam đã thu hút khoảng hơn hai triệu khách du lịch đến tham quan hằng năm. Tại ngôi miếu này, tượng thờ chính là Bà Chúa Xứ. Bà được xem như là thần, là phật ban phúc lợi, bình an cho người dân nơi đây nhưng truyền thuyết về Bà và ngôi miếu này được xây dựng khi nào thì còn là một điều bí ẩn dù đã có nhiều sử sách ghi lại việc người dân phát hiện ra Bà và cho lập miếu thờ nhưng mỗi sách lại nói về những câu chuyện truyền thuyết khác nhau. Tương truyền rằng vào những năm 1820-1825, quân Xiêm thường xuyên qua nước ta cướp bốc, bốc lột tài sản của nhân dân ta. Trong một lần chúng đang đi trên ngọn núi Sam – trước đó núi Sam chỉ là một ngọn núi hoang vu, vắng vẻ với nhiều thú dữ – thì phát hiện một pho tượng cổ bằng đá rất đẹp. Thấy thế, chúng nỗi lòng tham, tìm đủ mọi cách xeo nại, nhấc bỗng,..nhưng không làm cho pho tượng dịch chuyển. Sau vài giờ cố gắng mang pho tượng đi, chúng trở nên tức giận, cáu gắt và trong sự nỗi giân nhất thời, chúng đánh gãy cánh tay trái của pho tượng và rời đi. Cùng lúc đó ở một ngôi làng có một cô bé đang nô đùa bỗng đứng lại, mặt đỏ bừng, đầu lắc lư và tự xưng là ” Chúa Xứ Thánh Mẫu ” , nói với các bô lão rằng tượng Bà đang ở trên núi Sam, bị giặc Xiêm tàn phá, bảo mọi người lên đó mang Bà xuống. Nghe thế, bô lão cùng với mọi người leo lên núi Sam và phát hiện tượng Bà quả thật đang nằm trên núi Sam. Bô lão liền gọi các anh chàng thanh niên to con, khỏe mạnh vác tượng Bà đi nhưng không sao cử động dù tượng Bà rất nhẹ. Tưởng như còn việc gì khiến Bà chưa hài lòng, bô lão liền sai người cầu khẩn và lời cầu đã linh nghiệm khi Bà lại nhập vào cô bé hôm nọ bảo rằng ” Hãy chọn chín cô gái đồng trinh để đem bà xuống núi “. Đúng như lời Bà bảo, bô lão liền chọn chín cô gái đồng trinh mang tượng Bà xuống núi nhưng không ngờ khi họ nâng tượng Bà thì pho tượng lại vô cùng nhẹ. Khi xuống chân núi thì pho tượng bỗng nặng trịch như Bà muốn tọa lạc tại chỗ này. Hiểu được ý đồ, bô lão liền cùng người dân xây một miếu thờ để cúng, thờ Bà, mong Bà phù hộ cho người dân nơi đây làm ăn thuận lợi, hạnh phúc, sống trong cuộc sống yên vui, ấm no. Lúc đầu , miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng bằng tre lá đơn sơ, nằm trên một mãnh đất trũng, lưng hướng về vách núi còn chánh điện thì hướng về nơi cánh đồng xanh ngắt như phù hộ cho con dân làm ăn thuận lợi, thuận buồm xuôi gió. Đến năm 1870, miếu được xây dựng lại bằng đá miểng và lợp ngói. Vào năm 1972, miếu lại được trùng tu, xây dựng mới hơn theo lối phương đông cổ kính với dãy đông lang, tây lang, chánh điện và nhà khách nhưng nữa chừng thì bị dang dở, mãi đến năm 1995 mới được xây dựng phần còn lại.

    Ngày nay, miếu Bà được xây dựng khang trang, uy nghiêm hơn với hình dạng chữ Quốc được xây bằng gạch có bốn ngói hình vuông, hình khối tháp dạng hoa sen nở với mái tam cấp ba tầng lầu. Nóc miếu được lợp bằng ống ngói màu xanh, bên trong còn giữ lại tấm vách đá dài khoảng mười mét. Ngóc mái vuốt cao, hai bên vách được xây bằng đá cẩm thạch có nguồn gốc từ Ý, Nhật, Đài Loan. Nhìn từ xa, miếu Bà Chúa Xứ núi Sam như một cung điện nguy nga, tráng lệ nhưng vẫn hiện lên nét trang trọng, tôn nghiêm của nơi thờ thần, thờ phật. Tại miếu, tượng của Bà Chúa Xứ núi Sam được đặt trước chánh điện với áo bào thêu rồng phụng, lấp lánh và chiếc mão sặc sỡ.

    Miếu Bà ( sau này người dân thường gọi miếu Bà Chúa Xứ núi Sam ) không những thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan bởi công trình kiến trúc, truyền thuyết hình thành nên miếu Bà mà còn là bởi những lễ hội đặc sắc, náo nhiệt nơi đây từ 23 – 27 tháng tư âm lịch ( còn gọi là lễ ” vía Bà Chúa Xứ núi Sam” ). Đông đảo du khách từ xa đến gần đến viếng và tham gia lễ hội với các trò chơi vui như hát bội, múa lân, đánh cờ,…Ngoài ra, để tạo thêm tính náo nhiệt, sôi nổi cho lễ hội, ban quản lý nơi đây còn tổ chức các trò như đua bò, các trò chơi dân gian,…Lễ vía bà Chúa Sứ núi Sam bao gồm các lễ ” Tắm Bà “, lễ ” Thính Sắc “, lễ ” Túc Yết “, lễ ” Chánh Tế” và lễ ” Hồi sắc”.Diễn ra vào nữa đêm 23 rạng sáng24 tháng tư âm lịch, lễ Tắm Bà được diên ra khoảng một giờ để tắm sạch pho tượng của Bà Chúa Xứ. Lễ Tắm Bà được chuẩn bị vào 23 giờ 30 phút và tới 0 giờ sẽ bắt đầu làm nghi thức. Các bô lão sẽ mặc các trang phục áo dài khăn đóng lên đèn, dâng rượu, dâng trà, niệm kinh và thắp hương,…Sau đó sẽ có khoảng 4 đến 5 người phụ nữ chững trạc có uy tính trong làng sẽ tiến hành nghi thức tắm pho tượng của Bà Chúa Xứ sau một tấm màn với nước thơm thoang thoảng mùi hoa nhài. Sau khi tắm xong, họ xịt nước hoa lên pho tượng và tiến hành mặc áo mão mới cho Bà. Chiếc áo cũ sẽ được cắt thành những mảnh vải nhỏ và đem phân phát cho những người đến viếng như Bà ban phúc cho. Sau lễ Tắm Bà là lễ Thỉnh Sắc. Lễ Thỉnh Sắc được tiến hành vào lúc 16 giờ ngày 25 tháng 4 âm lịch. Như được biết, các chức lớn và bô lão sẽ tiến hành từ miếu Bà Chúa Xứ đến lăng Thoại Ngọc Hầu để làm lễ. Dẫn đầu là đội múa lân, các lính hầu cằm cờ theo sau và long đình. Sau khi đến miếu thờ, ông chánh bái sẽ ra làm lễ niệm hương. Trong quá trình làm lễ có tổng cộng 4 bài vị của những người đã khuất là ông Thoại Ngọc Hầu ( người có công lớn đánh giặc và mang đến một ân huệ lớn cho người dân xứ An Giang khi biến nơi đây từ vùng nước sâu lũ lụt thành vùng đất canh tác màu mỡ ), vợ chính và vợ thứ của ông, được đặt lên bàn thờ chánh điện, và bài vị cuối cùng sẽ được đặt lên bàn thờ phía trước như tưởng nhớ những người lính đã đồng hành cùng ông. Tiếp đến là lễ Túc Yết được tiến hành vào 0 giờ ngày 26 tháng 4 âm lịch với hai phần cúng tế và xây chầu. Ở phần cúng tế, người dân phải chuẩn bị lễ vật cúng gồm một con heo trắng, một đĩa huyết heo và một nhúm lông nhỏ, trái cây, trầu cau, gạo,….Mọi người sẽ bắt đầu dâng hương, dâng rượu lên và tiến hành đốt giấy tiền vàng bạc sau khi ba hồi chiếng, trống và nhạc nổi lên. Sau khi kết thúc phần cúng tế mong một cuộc sống bình yên, ấm no thì sẽ đến với phần xây chầu ( hay gọi là hát chầu ). Lễ Chánh Tế được diễn ra cùng giờ vào ngày sau đó, tương tự như lễ Túc Yết, cầu bình an, mưa thuận gió hòa, làm ăn thuận lợi, ấm no hạnh phúc. Kết thúc lễ vía Bà Chúa Xứ núi Sam là lễ Hồi Sắc. lễ Hồi Sắc được tiến hành vào 15 giờ ngày 27 tháng 4 âm lịch đưa 4 bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu, vợ và những người lính đã khuất vào trở về lăng Thoại Ngọc Hầu. Lễ Hội Vía bà Chúa Xứ núi Sam được kết thúc.

    Đến với miếu Bà Chúa Xứ, khách du lịch trong quá trình tham gia lễ hội sẽ được hòa nhập vào cuộc sống và con người nơi đây, thưởng thức một lễ hội vui vẻ, độc đáo, náo nhiệt và cũng không kém phần trang nghiêm ở nơi chốn tâm linh này. Năm 2001, lễ hội này đã được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam công nhận là lễ hội cấp Quốc gia và cũng bởi lẽ đó, hằng năm, nơi đây hội tụ khoảng hơn hai triệu người từ gần đến xa, từ trong nước đến ngoài nước viếng thăm. Hãy dành ra chút ít thời gian để đến nơi đây, tôi chắc rằng bạn sẽ cảm thấy vô cùng thích miếu bà Chúa Xứ núi Sam của xứ người An Giang.

    Cảm ơn các bạn đã theo dõi một số bài viết thuyết minh về Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam. Chúng tôi hy vọng rằng các bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những lượng kiến thức không hề nhỏ cùng một dàn ý xuất sắc khi gặp những đề văn thuyết minh như thế này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tháng 5: Đến An Giang Dự Lễ Hội Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam Là Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Quốc Gia
  • Tháng 5 Đến An Giang Dự Lễ Hội Bà Chúa Xứ Núi Sam
  • Bí Ẩn Chuyện “vay Tiền
  • Chùa Bà Châu Đốc An Giang
  • Tiểu Thuyết Búp Sen Xanh Tieu Thuyet Bup Sen Xanh Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Ông Công Ông Táo 23 Tháng Chạp Chuẩn Nhất Theo Chia Sẻ Của Chuyên Gia
  • Cúng Cơm Cho Hương Linh
  • Cách Làm Lễ Hóa Vàng Và Văn Khấn Tiễn Ông Bà, Tổ Tiên Vào Mùng 3 Tết Nguyên Đán 2021 Chuẩn Nhất
  • Bài Văn Khấn Tết Hàn Thực Mùng 3 Tháng 3 Al Chi Tiết Nhất Năm 2021
  • Bài Văn Khấn Tết Hàn Thực Mùng 3 Tháng Ba Âm Lịch
  • BÚP SEN XANH

    Cơn dông mùa hạ dấy lên ở phía nam. Mây đen từng khối ùn ùn như nấm từ dưới chân trời đùn lên. Thoáng chốc, các ngọn núi của dãy Dăng Màn (1), Thiên Nhẫn … đã ngập chìm vào mây đen đục. Mảng nắng hẹp dần. Cảnh sắc hai bờ sông Lam đã ngả màu sẫm. Những bóng mây trôi qua các cánh đồng chiêm đang mùa thu hoạch, loang lổ, mảng sáng, mảng tối, ô xanh, ô vàng, nhìn về xa xa như một tấm da báo trải rộng hút tầm mắt.

    Từ trong khối mây đen dày đặc, thỉnh thoảng quắc lên một roi chớp xanh lè, ngoằn ngoèo rạch sáng vào da trời chì. Tiếp sa u roi chớp là tiếng trời gầm …

    Bên gốc cây đa đầu làng Chùa (2) có mấy con bò đứng ngủ, mồm nhai uể oải, những cục bọt trắng xốp đọng hai bên mép. Những con ruồi bò bay nhớn nhác tránh né mỗi lần con bò quất mạnh cái đuôi vào hai bên hông. Một tốp người đi làm đồng về ngồi nghỉ chân bên gốc đa đang gạ ông Xẩm hát cho nghe một bài mới. Ông Xẩm ngước đôi mắt mù lòa về phía có tiếng sấm xa xa, hai cánh mũi phập phồng đón nhận mùi hoa sen từ đầm làng đưa tới. Ông nhíu đôi lông mày đen, hỏi n hững người đang ngồi bên cạnh:

    – Trời sôi bụng hay … hay là tiếng súng của cụ Đình (3) ở trên rừng lại kéo về nữa đó, bà con?

    Qua nhiều giọng cười giòn, ông Xẩm gật gật đầu nghe, vẻ đắc ý vớ i câu nói đáp lại lời ông hỏi:

    – Tiếng sấm của cơn dông chiều đó ông ạ. Trời dạo này loạn dông chứ có cơn mưa nào đâu! Còn cái công việc “bình Tây” của các quan Nghè, quan Cử thì … vận nước Nam mình hỏng mất rồi! Vua Hàm Nghi đã bại trận, Tây dương (4) đày vua đi biệt xứ. Ôi! Có còn ch i nữa mà mong với đợi, hở ông?

    Một cụ già, tay vót hom giỏ, từ nãy vẫn ngồi im lặng nghe mọi người trò chuyện. Bỗng cụ cắm lưỡi mác xuống đất, tựa hai bàn ta y lên cán, mắt chớp chớp, nói:

    – Răng lại nhủ là ” có còn chi nữa mà mong với đợi” ? Nước có lúc suy lúc thịnh, nhưng có khi mô hết được những bậc hiền tài lo việc giữ nước, việc cứu nước. Cây cổ thụ ni bị gãy thì rồi sẽ có cây khác mọc lên. Rừng không bao giờ hết cây, dân không khi mô hết người tài cao chí lớn mô.

    Mọi người nhìn cụ già vẻ hợp lý. Ông Xẩm đưa ống tay áo lên lau hai hố mắt. Ông vẫn mấp máy cánh mũi về phía ngọn gió:

    – Dịp ni sen nở nhiều. Ngồi ở chỗ mô cũng được n gửi hương sen.

    – Ông ơi – một cô bé gái gọi – cháu biếu ông mấy cái gương se n luộc, ông ăn cho mát ruột ạ.

    Ông Xẩm cầm trong tay những cái gương sen đã luộc chín nhũn như tấm mền ong, giọng cảm động, hỏi:

    – Cháu là con nhà ai mà thảo ăn rứa?

    Cô bé chỉ mỉm cười. Mấy ngườ i ngồi cạnh ông già mù nói to:

    – Con gái anh nho Sắc đó, ông ạ.

    Ông Xầm nở nụ cư ời trên cung môi héo hắt, nói:

    – Ngỡ đứa mô chứ cháu Thanh, con gái đầu lòng của anh chị nho Sắc , cháu ngoại thầy tú Hoàng (5) thì … thì tôi mô có lạ lẫm chi! Để rồi tôi hát cho bà con ở đây và cháu Thanh cùng nghe nhớ.

    Bé Thanh lại đưa ông Xẩm cái bầu nước:

    – Ông uống ngụm nước mát rồi hẵng hát, ông ạ.

    – Cảm ơn lòng thảo của cháu. Ông không khát. Chứ chá u đem nước ra đồng cho ai rứa?

    – Dạ … ch o mệ cháu ạ.

    – Ờ. Vậy ra mệ cháu vẫn chưa ở cữ, còn đi làm đồng xa được. Chứ … cháu thích được bồng em gái hay bồng em trai, nói cho ông biết để ông hát mừng cháu nào?

    – Cháu thí ch mệ cháu sinh em trai nữa ạ.

    Ông già mù gật đầu, mỉm cười, tay lần mò lên dây đàn. Mọi người ngồi quanh gốc đa đã xúm xít bên ông Xẩm. Mấy con bò vẫn lim dim mắt ngủ, bọt mép tụ tan, tan tụ. Tiếng đàn bầu réo rắt b ay lên theo lời ca của ông Xẩm:

    Trời có thấu chăng trời!

    Nước Nam cơ khổ nhiều đời đắng cay

    Vì chưng Tây thổ sang đây,

    Nó vào Gia Định, ở rày Đồng Nai.

    Dần dà ra Lục tỉnh, Đàng ngoài,

    Các quan tâu đánh, vua ngài không cho.

    Bởi vì vua Tự Đức không biết đường lo,

    Nó vào nó chiếm mất cả thành đô kinh kỳ …

    Bé Thanh chưa hiểu thấu ý nghĩa lời ca, nhưng hai mắt của bé lim dim, bé lắng nghe tiếng đàn ông Xẩm. Những người ngồi cạnh bé Thanh, mặt luôn luôn biến đổ i theo từng lời ca của ông Xẩm.

    Trời ơi có thấu lúc này,

    Khắp nơi khổ cực rạc rài tấm thân.

    Một nước làm năm bảy nước ăn,

    Để cho quan Tây bắt phu, bắt thuế trong dân nặng nề.

    Các quan ta tức giận nhiều bề,

    Lập binh tiến đánh Tây thì cho tan

    Để mà khôi phục nước Nam …

    Đang lúc mọi người đắm vào tiếng đàn não ruột, lời ca xé lòng của ông Xẩm thì một bà tựa tay trên lưng bò, chỉ tay về phía đầm sen, gọi:

    – Cháu Thanh ơi! Mệ cháu … Mệ cháu … có chuyện chi … người ta đ ang dìu mệ cháu về nhà kia kìa!

    Bé Thanh với cái tuổi lên bảy, dáng mảng khảnh, rời khỏi gốc đa, tay cầm cái bầu nước, chạy hối hả về những người đang dìu mẹ mình. Chạy đến với mẹ nhưng trong đầu bé Thanh vần còn vọng theo những lòi ca của ông Xẩm:

    “… Lập binh tiến đánh Tây thì cho tan … Để mà khôi phục nước Nam … kẻo dân tình cơ khổ gian nan nhiều bề …”

    Dưới bóng tre đầu làng, bà đồ ( vợ ông đồ Hoàng Xuân Đường, bà ngoại của bé Thanh) cùng mấy người đứng tuổi cũng đang chạy ra phía đầm sen. Gió đồng lùa những dải lưng, dải yếm của họ bay phấp phới về phía sau …

    Về tới đầu sân, cơn đau chuyển sinh lại thốn thoáy, mệt quá chị nho Sắc phải ngồi thụp xuống bên gốc cây thị. Chim chiều về tổ đang ríu rít trên ngọn cây. Bà đồ c hốc chốc lại mắng yêu con gái:

    – Tham công tiếc việc cho lắm … Đã biểu ở nhà, gần kỳ sinh nở rồi … đừng có đi mần đồng xa nữa …

    Bà giục cô An, em gái của chị nho Sắc :

    – An, con vô quạt than lên … Mau …

    Bà lại giục bé Thanh:

    – … Cháu đi sang bên nhà với ông. Giữ cả em Khiêm ở bên đó. Tối ni tụi bay ăn cơm, ngủ ở bên nhà bà cả nhớ.

    Bé Thanh bước qua dãy chè mạn hảo ngăn đôi sân nhà mình với sân của ông bà ngoại. Thanh vừa nghe tiềng mẹ rên, vừa nghe rõ tiếng ông ngoại ho khúc khắc và tiếng của bố thay ông ngo ại đang giảng bài cho học trò:

    ” … Các trò hãy lắng nghe giảng rồi hãy chép bài sau … Khổng Tử viết: Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Nghĩa là: Từ ông vua cho đến kẻ thường dân, ai nấy đều phả i lấy việc sửa mình làm gốc …”

    Từ bên hè nhà chị nho Sắc , tiếng cô An nói khỏa lấp cả tiếng khóc chào đời của đứa trẻ khiến anh nho Sắc n gừng giảng bài trong giây lát.

    – Ồ ồ … chị nho lại sinh con trai … sinh con trai nữa rồi. Mặ t mày sáng láng, khôi ngô lắm.

    Bà đồ quát: ” Cái con bé, có im cái miệng quở độc cháu đi không!” Bà giục rối rít: ” Đưa cái thanh nứa … mau lên … cắt rốn cho cháu. Rồi. Xong rồi … Đưa cái quần cũ của cha mi đây …trên dây phơi ấy. Tao giặt kỹ rồi. Ủ cháu vô quần ông cho có khước … có hơi ấm ông, nó sẽ được sáng dạ, học giỏi hơn ông, hơn cha cho mà coi …”

    Bà còn dặn chị nho Sắc : ” Con nhớ là hằng ngày phải chăm lau sạch đĩa đèn rồi hãy đổ dầu thắp. Các cụ thường dạy:Sinh con dạ sáng làu làu, nhớ mẹ ngày trước chăm lau đĩa đèn”.

    Tiếng rên của chị nho im bặt. Tiếng khóc oa oa của đứa bé vẫn chưa dứt hẳn. Và cái ngôn ngữ đầu tiên của đứa bé đã hòa âm trong tiếng gà gọi con lên ổ, tiếng bò gọi bê vào chuồng, tiếng chim kêu ríu rít trên mái nhà, tiếng l á reo, tiếng đồng xa vọng về …

    Hương sen từ ngoài đầm bay theo gió pha lẫn mùi bồ kết cháy từ nồi than trong buồng chị nho Sắc tỏa ra ngào ngạt.

    Làng Chùa nhòa trong khói sương lam. Đám học trò của cha con ông đồ đã lũ lượt ra về từ lâu. Chúng đi theo lối cổng lớn, không đi tắt qua sân của chị nho Sắc như mọi ngày. Đầu ngõ nhà chị nho đã tre o một cành xương rồng gai (6).

    Cái cánh cổng chống làm bằng khung tre kết cành rào, hình chữ nhật, đã được sập xuống, cài chặt. Khu vườn nhà ông đồ cũng như mọi nhà khác ở làng Chùa đều đã trở nên một cõi riêng biệt, kín bưng. Giữa cảnh vắng lạnh này nổi lên tiếng ếch nhái kêu gào trời làm mưa cứ ra rả không mệt mỏi. Vô số đốm sáng lập lòe xanh ảo của bầy đom đóm bay chập chà chập chờn trong tối mênh mông.

    Ông đồ ngồi xếp bằng trên phản gụ, tựa khuỷu tay xuống mặt cái gối cốt bông bọc vải điều gấp cao ba thớt. Anh nho Sắc ngồi đối diện với ông nhạc, vẻ thoải mái. Bé Khiêm ngủ say, nằm sát bên đùi ông, chân duỗi dài sang gần chỗ bố ngồi, ngọn đèn dầu lạc đậu trên mép đĩa tỏa sáng khắp gian nhà. Những con thiêu thân sa vào đĩa dầu vẫy đôi cánh mỏng yếu ớt, chới với …Bên cạnh cây đèn, cái đỉnh trầm thư thả nhả ra những sợi khói thơm mảnh như chỉ. Hương sen ngoài đầm đưa vào nhè nhẹ.

    Anh nho Sắc cầm cái nậm chuyên rượu vào chén cho bố vợ. Ông đồ uống một hơi cạn chén rượu :

    – Mừng cho nhà ta, mừng cho cả họ Nguyễn làng Sen …

    Ông đồ đứng lên, dáng cung kính, thắp năm nén hương, vái năm vái trước bàn thờ gia tiên. Ông đứng nghiêm trang trước làn hương khói. Anh nho Sắc cũng đứng chắp tay thành kính ở phía sau ông. Từ phía đầm sen tiếng chim cuốc khắc khoải: Quốc …Quốc!

    Hai cha con ông đồ trở lại chỗ ngồi. Ông đồ dằn từng tiếng: “Dạ …thính … tử chúng tôi … thốn … tâm … can…” (đêm nghe chim tử quy nhói tim gan). Anh nho Sắc nhận thấy ở người bố vợ, người thầy học của mình từ ngày lâm bệnh, tâm trạng có nhiều trăn trở, nhiều hoài cảm. Anh muốn đứa con trai thứ của mình được ông đặt tên cho. Anh nói:

    – Thưa cha, cha đặt cho cháu đêm nay luôn ạ.

    – Tôi đang nghĩ.

    Ông đồ gõ gõ ngón tay trên mặt gối, nói tiếp :

    – “Sinh con quý tử khó nuôi … trồng cây ngon trái lắm người lăm le…” Con người ta có thể xét đoán được hiệu quả trước của công việc mình sắp làm. Ví như khi ta cầm nắm hạt giống trong tay thì ta đã dám tin chắc sẽ có những mầm cây mọc lên bập bạp, và nhìn các mầm non xanh tốt đoán biết được cây quả của nó sau này. Cho nên, tôi muốn đặt cho cháu tên là Côn (7), tự là Tất Thành.

    Anh nho Sắc chớp chớp mắt, môi hé nụ cười:

    – Côn … ấy là tích loài cá hóa chim bằng, phải không thưa cha?

    – Chính vậy đó. Theo mong ước của tôi thì … thằng bé sẽ có chí vùng vẫy bốn bể, dù gặp truân chuyên chìm nổi, nhưng ắt thành công. Cho nên tự Tất Thành.

    Anh nho Sắc nâng cây bút lông thỏ dúng vào nghiên son. Hương trầm, hương sen như tỏa khắp gian nhà và tụ hội vào ngọn bút Nguyễn Sinh Sắc đang nắn nót dòng chữ Nguyễn Sinh Côn, tự Tất Thành.

    Gió Lào thổi từng cơn dài. Bầu trời, mặt đất bốc mùi nóng khét như sắp sửa bùng cháy. Những cánh đồng khô nẻ hoang hoác, thưa thớt bóng người. Không một con cò, con vạc đi kiếm ăn trên đồng. Cây cối đói nước đứng rũ rượi. Giữa trời nắng lửa, những con diều hâu sải cánh liệng tìm mồi dưới đất. Quạ khoang, quạ đen bay thành bầy về phía ngàn xanh, nơi đang có tiếng súng của nghĩa quân Phan Đình Phùng .

    Trên các ngả đường quan, đường liên hương từng tốp người đi kiếm ăn, đầu đội nón mê. Trên mình chỉ có chiếc khố dây. Thỉnh thoảng có vài ba bà nhà giàu đi chợ, nón thúng quai thao, váy lụa quét gót, chùm xà tích bạc (8) buông dài song song với các dải yếm, dải thắt lưng màu hoa lý, hoa hiên.

    Anh nho Sắc tay cầm ô che nắng, tay xách một khăn gói vải tây điều đựng đầy những thang thuốc bắc. Ngọn gió lào từ phía cửa thành ùa đến thổi tung tà áo dài vải thâm đất trên người anh; gió mạnh, cái ô trên tay anh lảo đảo. Anh sải từng bước dài qua cửa Tả đi về phía cửa Tiền. Anh thấy ở phía trước một lá cờ ba sắc phật phờ trên cao. Dưới chân cột cờ , những người che ô đội nón, lác đác có cả những mũ trắng, lố nhố rất đông. Anh định mang thuốc về sớm, nhưng trước việc lạ này, anh rảo bước lại nơi đó. Trên quãng đường gần tới đám hội, cờ đuôi nheo treo hai bên và cờ lá chuối cắm vòng quanh khán đài rực rỡ.

    Anh nho Sắc dừng lại ở ngoài cổng chào tết bằng lá dừa, trang trí hoa cờ, đèn lồng. Trên cổng cao gắn bốn chữ cao cỡ to, xếp lối chữ triện: “Đại Pháp vạn tuế”. Từ bên trong cổng chào, tiếng kèn thổi oang oang chói tai, khác hẳn tiếng đàn đáy, đàn bầu mà anh đã quen thuộc. Một người mặc đồ sang trọng, treo trước ngực một mảnh giấy điều hình đuôi én, chữ vàng: ” Quốc khánh đại Pháp”. Ông ta tiến đến, chìa tay:

    – Xin mời huynh vô dự ngày lễ đại khánh của Pháp quốc.

    Anh nho Sắc chẳng ưa gì cái trò này của bọn thực dân Pháp và lũ quan lại làm tay sai cho chúng, nhưng anh cần nhìn tận mắt cái việc chúng đang bày ra giữa quê hương mình. Anh vừa bước vào trong cái cổng chào, một con mụ người Pháp mũi diều hâu, mắt mèo, tóc lông bò rừng, váy hoa dài lệt bệt phồng to như cái nơm, áo hở ngực, lồ lộ dây chuyền vàng quấn cổ, hai cổ tay hai vòng ngọc biêng biếc xanh, chân đi giày gót cao nghều, bước vội đưa cho anh một gói vuông bọc giấy đỏ, bên trong có chữ: ” Đại Pháp vạn tuế”. Mụ đầm nói, anh nghe như tiếng chim tiếng vượn. Anh chẳng hiểu gì nhưng bất giác anh cứ cầm lấy gói quà từ tay mụ đầm. Một người thô ng ngôn đứng tuổi nói với anh:

    – Bà lớn phát quà nhân ngày quốc khánh của nước Đại Pháp. Mời anh vô dự lễ và nghe hiểu thị.

    Một tay xách khăn gói đầy thuốc bắc. Một tay cầm gói quà của mụ đầm đưa và cái ô ngoắc vào khuỷu cánh tay, anh nho Sắc bước từng bước nặng trĩu. Giữa tháng bảy nhưng là tháng năm âm lịch, nắng xế chiều gay gắt. Cả đám người đứng chen chúc dưới bóng rạp mái bằng. Những người đứng vòng ngoài đều phải dương ô, đội nón. Anh nho Sắc lách vào mé rạp, ngó lên phía khán đài. Một đám quan lại áo thụng, khăn chít ngồi khép nép ở mấy dãy ghế đầu. Một tên Tây cao l ớ n mặc đồ nhà binh, hai cầu vai gắn sắc hàm sĩ quan có ngù lua tua phủ xuống. Cả khuôn mặt hắn như nhuộm phẩm điều do nắng hè của cái xứ nhiệt đới này phả cháy. Anh nho Sắc vừa nhìn hắn chằm chằm, vừa lắng nghe tên thông ngôn nói giọng Nam Kỳ: “Cái xứ An Nam này đã chịu ân s â u nghĩa nặng của nước Đại Pháp từ thời chúa Nguyễn ở đàng trong bị giặc áo vải Tây Sơn đánh bật ra tận đảo Côn Lôn … Nước An Nam nầy mà không có sự giúp đỡ của Đại Pháp thời cái họa nội chiến giữa Đàng trong với Đàng ngoài không thể chấm dứt được. Và nếu không sớm có mặt người Pháp thời cái xứ sở hẻo lánh, tối tăm này đã bị người Bồ Đào Nha hoặc người Hà Lan hay người Anh chiếm đóng rồi. Hỡi các ngài tại mắt xứ An Nam! Hãy nhận ra sự có mặt của người Pháp ở đây là một duyên may hiếm có …”.

    Càng nghe nhiều những lời khoe khoang sức mạnh, hăm dọa, mạt sát, dụ dỗ … của tên Pháp thực dân, anh nho Sắc càng thấy nhói đau, mặt cứ tối sầm lại. Anh lẳng lặng ra về. Anh lê từng bước nặng nề ra khỏi thành Vinh. Ngay trên lối về huyện lỵ Nam Đàn, một đám người ăn xin còn ngồi trốn nắng dưới bóng cây. Anh mở cái gói quà của ngày Quốc khánh Pháp mà mụ đầm đưa cho anh – toàn là bánh, kẹo được bọc giấy bóng, giấy bạc – đem phát tất cả cho đám người đang đói lả bên lề đường. Anh tự nhủ: Tây dương đã an tọa thế ấy thì quân quan Phan Đình Phùng , quan Tôn Thất Thuyết dù cố sức mấy cũng khó lòng chuyển được vận nước đang suy!

    Trên đường từ thành Vinh về làng Chùa , anh nho Sắc đeo đuổi bao nhiêu ý nghĩ ngổn ngang. Anh lo sức khỏe của bố vợ đang ngày một sa sút. Vợ anh sinh lần này bị mất sữa và bị bệnh hậu sản. Anh đã cắt hàng chục thang thuốc cho vợ uống, bệnh có thuyên giảm, nhưng vẫn khôn có sữa cho con bú. Bé Côn vừa phải đi bú nhờ vừa phải ăn cơm bà ngoại mớm cho.

    Điều trăn trở lớn nhất trong lòng anh nho Sắc : Biết mất nước mà không lo việc cứu nước là phạm điều bất trung. Nhưng khốn nỗi, gánh gia đình của anh quá nặng. Mới hăm bảy tuổi mà đã ba con. Còn là cậu học trò, chưa có khoa cử gì. Đã nhiều đêm anh và bố vợ ngồi đàm luận việc nước việc nhà cạn mấy đĩa dầu. Anh thường suy nghĩ về những lời bố vợ nói: vợ chồng anh sinh ra giữa thời buổi bọn bạch quỷ đến hà hiếp nhà vua, nhưng nước nam ta chưa mất hẳn cho Tây – lang – sa (9). Đến thời các con của anh ra đời thì: Bé Thanh sinh năm Giáp Thân. Năm đó nhà vua đã ký hòa ước giao cả nước ta cho người Tây – lang – sa cai trị ( tức năm 1884 ký hòa ước Pa – tơ – nốt công nhận quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam ). Sang năm Ất Dậu, Tây – lang – sa đã cử quan “đầu triều” (10) sang ngự trị bên cạnh nhà vua nước Nam . Rồi quan quân thần Tôn Thất Thuyết phải rước vua Hàm Nghi lánh ra đồn trú ở vùng rừng núi Quảng Trị, Quảng Bình và xuống chiếu Cần Vương. Đến lượt bé Nguyễn Sinh Khiêm ra đời, năm Mậu Tý (1888), vua Hàm Nghi bị sa vào tay giặc! Ôi! Vua đã bị T ây – lang – sa đày đi biệt xứ tận nước người (11). Tây – lang – sa lại đưa Đồng Khánh lên ngôi. Người ta truyền rằng, trước lúc bọn Tây – lang – sa đày vua Hàm Nghi đi, chúng còn dụ dỗ, mua chuộc đủ phương kế, nhưng nhà vua không chịu khuất phục, nhận việc đi đày chứ không cam chịu nhục để trở lại ngai vàng! Chúng nó thay vua thì cũng đổi “quan Tây đầu triều” khác sang nước mình cai trị. Cái tên của nó ngoằn ngoèo khó nhớ, khó gọi … Hình như là Bè hay Buôn bè (12), rồi gì gì ấy nữa kia. Năm nay, bé Côn ra đời, lại một tên “quan Tây đầu triều” khác đến cai quản xứ mình. Thế cuộc xoay vần như vậy đó! Các con anh sinh ra giữa lúc nước ta đã mất hẳn cho bọn bạch quỷ rồi! Đất nước ta đang đắm chìm vào đêm tối. Những anh hùng nghĩa khí dám xả thân cứu sơn hà xã tắc đều bị thất bại! Ôi! Dân N am ta khác nào đàn gà con đã bị diề u hâu cướp mất mẹ!…

    Anh nho Sắc mải miết nghĩ suy về những điều tâm sự của bố vợ, người thầy, mà cũng chính là tâm trạng anh trước bối cảnh “quốc loạn, gia bần”. Vì mải n ghĩ quên cả đường dài. Lúc về gầ n đến cây đa đầu làng anh mới nhận ra mình đã đi sắp đến nhà. Nỗi lo về bệnh tình của bố vợ, về cảnh vợ bị ốm, mất sữa lại dấy động trong lòng anh. Và trước mắt anh chập chờn hình ảnh khoa thi Hương (13) sắp đến.

    Anh rẽ sang con đường mòn đi tắt về phía đầm sen để bà con ngồi gốc đa hóng mát nghe ông Xẩm đàn hát được tự nhiên.

    Bên đầm sen, trước lối vào nhà, anh dừng bước đón nhận làn hương mát. Giữa đất trời khô cháy bao la, đầm sen như mặt gương xanh làm dịu bầu nóng hạ. Những bông sen trắng, sen hồng đua sắc khoe màu với đàn ong đi kén mật. anh chợt nghe trong sân nhà có tiếng bé Nguyễn Sinh Khiêm đang nựng em, nói chệch âm vì chưa thật rõ tiếng: ” Anh cho eng (em) Côông ( Côn) cái búp sen nì … Búp sen xanh, đẹp … đẹp lắm em ạ …”

    Anh nho Sắc đi thẳng vào nhà lớn, nơi ông nhạc nằm dưỡng bệnh. Chị nho Sắc đã gượng dậy được, đang bế bé Côn ngồi dưới gốc thị, mớm cơm cho con.

    Chú thích:

    (1) Trên dãy Trường Sơn, đoạn qua địa phận Nghệ Tĩnh.

    (2) Tên chữ là làng Hoàng Trà

    (3) Ở đây chỉ nghĩa quân của Phan Đình Phùng , cụ Đỗ Đình Nguyên, thường người ta gọi là cụ Đình.

    (4) Chỉ thực dân Pháp.

    (5) Chỉ ông Hoàng Xuân Đường.

    (6) Tục lệ ngày xưa, nhà có người mới sinh thường treo ở đầu ngõ một cành gai to để người lạ không tự tiện vào nhà, sợ đứa bé bị mặc vía dữ.

    (7) Theo cụ Nguyễn Sinh Khiêm kể và ghi trong Tất Đạt tự ngôn, trang 81

    (8) Một loại dây bằng bạc, con gái nhà giàu dùng để đeo chìa khóa hòm, ống đụng thuốc lào ăn trầu, nhưng thường có ý nghĩa trang điểm là chính.

    (9) Chỉ thực dân Pháp.

    (10) Khâm sứ Ray-no (Rheinort)

    (11) Nước An-giê-ri, một thuộc địa của Pháp lúc đó.

    (12) Pôn Be (Paul Bert)

    (13) Khoa thi chọn cử nhân

    Xong tuần tang bố vợ, anh nho Sắc gầy rộc như qua một trận ốm. Chị nho Sắc và cô An thì phải bắt tay ngay vào công việc : ngày đi làm đồng, tối dệt vải quá nửa đêm mới đi ngủ. Số tiền tốn kém vào việc ma chay tuy được những học trò, bạn hữu phúng điếu nhiều, nhưng chẳng thấm tháp, cho nên mẹ con bà đồ phải lấy công dệt vải để trang trải. Phần thì kỳ thi Hương cũng không còn xa nữa, cả nhà bà đồ đều lo lắng, mong đợi nhiều ở anh nho Sắc trong kỳ thi này.

    Từ ngày ông đồ mất, vợ chồng anh nho Sắc về ăn chung với bà đồ. Ngôi nhà tranh ba gian của ông bà đồ dựng lên cho vợ chồng nho Sắc ra ở riêng nay tạm cho những chị em làng Chùa mượn làm nơi nhóm phường kéo sợi. Những đêm trăng, từ mái nhà này những điệu ví dặm được cất lên cùng với tiếng xa quay…

    Một hôm, có mấy người bà con bên họ ngoại của bà đồ đến dự lễ đốt vàng mã cho ông đồ nhân tết “xá tội vong nhân” rằm tháng bảy. Khách ở lại nghỉ đêm. Bà đồ ngồi ở giữa giường. Ba chị em bé Thanh, Khiêm, Côn ngồi vây quanh bà nghe bà kể chuyện với khách. Trăng rằm sáng như ban ngày. Những khóm cúc ngoài cửa sổ ngả bóng vào trang sách của anh nho Sắc đang học. Chị nho Sắc thì ngồi dệt trên khung cửi ở gian nhà đầu hồi phía Tây. Cô An đi quay sợi với phường vải bên nhà chị nho Sắc .

    Mấy người khách cứ tấm tắc khen :

    – Bác có được người con rể như anh nho Sắc thật là quý hóa.

    Bà đồ đã từ lâu được ấm lòng về điều ấy. Cho nên bà nhắc lại chuyện cũ với một giọng hối hận :

    – Vợ chồng nhà nho đã có ba mặt con. Ấy vậy mà cái bụng của tôi vẫn chưa hết áy náy về cái tích tôi không muốn gả con Loan cho nho Sắc .

    Bà mời khách ăn trầu. Bé Thanh và bé Côn tranh nhau được giã trầu giúp bà. Bé Khiêm thì ngồi lì xì, nghịch trò xếp những thứ trong cơi trầu thành ô, thành hình khối… Bà đồ vẫn cái giọng đều đều :

    -Ngay lúc ông nhà tôi đón nho Sắc về nhà này, quần áo lấm lem bùn đất, tóc đỏ hoe như râu ngô khô, mặt mũi đen nhẻm, chỉ có hai con mắt sáng tinh anh, cặp lông mày dài mượt lộ rõ một đứa trẻ có tướng mạo. Tôi thương nó như con đẻ từ bữa ấy kia. Hơn mười năm nho Sắc ăn học trong nhà ni, tôi không hề chê nổi một tí chi về đường ăn nết ở cả. Nhưng khi ông nhà tôi đưa ra cái việc gả con Loan cho nho Sắc là tôi không thuận bụng. Tôi đâu có tính chi cái chuyện “môn đăng hộ đối” mà sợ miệng thế gian cười chê rằng con gái nhà có danh có giá mà hư đốn để bố mẹ phải gán luôn cho đứa con nuôi đã ăn ở trong nhà. Được cái, ông nhà tôi đã quyết là làm… Ông đã xuống tận quê ngoại thưa chuyện ni với cha mẹ tôi. Ông còn mời cả họ Hoàng lại để ông thưa việc ông gả con gái đầu lòng cho nho Sắc …

    Đối với ba chị em Thanh, Khiêm, Côn thì đây là lần đầu tiên được nghe bà ngoại nói kỹ về bố mẹ mình.

    Chú thích:

    (14) Vương Thúc Quý.

    (15) Phan Bội Châu.

    (16) Chẳng.

    (17) Khoảng 9 giờ sáng

    – Hắn gọi “cái hạng các anh”, rứa là hắn nhủ cả đám chúng mình.

    Từ cái hôm ấy, tất cả con trai chưa vợ ở làng Sài “ăn thề” với nhau : Không ai được hỏi cô Đèn làm vợ. Nếu con trai ở làng khác đến làng Sài dạm hỏi cô Đèn thì đón đường đánh. Cuộc trả thù này đã hãm duyên cô Đèn cho tới năm cô đã ba mươi tuổi mà vẫn chưa lấy được chồng. Có người gợi ý với bố cô Đèn nên soạn một cơi trầu, một bầu rượu mời đám trai làng đèn, xin lỗi để họ xá cho… Ông đã bàn với con gái cái điều ấy. Nhưng cô Đèn vẫn một mực không chịu nhún mình với đám trai làng. Khi ông Nguyễn Sinh Nhậm từ làng Sen đánh liều sang xin ăn hỏi cô Đèn, trai làng Sài họp lại bàn luận… Họ xót xa cho cô Đèn : Một người con gái tài hoa, nhan sắc nhất làng mà phải chịu cái “án treo” quá lứa, lỡ duyên, nay phải đi làm vợ kế của một người làng khác! Chúng ta không nên ngăn cản nữa. Đọ gươm khi còn trên yên, đừng ch ém theo lúc người đã ngã ngựa!

    Trai làng Sài đã dựng một cổng chào ở đầu làng trên con đường đi sang làng Sen . Họ còn nhờ cử nhân Hồ Sĩ Tạo làm cho một bài văn chúc. Lúc đám rước dâu tới cổng chào, trai làng Sài bận quần trắng, áo dài, đội khăn, đứng thành hai hàng. Một người có giọng bình văn hay bước ra đọc bài chúc. Họ nhà trai đã đáp lễ mười quan (18) tiền đồng, một v ò rượu tăm và một cái thủ lợn.

    Cô Hy về làm bạn với ông Nguyễn Sinh Nhậm được ít lâu thì năm Quý Hợi (1863) sinh con trai. Ông Nhậm đặt tên cho con là Nguyễn Sinh Sắc. Cuộc sống của gia đình rất êm ấm. Nhưng niềm hạnh phúc của mẹ con cô Đèn đã tắt phụt như ngọn đèn trước gió : Nguyễn Sinh Sắc mới lên ba thì ông Nguyễn Sinh Nhậm chết. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, ông Nhậm gọi cả hai người con trai, người con dâu đến bên giường và căn dặn vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết : “Cha phải hai lần xây dựng bạn trăm năm mà cũng mà cũng chỉ được có hai mụn con trai. Cha những mong có đôi ba lần sinh nữa cho đông anh đông em, cũng như rừng nhiều cây bão tố không xô ngã được. Không ngờ cha phải sớm từ giã các con. Tội nhất là em Sắc của các con còn quá bé bỏng. Mẹ kế của các con thì tuổi trẻ chưa qua! Cho nên vợ chồng con phải thay cha giúp mẹ kế của các con nuôi em Sắc nó nên người, mà điều hệ trọng là làm sao cho bé Sắc có năm ba chữ thánh hiền. Điều mong muốn cuối cùng của cha là : Dầu cha đã khuất, các con phải kính trọng người mẹ kế của các con như lúc cha đang tại đườ ng. (Ý nói như lúc còn sống)”.

    Sau ngày ông Nhậm qua đời, vợ chồng ông Nguyễn Sinh Thuyết ngỏ ý đón mẹ con bà Hy về ở chung. Nhưng bà Hy e ngại sẽ không tránh khỏi sự va chạm giữa bà với con dâu riêng của chồng. Với tấm thân quả phụ ngoài ba mươi tuổi, Hà Thị Hy cặm cụi thờ chồng, nuôi con. Hằng ngày bà đem con theo ra đồng làm lụng, tối về, vòng tay mẹ ấp cổ con trong xó nhà hiu quạnh. Hà Thị Hy lòng đầy hy vọng một vài năm nữa, con trai mình biết nhớ được mặt chữ thì cho đi học. Nào ngờ, một buổi sáng, hàng râm bụt còn đẫm sương mai, bé Sắc chạy từ trong nhà ra ngõ, gọi thất thanh:

    -Anh…ơi…! M…ệe mch …ết… mệ…em chết!…Anh… ơ…ii!

    Vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết hốt hoảng chạy tắt vườn băng qua bờ rào sang nhà người mẹ kế. Nhưng cô Đèn – Hà Thị Hy đã tắt nghỉ trên giường góa bụa. Hàng xóm cũng đã ùa tới. Tiếng khóc thương tiếc người thiếu phụ bạc mệnh dậy lên với những lời than thở : “Ôi! Một người con gái đã một thời sáng lên như ngọn đèn mà cũng ngắn ngủi như ngọn đèn!”.

    Tin cô Đèn chết bay sang làng Sài. Những người cùng lứa với cô Đèn cảm thấy đột ngột. Đám trai làng trước đây đã “cầm duyên” cô nghe tin này càng sửng sốt. Họ rủ nhau sang ngay làng Sen tham gia việc chôn cất cô Đèn. Nghĩa tử là nghĩa tận, gia đình anh Thuyết vui lòng chấp thuận để trai làng Sài được đào huyệt và tự tay khiêng quan tài cô Đèn đến tận nơi yên nghỉ cuối cùng. Những bạn hát ở trong “phường hát ả đào” làng Sài cũng mang theo đàn, phách vừa đi vừa hát những bài tiễn biệt cô Đèn. Trai làng Sài còn nhờ ông Hồ Sĩ Tạo làm “Văn ai” khóc cô Đèn. Ông cử họ Hồ đã đứng trước mộ cô Đèn đọc bài “Văn ai”. Mọi người xúc động theo giọng bi ai của ông cử họ Hồ thổn thức đọc điếu văn.

    Cha chết. Mẹ lại chết. Nguyễn Sinh Sắc mới hơn bốn tuổi đầu về ở với người anh cùng cha khác mẹ, lòng trống trải, mắt ngơ ngác, xa lạ với tất cả. Những đêm đầu tiên ở trong nhà anh, Sắc cứ ngỡ là ở nơi bãi hoang. Thỉnh thoảng Sắc khóc thét : “Mệ !… Mệ… ơi ii!” Người anh cứ phải nằm xuống ôm em giữ cho em ngủ. Nhưng, hễ rời vòng tay anh ra, Sắc lại giật mình khóc thét trong đêm khuya. Người chị dâu khó tính lại nạt nộ em, cằn nhằn chồng: “Nó không ngủ thì c ho nó đi ra cồn để ma nó bắt”.

    Sợ chị dâu mắng, bé Sắc nhắm nghiền mắt nằm im thin thít. Hình ảnh mẹ bay lượn trong quầng ảo giác xanh đỏ tím vàng. Và Sắc thấy một váng hào quang tỏa sáng. Mẹ của Sắc hóa thành bà tiên trong truyện cổ tích mà mẹ đã kể cho Sắc nghe. Sắc bỗng thấy lâng lâng như nhấc mình bay lên theo mẹ. Rồi mẹ của Sắc lại như một con cò trắng chở Sắc bay qua đồng xanh, qua sông xanh, qu a ngàn xanh, qua biển xanh…

    Thuyết tưởng em đã ngủ yên, anh rón rén dậy. Anh đến thì thầm dặn vợ đừng mắng mỏ đứa em mồ côi bố mẹ đang tuổi trứng nước. Bé Sắc đã choàng dậy, giấc mơ tan biến, chỉ thấy một mình trống trải. Sắc chạy ra sân, ra ngõ, ra đường cái theo dòng nhớ trong mơ. Đến bờ ao sen, từng bầy đom đóm bay, Sắc bắt đầu rùng mình sợ hãi, bấy giờ mới khóc to gọi : M…ệ… ơ i i! Mệ… ơi … về… với con… Mệ… ơi!

    Đêm tối như mực. Tiếng chó sủa rinh làng. Vợ chồng anh Thuyết, bà con trong họ, trong xóm đổ x ô ra đường đuổi theo bé Sắc…

    Qua một trận ốm kéo dài, ai cũng tưởng bé Sắc không sống nổi. Nhờ được ông ngoại săn sóc thuốc thang, Sắc đã khỏe mạnh. Tiếc thay, ông ngoại của Sắc lại từ trần mà bà ngoại thì đã mất từ lâu, Sắc lại trở về làng Sen sống với anh Thuyết.

    Làm theo lời cha dặn lúc hấp hối, Nguyễn Sinh Thuyết cho Sắc đi học chữ nho ngày một buổi; học về, đi chăn bò, cắt cỏ. Hôm đưa em đến thầy tú Vương xin học, anh Thuyết bưng cơi trầu, chai rượu đi trước, Sắc mặc áo năm thân nhuộm nâu non, quần dài quá gối đi theo anh. Chị Thuyết đứng trước cửa nhà bếp nói với ra sân :

    – Gớm! Nhà vua nỏ thừa bảng vàng để ghi danh ông nghè, ông cống cho cái nòi “xướng ca vô loài” mà học với hành, tốn nghiên tốn bút.

    Anh Thuyết quay phắt lại. Anh vớ cái cọc chống rèm. Chị Thuyết ba chân bốn cẳng chạy lủi qua phía hè bếp. Anh Thuyết quát với mấy tiếng mắng vợ. Rồi anh quay lại dỗ ngọt em :

    – Chị mi độc mồm vậ y thôi chứ nỏ để bụng chi mô.

    Sắc đưa ống tay áo lau nước mắt đi theo anh đến nhà thầy học.

    Ngay những buổi ban đầu, thầy tú Vương đã nhận ra Sắc là một học trò sáng dạ. Thầy đã thử cho Sắc về nhà học một tối phải thuộc lòng và đến viết trầm (19) cho thầy xem năm mươi chữ ít nét, ba mươi chữ nhiều nét. Nguyễn Sinh Sắc đã đem lại sự ngạc nhiên cho thầy. Và thầy tú Vương cầm bàn tay học trò Nguyễn Sinh Sắc xem từng đường vân dạng. Thầy tấm tắc : “Đúng. Rất đúng. Con nòi. Nòi cầm ca. Nòi nhả ngọc phun châu. Nòi cô Đèn. Tài hoa lắm. Con gắng học. Con sẽ làm nên nếu con có chí học. Mỗi chữ là một con mắt. Người không có chữ trong đầu là người mù giữa thế gian”.

    Lời thầy tú Vương như một ánh chớp mở vào thế giới tuổi thơ của Nguyễn Sinh Sắc. Rồi Sắc thấy lởn vởn trong ý nghĩ của mình một câu hỏi : Chị Thuyết thường mắng mình là “con nhà xướng ca vô loài”. Còn thầy tú Vương thì khen mình là : “Con nòi. Nòi cầm ca. Nòi nhả ngọc phun châu. Nòi cô Đèn…” Sắc tự tin : Điều thầy nói với học trò là lời mẹ nói với con. Và từ hôm Sắc được thầy khen, Quý và San kết thân với Sắc. Biết Sắc thiếu hơi ấm bố mẹ, San và Quý mỗi khi có quà bánh đều để phần đem đến lớp học cho Sắc. Có lần Sắc nói với bạn :

    – Các cậu cho mình nhiều thứ, mình nỏ có chi cả!

    Hiểu nỗi lòng của bạn, San, Quý an ủi Sắc :

    – Đừng nghĩ ngợi có hay không có cái chi đối đãi nhau, nhà t ụi mình đầy đủ hơn nhà Sắc mà.

    Được thầy khích lệ, được bạn an ủi, Sắc càng chăm chỉ việc nhà để đỡ bị chị dâu mắng mỏ vì quá ham học. Một lần Sắc ngồi đun cám lợn, chị dâu đang thái chuối ngoài sân. Sắc dùng que củi than tập viết lên nền nhà. Vì quá say sưa viết, Sắc quên khuấy, nồi cám bị khê nặc. Chị Thuyết từ ngoài sân chạy vào hắt cả rổ rau chuối vào người Sắc, mắng té tát : “Đồ mặt nạc đóm đày. Cháy nồi của tau rồi. Học với hành, chữ với nghĩa chi cái thứ cái thứ mi…!”. Sắc biết mình có lỗi nên bặm môi chịu chửi, không khóc, không tỏ vẻ khó chịu với chị. Vả lại Sắc đã nhận ra tính khí người chị dâu nóng, phàm miệng, nhưng miếng ăn thì nhường nhịn cho chồng, cho em. Hằng ngày chị Thuyết phải xới cơm chia : Anh Thuyết, cột trụ gia đình, được ăn mỗi bữa ba bát cơm độn, xới đầy. Sắc được hai bát vừa, chị Thuyết chỉ có một bát đầy và vét cháy. Nhiều hôm anh Thuyết bưng bát cơm thứ ba vừa đi quanh sân vừa ăn, rồi lẻn ra sau nhà ngắt lá chuối gói nửa bát cơm còn lại giấu vào cái nón mê của Sắc thường đội đi chăn trâu. Biết gói cơm này là của anh đã giấu chị nhường cho mình, Sắc mang theo ra bãi chăn trâu mới ăn .

    Từ ngày ông đồ Hoàng Xuân Đường tạ thế, nhà bà đồ trở nên eo hẹp tiền tiêu. Cả nhà bảy miệng ăn chỉ trông vào hoa lợi của hơn hai mẫu ruộng mà đã cho cấy rẽ mất một nửa, số còn lại chị nho Sắc và cô An gánh vác. Ngoài ra, hai chị em cô Loan phải kéo sợi dệt vải luôn tay mới có tiền bút nghiên cho anh Sắc học ôn thi. Anh nho Sắc lại nhiều bạn lui tới đàm đạo việc học, việc đời. Có bạn ở tận xa, cách xã, cách huyện, thường đến ở chơi trong nhà cả tuần trăng. Bà đồ thấy ấm dạ vì chồng đã khuất mà nhà không vắng khách văn, có con rể được nhiều người trọng nể. Nhiều hôm khách của anh nho Sắc đến chơi đông, ở lại ăn cơm, mẹ con bà đồ thường phải nấu thêm hai, ba lần mới đủ. Thỉnh thoảng gặp hôm chưa giã kịp gạo, khách ở lại ăn cơm đông, ba mẹ con bà đồ phải nhịn cơm cho khách. Riêng ba chị em bé Thanh, Khiêm, Côn thì được ăn cơm vét nồi, cơm cháy. Bé Khiêm và bé Côn vô ý động bát đũa lớn tiếng, bà đồ khẽ dặn cháu :

    – Tụi bây khẽ tay chứ! Có khách đang ăn cơm trên nhà, các cháu phải có ý có tứ.

    – Bé Côông là hay khua bát đũa nhất. – Cô An trách yêu bé Côn.

    Côn phụng phịu hỏi bà :

    – Khách ở mãi trên nớ (kia), chúng cháu ở tận dưới nhà ni, răng lại không được nói to, không được chạm bát đũa, hở bà?

    – Khách đang trò chuyện, khách đang ăn cơm mà các cháu làm ồn, đụng chạm soàng soạng dưới nhà thì khách họ cười người nhà mình vô ý, hoặc là có ý đuổi khách về. Cháu bà rõ chưa?

    Côn gật gật đầu, hỏi thêm bà :

    – Chị Thanh cạo cháy trong nồi mạnh tay cũng bị dì An mắng, vì răng rứa bà?

    – Ồ! Cháu của bà còn chưa biết cả cái việc ấy nữa. Cháu ơi !… Khách đang ăn cơm mà các cháu cạo cháy sào sạo toáng lên thì có khác chi ngăn khách đừng ăn nữa, hết cơm rồi. Cháu rõ chưa?

    Côn cười xòa, rúc đầu vào nách bà, nũng nịu. Vừa qua giỗ đầu ông Hoàng Xuân Đường, anh nho Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ (1894) trường Nghệ (Vinh). Bà đồ làm mâm cơm cúng gia tiên, cầu danh cho con rể. Anh cử Vương Thúc Quý, anh nho Phan Văn San thì đem lễ rượu, hương, trầu đi cúng đền Thánh Cả, chùa Đạt để thần phật phù hộ cho anh nho Sắc thi đỗ. Bà con Nguyễn Sinh cũng như họ Hoàng đều mong ngóng, đợi chờ anh nho Sắc ở khoa thi này. Dân làng Sen , làng Chùa ai cũng biết anh nho Sắc là người học giỏi vào hàng thứ nhất trong vùng, chỉ e “học tài thi phận”. Hằng ngày nhà bà đồ từ sáng đến tối liên tiếp người đến thăm tin vui ở dưới trường thi về. Bé Côn thấy nhà vui như hội, túm áo anh Khiêm kéo ra sân nhảy lò cò, đánh khăng, bắt anh cõng từ sân ra ngõ, từ ngõ vào sân. Ông Xẩm trải manh chiếu bên ngõ nhà bà đồ, lên dây đàn… Anh em bé Côn và cả đám trẻ trong làng đã ùa đến, đứa ngồi, đứa đứng xúm quanh ông Xẩm. Hôm nay ông ca tích truyện Tống Trân – Cúc Hoa. Cả đám trẻ ngồi lịm. Có đứa mũi thò lò, nước đãi chảy ướt ngực quên cả lau chùi. Các bà già, các chị ở trong ở trong nhà đi ngang qua đều ghé lại nghe… Lúc ông Xẩm ca đến đoạn Cúc Hoa bán yếm lấy tiền cho chồng đi thi, nhiều bà khóc. Bé Côn, bé Khiêm thì mắt chớp lia lịa, nhìn đắm đuối cái miệng ông Xẩm dẻo quẹo.

    Bà đồ từ trong nhà bưng ra một rá khoai lang, một bát gạo, ghé sát ông Xẩm :

    – Nghe ông ca cái tích Cúc Hoa nuôi chồng ăn học, bán yếm lấy tiền lộ phí cho chồng đi thi…. tiết nghĩa lắm lắm. Tôi nỏ có chi nhiều, chỉ có mớ khoai, lẻ gạo biếu ông…

    Ông Xẩm đón lấy món quà ở tay bà đồ, cảm động nói :

    – Xin đội ơn cụ. Được ăn lộc của gia đình cụ thì kẻ hèn mọn ni cũng mở mặt mở mày thêm.

    – Tí khoai tí gạo có đáng chi mô mà ông nghĩ ơn huệ, ông!

    – Ôi! Thưa cụ, của tuy ít mà lòng nhiều. Một củ khoai của cụ bớt miệng để cho kẻ nghèo khó còn hơn những nhà giàu bá hộ sẻ cả gánh, cả đống của, cụ ạ.

    Một người hàng xóm hỏi ông Xẩm :

    – Ông hát tích Cúc Hoa nuôi chồng ăn học, bán yếm cho chồng đi thi đỗ tới trạng nguyên. Còn chị Loan làng Chùa ta quạnh năm canh cửi giúp chồng đèn sách, dệt vải may áo cho chồng đi thi thì liệu anh nho Sắc khoa ni có đỗ đạt chi không, hở ông Xẩm?

    – Con người ta… – ông Xẩm đáp – Tui không giỏi môn tướng số, nhưng tui có linh tính. Trời phú cho kẻ mù mắt một thứ ánh sáng khác để biết việc đời. Từ hôm cậu nho Sắc đi thi, tui nằm ngủ đều mơ thấy mặt trời chiếu vô cái túp lều tranh của tui. Tui là kẻ cùng đinh đến ngụ ở cái làng Chùa ni thì nỏ có đáng chi để mà báo mộng về sự đỗ đạt, thăng quan, tiến chức? Tui nghĩ : Cái báo mộng mặt trời chiếu vô lều tranh ấy là làng Chùa ta sắp có hiền nhân quân tử đến. Người đó hẳn là cậu nho Sắc thi Hương đỗ. Cho nên mấy bữa ni tui chỉ đàn ca những tích truyện về sự học hành thi cử, về người có công cứu nước, cứu đời…

    Việc anh nho Sắc đi thi Hương còn được bàn tán ngoài ruộng vụ mười. Chị nho Sắc , cô An gánh mạ, gặp ai trên đồng họ cũng hỏi việc thi cử của anh nho Sắc đã có tin gì vui dưới trường thi đưa về chưa. Có chị em trách chị nho :

    – Gớm! Cả năm nay nặng lo đèn sách cho chồng đến nỗi bỏ chị em phường vải chúng mình. Các anh nho San, anh cử Quý vẫn đưa cánh con trai làng Sen , Đan Nhiễm xuống hát với phường vải nhà mình luôn đấy. Cả cái An cũng theo chị bỏ phường, bỏ hát hẳn?

    Chị nho Sắc phân trần :

    – Mình có bận bịu với đèn sách năm anh ấy đi thi. Nhưng chị em mình nỏ đi hát với phường là vì còn có tang cha.

    – Tụi mình biết cái lẽ ấy lắm. Nhưng vắng tiếng hát của Loan, của An, tụi này nhớ mà trách đó thôi…

    – Loan này, – một cô bạn hỏi chị nho Sắc – tau nghe nói mi đã bán đôi khuyên vàng để lo việc thi cử cho anh ấy?

    – Có vậy. Vì… nhờ trời mà anh ấy đậu Hương thí thì còn vô kinh để dự Hội thí nữa kia.

    – Gái có công thì chồng chẳng phụ, Loan ạ.

    Từ cánh đồng sâu cách nơi chị em nho Sắc cấy hai thửa ruộng, một giọng hát trong trẻo cất lên :

    Chim khôn ăn trái nhãn lồng,

    Gái ngoan nuôi chồng nấu sử sôi kinh.

    Thi Hương, thi Hội, thi Đình (21)

    Tên chồng trên bảng xướng danh rõ ràng.

    Ngày về áo mão vua ban,

    Võng anh đi trước, võng nàng theo sau.

    Cô An nghe trọn tiếng hát của người bạn gái, cười mỉm, nói với chị mình :

    – Mấy đứa ấy, chúng nó ước mơ cuộc sống của anh chị lắm nên mới hát vậy đó.

    Chị nho Sắc cầm nắm mạ trong tay, đứng thẳng người nói với sang các cô vừa hát “ghẹo” mình:

    – Nạ dòng ni quen đi chân đất, đội nón lá, nỏ dám nằm võng che lọng mô nhớ!

    Mọi người đang vui câu chuyện trên ruộng lúa xế chiều thì, từ phía trong làng thấp thoáng từng tốp người lớn, trẻ con kéo ra phía đường quan. Chị em thợ cấy đều ngừng tay để mắt cả về phía đó. Chị nho Sắc như có linh tính báo… lòng thấp thỏm, trống ngực nháo động.

    Một bóng người chạy tắt cánh đồng về phía ruộng bà đồ. Hai chị em nho Sắc càng hồi hộp… Còn cách mấy đám ruộng, người con ông chú của chị nho đã gọi to :

    – Về Chị nho ơi!… Chị An ơi! Anh nho đỗ cử nhân rồi! Về thôi. Cả làng đang ra đường đón quan tân khoa kia kìa.

    Hai chị em nho Sắc nhìn nhau. Hai giọt lệ đọng bên khóe mắt chị nho Sắc như giọt sương trên lá răm non. Mấy cô bạn giọng vui mừng giục thoắng :

    – Về thôi Loan ơi! Từ rày tụi này nỏ gọi tên, gọi chị nho nữa mô mà gọi là bà cử đó.

    – Tụi bay đừng gọi chi khác, cứ tên Loan, tên Sắc mà gọi.

    Người em con chú đứng trên bờ, vẻ sốt ruột :

    – Hai chị nghỉ tay thôi. Bữa khác rồi cấy nốt. Về nhà còn lo việc trầu nước mời khách họ đến mừng chứ.

    Chị nho Sắc đã qua phút giây xúc động, giọng từ tốn :

    – An về trước đi em. Chị ở lại cấy cho hết số mạ ni kẻo hỏng mất. Ông nghè ông cống cũng sống về ăn, em ạ.

    Đồng quê chiều tím. Chị nho Sắc quảy trên vai đôi gióng nhẹ tênh, lần từng bước theo bờ ruộng chênh vênh. Gió chiều vuốt nhẹ tấm áo nâu non, nếp váy thâm bạc màu lượn theo dáng người thắt đáy lưng ong của chị. Chị ngoái nhìn thửa ruộng đã cấy kín, niềm hy vọng một vụ lúa tốt đang nảy mầm trong lòng chị. Chị ghé xuống bến Đầm Sen rửa chân tay. Tiếng chim chiều “quốc… quốc…” trong lũy tre rậm rạp như tiếng gọi từ lòng chị vang lên. Chị vừa bước về đầu ngõ đã có tiếng reo : “Ồ! Chị cử Sắc đã về kia!”. Vừa lúc đó vợ chồng anh Nguyễn Sinh Thuyết chạy ra, đon đả :

    – Chào thím cử… Răng thím về muộn rứa?

    Chị nho Sắc chào và đáp chuyện với anh chồng, chị dâu bằng nụ cười tươi. Và, chị cảm thấy ngường ngượng về cách gọi mới : “thím cử”, “chị cử”. Bé Côn cầm tay bác Thuyết gái đi ra đón mẹ cũng ríu ra ríu rít hỏi :

    – Mệ ơi. Cha thi đỗ cử nhân thì được cấy (cái) chi mà ai cũng vui, cũng đến mừng nhà ta, hở mệ?

    – Ấy chớ! Con không được hỏi rứa. Cha mắng chết.

    – Cháu Côông của chú thím nó sớm khôn lắm. Trời để sống nó còn học sỏi (giỏi) hơn cả cha chứ nỏ bỡn mô, thím ạ.

    Chị nho Sắc mời anh chồng lên nhà khách và đón chị dâu vàn nhà dưới, trong đó bà đồ đang trò chuyện với các bà khách đến chúc mừng con rể bà đạt vinh hiển.

    Từ thềm nhà trên cho ra tới cuối sân, khách ngồi kín cả hai ghế tràng kỷ, các chõng tre, và nhiều người ngồi xổm, ngồi bệt xuống các khúc gỗ… Trước mặt mọi người là dãy bát nước chè xanh đặc quánh. Những miếng trầu têm cánh phượng, cau đậu được đặt ngay ngắn. Anh Nguyễn Sinh Sắc được mọi người gọi là quan cứ thì ngồi ghế tựa đầu bàn. Hương lý, hào mục ngồi trên hai dãy tràng kỷ…

    Anh Sắc giọng từ tốn:

    – Thưa các thầy trong hội đồng hương lý! Thưa các bác, các chú, các o, các dì và bà con nội ngoại, xóm làng! Điều trước nhất tôi xin mọi người đừng gọi tôi là quan cử. Sự đỗ đạt của tôi không hẳn là cái thang lên quan. Tôi sinh từ làng Sen . Tôi lớn lên trên đất làng Chùa . Tôi là dân và bao giờ cũng vẫn là người dân của làng ta, của xứ sở ta.

    Ông chánh hương hội xoa xoa hai bàn tay, nói :

    – Thưa.. Thưa… Thưa..

    Bé Côn ngồi trên đùi bác Nguyễn Sinh Thuyết nghiêng cổ nhìn ông chánh hương hội có bộ râu chuột ba chòm cứ thưa mãi mà chưa nói thành câu liền phì cười làm mọi người cười theo. Anh nho Sắc lừ mắt về phía Côn. Côn tựa đầu vào ngực bác Thuyết, giấu mặt. ông chánh hương hội nói ề à :

    – Quan… Quan cử đã… đã nói thực tâm như vậy là… là cái gốc của người có đạo nghĩa, ở chỗ “Dân vi quý”, ở chỗ “Dân vạn đại, quan nhất thời”. Vậy thì, xin được gọi là “ông cử” ạ.

    Mọi người vừa uống nước, ăn trầu, vừa nói râm ran, tỏ vẻ đồng tình gọi là “ông cử Sắc”. Viên lý trưởng trịnh trọng thay mặt hội đồng hào lý :

    – Thưa ông cử tân khoa. Theo tục lệ làng ta, hội đồng hào lý đã họp và quyết định cấp ba sào ruộng “học điền” do ông đã đưa vinh hiển về cho dân, cho xã này…

    Anh cử Sắc đã từ chối việc cấp ruộng “học điền”. Viên lý trưởng phải giở cuốn hương ước (lệ luật trong làng) và nhắc lại lai lịch :

    – Đất Chung Cự quê ta là đất hiếu học lâu đời, người đỗ đạt cũng khá nhiều. Theo sách “Đăng khoa lục” thì từ đời vua Lê Dương Hòa (1635) xã Chung Cự ni đã có người thi đỗ. Tính cả người đi thi Hương, thi Hội cả thảy là 96 khoa, toàn xã ta đã có 193 người đậu gồm có hiếu sinh, giám sinh, cử nhân, tú tài. Làng Chùa này có 29 người, làng Sen đậu 53 người, làng Ngọc Đình tới những 72 người, làng Vân Hội được 25 người, làng Cường Kỵ có 10 người, làng Tỉnh Lý 3 người, làng Khoa Cử chỉ có một người đậu. – Viên lý trưởng nhấn giọng : – Đó, tục lệ cấp ruộng “học điền” của quê ta có từ cái thuở xa xưa ấy.

    Anh cử Sắc đã không thể từ chối, nói :

    – Thôi thì đất lề quê thói, thầy lý đã nói vậy, tôi xin nhận một sào rưỡi thôi ạ. Sào rưỡi ni tôi xin dân làng và hội đồng hào lý được phép bán lấy tiền để sửa lại ngôi nhà thờ họ bị hư hỏng đã lâu ngày.

    Cả mặt sân thấu ngoài ngõ dậy lên những tiếng tấm tắc : “Hiếm có người tốt như anh cử Sắc. Trong khi có bao nhiêu kẻ lòng tham không đáy đục khoét của dân, dùng chức vụ đè đầu dân, cưỡi lên cổ dân thì trái lại, anh cử Sắc từ chối “lộc” của làng thưởng cho mình, không chịu nhận cái danh vị mà mình có được” . Bé Côn thủ thỉ hỏi bác Thuyết :

    – Bác ơi, học điền là cấy chi, hả bác?

    – Là ruộng công dành để cấp cho người trong làng học đỗ đạt cao, cháu ạ.

    Từ ban chiều, gió trở hướng xe mây về phía cửa sông. Kinh thành tĩnh lặng và lắng sâu vào bao la. Những cây đèn kính hộp đứng từng dãy dài quanh đường thành vào đại nội đã được thắp sáng. Ngoài Cồn Hến, những ánh lửa thấp thoáng như sao sa và ánh đèn li ti của các con thuyền neo trên sông bồng bà bồng bềnh, mặt nước từ phía kinh thành lên tận Kim Long sáng màu ngọc.

    Nguyễn Sinh Sắc ngồi xếp bằng trên phản, cùng uống rượu với quan thượng thư Bộ Binh Đào Tấn. Ba mẹ con chị cử Sắc ăn cơm ở gian nhà dưới, không dám đụng mạnh đũa bát, không dám ho hay dặng hắng một tiếng. Sự yên lặng của đêm kinh thành như lắng đọng vào gia đình người học trò xứ Nghệ này.

    Cậu bé Côn không chịu nổi cái cảnh vắng lặng kéo dài. Côn cứ ngấp nghé ở cửa buồng nhìn mặt quan thượng thư. Côn nghe mẹ nói thì thầm với hai anh em lúc quan thượng thư Đào Tấn vừa mới đến nhà mình : “Một vị quan đứng đầu một bộ trong triều đến nhà một học trò nghèo mà không có lính cận vệ, không người hầu tráp đi theo là hiếm có ở đời đó, các con ạ”. Côn vừa ngẫm nghĩ điều mẹ nhận xét vừa quan sát diện mạo quan thượng thư Bộ Binh Đào Tấn. Côn cảm thấy cha mình với thượng thư Đào Tấn khác nhau về tuổi (30), giống nhau về cốt cách. Quan chỉ mặc có chiếc áo dài xuyến, quần bằng vải cát bá, chít khăn lượt, đi giày hạ (giày da láng, mũi nhái, hở gót), giống như cha lúc đến trường Quốc tử giám. Hai người ngồi vừa bình văn vừa nhấm nháp vị “rượu tiến” cửa quan Đào Tấn đưa đến. Nghe được điều gì của cha nói, của quan Đào Tấn nói, không hiểu thấu, Côn đến hỏi mẹ. Nhưng Côn không thỏa mãn về những lời mẹ dẫn giải. Côn lại tựa lưng vào thành giường của mẹ, nghe cha trò chuyện với quan Đào Tấn.

    – Thưa cụ thượng, kẻ hàn sĩ này trộm nghĩ : Quan đi đôi với quyền. Quyền sinh quyền sát. Vì thế mới có câu : “Nhất tự cách trùng”. Nhưng, cả xứ Nghệ chúng tôi, ai ai đều lưu lại trong tâm trí cái đức sáng của quan tổng đốc Đào Tấn.

    – Những năm ngồi trên ghế tổng đốc ở xứ Nghệ là thời gian có ích nhất trong đời làm quan của tôi. Bởi vì, người xứ Nghệ rất coi trọng lễ, nghĩa, liêm, sỉ. Đúng như người xa đã luận giải: Lễ – nghĩa – liêm – sỉ là bốn cái rường cột để giữ vững quốc gia. Nếu người trong nước mà vô lễ, vô nghĩa, vô liêm, vô sỉ thì quốc gia ấy ắt sụp đổ và có thể bị diệt vong.

    Nguyễn Sinh Sắc vẻ thành kính:

    – Những bậc tai mắt ở Nghệ Tĩnh đều cho rằng, những vị thượng quan từ nơi khác đến chăn dân xứ Nghệ, chỉ có cụ thượng là bậc túc nho hơn cả.

    – Xin đa tạ về lời khen cao giá ấy. Thực tình, tôi đến ngồi ghế tổng đốc An Tĩnh chẳng khác người phải lĩnh trọng trách đến “đánh trống ở cửa nhà sấm”. Và cũng nhờ có được những năm sống trên đất Nghệ, tôi mới có thêm hiểu biết để sửa chữa vở tuồng Sơn Hậu, nâng tình bạn giữa Đổng Kim Lân với Khương Linh Tá vượt lên khỏi quy tắc của tuồng cũ.

    – Đôi câu đối của cụ thượng ghi ở ngay cửa Tiền thành Vinh đã khiến cho hàng nghìn con mắt tinh đời của dân xứ Nghệ thán phục.

    Quan Đào Tấn nhấp rượu, môi hé nở tươi, đôi lông mày dài quá mắt chuyển động. Ông nói :

    – Đó là một tấc lòng của kẻ công bộc cho dân xứ Nghệ.

    – Thưa…. Không dám, thưa quan thượng thư. – Anh cử Sắc xuýt xoa về câu nói khiêm nhường của quan thượng thư Đào Tấn.

    Quan Đào Tấn vẫn một giọng nhún nhường :

    – Làm quan là làm người đầy tớ của dân chúng. Đó là điều tôi học người xưa. Ngày nay kẻ làm quan móc túi của dân mà không biết đỏ mặt nhiều vô kể. Nhưng dân không dám đuổi cổ quan đi là bởi quan nhiều quyền, dân không có thế lực. Thiết tưởng dù dân không làm gì nổi thì kẻ làm quan đục khoét của dân vẫn lưu ở trên đời một tiếng xấu : “Nhân bất khả vô sỉ”… (31)

    – Thưa quan thượng : “Hành kỷ hữu sỉ” (32). Người xưa đã nói về những điều tốt đẹp ấy là rất quý, rất hiếm. Cái quý hơn, hiếm có hơn là quan thượng đã làm được những việc tốt đẹp trên bước hoạn lộ của mình. Vì vậy mà những học giả (người có kiến thức rộng) xứ Nghệ đã nhận ra được cái chân tâm (thật lòng) của quan thượng mà quan đặt vào đôi câu đối tại cửa Tiền thành Vinh.

    Quan Đào Tấn hơi sửng sốt, nhìn cử nhân Nguyễn Sinh Sắc nâng ly rượu lên trước tầm mắt của hai người :

    – Quan cử là người thứ hai, sau quan Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn, đã đọc ra cái điều sâu kín nhất trong đáy lòng của “Kẻ ở ẩn tại triều” này… Xin cạn với nhau ly rượu về sự tri ân, tri tri diện, tri tâm (biết người, biết mặt, biết lòng) và – nét buồn bỗng phủ lên gương mặt nhân từ của quan Đào Tấn – tôi xin báo một tin buồn với quan cử là : Quan ngự sử Phan Đình Phùng đã… từ trần trên núi Quạt.

    – Ôi ! Anh cử Sắc đánh đổ ly rượu xuống chiếu – Quan ngự sử mới bốn mươi… chín tuổi !

    – Tin báo về triều – quan Đào Tấn giọng run run – là Nguyễn Thân đã cho binh lính tìm dược mộ quan ngự sử và đào lên, thiêu thi hài thành tro rồi nhồi với thuốc súng bắn xuống dòng sông La!

    – Quan ngự sử và Nguyễn Thân đều được lịch sử lưu lại. Nhưng danh thơm thuộc về quan ngự sử, tiếng nhục của Nguyễn Thân dù rửa cạn nước sông Trà Khúc cũng không sạch.

    – Tôi vừa làm xong câu đối điếu quan ngự sử, xin đọc để quý quan bình cho. Giọng quan Đào Tấn lúc trầm lắng xót xa, lúc sôi nổi, giận dữ. Qua từng chữ từng câu trong đôi câu đối, anh Sắc hiểu được những suy tư cao cả, sâu kín trong tâm hồn ông. Anh càng cảm thông và kính phục quan Đào Tấn, một vị văn quan đương tại triều này. Anh xúc động lau nước mắt. Ngọn đèn tọa đăng run rẩy. Gió lạnh tràn qua mái tranh để lại cái rét buốt trong nhà người học trò xứ Nghệ.

    Côn mải nghe chuyện quên cả buồn ngủ. Lúc cha tiễn quan thượng thư Đào Tấn ra tận hàng đèn ngoài đường thành, Côn mới nằm xuống ôm lấy anh Khiêm cho ấm. Nhưng Côn còn hỏi với sang mẹ đang ngồi dệt vải :

    – Ông Phan Đình Phùng chết là hết người đánh Tây, hả mệ?

    – Ngủ đi con. Ngày con khôn lớn con mới hiểu cái việc hệ trọng ấy.

    Côn nhắm mắt : hình ảnh chàng Thạch Sanh hiện đến. Côn lại mở mắt và vẫn cảm thấy ngứa ngáy trong lưỡi, nói :

    – Nghe mệ kể chuyện Thạch Sanh, ước chi con cũng có phép thần thông, có cây đàn thần thì con cũng sẽ gẩy đàn cho giặc Tây ngủ hàng loạt, thu hết súng ống về, rồi nấu cho chúng một niêu cơm ăn mãi không hết, trải chiếu hoa trên đường, tống tiễn chúng về Tây.

    Chị cử Sắc mỉm cười giục con :

    – Đã biểu ngủ đi. Cha mi vô kia rồi. Ngủ đi con, khuya lắm rồi.

    Chú thích:

    (28) Kinh đô của vua

    (29) Dưới thời nhà Nguyễn, con trai thuộc dòng họ nhà vua gọi là mụ, con gái là mệ.

    (30) Đào Tấn sinh năm 1845, Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1863.

    (31) Người không biết xấu hổ thì không còn là người nữa (lời Mạnh Tử)

    (32) Phải biết giữ mình, làm việc bậy là xấu hổ (lời Mạnh Tử)

    Đến hết thiết triều các hoàng tử đi trước, tiếp sau là các chư công rồi tới các hoàng thân tiến vào điện Thái Hoà. Các quan văn, võ và các tôn tước từ tam phẩm trở lên đứng ở Đơn Bệ, từ tứ phẩm trở xuống đứng tại Long Trì. Tất cả các quan đều đứng theo thứ tự phẩm hàm đã khắc trên bảng đá nhỏ, gọi là phẩm sơn. Buổi lễ thiết triều này, viên khâm sứ và đám quan binh Tây cũng có mặt chố hố giữa điện Thái Hoà. Dọc hai bên Long Trì có có các đội nhạc. Ngoài Ngọ Môn, các đơn vị tượng binh, kỵ binh được dàn thành đội hình hướng vào sân rồng.

    Từ trên lầu Ngũ Phụng của Ngọ Môn, vọi đồng nổi lên chín tiếng. Côn nghe cảm thấy rờn rợn, da nổi gai ốc. Nhưng hai mắt Côn giương rộng, không nhấp nháy, nhìn vua Thành Thái ngự trên kiệu rồng từ điện Cần Chánh, đi qua Đại Cung Môn vào điện Thái Hòa. Vua còn rất trẻ, mặt hơi trái xoan, mũi thắng, mắt xếch, lông mày thanh, dài quá mắt, môi đỏ tươi, cằm có rãnh sâu. Vua đội mũ cửu long, tay cầm hốt ngọc, áo gấm, cổ đeo chuỗi ngọc sa xuống trước ngực chiếc kim thánh hình bướm trên đó đúc bốn chữ nổi bằng vàng : “Đại Nam Hoàng Đế”.

    Vua bước lên ngai vàng, ngồi hướng mặt về Nam . Nhã nhạc nổi lên. Các quan làm lễ lạy vua năm lạy. Một quan đại thần hai tay nâng trước mặt một tờ hạ biểu (35), đầu hơi cúi, bước đi lừ đừ, mũ cánh chuồn rung ra rung rinh, bộ râu ba chòm màu cước phủ trắng ngực áo. Ông quỳ xuống trước ngai vàng, dâng lên vua tờ hạ biểu, các quan đều phủ phục xuống sân rồng và lạy tạ năm lạy nữa. Quan đại thần hạ biểu xong lui xuống. Quan thượng thư Bộ Lễ tiến lên tâu với vua : cuộc lễ Vạn Thọ đã xong. Vua nâng hốt ngọc lên phía trước quần thần và từ từ bước lên xa giá trở về nội cung… Sau buổi xem lễ Vạn Thọ về, Côn bị cảm, nóng dầu. Chị cử Sắc lo quá. Chị vừa sờ trán con vừa hỏi, vẻ hệ trọng :

    – Có lẽ con đã nhìn mặt vua mà không được vua ưng nên bị quở phạt, hở con?

    – Nỏ phải mô, mệ ạ. Con bị cảm là do con đứng bị gió hắt vô giữa mặt.

    Côn thì thầm với mẹ :

    – Mệ ơi!

    – Chi rứa con?

    – Con thấy vua, người nhà vua, các quan trong triều mặt mũi đều bình thường như mọi người mà sao họ sướng gấp vạn lần, còn dân lại không được lấy một lần là bởi tại đâu, hả mệ?

    Chị cử Sắc tái mặt, bịt bàn tay lên miệng con :

    – Ôi cha! Con còn bé mà… mà… Đã bảo ở gần cung vua con phải giữ mồm giữ miệng…

    Mùa hè năm cuối cùng của thế kỷ mười chín.

    Một hôm Côn đang cặm cụi hon từng đống lá dưới hàng cây thì một bà hàng xóm chạy ra, gọi :

    – Côn ơi! Mẹ cháu đau bụng chuyển sinh rồi.

    Côn hót vội những đông lá vào sọt, na bên lưng, chạy vội về nhà. Côn ném cái sọt lá vào một góc sân, chạy vào buồng với mẹ. Chị Sắc vừa rên vừa nói :

    – Con có dám đi sang Dương Nổ gọi cha về ngay không?

    – Con đi gọi bà mụ (bà đỡ) cho mệ đã.

    – Mệ đã nhờ người đi mời bà mụ rồi.

    Côn vội khoác cái áo năm thân, vừa đi vừa cài khuy. Nắng chiều xiêu xiêu trên thành nội. Bóng Côn ngã dài trên ngõ vắng ngập lá vàng rơi. Ngay tối hôm đó, anh cử Sắc cùng con trai từ Dương Nổ về thành nội. Chị Sắc đã sinh con trai. Anh đặt ngay tên cho đứa con út là Nguyễn Sinh Nhuận. Anh giải thích với vợ :

    – Đã gần mười năm, nay nhà (mình) mới sinh thêm một lần nữa. Vì vậy tôi đặt tên cho là Nhuận. Nhuận nghĩa là thêm. Ví như “năm nhuận” là năm có dôi ra một tháng.

    – Mình không đặt tên chữ cho con à? – Chị Sắc hỏi chồng. – Tự của nó là Tất Danh. Nhà nhớ cho con nhá.

    Chị Sắc nhẩm nhớ trong trí : Nguyễn Thị Thanh, tự Bạnh Liên; Nguyễn Sinh Khiêm, tự Tất Đạt; Nguyễn Sinh Côn, tự Tất Thành; Nguyễn Sinh Nhuận, tự Tất Danh… Chị Sắc muốn được trò chuyện với chồng nhiều, nhưng trong người mệt luỗi như muốn đứt hơi! Anh cử Sắc quạt muỗi, đắp chăn vải mỏng cho hai anh em bé Khiêm, Côn ngủ. Anh khơi to ngọn đèn, giở bộ sách thuốc ra đọc. Anh kê từng vị thuốc ra giấy và nỗi lo lắng về tình trạng sức khỏe của vợ dấy lên trong lòng anh. Anh trăn trở mãi và đành phải cho vợ biết ngay việc anh sắp phải đi xa :

    – Nhà vừa ở cữ, lại không được khỏe. Tôi thấy khó xử với lệnh trên truyền xuống giữa lúc cảnh nhà quẫn bức này.

    – Có chuyện chi mà hệ trọng lắm vậy nhà?

    – Quan tế tửu mới vừa chuyển lệnh của quan thượng thư Bộ Học chọn cử tôi đi Thanh Hóa coi thi Hương.

    Chị cử Sắc thở dài não nuột :

    – Cổ nhân đã dạy: “Sứ trời sớm giục đường mây, phép công là trọng niềm tây xá nào” (36). Nhà cứ yên tâm đi làm việc lớn mà triều đình đã sắp đặt. Việc nhà, xin nhà đừng bận tâm lo nghĩ nhiều mà hao tổn tâm thần, nhãng sao phần đèn sách.

    – Thi cử là công việc tuyển chọn người học vấn chân tài. Tôi không thể từ chối được. Hiềm một nỗi… nhà… nhà đang bệnh… Bệnh sản sau ngày sinh nở là độc lắm. Tôi vắng nhà, việc lo liệu thuốc thang chẳng có ai. Bé Khiêm nó cũng sẽ đi với tôi. Bé Côn còn trẻ nít, nó xoay xở sao nổi cái công việc mà người lớn cũng còn thấy bất lực kia mà!

    – Nhà cho con đi hầu tráp, tôi yên cái bụng. Mệ con tôi ở nhà sẽ tự lo liệu được mọi việc. Tôi lo cho cha con đi xa gặp phải lúc nhà không còn tiền, vì gần một năm nay, tôi đau yếu, thai nghén, không dệt được là bao…

    – Tôi đi đã có tiền cấp phí của Bộ Học.

    Hai vợ chồng anh cử Sắc bàn bạc việc nhà trong mấy hôm liền. Hơn một tháng sau, cha con anh cử Sắc lên đường đi chấm thi Hương ở Thanh Hoá.

    Bệnh hậu sản của chị cử Sắc ngày càng nặng. Sức khỏe của chị suy sụp rất nhanh từ sau ngày anh vắng nhà.

    Với cái tuổi lên mười, Côn đã phải nấu cháo, sắc thuốc, chăm sóc bệnh tình của mẹ. Hằng ngày, Côn còn phải bế em sang hàng xóm xin những bà mẹ đang nuôi con thơ cho em được bú nhờ. Các bạn nhỏ trong thành nội cũng thường bế em giúp Côn đi xin sữa và gọi bằng cái tên thân mật : em Xin. Từ đó mọi người quên hẳn cái tên Nguyễn Sinh Nhuận.

    Thấm thoắt đã hết năm 1900 – năm cuối cùng của thế kỷ mười chín. Côn sốt ruột hỏi mẹ :

    – Răng cha và anh Khiêm đi hoài, đi mãi, chẳng thấy về hả mệ?

    – Mệ cũng thấy bồn chồn. Cha con biểu đi chừng bốn năm tháng. Nay đã gần Tết rồi.

    – Liệu cha và anh Khiêm có kịp về Tết ni không mệ nhể?

    – Chắc là kịp. Nhưng mệ ngợ là cha con sẽ ghé về quê thăm bà. – Ngày Tết mà mệ chưa khỏi bệnh, cha, anh Khiêm vẫn chưa về, nhà ta mất Tết, con lại chẳng được ngồi canh nồi bánh tét, không được đốt pháo đón giao thừa!

    – Mệ sẽ cho con tiền mua bánh pháo dài, con đốt bằng thích.

    – Con thích có bánh tét, bánh chưng hơn, mệ ạ. Còn pháo thì để anh Khiêm đốt cho vui nhà trong ngày Tết chứ con không ưa tiếng nổ inh tai, nhức óc mô.

    Đêm tháng chạp. Gió hú dài trên đường thành. Côn đặt tay lên ngực mẹ, hỏi :

    – Mệ ơi ! Mệ có làm sao không?

    – Mệ không sao đâu. Con ngủ đi, trằn trọc mãi vậy. Chị Sắc thở dà i: – Con săn sóc mẹ ốm, lại chăm nom em nữa… e chừng con sụp mất!

    – Mệ đừng lo. Con vững lắm. Còn có các đứa bạn con, chúng nó tốt bụng với con lắm.

    – Ừ. Con có những đứa bạn rất thảo miếng ăn, đối với con cứ như anh chị em trong một nhà ấy.

    – Con bận mấy thì bận, con cũng giúp bạn con cách bồi bìa sách, đóng quyển học (vở học). Các bạn con cứ biểu con có hoa tay, mệ ạ.

    – Phải rồi. Bạn đối xử tốt với mình thì mình càng phải ăn ở tốt với bạn. – Chị Sắc sợ con làm quá sức, dặn: – Từ mai, con đừng nấu nướng chi mà xách vịm (37) ra hàng cơm gánh hoặc con đến trại lính mua một suất cơm về ăn và nhá cho em. Con cần có thì giờ nghỉ, chơi nhởi con ạ.

    Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tý (10-2-1901), kinh thành Huế nhuộm màu ảm đạm. Nền trời chì. Gió hiu hiu thổi. Người đi chợ Tết đông như hội. Dưới sông, thuyền hàng, đò dọc, đò ngang đi về như mắc cửi. Nhiều người đã sắm hoa Tết, vác những cành mai, bưng chậu thủy tiên, vẻ hớn hở. Côn xách một vịm cơm trong cái gióng mây ba tao (38) vừa đi vừa theo dõi con chim sâu mới ra ràng đang nhảy nhót trên hàng cây hoa đại sau cửa Đông Ba. Côn định đặt vịm cơm xuống bãi cỏ đuổi bắt con chim con. Bỗng tiếng Công tôn nữ Huệ Minh gọi yếu ớt : “Côn… ơi! Mệệ… Côn… chết…… Côn… ơi…!”

    Côn ném vịm cơm xuống. Cái vịm sành vỡ làm đôi, cơm tưng tóe trên vạt cỏ úa vàng… Côn chạy một mạch về nhà, miệng ra lớn : M… ệệ… Mệệ… ô… ii!

    Một ông từ phía đại nội chạy tới níu lấy Côn và b ịt miệng, không cho Côn khóc la :

    – Náu lặng! Náu lặng ngay không thì mất đầu.. . Đây là nơi gần với cung vua, gần tòa sở các quan làm việc, không ai được la to, mi đã rõ chưa?

    Huệ Minh, Kỳ và đám trẻ thành nội cũng chạy theo Côn về nhà. Côn mím chặt môi không cho bật ra tiếng khóc. Càng chạy nhanh càng dồn nén nỗi đau tắc nghẹn, nước mắt trào giàn giụa, đất trời quay tít trước mặt. Côn lại òa lên khóc khi thấy mẹ đã thõng một cánh tay xuống bên thành giường, một tay vẫn ôm vòng qua cổ bé Xin và bé Xin không biết mẹ chết cứ ngậm vú mẹ nhay nhay. Côn phủ phục xuống bên mẹ gọi : Mệ! Mệ! Mệ! M… ệệ ô…ii! Mẹ bỏ chúng con… sao… mệ… ôi! Cha…chưa… kịp… về… mệ… ơi!

    Huệ Minh chạy vào bế bé Xin ra khỏi vòng tay thi hài chị cử Sắc. Bé Xin giãy nảy, chuồi chuồi chân, khóc thét… Ngoài sân, hàng xóm đã đổ tới khá đông và có tiếng nhắc nhở :

    – Khóc khẽ thôi. Luật lệ cấm mọi tiếng động mạnh đó, nghe.

    Nhiều tiếng tặc lưỡi và xuýt xoa :

    – Tội nghiệp bà cử! Cha con ông cứ vẫn chưa về… Tội thân anh em bé Côn! Mệ chết mà chẳng có một ai thân thích ở gần!

    – Giữa lúc năm hết, Tết đến mà mệ chết, cha vắng nhà, ở giữa đất khách quê người này, liệu anh em bé Côn sẽ sống ra sao đây?

    – Vậy ra… ông bà cử Nghệ không có ai là người ruột thịt ở miệt ni à?

    – Chẳng có một người nào cả.

    – Vậy thì chị em xa, ta là láng giềng gần, mỗi người một tay để đưa bà Cử về nơi an nghỉ cuối cùng.

    Vì luật của triều đình, những người chết trong thành nội không được phép làm đám ma ở đó, phải chuyển áo quan ra bên ngoài để hành lễ.

    Kinh thành Huế nghiêng nghiêng dưới gầm trời u ám cuối năm. Chiếc quan tài bà cử Sắc – Hoàng Thị Loan – phủ chiếc chiếu hoa “song thọ”, trên nắp áo quan đặt đĩa đèn dầu cháy leo lét, vật vờ. Sáu người đàn ông dàn ra hai hàng khiêng tay chiếc áo quan đi từ từ ra phía cửa hậu, tuần qua Đông Thành Thủy Quan. Nguyễn Sinh Côn, đầu đội khấu rơm, mặc áo đại tang, chống gậy, chân đất, đi sau quan tài mẹ. Huệ Minh bế bé Xin đi sóng bước với Côn. Một đoàn bạn nhỏ thành nội, tay cầm hoa huệ, hoa tam vị, cành đại… mặt em nào cũng buồn rượi đi bên Côn. Những người hàng xóm đi đưa đám bà cử Sắc phải đi phía cửa Đông Ba ra sông Hương đợi thuyền chở quan tài từ Đông Thành Thủy Quan tới. Chiếc quan tài đặt vào lòng con đò. Côn gục đầu xuống nắp áo quan mẹ. Ở đầu áo quan, sáp nến chảy dài và tụ lại thành cục, thành hòn dưới chân cây nến. Dòng khói hương cuồn cuộn. Bé Xin vừa mút tay vừa gào mẹ… Côn vừa khóc nấc dồn dồn, toàn thân rưng lên. Các bạn nhỏ thành nội xúm xít bên Côn.

    Con đò chở áo quan tách khỏi bến, những chiếc đò chở người đưa đám nối theo sau.

    Ngôi mộ bà cử Sắc đã được vun cao. Mọi người thành kính đặt một nắm đất cuối cùng lên mộ rồi lần lượt ra về. Người nào cũng ngoảnh lại, cám cảnh nhìn hai anh em bé Côn…

    Bãi tha ma Nam Giao hoang vắng. Bóng chiều ôm tròn ngôi mộ màu đất mới nghi ngút khói hương. Côn phủ phục xuống lạy tạ trước tấm bia gỗ trên đầu ngôi mộ mang hàng chữ đen: Hoàng Thị Loan sinh năm Mậu Thìn (1868) tại làng Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, từ trần ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-2-1901) tại kinh đô Huế.

    Chôn cất mẹ xong, Côn lại bế em về với ngôi nhà hoang vắng trong thành nội. Bà con hàng xóm, các nhà có con học ông cử Sắc đều muốn đón anh em Côn về ở với gia đình họ. Nhưng Côn không đến ở nhà ai. Em còn nhỏ, đang lâm bệnh ỉa chảy, lại là ngày Tết, nhà nào cũng có cỗ bàn sang trọng, khách khứa đông vui người ta sẽ khó chịu về sự có mặt của hai đứa trẻ mồ côi mẹ này! Những đêm đầu tiên vắng mẹ, Côn thấy rờn rợn trong đầu. Bé Xin nhớ hơi mẹ, thèm sữa gào khóc; không dỗ được em nín, khổ quá, Côn khóc luôn với em. Tiếng “eng éc” của con chim cú lợn kêu từ đêm trước lại hiện đến trong Côn với cảm giác như bị cái cột nứa cứa vào bàn tay. Côn cất tiếng ru :

    À ơi. Bồng bồng bế bế bồng bồng…

    Cò con theo mẹ sang sông đắm đò…

    À ơi đắm đò ướt hết thân cò…

    Cò con cò mẹ lò dò sang sông…

    Bồng… bồng… bế… bế… ớ… bồng… ơ… bồng…

    Cái cảm giác sợ hãi đã bay biến thì nỗi cô đơn lại bao trùm lấy tâm trí Côn lúc cả kinh thành bay lên theo tiếng pháo giao thừa. Côn phải dỗ em bằng kẹo, bánh của các bạn đem đến cho. Tuy em Xin chưa biết nói, Côn vẫn trò chuyện với em như nó đã tiếp nhận được mọi điều của anh nói ra :

    – Em ăn cái bánh ni ngon hơn mọi thứ bánh khác, đây là lộc của đức Hoàng phi Thành Thái cho anh em mình đó. Em có biết không, mẹ Công tôn nữ Huệ Minh thưa với đức Hoàng phi về tình cảnh của anh em mình, cha mình là cử nhân, là giám sinh đang chấm thi ngoài tỉnh Thanh…

    Mặc anh dỗ dành, nựng chiều, bé Xin vẫn không ăn bánh, không đòi bú và cả tiếng khóc cũng đang đuối dần! Côn bế em vào lòng, tựa lưng bên bàn thờ mẹ nhìn đau đáu trong đêm đen quạnh quẽ mịt mù…

    Nguyễn Sinh Sắc về tới T hành N ội, bàng hoàng trước cảnh vợ đã từ trần, đứa con út đang hấp hối trên tay bé Côn.

    Ông buông thõng hai tay, mắt mở to trống rỗng khi đôi mắt thơ ngây của bé Xin như hai dấu chấm đen ánh lên lần cuối cùng rồi lặn vào vĩnh viễn.

    Chôn cất đứa con út xong, ông cử Sắc đưa hai con trai trở về Nghệ. Trên đường về, tâm trạng ông chẳng khác nào một danh tướng thất trận. Ông sẽ nói gì, nói thế nào khi về gặp lại người mẹ vợ cao cả đã hai lần bán ruộng gom tiền cho ông đi thi, vào kinh đô học; người đã nén tình cảm để con gái đầu lòng đi nuôi chồng ăn học. Nay trở về : vợ, đứa con út nằm lại vĩnh viễn bên bờ sông Hương…Suốt dọc đường thiên lý, hàng tháng trời, ông gặp lại những kỷ niệm của vợ chồng ông cùng đi vào lần trước. Và hình ảnh vợ quảy gánh trẩy kinh giúp chồng ăn học như dãy núi dài theo bước chân ông về thấu quê nhà.

    Được tin cha con ông cử nhân Nguyễn Sinh sắc đã về, bà con họ hàng, làng xóm lũ lượt đến chia buồn.

    Cụ đồ lưng đã bắt đầu còng xuống, ôm chầm ấy hai đứa cháu ngoại mồ côi mẹ, nhìn chàng rể về một mình, cụ kêu khóc như xé trời, thủng đất! Cô An thấy vắng chị chạy vào buồng ôm mặt nức nở. Thanh không thấy mẹ về, nằm lăn ra đất, ngất xỉu. Bà Thuyết và mấy người nữa bế vội cháu Thanh vào nhà. Tiếng khóc trùm lên lũy tre làng. Bàn thờ bà Hoàng Thị Loan kê ở gian giữa của ngôi nhà cũ. Ông cử Sắc kính cẩn đặt lên bàn thờ tấm bài vị của vợ mà ông mang từ Huế.về. Mọi người thân lần lượt vào thắp hương và lễ vái…

    Phan Bội Châu và Vương Thúc Quý phúng viếng một đôi câu đối bằng vóc trắng, mang dòng chữ.

    Hai chục năm đầu gối tay kề (39), nghĩa vợ tình chồng gương sáng mãi;

    Mấy bạn hiền bút nghiên khuya sớm, sân Trình cửa Khổng(40) bảng vàng tươi.

    Trong dịp này quan Đào Tấn cũng cho lính hầu từ thành Vinh (41) mang lễ lên làng C hùa phúng viếng bà vợ ông cử Sắc.

    Lập xong bàn thờ và làm lễ phát tang vợ cho bên nội bên ngoại xong, Nguyễn Sinh Sắc tính việc trở lại kinh đô Huế dự thi Hội, khoa Tân Sửu (1901), lòng ông đầy trở trăn : Ông vào kinh đô thi Hội khoa Ất Mùi (1895) tốn kém nhiều, mẹ vợ phải bán ruộng. Nhưng khoa thi ấy ông không đỗ ông lại đưa vợ và hai con trai vào Huế. Mẹ vợ lại bán ruộng lần nữa mới có đủ tiền cho ông trẩy kinh với bao hy vọng chàng rể trở về có “ân tứ vinh quy” bõ cái công nuôi chàng rể sách đèn.

    Nào ngờ, vợ ông từ trần giữa lúc khoa thi sắp mở! Ông lại phải “gà trống nuôi con” về làng dựa vào mẹ vợ đã chồn lưng mỏi gối.

    Mẹ vợ lại phải ẵm cháu ngoại thay con gái, và bán ruộng lần thứ ba, để có đủ tiền thuê xe phu trạm cho chàng rể kịp vào kinh đô ứng thí. Ông Sắc lên đường vừa chân ướt chân ráo đã có người đến nhà cụ đồ An thủ thỉ :

    – Cụ không có con trai. Con gái cụ đã qua đời, chàng rể thì trẻ chưa qua già chưa đến ắt còn phải tính chuyện bà kế, bà thiếp chứ. Vậy mà cụ không để ruộng làm của “lập tự”, làm ruộng giỗ lại đem bán cho chàng rể đi học, đi thi những ba lần? Khoa thi này ông cử Sắc có chiếm được bảng vàng, vinh quy bái tổ thì họ Nguyễn làng Sen được tiếng thơm chứ cụ và họ Hoàng làng Chùa này được cái chi hả cụ?

    Cụ đồ An cười. Giọng cụ trở nên bồi hồi :

    – Cha tôi một đời đèn sách, bốn lần thi Hương cả bốn lần đều chỉ đỗ bốn cái tú tài. Dân làng gọi là cụ “tú đụp” Kẻ Sía. Tôi cũng được năm ba chữ cha dạy cho, lúc lấy chồng thì lại giúp chồng đèn sách, hai lần thi Hương ông nhà tôi cũng chỉ là “tú kép”. Nay được chàng rể đang có chí cần công khổ học như cha tôi, như chồng tôi lẽ nào tôi không hết lòng? Cha tôi thường dạy : Ruộng không đẻ ra chữ được mà chữ sẽ đẻ ra ruộng. Có ruộng cả ao liền để lại cho con mà con dốt nát thì nó sẽ nướng vào canh bạc là trắng tay. Tôi bán ruộng cho chàng rể có chữ lẽ nào người có chữ lại ăn ở vô nghĩa, bạc tình?

    Cụ đồ An – Nguyễn Thị Kép đã sáu tư sáu lăm tuổi. Răng cụ còn nguyên. Tóc chưa có mấy sợi bạc. Nhưng, cái chết của người con gái đầu lòng đã làm biến đổi hình hài của cụ. Nhất là hai con mắt khóc nhiều quá, màng kéo lên như làn khói mỏng. Đêm nào cụ cũng phải ôm chặt lấy cháu Côn như đang được ôm con gái thuở còn bé. Để bà khuây khỏa phần nào, Côn vòi bà kể chuyện cổ tích hoặc kể lại cho bà nghe việc Côn xem sân rồng, cung điện, ngai vàng… Đặc biệt là Côn được nhìn thấy mặt vua Thành Thái mà mắt Côn không hề có làm sao cả. Rồi Côn sực nhớ hình ảnh ông già mù, Côn hỏi bà :

    – Ông Xẩm đi hát dạo ở đâu xa mà từ hôm cháu về nỏ gặp ông ấy, hả bà?

    – Ông ấy chết đã hai năm rồi, cháu ạ.

    Côn thở dài:

    – Ông Xẩm mắt mù, nhưng chuyện chi ông ấy cũng biết. Vắng ông Xẩm, làng ta cũng giảm phần vui, bà nhể.

    – Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, ông Xẩm đã nhắc nhớ tên từng người trong làng mình. Ông ấy cứ nói cảm ơn, cảm ơn cha mẹ cháu có tới mấy lần.

    Bỗng từ bên hàng xóm có những tiếng gào khóc, than vãn. Côn hỏi bà :

    – Nhà ai có người chết mà họ khóc giữa giờ này, hở bà?

    – Người ta khóc chồng, khóc con bị bắt đi phu làm đường Cửa Rào – Trấn Ninh đó cháu ạ.

    Côn ôm chặt lưng bà. Tiếng khóc bên hàng xóm xói vào lòng, Côn không tài nào ngủ được. Côn thủ thỉ :

    – Cháu đi từ kinh đô Huế về, trên đường, người làm phu mở đường đông như kiến ấy bà ạ. Cháu thấy người Tây họ cưỡi ngựa, có cả lính người Nam đi theo. Ông Tây có cái roi gân bò dài quất xuống đầu, xuống lưng những người gầy gò áo quần rách mướp, không giơ nổi cái cuốc!

    – Cái kiếp dân mình khổ hết đường vậy đó, cháu ơi! – Cụ đồ An vuốt nhẹ tóc cháu, giọng xúc động – Mười người đi phu chỉ thấy về lại được ba, bốn.

    Cụ dằn từng tiếng:

    Ông quan áp trước

    Cậu lính áp sau

    Roi quất vùi đầu

    Thân phu đài coi rẻ

    Áo mặc còn giẻ

    Nón đội còn mê

    Mãn hạn trở về

    Ba phần còn một…

    Lặng đi một lúc, cụ đồ đặt ngổn tay lên mi mắt cháu nhẹ nhàng nói :

    – Khuya lắm rồi, ngủ đi cháu, kẻo mai cháu lại ngủ gật trong lớp học, thầy Quý sẽ phạt đấy.

    – Bà ơi! – Côn nói, vẻ thận trọng. – Dạo ni cháu thấy chú giải San (Phan Bội Châu vừa đậu giải nguyên) thường dẫn nhiều bạn đến chơi nhà thầy Vương Thúc Quý. Cháu thấy các ông bạn lạ ấy cũng nhắc đến tên cha cháu. Cháu nhớ được tên của mấy ông như : Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Tôn Gia Nhuận, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân… Hình như.. các ông bàn chuyện đánh Tây, bà ạ.

    – Ấy! Phải kín miệng cháu ơi! Việc hệ trọng của những người tai mắt, cháu đừng có bép xép mà sinh họa lớn, nghe cháu!

    Côn nằm im một lát, lại hỏi :

    – Người tai mắt là người nào, hở bà?

    – Người tai mắt là người có nhiều chữ, có chí lớn, lo nghĩ những công việc ích nước lợi dân, khác hẳn với những người thường. Chẳng hạn, các ông nghè, ông cử mà cháu vừa nói tên đó…

    – Vậy cha cháu có được gọi là người tai mắt không bà?

    thầy Vương Thúc Quý. Cháu thấy các ông bạn lạ ấy cũng nhắc đến tên cha cháu. Cháu nhớ được tên của mấy ông như : Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Tôn Gia Nhuận, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân… Hình như.. các ông bàn chuyện đánh Tây, bà ạ.

    – Ấy! Phải kín miệng cháu ơi! Việc hệ trọng của những người tai mắt, cháu đừng có bép xép mà sinh họa lớn, nghe cháu!

    Côn nằm im một lát, lại hỏi :

    – Người tai mắt là người nào, hở bà?

    – Người tai mắt là người có nhiều chữ, có chí lớn, lo nghĩ những công việc ích nước lợi dân, khác hẳn với những người thường. Chẳng hạn, các ông nghè, ông cử mà cháu vừa nói tên đó…

    – Vậy cha cháu có được gọi là người tai mắt không bà?

    – Phải. Cha cháu là người tai mắt.

    – Cha cháu đi vô kinh thi Hội đến nay… lâu rồi mà nỏ có tin chi về, bà nhể.

    – Đừng nhắc mà cha cháu sốt ruột, dễ bị vấp ngã trong lúc đi lại, cháu ạ. – Cụ đồ lại giục : – Ngủ đi cháu!

    Côn nhắm mắt. Hương sen từ ngoài ao làng thoang thoảng quanh buồng ngủ. Trong phút chập chờn Côn thấy loáng thoáng búp sen xanh ẩn hiện trong đầm sen bát ngát giữa đồng quê. Bên tai Côn, tiếng chim đêm hè văng vẳng. Và có cả giọng ca của ông Xẩm tưởng hồi trong giấc mơ :

    Nước Nam ta sao lại có Tây?

    Thần dân quyết đánh, vua rày không nghe…

    Nghe tiếng chim khách, từ trong lớp học Côn nhìn ra vườn. Những ngọn cây cúi xuống nhô lên, vật và vật vờ. Từng chiếc lá vàng chao rơi lấp loáng. Cả đám học trò đang cặm cụi tập làm câu đối bỗng giật mình nhìn ra vườn vì tiếng thốt bất ngờ của Côn :

    – Ồ… ồ… Những trái tim… những trái tim vàng bay!

    Thầy đồ ngồi bên án thư nhìn Côn, nghiêm giọng :

    – Trò Côn đứng dậy!

    Côn khoanh tay trước ngực đứng nghiêm. Gió ngoài vườn luồn qua cửa sổ, lật nhẹ tà áo dài của Côn lên phía trước, cái khăn vành rế ôm choàng quanh đầu, trông dáng hình Côn như búp nấm. Hai con mắt Côn long lanh nhìn thầy. Giọng thầy đồ vẫn nghiêm :

    – Đang trong giờ làm văn tập, tại san trò dám nói nhảm?

    – Thưa thầy, con thấy những lá vàng rụng xuống như những trái tim bay lượn ạ.

    Thầy đồ đưa mắt ra vườn, mỉm cười. Ông hỏi Côn :

    – Trò đã làm xong câu đối chưa?

    – Thưa thầy, con làm xong rồi ạ.

    – Trò đọc to lên! Cả lớp chao mắt về Côn, chỉ có Nguyễn Sinh Khiêm là nhìn xuống trang sách trước mặt, nhưng tai vẫn ghé về phía Côn. Côn đọc rõ từng tiếng :

    Chung Sơn vượng khí thành kiên cố,

    Trắc Lĩnh đa vân thị lão niên. (42)

    Hơn hai chục cặp mắt học trò đều lộ vẻ ngạc nhiên, khâm phục Nguyễn Sinh Côn. Thầy đồ đứng dậy, chống hai bàn tay xuống án thư, suy tưởng. Đôi mắt nhìn về phía Nguyễn Sinh Côn, ông hỏi :

    – Có trò mô đã làm xong nữa không?

    Cả lớp ngồi im lặng. Thầy đồ giọng ấm áp.

    – Trò Côn ngồi xuống kẻo mỏi chân. Các trò ơi! Thầy dạy học từ ngày thầy mới có dúm tóc bằng quả thị, nay đã có những sợi bạc, nhiều người học trò đỗ đạt cao hơn thầy, đã làm tới quan huyện, quan phủ… Nhưng, thầy chưa hề ngạc nhiên với một học trò nào có thiên tư như trò Nguyễn Sinh Côn! Thầy biết cái lẽ : Khen người trẻ tuổi đang ở trước mặt mình là có hại. Nhưng với trò Côn thì thầy lại tự cho phép mình làm trái với cái điều ấy. Bởi lẽ, cái thần sáng của trò Côn rất khác thường. Vốn chữ của trò Côn chưa có nhiều, nhưng cái tỏa sáng trong trí lự lại vượt ra khỏi lứa tuổi ấy. Như các trò đã rõ, thầy ra đầu đề bài tập làm câu đối : vế trên có “Chung Sơn” vế dưới có “Trắc Lĩnh”. Chỉ có vậy mà Côn đã tạo nên một bức tranh hùng vĩ trong hai vế câu đối mà ta tưởng là của một thi nhân chân cảm (43). – thầy đồ chùng giọng – quả là “thi trung hữu hoạ”. (44)

    Chợt ông sửng sốt nhìn ra phía đường làng. Học trò nhìn theo thầy : một tốp lính và có cả tiếng nhạc ngựa đang phi về làng. Cả lớp học lắng xuống. Tiếng nhạc ngựa xa dần, vào sâu trong xóm. Thầy đồ nhắc nhở :

    – Các trò chú ý. Nghe ta giảng tiếp…

    Tiếng giảng bài của thầy đồ đều đều giữa ban trưa thoang thoảng hương. Từ nhà bên đã rộn lên những tiếng nói, tiếng cười hể hả… Một ông lão chống gậy trúc đi từ ngoài ngõ vào. Thầy trò rời khỏi án thư, đi ra cửa. Các học trò nhìn theo dáng đi khoan thai của ông lão và thầy học của mình. Ông lão giọng trang nghiêm:

    – Xin kính báo với thầy: quê ta đã có hồng phúc. Ông Nguyễn Sinh Sắc đã đậu Hội thí, Phó bảng .

    – Quan Phó bảng ! – Thầy đồ mắt nhìn đằm thắm, nói giọng xúc động: – Quan cử Sắc của chúng ta đã… Đất quê ta đã có Phó bảng phát khoa!

    – Quan trên đã sức giấy về… Cả huyện sẽ đón quan “vinh quy bái tổ”.

    Thầy đồ nói với học trò :

    – Hôm nay thầy cho các trò nghỉ sớm…

    Đám học trò tay xách ống bút, tay cắp cặp sách tỏa ra các ngõ đường làng. Hai anh em Côn lâng lâng nhìn những lá vàng bay xoay xoay trong nắng xế chiều.

    Côn chạy lên trước anh Khiêm. Côn ôm cả sách, cả ống bút chạy ùa thẳng vào nhà tìm bà, báo tin mừng. Không thấy bà ở trong nhà trên, Côn xuống nhà ngang, sang nhà thờ mẹ, vẫn không thấy bà. Côn đứng thừ ra trước bài vị thờ mẹ, hai hàng nước mắt trườn chầm chậm trên má.

    Cụ đồ An từ ngoài ao sen đi vào thấy cháu đàng thẫn thờ bên bàn thờ mẹ, cụ nén xúc động dừng bước bên gốc cây thị. Côn rời khỏi bàn thờ mẹ, thấy bà, liền lau nước mắt bằng ống tay áo, chạy ra với bà. Từ ngoài ngõ, ông tiên chỉ của làng dẫn đầu một đoàn người, bưng theo cơi trầu, chai rượu. Cụ đồ hơi bối rối chưa biết có chuyện gì. Mọi người chào cụ rối rít. Cụ mời họ vào nhà. ông tiên chỉ đặt trầu rượu lên án thư, giọng ông hơi trầm :

    – Thưa cụ chúng tôi được hội đồng lý hương ủy thác tới đây kính báo với cụ và thân quyến việc quan Nguyễn Sinh Sắc đã đem vinh hiển về cho nhà, vinh hoa cho làng xóm, quan là người đầu tiên ở đất này chiếm được bảng Hội thí…

    Cụ đồ nước mắt lưng tròng, hai bàn tay nhăn nheo bấu chặt lấy thành tràng kỷ mà chân vẫn không hết run. Cụ hỏi, lưỡi hơi líu lại :

    – Thưa… thưa quý cụ… xin quý cụ dạy biểu cho mệ con, bà cháu nhà tôi phải làm chi bây giờ?

    – Quan Phó bảng sẽ vinh quy về bên quê nội. Mọi việc đều có hội đồng hương lý lo liệu. Cụ cứ bình tâm.

    Cả buổi chiều, nhà cụ đồ người ra vào nhộn nhịp như ngày Tết. Mâm cơm đã dọn ra từ lúc gà mới lên chuồng mà vẫn đậy lồng bàn, chẳng khác gì cái ngày vợ chồng ông Nguyễn Sinh Sắc đưa cả con cái lên đường vào kinh đô Huế ăn học.

    Đêm tĩnh mạc. Tiếng mõ rao lõm lồi trong làn gió tây nam : Chiềng làng… chiềng xã… cốc cốc cốc… thượng hạ khắp nơi … cốc cốc cốc… nghe rõ từng lời… cốc cốc cốc… mà làm cho đúng… cốc cốc cốc… Quan trên hoả tốc… cốc cốc cốc… sức xuống dân ta… cốc cốc cốc… chọn đất dựng nhà… cốc cốc cốc.. đắp đàng, trải chiếu… cốc cốc cốc… Nào cáng, nào lọng… cốc cốc cốc… Nào trống, nào chiêng… cốc cốc cốc… xuống tận tỉnh đường cốc cốc cốc… rước quan Phó bảng … cốc cốc cốc… là Nguyễn Sinh Huy… cốc cốc cốc… bái tổ vinh quy…cốc cốc cốc… Chiềng làng… chiềng xã.. cốc cốc cốc…

    Cụ đồ cô An, chị Thanh, anh Khiêm, bé Côn nghe tiếng ông mõ rao đều nao nao trong lòng. Niềm vui, nỗi buồn chen lấn nhau trong tâm hồn từng người. Không khí trong nhà lặng lẽ chẳng có vẻ gì là nhà của một ông “tân khoa Hội thí” sắp vinh quy.

    Đêm sang canh. Tiếng lá rơi nghiêng xuống mái nhà phát ra một âm thanh mỏng thiếc. Cụ đồ nghe tiếng con cháu thở đều đều trong giường. Cụ rón rén bưng cây đèn đi sang bàn thờ người con gái xấu số, Hoàng Thị Loan. Cụ gục đầu bên bàn thờ con, không để tiếng khóc bật to, toàn thân cụ rung lên, cái bàn thờ cũng rung theo. Nước mắt đổ ra nhiều mà nỗi đau đớn vẫn không vơi. Cụ ngước lên, nhìn bài vị và thầm trò chuyện như có mặt con :

    – Loan ơi! Từ chốn kinh đô xa xôi con có về thấu nhà lúc ni không con? Hay linh hồn con còn vảng vất bên chồng con trên đường vinh quy. – Cụ lại nức nở : – Con ơi ! Mười sáu tuổi con đã phải dành tiền chéo áo, đụm gạo chéo khăn để nuôi chồng đèn sách. Giừ chồng con được thành đạt thì con đã khuất núi! – Cụ đồ lại gục xuống bàn thờ : – Loan ơi! Con rời chồng giữa cái tuổi “trẻ chưa qua, già chưa tới”! Chồng con không thể đứng vây để “gà trống nuôi con” được. Chồng con ắt phải có đôi có lứa với một người khác, người đó sẽ cư xử ra răng (ra sao) với các con của con?

    Tiếng gà gáy đầu cất lên mở cửa chân trời. Cụ đồ chợt nhớ là đêm đã tàn. Cụ bưng cây đèn, rời bàn thờ con gái trở về buồng. Cụ dừng lại bên giường cháu Khiêm. Cụ giắt chặt chiếu đắp che kín gió cho cháu ngủ ngon. Bước đến bên giường cô An, cụ sững sờ nhìn vòng tay của con gái kê dưới đầu cháu Thanh. Nước mắt lại giàn giụa xuống má, cụ lẩm bẩm :

    – Giá con An nhà mình chưa nhận trầu ăn hỏi… Giá mà mình có một đứa con gái nữa… Mẹ mất thì bú vú dì. Dì thay chị làm mẹ các cháu thì còn chi bằng!

    Cụ thắp hương vái vái trước bàn thờ chồng : “Ông ơi! Con rể, người học trò của ông đã đạt được cái điều ông từng mơ ước… Chắc ông đang mỉm cười nơi chín suối!”.

    Cụ ghé lưng nằm xuống giường, ôm chặt lấy bé Côn.

    Sương sớm rung theo tiếng trống làng. Cả một vùng quê dậy lên cái âm thanh náo nhiệt : Trống đại, trống dờn, trống thủ cổ, chiêng, chũm choẹ, đàn bát âm.

    Trên con đường quan, nắng trải mịn vàng. Dẫn đầu đoàn rước là người làng Sen , làng Chùa . Tiếp theo là người các làng trong xã Chung Cự rồi các làng thuộc tổng Lâm Thịnh và các tổng khác của huyện Nam Đàn.

    Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Côn xứng xính trong bộ áo dài đứng ở hàng đầu đoàn học trò. Hội đồng lý hương của mỗi xã đứng theo đơn vị xã mình. Một ông lão chít khăn mỏ rìu đỏ, ngang lưng thắt đai vàng, tay cầm ống vọi đồng nâng lên miệng, gọi dài giọng :

    – Hàng… ngũ… đã… chỉnh… tề… nghe… ba… hồi… trống… tiền… trước… hậu…sau… tuần… tự… mà… bước…

    Trống lệnh nổi lên. Cờ ngũ hành giương cao phía trước. Cả đoàn người rùng rùng chuyển bước giữa đồng quê tháng mười, tiến về thành phố Vinh.

    Tại thành Vinh đã diễn ra một cuộc nghênh tiếp và tiễn đưa vị tân khoa Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Quan bố chánh vẻ mặt ủ dột đi đằng sau quan tổng đốc Đào Tấn, nói vẻ xúc xiểm :

    – Thưa cụ Thượng, ngài là một đại quan đứng đầu một Bộ của triều đình, đương kim tổng đốc, việc gì phải đi tiễn ra tận cửa Tiền một ông tân khoa vinh quy?

    Quan Đào Tấn cười mỉm :

    – Tôi không làm nghi lễ theo phẩm hàm (thứ bậc trong hàng quan lại). Tôi đón tiếp, tiễn đưa một trí giả có học vị hơn tôi…

    Quan tổng đốc Đào Tấn vượt lên khỏi quan bố chánh. ông sóng bước với quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Qua cửa thành, hai hàng lính bồng súng chào. Hai người lính cáng bước đến. Quan Đào Tấn chìa tay mời :

    – Kính mời quan tân khoa lên cáng hồi hương. Đám rước quan vinh quy cũng đã đợi đón tại địa phận cửa thành Tây.

    Quan Phó bảng chắp tay vái :

    – Đa tạ cụ Thượng và quý quan. Xin cụ Thượng cho phép kẻ hàn nho (học trò nghèo) này được giữ trọn nếp nhà. Đường đất từ đây về tới quê nhà chẳng còn xa nữa. Tôi rất cảm kích trước tấm lòng của cụ Thượng: “Thiên hạ chi sự thành ư đại độ chi chí sĩ, nhi bại ư hàn lậu chi tiểu nhân” . (45)

    Quan Đào Tấn trở vào tỉnh đường, tốp lính vệ mang cáng không đi theo quan Phó bảng . Đoàn người đi rước quan Phó bảng vinh quy đã đợi ở ngã ba Cầu Rầm. Nhìn một bể người đông đảo, võng lọng, cờ quạt, trống kèn, quan Phó bảng lặng người, hai mắt chớp chớp, lắc đầu…

    Viên lục sự huyện Nam Đàn thay mặt cho các hương chức và dân chúng trong miền, thưa với quan Phó bảng :

    – Thưa quan tân khoa! Khi nhận được trát (giấy truyền lệnh) của quan trên sức về, từ quan trên đến thứ dân trong huyện đều vui mừng cho Nam Đàn, cho Chung Cự, cho Kim Liên, đất văn vật đã hun đúc thêm một bậc Phó bảng phát khoa. Ai nấy đều nô nức xin được đi rước quan vinh quy. Chẳng hay trong cuộc đón rước ni có điều chi không phải thì xin quan lớn nguyện lượng mà đại xá cho…

    Quan Phó bảng đứng giữa đám đông, nói :

    – Tôi thật không ngờ cái việc đỗ đạt của tôi đã gây ra sự mất công, mất việc của bao nhiêu người.

    – Thưa quan Phó bảng , – lý trưởng xã Chung Cự trình bày – việc đón rước các vị quan tân khoa vinh quy là theo luật lệ của nhà vua xuống chiếu cho dân phải thi hành. Vậy kính quan trên lên võng để vinh quy bái tổ ạ.

    – Tôi học được dăm ba chữ thánh hiền, nhờ phúc tổ chiếm được một chút khoa bảng. Tôi chưa làm được một việc chi có ích cho dân mà đã gây ra sự phiền nhiễu dân tình. Vả lại, từ nhỏ tôi ăn học, tôi lớn lên ở trong nhà bố mẹ vợ, nay tôi sẽ về đó, chứ về làng Sen tôi mô có nhà cửa ở đó?

    – Thưa quan Phó bảng , quan đem vinh dự về cho làng xã. Nhân dân ai cũng được thơm lây. Cho nên dân làng Sen theo sự bày biện của hội đồng hương lý đã dựng nhà đón quan về quê nội để đúng với thể thức Vinh quy. Thực tình dân làng Hoàng Trù cũng định làm nhà to đón quan về bên đó.

    Quan Phó bảng chau mày khi nghe việc quê nội, quê ngoại của mình đều muốn đua nhau làm nhà đón mình “vinh quy”. Ông nói giọng trầm trầm :

    – Thưa tất cả bà con, thưa các thầy hào lý! Việc bà con dân làng thuận làm nhà cho tôi bên nội cũng như bên ngoại, thực tình tôi rất khó xử. Tôi không dám nghĩ một điều chí khác về tấm lòng vàng của dân làng. Nhưng nghĩ về mình thấy việc thi đỗ đại khoa của tôi chưa đem lại một chút lợi ích chi cho dân làng cả. Biết mô lúc tôi ra ngồi ghế quan trường tôi lại trở thành cái nạn cho dân : “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” mà.

    Cả khối người cười rộ và ào lên như sóng :”Không đâu, quan Phó bảng Sắc của chúng tôi sẽ là ông quan vì dân, thương dân…” Họ công kênh hai cậu con trai quan Phó bảng Sắc lên vai. Quan Phó bảng nhìn hai con mặt đỏ gay thẹn thùng. Ông nói với dân mà cũng là lời tự răn mình :

    – Tôi luôn nhớ và làm theo bằng được cái điều: Thực kỳ thực bất hủy kỳ khí, ấm kỳ thụ giả bất chiết kỳ chi. Nghĩa là : ăn cơm xong đừng đập bát, ngồi mát dưới bóng cây chớ bẻ cành .

    Cả khối người lại reo lên cùng tiếng trống tiếng chiêng. Quan Phó bảng Sắc chắp hai tay giơ cao qua đầu nói :

    – Xin bà con để tôi cùng đi bộ về kẻo mất ngày mất buổi.

    Các ông lý hương vẫn nài nỉ quan Phó bảng lên võng. Nhưng ông vừa đi vừa khuyên họ miễn cho ông phải nằm để người khác khiêng.

    Quá trưa, đám rước quan Phó bảng vinh quy về tới con đường rẽ vào làng Sen . Nhân dân làng Sen và các làng bên đã đứng thành hai hàng dài. Đường trải kín chiếu hoa. Quan Phó bảng nhìn con đường về làng, hỏi ông tiên chỉ tay cầm bó hương nghi ngút và cái biển có bốn chữ ” Phó bảng phát khoa” :

    – Thưa cụ tiên chỉ, làng đón tôi về “vinh quy bái tổ” sao còn “rào” đường lại?

    Ông tiên chỉ và mọi người đều dồn mắt xuống con đường làng rực rỡ chiếu hoa. Giọng ông tiên chỉ hơi run :

    – Thưa thưa… thưa quan lớn…

    – Ấy chết! – ông Sắc đỡ lời. – Tôi vẫn là dân của làng Sen chứ có khác chi mô.

    Ông tiên chỉ bình tĩnh lại :

    – Thưa quan Phó bảng , dân làng muốn được bày tỏ lòng cung kính lúc quan về vinh quy ạ.

    – Câu nói đầu lưỡi của dân ta là : “Quan nhất thời, dân vạn đại”. Dù tôi đỗ đạt cao tới đâu, làm đến chức tước to lớn mấy, tôi vẫn là con người bình thường, người dân. Dân là gốc. Gốc rễ của tôi là đứa bé mồ côi cha mẹ, đi chân đất, ngồi lưng trâu, nay tôi nên người có chữ, “chữ là mắt” thì càng phải biết dạo lý, sống có đạo lý . Đạo lý là gốc. Chính kỳ bổn nhi vạn vật lý. Nghĩa là : Cái gốc đúng thì vạn sự được yên ổn.

    Những chiếc chiếu trải được cuốn lại. Ông Sắc sải bước trên con đường làng khấp khểnh hố chân trâu. Ông đứng sựng, mắt đăm đăm nhìn ngôi nhà mới dựng, cô đơn giữa một khoảnh đất rộng quá tầm ước đoán của ông. Bà con đứng đầy sân, đầy vườn. Hai người bạn thân – cử Quý, giải San – và người anh – Nguyễn Sinh Thuyết – xúm xít bên ông. Những người bạn danh nho này đều nhận thấy ông Phó bảng Sắc không vui, đang có điều gì áy náy trong lòng.

    Ông giải San hỏi :

    -Chắc quan bác đang có điều chi đó không vui?

    – Tôi thấy ngượng về sự đón rước ồn ào này và làng đã dựng cho tôi nhà quá lớn, vườn quá rộng.

    – Cái nhà ngang để đun bếp là dỡ ở bên tôi đưa về đó chú ạ. – ông Thuyết nói.

    Viên lý trưởng vẻ cung kính thưa :

    – Bẩm quan Phó bảng , thể theo nguyện vọng của dân chúng và ý kiến chung của hội đồng lý hương thì cấp một mẫu bảy sào đất công điền để làm ruộng lộc điền, và bốn sào mười bốn thước làm vườn, dựng nhà năm gian để gia đình quan có chỗ trú nắng mưa. Lẽ ra dân làng phải xây nhà ngói rước quan về ở mới thỏa, vì lần đầu tiên trong lịch sử xã Chung Cự này, quan là người chiếm được bảng vàng Hội thí.

    Một vị khác trong hội đồng lý hương thưa tiếp :

    – Thưa quan tân khoa, dân làng còn mong muốn được bổ theo đầu người trong xã, góp tiền lại mở hội ăn mừng ba ngày, có hát trò nhà tơ, hát tuồng và hát chèo trong suất ba đêm liền…

    Bà con đứng ở sân và tận ngoài đường đều hưởng ứng : “Phải mở hội ăn mừng… ăn mừng thật to mới thỏa dạ cái dịp vui hiếm có ni ạ”.

    Vẻ mặt ông Sắc càng buồn buồn. Đôi lông mày nét mực tàu chuyển động lấp láy, giọng ông xúc động :

    – Tôi rất cảm kích trước sự đối đãi hậu hĩ của dân làng, của hội đồng hương lý. Nhưng, tôi rất đau lòng, vì ruộng đất làng ta chia cho đầu người thì mỗi người chỉ được một mảnh đủ cho chó nằm thòi đuôi. Nhưng số ruộng đó hầu hết lại ở trong tay một số ít người. Nay lại dành cho một mình tôi những một mẫu bảy sào ruộng cày, bốn sào mười bốn thước đất vườn. Ồ! Chẳng hóa ra việc đỗ đại khoa của tôi chưa thấy cái vinh dự cho dân làng là đâu mà lại là cướp ruộng, tức là cướp bát cơm của dân rồi! Bà con nghĩ coi, giữa ngày mùa ni mà nhiều nhà không có một hạt thóc để nhổ râu! Cho nên, tôi xin hoàn lại ba sào vườn, bảy sào ruộng. Tôi nhận một mẫu ruộng, nhưng dân làng cho tôi được quyền bán một phần nửa lấy tiền gộp lại với số tiền mà dân làng đã góp để ăn mừng; tất cả món tiền này đem chia cho những nhà nghèo nhất trong làng với mức nhà được ít là sáu tiền, nhà được nhiều là một quan. – Ông hạ thấp giọng : – Thiết tưởng, người đáng được ăn mừng nhất của cái ngày này là thầy Hoàng Xuân Đường, là Hoàng Thị Loan. Than ôi! Cả hai người ân nhân của tôi đều đã khuất!

    Cả làng, những cặp mắt ướt nhìn về quan Phó bảng Sắc. Ông cử Quý xua tan cái không khí nặng nề bằng cách cho hai người chức sắc treo lên bức văn trướng bằng lụa và ông cất giọng đọc.

    Tiếng tri âm trong bài văn trướng cứ lắng sâu, lắng sâu tận đáy tâm hồn quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Còn Nguyễn Sinh Côn lại ghi sâu vào lòng mình về những điều cha nói với dân làng trong buổi “vinh quy”.

    Chú thích:

    (38)Một loại quang bằng mây đan, chuyên để xách hũ, liễn, nồi đất…

    (39) Vợ chồng cụ Nguyễn Sinh Sắc ở với nhau được gần hai mươi năm

    (40) Ý nói những người học chữ nho

    (41) Đào Tấn lại được triều đình cử ra làm Tổng đốc An Tĩnh lần thứ hai, từ 1898 đến 1902

    (42) Núi Chung khí vượng nên kiên cố

    Non lĩnh nhiều mây hóa lâu năm

    (43) Nhà thơ có cảm xúc chân thực

    (44) Như có bức vẽ trong thơ

    (45) Việc trong thiên hạ thành được là do ở người độ lượng lớn lao mà hỏng bởi ở đứa tiểu nhân bỉ lậu. Cụ Sắc mượn câu này trong sách “Vân Đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn, ca ngợi Đào Tấn, khinh tên Bố chánh Nghệ An.

    Ông Sắc đưa các con về làng Sen ở, nhưng vẫn để cô Thanh con gái đầu lòng của ông, hằng ngày về làng Chùa săn sóc bà ngoại. Độ vài ngày ông về làng Chùa một lần. Cô Hoàng Thị An đã lấy chồng.

    Những ngày đầu về ở ngôi nhà mới, Côn nhớ bà ngoại cồn cào ruột gan. Có những lần, đang đêm Côn thức giấc, đi một mình dưới ánh trăng khuya từ làng Sen sang làng Chùa về với bà ngoại. Cụ đồ An cũng nhớ các cháu đến mất ăn mất ngủ. Nhiều hôm cụ cảm thấy như người mất hồn, để cái gì ở đâu cũng chẳng nhớ nữa. Mà Côn là đứa cháu để lại trong lòng cụ nhiều nỗi nhớ bồi hồi nhất. Lúc giã trầu lại nhớ cháu Côn thường nhai trầu hộ bà. Bưng bát cơm ăn, cụ lại nhớ cháu Côn thường hay gắp tiếp thức ăn lên bát cho bà. Tối tối đau xương, đau mình, cụ càng nhớ cháu Côn ngồi cạnh đấm lưng an ủi bà. Cụ nhớ cả cái tính tinh nghịch của cháu Côn : Côn hay rủ đám trẻ trong xóm đi trêu chó để chúng sủa om sòm, bị người ta đến nhà rầy la bà ngoại.

    Một hôm, cụ đồ An đang cho lợn ăn ở vườn sau, nghe tiếng bà hàng xóm nói to đằng trước sân : “Cụ tú ơi cụ tú ơi… cháu nhà bà…”. Bé Khiêm chạy vội ra mách bà về tội em Côn đi trêu chó nhà bên cạnh đang bị người ta đuổi sang tận nhà mắng mỏ. Côn chạy từ ngoài ngõ về, vào nhà bưng cái ghế đẩu của ông ngoại đem tới đặt trước bà hàng xóm mời :

    – Cháu mời bà ngồi ghế có tựa lưng mà chửi cho đỡ mỏi chân ạ.

    Bà hàng xóm nổi máu tam bành chạy thẳng ra sau vườn xỉa xói bàn tay trước mặt cụ đồ :

    – Tui nể cụ… tui nể cụ… không thì… tui cho cậu ấy một trận nên thân trời đất… Con nhà khoa cử, nhà thầy, nhà quan có danh có giá mà nghịch ngợm như quỷ sứ như bầy bò vô học…

    Cụ đồ chết lặng đứng! Lần đầu tiên bà bị một người hàng xóm chửi nặng lời, xúc phạm đến nền nếp gia phong, gia giáo… Vừa đau xót về những lời cay độc của bà hàng xóm, cụ vừa giận cháu, định đánh cho mấy roi, nhưng, nhưng bé Côn đã chạy lại ôm chầm lấy bà :

    – Bà ơi !… Cháu đã thấy cái tội dại dột của cháu. Xin bà tha lỗi cho cháu! Từ rày trở đi cháu sẽ không còn dại dột như vậy nữa. Cháu cũng xin bà đừng mách với cha cháu, bà nhá…

    Cụ đồ nguôi cơn giận. Cụ thấy cháu mình đã nhận thấy lỗi và hứa với bà sẽ sửa lỗi. Chiều, ông Sắc về. Bữa cơm chiều vẫn vui vẻ như thường lệ, cụ đồ ăn cơm ở nhà dưới với con gái Hoàng Thị An và người cháu họ ở giúp việc. Ba cha con ông Sắc ngồi cùng mâm ở nhà trên, nơi cụ tú dành ba gian làm trường học. Bữa cơm gần xong, ông Sắc và miếng cơm cuối cùng, hỏi :

    – Hôm nay các con ở nhà học thuộc bài: Lạc dân chi lạc giả, dân diệc lạc kỳ lạc (46), rồi chứ? Có mảng chơi quá không?

    Bé Khiêm thưa :

    – Dạ, chúng con đều học thuộc bài rồi. Chỉ có em Côn đi trêu chó…

    Côn ngừng nhai miếng cơm trong miệng, mặt tái mét.

    – Trêu chó thế nào?

    – Thưa cha, em Côn đã đầu têu cùng mấy bạn nữa đến ngõ nhà bà Chắt ném mảnh sành vào sân trêu đàn chó săn đang nằm trên sân. Chó sủa dậy cả xóm. Bà Chắt sang nhà ta mắng trước mặt bà ta là “Con nhà khoa cử, nhà thầy, nhà quan mà nghịch ngợm như…”

    Khiêm không dám nhắc lại nguyên những lời bà hàng xóm mắng. Ông Sắc để bát đũa xuống mâm. Bé Côn nắm chặt đũa, nhắm mắt lại đợi cái bợp tai của cha sẽ giáng vào má mình. Nhưng nghe tiếng cha thở dài, Côn mở mắt thấy cha lặng lẽ đứng lên, di tới móc áo. Cha khoác lên người cái áo dài đen, đi xuống nhà dưới. Côn, Khiêm đều nhìn theo cha…

    Ông Sắc đứng trước cụ đồ, khoanh tay. Cụ đồ cũng đã buông bát đũa đứng dậy. Ông Sắc nói :

    – Thưa mẹ, trưa nay, lúc con đi vắng, ở nhà cháu Côn đã gây ra cái việc nhỏ mà tai hại lớn, gia phong ta bị những lời xúc phạm. Con là cha của cháu Côn, con dại cái mang. Con xin lỗi mẹ và trước vong linh cha, trước vong linh nhà con, con chịu cái lỗi : “Phụ bất giáo tử hành tai” (Con làm điều tai hại do cha không dạy bảo).

    Cụ đồ giọng xúc động :

    – Sau lúc xảy việc, bé Côn đã biết lỗi của mình và có hứa với bà là cháu sẽ không còn nghịch ngợm cái trò trêu chó hàng xóm nữa. Anh đứng phận làm cha, nhận cái lỗi “con dại cái mang”, mẹ đây là bà của nó, mẹ cũng có lỗi : “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”.

    Ông Sắc trở lại mâm cơm. Bé Côn vẫn ngồi không nhúc nhích. Bé Khiêm nhìn em đầy ái ngại và tự trách đã lỡ mách cha… Ông Sắc nghiêm giọng :

    – Côn!

    – Dạ… thưa cha!

    – Từ ngày mai, mỗi bữa con bớt ăn một bát cơm. Cơm nước xong con quảy sọt đi lặt phân bò, chiều về tắm rửa xong, con vào án thư viết hai chữ Nhân Cách, khổ chữ hàng tám, đủ năm mươi trang giấy rộng nộp cho cha rồi mới ăn cơm tối. Con làm những việc ấy trong bảy ngày.

    Vâng lời cha, Côn đã làm đầy đủ những việc ấy một cách vui vẻ.

    Quan Phó bảng Sắc mở trường dạy học. Người ở các huyện dọc sông Lam đến xin cho con học rất đông, nhưng quan Phó bảng chỉ nhận dạy một số ít, ông dành một phần thời giờ để đàm đạo văn chương, thời cuộc với Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý. Nhất là từ sau chuyến đi Yên Thế tiếp xúc với Hoàng Hoa Thám trở về Phan Bội Châu thường gặp gỡ quan Phó bảng Sắc, quan đốc học Đặng Nguyên Cẩn, quan nghè Ngô Đức Kế, các ông Đặng Thúc Hứa, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá, Tôn Gia Nhuần…. cùng nhau lo việc đại nghĩa. Nhưng quan Phó bảng Sắc cho là thời vận chưa phải lúc… ông cũng khước từ cả việc triều đình Huế gọi vào kinh đô nhận chức. Ông lấy lý do phải ở nhà phụng dưỡng mẹ già. Đô Sát Viện đã tư giấy về cho tổng đốc Nghệ An xem xét lại thái độ Phó bảng Sắc đối với triều đình, vì theo bản tự khai gia cảnh trong hồ sơ thí sinh thì Nguyễn Sinh Huy tức Sắc mồ côi cha mẹ từ lúc còn nhỏ. Nay triều đình bổ nhiệm đi làm quan lại vịn cớ có mẹ già?

    Quan tổng đốc Đào Tấn biết rõ gia cảnh của quan Phó bảng Sắc đã làm tờ trình về triều đình Huế. Ông đề cao quan Phó bảng Sắc là một người có đức sáng, vợ chết đã thay vợ chăm sóc tuổi già của mẹ vợ. Bà mẹ vợ và bên nội, bên ngoại đã khuyên quan Phó bảng Sắc lấy vợ kế để có người “đỡ túi nâng khăn” vì ông ở cái tuổi chưa tới bốn mươi, nhưng ông từ chối. Triều đình Huế căn cứ ở lời đề đạt của quan tổng đốc Đào Tấn đã vui lòng để quan Phó bảng Sắc ở nhà làm tròn chữ hiếu.

    Người con gái đầu, cô Nguyễn Thị Thanh của quan Phó bảng Sắc đã tới tuổi mười tám, ông giao cả việc nhà và chăm sóc bà ngoại cho cô. Ông đưa hai con trai đi thăm bạn bè và viếng cảnh đẹp trong tỉnh. Những nơi hợp cảnh hợp người, ông thường ở lại lâu, vừa dạy học vừa thù tạc với bạn, ngoạn cảnh núi sông, đền đài.

    Chuyến đi xa nhà đầu tiên, quan Phó bảng Sắc dẫn hai con ra Diễn Châu thăm một người bạn ở làng Vạn Phần (Võ Tất Đắc) mới từ quan trở về dạy học, và ông đến làng Quỳnh Đôi để tạ ơn ông Hồ Sĩ Tạo, người đã giúp đỡ ông vào học trường Quốc tử giám.

    Trên đường từ Vinh ra Phủ Diễn, Côn mang bên nách chiếc tay nải bằng vải tây điều, chân đi dép da bò, bước thoăn thoát theo cha. Nhưng, Côn ham ngắm cảnh hai bên đường, thường tụt lại sau. Bị anh Khiêm mắng, Côn cáu lại anh : “Anh lắm lời quá!”. Ông Sắc quắc mắt, nghiêm giọng :

    – Côn! Vì đang ở trên đường, nếu ở nhà thì cha bất con nằm xuống đánh mười roi về tội bất đễ. Anh con có nói sai, xử sự sai với con thì đã có cha phân xử, hoặc con phải nói với anh bằng một thái độ lễ phép. Con không được nói với anh câu nói của con nhà vô giáo dục như vậy.

    Ông Ông dừng bước bên sông Cấm :

    – Con khoanh tay xin lỗi anh đi con!

    Côn đặt chiếc khăn gói trên vai xuống bãi cỏ, khoanh hai tay trước ngực, giọng chân thành :

    – Xin anh cả tha lỗi cho em…

    Cậu cả Khiêm rơm rớm nước mắt, chạy lại xách tay nải lên:

    – Để anh mang đỡ em một đoạn kẻo em mệt đi không kịp cha. Ba cha con Phó bảng lại thủng thẳng bước trên con đường mà sông núi mây trời đẹp như bức gấm thêu.

    Đi hết dãy núi Cấm, sang địa phận Diễn Châu, mảnh đất nổi tiếng trong lịch sử với tên gọi Châu Diễn, Côn tần ngần nhìn ngôi đền cổ kính có nhiều tòa từ trên đỉnh núi xuống tận chân núi, sát đường thiên lý. Côn ngạc nhiên hơn khi đứng trên dốc nhìn về phía Tây, đối diện với ngôi đền, dãy núi xa xa rất nhiều hình nhiều vẻ, càng ngắm, núi càng biến hóa những hình ảnh theo sự tưởng tượng của Côn. Hòn lèn gần nhất, nằm ở giữa cánh cổng bát ngát màu xanh, lại y như một con người cụt đầu đứng hiên ngang giữa đời.

    Côn nói với cha :

    – Thưa cha, con muốn được cha chỉ bảo chúng con về sự tích ngôi đền ni, về tên của các hòn núi kia, trông lạ mắt quá cha ạ. Thấy con ham muốn tìm hiểu về cội nguồn, ông Sắc bước đến bên gốc cây tùng già, giở cơm nắm cho hai con ăn. Dưới bóng cây cổ thụ, ba cha con quan Phó bảng cùng nhìn về phía núi non biêng biếc trải tận chân trời xa. ông kể cho con nghe trọn câu chuyện tình sử Mỵ Châu – Trọng Thủy. Côn ngạc nhiên hỏi cha :

    – Thành Cổ Loa ở mãi tận đâu, thưa cha?

    – Cha chưa đi tới đó, nhưng cha đọc sách thấy xa… xa lắm, con ạ.

    Khiêm lắc đầu, giọng hơi kéo dài :

    – Người đời xưa có lẽ họ bịa chuyện chứ nàng Mỵ Châu kiếm đâu cho đủ lông ngỗng mà rải khắp con đường dài ấy cha?

    Ông Sắc cười. Côn nói, vẻ thán phục :

    – Chuyện My Châu – Trọng Thủy hay tuyệt, tài tình lắm. Con nhận thấy vua nhà Triệu nước Tàu nham hiểm ghê gớm. Chàng Trọng Thủy ngoan ngoãn làm theo mẹo của cha bày đặt. Còn vua nhà Thục nước ta lại trọng chữ tín, thành thật muốn hai nước ở kề nhau có hòa hiếu để dân được sống yên ổn làm ăn. Nhưng vua nước ta lại không đề phòng sự gian giảo, bội ước của vua nhà Triệu. Nàng Mỵ Châu lại ruột để ngoài da. Cha vậy, con vậy thì giữ nước làm sao được? Nhưng câu chuyện lại cho thấy điều đáng trọng không khinh được vua Thục là: Người đã phải tự chém con gái mình và tự xử án mình bằng hành nhảy xuống biển về tội để mất nước chứ không cam chịu nộp mình cho giặc nước.

    Quan Phó bảng Sắc hơi sững sờ nhìn hai con, nhìn ngôi đền thờ Thục Phán :

    – Con nói đúng. Nước có lúc thịnh, lúc suy. Đó là điều thường thấy trong trời đất. Nhưng con người ta lại phải biết giữ trọn khí tiết. Vua Thục Phán thuộc loại đó. Con hãy để ý về phong cảnh núi non, đền đài. Con vừa hỏi cha về hòn núi kia giống một người cụt đầu. Người ta thường gọi nó là hòn Hai Vai hoặc là núi “Tướng-quân-rơi-đầu” đó con ạ. Còn phía xa xa kia là hòn Trống Thủng. Từ hòn Trống Thủng một dãy núi dài dằng dặc sát chân trời, đó là núi Cờ Rách.

    Hai mắt Côn chơm chớp nhìn theo hướng tay chỉ của cha. Khiêm thì ngạc nhiên thất lên :

    – Ai tưởng tượng ra đầu tiên hình dáng các hòn núi nớ (ấy) hẳn là mắt tiên, cha nhể?

    – Từ lòng người mà suy ngẫm ra… con ạ. Người ta còn gọi vùng núi ấy là Vùng Ba Hòn. Theo chuyện kể từ hồi xửa hồi xưa thì nước ta có giặc từ phương Bắc tràn vào, dân ở khắp miền đất nước ta nhất tề đứng dậy chống giặc giữ nước. Từ vùng Nghệ Tĩnh ni có một vị tướng kéo đại binh ra Bắc đánh dư trăm trận, chẳng may trong một trận giáp chiến con ngựa của ông vấp phải cọc qụy chân trước, bọn giặc xúm lại, ông bị một lát đại đao đi qua cổ, đầu rơi xuống đất. Ông nhoai người ra lấy được đầu lắp lên cổ và phi ngựa mở đường máu chạy trở về. Quân sĩ của ông cũng kéo cờ mở trống về theo. Trên đường về, vị tướng này đã gặp một ông lão tại phía Bắc sông Mã (Thanh Hóa). Vị tướng dừng ngựa hỏi:

    – Thưa ông từ xưa đã có người nào bị chặt đầu, lại chắp lên cổ mà sống được không?

    – Thưa tướng quân, sống được ạ.

    Vị tướng lại thúc ngựa phi về tới Diễn Châu, quân sĩ bủa ra tận vùng Yên Thành. Vị tướng gặp một bà già ở phía Nam sông Bùng liền hỏi :

    – Thưa cụ xưa nay có người nào bị chặt đầu, lại tự mình chắp vào cổ mà vẫn sống được không?

    Bà cụ lắc đầu :

    – Loài quỷ, loài yêu tinh thì mới có thể bị chặt đầu này mọc ra đầu khác, còn loài người thì nếu bị chặt đầu là chết.

    Bà cụ vừa nói dứt lời, đầu vị tướng quân rơi xuống đất. Và ông đã hóa thành hòn núi Hai Vai. Ngựa của ông chạy thêm một đoạn lên vùng Yên Thành, hóa núi Mã Phục, tại làng Yên Mã. Trống, cờ cũng hóa thành núi Trống Thủng, núi Cờ Rách…

    Nghe cha kể xong câu chuyện, Khiêm vẻ mặt đăm chiêu nghĩ ngợi… Côn mắt vẫn nhìn về hòn lèn Hai Vai, nói :

    – Cha ơi! Ước vọng của dân ta thật là đẹp. Tưởng tượng của người ta đến là tuyệt! Phải không cha?

    – Con nói đứng. Dáng núi non của quê ta thường thể hiện sự khát vọng của con người.

    Một hôm ba cha con quan Phó bảng Sắc đi qua xã Bạch Ngọc, thấy đền Quả Sơn uy nghi hơn cả đền Thục Phán An Dương Vương. Côn lại ngạc nhiên hỏi cha :

    – Chắc vị thần ni có công lớn lắm cho nên mới được dân làm đền thờ nguy nga, cha nhể?

    – Đền ni thờ một ông quan đời nhà Lý đó con ạ.

    – Quan trường mà cũng bắt dân làm đền thờ! Ồ! Tệ quá phải không cha?

    – Con nghĩ hơi xốc nổi đó. Trong đám người làm quan có kẻ bất tài, đục khoét nhân dân, lại có người tài cao, đức trọng, làm lợi cho dân, được dân nhớ ơn làm đền thờ phụng. Con nên nhớ đền Quả Sơn ni là nơi thờ quan Lý Nhật Quang. Ngài là con thứ tám của vua Lý Thái Tổ, được phong tước Uy Minh hầu. Năm Tân Ty, vua Lý Thái Tông cử Lý Nhật Quang vào làm quan coi giữ đất Nghệ. Ngài đã có công mở mang bờ cõi dẹp yên giặc phía Tây, phía Nam của đất nước. Chính ngài đã giết chết vua Chiêm là Sạ Đẩu khi Sạ Đẩu đem quân xâm lược nước ta. Nghề nông, nghề tằm tang, dệt lụa, đánh cá, làm muối được sớm thịnh hành khắp xứ Nghệ là do công lao của quan Lý Nhật Quang. Khi nghe tin triều đình vời Lý Nhật Quang trở về Thăng Long, dân Nghệ đã lũ lượt kéo đến tỉnh đường xin quan ở lại tiếp tục chăn dân. Nhưng ngài đã không thể làm khác với lệnh của triều đình được. Trên đường ngài về Thăng Long, bọn nịnh thần đã đón giết vì sợ có ngài tại triều thì chúng sẽ bị vạch mặt… Nhân dân Nghệ An nghe tin dữ ni đã tự ý để tang ngài và lần lượt làm ba mươi hai ngôi đền thờ Uy Minh hầu Lý Nhật Quang…

    Nghe xong câu chuyện của cha kể, Côn im lặng một hồi lâu. Côn nói như khoe với cha về điều mình thích thú :

    – Bây giờ con mới hiểu ra cái ý nghĩa câu vè mà bà ngoại thường nói vui :

    Dân vạn đại, quan nhất thời,

    Ghế quan ai ngồi xin chớ thờ ơ.

    Thương dân, dân lập đền thờ,

    Hại dân, dân đái ngập mồ thối xương.

    Quan Phó bảng vừa cười vừa nói :

    – Bà ngoại nói không phải để mua vui đâu mà bà dạy cha, dạy những người có học, có chức trọng quyền cao đó con ạ.

    Quan Phó bảng Sắc đã dẫn con trai đi hầu khắp những nơi nổi tiếng về phong cảnh đẹp, về di tích lịch sử của Nghệ An. Ông lại đưa hai con sang Hà Tĩnh. Hai anh em Khiêm, Côn được cha dẫn về thăm nhà thờ họ Nguyễn Tiên Điền, thăm mộ đại thi hào Nguyễn Du. Côn tần ngần đứng bên cha, bên anh trước mộ Nguyễn Du và chạnh lòng thầm nhớ những câu thơ trong truyện Kiều :

    Sè sè nấm đất bên đường,

    Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng, nửa xanh.

    Rằng sao trong tiết thanh minh,

    Mà đây hương khói vắng tanh thế này ?…

    Côn hỏi cha :

    – Nguyễn Du đã để lại Truyện Kiều mà bà ngoại thuộc mẹ của con thuộc, dì An và bao nhiêu người ở làng ta đều thuộc. Công lao lớn ấy sao dân lại không làm đền thờ ông Nguyễn Du, hả cha?

    – Người quê mình không coi công việc làm thơ, làm văn là trọng, con ạ. Thậm chí lại coi những người đàn giỏi hát hay là “đồ xướng ca vô loài”.

    – Sao con lại thấy có ngôi đền thờ thằng ăn trộm bị đánh chết, hả cha?

    Quan Phó bảng phì cười :

    – Cha làm sao giải thích nổi những điều ấy với con được?

    Khiêm chau da trán, nhưng đã kìm được, chỉ nói “mát” em :

    -Việc đời đã dớ dận mi lại “thông minh” dớ dận nốt.

    – Hứ, – Côn lườm anh Khiêm – anh đừng có khinh em là dớ dận. Anh không để ý chứ vừa rồi ta đi qua một cái miếu thờ cả cái tên ăn trộm ăn cướp nữa. Trước cửa miếu có một hàng chữ lớn, đắp nổi : “Đạo tặc tối linh tôn thần”.

    Khiêm im lặng. Ba cha con quan Phó bảng như rơi vào khoảng không và trong dòng suy nghĩ của mỗi người hiện lên một câu hỏi lớn về những việc đời…

    Trong chuyến đi về Hà Tĩnh, quan Phó bảng Sắc lưu lại huyện Đức Thọ một thời gian. Phần nhiều, cha con ông ở trong nhà ông Phạm Khắc Doãn. Côn đã được dịp nhìn tận mắt những dấu tích tội ác của thực dân Pháp vừa gây ra tại vùng này, là quê hương của Phan Đình Phùng , là đất đứng chân của nghĩa quân Cần Vương trong suốt mười năm ròng.

    Một hôm, đám trẻ làng Đông Thái nô nức đến xem dinh thự của Hoàng Cao Khải, phụ chánh đại thần, tước quận công, vừa xây xong.

    Giữa làng quê rợp bóng tre cao vút lên những tòa nhà to lớn, bốn phía tường cao bao bọc. Qua cổng vào là một dãy tường hoa. Trước sân, một bể cạn lớn, cây si già hòn non bộ. Ba ông Lã Vọng ngồi thu lu trên các bậc đá. Tuy là từ nơi khác mới đến, Côn vẫn đi ở hàng đầu đám trẻ tới dinh quận công họ Hoàng. Từ ngoài hàng cây đầu làng cột vô số ngựa của các quan ở xa về dự lễ khánh thành dinh cụ quận. Những chiếc xe kéo gọng đồng vàng chóe, những chiếc cáng điều, cáng vóc để san sát trong vườn cây. Trong sân gạch, các quan khách đang ngồi trên những bộ ghế tràng kỷ, ghế bành tượng bằng gu khảm xà cừ, lót nệm gấm, vóc điều. Các quan khách đang hướng cả tâm trí về hòn non bộ. Theo ý muốn của Hoàng Cao Khải, mỗi vị khách tặng cho một bài thơ tứ tuyệt mà hòn non bộ là đề tài. Trong lúc các quan đang say sưa bình thơ, uống rượu vui vẻ đám trẻ làng Đông Thái đứng ngoài tường hoa xô nhau nhốn nháo ngấp ngó vào sân. Côn vẫy tay về phía sau :

    – Im nghe bình thơ kìa!

    Có tiếng đáp lại :

    – Thơ của các quan nỏ hay, nỏ thích.

    Mấy tên lính hầu rượu nghe giật mình. Các quan đều nghiêm mặt nhìn ra đám trẻ. Một tên lính toan chạy ra đuổi đánh đám trẻ, nhưng ông Hoàng Cao Khải vẻ cao đạo, rộng lượng của một ông quan đại thần đang ở tại làng, nói :

    – Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò. Chấp chi câu nói của đứa học trò đồng ấu ấy.

    Hoàng Cao Khải chống can (47) đi ra. Đám trẻ từ ngoài xa đã ùa chạy. Hoàng Cao Khải dụ dỗ :

    – Các cháu đừng sợ. Lại đây ông cho kẹo. Cháu nào lúc nãy chê thơ các quan nếu làm được thơ hay ông sẽ thưởng nhiều thứ đẹp lắm.

    Đám trẻ làng Đông Thái vẻ sợ sệt đã lần lần theo Côn, đứng xúm xít trước lối vào sân nhìn Côn, vẻ cầu cứu. Côn nhìn các bạn rồi quay sang nói với Hoàng Cao Khải:

    – Ông ơi, ông phải hứa không đánh cháu nếu thơ cháu không vừa ý của ông.

    – Ồ! Đời nào ông lại nỡ đánh mắng cháu, dù cho cháu có làm điều chi dại dột.

    Côn đọc chậm rãi, mắt đăm chiêu nhìn Hoàng Cao Khải :

    Kìa ba ông lão bé con con

    Biết có tình gì với nước non.

    Hoàng Cao Khải gật gật đầu, đắc ý. Đám quan khách cũng nhìn cả về phía Côn, lắng nghe, vẻ khâm phục. Côn đọc tiếp :

    Trương mắt làm chi ngồi mãi đó

    Hỏi xem non nước mất hay còn?

    Hoàng Cao Khải căng tròn cả hai mắt nhìn Côn. Giọng y hơi rung :

    – Thằng bé ni con ai? Con nhà ai hề?

    – Con quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc bên Nghệ An ạ.- Một em nhỏ đáp.

    Hoàng Cao Khải cầm cái can không vững, đi trở vào. Y nói lầm bầm :

    – Hổ phụ sinh hổ tử…

    Chú thích:

    (46) Nếu vui niềm vui của dân thì dân cũng vui niềm vui của mình – Sách Mạnh Tử

    (47) Gậy

    Chương II: THỜI NIÊN THIẾU

    Những ngày sửa soạn theo cha lên đường vào kinh đô Huế lần thứ hai, Côn bận rộn với nhiều thứ việc không lường trước được.

    Côn theo cha đi đắp đất, thắp hương ở mộ ông bà nội, mộ ông bà ngoại. Anh Khiêm và Côn bưng trầu, rượu đi với cha cúng thần ở đền, cúng tổ họ bên nội, họ bên ngoại. Hai anh em Côn còn đến chào thầy Vương Thức Quý. Thầy cử Quý đã tặng cho hai người học trò giỏi này bộ sách “Nhất nhật t am tỉnh ngô thân” (58). Ông nói :

    – Sách này là của thầy soạn ra và chép thành nhiều bản để cho con cháu dùng. Nay hai trò đi xa quê, xa thầy theo cha vô kinh đô, thầy không có thứ chi đáng giá để tặng, xét thấy tập sách này là tâm huyết của thầy thầy đem tặng hai trò. Tập sách sẽ thay thầy nói tiếng nói của lòng thầy với hai trò.

    Lúc thầy cử Quý tiễn hai anh em Khiêm ra tới gốc cây đào trước vườn ông cầm tay Côn nói, lòng ấm áp :

    – Chuyến đi xa quê lần này của con, thầy tin là con sẽ được thành đạt như con đã làm một vế đối vượt cả cái vế thầy ra cho cả lớp. Con còn nhớ vế câu đối ấy chứ?

    – Thưa thầy con vẫn nhớ ạ.

    – Dù con chưa quên vế câu đối của mình làm ra, nhưng thầy muốn ôn lại kỷ niệm của buổi dạy học hôm ấy – ông đặt tay lên vai Khiêm, nói : – Hẳn là trò Khiêm còn nhớ lúc thầy rót dầu vào đĩa đèn, vì vô ý để dầu vương ra đế đèn, thầy đã ra cho các trò một vế câu đối : “Thắp đèn lên dầu vương ra đế”…

    Khiêm đáp:

    – Con đã đối: “Đốt nhang rồi gió quạt bay tàn”. Nhưng thầy biểu : “Đối được, nhưng nghĩa còn hẹp, ý còn cạn. Các bạn khác cũng đối được tương tự như con”. Riêng vế đối của Côn được thầy khen hơn cả…

    – Quả thật – ông cử Quý dặt dặt bàn tay vào vai Khiêm mà mắt vẫn không rời Côn – con đã để lại trong trí thầy một vế câu đối sẽ không bao giờ phai mờ : “Cưỡi ngựa dong thẳng Tấn lên Đường” (59). Hôm nay con lên đường, thầy chúc con “thẳng tấn” đến đích lớn mà con mơ ước.

    Ở nhà thầy học về, hai anh em Côn đến chào bác Thuyết. Vợ chồng ông Thuyết đã làm mâm cỗ to cúng gia tiên cầu yên cho việc đi của cha con quan Phó bảng Sắc được “chân cứng đá mềm”. Trong bữa ăn sum họp này, bà Thuyết đã kể lại với ba cháu, vẻ hối hận, về sự cư xử của mình không đúng với em chồng – quan Phó bảng Sắc – hồi còn bé. Nhưng, quan Phó bảng Sắc với thái độ của một người đại lượng, nở nụ cười đôn hậu, nói :

    – Hồi còn nhỏ tôi cũng có những việc dại dột, bác nổi nóng lên thì mắng, khi lặng lại thương chớ chả có chi là quá cả. Việc chi đã qua rồi là ta bỏ quá đi, bác ạ.

    Côn bâng khuâng nhiều trong buổi chiều đi cùng cha sang làng Sài, quê của bà nội.

    Côn không được biết mặt bà nội nhưng hình ảnh bà nội như từ trong tranh tố nữ hiện ra đang cùng đi với con, cháu trên đường làng rợi tiếng ve. Tiếng ve trên quê hương bà nội lại đánh thức những kỷ niệm tuổi thơ trong tâm trí của Côn. Càng gần tới ngày lên đường, Côn càng thấy nao nao. Côn đến từ giã các bạn học, bạn chơi diều giấy, bạn đi săn chim chóc, đánh khăng, đánh vật, đánh đáo. Xin phép cha, Côn đón các bạn về nhà ngủ chung mấy tối cuối cùng. Côn trải chiếu xuống sân. Trăng giữa tháng mập mạp đính vào nền trời mờ ảo. Đám bạn của Côn nằm chéo ngang, chéo dọc gối đầu lên nhau, ngửa mặt nhìn trăng, miệng nhai ngô rang. Câu chuyện của họ cũng giòn như ngô nổ… Côn và Khiêm vẻ bận rộn chạy ra chạy vào, đem nước, đem các món ăn ra tiếp bạn. Chị Thanh quý bạn của em như quý bạn của mình. Cô lo việc rang ngô, rang nhộng, bổ dừa giúp em. Thấy chị ngồi trước bếp, mồ hôi ướt áo, Côn ái ngại :

    – Vì chúng em mà chị mang lấy cái mệt vào thân, chị nhể?

    Thanh cười hiền :

    – Mai kia hai em đi với cha, nhà lại vắng tanh vắng ngắt, còn đâu có những cái đêm vui như đêm nay.

    – Chị Thanh ơi, – bạn của Côn gọi – chúng em sẽ “làm giặc” ở cái nhà ni còn hơn cả lúc hai em trai chị ở nhà, chỉ sợ lúc ấy chị lại mắng bọn em về “tội” đến luôn mòn đường chết cỏ thôi.

    – Nhớ nhá, – Thanh nói – các em nhớ nhá. Mặt trăng còn đó, chị còn đây để coi lúc Khơm, Côông vắng nhà, các em có giữ đúng lời đã hứa không?

    Sân trăng đầy tiếng cười. Côn và các bạn lại xoắn xuýt với nhau trong dòng chuyện dưới ánh trăng. Thanh tắt bếp định lên võng nằm thì một bà hàng xóm khua gậy, đánh tiếng từ đầu ngõ :

    – Cô chiêu (cách gọi con gái nhà quan) còn thức hay ngáy (ngủ) rồi?

    Nghe tiếng gọi quen thuộc, Thanh đứng ở cửa bếp đáp :

    – Mời cố vô nhởi (chơi), cháu chưa đi nghỉ mô.

    Bà hàng xóm ngồi ở cái chõng tre, tựa vào vách, lối cửa ra vào. Thanh đưa cho bà một miếng trầu, bà cụ lần dải lưng lấy cái cối giã trầu, tay ngoáy ngoáy giã, giọng bà nói, miệng không còn kín hơi, phều phào :

    – Nghe tin quan sắp trẩy kinh. Hai cậu ấm cũng trẩy theo. Chờ lúc ni quan vắng nhà tui mới dám sang, tui nhờ cô chuyển tới quan và hai cậu ấm sự biết ơn của tui.

    – Ấy chết! Cố dạy quá lời chứ cha cháu và chúng cháu chỉ có cái bụng ăn ở với xóm giềng cho phải chả giúp đỡ cho ai việc chi đáng kể cả.

    – Dân làng ni đã được hưởng lộc của quan Phó bảng ngay cái dịp quan vinh quy bái tổ. Ai lại quên được cái ơn ấy cô! Bà cụ giọng xúc động : – Cô ơi! Từ đời xửa đời xưa thì tui không rõ. Nhưng, từ lúc tui có mắt để nhìn, có tai để nghe thì tui chưa từng thấy, chưa từng nghe ở xứ mình có người từ chối bổng lộc, đem phần bổng lộc của mình chia cho người đói khát trong làng như quan Phó bảng ta. Mà nhà quan cũng nghèo chứ đâu giàu có chi kia chứ!

    Bà cụ vừa nhai trầu vừa nhìn ra sân. Dưới ánh trăng ngà, các bạn nhỏ vẫn đang nằm gác chân lên nhau và đang dốc vốn chuyện ra “đãi” nhau đêm vui cuối cùng rồi ra chưa biết ngày nào anh em Côn mới có dịp về thăm quê. Bà nói, giọng dè dặt :

    – Cô ơi! Tui thưa với cô cái việc kín ni, vì cậu ấm Côông đã dặn tui không được để đến tai quan Phó bảng , cũng không được nói lại với cô và cậu ấm Khơm.

    Cô Thanh hơi sửng sốt :

    – Có việc chi… hệ trọng rứa cố?

    – Nói giấu chi cô. Cậu Côông làm phúc cho người nghèo. Hồi tháng tám năm ngoái và dịp giêng, hai vừa qua, tui bị đứt bữa… đã mấy ngày không đỏ lửa bếp, bụng đói cồn cào, mắt mờ, chóng xoay mặt mày… Cậu ấm Côông gặp tui đang moi một cây chuối tơ ăn cầm hơi. Cậu đã về xúc gạo, khoai lát khô cho tui. Cậu dặn tui là không được cho ai biết.

    Cô Thanh ngồi duỗi hai chân ra thềm nhà thoải mái, nói :

    – Cháu ngỡ là cái việc chi chớ việc nó xúc gạo, ngô, khoai của nhà đưa giúp những người đứt bữa lỡ nồi, cha cháu đã biết cố ạ… Vừa qua cũng có mấy người đến “mách” với cháu việc hai em cháu thường xúc trộm gạo cho họ lúc đói giáp hạt. Lần đầu cháu cũng rầy la hắn, nhưng cha cháu biểu : “Nếu nó lấy trộm của trong nhà đi đánh bạc, hoặc làm điều vô lương thì phải ngăn cản, còn nó đem giúp những người đói là tốt”.

    – Rõ là – bà cụ thở phào, nói – con nhà tông, giống lông giống cả cánh. Cái đức của quan Phó bảng sáng như ngọc nên chi con gái, con trai của quan đều “thương người như thể thương thân”. Mới rồi, tui sang làng Chùa thăm một người bà con. Tui gặp bà em họ. Bà nớ cứ siếc sẩm với tui về chuyện năm nọ, cậu ấm Côông trêu chọc bầy chó, chúng nó sủa dai quá, bà đã nổi nóng nói lời phũ phàng và lời nói nớ đã thấu tai quan Phó bảng . Quan đã phạt cậu ấm và quan còn đến nhà xin lỗi cho con. Bà càng hối tiếc trước sự nhún nhường của quan Phó bảng . Mà bà cứ nghĩ là cậu ấm Côông bị cha phạt nặng vậy, chắc oán bà lắm. Nỏ hay, hôm bà đi gánh rạ ngoài đồng về, bị đứt chạc, xổ tung giữa đàng. Vừa lúc cậu ấm Côông đi tới. Cậu ấm đã dừng lại bốc rạ và bó giúp cho bà. Bà em họ của tôi càng ngượng với cậu ấm. Bà định phân bua với cậu ấm về cái chuyện cũ, nhưng cậu ấm đã nói chặn ngay : “Cháu đã nghịch quá trớn. Bà có mắng cháu nặng lời lúc bà còn quá giận cũng đúng lắm. Cháu đã nhận ra cái sai của mình rồi, bà ạ”. Cậu ấm còn gánh rạ giúp bà về tận ngõ…

    Đêm yên tĩnh. Một vài tiếng chó sủa phía bìa làng. Thanh đưa chân bà cụ ra ngõ và khép cánh cổng tre lại ánh trăng như tấm lụa khoác lên mọi cảnh vật. Thanh đi rón rén, sợ làm dở giấc của hai em đang êm gối trên đùi bạn dưới ánh trăng khuya.

    Trường Tiểu học Pháp – Việt của tỉnh Thừa Thiên xây dựng trên nền chợ Đông Ba cũ, ở ngoài quách cửa Chính Đông. Năm 1899 chợ Đông Ba dời ra ngoài. Cái đình chợ dùng làm trường học. Người ta ngăn làm năm gian, bốn gian là bốn lớp, một gian còn lại làm văn phòng nhà trường. Trường Tiểu học tỉnh Thừa Thiên mang tên Đông Ba là từ cái tích ấy.

    Thành và Đạt đã tháo vòng bạc khỏi cổ, mặc quần áo bà ba trắng, lúc đến trường thì mặc áo dài đen. Phạm Gia Cần cũng cải cách việc ăn mặc và cùng vào học trường Đông Ba với anh em Thành. Thành vừa tới cửa trường; những bạn nhỏ thành nội năm xưa đã ùa đến xúm quanh, hỏi tíu tít… Các bạn vẫn quen gọi anh là Côn. Phạm Gia Cần nhắc :

    – Côn là tên “lót ổ” thôi nghe. Chúng mình phải gọi Tất Thành, tên chữ của bạn ấy.

    Diệp Văn Kỳ ôm choàng lấy cổ Thành, du qua du lại nói :

    – Nghe nói Côn… ờ quên, nghe nói Thành trở vô đây đã gần một tháng nay mà bọn mình không biết chỗ ở để đến chơi.

    – Vì – Thành nói – chưa có chỗ ở hẳn hoi, mình chưa tiện đi đón hoặc nhắn tin các bạn đến với mình. Nay thì gia đình mình đã dọn đến ở tại thuộc viên, dãy nhà bên trái sau cửa thành Đông Ba…

    – Ồ! Gần… gần đây thôi. – Đám bạn thành nội reo to lên.

    Kỳ hớn hở :

    – Tan học bọn mình kéo đến nhà Thành nhá…

    Thành nhìn như đếm từng kỷ niệm đọng trên những gương mặt quen thuộc từ tuổi ấu thơ. Anh hỏi Kỳ :

    – Mệ Minh Huệ và bạn Hạnh (Lê Thị Hạnh) có đi học chữ mới không?

    – Hai “bà” ấy ham cái chữ “dắt dây” hơn cả loại chữ “vẽ bùa” cũ kỹ đó. Họ đang học ở trường Tam Toà (64) ấy…

    Thành cười hiền, giọng buồn buồn :

    – Mình về quê đã gần bốn năm, nhưng mình vẫn canh cánh bên lòng cái ơn của các bạn đối với mình lúc gặp hoạn nạn. Lúc mệ chết, mình bối rối, lại còn đang thơ dại chưa nghĩ thấu, nay mình đã biết nghĩ càng thấm thía tấm lòng của các bạn hồi đó…

    – Nhắc chi chuyện buồn đã qua, hả Thành?

    – Đâu phải chỉ là nhắc mà mình phải nhớ nghĩa của bạn bè. Nên về quê, mình đã kế lại cho bà ngoại của mình nghe chuyện bạn bè giúp đỡ trong lúc mệ chết, cha đi vắng chưa về. Bà mình khóc. Bà dặn mình : “Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Cháu được các bạn vun tay vô giúp đỡ lúc cháu gặp cảnh tối lửa tắt đèn thì phải nhớ đời. Nhớ ơn đền nghĩa là người có thủy có chung. Nhiều khi mình chẳng có dịp đền đáp công ơn của người giúp mình mà lại giúp đỡ người khác lúc hoạn nạn thì đó cũng là cách nhớ ơn đền nghĩa…”

    Đám bạn thành nội xúc động về tấm tình sâu sắc của Thành. Họ đang nói dở câu chuyện tình bạn cũ thì tiếng trống trường đã nổi lên… Tất cả xếp hàng, trật tự bước vào lớp.

    – Hầy! (Thành giật mình nhìn lên, cười với Kỳ) Đây rồi! Bắt gặp đây rồ i… Ấy ! Thành đọc… Răng mắt… Thành khóc?

    – Mình đọc thư của chị Thanh mới gửi vô. – Thầy và anh Đạt về rồi. Còn có một vị khách cũng về với thầy nữa. Thầy cho mình đi tìm Thành về. A nh Đạt đang đun nước pha trà.

    Cầu Thành Thái sau bao ngày gãy gục đã được dựng lại. Nó như chiếc đòn gánh, một đầu gánh những lâu đài nhà Nguyễn bên tả ngạn, một đầu gánh những dinh thự thực dân Pháp bên hữu ngạn sông Hương. Nguyễn Tất Thành trên đường đến trường Quốc học đi trên chiếc “đòn gánh” ấy, mắt nhìn đau đáu hai bờ sông Hương nặng trĩu hai đầu gánh. Anh bồi hồi nhớ về một câu hò của người chèo đò trên sông đã cất tiếng lên trong một đêm khuya vắng :

    …Lập lên trường thi võ đua tài

    Cớ mần răng cửa Thuận An, Tây đóng

    Trấn Bình Đài, cờ Tây treo ?

    Nước sông Hương thơm nức

    Dòng sông Hương trong veo

    Cầu tên vua gãy nhịp khác chi thuyền gãy chèo giữa khơi…

    Trước đây đã bao nhiêu lần Tất Thành đi với anh Tất Đạt, với bạn bè qua cổng trường Quốc học. Nhưng, Thành chẳng để ý tới cái “Thiên đường trường học” này làm gì. Giờ đây, khi anh đã là “sĩ tử” của cái “thiên đường” này, anh mới thấy hết, càng ngạc nhiên và lòng đầy ngờ vực khi nhìn kỹ nó. Cổng trường bằng gỗ lợp ngói, bên trên là cái gác chuông, kiểu kiến trúc cổ. Hai bên là hai con rồng nổi, ghép bằng mảnh sứ. Cổng trường nhìn đối diện cửa Ngọ Môn, ở bên tả ngạn sông Hương. Trên cổng trường gắn tấm biển nền đỏ, chữ vàng : “Pháp tự quốc học trường môn” bằng chữ Hán. Trên hàng chữ Hán này lại có hai chữ quốc ngữ đắp nổi: “Quốc học”. Trong đầu anh hiện lên chồng chồng lớp lớp những dấu hỏi : Trường Quốc học? Chữ Pháp? Trường học lớn nhất của nước nhà sao lại lấy chữ Pháp làm chính? Phải chăng từ nay chữ Pháp là quốc tự của Việt Nam ? Và Việt Nam đâu còn là tên của nước mình nữa, mà là “xứ Đông Pháp” rồi! Dưới bậc Tiểu học họ đang còn mị dân mình bằng cái tên ghép : Trường Pháp – Việt. Lên bậc trung học, các quan thực dân Pháp không giấu mục đích thực dân của họ : Trường Quốc học chữ Pháp. Nghĩa là trường học của nước Pháp dạy tiếng Pháp, đào tạo người làm việc cho nước Pháp ở ngay trên xứ thuộc địa của nước Pháp… Anh lại tự nhủ : Thầy Lê Văn Miến được người Pháp đưa sang Pháp đào tạo với mục đích lúc về xứ sở sẽ là một tay sai đắc lực trong bộ máy cai trị, nhưng thầy Miến lại lựa chọn cho mình một hướng đi khác…

    Tất Thành cảm thấy mỉa mai cho cái cơ ngơi “Thiên đường trường học” vốn là doanh trại đội lính thủy hoàng gia, với hai dãy nhà tranh, phên nứa. Mỗi dãy nhà ngăn ra làm nhiều phòng nhỏ làm lớp học và phòng các bộ môn : phòng từ hàn (văn phòng, phòng luyện võ), phòng diễn thuyết, phòng khách, phòng diễn ảo thuật. Phòng ông Hiệu trưởng được tu bổ khang trang hơn hết…

    Nguyễn Tất Thành ngồi vào lớp học. Học trò đã ngồi gần kín các dãy ghế. Nhưng, ngoài sân trường còn có những chiếc xe song mã, xe độc mã… tiếp tục đến… Có tiếng xì xào : “Chà! Chà! Các mệ, các mụ chừ mới đến… Con cháu nhà vua có khác ! Đó… đó… mệ Hường Kiên, mệ Hường Đề, mụ Ưng Thuần, mụ Ưng Hoát, mụ Ưng Nghệ… Lại còn các cậu ấm con các quan đại thần cũng chừ mới đến trường!”

    Trong lớp im bặt. Cả lớp đứng dậy khoanh vòng tay trước ngực. Một thầy giáo người Pháp bước vào lớp, nói tiếng Pháp, giọng mũi : “Các trò ngồi xuống”. Ông điểm danh cả lớp. Thành ngồi ở hàng ghế gần cuối lớp, theo thứ tự A, B… Đạt ngồi ở hàng ghế vần Đ. Ông ghi số học trò có mặt và vắng mặt lên góc bảng đen. Ông giới thiệu cho học trò biết một số đặc điểm của lớp nhất trung học. Vẫn cái giọng mũi ồm ồm, ông nói :

    – Lớp nhất trung học của niên khoá này có một mệ, hai mụ. Nhưng, học trò của nhà trường này đều bình đẳng, không phân biệt đối xử.

    Trong lớp có tiếng xầm xì. Ông giáo người Pháp nhíu mày nhìn xuống, cả lớp im phăng phắc. Ông nói cao giọng hơn :

    – Trong lớp nhất trung học này có hai trò đã đậu bằng cử nhân và sáu trò bằng tú tài nho học. Đặc biệt có trò Phan Khải, quê tỉnh Quảng Nam , năm mười bảy tuổi đậu tú tài nho học.

    Thành nhìn về phía vần K Lê Đình Thám ngồi cạnh Thành nói khẽ : “Phan Khải tuổi Mậu Tý (1888), đậu tú tài khoa thi 1905 vừa rồi”. Tất Thành nói nhỏ với Lê Đình Thám : “Vậy ra anh Khải cùng tuổi với anh Võ Liêm Sơn và anh Tất Đạt của tôi”.

    – Võ Liêm Sơn quê Nghệ hay bên Tĩnh? – Lê Đình Thám hỏi rất khẽ.

    Võ Liêm Sơn ngồi ngay ở hàng ghế trước nên cũng nghe được và quay đầu về sau nở nụ cười với Thành và Thám.

    Ông giáo người Pháp vẫn tiếp tục nói về đặc điểm của lớp :

    – …Còn một đặc điểm nữa, tuy nhỏ nhưng đáng phải kể đến là, có hai cặp anh em ruột học cùng một lớp. Một là Lê Đình Dương, Lê Đình Thám, con quan tổng đốc Lê Đỉnh, quê Quảng Nam . Hai là Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành, con quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy thừa biện Bộ Lễ, quê tỉnh Nghệ An…

    Nguyễn Tất Thành hơi cúi nhìn xuống bàn, tránh những cái nhìn của các bạn trong lớp. Chân anh miết mạnh xuống đất. Đầu óc anh như một dòng sông chảy xiết : hình dáng ông thầy giáo người Pháp đang ở trước mặt anh lẫn trong bao nhiêu hình ảnh những tên thực dân Pháp với hành động dã man, kinh tởm mà anh đã gặp lúc tuổi thơ ở quê nhà, ở trên dọc đường thiên lý anh đi qua, ở tại kinh đô Huế.

    Ông giáo người Pháp chuyển giọng nói vui vẻ :

    – Trong lớp học khóa này có những cặp học trò là hai anh em ruột thì cũng có trường hợp ba anh em ruột cùng làm thầy giáo. Đó là thầy Hăng-ri Lơ Bơ-rít (Henri Le Bris), thầy Ơ-gien Lơ Bơ-rít (Eugène Le Bris) và cô giáo Y-von Lơ Bơ-rít (Yvonne Le Bris). Các trò còn có thể được học với thầy Lơ Bơ-rít Gơ-ri-phông (Le Bris Griffon), thầy Quai-nhắc (Queignac), thầy Lơ Bơ-rơ-tông (Le Breton). Nhưng các thầy thích được gọi bằng cái tên An Nam như là Lê Bá Tôn (Le Baston) – ông giáo Pháp cười khà khà. – Và thầy đây, – ông ta chỉ tay vào ngực mình – thầy đây cũng rất thích được gọi tên An Nam : Ngô Đế Mân, tức là No-đơ-măng (Nordeman). – Ông ta cười càng giòn hơn và giọng nói lại chuyển sang nghiêm trang : – Các trò còn có thể được học với các thầy người An Nam danh tiếng như thầy Lê Văn Miến, đã từng sang du học tại Pháp. Thầy Miến chẳng những là một sinh viên xuất sắc ở một trường lớn tại Pa-ri mà còn là một sinh viên giỏi, có tài của trường Mỹ thuật Pa-ri nữa. Rồi thầy Hoàng Thông, thầy Hồ Đắc Khải, thầy Nguyễn Đình Hòe… Thầy Hòe có biệt tài dịch thơ ngụ ngôn La Phông-ten (La Fontaine). Và nhiều thầy nổi danh khác nữa, các trò học lần lần sẽ biết…

    Khi kết thúc buổi khai trường, ông giáo No-đơ- măng nói dõng dạc trước lớp : “Trường Quốc học chữ Pháp nhằm mục đích đào tạo nhân tài có lòng trung thành tuyệt đối với nước Đại Pháp và có tinh thần phụng sự cho công cuộc khai hóa của người Pháp…”

    Từ “Thiên đường trường học” bước ra, Nguyễn Tất Thành lòng buồn man mác, anh gieo từng bước trên cái “đòn g ánh” gánh hai bờ sông Hương…

    Chú thích:

    (65) Đại ý : Đức lớn ở lòng, sự thông minh hiện lên trong mắt.

    (66) Có chí thì nên

    (67) Dựng nước giúp đời

    Sáng ngày hai mươi mốt tháng sáu, năm Đinh Mùi (30-7-1907) dòng sông Hương như một khúc ruột quặn đau.

    Mây của cơn giông từ đêm hôm trước đang tụ đọng từng khối đen đè nặng bầu trời kinh đô Huế!

    Chim không bay về!

    Hoa vườn Thượng uyển ủ rũ!

    Mặt người dân kinh đô nặng trĩu căm hờn, ánh lên trong mắt niềm thương nhớ đức vua. Mỗi nhà một nhang án, hương nghi ngút, đặt trước sân, đầu ngõ, và mọi người quần áo chỉnh tề tiễn biệt đức vua Thành Thái!

    Lệnh của tòa khâm : “Lính cấm trại, quan, viên chức túc trực tại triều”. Quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy mặc triều phục vào Bộ Lễ từ sáng tinh mơ. Trước lúc vào triều, ông đốt một nén hương vòng, đặt lên án thư giữa sân, vái năm vái.

    Thành cùng với anh Đạt nhập vào đám đông dân chúng. Từ cửa Đông Ba qua các ngả đường quanh Hoàng thành, dân lập bàn thờ hai dãy san sát.

    Trên các ngả đường đều có lính gác. Tại cửa Đông Ba, Thượng Tứ, Ngọ Môn, lính Tây lính ta đứng hai hàng. Tên Đờ La-xuýt chễm chệ trên lưng con ngựa chiến, ghìm cương cho ngựa đi nước xăm, dẫn đầu một đơn vị lính kỵ binh lướt qua lướt lại dọc đường thành…

    Từ bên hữu ngạn sông Hương, tên khâm sứ Lê-véc- cơ ngồi trong chiếc xe hơi hình thù như con bọ hung, qua cầu Thành Thái. Trên lầu Ngũ Phụng, tiếng vọi đồng cất lên : “Thần dân giữ trong nghiêm lịnh. Giờ đức vua lên đường biệt xứ bắt đầu”.

    Mọi người đứng tại chỗ, cúi đầu xuống. Nguyễn Tất Thành đứng nghiêm trang nhìn lên phía Ngọ Môn. Lòng anh đau thắt. Bên tai anh những tiếng khóc nức nở. Nhiều cụ già quỳ thấp xuống hai bên đường. Anh nhìn thấp thoáng đức vua chân đi giày hở gót, mặc thường phục. Theo sau đức vua là các quan cùng triều. Tên khâm sứ Lê-véc-cơ bước tới. Đức vua dừng bước. Tên sĩ quan cận vệ của hắn tiến đến bên vua. Hắn nói và hai tay làm điệu bộ – vì xa, Tết Thành không nghe tiếng tên khâm sứ nói những gì. Một tên sĩ quan cận vệ hai tay nâng ra trước mặt vua Thành Thái trang giấy khổ rộng và bút nghiên. Đức vua cầm ném xuống đất chửi vào mặt tên Lê-véc-cơ, rỗi sải bước qua mặt nó, đi lên phía trước… Dân chúng chắp tay vái theo vua Thành Thái…

    Cơn mưa chiều ập xuống kinh thành. Gió! Gió! Gió nổi từng cơn! Từng cơn gió xe mưa trong trời xa mù mịt!

    Ba cha con quan thừa biện ngồi trong nhà nhìn mưa. Thành hỏi cha :

    – Chúng con đứng đằng xa, chẳng rõ lão khâm sứ nói những gì mà đức vua đã không nén nổi giận?

    – Họ đã làm theo lệnh ông toàn quyền Bô (Beau); mua chuộc và cưỡng ép đức vua phải tuyên cáo với quốc dân về tội âm mưu chống lại nước Đại Pháp. Nếu đức vua chịu theo điều kiện ấy thì mới được trở lại nguyên vị. Nếu không thì bị đày đi biệt xứ qua bể châu Phi. (70)

    – Hừ! Người Pháp, người Pháp – Đạt kéo dài giọng – giở cái trò bần tiện quá!

    Thành hỏi thêm cha :

    – Đức vua Thành Thái đã cự tuyệt cái điều kiện hèn hạ ấy mà lúc lên đường đi đày biệt xứ, lão khâm sứ vẫn còn đón đường ép đức vua thì thật là dơ, phải không cha?

    – Cái kế ấy thâm độc lắm chứ con. Họ chọn lúc bắt đầu cất bước ra đi, mà là đi đày. Đó là lúc dễ mềm yếu nhất dễ bỏ nhân cách cao thượng, tiết tháo, để chọn lấy sự sống an nhàn, chịu tiếng hèn hạ. Do đó viên khâm sứ đã viết sẵn lời tuyên cáo đưa cho đức vua ký. Đức vua đã nổi giận. Đức vua ném giấy bút xuống đất, mắt đức vua long lanh, ngài nói với thần dân:

    Muôn dân nô lệ từng đàn,

    Vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta?

    Hỡi ôi mất nước tan nhà,

    Cừu thù quốc sỉ ấy là nợ chung.

    Cơn mưa chiều kéo dài. Tiếng mưa âm vang như nhữ ng tiếng nức nở của đất trời!

    Chú thích:

    (69) Gỗ cây mai già đun sôi để nguội

    (70) Thực dân Pháp đưa vua Thành Thái vào giam tại Ô Cấp (Vũng Tàu). Mãi đến năm 1915 chúng mới bí mật đưa ông sang đảo Rê-uy-ni-ông (Réunion). Ngày 3-5-1916 chúng lại đày vua Duy Tân, con vua Thành Thái, sang một chỗ với cha.

    Bóng cây in xuống vuông sân như bông hoa đen xòe rộng cánh. Những con bồ câu rỉa lông phơi nắng ở một góc sân. Mấy khóm hoa râm bụt lập lòe lửa đỏ bên bờ giậu xanh…

    Quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy mặc áo, đội khăn xong với lấy cái ô treo ở xà nhà :

    – Ta đi con!

    Nguyễn Tất Thành nâng cái khăn gói bằng vải tây điều khoác vào vai. Anh nhìn cha với đôi mắt băn khoăn. Quan Phó bảng quay nhìn bàn thờ vợ lần cuối. Làn khói hương vẫn bay lang thang khắp nhà tĩnh lặng ông hơi cúi đầu bước ra sân. Thành hạ thấp rèm cửa. Căn nhà kín mít im lìm. Đàn chim bồ câu rời khỏi góc sân chạy lúp xúp, bay là là theo bịn rịn bên chân cha con ông Phó bảng . Ông dừng lại:

    – Chim đòi ăn đó. Con vô lấy thóc cho chim ăn.

    Thành rê những nắm thóc xuống sân. Đàn chim xúm xít dưới bàn tay anh. Quan Phó bảng giương cánh ô lên, bóng ô đổ dài, lúng liếng trên mặt sân.

    Quan Phó bảng đi trước . Thành mang khăn gói của cha đi sau. Hai cha con lặng lẽ bước về hướng sông Hương. Gần tới bến đò, Thành sải bước đi gần bên cha :

    – Con sang đò với cha, cha nhá?

    Quan Phó bảng nhìn con :

    – Một mình cha đi thôi.

    Gió dưới sông càng thổi mạnh, cái ô như muốn tuột ra khỏi tay quan Phó bảng . Tà áo, ống quần của hai cha con bay lùa cả về phía sau. Đôi chân Nguyễn Tất Thành sải dài chắc nịch rướn lên gió ngược.

    Bến đò rộng thênh thang. Mặt sông mênh mông. Khách đợi đò đứng rải rác từng nhóm. Hai cha con quan Phó bảng dạo bước dọc ven sông. Thành nói, gió phả nhập nhòa giọng điệu :

    – Như con đã thưa với cha hôm nọ, học hết niên khóa này con sẽ đi vô miền trong. Con băn khoăn… lúc ấy con muốn tìm đến gặp cha thì…

    Quan Phó bảng chau mày. Chân ông bước hơi ngập ngừng, cái ô trên đầu ông chan đảo mạnh. ông nói, giọng cứng rắn:

    – Cha đã kính thư vào ông Hồ Tá Bang tổng lý (72) công ty Liên Thành. Nếu lập được trường học Dục Thanh tại Phan Thiết, có thể cha tới dạy chữ nho, con nhận một chân dạy chữ mới. Nhược bằng cha không đến đó, con càng phải cứng rắn tìm cho mình một hướng dung thân, nuôi chí lớn..

    Quan Phó bảng nét mặt tươi sáng, nhìn xuống sông, con đò đang từ từ cập bến. Ông đặt bàn tay lên vai con :

    – Anh Đạt của con ở ngoài quê vào, con nói lại với anh con những điều cha dặn. Với con, cha mong đợi rất nhiều . Cha đi nhá.

    Thành đưa hai tay nâng khăn gói trao cho cha. ông Huy giơ cao cái ô. Chân ông bước xiêu xiêu, bóng đổ về phía sau và ngắn dần. Ông đi giữa đám hành khách chen chúc xuống đò. Thỉnh thoảng ông ngoái đầu lại nhìn con…

    Thành xòe bàn tay che nắng nhìn theo cha. Con đò rời bến, mũi con đò như lưỡi gươm chẻ ngang dòng sông loang loáng xanh. Cái ô quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy như một cái nấm nhòa vào nắng quáng.

    Chú thích:

    (71) Đúng ra phải dịch là “Những người khốn khổ” (tác phẩm của nhà văn hào Pháp Vích-to Huy-gô).

    (72) Sau này gọi là tổng giám đốc.

    Nguyễn Tất Thành ngồi trong lớp nhìn lên bảng đen :

    Giờ học lịch sử cuộc cách mạng Pháp 1789.

    Ông giáo người Pháp Gơ-ri-phông (Griffon) bước vào. Cả lớp đứng dậy đều răm rắp. Ông ta bước lên bục giảng, đưa mắt “điểm danh” từng dãy bàn. Ông nói giọng thổ : “Các trò ngồi xuống. Hôm nay chúng ta học phần : Nguyên nhân nổ ra cuộc cách mạng 1789”.

    Giáo sư Gơ-ri-phông bước xuống bục, đi xuống đi lên giữa những dãy ghế học trò đang chăm chú chép bài. Tai nghe, tay chép lia lịa mà lòng Thành ngổn ngang với bao vấn đề của bài học lịch sử.

    “Nhà vua chỉ nhận tước phong của Thượng đế và có có trách nhiệm trước Thượng đế. Quyền của nhà vua không có giới hạn. Nhà vua có toàn quyền đối với tính mệnh và tài sản của dân.

    “Dân không có quyền mà có bổn phận vâng lệnh vua. Báo chí, sách vở không được in ra nếu chưa được kiểm duyệt. Nhà vua có quyền lấy tài sản của dân bằng mệnh lệnh tịch thu. Nhà vua muốn bắt giam người nào chỉ cần một tờ lệnh.

    “Nhà vua sống trong cung điện ở Véc-xay (Versailles). Có từ một vạn bảy ngàn đến một vạn tám ngàn quần thần mà số phục dịch vua và vợ con vua là một ngàn người. Mỗi năm nhà vua tiêu tốn cho mình là 50 triệu bảng (73), chiếm một phần mười lợi tức nhà nước.

    “Nước Pháp thời trước cuộc đại cách mạng 1789 có trên hai mươi sáu triệu dân, chia thành ba giai cấp : giáo hội, quý tộc, thứ dân. “Giáo hội là giai cấp đứng hàng đầu trong cả nước. Giai cấp này có độ một trăm ba mươi ngàn giáo sĩ được tổ chức thành một đoàn thể chặt chẽ. Nhà vua công nhận cho giáo hội quyền thu thuế nhận mọi bổng lộc, có tòa án riêng. Giáo hội chiếm một phần mười diện tích ruộng đất trong toàn nước Pháp, có nhiều lâu đài, biệt thự cho thuê ở khắp các thành phố lớn.

    “Giai cấp quý tộc được ưu đãi thứ hai sau giáo hội. Quý tộc gồm hai hạng : quý tộc dòng giống, thuộc dòng dõi chính thống; quý tộc hàm là hạng bỏ tiền mua từ những đời cha, ông trước.

    “Quyền lợi của đám quý tộc : mặc sắc phục riêng, ngồi ở hàng danh dự lúc vào nhà thờ, nơi yến tiệc; miễn để quân đội trưng dụng nhà, hưởng đặc quyền trước pháp luật, chỉ bị xử trước quốc hội mà thôi. Quý tộc còn được các quyền : sử dụng đất đai, quyền thu thuế quyền săn bắn, quyền xử án, bắt phu, ưu tiên qua cầu đi đường.

    “Giai cấp thứ dân gồm những người công chức nhỏ, sĩ quan cấp thấp, bác sĩ, kỹ sư, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, luật sư, thương gia, kỹ nghệ gia, thợ thuyền, dân cày”…

    Chép xong bài, cả lớp đặt bút xuống bàn, tháo ống áo lót cánh tay viết ra, ngồi nghe thầy giảng. Thành nhìn chăm chăm ông giáo Gơ-ri-phông mà anh không nghe rõ thầy giáo nói những gì. Trước mắt anh là một nước Pháp có cụ Vi-ta-li nhân từ thương yêu đùm bọc bé Rê-mi. Có Giăng Van-giăng đau khổ mà độ lượng, trọng lời hứa, nuôi nấng Cô-dét suốt đời ông. Có những người mẹ như má Bác-bơ-ranh, như Phăng-tin. Có gia đình bác trồng hoa A-canh, ai cũng tốt bụng. Có anh sinh viên Ma-ri-uýt hăng hái cách mạng, có em thiếu niên Ga-vơ-rốt dũng cảm. Và nước Pháp đầy rẫy những tên mật thám Gia-ve, những thằng người như Đơ-rit- xcôn, Tê-nác-đi-ê nham hiểm, đểu cáng (74).

    Càng nghe thầy giảng, dòng suy nghĩ của anh càng dài. Những câu hỏi lớn nối tiếp hiện ra theo các nhân vật mà anh đã gặp trong những trang sách thuê đọc ở quán sách cụ Lừa. Lòng anh càng trăn trở về một câu hỏi : Nước Pháp đã sinh ra được những nhà tư tưởng như Mông-tét-ki-ơ (Montesquieu), Rút-xô (Rousseau), Vôn-te (Voltaire) và Công-đoóc-xê (Condorcet)… Họ đã đề xướng ra Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Họ đã đấu tranh đòi quyền cơ bản của con người – Nhân quyền. Vậy mà ở đất nước Nam này lù lù cái ông Tây từ đâu đến chân lấm đầy máu của con người?

    Thành chợt tỉnh, trước mặt vẫn là ông giáo người Tây Gơ-ri-phông đang thao thao bất tuyệt :

    – Các trò về học thuộc bài. Học lịch sử là phải học thuộc tất cả những chi tiết trong từng sự kiện, từng thời đại từng ông vua, vị tướng. Các trò phải noi gương trò Nguyễn Văn Thơ, Hồ Đắc Ưng (75) hiện học ở lớp trên các trò. Trò Thơ đã nhớ tất cả năm sinh, ngày chết của các vua, các tướng, các danh nhân người Pháp và các biến cố trên thế giới. Còn trò Hồ Đắc Ưng lại có bộ óc biệt tài, đã nhớ hết tên các con sông, các dãy núi của nước Pháp. Trò Ưng còn thuộc làu làu tên nước, tên thủ đô, thành phố lớn của các quốc gia trên khắp hoàn cầu…

    Tan buổi học, cả lớp ùa ra sân. Thành nhìn quanh các phía không thấy anh Đạt. Thành bước dọc theo lối cỏ mịn, gương mặt anh trầm tư. Võ Liêm Sơn, Lê Đình Thám, Võ Chuẩn, Lê Thanh Cảnh ở phía sau chạy ùa lên cùng đi ngang hàng với Thành, cười đùa tíu tít…

    Bất chợt Sơn hỏi Thành :

    – Thầy Gơ-ri-phông đưa cậu ấm Thơ, cậu ấm Ưng lên tận mây xanh, Thành thấy sao?

    Thành nhìn Chuẩn và Cảnh :

    – Xin nhường để bạn Chuẩn và bạn Cảnh là hai bộ máy nhớ nhất lớp của chúng mình cho cảm tưởng trước.

    Chuẩn mỉm cười. Cảnh ít tuổi nhất nhóm nhanh nhảu nói :

    – Học thuộc tên các vua, tên sông, tên núi, tên các kinh đô, thành phố lớn có khó chi. Thầy nêu gương hai người trên lớp đàn anh là mẹo của thầy để chúng ta phải học thuộc bài…

    Thành mặt buồn buồn, lơ đãng :

    – Các anh ấy đã học lên được lớp cao, thuộc lòng được nhiều pho sử ký, pho địa dư của nước Pháp. Biết nhiều càng quý, không sợ thừa. Tiếc là hai anh ấy lại quên mất lịch sử nước nhà, chẳng nhớ nổi tên các con sông, các trái núi ở quê hương mình!

    Lê Đình Thám nói :

    – Có lần chính hai anh đến chơi ở nhà bác tôi. Ông bác họ tôi rặt lấy sức nhớ sử sách ở bên Pháp của hai anh ra so bì với đám con cháu trong nhà. Bỗng anh Thơ thấy trên án thư cuốn sách “Hồng Nghĩa giác tư y thư” của Tuệ Tĩnh, liền hỏi :

    – Sách thuốc của Tàu phải không thưa bác?

    – Cháu coi lại tên tác giả và đọc lời tựa thì biết.

    Bác tôi thấy anh Thơ lúng túng, lật giở pho sách trên tay một lúc khá lâu mà vẫn chưa phân rõ được là sách ta hay sách Tàu. Thấy vậy, bác tôi phải dẫn giải rạch ròi :

    – Tuệ Tĩnh là nhà đại danh y của nước ta. Ngài là người đầu tiên đặt nền móng y học Việt Nam với phương sách : “Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt”. Pho sách “Hồng Nghĩa giác tư y thư” của ngài có nghĩa là pho sách thuốc giác tư của vị danh y. Hồng Nghĩa tức là quê của Tuệ Tĩnh, làng Nghĩa Phú, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Còn chữ giác tư là gốc của câu : “dĩ tư đạo lý giác tư dân” nghĩa là lấy đạo lý này mà giác ngộ cho dân. Như vậy là nhà đại danh y Tuệ Tĩnh đặt tên sách với ý chỉ dẫn cho người làm thuốc nước mình một phương hướng trị bệnh cứu dân…

    Thành và mấy bạn học cùng lớp vừa đi vừa say sưa nghe Thám kể chuyện. Đi quá lối rẽ về Ao Hồ, Thành chia tay các bạn, trở về quán trọ. Trong tâm trí anh vẫn sừng sững một câu hỏi : Những nhà cách mạng Pháp (1789) đã dấy động dân chúng Pháp đánh đổ bọn thống trị tàn bạo, đặc quyền đặc lợi, giải phóng con người xác lập quyền cơ bản của con người mà quyền Tự do là trên hết, sao dân chúng Pháp vẫn còn “Những kẻ khốn nạn”, những kẻ “Không gia đình”? Anh tâm niệm : Điều cha mình nói chí phải : Công bằng viễn lộ hà xứ thị?

    Cuộc nổi dậy của người Thừa Thiên – Huế kéo dài đến ngày thứ tư thì bị dập tắt.

    Nguyễn Tất Thành bị cảnh sát săn đuổi. Anh phải sống ẩn náu trong nhà một vài bạn học mà cảnh sát và nhà trường không để ý tới. Thành được anh Đạt và một số bạn hằng ngày đem cho những tin tức mới ở trường, Tòa khâm sứ cho người sang trường Quốc học khiển trách về vụ học sinh đã tham gia biểu tình chống “nhà nước bảo hộ”. Tòa khâm còn ban bố lệnh : “Những trò nào chỉ là a tòng, vì bị rủ rê mà nhập đoàn nhập ngũ đi reo thì phải làm giấy tự thú với Hiệu trưởng mới được học tiếp. Những trò nào đứng ra hô hào dân chúng và học trò tham gia bạo loạn thì phải đuổi khỏi trường ngay”.

    Thầy Lê Văn Miến và một số thầy người Việt phản đối việc đuổi và bắt học trò làm giấy đầu thú. Viên khâm sứ nguyên có biết thầy Miến tại Pa-ri, đã nhiều lần mời thầy sang tòa khâm chơi, nhưng thầy từ chối. Thậm chí mỗi lần y đến trường Quốc học, cố ý để gặp thầy Lê Văn Miến, ông đều tránh mặt y. Lần này, đề lấy lòng thầy Miến, y đã “miễn tội” cho những học sinh tham gia vụ biểu tình chống bắt phu giảm sưu thuế của bà con nông dân Thừa Thiên – Huế. Nhưng, Nguyễn Tất Thành vẫn phải làm “tờ thư” nộp cho Hiệu trưởng và đi theo Hiệu trưởng đến tòa khâm để cam đoan từ nay về sau không được làm việc gì gây tổn hại đến “sự nghiệp của nhà nước bảo hộ”.

    Đạt đưa thầy Lê Văn Miến đến gặp Thành. Thầy Miến chân thành nói :

    – Trước ngày đi Bình Khê nhận chức, quan Phó bảng có dặn thầy : “… hãy vì tình bằng hữu giúp tôi trong việc chăm sóc các cháu Đạt, cháu Thành, đặc biệt là cháu Thành học tới thành chung”. Nếu quan Phó bảng không gửi gắm thì thầy vẫn làm phận sự ấy với hai trò. Thầy rất quý cái tâm, cái chí sáng của trò. Thầy muốn trò. chịu nhẫn nhục để học cho tới bằng thành chung rồi trò sẽ tự quyết con đường sống của mình…

    – Thưa thầy, – Thành nói từ tốn – con không lỗi đạo thầy trò. Vừa qua, con hành động đúng. Con đã có năm ba chữ, biết suy nghĩ, con sang tuổi mười tám rồi, con không thể thờ ơ trước việc đồng bào mình bị chà đạp, phải đứng dậy đòi được quyền sống. Con biết ơn thầy muốn giúp con được tiếp tục học đến đầu đến đũa ở cái trường này. Nhưng, thưa thầy, con cam chịu bị đuổi ra khỏi trường chứ không thể tự trói mình nộp mạng cho tòa khâm!

    – Thưa thầy – Đạt nói – vừa rồi Công tôn nữ Huệ Minh gặp con cho biết : mệ đã gặp vợ ông khâm sứ, nhờ xin cho Thành được trở lại tiếp tục học, do vậy mà tòa khâm mới có cái “đặc ân” gửi sang trường…

    – À! – Thầy giáo Miến hơi cúi xuống, vẻ ngạc nhiên. – Thì ra đằng sau cái việc tòa khâm cho trò Nguyễn Tất Thành được trở lại trường học còn có…

    – Thưa thầy – giọng Thành đanh lại – lão khâm sứ đã dám chìa bản “đầu thú” viết sẵn ra trước mặt đức vua Thành Thái giữa lúc vua bước ra khỏi hoàng cưng lên đường đi đày. Đức vua đã ném cái tờ giấy nhục nhã ấy xuống đất ngẩng cao đầu : “Muôn dân nô lệ từng đàn, vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta?…”. Thưa thầy, vua ung dung đi đày, không quay trở lại ngồi trên ngai vàng nô lệ. Cái ghế học trò! Con yêu nó như yêu cái thềm nhà in dấu vết con tập bò, tập đi. Nhưng con không thể chịu nhục ôm cái ghế để có mảnh bằng thành chung. Thầy hiểu cho lòng con…

    – Tất Thành! Con đừng nói thêm một lời nào nữa! – Thầy Lê Văn Miến hai bàn tay bưng lấy mặt nói. – Con hãy đi… đi theo tiếng gọi của lòng con…Thầy và vị thân sinh của con…

    Thầy giáo Lê Văn Miến nghẹn ngào nuốt trở vào những lời ông chưa kịp nói ra. Ông từ biệt Nguyễn Tất Thành, người học trò đã để lại trong tâm trí ông cái ấn tượng như con số 1 đứng ở đầu hàng số dài vô tận…

    Thầy giáo Miến đi rồi, Thành càng bâng khuâng về lời thầy nói lúc đầu : “Thầy đã ở tại thủ đô nước Pháp. Quả là một cường quốc bậc nhất hoàn cầu. Nước Việt Nam là hàng nhược tiểu, thua kém họ nhiều lắm. Các bậc tiền nhân, các nhà có khoa bảng đã dám đứng ra chống người Pháp, rất đáng kính phục, nhưng chỉ là lấy gậy chọc trời. Rốt cuộc, hết thất bại này đến thất bại khác. Lớp người tai mắt như Trần Cao Vân, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Nguyễn Hàm, Nguyễn Thành, Nguyễn Văn Ngôn, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân, Phạm Văn Ngôn… đều bị gông cổ đày đi biệt xứ. Quan nghè Trần Quý Cáp bị chặt đầu, mất xác. Phan Bội Châu và những đồng chí của ông hiện đang sống lênh đênh, phiêu bạt trên đất Phù Tang, đất Tàu…”

    Tất Thành băn khoăn : Ông Phan Bội Châu coi Nhật là cường quốc của châu Á, chọn Nhật làm chỗ dựa để đuổi người Pháp, giành độc lập cho nước nhà. Nhưng nghe nói Nhật đang bắt đầu trở mặt với ông Phan, thân thiện với Pháp. Thầy giáo Lê Văn Miến đi Pháp về thấy Pháp là nước hùng mạnh, thấy nước nhà nhỏ yếu tuyệt vọng Thầy đã coi việc ta mất nước cho Pháp gần như một định luật, không còn phương cứu nữa…

    Đạt đi tiễn thầy Miến rồi về quán trọ Ao Hồ, lúc trở lại vẫn thấy Thành ngồi trầm ngâm như pho tượng, anh an ủi em :

    – Nếu không còn ở lại Huế nổi thì em vô Bình Khê với cha, hoặc em về Nghệ An với chị Thanh. Em nghĩ ngợi nhiều có ích gì?

    – Không nghĩ sao được anh? Bao nhiêu người tai mắt của đất nước lần lượt bị giết, bị hạ ngục, hoặc đày đi Côn Lôn, Lao Bảo… Còn nữa thì lại nuốt hận, coi việc nước mình mất cho Pháp là điều không tránh khỏi.

    – Thầy Miến nói cũng có phần nào đúng chứ em?

    – Anh biểu có phần đúng là những phần nào?

    – Chúng mình đi đến đâu cũng thấy người Pháp họ đến nắm quyền cai trị, cai trị từ vua cai trị xuống. Chúng mình học, đọc sách, thấy nước Pháp họ văn minh, thứ gì họ cũng hơn hẳn nước mình. Nước lớn ức hiếp nước bé, kẻ mạnh bắt nạt người yếu, thời nào cũng vẫn có chuyện đó, em ạ.

    – Điều anh nói đó là hoàn toàn đứng. Nhưng, em thấy nếu cuộc đời chì quay có một chiều : lớn thắng bé, mạnh được yếu, thì nhân loại từ xưa tới nay chi có lăn theo cái trật tự ấy. Trái lại, dân tộc ta nhỏ mà đã thắng nhà Hán, thắng nhà Tống, thắng nhà Nguyên, thắng nhà Minh, thắng nhà Thanh. Tổ tiên đã dám đánh thắng kẻ thù dân tộc lớn mạnh hơn mình gấp bao nhiêu lần, lẽ nào ngày nay lại không có ai dám dương đầu với quân Pháp cường bạo?

    Đạt ngồi lặng nhìn hai bàn chân em luôn luôn xê dịch trên nền nhà. Anh hỏi em một cách đột ngột :

    – Em định thế nào?

    – Em rời khỏi Huế ngay hôm nay.

    – Em đi đâu?

    – Em đi lần vô miền trong.

    – Để làm gì?

    – Em còn muốn đi xa nữa. Đi để biết, để học, để rồi làm được một việc gì có ích cho dân mình, nước mình…

    – Em đã nghĩ kỹ chưa?

    – Từ lâu em đã tìm, đã lựa chọn cho mình một hướng đi, anh ạ.

    – Em đã quyết thì hành. Anh học hết niên khóa này, anh cũng sẽ chọn một hướng sống hợp với mình…

    Hai anh em nhìn nhau. Mắt ướt! Ngoài vườn khuya, tiếng chim rời rạc vọng vào như từng giọt lệ rơi : quốc… quốc…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truyện Ma: Gặp Ma Trẻ Con
  • Truyện Ma Dòng Sông Nuôi Xác Seri Truyện Ma Rằm Tháng Tám
  • Thánh Lễ Giỗ 1 Năm Ông Cố Giuse Phan Văn Hòa
  • Văn Khấn Xe Đêm Giao Thừa
  • Chuẩn Bị Lễ Cúng Và Văn Khấn Đêm Giao Thừa Đúng Và Đầy Đủ Nhất
  • Viết Đoạn Văn Miêu Tả Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Câu Hỏi 198941

    --- Bài mới hơn ---

  • Mâm Ngũ Quả Tết Gồm Những Quả Gì Trên Ban Thờ
  • Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Nguyên Đán Và Những Bật Mí Thú Vị Nhất
  • Cách Bày Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Nguyên Đán Trọn Vẹn, Đầy Đủ
  • Tết Nguyên Đán Bày Mâm Ngũ Quả Theo Phong Tục 3 Miền
  • Mâm Ngũ Quả Có Ý Nghĩa Như Thế Nào Trong Trang Trí Tết
  • Tết Nguyên Đán là ngày lễ lớn nhất trong năm của Việt Nam, mỗi dịp xuân về nhà nhà ai cũng đều náo nức chuẩn bị đón chào năm mới. Bên cạnh bánh chưng, bánh giầy, kẹo, bánh mứt tết hay hoa đào, hoa mai thì không thể thiếu được trên bàn thờ tổ tiên mâm ngũ quả ngày tết.

    Mâm ngũ quả không chỉ tạo nên những hình thù đẹp mắt trưng bày trên bàn thờ mà nó còn mang nhiều ý nghĩa văn hoá, tín ngưỡng đẹp đẽ. Khi mùa xuân đến, cây cối cũng đâm chồi nảy lộc, hoa quả càng nở rộ. Những loài hoa, loại quả đều từ công bàn tay chăm sóc của người nông dân và kết tinh từ những tinh hoa mà đất trời và thiên nhiên ban tặng. Những thức quả đều đẹp, đều quý, con cháu dâng lên ông bà như bày tỏ niềm thành kính đến ông cha, tổ tiên mình cũng là dâng lên đất trời nhưng hương hoa tinh túy nhất để cầu bình an, phúc lành cho năm mới. Đó là một nét đẹp nhân văn trong ngày tết truyền thống được lưu giữ qua bao đời, ngày nay vẫn tiếp tục được trân trọng và phát huy.

    Vì sao người ta thường gọi đó là “mâm ngũ quả”? “Ngũ” có nghĩa là năm, quả là cây trái, “quả” cũng tượng trưng cho thành quả lao động của người dân sau bao vất vả được hưởng trái ngọt, quả lành. Theo thuyết ngũ hành, năm loại quả còn có ý nghĩa tượng trưng cho năm yếu tố tạo nên vạn vật là kim, mộc, thủy, hoả, thổ. Ngoài ra, “ngũ quả ” còn thể hiện ước muốn của người Việt đạt được ngũ phúc lâm môn trong nét đẹp văn hóa dân tộc đó là phúc, quý, thọ, khang, ninh. Song, dù bất kỳ ý nghĩa nào nó vẫn mang giá trị cao đẹp trong văn hóa ngày tết của dân tộc.

    Mâm ngũ quả thường được bày chính giữa bàn thờ ở mâm cao nhất. Trên một đĩa sành lớn hoặc trên những cái mâm bằng đồng sáng bóng. Tùy vào quan niệm cũng như tục lệ của từng địa phương mà người dân chọn những loại quả khác nhau để tạo nên mâm ngũ quả. Ví dụ như ở miền Nam người ta chọn thờ dừa, xoài ,đu đủ, sung, mãng cầu với ước muốn bình dị “cầu vừa đủ sung túc”, thì ở miền Bắc thường chọn bưởi, quýt, chuối, hồng đào với ước mơ êm ấm, đủ đầy. Ở miền Trung, mâm ngũ quả thường có chuối, ổi, nho, xoài, quýt… Ngoài ra, cũng tùy sở thích và điều kiện của từng gia đình mà có thể lựa chọn, bày nhiều loại quả hơn. Tuy hình thức khác nhau song chúng đều mang tấm lòng thành của con cháu gửi đến đất trời, tổ tiên mong cầu cuộc sống yên lành, một năm làm việc thuận buồm xuôi gió, may mắn, thành công. Trong mâm ngũ quả, gia chủ thường chọn những nải chuối to, đẹp, đều đặt làm trung tâm, những nải chuối to như những đôi bàn tay lớn nâng đỡ những loại quả khác, chúng được phối hợp rất đẹp mặt về màu sắc và kiểu dáng, thường sẽ chọn mỗi loại một kiểu dáng, một màu sắc. Đặt mâm ngũ quả hình chóp mang ý nghĩa sự thịnh vượng và phát triển, với tới những đỉnh cao mới của thành tựu và vinh quang.

    Trước khi thực hiện bày biện mâm ngũ quả, gia chủ rất chú trọng đến việc lựa chọn từng loại quả. Các cây trái phải căng, mịn và thường ngắt cùng với cuống tạo nên nét thanh nhã và lịch sự. Quả chọn không được quá chín hoặc quá non thì mới đẹp. Bên cạnh mâm ngũ quả trên bàn thờ là những lễ vật khác được xếp đặt ngay ngắn. Đó là những bánh chưng, những trà, mứt, rượu và hoa cúc vàng được cắm đẹp mắt và tinh tế. Dù gia chủ giàu hay nghèo, dù nông thôn hay thành thị thì ngày tết trên bàn thờ tổ tiên vẫn luôn đủ đầy, ấm cúng.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/thuyet-minh-ve-mam-ngu-qua-ngay-tet-52448n.aspx

    Mâm ngũ quả ngày tết là nét đẹp hồn hậu trong văn hóa dân tộc. Dù cho bây giờ hay mãi mãi về sau thì con cháu vẫn không thể nào quên được truyền thống làm mâm ngũ quả khi xuân về dâng lên bàn thờ tổ.

    “Tết đến rồi nha

    Có mâm ngũ quả

    Bên bánh chưng xanh

    Quả chuối, quả na

    Quả xoài, quả mận

    Thanh long, bưởi đậm

    Nào quýt nào lê

    Bé chọn năm quả

    Xếp thành một mâm”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Trang Trí Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Đẹp Mà Đơn Giản
  • Hướng Dẫn Trang Trí Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Đẹp Đơn Giản
  • Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Cần Phải Có Những Loại Quả Gì?
  • Những Sai Lầm Trong Cách Bày Mâm Ngũ Quả Đẹp Ngày Tết
  • 6 Bài Thuốc Trị Bệnh Hiệu Quả Được ‘điều Chế’ Từ Mâm Ngũ Quả Ngày Tết
  • Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Mâm Ngũ Quả Ngày Tết, Văn Mẫu Lớp 9, Đặc Sắ

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Mâm Ngũ Quả Ngày Tết
  • Mâm Cỗ Ngày Tết Ở Miền Nam Có Gì Độc Đáo?
  • Cách Chưng Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Cho Lộc Lá Cho Cả Năm
  • Ấm Lòng Ý Nghĩa Các Món Ăn Tết Việt Truyền Thống
  • Ý Nghĩa Các Món Ăn Truyền Thống Trong Mâm Cỗ Ngày Tết
  • Đề bài: Thuyết minh về mâm ngũ quả ngày Tết

    Thuyết minh về mâm ngũ quả ngày Tết

    Mẹo Cách làm bài văn thuyết minh hay

    Bài văn mẫu Thuyết minh về mâm ngũ quả ngày Tết

    Tết Nguyên Đán là ngày lễ lớn nhất trong năm của Việt Nam, mỗi dịp xuân về nhà nhà ai cũng đều náo nức chuẩn bị đón chào năm mới. Bên cạnh bánh chưng, bánh giầy, kẹo, bánh mứt tết hay hoa đào, hoa mai thì không thể thiếu được trên bàn thờ tổ tiên mâm ngũ quả ngày tết.

    Mâm ngũ quả không chỉ tạo nên những hình thù đẹp mắt trưng bày trên bàn thờ mà nó còn mang nhiều ý nghĩa văn hoá, tín ngưỡng đẹp đẽ. Khi mùa xuân đến, cây cối cũng đâm chồi nảy lộc, hoa quả càng nở rộ. Những loài hoa, loại quả đều từ công bàn tay chăm sóc của người nông dân và kết tinh từ những tinh hoa mà đất trời và thiên nhiên ban tặng. Những thức quả đều đẹp, đều quý, con cháu dâng lên ông bà như bày tỏ niềm thành kính đến ông cha, tổ tiên mình cũng là dâng lên đất trời nhưng hương hoa tinh túy nhất để cầu bình an, phúc lành cho năm mới. Đó là một nét đẹp nhân văn trong ngày tết truyền thống được lưu giữ qua bao đời, ngày nay vẫn tiếp tục được trân trọng và phát huy.

    Vì sao người ta thường gọi đó là “mâm ngũ quả”? “Ngũ” có nghĩa là năm, quả là cây trái, “quả” cũng tượng trưng cho thành quả lao động của người dân sau bao vất vả được hưởng trái ngọt, quả lành. Theo thuyết ngũ hành, năm loại quả còn có ý nghĩa tượng trưng cho năm yếu tố tạo nên vạn vật là kim, mộc, thủy, hoả, thổ. Ngoài ra, “ngũ quả ” còn thể hiện ước muốn của người Việt đạt được ngũ phúc lâm môn trong nét đẹp văn hóa dân tộc đó là phúc, quý, thọ, khang, ninh. Song, dù bất kỳ ý nghĩa nào nó vẫn mang giá trị cao đẹp trong văn hóa ngày tết của dân tộc.

    Mâm ngũ quả thường được bày chính giữa bàn thờ ở mâm cao nhất. Trên một đĩa sành lớn hoặc trên những cái mâm bằng đồng sáng bóng. Tùy vào quan niệm cũng như tục lệ của từng địa phương mà người dân chọn những loại quả khác nhau để tạo nên mâm ngũ quả. Ví dụ như ở miền Nam người ta chọn thờ dừa, xoài ,đu đủ, sung, mãng cầu với ước muốn bình dị “cầu vừa đủ sung túc”, thì ở miền Bắc thường chọn bưởi, quýt, chuối, hồng đào với ước mơ êm ấm, đủ đầy. Ở miền Trung, mâm ngũ quả thường có chuối, ổi, nho, xoài, quýt… Ngoài ra, cũng tùy sở thích và điều kiện của từng gia đình mà có thể lựa chọn, bày nhiều loại quả hơn. Tuy hình thức khác nhau song chúng đều mang tấm lòng thành của con cháu gửi đến đất trời, tổ tiên mong cầu cuộc sống yên lành, một năm làm việc thuận buồm xuôi gió, may mắn, thành công. Trong mâm ngũ quả, gia chủ thường chọn những nải chuối to, đẹp, đều đặt làm trung tâm, những nải chuối to như những đôi bàn tay lớn nâng đỡ những loại quả khác, chúng được phối hợp rất đẹp mặt về màu sắc và kiểu dáng, thường sẽ chọn mỗi loại một kiểu dáng, một màu sắc. Đặt mâm ngũ quả hình chóp mang ý nghĩa sự thịnh vượng và phát triển, với tới những đỉnh cao mới của thành tựu và vinh quang.

    Trước khi thực hiện bày biện mâm ngũ quả, gia chủ rất chú trọng đến việc lựa chọn từng loại quả. Các cây trái phải căng, mịn và thường ngắt cùng với cuống tạo nên nét thanh nhã và lịch sự. Quả chọn không được quá chín hoặc quá non thì mới đẹp. Bên cạnh mâm ngũ quả trên bàn thờ là những lễ vật khác được xếp đặt ngay ngắn. Đó là những bánh chưng, những trà, mứt, rượu và hoa cúc vàng được cắm đẹp mắt và tinh tế. Dù gia chủ giàu hay nghèo, dù nông thôn hay thành thị thì ngày tết trên bàn thờ tổ tiên vẫn luôn đủ đầy, ấm cúng.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/thuyet-minh-ve-mam-ngu-qua-ngay-tet-52448n.aspx

    Mâm ngũ quả ngày tết là nét đẹp hồn hậu trong văn hóa dân tộc. Dù cho bây giờ hay mãi mãi về sau thì con cháu vẫn không thể nào quên được truyền thống làm mâm ngũ quả khi xuân về dâng lên bàn thờ tổ.

    “Tết đến rồi nha

    Có mâm ngũ quả

    Bên bánh chưng xanh

    Quả chuối, quả na

    Quả xoài, quả mận

    Thanh long, bưởi đậm

    Nào quýt nào lê

    Bé chọn năm quả

    Xếp thành một mâm”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điểm Danh Những Món Ăn Thường Thấy Trong Mâm Cỗ Ngày Tết Miền Nam
  • 8 Món Ăn Ngày Tết Không Thể Thiếu Trong Mâm Cỗ Của Người Miền Nam
  • Món Ăn Truyền Thống Việt Nam : 7 Món Ăn Trong Mâm Cỗ Tết Miền Nam
  • Ý Nghĩa Mâm Ngũ Quả Của Ba Miền Bắc
  • Ý Nghĩa Mâm Ngũ Quả Miền Nam
  • Thuyết Minh Về Ngày Tết Cổ Truyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Mâm Lễ Cúng Bàn Thờ Tổ Tiên Chiều 30 Tết Đúng Phong Thủy
  • Làm Lễ Cúng Tất Niên Chiều 30 Tết Đúng Chuẩn
  • Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Gồm Những Quả Gì? Ý Nghĩa Mâm Ngũ Quả Từng Miền?
  • Ý Nghĩa Mâm Ngũ Quả, Các Loại Trái Cây Ngày Tết, Ngày Lễ
  • Chuẩn Bị Mâm Quả Lễ Vật Đám Cưới Theo Phong Tục Miền Nam
  • Nhiều bài văn mẫu được điểm 9, 10

    Thuyết minh về ngày Tết cổ truyền hay thuyết minh về ngày tết nguyên đán là một trong các bài văn thuyết minh các em học sinh thường gặp. Ngày Tết của dân tộc Việt có rất nhiều ý nghĩa đặc biệt. Tết là lúc mọi nhà sum họp, quây quần bên nhau. Đó cũng là lúc mọi người cùng nhìn lại một năm cũ đã qua và ước nguyện cho một năm mới sắp tới. Tết giúp cho con người gần gũi, xích lại gần nhau hơn, tha thứ, bỏ qua cho nhau mọi lỗi lầm. Bởi thế, ai mà không nhớ Tết, không mong đến Tết?

    Thuyết minh về ngày Tết cổ truyền

    Dàn ý thuyết minh về ngày tết nguyên đán

    I. Mở bài: giới thiệu về ngày tết

    Ngày tết là ngày lễ quan trọng nhất của con người và dân tộc Việt Nam. Ngày tết cổ truyền có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự nghỉ ngơi của con người sau 1 năm làm việc mệt mỏi, và cầu mong một năm mới ăn khang thịnh vượng, làm ăn phát đạt. ngày tết cổ truyền quan trọng nhất là ba ngày tết, chúng ta cùng tìm hiểu ba ngày tết này.

    II. Thân bài: thuyết minh về ba ngày tết

    1. Nguồn gốc ngày tết:

    • Theo như văn hóa Phương Đông thì thời khắc giao thừa rất quan trọng, bắt đầu cho sự khởi đầu, khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng
    • Theo người Trung Quốc thì nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ năm Tam Hoàng Ngũ Đế 2879 TCN và sau đó có nhiều sự điều chỉnh

    2. Các giai đoạn chính trong ngày tết: 3. Ba ngày tết:

    Ngày thứ nhất: “Ngày mồng Một tháng Giêng”

    • Đây là ngày đầu tiên của một năm
    • Là một ngày rất quan trọng
    • Vào ngày này, mọi người thường không ra khỏi nhà khi chưa có người xông đất
    • Mọi người thường cúng vào ngày này để gia đình cùng sum họp
    • Tục lệ ” mùng một tết cha” thì những người trong gia đình về thăm gia đình

    Ngày thứ 2: “Ngày mồng Hai tháng Giêng”

    • Vào ngày này thường có những lễ cúng tại gia
    • Tục lệ “mồng hai tết mẹ”

    Ngày thứ 3: “Ngày mồng Ba tháng Giêng”

    Theo tục ” ngày mùng ba tết thầy” thì học trò sẽ đến thăm thầy cô của mình.

    4. Các lễ vật có trong ngày tết:

    • Mâm ngũ quả
    • Cây nêu
    • Tranh tết
    • Câu đối tết
    • Hoa tết
    • Thức ăn ngày tết: bánh chưng, bánh tét, kẹo, mứt,….

    III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về ngày tết

    • Đây là một lễ rất có ý nghĩa của dân tộc Việt Nam
    • Chúng ta nên duy trì ngày lễ quan trọng này

    Đề bài: Thuyết minh về ngày Tết cổ truyền

    Việt Nam nổi tiếng với những nét văn hóa độc đáo và sâu sắc. Du khách đến với Việt Nam rất mong muốn được thưởng thức những bề dày văn hóa ấy. Đặc sắc văn hóa Việt là lễ hội. Các lễ hội lúc nào cũng đông người và tấp nập. Nhắc đến lễ hội là nhắc đến thế giới tâm linh của người Việt. Mà nói đến tâm linh, không thể không nhắc đến ngày Tết cổ truyền.

    Ngày Tết cổ truyền là dịp lễ quan trọng và lớn nhất của Việt Nam. Cũng giống như các nước phương tây theo đạo Thiên chúa thì lễ giáng sinh là ngày lễ thiêng liêng và quan trọng thì ngày Tết cổ truyền được coi là lễ giáng sinh của Việt Nam. Ngày Tết cổ truyền gọi là Tết nguyên đán hay Tết âm lịch. Tết cổ truyền là thời khắc quan trọng của một năm. Bắt đầu vào ngày mùng 1 tháng 1 âm lịch của năm mới. Tết nguyên đán có thể rơi vào giữa tháng hai dương lịch của một năm. Thông thường ở Việt Nam, mỗi dịp chuẩn bị đến Tết nguyên đán thì mọi người dù làm việc hay đi học đều có lịch nghỉ lễ. Thường sẽ được nghỉ lễ hơn một tuần và được nghỉ trước ngày 30 tháng chạp từ hai đến ba ngày.

    Để chuẩn bị cho ngày Tết quan trọng của năm này, mọi nhà đều khá bận rộn. Điều được coi là công phu và tỉ mỉ nhất để chuẩn bị cho Tết này chính là mâm cơm thờ cúng ông bà tổ tiên. Mâm cơm ngày Tết ở mỗi địa phương lại có những nét đặc sắc riêng. Nhưng đều có một điểm chung đó là gà, xôi chè, bánh chưng và các món mặn ăn chung với cơm. Khác với mâm cơm thường ngày, mâm cơm ngày Tết thịnh soạn và nhiều chất dinh dưỡng hơn, có hàm lượng chất béo và protein, đạm cao hơn so với những bữa ăn hàng ngày. Do đó mà nhiều ngày ăn chế độ như vậy dễ dẫn đến đầy bụng, khó tiêu. Đó là mâm cơm ngày Tết được các bà các mẹ các chị chuẩn bị rất kĩ lưỡng trước ngày Tết. Gia đình Việt sẽ cúng ông bà tổ tiên vào thời khắc thiêng liêng nhất của một năm đó là lúc đồng hồ điểm 00h đêm ngày 30 Tết. Sau đó sẽ cúng cả ngày mùng 1, 2, 3 Tết.

    Trên bàn thờ gia tiên ngoài mâm cơm còn có mâm ngũ quả, bánh kẹo, nước ngọt, bia lon, hoa cắm lọ. Hoa cắm lọ cũng được lựa chọn rất khắt khe, thường có màu sắc rực rỡ để đem lại may mắn cho năm mới. Ngoài ra, cắm cành đào cành mai trên bàn thờ gia tiên cũng là cách mà nhiều gia đình lựa chọn. Cũng tương tự như lọ hoa cắm thờ, màu sắc của những vật khác trên bàn thờ gia tiên cũng rực rỡ, tươi sáng, được bày biện đẹp mắt. Người miền Bắc đến nhà nhau vào dịp Tết thường quan sát bàn thờ của gia chủ. Bàn thờ sẽ phản ánh sự sung túc đủ đầy của gia chủ trong năm vừa qua. Đó là về phong tục thờ cúng.

    Chưa hết, ngày Tết cổ truyền còn có một phong tục là thăm hỏi gia đình người thân, bạn bè, hàng xóm vào dịp năm mới. Mỗi lần đến nhà thăm hỏi, những người chủ gia đình sẽ lì xì cho trẻ con và người lớn tuổi và dành cho nhau những lời chúc vào đầu năm mới an khang thịnh vượng, vạn sự như ý. Đây không chỉ là phong tục mà còn là nét đẹp văn hóa của người Việt, quan tâm, mong cho mọi người có một cuộc sống đủ đầy và bình an.

    Nhắc đến Tết, không thể không nhắc đến những hoạt động khác được tổ chức xung quanh ngày Tết như các trò chơi dân gian, những phiên chợ Tết, phiên chợ ngắm hoa. Các trò chơi dân gian được tổ chức chủ yếu như là đập niêu, nhảy bao bố, kéo co, nhảy dây… Được tổ chức nhằm khuấy động không khí ngày Tết thêm rộn ràng hơn. Các phiên chợ Tết, chợ ngắm hoa cũng được tổ chức ra hàng năm để tăng thêm sự rộn ràng của ngày Tết. Thêm vào đó là sự đông đúc từng lớp người lên đình chùa để cầu mong một năm mới với hi vọng mới và niềm vui mới. Đây là điều thể hiện sự tâm linh của người Việt. Từ người già đến người trẻ cùng nhau lên chùa để mong có một năm mới thuận lợi hơn. Ngày Tết có rất nhiều hoạt động bên lề được chờ đón. Những đêm văn nghệ chào mừng năm mới luôn là điều khiến không khí ngày Tết “nóng” hơn, những tiếng cười của gia đình người thân được đoàn tụ về với gia đình, gương mặt rạng rỡ của trẻ nhỏ khi nhận được phong bao lì xì đỏ thắm, cành đào cành mai khoe sắc, nồi bánh chưng bập bùng ánh lửa. Đó là những hình ảnh đẹp không thể nào quên của ngày Tết.

    Tết là ngày sum vầy đoàn tụ, là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Việt. Những người xa quê ngày Tết không có điều kiện để trở về thèm lắm bữa cơm ngày Tết cùng gia đình. Vài ba câu đối đỏ đã trở thành hình ảnh quen thuộc của ngày Tết quê hương, Thích nhất là cảnh gói bánh chưng, trông nồi luộc bánh chưng. Tết về, các bà các mẹ lại quây quần bên nhau gói những chiếc bánh chưng thật đẹp thật vuông vắn. Mấy đứa trẻ con cũng nhao nhao đòi gói đòi buộc làm cho không khí góc bếp càng rộn ràng hơn. Rồi không khí trông nồi bánh chưng chín để chờ đến thời khắc giao thừa thiêng liêng ngắm pháo hoa và nhận lì xì từ bố mẹ. Đó là cái khoảnh khắc không thể nào quên của một đời người.

    Ngày Tết cổ truyền đã là biểu tượng văn hóa, ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người Việt. Ngoài là dịp để con cháu quây quần bên gia đình, đoàn tụ với người thân. Không khí đầm ấm của ngày Tết là điều mà không ai có thể quên được.

    Thuyết minh về ngày Tết cổ truyền mẫu 2

    Trong một năm có rất nhiều sự kiện quan trọng diễn ra. Tuy nhiên, cứ đến tháng 12 âm lịch, khi tận tay xé những tờ lịch cuối cùng để thấy một năm sắp sửa qua đi, lòng người lại hồi hộp, xao xuyến vì một năm mới đang đến gần. Dù có đi đâu về đâu, mỗi người dân Việt Nam đều không thể quên được ngày Tết cổ truyền của dân tộc – ngày hội non sông, ngày hội gia đình.

    Chữ Tết có nhiều cách gọi khác nhau như: Tiết, Tết, Tết cổ truyền, Tết Nguyên đán,… nhưng người Việt chúng ta thì thường hay gọi là “Tết Nguyên đán”. “Nguyên” và “đán” là hai chữ Hán mang ý nghĩa là đổi sang một buổi sáng hay một năm mới.

    Tết Nguyên đán thực chất được bắt nguồn ở Trung Quốc vào thời Tam Hoàng và được tổ chức vào tháng giêng hằng năm.

    Đối với người Việt Nam, ngày Tết thường diễn ra vào ba ngày chính, nhưng trước đó một tuần, người dân đã rậm rịch sắm Tết. Những người đàn ông trong gia đình sẽ sơn sửa, trang trí lại nhà cửa để chào đón năm mới. Còn những người phụ nữ thì lo việc tổ chức mua bán những đồ dùng, thực phẩm cần thiết cho mấy ngày Tết. Loài hoa đặc trưng mà người miền Bắc chơi Tết là hoa đào, còn người miền Nam lại chuộng hoa mai. Mâm ngũ quả cũng là một món đồ trang trí không thể thiếu của người Việt. Đây cũng là điểm khác biệt của hai miền Nam, Bắc. Bởi vì, đặc trưng mâm ngũ quả của người Bắc là bưởi, chuối, hồng, quýt và ớt. Còn miền Nam lại là những quả: mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài. Những ngày này, đi đến đâu chúng ta cũng có thể thấy được không khí rộn ràng, tất bật rất đặc trưng. Trẻ con thì háo hức vì được nghỉ học, được đi chơi, mua sắm quần áo mới.

    Những ngày Tết cổ truyền của người Việt thường diễn ra với rất nhiều phong tục đã được lưu truyền. Sáng 23 Tết, mọi người thường đi chọn mua những con cá chép to, đẹp để cúng, thả với quan niệm là tiễn Ông Táo về chầu trời. Trong căn bếp của mỗi gia đình cũng không thể thiếu được một mâm cỗ với đầy đủ các món để cúng tổ tiên. Còn đêm 30, người dân thường đi ra ngoài và hái những cành lộc non mang về nhà với mong muốn một năm mới thật nhiều may mắn, tài lộc. Người dân Việt còn có phong tục xông nhà vào đêm giao thừa. Người xông nhà phải là người hợp tuổi với chủ nhà thì gia đình mới may mắn, làm ăn phát đạt. Do đó, chủ nhà sẽ phải chọn người xông nhà thật kĩ để tránh xui xẻo.

    Sáng mùng một Tết, người dân có tục con cháu đi chúc Tết ông bà, cha mẹ. Trẻ con rất háo hức khi nhận được những phong bao lì xì đỏ thắm có một chút tiền mừng tuổi bên trong với lời chúc may mắn, học giỏi, ngoan ngoãn, nghe lời cha mẹ. Trong những ngày đầu năm mới này, người dân cũng có tục đi lễ chùa để cầu may, một số người còn tranh thủ mua muối vì các cụ có câu: “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”. Với đối tượng học sinh, sinh viên, vào năm mới thường có tục lỗ “khai bút đầu xuân” với ước nguyện một năm mới học hành tấn tới, thi cử đỗ đạt.

    Ngày Tết của dân tộc Việt có rất nhiều ý nghĩa đặc biệt. Tết là lúc mọi nhà sum họp, quây quần bên nhau. Đó cũng là lúc mọi người cùng nhìn lại một năm cũ đã qua và ước nguyện cho một năm mới sắp tới. Tết giúp cho con người gần gũi, xích lại gần nhau hơn, tha thứ, bỏ qua cho nhau mọi lỗi lầm. Bởi thế, ai mà không nhớ Tết, không mong đến Tết?

    Mỗi một dân tộc, một quốc gia đều có những phong tục, tập quán riêng. Tết Nguyên đán của người Việt Nam là một sự kiện đặc biệt mang nét văn hóa đặc sắc đã được lưu truyền qua bao thế kỉ. Mặc dù trải qua thời gian với bao biến động của lịch sử, các phong tục đã ít nhiều bị mai một và pha trộn nhưng đã là người Việt thì dù ở đâu, đi đâu, trái tim vẫn luôn hướng về cội nguồn dân tộc mình.

    Thuyết minh về ngày Tết cổ truyền mẫu 3

    Trong tất cả các ngày lễ Tết, Tết nguyên đán được coi là ngày Tết quan trọng và đặc biệt nhất của người dân Việt Nam. Dù ngày Tết có bận rộn, có nhiều thứ để lo toan đến đâu thì người Việt cứ mỗi hàng năm đều mong Tết đến. Trải qua hàng ngàn năm, cuộc sống đã có bao điều biến đổi, những phong tục, tập quán cũng đổi thay quá nhiều nhưng những phong tục đón Tết truyền thống của người Việt vẫn được lưu giữ không hề biến mất.

    Tiễn ông Công, ông Táo về trời

    Theo tâm linh của người Việt, có 3 vị thần cai quản việc bếp núc hay còn gọi là 3 ông đầu rau cai quản mọi chuyện trong nhà. Hàng năm cứ đến ngày 23 tháng Chạp, người Việt ta có lễ tiễn ông Công, ông Táo về trời để báo cáo cho Ngọc Hoàng biết chuyện làm ăn của gia đình trong năm đó. Chạp ông Công, ông Táo là sự kiện đầu tiên báo hiệu cho một cái Tết đã đến thật gần.

    Ngày 23 tháng Chạp tiễn ông Táo, nhà nhà đều phải chuẩn bị lễ vật như hoa quả, mũ áo, vàng mã bằng giấy, cá chép còn sống với quan niệm rằng cá chép sẽ vượt vũ môn, hóa thành rồng để đưa ông Công, ông Táo lên chầu trời. Tiễn ông Táo đi hôm 23, đến ngày 29 hoặc 30 Tết người ta cũng không quên mời ông Táo về trước Giao thừa, để ông lại tiếp tục công việc cai quản công việc trong nhà.

    Phong tục đoàn viên, sum họp trong dịp Tết

    Ngày thường mải miết làm ăn, các thành viên trong gia đình thường không có mặt đông đủ. Chỉ có riêng dịp Tết cả gia đình mới có dịp quây quần, đoàn tụ bên nhau để tâm sự, sẻ chia những buồn vui trong suốt một năm qua.

    Tết là sự trở về, Tết là sum họp, Tết là đoàn viên. Suy nghĩ đó đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt, để ai dù có đi xa đến đâu, có ở trong nước hay ngoài nước thì cứ mỗi dịp Tết đến xuân về là cũng cố gắng trở về bên gia đình, để đón Tết cùng với ông bà, cha mẹ, anh em mình. Trở về để thấy mình không bị bơ vơ, lạc lõng giữa những tấp nập của dòng đời. Trở về để cùng ăn với nhau bữa cơm đoàn tụ, để tỏ lòng thành kính tổ tiên, ông bà, để gìn giữ truyền thống uống nước phải nhớ nguồn của dân tộc.

    Phong tục gói bánh chưng, bánh Tét Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh

    Từ thời vua Hùng dựng nước đến nay, đã qua lịch sử hơn 4 ngàn năm dựng nước, cũng qua bốn ngàn năm dân tộc Việt lưu truyền tục gói bánh chưng, vào dịp Tết. Sau này, miền đất phía Nam được mở rộng ra, người dân nơi đây lại có tục gói bánh Tét, nguyên liệu cũng chẳng khác gì bánh chưng nhưng hình dáng thì dài hình trụ chứ không vuông giống bánh chưng.

    Chiếc bánh chưng, bánh tét xanh được làm nên từ những vật phẩm thân quen của nền văn minh lúa nước như gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, lá dong, lá chuối, lạt giang… Ở khắp mọi nhà, trên mọi miền quê của đất Việt, dù là giàu sang hay nghèo khó, thiếu thốn hay đủ đầy, đô thị hay nông thôn thì cứ đến Tết là có bánh chưng, bánh Tét trong nhà.

    Bên nồi bánh chưng đang đỏ lửa, ông bà cha mẹ kể cho con cháu nghe về truyền thuyết Lang Liêu gói bánh chưng bánh giày dâng vua Hùng, kể về truyền thống gia đình, về ân đức tổ tiên, qua đó mà giáo dục con cháu về đạo lý uống nước nhớ nguồn, về lễ hiếu và cách gìn giữ trân trọng truyền thống.

    Gói bánh chưng cũng cần sự tỉ mỉ và khéo léo, làm sao để chiếc bánh chưng vuông vắn, chiếc bánh tét được tròn đầy, để dâng cúng tổ tiên được chiếc bánh đẹp nhất. Cùng với bánh cặp bánh chưng hay đôi đòn bánh tét, trên bàn thờ tiên tổ còn bày biện nào mâm ngũ quả (mỗi miền 5 loại quả khác nhau), nào bánh mứt, nào hoa tươi, rượu,… Tất cả tạo nên một Tết Việt rất đậm đà, rất riêng biệt, không hề giống với bất cứ một đất nước nào.

    Tục xông đất (hay xông nhà)

    Theo quan niệm dân gian của người Việt, một năm mới bắt đầu từ mồng Một Tết, nếu ngày mồng Một mà mọi việc suôn sẻ, thuận lợi, may mắn thì cả năm cũng được tốt lành, thuận lợi. Chính vì thế mà người khách đến thăm nhà đầu tiên trong năm cũng rất quan trọng.

    Gia đình thường để ý những người thân, họ hàng, bạn bè mình có ai có tuổi “tam hợp” với gia chủ hoặc là người có tính tình cởi mở, vui vẻ, rộng rãi, làm ăn phát đạt để nhờ xông đất đầu năm. Chính vì thế mà người được nhờ xông đất cũng cảm thấy được vui vẻ, tự hào.

    Tục chúc Tết, mừng tuổi đầu năm

    Ngày mồng Một Tết, các thành viên trong gia đình thường sum vầy, tụ họp đầy đủ tại nhà ông bà, cha mẹ để làm lễ cúng lạy tổ tiên, mừng tuổi các cụ cao niên và con trẻ. Người ta chúc nhau những điều may mắn, tốt lành nhất sẽ đến trong năm mới, chúc cho ông bà, cha mẹ mạnh khỏe, sống lâu trăm tuổi, như cây cao bóng cả tỏa bóng mát che chở cho con cháu. Người lớn thì mừng tuổi cho trẻ em những phong bao lì xì đỏ tươi cùng những lời chúc để ngoan ngoãn, hay ăn chóng lớn…

    Xuất hành, du xuân đầu năm

    Người ta quan niệm rằng hướng đi đầu tiên trong năm cũng rất quan trọng, hướng đi này sẽ ảnh hưởng tới tương lai của người đó trong cả năm sắp tới. Người ta thường xem sách vở, học những kinh nghiệm dân gian rồi xem sách lịch để chọn ra hướng xuất hành cho mình để năm mới mọi việc được may mắn, thuận lợi nhất.

    Sau những giây phút đoàn tụ ấm cúng bên gia đình, dịp Tết người ta thường xuất hành đi lễ chùa, đi tới những danh lam thắng cảnh để cầu bình an, cầu tài, cầu lộc, cầu may mắn cho một năm mới.

    Khắp ba miền Bắc Trung Nam ở nước ta, đâu đâu cũng có những di tích, những đền, đài, chùa miếu, những danh lam thắng cảnh để du xuân. Đến đó, người ta thường cầu mong cho gia đình yên ấm, được dồi dào sức khỏe, năm mới làm ăn phát đạt, thành công.

    Ngày nay, những chuyến du xuân xa hơn, nhiều hơn và phổ biến hơn khi biến thành những chuyến du lịch trong và ngoài nước. Người ta không chỉ đi đến những thắng cảnh, di tích ở quê hương mình mà còn đến những vùng đất mới để tham gia những lễ hội, khám phá nét đẹp trong phong tục tập quán và chiêm ngưỡng cảnh đẹp của thiên nhiên…

    Trải qua ngàn đời, Tết Việt vẫn giữ được hồn riêng, vẫn là ngày lễ quan trọng nhất, ấm áp nhất, đủ đầy nhất của cả dân tộc. Mỗi mùa xuân về, mỗi dịp Tết đến là mỗi lần truyền thống được khơi dậy, tôn vinh và lan tỏa tới tất cả mọi thế hệ cũng là dịp tuyệt vời nhất để phong tục Việt được lưu truyền cho tới mãi mai sau.

    Thuyết minh về Tết Nguyên Đán – Bài số 4

    Tết Nguyên Đán Việt Nam có ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, thể hiện sự trường tồn cuộc sống, khao khát của con người về sự hài hòa Thiên – Địa – Nhân.

    Tết Nguyên Đán là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong tinh thần văn hóa nông nghiệp; với gia tộc và xóm làng trong tính cộng đồng dân tộc; với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh…

    1. Tết Nguyên Đán

    Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản: Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Nguyên nghĩa của chữ “Tết” chính là “tiết”. Hai chữ “Nguyên Đán” có gốc chữ Hán; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán” (Tết Nguyên Đán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên).

    Do cách tính của Âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên Đán của người Việt Nam không hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác.

    Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).

    2. Nguồn gốc Tết Nguyên Đán

    Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vương, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ “tạo thiên lập địa” như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày Tết khác nhau.

    Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.

    Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm chó, ngày thứ ba có thêm lợn, ngày thứ tư sinh dê, ngày thứ năm sinh trâu, ngày thứ sáu sinh ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.

    Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng một cho đến hết ngày mồng bảy.

    3. Ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán Việt Nam

    3.1. Tết Nguyên Đán biểu hiện sự giao cảm giữa trời đất và con người với thần linh

    Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết – do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông – có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính.

    3.2. Tết Nguyên Đán là ngày đoàn viên của mọi gia đình

    Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,… được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn rau cắt rốn.

    Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình cảm gia đình, tình cảm thầy trò, bệnh nhân với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri…

    Tết cũng là ngày đoàn tụ với cả những người đã mất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên và những người thân đã qua đời về ăn cơm, vui Tết với con cháu (cúng gia tiên). Trong mỗi gia đình Việt Nam, bàn thờ gia tiên có một vị trí rất quan trọng. Bàn thờ gia tiên ngày Tết là sự thể hiện lòng tưởng nhớ, kính trọng của người Việt đối với tổ tiên, người thân đã khuất với những mâm ngũ quả được lựa chọn kỹ lưỡng; mâm cỗ với nhiều món ngon hay những món ăn quen thuộc của người đã mất.

    Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng của sự giao hòa vũ trụ làm cho con người trở nên gắn bó với gia đình của mình hơn bao giờ hết. Để sau Tết Nguyên Đán, cuộc sống lại bắt đầu một chu trình mới của một năm. Mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những tình cảm gia đình đầm ấm có được trong những ngày Tết để hướng đến những niềm vui trong cuộc sống và những thành công mới trong tương lai

    3.3. Tết Nguyên Đán là ngày ” làm mới”

    Tết là ngày đầu tiên trong năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và “làm mới” mọi việc. Việc làm mới có thể được bắt đầu về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa trang trí lại nhà cửa. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế tủ giường được lau chùi sạch sẽ.

    Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa và mặc quần áo mới. Đây cũng là dịp mọi người làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần để mối liên hệ với người thân được gắn bó hơn, tinh thần thoải mái, tươi vui hơn… Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối quan hệ được tốt đẹp.

    Người Việt Nam tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm báo hiệu một năm mới tốt đẹp sẽ tới. Năm cũ đi qua mang theo những điều không may mắn và năm mới bắt đầu mang đến cho mọi người niềm tin lạc quan vào cuộc sống. Nếu năm cũ khá may mắn, thì sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.Với ý nghĩa này, Tết còn là ngày của lạc quan và hy vọng.

    Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được báo hiếu và hưởng ân phúc.

    3.4. Tết Nguyên Đán là ngày tạ ơn

    Người Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên, nhân viên tạ ơn cấp chỉ huy. Ngược lại, lãnh đạo cũng cảm ơn nhân viên qua những buổi tiệc chiêu đãi hoặc quà thưởng để ăn Tết…

    4. Những biến đổi do tác động tiếp xúc văn hóa Đông – Tây trong Tết Nguyên Đán ở Việt Nam

    Với một hệ thống lễ nghi vô cùng phong phú và giàu ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tết Nguyên Đán đã trở thành ý thức hệ dân tộc, thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Tết Nguyên Đán là một phong tục đẹp mà nhân dân ta còn duy trì tới ngày nay. Thế nhưng trong thời kỳ toàn cầu hóa như hiện nay cách ăn Tết của người Việt Nam phần nào đã thay đổi. Một số tập tục trong ngày Tết xưa không còn phù hợp với xã hội hiện đại đã dần bị loại bỏ.

    Ngày nay người dân ăn Tết đã có phần đổi khác hơn so với trước kia, dường như dân ta ăn Tết “tây hóa”dần đi, sự thay đổi đó phần nào được thể hiện qua cách đón tết và trong việc sắm tết.

    Đời sống kinh tế được nâng cao đi kèm với những giá trị hưởng thụ về văn hóa tinh thần và vật chất, nhu cầu ăn ngon mặc đẹp là tự nhiên và có thể đáp ứng ngay khi cần chứ không phải đợi đến Tết như ngày xưa. Hơn nữa, ngày nay trong một năm có rất nhiều ngày lễ khác đang chi phối tầm quan trọng của ngày Tết cổ truyền. Vì vậy, dường như Tết bây giờ có phần nhạt hơn so với Tết xưa.

    Trong đời sống hiện đại, việc sắm Tết cũng “hiện đại” theo và sự ảnh hưởng văn hóa phương Tây rất rõ nét. Giờ đây người dân ít hào hứng với việc mua thực phẩm về tự chế biến mà đặt mua đồ đã chế biến sẵn cho tiện. Mâm cỗ ngày Tết giờ cũng phong phú hơn và đa dạng hơn. Bên cạnh những món ăn truyền thống của người Việt như bánh chưng xanh, giò, các món rau, món xào thì còn có những món ăn được du nhập từ Phương Tây.

    Trải qua bao biến thiên của thời đại, đến nay, quan niệm về Tết đã có nhiều thay đổi cả về mặt khái niệm lẫn hành vi. Bây giờ người ta quan niệm là “nghỉ Tết”, “chơi Tết” chứ không còn là “ăn Tết”. Khi cái ăn, cái mặc không còn là vấn đề quan trọng trong ngày Tết thì người ta hướng đến tinh thần nhiều hơn. Tết hiện đại mọi người thích nghỉ ngơi thoải mái, đi chơi nhiều hơn, nhân dịp Tết nhiều gia đình đã lên lịch trình cho một chuyến du lịch với người thân trong nhà hoặc cùng bạn bè, đồng nghiệp.

    Quà Tết bây giờ cũng khác. Trước đây, mọi người có thể chúc Tết nhau bằng cặp bánh, cân giò, với tấm lòng trân trọng mến thương. Bây giờ người ta có thể tặng nhau những món quà có giá trị cao nhưng tình cảm trong đó hầu như không có mà xen vào đó là lợi ích cá nhân, lợi ích kinh tế.

    Quả thật, quá trình tiếp xúc văn hoá Đông – Tây đã làm cho Tết thay đổi, những đồ ăn nhanh, làm sẵn đã làm mất đi không khí chuẩn bị vui tươi của ngày tết. Trẻ con không còn ngồi xem bố mẹ, ông bà gói bánh chưng và mong chờ còn ít gạo vét để gói chiếc bánh ống với nhiều đậu và một miếng thịt to, không còn vui thú khi vùi củ khoai nướng trong lúc trông nồi bánh chưng, các cô thiếu nữ đã dần quên thói quen đi ngắm hoa đào, hoa mai trên phố chợ. Những điều thay đổi đó khiến nhiều người không khỏi chạnh lòng “bao giờ cho đến Tết xưa”.

    Tuy nhiên, tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã làm cho ngày Tết của người Việt có nhiều thứ mới lạ hơn, thực phẩm vừa ngon vừa phong phú đa dạng, những đồ ăn sẵn thật là thuận tiện, mâm cỗ cúng gia tiên có thêm chai rượu vang thì thật là sang trọng. Ngày Tết được đi du lịch với cả gia đình, bạn bè, đồng nghiệp khiến mọi người cảm thấy nhẹ nhõm, gạt bỏ được những căng thẳng trong một năm làm việc vất vả, tìm được sự bình yên, thư thái trong tâm hồn.

    Chúng ta không thể phủ nhận mặt tích cực của hội nhập văn hóa đem lại. Nếu chúng ta “khép” cửa “ăn Tết” với nhau thì Tết Việt đương nhiên chỉ là một sản phẩm của văn hóa thuần tuý đơn lẻ, nó sẽ không thể trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng của quốc gia trong mối quan tâm của bạn bè quốc tế. Sự mở cửa giao lưu, tiếp xúc lại chính là những phương thức tốt nhất giúp chúng ta giới thiệu đến bạn bè quốc tế về Tết cổ truyền của người Việt Nam. Vấn đề ở đây là chúng ta phải làm chủ được quá trình tiếp xúc với văn hóa phương Tây để tết cổ truyền của người Việt vẫn giữ được bản sắc riêng của mình mà không bị ” Tây hóa”.

    Có thể nói, Tết Nguyên Đán vẫn là một sinh hoạt văn hóa vừa lưu giữ những giá trị truyền thống vừa thích nghi với nhịp sống hiện đại. Trong ngày Tết vẫn còn nhiều phong tục tốt đẹp và đậm tính nhân văn mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy để Tết Nguyên Đán mãi là nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

    Thuyết minh về Tết Nguyên Đán – Bài số 5

    Cứ mỗi mùa xuân về, bao trái tim con người lại háo hức đón chờ. Tết cổ truyền từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa Việt.

    Nó không chỉ là ngày chào mừng năm mới mà còn là dịp để con người sum họp. Vì vậy không chỉ Việt Nam mới có ngày Tết mà nó còn được phổ biến rộng rãi ở một số nước thuộc châu Á.

    Tết Nguyên đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, năm mới hay chỉ đơn giản Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Vì Trung Quốc và một số nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc dùng lịch pháp theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Tết Nguyên Đán chia làm ba giai đoạn. Đầu tiên là thời gian giáp Tết, thường từ 23 tháng Chạp (ngày ông câu ông Táo). Gần đến Tết, mọi đơn vị đều được nghỉ làm, học sinh được nghỉ từ 27-28 âm lịch. Tiếp theo là ngày 30 hay còn gọi là Tất Niên. Ngày này mọi người tảo mộ ông bà hay những người thân trong gia đình đã khuất. Quan trọng nhất, vào tối 30, mọi người đều chuẩn bị đón giao thừa-thời khắc đặc biệt chuyển từ năm cũ sang năm mới-đón một khởi đầu mới. Từ xưa, phong tục của người dân Việt là đêm Tất Niên phải ở nhà làm mâm cơm cúng trời đất, ông bà tổ tiên và có tục lệ xông đất-tức người đầu tiên bước vào nhà sau 12 giờ đêm sẽ là người mang lại may mắn hay xui xẻo cho năm sau. Nhưng ngày nay, tục lệ đó đã phần nào bị lu mờ. Mọi người thường ra ngoài đón giao thừa: ở công viên hay nơi công cộng có thể ngắm pháo hoa rõ nhất. Quan niệm người xông đất cũng đã không còn nguyên vẹn. Theo tục xưa người xông đất phải là người không ở trong gia đình nhưng ngày nay khi người ta đi chơi đêm tất niên về đều tự coi là xông đất cho nhà mình. Ngày mùng 1 là ngày đầu tiên của năm mới, là ngày bắt đầu dịp lễ cổ truyền long trọng nhất của người Việt. Đây là dịp hội hè, vui chơi và là thời điểm cho những người tha hương tìm về với quê hương, gia đình, tưởng nhớ tổ tiên. Tết đến, mọi người kiêng kị nóng giận, cãi cọ, quét nhà sợ mang lại điềm gở, mất tài mất lộc vào năm mới. Đây là dịp để mọi người tha thứ, hàn gắn, chuộc lỗi cho những điều không may đã xảy ra vào năm cũ

    Người Việt tin rằng vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, từ ngoại vật cho đến lòng người, vì vậy khoảng mươi ngày trước Tết họ thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Họ cũng tất bật đi sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp này. Trong những ngày Tết họ kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người hàn gắn những hiềm khích đã qua và là dịp để chuộc lỗi. Mọi người đi thăm viếng nhau và chúc nhau những lời đầy ý nghĩa. Trẻ em sau khi chúc Tết người lớn còn được lì xì bằng một phong bì đỏ thắm có đựng ít tiền dành cho chúng tiêu xài ngày Tết. Tết ở 3 miền Bắc, Trung, Nam ở Việt Nam cũng có những điều khác nhau.

    Phong tục của ngày tết cổ truyền ở Việt Nam vô cùng phong phú. Nào là chúc Tết, lì xì, bày mâm ngũ quả, trồng cây nêu, gói bánh chưng, treo câu đố,….Tất cả tạo thành nét đẹp văn hóa ngày tết của người Việt.

    Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các nho học cho tới những người bình dân “tồn cổ” vẫn còn trọng tục treo “câu đối đỏ” nhân ngày Tết. Những câu đối này được viết bằng chữ Nho (màu đen hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên còn được gọi là câu đối đỏ.

    Bản thân chữ “câu đối đỏ” cũng xuất hiện trong câu đối Tết sau:

    Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

    Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Nên lưu ý là từ đối ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi. Câu đối là một trong những thể loại của Văn học Trung Quốc và Việt Nam

    Câu đối có nguồn gốc từ người Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi câu đối là đối liên nhưng tên gọi xưa của nó là đào phù.

    Câu đối được xem là tinh hoa của văn hóa chữ Hán, người Trung Quốc quan niệm: “nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa”.

    Đối liên có lịch sử ra đời cách đây khoảng 3000 năm, nhưng theo Tống sử Thục thế gia, câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959.

    Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối được gọi là chỉnh đối hay đối cân.

    Ngày Tết thiếu câu đối Tết là chưa đủ Tết. Trong nhà dù tranh hoàng thế nào mà thiếu câu đối đỏ, Tết vẫn phảng phất thiếu một cái gì đó thiêng liêng. Câu đối xưa được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm bởi những người có học hành, chữ nghĩa giỏi mà dân gian gọi là Ông Đồ nhưng ngày nay thì câu đối tết còn được viết bằng chữ quốc ngữ với những nội dung phong phú và rất đẹp. Làm câu đối, thách họa đối, chơi câu đối,…vốn là hình thức sinh hoạt độc đáo và tao nhã của người Việt Nam. Nó thể hiện trí thông minh sắc sảo, cách sử sự linh động và cao thượng, thế giới quan lành mạnh cũng như những mong ước tốt đẹp trong cuộc sống thường ngày.

    Tết đến, câu đối lại càng khó có thể thiếu trong niềm vui đón chào năm mới của mỗi gia đình.

    Ngày xưa, câu đối thường treo lên cột, khắc trên khung mái, hoặc viết lên cổng, cửa, tường nhà, đền miếu, đình chùa… Đặc biệt, hai hàng cột gỗ hai bên bàn thờ phải treo câu đối, còn phía trên bàn thờ là hoành phi, cuốn thư. Tất cả làm cho không gian thờ cúng trở nên cân bằng vuông vắn như có khuôn phép, tạo cảm giác hài hòa, trang trọng và linh thiêng.

    Câu đối được làm từ nhiều chất liệu: có loại sơn son thiếp vàng để dùng lâu dài, có loại làm bằng giấy bồi (gọi là liễn) hoặc cắt bằng giấy màu, viết bằng mực nho… để dễ thay đổi theo từng năm, từng mùa cho mới, cho hợp hoàn cảnh. Ngày thường, câu đối chỉ treo trên bàn thờ. Ngày tết thì treo ở nhiều nơi, thậm chí những người ham mê và muốn giữ tục lệ cũ còn chơi câu đối giấy, dán suốt từ ngoài cổng vào trong nhà! Câu đối có thể mua sẵn hoặc nhờ, thuê người viết, nhưng hay nhất vẫn là do tự chủ nhân làm ra.

    Mỗi câu đối gồm hai vế có số chữ bằng nhau, ý nghĩa và luật bằng trắc đối chọi hoặc tương hợp nhau. Câu đối thể hiện những cảm nhận sâu sắc về thiên nhiên và cuộc sống trần thế, về năm mới và mùa xuân, đề cao đạo lý cùng những quan niệm đẹp, cầu mong mọi việc tốt lành… Mơ ước năm mới vui vẻ, hạnh phúc, làm ăn phát đạt và có nhiều bạn bè

    Dịp tết, thường phải có câu đối đỏ. Màu đỏ vốn được coi là màu rực rỡ nhất và theo quan niệm dân gian, là biểu tượng của sức sống mãnh liệt (máu, lửa). Nó vừa nổi trội vừa hài hòa với màu xanh của bánh chưng, màu vàng của hoa mai… làm tươi sáng thêm không khí tết, tạo cảm giác ấm áp trong mùa xuân mới.

    Từ xa xưa, Tết Nguyên Đán đã trở thành một bộ phận hợp thành nét văn hóa đặc sắc của người dân Việt Nam. Nó là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt. Nó được thể hiện trên nhiều phương diện, như: chúc tuổi, lì xì,….và đặc biệt qua phong tục dán câu đối Tết. Đó là nét văn hóa cần được duy trì và phát triển.

    Thuyết minh về Tết Nguyên Đán – Bài số 6

    Nhắc đến Việt Nam, người ta thường nhắc đến những nét đẹp của một đất nước với bề dày văn hóa lịch sử ngàn năm văn hiến. Trong đó ẩm thực, hội họa và đặc biệt là nét đẹp về văn hóa lễ, hội được đông đảo cộng đồng thế giới biết đến. Một trong những nét đẹp đó phải kể đến là Tết cổ truyền (hay là Tết Nguyên đán) của người Việt ta.

    Tết cổ truyền là ngày lễ lớn nhất trong năm, mang ý nghĩa quan trọng. Nếu chúng ta từng biết đến một lễ Giáng sinh an lành và ý nghĩa đối với phương Tây (theo đạo Thiên chúa giáo) thì Tết Nguyên đán cũng ý nghĩa như vậy đối với người Việt Nam. Với những tên gọi khác nhau như Tết cổ truyền, Tết Nguyên đán, Tết âm lịch, đều thể hiện ngày đặc biệt quan trọng trong năm. Thường thì Tết âm lịch sẽ rơi vào giữa tháng Hai dương lịch, hoặc sớm hơn là và cuối tháng Một. Các ngày lễ chính của Tết là ngày mùng 1, 2, 3. Nhưng để chuẩn bị cho những ngày trọng đại này thì mọi nhà thường bắt đầu chuẩn bị từ 23 tháng Chạp.

    Để đón một cái Tết lớn trong năm, mọi thành viên trong gia đình đều tất bật chuẩn bị thật kỹ lưỡng mọi thứ. Sau 23 tháng Chạp, mọi công tác chuẩn bị đều đã được bắt đầu. Mỗi thành viên đều được phân công công việc của riêng mình.

    Mọi công việc chuẩn bị này có thể kéo dài đến ngày 30 tháng Chạp âm lịch, đây là ngày cuối cùng của một năm, mọi người cùng nhau chuẩn bị mâm cơm đoàn viên và được gọi là mâm cơm “tất niên”. Đây có lẽ là mâm cơm cầu kì nhất trong năm, nó thường có nhiều món cùng với việc trang trí đặc sắc hơn so với bữa ăn thường ngày.

    Món ăn đặc biệt không thể thiếu đó là thịt gà. Gà được chế biến sẵn rồi luộc cả con, để ráo nước để chuẩn bị cúng vào thời khắc quan trọng nhất trong năm. Một trong những công tác chuẩn bị quan trọng nhất cho ngày Tết cổ truyền đó chính là mâm ngũ quả. Đúng như cái tên gọi của nó, thường có năm quả đại diện cho những điều may mắn, tốt đẹp nhất trong năm. Tùy vào các vùng miền mà năm loại quả này được chọn khác nhau.

    Bước sang thời khắc quan trọng nhất đó chính là ba ngày Tết. Mùng 1, mùng 2 và mùng 3 là những ngày đầu năm mới. Mọi người sẽ cùng nhau đi thăm hỏi và chúc Tết gia đình, người thân và bạn bè. Họ dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất, ý nghĩa nhất. Một trong những điều thú vị nhất đó chính là tục lì xì đầu năm. Thông thường mọi người sẽ lì xì (mừng tuổi) cho người lớn tuổi và trẻ nhỏ với ý nghĩa mong mọi điều tốt lành. Hết ba ngày tết, mọi người lại quay về cuộc sống thường ngày với những tất bật, bộn bề.

    Ngày Tết cổ truyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người dân Việt Nam. Không chỉ là ngày đầu tiên trong năm mà còn mang ý nghĩa truyền thống văn hóa của người dân. Đó là phong tục, tập quán của Việt Nam. Tết còn là nơi gia đình đoàn tụ, sum vầy, là nơi yêu thương trở về. Tết mang ý nghĩa giúp cho con người ta xích lại gần nhau hơn, thêm yêu thương và gắn bó.

    Mỗi người dân Việt không ai là không yêu và mong chờ ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Với những ý nghĩa quan trọng, to lớn, Tết cổ truyền mãi là nét đẹp trong văn hóa truyền thống của người dân Việt Nam. Nó sẽ mãi được lưu truyền và gìn giữ cho đến mãi sau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mâm Cơm Cúng Ngày Tết Nguyên Đán
  • Đãi Cả Nhà Mâm Cơm Tết Nguyên Tiêu Thật Ngon Và Hoành Tráng
  • Chị Em Khoe Mâm Cơm Hấp Dẫn Cúng Tết Nguyên Tiêu: Người Cơm Chay Đơn Giản, Người Sang Chảnh Đắt Tiền
  • Tết Thanh Minh Là Gì? Tết Thanh Minh Năm 2021 Là Ngày Nào?
  • Bài Cúng Tết Thanh Minh Đầy Đủ Và Chính Xác Tại Nhà
  • Tin tức online tv