【#1】Văn Khấn Văn Miếu Quốc Tử Giám

Vào dịp đầu năm mới, ngoài việc đi lễ chùa, rất đông sĩ tử cùng người nhà tranh thủ đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám với chung mục đích là cầu nguyện sao cho việc thi cử được gặp nhiều may mắn.

Sắm lễ

Một gói bánh đậu xanh.

3 cái bóng đèn điện.

Một quyển vở, một cái bút, hoa quả tùy tâm biện lễ.

5 lễ tiền vàng

Ai có vật phẩm hỗ trợ khác, gói trong một tờ giấy đỏ rồi đặt lên mâm lễ.

Văn khấn

Việt Nam quốc, Hà Nội thị, Văn miếu Quốc Tử Giám.

Môn sinh: sinh niên.

Kính cẩn tấu trình: Văn xương Thánh Đế.

Chư vị Thượng Trung Hạ bản từ.

Hôm nay là ngày tháng Năm Canh Tý

Con xin kính cẩn biện cung trần bạc lễ.

Cúi xin chư vị Đại Đức Thánh Hiền học giả chứng giám cho con là:………….

Trú tại : Việt Nam quốc.

Nay đang học tại: Việt Nam quốc. Năm ứng thí kỳ thi:….

Trước linh đài Văn xương Thánh Đế linh đài con xin tâm thành kính cẩn xin các ngài chứng giám tâm thành, phù độ gia trì cho con năm nay được bản mệnh khang an, tinh thần dong sảng, trí lực tinh anh, minh mẫn, gạt bỏ tạp phế, chú tâm đèn sách học tập để bước vào kỳ thi tới được gặp nhiều hanh thông cát tường, học giỏi đỗ cao, thầy yêu bạn giúp, hoàn tất được bài thi đến nơi đến chốn, đạt điểm số tối đa của trường: Đại học …..

Con kính xin chư vị chấp lễ chấp cầu trợ lực cho con được kim bảng danh đề toại tâm như ý.

Con xin khấu đầu cảm tạ!

Môn sinh con: ………….. xin rập đầu cúi lạy đến bách bái.

Hoặc sĩ tử, phụ huynh có thể tham khảo bài khấn nôm được lưu truyền trong dân gian như sau:

Con nam mô a di Đà Phật!

Con nam mô a di Đà Phật!

Con nam mô a di Đà Phật! (3 lạy)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Kính nguyện Phật Thánh chứng tâm thiện thần bảo hộ.​

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là ….

Hữu duyên hữu ngộ Thánh độ chỉ đường, mà hôm nay nhằm ngày…. tháng ……..năm …., đệ tử được đem thân về hầu đê đầu bái yết cửa …….. linh từ.

Con xin kêu cho… (nêu đầy đủ họ tên, phòng thi, số báo danh) được đỗ đạt trong kỳ thi…. sắp tới.

Con nguyện noi gương sáng đức Thánh để tỏ rạng trí tâm chuyên cần sự học.

Nguyện xin ngài bồi hơi tiếp sức, gia lực hộ trì cho con Long Vân đạt hội, thẳng lối đường mây, công danh thỏa nguyện.

Con chẳng dám quên công ân trời bể nhà ngài. Con là người trần mắt thịt, con ăn chưa sạch, bạch chưa thông còn nhiều lầm lỗi xin xin được tha thứ, mở lối cho con đi. Độ cho con được tâm cầu sở nguyện, như ý sở cầu, kỳ thi đỗ đạt như ý muốn.

Con nam mô a di Đà Phật!

Con nam mô a di Đà Phật!

Con nam mô a di Đà Phật! (3 lạy)

Lưu ý:

1. Sau khi lễ tạ hóa vàng, mang cái bút và quyển vở về nhà, khi nào đi thi mang đi để dùng làm bài.

2. Còn cái bóng điện, lắp vào đèn bàn học để ôn luyện hàng ngày.

3. Còn bánh đậu xanh ăn hàng ngày và trước lúc đi thi lấy may mắn.

(Các thông tin ở trên chỉ mang tính chất tham khảo)

【#2】Bài Văn Khấn Tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Đầy Đủ, Chính Xác

Bài văn khấn ở tại văn miếu quốc tử giám đầy đủ, chính xác nhất. Đá mỹ nghệ Ninh Vân xin chia sẻ tới các bạn bài văn khấn ở văn miếu, chuẩn bị lễ mang đến văn miếu quốc tử giám để cầu thi cử may mắn. Mời các bạn cùng tham khảo bài văn khấn và cách sắm lễ ở phần dưới này.

  • Một gói bánh đậu xanh
  • 3 cái bóng đèn điện
  • Một quyển vở, một cái bút, hoa quả các loại
  • 5 lễ tiền vàng
  • Có thể thêm nhiều vật phẩm khác, gói vào rồi đặt lên mâm lễ

Khi đi lễ tại Văn Miếu cần mặc trang phục như nào

  • Trang phục mặc đi lễ phải trang nghiêm, lịch sự. Không ăn mặc hở hang, phản cảm.
  • Trang phục tuân thủ theo nội quy tham quan của Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Chuẩn bị sớ cầu thi đỗ đạt

  • Khi đi cầu thi cử may mắn tại Văn miếu Quốc Tử Giám thì sớ cầu thi đỗ đặt là không thể thiếu. Bạn có thể đặt viết sớ cầu thì cử đỗ đạt tại cổng của văn miếu. Những mong muốn, tên tuổi, địa chỉ của bạn sẽ được các thầy nho viết vào văn sớ trước khi mang vào lễ trong các điện.
  • Sau khi các bạn đặt sớ và thắp hương, hãy chắp tay, thành kính khấn theo bài văn khấn sau:

Bài văn khấn tại văn miếu quốc tử giám

“Việt Nam quốc; Hà Nội thị; Văn miếu Quốc Tử Giám. Môn sinh: … – Sinh … niên. Kính cẩn tấu trình: Văn xương Thánh Đế. Chư vị Thượng Trung Hạ bản từ. Hôm nay là ngày … tháng … năm Mậu Tuất 2021. Con xin kính cẩn biện cung trần bạc lễ (đã chuẩn bị từ trước) Cúi xin chư vị Đại Đức Thánh Hiền học giả chứng giám cho con là: … Trú tại : số nhà … – …. phố – ….. quận – …… Tỉnh – Việt nam quốc. Nay đang học tại: … quận – … Tỉnh – Việt Nam quốc. Kim niên … ứng thí kỳ thi: … Trước linh đài Văn xương Thánh Đế linh đài con xin tâm thành kính cẩn xin các ngài chứng giám tâm thành, phù độ gia trì cho con năm nay được bản mệnh khang an, tinh thần dong sảng, trí lực tinh anh, minh mẫn, gạt bỏ tạp phế, chú tâm đèn sách học tập để bước vào kỳ thi tới được gặp nhiều hanh thông cát tường, học giỏi đỗ cao, thày yêu bạn giúp, hoàn tất được bài thi đến nơi đến chốn, đạt điểm số tối đa của trường: Đại học … Con kính xin chư vị chấp lễ chấp cầu trợ lực cho con được kim bảng danh đề toại tâm như ý. Con xin khấu đầu cảm tạ! Môn sinh con: … xin rập đầu cúi lạy đến bách bái. Nhâm Thìn niên – Nhị nguyệt – Đại cát nhật. “

【#3】Hướng Dẫn Đi Văn Miếu Quốc Tử Giám Cầu Thi Cử

1. Văn Miếu Quốc Tử Giám ở đâu?

Nhắc đến cầu thi cử đỗ đạt, người ta nghĩ ngay đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Nơi đây vừa có ý nghĩa lịch sử lâu đời, vừa là nơi linh thiêng trong việc cầu thi đỗ.

1.1. Văn Miếu – Quốc Tử Giám nằm ở đâu?

Văn Miếu Quốc Tử Giám nằm ngay trung tâm thủ đô Hà Nội, bao quanh bởi bốn tuyến phố chính của quận Đống Đa là Nguyễn Thái Học, Tôn Đức Thắng, Văn Miếu và Quốc Tử Giám. Cổng chính của Văn Miếu Quốc Tử Giám có địa chỉ tại số 58, phố Văn Miếu.

1.2. Xe bus đi Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Tuyến xe bus đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám gồm có các tuyến số : 02, 23, 32, 38, 41.

  • Tuyến xe bus số 02: Bác Cổ – Bến xe Yên Nghĩa
  • Tuyến xe bus số 23: Tuyến vòng khép kín Nguyễn Công Trứ – Nguyễn Công Trứ
  • Tuyến xe bus số 32: BX Giáp Bát – Nhổn
  • Tuyến xe bus số 38: Nam Thăng Long – Mai Động
  • Tuyến xe bus số 41: Nghi Tàm – BX Giáp Bát

2. Văn Miếu Quốc Tử Giám mở cửa lúc mấy giờ?

Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội ngày thường và ngày tết đều mở cửa từ thứ 2 đến chủ nhật. Tuy nhiên, giờ mở cửa có sự khác nhau.

2.1. Thời gian mở cửa Văn Miếu – Quốc Tử Giám theo ngày

  • Thứ 2 đến thứ 6: Mở cửa từ 7:30 – 18:00
  • Thứ 7, Chủ Nhật: Mở cửa từ 8:00 – 21:00

2.2. Lịch vào Văn Miếu Quốc Tử Giám theo mùa

  • Vào mùa nóng (từ ngày 15/4 đến 15/10): Từ 7h30 đến 17h30
  • Vào mùa lạnh (từ ngày 16/10 đến 14/4): Từ 8h00 đến 17h00

3. Vé tham quan Văn Miếu Quốc Tử Giám

Giá vé tham quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám được niêm yết là 30.000 đồng/lượt cho cả khách nước ngoài và khách Việt Nam. Tuy nhiên, tùy từng đối tượng, giá vé có sự thay đổi. Có những đối tượng sẽ được giảm giá 50% giá vé. Đặc biệt, một số du khách sẽ được miễn phí hoàn toàn.

Giá giảm áp dụng cụ thể như sau:

Đối tượng được giảm 50% giá vé (tức 15.000 đồng)

  • Người bị khuyết tật nặng
  • Công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên
  • Người dân ở các xã, huyện miền núi; vùng sâu, vùng xa, kém phát triển
  • Người có công với Đảng, cách mạng
  • Học sinh, sinh viên từ 15 tuổi trở lên

Đối tượng được miễn phí vé tham quan

  • Người khuyết tật đặc biệt nặng
  • Trẻ em dưới 15 tuổi

4. Giới thiệu về Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội

4.1. Lịch sử hình thành

Văn Miếu được xây dựng vào năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông, còn Quốc Tử Giám được xây dựng năm 1076, dưới thời vua Lý Nhân Tông. Hai công trình được xây dựng để dạy học, thờ Khổng Tử và những bậc hiền tài Nho học xưa.

Dưới thời Lý, giáo dục Việt Nam phát triển nhất trong các thời đại vua chúa phong kiến. Quốc Tử Giám được xây nên chính là minh chứng rõ nét nhất cho quyết tâm nâng cao học vấn của vua Lý Nhân Tông.

Đây là công trình mang tính đột phá, được xây nên nhằm cổ vũ tinh thần hiếu học của nhân dân. Đồng thời, đây cũng là nơi tìm kiếm và bồi dưỡng nhân tài phục vụ đất nước. Sau khi được xây dựng, các lớp học ở Quốc Tử Giám bắt đầu được mở ra vào năm 1076.

Học trò tại Quốc Tử Giám được gọi là giám sinh. Đây là những sĩ tử đã đỗ kì thi Hương, vượt qua kỳ kiểm tra ở Bộ Lễ. Các giám sinh vào Quốc Tử Giám học tập, nghe giảng và làm văn để chuẩn bị thi Hội, thi Đình. Rất nhiều học giả nổi tiếng có công cho triều đình đã trưởng thành từ Quốc Tử Giám.

Nhà Thái học ngày nay trong khu Quốc Tử Giám ngày xưa chính là nơi các giám sinh học tập, bình văn học. Vì thế, đây được coi là trường đại học quốc gia đầu tiên của Việt Nam, nơi sản sinh ra hiền tài cho đất nước.

4.2. Văn Miếu Quốc Tử Giám thờ ai?

Văn Miếu – Quốc Tử Giám không thờ thần, thờ thánh nhưng nó vẫn vô cùng linh thiêng. Ba người được thờ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đều là 3 vị vua anh minh có công trong việc hình thành và phát triển nơi đây.

Người khai móng mở nền

Người đã khai móng mở nền ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám là Đức vua Lý Thánh Tông. Ông là người đổi quốc hiệu đất nước từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt sau khi lên ngôi. Dưới thời trị vì của vua Lý Thánh Tông, lần đầu tiên đất nước ta có những quy định chính quy cho việc học hành. Vị vua anh minh đã nhận thức được tầm quan trọng của sự học. Đầu tiên, ông dựng đền thờ người có công khai sáng ra chữ nghĩa. Sau đó, ông xây trường học, đào tạo môn sinh trở thành hiền tài giúp dân trị nước. Người đầu tiên phải đến đây học chính là Thái tử. Bởi theo chế độ phong kiến, Thái tử là người nối tiếp nghiệp vua cha nắm quyền trị vì đất nước. Việc cho Thái tử đến Văn Miếu để học là thái độ cầu thị của người có quyền và muốn quyền lực đó phát huy bằng tri thức.

Người học trò đầu tiên của Quốc Tử Giám

Quốc Tử Giám là nơi dạy dỗ, giáo dục Quốc Tử (nghĩa là con trai của vua) để họ có đầy đủ tư chất và phẩm hạnh thành người kế tục sự nghiệp của phụ vương khi nối ngôi. Và người học trò đầu tiên của Quốc Tử Giám chính là Đức vua Lý Nhân Tông.

Năm 1070, lúc Văn Miếu vừa được xây dựng, ngài được vua cha cho vào đây học khi mới tròn 5 tuổi. Năm 1076 vua Lý Nhân Tông đã cho phép triều đình lập ra Quốc Tử Giám và chỉ thị tuyển chọn quan chức – những người biết chữ để đưa vào học tiếp ở Quốc Tử Giám nâng cao trình độ học vấn. Đây được coi là địa điểm học hành bậc nhất đất nước lúc ấy.

Người kế thừa và nâng cao tầm vóc của Miếu Văn

Ngài là Đức vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497), con trai thứ tư của vua Lê Thái Tông. Ngài tại vị 38 năm. Lê Thánh Tông được sử sách ghi nhận là người minh mẫn, sáng suốt, uyên thâm về văn chương, giỏi giang về võ nghệ. Nước ta dưới thời cai quản của ông là một Đại Việt hưng thịnh. Nhà nước Trung ương phong kiến tập quyền giúp nhà vua có một bộ máy cai quản hoàn thiện từ triều đình tới địa phương. Bộ luật Hồng Đức ra đời được coi là bộ luật thành văn hoàn chỉnh nhất so với trước đó.

Việc học hành và thi cử dưới thời vua Lê Thánh Tông được đánh giá là hiệu quả nhất so với trước đó. Cả những triều đại phong kiến sau này, ở những kỳ thi Hán học cuối cùng của triều Nguyễn cũng không quy củ bằng thời Lê.

4.3. Ý nghĩa lịch sử của Văn Miếu Quốc Tử Giám

Qua thời gian và những biến chuyển của lịch sử, khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám ngày càng khẳng định được giá trị phi vật thể của mình. Đây là nơi chứng kiến quá trình hình thành và phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Quốc Tử Giám đã đào tạo ra rất nhiều nhà nho ưu tú, những người đã tiếp thu tinh hoa của các nền văn minh phương Đông để sáng tạo ra kho tàng di sản Hán Nôm giàu đậm tinh thần yêu nước và bản sắc dân tộc. Từ đây, danh xưng một đất nước hiếu học trở thành niềm tự hào của Việt Nam với bè bạn năm châu.

5. Tham quan Văn Miếu Quốc Tử Giám

Khuôn viên Văn Miếu Quốc Tử Giám rất rộng, kiến trúc độc đáo của nơi đây được chia thành 5 khu vực. Các khu vực kết nối với nhau qua trục đường nối từ đầu đến cuối khuôn viên. Đi theo con đường thần đạo này, du khách sẽ được khám phá lần lượt Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Đầu tiên là vào cửa Văn Miếu. Cửa vào nằm ngay cổng Tam Quan (có 3 cửa, cửa ở giữa cao to và được xây thành 2 tầng). Đi qua cổng Tam Quan là khu nhập đạo, du khách đi thẳng vào sẽ tới cổng thứ 2, gọi là Đại Trung Môn. Sau khi tham quan Đại Trung Môn, du khách sẽ di chuyển đến Khuê Văn Các. Đây được coi là biểu tượng của Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Khuê Văn Các tượng trưng cho sự phát triển của nền giáo dục, là nơi thu hút rất nhiều khách du lịch tới tham quan. Đi vào Khuê Văn Các, du khách sẽ thấy 2 cổng nhỏ tên Bí Văn và Súc Văn. Hai cửa nhỏ này cùng với gác của Khuê Văn Các sẽ dẫn du khách tới một địa điểm tham quan duy nhất đó chính là giếng Thiên Quang và khu vực bia tiến sĩ.

Bao quanh giếng Thiên Quang là khu nhà để bia tiến sĩ. Bia tiến sĩ Văn Miếu Quốc Tử Giám chính là hiện vật có giá trị nhất. Hai hàng bia đá, mỗi hàng có 41 bia, bia đá đặt trên một con rùa tượng trưng cho sự bất tử, bất diệt. 82 tấm bia đá ghi tên 1307 vị Tiến sĩ của 82 khoa thi và đã thành danh ở Quốc Tử Giám. Đây là hiện vật tượng trưng cho sự hiếu học của người Việt Nam qua các triều đại phong kiến.

Sau khi tham quan khu vực thứ 3, du khách bước qua cửa Đại Thành để đến được khu vực Đại Bái Đường. Sau Đại Bái Đường là tòa Thượng Điện kín đáo hơn dành để thờ những vị Tổ Đạo Nho. Gian giữa thờ Khổng Tử, bên trái thờ Tăng Tử và Mạnh Tử, bên phải thờ Nhan Tử và Tử Tư.

Lưu ý: Đây là khu vực thờ tự trang nghiêm nên du khách phải giữ im lặng khi tham quan nơi này.

6. Hướng dẫn cầu thi cử đỗ đạt tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Để cầu thi cử đỗ đạt, các sỹ tử đến Văn Miếu phải chuẩn bị kỹ lưỡng và làm đúng theo các bước để việc cầu cúng được chứng giám.

6.1. Chuẩn bị lễ mang đến Văn Miếu

  • Một gói bánh đậu xanh
  • 3 cái bóng đèn điện
  • Một quyển vở, một cái bút, hoa quả các loại
  • 5 lễ tiền vàng
  • Có thể thêm nhiều vật phẩm khác, gói vào rồi đặt lên mâm lễ

6.2. Trang phục đi lễ tại Văn Miếu

6.3. Sớ cầu thi đỗ đạt

Sớ cầu thi đỗ đạt khi vào cúng tại Văn Miếu là điều không thể thiếu. Khi qua cổng Văn Miếu, bạn sẽ nhìn thấy những bàn nhận viết sớ. Những mong muốn, tên tuổi, địa chỉ của bạn sẽ được các thầy nho viết vào văn sớ trước khi mang vào lễ trong các điện.

6.4. Văn khấn ở Văn Miếu Quốc Tử Giám

Sau khi đặt sớ và thắp hương, bạn hãy chắp tay, thành kính khấn theo bài văn khấn sau:

Lưu ý:

  • Sau khi lễ xong, bạn mang đồ cúng đi hóa vàng, mang bút và vở về nhà, khi nào đi thi mang đi theo dùng để làm bài
  • Lắp bóng điện vào đèn bàn học để ôn luyện hàng ngày
  • Bánh đậu xanh ăn hàng ngày, đặc biệt là trước lúc đi thi lấy may mắn

6.5. Xin chữ ông đồ ở Văn Miếu

Sau khi làm lễ xong, bạn hãy ra xin chữ ông đồ để lấy may. Chỉ dịp tết và trước các kỳ thi lớn thì hoạt động này mới được tổ chức. Các sỹ tử chuẩn bị “ra trận” có thể xin chữ “đỗ đạt” hoặc “mã đáo thành công”. Mực Tàu, giấy đỏ và những con chữ điêu luyện khiến bức thi pháp thu hút bất cứ du khách nào đến tham quan Văn Miếu.

Giá xin chữ dao động từ 50 đến 80 nghìn VNĐ tùy từng thời điểm. Bạn nên xin chữ và mang về treo trước bạn học như một lá bùa thi cử.

Kỳ thi THPT Quốc gia đang đến rất gần, hãy làm theo những hướng dẫn của dulichtoday khi đi lễ cầu may ở Văn Miếu Quốc Tử Giám. Chúc các sỹ tử sẽ chinh phục kỳ thi thpt quốc gia 2021 may mắn, “công thành danh toại”!

【#4】Bài Văn Khấn Văn Miếu Quốc Tử Giám Đầy Đủ, Chi Tiết Cầu May Mắn Trong

Trong bài viết sau, chúng tôi không chỉ chia sẻ bài văn khấn Văn Miếu Quốc Tử Giám mà còn chia sẻ cách chuẩn bị lễ cúng Văn Miếu để giúp bạn có thể cầu may mắn trong thi cử trong dịp kỳ thi sắp tới.

Cầu thi cử đỗ đạt ở đâu? Cũng là nơi linh thiêng để cầu may mắn trong thi cử nhưng bài văn khấn Văn Miếu Quốc Tử Giám khác với bài văn khấn ở đền Ngọc Sơn và các nơi khác. Tuy nhiên, trước khi cầu ở Văn Miếu hay đền Ngọc Sơn thì bạn cần làm lễ cúng và đọc bài khấn xin thi đỗ tại nhà trước, rồi sau đó chăm chỉ học thành để lời cầu thi cử đỗ đạt trở thành hiện thực.

Văn khấn đi thi cử đỗ đạt ở Văn Miếu Quốc Tử Giám khác với văn khấn tại đền Ngọc Sơn

1. Bài văn khấn Văn Miếu Quốc Tử Giám

Văn Miếu Quốc Tử Giám nằm ở địa chỉ số 58 phố Văn Miếu, trung tâm thủ đô Hà Nội. Giờ mở cửa của Văn Miếu sẽ diễn ra từ lúc 7h30 tới 17h30 từ ngày thứ 2 tới thứ 6 hàng tuần. Do đó, bạn có thể tìm đến để tiến hành làm lễ cúng cầu thi cử đỗ đạt.

Bài khấn cầu may mắn đỗ đạt tại Văn Miếu Quốc Tử Giám

Con nam mô a di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Việt Nam quốc, Hà Nội thị, Văn miếu Quốc Tử Giám.

Môn sinh: ….. Sinh …. niên.

Kính cẩn tấu trình: Văn xương Thánh Đế.

Chư vị Thượng Trung Hạ bản từ.

Hôm nay là ngày:……tháng …. năm ……

Con xin kính cẩn biện cung trần bạc lễ.

Cúi xin chư vị Đại Đức Thánh Hiền học giả chứng giám cho con là:………….

Trú tại : ……….- Việt Nam quốc.

Nay đang học tại: ………Việt Nam quốc. Năm …. ứng thí kỳ thi:….

Trước linh đài Văn xương Thánh Đế linh đài con xin tâm thành kính cẩn xin các ngài chứng giám tâm thành, phù độ gia trì cho con năm nay được bản mệnh khang an, tinh thần dong sảng, trí lực tinh anh, minh mẫn, gạt bỏ tạp phế, chú tâm đèn sách học tập để bước vào kỳ thi tới được gặp nhiều hanh thông cát tường, học giỏi đỗ cao, thầy yêu bạn giúp, hoàn tất được bài thi đến nơi đến chốn, đạt điểm số tối đa của trường: Đại học …..

Con kính xin chư vị chấp lễ chấp cầu trợ lực cho con được kim bảng danh đề toại tâm như ý.

Môn sinh con: ………….. xin rập đầu cúi lạy đến bách bái.

Hoặc sĩ tử, phụ huynh có thể tham khảo bài khấn nôm được lưu truyền trong dân gian như sau:

Con nam mô a di Đà Phật!

Con nam mô a di Đà Phật!

Con nam mô a di Đà Phật! (3 lạy)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Kính nguyện Phật Thánh chứng tâm thiện thần bảo hộ.​

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Hữu duyên hữu ngộ Thánh độ chỉ đường, mà hôm nay nhằm ngày…. tháng ……..năm …., đệ tử được đem thân về hầu đê đầu bái yết cửa …….. linh từ.

Con xin kêu cho… (nêu đầy đủ họ tên, phòng thi, số báo danh) được đỗ đạt trong kỳ thi…. sắp tới.

Con nguyện noi gương sáng đức Thánh để tỏ rạng trí tâm chuyên cần sự học.

Nguyện xin ngài bồi hơi tiếp sức, gia lực hộ trì cho con Long Vân đạt hội, thẳng lối đường mây, công danh thỏa nguyện.

Con chẳng dám quên công ân trời bể nhà ngài. Con là người trần mắt thịt, con ăn chưa sạch, bạch chưa thông còn nhiều lầm lỗi xin xin được tha thứ, mở lối cho con đi. Độ cho con được tâm cầu sở nguyện, như ý sở cầu, kỳ thi đỗ đạt như ý muốn.

Con nam mô a di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Hoặc bài khấn nôm lưu truyền nhiều đời:

Con nam mô a di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

– Kính nguyện Phật Thánh chứng tâm thiện thần bảo hộ.​

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Hữu duyên hữu ngộ Thánh độ chỉ đường, mà hôm nay nhằm ngày…. tháng ……..năm …., đệ tử được đem thân về hầu đê đầu bái yết cửa …….. linh từ. Con xin kêu thay cho… ( kêu thay cho ai thì nêu đầy đủ họ tên, phòng thi, số báo danh) được đỗ đạt trong kỳ thi sắp tới.

Con nguyện noi gương sáng đức Thánh để tỏ rạng trí tâm chuyên cần sự học. Hữu sự con nguyện ngài khuông phù gia hộ – bật độ phù trì để con thi cử đỗ đạt qua kỳ thi là:​

Kỳ thi… (kỳ thi gì thì khấn lên),

Nguyện xin ngài bồi hơi tiếp sức, gia lực hộ trì cho con Long Vân đạt hội, thẳng lối đường mây, công danh thỏa nguyện. Con chẳng dám quên công ân trời bể nhà ngài.​

Con là người trần mắt thịt, con ăn chưa sạch, bạch chưa thông còn nhiều lầm lỗi xin gia tiên nội ngoài và bà cô ông mãnh xá ú xá mế, xá lầm lỗi cho con, mở được cho con lội, mở lối cho con đi. Độ cho con được tâm cầu sở nguyện, như ý sở cầu, kỳ thi đỗ đạt như ý muốn.

Con nam mô a di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

2. Đồ lễ cầu thi cử tại Văn Miếu Quốc Tử Giám

Đối với đi lễ cầu may mắn trong thi cử tại Văn Miếu Quốc Tử Giám thì bạn cần sắm các thứ sau đây:

– 3 cái bóng đèn điện

– Gói bánh đậu xanh

– 5 lễ tiền vàng

– 1 cái bút, 1 quyển vở

– Hoa quả

– Nếu có vật phẩm khác nên gói vào và đặt vào mâm lễ

3. Các lưu ý khi cầu đỗ đạt tại Văn Miếu Quốc Tử Giám

Giống như các nơi thờ cúng, linh thiêng khác, Văn Miếu Quốc Tử Giám cũng có quy định riêng, các bạn cần lưu ý để tránh:

– Khi lễ tạ hóa vàng xong, bạn cầm bút, quyển vở dâng lễ về nhà và khi thi thì mang chúng đi cùng.

– Bánh đậu xanh cúng nên ăn hàng ngày và ăn trước khi bạn đi thi.

– Bóng điện cúng nên lắp vào đèn bàn học.

https://thuthuat.taimienphi.vn/bai-van-khan-van-mieu-quoc-tu-giam-55829n.aspx

Vào đầu năm hay đầu tháng, rằm, bạn có thể đi chùa xin bình an, may mắn cho bản thân, gia đình, cầu đỗ đạt. Tương tự như đi Văn Miếu thì bạn cũng cần chuẩn bị văn khấn đi chùa phù hợp.

【#5】Bài Cúng Rằm Tháng Giêng Tại Nhà, Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Tại Chùa

Ông bà ta từ xưa đã có câu “Lễ Phật quanh năm không bằng ngày rằm tháng Giêng”. Chính vì vậy, các gia đình thường bày biện lễ vật cúng dường và thành tâm cầu nguyện để nhận được sự phù hộ, độ trì cho gia đình, người thân.

Theo phong tục của cha ông để lại, thì cúng Rằm tháng Giêng vào ngày chính Rằm tức 15 âm lịch là tốt nhất. Còn nếu với ai không sắp xếp được công việc để cúng vào đúng giờ thì có thể cúng trước đó 1 ngày, tức 14 tháng Giêng.

Văn khấn rằm tháng Giêng: Nội dung bài văn khấn cũng không cần quá phức tạp, gia chủ có thể tham khảo mẫu văn đơn giản nhất như sau: Kính lạy Thần linh Thổ địa… Gia tiên họ…. bà cô ông mãnh, chư vị tiên linh. Hôm nay là ngày rằm tháng Giêng, năm Canh Tý. Chúng con là… Ngụ tại… Chúng con thành tâm, bày biện hương hoa, nghi lễ cung trần, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh. Kính xin phù hộ độ trì, con cháu mạnh khỏe, gia đạo bình an, sở cầu như ý. – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. – Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần. – Con kính lạy Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại. Tín chủ (chúng) con là: …… Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm Canh Tý, gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án. Chúng con kính mời ngày Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật. Chúng con kính mời các các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ…. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật. Tín chủ con lại kính mời ông bà tiền chủ, hậu chủ tại gia về hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành phù hộ độ trì cho gia chung chúng con được vạn sự tôn lành. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng an bình.

Dốc lòng kính lễ Phật Pháp Tăng thường ở khắp mười phương. (3 lần, mỗi lần lạy 1 lạy)

(Cầm 3 nén hương quỳ đọc tiếp)

Nguyện mây hương lành này, Biến khắp mười phương giới, Vô lượng hương trang nghiêm,

Thành tựu hương Như Lai. (1 lạy, và cắm hương vào bát hương)

Dâng hương cúng dàng rồi, dốc lòng kính lễ Phật Pháp Tăng thường ở khắp mười phương. (1 lạy)

(Thành kính chấp tay thành búp sen đọc bài ca tụng công đức của Đức Phật)

Phật thân rực rỡ tựa kim san Thanh tịnh không gì thể sánh ngang Vô Thượng Chí Tôn công đức mãn Cúi đầu con lạy Phật Sơn Vương. Phật đức bao la như đại dương Bảo châu tàng chứa đủ bên trong Trí tuệ vô biên vô lượng đức Đại định uy linh giác vẹn toàn. Phật tại Chân Như pháp giới tàng Không sắc không hình chẳng bụi mang Chúng sinh bái vọng muôn hình Phật Bỗng thấy tai nàn tận hóa tan.

Án phạ nhật ra hồng. (3 lần)

Chí tâm đỉnh lễ Nam mô Tận hư không biến pháp giới quá hiện vị lai thập phương chư Phật, tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 lạy)

Chí tâm đỉnh lễ Nam mô Sa Bà Giáo Chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát (1 lạy)

Chí tâm đỉnh lễ Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy)

Con nay đều vì bốn ân, ba cõi pháp giới chúng sinh, nguyện xin ba chướng tiêu trừ, dốc lòng sám hối. (1 lạy)

(Quỳ đọc) Chí tâm sám hối:

Xưa kia gây nên bao ác nghiệp Đều vì ba độc: tham, sân, si Bởi thân, miệng, ý phát sinh ra Hết thảy con nay xin sám hối. Như vậy tất thảy bao nghiệp chướng Ắt hẳn tiêu diệt không tàn dư Niệm niệm âm vang tận pháp giới

Độ khắp chúng sinh nhập Bất Thoái. (1 lạy)

Sám hối phát nguyện rồi, chúng con kính lễ Đức Phật Thích Ca, Phật A Di Đà và chư Phật ở khắp mười phương. (1 lạy)

Bài Văn khấn cúng dâng sao giải hạn Rằm tháng Giêng Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm Canh Tý Tín chủ (chúng) con là: …………………. Chúng con thành tâm có lời kính mời: Nhật cung Thái Dương Thiên Tử tinh quân Nam Tào Bắc Đẩu tinh quân Thái Bạch, Thi Tuế tinh quân Bắc cực Tử vi Đại Đức tinh quân Văn Xương Văn Khúc tinh quân Nhị thập Bát Tú, Ngũ Hành tinh quấn Giáng lâm trước án, nghe lời mời cẩn tấu: Ngày rằm Nguyên Tiêu, theo lệ trần tục, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả thắp nén tâm hương dâng lên trước án, kính mời các vị lai lâm hâm hưởng, phù hộ cho toàn gia chúng con luôn luôn mạnh khoẻ, mọi sự bình an, vạn sự tối lành, gia đình hoà thuận, trên bảo dưới nghe. Phục duy cẩn cáo! Mâm lễ Rằm Tháng Giêng gồm có

Ngày Tết Nguyên Tiêu các gia đình thường sắm hai lễ cúng rằm tháng Giêng: Lễ cúng Phật và lễ cúng Gia tiên. Cúng Phật là mâm lễ chay thanh tịnh, cùng hương hoa đèn nến. Cúng Gia tiên vào giờ Ngọ, là mâm lễ mặn hoặc chay với đầy đủ các món ăn tinh khiết của ngày Tết.

Các vật phẩm khác như: Hương hoa vàng mã; đèn nến; trầu cau; rượu

Đặc biệt trong mâm lễ phải có bánh trôi (chè trôi nước). Ý nghĩa của việc ăn bánh trôi ngày Tết Nguyên Tiêu là mong muốn mọi việc quanh năm được hanh thông, trôi chảy. Ngoài ra còn có hương hoa, đèn nến, trầu cau, một ít vàng mã, rượu.

Những nguyên tắc cần phải nhớ khi cúng rằm Tháng Giêng

Khi dọn dẹp ban thờ lưu ý không xê dịch bát hương, trước khi lau dọn nên thắp 1 nén hương khấn xin thần linh thổ địa, tổ tiên về việc sẽ lau dọn ban thờ để chuẩn bị lễ cúng rằm tháng Giêng. Điều này theo phong tục dân gian lý giải để tránh động ban thờ, tránh để thần linh quở phạt.

Nên mua hoa tươi để dâng ban thờ, tuyệt đối không dùng hoa quả giả, hoa để dâng ban thờ thường là hoa cúc vàng, cúc vạn thọ, huệ trắng.

Phải sử dụng đồ mới để cúng

Các đồ dùng để đựng các lễ cúng mặn như bát, đĩa, đũa, thìa… cần phải sử dụng những đồ mới, riêng biệt.

Không nên dùng những đồ dùng đã dùng chung, sẵn với các việc khác trong gia đình. Bởi, đồ thờ cúng cần phải sạch sẽ, không uế tạp.

Ngày Thượng nguyên-Rằm tháng Giêng có gốc gác thế nào?

Theo chuyện Phật thì ngày mùng một đầu tháng (âm lịch) và ngày rằm là ngày của các Phật. Do vậy Phật tử đều đến chùa dâng lễ vật cúng Phật vào hai ngày đó. Nhưng ngày mùng một ban đêm lại đen tối mịt mù, ngược lại đêm Rằm thì trăng soi vằng vặc. Nhất là đêm Rằm đầu tiên của một năm thì thiêng liêng lắm nên các Phật giáng lâm xuống mọi chùa chiền để độ trì cho mọi người tai qua nạn khỏi, phúc lộc đầy nhà.

Khoảng dăm bảy thế kỷ trở lại đây, có một thục tế rằng tín ngưỡng đạo giáo thâm nhập vào Phật giáo. Tôn giáo này coi Rằm tháng Giêng là ngày vía Thiên quan, là dịp may hãn hữu để làm lễ dâng sao giải hạn trừ tai ách. Do vậy các chùa cũng nhân ngày này dựng đàn tràng làm lễ dâng sao. Đàn tràng có 3 cấp. Trên cùng là Trời, Phật, Tiên, Thánh. Cấp giữa là các vì sao thủ mạng (theo đạo Giáo, mỗi con người hàng năm chịu ảnh hưởng của một vì sao nào đó). Cấp dưới cùng là các cô hồn chúng sinh lang thang vô định. Lễ vật thường là hoa quả, trầu cau, xôi oản, trà rượu và đồ vàng mã.

Đó chính cũng là lý do khiến thêm nhiều người đến cửa chùa để cầu xin may mắn, tránh tai ương.

Theo truyền thống Phật giáo, ngày rằm tháng Giêng là lúc Phật giáng lâm nên đây là ngày rằm quan trọng nhất năm, mang ý nghĩa lớn. Chính vì vậy mà vào rằm tháng Giêng, nhiều chùa lập đàn, tụng niệm và hồi hướng công đức đầu năm, mong cầu phát sinh an lành, hạnh phúc.

Ngoài ra, trong ngày này, người Việt rất coi trọng lễ cúng tại nhà và nhiều gia đình coi đây là ngày quan trọng trong năm nên cúng lễ rất chu đáo, cẩn thận. Các gia đình thường sắm hai lễ cúng rằm tháng Giêng, một là lễ cúng chay (cho ban thờ Phật) và hai là lễ cúng mặn (cho ban thờ gia tiên). Tùy vào điều kiện kinh tế hay phong tục tập quán mà mâm cỗ cúng rằm tháng Giêng mỗi gia đình chuẩn bị đồ cúng khác nhau.

Tết Nguyên Tiêu – Tết Trạng Nguyên

Tết Nguyên Tiêu – đêm trăng sáng đầu tiên của một chu kỳ xuân mới, ánh trăng chiếu rạng khắp miền hạ giới sau một mùa đông dài tối tăm, lạnh lẽo. Theo các nhà phong thủy, đêm này âm dương giao hòa đầy vượng khí, càn khôn thịnh phát nhất tại cực điểm, cây trái thuận thời thi nhau trổi dậy đâm chồi nẩy lộc, vạn vật hóa sinh. Trăng Nguyên tiêu thanh bình, gió lành mơn man thổi nhẹ, không gian lãng đãng làm cho tâm hồn thi nhân thêm phấn chấn trước những thay đổi của cảnh sắc mây trời, hương thơm của cỏ cây hoa trái lan tảo khắp chốn nhân gian. Tết Nguyên Tiêu là men tố, là thời khắc gây nguồn cảm hứng thi ca bất tận.

Vào dịp này, vua chúa có lệ ban lấy ngày Nguyên Tiêu là dịp để triệu tập các Trạng nguyên và những người đỗ đạt cao trong nước về kinh hội họp, đãi yến tiệc trong vườn Thượng Uyển. Tại đây, các ông Trạng cùng nhau xem hoa thưởng nguyệt, làm thơ xướng họa, ứng đáp câu đối, thổi sáo chơi đàn, ca ngợi tạo hóa và triều đại, bởi vậy nên về sau người ta gọi là Tết Trạng nguyên; một ngày tết dành riêng để tôn vinh việc học hành.

Nước ta vào thời Lý – Trần, triều đình có tổ chức Tết Trạng nguyên; đặc biệt dưới thời vua Lê Thánh Tông, Tết Trạng nguyên được tổ chức một cách trọng thể ở kinh thành Thăng Long, khắp cả trong cung ngoài phố múa hát đàn ca tưng bừng, cờ hoa trang hoàng rực rỡ.

Xưa kia, tại các nhà thờ họ, trưởng họ, trưởng tộc thường triệu tập những thanh niên học cao, hiểu rộng, có tài và đức lên đọc bản báo cáo thành tích một năm hoạt động với tổ tiên. Qua đó để thấy được sự hưng vượng của dòng họ và giáo dục các thế hệ con cháu một cách tốt nhất. Sau đó, các bô lão tổ chức ngắm trăng, thi đọc thơ hoặc chơi tổ tôm, tam cúc. Sau ngày này, họ thường cất hoặc đốt những bộ trò chơi này đi để thúc giục con cháu khởi động một năm mới làm việc chăm chỉ, thi cử đỗ đạt.

Đối với bình dân, vào dịp Tết Nguyên Tiêu nhiều nơi thường mở hội làng, bằng nhiều loại hình dân gian, tổ chức lễ thắp đèn hoa, đua thuyền bơi trải, vật võ, có cả múa, hát, lục cúng hoa đăng…

Tết Nguyên tiêu – Tết của lửa và thơ

Từ xưa, đã có rất nhiều văn nhân thi sĩ yêu trăng như Mãn Giác Thiền Sư, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Cao Bá Quát… Và từ năm 2003, rằm tháng Giêng còn là Ngày Thơ Việt Nam.

Phật giáo trong hơn ngàn năm du nhập vào Việt Nam đã gắn kết các phong tục văn hóa của Việt. Rằm tháng Giêng không phải là một ngoại lệ, từ một ngày lễ hội có nguồn gốc từ Trung Hoa đã biến đổi thành một ngày Tết mang bản sắc rất riêng của người dân Việt thấm nhuần Phật pháp. Rằm tháng Giêng là một trong 4 ngày rằm lớn trong năm mà người Việt, đặc biệt là Phật tử, thường viếng chùa lễ Phật cầu gia đạo bình an, phong điều vũ thuận, quốc thái dân an.

Tiết Lập xuân, trời ấm, hoa nở, bướm phát triển. Sau đó, theo chu kỳ sinh trưởng của loài bướm, trứng bướm nở ra sâu, lan rộng khắp nơi phá hoại mùa màng. Vì vậy công việc cần thiết của nông dân lúc này là diệt sâu bọ. Trong những ngày đó (sau tiết Lập Xuân), họ sẽ đi ra đồng tập trung rơm rạ, lá khô đốt lên để diệt các loại côn trùng có hại. Yếu tố lửa vẫn duy trì đến ngày nay thể hiện qua tục treo đèn lồng vào ngày này. Mặt khác, màu đỏ của lửa trong văn hóa Đông Á là màu dương, màu của sự sống, của sự nhiệt thành… Nó thích hợp với tâm lý vui tươi, phấn khởi của người dân trong những ngày đầu năm.

Yếu tố thơ được duy trì qua các hình thức sịnh hoạt thơ ca ở nhiều nơi. Ngày thơ Việt Nam nếu không có gì đột xuất thường được tổ chức tại Văn Miếu Hà Nội vào đúng Rằm tháng Giêng.

Ngày nay, Tết Nguyên Tiêu đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, thấm đẫm chất nhân văn ở cả thành thị lẫn nông thôn, đâu đâu cũng treo đèn, kết hoa, ngâm thơ, bình thơ hay thăm viếng cảnh chùa, lễ Phật cầu gia đạo bình an, phong điều vũ thuận, quốc thái dân an.

【#6】Văn Khấn Giỗ Tổ Hùng Vương Văn Khấn Cúng Tại Đền Hùng

Ngày giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 âm lịch hàng năm là dịp để con cháu tỏ lòng biết ơn tới các vị vua Hùng đã có công dựng nước, giữ nước để chúng ta được sống trong hòa bình như hiện nay.

Vào ngày này các gia đình thưởng chuẩn bị mâm cỗ cúng và bài khấn giỗ tổ Hùng Vương. Vậy mời các bạn cùng tham khảo bài khấn dưới đây:

Cách sắm lễ, đồ cúng giỗ tổ Hùng Vương

Bộ Văn hóa hướng dẫn nghi thức tưởng niệm các Vua Hùng Trong Công văn số 796/HD-BVHTTDL ngày 18/3/2009) ghi rõ Lễ phẩm gồm:

  • Bánh dày 18 chiếc (dâng lên 18 đời Vua Hùng)
  • Bánh chưng 18 chiếc (dâng lên 18 đời Vua Hùng)
  • Hương hoa, nước, trầu, cau, rượu và ngũ quả.

Bánh dày hình tròn, tượng trưng cho Trời, thường không có nhân. Bánh chưng hình vuông, tượng trưng cho Đất, bên trong có nhân mặn.

Bên cạnh hướng dẫn đó thì lễ vật dâng cúng trong các buổi tế lễ Hùng Vương hầu hết ở các địa phương gần như giống nhau đều bao gồm: xôi, oản, hoa quả, rượu, hương, gạo muối, bánh chưng bánh dày, gà luộc (bắt buộc phải là gà trống thiến), thịt lợn (bắt buộc là lợn đen).

Tại Đền Thượng còn lưu giữ tấm bia đá thời phong kiến nghị về “Điển lệ miếu thờ Hùng Vương” có quy định: Lễ phẩm dùng cho ngày Giỗ Tổ của dân tộc gồm: bò, dê, lợn, xôi.

Bài cúng giỗ tổ Hùng Vương

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần. Con kính lạy các Vua Hùng linh thiêng, gây dựng nên đất Tổ.

Hương tử con là………………………………………………..Tuổi………….

Ngụ tại……………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày…… tháng……năm………………..(Âm lịch) Nhân ngày giỗ Tổ

Hương tử con đến nơi……………Đền thờ Vua Hùng thành tâm kính nghĩ: Vua Hùng và các bậc tổ tiên đã có công dựng nước, tạo nên giang sơn đất nước mấy nghìn năm, luôn ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

Cầu mong cho các Vị Vua Hùng luôn giữ mai uy nghiêm và linh thương để bảo vệ nước, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Bài khấn giỗ tổ Hùng Vương

Nam mô a di đà Phật! (3 lần) Kính lạy chín phương trời đất, Mười phương chư Phật, Thánh hiền. Lạy các Vua Hùng linh thiêng, Gây dựng đất này Tiên tổ.

Con tên là…… địa chỉ…………… Nhân ngày Giỗ tổ con xin gửi đến đấng bề trên chút hương hoa lễ phẩm thể hiện lòng thành của gia đình con đến các

Vua Hùng và các bậc tổ tiên.

Kính xin độ trì phù hộ,

Mọi chuyện tốt lành bình an.

Bách bệnh giảm trừ tiêu tan,

Điều lành mang đến vẹn toàn.

Điều dữ mang đi, yên ổn.

Đi đến nơi, về đến chốn,

Tai qua nạn khỏi tháng ngày.

Cầu được ước thấy, gặp may,

Mọi điều hanh thông, thuận lợi.

Con cái học hành tấn tới,

Ngoan ngoãn nghe lời mẹ cha.

Thi đỗ lớp gần, trường xa,

Mát mặt gia đình làng nước.

Tình duyên gặp người kiếp trước,

Ý trung nhân… xứng muôn phần.

Tình xa duyên thắm như gần,

Suốt đời yêu thương nhất mực.

Đi làm… thăng quan tiến chức,

Buôn bán một vốn bốn lời.

Hạnh phúc thanh thản một đời,

Nam mô a di đà Phật!

Kính lạy cao xanh Trời đất,

Lạy các Vua Hùng linh thiêng.

Đức Thánh Trần cõi người hiền,

Muôn đời độ trì phù hộ! Nam mô a di đà Phật! (cúi lạy 3 cái)

Văn khấn giỗ tổ Hùng Vương

Dưới đây là bài Văn khấn ngày giỗ Tổ Hùng Vương được sử dụng rộng rãi nhất:

Nam mô a di đà Phật! (3 lần) Kính lạy chín phương trời đất, Mười phương chư Phật, Thánh hiền. Lạy các Vua Hùng linh thiêng, Gây dựng đất này Tiên tổ.

Con tên là…… địa chỉ……………

Nhân ngày Giỗ tổ con xin gửi đến đấng bề trên chút hương hoa lễ phẩm thể hiện lòng thành của gia đình con đến các Vua Hùng và các bậc tổ tiên.

Kính xin độ trì phù hộ,

Mọi chuyện tốt lành bình an.

Bách bệnh giảm trừ tiêu tan,

Điều lành mang đến vẹn toàn. Điều dữ mang đi, yên ổn.

Đi đến nơi, về đến chốn,

Tai qua nạn khỏi tháng ngày

Cầu được ước thấy, gặp may, Mọi điều hanh thông, thuận lợi.

Con cái học hành tấn tới, Ngoan ngoãn nghe lời mẹ cha. Thi đỗ lớp gần, trường xa, mát mặt gia đình làng nước.

Tình duyên gặp người kiếp trước, Ý trung nhân… xứng muôn phần.

Tình xa duyên thắm như gần, Suốt đời yêu thương nhất mực.

Đi làm… thăng quan tiến chức, Buôn bán một vốn bốn lời.

Hạnh phúc thanh thản một đời.

Nam mô a di đà Phật!

Kính lạy cao xanh Trời đất, Lạy các Vua Hùng linh thiêng. Đức Thánh Trần cõi người hiền, Muôn đời độ trì phù hộ!

Nam mô a di đà Phật! (cúi lạy 3 cái)

Văn tế Giỗ tổ Hùng Vương

Việt Nam, ngày 10 tháng 3 năm 4897 Việt lịch. Tế chủ thành tâm chắp tay cúi đầu đảnh lễ dâng hương, kính cáo cùng:

Tiên Linh Thủy tổ Việt tộc Kinh Dương vương Lộc Tục

Tiên Linh Việt tổ phụ Lạc Long Quân Sùng Lãm

Tiên Linh Việt tổ mẫu Âu Cơ

Tiên Linh 18 đại Hùng Vương

Tiên Linh tiên vương các triều đại

Tiên Linh các Anh hùng Liệt nữ

Tiên Linh trăm họ Âu Lạc Việt

Cáo rằng:

Nước có nguồn, cây có cội

Chim có tổ, người có tông

Bảo tồn bản sắc cội nguồn để làm người không vong bản

Ghi nhớ công nghiệp tiên tổ cho con cháu biết giống dòng

Nhớ chư tổ linh xưa,

Lĩnh Nam một dải hoang vu, công khai phá mồ hôi tràn Đông Hải

Âu Lạc hai dòng hợp nhất, giữ giống nòi máu đỏ đẫm Hoa Nam

Tiếng BỐ ƠI rơm rớm lệ dân Hùng

Lời LY ƯỚC nỉ non đàn chim Việt

Nào bảo bọc dân ương

Nào chăm lo dân hạnh

Chống giặc tự thiếu niên, tài Thánh Gióng vang danh Phù Đổng

Ngăn sông bằng đức tịnh, hạnh Sơn Tinh rạng rỡ Tản Viên

Lo nông tang như An Tiêm, hoang đảo thành đồng dưa trù phú

Tình bao la như Đồng Tử, thành trì hóa dạ trạch phiêu diêu

Gương hiếu đạo mộc mạc Lang Liêu

Tình sắc son thủy chung Cao thị

Trống đồng dội vạn thù khiếp vía

Đàn đá reo muôn dân ca xang

Hai nghìn sáu trăm năm dư là bản hùng ca thần công Bắc địch

Mười tám triều đại nguyên sơ là nôi văn minh thánh tích Nam di

Than ôi,

Một phút sa cơ, ngàn năm quốc hận

May nhờ,

Thiên đức Việt tổ, triệu dân đồng lòng

Chống giặc Bắc, núi sông là hầm chông hào lũy

Hóa dân Nam, chương đạo thay kiếm kích binh đao

Qua gian khó dập dồn, nước non lại đến kỳ thái bình độc lập

Bao chiến công vang dội, con cháu giữ tròn dải gấm vóc non sông

Tuy 54 dân tộc anh em đoàn kết một lòng

Nhưng năm ngàn năm văn hiến chưa xứng đền ơn nghĩa cả

Kính lạy chư linh, chúng con nay:

Mượn nhang đèn thể hiện lòng thành

Dâng bánh trái hàm ơn tiên tổ

Nguyện rằng:

Xem núi sông là máu thịt, quyết bảo toàn từng tấc đất, không phụ chí tổ vương

Tiếp văn hóa từ muôn phương, gắng thu nhập từng phát minh, dựng văn minh Việt tộc

Cố sao cho: Trống trường mãi rền vang, cáo thế giới “Việt sư hưng Việt quốc”

Chiêng quốc lễ ngân dài, nhắc nhân tâm “Nam đế trị Nam bang”

Thắp trăm nén nhang

Lòng thành đảnh lễ

Linh thiêng chư tổ

Chứng giám lòng thành

Nhất tâm hồi hướng Việt tổ thánh linh đăng đàn thụ lễ

phiêu thạch ba

Cẩn bút

【#7】Đi Lễ Chùa Khấn Như Thế Nào? Bài Khấn Đi Đền, Lên Chùa Nên Cầu Gì?

Theo phong tục cổ truyền, trong các ngày rằm, mồng một, ngày lễ Phật giáo, Tết nguyên đán, hoặc những ngày gia đình có việc hệ trọng, người Việt thường đến chùa lễ Phật, thành tâm cầu khấn hồng ân chư Phật, chư đại Bồ Tát, Hiền Thánh Tăng gia hộ cho bản thân và gia đình mạnh khoẻ, tai qua nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, gia đình hoà thuận, thế giới hoà bình, chúng sinh an lạc…

Mùa xuân du khách bốn phương về lễ Phật ở các chùa. Các sư thầy đều dạy, tới chùa lễ chú trọng sám hối, ăn năn trước những lỗi lầm, cầu xin có cơ hội sửa chữa, hoàn trả sai trái, có cơ hội làm việc thiện lành giúp đời.

Tốt nhất mọi người nên cầu nguyện cho quốc thái dân an, cầu cho người sống có sức khỏe, an lạc, tâm hồn luôn sáng và thiện lành, khởi tâm cầu đạo, giác ngộ và kính tin phật pháp.

Sau đó nguyện hồi hướng công đức cho các oan gia trái chủ, cho người thân, người đã khuất và các chúng sinh siêu thoát.

Đầu năm các chùa đều tổ chức cầu an cho các gia đình. Người dân đi lễ chùa nên cầu Phật gia hộ được bình an, công việc hanh thông, cầu phúc thiện, sức khỏe cho mình và người thân. Tùy sở nguyện mà cầu, nhưng đừng cầu quá tham mà không được.

Còn bình thường các ngày rằm, mồng 1 (ngày sóc, vọng) và các dịp lễ tết, những ngày có việc hệ trọng người dân đến chùa lễ Phật với tâm thành kính cầu khấn xin chư phật, chư bồ tát và các hiền thánh hộ độ cho được thiện duyên, may mắn, mạnh khoẻ, sống lâu, tai qua, nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, gia đình hoà thuận, hạnh phúc an khang, thế giới hoà bình, văn minh xã hội, chúng sinh an lạc…

Đồng thời hồi hướng công đức cho người thân đã khuất, cho các chúng sinh ở “thế giới bên kia” được siêu sinh tịnh độ…

Đó là những ước vọng chính đáng thể hiện qua các bài văn khấn khi lễ Phật.

Đi chùa không nên cầu tiền bạc, công danh, vật chất (như cầu trúng số, cầu thăng quan tiến chức…), vì Phật không ban tiền bạc, vật chất… Phật, thánh thần không ban phúc cho ai, cũng không gieo họa cho ai. Tất cả là tâm thành và theo luật nhân quả, người nào có quả phúc chín thì gặt về.

Tới chùa không nên cầu xin năm nay được thế này, thế nọ. Đạo Phật là nhân sinh, không như đạo khác. Con người nếu không có tự lực (khả năng của mình) thì tha lực (trợ độ của tâm linh) cũng không giúp được.

Ví như cầu cho con thi đỗ đại học, thì phải nhắm xem khả năng của con có thể học trường nào, theo hướng nào (tự lực) để đạt kết quả. Nếu cứ cầu xin tha lực giúp, mà con cái không có năng lực thì sao có thể đỗ?

Đi lễ chùa tâm nghĩ sao thì khấn nôm na cầu vậy. Cầu gì cũng không nên lễ dài dòng. Cách lễ dài dòng không phải là lễ của đạo Phật, mà là theo cách lễ dân gian.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là …………………………………………………………………………………….

Ngụ tại ………………………………………………………………………………………………

Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng (nếu viết sớ đặt trên mâm lễ vật) lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo.

Chúng con xin dốc lòng kính lễ:

– Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.

– Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà.

– Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.

– Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

– Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.

Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ……………………………… (công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…).

Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai quan nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khoẻ, trên dưới thuận hoà an khang thịnh vượng.

Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Cách khấn khi đi chùa mùng 1:

1. Văn khấn Đức Ông – Đức Chúa Ông (Tôn giả Tu-đạt)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn Giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là …………………………………………………………………………………….

Ngụ tại ………………………………………………………………………………………………

Cùng cả gia đình thân tới cửa chùa …………………………….. trước điện Đức Ông, thành tâm kính lễ, (nếu có đang lễ vật thì khấn thêm “hiến dâng phẩm vật, kim ngân tịnh tài”), chúng con tâu lên Ngài Tu Đạt Tôn Giả từ cảnh trời cao soi xét.

Chúng con kính tâu lên Ngài Già Lam Chân Tể cai quản trong nội tự cùng các Thánh Chúng trong cảnh chùa đây.

Thiết nghĩ chúng con sinh nơi trần tục, nhiều sự lỗi lầm, hôm nay tỏ lòng thành kính, cúi xin Đức Ông thể đức hiếu sinh, rủ lòng tế độ che chở cho chúng con, ba tháng hè chín tháng đông, tiêu trừ bệnh tật tai ương, vui hưởng lộc tài may mắn, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

2. Văn khấn Đức Thánh Hiền (Đức A-nan-đà Tôn Giả)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Con cúi lạy Đức Thánh Hiền, Đại Thánh Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là …………………………………………………………………………………….

Ngụ tại ………………………………………………………………………………………………

Chúng con thành tâm tiến dâng lễ bạc, oản quả, hương hoa.

Cầu mong Tam Bảo chứng minh, Đức Thánh Hiền chứng giám, rủ lòng thương xót phù hộ cho con được mọi sự tốt lành, sức khỏe dồi dào, an ninh khang thái, gia đạo hưng long, thịnh vượng. Cúi mong Ngài soi xét tâm thành, phù hộ cho gia đình chúng con được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

3. Văn khấn cầu tài, cầu lộc, cầu bình an ở ban Tam Bảo (Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là …………………………………………………………………………………….

Ngụ tại ………………………………………………………………………………………………

Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng (nếu viết sớ đặt trên mâm lễ vật) lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo.

Chúng con xin dốc lòng kính lễ:

– Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.

– Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà.

– Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.

– Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

– Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.

Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ……………………………… (công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…).

Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai quan nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khoẻ, trên dưới thuận hoà an khang thịnh vượng.

Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

4. Văn khấn Bồ-tát Quán Thế Âm

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Nam mô Đại từ Đại bi Linh cảm Quán Thế Bồ Tát.

Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thuỳ từ chứng giám.

Chúng con có nghe Đức Phật dạy trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn rằng

“Dù chỉ nghe tên Quán Thế Âm

Hay dù chỉ thấy bức chân dung,

Nhất tâm trì niệm hồng danh ấy,

Thoát mọi hung tai, được cát tường”.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là …………………………………………………………………………………….

Ngụ tại ………………………………………………………………………………………………

Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng.

Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát! (3 lần, 3 lạy).

Văn khấn Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.

Hưởng tử con là………………………………………………..Tuổi………….

Ngụ tại……………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày…… tháng……năm………………..(Âm lịch)

Hương tử con đến nơi……………(Đình hoặc Đền hoặc Miếu) thành tâm kính nghĩ: Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giám, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ tiền, vàng… (đồ mã) đem ra nơi hoá vàng để hoá. Khi hoá tiền, vàng… cần hoá từng lễ một, từ lễ của ban thờ chính cho tới cuối cùng là lễ tiền vàng… ở ban thờ Cô thờ cậu.

Hoá tiền vàng xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính.

Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương

– Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế

– Con lạy Tam Toà Thánh Mẫu

– Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

– Con lạy Tứ phủ Khâm sai

– Con lạy Chầu bà Thủ Mệnh

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Hoàng

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cô

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cậu

– Con lạy cộng đồng các Giá, các Quan, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

– Con lạy quan Chầu gia.

Hương tử con là:…………………………………….Tuổi…………………..

Cùng đồng gia đại tiểu đẳng, nam nữ tử tôn

Ngụ tại:……………………………………………………….

Hôm nay là ngày…… tháng…… năm………………(Âm lịch). Tín chủ con về Đền…………… thành tâm kính lễ, xin Chúa phù hộ độ trì cho gia đình chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

Phục duy cẩn cáo!

Văn khấn lễ Tam Toà Thánh Mẫu

Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng

– Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền khung cao Thượng đế.

– Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

– Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mẫu.

– Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

– Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

Hưởng tử con là……………………………………….Tuổi……………….

Ngụ tại………………………………………………………..

Hôm nay là ngày…… tháng……năm………………………….(Âm lịch)

Hương tử con đến nơi Điện (hoặc Phủ, hoặc Đền)………chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia đạo chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

【#8】Văn Khấn Và Mâm Lễ Cúng Giao Thừa Ngoài Trời Chuẩn Nhất

Cúng giao thừa là nghi lễ quan trọng của người Việt Nam trước khi Tết Nguyên Đán chính thức bắt đầu. Văn khấn Lễ giao thừa còn được gọi là văn khấn lễ Trừ Tịch, được cử hành vào thời khắc kết thúc năm cũ  và chuyển sang năm mới . Giây phút giao thời giữa năm cũ và năm mới luôn mang lại cảm giác khác lạ trong mỗi chúng ta. Ngoài việc cúng giao thừa trong nhà, mỗi gia đình thường chuẩn bị thêm mâm cúng giao thừa ngoài trời để cúng chào đón các vị quan hành khiển và phán quan năm mới.

Ý nghĩa lễ cúng giao thừa ngày tết nguyên đán

Mỗi năm có một vị hành khiển trông coi việc nhân gian, hết năm thì vị thần năm cũ lại bàn giao công việc cho vị thần năm mới, nên phải cúng giao thừa ở ngoài trời và đọc văn khấn cúng giao thừa ngoài trời để tiễn đưa thần năm cũ và đón rước thần năm mới. Có 12 vị hành khiển và 12 phán quan (phán quan là vị thần giúp việc cho các vị hành khiển). Mỗi vị làm một năm dưới dương gian và cứ sau 12 năm thì lại có sự luân phiên trở lại. Vương hiệu của 12 vị hành khiển và các phán quan là:

Năm Tý: Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn hành binh chi thần, Lý Tào phán quan.

Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiển, Tam Thập lục thương hành binh chi thần, Khúc Tào phán quan.

Năm Dần: Nguy Vương Hành khiển, mộc tinh hành binh chi thần, tiêu tào phán quan.

Năm Mão: Trịnh Vương Hành khiển, thạch tinh hành binh chi thần, liễu tào phán quan.

Năm Thìn: Sở Vương Hành khiển, hoả tinh hành binh chi thần, biểu tào phán quan.

Năm Tị: Ngô Vương Hành khiển, thiên hao hành binh chi thần, hứa tào phán quan.

Năm Ngọ: Tần Vương Hành khiển, thiên mao hành binh chi thần, ngọc tào phán quan.

Năm Mùi: Tống Vương Hành khiên, ngũ đạo hành binh chi thần, lâm tào phán quan.

Năm Thân: Tề Vương Hành khiển, ngũ miếu hành binh chi thần, tống tào phán quan.

Năm Dậu: Lỗ Vương Hành khiển, ngũ nhạc hành binh chi thần, cự tào phán quan.

Năm Tuất: Việt Vương Hành khiển, thiên bá hành binh chi thần, thành tào phán quan.

Năm Hợi: Lưu Vương Hành khiển, ngũ ôn hành binh chi thần, nguyễn tào phán quan.

Chú ý là trong các bài cúng giao thừa ngoài trời đều khấn danh vị của các vị quan hành khiển cùng các vị phán quan nói trên, năm nào thì khấn danh vị của danh vị của quan hành khiển năm ấy.

Mâm cúng giao thừa giao thừa phải được chuẩn bị chu đáo, trang trọng với lòng thành kính.

Vào đúng thời điểm giao thừa, người chủ gia đình phải thắp đèn, nến, rót rượu, rồi khấn vái trước án.

Văn khấn cúng giao thừa có thể viết vào giấy để đọc, sau khi hết 3 tuần hương thì hoá tờ giấy viết văn khấn cùng vàng mã dâng cúng.

Nên cúng Giao thừa trong nhà hay ngoài trời trước?

Vấn đề cúng giao thừa như thế nào thì không phải ai cũng biết, lễ ngoài trời phải làm trước nhằm “nghênh tân, tiễn cửu” tức là đón quan hành khiển mới, tiễn quan hành khiển cũ.

Thông thường lễ cúng giao thừa ngoài trời sẽ có xôi gà và hoa quả, riêng lễ cúng này không cần dùng bát hương mà có thể cắm hương vào các đồ lễ cúng.

Chuẩn bị lễ vật cúng giao thừa ngoài trời

  • Rượu, bia và các loại đồ uống khác
  • Mâm cỗ mặn ngày Tết đầy đặn, thơm ngon, tinh khiết với bánh chưng; giò – chả; thủ lợn hoặc con gà trống luộc; các loại xôi; các món ăn mặn khác tùy theo nhu cầu của gia đình.

Bài văn khấn cúng giao thừa ngoài trời 

Bài văn khấn cúng giao thừa ngoài trời năm Tân Sửu số 1

Nam mô A di đà Phật (3 lần)

– Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư phật, chư phật mười phương

– Con kính lạy Đức Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật

– Con kính lạy Đức Bồ-tát Quán Thế Âm cứu nạn cứu khổ chúng sinh

– Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ, chư vị tôn thần

– Con kính lạy ngài cựu niên đương cai Hành khiển

– Con kính lạy ngài đương niên Thiên quan

– Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ hổ, Long mạch, Táo quân, chư vị tôn thần.

Nay là phút giao thừa năm Kỷ Hợi để bước sang năm Tân Sửu 2021

Chúng con là: ……………………………………………………….., sinh năm: ……………………….

Hành canh: ………………….. tuổi

Cư ngụ tại số nhà:………, ấp/khu phố:………………, xã/phường ………………………………..

Quận/huyện/ thành phố ……………………………tỉnh/thành phố …………………………………….

Nhân phút thiêng liêng giao thừa vừa tới, năm cũ qua đi, đón mừng năm mới, tam dương khang thái, vạn tượng canh tân. Nay ngài Thái Tuế tôn thần trên vâng lệnh Ngọc Hoàng Thượng đế, giám sát vạn dân, dưới bảo hộ sinh linh tảo trừ yêu nghiệt. Quan cũ về triều cửa khuyết, lưu phúc, lưu ân. Quan mới xuống thay, thể đức hiếu sinh, ban tài tiếp lộc. Nhân buổi tân xuân, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dàng Phật thánh, dâng hiến Tôn thần, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh.

Chúng con kính mời: Ngài cựu niên đương cái Thái tuế, ngài tân niên đương cai Thái tuế chí đức tôn thần, ngài bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài bản xứ thần linh Thổ địa, ngài Hỷ thần, Phúc đức chính thần, các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch, Tài thần, chư vị bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản ở trong xứ này, cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.

Nguyện cho tín chủ, minh niên khang thái, vạn sự tốt lành, bốn mùa tám tiết được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng, bách sự hanh thông, ngày ngày được hưởng ơn trời, Phật, chư vị tôn thần. Chúng con kính cẩn tiến dâng lễ vật, thành tâm cầu nguyện. Cúi xin chín phương trời, mười phương chư phật cùng chư vị tôn thần chứng giám phù hộ độ trì.

Nam mô A di đà Phật (3 lần, 3 lạy)

Bài văn khấn cúng giao thừa ngoài trời 

Niên hiệu : Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

T.P (Tỉnh):………………………………..Quận (huyện):…………………………………………………….

Phường (Xã):……………..Khu phố (Thôn):……………Xứ đất:…………………………………………

(Hoặc: Số nhà :……… Đường:………… Khu phố :…………….Phường :

Quận :…………………….Tp:………………………………………………………………………………)

Hôm nay nhân lễ giao thừa năm Tân Sửu 2021

Tín chủ chúng con là:…………………………………………………………..Tuổi:……………………

– Ngài Cựu niên thiên quan Lỗ Vương Hành khiển, Ngũ Nhạc hành binh chi thần, Cự Tào phán quan. Ngài Đương niên thiên Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn hành binh chi thần, Lý Tào phán quan.

– Bản gia Thổ công Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quan vị tiền.

– Nhân tiết Giao thừa, thời khắc huy hoàng, cung thiết hương đăng, nghênh hồi quan cũ. Cung đón tân quan, lai giáng phàm trần, nghênh xuân tiếp phúc. Tín chủ chúng con, thiết lễ tâm thành, nghênh tống lễ nghi.

* Cung thỉnh cựu quan Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn hành binh chi thần, Lý Tào phán quan. về chầu đế khuyết.

* Cung nghênh tân quan Lưu Vương Hành khiển, Ngũ Ôn hành binh chi thần, Nguyễn Tào phán quan, lai giáng nhân gian, trừ tai, giải ách, lưu phúc, lưu tài.

Tín chủ chúng con, chí thiết tâm thành, cầu nguyện :

-Thế giới hoà bình, Quốc gia hưng thịnh, Xuân đa hỷ khánh, Hạ bảo bình an, Thu miễn tai ương, Đông nghênh bá phúc.

– Gia nội tăng tứ trinh tường chi phúc thọ. Phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con nhân khang vật thịnh, bốn mùa hưởng chữ an vui, tâm thiết thái bình thịnh vượng.

– Gia trung khang thái, tài như xuyên chí, lộc tự vân lai, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc như sở nguyện.

– Nam tử thanh cao, nữ nhi đoan chính, học hành tinh tiến, thương mại hanh thông, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Thượng chúc Phật nhật tăng huy, Pháp luân thường chuyển, phong điều vũ thuận, quốc thái dân an.

Cánh nguyện canh tân xã hội, xứ xứ thường an thường thịnh, thế thế thuần phong mỹ tục vãn hồi, đạo đức cương duy, tăng long phúc thọ.

Âm siêu, dương khánh, hải yến hà thanh, pháp giới chúng sinh, tề thành Phật đạo.

Tín chủ chúng con thành tâm kính dâng văn sớ, cúi xin Phật thánh chứng minh, các quan thuỳ từ chiếu giám.

Phục duy cẩn cáo!

(Lạy ba lạy, đứng dậy xá ba xá)

Sau khi cúng Giao thừa xong, các gia chủ khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà (thường bàn thờ tổ tiên ở giữa, bàn thờ Thổ Công ở bên trái) để xin phép cho tổ tiên về ăn Tết.

Trong các bài văn khấn giao thừa khi dâng hương ngoài trời đều khấn danh vị của các vị quan hành khiển cùng các vị phán quan nói trên, năm nào thì khấn danh vị của danh vị của quan hành khiển năm ấy. Vương hiệu vị Hành khiển và Phán quan năm Tân Sửu 2021 là Việt Vương Hành khiển, Thiên Bá hành binh chi thần, Thành Tào phán quan.

【#9】Văn Khấn Cầu Thi Cử Đỗ Đạt

Các sĩ tử trước khi vượt vũ môn thường tới khấn nguyện tại các đền chùa, văn miếu. Dưới đây là bài văn khấn cầu thi cử đỗ đạt gặp nhiều may mắn, để kỳ thi thuận lợi và đạt kết quả cao trong kỳ thi đại học, kỳ thi tốt nghiệp, chuyển cấp…

Bài văn khấn cầu thi cử cho sĩ tử

1. Những lưu ý khi khấu cầu thi đỗ

Các nhà nghiên cứu tâm linh chỉ bảo rằng, các sỹ tử nên tới Đền Ngọc Sơn cầu thi cử cho mọi việc trở nên tốt lành. Còn Văn Miếu Quốc Tử Giám là nơi sĩ tử đã đỗ đạt, hoặc tốt nghiệp ra trường tới lễ sẽ phù hợp hơn. Hiện nay, trước kỳ thi các sĩ tử đều rất căng thẳng cho nên nhiều sĩ tử đã chọn cách đi lễ cầu thi cử đỗ đạt cả hai nơi, nhưng lại lúng túng không biết lễ thế nào, bởi vì khi khấn chỉ nên khấn một chùa không nên khấn nhiều chùa sẽ mất thiêng.

Theo các nhà tâm linh, thì khi chuẩn bị đi lễ ở đâu cũng cần lễ gia tiên và chùa chiền tại bản quán trước để xin đấng linh thiêng phù hộ cho con trẻ trong kỳ thi cử đỗ đạt cao. Tới các chốn linh thiêng, hành lễ bắt đầu là tạ ơn, rồi tiếp tục sám hối, cầu, nguyện và xin thi cử đỗ đạt cho cái của mình.

Vật phẩm lễ thường là giọt dầu. Cầu xin cho sĩ tử gặp nhiều may mắn và đỗ đạt trong các kỳ thi… Sau đó nguyện sẽ chú tâm học hành cho tốt…

Các nhà tâm linh đều khuyên, sau khi đã tới chốn tâm linh cầu nguyện, phải thật thành tâm, không nên về thẳng hoặc chờ đỗ đạt, hoặc ngồi chờ có cơ hội mới quay lại tạ lễ. Mà đỗ đạt hay không người đi lễ cũng nên quay lại để lễ tạ tại chùa đã khấn. Lễ tạ cũng thường là giọt dầu như lễ xin. Một số người đi lễ biết rõ là không có cơ hội quay lại, như thế là phạm tội và sẽ bị ảnh hưởng sau nay

Trong các kỳ thi dù đỗ hay trượt, các sĩ tử cũng nên biết rằng là việc thi cử còn nhờ hồng phúc tổ tiên của mình để lại, chứ không phải cứ cầu cúng tại các chùa chiền là đều đỗ đạt. Phải có sư nỗ lực của bản thân, Thi cử thành công hay không chính là nhờ bản thân nỗ lực học tập và thực lực của các sĩ tử. Chính vì thế cần phải biết chăm chỉ và biết cách học đúng phương pháp.

2. Bài khấn cầu thi đỗ tại nhà

Mẫu bài khấn thi đỗ này dùng được cho cả phụ huynh khấn thay cho con tại nhà.

Duy!

Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Long Mạch cùng chư vị Tôn thần.

Con kính lạy Các cụ Tổ Khảo , Tổ Tỷ , Bá thúc huynh đệ, Cô gì tỷ muội, đường thượng tiên linh các hương hồn nội tộc, ngoại tộc hai bên.

Tín chủ con là :…. .. Tuổi….

Ngụ tại: Việt Nam quốc – ….. tỉnh …huyện ….xã

Hôm nay tín chủ con nhờ đất ơn đức trời đất, chư vị Tôn thần, cù lao tiên tổ, thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương, hoa trà quả, lòng thành lễ bạc, tâm có của không thắp nén tâm hương dâng lên trước án.

Tín chủ con kính mời: ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại.

Cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai khâm hưởng.

Cúi xin phù hộ độ trì cho Con (hoặc bố mẹ kêu hộ thì sửa là Út Tử của con) tên là : ….. Tuổi :…… sắp tới vào ngày: …. Tháng… năm…. Cháu dự cuộc thi (thi gì thì nêu ra) …… tại trường : ….. Ngụ tại (địa chỉ của trường) …….. ở phòng thi : ….. số báo danh : ……. được gặp nhiều may mắn, hanh thông, đỗ đạt trong kỳ thi sắp tới.

Cúi xin ngài Thần Linh, Gia Tiên Tiền Tổ, Bà Cô Ông Mãnh, cô bé, cậu bé tại gia bồi hơi tiếp sức, gia lực hộ trì cho Con (Út Tử của con) Long Vân đạt hội, thẳng lối đường mây, công danh thỏa nguyện, tâm cầu sở nguyện, như ý sở cầu, kỳ thi đỗ đạt như ý muốn. Cho con, cho cháu được học thông, viết thạo. Học đến đâu nhớ đến đấy. Sức khỏe dào dào, tinh thần thoải mái, tinh tấn thông minh, làm bài được tốt, để lên được lớp, để đậu đúng trường. Đi lại trên đường, bình an vô sự. Để cho tương lai đèn sách, vinh danh bái tổ.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì, chứng tâm. A Di Đà Phật !!!

Cẩn Cáo!

3. Bài khấn cầu thi tốt

Con nam mô a di Đà Phật!

Con nam mô a di Đà Phật!

Con nam mô a di Đà Phật! (3 lạy)

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

– Kính nguyện Phật Thánh chứng tâm thiện thần bảo hộ.​

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là ….

Hữu duyên hữu ngộ Thánh độ chỉ đường, mà hôm nay nhằm ngày…. tháng ……..năm …., đệ tử được đem thân về hầu đê đầu bái yết cửa …….. linh từ. Con xin kêu thay cho… (kêu thay cho ai thì nêu đầy đủ họ tên, phòng thi, số báo danh) được đỗ đạt trong kỳ thi sắp tới.

Con nguyện noi gương sáng đức Thánh để tỏ rạng trí tâm chuyên cần sự học. Hữu sự con nguyện ngài khuông phù gia hộ – bật độ phù trì để con thi cử đỗ đạt qua kỳ thi là:​

Kỳ thi… (kỳ thi gì thì khấn lên),

Nguyện xin ngài bồi hơi tiếp sức, gia lực hộ trì cho con Long Vân đạt hội, thẳng lối đường mây, công danh thỏa nguyện. Con chẳng dám quên công ân trời bể nhà ngài.​

Con là người trần mắt thịt, con ăn chưa sạch, bạch chưa thông còn nhiều lầm lỗi xin gia tiên nội ngoài và bà cô ông mãnh xá ú xá mế, xá lầm lỗi cho con, mở được cho con lội, mở lối cho con đi. Độ cho con được tâm cầu sở nguyện, như ý sở cầu, kỳ thi đỗ đạt như ý muốn.

Con nam mô a di Đà Phật!

Con nam mô a di Đà Phật!

Con nam mô a di Đà Phật! (3 lạy)

4. Văn khấn cầu thi cử

Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)

Kính nguyện Phật Thánh chứng tâm thiện thần bảo hộ.

Hữu duyên hữu ngộ Thánh độ chỉ đường, mà hôm nay nhằm ngày…. tháng ……..năm Nhâm Thìn, đệ tử được đem thân về hầu đê đầu bái yết cửa …….. linh từ

Con nguyện noi gương sáng đức Thánh để tỏ rạng trí tâm chuyên cần sự học. Hữu sự con nguyện ngài khuông phù gia hộ – bật độ phù trì để con thi cử đổ đạt qua hai kỳ thi là:

– Kỳ thi tốt nghiệp THPT

– Và kỳ thi tuyển sinh vào trường đại học……

Nguyện xin ngài bồi hơi tiếp sức, gia lực hộ trì cho con Long Vân đạt hội, thẳng lối đường mây, công danh thỏa nguyện. Con chẳng dám quên công ân trời bể nhà ngài.

Nam mô A Di Đà Phật.

【#10】Văn Khấn Thánh Sư

Văn khấn Thánh sư – Ông Tổ một nghề

Cúng tổ nghề sân khấu – Mỗi nghề có một vị Thánh sư. Các vị Thánh sư trước đây có thể cũng chỉ là những người thường, vì có công dạy nghề cho dân nên được tôn thờ cho đến ngày nay. Để tỏ lòng biết ơn đến Ông Tổ nghề.

Hàng tháng, bên cạnh những ngày cúng sóc vọng, tuần tiết, giỗ tết, trong khi cúng gia tiên và Thổ công, người ta còn cúng Thánh sư. Trong một năm, lễ cúng Thánh sư quan trọng nhất nhằm vào ngày kỵ nhật của Thánh sư.

Các vị Thánh sư (ông tổ nghề) được mọi người tôn trọng. Tại nhiều nơi, những người cùng làm một nghề, cùng buôn một thứ, hợp nhau thành phường, có miếu thờ Thánh sư riêng, giỗ Thánh sư gọi là giỗ phường. Tuy nhiên, tại các tư gia, người ta vẫn cúng riêng để tỏ lòng tưởng nhớ tới ông tổ nghề mình.

Mỗi nghề có một vị Thánh sư. Các vị Thánh sư trước đây có thể cũng chỉ là những người thường, vì có công dạy nghề cho dân nên được tôn thờ.

Những người hành nghề, mỗi khi gặp việc trắc trở, đều làm lễ cầu khẩn Thánh sư phù hộ cho gặp may mắn.

Bài văn khấn cúng Tổ nghề sân khấu:

Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ thần quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quan trong xứ này.

Tín chủ con là …………………………………………………………………….

Ngụ tại…………………………………………………………………………………

Hôm nay là ngày… tháng….. năm……….. tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương dâng lên trước án, thành tâm kính mời: Đức Hoàng thiên hậu Thổ Chư vị Tôn Thần, ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng Chư vị Tôn thần.

Con kính mời ngài Thánh sư nghề……………………………………………..

Cúi xin Chư vị Tôn thần Thánh sư nghề……………………………………… thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù Trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc, công việc hanh thông. Người vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!

Các tổ ngành sân khấu Việt Nam

  • Phạm Thị Trân là bà tổ nghề hát chèo Việt Nam.
  • Liêu Thủ Tâm, Đào Tấn là các vị tổ của nghệ thuật sân khấu tuồng.
  • Tống Hữu Định (1896-1932) là ông tổ Cải Lương. Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho, cũng là người được cho là có công nhất trong việc gây dựng lối hát Cải lương buổi ban đầu.
  • Vũ Đình Long tổ nghề kịch nói.
  • Trần Quốc Đĩnh tổ nghề hát xẩm.
  • Đinh Dự tổ nghề ca trù Việt Nam. Ông được nhiều vùng có di sản ca trù thờ phụng như Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình.] Ca trù sau này còn có một số vị tổ nghề địa phương như: Phan Tôn Chu tổ nghề ca trù Cổ Đạm ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh; Đào Thị Huệ tổ nghề ca trù Đào Đặng, Hưng Yên.
  • Nguyễn Lan Hương (1887 – 1949) tổ nghề nhiếp ảnh (chủ cửa hiệu Hương Ký, là một hiệu ảnh ở phố Hàng Trống, bây giờ là khách sạn Phú Gia). Có thông tin khác lại cho là Đặng Huy Trứ là tổ nghề nhiếp ảnh.

Giỗ tổ sân khấu năm 2021 ngày mấy?

Hằng năm vào 3 ngày 11, 12, 13 Tháng Tám Âm Lịch, các ca nghệ sĩ cử hành giỗ Tổ, trong đó ngày 11 là cúng chay, ngày 12 cúng mặn và 13 là cúng mời các vong linh của những nghệ sĩ đã khuất trở về cùng kỷ niệm ngày giỗ tổ.

Thường vào ngày 12 tháng Chạp hằng năm, mọi thợ may trên khắp cả nước lại thành tâm kính tổ chức Giỗ Tổ để ngưỡng vọng công đức Tổ nghề may và các vị tiền bối có công lưu truyền thủ nghệ. Giỗ tổ nghề may ngày càng trở thành thông lệ và là một cách hàng xử văn hóa của bộ phận người lao động đối với truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc chúng ta.

Văn khấn cúng giỗ Tổ ngành xây dựng (thợ nề, thợ xây) vào ngày 20 tháng Chạp hằng năm, cách cúng Tổ ngành xây dựng, mâm cúng và lễ vật gồm những gì? Bài cúng tổ ngành xây dựng như nào? Mời các bạn tham khảo qua đường link trên.

Với bài văn khấn tổ nghề, tổ nghiệp bên trên, các bạn có thể áp dụng để cúng tổ nghề mình muốn:

  • Cúng tổ nghề Rèn
  • Cúng tổ nghề Mộc
  • Cúng tổ nghề Đúc Đồng
  • Cúng tổ nghề Trang điểm
  • Cúng tổ nghề Khảm trai
  • Cúng tổ nghề Gốm sứ
  • Cúng tổ nghề làm bún
  • Cúng tổ nghề vàng bạc…

Đôi điều về tín ngưỡng thờ Tổ nghề

Tổ nghề (còn gọi là Tổ Sư , Thánh sư, Nghệ sư – người phát minh, sáng lập, gây dựng nên một nghề (thường là nghề thủ công mỹ nghệ) hoặc là người thứ nhất đem nghề ở nơi khác truyền lại cho dân chúng trong một làng hay miền nào đó, được người đời sau tôn thờ như bậc thánh. Tổ nghề có thể là nam giới hoặc nữ giới.

Nghề thủ công mỹ nghệ ở nước ta rất phát triển, có truyền thống lâu đời, sản phẩm phong phú, đa dạng về chất liệu, kiểu loại. Có thể kể một số nghề như: Nghề dệt chiếu cói, dệt the, dệt lụa, dệt nhiễu, thêu, thợ may, thợ mộc, nghề kim hoàn, chạm bạc, khảm xà cừ, nghề giấy, nghề mây tre, làm nón, nghề sơn, chạm khắc đá, đúc đồng, nghề gốm…. Những người làm nghề thường ở thành phường nhóm, làng (làng nghề). Biết ơn những vị sáng lập truyền nghề cho mình và di dưỡng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, họ thờ phụng các vị Tổ của nghề mình đang làm. Có thể lập bàn thờ Tổ nghề tại gia, và vào ngày tuần tiết, sóc, vọng, giỗ tết, đều có cúng cấp. Nhưng phổ biến hơn cả là các phường nghề, làng nghề lập miếu, đền riêng để thờ Tổ nghề riêng của nghề mà phường, làng mình đang làm. Đặc biệt, nhiều vị Tổ nghề còn được thờ làm thành hoàng làng.

Trong một năm, lễ cúng Tổ nghề quan trọng nhất là nhằm vào ngày kỵ nhật của vị Tổ nghề, đối với những vị mọi người đều biết hoặc là một ngày nhất định mà mọi người trong phường, trong làng cùng theo một nghề kể là ngày kỵ nhật của Tổ nghề mình.

Thờ phụng Tổ nghề, người ta cầu mong Ngài phù hộ cho công việc được suôn sẻ, buôn may bán đắt hoặc lúc đi xa tránh được mọi sự rủi ro. Sau khi công việc có kết quả, người ta làm lễ tạ ơn. Ngày kỵ nhật Tổ nghề tại các phường còn gọi là ngày giỗ phường.

Các Tổ Sư ngành nghề

Bà chúa nghề tằm

Thời vua Lê Thánh Tông, một viên quan trong triều khi già về Nghi Tàm mở trường dạy học. Một hôm ra ngắm cảnh hồ, ông bỗng thiu thiu ngủ. Trong mộng, ông lạc vào thiên đình, thấy một vị quan quỳ xuống tâu xin Ngọc Hoàng cho công chúa Quỳnh Hoa xuống đầu thai họ Trần. Ngọc Hoàng chấp thuận, Trần Vĩ được viên quan trao vào tay một cô con gái.

Chẳng bao lâu sau, vợ ông có mang sinh một đứa con gái đúng như trong mộng. Ông bèn đặt tên là Quỳnh Hoa. Lớn lên, Quỳnh Hoa được gả cho Liễu Nghi, tri phủ Hà Trung.

Khi Chiêm Thành sang xâm lược, vợ chồng Liễu Nghi đều ra trận đánh giặc. Thắng trận, vua phong cho Liễu Nghi chức Đô Đài Ngự sử và Quỳnh Hoa là quận phu nhân. Khi Liễu Nghi mất, Quỳnh Hoa xin về Nghi Tàm. Vốn là người thạo việc trồng dâu, nuôi tằm, về Nghi Tàm, bà chuyên tâm lo nghề ấy rồi phổ biến cho dân chúng. Nhờ vậy dân toàn vùng biết nghề này. Sau khi mất, Quỳnh Hoa được tôn là bà chúa nghề tằm, hiện có gần 60 làng thờ bà.

Tổ Sư nghề dệt

Ông Nguyễn Diệu, người ái Châu, Thanh Hoá, cùng vợ họ Mai tới kinh thành Thăng Long làm ăn buôn bán. Hai vợ chồng cùng nhau mở xưởng dệt, công việc ngày càng phát đạt. Vài năm sau, ông bà sinh được một cô con gái đặt tên là Nguyễn Thị La. Lớn lên nàng nối nghiệp cha. Với đôi bàn tay khéo léo, vải nàng dệt đã bền lại đẹp, ai thấy cũng phải thán phục.

Năm 18 tuổi, nàng kết hôn cùng Trần Thưởng người Hồng Châu, Hưng Yên. Vài năm sau, Trần Thưởng thi đỗ được bổ làm quan coi sóc việc hộ. Với mong muốn được mở mang nghề dệt, chàng xin vua cho lập một phường dệt ở ven Hồ Tây. Nàng La chuyển về đó lo đảm đương việc dạy dỗ dân làng nghề dệt vải. Từ đó, nghề dệt vải ở đây được phát triển, danh tiếng vang xa.

Trong một lần cầm quân ra trận, Trần Thưởng không may tử trận. Được tin chồng, nàng La liền tự vẫn chết theo.

Vua Huệ Tông thương xót cho lập miếu thờ nàng ở phường Nhược Công, phong cho nàng làm Thụ La công chúa. Ghi nhớ công ơn dạy nghề của bà, dân chúng gọi bà là Bà chúa dệt.

Nghề nhuộm

Ông Tổ nghề nhuộm không rõ tên được thờ ở số 18 phố Thợ Nhuộm, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nghề nhuộm có ở rất nhiều nơi tại Hà Nội như: Hàng Đào, làng Đồng Lầm, Võng Thị. Không rõ cụ thể tên Tổ nghề nhuộm. Nghề nhuộm phố Hàng Đào có gốc làng Đan Loan, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Nghề nhuộm làng Võng Thị có gốc làng Quần Anh, tỉnh Nam Hà.

Nghề thêu

Ông Tổ nghề thêu là Lê Công Hành, tên thật là Trần Quốc Khái, người làng Nguyên Bì: xã Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là thôn Quất Động, xã Hồng Thái, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây). Ông sinh ngày 18 tháng giêng năm Bính Ngọ (1606) mất ngày 12 tháng 6 năm Tân Sửu (1661), từng đỗ tiến sĩ. Trong một chuyến đi sứ phương Bắc, nhờ mưu mẹo và trí thông minh, ông đã học được nghề thêu và nghề làm lọng. Về nước, ông truyền bá nghề này cho dân làng Quất Động và một số làng lân cận như: Đào Xá, Tầm Xá, Hướng Dương… Dân thợ thêu các làng này di cư ra Thăng Long hành nghề cư trú tập trung tại hai nơi: phố Yên Thái và đoạn cuối phố Hàng Trống (trước kia gọi là phố Hàng Thêu), và rải rác ở các phố Hàng Nón, Hàng Mành, Hàng Chỉ…

Nghề đúc đồng

Tổ Sư nghề đúc đồng là ông Khổng Minh Không được thờ ở số 5 phố Châu Long, quận Hoàn Kiếm. Trong các tài liệu lịch sử không có tên Khổng Minh Không. Đây có lẽ là dân gian hoà nhập Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không làm một thành Khổng Minh Không. Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không đều được coi là Tổ Sư nghề đồng của nước ta. Lĩnh nam chích quái có viết về Dương Không Lộ như sau: Ông họ Dương tên Không Lộ, vốn xưa làm nghề đánh cá. Một hôm, ông đang đứng ở bến sông, bỗng thấy có một người hình dung cổ quái, đứng bên đường, nhìn ông rất lâu, rồi cười mà nói: Người là người cõi tiên sao không học đạo mà lại đi câu cá? Nói xong, liền phất tay áo ra đi. Không Lộ định hỏi thêm thì không thấy đâu nữa. Từ đó, ông bỏ nghề đánh cá vào tu ở chùa Nghiêm Quang – Thanh Hoá lấy tên là Không Lộ thiền sư. Sau đến thời Lý Thánh Tông về tu ở chùa Hà Trạch – Hà Bắc. Ông có pháp thuật cao siêu có thể bay trên không, đi trên mặt nước, sai khiến cả thú dữ, biến hoá muôn hình vạn trạng. Đặc biệt ông rất giỏi nghề đúc chuông nặn tượng.

Một lần ông đi sang Trung Quốc, quyên đồng được hàng trăm vạn tạ, đựng vào một cái bao lớn mà các thuyền phương Bắc không thể chở nổi. Ông bèn hoá phép lấy nón làm thuyền, lấy gậy làm chèo, cứ thế chèo chống, chở đồng về, đúc thành bốn đồ quý (Tứ bảo) gọi là Yên nam tứ quý.

Sự tích của Không Lộ dân gian nhập vào với Minh Không. Điều này còn tìm thấy trong văn bia chùa Keo (Thái Bình), chùa Keo (Hành Thiện – Nam Hà), chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều – Quảng Ninh), chùa La Vân (Quỳnh Phụ – Thái Bình). Nên sau này ông Tổ nghề đúc đồng lúc thì được gọi là Nguyễn Minh Không, lúc thì lại được coi là Không Lộ.

Nghề làm bún

Ông Tổ nghề làm bún được thờ tại Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Bún là một loại thực phẩm được nhiều người Hà Nội ưa thích. Nó góp phần làm phong phú thêm cho nghệ thuật ẩm thực của người Hà Nội. Người Hà Nội có nhiều món ăn đặc trưng từ bún như bún thang, bún ốc, bún riêu… mỗi món một hương vị khác nhau. Ngày đầu xuân, người dân Hà Nội vẫn lưu truyền tục ăn bún ốc lấy may.

Ngày nay, bún không là một loại thực phẩm của riêng Hà Nội, nhưng bún Hà Nội vẫn nổi tiếng vừa trắng, sợi nhỏ, giòn và dai. Xã Mễ Trì (vùng Kẻ Quánh xưa) có nghề làm bún truyền thống. Bún Mễ Trì được coi là bún ngon nhất “ăn mát môi, trôi mát cổ”. Tương truyền ông Tổ của nghề này là Hồ Nguyên Thơ, không rõ sống ở đời nào. Ngày nay, người dân Mễ Trì thờ ông ở đình làng. Vào những ngày hội làng, dân làng lại Tổ chức hội thi làm bún. Vật phẩm dâng cúng ở đình vào những ngày này cũng không thể thiếu mâm bún.

Nghề vàng bạc

Tổ Sư nghề vàng bạc là ba anh em họ Trần: Trần Hoà, Trần Điện, Trần Điền sống tại làng Định Công, huyện Thanh Trì vào cuối thế kỷ thứ 6. Ba ông học được nghề này trong một cuộc lưu lạc tại một nước láng giềng khi về đem nghề truyền dạy lại cho dân làng. Sau này thợ làng Định Công di chuyển về Thăng Long cư trú tại phố Hàng Bạc.

Ngoài ba anh em họ Trần, nghề vàng bạc Thăng Long còn do Tổ nghề Nguyễn Kim Lân truyền dạy. Ông là người vùng nào đến nay không xác định được, sau ông đến làng Đồng Xâm, huyện Kiên Xương, Thái Bình: ông dạy nghề cho dân làng Đồng Xâm, sau này một số dân làng Đồng Xâm lên Thăng Long cư trú tại phố Hàng Bạc làm nghề kim hoàn.

Nghề làm giấy

Ông Tổ nghề làm giấy không rõ họ tên được thờ tại các làng Hồ Khẩu, Đông Xã, Yên Thái, Nghĩa Đô, Hà Nội. Không rõ họ tên Tổ nghề. Từ thế kỷ 13, nghề làm giấy đã có tại thôn Dịch Vọng. Sau đó, nghề này lan truyền dần qua các địa phương ven sông Tô Lịch như: Yên Hoà (tục gọi là làng giấy), Hồ Khẩu, Đông Xã, Yên Thái, Nghĩa Đô, trong đó tập trung và phát triển nhất là thôn Yên Thái. Truyền thuyết ghi lại, đầu tiên ông Tổ nghề giấy truyền nghề cho dân làng Yên Hoà, rồi lần lượt qua các làng khác.

Nghề gốm sứ

Tổ Sư nghề gốm sứ Bát Tràng là Hứa Vĩnh Kiều. Hứa Vĩnh Kiều cùng với Tổ Sư hai làng gốm khác là Đào Trí Tiến làng Thổ Hà và Lưu Phong Tú làng Phù Lãng cùng khởi nghề ở Bát Tràng, sau đi học men gốm tại Thiểm Châu, Quảng Đông, Trung Quốc về truyền nghề cho dân làng.

Nghề khảm trai

Ông Tổ nghề khảm trai là Nguyễn Kim, người làng Thuận Nghĩa, tỉnh Thanh Hoá sống vào thời Lê Hiển Tông. ông rất giỏi nghề khảm, vì bị sách nhiễu đã lánh nạn ra làng Chuyên Mỹ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây và truyền dạy nghề cho dân làng này. Sau dân làng Chuyên Mỹ di cư ra Thăng Long cư trú tại phố Hàng Khay. Trước kia, phố Hàng Khay có đền thờ ông. Một vài truyền thuyết khác cho rằng Tổ nghề khảm là ông Vũ Văn Kim hoặc Trương Công Thành sống vào thời Lý.

Nghề quạt

Tổ Sư nghề quạt họ Đào, tên nôm là Đầu Quạt, người làng Đào Xá, huyện Ân Tri, tỉnh Hải Hưng. Dân làng Đào Xá sau ra Thăng Long cư trú tại phố Hàng Quạt. Họ lập đình Phiến Thị thờ ông Tổ họ Đào ở số 4 phố Hàng Quạt.

Nghề làm quạt là nghề truyền thống của người dân Đào Xá. Đến nay, không ai biết chính xác nghề quạt vùng này có từ bao giờ, nhưng nó gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây.

Quạt của người làng Đào Xá có nhiều loại. Quạt ngà dùng để thờ hay dành cho vua chúa. Loại quạt này thường được trang trí tinh xảo với rồng, lân, phượng… Ngoài ra, còn có các loại quạt giấy, quạt the… Nguyên liệu giấy được dùng là loại giấy bản, giấy dó của làng Yên Thái.

Nghề rèn

Tổ Sư nghề rèn Hoa Thị (ở xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm – ngoại thành Hà Nội) là ông Nguyễn Đức Tài. Ông người làng Hoa Thị, học nghề rèn của một người tên là Thanh Hoa không rõ người vùng nào, về truyền dạy lại cho dân làng nghề này sau được dân làng thờ làm Tổ Sư .

Dân làng Hoa Thị vào cuối triều Lê đầu triều Nguyễn tức khoảng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 đã vào Thăng Long lập nghiệp tại phố Hàng Bừa (nay là phố Lò Rèn) và phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến). Một số ít tập trung tại các phố Kim Mã, Hàng Bột (nay là Tôn Đức Thắng), Ô Cầu Dền, phố Huế (khu vực giao giữa phố Huế và Đại Cồ Việt hiện nay).

Trước kia, thợ rèn Hoa Thị chuyên sản xuất các công cụ phục vụ nông nghiệp như: cày, bừa, liềm, hái, cuốc, thuổng, xẻng, mai, móng… Trong kháng chiến, các thợ rèn ở phố Lò Rèn rèn các loại vũ khí thô sơ phục vụ kháng chiến như: kiếm, mã tấu, mác… và cả nòng súng, cò súng… Hiện nay, trong thời kỳ cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, nhưng sản phẩm rèn của Hoa Thị vẫn được người tiêu dùng chấp nhận. Sản phẩm được ưa chuộng nhất hiện nay là kéo thợ may. Tại phố Nguyễn Khuyến hiện có khá nhiều hàng kéo của thợ rèn Hoa Thị.

Trên khắp đất nước ta, còn có rất nhiều nghề thủ công truyền thống, mỗi nghề đều có một, hai hoặc nhiều hơn các vị Tổ nghề – người có công mở mang tri thức ngành nghề. Trên đây chỉ xin giới thiệu một số vị Tổ nghề tiêu biểu.