【#1】Lich Su Dao Cao Dai, 1926

T rong hai tập tài liệu trước viết xong từ mùa-thu năm Kỷ-Dậu (1969) với danh hiệu:

GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ KHAI ĐẠO TAI KIM BIÊN VÀ GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ CAO ĐÀI TỪ NĂM (1932 TỚI 1940).

Cách thức đánh máy và trình bày rất đơn sơ, văn tứ và ý thức không trọn chu đáo, Tác giả đã xem xét lại nhiều lần, nhận thấy có lắm chỗ sai lầm cần phải chỉnh-đốn nên cố tâm viết lại từng đoạn sắp xếp và trình bày phần kỹ thuật cho đẹp hơn, để thay thế cho hai tập trước để tặng cho bạn Đạo Sở, nay rút gọn lại thành một quyển sách dày, lắm công phu, cống hiến lần thứ nhì để vào văn khố và THƯ VIỆN của BAN ĐẠO SỬ TÒA-THÁNH TÂY-NINH.

Đây là thiện chí của tác giả ước mong sau cho trong BAN ĐẠO SỬ có đầy đủ nhân tài để nghiên cứu tỉ mỉ lại. Chỉnh Văn nếu cần rồi đệ trình lên Hội-Thánh Kiểm duyệt và cho phép ấn tống nếu được xác nhận rằng các đoạn văn đã viết toàn là đúng với sự thật mà Tác Giả đã cố công cứu xét từ văn kiện một trong mấy mươi năm qua.

Tòa Thánh Tây Ninh

Ngày rằm tháng 8 năm Quí Sửu

Tác giả kính cẩn

PHỐI SƯ THƯỢNG VINH THANH

TỰ : HIỂN TRUNG

NƯỚC CAO MIÊN là một nước lân bang láng giềng, nằm về phía tây Miền Nam nước Việt.

DÂN TỘC CAO MIÊN, Đại đa số theo tín ngưỡng Cổ Truyền là Phật Giáo, Bởi Vương Quốc của họ rất tôn sùng, chiêm ngưỡng đời đời, có thể nói đó là Quốc Đạo của MIÊN QUỐC, mà trên hết có Vua Sãi, dầu cho Quốc Vương đến Chùa, hay ngự tại triều mà gặp Vua Sãi thì cũng phải quì mọp lễ bái, bởi cả nước tôn sùng Vua Sãi như vị Phật Sống.

Vào Mùa Đông năm Bính Dần (1926) Đạo Cao Đài lại phổ thông hoằn hóa đến Cao Miên, chỉ trong một thời gian ngắn mà đã thu hoạch được nhiều kết quả khả quan trong dân tộc Miên.

Thổ dân Miên ngưỡng mộ Đạo Cao Đài nhờ sự tuyên truyền hữu hiệu của nhiều nhóm tín hữu qua lại biên giới MIÊN-VIỆT, họ nhận thức rằng nền Tôn Giáo nầy có một chơn lý cao siêu bao gồm cả Giáo Lý của NGŨ CHI TAM GIÁO, với bí truyền chấn hưng “PHẬT GIÁO”, Họ ý thức rằng: “TÂN TÔN GIÁO CAO ĐÀI”, do NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ sáng tạo gom các Đạo Giáo lại làm một, trong ấy có Phật Giáo đứng đầu nên họ tự nguyện hoán cựu canh tân các tư tưởng cổ truyền của Dân Tộc họ.

Vả lại nhờ huyền diệu phi thường của ĐỨC THƯỢNG ĐẾ, ban cho họ khiến họ đầy đủ đức tin, nên bao nhiêu sự phong phú về tinh thần cũng như lễ nghi thờ phượng lại phù hợp với bản tánh tôn nghiêm cổ truyền của Dân Tộc họ, lại nửa các vị Sư Sãi người miên họ Tôn sùng như Phật, nghe tin đồn tại TÂY-NINH mới nẩy sanh ra một TÂN ĐẠO GIÁO linh nghiệm, cũng vì tánh hiếu kỳ nên họ rủ nhau đến Tổ Đình TÒA-THÁNH TÂY-NINH, từng đoàn mỗi ngày một đông, dầu cho Sư Sãi hay thường dân, họ cũng chung cùng nhau đi đến tận nơi lễ bái và làm công quả, phá rừng lập công với Trời Phật, Hơn nữa họ được các Chức Sắc và chư tín hữu Nam, Nữ trong Đạo tiếp đón họ và đãi đằng cơm nước kể nhau như anh em ruột thịt, làm cho họ cảm mến, gây được ảnh hưởng Đạo Đức dồi dào, khiến họ cảm thông mau chóng, rồi tự nhiên họ trở thành Môn Đệ đầu tiên của ĐẠO CAO ĐÀI, trở về xứ họ ở tận Biên giới Miên-Việt, phô trương lý thuyết mà họ đã học hỏi nơi các Chức Sắc ở Tòa-Thánh.

Phần các Chức Sắc Tòa-Thánh thì có cảm tưởng đó là Ân Huệ của ĐỨC CHÍ TÔN ban cho mới khiến cho người Miên tự nguyện đi tìm Đạo, là một thời cơ thuận tiện để thỏa nguyện khao khác tinh thần về cuộc duy tân cải cách mà từ lâu người Việt có ý tìm tàng, mong mỏi gặp được dịp may hầu dung hòa Tâm Lý giữa người Việt và người Miên mà trót một thế kỷ qua, hai Dân Tộc nầy chung chịu số phận với sự kềm hãm dưới ách bạo tàn thống trị của ngoại bang, không có lúc nào có quyền tự chủ.

Trước Tòa-Thánh Tây-Ninh có một bửu tượng ĐỨC PHẬT TỔ kỵ lân Mã. Mặt hướng về Nước Miên, đưa tay che trán dường như tiếp đón mong chờ cả Dân Tộc CAO-MIÊN, qui về Tòa-Thánh hầu thọ hưởng ân thiên, và còn mong giải thoát nhân loại khỏi cảnh trần. Đó là Bửu Tượng của Thái Tử SĨ-ĐẠT-TA vừa rời khỏi Hoàng Cung của Vua Cha là: TỊNH PHẠN VƯƠNG HOÀNH ĐẾ nước TÂN THIÊN TRƯỚC (ẤN ĐỘ), Quyết tâm từ bỏ Điện Ngọc Ngai Vàng đi tầm chơn lý cao siêu, độ đời thoát khổ “Tứ Diệu Đề là sanh, lão, bịnh, tử” mà mọi người đều biết của Đức Phật.

Có một số người Miên rất đông, Tín ngưỡng Pho tượng Đức Phật Kỵ Mã đó, lại cho là Vị Thái-Tử của Nước Mình đã chuyển hóa, nên Kỵ Mã hướng về Kinh Đô Miên-Quốc, để mong mỏi Dân Tộc Nước Tần hối đầu hướng thiện, hầu hoàn thành một kỷ nguyên mới mẻ, hưng thạnh và Cao Thượng, tức là “Đời Thượng Nguơn Thánh Đức” đó vậy.

Việc phổ thông chơn lý tân truyền của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ chưa có một ai ở thế gian nầy thấu đáo sự kỳ diệu của nó, sự kỳ diệu đó khiến cho dân Miên tự tâm mộ Đạo, khiến cho khi về đến Tổ Đình đức tin càng mạnh. Rồi tự nhiên họ xin Nhập Môn, tình nguyện thọ lãnh Giáo Lý Cao Đài đem vô phổ thông khắp xứ, tiếng đồn gần xa, mọi người đều hướng về Toa-Thánh Tây-Ninh, rũ nhau đi đến có đoàn có lũ làm cho Chánh quyền Hoàng Gia rung động mà ban hành những biện pháp khắc khe cấm ngăn những người di chuyển của Thổ Dân về Tòa-Thánh.

Trong Tỉnh Tây-Ninh có Núi Bà-Đen tục gọi là “ĐIỆN-BÀ” cách vùng Tòa-Thánh lố 10 cây số ngàn về phía Bắc.

Trước khi có Đạo CAO ĐÀI, Nhơn Dân người Việt hay người Miên hằng đến viếng, trên núi có một ngôi chùa gọi là Chùa Bà, Thờ Bà “LINH SƠN THÁNH MẪU” rất linh thiêng, mỗi khi trong gia đình có sự bất an, nhất là về bịnh hoạn, đến đó cầu nguyện. Tại nơi Điện Thờ có một thứ nước Thiên, những người thành tâm, hiến lễ bái khấn nguyện và thỉnh nước Thiên, đựng trong một cái ve đem về cho người bịnh uống, Sự Thiêng Liêng là có huyền diệu rõ ràng, chữa trị đủ cách không lành bịnh mà khi uống nước Thiên lại hết bịnh, cũng như trong gia đạo có việc khảo đảo sau khi lên Điện cầu nguyện trở về nhà mọi việc đều được ổn thỏa.

Sau khi có ĐẠO CAO ĐÀI, Thánh Địa được mở mang, vào mùa Thu Năm Canh-Dần (1950), ĐỨC LINH SƠN THÁNH MẨU Giáng Cơ tại TRÍ GIÁC CUNG, tức là ĐỀN THỜ PHẬT MẨU ở QUI THIỆN, cầu xin Đức HỘ PHÁP, Tiến dẫn Chơn Linh Bà “LÝ THỊ THIÊN HƯƠNG” được chuyển về Tổ Đình hầu có thể siêu độ chúng sanh, trong cơ chuyển thế kỳ “Hạ Nguơn” Hoằn Khai Đại Đạo. Từ đây những người có lòng tin tưởng nơi Bà, nhận thấy không cần thiết phải đi đến non cao khẩn bái, nên họ xin thỉnh nước thiêng tại “BÁT QUÁI HỒ”, TÒA-THÁNH TÂY-NINH, đem về trị bịnh cũng linh nghiệm và có hiệu quả như lúc trước. Nhân dịp nầy họ còn được mãn nguyện về sự tiếp rước chu đáo, có nơi ăn chỗ ở, lại được lãnh Kinh Sách đem về, tụng niệm trước Thiên Bàn nơi bổn gia của họ.

Nhơn Sanh phần đông thật thà chất phát và thật tâm tín ngưởng, nên họ hằng tới lui Tổ Đình, dầu giàu hay dầu nghèo, mỗi khi đến họ đều đem lễ vật nhang đèn cúng kiến Trời Phật.

Bởi sự đi lại không ngừng của những người dân Miên Tâm Đạo, họ xem xứ Miên nối liền với Tòa-thánh như hình với bóng.

Vào đầu mùa xuân Năm Đinh Mão (1927) họ càng tới lui tấp nập, mỗi ngày con số vãng lai tăng lên gấp bội, thường là do sự hướng dẫn, của những vị Hương Chức trong làng, và các vị Sư Sãi của họ, hết đoàn nầy đi, đến đoàn khác đến, che lều dựng trại chung quanh Đền-Thánh, chiêm ngưỡng đêm ngày. Họ còn tham gia công quả vào việc khai hoang phá rừng, mở mang đường xá, trong Châu Vi Thánh Địa.

Những ngày Đại Lễ (Sóc Vọng và Ngày Vía) họ đều dâng hương hằng ngàn, hằng vạn người, bằng cớ là lúc ấy có bản Phúc Trình của Sở Tuần Cảnh đề ngày 2-6-1927, báo cáo với nhà đương quyền rằng, có hằng vạn người Cao Miên đến Lễ bái trước Chánh Điện TÒA-THÁNH CAO-ĐÀI, tại làng Long-Thành Tỉnh TÂY-NINH, Bái lễ trước Pho tượng Phật Tổ kỵ mã tại sân ĐẠI ĐỒNG XÃ. Cũng trong dịp nầy, có một vị sư sãi người Miên đắc lịnh bí mật theo dõi và quan sát. Tổng số người đi dự lễ có thể đến ba chục ngàn người và còn báo cáo thêm rằng “Tinh Thần Tín Ngưởng Mộ Đạo rất Cao”. Họ đi chiêm bái mà lại có mang theo cơm gạo, thức ăn, tiền bạc để tự túc lâu ngày. Họ chỉ trở về quê hương khi nào gần cạn số lương thực và tiền bạc của họ mang theo .

Trước làn sóng người di chuyển xôn xao như thế, Chánh Quyền Tỉnh Tây Ninh đâm ra lo ngại sợ có cuộc biểu tình, hoặc sách động quần chúng, đem lính tráng đến giữ an ninh làm cho tình thế trở nên nghiêm trọng.

Tổng Trưởng Bộ Tôn của Chánh Phủ CAO MIÊN, rất bất bình với thái độ của các Sư Sãi Miên và tự hỏi tại sao các vị nầy hướng dẫn một số Thổ Dân về TÒA-THÁNH TÂY-NINH, đem trọn tinh thần, tín ngưỡng về Tân Tôn Giáo Cao Đài, mà quên tục lệ Cổ Truyền. Nên Chánh Quyền Miên tìm phương chận đứng sự di chuyển của người bổn xứ họ, cấm chỉ vượt biên giới sang Tây-Ninh. Ông Tổng Trưởng Bộ Tôn Giáo ra một Thông Tri đề ngày 25-5-1927, đề cập tới Đạo Cao Đài Nguyên Văn bằng chữ Pháp dịch ra như sau :

“Sau khi nghiên cứu tận nơi rất kỷ lưỡng, ta nhận định rằng Tôn-Giáo Cao-Đài tạo dựng trong trường hợp bất chánh đáng trách, bởi họ lợi dụng Tôn Giáo để làm phương chăm, lường gạt Quốc Dân ta qui về Họ đặng lợi dụng lòng tín ngưỡng đem quyền lợi riêng tư về cho nhóm của họ .

“Giáo Lý của Phật-Giáo mà cả dân Tộc Cao-Miên đả thấm nhuần và đang dìu đắt chúng ta đến tận thiện tận mỹ, Thì ngoài Đạo-Phật của ta ra, không một Tôn-Giáo nào được đến choán chỗ trên quê hương chúng ta được.”

Thông Tri nầy kêu gọi dân chúng Miên Quốc nên hướng sự tín ngưỡng trở về Phật Giáo cổ truyền và khuyến cáo Quốc Dân nên lưu ý đề phòng sự nguy hiểm của Đạo Cao Đài, bởi Đạo nầy là người Việt Nam tạo ra khuynh hướng lật đổ các truyền thống cổ truyền của Vương Quốc.

Tháng 6 Năm 1927, có nhiều Huấn Thị rõ rệt hơn, gởi đến các vị Sư Sãi nhắc đi nhắc lại rằng Chánh-Phủ Hoàng-Gia có bổn phận ngăn cấm Giáo-Lý Cao-Đài, Vì Giáo-Lý nầy trái với Bản Hiến Pháp Quốc Gia, lại trái hẳn với những điều cấm răn của Phật Tổ, lại làm hoen ố tác phong của nhà Phật Tử.

Việc ngăn cấm nầy củng có đem lại sự kết quả phần nào sự vãng lai của dân Miên suy giảm, nhưng cuộc di chuyển, từng đoàn người cũng còn tiếp tục âm thầm. Công cuộc phổ thông Chơn Giáo được thận trọng hơn, thay chiều đổi hướng, hoán cổ canh tân trong việc thờ phượng, lễ bái một cách rõ rệt.

Tiếp theo lại có biện pháp khắt khe quyết liệt hơn trong cuộc chặn đứng các cuộc di chuyển của Tần Nhơn, hướng về Biên Giao Lý Miên Việt, cấm hẳn các việc tuyên truyền, có ảnh hưởng tốt cho Tân Đạo Giáo. Bởi Xứ Cao Miên đặt dưới quyền bảo hộ của Chánh Phủ Pháp nên biện Pháp nầy dể dàng ban bố lan rộng đến Miền Nam nước Việt cũng như ở nước Miên.

Miền Nam Việt Nam là thuộc địa của Pháp, qui tùng Pháp chế của Pháp, nên hưởng được sự tự do tín ngưỡng rộng rãi hơn, nước Miên là một Vương Quốc trong thể chế Bảo Hộ.

Bới thế nên Đạo Cao Đài bị công khai lên án là: “Tà-Giáo” do một sắc luật của Vua Cao Miên ban hành ngày 25-12-1926, tiếp theo đó lại có Sắc Chỉ thứ hai đề ngày 6-2-1927, ấn định hình phạt đối với Dân Miên nào nhìn nhận là đã Nhập Môn theo Đạo Cao Đài, hoặc có tham dự các cuộc lễ bái Quan Hôn, Tang Tế của Đạo Cao Đài, mà Chánh Phủ Hoàng Gia không thừa nhận.

Sắc Chỉ còn tham chiếu điều thứ 15 của Hòa Ước Bảo Hộ ngày 11-8-1963 và những Sắc Luật của Hoàng Gia đề ngày 21-11-1903, Ngày (6-8-1919) Ngày 31-12-1925, cũng như Sắc Luật mới của Nhà Vua đề ngày (1-4-1930) bổ túc các điều khoản nêu trên.

Tham chiếu điều thứ 149, 213 và 214 của Bộ Hình Luật Cao-Miên thì Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo là hai Tôn Giáo được phép tự do tín ngưỡng trong xứ Cao Miên.

Còn TIN LÀNH chỉ được hành Đạo với điều kiện là người Tín Đồ TIN LÀNH GIÁO phải là người có Quốc Tịch Pháp mới được.

Bởi các cớ trên, nên gần ngót một năm, con số người Miên đến Tòa-Thánh Tây-Ninh lần lần giảm bớt, trái lại việc phổ thông truyền giáo trên đất Miên vẫn tiếp tục có hiệu quả với sự khôn khéo và kín đáo của các nhà truyền giáo Cao Đài, hoặc Miên, hoặc Việt.

Hạ tuần tháng ba năm Đinh Mão (AVIRIL 1927) ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, đang làm Công Chức tại Sở Thương Chánh Saigon, Nhờ sự biến chuyển Thiêng Liêng của ĐỨC CHÍ TÔN đã báo trước, được thuyên chuyển lên Kim Biên mở Đạo, ở đậu tại nhà Ông CAO ĐỨC TRỌNG (sau lại ĐỨC CHÍ TÔN giáng phong Ông Cao Đức Trọng vào hàng phẩm TIẾP ĐẠO là một Chức Sắc trong Thập Nhị Thời Quân.

Buổi ban sơ nhờ sự xây bàn cầu cơ mà quyến rủ được một số Anh-Em toàn là công tư Chức, hướng dẫn đức tin của họ về Tân Giáo Lý CAO ĐÀI.

Trong một đàn cơ vào lối tháng Năm 5 Dương Lịch Năm (1927), có một Đấng Thiêng Liêng Giáng Cơ xưng là: CHƯỞNG ĐẠO NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN hay VICTORHUGO, tức là nhà Đại Văn Hào Trứ Danh của Nước Pháp, mà ai ai cũng đều nghe danh.

Sau bao ngày liên tiếp, Đức Ngài Giáng Cơ dạy Đạo bằng những Thi Văn rất tài tình làm cho mọi người đều thán phục, Ngài mới cho biết rằng: Ngài Lãnh Sắc Chỉ NGỌC HƯ CUNG, đến làm CHƯỞNG GIÁO hướng Đạo cho nhơn loại buổi Hạ Nguơn nầy, tạo lập Hội Thánh Ngoại Giáo (NISSIO ETRNGERE) và (THIÊN NHƠN HÒA ƯỚC).

Và từ đây nền tảng cuộc Truyền Giáo bắt đầu xây dựng dưới sự hướng dẫn của Ngài, mà mỗi khi giảng dạy, Ngài xưng Danh là: CHƯỞNG ĐẠO NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN hay là VICTOR HUGO.

Trở lại những biện pháp khắc khe do bao nhiêu Sắc Luật của Chánh Phủ Hoàng Gia, công cuộc phổ thong Chơn Giáo Cao Đài phải thay đổi chiều hướng, thay vì ăn sâu vào quần chúng Cao Miên, các nhà truyền giáo cố tâm phổ thông trong hàng Việt Kiều ở rải rác trong toàn xứ Cao Miên, nhờ vậy mà né tránh những qui chế quá ư nghiêm nghị của Chánh Phủ Miên Triều. Duyên cớ là toàn thể Việt Kiều đang sanh sống tại Miên Quốc, nhất là tại Thủ Đô Nam Vang, đều là Công Dân ở Miền-Nam Việt-Nam, thuở Ấy gọi là: (Nam-Kỳ) Thuộc Địa của Pháp, hưởng qui chế Pháp cũng như những người Việt Nam khác, Phổ thông Đạo Giáo của họ. Còn về phần Hoa Kiều thì họ được thong thả về tư tưởng bởi không có qui chế nào ngăn cản họ nhập vào Đạo Giáo của họ ưa thích, Mặc dầu Chánh Phủ Hoàng Gia ra nhiều Sắc Luật nghiêm cấm công khai, thế mà qua năm Mậu Thìn (1928), Đạo Giáo Cao Đài mạnh mẻ lan tràn sâu rộng trên toàn lãnh thổ Cao Miên.

Đầu tiên là trong tỉnh (PREYVENG) kế tiếp là Tỉnh (SVEYRIENG), giáp ranh Tỉnh Tây Ninh đã có hàng ngàn, hàng vạn người Việt- Kiều và Hoa Kiều nhập môn Cầu Đạo, đặc biệt có một điều là với sự bền tâm thiện chí, cố tránh mọi sự va chạm với Chánh Quyền Miên, cũng như Pháp, các Chức Sắc Chức Việc và toàn thể Bổn Đạo tỏ vẻ không hề quan tâm đến Dân Chúng Cao Miên, mà chỉ chủ tâm lôi cuốn phần đông Việt Kiều và Hoa Kiều đem vào cửa Đạo. Với thái độ như vậy, Chánh Quyền Miên cũng hơi yên tâm một lúc.

Muốn cho dể dàng trong việc truyền giáo khắp nơi trong Miên Quốc, Chư Thiện Nam tín Nữ Hoa Việt có sáng kiến tự nhủ nhau mỗi người đồng tâm nhứt trí lập tờ Cam Đoan với Chánh Quyền Pháp cũng như với Chánh Quyền Hoàng Gia như sau:

“Chúng tôi tự nguyện kể từ đây sanh hoạt theo một đời sống Đạo Đức, Nghĩa Nhân, đầy đủ Bác Ái Công Bình, trọn tuân theo luật Pháp của Đại-Đạo Cao-Đài, mà nguồn cội tại TÒA-THÁNH TÂY-NINH, với sứ mạng cao thượng của các Đấng trọn lành nơi Cỏi Thiêng Liêng Hằng Sống là :

“QUI NGUYÊN TAM GIÁO, THỐNG HIỆP NGŨ CHI, HOẰNG KHAI ĐẠI ĐẠO, Khắp Năm Châu Thế Giới, Hầu tận độ chúng sanh chung hưởng cảnh Thái Bình với một kỷ nguyên (ĐẠI ĐỒNG HUYNH ĐỆ).

“Chúng Tôi thành thật cam kết với Chánh Phủ rằng: Chúng Tôi không bao giờ vô tình hay cố ý làm một điều chi vi phạm đến sự Trị An Quốc Gia.

“Nếu chúng Tôi thất tín với Chánh Quyền thì cả thảy chúng tôi chịu tội Tử Hình y theo Quốc Pháp.”

Với những đàn cúng thường, hay thiết lễ tại các Tư Gia, nhờ sự Tổ Chức khôn khéo mà đem ảnh hưởng chơn lý phổ thông sâu rộng. mỗi khi có việc Quan Hôn, Tang Tế sự, thì chủ gia thừa dịp mời bà con cùng thân bằng quyến thuộc đến tham dự đông đảo, nhờ sự tổ chức khôn khéo, ôn hòa và thận trọng như thế mà mỗi dịp, đều có kết quả khả quan là lúc nào cũng có người đến xin nhập môn cầu Đạo.

Mặc nhiên Nhà Chức Trách ở Đô Thị cũng như ở tỉnh hằng phái người dọ thám để xem hành vi của Chức Sắc Truyền Giáo và Chư Đạo Hữu mới Nhập Môn để mong thâu thập ít nhiều tin tức. Nhưng trong bao nhiêu báo cáo, Phúc Trình của Mật Vụ, toàn là tin thất thiệt, cố ý thổi phồng mỗi việc để kiếm lời ban khen. Chẳng có một sự việc nào báo Cáo về CAO ĐÀI mà Chư Đạo Hữu hân-hạnh được Nhà Cầm Quyền đãi ngộ đúng đắn cả, bởi sự đối đãi hẹp hòi ấy mà gây ảnh hưởng phản ứng trong tâm hồn quần chúng, và cũng do đó mà các Chức Sắc, Chức Việc càng thận trọng hơn trong việc Truyền Giáo Phổ Thông.

Danh nghĩa và Tôn Chỉ của Đạo Cao Đài lại càng lan rộng ra khắp Miền Tây Vương Quốc, ngoài hai tỉnh (FRY-VONG và SVAY-RIENG) giờ lại đến Tỉnh Tà-Keo và đáng kể nhứt, quan trọng nhứt là Trung Tâm Thủ Đô Nam Vang, Giáo Lý Cao Đài được phổ biến sâu rộng.

Nhờ vậy mà trong dịp lễ Thượng Nguơn, năm Kỷ Tỵ (1929) Người Miên trở lại đi tầm Đạo hướng vế TÒA-THÁNH TÂY-NINH, mặc dầu con số có kém hơn các năm về trước (tức năm 1926-1927) Nhà đương quyền Miên được báo động, cấp thời lo cản trở sự di chuyển của dân Miên, và dùng những biện pháp hành chánh khắc khe đối với ĐẠO CAO ĐÀI đương cơn phát triển.

Các Ty, Sở, An Ninh, Tình Báo Quốc Phòng đồng ấn định phương pháp đối phó, bằng cách ra Châu Tri, Bố Cáo cho toàn dân Miên để dụ họ phải trung thành với Giáo Lý Nhà Phật, không nên theo một Đạo Giáo nào mà Chánh Phủ cấm đoán. Ai biết hối ngộ sẽ được ưu đãi, ai cải lời sẻ bị trừng phạt. Nhưng phía dân chúng lại có phản ứng bằng cách tuyên truyền rằng ĐỨC PHẬT hiện ở Tây-Ninh. Bằng cớ là Pho Tượng của Thái Tử Sĩ Đạt Ta đã chuyển hóa, kỵ mã trước Tổ Đình, ấy là vị cứu tinh giáng thế, mà từ lâu dân chúng Miên hằng mong đợi. Vì vậy người nầy rủ người kia, đồng hè nhau đi hành hương cúng Phật như mấy năm về trước.

Chánh Quyền Hoàng Gia thấy không thể khuyên nhũ bằng Châu Tri, Bố Cáo bèn ra lịnh cho lực lượng Cảnh Sát đứng ra ngăn chận làn sóng người Miên đương rời Vương Quốc, di chuyển đi hành hương nơi Tổ Đình TÒA-THÁNH TÂY-NINH, số người di chuyển rất đông đảo, lính tráng chỉ áp đảo một phần nào thôi, còn bao nhiêu đều qua lọt biên giới.

Cùng lúc ấy không dễ gì xin phép cất tiểu Thánh-Thất trên đất Miên được, bởi kể vào đơn xin phép thì đơn bị bát, muốn lướt được Chánh Quyền Địa Phương thì phải ngụy trang, đục cột đẽo kèo một nơi nào đó, sắp đặt những món cần thiết trong việc cất nhà, rồi tối lại Chư Đạo Hữu ráp nhau dựng lên, lợp lá hay lợp thiết, làng xã hay biết, thì đứng trước một việc đã rồi, đành lập Vi Bằng giải đến Quan Tỉnh, nơi nào dễ thì biên phạt nhẹ một số tiền, chớ không hề bị bắt buộc dở nhà, bên trong nhà thì lập Thiên Bàn cúng kiến, Chư Đạo Hữu hội họp dưới 20 người thì không phạm luật, đó là tiêu chuẩn Thánh-Thất ngụy trang, rồi lần lượt thành thói quen, Làng Xã chỉ dòm chừng chớ không làm khó. Kế hoạch nầy lan tràn trong các Tỉnh, nên nhiều nơi đã có Tiểu Thánh Thất là nơi hội họp cúng kiến.

Còn tại Thủ Đô Miên Quốc, Hội Thánh Ngoại Giáo dưới quyền Chủ Trưởng của Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, có sứ mạng phải lo tạo dựng một ngôi Thánh Đường, cho trang nghiêm đồ sộ để qui tụ các Tinh Thần Đạo Giáo về đó, dự định cất Thánh-Thất Tại Kim- Biên, kéo dài từ năm (1930) đến năm (1937) mới xong và ăn lễ khánh thành.

Chánh Quyền Cao Miên rất lo ngại mà nhận thức các đơn vị truyền giáo của Cao Đài càng ngày càng bành trướng, nhưng theo qui chế bảo hộ, thì những người công dân Nam Việt là người thuộc địa Pháp, ngoài vòng qui chế của Hoàng Gia nên họ vẫn được tự do, trong việc truyền bá của họ.

V. HOÀNG GIA CAO MIÊN CẦU CỨU VỚI CHÁNH QUYỀN BẢO HỘ

Nhận được thông điệp của Nhà Vua, Quan Khâm Sứ Bảo Hộ liền thân hành đến hội đàm với bạn đồng liêu, là Quan Thống Đốc Nam Kỳ Saigon để tham khảo ý kiến, khi trở về Nam Vang, Quan Khâm sứ đến trình bày cùng Quốc Vương về trách vụ khó khăn của Ông trong vấn đề Pháp lý như vầy:

“Tôn Giáo Cao Đài đã được Chánh Quyền Pháp chấp nhận cho Hoằng Hóa khắp Ngũ Châu do bức đơn Chánh Thức đề ngày 25 tháng 8 Năm Bính-Dần (dl: 29-9-1926) mà Pháp Triều đã nhìn nhận”.

Quốc Vương Cao Miên và Quan Khâm Sứ Bảo Hộ đành phải nhìn nhận Pháp Lý, nên có ra một quyết nghị chung chế giảm cho Đạo Cao Đài Hoằng Hóa trong số người Việt Nam trên lãnh thổ Cao Miên, trừ dân bổn xứ là người (KHME). Tuy nhiên họ có tầm hạn chế việc tạo lập Thánh-Thất mà chỉ nhìn nhận số Thánh-Thất đang có trong đó thôi, không cho gia tăng, và cũng ngấm ngầm phá rối.

“Trong lúc gần đây những vị Lãnh Đạo của một Tôn Giáo mới, tuyên truyền rằng, Dân Tộc Cao Miên có Tân Quốc Vương giáng lâm tại Tòa-Thánh Cao-Đài ở Tỉnh Tây-Ninh (Nam-Kỳ), nên một số dân Miên đáng kể, võ trang đao kiếm đến triêm bái nơi đó ngót vạn người”.

Nghe như vậy Quan Thống Đốc Nam Kỳ (BLANCHARD DE LA BUOSSO) hiệp với Quan Khâm Sứ Đại Thần của Vua (MONIVONG), cùng với các Quan Giám Đốc Sở Mật Thám Nam Kỳ và Cao Miên lập thành một phái đoàn đến tận TÒA-THÁNH TÂY-NINH để quan-sát.

Ông (DE LA BROSSO) ý kiến với Đức Quyền Giáo Tông THƯỢNG TRUNG NHỰT, và xin nhờ Ngài đính chánh tin đồn trong tờ báo nói rằng: “Có vì Tân Quốc Vương xuất hiện” đồng thời ngỏ ý buộc Đức Quyền Giáo Tông phải chịu trách nhiệm nếu có biến cố xảy ra do tin đồn ấy.

ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, không ngần ngại tuyên bố rằng: “Bần Đạo nhơn danh Giáo Tông ĐẠO CAO ĐÀI, lấy danh dự chịu mọi trách nhiệm về tin đồn mấy Ông vừa nói, đó là một điều mỉa mai, tôi tin không bao giờ có sự thật như vậy”.

Nắm được cơ hội thuận tiện nầy, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, liền gởi cho toàn Đạo ở Nam Kỳ một bức thông điệp ban hành sự tự do tín ngưỡng. Về phía Cao-Miên, Ngài dạy Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, Chủ Trưởng Ngoại Giáo, phải nương dịp nầy mà phổ biến khắp nơi trên Tần Quốc cho Chư Tín Hữu vững tâm truyền giáo.

Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, lịnh thông truyền cho toàn Đạo trong Miên Quốc, đồng thời cũng gởi thông báo cho các Quan Tham Biện Chủ Tỉnh và Chánh Quyền Cao Miên được Tường Tri.

Trong Thông Điệp, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG khuyên nhũ chư Đạo Hữu lúc nào cũng phải tuân hành luật Pháp Quốc Gia, và tỏ vẻ Đạo Đức để nêu gương cho sanh chúng mà nền Đạo cũng được êm ấm đối với Chánh Quyền của mỗi Quốc Gia.

Trọn năm Kỷ Tỵ (1929) trôi qua, không một sự việc gì xảy ra đối với bức thông điệp trên, đằng khác Hội Thánh và các Chức Sắc Địa Phương hằng ra Châu Tri nhắc nhở toàn Đạo, Mọi Tín Hữu an phận Tu Hành, chẳng nên va chạm đến Pháp Luật, trong Đạo cũng như ngoài đời.

Nhờ sự tu chỉnh nội dung của Nền Hành Chánh Đạo. Nên mọi sự tiến triển điều hòa, Nhơn Sanh Nhập Môn càng ngày càng đông mà được an ninh trật tự mọi nơi, làm cho Chánh Quyền được vững tâm mà để yên cho Chức Sắc Hành Đạo.

Trong Những cuộc Quan Hôn, Tang Tế Sự, hoặc là lễ giỗ của Tổ Tiên nơi các Tư Gia của Đạo Hữu, đó là cơ hội thuận tiện để biểu dương tinh thần Bác Ái, thủ tục vãng lai, Chư Chức Sắc, Chức Việc đứng ra lo lắng tổ chức các cuộc hành lễ trang nghiêm và cũng không quên xin phép với Chánh Quyền. Mỗi khi có cúng tế là cuộc hội họp rất đông đảo, có Nhạc Sỉ, Đồng Nhi luân phiên cúng kiến, kế tiếp tụng Kinh không dứt. Những dịp nầy như vậy cũng hiếm có, mà mỗi khi có là cơ hội lôi cuốn tinh thần Dân Chúng hiếu kỳ đến xem đông đảo, trật tự an ninh có phần náo nhiệt, nhưng nhờ sự tổ chức chu đáo nên không có sự gì xảy ra đáng tiếc.

Đây trở lại vụ tạo dựng Thánh Thất Kim Biên, Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, Chủ Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo, sau khi tìm được một miếng đất gần Châu Thành, có giếng nước rộng bề dài khoảng (200 mét), bề ngàng khoảng (100 Mét) Của Ông (GROSLLER) là một người Pháp đương dùng làm rẫy nay không dùng nữa, nên nhường lại cho Bổn Đạo, một dịp rất may là người Pháp nầy lại là một Ông Chủ Sở của một Chức Sắc Cao-Đài là GIÁO HỮU THƯỢNG VINH THANH, Tức Là Ông Trần Quang Vinh (là Phối Sư hiện nay đó), Nên Ông nhường không, nghĩa là Ông hiến không bán, Bổn Đạo chỉ hoàn lại cho Ông một số bạc (Bốn trăm đồng Ông đào giếng Nước và xây Ciment) Ông có làm giấy hẳn hòi.

Sau lại Chánh Quyền Pháp muốn làm khó cho Đạo có mời ông đến hỏi, có ý muốn xúi ông ấy lấy đất lại, Ông bèn trả lời rằng : “Đất của tôi, Tôi có quyền chuyển nhượng cho ai tự ý tôi, chỉ có thế thôi”. Nên miếng đất ấy trở nên của Đạo, mà Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH thay mặt làm chủ.

Sở Đất nầy nằm ngay mặt tiền chạy dài theo đường (Fierre pasquier) mặt hậu có bưng, Phía Bắc và Phía Nam có hàng rào dày đặt trồng bằng cây tươi. Vị trí rất thuận tiện, cách Chợ Nam-Vang một cây số ngàn (1000 Mét).

Lúc ấy miếng đất còn trống, nên Hội-Thánh cho phép người Đạo Hữu hiến thân cất nhà lá ở chung quanh tùy theo chỉ số định, còn bên trong dài theo bưng cất Văn Phòng Cửu Viện dài cỡ (30 mét), ngang 10 mét) phía sau là nhà cao cẳng tạm cho Ông Chủ Trưởng ở làm Việc, các nơi trống thì trồng hàng bông, chính giữa miếng đất chừa một khoảng thật rộng để làm Thánh-Thất.

Công việc tạo tác là một việc thiết yếu nhứt, cần phải vận động tích cực, về mặt tài chánh hầu cung ứng vật liệu theo nhu cầu để mong kiến tạo một ngôi thờ xứng đáng.

Một mặt thì Hội-Thánh Ngoại-Giáo những việc trình diễn Văn Nghệ Cổ Ca, Đồng bào Việt Kiều đến xem đông nghẹt. Nhân dịp đó mà Hội-Thánh quyên góp được một số tiền đáng kể, nhưng không đủ. Mặt khác Châu Tri cho Toàn Đạo trong Xứ Miên, các Tỉnh Đạo đóng góp lần lần, phương tiện tài chánh đến đâu thì mua vật liệu đến đó, còn công quả thì khỏi nói, ai ai cũng muốn giúp cho có công với Đạo, nhờ vậy mà ngôi Thánh Đường đồ sộ được tạo dựng nơi ấy, nay biến thành trung tâm Thành Phố.

Cũng nên xác nhận rằng việc xin phép cất Thánh-Thất, gặp nhiều trở ngại, không một Chánh Quyền nào, Đô Thị cũng như Hành Chánh dám cấp giấy phép. Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, đi vận động khắp các nơi, từ Hoàng Gia đến Thị Xã, rốt cuộc cũng không được, có ai dám cho phép, vì họ nghi ngại Cao Đài làm Chánh Trị rồi lôi cuốn công dân của họ.

Tuy nhiên việc gì đến sẽ đến, bị thúc giục rát quá, cấp bách quá, nên Ông Đô Trưởng bảo:

“Tôi không có quyền cho phép bằng giấy tờ, nhưng nhắm mắt để mấy ông làm, rồi hậu quả ra sao mấy ông chịu”.

Nhờ vậy mà Bổn Đạo làm càng, ráp nhau xây dựng gắp rút hoàn thành trong một thời gian kỷ lục.

Sau lại, Ông THƯỢNG BẢY THANH cũng bị cò bót đòi hỏi, công việc kéo dài cho đến năm (1942) là năm Thánh-Thất bị Chánh Quyền trưng dụng rồi dở luôn.

Chánh Phủ Miên trưng dụng sở đất nầy và thế cho sở đất hiện tại Ở (FUOT SVAY-PREY) hộ Đệ Ngũ, Châu Thành Nam Vang mà Hiện nay ngôi Thánh Thất rất khang trang tọa lạc tại Số 226 đường (PHIAUV FREAK BAT FORODOM, PHNOM PENH).

Sau một thời gian không lâu tiếp theo bức thông điệp của Đức QUYỀN GIÁO TÔNG, mặc dầu nền Đạo đương êm đềm tiến triển, Chánh Phủ Hoàng Gia và Chánh Phủ Bảo Hộ tự nhiên thay đổi thái độ, bãi bỏ chánh sách khoan hồng, đương đối xử với Đạo Giáo Cao Đài. Họ trở lại hiến chế Cao Miên để áp đảo Việt Kiều trong vấn đề Tôn Giáo, bắt buộc mỗi khi có tế lễ cúng kiến, dầu tại tư gia hay là trong Thánh-Thất, thì phải xin phép Chánh Quyền. Đây là vào lối năm (1930) tình hình chung trong xứ không được yên tịnh.

Ngày 4-7-1930, Quan Khâm xứ Cao-Miên ra Chỉ thị cho các Quan Tham Biện Chủ Tỉnh. Nguyên văn bản thông dịch như sau :

“Hiện nay có biến động, để ngăn ngừa mọi việc hội họp có thể gây rối và tổn thương chánh sách trị an, bổn chức nhứt định thủ tiêu Pháp Chế khoan hồng mà từ lâu đã áp dụng tương đối với Tôn Giáo CAO ĐÀI, cho đến khi có lịnh mới.

“Vậy Kể từ ngày ra Chỉ Thị nầy, Bổn Chức nghiêm cấm Đạo Cao Đài hành lễ cúng kiến, bất luận dưới hình thức nào, lớn nhỏ cũng thế, nếu có ai còn tổ chức hành lễ cúng tế, thì vị Công sứ Chủ Tỉnh có bổn phận ngăn ngừa nghiêm nhặt, không cho cuộc lễ đó xảy ra, nhưng không nên ngược đãi họ, trừ trường hợp họ bành trướng công khai giữa đường phố thì nhà đương quyền phải cấm chỉ hẳn chẳng nên dung thứ.

“Nếu có xảy ra trường hợp như thế Bổn Chức yêu cầu các Giới Chức hãy lấy lý lịch của những người Chủ Trương Tổ Chức cuộc lễ ấy, rồi lập tức cấp báo bằng điện tín cho bổn sứ rõ liền. Bổn Chức sẽ có biện pháp đối phó bằng cách buộc họ phải tuân hành thủ tục hành chánh là trục ngoại họ ra khỏi lãnh Thổ Cao Miên.

“Bổn Chức yêu cầu các quan Công Sứ Tỉnh phải ban hành sâu rộng chỉ thị nầy cho toàn thể dân chúng đều biết.”

Báo Chí bên Pháp đã công khai, nhấn mạnh nhiều bài trong đề tài “Áp Chế Tôn Giáo” nêu rành từ sự việc của các nạn nhân, toàn là tín đồ của Đạo Cao Đài.

Như vừa qua vài ngày 11-5-1930 tại Tỉnh Tà Keo có bà Góa Phụ Huỳnh Thị Trọng, Cúng Lễ Giỗ Tổ Tiên theo nghi thức Tôn Giáo Cao Đài, bị Nhà Cầm Quyền địa phương bắt giam, nhà cửa bị đập phá tan hoan, theo lịnh của Quan Chủ Tỉnh, sở tại đã mâu thuẫn cho phép bằng khẩu lịnh để sau nầy dể đính chánh.

Nạn Nhân sau khi được trả tự do, bèn làm đơn tố giác ra tòa án, nội vụ có đầy đủ chứng cớ, kết cuộc Tòa Thượng Thẩm Saigon chỉ cảnh cáo suôn Nhân Viên Công Lực thừa hành Chức Vụ. Quả có thi hành bổn phận ngoài ý định của Thượng Cấp, đập phá vỡ tan đồ thờ phượng cúng kiến, thiêu hủy Thánh Tượng đang thờ (Do Nghị Định ngày 16-4-1929) của Quan Khâm sứ bảo hộ mà không bị chi hết.

Một bức thư của Hội Nhân Quyền bên Pháp Quốc đề ngày 12-2-1932 gởi cho Tổng Trưởng Bộ Thuộc Địa đề cập đến trường hợp của một Hoa Kiều tên (TỀ-LIN), có Vợ Việt-Nam sanh được 3 đứa con, đã từng sanh sống tại Cao-Miên trên 20 Năm qua, đã bị trục xuất khỏi Đông-Dương, do nghị định của Quan Khâm sứ Bảo Hộ đề ngày 2-7-1929, chỉ vì tội có tham dự lễ giỗ Tổ Tiên của một gia đình có Đạo Cao Đài, mà cuộc cúng kiến gồm vỏn vẹn có 9 vị bà con thân quyến, hơn nữa là đã có giấy phép của Chánh Quyền địa phương ký cho.

Ngày 19-11-1930 Sở Cảnh Sát Đô Thành cho Nhân Viên đến Tịch-thâu, mà không cần hỏi giấy phép chuyên chở những Pho Tượng Phật do Chư Đạo Hữu địa phương gởi hiến cho Đạo, khi một chiếc tàu (CHALOUPE) vừa cập bến để di chuyển đến Thánh-Thất Kim Biên.

Chẳng những như thế mà thôi, người ta còn mục kiến rõ ràng hơn những vụ lính tráng bao vây lục xét nhà cửa trong Châu Vi Thánh-Thất một cách phi pháp, không riêng vì chủ trương đập phá Thánh Tượng và nghi thức thờ phượng mà lại còn thêm những vụ bắt bớ giam cầm tra khảo dã man nữa. Đây là một việc thử thách hi hữu rất nên trọng hệ mà không bao giờ cả tín đồ Đạo Cao Đài nơi đây xao lãng được.

Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, Chủ Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo, có vào đơn với Chánh Quyền xin phép thiết lễ cúng rằm Trung Nguơn, Tại Thánh-Thất Kim-Biên vào ngày 7 và 8 tháng 9 Năm 1930 (Canh Ngọ). Thay vì từ chối hay cho phép, Chánh Quyền ra mật lịnh đề ngày 6-9-1930, cho Sở Công-An và Cảnh-Sát, đến bao vây Thánh-Thất, lục soát, và bắt tất cả những người ở trong nhà kể cả khách khứa.

Vụ bao vây và bắt bớ nầy đặt dưới quyền chỉ huy toàn quyền hành động của nhân viên Mật Thám (DESFRANCOIS) thi hành thủ đoạn đêm (7-9-1930) lúc 20 giờ 15.

Liền đó Ông Chủ Trưởng Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH (Lê Văn Bảy) và 97 Vị trong đó có cả Chức Sắc, Chức Việc và Đạo Hữu Nam, Nữ, ở các nhà chung quanh Thánh Đường, chờ đến giờ Tý (12 Giờ đêm) cúng Đại Đàn, 98 Vị Đạo Hữu bị bắt, dẫn ra đường sắp hàng hai dưới trận mưa tầm tả, đem về tống giam vào khám tất cả.

Mãi đến hai ngày sau tức là ngày 9-9-1930, Ông Giáo Sư Chủ Trưởng, đang bị giam trong khám, mới được giấy cáo tri của Nhà Cầm Quyền cho biết là đơn xin phép của ông bị bát bỏ, nghĩa là không được phép cúng rằm Trung Nguơn, mà ngày rằm tức là đêm 7-9-1930 qua rồi.

Qua đến ngày thứ ba, tức là ngày 10-9-1930, tất cả đều được trả tự do trong ba ngày bị giam cầm, không một ai bị thẩm vấn cả, nhưng bị đưa ra Tòa Án về Tội hội họp không xin phép.

Tại Phiên Tòa ngày 20-5-1931 Tòa Sơ Thẩm Nam Vang lên án các bị can như sau:

TUYÊN PHẠT

Ông LÊ VĂN BẢY, Giáo Sư Chủ Trưởng 200 quan tiền vạ; Chức Sắc Chức Việc 100 quan; Tín Đồ Nam, Nữ mỗi người 50 quan.

Tòa Án còn nghiêm khắc tuyên bố giải tán Giáo Hội Cao Đài tại Cao Miên, vì không thích hợp với Hiến chế hiện hành.

Trong bản án, Ông Chánh Án Tòa Sơ Thẩm chiếu theo các điều khoản trong bộ hình luật, cấm các cuộc hội họp công khai quá 20 người mà không có giấy phép, và cũng căn cứ vào các qui điều pháp định trong Bộ Hình Luật của Chánh Phủ Hoàng Gia và các Sắc Luật của Miên Triều Qui Định, sự hành lệ theo Tôn Giáo tại nước Cao Miên.

Về Phần bào chữa, Ông Trạng Sư Tòa Thượng Thẩm Saigon (LORTAT-JACOB), Đã biện minh rõ rệt lý lẻ nội vụ và minh định rằng trước khi có cuộc lễ, Ông LÊ VĂN BẢY đã vào đơn xin phép đàng hoàng, nhưng trong lúc chờ đợi mọi người đều bị bắt trước giờ hành lễ, làm cho cuộc lễ bất thành, hơn nữa giấy cáo tri của nhà đương quyền bát đơn chỉ đem trao cho Ông LÊ VĂN BẢY hai ngày sau khi Ông đã bị bắt giam trong khám.

Sau khi bào chữa rất dài mà Ban Đạo Sử còn giữ đặng trong quyển (LES MARTYRS) do LA FOI MOUVELIE, Ông Trạng Sư nhấn mạnh rằng :

“Truy nã họ là bất hợp pháp và bất hợp hiến” hơn nửa Ông chứng minh rằng “Những Thân Chủ Tôi đều là những người Tâm Đạo”.

Ông LÊ VĂN BẢY, Chống án lên Tòa Thượng Thẩm Saigon.

Trong Phiên xử ngày 7-11-1931, xác nhận bản án Tòa Sơ Thẩm Nam Vang, nhưng chế giảm số tiền phạt vạ còn từ 100 quan trở xuống 16 quan, lại hưởng được án treo.

Vụ nầy Trạng Sư thượng tờ lên Tòa Phá Án bị bát đơn, ngày 31-1-1932.

May thay cách vài tuần sau do một Đạo Luật Ân Xá của Quốc Hội Pháp đề ngày 16-12-1932 ban bố sự tư do, tín ngưỡng cho Đạo Cao Đài, nên các án tiết, các vụ phạt vạ có liên hệ đến các vụ hội họp lễ bái, các quyền Tự Do của Tín Đồ Cao Đài đều được ân xá. Nhờ sự vận động tại Pháp Quốc của: Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH, với sự can-thiệp của Hội Nhơn Quyền và nhiều Nghị Sĩ, nhiều báo chí đã dày công binh vực Đạo.

Về Vấn đề Tòa Án cũng trong một lúc mà có việc mâu thuẫn xảy ra trong việc xử tụng, như ở Tỉnh Bạc Liêu Tín Đồ Cao Đài cũng nhóm họp cúng kiến, cũng bị bắt giải tòa, đến ngày xét xử, Quan Chánh Án Tòa Sơ Thẩm, với lý do là Đạo Giáo Cao Đài, không phải là một Hiệp Hội, nên tha bổng Nội vụ, Quan Biện Lý Thượng Tố lên Tòa Thượng Thẩm Saigon xác nhận bản án của Tòa Sơ Thẩm Bạc Liêu nên miễn tố tất cả các can phạm.

Riêng tại Đông Dương hai ân nhân bênh vực Cao Đài Giáo là hai vị Trạng Sư Pháp: Ông LORTAT-JACON và Ông ROGOR L.SCAUX, Đóng Văn Phòng Tại Nam Vang, mặc dầu nghề nghiệp là Trạng Sư, nhưng vì chủ nghĩa cao thượng, không hề thọ lãnh thù lao của Đạo, mặc dầu mỗi lần bào chữa hay chạy lo lắng tốn kém, Ông Bảy đến đền ơn, thì hai ông vẫn từ khước thẳng thắng, cho rằng họ không có công chi mà họ chỉ làm bổn phận Nhơn Đạo và Thiêng Liêng cao cả mà lương tâm bảo làm.

Có một lần nọ Năm 1929 Ông Trạng Sư (LORTAT-JACOB). Mãn nhiệm kỳ ba năm, trở về Pháp nghỉ 6 Tháng, trong lúc lưu lại Saigon, Ông ở lữ quán (Cemtinental). Một đêm nọ, có Đức Quyền Giáo Tông THƯỢNG TRUNG NHỰT, Giáo Sư Thượng Bảy Thanh, Giáo Hữu Thượng Vinh Thanh đến viếng, sau đôi câu chuyện hàn huyên, Đức Quyền Giáo Tông, trân trọng trao cho ông một bao thơ trong ấy có số bạc là Năm Ngàn đồng với những lời nói hết sứ khéo léo để đền ơn, nhưng Ông cũng từ chối, cương quyết từ chồi với những lời lẻ Đạo Đức.

Đó là một sự việc đúng mức như vậy trước mặt tác giả cuốn sử nầy, lúc ấy là: Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH, chứng minh là sự thật.

PHẢN ỨNG CUẢ HAI TỜ BÁO PHÁP

ĐỐI VỚI VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT GIÁO.

Tờ báo “IA GRIEFE” Số 36 xuất bản tại Pháp ngày 5-9-1931, và kế tiếp số 38 đề ngày 17-9-1931, tố cáo những biện pháp hẹp hòi, đê tiện của Khâm Sứ Cao-Miên, đã thi hành thủ đoạn áp đảo và đe dọa Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, Chủ Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo, lại còn thêm tuyên bố cấm “Không thể để cho người không trung thành ngồi yên” (Ý Nghĩa là phải trung thành với Pháp Quốc).

Báo (LA GRIFFE), lại còn lên án thẳng tay về thái độ bất chánh của quan chức cai trị ở thuộc địa, đồng thời đã kích thẳng tay sự thành lập Cơ Quan gọi là “PHẬT GIÁO NGHIÊN CỨU VIỆN”, Do Nghị Định đề ngày 25-1-1930 của toàn quyền (PIERRE PASQUIER), Với mục kiến giả tạo là để nghiên cứu Phái Phật Giáo Tiểu Thừa, đem phổ biến và áp dụng cho dân chúng Miên Quốc và Ai Lao, tuyên truyền cho tận nơi các sóc, các khum, các làng mạc xa-xôi hẻo-lánh. Còn về thổ dân Miên mà ở Nam Việt thì tuyên truyền cho người Miên cư ngụ trong những tỉnh Châu-Đốc, Sóc-Trăng, Trà Vinh v.v… là những nơi có nhiều dân Miên cư ngụ, bắt buộc họ phải theo Phật Giáo Tiểu Thừa, ngấm ngầm là không cho họ Nhập Môn theo CAO ĐÀI GIÁO.

Tờ báo còn nhấn mạnh rằng Phật Giáo Tiểu Thừa thành lập là một thủ đoạn đê hèn để đầu độc dân bị trị, cố tình thống nhứt Phật Giáo. Trong báo số 25 xuất bản Ngày 16-6-1932 Toàn-Quyền (PIERRE PASQUIER) Bị Tố cáo ngay là hám vọng làm Giáo Chủ Phật Giáo Thống Nhất, để đối lập hẳn Đạo Cao Đài, định dùng quyền lực của mình mà áp đảo Đức Quyền Giáo Tông LÊ VĂN TRUNG, tức là áp đảo toàn cả ĐẠO CAO ĐÀI vậy.

Tờ Báo “LE PROGRES CIVIQUE”, Số 614 đề ngày 16-12-1931, Xuất bản tại Pháp, đã kích và bêu xấu thái độ của Tổng Trưởng Bộ Thuộc Địa “PAUL REYNAVU” trong dịp nầy đi thị sát tại Đông Dương, Ông cố ý thân hành đến viếng Trung Tâm “PHẬT GIÁO NGHIÊN CỨU VIỆN” tại NAM VANG, Ông tiếp xúc từng vị Sư Sãi đến chào ông.

Ý chỉ bất chánh của Toàn Quyền (PIERRE PASQUIER), Thống Nhứt Phật Giáo lập thành “NGHIÊN CỨU VIỆN” theo sự nhận xét của Ký Giả Trung Tá “ALEXIS METOIS” Tác giả bài báo đã lật tẩy cả hai tà thuyết:

-TÀ THUYẾT THỨ NHỨT: Sự kiện Thống Nhứt, tự nó đã trái hẳn với các qui điều của nhà Phật.

-TÀ THUYẾT THỨ NHÌ: Kế hoạch để thuyết phục các Sư Sãi hiện đang bị lệ thuộc dưới quyền là nghịch hẳn triết lý hư không vô ngã của Phật Đạo.

Bởi vậy Ông Tổng Trưởng Thuộc địa,”PAUL ROYNAUD” tiếp xúc với các Sư Sãi là tự nhận “Mình là tội nhơn tòng phạm với những kẻ đi ngược giáo điều nhà Phật”.

Với việc trường hợp ngẫu nhiên như trên, nên lúc ấy là lúc Ông Khâm Sứ Cao Miên “LAVIT” đang nghỉ phép bên Pháp, tự nhiên có luồng du luận đồn đãi rằng: Ông sẻ bị thay thế tại Cao-Miên bằng một Ông Khâm Sứ khác, Đó là Ông: “SYLVESTRE”. Đây là một bằng chứng bất hòa giữa quan lại Pháp, họ mới tạo ra tin đồn ấy, mà rồi tin đồn thành ra tin thật, Ông “SYLVESTRE”Thế cho Ông “LAVIT”.

Giao tiếp với Thánh Đường của một Đạo Giáo bên Đức Quốc gọi là : “EGLISC CNOSTIQUE D’11CMAGNE” và còn chẳng bao lâu nữa Tôn Giáo Cao Đài sẽ có mặt tại Hội Nghị Tôn Giáo Quốc Tế (Chicago) Mỹ Quốc.

Trong quan trường, sự hành động của các quan chức lúc nầy cũng được thận trọng, họ cũng nên tránh va chạm tới Đạo Giáo Cao Đài, vì mỗi khi chư tín hữu bị va chạm, là sẽ có cơ hội cho Hội Thánh kêu ca tranh tụng cho rằng: Chánh Quyền Áp -Đảo Tôn Giáo.

Về phía Tôn Giáo thì Chư Tín Đồ vẫn dùng phương diện ôn hòa để tránh sự khiêu khích, tuy nhiên họ vẫn xem thường những quyết định của Nhà Cầm Quyền Hành Chánh, cũng như Tư Pháp. Họ lo xây dựng Uy Tín trong khắp Quần Chúng, để cho Thế Giới thấy rằng Uy Quyền của Chánh Quyền Pháp áp dụng khắt khe đối với Đạo Cao Đài không hiệu quả nữa, vì không có duyên cớ nào để họ đưa ra Tòa Án được, Theo đức tin của họ có là nhờ huyền diệu Thiêng Liêng ban bố cho Hội Thánh có đủ khả năng bảo vệ toàn Đạo.

Tại Cao-Miên, đa số Dân Miên còn trong vòng cương tỏa của bao nhiêu Sắc Luật khắc khe, nên tránh liên hệ với Đạo CAO ĐÀI, chỉ còn có Việt-Kiều Hoa-Kiều tiếp tục Nhập Môn Cầu Đạo, cũng không kém phần quan trọng.

LOAN ĐẾN HỘI THÁNH NGOẠI GIÁO

Đ ẠO SỬ CAO ĐÀI, đi đến một giai đoạn biến chuyển: do sự tranh chấp quyền hành giữa Chức Sắc Đại Thiên Phong, làm Tại TÒA-THÁNH TÂY-NINH, cho giảm tinh thần hăng say Truyền Giáo, có ảnh hưởng đến Hội-Thánh Ngoại-Giáo ở Miên-Quốc, một giai đoạn trong những cuộc tranh chấp nầy có liên hệ đến Nền Đạo tại Nam-Vang.

Ông Lê Bá Trang lại nhơn danh chức vụ NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ, ra Châu Tri hiệu triệu trong việc thành lập “BAN CHỈNH ĐẠO” để đối phó với ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG.

Để làm sáng tỏ lập trường, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT, liền Bổ Nhiệm Chức Sắc Trung Thành đi Châu Lưu khắp các tỉnh trong Nam Kỳ để tuyển chọn số Đạo Tâm Trung Thành với Chánh Giáo của ĐỨC CHÍ TÔN, và giải thích cho toàn đạo rõ chi tiết về vụ đồ mưu giục loạn của ông (Lê Bá Trang).

Nhờ biện pháp nầy mà trong bổn Đạo ai ai cũng rõ thấu mưu đồ của “Ông Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh” muốn lật đổ Đức Quyền Giáo Tông là bất chánh, nên toàn thể Tín đồ đều hưởng ứng uy tín về Đức Quyền Giáo Tông THƯỢNG TRUNG NHỰT. Sự thành công vẻ vang nầy có tiếng dội ra ngoài cõi Đông Dương, nhứt là Pháp Quốc.

Còn về vụ “VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT GIÁO” Của Toàn quyền Pier PASQUICR tại Kim Biên, thì Ban Trị Sự của Viện có phái những vị truyền giáo đi khắp nước Miên và trong các tỉnh Nam Kỳ mà có nhiều Dân Miên cư ngụ, hô hào giảng giải về Phật Giáo Tiểu Thừa của “Nghiên Cứu Viện”.

Lại không quên khuyên nhủ đồng bào của họ đừng theo Tôn Giáo nào khác, Nhất là Tôn Giáo Cao Đài là một Đạo Giáo không phù hợp với Giáo Điều của Nhà Phật.

S ự tích Thánh-Thất Kim-Biên (Như đã tường thuật trong trang 24 tới tràng 27) đã trải qua biết bao trở ngại thăng trầm, biến thiên kể từ năm 1930 trở đi nhưng kết cuộc cũng hình thành tốt đẹp (Ảnh Thánh-Thất Kim-Biên được đăng trong Quyển LỊCH-SỬ CAO-ĐÀI. Bằng Pháp Văn tựa đề “HISTOIRE PHILOSOPHIE du CAODAI ISIE” (Trang 176).

Mãi đến Năm 1937 mới làm lễ Khánh Thành liên tiếp trong ba ngày 21-22-23- tháng 5.

Lúc Ấy Ông THƯỢNG VINH THANH (Đã Vinh Thăng Giáo Sư) đương quyền là Phó Chủ Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo, thay mặt Hội-Thánh, Đăng đàn đọc một bài diễn văn vang dội toàn cõi Đông-Dương lan đến Pháp Quốc mà có nhiều báo chí đăng tải. Những giai đoạn rất tế nhị của bài Diễn Văn có ghi rõ trong Quyển Lịch Sử và Triết Lý Đạo Cao -Đài mà Tác-Giả là một Người Pháp, Ông “GABRIE1 GOBRON, Đắc Phong ” TIẾP DẨN ĐẠO NHƠN” ngày 23-3-1932, nơi Trang 87 tới trang 109, có nhiều đoạn Văn đáng lưu ý bởi có tác dụng làm sáng tỏ tương lai của Đạo CAO ĐÀI, Như đoạn văn trích lục sau đây :

“Ngày Hôm nay Hội-Thánh Ngoại-Giáo CAO ĐÀI ăn Lễ Khánh Thành Thánh-Thất đầu tiên tại Thủ Đô Miên-Quốc, chúng tôi đã chọn ngày 22 Tháng 5 Dương Lịnh (22 Mai) là ngày kỷ niệm Đăng Tiên của Vị văn hào nước Pháp, một Đại Ân Nhân của Nhân Loại tức là Ông V I C T O R H U G O mà từ năm 1927 tới nay Ngài là Đấng CHƯỞNG-GIÁO Thiêng-Liêng của chúng tôi hằng cảm mến để ghi dấu tất lòng thành của chúng tôi đối với nước Pháp là nơi xuất thế của một bậc Vĩ Nhân mà chúng tôi đả thọ giáo triết lý cao siêu của Ngài, trong tình thương nhân loại. Chẳng những trong ngày giờ nầy, mà ngay từ khi chúng tôi còn là một sinh viên trong các trường của Pháp Quốc là một nước đầy tinh thần hào hiệp khoan dung và Nhân Đạo”.

Vào Năm 1937 Nước Pháp thay đổi đường lối Chánh Trị có ý thức áp dụng một thể chế khoan dung đối với các thuộc địa, Sang bằng những nổi bất công đã áp dụng từ trước, nên trong bài Diễn-Văn có lời chứng minh tỏ sự biết ơn như sau :

“Công Việc Phổ Thông ĐẠO CAO ĐÀI, từ đây được thung dung tự toại, sự tự do tín ngưỡng đã được ban bố, chúng tôi tỏ long biết ơn Nước Pháp, một Nước Pháp có ĐẠO CAO ĐÀI, một nước đàn anh có đức độ, có đầy đủ thiện chí dung hòa trong tình thương Huynh Đệ với một tâm lý cao thượng, sẵn sàng dìu đường dẫn lối cho đàn em thiếu phương tiện nhưng đầy đủ phẩm hạnh hiện nay.

“Đối Với Nước Pháp nầy là một Quốc Gia Văn Minh tiến bộ, một nước đầy khích lệ tuyên dương giá trị tinh thần cao cả cho đại đồng, tin thần xây dựng, niềm hòa ái cho toàn thế giới.

“Nên Chúng Tôi toàn thể Tín Hữu Cao Đài lấy lòng cảm mến, trân trọng tỏ bày nơi đây sự tri ân nồng hậu của chúng tôi.

Như thế là không ai có thể phủ-nhận được cái kết quả của một công cuộc đàn áp Đạo Cao Đài do quyền lực Bảo Hộ của Nước Pháp cũng như quyền lực của Chánh Phủ Hoàng Gia Miên. Hiện khi mục kiến tổng số Tín Đồ Nhập Môn càng ngày càng tăng, so với tỷ lệ của con số tín đồ đã thâu hoạch tại Nam Kỳ đó vậy.

Sự thành lập Hội-Thánh Ngoại-Giáo của ĐẠO CAO ĐÀI, (Mission Etrangere du Caodaism) Là do quyền năng Thiêng Liêng của Đức CHƯỞNG ĐẠO NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN hay là VICTOHUGO, và đặt dưới quyền Bảo hộ Hữu Hình của ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, vào Trung tuần Năm Đinh-Mão (1927).

Trung Tâm Lâm Thời cũng là Thánh-Thất tạm đặt tại đường ( Lalande Callan), Nam Vang.

Những Chức Sắc Thiên Phong ban sơ được thọ phong trong một đàn cơ thiết lập tại Thánh-Thất tạm ở Nam-Vang vào đêm 29 tháng 6 Năm Đinh Mão (dl: 27-7-1927) do ĐỨC HỘ PHÁP và Ông CAO ĐỨC TRỌNG Phò Loan (Ông Cao-Đức-Trọng lúc nấy chưa thọ Chức) ĐỨC CHÍ TÔN giáng xưng danh:

NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ VIẾT CAO-ĐÀI

TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA-HA TÁT

Giáo-Đạo Nam-Phương

THẦY MỪNG CÁC CON

BẢY, LẮM, SỰ – Thầy phong cho ba con Chức Giáo-Hữu.

CHỮ, VINH, CỦA – Thầy Phong cho con chức Lễ-Sanh.

(Và tiếp theo một đoạn văn xuôi Thầy dạy Đạo… Đoạn văn nầy Tác Giả không nhớ).

Trong bài Thánh Giáo, không thấy Đức Chí Tôn Phong Chức cho Ông CAO ĐỨC TRỌNG, Đức HỘ PHÁP bèn hỏi ? Bạch Thầy còn Em con, (TRỌNG) Sao Thầy không phong chức.

Thấy đáp : “TẮC sao con dại quá vậy, TRỌNG thuộc về Chi Đạo bên HIỆP THIÊN ĐÀI”.

Tác Giả có mặt Hầu Đàn, còn nhớ rõ sự diễn tiến của đàn cơn như vậy, nhưng quên hẳn đoạn văn xuôi của CHÍ TÔN dạy. Với thời gian bài Thánh Giáo nầy không còn là bởi lúc tác giả Vân lịnh ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG và ĐỨC LÝ ĐẠI TIÊN, ra hiệp tác với Nhựt Bổn để Cứu Nước, Cứu Đạo, rồi kế bị Pháp Bắt nên Tập Thánh Giáo rơi vào tay Công An Pháp và thất lạc luôn.

Sau đổi qua làm việc hảng “DENIS FRERES”.

2/- Ông NGUYỄN VĂN LẮM, Làm việc tại Đông Dương Ngân Hàng Chi Nhánh Nam Vang.

3/- Ông VÕ VĂN SỰ, Có tiệm Thuốc Bắc và phòng Mạch tại đường Gallieni, Nam-Vang.

Ba Vị Thầy Phong Chức LỄ SANH:

1/- Ông ĐẶNG TRUNG CHỮ, Kế Toán Viên hãng (ALLATINI)

2/- Ông TRẦN QUANG VINH, Thư Ký Ngạch Bảo Hộ.

3/- Ông PHAN KIM CỦA, Thầu Khoán Biển Hồ và Chủ xe đò.

Ông CAO ĐỨC TRỌNG, Làm việc tại Văn Phòng Chưởng Khế Nam Vang, Tác Giả cần giải thích về trường hợp của Ông CAO ĐỨC TRỌNG.

Lúc Phong Chức cho mọi người, CHÍ TÔN không nhắc đến Ông CAO ĐỨC TRỌNG là vì Ông nầy đã có Thiên Phẩm trong Hàng Thập Nhị Thời Quân, Đức HỘ PHÁP không hiểu thấu nên mới hỏi ĐỨC CHÍ TÔN, nhờ vậy mới biết Ông là “TIẾP ĐẠO”.

Buổi ban sơ ở Nam Kỳ, Thầy Phong Chức cho Thập Nhị Thời Quân là 12 Phẩm lớn bên Hiệp Thiên Đài, chỉ có 11 vị được chọn trong ba Chi PHÁP, ĐẠO, THẾ mà trong Chi Đạo còn khuyết một vị trong Phẩm: TIẾP ĐẠO, đó là quyền năng Thiêng Liêng dành sẵn cho Ông CAO ĐỨC TRỌNG ở MIÊN QUỐC, một bí quyết mà người phàm ở thế gian nầy làm sau thấu rõ. Hơn nữa còn một bí quyết khác mà ít người để ý, nhờ ĐỨC HỘ PHÁP chỉ truyền.

Tác Giả mới hiểu quyền năng Thiêng Liêng là vô đối, trong hàng Thập Nhị Thời Quân tức là có 12 Vị (12 Phẩm) nhưng lạ một điều là quyền năng Thiêng Liêng xây chuyển thế nào mà tuổi không trùng nhau nghĩa là 12 vị là 12 con giáp khác nhau:

TÝ, SỬU, DẦN, MẸO, THÌN, TỴ, NGỌ, MÙI, THÂN, DẬU, TUẤT, HỢI.

Sau khi ĐỨC CHÍ TÔN phong, Tái Cầu, Đức Chưởng Đạo NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN, giáng đàn chấm phái :

-Ông LÊ VĂN BẢY: Phái Thượng, Thánh Danh Thượng Bảy Thanh.

-Ông NGUYỄN VĂN LẮM: Phái Thượng, Thánh Danh Thượng Lắm Thanh.

-Ông VÕ VĂN SỰ: Phái Ngọc, Thánh Danh Ngọc Sự Thanh.

-Ông ĐẶNG TRUNG CHỮ: Phái Thượng, Thánh Danh Thượng Chữ Thanh.

-Ông TRẦN QUANG VINH: Phái Thượng, Thánh Danh Thượng Vinh Thanh.

-Ông PHAN KIM CỦA: Phái Thái, Thánh Danh Thái Của Thanh.

Trong lúc Tác Giả viết đến đoạn nầy (Năm 1973) thì trong sáu vị Chức Sắc đầu tiên, bốn Ông đã qui vị:

-Ông LÊ VĂN BẢY: qui vị tại Kim Biên ngày 10-1-năm Mậu-Tý (dl: 19-2-1948).

-Ông NGUYỄN VĂN LẮM: qui vị tại Châu Đốc (Không biết Ngày).

-Ông VÕ VĂN- SỰ: qui vị tại Tòa Thánh năm 1969.

-Ông ĐẶNG-TRUNG-CHỮ, Qui-Vị tại Chợ-Lớn Năm 1947.

-Hiện tại còn Ông TRẦN QUANG VINH, bị ngưng quyền chức, Tác Giả quyển lịch sử nầy.

-Ông NGUYỄN KIM CỦA: hiện là Giáo Sư. Khâm Trấn Kim Biên Tông Đạo.

Về Phái Nữ, sau lại lần lượt Đức Chưởng Đạo Giáng Phong:

-Bà Góa Phụ (BATRYA): Nhũ Danh TRẦN KIM PHỤNG, đắc phong Giáo Hữu, sau thăng Giáo Sư.

-Bà LÊ VĂN BẢY: Nhũ Danh ĐẶNG THỊ HUÊ, đắc phong Giáo Hữu.

-Bà NGUYỄN THỊ HẠT: (Thân Mẫu Ông ĐẶNG TRUNG CHỮ) đắc phong Giáo Hữu.

-Bà HUỲNH THỊ TRỌNG: (Bạn của Ông Chữ) đắc phong Lễ Sanh sau thăng Giáo Hữu.

Tuy nhiên liên tục trong bao nhiêu năm, có nhiều nguyên nhân Nam, Nữ Đắc Phong Chức Sắc thọ đến ngày nay, kẻ mất người còn, nhớ không thể xiết kể, trong số đó, Bà Đạo Nhơn VÕ HƯƠNG NHÂM là bạn của Ông Sĩ Tải HUỲNH HỮU LỢI, Bà Qui Vị Tại Tòa-Thánh, còn Ông HUỲNH HỮU LỢI hiện nay (Năm 1973) Thăng chức Cải Trạng.

-Ông LÂM TÀI KHÍ, được thăng phẩm Phối Sư qui vị tại Cao Miên.

-Ông NGUYỄN HƯỢT HẢI, Sĩ Tải, qui vị tại (KOMPONG-TRABEK) và còn nhiều nữa không thể nhớ hết, xin kiếu lổi cùng chư vị thân nhân của những vị Chức Sắc quá cố đã dày công xây đắp nền Đại Đạo.

Trung Tâm Bộ của Hội-Thánh Ngoại-Giáo đặt giữa Thủ Đô Miên Quốc gồm đầy đủ Chức Sắc có thiện chí hoạt động rất đắc lực, trong thời gian kỷ lục. Đạo mới phôi thai vừa được một năm (1927-1928), mà số Tín Đồ Nam Nữ Nhập Môn lên tới 10.000 Người.

Nhờ sự sáng suốt trong lề lối kỹ thuật và sanh hoạt hữu hiệu, Chư Chức Sắc Thiên Phong lẫn Chức Việc trong toàn quốc đều được thăng cấp, đặc biệt trong ba năm sau.

-Ông LÊ VĂN BẢY: vinh thăng Giáo Sư (1933), đến năm (1938), mới chuyển về Tòa-Thánh.

-Ông ĐẶNG TRUNG CHỮ: được thăng phẩm Phối Sư (1939).

-Ông TRẦN QUANG VINH: được thăng phẩm Phối Sư Năm (1948).

-Ông Giáo Sư LÊ VĂN BẢY, được Tòa-Thánh Bổ Nhiệm làm Chủ-Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo từ năm 1927 tới Năm 1937 thì Hội-Thánh phái đi truyền giáo bên Trung Hoa, Ông đến Vân Nam (YUNNAM) tạm lập một Văn Phòng Truyền Giáo tại Vân Nam Phủ (YUNNAM FOU). Vì Ông không biết tiếng Trung-Hoa nên phải cần một Thông-Dịch-Viên, Ông hành sự nơi đây được một năm, nên chỉ có kết quà xoàng thôi, qua năm sau (1938) Ông được lịnh hồi hương và được Bổ Nhiệm luôn về Tòa-Thánh.

-Ông CAO ĐỨC TRỌNG, được ĐỨC CHƯỞNG ĐẠO chỉ định thay thế địa vị Chủ-Trưởng Ngoại-Giáo.

-Bà Giáo Sư TRẦN THỊ KIM PHỤNG

-Ông Giáo Sư ĐẶNG TRUNG CHỮ

-Ông Giáo Sư TRẦN QUANG VINH

-Ông Giáo Sư THÁI VĂN GẤM (Tòa Thánh Bổ Nhiệm)

-Ông Giáo-Sư TRẦN VĂN PHẤN (Tòa Thánh Bổ Nhiệm).

Hạ Tuần tháng 7 Nam Tân Tỵ (1941) tình thế Đạo biến thiên, Ông Giáo Sư THƯỢNG BẢY THANH, tự trở về Kim-Biên tiếp tục cầm quyền Đạo, cho đến ngày Thánh-Thất bị Chánh-Phủ Bảo-Hộ xung công và phá dở (1943).

Ông Giáo Sư THÁI GẤM THANH: là một trong số 6 vị Đại Thiên Phong bị Chánh Quyền Pháp bắt lưu đày tại đảo (MADAGASCAR) và Qui Liễu nơi đó vào ngày 20 Tháng 8 Năm Nhâm Ngọ (Dl: 29-9-1942).

Ông Giáo Sư THÁI PHẤN THANH: cũng bị lưu đày sang (MADAGASCAR) được trả tự do, hồi hương năm (1946), về Quê nhà tại Vũng Tàu, rồi đến ngụ tại Gò Vấp và Qui-Vị Vào Năm (1965).

HOẠT-ĐỘNG TẠI PHÁP QUỐC

Đầu mùa Xuân Năm Tân Mùi (1931) Chánh Phủ Bảo Hộ Pháp tại Cao Miên phái Ông TRẦN QUANG VINH (lúc bấy giờ Ông Thọ Phong Giáo Hữu) Sang Pháp Công Cán trong dịp đấu xảo Quốc Tế Thuộc Địa ở (VINCENNES-PARIS).

Thừa Cơ Hội Ông Truyền Giáo và Vận Động cho Đạo Cao Đài, được tự do Tín Ngưỡng ở Đông-Dương. Ông thuyết phục và gầy dựng được một số nhân vật tín ngưỡng ở Đông-Dương, Chánh khách Pháp có thiện chí với Đạo Cao Đài. Trong số ấy với 5 vị kể tên sau đây được thọ phong Chức Sắc vào năm (1832):

1/-TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN: Ông Gaoriel Gobron, Giáo Sư Trung Học.

2/- Nữ Giáo Sư: FELICIEN CHALLAYE Bạn của Ông Giáo Sư Đại Học (SORBONNE).

3/- Giáo Hữu: Ông Charles BELLAN, Cựu Tham Biện ở Đông Dương.

4/- Giáo Hữu: Ông Gabriel, ABADIE de LESTRAC, Luật Sự Tòa-Án PARIS.

5/- Nữ Lễ Sanh: Bà Marguerite GOBRON, Sau thăng Giáo Hữu. (Bạn của Tiếp Dẫn Đạo Nhơn GABRIEL GOBRON).

Ngoài ra, còn các vị ân nhân can thiệp cho sự tự do tín ngưỡng tại Đông Dương đáng kể nhất là:

1/- Ông A1bert SARRAUT: Tổng Trưởng.

2/- Ông Alcxis METOIS: Trung Tá Quân Đội Pháp.

3/- Ông Edouard DAIADIER: Tổng Trưởng và Cựu Thủ Tướng.

4/- Ông, Henri GUERNUP: Nghị sĩ Quốc hội, Cựu Tổng Trưởng. Tổng thư Ký Hội Nhân Quyền.

5/- Ông Emile XAHN: Tổng Thư Ký Hội Nhân Quyền.

6/- Ông Ernest, OUEREY: Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp Tại Nam Kỳ.

7/- Ông Eugene TOZZA: Luật Sư Tòa Thượng Thẩm PaRis.

8/- Ông Fe licien CHALIKTE: Giáo Sư Đại Học (Sorbonne).

9/- Ông Marius NOUTET: Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp, Bà Tổng Trưởng.

10/- Cô Marthe WILLIAMS: Nghị Viện Hội Nhân Quyền.

11/- Ông Paul RANADIER: Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp.

12/- Ông Marc RUCART: Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp.

13/- Ông Jean PIOT: Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp.

14/- Ông Jean Miche1 RENAITOUR: Nghị Sĩ Quốc Hội pháp.

15/- Ông VOIRIN: Nhân Sĩ.

16/- Ông Andre PNILIP: Nhân Sĩ.

17/-Ông Jean IAFFRAI: Chủ Nhiệm Kiêm Chủ Bút Báo LA GRIFFE.

Ngoài ra tại Đông Dương còn bao nhiên nhân vật binh vực Cao Đài như Nhị Vị Trạng Sư:

-LORTA-JACOB: Trạng Sư Tòa Thượng Thẩm Saigon đặt Văn Phòng tại Nam Vang.

-Rogor LASGAUX: Trạng Sư -id-

Và ba quan Khâm Sứ tại Miên Quốc là Ông RICHOMNE, Ông SYLVES TRE Và Ông THIBAUDEAU, mặc dầu là Quan Bảo Hộ của Pháp Triều, nhưng ba Ông nầy để yên cho Đạo Cao Đài mà lắm lúc còn bênh vực là khác.

Tác Giả là người trong cuộc, xin nhấn mạnh rằng hai Ông, LASCAUX và LORTAT-JACOB, mặc dù là nghề nghiệp Trạng Sư, nhưng với một tâm hồn Cao Thượng, Hai Ông thường nói rằng lấy Lương Tâm và Tình Thương Nhơn Loại mà bào chữa cho sự Bất Công, nên không bao giờ thọ một thù lao nào của Đạo. Tác Giả xin lấy hết Danh Dự và Lương Tâm mà chứng nhận sự nầy.

Còn về phần Báo Chí, thì có các báo sau đây liên tiếp bào chữa và tường thuật tất cả mọi sự áp chế Đạo Cao Đài:

1)- LA LIBRE OPINION-PARIS.

2)- CAHIER de le LICGUE, des DROITS de L’HOME-FARIS.

3)- La GRIFFE-PARIS.

4)- Le BRCGRES CIVIQEE-PARIS.

5)- Le FR.TERNISTE-LILLE (Nord).

6)- Le re1veil, OUVRIER – NANCY.

7)- Le SEMEUR-FAIAISE (Ca1Vados).

8)- L’AURORE MALGACHE-TAMANARIVE.

9)- GERMINAL-CROIX (Nord).

10)- La TRIPUNE INDOCHINOISE-SAIGON.

Cuối Mùa Đông Năm Tân -Mùi (1931) Ông TRẦN QUANG VINH tức HIỂN TRUNG, đã mãn hạn công cán tại Pháp Quốc trở về tới Saigon vào ngày 30 tháng 12 Năm 1931.

Lúc Tàu cặp bến Nhà Rồng thì có: ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG-TRUNG-NHỰT, ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, Ông Chánh Phối Sư THÁI THƠ THANH, Ông Bảo Văn- Pháp Quân CAO QUỲNH DIÊU, Ông Giáo Hữu THƯỢNG TUY THANH (Tức là ông Từ Huệ), Ông Giáo Hữu THÁI GẤM THANH, đón tiếp mừng rỡ.

Chiều lại sau bữa tiệc do Ông THÁI THƠ THANH khoản đãi tại Tư Gia của ông ở Tân Định, ĐỨC HỘ PHÁP có nhã ý thiết lập một đàn cơ trên lầu ba, trước Thiên Bàn có đủ mặt các vị kể trên.

ĐỨC HỘ PHÁP và Ông BẢO VĂN PHÁP QUÂN Phò Loan, Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn Giáng Cơ tỏ vẻ vui mừng và bảo HIỂN TRUNG, đưa đầu vào bàn cơ, Ngọc Cơ úp trên đầu Hiển Trung tỏ vẻ ban ơn. Bài Cơ bằng Pháp Văn có đăng tải trong quyển sách “LESMESSAGES SFIRITES” Trang 63, và trong Quyển “BỔ TÚC HỒI KÝ” của PHỐI SƯ THƯỢNG VINH THANH, có phiên dịch ra Việt Văn.

Đêm mùng chín tháng giêng Năm Nhâm Thân (Dl: 14-2-1932) Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH, Về Tòa-Thánh hầu lễ Vía ĐỨC CHÍ TÔN, mãn đàn là 4 giờ sáng. Chư Chức Sắc và Chư Đạo Hữu, đứng bài bản, Nam Tả, Nữ Hữu. ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG bèn dạy: Giáo-Hữu THƯỢNG VINH THANH, Đãnh Lễ Thầy rồi giới thiệu Công Tác của Đạo ở Pháp Quốc, trên tay Anh Cả thì cầm một tập hồ sơ đưa lên cao và tuyên bố rằng: Đây là tất cả công việc của Em “THƯỢNG VINH THANH”, lo cho Đạo tại Pháp, nhờ đó mà ngày nay nền Đạo mới được Chánh Phủ Pháp ban bố sự tự do tín ngưỡng trên toàn cõi Đông Dương và ân xá tất cả tù tội và phạt vạ.

ĐỨC QUYỂN GIÁO TÔNG tuyên dương công trạng của Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH tại giữa Đền-Thánh, không tiếc lời khen ngợi. Trong lúc ấy Anh Cả đọc lớn bốn câu văn dạy Đạo của Bát Nương Giáng tại Tòa-Thánh rút trong một bài “Trường-Thiên” Ngày 18 Tháng 9 Năm Canh-Ngọ (dl: 8-11-1930), Do ĐỨC HỘ PHÁP và Ngài BẢO VĂN PHÁP QUÂN Phò Loan, Sĩ Tải Phạm Văn Ngọ Hầu bút như sau :

Nếu có kẻ an bang tái thế.

“Quì mà nghinh lấy lễ trọng người.

“Cỗi thân ra mãnh áo tơi,

“Che mưa đỡ nắng cho đời nguy nan.

Đọc xong bốn câu văn, Anh Cả liền quì xuống, Đức Hộ Pháp cũng quì luôn và toàn cà Đàn noi gương hai Anh lớn đều quì tất cả.

Giáo Hữu THƯỢNG VINH THANH, đứng trước một hoàn cảnh bất ngờ lấy làm bối rối, không biết làm thế nào hơn là quì mọp xuống trước mặt Anh Cả lạy hai lạy rồi đứng dậy kính cẩn đa tạ Anh Cả, ĐỨC HỘ PHÁP và toàn cả Đàn Tiền, luôn tiện lượt thuật sơ qua công tác đã làm tại Pháp Quốc.

Sự tranh đấu sống còn của ĐẠO CAO ĐÀI, đặng kết quả mỹ mãn và đã thành công là nhờ tài Lãnh Đạo của ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG và ĐỨC HỘ PHÁP nên HỘI-THÁNH NGOẠI-GIÁO mới tồn tại đến ngày hôm nay.

Tác-Giả chỉ ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe với tất cả sự trung thực và cũng căn cứ vào những tài liệu lưu trữ tại Văn Khố của Miên Triều và Văn Khố của Chánh Phủ Bảo Hộ Pháp Quốc tại Kim Biên.

TÒA-THÁNH TÂY-NINH, Mùa Thu Năm Kỷ Dậu (1969),

Tác Giả Chỉnh Lại, Cũng vào mùa Thu, Năm Quí Sửu (1973).

TRẦN-QUANG-VINH

và NGỌC TRANG THANH (Lê Bá Trang)

Để Thống Nhứt nền Hành Chánh Đạo, Ông Nguyễn Ngọc Tương, đương quyển Thượng Chánh Phối Sư tại Tòa Thánh Tây Ninh (Năm 1932) cố gắng bài trừ nạn chia phe phân phái xem có mòi nguy hiểm do Ông Phối Sư THÁI CA THANH (Nguyễn Văn Ca) Cựu Đốc Phủ Sứ về hưu) đả tách rời Tòa Thánh về lập một Chi Phái ở Mỹ Tho, Ông Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh triệu tập một phiên tòa đặng xử ông THÁI CA THANH, có hành vi Nghịch Đạo Pháp.

Thế rồi một nghị định đề ngày 25 tháng 6 Năm 1932, Chiếu theo bản án của phiên tòa nói trên, Ngưng Quyền Chức ông THÁI CA THANH, trong một thời hạn là 3 Năm và khai trừ khỏi Hội Thánh, hình phạt nầy được thông báo cho toàn Đạo.

Tiếp theo Hội Thánh phái nhiều Chức Sắc lãnh trách vụ, đi viếng các Thánh Thất để nung đúc tinh thần của toàn Đạo, chư Đạo Hữu đồng thời giải thích cho họ hiểu rằng: Triết lý và chơn tướng của ĐẠO CAO ĐÀI chỉ do nơi nguồn cội tại Tòa Thánh Tây Ninh mà thôi. Song song với vụ trên, Chư Vị Giáo Hữu đương cầm quyền Hành Chánh tại các Tỉnh đều được lịnh mời về Tòa Thánh để dự khóa Tu Nghiệp.

Một phái đoàn Chức Sắc Hội Thánh đến yết kiến Ông Ernest, (OUTREY), Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp nhờ Ông nầy can thiệp với Chánh Phủ Pháp cho Đạo Cao Đài được tự do tín ngưỡng. Phái Đoàn Hội Thánh không quên nhấn mạnh lưu ý Ông Nghị Sĩ, Đại Diện một Thuộc Quốc tạ Hạ Nghị Viện Pháp, rõ thấu Tôn Chỉ của Đạo Cao Đài khác hẳn với hành tàng của Cộng Sản đã từng gây tang tóc, máu đổ xương rơi tại mấy vùng ở Đông Dương trong khoản năm (1930-1931).

Ông Nghị Sĩ hứa sẽ thỏa mãn yêu sách của phái đoàn bằng cách vận động cho tất cả Dân Việt Nam có Đạo Cao Đài được sự ân hưởng tự do tín ngưỡng trong khuôn khổ hợp hiến.

Qua ngày hôm sau Báo “La Tribune Indcchinoisc” Tại Saigon có tường thuật lại một cách trung thực cuộc tiếp xúc nầy, Đồng-thời Tờ Cao Đài Tạp Chí (Larevue Cacdafste) kỳ tháng 6 Năm 1952 củng đã ca ngợi cử chỉ đoan chánh của Nghị Sĩ Outrey. Thái độ khoan hồng nầy được Hạ Nghị Viện Pháp xác nhận trong văn thơ đề ngày 18-7-1932, gởi Ông Gabriel Gobron, là một trong các vị ân nhân nhiệt tình bênh vực cho Đạo Cao Đài.

Trong Văn-Thơ có đoạn viết :

“Hiển nhiên tôi có đòi hỏi cho những Tín Đồ Cao Đài ở Nam Kỳ một chế độ Tự Do hơn trước.

“Sự thật, từ lâu tôi có ác cảm đối với họ, tôi cũng từng yêu cầu chánh quyền theo dõi họ một cách nghiêm khắc, nhưng đến ngày nay, tôi có đủ lý lẻ để nhìn nhận rằng: những Phúc-Trình gởi đến tôi báo cáo về Đạo Cao Đài, nếu không hoàn toàn là gian dối thì ít ra củng có thêu dệt một cách quá đáng. Giờ đây tôi được biết rõ nhiều người Việt Nam có Đạo Cao Đài, đứng vào bậc thượng lưu trí thức ở trong xứ đã từng chứng tỏ lòng trung thành đối với nước Pháp đó là động lực thúc đẩy tôi tuyên bố trước mặt họ là tôi quyết tâm đòi hỏi một thể chế Tự Do Tín Ngưỡng cho Tôn Giáo Của Họ”.

Đồng thời có nhiều thành tích từ hải ngoại bênh vực giới Chức Sắc cao cấp lãnh đạo tại Tòa-Thánh Tây-Ninh về công cuộc phổ thông Giáo Lý.

La Libre Opinion (Tự Do Ngôn Luận).

Le Frogrès Civique (Dân Tiến).

Le Griffe (Móng Nhọn).

Vu (Thấy).

Le Fraterniste ( Huynh-Đệ, tại Lille).

Le Réveil Ouvrier (Tỉnh Giấc Lao Động, tại Nancy).

Le Semeur( Người Gieo Giống, tại Falaise).

Germinal ( Nẩy mầm của Nhà xuất bản Miền Bắc Nước Pháp).

Giáo Sư LÊ VĂN BẢY làm giấy ủy nhiệm cho người thay mặt Ông đi dự Hội Thần Linh Học Quốc Tế tạ Luân Đôn (Londres) và đây là lần đầu tiên tiếng nói của Đạo Cao Đài mới được nghe thấy trong một Hội Nghị Quốc Tế.

Một Cựu Tham Biện Chủ-Tỉnh tại Đông Dương, Ông Charles BELLAN, Tự Nguyện đứng ra bảo vệ nền Tôn-Giáo.

Năm (1933) Tòa Thánh Tây Ninh phái người đi dự Đại Hội Quốc Tế THẦN LINH HỌC tại CHICAGO” Mỹ Quốc.

Tuy nhiên hoàn cảnh Tòa Thánh Tây Ninh lại không mấy khả quan, chỉ hưởng được mấy năm thịnh vượng, rồi tiếp liền theo đó là giai đoạn kinh tế khủng hoảng trầm trọng toàn Đông Dương từ năm 1930, không khỏi ảnh hưởng tới Tòa Thánh Tây Ninh, mà số tài nguyên hiện có không đủ sức tiếp tục các công tác dự trù.

Diện Tích đất đai của Tòa Thánh lúc ban Sơ là 96 Mẫu Tây, trên thực tế đã được mở rộng gấp ba lần là nhờ công lao của Chư Tín Đồ khai khẩn những khu rừng hoang vu chung quanh vùng, hoặc đã mua lại đất Lâm Sản của những chủ khác.

Nền Kinh Tế kiệt quệ, mọi việc sinh hoạt đều ngưng trệ làm cho người ngoại quốc đến viếng Tòa Thánh có cảm tưởng đến một vùng xác sơ nghèo khổ và khốn đốn.

Tình trạng như thế nầy không thể thu hút được đông khách hành hương du ngoạn, con số đã sụt bớt lần, đồng thời số tiền hỉ cúng cũng giảm theo.

Thiên phóng sự của Ký Giả (Geoges PEYNOND ) Đăng trong tạp chí ILLUSTRATION Số: 4748 Ngày 3-3-1934 tả cảnh u buồn Của Tòa Thánh VaTiCan Việt Nam như Sau:

“Đây là một Địa Cảnh gồm nào là Chùa Chiền, Thư Viện, Cốt Tượng, Mồ Mả, Miếu Tháp, Văn Phòng Làm việc, nơi thông công cùng các Đấng Thiêng Liêng, các sở ruộng rẫy, các lối đi nhỏ hẹp làm cho khách in trí đó là một cảnh vật tiêu sơ khốn khổ hầu như hoang phế. Kinh tế dường như kiệt quệ. Nhà điện không chạy nữa, máy móc nằm yên trên một gộc đá. Các Cơ Sở ruộng rẩy, với những cuộc khai hoang, hình như ngưng hoạt động.

“Nơi Chánh Điện, Sự tiếp đón Khách Khứa vô cùng lễ độ. Vài gã Thanh Niên có vẻ mệt nhọc vì chay lạt hoặc vì thái quá trong trai giới, đang làm lụng vất vả uể oải, vào công việc nhẹ nhàng đứng dậy chào khách khi chúng tôi đi ngang qua đó.”

Những nổi khó khăn về vật chất chưa đủ giải thích cảnh thương tâm nầy, thêm vào đó là lột cuộc tranh chấp Quyền Hành Giữa Chức Sắc Cao Cấp. Việc tranh chấp quyết liệt đến mức độ xảy ra vào năm 1933.

Chúng ta thử phát họa ra đây nếp sanh hoạt của Tín Đồ Cao Đài:

Vào Năm 1931-1932 Chánh Quyền Pháp dùng thế lực ngăn chận Bổn Đạo không cho hội họp cúng kiến không quá 20 người, lại còn đưa ra lắm biện pháp cấm giảng Đạo vì cho đó là có tánh cách làm rối cuộc trị an công cộng. Hơn nữa là theo dõi hành vi xê dịch của Chức-Sắc, ngăn cản các cuộc di cư của Tín Đồ Trung Thành về cư trú vùng Tòa Thánh. Nếu cần thì nhà cầm quyền cho lính Cảnh Sát, đến giải tán, các cuộc hội họp cúng kiến không có xin phép, hoặc bắt bớ để truy tố ra Tòa Án, và cuối cùng là đưa ra ngục, đóng cửa những Thánh Thất không có giấy phép xin khai mở hợp lệ.

Năm 1932 Tòa-Thánh Tây Ninh kiểm soát trong khắp các Tỉnh Nam Kỳ 128 cái Thánh Thất, phần đông xây cất trong các Tỉnh: Mỹ Tho, Bến Tre, Chợ Lớn, Gia Định.

Thông thường biện pháp đóng cửa Thánh Thất không gây ra phần phản ứng rắc rối, Chánh-Quyền đem áp dụng tại các Tĩnh Miền Tây nhiều hơn các nơi khác.

Hồi Tháng 3 năm 1931 trong Quận Cà Mau có hai cuộc hội họp cùng kiến Qui Tụ, mỗi nơi trên 200 Đạo Hữu không xin phép. Cảnh Sát đến giải tán và bắt 81 người trong số đó có 48 vị tín đồ bị giam vào khám.

Tại Rạch Giá những cuộc hội họp cúng kiến như thế củng bị báo cáo lên Thượng Cấp.

Nhiều Phúc Trình Cơ Quan Hành Chánh trong mấy tháng tiếp theo đó cho biết sự bành trướng của Giáo Phái Cao Đài và việc tranh chấp quyền hành trong hàng Chức Sắc thuộc hệ thống Tòa Thánh Tây Ninh. Có phải chú trọng đến vấn đề Qui Nhứt, đồng thời bảo thủ số Đạo Hữu trung kiên hơn là thâu thập thêm người mới.

Trong vòng tháng 8, tháng 9 Quyền Hành Chánh Địa Phương Tỉnh Sa Đéc và Vĩnh Long, đóng cửa nhiều Thánh Thất là vì tại Vĩnh Long cũng như tại Rạch Giá và Thủ Dầu Một việc truyền bá Giáo Lý Cao Đài có vẻ hoạt động mạnh mẻ vào khoản cuối năm 1951.

Ông Chánh Phối Sư THƯỢNG TƯƠNG THANH, tận dụng mọi thủ đoạn vận động bên Chánh Quyền đặng tranh thủ ưu thế tự do hơn phái Tây Ninh, Ông lập những Tờ Thỉnh Nguyện của Tín Đồ tỏ dạ trung thành với Chánh Quyền Pháp. Cam kết rằng mọi hoạt động của Ông chỉ có mục đích duy nhứt trong phạm vi Tôn Giáo thuần túy.

Tháng 11 Năm 1951, Chánh Phối Sư THƯỢNG TƯƠNG THANH, để lên Quan Thống Đốc Nam Kỳ một tờ Cam Kết với (15,000 chữ ký) của Chức sắc và Tín Đồ về phái của Ông, cam đoan với Chánh-Phủ là không hề làm diều chi gây rối an ninh trật tự công cộng, để xin cho bổn đạo được tự do cúng kiến các kỳ lễ vía trong các Thánh Thất.

Sau cuộc hội nghị với quan Chủ Tỉnh và Quan Thống Đốc, Ông Chánh Phối Sư THƯỢNG TƯƠNG THANH, được hồi đáp như sau :

“Với sự chấp thuận của Phủ Toàn Quyền vì chứng tớ cam kết, Chánh Phủ không thể cho phép một cách tổng quát các cuộc nhóm họp rình rang, mặc dù với những Văn Kiện kêu ca về lượng khoan hồng, thảy đều có quan hệ trực tiếp đến nền an ninh trật tự của Nhà Nước.”

Tuy Nhiên Ông được phép cử Hành Lể Giáng Sinh (NOEL) tại Tòa Thánh Tây Ninh, Chư Tín-Đồ và Dân-Chúng đến dự đông đảo, trong số có một phái đoàn Cao Miên có vẻ sang trọng rất được chú ý.

***

Tình hình khẩn trương chỉ phát hiện từ năm 1932.

ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT, lần hồi ra mặt nhờ ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, để cũng cố được uy thế trong lúc Ông Chánh Phối Sư NGUYỄN NGỌC TƯƠNG, tìm cách nương tựa Chánh Quyền để đối phó với hành động chia phe phân phái của Ông Chánh Phối Sư THÁI CA THANH mà Tòa Đạo đã lên án, loại trừ, đồng thời nghiêm thái độ với các chi phái khác.

***

Thật vậy Ông Cựu Hội Đồng Quản Hạt VÕ VĂN THƠM, Tại Cần Thơ cố gắng qui tụ chung quanh ông một số tín đồ, không chịu tùng Tòa Thánh Tây Ninh, còn Ông Cựu Đốc Phủ Nguyễn Văn Ca, đối với toàn khối tín hữu chính thống, đã tự ông tỏ ra là một địch thủ đáng sợ. Ông Ca hoạt động bành trướng mạnh mẻ về miền Tây, đặc biệt là tại Rạch Giá nhờ có sự trợ lực của Ông Đốc-Phủ TRẦN NGUYÊN LƯỢNG”.

Tại Trà Vinh, bào huynh Ông là Y Sĩ chánh ngạch Nguyễn Văn Phấn mà hành động khiến Chánh Quyền lưu ý vào khoản tháng 3 Năm 1932; những tuyên Ngôn của Ông PHẤN có dụng ý làm cho người ta tin tưởng rằng có một mình ông có thể hòa giải được các Chi Phái Miền Tây với Tòa Thánh Tây Ninh mà thôi, Ông có cử chỉ khiêu khích chánh quyền địa phương để cố tạo cho ông một uy thế huyền ảo có thể đưa ông lên tới một địa vị trọng yếu đứng hàng đầu trong nền Đạo. Ví như vào tháng 3 Năm 1932, Ông khai mở một cái Thánh Thất bất hợp pháp để khuyến rủ chư Tín đồ hội họp cúng kiến trong khi Chánh Quyền đã ra lịnh cấm các sự tu-họp quá 20 người, Ông cho Tín Đồ Nhập Đàn mỗi lần 3 người vào bái lễ, xong rồi rút ra ngoài để nhường chỗ cho ba người khác vào cúng lạy cho đến khi hết số Đạo Hữu tựu họp.

Khắp nơi, việc hoạt động truyền giáo có mòi ráo riết có phải chăng đây là vì mục đích tranh giành ảnh hưởng giữa các Chi Phái hơn là vì Đạo Tâm tín ngưỡng.

Đại Khái người ta không quên những kết quả thắng lợi tại Pháp Quốc và Đức Quốc; bằng chứng cụ thể là một số Văn Thơ trao đổi, qua lại giữ Tòa-Thánh Tây-Ninh với các đô thị lớn bên Âu Châu do Ông NGUYỄN VĂN KHANH (Dân Tây) tức là : Páu Marchet (1) Giám Đốc Nhựt Báo “Le Phero Indochinois” (Đàn rọi Dông-Dương) vừa trao cho Cảnh Sát Trưởng Địa Phương ngày 20 tháng 9 Năm 1932.

***

Mấy tháng trôi qua, Hai ông Chánh Phối Sư Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang đã mất một phần ảnh hưởng quan trọng.

ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT và ĐỨC HỘ PHÁP, lướt qua cơn giông tố buổi đầu.

…………………..

(1)Số Văn Kiện nầy làm nổi bậc các Danh Nhân Chánh Khách Như Ông Henri Guernut, Nghị Sĩ Tỉnh Kisne, Ông Emile Kahn, Tổng Thư Ký Hội Nhân Quyền, các Văn Kiện can thiệp đều gởi đến Ông Tổng Trưởng Bộ Thuộc Địa là Ông: A1bert Sarrautm, để xin chánh thức nhìn nhận Đạo Cao Đài.

Từ Đức Quốc, Ông Go1vwin, Viết thư cho Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt xem như là một “ĐỨC-THÁNH-CHA” để ca tụng Công-Đức.

Bây giờ đã thành công và tiếp tục chấp chưởng quyền hành nền Đạo cho đến lúc xảy ra hai biến cố quan trọng có ảnh hưởng lớn lao trong toàn Đạo đó là:

1- ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT Đăng Tiên, vào ngày 13 Tháng 10 Năm Giáp-Tuất (8-11-1934).

2- ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, bị thực dân Pháp bắt đày ra hải đảo MADAGASCA (Phi-Châu) Ngày Mùng 4 Tháng 6 Nhuần Tân Tỵ ( 27-7-1941).

II. ĐỨC HỘ PHÁP TẠO LẬP PHẠM MÔN

Một Thành phần xu-hướng theo hai Ông Chánh Phối Sư Nguyễn Ngọc Tương và Ông Lê Bá Trang bị mất ảnh hưởng và tín nhiệm tại Tòa Thánh.

Một phần khác lại là phần đông có Đạo tâm có khuynh hướng Tu Chơn, cầu tiến trung kiên, nguyện ở lại Tòa Thánh, dưới sự lãnh Đạo của ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT và ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC. Trên thực tế, Đức Quyền Giáo Tông càng ngày càng sát cánh với Đức Hộ Pháp và nương theo uy thế của ông nầy tiến bước.

Đức Hộ Pháp nương theo gương giáo hóa, của Đức KHỔNG PHU TỬ, lập KHỔNG-MÔN, để tạo thành một cơ Sở “PHẠM-MÔN” gồm một số thiện tín trọn dạ trung thành cùng Ngài. Số tín đồ gia Nhập PHẠM MÔN tăng rất nhanh, gồm (500 Vị), xem như một tập thể Cộng Sản Đạo Đức mà những Đạo Sở đều sẵn lòng phát nguyện hiến dâng tất cả sự nghiệp, sanh mạng và tài sản cho nền sanh hoạt cộng đồng. Mọi người tập trung tài lực thành quả lao công để chia sớt nhau những nhu cầu hằng bửa để chung sống với nhau như công thức của Ông (FOURRIER) là : (TẤT CẢ CHO MỘT, MỘT CHO TẤT CẢ) hay nói một cách khác là : “NHỨT BỔN TÁN VẠN THÙ, VẠN THÙ QUI NHỨT BỔN”.

Các môn Đồ nầy xem như đàn con trong một gia-đình đặt dưới sự lãnh đạo của một Cha Già là: ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC mà mọi người đều suy tôn là “SƯ PHỤ”.

Có dư luận xuyên tạc rằng Đức Ngài đi sái Chơn Truyền của Đạo bởi sở hành trái với tôn chỉ đại đồng.

VÀ CHỐNG ĐỐI LẪN NHAU TẠI TÒA THÁNH

Hai vị Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh, không chống đối nổi với phong trào càng ngày càng thắng lợi của ĐỨC-QUYỀN GIÁO-TÔNG và ĐỨC HỘ-PHÁP, đành phải đi viện binh để làm hậu thuẫn; Đây là Ông NGUYỄN PHAN LONG, Hội Đồng Quản Hạt, một Chánh Trị gia lại là chủ bút, hiện đang nổi tiếng là một nhà trí thức bậc nhất nhì ở Nam Kỳ. Ông chịu đứng về phe hai ông Chánh Phối Sư, Ba Ông đồng hiệp nhau với một số Tín Đồ thuộc phe hai Ông ở Tòa Thánh, triệu tập một Đại Hội ngày 11-11-1932 cốt để chiếu theo chương trình nghị sự mà tuyên án Ông Chánh Phối Sư THÁI CA THANH là chia phe phân phái và chỉ trích sự phát hiện Cơ Sở PHẠM MÔN, của ĐỨC HỘ PHÁP. Số Đạo Hữu tụ tập về Tòa Thánh trong dịp nầy cũng đông trót ngàn người. bởi có sự mời mọc của hai Ông Chánh Phối Sư, mà kết cuộc phiên họp phải đình lại, bởi vì Ông Chánh Phối Sư NGUYỄN NGỌC TƯƠNG lâm bịnh không đến được.

Những sự chống đối lẫn nhau đến hồi quyết liệt.

Nào cuộc tranh chấp về ngôi thứ và quyền lợi, thêm phần Đạo Hữu ly tán trước mắt Chánh Phủ, vì sự kiện nầy mà đến ngày 18-1-1933 hai Ông Chánh Phối Sư TƯƠNG và TRANG, Công khai không nhìn nhận số tín đồ ở Tỉnh Châu Đốc tố cáo nhân viên Mật Thám đến phá rối họ trong một cuộc nhóm họp cúng kiến có xin phép.

Hai Ông ra tờ Hiệu Triệu kêu gọi tín Đồ Cao Đài phải trọn dâng lịnh và phục tùng Pháp Chánh Truyền, bất luận trong một hoàn cảnh nào.

Ngược lại, ĐỨC HỘ PHÁP CƯƠNG QUYẾT, tỏ nguyện vọng được quyền tự chủ trong sự tự do tín ngưỡng trong bao nhiêu bài diễn văn của Ngài, hàm súc nhiều điển tích có ý nghĩa sâu xa làm cho các nhà đương quyền càng lo sợ.

***

Tại Tỉnh Bạc Liêu xảy ra một cuộc hội họp cúng kiến của 80 vị tín đồ Cao Đài trong Thánh Thất mà không có xin phép, Cảnh Sát Công An tới bao vây bắt, lập Vi Bằng giải ra Tòa Án. Đến ngày xử tụng, Ông Chánh Án Tòa Sơ Thẩm Bạc Liêu, trái với sự mong muốn của Chánh Quyền Địa Phương, Tuyên Bố giữa Tòa là Tha bổng tất cả với lý do sau đây:

“Xét rằng các điều khoản: 291, 292 và 294, trong bộ hình luật canh cải hiện hành không nhầm những cuộc nhóm họp quá 20 người, Đạo Cao Đài không phải là “Hiệp Hội” mà là một Tôn Giáo.

Bản Quyết Nghị nầy làm cho mọi người ngạc nhiên dầu là Chánh Quyền hay là can phạm.

Do sự kiện nầy mà Quan Thống Đốc Nam Kỳ “KRAUTHEIMER”, để lời kết luận trong bản phúc trình tháng ba nói về tình hình Chánh Trị như vầy:

“Chánh Phủ càng ngày càng mất quyền sau khi đã trình bày trong bản phúc báo về tháng trước rằng,:

“Nếu có nhiều bản án mà Tòa-xử có ý nghĩa một chiều như thế thì e rằng sau đây Chánh-Phủ phải thiếu một biện-pháp để đối phó với Đạo Cao-Đài”.

***

SAU CUỘC SUY TÔN ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG

Hai Vị Chánh Phối Sư NGUYỄN NGỌC TƯƠNG và LÊ BÁ TRANG, bị loại ra khỏi Tòa-Thánh.

Vào cuối tháng ba Năm 1933 cuộc lễ đăng điện để suy tôn Ngài Đầu Sư THƯỢNG TRUNG NHỰT, lên Phẩm QUYỀN GIÁO TÔNG, do chỉ định thứ nhì, ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG và ĐỨC HỘ-PHÁP lập tại TÒA-THÁNH TÂY-NINH, Ngày mùng 3 tháng 10 Năm Canh Ngọ (Dl: 22-11-1930), Diễn ra Tại Tòa-Thánh Tây-Ninh với một quyết định vang dội.

Hai Vị Chánh Phối Sư THƯỢNG TƯƠNG THANH (Nguyễn-Ngọc Tương) và NGỌC TRANG THANH (Lê Bá Trang) bị loại trừ khỏi quyền hành chấp chưởng trong Hội Thánh.

Thế là từ đây, hai vị Đại Thiên Phong nầy đã mất hết quyền hành tại Tòa Thánh: Ông Trang thì rút về Quê quán, còn Ông Tương thì viết thư cho Quan Thống Đốc Nam Kỳ với giọng nói ít nhiều chua cay như sau:

“Tôi được người ta cho tự do rời khỏi các quyền hành chấp chưởng bấy lâu, giờ đây tôi lấy làm bất mãn với bầu không khí nặng nề làm cho tôi nghẹt thở tại nơi nầy.”

Ông báo tin cho Quan Thống Đốc rõ là Ông rời khỏi Tòa-Thánh Tây-Ninh, dứt khoát chức trách và quyền hạn hữu-hình, đặng trở về một Thánh-Thất lo phần việc Thiêng Liêng, quan hệ với phẩm tước của Ông.

ÔNG CHÁNH PHỐI SƯ NGỌC TRANG THANH

MƯU ĐỒ KHÔI PHỤC QUYỀN HÀNH

Đ ầu tháng tư năm (1933) tình trạng tại Tòa Thánh xoay chiều một cách bất thường.

Ông Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh tổ chức một phiên họp với 7 vị Chức Sắc Thiên Phong trong đó có Ông, Ông được đắc thăm với 6 lá phiếu làm hậu thuẫn, đứng ra là tố cáo ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG rằng cầm quyền trong 7 năm qua là lợi dụng địa vị để bòn rút tiền bạc của Chư Đạo Hữu, bán đất của Hội Thánh và làm nhiều điều tổn thương cho Đạo. Cuộc hội họp của 7 vị Chức-Sắc nầy lập Vi Bằng buộc ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, phải chịu phục lịnh họ, hay là từ Quyền chức trong thời hạn 8 ngày và tuyên bố cuộc lễ suy tôn ĐỨC QUYỀN GIÁO-TÔNG trước đây là bất hợp pháp, mặc dầu có nghị định thứ hai của ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG và ĐỨC HỘ PHÁP ấn định.

Tuy nhiên Đức Quyền Giáo Tông vẫn trầm tỉnh, để cho sự việc trôi qua, biết rằng với một Hội nghị như thế không cắt quyền cắt chức ai được, nhứt là một chức vị “QUYỂN GIÁO-TÔNG” không phải là một việc chơi mà ai muốn cắt lúc nào cũng được.

***

ÔNG CHÁNH PHỐI SƯ NGỌC TRANG THANH TRIỆU TẬP HỘI ” QUYỀN VẠN LINH, VỚI HẬU THUẪN CỦA ÔNG NGUYỄN PHAN LONG

Thấy không làm gì được nên ngày 11 tháng 6 Năm 1933, Ông Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh tự quyền triệu tập Hội “QUYỀN-VẠN LINH” gồm các cơ quan trong Đạo với ý định mời Đức Quyến Giáo Tông, ra lịnh đóng cửa Tòa Thánh. Ông Chánh Phối Sư NGỌC TRANG THANH, ra lịnh khác, tông cửa vào (Lúc Ấy là Đền Thánh Tạm) Truyền cho thuộc hạ của Ông khiên bàn ghé sắp đặt cuộc hội họp, giữa khoản Cửu Trùng Đài, Ông toa rập với phe của Ông NGUYỄN PHAN LONG ngồi ghế Chủ Tọa trong lúc ông nầy mặc âu phục, chưa hề biết luật Đạo là gì.

Ông Chánh Phối Sư NGỌC TRANG THANH, thừa dịp nầy tuyên bố trước mặt trót (500 Tín Đồ phe Ông là buộc ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, phải ra trước phiên họp để trả lời một cuộc truy tố quan trọng.

Lúc Ông Trang phái người đi mời ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG đến dự nhóm thì Đức Ngài hồi đáp rằng: “Không hề nhìn nhận quyền hạn của một cuộc hội nhóm bất thường, bất ngờ và bất hợp pháp như thế”. Tuy nhiên Đức Ngài cũng phái Ông TIẾP THẾ LÊ THẾ VĨNH, và Ông GIÁO SƯ THƯỢNG BẢY THANH thay mặt đối thủ.

Trong lúc ấy giữa Cung Điện Cửu Trùng Đài, đương phiên nhóm họp, thì bất thình lình có một Chức Sắc Phái NỮ, Bà GIÁO SƯ HỒ HƯƠNG LỰ (Sau nầy bà được vinh thăng tới Đầu Sư) Tức là Thân mẫu của hai vị Đại Thiên Phong CAO THƯỢNG SANH, và CAO TIẾP ĐẠO, Phía ngoài cửa Đền-Thánh bước vào, tay nương gậy, bà la lối lớn tiếng, Phản đối cái hội Bất-hợp-pháp nầy, nhứt là Bà không tiết lời phản đối Ông NGUYỄN PHAN LONG, là người không có Đạo Cao Đài, mang Âu Phục mà dám ngồi ghế Chủ Tọa giữa Đền-Thánh hội nhóm quá thất lễ.

Vì Bà là một Chức-Sắc phái Nữ già cả, trong Hội Nghị không ai dám phản kháng lại Bà, mặc dầu xôn xao nhưng im lặng, Bà la lối lớn tiếng bắt buột hội phái giải-tán, nên cuộc họp bất thành, rồi mọi người lần lượt rút ra khỏi Đền Thánh.

Ý Định của cuộc họp nầy là lợi dụng chữ “Quyền-Vạn-Linh” đặng để truất quyền của Anh-Cả, Nhưng mưu sự tại nhơn, thành sự tại thiên, kết cuộc ĐỨC QUYỀN GIÁO-TÔNG vẫn còn Quyền Hành nguyên vẹn.

***

THANH-THẾ CỦA ÔNG NGUYỄN PHAN LONG

Ông Nguyễn Phan Long là người như thế nào?

Ông Nguyễn Phan Long là một nhà “CÔNG PHÁP HỌC” một lãnh tụ Quốc Gia, từng được đắc cử Hội Đồng Quảng Hạt tại Nam Kỳ, Chủ Nhiệm Nhựt Báo “ĐUỐC NHÀ NAM”, Kiêm Giám Đốc Chánh Trị với Ông “BÙI QUANG CHIÊU” trong Nhựt Báo Pháp Văn “Le TRIBUNE INDOCHINOISE” (Diễn Đàn Đông Dương) là một cơ Quan chánh trị công khai hoạt động của đảng Lập Hiến Đông Dương thành lập từ năm 1923.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến Ông NGUYỄN PHAN LONG, điểu khiển một trong các nhựt báo lớn tại Saigon, tờ “VIỆT THANH” Năm 1947.

Ngày 9-9-1947 Ông Chủ Gia phái đoàn 24 nhân sĩ được phái sang Hương Cảng (HONGKONG) để yết kiến cụ Hoàng Bảo Đại.

Tháng Giêng năm 1950, Ông được Hoàng Bảo Đại chỉ định làm Thủ Tướng, thành lập Chánh Phủ Việt Nam.

Nội các Ông NGUYỄN PHAN LONG chỉ thành hình được ba tháng rồi để nhường lại nội các cho Ông TRẦN VĂN HỮU.

Với thanh thế kể trên, chỉ kể thành tích trước Đệ Nhị Thế Chiến, Ông Nguyễn Phan Long mà hiệp với Ông Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh, củng là một tay đối thủ lợi hai để chống đối với ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, nhưng cũng vô hiệu quả, như chư đọc già đả mục kiến ở các khoản trên.

Trong vụ tranh chấp còn ba nhân vật là: Chức Sắc Đại Thiên Phong, nên kể ra đây cho biết hành vi của mỗi vị:

1)- Ông Chánh Phối Sư THƯỢNG TƯƠNG THANH, làm màu từ bi đạo đức tuân theo Thánh ý ĐỨC CHÍ TÔN nên yên phận.

2)- Ông Thái Chánh Phối Sư THÁI THƠ THANH (Nguyễn Ngọc Thơ).

3)- Bà Đầu Sư LÂM HƯƠNG THANH.

Hai vị nầy không theo dõi kịp thời thế biến chuyển nên bị lôi cuốn, khi thì thiên về bên nầy, lúc nghe theo bên kia.

Còn phần ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC thì người ta quyết đoán rằng Đức Ngài nhờ có Thánh Giáo dạy đứng ra ngoài vòng cuộc tranh chấp trong giai đoạn nầy.

THUYÊN CHUYỂN CHỨC SẮC

N gười ta có cảm tưởng rằng, trong xứ Nam Kỳ lúc bấy giờ là một sân khấu của một cuộc thuyên chuyển Chức Sắc Cao Đài thuộc khuynh hướng, đặc biệt là tại các tỉnh Miền Tây, làm cho phần đông tín đồ hoang mang dao động và làm cho đức tin cũng bị sức mẻ một phấn nào.

Rút kinh nghiệm trong cuộc biến cố ngày 11-6-1933, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG bèn tổ chức một ban Bảo Thể trung kiên để bảo-vệ Tòa-Thánh Tây-Ninh, và Ngài cương quyết ra lịnh khai trừ, trục xuất, ngưng quyền liên tiếp những phần tử phản lại chơn truyền.

Ngày 16-9-1933, trong Tờ Phúc Trình gởi về Chánh Quốc cho toàn quyền Đông Dương có đoạn viết về tình hình xáo trộn chung tại Nam Kỳ, chưa bao giờ khó phân tách như hiện nay.

Cuộc tranh chấp Đạo Giáo tràn sang Miên Quốc, nơi mà Viện Phật Giáo Tại Nam Vang, giao phó trách-nhiệm cho những vị tuyên giáo đi vận động khắp trong xứ để cảnh cáo Dân Miên không cho theo Đạo Cao Đài mà Giáo Lý không phù hợp với Giáo Điều thuần tuý của Phật Giáo.

Rồi cuộc tranh chấp phe phái lại quay sang Trung Kỳ, nơi mà ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG Huấn Thị cho tất cả tín đồ Miền Trung. Nhất là tại “Huế” để nâng cao trình độ dân trí nơi đây và dự định gởi ra đó một phái đoàn truyền giáo.

Về phía Ông C.P.S LÊ BÁ TRANG, thì ông tung ra những Châu-Tri bố cáo khắp nơi để hạ uy tín đối phương.

Ông còn lưu ý Chánh Quyền về những Thánh Giáo có thể làm nguy hại cho sự an ninh công cộng của nhà nước.

Ông Chánh Phối Sư LÊ BÁ TRANG còn gởi cáo trạng đến Biện Lý Cuộc tố cáo Ông Giáo Sư LÊ VĂN BẢY ở Nam Vang về tội, sang đoạt hồ sơ trong vụ chống đối với ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG tại Tòa Thánh. Ông LÊ VĂN BẢY, bị Tòa Án câu lưu hết mấy hôm buộc phải hoàn trả tập tái liệu ấy lại.

Một vụ tố cáo tương tự đối với ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, nhưng tòa xét ra là toàn lời vu khống.

Cũng với mục đích mưu hại ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, Nên Biện Lý Cuộc Tây Ninh phải cứu xét từ lá đơn, nào là vụ đòi nợ, biểu thủ tiền nhơn công, giả mạo căn cước buôn bán đất lừa phỉnh…

Trong số đơn trạng, có lộn tờ tố cáo ĐỨC-QUYỀN GIÁO-TÔNG, lạm dụng số tiền mua sở đất của Ông CAPIFALI và ESBELETTE, giá đất gấp đôi so với số tiền ông đã trả cho chủ đất hồi lúc mới trở về Tòa-Thánh năm 1931.

Ngày 3-9-1933, có đến 70 lá đơn như thế tố cáo Đức Ngài.

Bất Thần một Chức Sắc qui vị tại Toà-Thánh.

ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG quàng linh cửu vị nầy tại trụ sở của Ông LÊ BÁ TRANG, trong thời gian là 6 ngày, bị tố cáo vệ sinh công cộng ngày 29-10-193, Đức Ngài bị phạt 5 quan tiền vạ.

Do tờ tường trình về vụ sĩ nhục khiến danh dự nhân phẩm của ngài bị tổn thương quá đáng, một hội cộng đồng do phe đối lập tạo dựng, tuyên bố lý do bất lực của Ngài.

Ngưng tất cả quyền hành tối cao của Ngài, và buộc Ngài từ chức. Nhưng sự kiện ấy không có hiệu lực chi cả, mặc dầu họ buộc Ngài phải giao quyền lãnh đạo nền Tôn Giáo cho ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, là Chức Sắc bảo tồn luật pháp Chơn Truyền, và ba vị Đầu Sư: THƯỢNG TƯƠNG THANH, NGỌC TRANG THANH THÁI THƠ THANH, với Bà Chánh Phối Sư LÂM HƯƠNG THANH, để ông đi dưỡng trí. Quyết nghị trên không có hiệu lực chi cả.

Ông Chánh Phối Sư LÊ BÁ TRANG, tách rời TÒA-THÁNH.

Ông Chánh-Phối-Sư NGUYỄN NGỌC TƯƠNG, cũng nối gót theo sau, cả hai Ông trở về An Hội (Bến Tre) và thành lập một chi phái mới.

***

ÔNG CHÁNH PHỐI SƯ THƯỢNG TƯƠNG THANH HOẠT ĐỘNG TẠI BẾN TRE TỰ XƯNG LÀ GIÁO TÔNG VÀ THÀNH LẬP BAN CHỈNH ĐẠO

T ại An Hội trong Tỉnh Bến Tre, Ông Chánh Phối Sư Nguyễn Ngọc Tương lãnh đạo, trước nhứt là lo chống đối Tòa-Thánh Tây-Ninh nhưng vô hiệu quả.

Sau hi ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG đăng tiên, Ông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG mới tự xưng là Giáo Tông mà trong bổn Đạo gọi là “GIÁO-TÔNG BẾN-TRE”, Ông đảm đương việc cải tổ một bộ máy hành chánh mới mẻ do ông chấp chưởng quyền hành, quyết tâm tranh thủ công việc thống nhứt các Chi Phái do đó mà “BAN CHỈNH ĐẠO” được thành hình đặt dưới quyền Chưởng Quản của Ông.

-Ông Chánh Phối Sư LÊ BÁ TRANG khuất tịch năm (1936).

-Ông Chánh Phối Sư Nguyễn Ngọc Tương sẽ có vài cuộc biến thiên, số 50 cái Thánh Thất có giấy phép trước kia đã biến thành “Nhà Tịnh” mà ông luôn luôn bảo thủ cho đến ngày ông thất lộc vào tháng 8 Năm 1951.

Lúc bấy giờ một người con trai của Ông Tên: NGUYỄN NGỌC THƯƠNG thay ông cầm đầu một nhóm Tín đồ của Ông lối 15 Ngàn người, thêm một số tín đồ cỡ 60 ngàn người thuộc các nhóm khác.

TÌNH HÌNH Ở TÒA-THÁNH NĂM 1934

T ại Tòa-Thánh Tây-Ninh, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT, vẫn ung dung làm chủ tình hình.

Tháng 2 Năm 1934, Ông tiếp một phái đoàn Thanh Tra Lao Động, Cứu Trợ Quốc Tế gồm các yếu nhơn danh tiếng là:

– Ông PERI, Nghị Sĩ Quốc Hội Pháp.

– Ông BRUNEAU, Tổng Thư Ký Liên Minh Kỹ Thuật Dệt.

– Ông CHAINTRON, hiệu BARTHEL Chủ bút Nhựt Báo LA DEEENSE.

***

Trước đó vài hôm, Ngày 13-2-1934, vì chưa kịp nộp tiền phạt vạ Tư Pháp, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG bị bắt câu lưu, và được trả tự do sau khi nộp phạt. Tiếp theo đó, vì lẽ Ngài là một Nhân Vật trong xứ, một Thượng Hội Đồng, đã được thưởng “BẮT ĐẨU BỘI TINH” mà bị làm nhục với một sự phạt vạ nhỏ nhen như thế, nên Ngài gửi trả Huy Chương Cao Đảng ấy lại cho Tổng Thống Pháp.

Từ Đây ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, gia công với Hội Thánh chỉnh đốn nền Đạo trong lúc hai ông Chức Sắc Đại Thiên Phong là Nhị Vị Chánh Phối Sư, THƯỢNG TƯƠNG THANH và NGỌC TRANG THANH bỏ nhiệm sở.

Cuộc tranh chấp với Tòa-Thánh được chấm dứt kể từ ngày nầy.

ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG ĐĂNG TIÊN

N gày 28-3-1934 lại xảy ra hai vụ án phạt vạ nữa:

– ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG bị phạt 200 quan, về tội mở cửa một ngôi trường họ để dạy trẻ con trong Nộ Ô Tòa-Thánh mà không xin được phép.

– ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, bị phạt 100 quan tiền vạ về tội mở Trường Y Dược để lo thuốc men săn sóc chư Đạo Hữu trong lúc đau ốm.

Vì quá lao tâm nhọc trí với bao nhiêu sự thử thách, mà chư đọc giả đã mục kiến, ĐỨC QUYỀN GIÁ TÔNG kiệt sức nhóm bịnh trong một thời gian ngắn và qui liễu tại Tòa-Thánh Tây-Ninh ngày 10 Tháng 10 Năm Giáp Tuất (8-11-1934).

G iữa tình trạng khẩn trương tại Tòa-Thánh, ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT lại đăng-tiên, thật là một biến chuyển hết sức quan trọng, lại thêm vào đấy một hoàn cảnh rất bi đát mà toàn Đạo đều chịu ảnh hưởng.

Đây nhắc lại những năm vừa qua ai cũng nhìn thấy cái nạn chia phái càng ngày càng nẩy nở, cuộc tranh chấp nội bộ càng gia tăng, những khó khăn về vật chất càng khổ sở, lòng nhiệt thành mộ Đạo của phần đông tín đồ buổi ban sơ, nhường chỗ cho sự uể oải, chán nản và lo âu trong tâm hồn, nên việc truyền giáo đã gặp những chướng-ngại, đủ thứ ở Việt-Nam, còn tại các xứ bảo hộ thì Đạo Cao Đài bị cấm hẳn.

***

ÔNG NGUYỄN NGỌC TƯƠNG ĐẮC CỬ GIÁO TÔNG BẾN TRE

Tại Bến Tre một nhóm lối vài ba trăm người Tín Đồ hội nhóm lo chọn người kế vị GIÁO TÔNG, với sự hám vọng và cũng là vì sự tín ngưỡng của họ, họ Cầu Cơ Thỉnh Giáo các Đấng Thiêng Liêng, không gặp đều phản ứng trái ngược, nên Ông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG, nương theo sự thuận lợi nầy tổ chức cuộc bầu cử Nội Bộ với kết quả của một số thuộc hạ bỏ thăm ưng thuận, Ông bèn tự xưng đắc cử GIÁO TÔNG, thay thế cho Đức quyền Giáo Tông vừa Qui Vị.

Lẻ dỉ nhiên việc đơn phương bầu cử “Giáo-Tông” như thế là lạm-quyền, không noi theo Chơn Truyền Luật Pháp của nền Đạo, lại chứng minh sự phàn loạn chống đối Tòa-Thánh Tây-Ninh.

Cuộc tranh chấp quyền hành đến hồi quyết liệt.

Khi Phái Đoàn Đại Diện cho Ông “Tân Giáo Tông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG”, đến hành trình xin dự tang lễ Đức Quyền Giáo Tông THƯỢNG TRUNG NHỰT, tức thì vấp phải một phản ứng rõ ràng: Bị từ chối một cách khéo léo, Phái Đoàn Bến Tre chỉ được phép đến lễ bái Liên Đài đang quàng trên Cửu Trùng Thiên giữa sân Đại Đồng Xã, rồi rút lui.

Cái hố phân cách chưa lúc nào bị đào sâu như lúc nầy.

ĐÁM TANG CỦA ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG

C ùng Khắp xứ Nam-Kỳ, Trung-Kỳ, Cao-Miên và Ai-Lao có trên ba vạn Tín đồ Nam, Nữ qui tụ về Tòa-Thánh để tang, mỗi người trên đầu đều chít khăn tang trắng, mọi cuộc tế lễ sắp đặt có chương trình rất nghiêm trang. Trong Đền-Thánh thì Chư Đạo Hữu, Đồng Nhi Nam,Và Nữ luân phiên nhau tụng kinh, ngày đêm không dứt. Trên Cửu Trùng Thiên, chung quanh Liên Đài thì Chức Sắc luân phiên đứng hầu, dưới Phòng Trù thì dọn cơm liên tục, làm thế nào trong trong ba vạn người phải có ăn mỗi ngày hai bữa cơm cho đủ, cuộc tế lễ trong vòng một tuần lễ.

Dưới mắt một người Việt Nam hoặc một Tín Đồ Cao Đài thì sự lễ nghi long trọng vẫn là thường tình, nhưng chúng ta đặt cuộc lễ dưới mắt của một người ngoại quốc để họ mô tả những điều mắt thấy tai nghe có lẻ thiết thực hơn.

Đây cảm tưởng của một ký giả người Pháp:

Ký giả nầy tên JEAN DRSENNE đến Tòa-Thánh bốn ngày sau khi Đức Quyền Giáo Tông đăng Tiên, và Liên Đài đã đem quàng trên Cửu Trùng Thiên, ở thêm Tòa Thánh ba ngày nữa để dự cho đến khi mãn cuộc lễ.

“… Nào là những đoàn người từ các nơi xa gần đi bằng xe hơi, xe cam nhong, xe bò, xe đạp, nào là ghe thuyền, chở đầy tín đồ đàn ông, đàn bà, con nít thảy thảy đều quyết chí đi mau tới Tòa-Thánh đặng thọ tang, có người lại bịt khăn trắng trước khi thọ lễ.

“Suốt ngày đêm, mọi người gồm cả Nam Phụ Lão Ấu luân phiên nhau lập thành hành ngũ chỉnh tề đến lễ bái trước Liên Đài hình bát giác, trong ấy thể xác được tẩn liệm cẩn thận, bằng cách ngồi kiết già, y như thể thức của ĐỨC HỘ PHÁP đang tọa thiền nhập định.

“Về tế lễ ban đêm, khi Thượng Thống Lễ Viện sắp đặt trật tự cho Chức Sắc, Chức Việc và Chư Đạo Hữu đứng có hàng ngũ chỉnh tề trên những kệ ván đặt chung quanh Cửu Trùng Thiên. Trước Liên Đài thì hàng lớp có trật tự quì giữa sân vái van thì thầm tiếng dội ra, làm như người ta có cảm tưởng như tiếng sóng bủa trên gành ở phương xa vọng lại khi trầm khi bổng, một giọng bi ai thống thiết như xé nát tâm can, ai bi não nuột, đó là những lời cầu nguyện thốt ra tiếng thì thầm tưởng niệm vong linh của người quá vảng, một giọng khẩn vái đều đều, tỏ lòng mến tiết đau thương. Những khấn nguyện rì rào ấy thình lình bị áp hẳn bởi một âm thanh hòa điệu của đoàn phụ nữ và Đồng Nhi tụng kinh cầu siêu, nhịp nhàng như tiếng hát oán than trầm bổng, khiến cho thính giả xúc động đến rợn người.

“Một chập sau khi mãn lễ, đoàn người lần lượt rút lui, Sân Đại Đồng Xã trở về cảnh trống trải của màng đêm vũ trụ trên nền trời tím thảm, các vì tinh tú thay phiên nhau nhấp nháy, các ngọn đuốc bằng mủ dầu chai soi sáng chung quanh đài với những làn khói đen theo chiều gió mùa Đông lạnh buốt.

“Bấy giờ chỉ còn lại có 36 Vị Chức Sắc Phái Thượng chầu chung quanh Liên Đài, họ xem thường mỏi mệt rét lạnh giữa tiết Đông.

“Qua ngày thứ ba là ngày lễ An Táng chánh thức, Số Tín Đồ Nam, Nữ đã đông lại còn đông hơn theo phong tục mà nhứt là thủ tục CAO ĐÀI thì mọi người đều y phục áo dái trắng, đầu bịt khăn trắng để tang xen lẫn với những Chức Sắc mặc áo rộng màu xanh (Phái Thượng), màu đỏ (Phái Ngọc), màu vàng (Phái-Thái).

“Dưới ánh sáng ban mai trong nền trời quang đãng, trên Liên Đài có gắn một đóa hoa sen lớn trải cánh hồng điều, hấp dẫn nhản quang của tất cả mọi người.

“Rồi bổng nhiên tiếng êm diệu của dàn nhạc bổn xứ trổi lên như khóc, như than qua những giọng lệ tức tưởi, tiếng vang dội của đoàn kèn làm biểu lộ những nổi bi ai thống thiết của toàn những người đi dự lễ.

Bà góa phụ LÊ VĂN TRUNG tiến lên trước Liên Đài Thờ, có mấy vị Chức sắc dìu đỡ.

“Tiếng Âm nhạc trổi lên theo nghi lễ, tám vị Lễ Sĩ mặc sắc phục Vàng, Xanh, Đỏ, tiến từ bước một với bộ điệu rập ràng khoan nhặt tùy theo nhịp của tiếng đàn, tiếng trống, trên hai tay họ bưng nhang, đèn, hoa quả, rượu, trà đưa ngang lên trán. Đó là lễ dâng Tam Bửu tượng trưng cho ba món báu là : TINH, KHÍ, THẦN.

“Và đây là lễ bái rất trang nghiêm, tôn kính của toàn thể tín đồ trước Liên Đài. Ngắm nhìn quang cảnh ấy có thể nói họ là những người theo cổ tục không ai bằng, họ vẫn có tinh thần trung kiên với truyền thống Tổ Phụ không đâu hơn. Tuy nhiên ở Đông Dương, thuyết Canh Tân Chủ Nghĩa vẫn sống chung được ân hậu với Cổ Truyền là nhờ sự ôn hòa trung thứ của thuyết Qui Nguyên Thượng Cổ vậy.

“Ai có biết chiếc bàn tròn để giữa kệ trên Cửu Trùng Thiên để làm chi chăng? Đó là nơi Hộ Pháp và Ba vị Đại Thiên Phong đứng lên đọc ai điếu. Trên bàn ấy có đặt sẵn một máy thu băng, và phát thanh. Trước nhứt là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, kế đó là ba vị Chức Sắc Cao Cấp, đại diện cho các Cơ Quan của Đạo, lần lượt đọc bài ai điếu với giọng mến thương, nhắc lại bao nhiêu công nghiệp trong vĩ vãng của một bậc Vĩ Nhân đã vì đời mà tận tụy, và cả kiếp sanh đầy gian nan khổ hạnh. Nhứt là bài diễn văn tuyệt bút của ĐỨC HỘ-PHÁP, hàm súc nhiều ý nghĩa bi thương bóng bẩy và kích thích tinh thần đối với thế hệ mai sau. Toàn thể đám tang im phăng phắc trong bầu không khí trầm lặng, chú ý nghe từ câu văn giọng đọc qua làn sóng phát thanh vang dội khắp cả núi rừng đất Việt.

“Thế là xong, chiếc Liên Đài có hoa sen tươi thắm ấy được kiệu trên lưng con Long Mã để toàn Đạo đưa Đức Ngài đến nơi an nghỉ nghìn thu mà Hội Thánh đã chu tất sẵn, giờ dây xác thể của ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG LÊ VĂN TRUNG không còn nữa, nhưng nền Đạo Cao Đài vẫn tiếp tục hoạ -động và chiến thắng.”

Đến đây là chấm dứt bài tường thuật về cảm tưởng của Ký Giả JEAN DORSENNE.

***

N hững ngọn đuốc soi sáng chung quanh Liên Đài của Đức Quyền Giáo Tông đã tắt hẳn, duy có cuộc tranh chấp không chút phai mờ. Mặc dầu trình độ và Chức Phẩm cách biệt nhau, nhưng tại bốn địa phương sau dây đã chứng minh sự hoạt động đáng kể:

Tại Tòa-Thánh thì Hội-Thánh lo chấn chỉnh nội bộ một cách chính chắn, sắp xếp chức phẩm nào vào nhiệm vụ nấy, với tài dung người một cách đặc sắc, ngôi sao của ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC chiếu sáng phi thường. Các Cơ quan Đạo Tuyên bố tín nhiệm và đồng tôn Đức Ngài làm lãnh đạo tối cao, lại nữa các cuộc tiếp xúc của Ngài với bà MONNLER (Tức là bà LÂM HƯƠNG THANH, một nhà quyền qui cao sang, giàu lòng từ bi quảng đại, khiến cho bà trở nên “Ân-Nhân”, của nền Đạo bằng cách trợ giúp tài sản và đứng tên xin phép khai mở phạm vi Thánh Địa.

Tại Bến Tre Ông Giáo Tông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG, Cố vận Động bằng đủ mọi cách để tự xưng mình là người chánh thức kế vị ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT. Tuy có một số Chức Sắc theo giúp đỡ Ông trong việc điều hành cơ quan Hành Chánh-Đạo, Ông Giáo Tông “TƯƠNG” có vẻ lo ngại cho việc Tổ Chức không được chu đáo, nên lắm lúc Ông đồ theo cách hoạt động của các Thánh-đường Thiên Chúa Giáo, rồi chỉnh đi chỉnh lại không tiến bộ chút nào .

Tại Mỹ Tho Ông Phối Sư THÁI CA THANH (Nguyễn Văn Ca, cựu Đốc Phủ Sứ), tách rời Tòa-Thánh cũng khá lâu, cũng lo hoạt động tranh đấu để bành trướng thế lực cho phái của Ông, phái nầy thờ “Trái Tim”.

Tại Cần Thơ, Ông VÕ VĂN THƠM có ảo vọng lôi cuốn chư Đạo Hữu ở Miền Tây Nam Kỳ theo về phe của Ông.

***

Như Thế là các vị trí cũng như hoàn cảnh của số Tín Đồ theo về Tòa-Thánh Tây-Ninh bị đe dọa và phong tỏa khắp nơi, cũng nhân vì ngày 19 Tháng 3 năm Giáp-Tuất (2-5-1934) “Cái Phiên Tòa Tam Giáo, do các chi phái phản loạn tổ chức đã tuyên bố giải-tán “PHẠM-MÔN”.

Bản án nầy không ban hành được vì ĐỨC HỘ-PHÁP sẵn có đại chí và thông minh hoạt bát, không hề nhượng bộ, mà nhứt định tiến tới từ bước một, Đứng trước bao nhiêu tín hữu Đạo Tâm có chí nguyện hy sinh, ĐỨC HỘ PHÁP đề xướng nguyện vọng tha thiết của Đức Ngài là phải làm thế nào khuếch trương mối Đạo, đồng thời vận động thống nhứt ý chí toàn cõi Đông Dương. Đức Ngài chứng tỏ là một nhà Triết học thông minh đại tài hay về “Vật lực luận”. Nhờ có Ông TIẾP THẾ LÊ THẾ VĨNH trợ-lực, nên ĐỨC HỘ-PHÁP không ngần-ngại đối phó ngang hành với Chánh Phủ Thuộc Địa Pháp. Không phải lòn cúi như các Chi Phái khác mỗi khi làm việc chi đều đệ đơn xin phép, mà Đức-Ngài cứ tự tiện xây cất Tòa-Thánh và các Thánh-Thất, mở-rộng cửa cho Chư Đạo Hữu tu-họp cúng kiến mà không cần xin phép nhà cầm quyền. Đức Ngài chỉ gởi Văn Thư đến các quan chức có trách nhiệm cố ý nhắc nhở họ thi hành quyền tự do tín ngưỡng, mà chính Hương Chức trong làng ít được thấu hiểu, do đó mà nhà chức trách thường hay vi phạm.

Với tư cách Đại Diện cho Hôi Thánh, ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC đã nắm được ưu thế hành động tự tin đứng vững địa vị tối cao.

Công tác xây dựng mở mang của Hội-Thánh Tây-Ninh càng ngày được dể dàng hơn bởi các biến chuyển vừa qua, bên Chánh Quốc Pháp, mặt trận bình dân Pháp lên cầm quyền, đường lối Chánh-Trị mới không khỏi có ảnh hưởng đến Đông-Dương.

Cuối năm (1934) Quan Toàn Quyền Pháp Rene ROBIN, ban cho Đạo Cao Đài quyền tự do tín ngưỡng và tự do hành đạo, bài bỏ hẳn chế độ bắt buộc phải xin phép trước mỗi khi xây cấy Thánh Thất mới.

Báo chí được tin trên, bèn đăng tải với mhững lời ca ngợi nồng nhiệt. Nhựt báo bằng Pháp Văn LA TRBUNE INDOCHINOISE (Diễn Đàn Đông-Dương) viết bài ca tụng có đoạn nói:

“Chính mình Ông ROBIN đã ban bố chế độ khoan hồng cho Toàn Dân bổn xứ nói chung, mà đạt biệt nhứt là toàn thể Tín Đồ Cao Đài không khỏi nhận chân tình chính trị cao cả và tri ân của ông vậy.”

“Tuy nhiên Nghị-định đề cập đến quyền Tự do Tín ngưỡng ấy minh xác rằng:

“Chỉ có dân chúng thuộc địa như ở Nam-Kỳ và các Thành Phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng (Tourane) mới được hưởng thụ quyền tự do tín ngưỡng, Trái lại dân chúng đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp như ở Bắc Việt, Trung Việt, Ai Lao, và Cao Miên thì người dân không được hưởng quyền tự do nói trên.”

***

Giờ đây ĐẠO CAO ĐÀI thuộc hệ thống TÒA THÁNH TÂY NINH, có một sắc diện mới-mẻ, ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, nắm vững quyền Hội-Thánh, với nấy ngàn Chức Sắc Thiên Phong, Chức Việc để chấn chỉnh va điều hòa Tổ Chức Hành Chánh Đạo, trong nước và ngoài nước y theo Tân Luật, Pháp Chánh Truyền và Chơn Truyền Chánh Pháp của Đạo.

Đức Ngài cho tái thiết lại TÒA NỘI CHÁNH CỬU TRÙNG ĐÀI, Gồm Cửu Viện ba phái: “THÁI, THƯỢNG, NGỌC” mỗi viện đều có văn phòng riêng.

TÒA NỘI CHÁNH CỬU TRÙNG ĐÀI

PHÁI THÁI : do THÁI CHÁNH PHỐI SƯ điều khiển ba viện:

a- HỘ VIỆN chuyên về phần thâu xuất tài chánh, giữ gìn tài sản của Đạo .

b- LƯƠNG VIỆN : Chuyên lo lương thực, vận động Gạo Lúa tích trữ để nuôi tất cả Chức Sắc và Đạo Hữu hiến thân làm Công-Quả.

c- CÔNG VIỆN: Tuyển chọn và tập trung các công thợ chuyên môn xây cất các dinh thự nhà cửa, Thợ Sơn, Thợ Đắp Vẽ, Thợ Mộc, mở mang đường xá, cống rãnh.

PHÁI THƯỢNG : Do THƯỢNG CHÁNH PHỐI SƯ điều khiển gồm có ba viện:

a- HỌC-VIỆN : Đào tạo Đạo Đức Học Đường, Xây dựng thêm trường ốc, cốt giáo hóa con em trong Đạo, đào tạo các mầm non nhằm kế chí cho đàn Anh trong tương lai.

b- Y-VIỆN: Chuyên lo Tổ chức Dưỡng Đường, đào tạo Y Tá, Điều Dưỡng, thâu thập Y Sĩ để chăm lo sức khỏe cho Chư Tín Hữu điều trị các căn bịnh với những phương tiện Y Khoa.

c- NÔNG-VIỆN: Chuyên lo canh tác ruộng rẫy, tổ chức các cơ sở về nông nghiệp để nuôi những người hiến thân làm công quả.

PHÁI NGỌC : Do NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ điều khiển, gồm có ba viện:

a- HÒA-VIỆN: là Cơ quan gìn giữ an ninh trật tự trong Châu Vi Thánh Địa, hòa giải mọi việc tranh tụng, trong hàng Chức Việc và Đạo Hữu.

b- LẠI-VIỆN : Trông nom về nhân sự, về Hành Chánh, thuyên bổ Chức Sắc đi hành Đạo khắp nơi trong nước và ngoài nước.

c- LỄ-VIỆN: Chuyên lo các nghi lễ cúng kiến hằng ngày, các ngày vía và sóc vọng, có “Ban Tiếp Tân” đón rước quan khách viếng thăm Tòa-Thánh.

***

TRẤN ĐẠO & CHÂU ĐẠO

L úc Bấy giờ Hội-Thánh Tây-Ninh phân số 20 Tỉnh Thành trong Xứ Nam Kỳ thành 5 Trấn Đạo Như hồi xưa. Mỗi Trấn đặt một vị Giáo Sư cầm đầu gọi là: KHÂM TRẤN ĐẠO.

Mỗi Tỉnh ở ngoài đời thì trong Đạo gọi là: CHÂU ĐẠO; dưới quyền của một vị Giáo Hữu gọi là: KHÂM CHÂU ĐẠO.

Đây các TRẤN ĐẠO, CHÂU ĐẠO theo hệ thống Tòa-Thánh Tây-Ninh:

-TRẤN ĐẠO AN GIANG gồm 5 Châu Đạo: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Bạc Liêu.

-TRẤN ĐẠO LONG HỒ gồm 5 Châu Đạo: Cần Thơ, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng.

-TRẤN ĐẠO GIA ĐỊNH gồm 4 Châu Đạo: Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh.

-TRÂN ĐẠO BIÊN HÒA gồm 3 Châu Đạo: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một.

-TRẤN ĐẠO ĐỊNH TƯỜNG gồm 3 Châu Đạo: Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre.

Ngoài ra trong mỗi Trấn Đạo, nếu cần thì mỗi Châu Đạo có đặt một Chức Sắc HIỆP THIÊN ĐÀI, để trông nom vế Luật Pháp Chơn Truyền.

HIỆP THIÊN ĐÀI

HIỆP THIÊN ĐÀI, đặt dưới quyền Chưởng Quản của ĐỨC HỘ PHÁP, phân ra ba cơ quan như sau:

A/- BỘ PHÁP CHÁNH: Chuyên giữ gìn Luật Pháp Chơn Truyền của Đạo, điều tra và xử đoán các việc tranh tụng trong cửa Đạo.

B/- CƠ QUAN PHƯỚC THIỆN:

Chuyên về các việc tạo dựng: Lương Điền, Thương Mãi, Công Nghệ. Đài thọ chu đáo cho các Dưỡng Đường, Nhà Bảo Sanh, Dưỡng Lão, Cô Nhi, Quả Phụ cứu giúp cho đời người bớt đau khổ về vật chất, bảo bọc những kẻ cô thế tật nguyền. Ngoài ra Cơ Quan Phước Thiện, hiệp với Lễ Viện Hành Chánh lo về mọi việc Tế Lễ trong Đạo.

C/-CƠ THÁNH VỆ VÀ BẢO THỂ: Chịu trách nhiệm về an ninh trật tự, trong Châu Vi Thánh Địa, canh gát tuần phòng, ngăn ngừa những kẻ gian manh, trộm cướp, bảo vệ Chức Sắc Hội-Thánh tại các dinh thự của mỗi Cơ Quan.

NỀN ĐẠO SUNG TÚC TRỞ LẠI

Các cuộc tạo tác cơ sở xây dựng đã bị ngưng trệ một thới gian, nay có cơ hội hoạt động mạnh trở lại, nhứt là trong vùng Nội Ô Thánh Địa.

Ở Tỉnh, các Thánh Thất mở rộng cửa đón tiếp tất cả Chư Đạo Hữu và khách khứa đến lễ bái càng ngày càng đông.

Tòa-Thánh Tây-Ninh thường xuyên thuyên bổ Chức Sắc trấn nhậm các Tỉnh, các Quận, các Thánh Thất kèm theo trách vụ Phổ Tế, Phổ Độ Nhơn Sanh Tu Hành, quảng bá Giáo Lý Đại Đạo, đồng thời kiểm soát và chăm nom số Tín Đồ Trung Kiên với Tôn Chỉ.

Với sự phân công bổ nhiệm của Hội-Thánh ủy thác cho hàng Phẩm Giáo Sư, Giáo Hữu đi Hành Đạo Địa Phương, có qui định ranh giới quyền hạn đành rành, họ cố gắng lo tròn trọng trách của bề trên phú thác, họ hoạt động rất có hiệu quả nên nguồn máy Hành Chánh càng thêm vững chắc.

CAO ĐÀI GIÁO ĐÃ THÀNH CÔNG

Vì từ đây chỉ còn điều chỉnh về mặt tiểu tiết nữa thôi.

LỂ TIỂU TƯỜNG CỦA ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG

ĐẠI HỘI NHƠN SANH TÍN NHIỆM VÀ TRAO QUYỀN LÃNH ĐẠO TỐI CAO CHO ĐỨC HỘ PHÁP

Tại Tòa-Thánh Tây-Ninh kể từ Ngày 13 đến rằm tháng 10 Năm Ất Hợi, (8 tới 10-11-1935) là Lễ Tiểu Tường ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT, Thiện Nam, Tín Nữ, Quan Khách ở các Tỉnh và khắp nơi trong xứ tựu về Tòa-Thánh Rất đông đảo.

Cuộc lễ Tiểu Tường vừa xong, tiếp đến ngày 16 và 17 tháng 10 Năm Ất Hợi (Dl: 11,12 tháng 11-1935) Là Ngày Đại Hội Nhơn Sanh và Hội-Thánh nhóm chung nhau, để tuyển trạch người kế vị cho ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG.

Mặc dầu không có Thánh Giáo nào chỉ dạy cho biết Thánh Ý của ĐỨC CHÍ TÔN, và trong bầu không khí Tôn Nghiêm và trọng hệ nầy, ai cũng hướng về ĐỨC HỘ PHÁP. Ngặt nổi ĐỨC HỘ PHÁP theo Pháp Chánh Truyền là người gìn giữ Luật Pháp Của Đạo, là vị Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, kiêm Chưởng Quản Chi Pháp, thì không có lãnh trách nhiệm Giáo Tông.

-Trong lúc chờ đợi có Giáo Tông chánh vị, thì Hội đặc tín nhiệm nơi ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, và yêu cầu Đức Ngài đứng lên lèo lái con Thuyền Đạo.

Đây là giải pháp tạm thời để cho Đức Ngài, Nắm hai quyền HIỆP THIÊN ĐÀI và CỬU TRUNG ĐÀI, cho đến khi có Đầu Sư Chánh Vị.

Thế thường người ta thường mục kiến trường hợp tạm thời với thời gian vô định “VẨN LÀ THIỆT THỌ VẬY”.

Trên thực tế với bao nhiêu phá rối và đánh đỗ của các Chi Phái, với bao nhiêu vụ áp bức của Chánh Quyền Pháp bắt lưu đày, Đức Ngài suốt thời gian Đệ Nhị Thế Chiến cho đến ngày nay, chỉ một mình Đức Ngài, HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, đã trở thành một Giáo Chủ Hữu hình của nền ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ TÒA-THÁNH TÂY-NINH vậy.

Với tư thế xứng đáng vào hang phẩm tối cao, tối trọng ĐỨC HỘ PHÁP vượt qua tất cả các trở ngại gây hấn, đứng đầu là cuộc khuấy rối của bao nhiêu Chi Phái, đạp bao nhiêu chướng ngại. Kể từ trước đến năm 1939, Ngôi Sao của Đức Ngài càng sáng tỏ, uy tín gia tăng trong toàn Đạo, nhờ thế mà công cuộc tổ chức chấn hưng nền Đạo đặt trên nền tảng vững chắc.

***

Những năm trước Đệ Nhị Thế Chiến thỉnh thoảng xảy ra những vụ xung đột giữa Quyền Đạo và Quyền Đời. tình thế khủng hoảng mới lại xuất hiện. Sau ngày Quan Toàn Quyền (Remne ROBIN) rời khỏi Đông-Dương (Dl: 13-11-1939) Chánh Quyền Thuộc Địa trở lại tấn công nền Đạo một cách rõ rệt, nhưng nhờ sự can thiệp của Ông Trưởng Thuộc Địa Georges MANDEL, kịp thời chận đứng sự đàn áp trong năm 1940 cho tới giữa năm 1941, nên việc áp chế được châm giảm một lúc.

Thật Vậy, Quyền Hạn của ĐỨC HỘ PHÁP chỉ đóng khung trong Toàn Đạo thuộc Tòa-Thánh Tây-Ninh mà thôi, còn các Chi Phái mà chúng ta đã thấy nẩy nở ra trước đây vẫn ở trong chế độ tự lập tự trị mà ganh hiềm Tòa-Thánh. Sự tranh chấp bất hòa vẫn xảy ra làm cho người ta cảm tưởng rằng: Nền Đạo Cao Đài đang sống trong thời Đại Vô Chánh Phủ, nguyện vọng Thống Nhứt của mọi người không thực hiện được vì những phe nầy chỉ muốn phe kia tùng phục mình, rốt cuộc chẵn có Chi Phái nào chịu nhẫn nhượng cho nhau.

NGUYỆN VỌNG THỐNG NHỨT

N guyện vọng Thống Nhứt được cụ thể hóa từ năm (1933) chung quanh vùng Cầu Kho (Saigon) bằng một cuộc hội nhóm để tìm đất thỏa hiệp gồm những Đạo Hữu có địa vị quan trọng như Ông Phủ VƯƠNG QUANG KỲ, Giáo Sư TRẦN VĂN QUẾ, Ký Giả NGUYỄN PHAN LONG, Hiệu Trưởng ĐOÀN VĂN BẢN, Cựu Hội Đồng Quản Hạt CAO TRIỀU PHÁT, Đốc Phủ Sứ NGUYỄN VĂN KIÊM, Huyện Hàm NGUYỄN VĂN DƯỚC, Chủ Doanh Nghiệp PHAN TRƯỜNG MẠNH, Giám Thị Nhà Ga NGUYỄN VĂN PHÙNG, Thư Ký Sở Mật Thám VÕ VĂN TƯƠNG.

CAO ĐÀI TỔNG HỘI: PHÁI ÔNG NGUYỄN PHAN-LONG

Ba Năm sau, vào năm 1936, Phái Cao Đài Tổng Hội, tự phát xuất một cuộc vận động thống nhứt các Chi Phái.

Do Một bài Thánh Giáo, Nhóm Cao Đài Tổng Hội tiếp xúc các Chi phái, ra lịnh cho Ông Giáo Lãnh NGUYỄN VĂN HIÊN, thuộc phái CHƠN MINH LÝ (Tòa Thánh Trung Giang), phải giao liên với Ông ĐOÀN VĂN BẢN, Thuộc Thánh Thất Cầu Kho và Ông CAO TRIỀU PHÁT, Chưởng Pháp Cai Quản Thánh Thất “CAO THƯỢNG BỬU TÒA” (Tòa Thánh Hậu Giang) song không đi đến Thống Nhứt được, mặc dầu trong mấy năm dài, các Chi Phái vẫn chịu khó và cố tâm tìm phương dung hợp .

***

Ông NGUYỄN PHAN LONG, lấy tư cách Hội Đồng Quản Hạt làm Cố Vấn nền Tôn Giáo, can-thiệp với Quan Thống Đốc (KRAUTHSIMER) xin mở cửa lại số 92 cái Thánh-Thất đặt dưới quyền Cai Quản của Ông “PHÓ GIÁO LÃNH” NGUYỄN NGỌC TƯƠNG, lúc Ông đang cầm quyền Chánh Phối Sư, Quyền Đầu Sư đứng tên làm chủ tất cả các Thánh-Thất thuộc Tòa-Thánh Tây-Ninh, rồi xảy ra các cuộc tranh chấp cho tới ngày ông rút về Bến Tre.

Ông NGUYỄN PHAN LONG cảm nghỉ rằng với uy thế ông đã tạo, và giúp đỡ nhiều Đạo Hữu bấy lâu nay Ông có thể thực hiện được công tác liên hòa rộng rải chung quanh ông, có phải chăng nhờ thế mà ông được cử làm Chủ Tịch của “CAO-ĐÀI TỔNG-HỘI”?

Về việc Ông xin giao trả các Thánh-Thất, Ông chỉ thành công một phần nào đó thôi, còn những Thánh-Thất thuộc về Tòa-Thánh Tây-Ninh, thì vẫn đứng ngoài vòng ảnh hưởng ấy.

Trong Tập San CAO-ĐÀI GIÁO LÝ, Số Noel (1950) Trang 85 với Tựa đề “TÒA-THÁNH TÂY-NINH KHÔNG THỪA NHẬN” có một đoạn viết như sau :

“Nhờ sự kiên trì nhẫn nại với bao nhiêu kinh nghiệm rút rỉa ngoài đời, với sự tế nhị trong trường ngoại giao “Ông NGUYỄN PHAN LONG” đã qui tựu một số cộng sự viên trung thành và tận tụy, sau một thời gian tương đối ngắn ngũi, nhiều chi phái tập trung lại chung quanh ông, thành lập “TRUNG TÂM CAO-ĐÀI HUYNH ĐỆ” mà Giáo Lý chỉ đứng vững với những bài phiên luận suôn.

“Dưới quyền điều-khiển của Ông, sau ba năm nổ lực, nhóm nầy truyền bá Giáo Lý Cao-Đài ra tới Miền Trung Việt. Đà Nẵng, Tam Quan và khóa vòng hoạt động, với 12 Trụ Sở làm chi nhánh gọi là “LONG-VÂN CHI-HỘI” nơi nhóm hợp để tìm phương thống nhứt.

“Năm Mậu Dần (1938) nhóm Tín Đồ Cầu Kho (Sai Gòn) có thiện- chí tổ chức “Lễ kỷ niệm ngày thành Đạo” dưới quyền Chủ Tọa của “CAO-ĐÀI TỔNG-HỘI” nhân-dịp nầy chư Đạo Hữu các nơi Bắc, Trung, Nam, Cao-Miên, và Ai-Lao, được mời về nhóm họp một phiên họp khoán Đại Hội Nghị để giải quyết vấn đề thống nhất tinh thần và Đại Đồng Giáo Lý. Số tín đồ tựu họp khá đông, các bài thuyết giáo được phát thanh đầy đủ.”

Tuy sự hoạt Động có phần chu đáo, nhưng không làm tổn-thương nổi uy thế của Tòa-Thánh Tây-Ninh.

Cũng trong năm nầy (1938), sau kỳ Đại Hội một thời gian ngắn, có lịnh Thiêng Liêng do nơi “CAO-ĐÀI TỔNG-HỘI” ban hành tuyên bố giải tán tất cả 12 Chi Hội LONG-VÂN.

Sự tuyên bố nầy gợi ra hai nhận định chính xác :

– Một mặt cuộc tranh đấu của LONG-VÂN-HỘI chỉ đe dọa quyền hành của HỘI-THÁNH TÂY-NINH nhưng không lay chuyển nổi.

Hậu quả liền theo đó là trong đêm mùng 8 rạng mùng 9 tháng giêng năm Mậu Dần (DL: 7-8 Pe1vrier 1938), một bài Thánh Giáo xác nhận, ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC là : CHƯỞNG QUẢN NHỊ HỮU HÌNH ĐÀI HIỆP-THIÊN VÀ CỬU-TRÙNG, làm cho gia tăng cương vị của ĐỨC HỘ PHÁP. Chung qui sự thất bại hoàn toàn của Phái Ông NGUYỄN PHAN LONG đã rõ rệt.

Mặc khác Tập San “CAO-ĐÀI GIÁO-LÝ” Số 8 Tháng 6 và tháng 7 Năm 1949, nơi trang 339 có nhắc:

“Cuộc hội họp của 12 Chi hội LONG-VÂN có tánh cách quá khích với ảo vọng chống đối Tòa-Thánh Tây-Ninh khiến các nhà đương quyền chú ý theo dõi và nghi ngờ sẽ có rối loạn. Vì lẽ ấy một số Trụ Sở bị Chánh Quyền đóng cửa, một số tín đồ bị bắt điều tra.”

***

Ngày 23 Tháng 7 năm Canh Thìn (Dl: 26-8-1940), có 16 Thánh-Thất, trong số 79 còn lại, kể cả Đền-Thánh Tây-Ninh cũng bị đóng cửa theo lịnh của Chánh Phủ vì không có giấy phép. Ngoài ra các nhà Sở Phước Thiện cũng bị tình nghi là nơi làm quốc sự của Đạo Cao-Đài, nơi nào bị đóng cửa đều bị khám xét cẩn mật, nhứt là tại Tòa-Thánh Tây-Ninh, Chánh Quyền tịch thâu các sổ sách chứng minh sự hoạt động của nền Đạo kể sau đây :

Bộ Đạo Bản Đồ Tổ Chức, Sổ Nhật ký Công Văn, gởi đi và nhận được, Giấy Thông Hành đi Hành Đạo, Phúc Trình có định kỳ 3 Tháng, 6 Tháng và hằng năm, dự án, thâu xuất, sổ kết toán, Châu Tri, Bố Cáo, Huấn Lịnh, Nghị Định, Tờ Thuyên Bổ Chức Sắc, Tờ Ban Khen, Nghị Quyết trục Xuất (vụ Ông Tương, Ông Trang), Bản án các phiên xử Tòa Đạo (Pháp Chánh) v.v…

Các Công Văn đều có đóng dấu chứng minh đó là những Văn Kiện Đạo làm Chánh Trị đề theo kiểu mẫu của Nhà Nước, Đây là một Tổ Chức Quốc Sự núp dưới bóng Đạo để mưu đồ Lập Quốc đợi thời cơ thay thế Chánh Quyền Pháp tại Đông Dương.

Lẻ dĩ nhiên Cơ Quan Hành Chánh Đạo bị ngưng trệ.

Toàn Đạo phẫn uất lãnh đạm với hành tàng của Chánh Quyền, nhưng với kiên nhẫn khép mình trong vòng trật tự an ninh.

Vài tháng sau, các phong trào cách mạng Chống Pháp nổi lên khắp xứ, trong khoản tháng 10 tháng 11 Năm 1940, trong vùng Lạng-Sơn Cao-Bằng, trong giải Núi Đông-Triều ngoài Bắc-Việt. Tại Miền-Nam Việt Nam , Cuộc Cách-Mạng Chống Pháp cũng nổi lên tại các Tỉnh Tân An, Mỹ Tho, Cao Lãnh. Lần thứ nhứt Dân Thôn quê dựng cờ đỏ sao vàng của Cộng-Sản.

Tháng Giêng Năm 1941, ở Miền-Bắc Trung-Việt, khắp mọi nơi nhứt là tại vùng đồ lương dân tâm quá xao xuyến đòi hỏi quyền tự do làm cho Chánh Quyền Pháp phải sử dụng lối đàn áp khắt khe và bắt bớ để vãn hồi an ninh công cộng.

Đối với Chánh Quyền toàn thể Tín Đồ trung thành với Tòa-Thánh Tây-Ninh đều xa lánh những thành phần phá rối Chánh-Phủ, Họ không quên lưu ý Chánh Quyền rằng hễ nơi nào có Đạo Cao-Đài thì Cộng Sàn không phương lan tràn đến được.

Những hoạt động Chánh Trị của các phong trào cứ tiếp diễn, trong những tin tức thâu thập được, đã có đề cập đến một số nhân vật ở Tỉnh Tây-Ninh.

Quan Toàn Quyền liền áp dụng biện pháp cứng rắn hy vọng chấm dứt các hành động mà Ông cho rằng phá rối cuộc trị an công cộng.

CỦA ĐẠO CAO-ĐÀI ĐỨC HỘ PHÁP THỌ NẠN NĂM VỊ CHỨC SẮC THIÊN PHONG BỊ PHÁP BẮT LƯU ĐÀY

N gày nùng 4 tháng 6 Nhuần, Năm Tân-Tỵ (Dl: 27-7-1941). ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC Bị nhà cầm quyền Pháp bắt đày đi Sơn La canh giữ nghiêm nhặt tại mỗi nơi bí mật để chờ lịnh phán quyết cuối cùng, Những Đạo Hữu trung thành và thân nhân cố gắng chạy các nơi dò la tin tức, song không được kết quả chi.

Đến Ngày 11 Tháng 7 Năm Tân-Tỵ (Dl: 2-9-1941), Năm Vị Chức Sắc Đại Thiên Phong sau đây cũng bị bắt chung số phận và dẫn giải đến Djiring là một Quận nhỏ ở vùng Cao Nguyên Miền Nam Trung Việt:

1-Ông, KHAI PHÁP TRẦN DUY NGHĨA, Thời Quân Hiệp Thiên Đài (Phẩm nầy tương đương với Đầu Sư Cửu Trùng Đài) bị bắt tại Saigon.

2-Ông TRẦN VĂN PHẤN, Giáo Sư THÁI PHẤN THANH) Chủ Trưởng Hội-Thánh Ngoại-Giáo Cao Đài tại Nam Vang, bị Bắt tại Thủ Đô nầy.

3- Ông NGUYỄN THẾ TRỌNG, Ngọc Chánh Phối Sư bị bắt tại Tòa-Thánh Tây-Ninh.

4- Ông THÁI VĂN GẤM (Giáo Sư THÁI GẤM THANH), liễu Đạo tại Karianga MADAGACAR, Ngày 20 tháng 8 Năm Nhâm Ngọ (29-9-1942).

5- Ông ĐỖ QUANG HIỂN, Sĩ Tải Hiệp Thiên Đài, Bí Thư của ĐỨC HỘ PHÁP, tử tại Karianga, ngày 14 Tháng 4 Năm 1943 ( Al- Ngày 10 Tháng 3 Năm Quí-Mùi).

Ba Ông, TRỌNG, GẤM và HIỂN, đều bị bắt tại Tòa-Thánh.

Vị Chức sắc thứ 6 là Ông ĐẶNG TRUNG CHỮ, Chánh Phối Sư tránh khỏi sự truy nã của Chánh Quyền Pháp suốt thời gian Đệ Nhị Thế Chiến, Ông tham gia việc Đạo một cách miễn cưỡng và cuối cùng Ông bị Việt Minh ám sát tạ Phú Lâm (Chợ-Lớn) vào tháng 5 Dương Lịch 1947.

Ngày rằm tháng 7 Năm Tân-Tỵ (dl: 6-9-1941), Sáu Vị Chức-Sắc Đại Thiên Phong còn có mặt tại Saigon, cũng trong ngày nầy, tất cả đều bi đưa một cách bí mật xuống một chiếc Tàu “S/S Cao TOURANE” tàu nhổ neo tách bến và từ đây, họ phải chịu số phận Tù-Đày.

Ngày 30-9-1941 (Âm Lịch Mùng 10 Tháng 8 năm Tân-Tỵ), 6 Vị Đại Thiên phong đến (TAMATAVE) để rồi 4 hôm sau tàu cập bến (Diego Suarez) và bị giam vào khám ở thị trấn nầy được 4 ngày, tiếp theo 4 ngày nữa ở tại (ANALALAVA) Nơi đây một chiếc tàu Xà-Lúp chở 6 vị đến (MOSSI-LEVE) để câu lưu 8 tháng.

Đến năn 1943 và 1944, tất cả đều sống trong cảnh lao tù tại (KACIANGO), là nơi mà hai Ông THÁI VĂN GẤM và ĐỔ QUANG HIỂN từ trần vì bịnh.

Năm 1945, 4 vị còn sống sót được dời đến địa điểm (STRONDIEULA)

Năm 1946, đi (BELTROKA) Ở Phía Nam đảo MADAGACAR 4 tháng.

Từ tháng 7 Dương Lịch Năm 1946 họ bị di chuyển đến thị trấn (ANTSIRABE) qua Thủ Đô (TANANARIVE), Sau rốt đến hải cảng (TAMATAVE), là nơi mà tất cả được chờ ngày hồi hương.

ĐỨC HỘ PHÁP, được hồi hương trước và tới Saigon ngày 26 tháng 7 năm Bính Tuất (dl: 22-08-1946).

Sau lại 3 vị Chức Sắc còn sống sót là Khai Pháp TRẦN DUY NGHĨA, Ngọc Chánh Phối Sư NGUYỄN THẾ TRỌNG và Giáo Sư TRẦN VĂN PHẤN, được một chiếc hạm Pháp đưa về đến Saigon ngày 29-11-1946.

***

Nhưng giờ đây chúng ta hãy xem lại tại Việt Nam, cái tin vang dội và những cuộc bắt bớ quan trọng kể trên đã phát sanh và cảm giác như thế nào mà hậu quả của nó ra sao?

Cái tin Đức Hộ Pháp PHẠM CÔNG TẮC bị bắt gây náo loạn kinh khủng và gieo rắc một mối hổn loạn vô cùng rộng giữa các giới Tín Đồ CAO ĐÀI GIÁO, toàn Đạo đều nhận định rằng:

Tiền Đồ của Đại Đạo Cao-Đài đã đến hồi quá ư đen tối, một Chức Sắc hiện diện tại Tòa-Thánh Tây-Ninh lúc nầy càng đắn đo với số phận, lo ngại về An Ninh bản thân mình hơn la lo lắng vận mạng của Đạo, họ liền rời khỏi Thánh-Địa, những Chức-Sắc còn ở lại có tinh thần can đảm hơn, Quyết định tiếp tục cầm giềng mối Đạo, và gìn giữ tài sản của Hội-Thánh.

A. THÁI ĐỘ CỦA CHƯ CHỨC SẮC HIỆN DIỆN TẠI TÒA-THÁNH

Đ ể được an toàn trong tình thế khẩn trương các Chức Sắc hiện diện nơi Tòa-Thánh, bèn hội thảo một kế hoạch như sau:

Trước tiên là Không nhìn nhận Quyền Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài của ĐỨC HỘ PHÁP để biện minh với Chánh Phủ Pháp, là số Chức Sắc hiện diện không theo đường lối chánh trị của Đức Hộ Pháp.

Kế tiếp là thành lập quyền Quản Trị duy nhứt giao cho ba vị Chánh Phối Sư toàn quyền điều khiển nền Đạo. (Hiệp Thiên Đài không được đề cập đến, có nghĩa là đặt dưới quyển điều khiển của Hội-Thánh Cửu Trùng Đài).

Ngày 16 Tháng 6 nhuần Tân Tỵ (Dl: 8-8-1941) trước sự hiện diện của hai vị Chức Sắc Hiệp Thiên Đài, là Luật Sự PHAN HỮU PHƯỚC và VÕ VĂN NHƠN, Hội Thánh Cửu Trùng Đài hội nhóm một phiên họp bất thường. Ông Chánh Phối Sư Ngọc Trọng Thanh trình ra giữa Hội một bản Vi Bằng đánh máy sẵn, trong ấy thay vì ghi rõ sự thật “ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC bị Chánh Quyền Pháp bắt đem đi biệt tích. Lại bóp méo ghi rằng: “Nghĩ vì Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc vô cớ vắng mặt tại TÒA-THÁNH….”

Thế là Toàn Hội đồng Ký Tên, nhưng liền sau đó có một phản ứng mãnh liệt của hai vị Luật Sự Hiệp Thiên Đài.

Nhận thấy có ý đồ mờ ám vi phạm Luật Pháp Chơn Truyền của nền Đạo nên hai vị Luật Sự, nhơn danh Chức Sắc Hiệp Thiên Đài, yêu cầu Hội-Thánh cho mượn bảng Vi-Bằng để điều chỉnh những chỗ Vi Hiến Nhưng Ông Ngọc Chánh Phối Sư Ngọc Trọng Thanh không cho.

Sau những lời qua tiếng lại và cũng vì nóng lòng biết rõ mưu đồ còn dự tính làm hại đến Thanh Danh Hội-Thánh, nên Luật Sự VÕ VĂN NHƠN với tay lên bàn lấy Vi-Bằng (4 bản) xé tan nát.

Thế là Kế Hoạch của Hội-Thánh bị đổ vỡ.

***

Ngày 11 Tháng 7 Năm Tân Tỵ (2-9-1941) có tin Chư Vị Thiên Phong bị bắt, bị Chánh Quyền Pháp dẫn đi biệt tích, vì tình thế quá ư khẩn trương, nên Hội-Thánh Nghị Quyết giao vận mạng của nền Đạo cho Ông Quản Lý Hòa-Viện là Giáo-Sư THƯỢNG TRÍ THANH (Nguyễn Văn Trí) Thay mạt Hội-Thánh Cầm Quyền Đạo Tại Tòa-Thánh.

Ngày 6 Tháng 8 Năm Tân-Tỵ (26-9-1941) Quan Tham-Biện Chủ Tỉnh Tây-Ninh, và Ông Chủ Quận Châu Thành Tây Ninh LÊ VĂN HUÊ, đến Tòa-Thánh Giáp mặt Ông Giáo Sư TRÍ, và hẹn cho Ông 24 tiếng đồng hồ phải rời khỏi Tòa-Thánh đặng qua ngày hôm sau có một trung đoàn quân sĩ Pháp đến chiếm đóng. Một sự hổn loạn mới mẻ kinh hoàng hơn tiếp diễn. Chức Sắc, Chức Việc và bao nhiêu Tín Đồ Nam, Nữ, lại phải một phen nữa tức cấp rời khỏi Tòa-Thánh để tìm nơi trú ẩn.

Từ ngày ĐỨC HỘ PHÁP bị bắt đi biệt tích và biệt tin tức đến nay có hơn một tháng, Chư Chức Sắc Đại Thiên Phong, còn lại công cử nhau thay phiên cầm giềng mối Đạo. Mặc dầu các phiên nhóm không được hợp với Pháp Luật Chơn truyền Đại Đạo, Nhà Cầm Quyền Pháp tiếp tục bắt bớ một cách phi lý chẳng có lịnh của Biện Lý hay Tòa Án nào cả. Các cuộc bắt bớ khám xét, đóng cửa các Thánh Thất, các cơ sở Phước Thiện ngày càng gia tăng, cho đến việc chiếm đóng TÒA-THÁNH, là những hành tàng áp bức Đạo đến mức tột độ, giữa tình trạng nghiêm trọng như thế. Lịch Sử ĐẠO CAO ĐÀI đang phải gặp thời kỳ Đau đớn nhứt, đen tối nhứt, kể từ ngày Khai Đạo cho đến nay.

Sự thật tại vùng TÒA-THÁNH TÂY-NINH lúc bấy giờ, không một ai nghe thấy Chức Sắc đương cầm quyền Hội-Thánh bí mật nhóm họp nhau để bàn thảo kế hoạch, đối phó với tình thế, mà trái lại im hơi lặng tiếng, chẳng có thái độ chi bày giải với Chánh Quyền Pháp, khả dĩ khiến họ phải suy nghĩ: đó là một phản ứng của CAO-ĐÀI, mặc dầu là một phản ứng tiêu cực.

Bốn vị Chức Sắc: PHƯỚC, NHƠN, TÝ, HOÀI, đồng lập thệ trung thành với đường lối của ĐỨC HỘ PHÁP Phạm Công Tắc, rồi hai Ông Lễ Sanh Tý và Hoài bận việc phải về Long Xuyên và Rạch Giá, mấy tuần qua, hai vị Luật Sự Phước và Nhơn phải đi ẩn dật một nơi xa Tòa-Thánh, dự thảo những Công Văn kể sau:

A/- Thông Tri báo tin cho toàn Đạo Cao Đài, ở Đông Dương (Nam, Trung, Bắc, Cao-Miên và Ai-Lao) rõ biết ngày giờ ĐỨC HỘ PHÁP Giáo Chủ Đạo Cao Đài, ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ ĐỘ, bị nhà đương quyền Pháp bắc vô cớ và các tin tức quan trọng vừa xảy ra tại Tòa-Thánh Tây-Ninh. Xin lưu ý Toàn Đạo hãy bình tỉnh theo dõi tình hình Đạo đang lúc biến thiên.

B/- Thơ gởi cho Bộ Tư Lệnh Nhựt-Bổn vừa đóng Tổng Hành Dinh tại Phòng Thương Mãi Saigon, để báo tin về cách đối xử của Chánh Phủ Pháp với Đạo Cao Đài, Đồng thời yêu cầu Bộ Tư Lệnh Nhựt có nghĩa vụ làm sáng tỏ vấn đề tại sao? ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC Giáo Chủ Đạo Cao Đài bị bắt cóc.

D/-Nhiều Văn Thư gởi cho Toàn Quyền Đông Dương là Ông Decoux Quan Thống Đốc Nam Kỳ, các quan Khâm Sứ Bảo Hộ, Giám- Đốc Các Sở Mật Thám Trung, Nam, Bắc Việt Nam, Lào, và Cao Miên, đại ý thẳng thắng và cương quyết phàn kháng Chánh Sách Thuộc Địa hũ lậu của Thực Dân Pháp tại Đông-Dương, đã vô tình làm mất lòng Dân Bổn Xứ, vi phạm nặng nề sự tự do tín ngưỡng và Hành Đạo của Tôn Giáo Cao Đài, gây phẫn uất trong quần chúng.

Lại tố cáo chế độ hèn nhát của các nhà đương quyền thay mặt Chánh Quốc Pháp, cũng bôi lọ nền văn minh của Thiên Chúa Giáo tại Đông Nam Á.

Sự bắt cóc ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, Giáo Chủ Cao Đài Giáo và các Chức Sắc Thiên Phong, đã ghi vào lịch sử nhơn loại một vết đen tối vì không chịu tuyên-bố lý do, không đem họ ra trước pháp đình để ánh sáng công lý soi được tỏ rạng hầu phá tan các sự mờ ám để trấn an dân chúng, đồng thời giữ danh dự và thể thống cho nước Pháp.

E/- Gởi cho các báo chí và một số nhân sĩ ái quốc trong nước, mỗi nơi một Hồ Sơ gồm các bản văn của hai vị Luật Sự Hiệp Thiên Đài, đã gởi cho các nhà cầm quyền Pháp, Bộ Tham Mưu Quân Đội Nhự Bổn, Lãnh Sự Ngoại Quốc để báo động và yêu cầu can thiệp với Chánh Quyền Pháp.

Hai Vị Luật Sự PHAN HỮU PHƯỚC và VÕ VĂN NHƠN còn phái nhiều tín hữu trung kiên mang các Hồ Sơ trên, đi khắp nơi tuyên truyền các giới Đạo và Đời, với mục đích gây phong trào ” Phản kháng bất bạo động” gây phản ứng khắp xứ, góp ý thức về một cuộc cách mạng chống chánh quyền Pháp đang bột phát.

***

1)- Lý do bắt ĐỨC HỘ PHÁP, hiện câu lưu tại đâu để cho toàn Đạo Hữu được rõ.

2)- ĐỨC HỘ-PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, Giáo Chủ Cao Đài Giáo ngày nay có phải chịu số phận như Đức Chúa JESUS CHRIST ngày xưa chăng?

3)- Xin Chánh Phủ Vui Lòng cho phép hai vị Luật Sự Hiệp Thiên Đài là: PHAN HỮU PHƯỚC và VÕ VĂN NHƠN, được theo Đức Giáo Chủ hầu giúp đỡ Ngài trong buổi đồ lưu.

Đúng Ngày giờ hứa hẹn, hai vị Luật Sự đến Sở Mật Thám Trung Ương, được ông Giám Đốc tiếp tại Văn Phòng của Ông trên lầu (Lúc ra đi hai vị Luật Sự có cho Ông Giáo Thiện Gấm tháp tùng, nhưng không để ông vào Văn Phòng mà Ông chỉ có phận sự ở ngoài đường, cách xa 100 mét để ngóng tin tức mà thôi.

Vừa bước lên lầu, thì gặp Ông Phó Giám Đốc một người Pháp râu rìa to tướng còn trẻ, với nét mặt hầm hằm sát khí, trợn mắt đe dọa Luật Sự Nhơn (đang là một Thanh Niên nhỏ tuổi hơn Ông Phước), Nhơn vẫn bình tỉnh thẳng thắng lễ độ cà cương nghị đáp ứng, độ 15 phút sau thì Ông Chánh Giám Đốc, tuổi tác hơn ông Phó, với tư-cách nhã nhặn, ôn hòa và lịch sự, mời hai Ông Luật Sự ngồi đối diện, rồi ông chậm rãi khởi đầu:

“- Chúng tôi có tiếp được tất cả Văn Thư của Nhị Vị Luật Sự và hiểu được Tâm Đạo chánh đáng của Nhị Vị, chỉ vì lý do đặc biệt và Chánh trị buổi nầy mà Chánh Phủ Pháp phải đem giữ ĐỨC HỘ PHÁP ở một nơi an toàn, vì có lịnh bề trên không được tiết lộ, song Đức Ngài được đối đãi tử tế, sức khỏe được chăm sóc chu đáo, Chánh Phủ Pháp không bao giờ hà khắc đối với Ngài. Xin Nhị Vị Chức Sắc cứ yên tâm mà vui lòng về cho toàn bổn Đạo được rõ như vậy. Nhị Vị cứ về Hành Đạo tự do như từ trước đến nay, chúng tôi chỉ khuyên trong Đạo chẳng nên làm điều chi bạo động, làm mất trật tự an ninh của Chánh Phủ mà thôi.

“- Còn việc hai ông muốn xin theo ĐỨC HỘ PHÁP, thì không được vì chúng tôi được lịnh thượng cấp, chỉ mời một mình ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC mà thôi. Vậy hai Ông cứ an tâm vui lòng trở về Tòa Thánh , cho toàn Đạo được rõ.

Cuộc tiếp xúc với Ông Giám Đốc sở mật thám Trung Ương thay mặt chánh quyền Pháp kéo dài đến 1 giờ đồng hồ, để nhiều lời an ủi vỗ về, tỏ thái độ một nhà chánh trị khôn khéo.

Hai Vị Luật Sự PHƯỚC và NHƠN về TÒA THÁNH, liền viết Thông Tri tường thuật cuộc tiếp xúc với Chánh Phủ cho toàn Đạo được rõ như trên, song không quên nhấn mạnh sự bất mãn về tâm lý của toàn Đạo đối với hành động bắt ĐỨC HỘ PHÁP. Hai Ông nhứt định phải tìm cho ra chỗ giam ĐỨC HỘ PHÁP, liền đi đến chi nhánh tòa soạn Báo (ASAHI) của Nhựt Bổn tại Saigon để giao cho họ một số Văn Thơ đã gởi cho các nhà đương quyền Pháp và Ngoại Quốc với tư cách thông tin, trước là làm quen, rồi để lời nhờ Ban Giám Đốc Tòa Soạn nầy giới thiệu qua. Bộ Tư Lệnh Quân Đội Nhựt vừa đóng Tổng Hành Dinh, tại Phòng Thương Mãi Bến Chương Dương Saigon, là một khu biệt lập, Chung Quanh có Biện Tây (Cảnh Sát Pháp tại Đô Thành) Ngày đêm canh gát nghiêm nhặt để ngăn ngừa dân chúng đi lại giao dịch với Nhựt Bổn.

Hai Vị Luật Sự PHƯỚC và NHƠN, mặc Tiểu Phục Hiệp Thiên Đài, công nhiên lướt qua hang rào Cảnh Sát, đi thẳng đến Tổng Hành Dinh Nhựt, nhờ có sự Giới Thiệu của Ban Giám Đốc Chi Nhánh của Tòa soan Nhựt Báo ASAHI hai vị Luật Sự được tiếp đón ngay và mời thẳng lên Văn Phòng trên lầu.

Ông Đại Tá Tư Lịnh Chỉ Huy Quân Đội Nhựt Hoàng tại Miền Nam rất lưu ý các Văn Thư của Hai Ông PHƯỚC và NHƠN, Nghiêm chỉnh trao đổi ý kiến về thời cuộc. Cuối cùng Đại Tá trao cho Nhị Vị Luật Sự một bản tin tức tối mật của Ban Gián Điệp Nhựt Phủ Toàn Quyền báo cáo cho ông được rõ tỉ mỉ về vụ Chánh Phủ Pháp Bắt ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, và 5 Vị Đại Thiên Phong của CAO ĐÀI TÒA-THÁNH TÂY-NINH. Bản báo-cáo như sau :

“Do lịnh tối cao của Toàn Quyền Đông-Dương là Ông DECOUX, ra lịnh cho sở mật thám Saigon bắt Ông PHẠM CÔNG TẮC, vì lý do tình nghi làm Quốc Sự có nguy hại đến nền cai trị của Chánh Quyền Pháp, Lúc mới bị bắt, Ông TẮC đươc đưa một cách bí mật đến Sơn-La, (Bắc-Kỳ) để câu lưu và canh chừng nghiêm nhặt, sau một tháng câu lưu tại (Sơn-La), là một địa điểm đầy rừng thiên nước độc, khí hậu rất xấu thuộc vùng sơn cước thượng du Bắc Việt, Ông PHẠM CÔNG TẮC được di chuyển trở về Saigon, Chánh Quyền Pháp dấu kính Ông ở dưới một chiếc Sà Lang (Chaland) để chờ bắt thêm 5 vị Chức Sắc yếu trọng của Đạo Cao Đài là các Ông: TRẦN DUY NGHĨA, NGUYỄN THẾ TRỌNG, TRẦN VĂN PHẤN, THÁI VĂN GẤM, và ĐỖ QUANG HIỂN, để rồi sang qua một chiếc tàu lớn, chở 6 Ông qua (MADAGASCAR), câu lưu họ nơi đó một thời gian vô hạn định…”.

Xem bản tin tối mật xong, hai vị Luật-Sự PHƯỚC và NHƠN, yêu cầu Bộ Tư Lệnh Nhựt can thiệp giúp Đạo… thì Đại Tá Quân Đội Nhựt đáp đại cương rằng:

“Chánh Phủ Nhựt-Bổn mới vừa ký Hiệp Ước với Chánh Phủ Pháp tại Đông Dương về việc Quân Sự mà thôi, còn việc bắt ĐỨC HỘ PHÁP, các Chức Sắc Cao Cấp khác của Đạo thì thuộc nội bộ Chánh Trị của Pháp, Theo nguyên tắc ký kết thì Bộ Tư Lệnh Quân Đội Nhựt chúng tôi không có quyền can thiệp. Tuy nhiên, chúng tôi rất lưu ý theo dõi, hiện giờ chúng tôi xin Quí Ông thông cảm và ẩn nhẫn chờ thời cơ thuận tiện, vì quyền hạn chúng tôi chưa cho phép hành động khác hơn, Và chúng tôi xin cám ơn về tin tức quan trọng nấy mà hai Ông Luật Sự có nhã ý cho chúng tôi được rõ….Chúng tôi mong được có sự cộng tác mật thiết giữa chúng ta, Nhựt-Bổn và Việt-Nam vì quyền lợi chung của giống da vàng trong khối Đại-Đông-Á.”

Cuộc Hội Đàm với Đại Tá Tư Lệnh Quân Đội Nhựt Hoàng ở Miền Nam kéo dài hai tiếng đồng hồ trong bầu không khí tín cẩn và thân mật.

***

Từ giả Bộ Tư Lệnh Nhựt Bổn, hai vị Luật Sự an nhiên vượt qua hàng rào Cảnh Sát Pháp để trở về Tòa Thánh báo cáo mọi tin tức đã thâu thập được về phía Chánh Quyền Pháp cũng như tin tối mật của Bộ Tư Lệnh Quân Đội Nhựt cho Gia Đình ĐỨC HỘ PHÁP và số Chức Sắc còn hiện diện tại Tòa-Thánh biết. Song rất ít người tin rằng những thành quả truy tìm tin ĐỨC HỘ PHÁP và 5 vị Đại Thiên Phong bị bắt biệt tâm tích cho đến nay lại được hai vị Luật Sự PHƯỚC và NHƠN Khám phá ra sự thật.

E Ngại về các hoạt động cương trực của hai vị luât sự sẽ mang lại hậu quả nguy hiểm bất an cho Hội Thánh, và rất căm phẫn về việc Luật Sự NHƠN xé vi bằng phiên nhóm Ngày 16 tháng 6 nhuần Tân-Tỵ vừa rồi, nên Ông Giáo Sư THƯỢNG TRÍ THANH, đương kiêm Quản Lý Hòa-Viện, vừa được chư Chức Sắc Nam, Nữ còn lại Ở Tòa Thánh tôn lên nắm quyền nơi Thánh Địa, Triệu tập một phiên nhóm. Chức sắc Hội Thánh quyết định trục xuất hai vị Luật Sự PHAN HỮU PHƯỚC và VÕ VĂN NHƠN ra khỏi ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ. Nghị định trục xuất nầy ban hành trong toàn đạo khắp cả Nam, Trung, Bắc và đệ trình cho chánh quyền Pháp tường tri, cốt yếu không nhìn nhận hai Luật Sự Hiệp Thiên Đài chẳng chịu tùng quyền Hội Thánh nên Tòa Thánh Tây Ninh không chịu trách nhiệm về các hoạt động của PHƯỚC và NHƠN.

Đã từ lâu hai vị Luật Sự nầy ra tạm trú ngoài Châu Thành Thánh Địa để phản đối thái độ bất hảo của Chánh Quyền Pháp tại Đông Dương. Sau khi gởi xong các Văn Kiện đi các nơi và tìm ra tin tức ĐỨC HỘ PHÁP và 5 Vị Đại Thiên Phong bị bắt đày lưu nơi hải ngoại rồi. Khi Hai Ông PHƯỚC VÀ NHƠN trở lại lập Văn Phòng tại Ngoại Ô Tòa Thánh nơi nhà Ông Phó Quản Lý Công Viện Phước Thiện là Ông HUỲNH VĂN LIÊN, để tiếp-tục công khai tiến hành việc Đạo.

Nhận thấy công việc hoạt động của PHƯỚC và NHƠN, gây cảnh hưởng bất lợi cho sự cai trị của Thực Dân. Một mặt Chức Sắc Hội Thánh không công nhận, một mặt chánh quyền theo dõi hằng ngày, thấy số Chức Việc, Đạo Hữu trung thành với ĐỨC HỘ PHÁP, tới lui hưởng ứng mãnh liệt, Ông Chánh Chủ Tỉnh Tây Ninh ra lịnh cho Ông Quan Chủ Quận Châu Thành LÂM VĂN HUÊ mời hai vị đến Văn Phòng rồi tống giam vào khám (nơi mà Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung-Nhựt bị giam 48 tiếng đồng hồ hồi năm 1934), giam đến ngày thứ ba, Ông Phó Chủ Tỉnh cho mời hai vị Luật Sự đến Văn Phòng Tòa Hành Chánh Tỉnh để phủ hủy và cũng để đe dọa (Bởi hai vị Luật Sự cũng gởi cho Chủ Tỉnh Tây Ninh và Hội Thánh tất cả Hồ Sơ Công Văn đả gởi đi các nơi như kể trên để tường-tri.

Được trả tự do, hai vị Luật Sự PHƯỚC và NHƠN không chịu trở về Tòa-Thánh, định ở lại đòi Chánh Quyền cấp giấy tống giam và ghi rõ lý do bắt bớ và giấy trả tự do hợp pháp. Giằng co mãi, biết rằng không thâu thập được kết quả nên hai vị Luật Sự đành từ giả với lời yêu cầu: “Chánh Quyền nên làm việc đúng đắng, tôn trọng tự do tín ngưỡng đã ban hành đối với Đạo Cao Đài”, rồi trở về Văn Phòng làm việc Đạo theo chương trình dự liệu.

Cương quyết đem hết tất cả khả năng để chống lại sự kinh hải do Chánh Quyền Pháp nhẫn tâm đàn áp, gieo hoang mang cho toàn Đạo, Khủng bố toàn dân, hai vị Luật Sự thản nhiên tiếp tục hoạt động, càng ngày càng có thêm sự hưởng ứng, của các phần tử trung kiên, bất khuất ở các tỉnh về, Văn Phòng của Luật Sự lãnh công tác, công việc vừa bộc phát, như ngọn lửa mới vừa nhen nhúm thì Chánh Quyền Pháp lại dập tắc ngay.

Ngày 15 tháng 12 Năm 1941 (Nhuần 25/10 Tân-Tỵ) Hai vị Luật Sự PHAN HỮU PHƯỚC và VÕ VĂN NHƠN, bị Sở Mật Thám Saigon đến bao vây Văn Phòng tại Ngoại Ô Thánh Địa lúc 4 giờ sáng, tịch thâu tất cả tài liệu và bắt đi biệt tích, Ông Giáo-Sư THƯỢNG TRÍ THANH, đang nắm chủ Quyền Thánh-Địa củng bị bắt một lượt với Phước Nhơn, cả ba bị đem dấu kín trong ba tháng đầu tại Hội -Xuân (thuộc Tỉnh Thanh Hóa) giáp với Ai-Lao. Qua Tết Nguyên Đán Năm Giáp Ngọ (Tháng 2 DL 1942), ba Ông Phước, Nhơn và Trí bị đưa về Nhà Lao Thanh Hóa Tỉnh Lỵ Ở Bắc Trung-Kỳ một tháng, tra tấn lấy khẩu cung xong rồi đem lưu đày tại Sơn-La, hạ tuần tháng 2 Dương Lịch (1945), kế tiếp di chuyển lên Lai Châu một Tỉnh giáp Biên Giới phía Nam Trung-Hoa. Cho đến Thượng tuần tháng 4 (DL: 1945), Lúc nầy Quân Đội Pháp bị Quân Đội Nhựt Bổn đánh bại, phải bỏ xứ Việt-Nam Chạy thoát thân, nên đoàn tù Chánh Trị Phạm gồm đủ các thành phần Đảng phái: Cộng Sản, Quốc Gia, Tôn Giáo, Chống chế độ Phong Kiến… mới được giải thoát tại tỉnh Lai Châu.

Sau vụ Bắt hai vị Luật Sự Phước và Nhơn và Giáo Sư Trí thì còn lại hai vị Giáo Sư Tuốc và Chất mỗi tháng chỉ đi viếng thăm Tòa Thánh Tây Ninh một lần để rồi về quê nhà ôm theo bao nhiêu tủi hận vì đả chứng kiến những cảnh tồi bại, đang phá hoại thuần phong mỹ tục của toàn Đạo đã từng công phu khổ hạnh để xây dựng.

Còn Ông Phối Sư THƯỢNG CHỮ THANH (ĐẶNG TRUNG-CHỮ), là một Chức Sắc Cao Cấp, có nhiệm vụ chánh-thức Giao Dịch với Chánh Phủ điều khiển nền Đạo, thì đào nhiệm đi ẩn trốn rất kín đáo trong Chợ Lớn.

Ngày 21Tháng 12 Năm 1942, mùng 7 tháng giêng năm Nhâm Ngọ Ông ra mặt nhờ xe Ô Tô của Ông Giáo Sư THƯỢNG VINH THANH, (Trần Quan Vinh) đang là một Công Chức tại Nam Vang, nhân dịp tết về Sai-Gòn, rước Ông lên Kim-Biên lánh-nạn, thay vì làm gương mẫu với tinh thần hy sinh phục vụ cho toàn Đạo Hữu đang trông đợi nơi ông, Ông trở lại gieo rắt thêm những sự sợ hải kinh hoàng cho Chư Thiện-Nam Tín Nữ.

Tình hình Chánh Trị càng khẩn trương, Đạo Cao Đài ở Kim Biên, gặp nhiều khó khăn, Ông CHỮ trốn sang vọng các sáu tháng sau khi trờ về Nam Vang.

***

Như thế kể từ Năm 1942 các hoạt động của Đạo Cao Đài đã thật sự ngưng hẳn tại Nam Kỳ, Các Thánh Thất cơ sở Phước Thiện đều bị đóng cửa, Nhân Viên Công Lực Sở Mật Thám, với những điềm chỉ viên săn tin cho Pháp luôn luôn rình rập ngày đêm, Số Thiện Nam, Tín Nữ trung kiên với Đạo muốn cúng kiến thì chỉ thật hành tại tư gia hoặc khi cần thông tin với nhau thì phải hết sức thận trọng và bí mật.

VỚI QUÂN ĐỘI NHỰT ĐẢO CHÁNH PHÁP TRONG ĐÊM 9-3-1945

V ới tin ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, Giáo Chủ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và một số Chức Sắc Đại Thiên Phong đang cầm quyền yếu trọng của Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh bị bắt đi biệt tích, Chánh Phủ Thực Dân Pháp thời ấy đã ngang nhiên vi phạm công khai quyền tự do tín ngưỡng và hành Đạo mà Quan Toàn Quyền ROBIN đã công bố cho Đạo CAO ĐÀI Từ Năm 1934.

Bị đàn áp đến cực độ, nên tinh thần bất khuất của khối Tín Đồ CAO ĐÀI dầu kiên tâm nhẫn nại đến đâu, cũng phải có phản ứng tương đương, càng bị đàn áp, càng mất chủ quyền, nên toàn Đạo cũng như toàn dân càng khao khát, Tự Do, Độc Lập cho bản thân họ và cho Tổ Quốc của Họ bấy nhiêu. Huống chi nền Đạo Cao Đài bị đàn áp trực tiếp đến cực độ, thì sự căm hờn phẫn uất đối với Chánh Quyền Pháp đã bộc phát trong lòng Toàn Đạo và Toàn Dân cũng lên đến cực độ. Tình trạng ấy đã gây ý thức cho tất cả chư Tín Hữu giác ngộ, toàn dân thức tỉnh, nên Chư Tín Đồ Cao Đài phải cương quyết đứng lên khởi nghĩa, phất cờ tranh đấu chống Pháp, để khôi phục nền Độc Lập cho Quốc Gia, khôi phục tự do tín ngưỡng cho Đạo Giáo hầu xây dựng xã hội lành -mạnh cho Dân Tộc một nước tự chủ và phú cường.

***

Kịp khi Quân Đội Nhựt Bổn ký kết với Pháp đóng quân ở Đông Dương, đang tìm những lực lượng hợp tác, đồ mưu lật đổ Chánh Quyền Pháp, thì Hai Ông LỂ SANH NGỌC HOÀI- THANH (Trương Văn Hoài) Và THƯỢNG TÝ THANH (Nguyễn Văn Tý) là hai người trước đây đã thề nguyền với hai Luật Sự PHƯỚC và NHƠN, liên lạc với Nam Vang thương lượng với Ông Giáo Sư THƯỢNG VINH THANH (Trần-Quang-Vinh), tìm phương hợp tác với Quân Đội Thiên Hoàng hầu có xây dựng phong trào “PHỤC-QUỐC”.

May thay, lúc ấy Ông TRẦN QUANG VINH nghỉ việc ở Nam Vang đã về Long Xuyên trú ngụ, nên một nhóm anh em bèn tổ chức Cầu Cơ lần đầu tiên tại Long Xuyên, đêm 28 Tháng 10 Năm 1942 do Giáo Hữu THÁI ĐẾN THANH và Lễ Sanh NGỌC HOÀI THANH Phò Loan, ĐỨC LÝ ĐẠI TIÊN, và ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT, giáng dạy phải hợp tác với Nhựt Bổn mới mong gở ách nô lệ cho Dân Tộc Việt Nam được trong thới gian 20 ngày. Ông Giáo Sư THƯỢNG VINH THANH ngồi chờ đợi một nhóm Chức Sắc có thiện chí mà Ông đã phái người đi mời.

Đến ngày 17 tháng 11 Năm 1942, Có một số Chức Sắc Huynh Đệ hưởng ứng, nên đêm ấy có Đàn Cơ tại tư gia Ông TRẦN QUANG VINH, với sự hiện-diện của Giáo Sư ĐỨC, Giáo Sư NON, Giáo Sư VINH, Giáo Hữu ĐẾN, Giáo Hữu CAO, Giáo Hữu HÀO, Lễ Sanh HOAI, Lễ Sanh TÝ, Lể Sanh SÁNG (Bình Định) tất cả là: 9 vị (Là Cửu-Thiên-Khai-Hóa).

ĐỨC LÝ ĐẠI TIÊN và ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG, Giáng dạy và thúc giục phải mau đi hợp tác với Nhựt Bổn.

Vì có lịnh Anh Cả QUYỀN GIÁO TÔNG, nên ngày hôm sau: 18 Tháng 11 Năm 1942, nhóm Anh Em đều giải tán, kẻ đi Saigon người đi các tỉnh để vận động.

Chỉ một thời gian ngắn ngủi, nhờ quyền năng của Thiêng Liêng xây chuyển, nên cơ hội hợp tác đắc thành. Chức Sắc và Đạo Hữu các nơi nườm nượp đi Saigon để cộng tác và nhơn một phiên nhóm Chức Sắc có sự hiện diện của hai vị Sĩ Quan Nhựt Bổn, Tất cả đồng thanh yêu cầu Ông TRẦN QUANG VINH, làm Đại Biểu cho Đạo Cao Đài.

Từ đây, mọi việc giao thiệp với Bộ Tư Lệnh Quân Đội Nhựt Hoàng, và Lèo lái con thuyền PHỤC QUỐC, đều do Ông Đại Biểu đảm trách.

Nhờ sự đoàn kết của toàn Đạo “NHỨT HÔ BÁ ỨNG” và sự “HỢP TÁC” hữu hiệu, nên kết quả đem đến Đảo Chánh Pháp: đêm 9 tháng 3 năm 1945, mở màng Giải Phóng cho Dân Tộc Việt Nam bị đô hộ dưới ách thống trị của Thực Dân Pháp trót 80 năm.

CAO ĐÀI ĐÃ THÀNH CÔNG

ĐỨC HỘ PHÁP VÀ 3 VỊ ĐẠI THIÊN PHONG ĐƯỢC TRẢ TỰ DO

Thế là sự nghiệp Cách Mạng tranh đấu giải ách nô lệ cho Đạo Cao Đài và cho Toàn Dân Việt-Nam đã thành công rực rỡ.

Nhờ dịp nầy mà Ông Giáo Sư Đại Biểu, yêu sách Chánh Phủ Pháp phải trả tự do cho Đức Hộ Pháp PHẠM CÔNG TẮC với 3 vị Đại Thiên Phong còn sống sót đang bị đồ lưu nơi hải đảo MADAGASCAR. Chánh Phủ Pháp phải nhượng bộ.

ĐỨC HỘ PHÁP được hồi hương, về đến Sài Gòn ngày 26 Tháng 7 Nam Bính Tuất (22-8-1946).

Ba vị Chức Sắc còn sống sót là: Khai Pháp TRẦN DUY NGHĨA, Chánh Phối Sư: NGUYỄN THẾ TRỌNG và Giáo Sư TRẦN VĂN PHẤN, được một chiến hạm Pháp đưa về đến Saigon ngày mùng 6 Tháng 11 Năm Bính Tuất (29-11-1946).

Kể từ đây Đức Ngài tiếp tục cầm giềng mối Đạo, lo Phục Hưng Đại Nghiệp Đạo cho đến khi đăng Tiên tại Nam Vang (Cam-Bốt) Ngày mùng 10 Tháng 4 Năm Kỷ Hợi (17-5-1959).

Tòa Thánh Tây Ninh, mùa thu năm KỶ Dậu (1969)

Tác giả chỉnh lại cũng vào mùa thu năm Qúi Sửu (1973)

VII.TIỂU SỬ ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC

ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC, Sanh Ngày 5 tháng 5 Năm Canh Dần ( 21-6-1890). Tại Làng Bình Lập, Tỉnh Tân An.

Phụ thân là Ông PHẠM CÔNG THIỆN, Người Đạo Gia Tô, Mẫu Thân Ngài là Bà: LA THỊ ĐƯỜNG, theo Phật-Giáo.

Ngài đã được Phụ Thân đưa đi làm lễ rửa tội tại Nhà Thờ Thiên Chúa.

Thuở thiếu niên Ngài học tại Saigon, rồi qua trường Trung Học Mỹ Tho, đến năm 20 tuổi, Ngài thi đậu, được vào ngạch Thương Chánh và lập gia đình, Ngài Kết hôn với Bà NGUYỄN THỊ NHIỀU, Sinh quán tại Làng Tân Phú, Quận Bến Lức, Tỉnh Chợ Lớn, Là Ái Nữ của Ông: NGUYỄN VĂN PHƯỚC và Bà LÊ THỊ BƯỞI.

Ngài làm việc tại Saigon được một ít lâu, rồi đổi đi Cái Nhum, thuộc Tỉnh Vĩnh-Long.

Là một Công Chức Ngài rất thích nghiên cứu về “THẦN LINH HỌC” và tham dự nhiều nhóm truyền giáo tại Việt Nam, theo phái “Thiền Lâm” và Đạo Thiên Chúa. Ngài có tánh Nhân Đức, Nhân Từ, Quảng Đại, lại giao thiệp rộng, nên Ngài được quen thân trong nhiều giới, Ngài thích giải trí bằng thi phú văn chương và âm nhạc.

Khoảng Năm 1924-1925, Ngài thường đi lại với Ông CAO HUỲNH CƯ, CAO HOÀI SANG, và nhiều nhân vật khác nổi tiếng ở Saigon.

Ngoài giờ làm việc, Ngài thích họp các bạn thân lại để cầu thỉnh các đấng Thiêng Liêng đặng xin ban cho thi phú. Việc thỉnh giáo xin thi phú đều đặng thỏa mãn, cho đến lúc các Đấng trọn lành giáng cơ chỉ dạy các Ngài con đường phải tiến tới thành lập một Tôn Giáo mới. Đó là sứ mạng Thiêng Liêng của các Ngài đã được vạch ra từ lúc bấy giờ.

Vào Năm 1926, trong một Đàn Cơ quan trọng tại nhà Ông LÊ VĂN TRUNG, Ngài được THƯỢNG ĐẾ phong làm HỘ PHÁP (Bảo Vệ Luật Pháp) còn các bạn của Ngài đều được phong vào hàng Chức Sắc.

Nhân dịp được Chánh Phủ cho nghỉ phép 6 tháng. ĐỨC HỘ PHÁP liền mở màn sinh hoạt thuần túy theo Đạo Giáo, nơi Chùa Từ Lâm Tự tại Gò Kén (nguyên là một ngôi Chùa Phật thuộc Tỉnh Tây Ninh ).

Theo Thiên ý của ĐỨC CHÍ TÔN đã cho biết trước, khi mãn phép, liền có Nghị Định của Thương Chánh Trung Ương Hà Nội thuyên bổ Ngài lên Nam Vang vào hạ tuần tháng 3 Năm Đinh-Mão (1927).

Khoản cuối Năm 1926, Chùa Từ Lâm Tự bị lấy lại trong lúc ĐỨC HỘ PHÁP vắng mặt, thì hai vị Đại Thiên Phong THƯỢNG TRUNG NHỰT (Lê Văn Trung), CAO THƯỢNG PHẨM (Cao Huỳnh Cư) và Chư Vị Chức Sắc Cao Cấp thay thế Đức Ngài quán xuyến mọi việc. Di chuyền Tổ Chức ĐẠO CAO-ĐÀI về làng Long Thành Tây Ninh, tuân hành đúng theo lịnh của ĐỨC LÝ ĐẠI TIÊN, để tạo lập Tòa Thánh.

Trong thời gian 8 Tháng lưu trú tại xứ Miên, được hiệp tác với Ông CAO TIẾP ĐẠO (Cao Đức Trọng), ĐỨC HỘ PHÁP mở cuộc truyền giáo Phổ Độ dân chúng Miên và Việt Kiều.

Cùng lúc ấy Ngài Được thăng bật Tham Tá, mà cũng chính là lúc công việc Đạo càng đa đoan, Ngài vào đơn xin đổi về Nam Kỳ, nhưng vô hiệu quả. Sau đó trong gia đình Ngài ở Tây Ninh có một đứa con gái của Ngài lâm bịnh nặng, mà Bác Sĩ không sao chữa trị nổi, nên Ngài xin Từ-Chức, đồng thời bỏ sở làm, trở vế Tây Ninh vào thượng tuần tháng giêng năm 1928. Đứa con bịnh đã chết. Chánh phủ ra Nghị Định ngày (11-4-1928) Giải Chức Ngài vì lý do phế vong phận sự. Thế là từ đây, Ngài được thong thả hoạt động về mặt Đạo Giáo theo Sở thích của Ngài.

ĐỨC HỘ PHÁP bèn đem hết năng lực để bành trướng nền Đạo. Số Tín Đồ các nơi tựu về theo Ngài rất đông đảo, khiến Ngài trở thành một mối lo âu thường xuyên của Nhà Cầm Quyền Pháp.

Đạo Cao Đài đến đây còn phải vượt qua nhiều cơn thử thách nghiêm trọng. Một số tín đồ ở Cầu Kho (Saigon), cố ý chống đối Ngài, Đáng kể là Đạo Hữu (Tư-Mắt) đã nhiều phen đe dọa đuổi Đức Hộ Pháp và Cao Thượng Phẩm ra khỏi Tòa Thánh.

Đức Hộ Pháp đành cam chịu biết bao trận khảo thí ngặt nghèo, cho đến đổi phải buộc lòng rời khỏi Tòa Thánh, đi ẩn cư từ nơi nầy sang nơi khác. Khi thì Ngài ở Thủ Đức, lúc Tại Mỹ Tho, nhưng không bao giờ Ngài xao lảng khuếch trương nền Đạo. Trong Tỉnh Mỹ Tho, Ngài tạo dựng Ngôi Tiểu Thánh Đường lấy tên là: THÁNH THẤT KHỔ HIỀN TRANG, để Chư Đạo Hữu sùng bái ĐỨC CHÍ TÔN, cho đến khi ĐỨC CAO THƯỢNG PHẨM liễu Đạo Năm (1929).

Chính lúc nầy tại Tòa Thánh toàn thể Chức Sắc nhận thấy không còn ai có khả năng lèo lài con thuyền Đạo, nên phái một số Chức Sắc trong Hội Thánh đi yêu cầu ĐỨC HỘ PHÁP Trở vế cấm giềng mối Đạo.

Đức Ngài phải đem hết tâm lực đối phó một cách rất chua cay với các Chi Phái phản nghịch của Nền Chơn Giáo, đồng Thời Đức Ngài cố gắng đem hết khả năng vào công cuộc Kiến Thiết Ngôi Đền Thánh đương xây cất.

Năm 1940 Đạo Cao Đài chạm phải nhiều khó khăn nghiêm trọng hơn.

Năm 1941 Các Công Tác xây cất Đền Thánh đều bị ngưng lại.

Ngày 4 Tháng 6 Nhuần Tân-Tỵ ( Chủ-Nhật 27-7-1941) ĐỨC HỘ PHÁP bị Chánh Quyền Pháp Bắt di câu lưu. Ban đầu họ đưa Ngài đến Djiring (Trung-Kỳ), rồi giải đến Sơn-La ( Miền Thượng-Du Bắc-Việt) và sau cùng chở Ngài qua tận Madagascar (Phi-Châu), để rồi chịu số phận tù đày hơn 5 năm biệt xứ.

Ngày 26 tháng 7 Bình Tuất (22-8-1946), Đức Ngài được đưa về Việt Nam, trả tự do tại Saigon. Nhìn thấy Quê Hương Tổ Quốc bị chiến tranh tàn khốc, tâm can Ngài rất đau xót thảm não.

Nhưng với nghị lực cương quyết cứu vãn tình thế đen tối cho dân, cho nước, giữa lúc khói tỏa đạn bay do đoàn quân viễn chinh Pháp tái chiếm Đông Dương, gây cảnh thịt rơi máu đỗ của nòi giống đang chống nạn Ngoại-Xâm. Đức Ngài liền Triệu tập “Hội Nhơn Sanh” tái thủ quyền bính, ngày đêm lo chỉnh đốn nội bộ, khôi phục quyền hành cho Hội-Thánh, thống nhứt các Đảng Phái, thành lập Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Lực Quốc Gia làm hậu thuẫn cho Giải Pháp “BẢO ĐẠI” để tranh đấu buộc nước Pháp phải trao trả chủ quyền Độc Lập lại cho Việt Nam do Cựu Hoàng Bảo Đại nắm quyền “QUỐC TRƯỞNG”.

Tham vọng xâm lăng của Thực Dân Pháp bị thất bại trước sự kháng chiến anh dũng của Toàn Dân Việt Nam trong Năm (1954) tại “ĐIỆN BIÊN PHỦ”, Pháp bèn thương thuyết với Việt Minh mang danh nghĩa kháng chiến, để chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17 bởi Hiệp Định “GENEVE”, Ký kết giữa hai phe ngày 20 tháng 7 Năm 1954, lấy sông Bến Hải làm ranh giới.

Từ vĩ tuyến 17 đỗ ra Ải Nam Quan, thuộc Chánh Quyền Việt Minh, theo ảnh hưởng Cộng Sản; từ Bến-Hải đổ vô đến Mũi Cà Mau, Thuộc Chánh Quyền Quốc Gia.

Năm 1955 QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI, bị Thủ Tướng NGÔ-ĐÌNH DIỆM truất phế, ảnh hưởng của Pháp tại Miền Nam được Tư Bản Mỹ thay thế.

Từ đây Dân Việt chia làm hai khối: Một nữa Ở Miên Bắc bị lệ thuộc Cộng Sản Nga-Tàu, một mặt nữa tại Miên Nam bị Tư Bản Mỹ thao túng. Cuộc tranh chấp bị ảnh hưởng của Cộng Sản, Tư Bản thúc đẩy dân Việt vào cảnh cốt nhục tương tàn, nồi da xáo thịt, tài diễn tấn tuồng TRỊNH NGUYỄN Phân Tranh trong Lịch Sử nước nhà.

1)-Thống Nhứt Lãnh Thổ và Khối Dân Tộc Việt Nam với phương pháp ôn hòa.

2)- Tránh mọi xâm phạm Nội Quyền Việt Nam.

3)- Xây Dựng Hòa Bình, Hạnh Phúc và Tự Do Dân Chủ cho Toàn Dân.

Nội dung Bản Cương Lỉnh làm nhiều giai đoạn và chi tiết rõ ràng, nếu được các phe lâm chiến biết nghe theo sáng kiến của Đức Ngài thì cảnh tang tóc tại bán đảo Đông Dương đã không làm ngòi cho thế chiến thứ ba vậy.

ĐỨC HỘ PHÁP, một Vĩ Nhân của thế kỷ thứ 20, suốt kiếp sanh tận tụy Thể Thiên Hành Hóa lấy Đạo Cứu Đời, Cứu Khổ cho Nhơn Loại.

Ba ngày trước khi lâm chung Đức Ngài còn gởi cho Chánh Phủ Hoàng Gia Cao Miên để lời Di Chúc rằng:

“Ngày nào Tổ Quốc thân yêu của chúng tôi, Nước Việt Nam của chúng tôi, được Độc Lập và Thống Nhứt thì chừng ấy Tín Đồ của Chúng tôi sẽ di thi hài của Bần Đạo về TÒA-THÁNH TÂY-NINH”.

ĐỨC HỘ PHÁP Qui Thiên Ngày mùng 10 Tháng 4 Năm Kỷ Hợi (17-5-1959) hưởng thọ 70 Tuổi.

Ngài đã làm xong sứ mạng Thiêng Liêng tối trọng đại, của một Đấng Giáo Chủ thay trời độ thế.

Viết xong Tại Tòa-Thánh Tây-Ninh Mùa Thu Năm Kỷ Dậu (1969)

Ký tên

Trần Quang Vinh

DI NGÔN CỦA ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC

Bản Di Ngôn chính tay Đức Hộ Pháp viết bằng Pháp Văn ba ngày trước khi qui Thiên. Đây là bản thông dịch ra Việt Ngữ để cho Chư Tín Hữu có thể hiểu đặng.

ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ

TÒA-THÁNH TÂY-NINH

…………………………..

Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Giáo Chủ Đạo Cao Đài

Kính gừi cho

Hoàng Tử Norodom Sihanouk Sandach Upayuareaach

Thưa Hoàng Tử,

Bần Đạo gởi những dòng chữ nầy đến Hoàng Tử trong lúc nằm tại giường bịnh (Dưỡng Đường Calmette). Sức khỏe của Bần Đạo càng ngày càng suy giảm và Bần Đạo nghĩ không còn có thể sống bao lâu nữa.

Vậy Bần Đạo xin gửi lần cuối cùng đến Hoàng Tử và Chánh Phủ Hoàng Gia Cao Miên tất cả lời cảm tạ chơn thành về sự khoán đãi rộng rãi mà Hoàng Tử và Chánh Phủ Hoàng Gia dành cho bản thân Bần Đạo, cho đoàn tùy tùng và cho cà Tín Đồ của Bần Đạo.

Bần Đạo thành tâm cầu nguyện Đức Thượng Đế Cao Đài và Đức Phật Tổ ban hồng ân che chở cho Vương Quốc Cao Miên và cho bản thân Hoàng Tử sớm được bình phục sức khỏe và nhứt là thực hiện vẻ vang Chánh Sách Hòa Bình Trung Lập và Hòa Bình Chung Sống, chánh sách đặc biệt ưu ái mà Bần Đạo đã phí tổn sức lực, sức khỏe trọn đời mà Bần Đạo không thực hiện được.

Bần Đạo thành tâm ước mong cho Tổ Quốc thân yêu của chúng tôi, nước Việt Nam , có thể đeo đuổi chánh sách ấy ngày gần đây và tay nắm tay cùng đi với nước Cao Miên trong tình thương hòa ái giữa các sắc dân, đặc biệt là giữa hai dân tộc Miên Việt.

Bần Đạo rất hân hạnh, nếu được yết kiến Hoàng Tử lần cuối cùng để tỏ bằng lời nói sự biết ơn của Bần Đạo, nhưng không biết sức của Bần Đạo có còn chờ được ngày về của Hoàng Tử hay chăng?

Dầu sao, nhơn danh Tín Hữu của chúng ta, nhơn danh tình thương và tình huynh đệ giữa hai dân tộc Miên Việt, và nhứt là nhơn danh tương lai không rời của hai nước chúng ta Cao Miên và Việt Nam, Bần Đạo hết sức thành khẩn yêu cầu Hoàng Tử một ân huệ đặc biệt và cuối cùng là ban ân cho Thánh Thất của chúng tôi đang có lịnh phá hủy để có thể lưu kỷ niệm độc nhứt cho những ngày lưu trú của Bần Đạo tại Cao Miên.

Để Hoàng Tử có thể nhận định một cách xác thật việc đã qua, Bần Đạo kính gửi cho đây một bảng sao tờ thỉnh nguyện mà Bần Đạo vừa đệ trình cho Đức Vua.

Phần khác, nếu Bần Đạo thoát kiếp nơi đây, Bần Đạo kính cẩn khẩn cầu Hoàng Tử cho phép Bần Đạo tạm gửi thi hài nơi đất Miên, dưới sự bảo vệ tối cao của nhà Vua, của Hoàng Tử và Chánh Phủ Hoàng Gia Cao Miên. Ngày nào Tổ Quốc thân yêu của chúng tôi, nước Việt Nam sẽ thống nhứt hoặc sẽ theo cùng Chánh Sách Hòa Bình và trung lập là mục tiêu đời sống của Bần Đạo thì Tín Đồ của chúng tôi sẽ di thi hài của Bần Đạo về Tòa Thánh Tây Ninh.

Bần Đạo lại khẩn cầu Hoàng Tử và Chánh Phủ Hoàng Gia, sau khi Bần Đạo thoát xác, dành cho đoàn tùy tùng và Tín Đồ của Bần Đạo việc cư trú rộng lượng và mọi sự dễ dải trong việc tu hành theo tôn giáo của chúng tôi.

Biết rằng Hoàng Tử sẽ chấp nhận đơn thình cầu nầy, Bần Đạo yên lòng nhắm mắt và đem theo kỷ niệm êm đềm nhứt trong đời Bần Đạo với sự cung kính cầu xin Hoàng Tử nhận nơi đây lòng tri ân vĩnh viễn của Bần Đạo.

NAM VANG, ngày 14- 5- 1959

HỘ PHÁP

Ký tên: PHẠM CÔNG TẮC

Số 226 Phlauv Préah Bat Nordon Phnom-Penh

Phiên dịch y bản Pháp Văn đính hậu

Tòa Thánh Tây Ninh, mùa thu năm Kỷ Dậu (1969)

Trần Quang Vinh

【#2】Đền Nguyên Phi Ỷ Lan

1. ĐỀN NGUYÊN PHI Ỷ LAN

Tìm hiểu một chút qua những giai thọai lịch sử về Nguyên Phi Ỷ Lan để biết tại sao bà nổi tiếng là tài năng và đức độ như vậy:

Nằm ở phía tay trái, trước cửa đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan là đôi rồng chầu bằng đá phủ phục, với đường nét, chạm khắc hết sức tinh xảo.

4.

Đền thờ được xây dựng từ cuối thế kỷ XI, là nơi phụng thờ bà ngay trên quê hương của mình. Đền có kiến trúc theo lối cung đình thời Lý, có 72 cửa, thuộc loại cổ nhất nước ta, cách không xa đền phía tay phải có chùa mang tên: “Linh Nhân tư Phúc Tự” do chính Linh Nhân Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan xây dựng cùng với hàng trăm ngôi chùa khác, được khánh thành tháng 03 năm Ất Mùi (1115).

5.

Ngay cạnh đền là chùa Tư Phúc do nguyên phi Ỷ Lan cho xây dựng năm 1115. Đền và chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật quí như: Ba chân tảng đá chạm cánh sen, hai đầu sư tử đá, một thành bậc chim phượng đều ở thời Lý, bốn tấm bia đá thời hậu Lê, một khám thờ chạm rồng uốn khúc yên ngựa, chạm thủng hoa văn linh vật thời Mạc, năm hoành phi, hai câu đối ca ngợi công đức của thái hậu Ỷ Lan.

Hàng năm cứ vào dịp từ 19 đến 21 tháng 2 âm lịch, du khách thập phương lại hành hương về Dương Xá tham dự lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày Nguyên phi Ỷ Lan đăng quang và ngày 24, 25 tháng 7 âm lịch, ngày mất của bà. Tất cả cùng về thắp hương tưởng niệm, nhớ về người phụ nữ có tài kinh bang tế thế, từng đã 2 lần nhiếp chính trông coi việc nước mà người phụ nữ đã nổi danh trong lịch sử nước nhà.

(VOV) – Chùa Dâu tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa có nhiều tên gọi: Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự. Nơi đây là trung tâm thành cổ Luy Lâu từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên.

Có câu thơ lưu truyền dân gian:

Dù ai đi đâu về đâu

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về,

Dù ai buôn bán trăm nghề

Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu

Theo ghi chép trong sách sử và bia đá, đây là ngôi chùa Phật giáo cổ nhất Việt Nam, là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, một từ Ấn Độ sang, một từ phương Bắc xuống. Chùa được xây dựng từ thế kỉ thứ 2 (khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226) dưới thời Sĩ Nhiếp làm thái thú. Chùa Dâu thờ nữ thần Pháp Vân nên gọi là chùa Pháp Vân và nằm trong vùng đất Cổ Châu nên cũng gọi là chùa Cổ Châu. Chùa gắn liền với truyện cổ tích Tứ pháp của người Việt xưa.

Vào đầu công nguyên, các tăng sĩ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu Đà La, đã tới Dâu – tức Luy Lâu tiến hành truyền bá đạo Phật, lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu – trung tâm Phật giáo lớn nhất và cổ xưa nhất của Việt Nam. Chùa tháp được xây cất nguy nga bên cạnh thành quách, đền đài, cung điện, lầu gác, phố chợ sầm uất của đô thị Luy Lâu, trong đó chùa Dâu là trung tâm trong hệ thống các chùa thờ Phật và thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), một nét độc đáo trong sự kết hợp giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian của người Việt. Chùa Dâu trở thành trung tâm của Thiền phái Tì ni đa lưu chi – Thiền phái đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.

Kiến trúc chùa Dâu còn đến ngày nay được dựng dưới thời Trần năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Bao quanh tòa điện chính hình chữ công là những dãy nhà ngang, nhà dọc vây kín theo kiểu nội công ngoại quốc.

Chính giữa sân chùa trước bái đường, Mạc Đĩnh Chi đã cho dựng ngôi tháp Hòa Phong cao chín tầng, nay chỉ còn ba. Ngôi tháp vuông xây bằng gạch trần, dáng chắc khỏe nổi bật giữa khung cảnh xung quanh. Tháp tượng trưng cho ngọn núi vũ trụ, bốn góc tháp có bốn tượng Thiên vương trấn giữ, trên tháp treo một khánh đồng cổ.

Tháp Hòa Phong Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới, cao khoảng 17 m nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ “Hòa Phong tháp”. Chân tháp vuông, mỗi cạnh gần 7 m. Tầng dưới có 4 cửa vòm. Từ “Hoà Phong” có nghĩa là ngọn gió mát mẻ, tốt lành.

Trong tháp có treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817. Có 4 tượng Thiên Vương – 4 vị thần trong truyền thuyết cai quản 4 phương trời- cao 1,6 m ở bốn góc

Trước tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33 m, cao 0,8 m. Điều này làm ngạc nhiên nhiều du khách, bởi xưa kia nước Việt không có con cừu. Truyền sử kể rằng: vào thời Luy Lâu còn là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của cả nước ta, có vị sư người Tây Thiên sang nước ta tu hành truyền bá đạo Phật. Ông dắt theo 2 con cừu. Một hôm sơ ý để 2 con đi lạc, 1 con lạc đến chùa Dâu, 1 con lạc đến lăng Sĩ Nhiếp (thái thú Giao Chỉ thời đó), dân ở 2 vùng này đã tạc tượng 2 con cừu bằng đá ở nơi chúng đến để thờ. Do vậy hiện nay chùa Dâu có 1 con, lăng Sĩ Nhiếp (cách đó 3 km) có 1 con.

Trải qua bao biến động lịch sử, thành lũy, đền dài, dinh thự của trung tâm Luy Lâu bị hoang phế. Nhưng chùa Dâu với tháp Hòa Phong vươn cao và hàng trăm gian chùa cổ kính vẫn tồn tại với thời gian. Lịch sử đã từng khẳng định vị trí của chùa Dâu trong đời sống văn hóa, tâm linh dân tộc. Chùa là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử-văn hóa quốc gia.

Chỉ dẫn đường đi: Cùa Dâu nằm trên địa phận xã Thanh Khương – Thuận Thành – Bắc Ninh. Có thể tới chùa bằng nhiều đường, tuy nhiên đường ngắn nhất tính từ trung tâm TP Hà Nội là: Cầu Chương Dương- Đường Nguyễn Văn Cừ – Cầu Chui – đường QL 5 – tỉnh lộ 181 – Dương Xá ( Gia Lâm ) – Phú Thị ( Gia Lâm ) – Thuận Thành – Phố Dâu – Chùa Dâu.

18 vị La Hán trong chùa

Các pho tượng Bồ Tát, Tam Thế, Đức Ông, Thánh Tăng được đặt ở phần hậu điện sau chùa chính

Tư liệu tổng hợp. Ảnh Lê Bích

3. CHÙA BÚT THÁP

Năm 1876, vua Tự Đức khi đi qua đây thấy một ngọn tháp hình cây bút khổng lồ vươn lên trời xanh liền đặt tên là Bút Tháp…

Khi nói về các danh thắng của đất Kinh Bắc, không thể không nhắc tới chùa Bút Tháp. Ngôi chùa nổi tiếng này còn được gọi là Ninh Phúc tự, nằm ở bên đê hữu ngạn sông Đuống, ngày nay thuộc thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Theo các tư liệu lịch sử, chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Đến thế kỷ 17, chùa trở nên nổi tiếng với sư trụ trì là Hòa thượng Chuyết Chuyết (1590-1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, người sang Việt Nam hoằng bá Phật pháp từ năm 1633. Năm 1644, Hòa thượng viên tịch và được vua Lê phong là “Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư”.

Sau khi Hòa thượng Chuyết Chuyết viên tịch, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đã rời bỏ cung thất về chùa tu hành. Thấy chùa xuống cấp nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Duyên xin Chúa Trịnh Tráng bỏ tiền của ra công đức để trùng tu lại ngôi chùa. Đến năm 1647, việc trùng tu hoàn thành. Về cơ bản, quy mô và cấu trúc của chùa Bút Tháp hiện nay chính là ngôi chùa được xây dựng trong thời kỳ đó.

Năm 1876, vua Tự Đức khi đi qua đây thấy một ngọn tháp hình cây bút khổng lồ vươn lên trời xanh liền đặt tên tháp là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi tên gốc của ngọn tháp là tháp Bảo Nghiêm. Từ đó ngôi chùa và thôn xóm quanh chùa mang tên là Bút Tháp. Ngoài ra, nhân dân trong vùng còn gọi là chùa Nhạn Tháp.

Trong lịch sử của mình, chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915, 1921 và gần đây vào năm 1992-1996. Đây là ngôi chùa được đánh giá là có kiến trúc quy mô hoàn chỉnh nhất còn lại ở Việt Nam. Chùa cũng là nơi lưu giữ tượng Bồ tát Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất, một tuyệt tác điêu khắc cổ đã được công nhận là bảo vật Việt Nam.

Một số hình ảnh Đất Việt ghi nhận về chùa Bút Tháp:

Bút tháp là một trong số ít những ngôi chùa cổ có kiến trúc theo kiểu “Nội Công Ngoại Quốc”, được xây dựng trên quy mô lớn của Đồng bằng Bắc Bộ còn lại đến ngày nay..

Cụm kiến trúc trung tâm ở Chùa Bút Tháp bao gồm 8 đơn nguyên chạy song hành được bố trí đăng đối trên một đường “Thần Đạo” và được bao bọc bởi hai dãy hành lang chạy suốt dọc chùa ở hai bên.

Điểm nhấn kiến trúc của chùa là tháp Bảo Nghiêm, hay Bút Tháp, nơi thờ Hòa thượng Chuyết Chuyết. Tháp cao 13,05 m, gồm 5 tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh. Ngoài tầng đáy rộng hơn, 4 tầng trên gần giống nhau, rộng 2m. 5 góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29 m.

Phần chân tháp được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng cột và lan can. Riêng ở tầng dưới cùng của toà tháp này có mười ba bức chạm đá với lấy đề tài chủ yếu là các con thú.

Ngọn tháp là minh chứng cho tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của người thợ Việt Nam xưa.

Một nét kiến trúc đặc sắc khác là chiếc cầu đá có ba nhịp uốn cong dẫn từ thượng điện đến ngôi tòa nhà Tích Thiện am, một công trình cấu tạo khung gỗ có 3 tầng mái.

Hai bên cầu là hai hồ nhỏ thông nhau, có trồng cây thủy sinh, tạo nên sự hài hòa giữa vẻ đẹp kiến trúc và thiên nhiên.

Cũng như tháp Bảo Nghiêm, cầu đá là nơi hội tụ của nhiều bức phù điêu và tượng đá giàu tính nghệ thuật.

Chùa Bút Tháp là nơi lưu giữ tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay nổi tiếng do nhà điêu khắc họ Trương tạc năm 1656, hiện được công nhận là bảo vật quốc gia. Đây được coi là một kiệt tác độc nhất vô nhị về tượng Phật và nghệ thuật tạc tượng – nghệ thuật làm nổi bật triết lý nhà Phật bằng ngôn ngữ tạo hình hàm súc.

Gác chuông chùa có 2 tầng, 8 mái.

Một góc sân chùa nhìn từ gác chuông.

Vườn tháp tổ, nơi lưu giữ di cốt của các thiền sư từng tu hành tại chùa.

Văn bia của chùa.

Nghê đá ngoài cổng Tam quan.

Cách Hà Nội gần 30km, nằm ấp mình bên bờ đê phía nam của dòng sông Đuống hiền hoà, nghiêng trôi một “dòng lấp lánh”, làng tranh Đông Hồ đã trải qua biết bao thăng trầm để cố giữ cho “hồn dân tộc” mãi được “sáng bừng trên giấy điệp”.

(GNO-Bắc Ninh): Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).Đầu xuân về thăm làng tranh Đông Hồ

5. ĐỀN THỜ KINH DƯƠNG VƯƠNG

Ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) có khu đền thờ và lăng mộ một đế vương, thủy tổ của người Việt là Kinh Dương Vương.

Lăng mộ Kinh Dương Vương

Đền Kinh Dương Vương

Thời Lê Thánh Tông, sử gia Ngô Sĩ Liên chép “Kỷ Hồng Bàng”: “Tổ tiên người Việt có vua đầu gọi là Kinh Dương Vương tinh thần đoan chính, có đức tính của thánh nhân. Vương lấy con gái thần Động Đình sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc trứng nở ra thành 100 con. Lạc Long Quân mang 50 con đi khai phá miền biển, Âu Cơ mang 50 con đi khai phá miền núi. Con trưởng nối ngôi là Hùng Vương, đặt quốc hiệu là Văn Lang, định đô ở Phong Châu, chia thành 15 bộ. Hùng Vương trải 18 đời”. Kỷ Hồng Bàng kéo dài từ năm 2879 đến năm 258 trước công nguyên.

Đền thờ Kinh Dương Vương nằm ở khu đất thoáng rộng ở giữa thôn Á Lữ, rộng đến 3.000m2, cảnh quan rất đẹp. Bên trong hậu cung đền có ba ngai thờ: Ngai Kinh Dương Vương đặt ở gian giữa, ngai Lạc Long Quân ở bên phải, ngai Âu Cơ đặt ở bên trái. Ngoài các đồ thờ cúng, đền có lưu giữ 15 đạo sắc phong thời Nguyễn, khẳng định đền thờ Kinh Dương Vương là lăng tẩm đế vương bằng chữ Hán, có một sắc phong của vua Tự Đức năm thứ 33, tạm dịch là: Xã Á Lữ từ lâu phụng thờ đền Kinh Dương Vương, vị vua khai sáng văn minh, thánh của người Việt. Chuẩn cho tiếp tục thờ theo nghi lễ quốc khánh.

Đền thờ và lăng mộ Kinh Dương Vương trường tồn cùng với thời gian, luôn được nhân dân và Nhà nước bảo vệ, trùng tu tôn tạo, xây dựng lại với đạo lý vấn tổ, tầm tông.

Hồng Bàng là tổ nước ta

Nước ta khi ấy tên là Văn Lang.

Lễ hội Kinh Dương Vương luôn được duy trì nhiều nghi lễ và một số hoạt động dân gian. Từ năm 2000, Nhà nước ta tổ chức quốc giỗ 10-3. Con cháu thập phương về dự hội Kinh Dương Vương diễn ra đồng thời với đền Hùng ở Phú Thọ. Vị thánh mở nước luôn được đời đời ngưỡng vọng.

Ngày 20-2-2000, ông Nguyễn Khoa Điềm – Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin về dâng hương đền và lăng Kinh Dương Vương, đã ghi: “Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân – Âu Cơ là thủy tổ của đất nước, mở ra thời đại các vua Hùng làm rạng rỡ non sông đất Việt. Di sản và những nơi thờ cúng của các vị là tài sản quý báu thiêng liêng của dân tộc. Nhà nước ta nhất định sẽ có chính sách trùng tu, tôn tạo ngày càng tốt đẹp hơn.

Mong muốn nhân dân Á Lữ chăm lo giữ gìn di tích thờ phụng Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân – Âu Cơ để làm nơi giáo dục muôn đời”.

6. CHÙA PHẬT TÍCH

(ĐVO) Tọa lạc trên sườn phía Nam núi núi Lạn Kha (còn gọi là núi Phật Tích) ở xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, chùa Phật Tích nổi tiếng trong lịch sử với kiến trúc đẹp và cảnh sắc thanh tịnh.

Chùa Phật Tích nổi tiếng trong lịch sử với kiến trúc đẹp và cảnh sắc thanh tịnh.

Chùa đã bị phá hủy phần lớn vào năm 1947. Nhiều hạng mục công trình mới được khôi phục lại trong thời gian gần đây.

Tuy vậy, nhiều dấu tích của ngôi chùa cổ vẫn được lưu giữ, như những bức tường làm bằng đá xếp chồng lên nhau.

10 tượng thú bằng đá cao 1m vẫn được giữ gìn, gồm sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa, mỗi loại hai con, nằm trên bệ hoa sen tạc liền bằng những khối đá lớn. Chúng được tạo tác trong thế chầu phục để thể hiện sự cảm hóa của Phật pháp.

Tòa Tam bảo là nơi đặt tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh làm từ thời Lý, được coi là báu vật quốc gia của Việt Nam.

Ngay dưới chân tượng là tầng hầm, nơi trưng bày nền móng đại bảo tháp nổi tiếng của thời Lý mới được khai quật. Dựa vào diện tích gần 100m2 của nền móng, các chuyên gia ước tính ngọn tháp cao khoảng 42m..

Sau tòa Tam bảo là vườn tháp với 32 ngôi bảo tháp là nơi cất giữ xá lị của các bậc chư Tổ, chư Tăng đã viên tịch tại chùa. Phần lớn các tòa tháp được dựng vào thế kỷ 17.

Vườn hoa mẫu đơn ở sân chùa, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên đã được phỏng dựng. Theo câu chuyện này, Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên…

Từ sân chùa, có một lối đi xuyên qua rừng thông để lên đỉnh núi.

Trên đỉnh núi đặt Đại Phật tượng A Di Đà, cao 27m, thực hiện theo nguyên mẫu bảo tượng A Di Đà trong chùa. Công trình được khánh thành vào dịp mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010 và là pho tượng Phật bằng đá lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện tại.

Cách Đại Phật tượng không xa là tòa bảo tháp cao vút.

Phong cảnh vùng đất Kinh Bắc nhìn từ đỉnh núi Lạn Kha.

Vùng quê Kinh Bắc cổ kính và văn hiến có không ít những đền thờ thần mẫu, trong đó đền thờ Bà Chúa Kho ở làng Cổ Mễ ven chân núi Kho, nằm bên bờ sông Cầu (thuộc phường Vũ Ninh, TP Bắc Ninh) được coi là một ngôi đền thờ mẫu điển hình trong vùng. Hàng năm, cứ vào dịp đầu và cuối năm, hàng nghìn lượt khách thập phương trong cả nước lại về vãng cảnh, cầu may ở đền Bà Chúa Kho, các hoạt động tín ngưỡng và dịch vụ hành lễ cũng theo đó được mùa làm ăn sôi động.

Hình ảnh Bà Chúa Kho được truyền tụng trong dân gian với sự ngưỡng mộ tôn thờ của dân vùng Kinh Bắc và khách thập phương cả nước. Tương truyền, bà Chúa Kho là người phụ nữ nhan sắc tuyệt trần, lại khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong và sau chiến thắng Như Nguyệt (1076), có công chiêu dân dựng lập làng xóm vùng Quả Cảm, Cổ Mễ, Thượng Đồng. Giúp mọi người khai khẩn đất đai nông nghiệp… Sau này bà trở thành một vị hoàng hậu (tương truyền vào thời Lý), giúp nhà vua trong việc kinh bang đất nước, giữ gìn kho lương, bà đã bị giặc giết trong lúc phát lương cứu đỡ dân làng vào ngày 12 tháng giêng năm Đinh Tỵ (1077). Cảm kích đối với tấm lòng bao dung của bà, nhà vua đã có chiếu phong cho bà là Phúc Thần, nhân dân Cổ Mễ nhớ ơn và lập đền thờ ở vị trí kho lương trước kia. Không ai biết tên thật của Bà là gì, chỉ gọi một cách tôn kính là Bà Chúa Kho. Hàng năm nhân dân địa phương tổ chức ngày tưởng nhớ đến bà rất trang nghiêm trọng thể.

Ngôi đền nhìn về hướng Nam, phía trước là dải đồng trũng, uốn khúc theo triền núi bên dòng sông Cầu, quanh năm nước đầy tạo thành hồ lớn – gọi là hồ Đồng Trầm (hiện đã được quy hoạch xây dựng Khu Du lịch). Đền có kiến trúc của thời Lê, được bố trí theo chiều dọc, chạy từ chân lên sườn núi Kho. Cổng tam quan là công trình mở đầu cho cụm kiến trúc này, các công trình chính của đền bao gồm sân đền, hai dải vũ, toà tiền tế, công đệ nhị và hậu cung, tất cả tạo thành một thể thống nhất, uy nghi. Chị Hồng, quê ở TP Nam Định, người có 7 năm liền đến lễ ở đền Bà Chúa Kho kể: “Mình đi nhiều nơi song thích nhất kiểu kiến trúc ở đây. Mấy năm trước đến đây mình thường bị những người bán lễ, sớ, khấn thuê bám theo, chèo kéo, ép giá nhưng giờ hiện tượng này gần như không còn. Các khu vực bán hàng, dịch vụ hành lễ được quy hoạch rõ ràng, mỗi cửa hàng đều treo bảng giá chi tiết dưới sự giám sát, quản lý chặt chẽ của các cụ trong Ban Quản lý di tích, an ninh trật tự cũng được bảo đảm nên mình thấy rất yên tâm và thoải mái”.

Có thể nói, hiện tượng tín ngưỡng thờ mẫu ở đền Bà Chúa Kho là nét văn hoá dân gian vừa làm thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng tâm linh vốn có của một bộ phận người dân Việt vừa giúp các hộ dân trong vùng phát triển nghề dịch vụ, tăng thêm thu nhập gia đình. Đồng thời, tạo thêm nguồn kinh phí để trùng tu, tôn tạo các công trình trong cụm di tích ngày càng khang trang, tố hảo. Lại sắp bước vào mùa lễ hội, hy vọng các cơ quan chức năng sớm quan tâm, phối hợp chặt chẽ bảo đảm an ninh trật tự, văn minh quanh khu vực cụm di tích để vượng khí tốt lành của đền Bà Chúa Kho được ban phát đều khắp cho tất cả dân chúng đến vãn cảnh và hành lễ nhằm giữ gìn nét văn hoá lành mạnh trong đời sống tín ngưỡng của nhân dân.

(Nguồn: chúng tôi

【#3】Ba Lan: Tổ Chức Lễ Cất Nóc Chùa Nhân Hòa

28/10/2013 02:17:40 PM

Ba Lan: Tổ chức Lễ cất nóc chùa Nhân Hòa

Chiều 26/10, gần 300 Phật tử cùng bà con yêu đạo Phật và nhiều khách mời đã đến chùa Nhân Hòa, Ba Lan dự Lễ cất nóc. Mọi người rất hoan hỉ khi thấy ngôi chùa ngày nào còn nằm trên giấy nay đã thành ngôi chùa khang trang bề thế.

Đến dự Lễ cất nóc có Đại sứ Việt Nam tại Ba Lan Nguyễn Hoằng và phu nhân, Đại sứ Thái Lan tại Ba Lan và phu nhân, đức Lat ma Richchen cùng một số vị lãnh đạo địa phương. Chư tôn đức tham gia buổi lễ có Đại đức Thích Trí Đắc, Đại đức Thích Đức Đạt và Đại đức Thích Trong Giáp.

Buổi lễ bắt đầu bằng nghi lễ cung nghinh chư tôn đức. Các thầy cùng các Phật tử và người yêu đạo Phật sắp thành hàng dài từ phía Phật đường sang chùa trong tiếng cầu kinh “Nam mô A di đà Phật”. Tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng cầu kinh vang lên trong sắc thu vàng. Một nét văn hóa tâm linh Á Đông rực rỡ trên trời Âu như nhắn nhủ những người con xa xứ đoàn kết, thương yêu và cùng chung tay xây dựng một mái nhà tâm linh cho cả cộng đồng.

Trong phần nghi lễ hành chính, ông Hoàng Mạnh Huê đã đọc báo cáo quá trình xây dựng và phần tài chính của chùa cho đến thời điểm này. Báo cáo cũng nêu chi tiết những hạng mục cần hoàn thiện như: Cổng vào chùa, đường giao thông (3000m2), bãi đỗ xe, cổng tam quan trước chùa, tháp chuông, tượng Phật bà quan âm, ao sen, vườn chùa, tường bao khuôn viên… và các giai đoạn hoàn thiên ngôi chùa như Lập mái ngói, tường, lát nền, thông khí, hệ thống sưởi, điện, thanh máy, an ninh, cứu hỏa, trang trí nội thất, khu tượng thờ… Ban xây dựng chùa đã lập bảng chi tiết và giá thành những công việc cần làm sắp tới để bà con phát tâm. Ngay trong buổi lễ đã có bà con phát tâm các hạng mục: cổng Tam quan, chuông, khánh, tượng Phật bà Quan Âm. Theo tính toán của Ban xây dựng chùa thì kinh phí cho đến khi hoàn thiện chùa còn cần một triệu 700 ngàn zt.

Thay mặt các Phật tử, anh Bùi Văn Dư đã phát biểu cảm niệm về ngày lễ này với một bài thơ xuất phát từ trái tim.

Trong phần nghi lễ Phật giáo, Chư tôn đức cùng các phật tử và khách mời thành kính cầu kinh cầu cho công việc xây dựng chùa được an toàn, thuận lợi, cầu quốc thái dân an.

Sau phần nghi lễ, Chư tôn đức cùng các phật tử và khách mời đi xung quanh chùa cầu nguyện. Niềm vui tràn ngập khi nghi Lễ cất nóc được tiến hành với biểu tượng nóc được kéo lên trong tiếng hô của toàn thể bà con. Pháo bông tung lên trời những dải giấy màu rực rỡ.

Màn pháo hoa bắn từ trên nóc chùa kết thúc một buổi lễ tâm linh vui vẻ, đầm ấm.

【#4】Viết Đoạn Văn Khoảng 200 Thuyết Minh Về Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam

Miếu Bà Chúa Xứ là một công trình kiến trúc đẹp và tôn nghiêm, tọa lạc dưới chân núi Sam, thuộc phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là một di tích nổi tiếng ở khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hàng năm thu hút gần 2 triệu lượt người đến cúng bái, tham quan. Khách hành hương, du lịch đến từ khắp nơi trên cả nước, tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo kéo dài suốt nhiều tháng.

Năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được chính thức công nhận là lễ hội quốc gia. Năm 2008, lễ hội được tổ chức với tên gọi Tuần lễ quốc gia Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam. Lễ hội chính thức khai mạc vào tối ngày 25-05 tại Trung tâm thương mại núi Sam. Lễ khai mạc đã thu hút khoảng 10.000 lượt khách trong nước và quốc tế đến tham dự. Dịp này, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã tiến hành nghi thức trao giấy xác nhận và cúp lưu niệm kỷ lục Việt Nam đối với “Ngôi miếu lớn nhất Việt Nam” và “Tượng bà bằng đá sa thạch xưa và lớn nhất Việt Nam” cho đại diện Ban quản trị lăng miếu núi Sam.

Miếu Bà có từ khi nào cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn, nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng miếu thành hình sau năm 1824. Tương truyền, lúc đầu, miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra cánh đồng bát ngát. Năm 1870, miếu được xây lại bằng đá miểng và lợp ngói. Đến năm 1972, miếu được xây dựng mới, đồ sộ và lộng lẫy theo lối kiến trúc cổ kính phương Đông. Công trình là một quần thể hoành tráng trên mặt bằng rộng với dãy Đông lang, Tây lang, chánh điện, nhà khách…theo đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, nhưng xây dựng dở dang. Mãi đến năm 1995, Ban Quản trị lăng miếu núi Sam mới tiếp tục xây dựng phần còn lại.

Tương truyền, dưới triều Minh Mạng, khi Thoại Ngọc Hầu giữ trọng trách trấn giữ biên giới Tây Nam, giặc ngoại xâm thường sang quấy nhiễu. Mỗi lần ông xuất quân, bà chánh thất phu nhân Châu Thị Tế thường đến khấn vái, mong Bà phù hộ Thoại Ngọc Hầu đánh thắng giặc, bảo vệ cuộc sống yên lành cho dân. Về sau, để tạ ơn những điều ứng nghiệm, phu nhân Thoại Ngọc Hầu đã cho xây cất lại ngôi miếu to và khang trang hơn. Lễ khánh thành được tổ chức trong 3 ngày 24, 25, 26 tháng 4 âm lịch. Từ đó về sau thành lệ, dân chúng lấy những ngày trên làm lễ Vía Bà. Nếu chi tiết này có thật, thì đây cũng là một thông tin cho biết rằng miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng từ thời Minh Mạng.

Ngôi miếu có bố cục kiểu chữ 国 – Quốc, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Các hoa văn ở cổ lầu chánh điện thể hiện đậm nét nghệ thuật. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ.

Chánh điện gồm hai lớp. Lớp trong cùng là nơi thờ Bà Chúa Xứ với tượng Bà bằng đá đặt trên bệ cao, sát hai bên là hai con hạc trắng biểu tượng cốt cách tiên thánh của Bà. Bên phải tượng Bà là một linga cũng bằng đá đặt trên một hương án thờ, gọi là bàn thờ Cậu. Bên trái tượng Bà là hương án thờ một tượng gỗ chạm hình yoni, gọi là bàn thờ Cô. Lớp thứ hai là bàn thờ Hội đồng, sát liền hai tượng chim phượng. Hai bên trái, phải của bàn thờ Hội đồng là bàn thờ Tiền hiền khai khẩn (ở bên trái) và bàn thờ Hậu hiền khai cơ (ở bên phải).

Ngay lối vào chánh điện có đôi câu đối thể hiện quyền lực linh thiêng của Bà trong việc ban phúc, bảo vệ nhân dân. Nội dung như sau:

求必應試必霛夢中指示​

暹可驚清可慕意外難量​

Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị​ Xiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng​ Cầu nhất định được, ban nhất định linh, báo cho biết trong mộng​

Người Xiêm phải sợ, người Thanh phải nể, không thể tưởng tượng nổi

Truyện xưa kể lại rằng: Những năm 1820 – 1825, Quân Xiêm thường sang nước ta quấy nhiễu, cướp bóc. Mỗi khi giặc đến, người dân quanh vùng lại phải bồng bế nhau chốn chạy lên núi lánh nạn. Có lần quân giặc đuổi theo lên đến đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà. Chúng hì hục cậy ra, lấy dây buộc lại dùng đòn khiêng xuống núi để mang về xứ. Nhưng khi bọn chúng mới khiêng đi được một đoạn đường ngắn, lạ thay tượng Bà bỗng dưng nặng trĩu không thể nào nhấc lên được nữa. Khi đó, một tên trong bọn tức giận đập vào cốt tượng làm gãy một phần cánh tay bên trái và ngay tức khắc hắn bị Bà trừng phạt.

Thời gian sau, Bà thường hiện về xưng là Bà Chúa Xứ, dạy dân làng khiêng xuống núi lập miếu thờ cúng. Bà sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tránh được giặc cướp quấy phá, thoát khỏi dịch bệnh hoành hành. Thấy vậy, dân làng họp nhau lên núi khiêng tượng về thờ cúng. Nhưng lạ thay, dù mấy chục thanh niên trai tráng hò nhau gắng sức vẫn không lay chuyến nổi tượng Bà. Trong lúc mọi người đang rất thất vọng, có ý định bỏ dở thì một cô gái trong làng bỗng dưng lên đồng cho biết : “Bà chỉ cần 9 cô gái đồng trinh lên khiêng”. Dân làng làm theo lời dạy ấy và qủa đúng thật 9 cô gái đồng trinh khiêng tượng Bà đi xuống một cách nhẹ nhàng.

Bỗng nhiên khi đi đến chân núi thì tượng Bà trở nên nặng, không thể khiêng nổi thêm một bước nào nữa. Khi đó mọi người đã hiểu rằng, Bà đã chọn nơi đây để an vị nên đã không cố gắng di chuyển đi nữa mà lập miếu thờ cúng chỗ đó.

【#5】Thuyết Minh Về Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam: Dàn Ý & Văn Mẫu

Bài viết số 1: Thuyết minh về Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam Hà Nội

Ngày nay, du lịch là một loại hình nghỉ dưỡng, ăn chơi, tham quan, cúng viếng,…đã không còn xa lạ với con người bởi những địa điểm du lịch về sinh thái hay tâm linh đều được rất nhiều người quan tâm. Nếu nói về du lịch sinh thái, ta không còn quá xa lạ với những cái tên như vườn Quốc gia Ba Vì ở Hà Nội, Vịnh Hạ Long ở Quảng Ninh,…nhưng đối với loại hình du lịch về tâm linh, chùa Một Cột, khu du lịch tâm linh núi Bà Đen, chùa Hương,..lại được rất nhiều du khách viếng thăm. Trong đó, không thể không kể đến miếu Bà Chúa Xứ núi Sam với kiến trúc, các lễ hội và câu chuyện tâm linh nơi đây.

Du lịch tâm linh là loại hình du lịch đến và để cầu nguyện, chúc phúc, cầu bình an, tài lộc,…của con người ngày nay và miếu Bà Chúa Sứ ở núi Sam cũng là một trong những địa điểm du lịch tâm linh được nhiều khách du lịch đến viếng thăm. Miếu Bà là một công trình kiến trúc đẹp và vô cùng trang nghiêm ngự trị ở chân núi Sam, thuộc phường núi Sam ( trước thuộc xã Vĩnh Tế ), huyện Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đươc ngự trị tại An Giang, vốn là một vùng đất có điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi, hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt, bồi đắp phù sa với những câu chuyện kì bí, miếu Bà Chúa Xứ núi Sam đã thu hút khoảng hơn hai triệu khách du lịch đến tham quan hằng năm. Tại ngôi miếu này, tượng thờ chính là Bà Chúa Xứ. Bà được xem như là thần, là phật ban phúc lợi, bình an cho người dân nơi đây nhưng truyền thuyết về Bà và ngôi miếu này được xây dựng khi nào thì còn là một điều bí ẩn dù đã có nhiều sử sách ghi lại việc người dân phát hiện ra Bà và cho lập miếu thờ nhưng mỗi sách lại nói về những câu chuyện truyền thuyết khác nhau. Tương truyền rằng vào những năm 1820-1825, quân Xiêm thường xuyên qua nước ta cướp bốc, bốc lột tài sản của nhân dân ta. Trong một lần chúng đang đi trên ngọn núi Sam – trước đó núi Sam chỉ là một ngọn núi hoang vu, vắng vẻ với nhiều thú dữ – thì phát hiện một pho tượng cổ bằng đá rất đẹp. Thấy thế, chúng nỗi lòng tham, tìm đủ mọi cách xeo nại, nhấc bỗng,..nhưng không làm cho pho tượng dịch chuyển. Sau vài giờ cố gắng mang pho tượng đi, chúng trở nên tức giận, cáu gắt và trong sự nỗi giân nhất thời, chúng đánh gãy cánh tay trái của pho tượng và rời đi. Cùng lúc đó ở một ngôi làng có một cô bé đang nô đùa bỗng đứng lại, mặt đỏ bừng, đầu lắc lư và tự xưng là ” Chúa Xứ Thánh Mẫu ” , nói với các bô lão rằng tượng Bà đang ở trên núi Sam, bị giặc Xiêm tàn phá, bảo mọi người lên đó mang Bà xuống. Nghe thế, bô lão cùng với mọi người leo lên núi Sam và phát hiện tượng Bà quả thật đang nằm trên núi Sam. Bô lão liền gọi các anh chàng thanh niên to con, khỏe mạnh vác tượng Bà đi nhưng không sao cử động dù tượng Bà rất nhẹ. Tưởng như còn việc gì khiến Bà chưa hài lòng, bô lão liền sai người cầu khẩn và lời cầu đã linh nghiệm khi Bà lại nhập vào cô bé hôm nọ bảo rằng ” Hãy chọn chín cô gái đồng trinh để đem bà xuống núi “. Đúng như lời Bà bảo, bô lão liền chọn chín cô gái đồng trinh mang tượng Bà xuống núi nhưng không ngờ khi họ nâng tượng Bà thì pho tượng lại vô cùng nhẹ. Khi xuống chân núi thì pho tượng bỗng nặng trịch như Bà muốn tọa lạc tại chỗ này. Hiểu được ý đồ, bô lão liền cùng người dân xây một miếu thờ để cúng, thờ Bà, mong Bà phù hộ cho người dân nơi đây làm ăn thuận lợi, hạnh phúc, sống trong cuộc sống yên vui, ấm no. Lúc đầu , miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng bằng tre lá đơn sơ, nằm trên một mãnh đất trũng, lưng hướng về vách núi còn chánh điện thì hướng về nơi cánh đồng xanh ngắt như phù hộ cho con dân làm ăn thuận lợi, thuận buồm xuôi gió. Đến năm 1870, miếu được xây dựng lại bằng đá miểng và lợp ngói. Vào năm 1972, miếu lại được trùng tu, xây dựng mới hơn theo lối phương đông cổ kính với dãy đông lang, tây lang, chánh điện và nhà khách nhưng nữa chừng thì bị dang dở, mãi đến năm 1995 mới được xây dựng phần còn lại.

Ngày nay, miếu Bà được xây dựng khang trang, uy nghiêm hơn với hình dạng chữ Quốc được xây bằng gạch có bốn ngói hình vuông, hình khối tháp dạng hoa sen nở với mái tam cấp ba tầng lầu. Nóc miếu được lợp bằng ống ngói màu xanh, bên trong còn giữ lại tấm vách đá dài khoảng mười mét. Ngóc mái vuốt cao, hai bên vách được xây bằng đá cẩm thạch có nguồn gốc từ Ý, Nhật, Đài Loan. Nhìn từ xa, miếu Bà Chúa Xứ núi Sam như một cung điện nguy nga, tráng lệ nhưng vẫn hiện lên nét trang trọng, tôn nghiêm của nơi thờ thần, thờ phật. Tại miếu, tượng của Bà Chúa Xứ núi Sam được đặt trước chánh điện với áo bào thêu rồng phụng, lấp lánh và chiếc mão sặc sỡ.

Miếu Bà ( sau này người dân thường gọi miếu Bà Chúa Xứ núi Sam ) không những thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan bởi công trình kiến trúc, truyền thuyết hình thành nên miếu Bà mà còn là bởi những lễ hội đặc sắc, náo nhiệt nơi đây từ 23 – 27 tháng tư âm lịch ( còn gọi là lễ ” vía Bà Chúa Xứ núi Sam” ). Đông đảo du khách từ xa đến gần đến viếng và tham gia lễ hội với các trò chơi vui như hát bội, múa lân, đánh cờ,…Ngoài ra, để tạo thêm tính náo nhiệt, sôi nổi cho lễ hội, ban quản lý nơi đây còn tổ chức các trò như đua bò, các trò chơi dân gian,…Lễ vía bà Chúa Sứ núi Sam bao gồm các lễ ” Tắm Bà “, lễ ” Thính Sắc “, lễ ” Túc Yết “, lễ ” Chánh Tế” và lễ ” Hồi sắc”.Diễn ra vào nữa đêm 23 rạng sáng24 tháng tư âm lịch, lễ Tắm Bà được diên ra khoảng một giờ để tắm sạch pho tượng của Bà Chúa Xứ. Lễ Tắm Bà được chuẩn bị vào 23 giờ 30 phút và tới 0 giờ sẽ bắt đầu làm nghi thức. Các bô lão sẽ mặc các trang phục áo dài khăn đóng lên đèn, dâng rượu, dâng trà, niệm kinh và thắp hương,…Sau đó sẽ có khoảng 4 đến 5 người phụ nữ chững trạc có uy tính trong làng sẽ tiến hành nghi thức tắm pho tượng của Bà Chúa Xứ sau một tấm màn với nước thơm thoang thoảng mùi hoa nhài. Sau khi tắm xong, họ xịt nước hoa lên pho tượng và tiến hành mặc áo mão mới cho Bà. Chiếc áo cũ sẽ được cắt thành những mảnh vải nhỏ và đem phân phát cho những người đến viếng như Bà ban phúc cho. Sau lễ Tắm Bà là lễ Thỉnh Sắc. Lễ Thỉnh Sắc được tiến hành vào lúc 16 giờ ngày 25 tháng 4 âm lịch. Như được biết, các chức lớn và bô lão sẽ tiến hành từ miếu Bà Chúa Xứ đến lăng Thoại Ngọc Hầu để làm lễ. Dẫn đầu là đội múa lân, các lính hầu cằm cờ theo sau và long đình. Sau khi đến miếu thờ, ông chánh bái sẽ ra làm lễ niệm hương. Trong quá trình làm lễ có tổng cộng 4 bài vị của những người đã khuất là ông Thoại Ngọc Hầu ( người có công lớn đánh giặc và mang đến một ân huệ lớn cho người dân xứ An Giang khi biến nơi đây từ vùng nước sâu lũ lụt thành vùng đất canh tác màu mỡ ), vợ chính và vợ thứ của ông, được đặt lên bàn thờ chánh điện, và bài vị cuối cùng sẽ được đặt lên bàn thờ phía trước như tưởng nhớ những người lính đã đồng hành cùng ông. Tiếp đến là lễ Túc Yết được tiến hành vào 0 giờ ngày 26 tháng 4 âm lịch với hai phần cúng tế và xây chầu. Ở phần cúng tế, người dân phải chuẩn bị lễ vật cúng gồm một con heo trắng, một đĩa huyết heo và một nhúm lông nhỏ, trái cây, trầu cau, gạo,….Mọi người sẽ bắt đầu dâng hương, dâng rượu lên và tiến hành đốt giấy tiền vàng bạc sau khi ba hồi chiếng, trống và nhạc nổi lên. Sau khi kết thúc phần cúng tế mong một cuộc sống bình yên, ấm no thì sẽ đến với phần xây chầu ( hay gọi là hát chầu ). Lễ Chánh Tế được diễn ra cùng giờ vào ngày sau đó, tương tự như lễ Túc Yết, cầu bình an, mưa thuận gió hòa, làm ăn thuận lợi, ấm no hạnh phúc. Kết thúc lễ vía Bà Chúa Xứ núi Sam là lễ Hồi Sắc. lễ Hồi Sắc được tiến hành vào 15 giờ ngày 27 tháng 4 âm lịch đưa 4 bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu, vợ và những người lính đã khuất vào trở về lăng Thoại Ngọc Hầu. Lễ Hội Vía bà Chúa Xứ núi Sam được kết thúc.

Đến với miếu Bà Chúa Xứ, khách du lịch trong quá trình tham gia lễ hội sẽ được hòa nhập vào cuộc sống và con người nơi đây, thưởng thức một lễ hội vui vẻ, độc đáo, náo nhiệt và cũng không kém phần trang nghiêm ở nơi chốn tâm linh này. Năm 2001, lễ hội này đã được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam công nhận là lễ hội cấp Quốc gia và cũng bởi lẽ đó, hằng năm, nơi đây hội tụ khoảng hơn hai triệu người từ gần đến xa, từ trong nước đến ngoài nước viếng thăm. Hãy dành ra chút ít thời gian để đến nơi đây, tôi chắc rằng bạn sẽ cảm thấy vô cùng thích miếu bà Chúa Xứ núi Sam của xứ người An Giang.

Cảm ơn các bạn đã theo dõi một số bài viết thuyết minh về Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam. Chúng tôi hy vọng rằng các bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những lượng kiến thức không hề nhỏ cùng một dàn ý xuất sắc khi gặp những đề văn thuyết minh như thế này.

【#6】✅Bài Văn Khấn Cúng Đầy Tháng Cho Bé Trai & Bé Gái Chuẩn Nhất 1

Theo phong tục và tín ngưỡng của người Việt Nam, lúc bé được 1 tháng tuổi thì các gia đính thường làm mâm cúng mừng bé tròn 1 tháng tuổi, mâm cúng đầy tháng này cũng nghi lễ tạ ơn bà mụ, đức ống và thần linh ở trên đã tạo ra bé thật xinh xắn, đáng yêu và cầu mong bé khỏe mạnh, hạnh phúc.

Cúng đầy tháng là nghi lễ không thể thiếu khi chào đón một em bé chào đời tròn một tháng. Nghi lễ này có từ rất xưa, được cha ông ta truyền lại từ đời này đến đời khác nhằm cầu mong bé khỏe mạnh, bình an và tạ ơn ông bà ở trên. Tuy nhiên, khi khấn cúng đầy tháng, không phải ai cũng biết thông tin ý nghĩa đầy đủ của nghi lễ này.

Theo quan niệm xưa nay, việc khấn vái và bài văn khấn cúng đầy tháng là khấn cúng tạ ơn các bà Mụ tạo ra những đứa trẻ. Nói một cách dễ hiểu, người ta cho rằng đứa trẻ sinh ra là do các Đại Tiên và Tiên Mụ nặn ban cho mà trực tiếp nhất trong quá trình nặn ra các đứa trẻ là 12 bộ Tiên Nương (12 Bà Mụ).

Do đó, khi đứa bé đầy tháng, bố mẹ và gia đình phải tiến hành nghi lễ cúng đầy tháng để tạ ơn các Bà Mụ và các vị Đại Tiên đó đồng thời cầu bình an cho đứa bé.

Cũng có truyền thuyết khác của người Việt kể rằng 12 bà mụ và Đại Tiên là người nặn và dẫn dắt đứa bé bình an đến bên gia đình. Do đó khi cúng chúng ta cần chuẩn bị lễ vật để cúng 12 bà mụ và tiên ông. Điều này cũng giúp cho con hay ăn chóng lớn và hạnh phúc hơn trong cuộc sống sau này. Bài văn khấn cúng đầy tháng là 1 phần không thể thiếu trong lễ cúng đầy tháng cho bé.

Mâm cúng đầy tháng và những lễ vật trong mâm cúng gồm những gì

  • Trái cây (ngủ quả, sắp sao cho đẹp)
  • Hoa Tươi (thường là hoa cát tường) tùy từng gia đình
  • Gạo, rượu, cau trầu, muối hạt, nước lã
  • Đèn cầy, hương.
  • Một con gà luộc, tiền vàng mã, xôi.
  • Chè (bé trai cúng chè đậu trắng, bé gái cúng chè trôi nước), bánh kẹo, thịt heo, bộ giấy áo cúng mụ. Vì theo quan niệm
  • xưa người tạo ra các bé là 12 Bà Mụ nên số lượng chén chè, dĩa bánh kẹo, ly rượu,… thường là 12.

Sắp xếp và bày trí mâm cúng đầy tháng như thế nào

Sau khi đã chuẩn bị xong vật lễ cúng đầy tháng, bạn tiến hành bày trí lên mâm để thắp hương và đọc bài văn khấn cúng đầy tháng. Trời tạo hóa ra các bé có hai giới tính khác nhau để âm dương hòa hợp, vạn vật đều ôn hòa nên bản chất các bé đã có sự khác nhau.

Do đó, thông tin từ bài văn khấn cúng đầy tháng bé traibài văn khấn cúng đầy tháng bé gái là khác nhau cũng như cách bày trí mâm cúng cho bé trai và bé gái cũng khác nhau.

Đối với bé trai, lễ vật cúng sẽ được bày trên hai bàn, một bàn to và một bàn nhỏ. Bàn nhỏ sẽ được xếp phía trên gồm một con gà luộc, một mâm hoa quả, một tô chè, một tô cháo, thịt quay,… các lễ vật này dùng để cúng ông bà tổ tiên, các ông bà để đức che chở cho cháu.

Bàn lớn sẽ đặt ở phía dưới, sắp xếp các lễ vật còn lại để cúng mười hai mụ. Thường thì người ta xếp các đĩa xôi, chè và cháo theo hai hàng cân xứng nhau. Ngoài ra, vị trí hai bàn đặt cạnh nhau không được quá sát nhau, phải có khoảng cách khoảng 10 cm là được.

Đối với bé gái, cách bày trí cũng không khác là bao, chỉ có một số lưu ý như bé gái thay vì bày cúng chè đậu trắng thì cúng bằng chè trôi nước, mỗi chén chè một viên trôi nước và cũng đặt cân xứng hai hàng giống như bé trai. Cần chú ý nguyên tắc sắp xếp đông bình tây quả, tức là bình hoa tươi sẽ đặt ở phía đông và mâm cúng như hoa quả, thịt, gà,… sẽ đặt ở phía tây.

Bài Văn khấn cúng đầy tháng cho bé trai

Bài Văn khấn cúng đầy tháng (cách khấn vái cúng đầy tháng) rất quan trọng, nó là lời cảm ơn đấng trên đã phù hộ cho mẹ tròn con vuông và cầu mong bé khôn lớn khỏe mạnh. Như đã nói ở trên, giữa trai và gái có những điểm khác biệt nhất định nên thông tin đầy đủ về bài văn khấn cúng đầy tháng bé trai bài văn khấn cúng đầy tháng cho bé gái là khác nhau.

Với văn khấn cúng đầy tháng bé trai, bài khấn được ông bà xưa nay truyền tải như sau:

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

  • Con kính lạy Đệ nhất Thiên tỷ đại tiên chúa.
  • Con kính lạy Đệ nhị Thiên đế đại tiên chúa.
  • Con kính lạy Đệ tam Tiên Mụ đại tiên chúa.
  • Con kính lạy Thập nhị bộ Tiên Nương.
  • Con kính lạy Tam thập lục cung chư vị Tiên Nương.

Hôm nay là ngày…..tháng….. năm……

Vợ chồng con là chúng tôi được con trai đặt tên là … Chúng con ngụ tại:..

Nay nhân ngày đầy tháng (đầy cữ, đầy năm) chúng con thành tâm sắm hương hoa lễ vật dâng bầy lên trước án, trước bàn tọa chư vị Tôn thần kính cẩn tấu trình:

Nhờ ơn thập phương chư Phật, chư vị Thánh hiền, chư vị Tiên Bà, các Đấng thần linh, Thổ công địa mạch, Thổ địa chính thần, Tiên tổ nội ngoại, cho con sinh ra cháu tên là…sinh ngày… được mẹ tròn con vuông.

Cúi xin chư vị tiên Bà, chư vị Tôn thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì, che chở cho cháu được ăn mau chóng lớn, vô bệnh vô tật, vô tai, vô ương vô hạn, vô ách, phù hộ cho cháu bé được tươi đẹp, thông minh, sáng láng, thân mệnh bình yên, cường tráng, được hưởng vinh hoa phú quí. Gia đình con được phúc thọ an khang, nhân lành nảy nở, nghiệp dữ tiêu tan, bốn mùa không hạn ách nghĩ lo.

Xin thành tâm đỉnh lễ, cúi xin được chứng giám lòng thành.

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!”

Bài văn khấn cúng đầy tháng bé gái

Bàu Văn khấn cúng đầy tháng cho bé gái cũng tương tự như văn khấn cúng đầy tháng bé trai. Tuy nhiên, ở phần trình bày tên vợ chồng và sinh được bé gì tên gì thì phải sửa lại là sinh được bé gái và tên con gái trong bài cúng đầy tháng cho bé gái

Nghi thức khai hoa trong lễ cúng đầy tháng

Sau khi thắp hương và đọc bài văn khấn cúng đầy tháng cho bé xong, thì gia đình tiến hành nghi thức khai hoa cho con. Có thể nói bài cúng đầy tháng rất quan trọng trong nghi lễ đầy tháng, ngoài ra cách khấn vái cúng đầy tháng cũng phải đúng để hợp nghi lễ.

Nghi thức khai hoa trong cúng đầy tháng cũng rất quan trọng.

Ở nghi thức khai hoa này, gia đình sẽ đặt bé ở ngay giữa bàn, người lớn (cha, mẹ, ông bà) thắp hương và mở lời xin phép khai hoa. Một người được gọi là người chủ lễ sẽ ẵm bé trên tay và lấy một nhành hoa điệp huơ qua lại trước miệng bé, đọc lời chúc và lời dạy có ý nghĩa.

Sau cùng, gia đình và họ hàng, bạn bè sẽ tặng quà, lì xì cho bé và cầu chúc cho bé luôn khỏe mạnh, dễ nuôi và luôn luôn an bình.

Như vậy chúng tôi đã hướng dẫn xong bài văn khấn cúng đầy tháng thực ra không khó, có thể nó khá là ngắn gọn nhưng cần chú ý văn cúng đầy tháng cho bé trai và văn cúng đầy tháng cho bé gái khác nhau. Ngoài ra còn phải để ý cúng đầy tháng theo lịch âm hay dương sao cho chuẩn theo phong tục Việt.

Bài viết này đã được DMCA

【#7】Văn Khấn Ban Tam Bảo Tại Gia Chuẩn, Đúng Và Chính Xác Nhất

Ban Tam Bảo có ý nghĩa là gì?

Ban Tam Bảo là ba thứ mà các Phật tử tìm kiếm sự hướng dẫn: Phật, Pháp và Tăng đoàn. Tùy thuộc vào trường phái Phật giáo cụ thể, Đức Phật có thể đề cập đến Đức Phật Siddhartha Gautama cụ thể hoặc đến Phật tính phổ quát có khả năng tồn tại trong tất cả chúng sinh.

Một người trở thành Phật tử bằng cách “quy y” trong Tam Bảo, một bước thường được tạo điều kiện bởi một buổi lễ tôn giáo.

Tam Bảo là trung tâm của đời sống tín ngưỡng Phật giáo và quy y nơi đó là một thời điểm quyết định trong cuộc đời của người tu Phật. Tam Bảo cũng là một phần cốt lõi của việc thực hành tôn giáo

Bởi vì, các Phật tử được kêu gọi quán chiếu về bản chất thực sự của mỗi ngôi Bảo trên con đường dẫn đến giác ngộ. Ba khái niệm này xứng đáng được đánh giá cao vì các Phật tử tin rằng chúng là bất biến và không thay đổi.

Mặc dù ý nghĩa chính xác của Tam Bảo có thể khác nhau giữa các trường học, những quy y chúng là một thực hành và niềm tin hợp nhất các Phật tử trên toàn thế giới và qua các thời đại.

Các Phật tử quy y trong ba biểu hiện khác nhau của tâm thức: phật, pháp và tăng. Mỗi điều này là một yếu tố quý giá và cần thiết của con đường Phật giáo, và vì vậy chúng được gọi là tam bảo. Như vậy, Ban Tam Bảo sẽ gồm có:

Nói rộng hơn, nguyên lý phật đề cập đến tất cả các vị thầy và những bậc giác ngộ, những người truyền cảm hứng và hướng dẫn chúng ta.

Giáo pháp Phật giáo bắt đầu từ những chân lý cơ bản mà chính Đức Phật đã dạy – tứ diệu đế, tam bảo, bát chánh đạo,… Và chúng bao gồm toàn bộ giáo lý Phật giáo rộng lớn đã được phát triển trong 2.600 năm kể từ đó.

Cần lưu ý rằng từ tiếng Phạn pháp cũng có nghĩa là một sự vật hoặc đối tượng theo nghĩa thông thường. Trong cả hai trường hợp, từ này biểu thị một quy luật cơ bản hoặc chân lý của thực tế.

Thuật ngữ tăng đoàn thường dùng để chỉ những người xuất gia và những vị A la hán mà các hành giả tại gia quy y. Điều này đã thay đổi ở phương Tây, nơi mà sangha có nghĩa là cộng đồng những người thực hành Phật giáo nói chung, cả xuất gia và cư sĩ.

Các Phật tử ở đây cũng sử dụng từ này để mô tả một cộng đồng hoặc nhóm cụ thể, và bạn sẽ thường nghe mọi người nói về “tăng đoàn của tôi”, nghĩa là cộng đồng Phật giáo mà họ thuộc về.

Chuẩn bị lễ vật cúng Ban Tam Bảo và các lưu ý khi chuẩn bị lễ

Ban Tam Bảo thờ những ai? Theo thông tin tìm hiểu thì Ban Tam Bảo sẽ gồm có 3 vị là phật, pháp và tăng.

Đối với những người đi hành lễ ở những nơi thờ Thần, Phật, các chư vị Bồ Tát, thành hiền và Đức Bà, Ban Tam Bảo thì cần phải lưu ý một số điều sau trong quá trình đi sắm sửa lễ vật để dâng lên các vị.

– Trong quá trình dâng hương ở các chùa thì chỉ nên sắm sửa những lễ vật chay như: hương thơm, hoa tươi, quả tươi, phẩm oản, xôi chè,… Tuyệt đối không nên sắm những lễ phẩm mặn mang đến như: thịt luộc, gà, giò, chả,…

– Tuy nhiên, khi đi cúng các bậc Tam sinh hay những khu vực có thờ những vị Thánh Mẫu thì có thể dâng lên lễ vật mặn. Nên nhớ là không dâng những vật phẩm mặn này ở những khu vực chính có thờ Phật.

– Những vật lễ như: gà, chả, giò, rượu, trầu cau,… chỉ nên đặt ở tại ban thường hoặc những điện thờ được thiết kế riêng của Đức Ông hoặc bất kỳ những vị thánh nào đó. Được biết, những nhân vật này có ý nghĩa to lớn với những nơi thờ cúng.

– Trong khi thực hiện dâng lên Phật ngay tại chùa thì các bạn không nên sắm vàng mã, tiền âm phủ hoặc những vật phẩm tương tự. Những lễ vật như vậy chỉ nên đặt ở những bàn thờ Đức Ông, Thần Linh hoặc Thánh Mẫu tại những điện bên cạnh.

– Bên cạnh đó, các bạn không nên đặt tiền thật trên bàn thờ Phật ở chính diện. Tuy nhiên, các bạn có thể đặt ở các ban khác hoặc tốt hơn hết là đạt vào hòm công đức.

Hạ lễ sau khi cúng Ban Tam Bảo

Sau khi thực hiện xong thủ tục khấn lễ thì các bạn có thể thắp thêm một tuần hương, rồi tiếp tục vái 3 vái tại tất cả những ban rồi mới có thể hạ lễ xuống. Thông thường, những nơi hóa sớ sẽ được đặt ở sân chùa.

Quá trình hạ lễ, các bạn cần chú ý nên hạ từ ban ngoài cùng với lần lượt cho đến ban chính. Và thứ tự hành lễ ở chùa sẽ được tiến hành như sau:

– Đặt lễ vật: Cần đặt lễ vật ở ban thờ Đức Ông trước.

– Sau khi thực hiện đặt lễ vậy ở bàn Đức Ông thì mới đặt lễ vật ở các ban chính điện, rồi mới tiến hành thắp nhang đèn.

– Khi các bạn đã thực hiện thắp nhang ở tất cả những ban thờ khác, thì đối với chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì hãy đến đó đặt lễ, dâng hương và nguyện cầu theo ý nguyện.

– Và bước cuối cùng là thực hiện lễ ở nhà thờ Tổ.

Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ….. Tín chủ (chúng) con là: ………………….. Ngụ tại: ………………….

Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo. Chúng con xin dốc lòng kính lễ:

– Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.

– Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Ta Bà.

– Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.

– Đức Thiên thủ, Thiên nhãn,

– Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

– Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.

Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được …

Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai qua nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khỏe, trên dưới thuận hòa an khang thịnh vượng.

Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

Nam mô A Di Đà Phật ! Nam mô A Di Đà Phật ! Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)”

Nên mua Ban Tam Bảo bằng đá ở đâu?

Trên thị trường hiện nay, có rất nhiều loại đá phong thủy bị làm giả mà không phải bạn nào cũng nhận biết được. Chính vì vậy, các bạn nên chọn cho mình một địa chỉ điêu khắc tượng Ban Tam Bảo uy tín để có thể đảm bảo chất lượng.

Tại đây, chuyên cung cấp những sản phẩm điêu khắc về tượng phật, tượng nghệ thuật và gồm có cả tượng phong thủy,… Thật tự hào khi địa Đá Mỹ Nghệ Thành Đô luôn nâng cao và phát triển về mẫu mã, chất liệu. Đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng.

Nếu các bạn nào có nhu cầu tư vấn, mua hay đặt hàng thì vui lòng liên hệ đến địa chỉ: ĐÁ MỸ NGHỆ THÀNH ĐÔ

  • Hotline: 0904697999
  • ĐC xưởng: Lô 35-36 Quán Khái 12 – Làng đá Non Nước – Phường Hòa Hải – Quận Ngũ Hành Sơn – TP Đà Nẵng
  • ĐC trưng bày: 135-157 Huyền Trân Công Chúa – Phường Hòa Hải – Quận Ngũ Hành Sơn – TP Đà Nẵng
  • Email: [email protected]
  • Chủ cơ sở : NGUYỄN VĂN THÀNH
  • MST: 8496380743
  • Facebook: facebook.com/DaMyNgheDN
  • Twitter: twitter.com/thanhnguyenjd

Như vậy, với những thông tin chia sẻ xoay quanh Ban Tam Bảo hẳn rằng các bạn đã nhận thấy hình tượng và lịch sử tâm linh Ban Tam Bảo vô cùng ý nghĩa và sâu sắc. Hy vọng, các bạn đã giải đáp được cho mình những câu hỏi như: Ban Tam Bảo là gì? Ý nghĩa của Ban Tam Bảo ở trong chùa Việt? rồi đúng không nào!

Bài viết cùng chuyên mục :

【#8】Văn Khấn Tạ Đất Chuẩn Tâm Linh Mới Nhất Năm 2021

Lễ cúng đất là một trong những nét đẹp truyền thống của người Việt Nam. Vậy bài văn khấn tạ đất như thế nào? Để biết thêm chi tiết mời bạn theo dõi bài chia sẻ sau đây của chúng tôi Chắc chắn sau bài chia sẻ này bạn sẽ có thêm nhiều thông tin bổ ích.

Ý nghĩa của việc lễ cúng tạ đất là gì?

Theo quan niệm của người xưa thì việc cúng lễ tạ đất được xem như một nghi thức thể hiện lòng thành của gia chủ đến với những vị thần linh cai quản mảnh đất đó. Vậy nghi thức này có ý nghĩa gì?

  • Mang ý nghĩa tri ân chư vị Thổ Thần đã phù hộ độ trì cuộc sống làm ăn của cả gia đình. Đồng thời thể hiện lòng thành kính của gia chủ đối với các vị thần linh.
  • Một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng của người Việt Nam
  • Niềm mong muốn của gia chủ mong muốn các vị thần linh phù hộ trong năm mới gặp được nhiều may mắn và gia đình được hạnh phúc cùng bình an.

Bài văn khấn tạ đất cuối năm chuẩn nhất

Dựa trên văn khấn cổ truyền Việt Nam thì bài văn khấn tạ đất gồm có những nội dung cơ bản như sau:

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Con kính lạy:

Quan đương xứ thổ địa chính thần.

Thổ địa Ngũ phương Long mạch Tôn thần.

Hôm nay là ngày……tháng……năm……., nhằm tiết ……………………………….

Chúng con là:……………………………………………………………………………….

Thành tâm sắm sanh phẩm vật, hương hoa phù tửu lễ nghi, trình cáo Chư vị Tôn Thần về việc lễ tạ thần linh Thổ Địa.

Gia đình chúng con nhờ có duyên lành mà đến an cư lạc nghiệp nơi này. Đội ơn thần linh Thổ địa che chở, ban ân, đất này được phong thủy yên lành, khí sung, mạch vượng, bốn mùa không hạn ách tai bay, tám tiết có điềm lành tiếp ứng. Trong ngoài ấm êm, toàn gia mạnh khỏe. Nay nhằm ngày lành tháng tốt, gia đình chúng con sắm sửa lễ tạ mong báo đáp ân thâm, tỏ lòng tôn kính. Cúi xin Chư vị Tôn Thần lai giáng án tiền, nhận hưởng lễ vật, chứng minh tâm đức.

Cung kính nghĩ rằng thần linh Thổ địa sẽ tùy duyên ứng biến phù hộ cho gia đình chúng con được an cư, đạt được những điều mong ước, cho nhà cao cửa rộng, cho tăng tài tiến lộc, cho nhân vật hưng long.

Âm dữ dương đồng, dốc lòng cầu khấn, cúi xin soi tận, ý khẩn tâm thành.

Kính thỉnh Bản gia tiên tổ liệt vị chân linh đồng lai hâm hưởng.

Cẩn cáo!

Hướng dẫn cách sắm lễ tạ đất

Để nghi thức cúng tạ đất được đầy đủ thì việc sắm lễ tạ đất rất quan trọng. SAu đây là một số lễ vật cần chuẩn bị khi sắm lễ:

  • Hương hoa, trái cây
  • Hoa tươi phải là hoa hồng đỏ gồm 10 bông và chia ra làm 2 lọ để ở hai bên.
  • Trầu cau phải chuẩn bị 3 lá và 3 quả cau trên cành dài và đẹp.
  • 2 đĩa xôi trắng to bày cân đối hai bên
  • Gà luộc nguyên con hoặc một đĩa giò
  • Chai rượu trắng 0,5 lít + chén đựng rượu 3 cái
  • Bia 10 lon + 6 lon nước ngọt bày ở hai bên ban thờ
  • 1 bao thuốc lá + 1 gói chè
  • Bánh kẹo và bỏng bày ra một đĩa to
  • Vàng mã thì cần chuẩn bị 6 con ngựa, 5 bộ áo, hia kèm theo là cờ lệnh. Lưu ý mỗi con ngựa trên lưng phải đeo 10 lễ tiền vàng.

【#9】Văn Khấn Lễ Đức Ông Tại Chùa Mới Nhất

Đức Ông được tạc tượng và thờ tự trong tất cả các chùa viện Phật giáo ở Việt Nam, thường được Phật tử và tín chủ cầu xin chuyện công danh, tiền bạc, con cái, v.v… Đức Ông sống cùng thời với Đức Phật lịch sử của chúng ta, hiệu là Cấp Cô Độc, tức là chu cấp cho hết thảy những người cô đơn, nghèo khổ, bệnh tật.

Về góc độ lịch sử, Ngài là vị thí chủ lớn nhất đối với Đức Phật và Tăng đoàn. Về góc độ thần thông, Ngài là đại hộ pháp của Phật Môn.

Ngài hiện ở đời cũng do trách nhiệm này nên Ngài có công năng thấy hết mọi kho tàng, tài bảo trên thế gian, không cầu cũng giàu có, phong túc không ai bằng. Tài bảo đó Ngài dùng cúng dường Tam Bảo, bố thí cho kẻ cùng khốn, nên ở Ngài đầy đủ hạnh Phổ Hiền, đức Từ Bi.

Theo phong tục tập quán cổ truyền, trong các ngày rằm, mồng một, ngày lễ Phật giáo, Tết nguyên đán, hoặc những ngày gia đình có việc hệ trọng, người Việt thường đến chùa lễ Phật, thành tâm cầu khấn hồng ân chư Phật, chư đại Bồ Tát, Hiền Thánh Tăng, Đức Ông… gia hộ cho bản thân và gia đình mạnh khoẻ, tai qua nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, gia đình hoà thuận, thế giới hoà bình, chúng sinh an lạc v.v.

Tuy nhiên, việc sửa soạn đi lễ chùa, hoặc sắm lễ vật để đi chùa cúng Đức ông, người đi lễ cần phải biết những quy định căn bản của nhà chùa mà người hành lễ phải tuân thủ.

2. Sắm lễ Đức Ông và chư Phật, thần linh

Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

– Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).

Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

– Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.

– Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

– Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

– Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

– Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

3. Hạ lễ sau khi cúng Đức Ông

Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

3. Văn khấn cúng Đức Ông

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Con lạy chính phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn Giả, Thập bát Long thần, Già Lam Chân Tể.

Hôm nay là ngày ……….. tháng …………. năm …………..

Tín chủ con là: ………………………………………………

Ngụ tại: ………………………………………………………

Cùng cả gia đình thân tới cửa chùa ……………………..

Trước điện Đức Ông, thành tâm kính lễ, hiến dâng phẩm vật, kim ngân tịnh tài.

Chúng con kính tâu lên ngài Già Lam Chân tể cai quản trong nội tự cùng các Thánh chúng trong cảnh chùa đây.

Tín chủ con có lời thưa rằng: Chúng con sinh nơi trần tục, nhiều sự lỗi lầm, hôm nay tỏ lòng thành kính, cúi xin Đức Ông để đức hiếu sinh, rủ lòng tế độ che chở cho chúng con, ba tháng hè chín tháng đông, tiêu trừ bệnh tật tai ương, vui hưởng lộc tài may mắn, cầu gì được nấy, nguyện gì cũng thành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

【#10】Văn Khấn Tam Bảo Tại Chùa Chuẩn Xác Nhất

Theo nét văn hóa cổ truyền, người Việt vẫn đi lễ chùa, trẩy hội vào các dịp lễ tiết trong tháng, trong năm. Đây là một nét văn hóa đẹp để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn Tam Bảo, cùng chư vị Hiền Thánh, Thần linh…

Chùa cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các vị Phật, Bồ Tát, các chư vị Hiền Thánh, Thần linh trong nhiều trường hợp đã đi vào cuộc sống tinh thần của con người. Nơi thờ tự còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người mong rằng bằng sự tín ngưỡng của bản thân mình có thể cầu xin các vị chư phật phù hộ cho cuộc sống bình an, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

Không bắt buộc lễ vật khi mang đến chùa phạt sang trong. Điều được đề cao trước nhất là cái tâm thành kính của tín đồ, Phật tử. Đi cúng lễ ở những nơi thờ Thần, Phật, chư vị bồ tát, thánh hiền, đức bà,… thì người đi hành lễ cần phải chú ý tới những điều sau khi sắm sửa lễ vật dâng lên các vị chư thần.

– Khi đi dâng hương tại các chùa thì chỉ nên sắm toàn bộ là lễ chay như hương thơm, hoa tươi, quả theo mùa, phẩm oản, xôi chè,… Tuyệt đối không được dâng lên ban lễ mặn.

– Chỉ dâng lễ mặn lên nếu như trong chùa có ban thời Thánh Mẫu. Chú ý tuyệt không được dâng lễ mặn ở các khu vực chính thờ Phật (tức là nơi thờ chính của ngôi chùa).

– Trên hương án ở chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh.

– Lễ mặn như gà, chả, dò, rượu, trầu cau,.. chỉ được đặt tại ban thường hay những điện thờ được xây riêng của Đức Ông hay bất kỳ vị thánh nào đó có ý nghĩa to lớn với nơi thờ cúng.

– Khi dâng cúng Phật tại chùa không được sắm vàng mã, tiền âm phủ hay những thứ tương tự. Những lễ như này thì chỉ được đặt ở bàn thờ Đức Ông, Thần Linh hay Thánh Mẫu ở các điện bên cạnh.

– Không nên đặt tiền thật lên ban thờ Phật, các ban khác thì có thể đặt, tốt hơn hết nên để vào hòm công đức.

Hành lễ ở chùa cần theo những thứ tự sau

– Đặt lễ vật: Trước hết, quý tín đồ phải thắp hương ở ban thờ Đức Ông.

– Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang.

– Tiếp sau, đặt lễ ở gian nhà chính đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.

– Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu)

– Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tuỳ tâm công đức.

Văn khấn Tam Bảo tại chùa chuẩn xác nhất

“Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Đệ tử con là ……………………………………

Ngụ tại ………………………………………………

Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo.

Chúng con xin dốc lòng kính lễ:

– Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.

– Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà.

– Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.

– Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

– Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.

Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ………………………………(công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…).

Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai qua nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khỏe, trên dưới thuận hòa an khang thịnh vượng.

Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

Cẩn nguyện.