Top #10 Xem Nhiều Nhất Văn Khấn Mẫu Thoải Mới Nhất 8/2022 # Top Like | Herodota.com

Bài Văn Khấn Mẫu Thoải Đi Lễ Đền Thờ Mẫu Thoải Đầy Đủ

--- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Văn Bài Khấn Cúng Thôi Nôi Cho Bé Trai Và Bé Gái
  • Bài Văn Khấn Mẫu Thoải Dành Cho Người Dân Nghề Sông Nước Đúng Nhất
  • Bài Khấn Cúng Đầy Tháng
  • Bài Văn Khấn Đền Ông Hoàng Mười Tại Nghệ An Hà Tĩnh Đầy Đủ Nhất Hiện Nay
  • Văn Khấn Ngày Rằm Tháng 7 Như Thế Nào?
  • 1. Tại sao chúng ta cần biết văn khấn Mẫu Thoải?

    Không nhiều người biết đến vị thần Mẫu Thoải, trong khi đây là nữ thần giúp đỡ nhiều cho con dân bởi tấm lòng trắc ẩn, giàu lòng thương yêu nhân loại đang sống trong bể khổ, nhỏ bé, yếu ớt trong sự bao la, sâu thẳm của vũ trụ. Vì thế, khi đi lễ để cầu sự giúp đỡ của người, chúng ta cần phải đọc văn khấn lễ mẫu thoải mong mẫu chứng giám từ đó nhận được sự phù hộ độ trì, giúp đỡ trong cuộc sống.

    2. Sơ lược về Mẫu Thoải

    Mẫu Thoải là vị nữ thần chuyên trách cai quản miền sông nước. Trong hệ thống tam tòa Thánh Mẫu thì Mẫu Thoại là vị thần thứ 3, 3 nữ vị thần có pho tượng giống nhau chỉ khác về màu trang phục. Theo đó, Mẫu Thượng ngàn nằm ở bên phải, ở giữa là Mẫu Liễu, và Mẫu Thoải nằm ở bên trái, mặc trang phục màu trắng.

    Theo dân gian ta, Mẫu Thoải như người mẹ hiền, luôn chăm lo săn sóc cho những đứa con, có mặt ở bất cứ đâu để âm phù, giúp đỡ mọi người nhưng lại bị hàm oan. Tương truyền rằng, Mẫu Thoải phủ là con gái út của Bắc Hải Long Vương trong lần rẽ nước biển đến với trần gian để dạo chơi. Rồi một ngày kia không may cho nàng khi vua cha đóng cửa biển khiến công chúa đành ở lại trần thế rồi đầu thai và tu nhân tích đức dần dần từ một cô bé thoại đã trở thành công chúa thủy phủ và cuối cùng được tôn thờ Mẫu thủy phủ- người mẹ của miền sông nước, cứu giúp con dân. Mẫu Thoải là tên gọi thường dùng của người, luôn giúp đỡ, đi theo âm phù mọi người mỗi khi phải đi qua vùng sông nước. Do vậy, mỗi khi người ta bước xuống đò, hay đi qua một khúc sông rộng sẽ thường lẩm nhẩm lời cầu khấn, xin Mẫu phù hộ bảo vệ cho. Không những thế, mỗi khi có hạn, Mẫu đều phái tướng sĩ của mình đi lo việc làm mưa cho bớt hạn. Còn khi bão lụt, Mẫu Thoải lại hóa phép cho gió yên, mưa tạnh. Các loài thủy quái, thủy tặc đều được canh chừng bởi các thần tướng của Mẫu vì thế mà không thể tùy tiện tác oai, tác quái, gây hại đến người dân.

    3. Đền phủ nào đang thờ Mẫu Thoải?

    Hầu hết tại các đền trên cả nước đều có thờ tam tòa Thánh Mẫu, cũng có đền phù thờ riêng thánh Mẫu Thoải. Bạn có thể tìm đến các địa chỉ sau đang thờ Mẫu Thoải để thắp hương, văn khấn đền mẫu thoải để cầu khấn, đó là:

    – Đền Xâm Thị ở Hồng Vân, Thường Tín, thờ Mẫu Thoải.

    – Đền thờ Mẫu Thoải tại Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội.

    – Đê Hữu Hồng, Ninh Sở, Thường Tín, Hà Nội

    4. Bản văn khấn Mẫu Thoải

    Khi cầu xin các thánh thần, với thánh Mẫu Thoải có văn khấn đền mẫu thoải bạn cần học thuộc và khi chắp tay cầu khẩn sẽ lẩm nhẩm văn khấn mẫu thoải để tỏ rõ khẩn cầu lên Mẫu Thoải và nhận được sự âm phù của người. Bên cạnh đó, khi cầu điều gì bạn cũng cần đặt sự thành tâm của mình của đó và truy cầu những điều chính đáng, không phạm pháp, bất chính thì sẽ được phù hộ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Sắm Lễ Và Văn Khấn Nôm Cúng Giao Thừa Trong Nhà Và Ngoài Trời
  • Chia Sẻ Cho Bạn Cách Cúng Và Bài Cúng Mùng 1 Chuẩn Nhất
  • Video Hướng Dẫn Lễ Cúng Ông Công Ông Táo Và Bài Khấn Phổ Biến
  • Có Phải Quỷ Thần Ở Trên Cây To? Làm Thế Nào Khi Chặt Đốn Cây Cổ Thụ?
  • Mâm Lễ Cúng Tạ Đất Cuối Năm Gồm Những Gì?
  • Bài Văn Khấn Mẫu Thoải Dành Cho Người Dân Nghề Sông Nước Đúng Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Khấn Cúng Đầy Tháng
  • Bài Văn Khấn Đền Ông Hoàng Mười Tại Nghệ An Hà Tĩnh Đầy Đủ Nhất Hiện Nay
  • Văn Khấn Ngày Rằm Tháng 7 Như Thế Nào?
  • Văn Khấn Cúng Gia Tiên Ngày Rằm Tháng Chạp Đầy Đủ Nhất
  • Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Tại Nhà, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Tại Chùa
  • Bài văn khấn Mẫu Thoải dành cho người dân nghề sông nước đúng nhất: Mẫu Thoải là vị nữ thần chuyên trách cai quản miền sông nước, vì vậy việc tìm hiểu về văn khấn Mẫu Thoải dưới đây là rất cần thiết giúp bạn được mẫu chứng giám và nhận được sự phù hộ độ trì. # Mẫu Thoải là ai? Không nhiều người biết đến vị thần Mẫu Thoải, trong khi đây là nữ thần giúp đỡ…

    Bài văn khấn Mẫu Thoải dành cho người dân nghề sông nước đúng nhất: Mẫu Thoải là vị nữ thần chuyên trách cai quản miền sông nước, vì vậy việc tìm hiểu về văn khấn Mẫu Thoải dưới đây là rất cần thiết giúp bạn được mẫu chứng giám và nhận được sự phù hộ độ trì.

    # Mẫu Thoải là ai?

    Không nhiều người biết đến vị thần Mẫu Thoải, trong khi đây là nữ thần giúp đỡ nhiều cho con dân bởi tấm lòng trắc ẩn, giàu lòng thương yêu nhân loại đang sống trong bể khổ, nhỏ bé, yếu ớt trong sự bao la, sâu thẳm của vũ trụ. Vì thế, khi đi lễ để cầu sự giúp đỡ của người, chúng ta cần phải đọc văn khấn lễ mẫu thoải mong mẫu chứng giám từ đó nhận được sự phù hộ độ trì, giúp đỡ trong cuộc sống.

    Mẫu Thoải là vị nữ thần chuyên trách cai quản miền sông nước. Trong hệ thống tam tòa Thánh Mẫu thì Mẫu Thoại là vị thần thứ 3, 3 nữ vị thần có pho tượng giống nhau chỉ khác về màu trang phục. Theo đó, Mẫu Thượng ngàn nằm ở bên phải, ở giữa là Mẫu Liễu, và Mẫu Thoải nằm ở bên trái, mặc trang phục màu trắng.

    Theo dân gian ta, Mẫu Thoải như người mẹ hiền, luôn chăm lo săn sóc cho những đứa con, có mặt ở bất cứ đâu để âm phù, giúp đỡ mọi người nhưng lại bị hàm oan. Tương truyền rằng, Mẫu Thoải phủ là con gái út của Bắc Hải Long Vương trong lần rẽ nước biển đến với trần gian để dạo chơi. Rồi một ngày kia không may cho nàng khi vua cha đóng cửa biển khiến công chúa đành ở lại trần thế rồi đầu thai và tu nhân tích đức dần dần từ một cô bé thoại đã trở thành công chúa thủy phủ và cuối cùng được tôn thờ Mẫu thủy phủ- người mẹ của miền sông nước, cứu giúp con dân.

    Mẫu Thoải là tên gọi thường dùng của người, luôn giúp đỡ, đi theo âm phù mọi người mỗi khi phải đi qua vùng sông nước. Do vậy, mỗi khi người ta bước xuống đò, hay đi qua một khúc sông rộng sẽ thường lẩm nhẩm lời cầu khấn, xin Mẫu phù hộ bảo vệ cho. Không những thế, mỗi khi có hạn, Mẫu đều phái tướng sĩ của mình đi lo việc làm mưa cho bớt hạn. Còn khi bão lụt, Mẫu Thoải lại hóa phép cho gió yên, mưa tạnh. Các loài thủy quái, thủy tặc đều được canh chừng bởi các thần tướng của Mẫu vì thế mà không thể tùy tiện tác oai, tác quái, gây hại đến người dân.

    # Văn khấn Mẫu Thoải dành cho người dân nghề sông nước

    Khi cầu xin các thánh thần, với thánh Mẫu Thoải có văn khấn đền mẫu thoải bạn cần học thuộc và khi chắp tay cầu khẩn sẽ lẩm nhẩm văn khấn mẫu thoải để tỏ rõ khẩn cầu lên Mẫu Thoải và nhận được sự âm phù của người. Bên cạnh đó, khi cầu điều gì bạn cũng cần đặt sự thành tâm của mình của đó và truy cầu những điều chính đáng, không phạm pháp, bất chính thì sẽ được phù hộ.

    • + Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)
    • + Hương tử chúng con thành tâm kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.+ Kính lạy Đức Cửu Trùng Thanh Vân lục cung công chúa.
    • + Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng công chúa, sắc phong Chế Thắng Hòa Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh mẫu.
    • + Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.
    • + Đức đệ tam thủy phủ, Lân nữ công chúa.
    • + Đức đệ tứ khâm sai Thánh mẫu, tứ vi chầu bà, năm tòa quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.
    • + Tín chủ con là:
    • + Ngụ tại:
    • + Cùng toàn thể gia đình đến nơi điện (phủ, đền) ……………………….. chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương ủng hộ, khiến cho gia đình chúng con tiêu trừ tai nạn, điều lành thường tới, điềm dữ lánh xa, hết tai ương bệnh tật trong nhà, hưởng thịnh vượng an lành mãi mãi. Tài như nước đến, lộc tựa mây về, bốn mùa không hạn ách nào xâm, tám tiết có phúc lành tiếp ứng.
    • + Lại xin: Thể đức hiếu sinh, rủ lòng cứu độ, khiến chúng con như ý sở cầu, cho hương tử lòng tâm sở nguyện.
    • + Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám. Cẩn tấu.

    Tóm tắt: Trên đây là Bài văn khấn Mẫu Thoải dành cho người dân nghề sông nước đúng nhất hy vọng sẽ giúp ích cho bà con có nhu cầu khấn nôm khi dâng lễ lên bàn thờ tam toà thánh mẫu. Đọc thêm cúng khai trương đầu năm 2022.Tags: Văn khấn mẫu thoải, văn khấn đền mẫu thoải, văn khấn lễ mẫu thoải, văn khấn tại đền mẫu thoải, mẫu thoải là ai, tam toà thánh mẫu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Văn Bài Khấn Cúng Thôi Nôi Cho Bé Trai Và Bé Gái
  • Bài Văn Khấn Mẫu Thoải Đi Lễ Đền Thờ Mẫu Thoải Đầy Đủ
  • Cách Sắm Lễ Và Văn Khấn Nôm Cúng Giao Thừa Trong Nhà Và Ngoài Trời
  • Chia Sẻ Cho Bạn Cách Cúng Và Bài Cúng Mùng 1 Chuẩn Nhất
  • Video Hướng Dẫn Lễ Cúng Ông Công Ông Táo Và Bài Khấn Phổ Biến
  • Sự Tích Cô Bơ Mẫu Thoải Thác Hàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Ông Hoàng Bảy Ngắn Gọn Dành Cho Dân Lô Đề Cờ Bạc
  • Đầu Năm Đi Lễ Ông Hoàng Bảy
  • Tìm Hiểu Về Chuyện Đi Lễ Ông Hoàng Bẩy Chưa Ai Biết
  • Đền Cô Chín Ở Thanh Hóa, Đầu Năm Lễ Hội Ngôi Đền Linh Thiêng
  • Đền Cô Chín (Chín Giếng)
  • Mẫu thoải hay còn gọi là Cô Bơ thác hàn là một vị mẫu được thờ trong Tam phủ, Tứ Phủ của người Việt. Ở mỗi vùng miền sẽ có những truyền thuyết về sự tích Cô Bơ và cách giải thích khác nhau về nguồn gốc và thân thế Mẫu Thoải. Dù có giải thích thế nào, nhiều hay ít thì Mẫu Thoải cũng vẫn là một vị Thủy Phúc Thần. Thờ Mẫu Thoải không tách khỏi truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” trong lộ trình hành hương về với cội nguồn dân tộc Việt Nam.

    Sự tích cô bơ – Hiển Linh phò vua giúp nước

    Sự tích Cô Bơ được gắn liền với tên gọi Cô Bơ Bông, cô Bơ Thác Hàn ( hay còn gọi là Cô Ba Thoải Cung) vốn là con Thủy Tề ở dưới Thoải Cung, được phong là Thoải Cung Công Chúa. Mẫu thoải đứng hàng thứ ba trong Tứ Phủ Thánh Cô.

    Sau này Cô Bơ Thoải giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng, tương truyền sự tích Cô Bơ như sau:

    Đức Thái Bà nằm mộng thấy người con gái xinh đẹp tuyệt trần, dáng ngọc thướt tha, tóc mượt mắt sáng, má hồng, môi đỏ, cổ cao ba ngấn, mặc áo trắng đến trước sập nằm dâng lên người một viên minh châu và nói rằng: mình vốn là Thủy Cung Tiên Nữ, nay vâng lệnh cao minh lên phàm trần đầu thai vào nhà đó. Sau này để giúp vua giúp nước, thì Thái Bà thụ thai.

    Đến ngày 2/8 thì bỗng trên trời mây xanh uốn lượn, nơi Thủy Cung nhã nhạc vang lên, đúng lúc đó, Thái Bà hạ sinh ra được một người con gái, xem ra thì nhan sắc mười phần đúng như trước kia đã thấy chiêm bao. Thấy sự lạ kỳ vậy nên bà chắc hẳn con mình là bậc thần nữ giáng hạ, sau này sẽ ra tay phù đời nên hết lòng nuôi nấng dạy dỗ bảo ban.

    Đến khi cô vừa độ trăng tròn, thì cũng là lúc nước nhà gặp nguy phải chịu ách đô hộ của giặc Minh. Cô cùng thân mẫu lánh vào phía sâu vùng Hà Trung Thanh Hóa – nơi ngã ba bến Đò Lèn, Phong Mục. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, cô đã có công giúp vua Lê trong những năm đầu kháng chiến (và có nơi còn nói rằng cô cũng hiển ứng giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Diệt Mạc” sau này).

    Bên cạnh đó , Sự tích Cô Bơ còn được lưu truyền lại qua câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi (có sách nói là Lê Lai) bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cũng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đó không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi.

    Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh.

    Sự tích Cô Bơ cũng dần được bồi đắp theo triều đại lịch sử. Khi thì giúp dân chống hạn hay chống lụt, khi thì chống giặc ngoại xâm, khi lại dạy dân, trồng dâu nuôi tằm dệt vải… khiến cho diện mạo nguyên thủy khó nhận ra, cùng với quyền năng cũng được rộng lớn hơn ở các vùng miền khác nhau để phù hợp với hoàn cảnh và ý nguyện của nhân dân đang sinh sống.

    Thờ cô Bơ thế nào cho đúng ?

    Sự tích cô Bơ đã đôi phần được làm sáng tỏ, cũng như các mẫu , rất quan trọng cách thờ nếu không sẽ mang lại tai họa cho gia chủ.

    Sự tích cô Bơ đã minh chứng cho sự hiển linh của thần thánh cứu giúp nhân dân. Điều đó, cũng thể hiện ông cha ta đề cao nhân cách đạo đức, sống trung quân ái quốc, bảo vệ từng tấc đất mà tổ tiên để lại.

    Với những người theo đạo Mẫu tại gia, có thể lập điện thờ mẫu. Nhưng chỉ những người có căn đồng, thì mới nên thờ cô trong nhà còn không thì không nên vì nếu thờ không đúng cách hoặc con cháu đời sau không chăm lo thờ cúng thì sẽ phải gánh nghiệp rất lớn.

    Sự tích cô Bơ, trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ thờ bốn vị Thánh Mẫu là: Thánh Mẫu Cửu Trùng, Thánh Mẫu Thần Chủ (Mẫu Liễu Hạnh), Thánh Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Trong đó, Mẫu thoải – Thuỷ phủ ( miền sông nước) hay còn gọi là mẫu đệ tam trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp phát triển.

    Tại tất cả các đền thờ, lễ vật dâng Mẫu Thoải đều tương tự nhau. Một mâm lễ cơ bản gồm một đĩa hoa, một đĩa quả nhiều loại, cơi trầu, quả cau, cút rượu, xôi thịt, giấy tiền, thẻ hương và một cánh sớ báo danh. (Lễ mặn chỉ đặt ở ban Công Đồng)

    Đền Cô Bơ được thờ phụng ở rất nhiều tỉnh thành trên toàn quốc, nhưng đền chính gắn liền với sự tích Côthì tại thác hàn, xã Hà Sơn, Huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa và lễ hội chính vào 12/6 (Âm lịch).

    Qua sự tích Cô Bơ dân gian truyền tai nhau rằng, đền Cô Bơ rất linh. Ai hữu sự đến cửa cô nhất tâm lễ lạy, sắm sửa lễ vật thì đều được thành tựu như ý, nên tiếng cô vang lừng khắp nơi. Lại thêm những câu chuyện cổ hiển linh được lưu truyền trong dân gian lại làm cho ngôi đền càng thêm linh ứng, kỳ bí và linh thiêng.

    Hy vọng, qua bài viết trên đã giúp gia chủ hiểu hơn về sự tích Cô Bơ. Truyền thuyết được được lưu truyền qua nhiều thế hệ nên có nhiều câu chuyện khác nhau. Nhưng qua bài viết trên, cũng đôi phần minh chứng cho giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Luôn đề cao phẩm chất đạo đức, nhân vật anh dũng hy sinh việc riêng để giang sơn tổ quốc được hòa bình, ấm êm.

    Nếu quý khách có nhu cầu về các sản phẩm đồ đồng, xin vui lòng liên hệ tại:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viếng Đền Cô Chín Thanh Hóa, Sắm Lễ Cô Chín Cần Những Gì?
  • Hành Trình Đi Tìm Lại Pho Tượng Bị Đánh Cắp Trong Ngôi Chùa Cổ
  • Tìm Hiểu Về Vị Tiên Cô Hầu Mẫu Đệ Nhị
  • Tổng Hợp Kiến Thức Về Cô Bơ Bông
  • Đi Lễ Cô Bơ Cần Chuẩn Bị Những Gì?
  • Văn Khấn Tại Đền Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ Chuẩn Tín Ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Bài Văn Khấn Ông Hoàng Bảy Đầy Đủ Và Chuẩn Xác Nhất
  • Văn Khấn Quan Lớn Đệ Tam
  • Văn Khấn Quan Lớn Tuần Tranh
  • Văn Khấn Quan Thế Âm Bồ Tát Chuẩn Và Đầy Đủ Nhất
  • Văn Khấn Thần Thổ Công Và Các Vị Thần
  • Văn khấn tại đền Quan lớn đệ Tam Thoải Phủ chuẩn tín ngưỡng đạo Mẫu Việt Nam

    Tín ngưỡng văn hóa đạo Mẫu Việt Nam có Tam Tòa Thánh Mẫu, Ngũ vị tôn Quan, Thập vị ông Hoàng,… Mỗi người đều ngự riêng tại bản đền, bản điện với bài văn khấn đền và quyền phép khác nhau. Cùng chúng tôi tìm hiểu về Quan lớn đệ Tam Thoải Phủ qua bài viết sau đây.

    Thần tích Quan lớn đệ Tam Thoải Phủ

    Quan Lớn Đệ Tam được biết đến là con trai thứ ba của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông được vua cha yêu mến và tín nhiệm, giao cho quyền cai quản chốn Long Giai Động Đình, cận bên cạnh phụ vương. Dưới thời Hùng Vương, theo lệnh vua cha, ông cùng hai người em (có sách nói là hai người thân cận) lên giúp Vua Hùng chỉ huy thuỷ binh, lúc này ba vị giáng ở đất Hà Nam, được nhân dân tôn thành “Tam Vị Đại Vương”, trong đó, Quan Đệ Tam là người anh cả trong ba người.

    Có điển tích lại kể rằng Quan Tam Phủ giáng trần vào nhà quý tộc dưới thời Hùng Vương, ông trở thành vị tướng quân thống lĩnh ba quân thuỷ lục. Ông đã hy sinh trong một trận huyết chiến và hạ thân (mình) trôi về hai bên bờ con sông Lục Đầu). Ông hoá đi, về chầu Long Cung, là người cầm cân nảy mực, thông tri Tam Giới, quyền cai các thanh đồng đạo quan. Vậy nên có khi người ta còn gọi là Ông Cai Đầu Đồng.

    Hầu như những người đã ra hầu Tứ Phủ, khi hầu hàng Quan Lớn, ai cũng phải hầu về Quan Đệ Tam. Ông là một trong những vị quan lớn hay về ngự đồng nhất. Khi ngự đồng, ông mặc áo trắng thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp và ông múa đôi song kiếm. Khi có đại tiệc khai đàn mở phủ, người ta thỉnh quan về chứng đàn Thoải Phủ (gồm có long chu phượng mã, lốt tam đầu cửu vĩ,… tất cả đều màu trắng).

    Trong hàng quan lớn, bởi danh tiếng lẫy lừng nên ông được thờ phụng ở khắp nơi. Nhưng đầu tiên phải kể đến Đền Lảnh Giang ở Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam (gần Hưng Yên) tương truyền là nơi hạ thân của ông trôi về, sau đó phải nói đến Đền Xích Đằng cũng thuộc Hà Nam (hai ngôi đền này chỉ cách nhau cây cầu Yên Lệnh nối hai bờ sông Lục Đầu) là nơi thờ thượng thân của ngài. Ngoài ra còn có Đền Cửa Đông tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (gần Đền Mẫu Thoải)

    Tiệc Quan lớn đệ Tam diễn ra vào ngày nào ?

    Ngày mở tiệc được tổ chức tại ngày 24/6 âm lịch, dân gian còn gọi đây là ngày đản sinh của ngài.

    Văn khấn Quan lớn đệ Tam Thoải Phủ chuẩn tín ngưỡng đạo Mẫu Việt Nam

    “Trịnh giang biên giành ngân lai láng

    Đôi vầng hồng soi rạng nam minh

    Con vua thủy quốc Động Đình

    Đệ tam thái tử giáng sinh đền Rồng

    Đức gồm vẹn thung dung hòa mặc

    Bẩm sinh thành tư chất long nhan

    Thỉnh mời thái tử thái tử vương quan

    Phi phương diện mạo dung nhan khác thường

    Hằng tấu đối thiên đường thủy phủ

    Trấn nam minh quy đủ bốn phương

    Ra uy chấp chính kỉ cương

    Cầm cân nảy mực sửa sang cõi đời

    Chốn long giai cầm quyền thay chúa

    Phép màu quan tối tú tối linh

    Lệnh truyền thủy bộ chư dinh

    Sửa sang đai giáp chơi miền trần gian

    Dâng một triền nhang lòng thành dâng một triền nhang

    Tấu về thủy phủ các ban các tòa thiên đình cho tới diêm la

    Thiên đình cho tới diêm la tấu vè thoải phủ vua cha động đình

    Chốn ấy là chốn thủy cung”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Đức Quan Âm Chuẩn Đề Bồ Tát Ở Chùa Hương
  • Download Văn Khấn Phóng Sinh File Doc
  • Văn Khấn Phật Bà Quan Âm Tại Nhà
  • Văn Khấn Mùng Một Và Ngày Rằm Ngắn Gọn Và Dễ Nhớ
  • Văn Khấn Lễ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Phật Bà Quan Âm
  • Bài Văn Khấn Mẫu Thoải Dành Cho Người Dân Làm Nghề Sông Nước Đúng Chuẩn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Khấn Đi Chùa Mùng 1 Ngày Rằm Và Cách Sắm Lễ Vật Cúng Tại Chùa
  • Văn Khấn Lễ Tổ Tiên Mùng 1 Và 15 Hàng Tháng
  • Văn Khấn Lễ Nhập Trạch Chuẩn
  • Lễ Nhập Trạch Nhà Thuê
  • Văn Khấn Lễ Ông Táo Chầu Trời
  • # Mẫu Thoải là ai?

    Không nhiều người biết đến vị thần Mẫu Thoải, trong khi đây là nữ thần giúp đỡ nhiều cho con dân bởi tấm lòng trắc ẩn, giàu lòng thương yêu nhân loại đang sống trong bể khổ, nhỏ bé, yếu ớt trong sự bao la, sâu thẳm của vũ trụ. Vì thế, khi đi lễ để cầu sự giúp đỡ của người, chúng ta cần phải đọc văn khấn lễ mẫu thoải mong mẫu chứng giám từ đó nhận được sự phù hộ độ trì, giúp đỡ trong cuộc sống.

    Theo dân gian ta, Mẫu Thoải như người mẹ hiền, luôn chăm lo săn sóc cho những đứa con, có mặt ở bất cứ đâu để âm phù, giúp đỡ mọi người nhưng lại bị hàm oan. Tương truyền rằng, Mẫu Thoải phủ là con gái út của Bắc Hải Long Vương trong lần rẽ nước biển đến với trần gian để dạo chơi. Rồi một ngày kia không may cho nàng khi vua cha đóng cửa biển khiến công chúa đành ở lại trần thế rồi đầu thai và tu nhân tích đức dần dần từ một cô bé thoại đã trở thành công chúa thủy phủ và cuối cùng được tôn thờ Mẫu thủy phủ- người mẹ của miền sông nước, cứu giúp con dân.

    Mẫu Thoải là tên gọi thường dùng của người, luôn giúp đỡ, đi theo âm phù mọi người mỗi khi phải đi qua vùng sông nước. Do vậy, mỗi khi người ta bước xuống đò, hay đi qua một khúc sông rộng sẽ thường lẩm nhẩm lời cầu khấn, xin Mẫu phù hộ bảo vệ cho. Không những thế, mỗi khi có hạn, Mẫu đều phái tướng sĩ của mình đi lo việc làm mưa cho bớt hạn. Còn khi bão lụt, Mẫu Thoải lại hóa phép cho gió yên, mưa tạnh. Các loài thủy quái, thủy tặc đều được canh chừng bởi các thần tướng của Mẫu vì thế mà không thể tùy tiện tác oai, tác quái, gây hại đến người dân.

    # Văn khấn Mẫu Thoải dành cho người dân nghề sông nước

    Khi cầu xin các thánh thần, với thánh Mẫu Thoải có văn khấn đền mẫu thoải bạn cần học thuộc và khi chắp tay cầu khẩn sẽ lẩm nhẩm văn khấn mẫu thoải để tỏ rõ khẩn cầu lên Mẫu Thoải và nhận được sự âm phù của người. Bên cạnh đó, khi cầu điều gì bạn cũng cần đặt sự thành tâm của mình của đó và truy cầu những điều chính đáng, không phạm pháp, bất chính thì sẽ được phù hộ.

  • + Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)
  • + Hương tử chúng con thành tâm kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.+ Kính lạy Đức Cửu Trùng Thanh Vân lục cung công chúa.
  • + Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng công chúa, sắc phong Chế Thắng Hòa Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh mẫu.
  • + Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.
  • + Đức đệ tam thủy phủ, Lân nữ công chúa.
  • + Đức đệ tứ khâm sai Thánh mẫu, tứ vi chầu bà, năm tòa quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.
  • + Tín chủ con là:
  • + Ngụ tại:
  • + Lại xin: Thể đức hiếu sinh, rủ lòng cứu độ, khiến chúng con như ý sở cầu, cho hương tử lòng tâm sở nguyện.
  • + Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám. Cẩn tấu.
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Lễ Phật Ở Chùa
  • Văn Khấn Cúng Và Cách Cúng Trong Lễ Cúng Mụ
  • Văn Khấn Lễ Chạp Bằng Âm Hán
  • Văn Khấn Lễ Chung Thất (Cứ 7 Ngày Lễ Cầu Siêu Cho Người Quá Cố Một Lần
  • Văn Khấn Lễ Cầu Con Ở Chùa Hương Rất Linh Nghiệm :: Ma Phương :: Tinh Hoa Đông Phương
  • Bản Văn: Cô Bơ Thoải Cung

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Bỏ Bát Hương Cũ (Giải Xá Bát Hương) Thần Linh, Thổ Địa
  • Văn Khấn Lễ Tế Ngu ( Lễ Vào 3 Ngày Đầu: L1Ngay Sau Khi Đưa Đám Về
  • Văn Khấn Tứ Phủ Công Đồng Tại Đền, Phủ Đầy Đủ Nhất
  • Gọi Hồn Người Xưa – Bài 4
  • Hướng Dẫn Bài Khấn Đốt Vía Giải Xui Đúng Cách Xua Đuổi N, Cách Đốt Vía Giải Đen Như Thế Nào Là Đúng Nhất
  • “Hiển danh là bóng Cô Bơ

    Lên tâu xuống rộng trong tòa Thoải Cung”

    Rồi để ca ngợi tài sắc của Cô Bơ cũng có nhiều đoạn rất hay như:

     “Đẹp bằng Nghiêu Thuấn nữ trung

    So nên tài sắc tiên cung nào tày

    Cô Bơ đàn hát cũng hay

    Ngũ âm khéo này năm dây tang tình

    Ngự chơi đâu một mình một phủ

    Áo khăn hầu sắm sửa dâng ngay

    Dâng cô quả nón đôi hài

    Dâng gương dâng lược vòng tay quạt ngà

    Chấm đồng đâu kể trẻ già

    Hay cũng có cả đoạn sau:

    ”Dao vàng cô diếc móng tay

    Bút thần cô kẻ lông mày cong cong

    Rập rờn nét liễu nằm ngang

    Phấn son tô điểm má hồng thiên trung

    Thật là tiên nữ thủy cung…”

    Cô vốn là con Thủy Tề ở dưới Thoải Cung , được phong là Thoải Cung Công Chúa, giá ngự vào ra trong Cung Quảng Hàn. Có người còn nói rằng, Cô Bơ là con gái vua Long Vương rất xinh đẹp nết na nên được Đức Vương Mẫu (có người cho rằng đó là Mẫu Cửu Trùng Thiên) cho theo hầu cận, chầu chực trong cung cấm. Sau này Cô Bơ Thoải giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng, tương truyền sự tích như sau: Đức Thái Bà nằm mộng thấy có người con gái xinh đẹp, dáng ngọc thướt tha, tóc mượt mắt sáng, má hồng, môi đỏ, cổ cao ba ngấn, mặc áo trắng đến trước sập nằm dâng lên người một viên minh châu rồi nói rằng mình vốn là Thủy Cung Tiên Nữ, nay vâng lệnh cao minh lên phàm trần đầu thai vào nhà đó, sau này để giúp vua giúp nước, thì Thái Bà thụ thai.

     

    Đến ngày 2/8 thì bỗng trên trời mây xanh uốn lượn, nơi Thủy Cung nhã nhạc vang lên, đúng lúc đó, Thái Bà hạ sinh ra được một người con gái, xem ra thì nhan sắc mười phần đúng như trước kia đã thấy chiêm bao. Thấy sự lạ kì vậy nên bà chắc hẳn con mình là bậc thần nữ giáng hạ, sau này sẽ ra tay phù đời nên hết lòng nuôi nấng dạy dỗ bảo ban. Cô lớn lên trở thành người thiếu nữ xinh đẹp, tưởng như ví với các bậc tài nữ từ ngàn xưa, lại giỏi văn thơ đàn hát. Đến khi cô vừa độ trăng tròn thì cũng là lúc nước nhà phải chịu ách đô hộ của giặc Minh, cô cùng thân mẫu lánh vào phía sâu vùng Hà Trung Thanh Hóa, nơi ngã ba bến Đò Lèn, Phong Mục. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, cô đã có công giúp vua Lê trong những năm đầu kháng chiến (và có nơi còn nói rằng cô cũng hiển ứng giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Dẹp Mạc” sau này).

     

    Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi (có sách nói là Lê Lai) bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cũng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đo không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi. Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình phong công và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh.

     

     Người ta cho rằng, Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, đến chí kì mãn hạn thì có xe loan lên đón rước cô về Thủy Cung. Sau đó cô hiển linh giúp dân chúng ở vùng ngã ba sông, độ cho thuyền bè qua lại được thuận buồm xuôi gió vậy nên cô còn có danh hiệu là Cô Bơ Bông (do tích cô giáng ở ngã ba sông) hay Cô Bơ Thác Hàn (theo tên gọi ở nơi quê nhà). Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi nơi Cô Bơ luôn giá ngự về đồng, già trẻ, từ đồng tân đến đồng cựu, hầu như ai cũng hầu về Cô Bơ Bông. Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh. Vì theo quan niệm nguyên xưa Cô Bơ Bông hầu cận Mẫu Thoải, lại theo sự tích nơi quê nhà cô là ở đất Hà Trung, Thanh Hóa, ngã ba Bông bến đò Lèn nên đền cô được lập ở đó, gần đền Mẫu Thác Hàn (chính là Mẫu Thoải), gọi tên là Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây đường đi vào rất khó khăn, nhưng hiện giờ đã được tu sửa nên giao thông đã dễ dàng hơn.

     

     Đền cô là nơi thắng cảnh “trên bến dưới thuyền”, nơi giao của Ngũ huyện kê: “Một tiếng gà gáy năm huyện đều nghe” cũng với danh tiếng anh linh của tiên cô nên khách thập phương đến chiêm bái, cầu xin nhân duyên, khoa cử, làm ăn rất đông đúc. Thuyền bè dưới bến sông qua lại đều phải đốt vàng mã kêu cô, rồi những người đến kêu cầu đều dâng cô nón trắng hài cườm, võng lụa thuyền rồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Chúng Sinh Tại Gia
  • Bản Văn: Chúa Ngũ Phương Bản Cảnh
  • Bài Văn Khấn Cúng Đất Tháng 2 Và Cách Chọn Ngày Tốt Chuẩn Phong Thủy
  • Văn Khấn Gia Tiên Khi Đi Xa Về, Những Bài Khấn Gia Tiên Dễ Nhớ
  • Bài Văn Khấn Ngày Giỗ Ông Bà Nội Gia Tiên, Văn Khấn Cúng Giỗ Cha Mẹ, Ông Bà
  • Sự Tích Mẫu Thoải 4 Lần Hiển Linh Phù Vua Cứu Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Tại Mộ, Văn Khấn Khi Tảo Mộ, Khấn Trước Khi Xây Mộ
  • Download Văn Khấn Cúng Khi Mua Ô Tô Mới File Doc
  • Cách Khấn Đi Chùa Mùng 1 Cầu Tài Lộc Bình An Và Tình Duyên
  • Văn Khấn Mùng 1 Trong Nhà Và Ngoài Trời Cùng Lễ Vật Cần Chuẩn Bị
  • Văn Khấn Gia Tiên Ngày Mùng 1 Tết Kỷ Hợi Chuẩn Nhất
  • Mẫu Thoải thuộc một trong ba vị thánh Mẫu quyền phép tối cao trong Tam Tòa Thánh Mẫu. Mẫu Thoải linh thiêng phù hộ độ trì cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, mưa gió thuận hòa, vạn vật tốt tươi.

    Trong số những Thủy Phúc Thần trong tín ngưỡng người Việt thì Mẫu Thoải là vị Thần quan trọng nhất. Theo tư duy dân gian thì Mẫu tức là mẹ, là người khởi nguyên sáng tạo ra vạn vật thế gian. Theo đó, Mẫu Thoải là người khởi nguyên sáng tạo ra mọi miền sông nước như biển, hồ, ao, đầm, … Mẫu Thoải hội tụ, hồi quang và tỏa chiếu sức mạnh của mọi Thủy Thần, là người có thế lực và quyền năng điều hòa gió, mưa, nguồn nước.

    Mẫu là con gái út của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Sự tích Mẫu Thoải được ghi rõ trong bản văn mẫu. Ngoài ra còn có tác phẩm “Liễu Nghị truyền thư” (Truyện Liễu Nghị).

    Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ có rất nhiều sự tích khác nhau không thống nhất.

    Phổ biến nhất là sự tích dựa trên tài liệu là bản văn Mẫu Thoải và “Liễu Nghị Thư truyền thư”. Sự tích mẫu Đệ Tam Thoải Phủ như sau. Tương truyền, mẫu vốn là con gái út của Vua Cha Bát Hải Động Đình, sống dưới thời vua Hùng Vương. Đến khi lớn lên, tiên chúa được Vua Cha gả cho Kinh Xuyên – thần ốc trên núi. Vợ chồng sống hòa thuận đầm ấm cho đến khi Kinh Xuyên lấy tiểu thiếp là Thảo Mai. Khi Kinh Xuyên đi vắng, tiên chúa ngồi khâu áo rồi bị kim đâm vô ngón tay đã lấy mảnh vải trắng thấm máu rồi bỏ vào thùng rác nhưng bị Thảo Mai giấu đi. Kinh Xuyên trở về Thảo Mai gáo gở vu oan cho Tiên Chúa là cắt máu thề nguyền tư thông cùng kẻ khác. Kính Xuyên không luận trước sau mà đem đầy Tiên Chúa vào chốn rừng sâu mặc cho thú dữ ăn thịt. Khi ở trong rừng, lúc thì chúa hiện thành long xà, lúc chúa hiện thành mỹ nhân trút âu sầu với cỏ cây hoa lá. Lòng từ bi của tiên chúa khiến cho mọi loài thú đều yêu mến và nghe lời. Cũng hay cho con tạo xoay vần mà Tiên Chúa đã gặp được Liễu Nghị đang trên đường đi lai kinh ứng thi đi ngang qua. Tiên chúa đã viết thư và gửi Liễu Nghị cùng một chiếc kim thoa nhờ chàng gửi tới thủy cung. Liễu Nghị nghe theo mà tới Bể Đông. Chàng dùng kim thoa gõ vào cây ngô đồng như lời tiên chúa dặn thì y như rằng làn nước rẽ làm đôi đón chàng tới thủy cung. Ở đây chàng đã tâu trình bức thư được tiên chúa gửi nhờ tới Vua Cha. Đọc xong, Vua Cha Thoải Quốc nổi giận sai Trưởng Tử Xích Long Hầu đi đón tiên chúa hồi cung và lập tức trừng trị Kính Xuyên và Thảo Mai. Đồng thời gắn kết mối nhân duyên của tiên chúa với Liễu Nghị. Trong bản văn của Mẫu Đệ Tam chép:

    Xích Lân Long Nữ ngự miền Thoải Cung

    Kính Xuyên sớm kết loan phòng

    Thảo Mai tiểu thiếp ra lòng gieo oan

    Kinh Xuyên chẳng xét ngay gian

    Vàng mười nỡ để lầm than sao đành

    Lòng trời thương kẻ ngay lành

    Xui quan Liễu Nghị nho sinh tìm vào…”

    Dựa trên tích này cùng với lòng tín ngưỡng trong nhân dân với Thủy tổ thì M ẫu Đệ Tam được huyền hóa, tái hiện trong các triều đình phong kiến như bà Nguyễn Thị Châu (Châu Nương) ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh thời Lê – Nguyễn với tôn xưng mẫu Hàn Sơn. Tuy nhiên, dù được huyền hóa nhiều nhưng tích chung vẫn lấy theo “Liễu Nghị thư”.

    Một vài sự tích Mẫu Thoải được lưu truyền khác lại cho rằng Mẫu là con gái của Động Đình Quân và là mẹ của Lạc Long Quân.

    Ở vùng Nghệ An, nhân dân tương truyền rằng lúc mới mở nước, Kinh Dương Vương đi xem cảnh núi sông, tìm nơi đất lành để xây dựng kinh đô. Khi về tới phương nam, đến vùng Ngàn Hống, thấy cảnh núi non hùng vĩ, 99 ngọn cao vút trấn trên tiên Hội, có thế rồng vây hổ chầu, Dương Vương lấy làm vừa ý bèn sai đắp thành dưới núi, xây dựng lâu đài thành lũy,… Công việc tạm xong, vương lại cưỡi truyền trở ra phương bắc tiếp tục cuộc tuần du. Thuyền của vua theo dòng Thanh Long (tên cũ của Sông Lam) đến gần cửa Hội, bỗng thấy người con gái mặt Hoa da phấn, tóc đen mườn mượt, má đỏ hây hây từ dưới nước nổi lên. Sau khi tự xưng là Thần Long, người con gái ấy trở thành vợ của An Dương Vương và là mẹ của Lạc Long Quân – vị vua Hùng Vương thứ nhất.

    Ki Hồng Bàng thị trong phần Ngoại ký của Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Kinh Dương Vương trị vì phương Nam, gọi tên là nước Xích Quỷ, Vua lấy con gái của Động Đình Quân tên là Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân.” Hay trong Lĩnh Nam chích quái cũng kể thêm: “Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy con gái của hồ Động Đình là Long Vương, sinh ra Sùng Lãm, hiệu là Lạc Long Quân.” Hay Phan Huy Chú viết Lịch triều hiến chương loại chí – quyển VI phần nhân vật chí coi Kinh Dương Vương là dòng dõi thần Nông, vua khởi đầu nước Việt ta. Khi trước cháu ba đời Thần Nông là Đế Minh, đi tuần thú ở biển Nam, gặp nàng Vụ Tiên rồi lấy làm vợ, đẻ con là Lộc Tục. Lộc Tục có Thánh Đức, Đế Minh yêu lắm, muốn lập là con nối, nhưng Lộc Tục cố nhường cho anh là Nghi; Đế Minh liền phong cho Lộc Tục ở đất Việt (miền nam), tức Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân, đẻ ra Lạc Long Quân.

    Như vậy, 3 bộ sử giá trị nhất của Việt Nam thời xưa đã ghi nhận vợ của Kinh Dương Vương tức Mẫu Thoải chính là mẹ của Vua Hùng Vương Thứ nhất.

    Tương truyền vùng Đồng Bằng Bắc Bộ thường xuyên có lũ lụt. Khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, ông bắt đầu công việc trị thủy. Công việc kéo dài đến tận thời vua Lý Thái Tông mới căn bản xong. Các đoạn đê được nối liền vào với nhau và có quy mô rộng lớn như ngày nay. Trong suốt quá trình xây dựng hệ thống đê, lũ lụt vẫn thường xuyên xảy ra gây khó khăn cho nhân dân. Mẫu Thoải đã phái các thủy thần, tướng lĩnh của mình đến các làng ven Thăng Long để âm phù giúp dân đắp đê chống lụt. Thần tích này còn được ghi tại các làng Nhật Chiêu, Quảng Bá, Tây Hồ, Yên Phụ,…

    Quân Nguyên xâm lăng đất nước, vua Trần Nhân Tông khi ấy triệu Hưng Đạo Vương phong làm Đại Nguyên Soái cất quân đi dẹp giặc. Lúc ấy khi đi ngang qua sông Xâm Miện (khu đền Dầm) thì mặt trời vừa lặn. Ông cho quân lính cắm trại dừng chân bên bãi sông còn mình thì ở lại trên thuyền.

    Đêm đến, trong cơn mơ, ông thấy một người con gái áo trắng, mang đai ngọc lưu ly cưỡi rồng vàng đến trước mặt ông và nói rằng: “Thiếp là con gái Long Vương là Thủy Tinh Ngọc Dung công chúa, được lệnh đến giúp ngài diệt giặc. Ngài hãy đem quân đuổi giặc, thiếp nguyện âm phù trợ giúp.” Tỉnh dậy ông biết là mộng báo có người phù trợ bèn xua quân đại chiến với giặc. Hai bên giao tranh ác liệt thì gió bấc thổi lên, nước sông cuồn cuộn, sóng nổi ngập trời làm cho chiến thuyền của giặc bị nhấn chìm tả tơi.

    Thắng trận trở về, ông tâu vua báo công và nêu rõ việc Ngọc Dung báo mộng. Vua sai sứ giải về Xâm Miện vào miếu (nay là đền Dầm) bái tạ và ban sắc phong:

    “Hoàng Long tĩnh mạch, đoan trang

    Anh linh Thục Diệu phu nhân Trung Đẳng Thần.”

    Sau khi thắng trận trở về, nhà vua nhớ công ơn, phong tặng cho Mẫu làm Thủy Phủ Thần Nữ tại đền Hàn Sơn. Từ đó, ngôi đền trở thành một trong những đền thờ Mẫu Thoải nổi tiếng nhất vùng.

    Đời vua Lê Thần Tông, mẫu Thoải hiển linh phù âm giúp dân chống lụt xua đuổi thủy quái khi nhân dân gặp nạn nước sông Hồng dâng cao bất thường tràn vào cả Yên Phụ. Nhà vua phải đích thân hành lễ Nam Giao (Lễ tế cáo trời đất) để cầu các vị thần linh phù trợ.

    Mẫu Thoải chứng tòa Thánh Mẫu màu trắng nên cần chú ý khi sắm lễ dâng mẫu phải sắm các lễ vật có màu trắng làm chủ đạo. Tại hầu hết các đền thờ mẫu Thoải, các lễ vật cơ bản phải sắm gồm một đĩa hoa, đĩa quả với nhiều loại quả khác nhau, cơi trầu, thẻ hương, giấy tiền, cút rượu, xôi thịt và một cánh sớ.

    Thông thường sau khi dâng tiến những lễ vật này, đợi hết một tuần hương, bạn sẽ phải hạ toàn bộ những lễ vật này xuống, riêng cánh sớ và giấy tiền phải đem đi hóa. Nếu bạn muốn có một lễ vật có thể dâng cúng lâu dài trên ban thờ thánh thì có thể tham khảo Oản Tài Lộc. Oản Tài Lộc có thể được lâu với thời gian khoảng 6 tháng được trang trí tỉ mỉ, trang trọng rất thích hợp đặt trong không gian cúng lễ.

    Oản dâng Mẫu Thoải thường là oản có màu trắng. Để thêm phần thành tâm, thành kính, con hương thường sắm những quanh oản được đầu tư, trang trí tỉ mỉ, tạo hình cách điệu hoa văn cho thêm phần đặc sắc, lộng lẫy, mang nhiều ý nghĩa tốt lành. Với kiểu đặc biệt như vậy, bạn khó có thể tìm kiếm được ở những đơn vị bán oản thông thường mà phải tim đến .

    Oản Cô Tâm là đơn vị chuyên làm oản nghệ thuật với nhiều màu sắc và họa tiết trang trí mang ý nghĩa tâm linh phục vụ cho nhu cầu cúng bái, lễ lạy của khách hành hương. Với quanh oản vàng lễ Mẫu Thoải, khách hàng hoàn toàn an tâm khi mua hàng tại Oản Cô Tâm bởi quanh oản vàng sẽ được chúng tôi trang trí cách điệu với hoa lụa trang nhã cùng cành vàng lá ngọc, tạo nên quanh oản vừa đẹp, vừa kiêu sa lại hoàn toàn phù hợp với văn hóa tín ngưỡng tâm linh thờ cúng của người Việt, cực kỳ thích hợp để dâng lên cửa thánh mẫu cầu tốt lành đầu năm cho gia đình.

    Nam mô a di đà phật! (3 lần)

    Hương tử chúng con thành tâm kính lạy đức Hiệu Thiên Chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế

    Đức Cửu Trùng Thánh Vân lục cung công chúa

    Đức Thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng công chúa, sắc phong Chế Thắng Hỏa Diệu Đại Vương, gia phong Tiên Hương Thánh mẫu

    Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều Mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương

    Đức đệ tam Thủy phủ, Lân nữ Công Chúa

    Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vị chầu bà, năm tòa quan lớn Mười dinh các quan, mười hai Tiên Cô, mười hai thánh cậu, Ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch Xà Đại tướng.

    Tín chủ con là ………..

    Ngụ tại:……………………………

    Cùng toàn thể gia đình đến điện (phủ, đền) chấp tay kính lễ khấu đầu vọng bái.

    Lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha kính dâng lễ vật con cúi xin các ngài xét thương cứu độ cho gia đình con tiêu trừ tai nạn điều lành thường tới, cầu tài được tài, cầu lộc được lộc, cầu bình an được bình an.

    Nam mô a di đà phật! (3 lần)

    Mẫu Thoải được phối thờ tại hầu hết các ngôi đền thuộc Tứ Phủ cùng Tam Tòa Thánh Mẫu. Tuy nhiên, những ngôi đền thờ chính của mẫu cũng rất nhiều, chủ yếu nằm gần khu vực các con sông lớn. Những ngôi đền nổi tiếng thờ Mẫu Thoải gồm đền Hàn Sơn, đền Dầm, đền Mẫu Thoải Long Biên Hà Nội, đền thờ Bà Áo Trắng, đền Mẫu Thoải Lạng Sơn, đền Cái Lân Hạ Long.

    Địa chỉ: xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

    Đền Hàn Sơ n là ngôi đền thờ Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ nổi tiếng bậc nhất. Năm 1992, đền đã được Nhà Nước công nhận và xếp hạng.

    Đền Hàn Sơn nằm ngay cạnh con sông Lèn, một nhánh của sông Mã, nước chảy cuồn cuộn quanh năm. Hàng năm, đền đón hàng ngàn du khách về tham quan và cúng lễ bái thánh vô cùng tấp nập. Một phần vì danh tiếng nơi diễn ra lễ hội lớn nhất xứ Thanh. Phần khác vì sự linh thiêng, linh ứng của đền với lời khẩn cầu của con hương.

    Địa chỉ: thôn Xâm Dương, xã Ninh Sở, Thường Tín, Hà Nội

    Đền Dầm là ngôi đền nổi tiếng thờ Mẫu Thoải Phủ gắn liền với tích Mẫu về báo mộng phù trợ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh thắng giặc ngoại xâm, được vua ban sắc phong tôn quý.

    Ngôi đền được xây dựng lâu đời đã nhuốm màu lịch sử ngàn năm. Khuôn viên đền thoáng đãng gồm nhiều cây cổ thụ tỏa bóng mát cả sân đền tạo không khí vô cùng thoáng mát.

    Ngoài việc thờ tự Mẫu Thoải, đền Dầm còn phối thờ nhiều vị thánh khác trong đó có ngôi đền riêng thờ Hưng Đạo Vương nằm ngay trong khuôn viên đền.

    Lễ hội đền Dầm được tổ chức vào dịp tháng 2 mỗi năm. Bắt đầu từ mùng 1 và kết thúc vào ngày mùng 10. Trong suốt thời gian này, song song với việc tổ chức những nghi lễ trang nghiêm theo truyền thống thì dòng người cúng lễ cũng liên tục đổ về đền dâng hương bái thánh vô cùng tấp nập.

    Đền thờ Mẫu Thoải ở Hà Nội được xây dựng ở mảnh đất địa linh có thế phong thủy vô cùng đẹp. Đền nằm ngay sát vị trí sông Hồng lại có lạch nước tự nhiên rộng. Khi mùa cạn đến, lạch này tạo thành hồ lớn tách biệt với dòng sông tạo thế tụ thủy vô cùng đẹp.

    Ngoài thờ chính Mẫu Thoải, đền còn đặt ban thờ Ngọc Hoàng cùng Nam Tào, Bắc Đẩu, Ngũ Vị Tôn Ông, các Quan Hoàng, tứ vị vua bà. Ngoài ra, phía bên phải đền thờ Đức Thánh Trần, bên trái thờ Sơn Trang.

    Các lễ cúng của đền tập trung vào dịp tứ quý: ngày mùng 10 tháng giêng, tháng tư và tháng bảy, tháng chạp âm lịch với nhiều tiết lễ lớn.

    Đền thờ Bà Áo Trắng nằm bên bờ sông Hồng nơi ngã ba hợp lưu với Ngòi Lâu, đối diện bến Âu Lâu – di tích lịch sử cấp Quốc Gia.

    Ngôi đền là không gian sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh vô cùng nổi tiếng của người dân địa phương. Hàng năm cứ vào dịp lễ đền vào các ngày từ 25 đến 27 tháng 2 âm lịch hàng năm, song song với việc thực hiện các nghi lễ cúng tế truyền thống, các con hương từ khắp các tỉnh thành cũng đổ về đền dâng lễ cúng bái thánh mẫu. Cùng chấp bái, chấp niệm cầu tài lộc, bình an cho gia quyến.

    Xem thông tin chí tiết về kiến trúc, cách dâng lễ tại đền Bà Áo Trắng

    Địa chỉ: 177, đường Hùng Vương, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn

    Đền Mẫu Thoải Lạng Sơn hay còn biết đến với cái tên đền cửa Đông nằm cạnh sông Kỳ Cùng trấn phía Đông thành phố Lạng Sơn. Năm 2013 đền đã được Bộ Văn Hóa Thể thao và Du Lịch công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia nhằm tôn vinh những giá trị cả về tín ngưỡng tinh thần và vật chất nơi đền thiêng xứ Lạng.

    Đền Cái Lân là địa chỉ tâm linh nổi tiếng không chỉ với người Quảng Ninh mà còn với nhiều du khách thập phương. Đền Mẫu nằm trong khuôn viên Cảng Cái Lân đã giúp cho người dân địa phương yên tâm làm ăn, được mệnh danh là ngôi đền “cầu được ước thấy”. Vì vậy, vào dịp Tết Nguyên Đán, Rằm tháng Giêng, Rằm tháng Bảy… đền Cái Lân lại thu hút đông đảo du khách đến tham quan chiêm bái tấp nập.

    Lúc này, con hương, đệ tử ai ai cũng nô nức sắm sửa đầy đủ lễ lạy thành tâm khấn vái.

    Anh linh lừng lẫy chốn giang khê

    Nức tiếng con vua dưới thuỷ tề

    Ngán nỗi Kính Xuyên rời chỉ thắm

    May nhờ Liễu Nghị chắp dây xe

    Rập rìu tin nhạn thư vừa tới

    Thấm thoát xe loan phút đã về

    Hiển hách xưa nay ai dễ tỏ

    Có chăng gửi một bức thư đề

    Trạnh giang biên doanh ngân lai láng

    Nguyệt lầu lầu soi rạng Nam Minh

    Con vua thuỷ quốc Động Đình

    Có tiên thần nữ giáng sinh đền rồng

    Đức gồm vẹn công dung ngôn hạnh

    Nết nhu mì bẩm tính thiên nhiên

    Dung nghi cốt cách thần tiên

    Vàng trong nước lệ ngọc miền non côn

    Hằng chầu chực kim môn ngọc điện

    Duyên sắt cầm chưa định nơi nao

    Chúa từ gìn giữ thanh tao

    Gió đằng vương các khư tao dưới màn

    Chốn thuỷ cung có nhà lệnh tộc

    Vốn con dòng danh ốc Kính Xuyên

    Xưa nay thế phiệt gia truyền

    Thảo Mai nàng ấy tạm quyền tiểu tinh

    Chí bình sinh phù đời giúp nước

    Ân cửu trùng phó thác biên cương

    Giá danh công chúa phi phương

    May nhờ lá thắm xe duyên tơ hồng

    Trên vương phụ có lòng lân mẫn

    Cho hai người duyên phận sánh nhau

    Chúa từ kết nghĩa trần châu

    Đã đành chỉ thắm giành sâu khôn nài

    Ước trăm năm duyên hài phối thất

    Đạo cương thường nhiệm nhặt tóc tơ

    Cùng nhau chưa mấy nắng mưa

    Ngờ đâu duyên phận thiên cơ bởi trời

    Trách Thảo Mai ra lòng giáo giở

    Trá đồ thư làm cớ gieo oan

    Kinh Xuyên chẳng xét ngay gian

    Nỡ đem đầy chốn lâm sơn sao đành

    Đỉnh non xanh một mình vò võ

    Sơm khuya cùng núi cỏ ngàn cây

    Đèn trăng chiếu đá màn mây

    Dưỡng thân hoa quả bạn bày trúc mai

    Thường vãng lai thanh sơn tú thuỷ

    Lột đại xá tựa thể ngư long

    Có phen biến tướng lạ lùng

    Mày ngài yểu điệu má hồng phi phương

    Có phen nhớ gia hương rười rượi

    Mặt rầu rầu dạ rối châu xa

    Có phen tưởng khách Hằng Nga

    Tưởng bề phu phụ xót xa muôn phần

    Có phen trách lang quân bội bạc

    Cả nghe mà trách móc duyên ai

    Có phen lão ủ đào phai

    Phận đành chắp chi xe gai việc thường

    Có phen trai dầu sương dãi nguyệt

    Ba thu tròn mong quyết thu không

    Có phen nhìn áng non sông

    Âu sầu đến nỗi hình dung võ vàng

    Tứ bề những hổ lang ác thú

    Vật đều cùng mến chúa hôm mai

    Đua nhau trăm giống nghìn loài

    Dâng hoa cúng quả chẳng nài công phu

    Trải mười thu dãi dầu sương nắng

    Tin cá trầm nhạn vắng khôn hay

    Chúa buồn vì nỗi riêng tây

    Hay đâu con tạo vần xoay bởi trời

    Trên dương thế có người nho sĩ

    Văn tú tài Liễu Nghị là tên

    Trẻ thơ nhờ ấm thung nguyên

    Sôi kinh nấu sử hằng chuyên việc mình

    Vừa gặp hội lai kinh ứng thí

    Dặm đường trường Liễu Nghị trẩy ra

    Vũ môn mong nhẩy đợt ba

    Hiềm đâu con tạo xoay ra bởi trời

    Đi tới trốn đầu nơi hiu quạnh

    Bóng ác tà sương lạnh đầu hôm

    Đầy ngàn hoa quả xanh um

    Trước hàng liễu ủ sau chùm đào phai

    Lòng quân tử đeo đai cảnh vật

    Thấy chúa ngồi tư chất dung nhan

    Má đào châu lệ chứa chan

    Nỉ non tấm tức khóc than một mình

    Chàng trông thấy tâm tình cảm kích

    Chúa ngập ngừng hỏi khách rằng hay

    Sơn lâm rừng vắng chốn này

    Cớ sao quân tử tới đây lạc loài

    Bây giờ trăng soi ác lặn

    Chàng hãy còn thơ thẩn cớ sao

    Thưa rằng hàn sĩ trí cao

    Mười năm đèn sách công lao chuyên cần

    Hội Long Vân hiềm chưa gặp gỡ

    Duyên sự này cơn cớ bởi đâu

    Dám xin kết nghĩa trần châu

    Kẻo còn thục nữ đeo sầu dưới trăng

    Chúa nghe nói rùng rằng khôn siết

    Mới nhủ chàng cả quyết sao nên

    Tôi nay người dưới thuỷ tiên

    Nghiêm đường trước đã định duyên giai kỳ

    Khăng khăng giữ đạo tuỳ sau trước

    Chẳng ngờ chàng tính nước lòng mây

    Bông không gắp lửa bỏ tay

    Gieo oan thất tiên đem đầy mười đông

    Phiền quân tử tin thông nhạn cá

    Duyên sự này thiếp há đơn sai

    Chẳng rằng hẳn được như lời

    Sá chi bể rộng sông dài quản đâu

    Nhờ bóng nguyệt đêm thâu giãi tỏ

    Giãi tấc lòng nhờ có cao xanh

    Hàn Sơn nghe vẳng chuông kình

    Kim ô bóng đã xế hình bãi dâu

    Chúa hiềm nỗi bấy lâu oan ức

    Phó cho chàng một bức thư phong

    Nữ tiên thủ bút

    Bái tạ Long cung

    Lạy vua cha chính ngự ngai rồng

    Tường sự tích chung tình trúc chiếu

    Phận con niên thiếu

    Nữ tắc nữ công

    Tự Kính Xuyên sớm kết chỉ hồng

    Duyên cá nước sắt cầm hoà hợp

    Vì nàng tiểu thiếp

    Tên gọi Thảo Mai

    Bỗng vì đâu đặt để nên nhời

    Phút chốc khiến bắc nam đôi ngả

    Hư không làm có

    Gắp lửa bỏ tay

    Trách chàng chẳng xét gian ngay

    Nỡ bắt thiếp đem đầy viễn thú

    Hôm mai vò võ

    Tủi ngậm ngùi than

    Tấm lòng son bối rối gan vàng

    Đâu dạ sắt ngẩn ngơ mặt ngọc

    Tưởng duyên tơ tóc

    Tủi phận má hồng

    Khi vui thời bạn trúc thông

    Khi buồn lại than cùng hoa cỏ

    Thiên duyên kỳ ngộ

    Sẽ gặp tình quân

    Gửi bức thư về mái hải tần

    Trình khắp hết lưỡng ban thần tử

    Nỗi niềm tâm sự

    Mượn bút thay lời

    Gửi chàng đi đến mai Long giai

    Để thiếp được gần chầu thánh đế

    Sơn minh hải thệ

    Tạc dạ ghi lòng

    Ví dù ai phụ nghĩa quên công

    Xin xoi xét đôi vầng nhật nguyệt

    Dặn chàng ra mái bể Đông

    Tới đâu hễ thấy ngô đồng cây cao

    Lấy kim thoa gõ vào cây ấy

    Dưới thuỷ tề nghe thấy không lâu

    Tuỳ cơ ứng biến nhuộn mầu

    Mặc lòng nhời ngỏ , mặc dầu thơ trao

    Chàng nghe nói tiêu hao sau trước

    Dạ bùi ngùi chân bước đường thông

    Bể đào lai láng xa trông

    Nửa lo nỗi chứa nửa lòng sự duyên

    Sông Ngân hán băng miền thẳng trỏ

    Tới ngô đồng tay gõ vừa thôi

    Tự nhiên nổi trận phong lôi

    Giữa giòng bỗng thấy một đôi bạch xà

    Chàng trông thấy sự đà ứng hiện

    Mấy bầy nhời chúc kiến phân minh

    Bạch xà thoát xuống động đình

    Sai lên rẽ nước dòng xanh rước chàng

    Rước chàng xuống đền vàng Thuỷ Phủ

    Thấy quần thần văn vũ đôi bên

    Tiêu thiều nhã nhạc dưới trên

    Tả bầy ngư miếc hữu chen long xà

    Kim quy sứ tâu toà ngọc bệ

    Bước ra mời Liễu Nghị vào trong

    Chàng quỳ dâng bức thư phong

    Phụ vương trông thấy trong lòng quặn đau

    Trách Kính Xuyên cơ cầu độc giữ

    Mấy truyền đòi trưởng từ Xích Lân

    Phán rằng em phải gian truân

    Con nên rước xuống về sân chớ chầy

    Nhời vương phụ phán ngay vừa kíp

    Xích Lân bèn hoá phép thần thông

    Bể đào lai láng mênh mông

    Khắp hoà thế giới đều cùng mênh mang

    Sấm chớp vang mưa tuôn bão giật

    Quỷ cùng ta thán khắp mọi nơi

    Chúa tiên về tới long giai

    Kính Xuyên phải tội Thảo Mai đi đày

    Công cán này ai tày Liễu Nghị

    Phong cho làm quốc tế thuỷ quan

    Chàng từ vâng lệch thiên nhan

    Duyên ưa phận đẹp chức ban trọng dùng

    Mái tiên cung an bài tự trước

    Kẻ phàm trần bỗng gặp sánh tiên

    Chàng từ Kim cải bén duyên

    Có danh trí tuệ có quyền anh linh

    Dù ai phải bất bình mỏi mệt

    Tấm lòng thành khấn vái lại tha

    Dù ai tiến cúng nhang hoa

    Tiền tài lưu loát cửa nhà bình yên

    Đã nên đấng anh linh kỳ diệu

    Khắp trong triều nhường vị kính ngôi

    Dồn đại thạch:

    Dám xin những sự đã rồi

    Xin đừng nghĩ đến dông dài làm chi

    Kìa Vũ thị hảo tuỳ một tiết

    Chàng Trương sinh chẳng biết ngay gian

    Bóng đèn nghe trẻ nói oan

    Làm cho thiếu nữ hồng nhan liều mình

    Đã nên đấng anh linh liệt nữ

    Trách chi người vụng xử chấp nê

    Bằng nay tiên chúa sinh chi

    Giá đem sau trước mà suy sự lòng

    Rũ sạch không những niềm tân khổ

    Nương uy trời tế độ sinh linh

    Đời đời nức tiếng thơm danh

    Biển vàng ghi tạc sử xanh dõi truyền

    Kiêm ngũ phúc dâng lên cõi thọ

    Nước trị trường thánh chúa hưng long

    Mẫu về chắc giáng điện trung

    Khuông phù đệ tử hưng long thọ trường

    Vầng nguyệt ai soi dưới thuỷ cung

    Mặt hoa lồ lộ ngự ngai rồng

    Giăng đôi tám tuổi in bóng nước

    Sạch gương một vừng in lẻo lẻo trong

    Trách bóng trăng loan duyên quải bạc

    Lo đôi nên phượng ánh thêm hồng

    Anh linh thần nữ quyền cai quản

    Thuỷ quốc nhân gian một mối thông

    Vậy có thư rằng:

    Nữ tiên thủ bút

    Bái tiến cửu trùng

    Lạy vua cha cao ngự long cung

    Xin chúc chiếu mở lòng nhân thứ

    Kể từ ngày tái giá tòng phu

    Việc tảo tần hằng dự không sai

    Nhớ đến khi ngọc kính đầu mai

    Nhời kinh giới dám đơn sai cùng phụ tử

    Vì Thảo Mai ra lòng giáo dở

    Trá đồ thư làm cớ gieo oan

    Kính Xuyên chàng chẳng xét ngay gian

    Đem đày chốn lâm sơn viễn thú

    Đêm ngày vò võ chiếu đá màn mây

    Bạn đèn giăng quạt gió làm khuây

    Mượn núi cỏ ngàn cây vui thú

    Nhân duyên kỳ ngộ

    Gặp một chàng tuấn tú nho phong

    Hội long vân ngư thủy phùng

    Duyên cầm sắc bỗng động lòng quân tử

    Lòng còn ngần ngại mới ngỏ lời

    Bởi tại sự duyên

    Vốn tôi nay người dưới thuỷ tiên

    Sớm đã kết Kính Xuyên làm nghĩa cả

    Không ngờ chàng lòng chim dạ cá

    Nghe Thảo Mai nên đôi ngả sấm thương

    Vả tôi nay như chim yến lạc đàn

    Phải cung đạn đã sợ làm gỗ vậy

    Vì chàng ở trước sao sau vậy

    Đem chén son thề với khuôn xanh

    Có thiên thanh địa bạch chứng minh

    Giao loan mới cầm lành xin tái tục

    Chàng Liễu Nghị tòng tâm sớ dục

    Chiếc kim thoa phó trúc cùng chàng

    Mảng tuyên thề mấy bức từ chương

    Dâng về tới đền vàng thuỷ phủ

    Kính trình vương phụ thẩm xét ngũ thầm

    Nguyện cùng chàng kết nghĩa trăm năm

    Cho vẹn chữ sắt cầm tảo hợp

    Nỗi niềm giao ước tạc dạ ghi lòng

    Dầu mà ai phụ nghĩa quên công

    Soi xét có đôi vầng nhật nguyệt.

    Vầng nguyệt ai soi dưới thủy cung

    Mặt hoa lồ lộ ngự ngai rồng

    Giăng đôi tám tuổi lầu lầu

    Sạch gương một vừng in lẻo lẻo trong

    Trách bóng trăng loan duyên quái bạc

    Lo đôi nên phượng ánh thêm hồng

    Anh linh thần nữ quyền cai quản

    Thủy quốc nhân gian một mối thông

    Trịnh giang biên doành ngân lai láng

    Nguyệt lầu lầu soi sáng nam minh

    Con vua thủy quốc động đình

    Có tiên thần nữ giáng sinh đền rồng

    Đức gồm vẹn công dung ngôn hạnh

    Nết nhu mì vốn tính thiên nhiên

    Dung nghi cốt cách thần tiên

    Vàng trong đáy biển ngọc miền non côn

    Hằng chầu trực kim môn ngọc điện

    Duyên sắt cầm chưa định nơi nao

    Chúa từ giữ tiết thanh tao

    Gió đằng vương các thư trao dưới màn

    Chốn thủy quan có nhà lệnh tộc

    Vốn con dòng danh ốc Kính Xuyên

    Xưa nay thế phiệt gia truyền

    Thảo Mai tiểu thiếp tạm quyền tiểu tinh

    Chí bình sinh phù đời giúp nước

    Ân cửu trùng phó thác biên cương

    Mang danh tiên chúa phi phương

    May nhờ lá thắm mừng duyên tơ hồng

    Trên vươn phụ có lòng lân mẫn

    Cho đôi người duyên phận sánh nhau

    Kể từ kết nghĩa trần châu

    Đã đàng đỉnh thắng dành sâu khôn nài

    Ước trăm năm duyên hài phối thất

    Đạo cương thường nhiệm nhặt tóc tơ

    Cùng nhau chưa mấy nắng mưa

    Hay đâu ra sự thiên cơ quải người

    Trách Thảo Mai ra lòng giáo dở

    Trá đồ thư làm cớ gieo oan

    Kính Xuyên chẳng xét ngay gian

    Phạt người nỡ để lầm than sao đành

    Đỉnh non xanh một mình vò võ

    Sớm khuya cùng núi cỏ ngàn cây

    Đèn giăng quạt gió màn mây

    Dưỡng thân hoa quả bạn bầy hươu nai

    Thường vãng lai thanh sơn tú thủy

    Lốt đại xà hình thể ngư ling

    Có phen biến tướng lạ lùng

    Mày ngài yểu điệu má hồng phi phương

    Có phen nhớ gia nương rười rượi

    Mặt rầu rầu dạ tối châu sa

    Có phen thấp thoáng hằng nga

    Nghĩ đường phu phụ xót xa muôn phần

    Trách lang quân sao chàng bội bạc

    Cả nghe thành trách móc duyên ai

    Dãi rầu liễu ủ đào phai

    Phận đành chắp chỉ xe gai việc thường

    Có phen trải dầu sương dãi nguyệt

    Ba thu tròn mong quyết quy không

    Tứ bề những hổ lang ác thú

    Vật đều cùng mến chúa hôm mai

    Đua nhau trăm giống nghìn loài

    Dâng hoa cúng quả chẳng nài công phu

    Trải mười thu giải dầu dương nắng

    Tin cá trầm nhạn vắng khôn hay

    Chúa hiềm vì nỗi riêng tây

    Ai ngờ cơ tạo vần xoay bởi trời

    Trên dương thế có người nho sĩ

    Văn tú tài Liễu nghị là tê

    Trẻ thơ nhờ ấm thung huyên

    Soi kinh nấu sử hằng chuyên một mình

    Vừa gặp thuở thần kinh hội thí

    Dặm đường trường Liễu Nghị trẩy ra

    Vũ môn mong nhảy đạt ba

    Chỉ hiềm con tạo xuy ra quải người

    Đi tới đó đầu nơi non quạnh

    Bóng ác tà sương lạnh trời hôm

    Đầy ngàn hoa quả xanh um

    Trước cành liễu rủ, sau chìm đào phai

    Lòng quân tử đeo đai cảnh vật

    Nhác thấy người tư chất dung nhan

    Má đào châu lệ chứa chan

    Nỉ non tấm tức khóc than một mình

    Chàng trông thấy sự tình cảm kích

    Chúa ngập ngừng hỏi khách rằng nay

    Non cao rừng vắng chốn này

    Cớ sao quân tử đến đây lạc loài

    Bây giờ đã trăng soi ác lặn

    Sao chàng còn thơ thẩn có sao

    Mười năm đèn sách công lao chuyên cần

    Hội long vân hiềm chưa gặp gỡ

    Sự duyên này cơn cớ bởi đâu

    Dám xin kết nghĩa trần châu

    Kẻo lòng quân tử đeo sầu dưới trăng

    Chúa nghe nói dùng dằng khôn siết

    Mới nhủ chàng cả quyết sao nên

    Thiếp nay người dưới thoải tiên

    Nghiêm đường trước đã định duyên giai kỳ

    Khăng khăng giữ đạo tùy sau trước

    Chẳng ngờ chàng tính nước lòng mây

    Bỗng không gắp lửa bỏ tay

    Giep oan thất tiết đem đầy mười đông

    Phiền quân tử tin không vàng đá

    Sự duyên sự này thiếp há đơn sai

    Chàng rằng vâng được như lời

    Dẫu rằng bể rộng sông dài quản đâu

    Nhờ đèn nguyệt đêm thâu sáng tỏ

    Giãi tấc lòng thề có cao xanh

    Hàn sơn nghe vắng chuông kình

    Kim ô bóng đã tỏ hình bãi dâu

    Chúa hiềm nỗi nấy lâu oan ức

    Phó kim thoa cùng bức thư phong

    Nữ tiên thủ bút

    Bái tiến cửu trùng

    Lạy vua cha cao ngự long cung

    Xin chúc chiếu mở lòng nhân thứ

    Kể từ ngày tái giá tòng phu

    Việc tảo tần hằng dự không sai

    Nhớ đến khi ngọc kính đầu mai

    Lời kinh giới dám sơn sai cùng phụ tử

    Vì Thảo Mai ra lòng giáo dở

    Trá đồ thư làm cớ gieo oan Kính Xuyên chàng chẳng xét ngay gian

    Đem đày chốn lâm sơn viễn thú

    Đêm ngày vò võ chiếu đá màn mây

    Bạn đèn giăng quạt gió làm khuây

    Mượn núi cỏ ngàn cây vui thú

    Nhân duyên kỳ ngộ

    Gặp một chàng tuấn tú nho phong

    Hội long vân ngự thủy phùng

    Duyên cầm sắc bỗng động lòng quân tử

    Lòng còn ngần ngại mới ngỏ lời

    Bởi tại sự duyên

    Vốn tôi nay người dưới thủy tiên

    Sớm đã kết Kính Xuyên làm nghĩa cả

    Không ngờ chàng lòng chim dạ cá

    Nghe Thảo Mai nên đôi ngả sấm thương

    Và tôi nay như chim yến lạc đàn

    Phải cung đạn đã sợ làm gỗ vậy

    Vì chàng ở trước sao sau vậy

    Đem chén son thề với khuôn xanh

    Có thiên thanh địa bạch chứng minh

    Giao loan mới cầm lành xin tái tục

    Chàng Liễu Nghị tòng tâm sở dục

    Chiếc kim thoa phó trúc cùng chàng

    Máng tuyên thề mấy bức từ chương

    Dâng về tới đền vàng thủy phủ

    Kính trình vương phụ thấm xét ngũ thầm

    Nguyện cùng chàng kết nghĩa trăm năm

    Cho vẹn chữ sắt cầm tảo hợp

    Nỗi niềm giao ước tạc dạ ghi lòng

    Dầu mà ai phụ nghĩa quên công

    Soi xét có đôi vầng nhật nguyệt

    Mặc sự trần ai hương nguyệt hạ

    Tự phụ băng thán đáo hùng hà trung

    Dặn chàng ra mãi bể đông

    Tới đâu hễ thấy ngô đồng cây cao

    Lấy kim thoa gõ vào cây ấy

    Dưới thủy tề nghe thấy không lâu

    Trong cơ ứng biến nhiệm màu

    Mặc dầu lời ngỏ mặc dầu như trao

    Chàng nghe nói tiêu hao sau trước

    Dạ bùi ngùi chân bước đường thông

    Bể đào lai láng xa trông

    Nửa lo nỗi chúa nửa lòng sự duyên

    Sông Ngân Hán băng miền thẳng trỏ

    Tới ngô đồng/tay gõ vừa thôi

    Tự nhiên chuyển động phong lôi

    Giữa dòng trông thấy một đôi bạch xà

    Chàng trông thấy sự đà ứng hiện

    Mới bày lời chúa kiến phân minh

    Bạch xà thoát xuống động đình

    Sai lên rẽ nước dòng xanh rước chàng

    Đón chàng xuống đền vàng thoải phủ

    Thấy triều thần văn võ đôi bên

    Tiêu nhiều nhã nhạc dưới trên

    Tả bày lưu liếc hữu chen long xà

    Kim quy xứ chầu tòa ngọc bệ

    Đón ra mời Liễu Nghị vào trong

    Chàng quỳ dâng bức thư phong

    Phụ vương trông thấy trong lòng quặn đau

    Trách Kính Xuyên cơ cầu độc giữ

    Mới truyền đòi trưởng tử Sích Lân

    Phán rằng chúa phải gian truân

    Sai lên đón rước thủy quân chớ chầy

    Lời vương phụ xuyên ngay dục kíp

    Sích lân bèn hóa phép thần thông

    Bể đào nổi trận mênh mông

    Khắp loài thủy tộc đều cùng hiện ra

    Sấm sét vang mưa sa chớp giật

    Quỷ cùng tà tan mất nơi nơi

    Chúa tiên về tới long giai

    Kính Xuyên bắt tội Thảo Mai đem đày

    Công cán này ai tầy Liễu Nghị

    Phong cho làm quốc tế Thủy Quan

    Chàng từ vâng lệnh thiên nhan

    Duyên ưa phận đẹp, chức ban trọng dùng

    Mái thiên cung an bài tự trước

    Kẻ phàm trần bỗng gặp sánh tiên

    Chàng từ kim cải bén duyên

    Có dang trí tuệ có quyền anh linh

    Dầu ai phải bất bình mỏi mệt

    Tấm lòng thành lễ yết tạ qua

    Dù ai tiến cúng hương hoa

    Tiền tài lưu loát cửa nhà khang ninh

    Đã nên đấng anh linh kỳ diệu

    Khắp trong triều nhượng hiệu tôn ngôi

    Dám xin những sự đã rồi

    Xin đừng nghĩ ngợi dông dài chi đây

    Kìa Vũ Thị thảo ngay một tiết

    Chàng Trương Sinh chẳng biết ngay gian

    Bóng đèn nghe trẻ nói oan

    Làm cho thiếu nữ hồng nhan thiệt mình

    Đã lên đấng anh linh liệt nữ

    Trách chi người vụng xứ chấp lê

    Bằng nay tiên chúa sinh chi

    Dám soi gương trước mà suy sự lòng

    Rũ sạch không mọi niềm tân khổ

    Nương uy trời tế độ sinh linh

    Đời đời nức tiếng thơm danh

    Biển vàng ghi tạc sử xanh đòi truyền

    Kiêm ngũ phúc dâng lên cõi thọ

    Nước trị thường thánh chúa hưng long

    Mẫu về trắc giáng điện trung

    Khuông phù đệ tử hưng long thọ trường

    Trạnh giang bên dòng quanh lai láng

    Nguyệt lầu lầu soi rạng nam minh

    Vốn xưa Thoải quốc Động Đình

    Có tiên lân nữ giáng sinh điện rồng

    Đức phàm vẹn thong dong ngôn hạnh

    Nét linh hòa vốn tính thiên nhiên

    Tay bà khác giá thần tiên

    Đã đành lệ thủy các miền non khôn

    Hằng chầu trước thiên môn ngọc điện

    Duyên sắt cầm chứa bén nơi nao

    Mẫu tự hợp nghĩa Trần Châu

    Gió Đằng Vương gác bóng chiều dưới mành

    Chốn thủy quan có nhà lệnh tộc

    Lưỡi côn bằng danh ốc Trinh Xuyên

    Vốn dòng vây cá gia truyền

    Thảo Mai nàng ấy tạm quyền tiểu tinh

    Chí bình sinh phì nhà giúp nước

    Ơn cửu trùng những thác biên cương

    Bản danh tiên chúa phi phương

    May nhờ lá thắm xe vương tơ hồng

    Nên vương phụ có lòng lân mẫn

    Cho hai người duyên phận gồm nhai

    Mẫu tự hợp nghĩa Trần Châu

    Đã đành lĩnh đỏ duyền sông khôn nài

    Ước duyên hài trăm năm phối thất

    Đạo cương thường chẳng nhặt tóc tiên

    Cùng nhau chưa thấy nắng mưa

    Bỗng đâu ra sự thiên cơ quải người

    Trách Thảo Mai ra lòng trở giả

    Đồ thư làm cứ gieo oan

    Kính Xuyên chẳng xét ngay gian

    Vàng dòng nỡ để lầm than bao đành

    Đài dương thế một mình vò võ

    Sớm khuya cùng núi cỏ ngàn cây

    Đèn trăng chiếu đất màn mây

    Dưỡng thân hoa quả kết bày hươu nai

    Đường vãng lai thanh sơn tú thủy

    Lốt đại xà tướng vẽ ngư long

    Có phen biến tướng lạ lùng

    Mày ngài yểu điệu má hồng phi phương

    CÓ phen trách rằng nàng lỗi lỗi

    Mặt băng trừng ruột rối châu sa

    Có phen thấp thoáng Hằng Nga

    Tưởng bề phu phụ xót xa muôn phần

    Có phen trách lang quân bội bạc

    Nghe ai làm chiếc mác duyên ai

    Có phen liễu ủ đào phai

    Phận dành chắp bả xe gai sự thường

    Có phen bôn trì dương nâng nguyệt

    Ba thân phàm mong quyết quy không

    Có phen nhịn nắng non xanh

    Ngâm sầu tới nỗi hình dung võ vàng

    Bốn bề những hổ lang ác thú

    Vật đều cùng mến chúa hôm mai

    Đua nhau trăm giống ngàn loài

    Dâng hóa cúng quả chẳng nài công phu

    Ngẫm mười thu dãi dầu sương nắng

    Tin cá trầm nhạn vắng khôn hay

    Những ngờ nhiều nỗi riêng tây

    Nào hay con tạo vận xoay ở trời

    Trên dương thế có người nho sĩ

    Văn tú tài Liễu Nghị là tên

    Trẻ từ nhờ ấm xuân huyên

    Sôi kinh nấu sách hằng chuyên việc mình

    Ngày vừa thuở thần kinh hội thí

    Dặm đường trường Liễu Nghị trẩy ra

    Vũ môn mong nhảy đạt ba

    Chỉn hiềm con tạo xui ra bởi người

    Bây giờ đã tới nơi non quạnh

    Ác ban khoa sương lạnh trời hôm

    Đội ngàn hoa cỏ xanh êm

    Trước hàng liễu ủ sau hàng đào phai

    Lòng hiếu sự đeo đòi cảnh vật

    Thấy Chúa ngôi thư chất dung nhan

    Má hồng châu lệ đầm chan

    Nỉ non hòa khóc hòa than một mình

    Chàng nhận biết tâm tình cảm cách

    Chúa nhận người hỏi khách rằng bây

    Non cao rằng vắng chốn này

    Dầu nay quân tử tới đây lạc loài

    Bây giờ đã trăng soi ác lặn

    Chàng hãy còn thơ thẩn cớ sao

    Thưa rằng hàn sĩ chí cao

    Mười năm đèn sách công lao chuyên cần

    Hội hoa xuân lắm xưa gặp gỡ

    Sự duyên này can cớ do đâu

    Dám xin kết chỉ hợp bầu

    Kẻo còn lẩn quất gieo cầu dưới trăng

    Chúa nghe nói dùng dằng khôn xiết

    Đoái nhỉ chàng hoa nguyệt sao nên

    Thiếp nay người dưới thủy tiên

    Nghiêm từ sớm đã định duyên giai kỳ

    Khăng khăng giữ đạo tùy sau trước

    Chẳng ngờ chàng tính nước lòng may

    Hư không gắp lửa bỏ tay

    Gieo oan một phút đầy mười đông

    Phiền quân tử tính xuân áng áng

    Sự duyên này thiếp há đơn sai

    Chàng dằng miễn được như lời

    Ra oai đỉnh thắm sông dài quản bao

    Nhớ đèn nguyệt đêm thâu hỏi khó

    Dãi tấc lòng thề chí cao xanh

    Hàn sơn nghe vắng tiếng kình

    Quy mô bỗng đa trở tình thực hư

    Chúa nhiều nỗi chín lâu oan ức

    Phó kim thoa cùng bức thư phong

    Dặn chàng ra mãi biển đông

    Đến đâu xem thấy ngô đồng cây cao

    Chàng nghe nói tiêu hao sau trước

    Dạ ngùi ngự bước trực đường thông

    Bể đào cất mặt xa troong

    Tưởng lo sự chúa mà mong sự tiên

    Duềnh ngân hán băng miền thẳng trỏ

    Tới ngô đồng tay múa bề tôi

    Tự nhiên nổi trận phong lôi

    Giữa dòng dè thấy một hai bách xà

    Chàng xem thấy sự ứng hiện

    Mới bày lời Chúa khiến phân minh

    Bạch xà suấ tới Động Đình

    Sai lên lấy nước dòng xanh điệu chàng

    Một giây dưới điện vàng thủy phủ

    Thấy quần thần văn võ đôi bên

    Thiều tấu nhạc vũ dưới trên

    Nơi bầy ngư biếc nơi chen long xà

    Kim quy sai trước tòa ngọc bệ

    Bước ra bày Liễu Nghị vào trong

    Chàng bèn dâng bức thư phong

    Phụ vương trông thấy trong lòng quặn đau

    Trách Kinh Xuyên cơ cầu độc giữ

    Mới bày chàng trưởng tử Xích Lân

    Phán rằng chúa phải gian truân

    Con vua điện dưới thủy cung chớ chày

    Lời vương phụ truyền ngay trục kíp

    Xích Lân bèn hóa phép thần thông

    Nước dâng cờ phất trống dong

    Khắp hòa thế giới đều cùng mênh mang

    Mảng tiếng vang mưa sa chớp dật

    Quỷ cùng thần lánh bạt đòi nơi

    Chúa tiên về chốn long giai

    Sự Kinh Xuyên với Thảo Mai luận dày

    Công cán này ai bằng Liễu Nghị

    Phong cho làm quốc tế thủy quan

    Chàng từ vâng mệnh thiên than

    Duyên ưa phận đẹp chức ban trọng quyền

    Mái thiên công an bài thuở trước

    Đấng trần phàm bỗng được giao tiên

    Chúa tự kim cải bén duyên

    Có danh trí tuệ có quyền anh linh

    Đã nên đấng anh linh liệt nữ

    Trách thay nước can cớ chấp nê

    Ngẫm thay tiên chúa sinh trì

    Hãy soi gương trước mà suy sự lòng

    Rũ sạch không mỗi đường tân khổ

    Nương uy trời cứu hộ sinh linh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tất Tật Văn Khấn Mẫu Tại Đình, Đền Dịp Năm Mới 2022 Chuẩn Phong Tục
  • Bài Văn Khấn Tam Tòa Thánh Mẫu Tại Đền, Đình, Chùa, Miếu Đầy Đủ
  • Văn Khấn Thổ Địa, Văn Khấn Thần Tài Thổ Địa
  • Văn Khấn Tại Đền Chầu Bà Đệ Tam Thoải Phủ
  • Chầu Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn
  • Văn Khấn Tại Đền Chầu Bà Đệ Tam Thoải Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Thổ Địa, Văn Khấn Thần Tài Thổ Địa
  • Bài Văn Khấn Tam Tòa Thánh Mẫu Tại Đền, Đình, Chùa, Miếu Đầy Đủ
  • Tất Tật Văn Khấn Mẫu Tại Đình, Đền Dịp Năm Mới 2022 Chuẩn Phong Tục
  • Sự Tích Mẫu Thoải 4 Lần Hiển Linh Phù Vua Cứu Nước
  • Văn Khấn Tại Mộ, Văn Khấn Khi Tảo Mộ, Khấn Trước Khi Xây Mộ
  • Văn khấn tại đền Chầu Bà Đệ Tam Thoải Phủ

    Chầu Đệ Tam Thoải Cung được tôn xưng là Lân Nữ Công Chúa. Chầu nắm quyền cai quản khắp chốn Thủy Phủ. Tích khác lại cho rằng chầu chính là con gái của Lạc Long Quân, danh hiệu Thủy Tinh Động Đình Ngọc Nữ Tam Giang Công Chúa. Tích này không được lưu truyền rộng rãi. Tuy nhiên, người ta vẫn tin chầu là con gái của Vua Long Vương Bát Hải Động Đình hơn tích sau. Trong hàng Tứ Phủ Chầu Bà, bà là vị chầu có sự tích buồn nhất.

    Chầu Đệ Tam vốn là con gái Vua Thủy Tề, ở chốn Long Giai. Chầu bén duyên và xây dựng gia đình cùng con trái Vua Đất là Kính Xuyên. Chầu lấy tấm vải trắng ra khâu vá trong một ngày Kính Xuyên đi vắng. Chẳng may bị kim đâm chảy máu. Thảo Mai, tiểu thiếp của Kinh Xuyên, vốn đã sinh lòng đố kị từ lâu, nhân cơ hội đó giấu tấm lụa đi. Đến khi Kính Xuyên về, Thảo Mai lấy ra rồi vu oan cho bà ở nhà đã cắt máu thề nguyền để tư thông cùng kẻ khác.

    Kính Xuyên mù quáng tin lời vu oan của kẻ tiểu thiếp gian ngoan. Chàng nhất mực nhốt cũi bỏ bà lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Ở nơi rừng núi, bà được muôn loài quý mến, dâng hoa quả nước uống cho bà. Đến một ngày kia thì bà gặp được Liễu Nghị, vốn là thư sinh, nhờ tập ấm cha mẹ để lại nên đèn sách chuyên cần. Liễu Nghị nguyện kết duyên cùng bà. Tuy nhiên bà không đồng ý, đồng thời viết một bức huyết thư bộc bạch tất cả nhờ Liễu Nghị gửi xuống Thủy Cung giúp mình.

    Theo lời bà, Liễu Nghị ra đến sông Ngân Hán, là mái Long Giai ngoài biển Đông, thấy có cây ngô đồng, Liễu Nghị rút cây kim thoa, gõ vào cây ba lần. Tức thì gió giật mưa sa, biển động ầm ầm, giữa dòng thấy hiện lên đôi bạch xà, Liễu Nghị bèn trình bày mọi việc, đôi bạch xà vâng lệnh đưa Liễu Nghị xuống Thủy Cung.

    Liễu Nghị đã trao cho vua Thủy Tề bức thư nói hết tâm sự của bà. Vua cha tức giận, sai người đi bắt Kính Xuyên và Thảo Mai, còn truyền cho Trưởng Tử Xích Lân lên đón bà về. Chầu Đệ Tam sau đó kết duyên cùng với Liễu Nghị tại thoải Phủ. Còn Kính Xuyên và Thảo Mai thì bị gia hình chịu tội.

    Chầu Đệ Tam Thoải Phủ là vị chầu ít giáng đồng nhất. Cũng bởi một phần do người ta kiêng thỉnh chầu về ngự giá, nhất là những dịp tiệc mừng vui hoặc lễ Thượng Nguyên hoặc đại đàn mở phủ. Nếu trong đàn mở phủ mà dâng bốn tòa sơn trang thì người ta cũng không hay thỉnh chầu về chứng mà thường thỉnh Chúa Thác Bờ hoặc Chầu Bé Thoải Bản Đền thay cho giá chầu để chứng tòa màu trắng.

    Chầu chỉ về ngự khi mọi người bắc đàn Tứ Phủ ở các ngôi đền thờ các vị thánh hàng Thoải hoặc tại chính đền thờ Mẫu Thoải. Chầu thường mặc áo trắng, cầm quạt khai cuông khi về ngự đồng. Người ta ít khi hầu chầu trong những dịp tiệc vui vì khi chầu ngự thì khá u buồn, có điều đó cũng bởi sự tích trên của chầu.

    Đền thờ Chầu Đệ Tam Thoải Cung

    Cũng giống như Chầu Đệ Nhất và Chầu Đệ Nhị, Chầu Đệ Tam Thoải Cung được thờ tự ở các cửa sông cửa biển, nơi có lập đền thờ Mẫu Đệ Tam. Tuy nhiên, mọi người vẫn biết đến Đền Thác Hàn ở tỉnh Thanh Hóa nhiều hơn.

    Văn khấn tại đền Chầu Bà Đệ Tam Thoải Phủ

    “Trách Thảo Mai ra lòng giáo dở

    Trá đồ thư làm cớ gieo oan

    Kính Xuyên chẳng xét ngay gian

    Nỡ đem đầy chốn lâm sơn sao đành”

    Dân gian cũng lưu truyền đoạn hát sử rầu như sau :

    “Tưởng nông nỗi dòng châu lã chã

    Trách ai làm đôi ngả chia li

    Từ nay hoa ở xuân về

    Cầu Ô lỡ nhịp bến khuya vắng thuyền

    Bứt rứt nỗi thung huyên nghĩa cả

    Tấm thân này có xá chi đâu

    Lẽ nào nát ngọc trầm châu

    Vùi hoa dập liễu bởi câu tam tòng

    Xót vì nỗi má hồng bội bạc

    Âu cũng đành bèo dạt mây trôi

    Sự này há kể chi ai

    Lòng trinh chuyển động đất trời chứng minh”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chầu Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn
  • Văn Khấn Mẫu Cửu Trùng Thiên Tại Bản Đền Bản Điện
  • Mẫu Văn Khấn Chùa Hà Cầu Duyên Linh Nghiệm
  • Download Văn Khấn Ngoài Mộ Ngày Giỗ File Doc
  • Văn Khấn Cúng Lễ Thành Hoàng Ở Đình, Đền, Miếu
  • Bản Văn: Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Tích Về Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn Thanh Tra Giám Sát
  • Bản Văn: Ông Hoàng Bơ
  • Hoàng Tử Chốn Thoải Cung
  • Sư Tích Và Cách Dâng Lễ Đền Ông Hoàng Bơ
  • Bản Văn: Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai
  • Trịnh giang biên giành ngân lai láng

    Đôi vầng hồng soi rạng nam minh

    Con vua thủy quốc Động Đình

    Đệ tam thái tử giáng sinh đền Rồng

    Dọc:

    Đức gồm vẹn thung dung hòa mặc

    Bẩm sinh thành tư chất long nhan

    Thỉnh mời thái tử thái tử vương quan

    Phi phương diện mạo dung nhan khác thường

     

    Hằng tấu đối thiên đường thủy phủ

    Trấn nam minh quy đủ bốn phương

    Ra uy chấp chính kỉ cương

    Cầm cân nảy mực sửa sang cõi đời

     

    Chốn long giai cầm quyền thay chúa

    Phép màu quan tối tú tối linh

    Lệnh truyền thủy bộ chư dinh

    Sửa sang đai giáp chơi miền trần gian

     

    Dâng một triền nhang lòng thành dâng một triền nhang

    Tấu về thủy phủ các ban các tòa thiên đình cho tới diêm la

     

    Thiên đình cho tới diêm la tấu vè thoải phủ vua cha động đình

    Chốn ấy là chốn thủy cung

    Phú:

    Nhanh dâng một chuyện tâu thỉnh đức vương quan

    Đệ tử con tiến văn đàn

    Dâng sự tích đệ tam hoàng thái tử

     

    Sơn xuyên dục tú “hà hải chung linh”(2)

    Người con vua thoải quốc động đình

    Sắc phong tặng vương quan hoàng thái tử

     

    Văn thần cẩm tú võ tổng lược thao

    Bẩm dung y diện mạo hồng hào

    Ngôn trung chính tài cao quán cổ

    Thơ:

    Giáp bạc bao phen nhuộm đỏ hồng

    Xông pha trăm trận dạ như không

    Ra tay cứu nước trừ nguy biến

    Tiếng để ngàn thu với núi sông

    Xá lửng:

    Chiếc thuyền lam nổi dòng Xích Bích

    Đưa quân chèo du lịch bốn phương

    Có phen tuần thú sông Thương

    Trở ra tỉnh Bắc , Quế Dương, Lục Đầu

     

    Có phen ngự sông Dâu sông Hát

    Khi lên ghềnh xuống thác vui chơi

    Có phen vào lạch ra khơi

    Sai quân lấy gỗ xoan đào chò hoa

     

    Có phen chơi ngã ba Bạch Hạc

    Bạn tiên ngồi đàn hát vui chơi

    Dạo xem phong cảnh mọi nơi

    Qua hang Anh Vũ sang chơi nước người

     

    Có phen chơi cửa đài cửa bích

    Khi ra khơi vào lạch thảnh thơi

    Thuyền rồng trăm chiếc chèo bơi

    Dọc ngang Tuần Lảnh là nơi đi về

     

    Trải giang khê lên ngàn xuống bể

    Lảnh Giang từ quý địa danh lam

    Đền thờ quan tam tía kiệu vàng

    Long môn hổ bàn thạch bàn uy nghi

     

    Hóa tức thì lâu đài điện các

    Dâng nước về thủy quốc một khi

    Có phen lấy ngọc lưu ly

    Đùng đùng dâng nước phép thì ai đang

     

    Khắp sông Thương , sông Thao , sông Cả

    Kéo quân về đóng ngã ba Tranh

    Xướng ca đàn hát tập tành

    Thi ngâm phú đọc đàn tranh chơi bời

     

    Có phen lại về nơi thủy phủ

    Đóng cân đai áo mũ vào tâu

    Dăm ba đồng tử theo hầu

    Vào tâu Vương phụ ra chầu Mẫu vương

     

    Cũng có khi phi thường biến hóa

    Qua Nghệ An thượng hạ đại giang

    Thuyền rồng chèo quế buồm lan

    Khi chơi Tô Lịch khi sang sông Cầu

     

    Có phen ngự Nam lâu Bắc điện

    Trở ra về đến huyện Thiên Tôn

    Dạo miền thác cái thác con

    Khi chơi sông Hát khi sang sông Bờ

     

    Dạo thẩn thơ Tản Viên Tam Đảo

    Truyền chư quân đôi đạo tiên phong

    Chuông kêu cờ phất trống dong

    Bè sau thuyền trước giữa dòng lênh đênh

     

    Trống cầm canh chiêng vang anh ỏi

    Lốt xanh vàng chìm nổi dư muôn

    Triều thần văn vũ bách quan

    Sai lên đón rước vương quan về chầu

     

    Trên các lầu thơ ngâm phú đọc

    Ngoài sân rồng ca chúc chén tiên

    Vua cha giá ngự ngai vàng

    Phán đòi thái tử vương quan vào chầu

     

    Ngự giờ lâu phán lời nhân thứ

    Sai ông lên cứu trợ trần gian

    Một tay thái tử vương quan

    Cứu sinh cũng lắm đọ oan cũng nhiều

     

    Nay ông đã về chầu nhân đức

    Độ nhân gian vạn ức siêu sinh

    Nay ông về chốn thủy đình

    Cuông phù đệ tử khang ninh thọ trường.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Tượng Phật Bà Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay
  • Tục Nhận Cho Con Bố Mẹ Nuôi Ở Người Bố Y
  • Văn Khấn Thần Linh (Ngoài Mộ) Vào Tiết Thanh Minh
  • Bàn Thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên Bằng Đá
  • Văn Khấn Bồi Hoàn Địa Mạch Và Lý Do Dẫn Đến Động Long Mạch
  • Thần Tích Quan Đệ Tam Thoải Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Bài Văn Khấn Quan Lớn Tuần Tranh
  • Đền Tranh (Quan Lớn Tuần Tranh)
  • Bài Khấn Quan Lớn Tuần Tranh
  • Sự Tích Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh
  • Cách Cúng Rằm Tháng Chạp Đúng Nhất
  • Đức gồm vẹn thung dung hòa mặc

    Bẩm sinh thành tư chất long nhan

    Thỉnh mời thái tử vương quan

    Phi phương diện mạo dung nhan khác thường Hằng tấu đối thiên đường thủy phủ

    Trấn nam minh quy đủ bốn phương

    Ra uy chấp chính kỉ cương

    Cầm cân nảy mực sửa sang cõi đời Chốn long giai cầm quyền thay chúa

    Phép màu quan tối tú tối linh

    Lệnh truyền thủy bộ chư dinh

    Sửa sang đai giáp chơi miền trần gian

    Thông tin cơ bản

    • – Tên đầy đủ: Đệ Tam Thượng thiên hoàng thái tử vương quan
    • – Tước phong: Thủy tào điển sứ – Đệ tam thủy thần nhạc đại vương thượng đẳng tối linh thần.
    • – Đền thờ chính: Đền thờ Ngài được lập ở Lạng Sơn, Hưng Yên, Lảnh giang linh từ (Nam Hà) và các cửa sông. Đền Ngài còn ở Thái Bình đằng sau đền Đồng Bằng phía đường 10 đi Hải Phòng.
    • – Thân thế: Đền Lảnh Giang (nhân dân thường gọi là Đền Lảnh) nằm trong địa phận thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam. Theo Thần Phả, Đền này thờ Tam vị danh thần họ Phạm đời Hùng Vương thứ 18, Tiên Dung công chúa và Chử Đồng Tử.

    Thánh tích về Quan Đệ Tam Thoải Phủ

    Quan lớn vốn là con trai thứ ba của Vua Cha Bát Hải Động Đình, là người rất được vua cha yêu quý nên giao quyền cai quản chốn Long Giai Động Đình, cận bên cạnh phụ vương. Dưới thời Hùng Vương, theo lệnh vua cha, ông cùng hai người em (có sách nói là hai người thân cận) lên giúp Vua Hùng chỉ huy thuỷ binh, lúc này ba vị giáng ở đất Hà Nam, được nhân dân tôn thành “Tam Vị Đại Vương”, trong đó, Quan Đệ Tam là người anh cả trong ba người.

    Nhưng lại có điển tích nói rằng, chỉ có một mình Quan Tam Phủ giáng trần vào nhà quý tộc dưới thời Hùng Vương, ông trở thành vị tướng quân thống lĩnh ba quân thuỷ lục. Sau đó trong một trận quyết chiến, ông hy sinh (phần thượng thân (đầu) và hạ thân (mình) trôi về hai bên bờ con sông Lục Đầu). Ông hoá đi, về chầu Long Cung, là người cầm cân nảy mực, thông tri Tam Giới, quyền cai các thanh đồng đạo quan (vậy nên có khi người ta còn gọi là Ông Cai Đầu Đồng). Khi thanh nhàn ông truyền ba quân tập hợp thuyền bè, dạo chơi khắp miền, trên sông dưới suối, phù hộ cho ngư dân.

    Hầu như những người đã ra hầu Tứ Phủ, khi hầu hàng Quan Lớn, ai cũng phải hầu về Quan Đệ Tam. Có thể coi ông là vị Quan Lớn tài danh hàng đầu. Khi ngự đồng, ông mặc áo trắng thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp và ông múa đôi song kiếm. Khi có đại tiệc khai đàn mở phủ, người ta thỉnh quan về chứng đàn Thoải Phủ (gồm có long chu phượng mã, lốt tam đầu cửu vĩ…: tất cả đều màu trắng).

    Trong hàng quan lớn, vì danh tiếng bậc nhất nên Quan Lớn Đệ Tam cũng được lập đền thờ phụng ở khắp nơi. Nhưng đầu tiên phải kể đến Đền Lảnh Giang ở Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam (gần Hưng Yên) tương truyền là nơi hạ thân của ông trôi về, sau đó phải nói đến Đền Xích Đằng cũng thuộc Hà Nam (hai ngôi đền này chỉ cách nhau cây cầu Yên Lệnh nối hai bờ sông Lục Đầu) là nơi thờ thượng thân của ngài. Ngoài ra còn có Đền Cửa Đông tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (gần Đền Mẫu Thoải)

    Thần tích “Hùng triều nhất vị thuỷ thần xuất thế sự tích”

    Căn cứ vào thần tích “Hùng triều nhất vị thuỷ thần xuất thế sự tích” (sự tích ra đời một vị thuỷ thần triều vua Hùng). Thần tích này do Bát phẩm thư lại Nguyễn Hiền, tuân theo bản cũ triều trước, chép lại vào niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736). Thần tích đang được lưu giữ tại Đền Lảnh.) cùng các sắc phong, câu đối, cũng như truyền thuyết địa phương thì lịch sử ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Vương được thờ ở Đền Lảnh Giang như sau:

    Ngày xưa, ở trang An Cố, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Ninh, trấn Sơn Nam có vợ chồng ông Phạm Túc ăn ở phúc đức, chỉ hiềm một nỗi ông bà tuổi đã cao mà vẫn chưa sinh được một mụn con nối dõi.

    Một đêm trăng thanh gió mát, vợ ông (bà Trần Thị Ngoạn) đang dạo chơi bỗng gặp một người con gái nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, không có anh em thân thích, đi tha phương cầu thực. Động lòng trắc ẩn, bà Ngoạn liền đón cô về làm con và đặt tên là Quý. Ông bà coi nàng Quý như con ruột của mình. Vài năm sau, trong lúc gia đình đang vui vầy, đột nhiên ông Túc mắc bệnh rồi qua đời. Hai mẹ con đã tìm một nơi đất tốt để an táng cho ông.

    Sau ba năm để tang cha, một hôm nàng Quý ra bờ sông tắm gội, ngâm mình dưới nước, bỗng mặt nước nổi sóng, từ phía xa một con thuồng luồng khổng lồ bơi tới quấn lấy nàng, khiến nàng kinh hoàng ngất lịm. Lúc tỉnh dậy thì thấy mình nằm bên bờ sông và thuồng luồng đã bỏ đi. Từ hôm đó nàng thấy trong lòng chuyển động và mang thai. Không chịu được những lời gièm pha khinh thị, nàng đành phải trốn khỏi làng đến xin ngụ cư ở Trang Hoa Giám (nay thuộc thôn Yên Lạc). Rồi đến ngày mùng 10 tháng Giêng năm Tân Tỵ, nàng Quý chuyển dạ, sinh ra một cái bọc. Cho là điểm chẳng lành, nàng liền đem chiếc bọc đó quẳng xuống sông. Chiếc bọc trôi theo dòng nước tới trang Đào Động (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình), mắc phải lưới của ông Nguyễn Minh. Sau nhiều lần gỡ bỏ, nhưng bọc vẫn cứ mắc vào lưới. Ông Minh thấy lạ bèn khấn: “Nếu bọc này quả là linh thiêng thì cho tôi lấy dao rạch thử xem sao” Khấn xong ông Minh rạch ra, bỗng thấy ba con rắn từ trong bọc trườn xuống sông. Con thứ nhất theo hướng về cửa sông Đào Động, con thứ hai về Thanh Do, con thứ ba về trang Hoa Giám – nơi nàng Quý đang sinh sống. Nhân dân các trang ấp trông thấy đều sợ hãi, cùng nhau ra bờ sông tế tụng, xin được lập sinh từ để thờ.

    Lạ thay, vào một đêm trăng sáng, trời bỗng nổi cơn giông, ngoài cửa sông sấm sét nổi lên dữ dội. Đến gần sáng, gió mưa ngớt dần, mọi người đều thấy dưới sông có tiếng người ngâm vịnh:

    Sinh là tướng, hóa là thần

    Tiếng thơm còn ở trong dân muôi đời

    Khi nào giặc dã khắp nơi

    Bọn ta mới trở thành người thế gian

    Tương truyền ba vị tướng thời Hùng là con của Bát Hải Long Vương và Nàng Quý. Nàng Quý là con nuôi của vợ chồng ông Phạm Túc. Do vậy về sau nhân dân ghép họ Phạm cho các ông.).

    Bấy giờ Thục Phán – thuộc dòng dõi tôn thất vua Hùng, thấy Duệ Vương tuổi đã cao mà không có con trai, nên có ý định cướp ngôi. Thục Phán cầu viện binh phương Bắc, chia quân làm 5 đường thuỷ bộ cùng một lúc đánh vào kinh đô. Duệ Vương cho gọi tướng sĩ lập đàn cầu đảo giữa trời đất. Đêm ấy nhà vua chiêm bao thấy có người sứ giả mặc áo xanh từ trên trời bước xuống sân rồng, truyền rằng: “Nhà vua nên triệu ba vị thuỷ thần sinh ở đạo Sơn Nam, hiện còn là hình con rắn thì tất sẽ dẹp xong được giặc”. Tỉnh dậy Duệ Vương liền cho sứ giả theo đường chỉ dẫn trong giấc mộng tìm về đạo Sơn Nam. Sứ giả vừa đến trang Đào Động (nay thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), bỗng nhiên trời đổ mưa to, sấm sét nổi lên dữ dội ở cửa sông. Một người mặt rồng mình cá chép, cao tám thước đứng trước sứ giả xưng tên là Phạm Vĩnh, xin được đi dẹp giặc. Sau đó, ông Phạm Vĩnh gọi hai em đến bái yết thân mẫu, rồi cùng nhau đi yết kiến Duệ Vương. Vua Hùng liền phong cho ông là Trấn Tây, giữ các vùng Sơn Nam, ái Châu, Hoan Châu. Hai em và các tướng hợp lại, dưới sự chỉ huy của ông, 5 đạo quân Thục đều bị tiêu diệt.

    Nghe tin thắng trận, Duệ Vương liền truyền lệnh giết trâu, mổ bò khao thưởng quân sĩ. Vì có công lớn nên nhà vua lại phong cho ông là “Nhạc Phủ Ngư Thượng Đẳng Thần” nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân Đào Động hàng năm không phải chịu sưu dịch. Được vua Hùng đồng ý, ông Phạm Vĩnh cùng hai em về quê hương bái yết thân mẫu và khao thưởng gia thần, dân chúng.

    Thấy ở bên sông có khu đất tốt, ông Phạm Vĩnh cho lập đồn dinh cư trú, ban cho dân 10 hốt vàng để mua ruộng đất, khuyến khích nông trang, khuyên mọi người làm việc thiện lương. Nhờ công đức của ông mà nhân dân khắp vùng được sống yên vui.

    Ngày 25 tháng 8 năm Bính Dần, trong lúc ông đang ngự tại cung thất của mình, bỗng dưng giữa ban ngày trời đất tối sầm, mưa gió ầm ào đổ xuống. Khi trời quang mây tạnh, dân làng không nhìn thấy ông đâu nữa. Cho là điều kỳ lạ, nhân dân trang Đào Động làm biểu tâu với triều đình.

    Được tin ông Phạm Vĩnh về trời, nhà vua liền gia phong cho ông là “Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ưng Thái Thượng Đẳng Thần”, đồng thời đặt lệ quốc lễ, ban sắc chỉ cùng 400 quan tiền cho dân Đào Động rước thần hiệu, tu sửa đền miếu để phụng thờ. Các triều đại sau đó cũng có sắc phong cho ông (hiện trong đền còn giữ 12 sắc phong. Sắc sớm nhất là đời Lê Cảnh Hưng, sắc muộn nhất vào triều Nguyễn, niên hiệu Duy Tân thứ 7, ngày 18 tháng 10 có chép: “Sắc cho xã An Lạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam phụng thờ Trấn An Tây Nam Tam Kỳ Linh ứng triều Hùng thiêng liêng rõ rệt, trước đây chưa có dự phong. Gặp nay trẫm vâng chịu mệnh lớn, nghĩ đến công thần biểu dương phong cho vị thần, phò giúp nền nếp quốc gia, cho phép y theo lệ cũ kính thờ”.

    Hàng năm tại Đền Lảnh Giang, nhân dân địa phương tổ chức 2 kỳ lễ hội chính vào các ngày từ 18 đến 25 tháng 6 và tháng 8 âm lịch. Theo tục lệ địa phương thì kỳ lễ hội tháng 6 là để dành cho các khách thập phương, còn kỳ lễ hội tháng 8 chủ yếu dành cho các khách quanh vùng. Những ngày này thường gặp nước sông Hồng dâng cao nhưng lòng dân vẫn hướng về ngày lễ hội. Có nhiều năm nước ngập nhưng các thiện nam tín nữ cùng nhân dân bản địa vẫn bơi thuyền ra đền dâng lễ và thực hiện đầy đủ các nghi thức để tỏ lòng tôn kính tam vị danh thần họ Phạm, Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

    Trong báo cáo ngày 16/5/1996, cơ quan Bảo tàng lịch sử tỉnh Nam Hà (cũ) có nhận xét: Đền Lảnh Giang là di tích thờ ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Duệ Vương có công lao đánh giặc Thục, bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc. Khi đất nước thanh bình, các ông là những người quan tâm, chăm lo đến sản xuất, làm cho đời sống nhân dân ngày một ấm no hạnh phúc… Đền Lảnh Giang là công trình kiến trúc quy mô, uy linh, bề thế, mang đậm nét nghệ thuật kiến trúc và xây dựng cổ truyền của dân tộc. Tại đây còn giữ được nhiều cổ vật thờ cúng có giá trị cao về nghệ thuật.

    Ngày tiệc của Quan Bơ Phủ là ngày 24/6 âm lịch (tương truyền là ngày đản nhật giáng sinh của ông). Vậy nên trong văn hát câu rằng:

    “Đản hai tư tháng sáu xưng thần

    Khắp Trung, Nam, Bắc muôn dân đảo cầu”

    Khi ông về ngự đồng, khai quang chứng đàn mã sớ điệp, văn thường hát đoạn:

    “Lòng thành thắp một chiện nhang

    Tấu về Thoải Phủ các ban các toà

    Thiên Đình, Thoải Phủ, Diêm La

    Tấu về Thoải Phủ Vua Cha Động Đình

    Vốn xưa là chúa Thủy Tinh…”

    Ngoài ra để ca ngợi tài đức, công lao của ông, văn cũng hát:

    “Giáp bạc bao phen rực lửa hồng

    Xông pha trăm trận cũng như không

    Ra tay cứu nước trừ nguy biến

    Tiếng để ngàn thu với non sông

    Có phen chơi ngã ba Bạch Hạc

    Bạn loan ngồi đàn hát vui chơi

    Dạo xem phong cảnh mọi nơi

    Qua hang Anh Vũ sang chơi nước người”

    Và còn có một đoạn rất hay nói về tài phép của quan:

    “Hoá tức thì lâu đài điện các

    Dâng nước về Thuỷ Quốc một khi

    Có phen lấy ngọc lưu ly

    Đùng đùng dâng nước phép thì ai đang”

    Từ những giá trị về lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cổ truyền dân tộc của Đền Lảnh Giang, ngày 5/11/1996, Bộ Văn hóa Thông tin đã cấp bằng công nhận đền Lảnh Giang là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

    chúng tôi

    Tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Tích Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ
  • Những Điều Cần Biết Về Văn Khấn Thần Linh Ngoài Mộ
  • Huyền Tích Về Quan Lớn Đệ Tam Và Ngôi Đền Thiêng Bên Bờ Lục Đầu
  • Tiệc Quan Lớn Đệ Tam Đền Lảnh Giang
  • Thần Tích Quan Giám Sát Đệ Nhị Thượng Ngàn
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100